Nghiên cứu bổ sung giống cam V2 vào danh mục giống cam được bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Vinh”

Ngày 31 tháng 5 năm 2007, Cục Sở hữu trí tuệ đã ban hành Quyết định số 386/QĐ-SHTT về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 000012 cho sản phẩm cam quả của tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên, cam Vinh không chỉ giới hạn trong phạm vi địa lý được bảo hộ theo Quyết định số 386/QĐ-SHTT (chỉ bao gồm 12 xã của 5 huyện: Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Nghĩa Đàn, với diện tích hơn 1.681 ha).

Do những tính chất đặc biệt nổi trội của sản phẩm cam quả của tỉnh Nghệ An và giá trị kinh tế của cam Vinh trên thị trường đang trở nên "nóng bỏng" với chất lượng được xem là vượt trội hơn so với các loại cam khác. Đặc biệt từ khi được cấp văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý "Vinh" dùng cho sản phẩm cam quả của tỉnh Nghệ An, đến nay giá cam Vinh trong vùng chỉ dẫn địa lý tăng lên gấp 10 lần so với trước khi được bảo hộ (từ 7.000 đồng/kg năm 2010 đến nay giữ ổn định ở 60.000 - 70.000 đông/kg).

Cam V2 quả to trung bình (180,0 - 250,0 gr/quả), có thể lưu giữ trên cây lâu mà không bị giảm chất lượng, vỏ quả mỏng, vàng đẹp

Trước sự phát triển của cơ chế thị trường, nhiều nhà sản xuất, các địa phương đã tập trung đầu tư phát triển mạnh về cây cam, nhưng giá cam của các vùng không nằm trong vùng chỉ dẫn địa lý có giá không bằng ½ giá cam trong vùng chỉ dẫn địa lý. Trên những địa phương khác, cam Vinh cũng được người dân khai thác và doanh nghiệp đưa vào thương mại hóa với thương hiệu Cam Vinh. Đây là một điều bất cập trong vấn đề quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý "Vinh" dùng cho sản phẩm cam quả đã được bảo hộ, nếu không có công cụ quản lý tốt thì chỉ dẫn địa lý "Vinh" cho sản phẩm cam quả sẽ bị lạm dụng hoặc sẽ gây ảnh hưởng xấu trong quá trình trồng và kinh doanh sản phẩm tại những vùng địa lý chưa được bảo hộ.

Đứng trước tình trạng đó, UBND tỉnh Nghệ An đã ký Quyết định số 4662/QĐ-UBND về việc phê duyệt thuyết minh Đề tài KHCN "Nghiên cứu bổ sung giống cam mới vào danh mục giống cam được bảo hộ chỉ dẫn địa lý Vinh và mở rộng phạm vi bảo hộ chỉ dẫn địa lý "Vinh" cho sản phẩm cam quả trên địa bàn tỉnh" nhằm xXác định được cơ sở khoa học và thực tiễn chứng minh các tính đặc thù của sản phẩm cam quả cho 03 giống cam (Cam Xã Đoài, cam Vân Du, cam Sông Con) phục vụ việc mở rộng chỉ dẫn địa lý. Đồng thời, xây dựng được cơ sở khoa học và thực tiễn chứng minh tính đặc thù của sản phẩm cam quả giống V2 và yếu tố tự nhiên, con người quyết định đến tính đặc thù của sản phẩm cam quả giống V2 tại các vùng nghiên cứu được bổ sung vào bảo hộ chỉ dẫn địa lý "Vinh" trên địa bàn tỉnh Nghệ An và xây dựng được bản đồ vùng tương ứng với chỉ dẫn địa lý bổ sung giống cam mới vào danh mục giống cam được bảo hộ chỉ dẫn địa lý "Vinh" và mở rộng phạm vi bảo hộ chỉ dẫn địa lý "Vinh" cho sản phẩm cam quả trên địa bàn tỉnh.

Cam V2 ưa khí hậu á nhiệt đới, bởi vậy tất cả các vùng trồng có điều kiện khí hậu tương tự như khí hậu vùng á nhiệt đới đều trồng được cam

Trong 3 giống cam đã được Cục Sở hữu trí tuệ bảo hộ là Cam Xã Đoài, cam Vân Du, cam Sông Con mỗi loại có 1 đặc điểm riêng. Giống cam Xã Đoài có nguồn gốc từ Tây Ban Nha và có mặt tại Việt Nam từ những năm 1929 - 1930. Đến nay đã có trên 70 năm sinh trưởng và phát triển trên đất xứ Đoài thuộc 2 huyện: Nghi Lộc và Hưng Nguyên. Giai đoạn phát triển thịnh hành nhất của cam Xã Đoài là vào những năm 1960 - 1980, khi mà nhiều hộ gia đình đạt năng suất 80 - 90 kg quả/cây. Điều đó chứng tỏ rằng giống cam này rất phù hợp với các điều kiện tự nhiên và sinh thái của vùng. Trước kia, cam Xã Đoài tập trung chủ yếu trong đất thổ cư, chủ yếu là đất vườn, nơi có độ dốc thấp từ 0 - 3O. Có rất ít vườn cam trồng thuần, chủ yếu trồng xen với chanh và các cây ăn quả khác. Các vườn cam có tuổi cây không đều nhau, mật độ trồng khác nhau, chưa có quy hoạch cụ thể. Đến nay, cam Xã Đoài được trồng phổ biến ở các các dạng địa hình khác nhau, từ bằng phẳng đến đồi dốc <100 và là cây trồng chủ lực của tỉnh. Cam Vân Du khá được ưa chuộng tại Nghệ An do năng suất cao và tính thích nghi lớn. Hầu hết các hộ trồng cam trên địa bàn tỉnh đều coi Vân Du là giống chiến lược cho vườn cam của họ. Cây khỏe, quả to, năng suất cao, thích nghi trên mọi loại đất và địa hình cũng như chịu được khí hậu thay đổi là những ưu điểm cơ bản làm cho giống này rất phổ biến tại địa phương. Tuy có chất lượng tốt nhưng cam Sông Con chưa phát triển mạnh vì tính thích nghi kém hơn những giống cam khác. Trước kia, do kỹ thuật trồng và chăm sóc còn hạn chế, khi được trồng ngoài vùng Tân Kỳ, giống cam này thường sinh trưởng kém, ít quả, quả nhỏ và chất lượng quả thấp. Quả thường rụng sớm trước khi chín nên các hộ trồng cam phải bán khi quả còn xanh, dẫn đến chất lượng quả khi đưa ra tiêu thụ trên thị trường không đảm bảo. Đến nay, do áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất giống cam này đã được phân bố trên hầu hết các loại địa hình khác nhau của tỉnh Nghệ an, ở các vùng khác nhau giống cam này cho năng xuất và chất lượng không thua kém trồng tại Tân Kỳ.

Cam V2 vỏ quả mỏng, vàng đẹp với độ dày trung bình 3,0 mm, lõi quả vàng ươm, số múi trung bình trên quả là 11, hàm lượng nước cao, tỷ lệ xơ thấp, chất lượng thơm, ngọt đậm, ít hạt

 

Riêng đối với giống cam V2 thì được chọn tạo bởi Viện Di truyền nông nghiệp vừ nhưng năm 1980 của thế kỷ trước và được trồng thử nghiệm đầu tiên ở vùng Phủ Quỳ, tỉnh Nghệ An. Qua một thời gian dài thử nghiệm và nhân rộng ra các vùng trong tỉnh, giống cam V2 đã cho năng xuất, chất lượng và có giá trị kinh tế cao. Đây là giống cam ngọt chín muộn, khả năng thích nghi rộng, kháng bệnh tốt, thu hoạch muộn hơn hoặc cùng lúc với cam sành ở các tỉnh phía Bắc, từ cuối tháng 12 đến tháng 3 và đặc điểm đặc biệt là rất ít hạt (0- 5 hạt/quả). Cây sinh trưởng phát triển tốt, phân cành đều, cây cân đối, khả năng ra hoa đậu quả cao. Quả dễ bảo quản và bảo quản được lâu trên cây, thành phần và chất lượng nước quả tuyệt hảo.

Cam V2 ưa khí hậu á nhiệt đới, bởi vậy tất cả các vùng trồng có điều kiện khí hậu tương tự như khí hậu vùng á nhiệt đới đều trồng được cam. Cam có thể trồng ở vùng có nhiệt độ từ 12 – 39 độ C, trong đó nhiệt độ thích hợp nhất là từ 23 – 29 độ C. Nhiệt độ thấp hơn 12,5 độ C và cao hơn 40 độ C cây ngừng sinh trưởng. Nhìn chung nhiệt độ là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động sống của cây cũng như năng suất, chất lượng quả. Cam không ưa ánh sáng mạnh, ưa ánh sáng tán xạ có cường độ 10.000 – 15.000 Lux, ứng với 0,6 cal/cm2. Kinh nghiệm muốn có ánh sáng tán xạ cần bố trí mật độ cây dày hợp lý và thường xuyên cắt tỉa đúng kỹ thuật. Là loại cây ưa ẩm nhưng không chịu được úng vì rễ của cam thuộc loại rễ nấm (hút dinh dưỡng qua một hệ nấm cộng sinh), do đó nếu ngập nước đất bị thiếu ôxy rễ sẽ hoạt động kém, ngập lâu sẽ bị thối chết làm rụng lá, quả non. Cam V2 có thể trồng được trên nhiều loại đất, tuy nhiên phù hợp nhất là được trồng trên đất giàu mùn, hàm lượng các chất dinh dưỡng NPK, Ca, Mg… phải đạt mức độ từ trung bình trở lên, độ pH thích hợp là 5,5 – 6,5, thành phần cơ giới cát pha hoặc đất thịt nhẹ, thoát nước tốt.

Tại Nghệ An, cam V2 quả to trung bình (180,0 - 250,0 gr/quả), có thể lưu giữ trên cây lâu mà không bị giảm chất lượng, vỏ quả mỏng, vàng đẹp với độ dày trung bình 3,0 mm, lõi quả vàng ươm, số múi trung bình trên quả là 11, hàm lượng nước cao, tỷ lệ xơ thấp, chất lượng thơm, ngọt đậm, ít hạt, khả năng kháng bệnh (bệnh loét, chảy gôm, nấm đen gốc, khô cành) tốt hơn so với các giống hiện có trong nước. Giống cam V2 được chọn tạo từ giống Valencia Olinda, làm sạch bệnh qua vi ghép, cây khoẻ và năng suất khá hơn so với giống gốc; đã được Bộ NN - PTNT công nhận là giống chính thức.

Trong nghiên cứu của mình công trình khoa học này đã xác định được các tiêu chuẩn đặc thù của cam V2 gồm các đặc thù về hình thái và đặc thù về chất lượng phục vụ cho việc đăng ký bổ sung vào chỉ dẫn địa lý "Vinh" dùng cho sản phẩm cam quả của tỉnh Nghệ An. Nghiên cứu được đặc thù về điều kiện tự nhiên, con người vùng nghiên cứu ảnh hưởng đến chất lượng của cam Vinh: Lượng mưa trung bình năm (mm): 1.200 - 1.800; Lượng bốc hơi trung bình năm (mm): 900 – 950; Độ ẩm trung bình năm (%): 80 – 85; Nhiệt độ trung bình năm (OC): 23 – 25. Thích hợp với các loại đất có thành phần cơ giới Sét, Sét pha cát, Thịt pha sét, Thịt pha sét và cát như: Đất phù sa được bồi, Đất phù sa không được bồi hàng năm, Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất, Đất vàng đỏ trên đá macma axit, Đất vàng nhạt trên đất cát, Đất nâu vàng trên phù sa cổ, Đất mùn đỏ vàng trên đá sét và biến chất, Đất xám bạc màu trên phù sa cổ, Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của cacbonat, Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của Bazan.

Trên cơ sở những nghiên cứu đó, công trình đã xác định được các tiêu chuẩn đặc thù của cam đặc sản Vinh gồm các đặc thù về hình thái và đặc thù về chất lượng của bốn giống cam: Xã Đoài, Vân Du, Sông Con và V2. Các giống cam Vinh trong khu vực nghiên cứu phù hợp với chất lượng đã được bảo hộ. Từ dó đề xuất bảo hộ chỉ dẫn địa lý "Vinh" trên địa bàn tỉnh Nghệ An đối với sản phẩm cam quả giống V2./.

Hải Yến

 

 

Tin khác

Tiện ích - Download Tiện ích - Download


Tiện ích - download hết hạn.

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.