« Quay lại

Một số giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng CAQCM tỉnh Nghệ An thông qua việc triển khai đề tài đánh giá đất đai phục vụ triển khai quy hoạch các loại CAQCM

Cây ăn quả có múi được trồng nhiều được coi là cây xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu nhanh ở Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng. Tuy nhiên, do hạn chế về mẫu mã, bao bì, an toàn thực phẩm tiêu chuẩn quốc tế khiến gần như toàn bộ Cây ăn quả có múi chỉ tiêu thụ trong nước, ở dạng quả tươi. Cây ăn quả có múi của Nghệ An chủ yếu là cam, các loại Cây ăn quả có múi khác (bưởi, quýt, chanh) được trồng hạn chế, quy mô rất nhỏ so với cam. Cam Vinh đã được Cục SHTT cấp Chỉ dẫn địa lý năm 2007. Đến nay, so với các hạng mục trong Chỉ dẫn địa lý, Nghệ An đã vượt ra ngoài diện tích 1.681,48ha, phạm vi 12 xã thuộc 5 huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Hưng Nguyên, Nghi Lộc và 3 giống cam Xã Đoài, Vân Du, Sông Con. Cam Vinh có thương hiệu và chất lượng vượt trội so với các sản phẩm cam trong nước.

 

 

Tỉnh Nghệ An đã có Quyết định số 3773/QĐ-UBND ngày 5/8/2016 về việc phê duyệt "Quy hoạch phát triển Cây ăn quả có múi tỉnh Nghệ An đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030" với tổng diện tích quy hoạch đến năm 2020 là 8.270ha, đến 2030 10.160ha. Bản quy hoạch không xác định vị trí cụ thể trồng cam. Mặt khác, đến nay cũng chưa công trình khoa học nào đánh giá đặc tính lý hóa của đất phù hợp với sinh trưởng của Cây ăn quả có múi nói chung, cam nói riêng phục vụ triển khai quy hoạch trồng Cây ăn quả có múi của tỉnh. Vì thế, triển khai đề tài "Đánh giá đất đai phục vụ triển khai quy hoạch các loại Cây ăn quả có múi trên địa bàn tỉnh Nghệ An" được thực hiện để triển khai nhiệm vụ trên.

Thông qua việc thực hiện đánh giá đất đai của từng loại CAQCM đối với từng đơn vị đất đai (ĐVĐĐ) tại 24 xã trong vùng quy hoạch CAQCM (chủ yếu cam) của tỉnh Nghệ An. Phương pháp ĐGĐĐ được thực hiện dựa trên trợ giúp của hệ thống thông tin địa (GIS), gồm nghiên cứu yêu cầu chỉ tiêu sinh thái của các loại CAQCM, xây dựng bản đồ đơn vị đất đai (ĐVĐĐ) và đánh giá đất đai: so sánh hai phương pháp trên để xác định mức độ thích nghi của CAQCM trên từng ĐVĐĐ. Kết quả cho thấy mỗi xã trong vùng quy hoạch có các ĐVĐĐ cụ thể, đặc điểm các ĐVĐĐ được xây dựng thành các trường dữ liệu trên bản đồ (trong GIS). Diện tích và mức độ thích nghi được thể hiện trên các bản đồ và bảng tổng hợp của từng xã.

Đồng thời, tiến hành phân tích mẫu đất bằng cách đào hố nghiên cứu phẫu diện, lấy mẫu đất để phân tích các chỉ tiêu dinh dưỡng trong đất cho thấy đất trong phạm vi nghiên cứu gồm 7 nhóm với 19 loại đất. Kết quả phân tích 200 mẫu đất: 41,50% số mẫu đất có tính rất chua; 85% số mẫu đất có hàm lượng hữu cơ nghèo và 66% số mẫu có hàm lượng lân dễ tiêu nghèo đến rất nghèo. Tiến hành lấy quả phân tích chất lượng quả: Quy trình lấy mẫu và phân tích mẫu quả do Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện thông qua 6 chỉ tiêu: Chất lượng phần thịt quả (bị thâm lõi, bị chai lép, ít nước); Độ axit toàn phần của dịch quả; Độ khô xốp; Tỷ lệ dịch quả; Hàm lượng đường toàn phần và Vitamin C. Kết quả phân tích, đánh giá chất lượng quả cam cho thấy: Giống cam Xã Đoài có chất lượng tốt nhất (chín mọng, không khô xốp, không thâm lõi…), ăn có vị ngọt và thơm nhất. Giống cam V2 có chất lượng xếp sau cam Xã Đoài về vị thơm. Giống cam Vân Du, quả to, màu đẹp, chất lượng phần thịt quả tốt, ăn ngon, nhưng khô xốp (phần sát cùi), về vị và mùi thơm kém cam Xã Đoài và cam V2.

Đề tài cũng đã tiến hành Xây dựng bản đồ phân hạng thích nghi đất đai vùng quy hoạch thông qua việc đánh giá từng chỉ tiêu đất đai và đánh giá tổng hợp và thành lập bản đồ thích nghi, kết quả, diện tích được đánh giá là Rất thích nghi và Thích nghi với CAQCM trong đề tài lớn hơn rất nhiều so với diện tích được quy hoạch trồng CAQCM của tỉnh Nghệ An. Vì vậy, trước mắt, có thể chỉ quy hoạch những vùng được đánh giá là Rất thích nghi (13.382,08ha).

Đã xây dựng cơ sở dữ liệu đât́ đai vùng quy hoạch, kết quả đánh giá và phân hạng thích nghi được thể hiện trên bản đồ và trong các bảng thống kê diện tích các cấp thích nghi cho từng xã. Khi cần truy xuất, kích vào bản đồ, các thông số sẽ được hiển thị. Thực hiện chồng xếp bản đồ hiện trạng sử dụng đất (của địa phương) và bản đồ kết quả đánh giá thích nghi sinh thái (kết quả của đề tài) để tìm phần trùng nhau. Kết quả cho thấy, diện tích trùng nhau gồm: đất chuyên trồng lúa, đất trồng cây hàng năm khác, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất trồng cây lâu năm và đất ở.

Tiến hành khảo sát, điều tra từ nông dân, nhà quản lí và tổ chức hội thảo tham vấn ý kiến chuyên gia làm cơ sở cho các giải pháp: Đề tài đã thu thập các tài liệu về sản xuất cam; Sử dụng 500 phiếu: 300 phiếu phỏng vấn các hộ đã trồng cam, 200 phiếu phỏng vấn cán bộ quản lý các cấp. Kết quả nghiên cứu, khảo sát cho thấy: Quy hoạch trồng CAQCM của tỉnh nằm ở 12 huyện, thuộc 4 vùng: Vùng Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc và Đông Nam. Kết quả: Địa hình đồng bằng và bán sơn địa, nơi cao nhất là 8m, thấp nhất là 0,6m; Đất phù sa không được bồi hàng năm, độ phì khá, chua, gồm 2 nhóm: Đất không có glây và glây yếu; Đất có glây trung bình hoặc mạnh; Ở Nam Đàn, Hưng Nguyên, cam được trồng trên đất dốc tụ, có thành phần cơ giới lớp mặt thường là cát pha đến thịt nhẹ, pha lẫn các hạt sỏi sạn. Đất phù sa thích hợp cho trồng cam.

Từ những kết quả đạt được, nhóm nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng CAQCM tỉnh Nghệ An bao gồm:

- Giải pháp quy hoạch: Về diện tích trồng CAQCM chung của cả vùng quy hoạch, chỉ cần quy hoạch tại những nơi được đánh giá là Rất thích nghi, vì theo đề tài, Rất thích nghi là 13.045,32ha và Thích nghi: 39.143,73ha. Theo quy hoạch của tỉnh đến năm 2020 là 8.270ha, đến 2030 là 10.160ha. Đồng thời, cần phải chuyển đổi mục đích sử dụng một số loại đất, vì có sự chồng lấn giữa diện tích được đánh giá là Rất thích nghi với diện tích đất đang trồng cây lâu năm và cây hàng năm khác; rừng sản xuất, rừng phòng hộ và đất ở; Trước mắt là chuyển đổi đất trồng cây hàng năm khác ở vùng đồi núi; đất rừng sản xuất kém hiệu quả và đất trồng cây lâu năm kém hiệu quả và không chuyển đổi các loại đất rừng phòng hộ; đất ở.

Về vị trí và diện tích trồng CAQCM cụ thể tại từng xã trong vùng quy hoạch: Các xã không nên đưa vào quy hoạch là Đôn Phục, Mậu Đức (huyện Con Cuông), Hạ Sơn, Văn Lợi (huyện Quỳ Hợp). Lý do: Điều kiện kinh tế, năng lực nông dân chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển CAQCM. Nông dân đã phá bỏ cam. Các xã nên mở rộng diện tích so với quy hoạch trên các ĐVĐĐ được đánh giá là Rất thích nghi và Thích nghi trên bản đồ và bảng số liệu ở trên.

- Giải pháp bảo vệ đất, hạn chế xói mòn trên đất dốc: Đối với đất dốc, cần vận dụng mô hình nông lâm kết hợp. Trên đất rừng sản xuất nên bố trí: Đối với đất dốc <250: Phần từ đỉnh đồi trở xuống (khoảng 60% diện tích) giữ lại rừng; chỉ dành 40% diện tích đất thấp dưới chân đồi để trồng cam; Đối với những đất dốc >250, cơ cấu sử dụng đất sẽ là 70% và 30%.

- Giải pháp về cơ sở hạ tầng: Một số địa phương có tỷ lệ tổn thất thu hoạch đối với cam, quýt rất cao do dập nát khi vận chuyển như các xã Văn Lợi, Hạ Sơn, huyện Quỳ Hợp. Chi phí vận chuyển lên đến 3.000 đồng/kg, thấp nhất 1.000 đồng/kg; tổng chi phí cho vận chuyển trung bình từ 30-60 triệu đồng nếu cam có năng suất 20 tấn/ha. Cần cải thiện hệ thống đường giao thông và phương tiện vận tải sản phẩm. Những nơi chưa có điện lưới, việc lắp đặt và vận hành hệ thống tưới khó khăn, cần xây dựng các công trình thủy lợi vừa và nhỏ lấy nước tưới cho cam.

Như vậy, Đề tài được triển khai cho thấy kết quả nghiên cứu trên 7 nhóm đất với 19 loại đất trong vùng quy hoạch CAQCM tỉnh Nghệ An cho thấy, đất đai ở đây có sự phân hóa. Đề tài đã xây dựng 25 bộ bản đồ thành phần tại 25 xã trong vùng quy hoạch thể hiện sự phân hóa tính chất của đất đai về độ dốc, độ cao, khí hậu, điều kiện tưới, loại đất, độ phì. Tiềm năng đất đai để mở rộng sản xuất CAQCM lớn hơn diện tích quy hoạch rất nhiều. Tỉnh nên điều chỉnh quy hoạch theo hướng sau: Chỉ quy hoạch những diện tích được đề tài đánh giá là Rất thích nghi; Đưa ra khỏi quy hoạch: các xã Đôn Phục, Mậu Đức của huyện Con Cuông; các xã Hạ Sơn, Văn Lợi của huyện Quỳ Hợp. Lý do: nông dân đã phá bỏ cam vì hiệu quả thấp; Đưa thêm vào quy hoạch: xã Chi Khê, huyện Con Cuông; xã Đồng Thành, huyện Yên Thành. Lý do: cam có năng suất cao, chất lượng tốt, được ưa chuộng trên thị trường.

So sánh với một số cây trồng trong vùng quy hoạch, cây cam đã khẳng định được ưu thế vượt trội về hiệu quả sử dụng đất. Đất trồng trong vùng quy hoạch phần lớn có thành phần dinh dưỡng không cao, chua. Để đảm bảo cam phát triển tốt, nên bón phân theo thứ tự ưu tiên: kali; lân; vôi; đạm, đồng thời thực hiện các giải pháp được đề ra một cách nghiêm túc và khoa học/.

Nguyễn Thị Thúy Hà - Đại học Vinh

 

Tin khác

Tiện ích - Download Tiện ích - Download


Tiện ích - download hết hạn.

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.