« Quay lại

Nghiên cứu ảnh hưởng của dinh dưỡng, yếu tố môi trường và kích thích sinh sản lên chất lượng trứng của cá dìa Siganus guttatus

Nhóm nghiên cứu tại Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống sản phẩm cây trồng Quốc gia do ông Phạm Quốc Hùng làm chủ nhiệm, đã thực hiện đề tài: "Nghiên cứu ảnh hưởng của dinh dưỡng, yếu tố môi trường và kích thích sinh sản lên chất lượng trứng của cá dìa Siganus guttatus (Bloch, 1787)" trong thời gian từ năm 2013 đến 2015. Nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định được yếu tố dinh dưỡng, yếu tố môi trường và chất kích thích sinh sản thích hợp lên sự phát triển buồng trứng và chất lượng trứng của cá dìa (Siganus guttatus).

 



Đề tài thu được các kết quả sau: 

Về ảnh hưởng của dinh dưỡng khác nhau lên chất lượng trứng cá dìa 
Nghiên cứu đã xác định và mô tả chi tiết được 6 giai đoạn phát triển buồng trứng và tinh sào ở cá dìa. Mùa sinh sản chính của cá dìa được xác định từ tháng 4 đến tháng 7 (GSI: 7 - 9% ở cá cái, 6 - 7% ở cá đực) và mùa sinh sản thứ hai là vào tháng 10, 11 (trên 6 - 7% ở cả hai giới). Hệ số thành thục thấp nhất vào các tháng 8 và tháng 1, 2 dao động 0,6 - 1,8%. Chế độ chiếu sáng có ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu sinh sản của cá dìa bố mẹ, đạt được tối ưu ở các chế độ chiếu sáng 24/0 (tỷ lệ thành thục 46 ± 18%); sức sinh sản đạt được cao nhất ở chế độ chiếu sáng 16/8 giờ (820.182 ± 106.200 trứng/cá cái và 1.315 ± 177 trứng/g cá cái). Các chỉ tiêu về chất lượng trứng và ấu trùng ở chế độ chiếu sáng 24/0 cho kết quả tốt ngược lại 2 chế độ chiếu sáng còn lại (16/8 và 8/16) cá không đẻ. Nhiệt độ nuôi không ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh hóa của trứng cá dìa (P > 0,05) mặc dù hàm lượng protein và lipid có khuynh hướng cao hơn ở nghiệm thức 29 độ C (21,21%) và 32 độ C (8,15%). Độ mặn cũng không ảnh hưởng đến tỷ lệ thành thục và hệ số thành thục của cá dìa, tỷ lệ cá đực thành thục sinh dục đạt 2/3 và cá cái chỉ đạt 1/3 trong các đợt kiểm tra. Hệ số thành thục dao động từ 2,8 - 7,6%, trung bình 4,6%. Cần có những quan sát thêm để xác định được ảnh hưởng của nhiệt độ, độ mặn và ánh sáng lên một số chỉ tiêu sinh sản của cá dìa trong điều kiện nuôi nhốt trong thời gian dài hơn. 

Về ảnh hưởng của các yếu tố môi trường (nhiệt độ, ánh sáng, độ mặn) khác nhau lên chất lượng trứng cá dìa 
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng Vitamin C, E không ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh hoá của cá cá dìa. Đồng thời, hai loại vitamin này đều cho kết quả về các chỉ tiêu sinh sản thấp hơn ở nghiệm thức không bổ sung. Cụ thể nghiệm đối chứng: Tỷ lệ thành thục là 46 ± 18%; thời gian hiệu ứng là 16 ± 4 giờ. Tỷ lệ thụ tinh của cá đạt 90 ± 22%. Tỷ lệ sống đến giai đoạn điểm mắt đạt 90 ± 25%. Tỷ lệ nở đạt 86 ± 18%; thời gian phát triển phôi 18 ± 2 giờ và chiều dài của ấu trùng một ngày tuổi là 1,58 ± 0,18 mm; đường kính 6 noãn hoàng một ngày tuổi là 0,35 ± 0,02 mm. Một số chỉ tiêu sinh sản của cá dìa khi nuôi ở nghiệm thức đối chứng cho kết quả tốt. Về sức sức sinh sản tuyệt đối và tương đối 655,433 ± 88,673 trứng/cá cái và 1.266 ± 165 trứng/g cá cái. Hàm lượng bổ sung vitamin C, E ở mức 750mg/kg, 200mg/kg cho tỷ lệ thành thục tốt hơn các nghiệm thức bổ sung vitamin còn lại. 

Về ảnh hưởng của kích thích sinh sản (bằng hormone) khác nhau lên chất lượng trứng cá dìa 
Kết quả nghiên cứu cho thấy cá dìa sinh sản tốt khi được kích thích bằng HCG. Tỷ lệ thụ tinh cao (đạt 90%) khi kết hợp 2 loại hormon LHRH - A và HCG kích thích cho cá dìa. Ở nghiệm thức sử dụng CPE và nghiệm thức đối chứng cá không đẻ. Việc sử dụng DOM và T4 thông qua thức ăn trong thời kỳ nuôi vỗ không thúc đẩy nhanh sự thành thục và đẻ trứng ở cá dìa. 

Mùa vụ sinh sản của cá dìa tại Khánh Hòa tập trung hai lần trong năm, lần 1 (từ tháng 4 đến tháng 7), lần 2 (từ tháng 9 đến tháng 11), với mùa vụ chính tập trung vào lần 1. Trong thí nghiệm tiêm HCG, cá dìa sinh sản ở cả 3 mức (1.500 IU, 2.000 IU và 2.500 IU), tỷ lệ thụ tinh đạt trên 70% và tỷ lệ nở đạt trên 90%. Với nghiệm thức sử dụng LHRH - A, cá dìa chỉ đẻ ở mức 30 μg và 50 μg, tỷ lệ thụ tinh đạt trên 66%, tỷ lệ nở đạt trên 96%. Khi sử dụng kết hợp LHRH - A cùng với HCG, cá dìa cũng chỉ đẻ ở 2 mức 20 μg + 2.000 IU và 30 μg + 2.000 IU tương ứng. Tuy nhiên tỷ lệ thụ tinh lại cao hơn so với sử dụng HCG và LHRH - A riêng lẻ (90%). Trong khi đó ở nghiệm thức sử dụng CPE (10 mg) và nghiệm thức đối chứng (1mL), cá dìa không đẻ. Sử dụng DOM thông qua thức ăn trong thời kỳ nuôi vỗ không ảnh hưởng đến sự thành thục và đẻ trứng ở cá dìa. Thành phần sinh hóa (Protein, Lipid, Tro và độ ẩm) ở các nghiệm thức không có sự sai khác khi ta bổ sung T4 vào thức ăn trong thời kỳ nuôi vỗ cá bố mẹ. 


Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 13567/2017) tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.
N.P.D (NASATI)

Tin khác

Tiện ích - Download Tiện ích - Download


Tiện ích - download hết hạn.

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.