« Quay lại

Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất và sử dụng chế phẩm thảo mộc phòng trừ sâu hại rau.

Trong sản xuất rau an toàn, một trong những trở ngại lớn hiện nay là bị nhiều loài sâu gây hại với trên 30 loài, gây hại thường xuyên và nghiêm trọng như rệp cải, sâu xanh bướm trắng, sâu tơ, sâu khoang, bọ nhảy,... gây tổn thất đáng kể đến năng suất và chất lượng rau. Người nông dân phải sử dụng ngày càng nhiều thuốc hóa học trừ sâu, với số lần phun trong vụ ngày càng tăng (7 - 10 lần/vụ). Theo kết quả nghiên cứu của Trần Văn Quyền và cs. (2008), để phòng trừ sâu bệnh hại rau, nông dân vùng rau TP. Vinh đã sử dụng 37 loại thuốc hoá học trừ sâu, trong đó chỉ có 10 chất được phép sử dụng, 26 loại thuốc không được phép sử dụng và 1 loại thuốc đã bị cấm.

Ðể góp phần hạn chế tác hại của thuốc hóa học, vấn đề nghiên cứu và sử dụng thuốc trừ sâu thảo mộc trừ sâu ngày càng được quan tâm. Thuốc thảo mộc có những ưu điểm cơ bản như: Có hiệu lực trừ sâu bệnh cao, chọn lọc, các chất độc là các hợp chất thiên nhiên cho nên dễ bị phân hủy sau khi sử dụng, không để lại dư lượng ở trong đất và trong nông sản, ít gây độc hại cho người và môi trường. Theo thống kê, số lượng thuốc trừ sâu sinh học được đăng ký tại Việt Nam gia tăng rất nhanh kể từ năm 2000, có nhiều sản phẩm được nghiên cứu, sản xuất trong nước. Tuy vậy, dù doanh số chỉ trên dưới 5% tổng doanh số thuốc BVTV, số lượng sản phẩm sản xuất trong nước chưa tương xứng với tiềm năng của Việt Nam, vẫn phải phụ thuộc nhiều vào sản phẩm ngoại nhập vừa đắt đỏ vừa thiếu chủ động trong phòng ngừa sâu bệnh. Do vậy, cần có giải pháp đồng bộ để đẩy nhanh việc sản xuất và ứng dụng các sản phẩm sinh học BVTV trong đó có chế phẩm thảo mộc để phục vụ sản xuất nông nghiệp bền vững. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, nhóm sinh viên Lớp K56 Nông học - Viện Nông nghiệp và Tài nguyên - Trường Đại học Vinh đã thực hiện đề tài: "Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất và sử dụng chế phẩm thảo mộc phòng trừ sâu hại rau". Từ những kết quả đạt được, Đề tài Đạt giải Nhì giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2018.

Nghiên cứu thành phần loài cây độc có khả năng phòng trừ sâu hại: Hiện nay, nhiều nước khác đã công bố thành phần cây độc trừ được sâu hại cây trồng khá phong phú. Nghiên cứu về hoạt chất độc và sản xuất chế phẩm thảo mộc: Cho đến nay, cây Neem được xem như cây trồng mũi nhọn có triển vọng trong lĩnh vực nghiên cứu thuốc trừ sâu thảo mộc. Ngoài Nicotine, Rotenone, Pyrethrum, Azadirachtin còn có rất nhiều các chất độc tự nhiên khác đã được phát hiện như: Tinh dầu, các Alkaloids, Amaroids, Glucozids,… Tuy nhiên, những hoạt chất thường gặp những vấn đề chung như độ bền hữu hiệu kém do chất độc dễ bị phân hủy. Hàm lượng chất độc tự nhiên trong cây thường thấp, chiết tách rất khó khăn và tốn kém. Do công nghệ chiết xuất phức tạp, bảo quản ngắn nên các sản phẩm này khó có lượng dự trữ lớn cho sản xuất trên diện rộng. Thế giới mới tập trung vào các cây độc mà chưa có nhiều nghiên cứu, khai thác những cây đặc thù của các địa phương. Một số thuốc trừ sâu gốc thảo mộc lại là gia vị và thảo dược như tỏi, lá lốt, gừng, nghệ, hạt tiêu đen, lá mật gấu, sả,... chưa được chú ý (Alphonsus, 2010; Mkenda P et al., 2015; Paul W.C. Greena et al, 2017).

Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm thảo mộc phòng trừ sâu hại: Từ lâu con người đã biết dùng chế phẩm thảo mộc để trừ sâu nhưng gần đây cùng với các tiến bộ về công nghệ, các chất có nguồn gốc thảo mộc trừ sâu ngày càng được phát triển nhanh. Từ chỗ người dân địa phương chỉ biết sử dụng các cây độc hoang dại ở dạng thô, tiến đến con người biết trồng trọt, biết chiết xuất lấy chất độc trong cây ra: Nicotin, Rotenone, pyrethrin đã mở đầu cho thời kỳ thuốc trừ sâu thế hệ thứ nhất. Trong vòng 30 năm gần đây, việc nghiên cứu sử dụng thuốc thảo mộc lại chú trọng ở nhiều nước trên thế giới Nhiều dự án nghiên cứu thuốc trừ sâu thảo mộc ở các nước được chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế tài trợ (Jacobson, 1990). Cho đến nay chế phẩm thảo mộc trù dịch hại vẫn được coi là hướng ưu tiên phát triển nhằm thay thế một phần thuốc hóa học tổng hợp đáp ứng mục tiêu quản lý dịch hại bền vững, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo vệ sức khỏe con người và môi trường. 

Sâu hại rau (rệp, sâu xanh bướm trắng, sâu khoang)

Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu sử dụng chế phẩm thảo mộc phòng trừ sâu hại trong nông nghiệp. Ở Việt Nam hiện nay các thuốc trừ sâu thảo mộc đã được đăng ký với nhiều tên thương mại của nhiều đơn vị như: Hoạt chất Azadirachtin với 22 tên thương phẩm và 16 hỗn hợp của chúng; Matrine (15 đơn vị và 24 hỗn hợp); Rotenone (9 đơn vị và 3 hỗn hợp); saponin (3 đơn vị). Ngoài ra, còn có các sản phẩm từ tinh dầu tỏi và các cây độc khác. Các hoạt chất độc chính trong các loại thảo mộc sử dụng làm thuốc trừ sâu hại nằm trong số các hoạt chất thuộc các nhóm alcaloid, pyretroid, rotenoid và các tinh dầu thơm. Mỗi một loại hoạt chất có độ độc, cơ chế tác dụng và lĩnh vực áp dụng khác nhau. Một số hoạt chất đã được áp dụng hiệu quả trong thực tế và đã được sản xuất ở quy mô công nghiệp. Việt Nam đã có những chế phẩm trừ sâu thảo mộc trừ dịch hại cây trồng. Những chế phẩm này đều có hiệu quả phòng trừ sâu hại cao; không ô nhiễm môi trường, không tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trong sản phẩm và không gây hiện tượng quen thuốc và kháng thuốc của dịch hại. Do giới hạn về thiết bị, công nghệ nên việc sản xuất chế phẩm trừ sâu thảo mộc ở quy mô công nghiệp vẫn còn hạn chế.

Với mục tiêu nghiên cứu tạo ra ðýợc loại chế thảo mộc ðể phòng trừ ðýợc sâu hại rau hiệu lực ðạt trên 75%. Nhóm tác giả ðã tuân theo các phương pháp thường quy trong nghiên cứu về côn trùng và chế phẩm sinh học bảo vệ thực vật: Kỹ thuật sản xuất chế phẩm thảo mộc; đánh giá hiệu lực chế phẩm thảo mộc đối với sâu hại trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng. Đối tượng nghiên cứu Rệp cải Brevicoryne brassicae Linnaeus (Homoptera: Aphididae); sâu xanh bướm trắng Pieris rapae L. (Pieridae: Lepidoptera); sâu khoang Spodoptera litura L. (Noctuidae Bộ: Lepidoptera). Các nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Viện Nông nghiệp và Tài Nguyên, Trường Đại học Vinh; trên ruộng rau tại Nghi Lộc, Nghệ An.

Thông qua việc nghiên cứu kỹ thuật sản xuất và thử nghiệm chế phẩm thảo mộc từ lá cây mật gấu: Trong phòng thí nghiệm: Sử dụng chế phẩm lá mật gấu nồng độ pha chế phẩm/nước là 1/25 - 1/20, liều lượng 3ml/hộp gồm 30 rệp cải là phòng trừ được rệp cải đạt hiệu lực từ 75,56 - 80,52% sau 5 ngày phun. Ngoài đồng ruộng: Chế phẩm từ lá mật gấu với nồng độ pha chế phẩm/nước là 1/20, phun trên rau cải bẹ xanh thì với mật độ rệp cải 130 - 150 con/m2 cần sử dụng mức liều lượng 25-30ml/m2 là có thể đạt hiệu lực phòng trừ từ 69,84 - 74,56%; còn trên ruộng cải bắp thì với mật độ rệp cải 110 - 130 con/m2 cần sử dụng mức liều lượng 30 - 35ml/m2 là có thể đạt hiệu lực phòng trừ từ 71,52 - 73,67% sau 7 ngày phun.

  Chế phẩm thảo mộc và phun phòng trừ ngoài đồng ruộng

Chế phẩm thảo mộc hỗn hợp: Trong phòng thí nghiệm: Sử dụng chế phẩm thảo mộc hỗn hợp với nồng độ pha chế phẩm/nước là 1/25 - 1/20, liều lượng 3ml/hộp gồm 10 sâu cho hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng đạt 84,27 - 88,72%; đối với sâu khoang đạt sau 5 ngày phun; Ngoài ruộng cải bẹ xanh: Sử dụng chế phẩm thảo mộc hỗn hợp với nồng độ pha chế phẩm/nước là 1/20, liều lượng 25-30ml/m2 có thể kiểm soát được sâu xanh bướm trắng ở mật độ 5 - 7 con/m2 đạt hiệu lực 77,24 - 78,99%; sâu khoang ở mật độ 5 - 7 con/m2 đạt hiệu lực 76,03 - 80,16% sau 7 ngày phun.

 Xây dựng quy trình sản xuất chế phẩm thảo mộc quy mô nhỏ: Từ kết quả sản xuất và thử nghiệm chế phẩm thảo mộc từ lá cây mật gấu và Chế phẩm thảo mộc hỗn hợp, xác định được các chỉ tiêu chính để xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất chế phẩm thảo mộc gồm 7 bước: (1) Chuẩn bị nguyên vật liệu; (2) Sơ chế nguyên liệu; (3) Phối trộn hỗn hợp; (4) Ngâm ủ lên men; (5) Thu dung dịch cấp 1; (6) Gia công, đóng gói, bảo quản; (7) Thành phẩm.

 

Kết quả đề tài là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện sản xuất và ứng dụng chế phẩm ra các vùng trồng rau an toàn. Từ đó sẽ cung cấp các kỹ thuật và kiến thức về sử dụng chế phẩm thảo mộc đến người dân, các nhà bảo vệ thực vật, nông nghiệp, góp phần thay đổi nhận thức về vai trò của các tác nhân sinh học trong sản xuất rau an toàn. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp các dẫn liệu khoa học về quy trình sản xuất và sử dụng chế phẩm thảo mộc phòng trừ sâu hại rau, phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy trong lĩnh vực BVTV. Góp phần đào tạo 02 - 03 sinh viên ngành Nông học, nâng cao kỹ năng nghiên cứu và sử dụng chế phẩm thảo mộc trong phòng trừ sâu hại rau của nhóm nghiên cứu.

Đề tài triển khai đã xây dựng quy trình chế biến và sử dụng chế phẩm đồng thời chuyển giao quy trình cho người dân trồng rau. Chế phẩm thảo mộc thích hợp sử dụng cho các vùng sản xuất rau an toàn. Nguyên liệu liệu phổ biến, từ các thảo dược và cây cỏ địa phương. Đồng thời cung cấp các dẫn liệu khoa học và thực tiễn có giá trị cho công tác bảo vệ thực vật trên cây rau, phù hợp với định hướng phát triển rau an toàn và bền vững hiện nay.

Lê Phương

 

Tin khác

Tiện ích - Download Tiện ích - Download


Tiện ích - download hết hạn.

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.