« Quay lại

CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI &NHÂN VĂN SỐ 5 NĂM 2018

Lê Đức Hoàng

Cách đây 200 năm, ngày 5-5-1818, C.Mác chào đời trong gia đình luật sư người Do Thái ở Vương quốc Phổ (nay thuộc Cộng hòa liên bang Đức). Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản đang ảnh hưởng ngày càng lan tỏa từ châu Âu sang châu Á, Phi, Mỹ Latinh, lại bôn ba hoạt động ở nhiều nước Tây Âu, chứng kiến sự bần cùng của những người lao động làm thuê và sự bất công của xã hội tư bản, càng thôi thúc ở C.Mác hoài bão lớn, quyết tâm giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

1. Từ lúc 17 tuổi, C.Mác có lập luận triết lý mang tầm vĩ mô của một nhà khoa học lớn, thẳng thắn phê phán việc chọn nghề trên cơ sở quyền lợi ích kỷ hoặc thuần túy vật chất. C.Mác đã có quan niệm rằng: "Lịch sử thừa nhận vĩ nhân là những người làm việc cho mục đích chung…, người nào đem lại hạnh phúc cho nhiều người nhất thì người đó là hạnh phúc nhất… Sự nghiệp của ta sẽ tồn tại, chẳng ầm ĩ, nhưng mãi mãi là cuộc sống có ích và trên di hài của ta sẽ có những con người cao quý nhỏ những giọt nước mắt nóng hổi"(1).

Từ những năm tháng ở giảng đường đại học, C.Mác tích cực hoạt động, nghiên cứu tác phẩm của Hêghen, đến năm 23 tuổi đã nhận được học vị tiến sĩ triết học(2). Năm 1842, C. Mác gặp Ăngghen, nhưng tình bạn cùng chung lý tưởng giữa C.Mác và Ph.Ăngghen trở nên gắn bó thân thiết là từ sau cuộc gặp tại Pari hè năm 1844(3). Hai ông có nhiều hoạt động lý luận và thực tiễn, cùng viết nhiều tác phẩm có giá trị lớn. Một trong những kết quả hợp tác của hai bộ óc vĩ đại là ra đời tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản tháng 2-1848. Đây là cương lĩnh cách mạng đầu tiên của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đánh dấu chính thức ra đời CNXH khoa học. Tháng 5-1849, C. Mác chuyển tới sống và làm việc ở Anh cho đến cuối đời.

C.Mác không chỉ là nhà lý luận thiên tài mà còn là nhà hoạt động cách mạng vĩ đại, trở thành "nhân vật tín nhiệm của phong trào công nhân quốc tế"(4) và là "linh hồn" của Quốc tế I. Ông tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân, chống bọn vô chính phủ, kiên trì bảo vệ các luận điểm của mình. Thông qua hoạt động trực tiếp trong phong trào công nhân, C.Mác đưa lý luận thâm nhập vào thực tiễn, biến lý luận thành lực lượng vật chất to lớn, thúc đẩy cách mạng và sự phát triển của xã hội. Cuộc đời hoạt động C.Mác là chuỗi ngày không ngừng sáng tạo, chiến đấu không ngừng nghỉ chống mọi kẻ thù của giai cấp vô sản. Sự nghèo khó của cuộc sống lưu vong cộng với bệnh tật và những đau thương trong gia đình làm cho sức khỏe của C.Mác ngày càng suy yếu. Nhưng C.Mác vẫn hoạt động bền bỉ cho đến hơi thở cuối cùng. Năm 1867, tập đầu bộ Tư bản ra đời đã "giáng cho giai cấp tư sản một đòn chí tử trong lĩnh vực lý luận, khiến cho nó không bao giờ có thể hồi phục lại được"(5). Như Ph.Ăngghen đánh giá, "từ khi có những nhà tư bản và công nhân ở trên thế giới, chưa từng thấy xuất bản cuốn sách nào có tầm quan trọng đối với công nhân như cuốn sách này"(6). Còn V.I.Lênin thì viết: "Đến khi có bộ Tư bản, chủ nghĩa Mác đã xuất hiện trong tư thế được vũ trang đầy đủ về mặt lý luận"(7). Từ năm 1871, C.Mác sát cánh với những người dân Pari "sẵn sàng xông lên chọc trời", chứng kiến thành quả lý luận bước đầu đơm hoa kết trái. Những năm sau đó cho đến cuối đời (năm 1883), C.Mác tiếp tục dành toàn bộ sức lực và trí tuệ của mình cho lý tưởng cộng sản, phong trào công nhân quốc tế, tiếp tục viết các quyển tiếp theo của bộ Tư bản.

Ngày 2-12-1881, người vợ thủy chung, người bạn đời son sắt của Mác là Gienni qua đời; đến ngày 14-3-1883, Mác yên giấc nghìn thu. Trong nỗi đau buồn tiếc thương vô hạn, Ph.Ăngghen đã viết: Thế là cái trí tuệ mạnh mẽ nhất của Đảng ta đã ngừng suy nghĩ, trái tim mạnh mẽ nhất mà tôi chưa từng thấy đã ngừng đập mất rồi... Con người ấy mất đi, thật không sao có thể lường cho hết tổn thất đối với giai cấp vô sản chiến đấu của châu Âu và châu Mỹ, tổn thất đối với khoa học lịch sử... Mác có thể có nhiều kẻ địch nhưng tuyệt nhiên không có một kẻ thù riêng nào. Tên tuổi và sự nghiệp của Mác sẽ sống mãi nghìn thu(8).

2. Trọn đời vì lý tưởng cộng sản, C.Mác đã cống hiến vĩ đại cho lịch sử nhân loại trên nhiều phương diện. Trong di sản tư tưởng lý luận đồ sộ của C.Mác để lại cho nhân loại, chúng ta không thể không nhắc tới phép biện chứng duy vật, bởi vì đây là linh hồn sống của chủ nghĩa Mác, là cơ sở phương pháp luận đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn, trong đó có thực tiễn cách mạng(9). Vận dụng triết học duy vật biện chứng vào xem xét lịch sử xã hội, C.Mác sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử mà như V.I. Lênin đánh giá: "Chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học"(10). Từ quan niệm duy vật biện chứng về lịch sử, C.Mác xây dựng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội. Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào phân tích xã hội tư bản, C.Mác tìm ra quy luật phát sinh, phát triển, diệt vong của nó; dự báo về sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội mới cao hơn, đó là hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là CNXH.

Bên cạnh phép biện chứng duy vật, C. Mác đưa ra học thuyết giá trị thặng dư, thực hiện cuộc cách mạng trong lĩnh vực kinh tế chính trị học. Nhờ đó, C.Mác mới có thể thuyết giải một cách triệt để, tường minh sự phát sinh, phát triển, diệt vong của chủ nghĩa tư bản; vị trí kinh tế - xã hội của giai cấp vô sản trong xã hội tư bản; nội dung, bản chất sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản. Đồng thời, C.Mác cùng với Ph.Ăngghen sáng lập ra CNXH khoa học - một trong ba bộ phận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là hệ tư tưởng khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân, soi đường cho cách mạng XHCN giải phóng nhân loại khỏi chế độ tư hữu, áp bức, bất công, nghèo nàn, lạc hậu.

Học thuyết Mác là ngọn đèn soi sáng con đường cách mạng cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới; được V.I.Lênin bổ sung, phát triển, được các nhà mác xít vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể, đem đến thành tựu của CNXH hiện thực hơn 100 năm nay. Từ thực tiễn cách mạng ở Pháp, ra đời Công xã Pari năm 1871 tới thành công Cách mạng tháng Mười năm 1917 và từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, xuất hiện các nước XHCN ở Đông Âu, ở châu Á, châu Mỹ La tinh, đưa CNXH trở thành hệ thống thế giới. Hệ thống XHCN đứng đầu là Liên Xô đã sát cánh bên cạnh các phong trào cách mạng thế giới, ủng hộ vật chất và tinh thần, củng cố niềm tin, là tường thành vững chắc đối phó và ngăn cản sự chống phá của các thế lực đối lập. Điều này, không chỉ làm thay đổi diện mạo "địa - chính trị" thế giới mà quan trọng hơn là làm đảo lộn nhận thức về thế giới, từ đó thiết lập quan niệm sống và lối sống mới trên nguyên tắc độc lập - tự do - bình đẳng, xóa bỏ áp bức, bóc lột giữa người và người. Ngay cả sau khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu gặp khủng hoảng và sụp đổ; khi Mỹ và nhiều nước công nghiệp phát triển đương đầu với hậu quả khủng hoảng kinh tế, tài chính (năm 2008), các chuyên gia kinh tế phương Tây đã tìm đến học thuyết C.Mác làm cơ sở lý luận và phương pháp luận để vạch chiến lược phát triển nhằm nhanh thoát khỏi tâm điểm khủng hoảng.

3. Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa     Mác-Lênin một cách tự nhiên như một tất yếu lịch sử và đã tìm thấy ở đó những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập vào năm 1930, cùng Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, đường lối cách mạng Việt Nam đã cơ bản được hình thành và trong quá trình vận động cách mạng, tư tưởng, đường lối đó ngày càng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện dần, trở thành ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam.

Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin mà Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó là thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân Pháp, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên CNXH với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Với những thắng lợi đó, đất nước Việt Nam từ nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trở thành một nước đang phát triển có thu nhập trung bình, có vị thế ngày càng quan trọng trên trường quốc tế; dân tộc Việt Nam chưa bao giờ có được cơ đồ như ngày nay, triển vọng phát triển rất tươi sáng.

Tại Đại hội XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động(11). Đó chính là sự kiên định con đường của C. Mác đã vạch, được Hồ Chí Minh lựa chọn đi theo. Nhưng, trong thời đại ngày nay, để di sản của Mác thực sự là kim chỉ nam cho mọi hành động, trước hết chúng ta cần nhận thức đúng bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; vận dụng đúng đắn, sáng tạo trong thực tiễn cách mạng, tránh máy móc, giáo điều. Trong quá trình nghiên cứu, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn đất nước, cần phân biệt những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đúng đắn từ lúc mới ra đời và cho đến nay vẫn đúng; những luận điểm đúng và phù hợp trong điều kiện lịch sử lúc đó, đến nay đã bị thực tiễn vượt qua; những luận điểm đúng nhưng do hiểu chưa đúng, chưa đầy đủ, chưa sâu sắc nên vận dụng không đúng; những điều mà chủ nghĩa Mác-Lênin chưa đề cập đầy đủ hoặc chưa từng đề cập đến.

Đồng thời, chúng ta phải kiên quyết bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng mọi giá. Trong quá trình tồn tại và phát triển, chủ nghĩa Mác - Lênin không ít lần bị đòi "nhìn nhận, xem xét lại". Cuộc đấu tranh hệ tư tưởng đó diễn ra ngay từ khi chủ nghĩa Mác - Lênin mới ra đời cho đến ngày nay. Đặc biệt, lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu, các nhà tư tưởng tư sản và bọn xét lại, cơ hội, thù địch càng xuyên tạc, phủ định giá trị của học thuyết cách mạng và khoa học này. Chúng lớn tiếng cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, chỉ có giá trị ở cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, không còn phù hợp thế kỷ XXI; sự sụp đổ mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu là minh chứng cho sự sụp đổ, chấm hết của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhưng thực tiễn đã chứng minh ngược lại, chủ nghĩa Mác - Lênin đã, đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò là kim chỉ nam cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cho mục tiêu đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân loại. Đi đôi với việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa       Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phải kiên quyết đấu tranh với những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bên cạnh đó, vì thực tiễn luôn biến đổi và phát triển nên lý luận Mác - Lênin cũng cần được bổ sung, đổi mới, phát triển nếu chúng ta không muốn lạc hậu so với cuộc sống. Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống mở, các luận điểm của hệ thống đó cần có bổ sung, phát triển gắn với những biến đổi của hiện thực xã hội. Chính C.Mác và Ph.Ăng ghen đã chỉ rõ,"lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát trin chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lặp lại một cách máy móc"(12). Từ năm 1872, C.Mác và Ph. Ăng ghen chỉ rõ sự lỗi thời về một số điểm trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: "Vì đại công nghiệp đã có những bước tiến hết sức lớn trong 20 năm qua và giai cấp công nhân cũng đạt được những tiến bộ...., cho nên hiện nay, cương lĩnh này có một số điểm đã cũ"(13). Lãnh tụ V.I. Lênin, người kế thừa và phát triển học thuyết Mác, linh hồn của Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại cũng căn dặn: "Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng, lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người CNXH cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn lạc hậu trước cuộc sống"(14). Còn Nguyễn Ái Quốc từ cuối năm 1924 trong "Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ" cũng khẳng định: "Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung "cơ sở lịch sử" của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được"(15).

Với trái tim nhân hậu thấm đượm tinh thần nhân văn cộng sản và bầu nhiệt huyết cách mạng, C. Mác đã hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Thời gian càng lùi xa, chúng ta càng nhận rõ tính nhân văn và sự vĩ đại của ông. Di sản của Mác đã, đang và sẽ là tư tưởng chủ đạo của thời đại ngày nay: tất cả vì con người. Kỷ niệm 200 năm Ngày sinh C.Mác để chúng ta thêm một lần tri ân, kính trọng công lao, bảo vệ và phát huy di sản của C.Mác trong thời đại ngày nay. Hành động thiết thực để báo công với Mác, chúng ta nguyện trung thành vô hạn với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, học hỏi, tìm tòi, đổi mới, gắn lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao theo cương vị công tác và chức trách của từng người, tự hào là người mácxít - lêninnít chân chính.

 

Chú thích

(1). C. Mác tiểu sử, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977, tr.15-18.

(2). Ê. Stêpanôva, C.Mác tiểu sử sơ lược, Nxb. Ngoại ngữ Mátxcơva, tr.10.

(3). Hai ông gặp nhau lần đầu là cuối tháng 11-1842.

(4). C.Mác tiểu sử, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977, tr.417.

(5). C.Mác tiểu sử, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977, tr.414.

(6). C.Mác tiểu sử, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977, tr.416.

(7). Trần Chí Mỹ cùng nhiều tác giả, Vấn đề CNXH khoa học trong tác phẩm của C.Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Nxb. CTQG, HN, 2010, tr.386-387.

(8). C.Mác tiểu sử, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977, tr.557.

(9). Trần Chí Mỹ cùng nhiều tác giả, Vấn đề CNXH khoa học trong tác phẩm của C.Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Nxb. CTQG, HN, 2010, tr.233.

(10). V.I.Lênin, Toàn tập, tập 23, Nxb. CTQG, HN, 2005, tr.53.

(11). ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H., 2011, tr.88.

(12). Trần Chí Mỹ cùng nhiều tác giả, Vấn đề CNXH khoa học trong tác phẩm của C.Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Nxb. CTQG, HN, 2010, tr.392.

(13). C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 18, Nxb. CTQG, Hà Nội, 1995, tr.128.

(14). V.I. Lênin, Toàn tập, tập 4, Nxb. CTQG, HN, 2005, tr.232.

(15). Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb. CTQG, HN, 2011, tr.

Trần Minh Siêu

Cụ Phan Bội Châu và Chủ tịch Hồ Chí Minh là hai ngôi sao sáng chói nhất trên bầu trời Việt Nam trong thời đại ngày nay, tất nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh ở một tầng bậc cao hơn. Trong thực tế lịch sử giữa Phan Bội Châu và những người thân trong gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có mối quan hệ tác động qua lại rất mạnh mẽ, sống động và tất yếu.

Làng Đan Nhiệm, quê hương của Phan Bội Châu cách quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ một cánh đồng ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Phan Bội Châu sinh năm Đinh Mão (1867), hồi nhỏ có tên là Phan Văn San. Phan Bội Châu sớm nổi tiếng là "thần đồng" đến mức nhân dân trong vùng cho rằng "Thánh Nam Đàn" đã xuất hiện.

Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh năm Nhâm Tuất (1863) hơn Phan Bội Châu 4 tuổi. Xuất thân trong một gia đình nông dân, cha mẹ mất sớm, phải ở với người anh cùng cha khác mẹ, lao động vất vả, ít được học hành, mãi đến năm 15 tuổi (Mậu Dần - 1878) mới được nhà nho Hoàng Đường ở làng Hoàng Trù đưa về nhà nuôi cho ăn học. Được đi học, Nguyễn Sinh Sắc rất chăm chỉ nên chẳng bao lâu tiếng tăm học giỏi đồn đại khắp vùng, nhân dân vùng Chung Cự mệnh danh là "thần đồng"(1).

Nhân dân Nam Đàn, một địa phương nổi tiếng có truyền thống hiếu học và học giỏi hồi đó đã cảm phục vào liệt tên hai người vào danh sách "Tứ hổ Nam Đàn":

"Uyên bác bất như San,

Thông minh bất như Sắc,

Tài hoa bất như Quý,

Cường ký bất như Lương".

Thế nhưng bao năm miệt mài đèn sách mà hai cụ vẫn lận đận ở chốn trường thi. Mãi tới khoa thi Hương năm Canh Tý (1900), sau hai mươi sáu năm học tập và thi cử, Phan Bội Châu mới giật được cái Giải nguyên ở trường Nghệ và đến năm Tân Sửu (1901), sau hai mươi ba năm rèn luyện văn chương, Nguyễn Sinh Sắc mới đậu được Phó bảng.

Và mãi đến khi Nguyễn Sinh Sắc làm quan ở triều đình Huế, ngán ngẩm với nhân tình thế thái, chua chát rút ra kết luận: "Quan trường thị nô lệ, trung chi nô lệ, hựu nô lệ" (Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ lại càng nô lệ hơn).

Hai cụ đều là học trò của thầy Đông Khê Nguyễn Thức Tự. Lớn lên cả hai đều có lòng yêu nước và hoạt động cứu nước, tuy mức độ và phương pháp hoạt động có khác nhau.

Phan Văn San đi học sớm và sớm hiểu biết, nhất là sớm có lòng yêu nước nồng nàn và chí căm thù giặc sâu sắc. Phan nói: "Tôi được trời phú cho bầu máu nóng cũng không đến nỗi ít. Lúc còn bé, đọc sách của cha tôi, mỗi khi nói đến chỗ người xưa chịu chết để thành đại nhân, nước mắt lại nhỏ xuống ướt đầm đìa cả giấy"(2).

Mười bảy tuổi, nghe tin giặc chiếm Bắc kỳ, nửa đêm Phan Văn San đã thắp đèn viết hịch "Bình Tây Thu bắc" và lập đội "Thiếu sinh quân", rồi năm Canh Tý (1900) thi đậu Giải nguyên trường Nghệ, năm 1904 lập Hội Duy Tân, đầu năm 1905 khởi xướng phong trào Đông Du, hô hào hoạt động cứu nước, v.v... Bằng những việc làm yêu nước ấy, tiếng tăm của cụ Phan ngày một lừng lẫy khắp nơi. Uy tín của cụ được mọi người ngưỡng mộ.

Tuy Nguyễn Sinh Sắc hơn Phan Bội Châu 4 tuổi, nhưng đã quen biết từ lúc nhỏ, có quan hệ mật thiết với nhau. Theo giai thoại hát phường vải ở vùng Nam Đàn thì hồi trước Nguyễn Sinh Sắc và Phan Bội Châu đã từng cùng nhau đi hát phường vải. Do đó mới có câu chuyện: Một hôm bốn chàng trai trong "Tứ hổ Nam Đàn" đi hát một phường nọ, mở đầu buổi sinh hoạt bằng những câu hát chào, hát mừng, hát hỏi, bên phường con gái mạnh dạn hát:

"Nam Đàn tứ hổ là ai?

Nói cho em biết để mai em chào".

Phan Bội Châu đã nhanh nhẹn và hóm hỉnh hát đáp lại rằng:

"Nam Đàn tứ hổ là đây,

Sắc, San, Lương, Quý một bầy bốn anh".

Khoa Mậu Tuất (1898), cụ Nguyễn Sinh Sắc đi thi Hội lần thứ hai cũng bị trượt, rồi về làng Dương Nổ, xã Phú Dương, huyện Phú Vang mở lớp dạy học, còn bà Hoàng Thị Loan vẫn ở lại trong một ngôi nhà ở đường Mai Thúc Loan sau cửa Đông Ba, Huế.

Cũng trong thời gian này, sau khi mang cái án oan nghiệt "Hoài hiệp văn tự" trong khoa thi Hương năm Đinh Dậu (1897) ở trường Nghệ, Phan Văn San đã rời quê hương Nghệ An vào kinh đô Huế, rồi dạy học tại nhà ông Võ Bá Hạp ở An Hoà, thành phố Huế.

Hai con người trong "Tứ hổ Nam Đàn" cứ lận đận mãi chốn trường thi, nay lại gặp nhau ở đất đế đô Huế, chắc rằng trong thực tế hai người đã có những cuộc gặp gỡ trao đổi về cảnh ngộ, về thời cuộc, về tư tưởng, về con đường đang và sẽ đi tới của cuộc đời.

Đầu năm Canh Tý (1900), Phan Văn San được giải oan án "Hoài hiệp văn tự", rồi về trường Nghệ thi Hương và đậu giải Nguyên với cái tên mới Phan Bội Châu.

Đầu năm 1905, cụ Phan Bội Châu rời quê hương Nghệ An, bí mật sang Nhật Bản, khởi xướng phong trào Đông Du sôi nổi khắp cả nước.

Tháng 5 năm 1906, không thể từ chối được lệnh của triều đình, cụ Nguyễn Sinh Sắc đành phải vào Huế nhậm chức Thừa biện bộ Lễ. Ngày 01/9/1909 làm Tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định, đến ngày 17/01/1910 bị triều đình Huế bắt giam vì tội "lạm quyền" dẫn tới cái chết của Tạ Đức Quang. Ngày 27/8/1910, cụ được ra khỏi nhà tù của triều đình Huế với cái án "giáng 4 cấp và bị triệt hồi". Nhưng cụ đã từ bỏ quan trường đi vào các tỉnh phía Nam, tiếp tục cuộc sống thương dân, yêu nước.

Năm 1925, cụ Phan Bội Châu đang hoạt động ở Trung Quốc, bị thực dân Pháp bắt cóc ở ga Bắc Thượng Hải, cuối cùng chúng đưa cụ về giam lỏng ở dốc Bến Ngự, Huế. Thực dân Pháp và triều đình Huế đưa bảng vinh hoa ra mua chuộc, nhưng cụ đã thẳng thắn từ chối, cam chịu cuộc sống vô cùng thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần.          

Đồng bào cả nước hết sức bảo vệ, thương mến và giúp đỡ cụ. Cụ Phan Bội Châu đã nhiều lần nhận được thư và tiền của cụ Nguyễn Sinh Sắc, lúc đó đang làm nghề bốc thuốc cứu dân ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long gửi ra giúp đỡ.

Sau cụ Nguyễn Sinh Sắc vào Huế làm quan, thì ở quê nhà Kim Liên, Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Sinh Khiêm là anh và chị ruột của Nguyễn Sinh Cung đã hăng hái đi theo tiếng gọi cứu nước của Phan Bội Châu, tham gia tổ chức đánh Pháp của Đội Quyên, Đội Phấn.

Đội Quyên, Đội Phấn là hai người cầm đầu phái đấu tranh vũ trang dưới ngọn cờ yêu nước của Phan Bội Châu, đã xây dựng căn cứ chống Pháp ở vùng Bồ Lư thuộc huyện Thanh Chương và vùng Đông Hồ thuộc vùng Tân Kỳ, Nghệ An.

Cuối năm 1910, cô Nguyễn Thị Thanh trong một chuyến đi liên lạc bí mật với nghĩa quân Đội Quyên, Đội Phấn bị bọn thực dân Pháp bắt ngay giữa đường. Cô Thanh đã nhanh chóng thủ tiêu các tài liệu bí mật mang theo người.

Tuy vậy, thực dân Pháp vẫn bắt cô nhốt vào nhà tù và dùng mọi thủ đoạn tra tấn dã man để khai thác tài liệu về hoạt động của nghĩa quân. Nhưng cô vẫn giữ lòng trung kiên, không hề khai báo nửa lời. Cuối cùng, không có tang chứng cụ thể, chúng buộc phải thả cô ra khỏi nhà tù vào đầu năm 1911.

Tối ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Ngọ (tối ngày 05/02 rạng ngày 06/02/1918), cô Thanh đã phối hợp với Nguyễn Kiên, một sĩ quan lính khố xanh đã giải ngũ, bí mật trèo vào thành Vinh lấy trộm 3 khẩu súng trong doanh trại lữ đoàn lính khố xanh để giao cho Phan Khắc Tiêu, một cộng tác viên tích cực của cô Thanh chuyển cho nghĩa quân của Đội Quyên, Đội Phấn ở căn cứ Bồ Lư, Thanh Chương. Nhưng công việc đang tiến hành thì cô Thanh bị bắt. Ngày 17/02/1918, bọn Pháp đến đào hầm bí mật trong nhà cô Thanh ở tại cửa Tả thành phố Vinh lấy được ba khóa nòng súng. Chúng dùng mọi thủ đoạn tra tấn, nhưng cô Thanh không hề khai báo về tổ chức cách mạng mà cô đang tham gia hoạt động.

Tuy vậy, trong phiên toà số 80 ngày 04/6/1918 tại Vinh, chúng đã tuyên án xử phạt cô Thanh đánh 100 trượng, tù khổ sai 9 năm, đày cách quê hương Nghệ An 300 dặm.

Ngày 02/12/1918, chúng đưa cô Thanh vào giam tại nhà lao tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1922, chúng chuyển cô Thanh ra Huế và giam lỏng ở đây cho đến tháng 9 năm 1940.

Năm 1926 ở Huế, khi được tin cụ Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt, rồi đưa từ hoả lò Hà Nội về giam lỏng tại ngôi nhà tranh ở dốc Bến Ngự, cô đã đến thăm. Cuộc gặp sau hơn hai mươi năm xa cách, thấy Phan Bội Châu già yếu đi cô xót xa ứng khẩu đọc hai câu thơ:

"Tây phong nhất dạ, linh nhân lão,

Điêu tận châu nhan, bạch tận đầu".

(nghĩa là: Ngọn gió Tây thổi một đêm làm người ta già đi, tàn cả dung nhan, bạc cả đầu).

Cậu Nguyễn Sinh Khiêm, anh ruột của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chịu ảnh hưởng của cụ Phan Bội Châu và tham gia phong trào cứu nước của cụ Phan bằng cách hoạt động tài chính, ủng hộ nghĩa quân của Đội Quyên, Đội Phấn và Ấm Võ.

Năm 1913, tuy cậu Khiêm mới có 25 tuổi, nhưng là người có lòng thương dân, có nhiều hiểu biết, có chí khí nên dân làng đã bầu cậu làm hương hào, phụ trách công việc hương bản. Bề ngoài tuy là hương hào, nhưng bên trong cậu đã bí mật tham gia hoạt động chống Pháp trong tổ chức của nghĩa quân Đội Quyên, Đội Phấn bằng công việc vận động tài chính để tiếp tế cho nghĩa quân đang đóng ở căn cứ Bồ Lư (Thanh Chương) và Đông Hồ (Tân Kỳ).

Đầu năm 1914, thực dân Pháp và phong kiến Nam Triều ở Nghệ An cho rằng cậu có biết tung tích và mối quan hệ của tổ chức nghĩa quân, nên chúng mời cậu xuống Vinh vừa hăm dọa, vừa mua chuộc bằng cách đưa trước cho cậu một số tiền và hứa nếu bắt được Đội Quyên, Đội Phấn thì sẽ thưởng lớn. Cậu vui vẻ nhận số tiền đó và đem tiếp tế cho nghĩa quân. Mấy tháng sau, sự việc bại lộ, ngày 01/4/1914 cậu bị chúng bắt giam tại Nhà lao Vinh. Sau một thời gian tra tấn, truy tìm, ngày 25/9/1914 chúng mở phiên toà xét xử, kết án cậu 3 năm tù khổ sai(3).

Ngày 31/7/1915, chúng đẩy cậu vào làm khổ sai đắp đường tại huyện Ba Nòi, tỉnh Nha Trang. Cậu phải lao động cực nhọc ở đây gần 5 năm, đến ngày 17/3/1920, chúng chuyển cậu về giam lỏng ở Huế. Và mãi đến ngày 16/8/1941, cậu mới được chính thức ra khỏi nhà tù về sống với bà con họ hàng ở Kim Liên.

Người con trai thứ 3 của cụ Nguyễn Sinh Sắc và Hoàng Thị Loan là Nguyễn Sinh Cung. Khi lên 11 tuổi, theo cha về sống ở quê nội Kim Liên, trong một đêm cụ Phan Bội Châu đang ngồi đàm đạo thời cuộc với cụ Nguyễn Sinh Sắc, Nguyễn Sinh Cung đứng bên cạnh để giúp cha tiếp khách. Cụ Phan thấy Nguyễn Sinh Cung là một chú bé thông minh, đĩnh ngộ, nhân thấy trăng lên sáng đẹp, cụ Phan liền ra cho cậu một câu đối:

"Nguyệt thượng bạch" (nghĩa là mặt trăng lên sáng trong).

Cậu Cung ứng khẩu đối ngay:

"Nhật xuất hồng" (nghĩa là mặt trời lên màu đỏ chói).

Cụ Phan tấm tắc khen ngợi, cho cậu là một chú bé có khẩu khí anh hùng, nếu biết rèn luyện thì sau này sẽ làm nên đại sự cho đất nước.

Nội dung đàm đạo việc nước giữa cụ Phan Bội Châu và các sĩ phu yêu nước trong vùng đã có tác động bồi dưỡng, gợi mở một đường hướng mới cho cậu Nguyễn Sinh Cung trong suy nghĩ và hành động.

Thượng tuần tháng 7 năm Ất Tỵ (1905), cụ Phan Bội Châu từ Nhật Bản bí mật trở về nước, rồi về xứ Nghệ họp các Đảng viên bàn kế hoạch đưa học sinh xuất dương du học, trong số những thiếu niên ưu tú, cụ Phan Bội Châu dự định đưa sang Nhật chắc chắn có tên Nguyễn Sinh Cung.

Trần Dân Tiên kể lại trong tác phẩm: "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch", cụ Phan muốn đưa cậu sang Nhật, nhưng cậu không đi. Cậu đã từ chối con đường Đông du.

Nguyễn Sinh Cung lớn lên với sự mẫn cảm đặc biệt đối với thời cuộc, với thiên tài trí tuệ, đã vượt ra ngoài những hạn chế của dân tộc, của thời đại, người không đi theo con đường cứu nước của cụ Phan Bội Châu mà quyết tâm đi sang các nước Tây Âu, tiếp thu được tư tưởng tiên tiến, lý luận tiên tiến của thời đại.

Năm 1924, Người từ Liên Xô trở về Quảng Châu, Trung Quốc mở lớp đào tạo cán bộ cốt cán, chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Lúc này, cụ Phan Bội Châu được tiếp xúc với Người một cách gián tiếp qua trung gian là Hồ Tùng Mậu tại Quảng Châu. Cụ Phan rất ngưỡng mộ Người, đồng thời tiếp thu sự góp ý của Người để chuẩn bị cải tổ Quốc dân Đảng theo hướng mới. Điều đó làm cho Người hết sức vui mừng. Ngày 18/12/1924, gửi thư cho Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Người đã nói rõ:

"Trong cuộc thảo luận, tôi (Nguyễn Ái Quốc) đã giải thích cho ông ta (Phan Bội Châu) hiểu sự cần thiết của tổ chức và sự vô ích của những hành động không cơ sở. Ông ta đã đồng ý"(4).

Ngày 14/02/1925 (ngày 21 tháng 01 năm Ất Sửu), Phan Bội Châu đã gửi cho Lý Thụy (Nguyễn Ái Quốc) một lá thư như sau:

"Gởi cháu yêu. Hôm trước thấy anh Lâm, anh Hồ gửi lại thư của anh, trong có nói chuyện ông Hy Mã. Dẫu là nói về sự thật, nhưng vẫn có ý tứ lắm. Vả lại, lời ăn nói thật là có kiến thức. Thế mới biết cháu học vấn hơn nhiều, không phải như 20 năm trở về trước. Nhớ lại, khi trước tôi đến nhà cháu, uống rượu ngâm thơ, thì anh em cháu mới hơn 10 tuổi cả. Lúc bấy giờ, tôi cũng chẳng ngờ rằng rồi ra cháu giỏi đến thế này. Bây giờ tôi bì với cháu thì xấu hổ nhiều lắm. Tiếp được của cháu hai phong thư, sự thương, sự mừng đều có. Thương là thương cho mình tôi, mừng là mừng cho cả nước. Bây giờ gặp lại cháu thì thấy sau này có người kế khởi rồi. Đường tối mà thành ra sáng! Chỉ có điều tôi đã già rồi, sợ không được thấy nữa, như thế làm sao mà không thương lòng được? Một đời tôi tàn khổ, thui thủi một mình, nay được cháu giúp vào, có nhiều người theo lấy lại nước nhà ắt là không khó, như thế thì sao mà không mừng được?

Tôi rất muốn về Quảng Đông một lượt để gặp cháu, nhưng không biết cháu ở Quảng Đông lâu hay chóng. Bụng tôi còn có nhiều việc nói với cháu nhưng không gặp mặt, thì không nói hết được. Nếu như không hiềm tôi già yếu thì thường viết thư cho tôi, thì hay.

Lại còn, tôi bỏ nước đi lúc bấy giờ đã gần 40 tuổi (39 tuổi đến Nhật Bản). Vả lại, không hay học hành được gì, cho nên bây giờ tri thức tôi vẫn cũ vậy. Cháu là người học rộng, hiểu biết nhiều, hơn tôi không biết bao nhiêu. Sự khôn ngoan và cách làm ăn, nhất định là tôi không sao mà lường trước được. Không biết cháu có thể cho tôi biết một vài việc không? Tôi lấy làm mong mỏi hết sức. Xin đừng tiếc tôi. Nếu như không có cách "làm ăn" thì lại như câu nói rằng: "Chỉ làm người khách ở nước khác, kêu không hồn nước cũ thôi" không giống ông Hy Mã, thì lại giống tôi mà thôi. Thư viết không hết ý. Xin nghĩ mà xét cho. Chúc cháu bình yên.

Ngày 21 tháng Giêng năm Ất Sửu. Viết ở dưới đèn chỗ tôi đã có Quốc Đống biết, không phải nói rõ. Thư này nhờ Quốc Đống chuyển giúp"(5).

Năm 1929, nằm trong ngôi nhà tranh ở dốc Bến Ngự, Huế, giữa sự bao vây của bọn thực dân Pháp, cụ Phan Bội Châu thấy cần tổng kết kinh nghiệm cuộc đời hoạt động cách mạng của mình để làm bài học cho thế hệ sau bằng tập hồi ký "Phan Bội Châu niên biểu", trong đó nhiều lần cụ đã trân trọng nhắc đến tên Nguyễn Ái Quốc.

Trong ngôi nhà ở dốc Bến Ngự, Huế có người đã hỏi cụ: "Thánh Nam Đàn là ai?", thì cụ đã nói ngay: "Thánh Nam Đàn là ông Nguyễn Ái Quốc".

Cụ đã khuyên một số thanh niên có tâm huyết với vận mệnh đất nước lúc ấy là không nên theo cụ nữa, mà nên theo ông Nguyễn Ái Quốc để hoạt động cứu nước(6).

Năm 1934, ông Trần Lê Hựu có ghé thăm cụ Phan trên một chiếc thuyền ở sông Hương. Qua câu chuyện về đất nước, ông Trần Lê Hựu than thở: "Thưa cụ, chúng tôi không hiểu rồi nước ta có độc lập được không, Thấy từ trước đến nay, hễ lớp anh hùng chí sĩ nào nổi lên là bị bắt, bị tù, bị giết, cho đến cụ là niềm hy vọng trong mấy chục năm nay, rồi cũng bị bắt về giam lỏng ở đây, như thế thì còn mong gì nữa".

Cụ Phan khoát tay giải thích: "Ông không nên nghĩ như thế. Đời hoạt động cách mạng của tôi rốt cuộc là một thất bại lớn. Đó là bởi tuy tôi có lòng mà thực bất tài. Nhưng dân tộc ta thế nào rồi cũng độc lập. Nhất định phải thế. Hiện nay đã có lớp người khác lớn hơn lớp chúng tôi nhiều đứng ra đảm đương công việc để làm tròn cái việc mà chúng tôi không làm xong, ông có nghe tiếng ông Nguyễn Ái Quốc không?".

Lúc ấy, ông Trần Lê Hựu nói với cái giọng buồn rầu, thương tiếc: "Các báo đăng tin Nguyễn Ái Quốc đã bị bắt và chết ở Hương Cảng cách đây mấy năm rồi".

Cụ Phan Bội Châu phủ nhận cái tin đó: "Không, tôi chắc ông Nguyễn Ái Quốc vẫn còn, mà ông ấy còn thì nước ta sẽ được độc lập. Họ bắt tôi dễ, chứ họ làm sao bắt được ông Nguyễn Ái Quốc, mà có bắt đi nữa thì họ cũng phải thả thôi, vì ông ấy giỏi, chứ có như tôi đâu. Ông ta lại có nhiều vây cánh và bạn bè khắp thế giới nữa"(7).

Quan hệ qua lại giữa cụ Phan Bội Châu và những người thân gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh là mối quan hệ bạn bè, đồng chí, quê hương và quan hệ giữa thế hệ con cháu với các bậc cha chú, với một niềm tin "hậu sinh khả úy" được xuyên suốt bởi sợi chỉ đỏ yêu nước, thương dân.

 

Chú thích

(1). Hồi đó ở làng Kim Liên có ông Nguyễn Đậu Tài học giỏi, nhân dân mệnh danh là "thần đồng". Nhân dân Chung Cự truyền nhau câu ca: "Sắc, Tài ai kém ai đâu, nổi danh tài sắc, sắc một thì" để so sánh sự học giỏi giữa Nguyễn Sinh Sắc và Nguyễn Đậu Tài.

(2). Ngục Trung Thư.

(3). Theo hồ sơ A3781J Tòa Khâm sứ Trung kỳ có ghi rõ tội trạng xét xử tóm tắt "Nguyễn Tất Đạt từ lâu có liên lạc với Đội Quyên, mới đây các quan tỉnh đưa tiền cho y để bố trí bắt Đội Quyên được dễ dàng. Nhưng y đã đưa số tiền ấy cho Đội Quyên để có thêm điều kiện hoạt động nổi dậy ở địa phương. Các quan tỉnh kết tội đồng mưu phản bội".

(4). Hồ Chí Minh toàn tập, tập I, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1980, trang 314.

(5). Lá thư này do bà Phan Thị Minh, cháu ngoại cụ Phan Châu Trinh sưu tầm được tại Trung tâm Lưu trữ hải ngoại (CAOM) của nước Pháp (tại Aix-Enprovence). Người dịch: PGS. Chương Thâu.

(6). Theo hồi ký của Tôn Quang Phiệt và Nguyễn Đức Vân.

 

Thanh Đình

Năm 1951, một đoàn cán bộ đầu tiên của Việt Nam được cử sang Liên Xô học tập về khoa học kỹ thuật, cũng là mốc mở đầu cho quan hệ hợp tác giáo dục, đào tạo của hai Đảng: Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng sản Liên Xô và của hai nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa lúc đó là Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết. Và không ai khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có vai trò lớn trong việc trực tiếp mở đường và tác động mạnh mẽ đến các mối quan hệ ngoại giao lúc đó. Những nỗ lực của ông đã thuyết phục được phía Liên Xô đồng ý và uy tín của ông cũng ảnh hưởng trực tiếp đến những người được cử đi đào tạo.

Từ khi giành được chính quyền và xây dựng nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh đạo Đảng, nhà nước đã quan tâm đến việc tìm kiếm sự ủng hộ và xây dựng quan hệ ngoại giao với các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô, thành trì quan trọng nhất của hệ thống này. Tuy nhiên, trong điều kiện khó khăn về nhiều mặt và có phần yếu thế về quân sự so với quân Pháp trên chiến trường nên những nỗ lực này, dù đạt được một số kết quả nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Một trong những biểu hiện của sự hạn chế đó là chưa dành được sự quan tâm, ủng hộ của Liên Xô. Các công văn, công điện từ phía Việt Nam gửi đi đều nhận được cài nhìn thờ ơ, lạnh nhạt từ Kremlin. Đầu 1950, tình hình trên chiến trường có những thay đổi tích cực theo hướng có lợi cho Việt Nam và các điều kiện chủ quan, khách quan đang chuyển biến ủng hộ phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Trong bối cảnh đó, Hồ Chí Minh quyết định có một chuyến thăm bí mật không chính thức Liên Xô với nhiều mục đích khác nhau, quan trọng nhất là tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của Liên Xô đối với phong trào cách mạng Việt Nam. Theo những tư liệu gần đây thì phần lớn các mục tiêu chính trị của Hồ Chí Minh trong chuyến thăm này đã không đạt được kết quả như mong đợi(1). Tuy nhiên, trong chuyến đi này, Hồ Chí Minh lại tìm đạt được một số thỏa thuận về việc gửi các cán bộ, học sinh Việt Nam sang Liên Xô để đào tạo về khoa học kỹ thuật. Đây là một kết quả quan trọng cho quá trình chuẩn bị nhân lực khoa học kỹ thuật để tái thiết lại đất nước sau khi chiến tranh kết thúc.

Từ giữa năm 1950, công việc chuẩn bị để gửi cán bộ ra nước ngoài đào tạo khi điều kiện cho phép đã được đề cập đến. Tháng 6-1950, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có bài phát biểu "Nói về công tác huấn luyện và học tập", thể hiện các quan điểm và tầm nhìn trong việc chuẩn bị nhân lực cho việc phục vụ cách mạng, xây dựng đất nước một khi chiến tranh kết thúc, trong đó nhấn mạnh đến việc học cái gì, học với ai và học ở đâu. Cuối năm 1950, sau Chiến dịch Biên giới thắng lợi, cánh cửa giao lưu với các nước xã hội chủ nghĩa qua Trung Quốc được mở rộng thì việc đưa cán bộ, học sinh ra nước ngoài đào tạo cũng được hiện thực hơn. Về phía Liên Xô, sau khi thỏa thuận đồng ý tiếp nhận cán bộ Việt Nam sang học tập thì đến tháng 11-1950, Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã ra Nghị quyết về việc nhóm chuyên gia Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang Liên Xô. Điều này cho thấy dù chưa thật sự ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về mặt chính trị, quân sự nhưng phía Liên Xô đã có những động thái quan tâm nhất định đến việc hợp tác đào tạo với Việt Nam. Ngày 25-6-1951, Bộ trưởng Bộ Đại học Liên Xô, V.N. Xtoletov đã có bức thư gửi cho V.G.Grirorian, Trưởng ban Đối ngoại Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Liên Xô về việc tiếp nhận các chuyên gia nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào các trường đại học ở Liên Xô. Đây là kết quả thỏa thuận hợp tác giữa hai Đảng cộng sản chứ chưa hẳn là của hai nhà nước, và nó thể hiện tinh thần đồng chí hơn là đồng minh. Và đây cũng là sự mở đường cho đoàn cán bộ đầu tiên sang Liên Xô học tập.

Đoàn cán bộ đầu tiên được cử đi học tập tại Liên Xô gồm có 21 người là: Ngô Huy Quỳnh, Trần Linh Sơn, Nguyễn Đức Thừa, Tăng Văn Bằng, Nguyễn Văn Nhiên, Hoàng Bình, Lê Duy Thước, Huỳnh Quang Đại, Nguyễn Trinh Cơ, Đỗ Hữu Dư, Nguyễn Sỹ Quốc, Phạm Đồng Điện, Nguyễn Lộc, Hoàng Lãn, Văn Tôn, Lê Văn Chiểu, Phan Lục, Phạm Như Vưu, Nguyễn Tuyên, Phan Trọng Đồng, Nguyễn Thanh Quế. Những người này trước hết đều là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước khi được gọi để đưa đi đào tạo, họ đều đã tham gia cách mạng và đang công tác tại các cơ quan khác nhau. Họ là những người có độ tuổi từ 25-42, có trình độ học vấn cao lúc đó, cụ thể có 3 cử nhân, 2 bác sĩ, 1 dược sĩ, 2 kĩ sư nông nghiệp, 2 tú tài và 9 người đã tốt nghiệp các trường kĩ nghệ, đều được đào tạo trong nền giáo dục của Pháp trước đó. Công cuộc lựa chọn người đi học ở Liên Xô đều do một số người phụ trách và tiến hành bí mật, những người được lựa chọn đều nhận chỉ đạo của cấp trên nhận nhiệm vụ mới mà không hề biết trước về việc được lựa chọn đi học ở nước ngoài.

Ngày 9-7-1951, hầu hết các cán bộ trong đoàn được gọi đều tập trung ở tại trạm đón tiếp của Đảng ở Việt Bắc. Tiếp theo, các cán bộ này được tập huấn về chính trị và được nghe các vị lãnh đạo Đảng nói chuyện về tình hình quốc tế, trong nước, những khó khăn của cách mạng đang gặp phải, về các chủ trương, đường lối của Đảng cũng như nhiệm vụ được giao. Lần lượt các lãnh đạo cao cấp như Trần Quang Huy, Hoàng Tùng, Trường Chinh, Lê Văn Lương đến nói chuyện với đoàn. Đặc biệt, trong đợt tập trung này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm đoàn và nói chuyện động viên các cán bộ trước khi lên đường đi học tập ở Liên Xô. Cuộc viếng thăm của Bác dù ngắn ngủi nhưng có ảnh hưởng lớn đến tất cả những người trong đoàn đi học không chỉ trong quá trình học tập ở đất khách quê người mà còn ảnh hưởng gần như cả sau khi về nước công tác và đóng góp cho quá trình xây dựng, bảo vệ đất nước.

Cuộc gặp gỡ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đoàn cán bộ được cử đi học ở Liên Xô là một cuộc gặp bất ngờ, không được báo trước nên những người trong đoàn không được chuẩn bị tinh thần. Cuộc gặp diễn ra vào ngày 18-7-1951, bên cạnh một bờ suối nhỏ tại Đại Từ (Thái Nguyên). Theo ghi chép của ông Lê Văn Chiểu, một trong số 21 cán bộ trong đoàn thì: "Bác mặc áo lụa màu gụ, quần cộc thể thao màu nâu, tay cầm gậy tre, đầu đội mũ cứng, bên vành mũ có vết rách... Bác đến lật ngược chiếc ghế mọi người dành cho Bác ngồi, ngồi lọt thỏm giữa bốn chân ghế"(2). Đây là đoàn cán bộ đặc biệt, được tập hợp để làm nhiệm vụ không phải đi đánh trận mà là đi học tập ở "thủ đô" của phe xã hội chủ nghĩa. Và đây cũng là kết quả của những nỗ lực mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và các lãnh đạo Đảng trong việc kết nối, hợp tác với Đảng Cộng sản Liên Xô. Vì vậy nên nhận được sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi nghe báo cáo về thành phần, học vấn, gia đình và tuổi tác của các thành viên trong đoàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có những lời dặn dò quan trọng: "Sang Liên Xô học phải biết định hướng, vận dụng hiểu biết mới để đảm bảo những yêu cầu thiết yếu của nhân dân, giúp nhau giữ được tư cách; đi nước ngoài sung sướng đừng quên người nước nhà cực khổ; anh em trong đoàn phải đoàn kết, thành thật, phê bình và tự phê bình. Đối với nước bạn: cái gì biết thì nói biết, phải thành thật, ân cần. Chuyến đi này là chuyến đi đầu tiên, Liên Xô đào tạo chúng ta, nếu bằng lòng thì chuyến sau sẽ dễ, đầu xuôi đuôi lọt..."(3).

Ngày 21-7-1951, Lê Văn Lương đến gặp mặt, trao giấy giới thiệu và tiễn đoàn lên đường. Một ngày sau, ngày 22-7-1951, đoàn cán bộ được cử đi học bắt đầu rời an toàn khu đi về phía cửa khẩu ở Cao Bằng để sang Trung Quốc. Trong quá trình di chuyển trên đất Trung Quốc, cả đoàn được phía Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếp đón tại các trạm nghỉ ngơi chờ tàu, xe, tổ chức nhiều buổi liên hoan và cả xem phim. Một người trong đoàn ghi chép lại khi đi qua Nam Ninh: "Các đồng chí Trung Quốc ở các trạm giao tế sốt sắng, niềm nở qua các cử chỉ. Cảnh đồng ruộng và người dân cày Trung Quốc chưa có gì khác thượng du Bắc bộ, làm cỏ ở ruộng khô, thấy các chị phụ nữ áo chàm dùng cuốc để xới đất vùi cỏ xuống"...; "Đi từ Thủy Khấu qua Long Châu đến Nam Ninh, đi cảm tưởng vẫn như đi trong nước. Chỉ có điều khác là cái tai không dùng được"...(4). Ngày 27-8-1951, đoàn bắt đầu đến Matxcơva với bức thư giới thiệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đoàn được phía Đảng Cộng sản Liên Xô đón tiếp và được Bộ Đại học phân chia về các trường đại học khác nhau để đào tạo. 21 cán bộ Việt Nam được gửi về các trường đại học đào tạo theo 10 chuyên ngành khác nhau là quân giới, chất nổ, quân y, quân dược, luyện kim, khai thác than, nông nghiệp, tài chính, kiến trúc, cán thép.

Đến năm 1955-1956, tùy theo các ngành đào tạo, những người này bắt đầu về nước và bắt tay vào công cuộc phục vụ kháng chiến, xây dựng đất nước. Hầu hết họ đều trở thành những nhà nghiên cứu khoa học, nhà kỹ thuật có nhiều đóng góp trong lĩnh vực của họ. Và họ cũng trở thành những người khai sáng hay có nhiều đóng góp trong việc xây dựng các chuyên ngành mà họ được đào tạo ở Liên Xô. Qua đó, góp phần quan trọng trong quá trình xây dựng nền khoa học kỹ thuật hiện đại của Việt Nam trong nửa sau thế kỷ XX. Để hiểu thêm về những đóng góp quan trọng của đoàn cán bộ được cử đi học ở Liên Xô năm 1951, xin giới thiệu qua một số cán bộ trong đoàn có nhiều đóng góp cho ngành, cho nền khoa học kỹ thuật nước nhà mà phần lớn đã được ghi nhận.

GS. Ngô Huy Quỳnh (1920-2003): là một kiến trúc sư nổi tiếng, một trong những kiến trúc sư đầu đàn xây dựng nền kiến trúc Việt Nam từ sau Cách mạng tháng 8/1945. Ông từng học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, và đi làm nghiên cứu sinh về Quy hoạch xây dựng đô thị tại Liên Xô (1951-1955). Ông tham gia cách mạng và sau đó giữ các chức vụ như Bí thư Đảng đoàn Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam, Cục phó Cục Đô thị Nông thôn (Bộ Kiến trúc), Ủy viên Ủy ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước, Vụ trưởng Vụ Quy hoạch Đô thị - Nông thôn (Ủy ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước)… Ông cũng chính là người đã thiết kế Lễ đài Độc lập tại Quảng trường Ba Đình cho Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập vào ngày 02/9/1945.

Hoàng Bình (1923-2003): là một kỹ sư cơ khí nổi tiếng, có nhiều đóng góp trong ngành cơ khí - luyện kim Việt Nam. Ông từng tốt nghiệp tú tài và học trường Kỹ nghệ ở Thanh Chương (Nghệ An). Năm 1951 ông sang học tại trường Đại học Thép Moskva, Liên Xô. Sau đó về làm Trưởng phòng Luyện kim, Nhà máy Cơ khí Hà Nội. Sau này, ông còn giữ các chức vụ như Quyền Vụ trưởng Vụ Quản lý khoa học (Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước), Cục trưởng Cục kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hóa nhà nước, Thứ trưởng Bộ Cơ khí-Luyện kim, Tổng giám đốc Khu gang thép Thái Nguyên.

Huỳnh Quang Đại (1915-1997): một nhà dược học có nhiều đóng góp to lớn cho ngành dược Việt Nam, là người có nhiều đóng góp trong quá trình xây dựng và phát triển của Trường Đại học Dược Hà Nội. Ông là tú tài thời Pháp, học dược tại trường Đại học Y - Dược Đông Dương. Trong kháng chiến chống Pháp, ông giữ Viện trưởng Viện tiếp tế Trung ương của Cục Quân y, Giám đốc hành chính Nha Quân dược ở Thái Nguyên. Năm 1951, ông được cử sang học ngành dược tại Moskva, Liên Xô. Sau khi về nước, ông làm Viện trưởng Viện Bào chế tiếp tế, Cục Quân y và giảng dạy tại Đại học Y Dược Hà Nội. Sau làm Hiệu trưởng Đại học Dược khoa Hà Nội.

GS. Nguyễn Trinh Cơ (1915-1985): một bác sĩ, một nhà y học nổi tiếng, có nhiều đóng góp cho ngành Y học Việt Nam, đặc biệt là trong quá trình xây dựng ngành quân y cũng như xây dựng trường Đại học Y khoa Hà Nội. Ông là bác sĩ được đào tạo tại Đại học Y - Dược Đông Dương rồi làm việc bệnh viện Nam Định. Sau Cách mạng tháng 8/1945, ông tham gia quân đội và giữ chức vụ Hiệu trưởng Trường Quân y sĩ Việt Bắc. Ông tiếp tục được cử đi đào tạo y học ở Liên Xô năm 1951. Sau khi về nước công tác tại Đại học Y khoa Hà Nội, giữ các chức vụ Phó Hiệu trưởng, Hiệu trưởng, Bí thư Đảng ủy nhà trường. Bên cạnh đó, ông còn là Chủ tịch Hội ngoại Khoa Việt Nam, Phó Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam.

GS.TS Lê Duy Thước (1918-1997): một nhà khoa học nông nghiệp có nhiều đóng góp trong nghiên cứu nông hóa thổ nhưỡng, nghiên cứu và phát triển nông lâm nghiệp ở Việt Nam. Ông từng học trường Cao đẳng Nông nghiệp Jules Brevíe Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp ông vào làm Giám đốc Canh nông tỉnh Quảng Nam, tham gia cách mạng ở đây. Khi cách mạng thành công, ông ra Hà Nội làm việc tại Bộ Quốc phòng và Bộ Canh nông. Năm 1951, ông được cử đi học tại Học viện Nông nghiệp K.A. Timiriazep ở Moskva. Sau khi về nước, Lê Duy Thước giữ nhiều chức vụ trong ngành nông nghiệp như Phó Giám đốc Viện Khảo cứu Nông lâm; Vụ trưởng Vụ Trồng trọt, Vụ trưởng Vụ Quản lý Đất đai, Bộ Nông nghiệp; Viện trưởng Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Ủy ban Nông nghiệp Trung ương; Hiệu trưởng Đại học Nông nghiệp I Hà Nội. Ông cũng là chủ nhiệm chương trình Tây Nguyên II - một chương trình khoa học trọng điểm của nhà nước nửa sau những năm 1980.

GS. Phạm Đồng Điện (1920-2007): một nhà khoa học kỹ thuật có nhiều đóng góp trong nghiên cứu hóa thực phẩm, trong xây dựng và phát triển của trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Ông tốt nghiệp trường Bưởi, rồi trường Đại học Đông Dương. Năm 1951 ông tiếp tục đi học hóa chất ở Liên Xô. Sau khi về nước đã giữ nhiều chức vụ quan trọng ở Đại học Bách khoa Hà Nội từ khi mới thành lập như Chủ nhiệm Khoa Hóa - Thực phẩm, Phó Hiệu trưởng, Quyền Hiệu trưởng, Hiệu trưởng trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Ông là một nhà nghiên cứu, một nhà giáo lớn được nhiều thế hệ học trò ở Đại học Bách khoa Hà Nội kính trọng.

GS.TS Trần Linh Sơn (1923-1989): một nhà nghiên cứu có nhiều đóng góp trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Việt Nam. Ông từng học Luật khoa tại Đại học Đông Dương, sau đó hoạt động yêu nước. Năm 1951, ông đi học tại Học viện Tài chính Mátxcơva, Liên Xô. Khi về nước ông tham gia xây dựng ngành tài chính ngân hàng Việt Nam, giữ nhiều chức vụ quan trọng như Vụ trưởng Vụ Kinh tế Kế hoạch, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

 […]

Ngoài ra, những người còn lại được cử đi học trong đoàn cũng đều là những nhà nghiên cứu, quản lý có nhiều đóng góp cho ngành, cho nền khoa học kỹ thuật nước nhà. Như Thiếu tướng, GS. Nguyễn Sỹ Quốc, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Phó Cục trưởng Cục Quân y, là nhà khoa học nổi tiếng trong lĩnh vực y tế, đặc biệt trong lĩnh vực dịch tễ học; Thiếu tướng Phạm Như Vưu và Thiếu tướng Lê Văn Chiển (đều từng giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, ông Hoàng Văn Lãn, là những người có nhiều đóng góp trong lĩnh vực sản xuất vũ khí, quân giới phục vụ kháng chiến chống Mỹ; Các kỹ sư như Nguyễn Văn Nhiên, Phan Lục, Nguyễn Thanh Quế, Văn Tôn, là những kỹ sư có nhiều đóng góp quan trọng trong ngành khai mỏ Việt Nam… Các ông Tăng Văn Bằng, Lê Trọng Đồng, Nguyễn Tuyên, là những người có nhiều đóng góp đối với ngành cơ khí Việt Nam;… Những người khác, đến hiện nay vẫn còn chưa có nhiều tài liệu nói cuộc đời họ. Nhưng những người bạn bè, đồng nghiệp, học trò từng có cơ duyên quen biết, làm việc hay học tập với họ đều công nhận những đóng góp của họ trong ngành của mình. Và ít nhiều những tư liệu còn sót lại của họ, đang được một số nhà nghiên cứu và các tổ chức quan tâm, tiếp cận gia đình để tìm hiểu. Trong tương lai, cuộc đời và những đóng góp của họ sẽ dần được biết đến nhiều hơn.

Trong số 21 cán bộ được cử đi học ở Liên Xô năm 1951, tỉnh Nghệ An có 3 người là Hoàng Bình, Tăng Văn Bằng và Lê Duy Thước. Hoàng Bình quê tại huyện Thanh Chương, là một người có nhiều đóng góp cả về mặt chuyên môn cũng như quản lý trong lĩnh vực cơ khí - luyện kim. Tăng Văn Bằng sinh năm 1923, quê ở huyện Đô Lương, là cán bộ quân giới có nhiều năm tham gia cách mạng và được cử đi học. Sau khi học xong trung cấp kỹ thuật luyện kim ở Liên Xô về nước ông công tác tại Nhà máy cơ khí Hà Nội, làm Phó Giám đốc và là đại biểu quốc hội. Tiếc là Tăng Văn Bằng mất sớm, vào năm 1962, khi chưa đầy 40 tuổi, nên tên tuổi của ông không được nhiều người biết đến. Được nhiều người biết đến nhất trong 3 người Nghệ An này là GS.TS Lê Duy Thước. Ông quê ở huyện Diễn Châu, học nông nghiệp từ thời Pháp thuộc. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, ông đã làm Giám đốc Canh nông tỉnh Quảng Nam và sau đó tham gia cách mạng. Với một địa phương có truyền thống cách mạng, vừa có truyền thống hiếu học như Nghệ An thì việc có nhiều người được vinh dự cử đi học tập tại Liên Xô trong đợt đầu tiên cũng không có gì quá lạ. Tuy nhiên, cho đến hiện nay, ở địa phương cũng không nhiều người biết đến tên tuổi và đóng góp của những người này. Một phần do sau khi về nước họ công tác chủ yếu ở ngoài Hà Nội và các nơi khác mà ít về quê, mặt khác tư liệu liên quan đến những người này vẫn còn hạn chế.

Có nhiều yếu tố tác động đến quá trình học tập và công tác, dẫn đến những thành công trong cuộc đời của những người trong đoàn này, nhưng một động lực quan trọng là họ đã ghi nhận lời động viên của Bác Hồ và nhiệm vụ mà họ được giao cho: rời khỏi vùng chiến tranh khó khăn để đến một nơi yên bình hơn học tập và phải học tập thật nghiêm túc để về xây dựng đất nước mà nhiều người đã hy sinh để dành lại khi họ đang đi học. Trong quá trình học tập ở Liên Xô, những lời dặn của Bác luôn là nguồn động viên quan trọng đối với họ, là động lực để họ vượt qua những khó khăn, gian khổ và cố gắng học tập để về nước đóng góp vào công cuộc bảo vệ, xây dựng đất nước. Và đến khi làm việc ở các cơ quan nhà nước, giữ các chức vụ quan trọng, họ vẫn luôn làm theo những lời dặn của Bác. Trong mỗi người, luôn coi mình là người may mắn khi được Đảng và Nhà nước cho sang Liên Xô học tập trong lúc đất nước đang chiến tranh khốc liệt. Vậy nên khi về họ tự nhận trách nhiệm phải làm việc hơn nữa để đóng góp được nhiều nhất cũng là để xứng đáng với những gì mà Bác Hồ, Đảng và Nhà nước đã dành cho họ.

Đến nay, có thể nói, đưa đoàn cán bộ đầu tiên sang Liên Xô học tập năm 1951 là một trong những thành công của Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo Đảng trong việc chuẩn bị nhân lực cho tái thiết đất nước sau chiến tranh. Trước hết, sự thành công này thể hiện tầm nhìn xa rộng của Hồ Chí Minh. Trong khi cuộc chiến tranh chống Pháp còn khốc liệt mà nhiều người còn chưa tin rằng Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ giành được chiến thắng thì Hồ Chí Minh đã suy tính đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ cho công cuộc xây dựng lại đất nước sau chiến tranh. Khi gửi người đi học, đã lựa chọn được những người có trình độ học vấn, có quá trình rèn luyện trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc (lúc này chưa xem xét gay gắt về thành phần gia đình như các đoàn đi học ở nước ngoài sau này). Và gửi đi đào tạo những ngành quan trọng, thiết yếu cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc sau này. Đó là một bước chuẩn bị dài hơi toàn bộ kế hoạch kiến thiết đất nước về sau. Những nỗ lực của Hồ Chí Minh cũng đã mở đầu cho quá trình hợp tác về giáo dục đào tạo với Liên Xô mà trước khi giải phóng miền Bắc, ngoài đoàn 21 cán bộ cử đi năm 1951 thì còn có thêm một đoàn cán bộ khác được cử đi năm 1953 gồm 49 người khác, bên cạnh đó là các hạt giống đỏ đưa đi học tập có hệ thống bài bản hơn. Tính đến năm 1975, theo thống kê thì Liên Xô đã đào tạo cho Việt Nam 8.000 cán bộ tốt nghiệp các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và 600 phó tiến sĩ, tiến sĩ. Tính cho đến khi Liên Xô tan rã, trong 40 năm từ 1951 đến 1991, Liên Xô đã tiếp nhận và đào tạo gần 50.000 công dân Việt Nam. Trong đó có khoảng 30.000 người ở trình độ đại học, ngót 3.000 phó tiến sĩ, khoảng 200 tiến sĩ khoa học và hàng chục vạn công nhân kỹ thuật, giáo viên dạy nghề, thực tập sinh. Riêng trong lĩnh vực quân sự, có hơn 13.000 quân nhân Việt Nam được Liên Xô đào tạo khá bài bản(5). Sự hợp tác đào tạo với Liên Xô mà mở đầu là từ đoàn cán bộ 21 người được cử sang đi học năm 1951 cũng đưa nền giáo dục Việt Nam chuyển sang một hướng mới, từ nền giáo dục chịu ảnh hưởng của Pháp sang nền giáo dục theo ý thức hệ xã hội chủ nghĩa và chịu nhiều ảnh hưởng của trường phái Xô viết. Dù những kết quả và hệ lụy của việc này chưa thể đánh giá được hết nhưng cũng không thể phủ nhận được trong bối cảnh khó khăn của cuộc chiến tranh chống Pháp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh đạo Đảng đã kết nối, hợp tác đào tạo cán bộ với Liên Xô là một nỗ lực, một tầm nhìn xa rộng. Và kết quả là những người đầu tiên được cử đi học ở Liên Xô đã có đóng góp lớn trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước sau đó.

 

Chú thích

(1). Nguyễn Thị Mai Hoa: "Góc khuất trong quan hệ Việt Nam - Liên Xô (1950-1975)", Tạp chí Văn hóa Nghệ An, số 333+334 và 335, tháng 1 và 2 năm 2017.

(2). Dẫn theo "Di sản ký ức của nhà khoa học", tập 2, Nxb Tri thức, 2012, trang 15-16.

(3). Dẫn theo "Di sản ký ức của nhà khoa học", tập 2, Nxb Tri thức, 2012, trang 16.

(4). Nhật ký Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh, dẫn theo "Di sản ký ức của nhà khoa học", tập 2, Nxb Tri thức, 2012, trang 29.

(5). Xem Grigôri Rôpôp, Alêchxây Xêpôp: "Liên Xô - Việt Nam tình đoàn kết hữu nghị và hợp tác", Nxb Thông tấn xã Nôvôxti, Matxcơva, 1975.

(6). Xem Lê Văn Thịnh: "Đào tạo cán bộ Việt Nam ở Liên Xô: vài nhận định", trên http://khoalichsu.ussh.vnu.edu.vn/dao-tao-can-bo-viet-nam-o-lien-xo-vai-nhan-dinh/.

 

Ths Nguyễn Thị Minh Tú

 

Trên các diễn đàn, khi chất vấn hay đánh giá hiệu quả các đề tài, dự án KH&CN có rất nhiều ý kiến cho rằng vẫn có tình trạng các nghiên cứu nằm trong ngăn kéo, kết quả nghiên cứu chưa nhân rộng nhiều trong sản xuất và đời sống, hiệu quả các đề tài, dự án chưa rõ. Đây là một hạn chế, nỗi trăn trở của rất nhiều cán bộ quản lý trong ngành KH&CN. Vậy làm sao để thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển, chấm dứt tình trạng trên phải là một quá trình không dễ, cần thời gian trải nghiệm, tổng kết để tránh gây tổn thương đến hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học. Trong khuôn khổ bài viết này giới thiệu khái quát về thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển; thực trạng và đề xuất giải pháp thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

  1. Tổng quan thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển là một quá trình chuyển hóa các ý tưởng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vào sản xuất, đời sống hoặc bất kỳ hoạt động tạo ra lợi ích kinh tế- xã hội nào khác; đây là quá trình biến đổi các khái niệm, ý tưởng thành các giá trị kinh tế xã hội. Có thể hiểu theo nghĩa rộng là một quá trình chuyển giao tri thức, thông tin và công nghệ vào sản xuất và đời sống, có thể hiểu theo nghĩa hẹp hơn là quá trình chuyển giao kết quả nghiên cứu và phát triển ra thị trường nhằm mục đích sinh lời (TS Nguyễn Quang Tuấn, Viện chiến lược và chính sách KH&CN).

Quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển: Kết quả nghiên cứu           Đánh giá kết quả nghiên cứu               Phát triển và thử nghiệm          Đưa ra thị trường            Hỗ trợ              Kết thúc

 (Nguồn: Goyal, 2006).       

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển được thực hiện thông qua nhiều hình thức gồm: Thương mại hóa trực tiếp gồm cấp phép công nghệ; hình thành doanh nghiệp KH&CN, đạt được hợp đồng tư vấn công nghệ từ kết quả nghiên cứu, đạt được thỏa thuận liên doanh nghiên cứu từ kết quả nghiên cứu; bán trực tiếp kết quả nghiên cứu; Thương mại hóa gián tiếp như: xuất bản phẩm, giảng dạy các bài giảng từ kết quả nghiên cứu, mở các khóa đào tạo từ kết quả nghiên cứu, tổ chức hội thảo khoa học từ kết quả nghiên cứu…

Các yếu tố tác động đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển gồm: Cán bộ nghiên cứu khoa học và tổ chức KH&CN; các yếu tố thị trường của sản phẩm và dịch vụ KH&CN cho đến cơ chế, chính sách của nhà nước.

Các nước trên thế giới có nhiều cơ chế, chính sách để khuyến khích và thương mại hóa kết quả nghiên cứu như xây dựng hệ thống các quy định tạo thuận lợi cho việc chuyển giao kết quả nghiên cứu nghiên cứu và phát triển công nghệ vào sản xuất; Cơ chế phân chia lợi ích trong việc chuyển giao kết quả nghiên cứu rất cụ thể và linh hoạt như Mỹ quy định tác giả của sáng chế được hưởng 2000 USD + ít nhất 15% giá trị chuyển giao; Hình thành chương trình để hỗ trợ, khuyến khích thương mại hóa kết quả nghiên cứu như Hoa Kỳ, Malaixia, Hàn Quốc; Phát triển các tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ trong các trường đại học, viện nghiên cứu công lập được chính phủ hỗ trợ và khuyến khích; Hình thành và phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm, đầu tư nhà nước chỉ đảm bảo cho nghiên cứu cơ bản, giai đoạn R&D và để đưa kết quả nghiên cứu R&D vào sản xuất, kinh doanh cần có sự tham gia tổ chức đầu tư mạo hiểm.

Ở Việt Nam, Nhà nước đã ban hành các Luật liên quan đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển như: Luật khoa học và công nghệ 2013 quy định mục 5 Chương IV – Quyền sở hữu, quyền tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ "giao toàn bộ hoặc một phần quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước theo quy định của Chính phủ cho tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ" "Lợi nhuận thu được từ việc sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng, chuyển nhượng, góp vốn bằng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước được chia cho tác giả tối thiểu 30%; phần còn lại được phân chia giữa chủ sở hữu, cơ quan chủ trì, người môi giới theo quy định của Chính phủ"; Điều 44 Luật quy định "Trách nhiệm triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ" tuy nhiên triển khai trên thực tế chưa có chính sách cụ thể. Luật sở hữu trí tuệ, tại Điều 93 quy định hiệu lực của văn bằng bảo hộ: Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết hai mươi năm kể từ ngày nộp đơn. Bằng độc quyền giải pháp hữu ích có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn. Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết năm năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn hai lần liên tiếp, mỗi lần năm năm. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm. Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý có hiệu lực vô thời hạn kể từ ngày cấp. Luật chuyển giao công nghệ 2017 quy định quyền chuyển giao công nghệ, quy định thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Ngoài ra, các chính sách kích cầu và cung được ban hành hỗ trợ quá trình thương mại hóa như khuyến khích, hỗ trợ đổi mới công nghệ của doanh nghiệp thông qua Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia; Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia, Chương trình phát triển thị trường KH&CN; khuyến khích hỗ trợ hình thành và phát triển doanh nghiệp KH&CN thông qua Chương trình phát triển doanh nghiệp KH&CN, Chương trình phát triển tài sản trí tuệ và Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo với mục tiêu đến năm 2025 hỗ trợ 2000 dự án khởi nghiệp và 600 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Như vậy, nhà nước đã có nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển, tuy nhiên để các chính sách thực sự đi vào cuộc sống và triển khai tại các địa phương trên cả nước hiệu quả cần có đánh giá và xem xét cụ thể.

2. Thực trang thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Nghệ an, trong thời gian 5 năm trở lại đây, hoạt động nghiên cứu và phát triển KH&CN có những đổi mới, hướng mạnh đến đưa các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn và chọn lựa các nhiệm vụ luôn đặt ra yêu cầu có tính ứng dụng cao. Năm 2018 là năm ngành KH&CN chọn chủ đề là thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và phát triển. Trên địa bàn tỉnh đã ban hành một số đề án, chính sách hỗ trợ, phục vụ thương mại hóa kết quả nghiên cứu như: Quyết định số 60/2013/QĐ-UBND ngày 20/11/2013 về quy định về xét thưởng công trình sáng tạo KH&CN; Quyết định số 24/2014/QĐ-UBND ngày 25/03/2014 của UBND tỉnh ban hành cơ chế khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đầu tư công nghệ mới, đổi mới công nghệ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trên địa bàn tỉnh; Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 14/12/2016 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển khoa học công nghệ giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến 2025; Quyết định số 320/QĐ-UBND ngày 19/01/2017 của UBND tỉnh phê duyệt Chương trình phát triển tài sản trí tuệ; Quyết định số 2171/QĐ-UBND ngày 24/5/2017 của UBND tỉnh về việc ban hành kế hoạch hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2017-2020; Quyết định 5821/QĐ-UBND ngày 01/12/2017 ban hành kế hoạch phát triển thị trường KH&CN trên địa bàn tỉnh đến 2020.

Trong hoạt động nghiên cứu các nhiệm vụ KH&CN, một số sản phẩm đã thương mại hóa thành công như: chế phẩm vi sinh vật phân hủy tồn dư thuốc BVTV trong đất trồng rau Biogreen, Chế phẩm compost maker sản xuất phân vi sinh từ phế phụ phẩm nông nghiệp; dùng chế phẩm sinh học sản xuất thức ăn gia súc từ cây ngô, cây sắn; sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi hạn chế ô nhiễm môi trường; nuôi cá bằng lồng nhựa trên hồ nước lớn. Một số các sản phẩm đầu tư theo chuỗi giá trị và được khẳng định trên thị trường như: chè Tuyết Shan ở Kỳ Sơn, gà đồi Thanh chương; Rượu Mú tần, trà hoa vàng, hương trầm Quỳ châu, nước mắm Vạn phần, trám đen Thanh Chương; rượu nếp Nghi đức, Bánh đa, kẹo lạc Vĩnh Đức, nước mắm Hải Giang 1, Tương Nam Đàn, chanh leo ở Quế Phong… Qua tổng hợp các đề tài nghiên cứu, hình thức thương mại hóa gián tiếp là chủ yếu, trong đó việc đăng tải các bài báo cho các tạp chí trong nước, viết các báo cáo cho các hội nghị, hội thảo, xuất bản phẩm, giảng dạy các bài giảng từ kết quả nghiên cứu, mở các khóa đào tạo từ kết quả nghiên cứu là chủ yếu. Hình thức thương mại hóa trực tiếp là hình thức mà được các nước quan tâm thì chưa phổ biến và chưa đạt hiệu quả cao. Tỷ lệ các đề tài nghiên cứu do các tổ chức KH&CN thực hiện được thương mại hóa chưa cao.

          Phát triển thị trường KH&CN: Qua kết quả khảo sát thực trạng doanh nghiệp Nghệ An trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế năm 2016 của Sở KH&CN cho thấy: tính chung cho các doanh nghiệp được khảo sát, mức độ thiết bị hiện đại (hiện đại và rất hiện đại) chỉ có 22,5%, 70,2% trung bình và 7,3 % đánh giá ở mức lạc hậu. Điều đặc biệt là các doanh nghiệp trẻ mới gia nhập thị trường (hoạt động dưới 5 năm) có công nghệ cao hơn các doanh nghiệp có thời gian hoạt động lâu năm. Về chuyển giao công nghệ: trong tổng số 225/280 doanh nghiệp có 52,9% doanh nghiệp thực hiện mua công nghệ kèm theo mua máy móc, thiết bị mới; có 27,6% doanh nghiệp mua thiết bị; 19,1% doanh nghiệp thực hiện mua công nghệ; 10,7% doanh nghiệp đổi mới công nghệ qua kỹ năng và kinh nghiệm của người lao động; số còn lại chưa thực hiện đầu tư chuyển giao công nghệ. Những khó khăn khi thay đổi/ đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp chủ yếu là do: hạn chế về vốn, lựa chọn nhà cung cấp phù hợp, thiếu lao động có trình độ để vận hành... Trong số đó thì sự thiếu hụt về nguồn vốn được doanh nghiệp đánh giá là khó vượt qua nhất. Với chính sách hỗ trợ theo Quyết định số 24/2014/QĐ-UBND ngày 25/3/2014, số doanh nghiệp được hỗ trợ còn ít vì các doanh nghiệp khi đầu tư đổi mới công nghệ chủ yếu là thay thế một số thiết bị hoặc công nghệ chỉ ở mức trung bình về tính mới, tính hiện đại so với trên thị trường do đó không phù hợp với đối tượng để hưởng chính sách. Cụ thể trong năm 2016, 2017 đã hỗ trợ cho 4 dự án đầu tư đổi mới công nghệ; 9 DN áp dụng mã số mã vạch; 16 DN đăng ký nhãn hiệu; 9 DN giấy chứng nhận sản phẩm hợp chuẩn; 9 DN áp dụng HT QLCL ISO với tổng số tiền trên 2 tỷ đồng. Đăng ký xác lập và thực thi quyền sở hữu trí tuệ đã thực sự được các doanh nghiệp quan tâm: Đến tháng 6/2017 Nghệ An có 883 đối tượng được bảo hộ trong đó nhãn hiệu 823, kiểu dáng 39, giải pháp hữu ích 7, sáng chế 14. Xây dựng và phát triển nhãn hiệu tập thể, chứng nhận, chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm đặc sản ngày càng được quan tâm và hiện có: Chỉ dẫn địa lý cam Vinh, NHCN nước mắm vạn phần, NHTT chè Nghệ An, gà Thanh Chương, hương trầm Quỳ Châu, Gạo Mường Nọc, Bánh đa, kẹo lạc Vĩnh Đức, nước mắm Hải Giang 1... Cơ cấu hàng hoá trên thị trường khoa học và công nghệ của Nghệ An chủ yếu là thiết bị, máy móc, phần hàng hoá ở dạng tài sản trí tuệ rất ít. Về cung ứng công nghệ trên địa bàn tỉnh: Nhu cầu công nghệ của các doanh nghiệp tập trung chủ yếu vào việc mua trang thiết bị, máy móc và dây chuyền đồng bộ. Nhu cầu về pa-tăng và các giải pháp hữu ích rất hạn chế. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã có 52 tổ chức khoa học công nghệ và 08 doanh nghiệp khoa học công nghệ. Tuy nhiên, các tổ chức khoa học và công nghệ, các doanh nghiệp khoa học và công nghệ chưa có đóng góp nhiều trong việc cung ứng công nghệ cho các doanh nghiệp. Năng lực của các tổ chức khoa học và công nghệ còn yếu, kết quả nghiên cứu từ các tổ chức này được đưa vào ứng dụng thực tiễn không cao. Ngay cả những đề tài nghiên cứu có thể áp dụng vào thực tiễn, số kết quả nghiên cứu thỏa mãn các điều kiện để cấp văn bằng bảo hộ trí tuệ rất ít. Đối với các doanh nghiệp khoa học công nghệ trên địa bàn tỉnh phần lớn là mới được thành lập và số lượng còn ít tuy nhiên đã có những đóng góp nhất định cho thị trường khoa học công nghệ bằng những sản phẩm mang thương hiệu của doanh nghiệp được khách hàng trong và ngoài tỉnh quan tâm như: Dây chuyền sản xuất gạch không nung tự động và bán tự động, Máy cắt đá bằng dây, máy doa lỗ di động, máy nâng hạ có bộ phận tự hãm bằng trọng lượng, máy cấy lúa, mô hình tưới thông minh, lồng nuôi cá trên hồ, thiết bị lọc nước cho đầm tôm... và các kết quả này phần lớn đã được đăng ký bảo hộ về sở hữu công nghiệp.

Trong thị trường khoa học và công nghệ, các tổ chức trung gian có vai trò rất quan trọng đó là hoạt động Chợ công nghệ và thiết bị (Techmart) và Sàn giao dịch công nghệ. Hiện cả nước hiện có 8 sàn giao dịch công nghệ, 63 trung tâm ứng dụng và phát triển công nghệ ở 63 tỉnh, thành phố, 43 vườn ươm công nghệ và doanh nghiệp KHCN. Nghệ An, đã có Sàn Giao dịch Thiết bị và Công nghệ, Trung tâm Ứng dụng TB KH&CN, Điểm kết nối cung cầu và 08 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận Doanh nghiệp KH&CN. Đối với Sàn giao dịch công nghệ thiết bị, qua 5 năm hoạt động đã thu hút được gần 10.130 lượt khách đến tham quan, trao đổi, tìm kiếm các sản phẩm KH&CN; 121.000 lượt người truy cập vào Chợ ảo và 125 viện, trường, trung tâm nghiên cứu và doanh nghiệp đăng ký trở thành nhà cung cấp với trên 3.904 thông tin công nghệ thiết bị được chào bán tại Sàn; Tổ chức cho hơn 100 doanh nghiệp tham gia các kỳ hội chợ, triển lãm để quảng bá, giới thiệu công nghệ, thiết bị; Tổ chức 38 chương trình trình diễn, giới thiệu công nghệ/thiết bị, hội nghị, hội thảo, đào tạo, tập huấn đã thu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trên địa bàn tỉnh và một số tỉnh lân cận; Cung cấp nhiều thông tin công nghệ/ thiết bị cho các cá nhân và doanh nghiệp có nhu cầu để lựa chọn trước khi quyết định đầu tư; Tư vấn, môi giới, kết nối trên 100 cuộc cho các doanh nghiệp gặp gỡ, thương thảo, ký kết hợp đồng. Số lượng hợp đồng đã được ký kết thành công thông qua hoạt động tư vấn, môi giới và của các đơn vị đặt văn phòng giao dịch tại Sàn là 52 hợp đồng. Hiện tại Sàn có 10 doanh nghiệp tham gia trưng bày và giới thiệu sản phẩm tại Sàn. Hàng năm, tổ chức tham gia các chợ công nghệ và thiết bị quốc gia.

Ngày 24/6/2017, Bộ KH&CN tổ chức khai trương Điểm kết nối cung cầu công nghệ vùng Bắc Trung bộ tại Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN Nghệ An nhằm tổ chức các hoạt động: trình diễn các mô hình công nghệ; tư vấn về công nghệ, cải tiến kỹ thuật, sở hữu trí tuệ; giới thiệu công nghệ mới với sự tham gia của các chuyên gia trong và ngoài nước. Thông qua Techmart và điểm kết nối cung cầu, thông tin về nhu cầu công nghệ của thị trường đã được chuyển tải đến các viện nghiên cứu, các trường đại học, các cơ quan quản lý để có những định hướng cho công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ cũng như cho công tác quản lý. Tuy nhiên, ngoài những hoạt động trung gian sôi động trên, nhìn chung các dịch vụ và tổ chức trung gian của thị trường công nghệ còn chưa phát triển. Số các tổ chức trung gian, môi giới công nghệ còn ít. Các dịch vụ khoa học và công nghệ như pháp lý về sở hữu trí tuệ, thông tin công nghệ, tư vấn chuyển giao công nghệ, đánh giá, giám định và định giá công nghệ chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. Các dịch vụ về tài chính như thị trường vốn và chứng khoán cho cho khoa học và công nghệ, các quỹ đầu tư mạo hiểm chưa hình thành. Đội ngũ cán bộ thực hiện các dịch vụ trung gian của thị trường khoa học và công nghệ còn rất nhỏ bé.

Như vây, cho thấy mặc dù chính sách nhà nước có nhưng thực hiện thương mại hóa không phải dễ thực hiện, đối với các cá nhân và tổ chức KH&CN hiện chưa quan tâm đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu của họ, hoặc cán bộ nghiên cứu không đủ tri thức và kỹ năng thương mại hóa, do yếu tố ngành, nghề, lĩnh vực nghiên cứu. Đối với thị trường KH&CN thì môi trường kinh doanh ở tỉnh chưa đủ để áp lực để DN đổi mới công nghệ; năng lực hấp thu công nghệ mới, công nghệ tiên tiến của DN không cao; Doanh nghiệp chưa tin tưởng kết quả nghiên cứu và phát triển của các tổ chức KH&CN; Terchmart chưa phát huy được vai trò cầu nối trong giao dịch các tài sản trí tuệ; sàn giao dịch công nghệ chưa phát triển; Thị trường vốn đầu tư mạo hiểm không có; tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ trong các trường đại học và viện nghiên cứu thiếu, các yếu tố thị trường công nghệ chưa thuận lợi cho thương mại hóa. Đối với quản lý nhà nước thì chưa tạo động lực cũng như áp lực buộc các nhà khoa học phải theo đuổi ý tưởng đến khi ra thị trường; cơ chế đặt bài đối với các nhiệm vụ chưa xuất phát từ thị trường; cơ chế đánh giá các đề tài nghiên cứu chưa chú trọng nhiều đến yếu tố thị trường và tiềm năng thị trường…

          3. Một số giải pháp thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển trên địa bàn tỉnh Nghệ An

* Công tác quản lý nhà nước về KH&CN: Bổ sung các tiêu chí về thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển vào cơ chế quản lý nhà nước về KH&CN hiện hành. Đổi mới lựa chọn ý tưởng thực hiện các nhiệm vụ KH&CN cho một số lĩnh vực có tính khả thi, sát thực tiễn và có thị trường để thương mại hóa vì thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển nó là một bộ phận của ứng dụng và chuyển giao kết quả nghiên cứu và phát triển vào sản xuất và đời sống, hoạt động nghiên cứu và phát triển còn có tính công ích, tính hỗ trợ gián tiếp cho phát triển KT-XH nên cần lựa chọn lĩnh vực thương mại hóa phù hợp.

* Quy định trách nhiệm của cá nhân và tổ chức KH&CN trong việc thương mại hóa: Tạo áp lực lên các nhà kho hoạc gắn đề xuất nhiệm vụ sát với thực tiến, chủ động hơn trong việc liên kết với doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu. Cán bộ nghiên cứu được phân chia lợi nhuận xứng đáng tong chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống. Có chính sách miễn giảm thuế thu nhập của nhà khoa học nhận được trong ứng dụng và chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất.  Đối với các tổ chc nghiên cứu và phát triển và các viện, trường thành lập bộ phận thúc đẩy chuyển giao công nghệ. Nghiên cứu kinh nghiệm các nước để xây dựng nguyên tắc đạo đức khoa học cơ bản trong nghiên cứu.

* Thúc đẩy phát triển thị trường khoa học và công nghệ

- Phát triển dịch vụ của thị trường khoa học và công nghệ: Hỗ trợ nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động Sàn giao dịch công nghệ thiết bị, Điểm kết nối cung - cầu về khoa học và công nghệ. Hỗ trợ kết nối với Sàn giao dịch công nghệ thiết bị, Điểm kết nối cung – cầu của Bộ Khoa học và Công nghệ và các tỉnh trong cả nước, tổ chức các hội thảo trình diễn, giới thiệu về công nghệ, thiết bị, giải pháp kỹ thuật của các tác giả, nhà khoa học, tổ chức khoa học và công nghệ đến với các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp của Nghệ An. Hàng năm hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp có nhu cầu tham gia Hội chợ, triển lãm công nghệ thiết bị. Hỗ trợ, khuyến khích phát triển các tổ chwucs dịch vụ chuyển giao khoa học và công nghệ trong các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Hỗ trợ hình thành cơ sở ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Xây dựng chính sách phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm.

- Thúc đẩy nhu cầu công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển giao công nghệ: Tăng cường liên kết tổ chức khoa học và công nghệ với doanh nghiệp để thúc đẩy DN sử dụng kết quả nghiên cứu và phát triển được tạo ra ở trong nước. Khuyến khích thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có năng lực đủ mạnh để thực hiện vai trò nòng cốt, truyền dẫn công nghệ, thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ.  Hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ, quỹ hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp. Hỗ trợ cho các cá nhân, tổ chức khoa học và công nghệ đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ, sáng chế, giải pháp hữu ích và khai thác, phát triển có hiệu quả nguồn tài sản trí tuệ. Hỗ trợ các tổ chức KH&CN trong tỉnh chuyển giao kết quả nghiên cứu và phát triển vào sản xuất và đời sống. Cải thiện thái độ của DN đối với kết quả nghiên cứu và phát triển được tạo ra từ trong nước, trong tỉnh.

- Hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo: Xây dựng Khu tập trung dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Trường Đại học trên địa bàn. Tổ chức kết nối hỗ trợ hoạt động hệ sinh thái khởi nghiệp của tỉnh. Thực hiện hỗ trợ các cá nhân, nhóm cá nhân khởi nghiệp và doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Phát triển số lượng doanh nghiệp mới dựa trên công nghệ.

 

 

Tài liệu tham khảo:

  1. Chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam (TS Nguyễn Quang Tuấn, Viện chiến lược và chính sách KH&CN).
  2. Kết quả khảo sát thực trạng doanh nghiệp Nghệ An trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế năm 2016.
  3. Quyết định số 2171/QĐ-UBND ngày 24/5/2017 của UBND tỉnh về việc ban hành kế hoạch hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2017-2020.
  4. Quyết định 5821/QĐ-UBND ngày 01/12/2017 ban hành kế hoạch phát triển thị trường KH&CN trên địa bàn tỉnh đến 2020.
  5. Báo cáo hoạt động KH&CN năm 2016-2017 của Bộ KH&CN
  6. Báo cáo hoạt động KH&CN năm 2016-2017 của tỉnh Nghệ An
  7. Cổng thông tin điện tử của Bộ KH&CN

 

 

Bùi Thông Thiện

 

Trong xã hội hiện đại, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, nhiều tri thức dân gian của các cộng đồng đã chuyển thành hàng hóa trên thị trường. Càng ngày, quá trình thương mại hóa tri thức dân gian càng trở nên phổ biến, nó đặt ra nhiều vấn đề quan trọng cần phải giải quyết ở các quốc gia và các địa phương. Đó là những vấn đề như bản quyền sở hữu trí tuệ, phân chia lợi ích, bảo tồn văn hóa cộng đồng hay hạn chế các xung đột văn hóa…

1. Thương mại hóa tri thức dân gian trong xã hội hiện đại

Trong nền kinh tế hiện đại, quá trình thương mại đã và đang tác động mạnh mẽ đến các yếu tố văn hóa, tạo thành quá trình thương mại hóa văn hóa. Có thể hiểu thương mại hóa văn hóa là quá trình đưa các giá trị văn hóa truyền thống vào thị trường để phát triển kinh tế và tìm kiếm lợi nhuận qua việc biến giá trị văn hóa thành hàng hóa để đưa ra trao đổi hay các dịch vụ trong thị trường. Quá trình thương mại hóa văn hóa một mặt làm thay đổi, mất mát các giá trị văn hóa truyền thống của các cộng đồng, các tộc người. Mặt khác, nó cũng làm cho nền văn hóa truyền thống của các cộng đồng trở nên năng động hơn, tham gia vào sự phát triển và tạo ra cơ hội nhiều hơn để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Nhưng các nền văn hóa khi tham gia nhiều vào thị trường cũng không còn thụ động. Đến một mức độ nhất định, con người lại chủ động tham gia và phát triển kinh tế thị trường theo các giá trị văn hóa của mình, tạo thành quá trình văn hóa hóa thị trường ở các tộc người, các cộng đồng. Hai quá trình này thường đi song song với nhau, có quan hệ chặt chẽ với nhau. Kinh tế thị trường càng phát triển thì quá trình thương mại hóa văn hóa càng mạnh mẽ, và ngược lại, càng tham gia nhiều vào thị trường thì quá trình văn hóa hóa thị trường cũng sâu sắc hơn. Đó là một quá trình kép ở các cộng đồng (Trần Văn Bính, 2013).

Trong quá trình thương mại hóa văn hóa thì thương mại hóa tri thức dân gian thể hiện rõ nét hơn cả. Tri thức dân gian được hiểu là hệ thống các tri thức, kinh nghiệm được hình thành trong quá trình hình thành và phát triển của một cộng đồng và được cộng đồng công nhận. Tri thức dân gian là một nguồn vốn cộng đồng, một nguồn lực chung của cộng đồng trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, nguồn lực này lại được thể hiện khác nhau thông qua các cá nhân khác nhau trong các cộng đồng đó. Thương mại hóa tri thức dân gian là quá trình sử dụng các tri thức dân gian để tạo ra các sản phẩm hàng hóa hay các dịch vụ phục vụ thị trường và tìm kiếm lợi nhuận, lợi ích kinh tế. Trong xã hội hiện đại, quá trình thương mại hóa các tri thức dân gian ngày càng mạnh mẽ hơn, chủ yếu trên các lĩnh vực thương mại hóa tri thức dân gian về y dược học, thương mại hóa tri thức dân gian về thủ công nghiệp truyền thống… Quá trình thương mại hóa tri thức dân gian đã góp phần vào việc phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các cộng đồng lên cao hơn. Nhưng mặt khác, nó cũng tạo ra nhiều vấn đề bất cập cần phải giải quyết. Đó là sự xung đột lợi ích giữa các cộng đồng, sự xung đột về văn hóa, sự mai một mất mát các giá trị văn hóa truyền thống hay vấn đề cấp bản quyền sở hữu trí tuệ.

Vấn đề sở hữu trí tuệ, bản quyền thương mại và lợi ích của các cộng đồng chủ thể của các tri thức dân gian không phải là câu chuyện mới mẻ trong giới nghiên cứu phát triển. Những bàn luận liên quan đến vấn đề này được nhiều tổ chức, nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt là Ngân hàng Thế giới (World Bank) quan tâm từ những năm cuối thế kỷ trước. Đầu thế kỷ XXI, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về những bất cập trong mối quan hệ giữa các công ty được cấp bản quyền sở hữu trí tuệ các sản phẩm liên quan đến tri thức dân gian và các cộng đồng chủ thể của tri thức đó. Nghiên cứu của Philip Schuler (2004) về sự xung đột liên quan đến việc sử dụng thuốc trừ sâu từ cây gỗ đào ở Ấn Độ là một ví dụ. Người dân Ấn Độ đã sử dụng sản phẩm từ cây gỗ đào để làm thuốc trừ sâu và chống nấm từ hàng ngàn năm nay. Nhưng ở Mỹ và châu Âu có nhiều bản quyền chứng nhận sở hữu trí tuệ về sản phẩm cây gỗ đào được cấp cho các công ty hóa chất để sản xuất và buôn bán. Tuy nhiên, việc cấp bản quyền cho các công ty này chưa ngăn cản người nông dân Ấn Độ sản xuất và sử dụng các sản phẩm từ cây gỗ đào theo cách chiết xuất truyền thống. Nhưng đến năm 1993, khi Công ty P.J. Margo Private Ltd (một đối tác của Công ty hóa chất W.R.Grace - công ty được cấp bản quyền về sản phẩm này ở Mỹ) đã sản xuất và tiếp thị loại thuốc trừ sâu từ gỗ đào vào Ấn Độ, đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của một bộ phận nông dân thì nhiều cuộc biểu tình phản đối sự liên kết của hai công ty này. Năm 1995, nhiều nhóm đã liên kết lại kiện các tổ chức cấp bản quyền ở Mỹ và châu Âu vì cho rằng sản phẩm này đã được người dân sản xuất và sử dụng từ nhiều thế kỷ nay. Nó buộc tổ chức cấp bản quyền ở châu Âu phải hủy bỏ bản quyền của sản phẩm này nhưng ở Mỹ thì vẫn còn giá trị. Hay những tranh chấp từ bản quyền của gạo Basmati của một số nông dân Ấn Độ với một công ty kinh doanh gạo của Mỹ; Tranh chấp về loại đậu vàng "Mayacoba" của nông dân     Mexico với một công ty nông nghiệp Colorado… Hầu hết những cuộc tranh chấp này đều đi đến những kết quả khác nhau, tuy nhiên, những nhà nghiên cứu đều có mục tiêu chung là mong muốn mang lại nhiều lợi ích hơn cho các cộng đồng đang sở hữu những tri thức mà nhiều công ty đã và đang tiến hành thương mại hóa các sản phẩm từ những tri thức đó. Và trên thực tế, nhiều cuộc đấu tranh đó đã đưa lại kết quả nhất định. Trong một nghiên cứu liên quan đến những thỏa thuận về đa dạng hóa sinh học và phân chia lợi nhuận với cộng đồng địa phương ở Ấn Độ, hai nhà nghiên cứu Kerry Ten Kate và Sagrah A. Laird (2004) đã cho thấy các nhà nghiên cứu, các công ty sản xuất có thể kết hợp với người dân địa phương trong việc thương mại hóa tri thức dân gian. Dẫn chứng là việc các nhà nghiên cứu Vườn thực vật nhiệt đới và Viện nghiên cứu (TBGRI) của Ấn Độ đã phối hợp với một số người dân Kani (một nhóm người thiểu số ở Tây Nam Ấn Độ) đi sưu tầm và tìm ra hoạt chất phục hồi sức khỏe. Họ chuyển quyền sản xuất cho Công ty dược Coimbatore Aryavaidya Ltd sản xuất ra thuốc Jeevani và chia sẻ nhau lợi ích với tỷ lệ 50-50. Cộng đồng Kani cũng đã lập ra một hội đồng để quản lý nguồn tiền thu được và sử dụng vào phát triển chung và phúc lợi cho người dân trong vùng.

Ở Việt Nam, quá trình thương mại hóa văn hóa nói chung và thương mại hóa tri thức dân gian nói riêng đang ngày càng mạnh mẽ. Ở các dân tộc, các vùng miền khác nhau thì quá trình này cũng thể hiện khác nhau tùy theo sự phát triển của kinh tế thị trường cũng như trình độ phát triển của các tộc người. Có những cộng đồng, các sản phẩm từ tri thức dân gian đã trở thành hàng hóa có thương hiệu và được buôn bán ở nhiều nơi trong và ngoài nước. Có những cộng đồng thì mới bắt đầu làm quen với quá trình thương mại hóa các tri thức dân gian. Mỗi địa phương, mỗi tộc người, mỗi cộng đồng đều có những đặc trưng riêng trong quá trình thương mại hóa các tri thức dân gian cũng như thương mại hóa văn hóa.

2. Thương mại hóa tri thức dân gian ở Nghệ An hiện nay

2.1. Thương mại hóa tri thức dân gian về dược học

Nghệ An là một địa phương có nhiều cộng đồng tộc người sinh sống và có một nguồn vốn tri thức dân gian đa dạng và phong phú về y học cổ truyền từ các cộng đồng tộc người khác nhau. Lại là một địa phương có diện tích tự nhiên rộng lớn, có sự đa dạng về mặt sinh học, nhất là về nguồn gen các loại cây dược liệu ở vùng miền Tây Nghệ An, nơi được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Theo điều tra chưa đầy đủ thì đến nay, Nghệ An có gần 1.000 loài cây dược liệu thuộc 365 chi của 183 họ. Đây là một tiềm năng, một nguồn lực quan trọng trong quá trình phát triển khi đặt cạnh kho tàng tri thức dân gian của các cộng đồng sống trên địa bàn. Trong điều kiện tự nhiên ban cho một kho thuốc quý, việc các cộng đồng, những người dân vận dụng những tri thức, kinh nghiệm của mình để khai thác lại trở nên đa dạng hơn. Trước đây, người ta chủ yếu khai thác để phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bản thân và gia đình. Chỉ có một số thầy lang đi tìm kiếm và dự trữ các loại cây thuốc để chữa bệnh. Còn ngày nay, nhiều người dân đã biết khai thác các cây dược liệu để đem bán kiếm thêm thu nhập.

Một ví dụ như việc nhóm người Nùng từ Cao Bằng di cư vào sinh sống tại xã Yên Khê, huyện Con Cuông. Khi mới vào họ sinh sống bằng việc trồng chè, nhưng do thu nhập từ trồng chè ngày càng trở nên khó khăn, hạn chế, họ quay qua sử dụng những tri thức dân gian về y học của mình để khai thác các dược liệu và đem bán cho thương lái. Những người có hiểu biết về y học cổ truyền đã đi lên các vùng rừng núi gần đó để kiếm các loại cây thuốc như cây sâm đá, linh chi, hà thủ ô, huyết giác, củ bình vôi, cây lá gai... Họ xử lý ban đầu rồi gom lại để đi bán cho những người đi buôn. Hiện nay, nhiều người không chỉ đi lấy cây thuốc mà còn đứng ra gom cây thuốc từ nhiều hộ gia đình rồi mang ra ngoài Bắc bán, có khi họ còn bán sang Trung Quốc. Và thu nhập từ việc khai thác cây thuốc cũng trở thành một phần quan trọng đối với những người Nùng ở đây.

Khác với nhóm người Nùng ở Yên Khê chủ yếu là khai thác các dược liệu tự nhiên, nhóm người Thái ở Chi Khê gần đó không chỉ khai thác tự nhiên mà còn phát triển việc trồng cây dược liệu. Từ những tri thức dân gian về các cây dược liệu, người dân hợp tác từ Công ty cổ phần Dịch vụ khoa học công nghệ Nông nghiệp Thành An tiến hành trồng hàng chục ha cây cà gai leo và cây dây thìa canh. Sau khi thu hoạch được công ty thu mua và chế biến thành các loại sản phẩm như trà dược liệu, trà túi lọc và các loại thuốc giải độc gan từ cà gai leo. Nguồn thu từ việc trồng những loại cây dược liệu này có thể đem về cho người sản xuất trên dưới 100 triệu đồng/ha/năm. Ở huyện Quế Phong, nơi có nguồn dược liệu phong phú nhất của Nghệ An thì việc trồng cây dược liệu được coi là trọng điểm trong phát triển kinh tế của địa phương. Người dân dựa trên những tri thức tích lũy nhiều thế hệ đã lựa chọn và trồng nhiều loại cây dược liệu như cây chè hoa vàng, bon bo, đẳng sâm, quế… Nhiều loại dược liệu đã được chế tạo thành các sản phẩm để đưa ra thị trường, một số được bán thô làm nguyên liệu cho các công ty sản xuất thuốc.

Không chỉ ở miền núi mà nhiều vùng miền xuôi Nghệ An cũng quan tâm đến việc trồng và buôn bán các sản phẩm dược liệu như cây nghệ, cây đinh lăng hay các loại thuốc Nam khác. Trong dân gian, cây nghệ được sử dụng với nhiều công hiệu như làm đẹp da, nhanh lành da ở các vết thương và nhiều giá trị về thẩm mỹ. Gần đây, nhiều sản phẩm được chiết xuất từ củ nghệ được phát triển thì việc trồng cây nghệ cũng trở nên phổ biến và được nhiều vùng lựa chọn làm ngành sản xuất nông nghiệp hiệu quả. Tiêu biểu như nhóm cư dân ở xã Nghi Kiều (Nghi Lộc) hiện nay đang trồng hàng năm hơn 100 ha cây nghệ và thu nguồn lợi ước tính hơn 30 tỷ đồng mỗi năm. Ở nhiều địa phương, hình thành nhiều cơ sở nhỏ lẻ trong việc kinh doanh bột nghệ. Họ là những người đi thu mua củ nghệ của những gia đình trồng với diện tích không lớn, về tự chế biến và đem bán cho khách có nhu cầu. Tuy nhiên, cũng có những địa phương, nhiều người đã biết tập hợp nhau lại trong việc khai thác, trồng và buôn bán các loại dược liệu. Tiêu biểu như Hội Đông y huyện Yên Thành đã tập hợp 130 thành viên cùng tìm hiểu các tri thức về cây thuốc, đi tìm giống và trồng nhiều loại dược liệu. Hiện nay, mỗi năm, các thành viên trong Hội đã cung ứng ra thị trường khoảng 20 tấn dược liệu, thu về một số tiền lớn.

Nhìn chung, nhiều địa phương ở Nghệ An, người dân đã quan tâm việc sử dụng các tri thức dân gian về y học cổ truyền để khai thác và trồng các loại dược liệu để đưa ra thị trường. Tuy nhiên, mới chỉ có một số sản phẩm được chế biến thành thành phẩm cuối cùng, còn lại phần lớn chỉ mới được sơ chế và bán cho các công ty sản xuất dược phẩm. Việc đầu tư các công nghệ hiện đại vào để chế biến các dược liệu thành sản phẩm đưa ra thị trường là nhu cầu cấp thiết. Và thực tế một số công ty đã bắt đầu quan tâm đến vấn đề này, nhưng mức độ vẫn còn chậm. Trong tương lai, có thể, chế biến dược phẩm sẽ là một lĩnh vực thu hút nhiều sự quan tâm của các doanh nghiệp.

2.2. Thương mại hóa tri thức dân gian về thủ công nghiệp

Quá trình này phổ biến ở các dân tộc thiểu số miền núi Nghệ An. Các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Nghệ An đều có hệ thống tri thức dân gian về thủ công nghiệp khá phong phú, từ nghề dệt, may mặc, đan lát, sản xuất đồ mỹ nghệ… Trong khoảng hai thập niên gần đây, khi kinh tế thị trường ở miền núi phát triển nhanh hơn, thì nhiều tri thức đã trở thành hàng hóa và đưa vào thị trường. Ở nhiều địa phương, các tổ chức phát triển kinh tế như hợp tác xã, câu lạc bộ, tổ sản xuất được thành lập để tổ chức phát triển kinh tế thị trường dựa vào các tri thức dân gian về thủ công nghiệp. Tiêu biểu như tổ chức sản xuất, kinh doanh của người Thái ở miền Tây Nghệ An như hợp tác xã dệt thổ cẩm Hoa Tiến và hợp tác xã dệt thổ cẩm Minh Hồng (xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu), hợp tác xã thủ công mỹ nghệ và dịch vụ Bản Xiềng (xã Môn Sơn, huyện Con Cuông) hay các tổ sản xuất dệt thổ cẩm ở xã Lục Dạ (Con Cuông)… Những thời gian cao điểm, hợp tác xã dệt thổ cẩm Hoa Tiến tạo công ăn việc làm cho hơn 200 người trong bản và vùng xung quanh, sản xuất và kinh doanh hàng trăm sản phẩm về thổ cẩm với hàng ngàn mét vải dệt, thu về hàng trăm triệu đồng, góp phần nâng cao đời sống cho người dân. Ở Lục Dạ có 12 bản thì có 6 tổ sản xuất dệt thổ cẩm thu hút gần 200 gia đình làm nghề thủ công này tham gia vào sản xuất thổ cẩm để đưa ra thị trường. Tổ sản xuất mây tre đan ở Bản Diềm (xã Châu Khê, Con Cuông) cũng tập hợp bà con sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ dựa trên tri thức về nghề đan lát đồ mây tre đưa ra thị trường mà gần đây đã vươn ra thị trường nước ngoài như Pháp, Đức…

Nét chung của các tổ chức sản xuất này là học theo mô hình của nhiều địa phương khác thông qua các chương trình phát triển của một số tổ chức xã hội hỗ trợ. Dù có nhiều cố gắng để giới thiệu và đưa các sản phẩm hàng hóa từ tri thức thủ công nghiệp truyền thống của cộng đồng ra thị trường nhưng họ vẫn gặp nhiều khó khăn. Nhìn nguồn thu hàng trăm triệu đồng của các hợp tác xã hay tổ sản xuất thu về thì thấy lớn nhưng khi phân chia ra cho những người tham gia thì cũng chỉ là một phần thu nhập nhỏ bé. Hiện tại, việc tiếp cận thị trường của các sản phẩm thủ công nghiệp gặp nhiều khó khăn do đầu ra không có. Những người tham gia cũng thiếu những kinh nghiệm tổ chức kinh doanh trong kinh tế thị trường. Tuy nhiên, những nỗ lực của những người đi đầu trong việc đưa tri thức thủ công nghiệp truyền thống ra thị trường cũng đã tạo ra những luồng gió mới cho quá trình phát triển của cộng đồng.

3. Hệ quả của quá trình thương mại hóa tri thức dân gian

Không phủ nhận thương mại hóa tri thức dân gian đã mang lại cho các cộng đồng nhiều lợi ích kinh tế, góp phần nâng cao đời sống vật chất cho người dân, xóa đói, giảm nghèo và làm cho nền văn hóa năng động hơn, nhiều giá trị văn hóa được lan tỏa ra nhanh chóng. Nhưng thương mại hóa tri thức dân gian cũng có thể tạo ra nhiều hệ quả tiêu cực cho sự phát triển của các cộng đồng, tộc người.

Trước hết, đó là những xung đột về lợi ích giữa các bên tham gia vào quá trình thương mại hóa tri thức dân gian. Nếu như các cách khai thác và buôn bán nhỏ lẻ từ chính những người dân bản địa như đã nói ở trên thì mọi chuyện chưa có nhiều vấn đề để bàn, nhưng khi các doanh nghiệp đầu tư vận dụng các tri thức dân gian cùng nguồn nguyên liệu để sản xuất các thực phẩm chức năng, các loại thuốc thì nhiều bất cập sẽ nẩy sinh. Trong đó có thể xẩy ra những xung đột giữa những người buôn bán các sản phẩm này với những cộng đồng là chủ sở hữu của các tri thức đã làm nền tảng để tạo ra sản phẩm đó. Nói vậy không phải là quan điểm chống lại thương mại hóa các tri thức dân gian, mà cần nhìn xa hơn, là sự tôn trọng các giá trị văn hóa truyền thống của các cộng đồng, là việc tổ chức, bảo hộ cho các nguồn tài sản chung trong quá trình phát triển. Cần phải có sự hài hòa trong việc khai thác các giá trị văn hóa cộng đồng để tránh những xung đột về mặt văn hóa trong quá trình phát triển.

Thứ hai là sự xung đột văn hóa trong quá trình thương mại hóa tri thức dân gian. Những người kinh doanh các sản phẩm văn hóa thường là những người ngoài cộng đồng chủ thể nên dễ đẩy cả người kinh doanh, người thụ hưởng và cộng đồng chủ thể đi đến xung đột. Trong một nghiên cứu về vấn đề này, Daniel Wiiger đã đưa ra cảnh báo về việc sử dụng công nghệ hiện đại trong quản lý thương mại hóa tài sản văn hóa, trong đó nhấn mạnh đến việc bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống bằng cách ngăn cản hoặc đưa ra những điều kiện cụ thể đối với việc sử dụng các sản phẩm văn hóa ra ngoài không gian tồn tại của nó là rất cần thiết. Nhà nghiên cứu này đưa ra một dẫn chứng về một phóng viên đã đến vùng Tây Nam Hoa Kỳ chụp những bức ảnh về một vũ điệu có tính chất nghi lễ của người Pueblo và công bố rộng rãi. Những người trong bộ lạc đã kiện phóng viên này vì như vậy là xâm phạm vào quyền riêng tư trong nghi lễ văn hóa của họ. Và kết quả là phóng viên phải dừng ngay việc sử dụng những tấm ảnh này. Câu chuyện này gần gũi với việc một người thợ chụp ảnh khoe với bạn bè rằng anh ta vừa đi lên miền núi và chụp được một số bức ảnh về cảnh tắm suối của người phụ nữ Thái. Anh ta cho rằng các chỉ số và góc nhìn của bức ảnh này đẹp hơn tất cả những bức ảnh tắm suối mà anh ta đã xem và đang ý định đi đăng ký bản quyền cũng như gửi một số báo chí hay dự thi ảnh. Nếu những bức ảnh này được cấp bản quyền và được công bố, thì những người Thái ở cộng đồng mà anh ta đến chắc hẳn sẽ khó chịu vì đây là sinh hoạt tế nhị của họ. Tương tự như vậy, một bài múa của người Thái ở miền núi có thể được một vũ đoàn ở thành phố biểu diễn với một trang phục sexy hơn để thu hút khách thì đối với những người chủ thể của nó sẽ khó mà chấp nhận được.

Thương mại hóa văn hóa, mà cụ thể là thương mại hóa các tri thức dân gian là xu hướng khó tránh khỏi. Nhưng để quá trình đó không ảnh hưởng tiêu cực quá nhiều đến các nền văn hóa thì cần phải tôn trọng các giá trị văn hóa truyền thống của các cộng đồng, các dân tộc nhưng không đối lập, bài trừ sự phát triển, sự hiện đại hóa. Như GS J. Michael      Finger, nguyên trưởng nhóm nghiên cứu chính sách thương mại của Ngân hàng Thế giới lập luận: "Hiểu ý nghĩa về truyền thống và hiện đại như là hai đầu của một cán cân thì tốt hơn là việc phân biệt rạch ròi. Mỗi một cộng đồng thì thích hợp ở đâu đó dọc theo cán cân này, trong sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại". Thương mại hóa, thị trường hóa hay toàn cầu hóa, hiện đại hóa là những quá trình, những xu hướng mà một cộng đồng, một quốc gia không dễ gì đi ngược lại hay trốn tránh. Tuy nhiên, nhiều nước cũng cho thấy được sự thành công nếu có chiến lược chủ động hòa nhập và phát triển để bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Nếu làm được điều đó thì khi đó, chính văn hóa truyền thống chính là bệ đỡ, là nền tảng và nguồn lực quan trọng để phát triển.

 

Tài liệu tham khảo

1. Trần Văn Bính: Thương mại hóa và văn hóa, Tạp chí Lý luận chính trị, số 10, 2013.

2. Daniel Wiiger, Sự ngăn ngừa sử dụng trái phép di sản văn hóa phi vật thể thông qua luật sở hữu trí tuệ, in trong "Kiến thức của người nghèo: các hoạt động thúc đẩy việc thu lợi từ tài sản trí tuệ ở các nước đang phát triển". J Michael Finger và Philip Schuler đồng chủ biên. Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2004.

3. Coenraad J. Visser, Làm cho luật sở hữu trí tuệ phục vụ tri thức cổ truyền, in trong "Kiến thức của người nghèo: các hoạt động thúc đẩy việc thu lợi từ tài sản trí tuệ ở các nước đang phát triển". J Michael Finger và Philip Schuler đồng chủ biên, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2004.

4. Trần Văn Hải, Khai thác thương mại đối với tri thức truyền thống: tiếp cận từ quyền sở hữu trí tuệ. Tạp chí Hoạt động khoa học, số 2, 2012.

5. Kerry ten Kate và Sagrah A. Laird,  Những thỏa thuận về đa dạng hóa sinh học và phân chia lợi nhuận với cộng đồng địa phương, in trong "Kiến thức của người nghèo: các hoạt động thúc đẩy việc thu lợi từ tài sản trí tuệ ở các nước đang phát triển". J Michael Finger và Philip Schuler đồng chủ biên. Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2004.

6. Hà Hữu Nga, Tri thức bản địa và phát triển. Bài tham luận tại Hội thảo khoa học "Nghiên cứu một số giá trị tri thức bản địa, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy để góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi, ngày 30/12/2009.

7. Philip Schuler, Sự sử dụng bất hợp pháp các nguồn tài nguyên sinh học và việc thương mại hóa các tri thức dược thảo học, in trong "Kiến thức của người nghèo: các hoạt động thúc đẩy việc thu lợi từ tài sản trí tuệ ở các nước đang phát triển". J Michael Finger và Philip Schuler đồng chủ biên. Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2004.

8. J. Michael Finger, Giới thiệu và tổng quan, trong "Kiến thức của người nghèo: các hoạt động thúc đẩy việc thu lợi từ tài sản trí tuệ ở các nước đang phát triển". J Michael Finger và Philip Schuler đồng chủ biên. Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2004.

 

Phan Mậu Cảnh

1. Du lịch là một nhu cầu tinh thần tự nhiên, cần thiết mà con người không thể thiếu song song với nhu cầu vật chất (ăn, ở, hít thở, ngủ, nghỉ, mặc); rộng hơn đó là nhu cầu thụ hưởng các giá trị vật chất và tinh thần, là khát vọng tìm hiểu, thưởng thức, khám phá thế giới xung quanh. Trong thế giới hiện đại, khi cái ăn, cái mặc về cơ bản đã được đảm bảo, chất lượng sống tăng lên, phương tiện giao thông, thông tin ngày càng thuận lợi và nhanh chóng, xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng, mang tính toàn cầu hóa, thì những nhu cầu, khát vọng của con người tăng lên, không gian sinh tồn giao lưu trở nên rộng mở hơn bao giờ hết. Ngày nay, con người còn có những nhu cầu mới về trải nghiệm, chia sẻ, thỏa chí đam mê, tìm nơi dưỡng tâm, an lạc. Khách du lịch có nhiều đối tượng (trong nước, nước ngoài; khách ngắn hạn, dài ngày) đủ các lứa tuổi, thành phần, địa vị, sở thích. Nhưng có điểm chung về tâm lý du lịch, theo Henry Miller: "Đích đến của chúng ta không phải là một vùng đất, mà là một cách nhìn mới", đó là nhu cầu muốn tìm hiểu (cái lạ, mới) và thưởng thức (cái hay, cái đẹp) của nơi đến. Nhu cầu ấy không hẳn là ở những địa danh hiện đại, quy củ có bàn tay nhân tạo mà chính là ở những vùng thiên tạo, thậm chí hoang dã, cổ xưa miễn là có bản sắc, riêng có của điểm du lịch. Nói một cách đơn giản, du lịch ngày nay cần làm thoả mãn các giác quan của du khách về cái mắt (quan sát cảnh vật, môi trường, phong tục tập quán), cái miệng (thưởng thức các đặc sản ẩm thực), cái cảm giác (thấu cảm hương vị của thiên nhiên, của tình cảm) và cái tai (thưởng thức âm thanh của tự nhiên, của nhân tạo), v.v... Các tiến bộ của khoa học công nghệ đang vươn tới tìm những phương cách để con người thoát khỏi cái hữu hạn của không gian và thời gian, mở ra chiều kích mới và nhiều triển vọng cho tương lai nhân loại. Du lịch chính là một trong những hoạt động khả dĩ có thể đáp ứng tối ưu các nhu cầu, khát vọng đó của con người.

Nắm bắt được xu thế đó, quốc gia nào cũng có những chủ trương, chính sách phát triển hoạt động du lịch, xem đó như ngành kinh tế mũi nhọn - công nghiệp "không khói", có khả năng phát triển đất nước giàu mạnh, bền vững, hội nhập sâu rộng... Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị chỉ rõ: "Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là định hướng chiến lược quan trọng để phát triển đất nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác". Ngành du lịch Việt Nam còn non trẻ - mới có khoảng 20 năm xây dựng và phát triển - nhưng chúng ta đã thu được nhiều kết quả khả quan trong việc đầu tư phát triển du lịch. Mỗi vùng miền cũng đã chú ý, coi trọng "làm" du lịch.

2. Trong những năm qua, chính quyền và ngành du lịch hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã có những kế hoạch chiến lược, thực hiện việc phát triển du lịch địa phương bằng việc đầu tư hạ tầng, khai thác các điểm du lịch và dịch vụ ở các địa phương khá tốt; đã và đang có kế hoạch liên kết phát triển du lịch Nam Nghệ - Bắc Hà, Nam Thanh - Bắc Nghệ; mô hình "Ba quốc gia - một điểm đến" (ý tưởng: một ngày đi đến ba nước: Việt - Lào - Thái, nghỉ ở một điểm)... Trong những năm qua, cùng với du lịch cả nước, du lịch Nghệ - Tĩnh đã có những bước phát triển đáng ghi nhận; lượng khách, chỉ số cạnh tranh, môi trường, chất lượng du lịch... năm sau tăng hơn năm trước. 

Bên cạnh những thành công, những kết quả nổi bật trong thời gian vừa qua, hoạt động du lịch xứ Nghệ vẫn còn những hạn chế "cố hữu" (mà du lịch các vùng miền và cả nước đều đang tồn tại ở những mức độ khác nhau) nên thiếu tính hấp dẫn để thu hút, lưu giữ khách lâu dài; lượng khách một đi không trở lại nhiều hơn lượt khách mong muốn "See you again"!... Nguyên nhân thì có nhiều nhưng thường gặp nhất là: cảnh quan, điều kiện tự nhiên phong phú nhưng ngành du lịch mới chú trọng khai thác cái thiên tạo, cái sẵn có mà chưa chú ý đầu tư nâng cấp, tôn tạo chúng; cơ sở hạ tầng, dịch vụ, sản phẩm phục vụ còn hạn chế, nghèo nàn; các điểm du lịch khác cũng thường đơn điệu (thiếu nơi vui chơi, giải trí, thư giãn tinh thần); đội ngũ làm du lịch chưa thực sự chuyên nghiệp; sự phối hợp (từ cơ quan quản lý đến các công ty du lịch) chưa đồng bộ, thụ động; chương trình nội dung các tour du lịch còn cứng nhắc, thiếu tính hấp dẫn; công tác quảng bá các đặc sản, sản phẩm của địa phương chưa được chú trọng khai thác... Nhìn chung, tổ chức hoạt động du lịch của vùng Nghệ Tĩnh nói chung, Nghệ An nói riêng còn nhiều hạn chế so với các vùng, miền trong nước và khu vực.

Để khắc phục được những hạn chế đó, thiết nghĩ, cần phải có chủ trương và xây dựng kế hoạch lâu dài, bài bản, thống nhất và sự phối hợp của tất cả các cấp, các ngành, các đơn vị của hai tỉnh. Các giải pháp mà ngành du lịch hai tỉnh đã nêu ra trong năm 2018 là đúng hướng, cần thiết nhưng cần triển khai cụ thể và kịp thời hơn. Cần học tập, hợp tác và liên kết với các vùng du lịch trong nước, đặc biệt là các nước trong khu vực... Một trong những hướng để thu hút và tạo dấu ấn cho du khách là huy động, khai thác hợp lý môi trường cảnh quan tự nhiên (du lịch sinh thái) và các đặc sản văn hoá của vùng đất này. Chủ trương của các cấp chính quyền, của ngành cũng đã xác định: Phát triển du lịch bền vững; bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa và các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo vệ môi trường và thiên nhiên; giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và an sinh xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội (NQ 08/NQ-TW).

Khai thác đặc sản vùng quê xứ Nghệ đưa vào hoạt động du lịch là một hướng khả dụng, góp phần nâng cao chất lượng và thu hút khách du lịch. Một trong những đặc điểm đặc thù, nổi tiếng được truyền tụng xưa nay xứ Nghệ là vùng đất "Địa linh nhân kiệt", "Non xanh nước biếc như tranh họa đồ". Quả thật, xứ Nghệ (bao gồm hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh) là một vùng đất non nước hữu tình, hội đủ các điều kiện tự nhiên - xã hội để thu hút khách thập phương, với những hành trình du lịch phong phú, như: du lịch biển (Cửa Lò, Cửa Hội, Bãi Lữ, Cửa Hiền, Thiên Cầm), du lịch sinh thái (Pù Mát, Ngàn Trươi, Vũ Quang), du lịch nhân văn - tâm linh (các di tích lịch sử, khu lưu niệm, đền chùa: đền Cờn, chùa Hương Tích, Ngã Ba Đồng Lộc, Truông Bồn) và những điểm du lịch khác mang tính tích hợp, với cảnh quan thiên nhiên hữu tình: núi Hồng sông Lam, núi Dũng Quyết, đảo chè Cầu Cau - Thanh Chương, Hòn Ngư, Đảo Mắt... Các vùng của hai tỉnh còn có các sản vật "cây nhà lá vườn" nổi tiếng đã thành thương hiệu, như: cam Xã Đoài, bưởi Phúc Trạch, cháo lươn Hưng Nguyên, tương Nam Đàn, cu đơ Cầu Phủ, v.v...

Với những cảnh quan địa linh "trời cho" như vậy, cái còn lại là chúng ta cần phải tổ chức, nối kết cả ở lĩnh vực "nhân kiệt" (như khu lưu niệm quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, khu lưu niệm Nguyễn Du, đền Quang Trung, đền Hoàng Mười, Phượng Hoàng Trung Đô và các di tích lịch sử khác) thành một hệ thống du lịch có tính chuẩn mực và phổ quát (như mọi miền) nhưng lại cần có tính đặc thù (chỉ riêng ở xứ Nghệ). Điểm đặc thù này, phải chăng là làm cho du khách đến xứ Nghệ cảm thấy một cách ấn tượng về vùng đất vốn từng là phên dậu của thuở dựng nước, từng là nơi gánh hai đầu đất nước trong hai cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc. Điểm nhấn rõ nhất cần làm cho du khách thấy được rằng: xứ Nghệ là một vùng đất cổ xưa, còn lưu giữ được những phong tục tập quán của cư dân nông nghiệp cổ truyền đặc sắc. Cùng với việc xây dựng các công trình hoành tráng (khách sạn, nhà hàng, resort) như các vùng khác, thế mạnh xứ Nghệ lại chính là những đặc sản lưu giữ nét xưa cũ của hồn quê dân tộc Việt. Theo hướng đó, có thể tiếp tục xây dựng các kiến trúc hệ thống nhà vườn, với cây, con, cái mang dáng dấp của làng xóm xưa như: vườn cây trái (trầu cau, chuối, bưởi, khoai, sắn, chè xanh), những sự vật quen thuộc (cối xay, cối giã gạo, dần, sàng, thúng, mủng; giếng khơi, đài múc nước), những công cụ làm nghề phụ (nơm, vó, trúm, lừ; xa quay tơ, xe cút kít), trang phục của người dân quê (áo tơi, nón lá, mấn, yếm, khăn búi tóc), phong tục trò chơi (cầu kiều, đu, thả diều, đánh bi đánh đáo...), v.v...

Những vật dụng này chúng ta có thể sưu tầm hay mô phỏng được vì quá khứ hãy còn chưa xa. Cùng với đó là tập hợp, tổ chức các tour giới thiệu các sản phẩm phục vụ nhu cầu thưởng thức, làm quà, làm kỷ niệm của du khách (những đặc sản không nơi nào có, như: nước chè xanh, cháo lươn; cam Vinh, nhút, tương, nước mắm, bánh đa, bánh đúc, bánh ngào, chè kê). Các vùng khác trong nước và nước ngoài (như Huế, Đồng Tháp; Thái Lan, Trung Quốc) cũng đã tổ chức du lịch theo hướng này và khá thành công. Dĩ nhiên, chúng ta không đơn thuần phục dựng những cái cổ xưa một cách đơn điệu, máy móc mà kết hợp nhiều hướng khai thác khác, trong đó có cả những yếu tố kiến trúc, kỹ thuật công nghệ hiện đại, theo nhu cầu đối tượng nhưng nếu tạo ra một môi trường và những hành trình du lịch có điểm nhấn hướng vào những đặc trưng xứ Nghệ như thế ngõ hầu góp phần nâng cao chất lượng du lịch; đó cũng là một cách để thu hút du khách xa gần, không chỉ đối với du khách ngắn ngày (nhân dịp) mà cả du khách lâu dài... 

Nói đến văn hoá xứ Nghệ không thể không nhắc đến dân ca ví, giặm, một trong những đặc sản tinh hoa của vùng đất này. Tìm về dân ca là tìm về cái nguyên sơ, cội nguồn, thanh tĩnh, phù hợp với tâm lý của số đông nhiều người sống trong thế giới chật hẹp, bê-tông hóa, âm thanh chát chúa, ánh sáng chói lòa, âm nhạc "lấy mắt bù tai". Cho nên, dân ca là một trong số vốn liếng quý, là "đặc sản" cần khai thác; đưa dân ca vào trong hoạt động du lịch cũng là một trong những giải pháp nhằm thu hút du khách ở các vùng quê khác, kiều bào và khách du lịch nước ngoài... Nhiều địa phương trong cả nước đã đưa dân ca, dân nhạc vào hoạt động du lịch khá thành công, như dân ca quan họ, chèo, hát xoan (du lịch xứ Bắc), dân ca Huế (du lịch Bình Trị Thiên), cải lương, đờn ca tài tử (du lịch phương Nam)... Đôi khi, phần "dịch vụ", phần "hương hoa, khuyếch trương, thư giãn tinh thần" cho du khách, nhưng nếu biết vận dụng phù hợp lại góp phần quan trọng cho thành công (hiệu quả cả về mặt kinh tế lẫn mặt tinh thần, tình cảm) của hoạt động du lịch.

Dân ca ví, giặm lại là lối hát tự nhiên, mộc mạc tình làng quê, rất phù hợp với các hoạt động du lịch, các hành trình du lịch bởi tính mởđộng của nó: thích ứng với mọi hoàn cảnh (thời gian: quá khứ đến hiện tại, gián tiếp hay trực tiếp; không gian: trang trọng, lễ hội, sân khấu đến những cuộc vui, trên đồng ruộng, lúc chèo thuyền, dệt vải); có thể đề cập đến nhiều lĩnh vực: từ lĩnh vực bác học, "lĩnh vực văn hoá cao siêu" (giáo dục đạo đức, thế thái nhân tình) đến những lĩnh vực đời thường, "tương cà mắm muối, thậm chí có cả những cái tếu táo, thông tục, dung tục; dân ca có thể hát trong các cuộc vui (lễ hội, đám cưới), có thể hát trong khi buồn (đám tang, cầu nguyện); đối tượng hát và nghe có phổ rất rộng: mọi lứa tuổi, mọi thành phần: nhà nho, quan chức, người bình dân...; người hát có thể hát đúng làn điệu cũng có thể hát linh hoạt, không cần tuân thủ nghiêm nhặt; hình thức dân ca có thể mượt mà, nhịp nhàng theo các thể văn vần (ca dao, lục bát biến thể, thơ có vần) hay kiểu lời nói thường, không cần nghiêm nhặt về vần điệu, số lượng câu chữ; khởi phát của dân ca là lối hát không nhạc nhưng có thể có nhạc đệm (như hiện nay); ca từ dùng nhiều từ địa phương, phát âm địa phương nhưng một câu ca dao các vùng khác cũng có thể hát theo kiểu hò, ví, giặm; có thể hát đơn, hát đối, hát tập thể, v.v... Chính vì vậy, dân ca Nghệ Tĩnh là một loại sinh hoạt văn nghệ thích ứng với mọi người, mọi thời, ngay cả hiện nay, khi tâm lý, thị hiếu của người hát, người nghe, môi trường lao động đã có rất nhiều thay đổi...

Việc đưa dân ca vào trong hoạt động du lịch cũng đã được chú ý và thực hiện bước đầu có hiệu quả. Bởi vì đưa dân ca vào trong chương trình hoạt động du lịch là một hướng đi có tính khả thi (phù hợp với tâm lý của du khách, không cần đầu tư trang thiết bị nhiều), đạt được nhiều mục đích: vừa bảo tồn, phát huy được dân ca, lại vừa đạt được mục đích kinh tế, phát triển du lịch. Kết quả của việc khai thác các giá trị của dân ca ví, giặm vào hoạt động du lịch thể hiện ở mấy điểm nổi bật: các địa phương đang triển khai kế hoạch hỗ trợ các CLB dân ca hoạt động, từng bước đưa dân ca thành sản phẩm du lịch văn hoá. Một số điểm du lịch ở trên địa bàn hai tỉnh đã bước đầu biểu diễn dân ca các dịp khánh thành, tổng kết, liên hoan của các cơ quan, xí nghiệp, doanh nghiệp; giao lưu tiếp khách; phục vụ các tour du lịch trong phạm vi nhỏ. Có nơi đã bắt đầu xây dựng kế hoạch hát dân ca mang tính bài bản hơn (như: đưa dân ca phục vụ khách du lịch tại khu di tích Kim Liên, khu du lịch Cửa Lò, khu lưu niệm Nguyễn Du, du thuyền trên sông Lam hay tại các tỉnh khác (điển hình là CLB dân ca ví, giặm tại Hà Nội...). Cảm tưởng chung là khi có các tiết mục dân ca đi kèm, cùng với lời thuyết minh của hướng dẫn viên trong các tour đường dài, ở các buổi giao lưu thì hiệu quả của chuyến đi tăng lên rõ rệt (tăng sự hưng phấn, thú vị, hòa đồng, thân thiện; giảm sự đơn điệu, buồn tẻ, mệt mỏi)...

Tuy nhiên, việc khai thác dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh như là sản phẩm du lịch đang gặp những khó khăn nhất định. Những hạt nhân nòng cốt (các nghệ nhân, những người am hiểu và hát được dân ca) mai một dần; việc trao truyền cho các thế hệ sau, cho lớp trẻ chưa liên tục và bài bản; các tư liệu, tài liệu về dân ca chưa được biên soạn hệ thống và quảng bá rộng rãi như là một sản phẩm du lịch; các CLB dân ca hoạt động chủ yếu là tự giác, tự nguyện mà chưa được đầu tư kinh phí và chương trình hoạt động chưa phong phú; sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan chưa đồng bộ, chặt chẽ,v.v...

Để khắc phục những hạn chế trên, một mặt cần bám sát, thực thi chủ trương "Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động du lịch, đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình du lịch" (NQĐH 10, ĐCSVN); "Rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch các di tích lịch sử văn hoá, kết hợp với du lịch, tạo nên các sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương" (QĐ 2468, 29-12-2015 của Thủ tướng Chính phủ). Mặt khác cần có cơ chế và triển khai mạnh mẽ hơn nữa, như: chương trình đưa dân ca vào các hoạt động du lịch như là một điều kiện hoạt động và tiêu chí xếp loại du lịch của địa phương; có kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn dân ca ví, giặm cho các hướng dẫn viên du lịch, các thành viên CLB du lịch tại các điểm du lịch trong tỉnh; biên soạn, sản xuất các ấn phẩm dân ca, như: tranh ảnh, sách báo, băng  đĩa và các sản phẩm khác (in ấn công phu, đẹp) phổ biến, quảng bá ở các tour du lịch, các điểm du lịch đồng thời với việc tạo ra các sản phẩm, sản vật địa phương phục vụ nhu cầu của du khách; phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, điều hành, tổ chức, các doanh nghiệp du lịch với CLB dân ca, các nhà trường (nhất là trường đang đào tạo dân ca) với các đoàn nghệ thuật trong tỉnh để quảng bá dân ca ví, giặm và tổ chức trình diễn dân ca trong các hoạt động du lịch...

3. Đối với hoạt động du lịch, nhất là trong thời đại cạnh tranh, du lịch "mọc lên như nấm" hiện nay, để hoạt động du lịch của một đơn vị, địa phương đứng vững, giành phần "thắng" thì một mặt phải tuân thủ và làm tốt nguyên tắc và yêu cầu của nghiệp vụ kỹ trị du lịch, mặt khác chính là phải tìm ra cái độc đáo, cái riêng có, cái ấn tượng để đáp ứng nhu cầu của "thượng đế" một cách tốt nhất! Nhiều du khách, nhất là khách nước ngoài, người ta có xu hướng thích tìm hiểu, khám phá tự nhiên (du lịch sinh thái), trở về với nguồn cội, cổ xưa và tâm linh (du lịch nhân văn)... Cho nên, những sản phẩm thuộc đặc sản, bản sắc địa phương có khả năng thu hút, lôi cuốn khách du lịch rất lớn. Cùng với việc khai thác các giá trị của cảnh quan tự nhiên (biển, sông, núi, hang động) và các giá trị của sáng tạo vật chất nhân tạo (đền, chùa, lăng tẩm, nhà hàng, khách sạn, sản vật, thời trang, ẩm thực) phục vụ cho hoạt động du lịch, thì ngày nay, ngành du lịch, các địa phương cũng đã và đang tích cực khai thác giá trị văn hoá truyền thống (như: múa rối nước, trang phục, nhạc cụ, lễ hội, phong tục các dân tộc thiểu số) vào trong các tour du lịch, các điểm tham quan, du lịch. Thực tế cho thấy, vùng miền nào, địa phương nào tổ chức dịch vụ tốt, biết khai thác thế mạnh của mình, tạo điểm nhấn thì du lịch vùng đó có cơ hội phát triển, thu hút du khách.

Thiết nghĩ, trên cái nền của những lợi thế và tiềm năng về tự nhiên và con người, xứ Nghệ còn có những đặc sản độc đáo, riêng có, như: phong tục, ẩm thực, sản vật xứ Nghệ, cùng với dân ca. Tất cả phải châu tuần lại, tích hợp thành một nguồn lực mạnh, thương hiệu hấp dẫn, đủ sức thu hút đầu tư và du khách để góp phần thật rõ rệt vào việc đưa xứ Nghệ bứt tốc nhanh về kinh tế - văn hóa - xã hội trong chặng đường phía trước, phấn đấu đưa Nghệ An - Hà Tĩnh vào danh sách những điểm đến hấp dẫn, một nơi đáng sống như nhiều trung tâm du lịch trong cả nước.

 

 

LÊ THỊ HIẾU*

Dân tộc Thái ở Nghệ An hiện nay sống tập trung tại các huyện miền Tây (Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quế Phong, Tương Dương, Kỳ Sơn, Tân Kỳ...). Tri thức y học dân gian của người Thái ở Nghệ An đã có từ ngàn đời nay. Tri thức ấy không những được áp dụng trong cuộc sống hàng ngày mà còn thể hiện bản sắc văn hóa và trở thành tài sản riêng của người Thái. Tri thức y học dân gian của người Thái hết sức phong phú, đa dạng (như: khám chữa bệnh, tìm cây thuốc và chế biến thuốc, bảo vệ sức khỏe, các tục kiêng trong ốm đau, sinh nở, vệ sinh thân thể,…), nhưng trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung trình bày một số nội dung về chữa bệnh, nghề thuốc và truyền nghề, thu hái và chế biến thuốc và đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy tri thức y học dân gian của người Thái trong giai đoạn hiện nay.

1. Một số tri thức y học dân gian của người Thái

1.1 Chữa bệnh bằng y học dân gian

Kinh nghiệm sử dụng thực vật rừng để làm thuốc của dân tộc Thái Nghệ An đã có từ ngàn đời nay. Họ đã đúc kết thành kinh nghiệm dân gian về vật chất được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành tài sản riêng của người Thái.

Kinh nghiệm chữa bệnh các ông lang, bà mế cũng là một nét đặc trưng, góp phần duy trì tri thức bản địa của người dân địa phương. Do nhu cầu chữa bệnh của đồng bào nơi đây nên hầu như bản nào cũng có thầy lang.

Qua khảo sát tại các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Con Cuông, Tương Dương, đa phần đồng bào đều sử dụng các bài thuốc dân gian trong chữa bệnh. Số người sử dụng là 91,2%, số người không sử dụng 8,8% (Nguồn: BCNĐT khảo sát 3/2017). Các nhóm bệnh người Thái sử dụng nhiều nhất là bệnh do thời tiết (cảm nóng, cảm lạnh, đau đầu…) chiếm tỷ lệ 98% trong tổng số các bệnh; bệnh của phụ nữ (xông, đẻ, bổ dưỡng…) chiếm 85% tổng số bệnh; bệnh về xương (gãy xương, bong gân…) chiếm 98% tổng số bệnh. Điều này chứng tỏ rằng các loại bệnh người Thái sử dụng bài thuốc dân gian chủ yếu tập trung cho những bệnh thường gặp.

Nhóm bệnh về đường tiêu hóa bao gồm: nhiễm khuẩn đường ruột, táo bón, tiêu chảy,… là nhóm bệnh thường gặp hàng đầu trong các loại bệnh mắc phải, xuất phát từ thực tế đó nên nhóm bệnh này được quan tâm nhiều nhất, đồng thời có nhiều cách chữa trị khác nhau dựa trên vốn hiểu biết của người dân cũng như các gia đình trong cùng một cộng đồng dân tộc.

Thống kê các nhóm bệnh đồng bào Thái sử dụng bài thuốc dân gian

TT

Nhóm bệnh

%

1

Bệnh do thời tiết (cảm nóng, cảm lạnh, đau đầu…)

93

2

Bệnh về tiêu hóa (dạ dày, tả lị, ngộ độc, giun sán…)

73

3

Bệnh ngoài da (nhiễm trùng, lở, mụn nhọt…)

73

4

Bệnh về thần kinh (bại liệt, thần kinh…)

34

5

Hô hấp (ho, phế quản, phổi…)

59

6

Bồi bổ sức khỏe

67

7

Trẻ em (suy dinh dưỡng, giật mình…)

28

8

Động vật cắn (sên, vắt cắn…)

95

9

Bệnh về xương (gãy xương, bong gân…)

98

10

Bệnh về thận (sỏi thận, lợi tiểu)

72

11

Bệnh về gan (gan, da vàng…)

65

12

Bệnh về răng

77

13

Bệnh của phụ nữ (xông, đẻ, bổ dưỡng…)

85

14

Bệnh về mắt

42

15

Bệnh ung thư

14

16

Các bệnh khác

25

                                             (Nguồn: BCNĐT khảo sát 3/2017)

Nhìn chung, trong số các bài thuốc, việc xác định loại cây thuốc đang còn khá khiêm tốn. Kết quả thu được cho thấy hầu hết các thầy lang, người dân đều có những bài thuốc điều trị các nhóm bệnh tiêu hóa, sinh đẻ, bổ máu, đau đầu, xương khớp...

1.2. Nghề thuốc và truyền nghề

Với đặc điểm dân cư phân bố chủ yếu ở  vùng sâu, vùng xa, giao thông cách trở, cơ sở y tế nghèo nàn, thuốc tây vừa thiếu, giá lại đắt nên ở đây người dân chủ yếu chữa bệnh từ các ông lang bà mế. Đồng bào Thái gọi thầy thuốc là  "Xây hạc may" (xây có nghĩa là thầy, hạc may nghĩa là rễ cây) có nghĩa là người thầy dùng cây để chữa bệnh. Từ những kinh nghiệm dân gian của những người làm thuốc trong cộng đồng, những tri thức về cây thuốc được truyền miệng và lưu truyền cho con cháu đời sau, thế hệ nối tiếp thế hệ. Dần dần, các bài thuốc trở nên thông dụng trong chăm sóc sức khỏe người dân.

Trên thực tế các ông lang bà mế không nhiều, các bài thuốc chủ yếu chỉ truyền trong gia tộc. Theo phong tục của người Thái nếu truyền cho người ngoài thì hiệu quả của bài thuốc sẽ giảm đi. Hạn chế này dẫn đến hệ quả một số bài thuốc quý không được thầy lang không truyền lại được cho đời sau. Những ông lang, bà mế đã già và mất đi, họ mang theo cả những kiến thức về cây thuốc. Thế hệ trẻ ít người tiếp thu những kiến thức mang tính bản địa mà học theo những cái mới, cái hiện đại đã khiến cho những cây thuốc quý, bài thuốc hay bị quên lãng. Như vậy, nguy cơ về việc thất truyền các bài thuốc và việc chữa bệnh của đồng bào dân tộc Thái sẽ ngày càng khó khăn hơn.

Thực tế hiện nay người Thái Nghệ An giữ rất ít các bài thuốc gốc. Một phần vì việc lưu giữ chỉ mang tính truyền khẩu, hơn nữa do tác động của cơ chế thị trường nên người có tâm huyết với nghề bốc thuốc không nhiều. Do vậy, một số bài thuốc quý đã từng chữa trị được bệnh nan y đang bị lãng quên từng ngày.

Thầy lang hành nghề y dược trên địa bàn chủ yếu là những người có kinh nghiệm lâu năm. Bản thân họ được tiếp thu các bài thuốc từ ông, bà, bố, mẹ truyền lại. Những bài thuốc của họ phục vụ cho bà con quanh vùng, được mọi người rất tin tưởng.

Việc mỗi thầy lang được nhiều người biết đến nhờ khả năng chữa khỏi một loại bệnh nhất định cũng là một đặc điểm điển hình của y học bản địa đồng bào dân tộc Thái Nghệ An. Nét riêng biệt của mỗi ông lang, bà mế trong cách điều trị bệnh bằng cây cỏ có thể xuất phát từ những hiểu biết khác nhau và những kinh nghiệm cá nhân được truyền lại qua các thế hệ của mỗi gia đình làm nghề thuốc.

Qua phỏng vấn 20 thầy thuốc về các bài thuốc sử dụng chữa bệnh trong cộng đồng chỉ ra rằng, giới tính và tuổi tác ảnh hưởng đáng kể đến kiến thức của người dân về y học cổ truyền. Người làm nghề thầy lang chủ yếu là nam giới  trong nhóm tuổi từ 50 trên 70 tuổi. Điều này có thể được giải thích bởi theo phong tục phổ biến là nam giới thường là chủ gia đình và là người ông, bà, bố, mẹ truyền nghề nhiều hơn. Mặt khác, do việc đi rừng tìm kiếm cây thuốc thường gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm nên nam giới phù hợp hơn nữ giới.

Qua phỏng vấn những người hành nghề y dược dân gian tại các huyện Con Cuông, Tương, Dương, Quế Phong, Quỳ Hợp cho thấy hầu hết các kiến thức về cây thuốc chủ yếu được truyền miệng qua các thế hệ. Hình thức này giống với hình thức chuyển giao tri thức truyền thống ở châu Phi, mặc dù hình thức chuyển giao này không thể đảm bảo tính liên tục một cách đầy đủ qua nhiều thế hệ. Hầu hết việc chuyển giao kinh nghiệm chữa bệnh chỉ được truyền lại cho con cháu trong gia đình hoặc thậm chí chỉ có những nam giới mới được truyền đạt, đây cũng chính là một lý do dẫn đến sự gián đoạn, mai một của nguồn tri thức bản địa về y học dân gian.

Hầu hết tại các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Con Cuông, Tương Dương các ông lang, bà mế đang trực tiếp sử dụng cây cỏ để chữa trị cho người dân bản địa. Họ có nhiều bài thuốc rất tốt, nhưng chủ yếu chỉ truyền trong dòng tộc và cũng có nhiều bài thuốc quý bị thất truyền. Những năm gần đây, nhiều Hội đông y cấp xã được hình thành đã thống kê, thu thập một số bài thuốc của các thành viên trong hội. Trong quá trình nghiên cứu, để tìm hiểu được thông tin về các bài thuốc gặp rất nhiều khó khăn: Họ không thông thạo tiếng phổ thông; họ không muốn bài thuốc bị mất bản quyền; tìm được đủ cây thuốc chữa cho một bệnh phải đi vào rừng sâu mất nhiều thời gian và công sức;...

Những kiến thức truyền thống về cây thuốc và kinh nghiệm bản địa trong việc sử dụng cây thuốc không những góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn các giá trị văn hóa và đa dạng sinh học mà còn mở ra một triển vọng cho việc phát triển thuốc mới.

1.3. Thu hái và chế biến cây thuốc

Kinh nghiệm trong thu hái cây thuốc: Theo những người có kinh nghiệm trong việc thu hái cây thuốc tốt nhất vào buổi sáng khoảng 7-10 giờ sáng hoặc có thể buổi chiều 2 - 4 giờ.

Đối với từng loại cây việc thu hái phụ thuộc vào từng thời kỳ phát triển của cây. Đối với cây lấy củ, rễ: thu hái lúc cây bắt đầu vàng úa, lá gốc đã già, lúc này hoạt chất tập trung nhiều ở củ. Một số loài cây lấy rễ khi lấy chọn vào thời điểm không có gió dùng dao sắc chặt nhanh gọn không rung lắc cây (Theo ông Hà Văn Thuyên, Hạnh Dịch - Quế Phong và một số ông lang, bà mế); Đối với cây lấy lá: thường thu hái lúc cây ra nụ; Đối với cây lấy tinh dầu: thường thu hoạch vào thời kỳ hoa nở rộ, là lúc hàm lượng tinh dầu thường cao nhất.         

Khi thu hái chọn các hướng núi hoặc đồi đối diện với mặt trời, nghĩa là hướng dương và hái lá bằng một tay hạn chế dùng dao kéo để có chất lượng thuốc tốt nhất. Chọn ngày nắng ráo để dễ dàng trong việc phơi, sấy chế biến.

Từng bộ phận cây có cách thu hái riêng: Thu hoạch củ khi đào, tránh làm sây sát hoặc đứt rễ; Thu hoạch lá: cắt lá theo đúng yêu cầu (loại lá già hoặc bánh tẻ…), trải mỏng, không nên xếp đống hoặc vất bừa bãi vì lá sẽ bị hấp nóng dễ thối ủng; Thu hoạch cây để lấy tinh dầu: cắt lá sau khi tan hết sương cho đến khoảng 15-16 giờ sẽ đỡ hao tinh dầu; Thu hái vỏ cây thì phải dùng dây thắt ngang cây hoặc cành làm chuẩn rồi dùng dao rạch thành từng miếng cho đều, dễ phơi sấy và uốn thành từng thanh. Nếu bóc tùy tiện sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây và giảm giá trị của vị thuốc.

Ngoài thu hái, phương pháp bào chế thuốc rất quan trọng. Các bài thuốc có cách bào chế khác nhau, nhưng trong một bài thuốc thì cơ bản cách bào chế giống nhau tương đối thống nhất giữa các thầy lang, điều này chứng tỏ có sự trao đổi học hỏi kinh nghiệm giữa các thầy thuốc bản địa có từ lâu đời.

Có 3 cách bào chế thuốc của đồng bào Thái ở Nghệ An gồm: Thủy hỏa chế/ sắc; dùng tươi; hỏa chế/ sao. Qua tìm hiểu, nghiên cứu, thu thập thông tin chúng tôi thấy rằng đối với cách sử dụng thủy hỏa chế là chủ yếu, thứ hai là dùng tươi như cây quan âm (Vitex trifolia) giã tươi đắp chữa thần kinh, cây náng (Crinum asiaticum) xay lá tươi uống chống ung thư. Tiếp đến, sao vàng nóng đắp như (Huperzia serrata, Cyathea podophylla).

2. Một số hướng giải pháp bảo tồn và phát huy tri thức y học dân gian của người Thái miền Tây Nghệ An

Ở châu Phi và châu Á, 80% dân số vẫn sử dụng các phương pháp chữa bệnh truyền thống hơn là y học hiện đại cho chính nền y tế của mình. Ở các quốc gia phát triển, y học bản địa đang được khuyến khích phát triển. Các nhà khoa học, các công ty dược phẩm đang khẩn trương tìm kiếm nguồn thuốc mới và ngày càng chuyển hướng tới nền y học bản địa nhằm hiện đại nó. Việc bảo tồn và phát huy các tri thức y học dân gian của người Thái Nghệ An trở nên cần thiết, cần có những giải pháp bảo tồn phù hợp.       

Giải pháp bảo tồn các loài cây dược liệu

Hệ thống hóa lại kiến thức về thực vật của người dân từ đó chuyển giao kiến thức đến các nhà thực vật học, để đảm bảo tính liên tục trong cộng đồng.

 Thực hiện chương trình bảo tồn, khai thác và phát triển quỹ gen, đẩy mạnh khai thác phát triển, trong đó giai đoạn trước mắt ưu tiên nhóm dược liệu làm nền tảng để kêu gọi thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực dược.

Tỉnh cần có cơ chế phù hợp để khuyến khích người dân tham gia bảo vệ rừng trên cơ sở hướng dẫn người dân khai thác hợp lý và trồng dược liệu dưới tán rừng. Bởi người dân trong vùng dự trữ sinh quyển vừa là chủ thể quản lý, chủ thể được hưởng lợi từ rừng và là một mắt xích trong hệ sinh thái không thể tách rời. Điều này vừa tạo sinh kế, thu nhập cho người dân vừa khuyến khích nhân dân bảo vệ rừng.

Khuyến khích hình thành các đơn vị, tổ chức sản xuất giống dược liệu đảm bảo tiêu chuẩn nhằm cung cấp cho nhân dân và trồng khảo nghiệm trên địa bàn tỉnh. Quy hoạch vườn thuốc tập trung, trong đó bảo tồn những cây thuốc quý, mọc trên vùng rừng núi cao phải là việc làm ưu tiên trước hết. 

Đẩy mạnh và ưu tiên họạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khai thác phát triển dược liệu (từ khâu sản xuất giống, canh tác, sơ chế bảo quản dược liệu), chế biến dược phẩm, thực phẩm chức năng trên địa bàn tỉnh.

Giải pháp bảo tồn các bài thuốc dân gian

Cần hỗ trợ để bảo tồn và thương mại hoá các bài thuốc dân gian (trước mắt lựa chọn một số bài thuốc quý để hỗ trợ như nghiên cứu hoá thực vật, nghiên cứu tác dụng dược lý thực nghiệm, lâm sàng, đánh giá độc tính,…) nhằm khuyến khích phát triển y học cổ truyền và bảo tồn tri thức bản địa trên địa bàn.

Để bảo tồn những bài thuốc quý cổ truyền của dân tộc, ngoài việc tuyên truyền vận động, các thầy thuốc cần động viên, truyền nghề cho con cháu. Hỗ trợ Hội đông y tại các xã, bản kêu gọi thu thập các bài thuốc quý trong nhân dân. Nhà nước cấp kinh phí mở lớp học truyền nghề cho lớp trẻ, để họ tiếp thu, học hỏi bảo tồn nghề thuốc cha ông để lại.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Thị Ngọc Huệ và những tác giả khác (2005), Tri thức bản địa và đa dạng nguồn gen lúa của người Tày huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, Tạp chí  Dân tộc học 2: 42-56.

2. Đoàn Ngọc Khôi (2009), Vai trò và tính thích ứng của tri thức bản địa trong giai đoạn hiện nay, Kỷ yếu hội thảo về tri thức bản địa tại Quảng Ngãi.

3. Lê Hồng Khánh (2009), Bảo tồn và phát huy tri thức bản địa, kinh nghiệm dân gian về thủy lợi vùng đồng bằng tỉnh Quảng Ngãi, Kỷ yếu hội thảo về tri thức bản địa tại Quảng Ngãi.

4. Huỳnh Văn Kéo và Trần Thiện Ân (2005), Tri thức bản địa về nguồn tài nguyên cây thuốc ở vườn quốc gia Bạch Mã, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 11:55-57.

5. ICRAF-VASH, Kinh nghiệm quản lý đất bỏ hóa sau nương rẫy ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, H - 2001.

6. Tô Linh & Hoàng Xuân Tý (2001), Phương pháp thu thập và sử dụng tri thức bản địa [Bản dịch của Recordinh and Using  Indigenous  Knowledge: a Manual], Hà Nội: NXB. Nông Nghiệp.

7. Nguyễn Đình Lộc (1993), Các dân tộc thiểu số Nghệ An, NXB Nghệ An.

9. Đỗ Tất Lợi, 2003: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB. Y học, Hà Nội.

 

 

 



* Ths, Trung tâm KHXH&NV Nghệ An

 

Đặng Lưu

Hiện nay, Phê bình sinh thái không còn là vấn đề xa lạ đối với giới nghiên cứu nước ta. Bên cạnh những bài báo giới thiệu lý thuyết phê bình sinh thái, có không ít công trình, luận văn, luận án nghiên cứu vấn đề sinh thái trong văn học Việt Nam. Gần đây (2017), Viện văn học đã tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế và đã cho ra mắt tập kỷ yếu khá dày dặn: Phê bình sinh thái - tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu(1). Cuốn Kỷ yếu đã tập hợp 83 bài báo của các nhà khoa học trong và ngoài nước.

Dạy học văn chương trong nhà trường không thể nằm ngoài không khí học thuật, không tách rời các lý thuyết. Trong các giai đoạn khác nhau của văn học nhà trường, ta nhận ra dấu ấn của Phê bình ấn tượng, Phê bình xã hội học, Thi pháp học, Kí hiệu học, Liên văn bản… Và, như một tất yếu, câu chuyện tiếp theo hiện nay là Phê bình sinh thái.

    Trong các lí thuyết về văn học, phê bình sinh thái có vẻ "cận nhân tình" hơn cả. Nếu thi pháp học, lí thuyết tiếp nhận, liên văn bản, kí hiệu học... trang bị cho giáo viên những cơ sở khoa học nhằm giải mã các loại văn bản nghệ thuật, thì phê bình sinh thái cấp cho giáo viên một công cụ hữu hiệu để giải quyết thấu đáo hơn mối quan hệ giữa văn học và đời sống. Có thể nói như vậy là bởi, những vấn đề mà phê bình sinh thái đặt ra rất gần gũi với những điều đang được quan tâm trong dạy học phổ thông hiện nay. Ta biết rằng, môi trường, sinh thái đang là vấn đề nóng nhất của đời sống đương đại. Những sự cố, thảm họa môi trường diễn ra thường xuyên, không chỉ ở các đại dương, châu lục, quốc gia xa xôi, mà còn ở ngay chính địa bàn cư trú của chúng ta. Nhìn vào đâu cũng thấy nguy cơ, hiểm họa: tầng ôzôn - tấm lá chắn bảo vệ sự sống trên trái đất - bị thủng; núi băng Bắc cực tan chảy làm nước biển dâng cao nhấn chìm nhiều cánh đồng màu mỡ của các nền nông nghiệp lúa nước; rừng bị tàn phá với tốc độ chóng mặt khiến nhiều vùng đất trù phú sa mạc hóa; nắng nóng, bão tố, động đất trở nên bất thường hơn; tài nguyên trong lòng đất ngày càng cạn kiệt; thủy hải sản bị khai thác theo kiểu tận diệt; nhiều loài động vật đang bên bờ vực tuyệt chủng; không khí, nguồn nước, đất đai ô nhiễm nghiêm trọng... Gần hơn, mỗi lần ngồi vào mâm cơm gia đình lại một lần ta không khỏi gờn gợn cái cảm giác bất an. Trên diễn đàn Quốc hội, có vị đại biểu đã phải kêu lên: "Con đường từ dạ dày đến nghĩa địa chưa bao giờ ngắn thế!"(2).

Trong bối cảnh đó, giáo dục môi trường tất yếu phải là vấn đề được quan tâm đúng mức trong dạy học.

Không tồn tại với tư cách là một môn học độc lập, nội dung giáo dục môi trường được tích hợp vào các môn: Giáo dục công dân, Sinh học, Công nghệ, Địa lí và dĩ nhiên, cả Ngữ văn. Môn Ngữ văn lại tích hợp ba phân môn Đọc hiểu, Tiếng Việt, Làm văn. Từ đặc thù này, giáo dục môi trường yêu cầu phải được lồng ghép uyển chuyển trong các nội dung dạy học. Trong bài viết này, chúng tôi muốn bàn về việc vận dụng phê bình sinh thái trong dạy tác phẩm văn chương - một vấn đề mới và khá nan giải.

Đối với không ít thầy cô hiện nay, dạy học văn chương và giáo dục môi trường vẫn là hai vấn đề không dễ gắn kết. Làm sao vận dụng nhuần nhuyễn những tri thức khoa học, công nghệ trong dạy học văn? Bằng cách nào để chuyển tải những thông điệp về môi trường mà vẫn không làm mất đi "chất văn" trong giờ dạy tác phẩm nghệ thuật? Đó là những câu hỏi không dễ trả lời.

Dẫu biết rằng, bản chất của phê bình sinh thái là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học với môi trường tự nhiên, song sự hiện diện của nó trong dạy học văn chương có lẽ không đơn giản. Thực ra, trước khi khái niệm phê bình sinh thái xuất hiện rất lâu, các vấn đề về sự sống, mối quan hệ linh diệu giữa con người với tự nhiên, những nguy cơ, hiểm họa đe dọa sự tồn vong của nhân loại... đã được thể hiện trong vô số tác phẩm, kể cả những tác phẩm được chọn vào chương trình phổ thông. Dạy những tác phẩm ấy, tất yếu sẽ chạm vào những chỗ mà phê bình sinh thái hiện nay quan tâm. Tuy nhiên, "chạm" theo cách không tự giác hoàn toàn khác với phương pháp làm việc có tính khoa học. Môi trường, sinh thái được nhắc đến theo cách như vậy vẫn chỉ mang tính ngoại quan, chưa nằm trong hệ thống giá trị toát lên từ tư tưởng thẩm mĩ, thế giới nghệ thuật, các hình tượng, các phương thức biểu hiện... của tác phẩm. Do đó, trong dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường, sinh thái mới chỉ tồn tại với tư cách là một vấn đề chứ chưa được hình dung là một đối tượng thẩm mĩ. Nhận thức vấn đề là thao tác của lí tính, trong khi chiếm lĩnh đối tượng thẩm mĩ lại đòi hỏi phải huy động tổng hợp nhiều khả năng, trong đó, sự rung cảm, trực giác nghệ thuật chiếm vị trí quan trọng.

Trong giảng dạy văn học, giáo viên tiếp xúc với rất nhiều tác phẩm viết về thiên nhiên, vũ trụ, về bản năng sinh học, về tính chất tự nhiên của con người. Có thể xem đó là những tác phẩm văn học sinh-thái-tiền-lí-thuyết. Ở đây, giáo viên phải đối diện với các câu hỏi: Điều gì quyết định sự ra đời của những tác phẩm văn học thấm đẫm tinh thần sinh thái như vậy? Đâu là chỗ khác biệt giữa những tác phẩm miêu tả thiên nhiên chỉ như là "những gì thuộc về khách quan, được nhìn thấy, được cảm nhận" với những tác phẩm mà ở đó, thiên nhiên trở thành một yếu tố không thể thiếu trong sự sống của con người?

Dĩ nhiên, trong dạy đọc hiểu văn chương, những câu hỏi này phải được trả lời bằng khả năng thâm nhập tác phẩm chứ không phải qua các dữ kiện văn học sử. Nó đòi hỏi người giáo viên phải bén nhạy, phát hiện được cảm quan sinh thái biểu hiện rất tinh vi trong sáng tạo của người nghệ sĩ. Cái cảm quan đó nhiều lúc rất khó nắm bắt và diễn giải tường minh, nhưng chính nó - chứ chưa phải là tư tưởng - mới có khả năng dẫn dắt nhà văn, quyết định sự ra đời của những tác phẩm văn học có nội dung sinh thái đích thực.

Hãy quan sát một trường hợp: bài thơ Sông lấp của Tú Xương. Có vẻ bài thơ không nằm ngoài mô típ chủ đề thương hải tang điền quen thuộc trong thơ cũ: Bất kinh bột giải tang điền biến (Không sợ bể Đông biến thành nương dâu - Tô Thức); Trải qua một cuộc bể dâu (Truyện Kiều - Nguyễn Du); Thế gian biến cải vũng nên đồi (Thói đời - Nguyễn Bỉnh Khiêm); Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang (Độc Tiểu Thanh kí - Nguyễn Du)... "Bãi biển nương dâu" là thành ngữ gốc Hán chỉ những thay đổi lớn trong cuộc đời và xã hội. Tuy nhiên, bài thơ của Tú Xương gắn với một nơi chốn cụ thể, sự kiện có thực (sông Vị Hoàng đoạn chảy qua Nam Định - quê hương nhà thơ - bị bồi lấp, nhân dân trồng trọt, làm nhà ở đó). Bài thơ đã gợi cho người đọc nghĩ đến những đổi thay xót xa của xã hội (tại thời điểm Pháp đang ổn định bộ máy thực dân phong kiến ở nước ta). Nhưng hòa vào đó là cảm xúc tiếc nuối khôn nguôi về một con sông đã biến mất mà gắn với nó là những kỉ niệm buồn vui của chủ thể trữ tình. Thiên nhiên, do vậy, không chỉ là nhu cầu của sự sống thể chất mà còn là một phần trong đời sống tâm hồn của con người. Chính nhờ cảm quan sinh thái mà ý nghĩa bài thơ Sông lấp không dừng lại ở việc phản ánh những biến đổi đau lòng của xã hội - điều đã được khai thác rất kỹ trước đây.

Cảm quan sinh thái thường được hình thành rất tự nhiên, như một trực giác nghệ thuật của nhà văn. Nhờ cảm quan ấy mà nhận thức của họ về con người, về xã hội trở nên sắc bén hơn. Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành là một ví dụ. Truyện ngắn này được viết trong thời chiến tranh máu lửa. Có mặt khá lâu trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông, tác phẩm đã được khai thác ở nhiều khía cạnh: tính sử thi, chủ nghĩa anh hùng, bạo lực cách mạng... Nhưng ngoài những khía cạnh ấy, Rừng xà nu có mang chở thông điệp gì về sinh thái? Hẳn có người sẽ ngập ngừng vì sợ đề cập đến chuyện sinh thái sẽ khiến học sinh hiểu sai lệch chủ đề của tác phẩm. Tuy nhiên, từ góc nhìn hôm nay, có thể thấy cảm quan sinh thái thấm đẫm trong từng chi tiết truyện. Cây xà nu là bản mệnh của người Xô man. Dường như sự sống của rừng cây - con người quyện chặt vào nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Sinh thái tự nhiên (quan hệ giữa con người và loài cây) cũng như sinh thái tinh thần (sinh hoạt văn hóa cộng đồng) đã trở thành nguồn sống của người Tây Nguyên. Hoàn toàn có cơ sở để nói đến điều ấy, vì ta biết rằng, Nguyên Ngọc là nhà văn đặc biệt quan tâm vấn đề môi trường và văn hóa của vùng đất này. Sự quan tâm ấy gần đây được thể hiện bằng những cảnh báo quyết liệt của ông về nguy cơ sinh thái Tây Nguyên bị phá vỡ, văn hóa làng của các tộc người Tây Nguyên bị mai một do nhiều nguyên nhân. Đó không phải là thái độ nhất thời của ông, mà từ lâu, thuở viết Rừng xà nu, ngay giữa lúc chiến tranh ác liệt, Nguyên Ngọc đã nhận thấy điều có ý nghĩa quyết định sự sống còn của người Tây Nguyên không chỉ là tinh thần tranh đấu, ý chí quật cường, mà còn ở sự hòa đồng của họ với tự nhiên và những giá trị văn hóa tinh thần được lưu giữ suốt hàng ngàn năm.

Phê bình sinh thái không phải là một lí thuyết đối lập với những lí thuyết đã có, ngược lại, nó chỉ bổ sung thêm một cách nhìn, cách tiếp nhận văn chương. Theo mục tiêu giáo dục hiện nay, khi người giáo viên Ngữ văn không thể né tránh những vấn đề nóng bỏng của dân tộc và nhân loại là vấn đề môi trường, thì việc tiếp cận với những nội dung cơ bản của phê bình sinh thái sẽ giúp họ chủ động hơn trong công việc dạy học. Tác phẩm nghệ thuật vốn đa trị. Những gì được phát hiện dưới góc nhìn sinh thái chẳng những không loại trừ các giá trị khác vốn có, mà càng làm phong phú, sâu sắc thêm bảng giá trị của văn học mà thôi.

 

Chú thích

(1). Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2017, 1395 trang.

(2). Trần Ngọc Vinh (2015), Con đường từ dạ dày đến nghĩa địa chưa bao giờ ngắn thế, VnExpress.

 

 

Đỗ Thị Kim Liên

1. Đặt vấn đề

       Văn hóa là một hệ thống, tổng hòa nhiều yếu tố, trong đó có ngôn ngữ. Sự chi phối của văn hóa đối với ngôn ngữ và ngược lại là vấn đề phong phú, phức tạp nhưng lý thú, cần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu. Đặc biệt, Nghệ Tĩnh là cái nôi văn hóa của người Việt từ lâu đời, là biên giới trấn giữ phên dậu của Đại Việt nên còn tàng ẩn những dấu ấn về ngôn ngữ - văn hóa rõ nét. Có thể nói, môi trường sống hết sức gian khổ, lao động vất vả cùng với khí hậu khắc nghiệt của vùng đất Nghệ Tĩnh đã tạo cho con người dân nơi đây ý chí, nghị lực vượt lên hoàn cảnh khó khăn, để tạo nên đời sống tinh thần với bản sắc riêng. Người Nghệ đã tạo nên thể hát dân ca ví, giặm: nhân hậu, linh hoạt, giữ lời thề thủy chung, đề cao sự học hành, trọng các bậc tiền bối đi trước của người dân xứ Nghệ.

       Hiện nay, được sự quan tâm của Nhà nước, chính quyền địa phương và cộng đồng, nhiều câu lạc bộ mới được hình thành, nhiều cuộc thi hát dân ca ví, giặm xứ Nghệ các cấp (địa phương, cấp tỉnh và cấp vùng) đã được tổ chức. Ví, giặm cũng được thực hành phổ biến trong các cuộc vui, liên hoan văn nghệ, giao lưu giữa các nhóm cộng đồng và trình diễn nghệ thuật trên sân khấu. Ví, giặm ngày càng gắn liền với lối sống và tập quán của cộng đồng người Nghệ Tĩnh, có sức sống mạnh mẽ trong đời sống đương đại, tiếp tục được lưu truyền, bảo tồn và phát huy giá trị bằng nhiều biện pháp như: nghiên cứu, kiểm kê, tư liệu hoá, xây dựng cơ sở dữ liệu dân ca ví, giặm xứ Nghệ; tổ chức truyền dạy trong cộng đồng và trong trường học; quảng bá và phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức giao lưu, liên hoan giữa các cộng đồng ở trong nước, quốc tế và phát huy các giá trị của dân ca ví, giặm xứ Nghệ gắn với phát triển du lịch…

       Ví, giặm được UNESCO chính thức công nhận tháng 9 năm 2015, xếp Dân ca ví, giặm xứ Nghệ vào di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

       Chính vì vậy, trong bài viết này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu vấn đề: Dấu ấn văn hóa của người Nghệ Tĩnh qua những lời ca trong "Ví, giặm Nghệ Tĩnh".

2. Khái niệm văn hóa

       Theo Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên), Văn hóa có các cách hiểu về nghĩa như sau: 1.(dt) là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử. Nền văn hóa của các dân tộc - Kho tàng văn hóa dân tộc; 2. Đời sống tinh thần của con người: Phát triển kinh tế và văn hóa - chú ý văn hóa đời sống của nhân dân; 3. Tri thức khoa học, trình độ học vấn. Trình độ văn hóa học - học vấn các môn văn hóa; 4. Lối sống, cách ứng xử có văn hóa cao, biểu hiện văn minh: Người có văn hóa -gia đình văn hóa mới; 5. Nền văn hóa một thời kì lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung: Văn hóa Đông Sơn - văn hóa rìu hai vai [11, tr.1774]. Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng khái niệm văn hóa với nghĩa 2: Chỉ đời sống tinh thần của con người thông qua ngôn ngữ. Cách quan niệm văn hóa theo Đại từ điển tiếng Việt là cách quan niệm khái quát, chung cho nhiều vùng.

       Gần đây, năm 2006, tác giả Trần Ngọc Thêm, chuyên gia Văn hóa học, khi đi sâu nghiên cứu về văn hóa người Việt vùng Tây Nam bộ, đã có bước tiến sâu hơn là nghiên cứu văn hóa các vùng cụ thể. Khi đánh giá lại công trình nghiên cứu của những tác giả đi trước về văn hóa, kể cả "văn hóa vùng", tác giả Trần Ngọc Thêm khẳng định: "nói đến văn hóa ở Việt Nam cần quan tâm đến văn hóa vùng". Theo tác giả: "Vùng nói chung là một đơn vị phân loại không gian, là một bộ phận của không gian cấp trên. Vùng văn hóa là một đơn vị phân loại không gian văn hóa. Đối với một nền văn hoá dân tộc thì vùng văn hóa là một bộ phận của không gian văn hóa dân tộc hoạt động như một hệ thống đặc thù trong sự tương tác với những vùng xung quanh, nhờ vậy mà khu biệt với các không gian liền kề với nó" [6, tr.145]. Ý kiến của Trần Ngọc Thêm là định hướng cho chúng tôi đi sâu nghiên cứu văn hóa vùng Nghệ Tĩnh.

       Từ sớm hơn (1993), Ngô Đức Thịnh viết: "Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ về nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác" [7, tr.99].

Cũng có ý kiến gần với Ngô Đức Thịnh, tác giả Huỳnh Khái Vinh (1995) lại cho: "Vùng văn hóa là một không gian văn hóa được tạo thành bởi các đơn vị địa lí dân cư địa phương nằm kề nhau liên tục; ở đó có một tập hợp (có khi là hệ thống) các cơ cấu đặc trưng văn hóa được hình thành trên cơ sở tương đồng về quan hệ nguồn gốc và lịch sử; và có một "mức tự chủ" nhất định và được phân biệt rõ ràng giữa các vùng văn hóa với nhau" [9, tr.96].

       Như vậy, ý kiến của hai tác giả Ngô Đức Thịnh và Huỳnh Khái Vinh tuy chưa đi sâu đề cập đến văn hóa vùng miền nào cụ thể, nhưng cách quan niệm về "Vùng văn hóa là một không gian văn hóa"; hay "là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống; có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội; giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác" là những cơ sở soi sáng cho chúng tôi xem xét đến Dấu ấn vùng văn hóa Nghệ Tĩnh qua Ví, giặm Nghệ Tĩnh.

Theo chúng tôi, có thể khẳng định Nghệ Tĩnh là vùng văn hóa vì lí do: a/ Là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống; b/ Có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa những người dân cư trú đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại; c/ Có quan hệ về nguồn gốc và lịch sử.

3. Phân biệt thể ví và giặm

3.1. Thể ví

       Theo cách hiểu của nhiều nhà nghiên cứu hiện nay, ví thường là hát tự do, không có tiết tấu từng khuôn nhịp, người hát có thể co giãn một cách ngẫu hứng. Âm điệu cao thấp ngắn dài có khi còn tuỳ thuộc vào lời thơ (ca từ) bằng hay trắc, ít từ hay nhiều từ. Ví thuộc thể ngâm vịnh, bằng phương pháp phổ thơ dân tộc (lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể...) [theo wikipedia.org. Dan ca vi giam nghetinh, 5], [Ninh Viết Giao, 1; Đào Việt Hưng, 3]. Tác giả Đào Việt Hưng cho rằng: "giai điệu của hát ví giặm xứ Nghệ có mối liên hệ qua lại với giai điệu của hò hái củi, cũng là một loại dân ca của vùng này". Hát ví có âm điệu tự do, phụ thuộc vào lời ca ở thể thơ lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể, và phụ thuộc vào bối cảnh, tâm tính của người hát, âm vực không quá một quãng 8. Trong các cuộc hát, ví phường vải là có quy cách và thủ tục hát chặt chẽ hơn cả, thường theo ba chặng: chặng một có hát dạo, hát chào/hát mừng và hát hỏi; chặng hai là hát đố hoặc hát đối - yêu cầu đối tượng phải giải và đối; chặng ba gồm hát mời, hát xe kết và hát tiễn [3].

Về làn điệu, qua sưu tầm các làn điệu dân ca cổ, các nhà nghiên cứu đã phát hiện được có gần 20 điệu ví khác nhau: ví phường vải, ví phường nón, ví phường cấy, ví trèo non, ví đi củi, ví đò đưa, ví phường võng, ví phường chè, ví đồng ruộng, ví mục đồng, ví chuỗi, ví ghẹo…

       Về tính biểu nghĩa và biểu thái, thì tuỳ vào môi trường hoàn cảnh, không gian thời gian và tâm tính của người hát mà nội dung lời hát ví khác nhau mang tính biểu nghĩa, biểu thái khác nhau nên đạt đến đích giao tiếp khác nhau tùy thuộc vào mỗi người. Tình điệu ví nghe trang trải mênh mang sâu lắng, bâng khuâng xao xuyến, tha thiết ân tình. Trong đó, hát ví giao duyên nam nữ được dùng phổ biến vùng Nghệ Tĩnh vào các thế kỷ trước, dùng để trao đổi tình cảm giữa đôi trai gái. Vào các đêm trăng sáng, trai gái thường đi ngắm trăng rồi hát theo lối tường thuật ngẫu hứng về một câu chuyện nào đó trong quá trình lao động và nông nhàn, trong lối sống thường nhật lâu dần được dân gian hóa. Bên cạnh ví giao duyên còn có loại ví ghẹo và ví mục đồng nghe dí dỏm hài hước, nghịch ngợm hồn nhiên tươi trẻ.

       Về thời gian ra đời, hát ví tồn tại, ra đời gắn với lao động của người dân Nghệ Tĩnh. Theo PGS. Ninh Viết Giao: "Nguồn gốc của hát ví là do lao động, do nhu cầu sinh hoạt về mặt tinh thần của nhân dân trong lúc lao động. Nhân dân lao động xứ Nghệ đã sáng tạo ra hát ví. Nó là một phương tiện sinh hoạt văn nghệ tự túc của nhân dân. Có lẽ nó ra đời đã lâu lắm rồi, nhưng năm tháng nào thì chưa rõ, ít nhất cũng vào đầu thế kỉ XVIII" [1, tr.13]. Từ cách hiểu khái quát về hát ví như trên, có thể thấy nổi lên những đặc điểm của hát ví như sau:

       - Tính thời gian: Không kể thời gian mà bất cứ lúc nào.

Có thể nói, thể hát ví được hát quanh năm trên đất Nghệ, lúc nào, ta cũng có thể bắt gặp hát ví, như: hát đò đưa, ví phường vải, ví phường củi, ví phường măng, phường bện võng.

       - Về quy cách: Có quy cách theo ba chặng sau: a/ Chặng một gồm hát dạo, hát chào, hát mừng và hát hỏi; b/ Chặng hai gồm hát đố hoặc hát đối; c/ Chặng ba gồm hát mời, hát xe kết và hát tiễn.

Với thủ tục theo quy trình có tính nghi thức nghiêng về lịch sự như ở ba chặng trên, chúng ta có thể khẳng định, hát ví phải trải qua một quá trình khá dài, có nhiều người tham gia, có tổ chức (ít nhất) thành hai nhóm nam, nữ lâu dần mới hình thành có quy củ theo thủ tục như bây giờ.

       - Về vai hát và nội dung hát: a/ Về vai hát, bên cạnh vai nam, nữ tham gia hát là chủ đạo còn có sự tham gia của nhà Nho (được gọi là thầy bày cho bên nam hay nữ). Theo PGS. Ninh Viết Giao, "các nhà Nho thường tham gia ví phường vải, ví phường nón, ví phường vàng", họ là các nhà Nho bình dân, xuất thân từ quần chúng lao động, nhưng cũng có những danh sĩ như Nguyễn Du, khoa bảng Đinh Viết Thận, chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu; b/ Về nội dung hát, trong hát giao duyên, ta thường gặp 5 cặp hát: Hát qua - hát lại; hát hỏi - hát đáp; hát đố - hát giảng; hát đối - hát chọi; hát xe kết (hoặc hát tiễn - cũng thành cặp hát qua hát lại).

3.2. Thể giặm

       Giặm là thể hát nói, bằng thơ ngụ ngôn, vè 5 chữ, nói cách khác thì giặm là thơ ngụ ngôn, về nhật trình được truyền luật hoá. Khác với ví, giặm là thể hát có tiết tấu rõ ràng, có phách mạnh phách nhẹ, có nhịp nội nhịp ngoại. Thông thường một bài giặm có nhiều khổ, mỗi khổ có 5 câu (câu 5 thường điệp lại câu 4), mỗi câu có 5 từ (không kể phụ âm đệm). Tuy vậy, cũng có những bài giặm/ vè không phân khổ rõ ràng, mà cứ hát một lèo, có khi đến hàng chục hàng trăm câu, và mỗi câu cũng không nhất nhất 5 chữ mà có thể 4 hoặc 6, 7 chữ (do lời thơ biến thể) [xem 5, wikipedia.org. Dan ca vi giam nghetinh].

       Hát giặm rất giàu tính tự sự, trữ tình, kể lể khuyên răn, phân trần bày giải. Cũng có loại giặm dí dỏm khôi hài, châm biếm trào lộng và có cả giặm trữ tình giao duyên. Đây là một thể loại hát nói bằng thơ ngụ ngôn (thơ) về âm nhạc đi theo thường là phách. "Giặm" có nghĩa là ghép vào, xen kẽ với nhau, thường 2 hay 3 hoặc một nhóm người hát đối diện nhau. Hát giặm là thể hát nói có nhịp điệu, tiết tấu rõ ràng, có phách mạnh, phách nhẹ, thường là nhịp 3/4 và 6/8. Một bài giặm thường dựa theo thể thơ ngụ ngôn hay vè (thơ 5 chữ) có nhiều khổ. Loại phổ biến là mỗi khổ có 5 câu, câu 5 điệp lại câu 4 nên được gọi là giặm. Có nhiều loại giặm như: giặm kể, giặm nói, giặm vè, giặm nam nữ, giặm cửa quyền, giặm ru, giặm xẩm,… Hát giặm nam nữ có phường, có cuộc, có thể 2 - 3 người, 5 - 7 người hoặc có khi nhiều hơn. Quy trình hát giặm về cơ bản cũng có ba chặng như hát ví, song các bước thì không chặt chẽ, đầy đủ bằng.

       Trong hát giặm có một số làn điệu: giặm xẩm, giặm nối, giặm vè, giặm cửa quyền, giặm kể. Hát giặm có các tiết tấu phách mạnh, phách nhẹ,... thuộc dạng thể thơ năm chữ, có cách gieo vần, ngắt nhịp theo quy tắc nhất định.

       Về thời gian ra đời, theo PGS. Ninh Viết Giao: "Có người cho rằng giặm là giẫm chân và hát giặm là lối hát có đánh nhịp bằng chân. Lại có người cho rằng, tiếng giặm xuất phát từ tính phân đoạn trong bài hát giặm, tức là trong một bài hát có nhiều đoạn nhiều khúc. Còn có người cho rằng, giặm là giắm vào, điền vào như giắm lúa, điền nan (trong một cái rổ). Ý kiến này căn cứ vào những câu láy lại trong một bài hát giặm" [1, tr.16]. Ông viết tiếp: "Thực ra những ý kiến trên chưa thuyết phục hoàn toàn đối với những người muốn tìm hiểu về hát giặm". Tác giả đưa ra ý kiến riêng của mình: "Nó là tiếng vang lại của giọng nói nơi núi rừng. Nhất là khi chúng ta đi vào những khu núi rừng có nhiều vách đá thẳng tắp cheo leo. Khi nói một câu, chúng ta thường nghe lại những tiếng của chính mình. Câu láy lại trong một đoạn hay một khúc có thể là tiếng vọng đó của con người thời xa xưa" [1, tr.16]. Sau đây là các đặc điểm chính của hát giặm:

       - Thời gian: Có thể hát bất cứ lúc nào.

       - Về quy cách: Hát giặm Nghệ Tĩnh cũng có thủ tục như hát ví (nhưng không chặt chẽ bằng hát ví) gồm ba bước: a/ Hát dạo (hoặc hát chào); b/ Hát đố; và c/ Hát xe kết.

       - Về vai hát và nội dung hát: a/ Về vai hát, hát giặm xứ Nghệ có hai hình thức: Hát giặm nam nữ và hát giặm vè (vè sáng tác theo thể hát giặm - do cá nhân hát nhưng bên cạnh đó còn có phe thứ hai cùng nghe, để bắt bẻ, bình giá khen chê); b/ Về nội dung, hát giặm thường kể, trình bày, trần thuyết nhằm đề cập đến những vấn đề nổi cộm hàng ngày, hay từng giai đoạn cụ thể trong làng xóm gắn với suy nghĩ, đắn đo, tính toán của người dân, từ chuyện mưa, gió, nắng hạn, ngập lụt đến bà nạ dòng muốn đi bước nữa; từ chàng trai ham chơi diều, quên việc đồng áng, đến cô gái cập kê tuổi lấy chồng trăn trở lấy chồng xa hay gần để giảm bớt gánh nặng làm dâu; từ chuyện buôn bán ở chợ gần hay chợ xa, đi thuyền hay gánh gồng; từ sự kiện nổi bật của thôn xóm đến con đường định hướng tương lai học hành nuôi chồng ăn học, thi cử.

       Tóm lại, hát ví, hay hát giặm có lề lối động, bởi vì thể hát này hình thành gắn với hình thức lao động mà nhóm hát cùng tham gia. Ngay trong hai thể ví và giặm, thể ví cần chú ý nhiều hơn đến lề lối, thì theo nhạc sĩ Vi Phong: "hát ví phường vải, nếu có lề lối thì cũng là "lề lối động", nghĩa là không rõ ràng, không cụ thể như "lề lối quan họ Bắc Ninh", bởi vì, hát quan họ là hát mang tính hội hè, lễ hội, còn hát ví phường vải là hát trong lao động".

       Phía khách có thể là người đi hát dạo, có thể không đem xa quay đi vì có khi là khách đường xa đến để tìm hiểu, để thi tài, còn phía chủ, phía phường vải thì rõ ràng phải vừa làm vừa hát, nếu không thế thì không còn là hát ví phường vải nữa. Hát lề lối nếu có cũng chỉ ở ví phường vải mà thôi, còn các loại ví khác như ví đò đưa, ví phường cấy v.v… thì không hề có hát lề lối, không có bước có chặng gì mà gặp chi hát nấy, tiện sao hát vậy. Bởi vì, ví đò đưa, ví phường cấy, ví trèo non v.v… là những loại ví không gian động chứ không phải là không gian tĩnh như ví phường vải. Hai chiếc đò dẫu là cùng xuôi dòng hay ngược dòng thì cũng khi gần khi xa, khi trước khi sau, chưa nói đông bạn chèo hay ít bạn chèo, buồm một lá hay hai ba lá thì tốc độ cũng không cùng nhau, rồi còn lạch còn dòng, khi hẹp khi rộng, mấy khi cùng song song, cùng sánh đôi bên nhau mà hát tiếp bước này sang bước nọ. Với lại có khi là trên bến dưới thuyền, trên động dưới khe, đầu bờ cuối bãi, chỉ hát vài câu rồi ai theo việc nấy, vậy thì lề lối làm sao được? ngay cả hát ví phường vải cũng không nhất nhất theo các bước như đã nêu; cho nên việc đặt ra lề lối chỉ mang tính tượng trưng, để biết mà thôi" [4].

4. Biểu hiện đặc trưng văn hóa - ngôn ngữ của người Nghệ Tĩnh qua lời ca trong Ví, giặm Nghệ Tĩnh

4.1. Nghệ Tĩnh là cái nôi văn hóa, vùng đất địa linh nhân kiệt

       Trong ba vùng Bắc - Trung - Nam thì Nghệ Tĩnh vốn là vùng đất lâu đời, vùng đất phên dậu của nước Đại Việt, nổi tiếng là địa linh nhân kiệt. Những người ở Nghệ Tĩnh từ rất sớm và đến đây cư trú sau qua các đời đều là những người cứng cỏi, vượt lên hoàn cảnh để chịu đựng thử thách "đầu sóng ngọn gió". Những câu hát ví, giặm như một sự ghi nhận lịch sử của xứ Nghệ có từ rất sớm.

Lưu Hồng Sơn thế phụ

Vọng Lam Thủy Giang Đình

Chốn nhân kiệt địa linh

Tố Như nguyện tiên sinh

Đón mặc khách tao nhân

Đón quân tử anh hùng

Về Nghi Xuân hội lễ

Đến Tiên Điền hội lễ [Mời trầu, Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, theo điệu giặm Đức Sơn].

       Có thể nói, chẳng nơi nào trên đất nước Việt Nam như ở Nghệ Tĩnh, dấu ấn về văn hóa hát đối đáp thể hiện trí tuệ của tao nhân mặc khách còn lưu đến bây giờ đậm nét như ở Nghệ Tĩnh. Ta có thể gặp những cặp: trao (hỏi để chào) - đáp chào đáp, như:

Bên nữ:

- Người ơi! Ai mà thông ví thạo hò

Đến đất Trường Lưu không xưng họ

mà xưng danh rứa hè?

Bên nam:

- Ơi là bạn phường vải ơi!

Băng qua Cửa Trẹm (1) tìm về,

Bảy là tên, Nguyễn là họ còn quê Tiên Điền.

Vậy thì mách với khách hiền

Con ngựa bạch có móng chân đen

Hay cất chân đá hậu

Ai có quen thì cho trèo đó.

Ai mà quen thì cho trèo, các o nạ.

Nghĩa là các o phường vải ơi!

Cho dù ngựa bạch có mấy chân đen

Cậu Bảy bầy tui cầm cương ghì thật mạnh

Thì ngựa không quen

Cậu Bảy bầy tui cũng trèo,

Cậu Bảy bầy tui cũng trèo, bạo đó hè.

[Mời trầu, Dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh, theo điệu giặm Đức Sơn]

       Như vậy, có thể thấy, tham gia hát ví, khác với vùng miền khác, không chỉ có hai vai nam nữ phân thành hai phe để hát, thì hát ví, giặm (cặp đối - đáp) của xứ Nghệ còn có sự tham gia của ngôi thứ ba, của những bậc có học hành, có trí tuệ (xuất thân có thể bình dân, giàu nghèo khác nhau), nhưng giống nhau, được tôn trọng, được đề cao, được mọi người trong nhóm hát lắng nghe và tôn lên vai "thầy", đó là "thầy bày".

Những câu hát sau đây chắc phải của các Nho sỹ - thầy bày - sáng tác chứ không phải người dân lao động qua cặp đối - đáp. Bên nữ đưa ra câu hỏi đố "chữ":

       - Chữ chi anh chôn dưới đất?/ Chữ chi anh cất trên đầu?/ Chữ chi anh mang không nổi?/ Chữ chi gió thổi không bay?/ Anh mà giải được, thiếp trao tay lạng vàng.

Bên nam đưa ra câu đáp - trả lời cũng rất chuẩn bằng "chữ nghĩa":

       - Chữ hoàng thiên anh chôn dưới đất/ Chữ phụ mẫu anh cất trên đầu/ Chữ đá vàng anh mang không nổi/ Chữ duyên tình gió thổi không bay/ Em trao chi cho anh thỏa dạ, chứ trao tay lạng vàng anh nỏ thiết mô [Hát ví phường vải].

2.2. Nghệ Tĩnh là cái nôi văn hóa đề cao truyền thống học hành; nuôi chí ăn học phấn đấu

       Với văn hóa truyền thống có từ lâu đời, tạo nên đặc điểm tính cách, ứng xử trong lối sống, suy nghĩ của người Nghệ Tĩnh là chú trọng sự học hành, đề cao người học thành tài, xem người có chí tiến thủ là học tập không ngừng để vươn lên. Đã từ lâu, từ khi còn nhỏ, khoảng những năm 1955 - sau ngày hòa bình lập lại, tôi đã nghe giai thoại về Nghệ Tĩnh là dân "cá gỗ" với hai nghĩa: thứ nhất, chăm chỉ học tập, ý chí nghị lực vươn lên trong mọi hoàn cảnh để học tập; và thứ hai là "kiết" cũng để học. Qua những lời ví giặm, chúng ta có thể nhận thấy điều này:

Anh lên trên chốn kinh kì

Nhớ đem "con cá gỗ" từ quê nghèo mà gắng công.

Đất này khoa bảng rạng danh

Là làng hiếu học xin chàng đừng quên.

Người xứ Nghệ luôn tự hào về quê hương của mình, vốn là nơi hiếu học, say lao động nơi khô cằn để làm ra của cải vật chất nuôi sống gia đình, bản thân:

Đất này hiếu học ham làm

Đất khoa bảng lừng danh

Giờ anh mang theo truyền thống quê mình

Em ở lại ruộng đồng, anh vào kinh ứng thí

Tiễn chàng lều chõng đi thi.

 [Ví giặm từ phường cấy]

Sự đề cao người thầy cũng bắt nguồn từ cái nôi trọng sự học hành để làm nên nghiệp lớn một cách có suy tính.

Công thầy như núi Thái Sơn

Ơn bao thế hệ đã dựng xây cơ đồ.

Nhà giáo ước mơ dâng đời bao trí tuệ

Ươm mầm xanh cho cây trái ngọt lành

Mang sức trẻ thiêng liêng một đời nghĩa cả

Tình này xin tạc dạ vất vả chẳng sờn lòng

Mãi là tấm gương trong cho bao thế hệ.

[Một đời vì nghĩa cả, Ví giặm Nghệ Tĩnh]

Tình nghĩa, công lao của người thầy dưỡng dục thế hệ đi trước chúng ta trước đây và bây giờ luôn đi suốt cuộc đời:

Một đời vì nghĩa cả

Công thầy tựa núi non cao.

[Một đời vì nghĩa cả, Ví giặm Nghệ Tĩnh]

       Lâu dần trở thành bài học như một phép tắc nghi lễ, người Nghệ Tĩnh đã lấy đó để khuyên con cháu mình về ý chí, nghị lực học hành vươn lên.

Nhớ câu tiên học lễ, hậu học văn

Lời xưa đã khuyên răn

Ta nhắc nhau học tập

Ta luyện rèn học tập.

Đạo làm trò phải nhớ

Câu "nhất tự vi sư bán tự cũng vi sư"

Tình thầy tựa lòng cha

Nghĩa cô như lòng mẹ [Một đời vì nghĩa cả, Ví giặm Nghệ Tĩnh].

 2.3. Nghệ Tĩnh là cái nôi văn hóa trọng tình "nghĩa nặng tình sâu"

       Hát ví, giặm còn để lại dấu ấn văn hóa về nghĩa tình sâu nặng của cư dân sống cùng nhau, gần nhau hoặc ở vùng lân cận nhau thuộc xứ Nghệ. Người dân xứ Nghệ nói thứ tiếng địa phương đậm chất "Nghệ" thô cứng, chịu đựng gian khổ đến mức "quá". Đã bao đời, những con người nơi đây sống trong gian khổ trên khoảng đất hẹp nhất của nước Việt, ba phần tư núi lấn ra biển Đông, chỉ còn rẻo đất chạy dài dọc theo biển đến Đèo Ngang "đèo ngang đàng chạy dọc", vì vậy, con người Nghệ Tĩnh phải trèo đèo lội suối, băng rừng chưa xong lại ra với biển, phải thích nghi với gió biển mặn mòi, chưa hết, lại hứng chịu gió Lào rát bỏng. Chính vì vậy, chỉ những ai kiên định, chịu đựng được hết mọi thử thách gian khổ thì mới có thể tồn tại lâu bền, vượt qua thời gian, như nhà thơ Huy Cận viết về xứ Nghệ quê mình: "Ai ơi, cà xứ Nghệ/ Càng mặn lại càng giòn/ Nước chè xanh xứ Nghệ,/ Càng chát lại càng ngon…" hoặc "Tình xứ Nghệ không mau/ Nhưng bén rồi sâu lắng,/ Quen xứ Nghệ quen lâu/ Càng tình sâu nghĩa nặng. [Huy Cận, Gửi bạn người xứ Nghệ, 6-1967]. Có thể nói trong hát ví, giặm, đặc điểm văn hóa này được nổi lên hết sức rõ nét, tạo nên sự tự hào, lôi cuốn những người ở vùng đất khác khi đến với xứ Nghệ. Ở những vùng miền khác như Bắc bộ là nơi cư trú đã ổn định với những nghi thức lễ nghi bài bản, vùng đất Nam bộ lại là vùng đất mới sau này, dân tứ chiếng đến đây hội nhập. Còn vùng đất Nghệ Tĩnh đã để lại tính ổn định về văn hóa, tính thủy chung son sắt. Tác giả Ngọc Thịnh viết: "Giữa bộn bề vất vả công việc đồng áng, người dân chân chất mộc mạc nơi đây đã hình thành thêm một tính cách "Nghệ". Có thể hiểu là hơi "thô" bởi nhiều lúc lời nói cũng không được trau chuốt hoa mỹ, nhẹ nhàng, mà bộc trực, nói kiểu "nhát gừng", thậm chí là cục cằn, khô cứng "Giận thì giận, mà thương thì thương..." nhưng trong cách nghĩ thì lại "Bởi giận rồi cũng chỉ để thương thêm" (Trần Hoàn). Quả thật, trong nắng lửa xác xơ, con người hàng ngày "Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" phải tạo cho mình một đời sống tinh thần mạnh mẽ để vượt lên cái sự đói, sự nghèo; cái sự khó nhọc, sự khắc nghiệt của thiên nhiên để được yêu thương, đùm bọc nhau trong cuộc sống" [8].

Sự thủy chung thể hiện qua lời hẹn hò, níu giữ, không nỡ rời xa:

Tiếng gà gáy, mảnh trăng nghiêng

Lời đối lời nên duyên phường vải,

Hội còn vui, bạn mình ơi ở lại

Đừng trách chi con gà gáy vô tình,

Về miền ví giặm nhớ không anh?

Về miền ví giặm anh hát cùng em,

Dệt cả tình ta trong tình non nước

Mảnh trăng soi những lời hẹn ước,

Hội còn vui, về răng được mà về?

[Thử lòng thủy chung, Dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh]

       Hoặc ở bài khác, chúng ta lại gặp những lời hứa hẹn son sắt thủy chung của chàng trai cô gái khi họ hát trao đáp với nhau, tạo niềm tin cho nhau đến ngày tri ngộ.

Lời của chàng trai: 

Chờ em cho trót công chờ

Chờ cho hết mận, hết mơ sang đào

Chờ cho em lớn em cao

Đến mùa em nở như hoa đào trên cây.

Để đáp lại, cô gái cũng nhất tâm chờ đợi:

Chờ chàng đã đáng công chờ

Đã mất công đợi bao giờ trả công

Chờ chàng dù có cạn sông

Vẫn mong kết chặt chữ đồng, chàng ơi!

[Ví phường vải]

       Hứa hẹn, thề nguyền cho thâu đêm suốt sáng vẫn chưa nỡ rời nhau ra, ấy là xe kết trong hát ví: Nước sông Lam dào dạt,/ Đây cảnh đẹp quê mình/ Ngọt câu ví ái ân,/ Ta nghĩa tình hò hẹn/ Thuyền xưa đây còn nhớ/ Nơi bến cũ sông nhà/ Dù thuyền có đi xa/ Bến vẫn chờ vẫn đợi/ Bến sông này vẫn đợi [Khúc hát giao duyên - Dân ca Nghệ Tĩnh].

       Có thể nói, ngôn từ lắng đọng nhất, ăn sâu vào nỗi lòng của người tiếp nhận nhiều nhất vẫn là nói về nghĩa tình sâu nặng của con người xứ Nghệ như một nét văn hóa chủ đạo mà không nơi nào có được. Chẳng hạn:

       Ta về lại từ ngàn xưa/ Tìm cội nguồn đò đưa ví giặm/ Ơi câu ca vắt từ chua mặn/ Từ hai sương một nắng mà nên lời/ Cùng vui hội bạn mình ơi!/ Trăng phường vải ta thiết hỏi người ơi!/ Đã đến rồi người ơi xin ở lại/ Nước chè xanh câu dầm chung trại/ Khúc hát giao duyên nên nghĩa nên tình/ Câu ví giặm đất Hồng Lam/ Xao xuyến niềm thương bâng khuâng nỗi nhớ/ Ơi câu ca mặn mòi tình xứ sở/ Bạn tình ơi ở lại đừng về [Khúc ca giã bạn, Dân ca Nghệ Tĩnh].

2.4. Văn hóa đề cao ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, các bậc thánh hiền, bậc tiền bối đi trước

       Cùng với những đặc trưng văn hóa nghĩa tình, thủy chung nói trên, có thể kể đến đặc trưng văn hóa đề cao công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, các bậc thánh hiền, bậc tiền bối đi trước. Trong tư liệu, chúng tôi gặp khá nhiều bài ví giặm nói đến hình ảnh mẹ, cha, như: Phụ tử tình thâm, Thập ân phụ mẫu, Đêm nằm van vỉ cùng con. Lời ca của những bài này, giống nhau, là nhẹ nhàng, tâm tình thủ thỉ như mẹ con cùng ngồi tựa bên nhau: Phụ tử tình thâm công thầy rồi nghĩa mẹ/ Đừng tiếng tăm chi nặng lời/ Đừng cả tiếng dài hơi/ Nói mẹ cha sao nên/ Cãi mẹ thầy sao phải; hoặc lời căn dặn khuyên nhủ yêu thương của mẹ khi con trai có vợ: Con ở gần thầy mẹ/ Phải xây đắp vun trồng/ Khi vợ dại thì có chồng/ Phải vào ra thăm viếng/ Phải đi về thăm viếng [Phụ tử tình thâm].

       Về phía các con cháu, chúng ta bắt gặp sự đề cao công ơn cha mẹ, sự nhắc nhở cách ứng xử sau trước của con cái với cha mẹ, thể hiện qua bài "Công thầy ơn mẹ": Công cha nghĩa mẹ ơn thầy,/ Bao la trời biển cao dày bằng non/ Con xin khắc dạ ghi tâm/ Ơn thầy cô cha mẹ, đạo làm con đáp đền [Công thầy ơn mẹ, Câu lạc bộ ví giặm Sơn ca]; hoặc: Ơn thầy nghĩa mẹ trời cao,/ Chữ cù lao dưỡng dục biết bao nhọc nhằn.

5. Kết luận

       Hát ví, giặm là thể hát dân ca đã đi vào tâm thức người Nghệ Tĩnh từ lâu đời, từ người già đến trẻ em đều có thể hát một cách nhuần nhị không nhiều thì cũng dăm bảy câu: Giận thì giận mà thương thì càng thương/ Anh đi sai đường em không chịu nổi/ Anh ơi anh, xin anh đừng giận vội/ Trước tiên anh hãy tự trách mình... như sự nhắc nhủ, khuyên mình hãy bình tâm trong cuộc sống, ứng xử với người xung quanh gần gũi, như chồng con, bè bạn.

       Nghĩ đến Ví giặm Nghệ Tĩnh, đến con người xứ Nghệ là người ta lại nghĩ đến tính thẳng thắn, bộc trực, chân thật đến "thô ráp" nhưng sức hấp dẫn, lắng đọng của văn hóa xứ Nghệ đã níu giữa hồn người đến với Nghệ Tĩnh là "tình người" tri kỉ, sâu sắc đến mặn mòi; là sự kết đọng lòng ham học, hiếu học từ thuở cha ông, các bậc tiền bối; là sự gần gũi, giao hòa, xích gần quan hệ để răn dạy "điều hơn lẽ thiệt" của cha mẹ đối với con cái, cũng như lòng hiếu thảo tôn kính cha mẹ của con cái là những nét văn hóa xuyên suốt. Chúng ta vô cùng biết ơn trí tuệ dân gian đã sáng tạo nên những câu ca ví giặm.

 

Chú thích

(1). Cửa sông Trẹm: địa danh sông Trẹm ở Trường Lưu, Hà Tĩnh, khác với sông Trẹm (còn gọi là sông Tràm Trẹm) là một chi lưu dài 36 km của sông Ông Đốc, có nguồn là sông Cái Lớn qua kênh Chắc Băng. Sông chảy qua huyện An Minh (tỉnh Kiên Giang) và huyện Thới Bình (tỉnh Cà Mau), hội lưu với sông Ông Đốc tại ráp gianh giữa xã Khánh An và xã Hồ Thị Kỷ.

Tài liệu tham khảo

1. Ninh Viết Giao, "Báo cáo đề dẫn Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy giá trị của dân ca hò, ví giặm xứ Nghệ" trong cuốn Bảo tồn và phát huy các giá trị dân ca ví, giặm xứ Nghệ, Nxb Nghệ An, 2012, tr.12.

2. Ngô Sỹ Hiếu, "Tìm hiểu đôi nét về Hát giặm Nghệ Tĩnh", trong Bảo tồn và phát huy các giá trị dân ca ví giặm xứ Nghệ, Nxb Nghệ An, 2012, tr.107-108.

3. Đào Việt Hưng, Hát ví Nghệ Tĩnh, TC Văn hóa số 6, 4/ 1972.

4. Vi Phong, Ví phường vải, http://vnmusic.com.vn.

5. https://vi.wikipedia.org/wiki/Dân_ca_ví,_giặm_Nghệ_Tĩnh

6. Trần Ngọc Thêm (chủ biên), Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ, Nxb Văn hóa - văn nghệ, 2013.

7. Ngô Đức Thịnh, Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, 1993; Viết lại, Nxb TP Hồ Chí Minh, 2004.

8. Ngọc Thịnh, "Bảo tồn và phát huy giá trị dân ca Ví giặm xứ Nghệ", vnmusic. com.vn.

9. Huỳnh  Khái Vinh (chủ biên), Nguyễn Thanh Tuấn, Chấn hưng các vùng và tiểu vùng văn hóa ở nước ta hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, 342 trang.

10. Trần Quốc Vượng, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1997; Nxb Giáo dục, 1998.

11. Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2006.

 

Nguyễn Khắc Thuần

Hội Thánh Đức Chúa Trời Mẹ (HTĐCTM) là một tôn giáo mới du nhập vào Việt Nam, là tổ chức hoạt động tôn giáo chưa được Chính phủ Việt Nam công nhận. Các giáo lý, giáo luật, hành xử của HTĐCTM mang tính chất tà đạo có biểu hiện mê tín dị đoan, chà đạp thuần phong mỹ tục của dân tộc. Đây là một sự lợi dụng tự do tín ngưỡng, nhân quyền với những thủ đoạn tinh vi, nham hiểm, tàn độc nhằm lôi kéo nhiều người tham gia làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống tinh thần, vật chất, sức khỏe công dân, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

* Nguồn gốc

Hội Thánh Đức Chúa Trời Mẹ còn gọi là HTĐCTM tên đầy đủ "Hội Thánh Đức Chúa trời Hiệp hội Tin lành Thế giới" khơi nguồn từ Hàn Quốc năm 1964, do ông Kim Joon cheol và bà Jang Gol Ja - một người đàn bà 21 tuổi 2 con đã ly dị chồng chính thức thành lập năm 1985 tại Hàn Quốc trên cơ sở học thuyết của ông Sahng Hong thành lập năm 1964. Ông này vốn là tín đồ đạo Phật sau cải sang đạo Thiên chúa, là người đề xướng nhiều lý thuyết xằng bậy nên các giáo hội Phật giáo và Thiên chúa đã khai trừ. Trụ sở chính của HTĐCTM hiện nay đặt ở Bundanggi (Hàn Quốc)(1). Họ cũng đưa ra một số giáo lý gần giống đạo Tin lành khiến nhiều người nhầm đây là một nhóm Tin lành chính thống. Hội Thánh này cho rằng tất cả loài người trên trái đất này vốn là những thiên sứ ở trên trời. Những thiên sứ này do phạm tội với Đức chúa trời bị đẩy xuống trái đất để tìm một cơ hội thứ 2 quay trở lại thiên đàng. Qua trải nghiệm trần gian các thiên sứ thấy rằng cách duy nhất để về lại thiên đàng là "Giữ lễ vượt qua giao ước" với bánh và rượu nho màu đỏ (tượng trưng cho máu và thịt của Jesur) và làm theo mọi sự dạy dỗ của ông Sahng - hong. Nói cách khác, ai không giữ lễ, không ăn bánh thánh, không uống rượu thánh màu đỏ thì không nhận được sự tha tội, không được cứu rỗi khỏi tai vạ mà Đức Chúa trời đã định sẵn vào thời đại cuối cùng cho người đó (ngày tận thế).

HTĐCT có những quan điểm, giáo lý, giáo luật trái ngược với cơ đốc giáo chính thống. Họ tự nhận rằng: họ đang làm theo các lời dạy và giữ các kỳ lễ của giáo ước mới trong kinh thánh giống như Hội thánh sơ khai trong thời Chúa Giêsu. Trong Đại hội ngày 2/6/1985 tại Seoul ,ông Ahnsahnghong được nhìn nhận như Chúa Cha, bà Jang Golja được nhìn nhận như là Chúa Mẹ, họ tin rằng Đức Chúa trời cha và Đức Chúa trời mẹ đã đến trong tâm hồn và xác thịt mỗi người dân Hàn Quốc. Khi bị xã hội chỉ trích mạnh mẽ thì họ cho rằng: Đây là sự bức hại như cái thuở ban đầu các Kito hữu đã phải chịu đựng vì tin vào Jesus trong xác thịt người bình thường.

HTĐCTM gia nhập vào quốc gia nào đều bị nhà nước và các tổ chức giáo hội ở đó lên án dữ dội bởi lập luận truyền giáo của họ ấu trĩ, ngây ngô, phản văn hóa, đạo đức. Họ cho rằng: "Đức chúa trời là đấng tối cao, quyền năng tạo ra các vì sao, tạo ra loài người để cai quản nó. Nay đã sắp đến ngày tận thế, Đức chúa trời thương xót cho loài người nên mới tìm cách cứu rỗi. Ai may mắn được Chúa trời cứu, ai không nghe lời bị hủy diệt. Ai muốn cứu sống thì phải tự tìm đến HTDCTM để làm lễ vượt qua".

Việc coi Sahng-hong và Janggol Ja là Đức Chúa trời Cha và Đức Chúa trời Mẹ bị đạo cơ đốc giáo chính thống vẫn tin vào "Chúa 3 ngôi" (Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Nhân) chỉ trích nặng nề. Nhiều hội đồng quốc gia các giáo hội trên thế giới đã gọi HTDCTM là "dị giáo", "cuồng giáo" đáng để lên án, tẩy chay, phỉ nhổ(2).

Mặc dù vậy, hiện nay Hội thánh này đã có mặt ở 175 quốc gia với khoảng trên 2,5 triệu tín đồ thuộc 1.200 Hội thánh trong đó đông nhất là Hàn Quốc có 400 Hội. Ở Việt Nam, Hội thánh này đã du nhập vào năm 2001 do một số giáo sỹ Hàn Quốc trà trộn trong những công dân Hàn Quốc sang Việt Nam công tác, đầu tư, làm ăn và trong một số lao động xuất khẩu Việt Nam từ Hàn Quốc trở về. Đến nay Hội đã có mặt ở 20 tỉnh, thành với khoảng trên dưới 3.000 tín đồ. Đáng chú ý là sự phát triển khá nhanh trong những tháng đầu năm 2018(3).

* Nấm độc lan truyền

Hội Thánh Đức Chúa Trời có các đối tượng cầm đầu rao giảng, truyền đạo, hoạt động trái phép được gọi là "chấp sự". Tổ chức tà đạo này không phân cấp quản lý mà tổ chức theo từng nhóm (sion). Mỗi nhóm khoảng 30 tín đồ, không có chức sắc lãnh đạo chung. Tín đồ có hiểu biết về giáo lý, giáo luật hướng dẫn sinh hoạt cho các tín đồ khác. Khi đủ số lượng 1 sion (30 người) một tín đồ sẽ tách ra vận động thành lập sion mới. Các đối tượng cầm đầu, chủ chốt trong  HTDCTM thường lợi dụng danh nghĩa mở các văn phòng đại diện, thành lập các công ty ma, trung tâm từ thiện, buôn bán hàng đa cấp… để lẫn khuất trên các địa bàn tránh sự kiểm tra của cơ quan chức năng. Trước đây chúng thường thuê gọn các căn nhà, hội trường để tổ chức truyền đạo rầm rộ. Bị kiểm tra, lên án, xử phạt những ngày gần đây các buổi truyền đạo thường được trá hình vỏ bọc "Hội thảo", "bồi dưỡng nghiệp vụ", "truyền thông kỹ năng"… để đối phó. Hà Nội, Hải Phòng, Trà Vinh, Thanh Hóa… là những địa bàn có HTDCTM phát triển mạnh nhất hiện nay.

Mặc dầu không nằm trong các hệ phái Tin lành Việt Nam đã được cấp phép những            HTDCTM vẫn thường xuyên lợi dụng quyền tự do, tín ngưỡng để truyền đạo trái phép, chia rẽ tôn giáo, lôi kéo tín đồ kể cả những tín đồ đã tham gia các giáo hội khác. Mục đích hướng tới của chúng khi truyền đạo là: "Đức chúa trời muốn ta cất của cải ở nước Thiên Đàng, đó là tấm lòng ta ở đó. Đức Chúa Trời không cần của cải của ta. Khi chúng ta chết Đức Chúa trời sẽ biến hóa cho chúng ta thăng thiên lên Thiên Đàng. Ở đó chúng ta được sống như tiên" (Kinh thánh của họ).

Qua đấu tranh, xử lý bọn cầm đầu ở Hải Phòng, Thanh Hóa đều ghi nhận được số cầm đầu có dấu hiệu lợi dụng giáo mê hoặc ép buộc tín đồ dâng hiến của cải tài sản để trục lợi. Mức thấp nhất chúng đặt ra là 1/10 thu nhập. Theo yêu cầu của các "chấp sự", tín đồ khi đến dự các buổi truyền đạo đều phải tự nguyên cho vào phong bì đã in sẵn dòng chữ "Cha mẹ yêu anh em rất nhiều" từ 50.000đ trở lên để dâng lên Đức Chúa Trời. Có những lần truyền đạo, các "chấp sự" yêu cầu các tín đồ dâng tiền 3, 4 lần, với những người bỏ cơ quan, trường học, gia đình, cha mẹ, vợ con, anh em đến với Đạo, nam thì được các "chấp sự" bố trí chạy xe ôm, vận chuyển, bốc xếp hàng hóa, nữ thì bán vé số, ve chai, mỹ phẩm, hàng rong… Cuối ngày thừa đồng tiền nào cũng phải dâng lên Đức Chúa Trời.

Để được theo HTDCTM, các tín đồ phải tự tay đập nát bát hương trên bàn thờ tổ tiên nhà mình để "thanh thản" ra đi không còn lưu luyến gì với quá khứ.

Để lôi kéo người vào tham gia, các "chấp sự", "sion" thường lợi dụng sự kém hiểu biết về tôn giáo của không ít người, dùng các luận điệu như "ngày tận thế", chia rẽ tình yêu thương, gieo rắc hoài nghi tiền đồ, hoài nghi về cuộc sống, say sưa các ảo tưởng giàu sang… để tác động đến tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của họ, lôi kéo họ đi theo tà đạo này. Bọn chúng còn đưa ra nhiều mức thưởng hậu hĩ cho những ai lôi kéo được nhiều người thân, bạn bè, hàng xóm tham gia. Thậm chí nếu lôi kéo được nhiều người được phong lên "chấp sự" trước thời hạn. Những ai đã tham gia vào tà Đạo này khi có ý định bỏ chạy đều bị đe dọa, bao vây, khống chế bằng nhiều hình thức.

Cách truyền đạo của HTDCTM là chia thành từng nhóm 2 - 3 người đi tiếp cận đối tượng. Phương pháp tiếp cận của chúng là êm ái, mưa dầm thấm lâu là làm thân, an ủi, chia sẻ, giúp đỡ làm cho con mồi mụ mị để đưa vào tròng. Gia nhập xong chúng "tẩy nảo" bằng đủ chiêu trò. Tín đồ khi về tập trung với Đạo sống bầy đàn, thác loạn nên đều được uống thuốc triệt sản.

Một thực tế đáng suy nghĩ là đến nay HTDCTM vẫn như nấm độc, lan nhanh, lan mạnh trên nhiều địa bàn. Những đối tượng là phụ nữ, học sinh, sinh viên, kể cả viên chức… đang bị lôi kéo ngày càng nhiều và hệ lụy chúng gây ra thì chưa lường hết được và không dễ khắc phục trong một sớm một chiều.

* Sự xâm nhập của HTDCTM vào địa bàn

HTDCTM đã xuất hiện trên địa bàn Nghệ An, Hà Tĩnh. Tại Hà Tĩnh nó xuất hiện lần đầu vào tháng 5/2016 từ nhóm "chấp sự" do Thiều Văn Hoan 32 tuổi quê Hưng Lợi, Hưng Nguyên, Nghệ An làm trưởng nhóm. Theo chính quyền xã Hưng Lợi cho biết: Thiều Văn Hoan có nhân thân tốt bỗng dưng mê muội đi theo tà đạo, gia đình khuyên can, giáo dục rất nhiều nhưng bất thành. Bố Hoan đã từ con sau khi Hoan đã phá nát bàn thờ Tổ tiên rồi lang bạt vào Hà Tĩnh truyền đạo. Vào Hà Tĩnh, Hoan luôn thay đổi nhà trọ với vỏ bọc nhân viên tiếp thị để lôi kéo người gia nhập tà đạo. Ngày 24/11/2016, Hoan bị công an Hà Tĩnh xử phạt hành chính, trục xuất khỏi nơi cư trú nên đã lén lút sang huyện khác thuê nhà trọ để tiếp tục truyền đạo trái phép. Ngày 26/4/2016 nhân dân xứ Nghệ và cả nước bàng hoàng khi đọc Báo Dân trí được biết qua sự dụ dỗ của Hoan nhiều gia đình ở Thạch Hà, thị xã Hà Tĩnh đã tan cửa, nát nhà. Chị H người mẹ của 3 con nhỏ đã tìm cách tẩu tán tài sản để theo tà Đạo, phá nát một gia đình hạnh phúc. Hàng chục lần cha mẹ, chồng và người thân khuyên nhủ nhưng bất thành.

Báo Dân trí ngày 27/4/2018 qua thông tin của PA 25 Công an Hà Tĩnh đã kể lại một câu chuyện thật thương tâm khác. Biết em mình là kiến trúc sư theo tà Đạo bỏ bê công việc gia đình, công ty, chị Biển (Ở thị xã Hà Tĩnh) đã lao vào cứu em. Sau một vài lần tìm em đang dự truyền Đạo trái phép ở Vinh, chị Biển bị phơi nhiễm tà Đạo lúc nào không biết…

Ở Nghệ An, tà Đạo HTDCTM đã có mặt từ lâu. Cuối năm 2018, công an Đô Lương đã 4 lần bắt và xử phạt nhóm "Chấp sự" Đặng Sĩ Nhiêm (Đại Sơn, Đô Lương), Đậu Quang Vĩnh, Đinh Đăng Quang (Diễn Phú, Diễn Châu) đang truyền đạo trái pháp luật. Đậu Đăng Quang đã trở thành một kẻ cầm đầu hết sức nguy hiểm. Ngày 6/9/2018 trong lúc y tụ tập hàng chục người để truyền đạo tại khu tập thể khách sạn Mường Thanh thì bị công an Diễn Châu bắt và xử lý theo luật pháp. Bị giới truyền thông liên tục cảnh báo, lên án, HTĐCTM ngày càng đi vào hoạt động lén lút. 18h30 chiều 29/4/2018 Công an thành phố Vinh phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ Công an Tỉnh đã kiểm tra căn hộ ở tầng 5 chung cư Golden City 3 đóng tại Nghi Phú đã bắt quả tang nhóm truyền đạo trái phép gồm 12 người (trong đó có 3 sinh viên), thu giữ nhiều tang vật liên quan trong đó có thuốc hướng thần màu đỏ, các tài liệu truyền đạo của nước ngoài.

Ngày 2/5, Công an huyện Nghĩa Đàn bắt quả tang "chấp sự" Phan Thị Sương (quê Yên Thành) đang tổ chức truyền đạo trái phép tại Nghĩa Trung thu 15 ngàn tài liệu, điều đáng nói là trong hàng chục người bị Sương mê hoặc có rất nhiều học sinh, sinh viên.

Nhiều địa phương ở Nghệ An như thành phố Vinh, Hưng Nguyên, Diễn Châu, Đô Lương, Nghi Lộc, Nghĩa Đàn, Thái Hòa… vòi bạch tuộc của HTĐCTM đã gây bao hệ lụy đau xót, gia đình tan nát.

* Thay lời kết

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, các tôn giáo ở Việt Nam được nhà nước công nhận và bảo hộ để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của công dân. Nhưng "với những hiện tượng vừa rồi mà báo chí phản ánh thì HTĐCTM không phải là tổ chức, hội phái Tin lành được nhà nước cấp phép…" và đây là một hành vi lệch chuẩn xã hội, xuất phát từ động cơ vụ lợi và sự không bình thường của những người cầm đầu, vi phạm luật tín ngưỡng tôn giáo, vi phạm Nghị định 162 (31/12/2017) của Chính phủ. Đó là khẳng định của ông Vũ Chiến Thắng - Trưởng Ban tôn giáo Chính phủ(6). Ngày 3/5/2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã yêu cầu các địa phương trong cả nước tích cực, chủ động chặn đứng đẩy lùi các tệ nạn xã hội do HTĐCTM gây ra.

Trước sự tàn phá của vòi bạch tuộc HTĐCTM, cùng với cả nước, các cấp các ngành ở các địa phương đang tăng cường công tác vận động quần chúng, làm cho nhân dân hiểu rõ bản chất của tà đạo này, nâng cao năng lực tự làm chủ sống theo pháp luật của từng người để có những biện pháp chặn đứng, đẩy lùi bảo vệ cuộc sống an lành cho xã hội phát triển.

 

Nguồn

1. Từ điển Wikipedia (Tiếng Việt).

2. https: Hội Thánh Đức Chúa trời Mẹ.

3. Báo Tiền Phong số 18/4/2018.

4. Báo Nhân dân ngày 16/3/2018.

5. Báo Dân Trí 23/4/2018.

6. Báo Nghệ An 30/4/2018.

7. Báo Nhân dân 03/4/2018.

 

Nguyễn Văn Thâm

Văn Thành (có một thời kỳ được gọi là Châu Thành), ngày nay là một xã thuộc huyện Yên Thành, Nghệ An nằm kề với huyện lỵ Yên Thành về phía Bắc. Nếu ai về thăm Văn Thành hiện tại sẽ thấy nơi đây những đồng lúa mùa nối mùa tươi tốt, với hệ thống tưới, tiêu khá hoàn chỉnh. Làng xóm thanh bình với nhiều nhà cửa mới được xây dựng hoặc tu bổ lại đẹp đẽ, nhiều thôn làng đã có điện và nước máy phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân. Nhiều công trình văn hóa đã và đang được xây dựng trên vùng đất này. Đường làng, ngõ xóm đang dần được mở rộng và tu sửa khá rộng rãi và bằng phẳng, đêm về có đèn cao áp chiếu sáng. Văn Thành có thị tứ và các phiên chợ quê khá sầm uất, có trạm xá, trường học được xây dựng khang trang. Có thể thấy ở vùng đất này thành tựu của công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện lên trên nhiều nụ cười mãn nguyện của người dân ở nhiều lứa tuổi. Với hình ảnh một vùng quê như thế, nếu chỉ đi qua đây một lần chưa kịp tìm hiểu, chắc không mấy ai nghĩ đây vốn là một vùng đất cổ, có nhiều truyền thống, đến nay vẫn còn không ít dấu ấn để lại. Cách đây không lâu một số thôn làng ở đây vẫn còn được gọi theo tên cũ như làng Dền, xóm Đình, xóm Rào vì bốn phía đều có rào bao bọc. Các thế hệ trẻ của Văn Thành hôm nay nếu ít quan tâm đến chiều sâu lịch sử của quê mình cũng không mấy ai biết được trong lòng mảnh đất cha ông để lại và mình hiện đang sống hôm nay, đang chứa đựng nhiều câu chuyện của lịch sử cha ông. Làm một phép thử, chẳng hạn khi hỏi về một số địa danh như Kẻ Dền, Kẻ Dinh, bến Thẩm Thuyền, vệ Nhà Rồng, cồn Nhà Nị, đường Tàu voi, đường Vua, hoặc hỏi đường đi Kẻ Sắt, Kẻ Sọt, Kẻ Gám, Kẻ Găng… thì nhiều người thuộc thế hệ hôm nay dù ở ngay trên đất Văn Thành cũng không biết đó là các địa danh từng gắn với đất Văn Thành và những vùng lân cận trong một thời gian dài.

Nhiều nguồn sử liệu còn lại cho đến ngày nay cho phép nhận định rằng Văn Thành xưa kia từng có người Việt cổ sinh sống. Nhiều người dân ở Văn Thành khi đào móng làm nhà, đào ao, làm các công trình thủy lợi… từng đào thấy những vò đất cổ không nung có niên đại khá sớm, dự đoán là được chôn theo người chết trước đây theo tục lệ của người Việt cổ. Nhiều nơi trong xã như ở xóm Rào, đồng Dền, cồn Nhà Nị, đồng Vằng… khi đào móng làm nhà hay đào các công trình thủy lợi, người ta cũng đào được những hòn gạch mỏng không nung nằm dưới những tầng đất khá sâu, được cho là chân của những bức tường cổ ngày xưa còn sót lại. Nếu không có người xưa sinh sống, tạo dựng ở đây thì hẳn những dấu tích như vừa kể là không thể có. Hơn nữa, ở đây kỹ nghệ chế biến đất sét thành các vật dụng phục vụ đời sống hàng ngày từ xa xưa đã có những bước phát triển rõ nét.

Trước đây Văn Thành đồng đất hoang vu. Theo những người cao tuổi ở Văn Thành kể lại thì vùng Truông Đồi, Hòn Ngang, Động Giữa, Hòn Thàng, Động Dẻ, Đồi Ây, Rú Sỏi... trước đây là những khu rừng nguyên sinh có nhiều loại gỗ quý như: lim, dổi, táu, sến, gụ... Bằng chứng là có một số đình đền như đình Thượng, đình Trung, đình Vằng, đình Cả, chùa Dền, chùa Thông và một số nhà thờ họ như: Nguyễn Duy, Phan Đức, họ Đường... đều được làm bằng gỗ lim, gỗ dổi mà theo nhiều người cho biết đã được khai thác từ những khu rừng mà người vùng Yên Thành quen gọi là động, rú, đồi ở chung quanh.

Theo các nguồn sử liệu thành văn còn lại như các cuốn Nghệ An chí của Hoàng Giáp Bùi Dương Lịch(1)Đại nam nhất thống chí và cuốn Lịch sử Yên Thành (Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh 1990, tập 1) cũng chép lại, thì dù vùng đất này đã có người ở từ lâu, nhưng chỉ sau này khi chế độ phong kiến hình thành và phát triển, làng xã ở vùng Hoan Diễn (tức Nghệ An ngày nay), trong đó có Văn Thành mới hình thành rõ rệt.

Việc nhà Tiền Lê xây dựng Thành Dền ở Công Trung  (tức Văn Thành ngày nay) được nhắc đến trong cuốn Nghệ An chí của Bùi Dương Lịch như sau: "Lê Hoàn lên ngôi vua năm 980 đã hai lần vào dẹp loạn ở Hoan Châu, tổ chức đào kênh Đa Cái (Hưng Nguyên), Kênh Sơn (Quỳnh Lưu), mở thêm con đường thủy từ sông Bùng qua Nho Lâm vào Cao Ái nối liền với kênh Sắt (thường gọi là kênh nhà Lê) chiêu dân lập ấp, khai phá đất đai phía Nam Hoan Diễn"Theo một số nguồn sử liệu ghi chép còn lại đến nay thì Lê Hoàn đã cử con trai là Lê Long Toàn (còn gọi là Lê Ngân Tích) phong làm Đông Thành Vương vào trấn trị Châu Diễn. Được hậu thuẫn của vua cha, Lê Long Toàn đã dựa vào thế núi, thế sông để xây lỵ sở tại Kẻ Dền. Tại đây ông đã xây thành đắp lũy, chiêu tập binh lính, tích trữ lương thực, tạo thành một lỵ sở, về sau được mở rộng dần có đủ tiền nha, hậu nha, tiền đường, kho vàng, kho tiền, vườn hoa, tàu voi, bến tắm, đường giao thông... Đây không chỉ là lỵ sở, mà trên thực tế còn có chức năng là một căn cứ quân sự nhằm tạo thế lâu dài và uy danh cho Đông Thành Vương ở đất này. Dấu vết của thành Dền đến nay vẫn còn ở vùng giáp giới hai xã Văn  Thành và Hợp Thành mà trước đây vốn cùng một xã (Công Trung). Đồng thời, tin vào sách phong thuỷ đời Đường (thế kỷ thứ VII sau Công Nguyên) khi cai trị nước ta truyền sang, có ghi: "Tại núi Mồng Gà, xã Lỗi Truyền, huyện Đông Thành, xứ Hoan Châu có một huyệt đế vương", nên cùng với việc xây thành, đắp lũy ở Công Trung, Lê Long Toàn đã đem hài cốt thân mẫu từ Hoa Lư vào an táng tại Động Huyệt (nay thuộc xã Tiến Thành) để mong được phần âm phù hộ làm nên nghiệp lớn.

Năm 1005 vua Lê Đại Hành băng hà, nhà Tiền Lê rối loạn, Lê Ngân Tích ở ngoài biên ải không về Hoa Lư tranh giành ngôi báu mà ở lại Hoan Diễn tự xưng Hoàng Đế tiếp tục xây dựng Thành Dền, mở mang đường sá, củng cố thành lũy, cố thủ ở Công Trung thuộc đất một số xã của Yên Thành ngày nay. Ông đã cho đắp con đường chiến lược từ Truông Tràng (Quỳnh Tam giáp Tân Thành) đi qua các vùng đất ngày nay thuộc các xã Tiến Thành, Hậu Thành, Phúc Thành và đến Văn Thành rồi hướng sang Truông Bồn. Ngày nay con đường này vẫn còn dấu tích tại xóm Văn Mỹ mà người Văn Thành hay gọi là đường Vua. Lê Ngân Tích đã biến Thành Dền thành một căn cứ quân sự vững chắc để cát cứ ở bờ cõi phía Nam, tự coi mình như vua. Người Hoan Diễn gọi đây là thành Vua Dền. Vua Dền đã từng cầm quân đánh dẹp quân Ai Lao xâm chiếm nước ta. Trận thắng ở lèn Kim Nham (huyện Anh Sơn ngày nay), đã làm cho uy danh Vua Dền vang tiếng cả vùng.

"Lèn Kim Nham nức tiếng Vua Dền

 Đánh thắng giặc từ trên đổ xuống".

Trong khi đó ở Hoa Lư, Lê Long Đỉnh đã lên ngôi hoàng đế, sau đó đã nhiều lần sai quân vào Châu Diễn và đánh vào lỵ sở Công Trung để dẹp vua Dền nhưng quân của vua Dền khá mạnh đã chống trả quyết liệt. Lê Long Đỉnh đánh nhiều lần không thắng đành phải lui quân về. Năm 1010 Lý Công Uẩn lên ngôi vua lập nên nhà Lý và quyết định dời đô từ Hoa Lư về Đại La - Thăng Long. Lê Long Toàn khi đó vẫn chiếm giữ Châu Diễn, tiếp tục đắp thành, xây lũy, cho quân sĩ bố phòng chặt chẽ, không chịu quy phục nhà Lý. Lý Công Uẩn đã cử nhiều tướng giỏi đem quân vào đánh dẹp nhiều lần nhưng không dẹp nổi. Năm Nhâm Thìn (1012), Lý Thái Tổ phải trực tiếp đưa đại quân thuỷ bộ vào Châu Diễn bao vây Thành Dền. Sách Nghệ An chí của Bùi Dương Lịch có chép: "Năm Thuận Thiên thứ 3 Châu Diễn không tuân vương hóa, vua Lý Thái Tổ phải thân chinh"(2). Quân sĩ vua Dền bị bao vây tứ phía. Quân Lý cắt đường tiếp tế lương thực và tiến công liên tục, quân lính vua Dền núng thế, thương vong ngày càng lớn. Lê Long Toàn và quân sĩ buộc phải bỏ thành Dền chạy về phương Nam, đến Cửa Sót (Thạch Hà - Hà Tĩnh ngày nay) thì bị quân nhà Lý bắt được và giết chết.

Vậy là sau hơn 15 năm xây dựng lỵ sở Công Trung và bảy năm xưng vua, Lê Long Toàn cuối cùng đã thất thủ. Ông đã để lại những dấu tích không phai mờ trong lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Châu Diễn xa xưa, trong đó có Lỵ sở Công Trung (Văn Thành ngày nay). Năm 1012 sau khi giành lại được đất Châu Diễn, Lý Thái Tổ rất quan tâm đến vùng đất này vì đây là phên dậu phía Nam của đất nước. Nhà vua đã chia nước ta thành 24 bộ, riêng vùng Hoan Châu lúc bấy giờ được gọi là Trại. Năm Thiên Thành thứ 3 (1030) vua đổi Hoan Châu thành Nghệ An. Tháng 3-1041 nhà vua cử Lý Nhật Quang vào làm trị trấn châu Nghệ An. Lý Nhật Quang là con thứ 8 của vua Lý Thái Tổ. Ông là người thông minh, hiếu học, có chí, 8 tuổi đã biết làm thơ. Những năm làm trấn trị ở Nghệ An, Lý Nhật Quang đã có nhiều công lao to lớn trong việc chiêu tập dân nghèo, binh lính, khai phá ruộng đồng, đào kênh, đắp đê chống lụt... xây dựng Nghệ An thành hậu phương, cung cấp nhân lực, vật lực cho triều đình nhà Lý.

Do có nhiều công lao nên vào mùa Xuân năm Giáp Thân (1044) vua Lý Thái Tông đã phong tước Uy Minh Vương cho Lý Nhật Quang.

Sau khi thị sát tìm nơi đặt lỵ sở, Lý Nhật Quang đã chọn vùng đất Bạch Ngọc (huyện Đô Lương ngày nay) để xây dựng lỵ sở của mình. Năm 1226 nhà Trần lên ngôi. Vị vua đầu tiên của nhà Trần là Trần Cảnh đã cử Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải vào làm quản hạt tại Nghệ An. Ông đã chiêu tập dân nghèo, binh lính từ ngoài Bắc vào và tiếp tục khai phá đất hoang, thu phục nhân tài, xây dựng Nghệ An thành một vùng bảo vệ cho phên dậu đất nước khi đó ở phía Nam và sau này trở thành địa bàn chiến lược trong công cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông của quân dân thời nhà Trần. Lịch sử còn ghi công trạng của hai người con Châu Diễn đó là Trạng nguyên Bạch Liêu và Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn đã có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược. Trạng nguyên Bạch Liêu (người làng Thanh Đà xã Tiến Thành - Yên Thành ngày nay)  là một mưu sĩ, nhà chiến lược đã dùng kế sách "tam chung", để tuyển quân, khai khẩn đất hoang từ Đông Thành tới Kỳ Anh, xây dựng các trang trại, kho tàng tích trữ lương thực. Hoàng Tá Thốn vốn người làng Vạn Phần (Diễn Châu) lên ở tại làng Vạn Tràng (gần vùng đất Văn Thành ngày nay) có tài bơi lội có sức khoẻ, võ nghệ hơn người. Ông đã có công trạng lớn trong các trận thủy chiến đánh thắng quân Nguyên Mông và  được vua ban tước "Sát Hải Đại Vương". Năm 1269, vua Trần Thái Tông phong anh ruột mình là Trình Quốc Công đại vương Trần Quốc Khang giữ chức Vọng giang Phiêu kỵ đô thượng tướng quân và cử vào trấn giữ Diễn Châu. Trần Quốc Khang đã tiếp tục chọn Công Trung là nơi có thành cũ của vua Dền làm lỵ sở. Một lần nữa Công Trung lại trở thành trung tâm của vùng Diễn Châu cổ đại. Như thế, đất Công Trung - Kẻ Dền (Văn Thành ngày nay) đã hai lần được chọn làm lỵ sở Hoan Châu (đời Tiền Lê và đời Trần). Những năm sau đó, nhất là từ 1270 trở đi, Trần Quốc Khang đã cho xây dựng phủ đệ ở đây khá to và đẹp, bị chính quyền Trung ương cho là "lộng lẫy quá mức bình thường". Sợ nhà vua nghi ngờ có ý cát cứ vùng này nên ông đã cho đúc chuông đồng, tô tượng Phật để thờ. Trần Quốc Khang đã tuyển các chức quan tại chỗ để giúp ông cai quản vùng đất phía Nam. Trong cuốn Nghệ An chí của Bùi Dương Lịch (trang 109) có chép như sau: "Thân Vương Triều Trần Trần Quốc Khang được coi Diễn Châu, các con thứ của ông là Hữu Nghĩa và Quốc Tĩnh đều do mẹ người Diễn Châu sinh ra. Vì thế chức Tri Phủ ở Diễn Châu đều lấy con cháu Quốc Khang ra làm".

Về các di tích cổ từng tồn tại trên đất Văn Thành trước hết phải nói đến đình, đền, chùa. Trước đây ở Văn Thành có rất nhiều đình, đền, chùa. Cho đến thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp vẫn còn một số ngôi đình nguyên vẹn như Đình Trung, Đình Thượng và đã được chính quyền dùng tạm làm kho lương thực trước khi chuyển ra mặt trận. Có ngôi đền khá lớn Đền Cả. Có ngôi chùa khá nổi tiếng là chùa Thông nơi có nhiều cây thông to, có giếng nước mạch trong mát (khu vực bệnh viện Yên Thành ngày nay), hay chùa Dền tồn tại khá lâu về sau cho đến thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp đã được dùng làm trường học khi nơi đây thuộc vùng tự do Liên khu IV. Về ngành nghề, ngoài nghề nông truyền thống, Văn Thành trước đây còn có cả nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ, dệt vải. Tương truyền đó là những nghề được mang từ ngoài Bắc vào từ thời Vua Dền lấy Công Trung - vùng đất có Văn Thành ngày nay làm lỵ sở. Ngày nay chỉ còn nghề xây dựng là giữ được truyền thống. Thợ xây Văn Thành khá khéo tay và có khi đi rất xa để hành nghề.

Trên đất Văn Thành ngày nay thuộc địa phận xóm Rào vẫn còn một con rào (kênh) hình vuông vốn là con kênh đào bao bọc khu trung tâm lỵ sở Công Trung xưa. Hai đầu con kênh này được nối với dòng sông Dinh là con sông tự nhiên của Văn Thành xưa kia, luôn luôn có nước sâu bảo vệ cho khu Trung tâm. Di tích vệ Nhà Rồng nằm trong khu này. Một thời gian sau khi vương triều Trần không còn thì lỵ sở Công Trung cũng dần tàn lụi theo vì các triều đại tiếp theo không lấy Công Trung là lỵ sở như trước.

Tuy nhiên, qua nhiều năm tồn tại, hình ảnh của một lỵ sở nổi tiếng vùng Hoan Diễn xưa vẫn không hoàn toàn bị quên lãng. Trên mảnh đất Văn Thành một thời nổi tiếng, ngày nay vẫn còn nhiều dấu ấn đậm nét, nhiều câu chuyện kể hào hùng về quá khứ. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, vùng đất cổ Văn Thành nay đã khác xưa. Tuy nhiên, lòng tự hào rất chân chính về truyền thống của cha ông vẫn được lưu truyền trong cộng đồng người dân Văn Thành thời đại mới. Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và trong công cuộc chống Mỹ cứu nước, người dân Văn Thành cùng với nhân dân Nghệ An và cả nước đã không tiếc máu xương vì nền độc lập dân tộc. Văn Thành đã góp cho Tổ quốc nhiều người con ưu tú của mình để đất nước có được ngày hôm nay. Trong công cuộc đổi mới mọi chủ trương của Đảng và Nhà nước đều được người dân Văn Thành phát huy truyền thống có từ xưa ủng hộ tích cực(3). Thế hệ con em của Văn Thành xa quê cũng có nhiều thành tích trong học tập, lao động, và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Tiếp xúc với họ người ta có thể thấy họ rất tự hào về quê hương mình và như luôn được tiếp sức bởi truyền thống quê hương từ những mạch nguồn sâu thẳm.

 

Chú thích

1. Danh sĩ Bùi Dương Lịch đời Lê Mạt (1592 - 1788), hiệu Ốc Lâu, tự Tồn Thành, Tồn Trai, quê ở làng Yên Đông, huyện La Sơn, thuộc châu Hoan, tỉnh Nghệ An, nay là huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng, sau khi đỗ Hương cống, ông được bổ làm Huấn đạo, nhưng không đi làm. Khi Tây Sơn khởi nghĩa ông chạy về kinh sư. Nhà Tây Sơn vời ông ra làm quan, tuy từ chối, nhưng vẫn từng cộng sự với Nguyễn Thiếp về việc dịch sách nơi Sùng Chính Viện do nhà Tây Sơn thiết lập. Về sau, ra làm quan với nhà Nguyễn Phúc, giữ chức đốc học Nghệ An. Tác phẩm: Nghệ An chí, Nghệ An phong thổ chí.

2. Xem: Bùi Dương Lịch: Nghệ An chí, Nxb. Khoa học Xã hội, 1993, tr. 212 - 213.

3. Xem thêm: Lịch sử, địa chí xã Văn Thành, Nxb. Chính trị Hành chính, Hà Nội, 2011.

 

* Hội thảo "Khai thác tiềm năng du lịch Nghệ An"

Sáng ngày 16/5, tại Cửa Lò, UBND tỉnh Nghệ An tổ chức Hội thảo "Khai thác tiềm năng du lịch Nghệ An".

Nghệ An là tỉnh có tiềm năng phát triển du lịch với hơn 2.600 di tích lịch sử, danh thắng; có sự đa dạng về bản sắc văn hóa các dân tộc; tài nguyên thiên nhiên ưu đãi với 82 km bờ biển, có khu dự trữ sinh quyển miền Tây được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thiên nhiên thế giới… Tuy nhiên, du lịch Nghệ An chưa phát triển tương xứng với tiềm năng.

Tại Hội thảo, các đại biểu đã thẳng thắn trao đổi nhiều vấn đề "nóng" về thực trạng phát triển du lịch Nghệ An như: đang đứng trước thách thức về cạnh tranh điểm đến đứng từ góc độ phát triển sản phẩm du lịch, đặc biệt là sản phẩm du lịch đặc thù; chất lượng nhân lực du lịch, công tác xúc tiến quảng bá và liên kết phát triển sản phẩm của Nghệ An còn nhiều hạn chế; dịch vụ du lịch cũng là bài toán khó khi hiện nay, du lịch Nghệ An gần như chưa có dịch vụ ban đêm, khách lưu trú qua đêm không có điểm đến giải trí, khiến nguồn thu từ dịch vụ du lịch hạn chế;...

Tổng kết hội thảo, PGS.TS Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng: Tổng thể trình độ phát triển du lịch Nghệ An hiện tại đang ở đẳng cấp thấp, đơn điệu, ít loại hình du lịch đẳng cấp, hấp dẫn; tính "ăn sẵn" trong hoạt động du lịch cao… Nghệ An cần định hướng phát triển du lịch bằng việc xác định lợi thế - khác biệt của mình. Bên cạnh đó, cần thiết phải có một sân bay quốc tế đúng tầm; một chương trình phát triển du lịch quốc gia; chương trình kết nối du lịch vùng lấy TP. Vinh và quê Bác làm tọa độ trung tâm.

Dịp này, UBND tỉnh Nghệ An đã ký kết Biên bản thỏa thuận hợp tác chiến lược với Công ty CP Du lịch và Tiếp thị GTVT Việt Nam          Vietravel và Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn - Saigontourist, nhằm xúc tiến đầu tư vào các lĩnh vực, các dự án trọng điểm, tạo động lực phát triển, thu hút đầu tư mới và phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.

Linh Nhi

* Hội thảo khoa học: Công nghiệp Nghệ An đến năm 2030

Sáng ngày 17/5, UBND tỉnh Nghệ An phối hợp với Viện Kinh tế Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học: Công nghiệp Nghệ An đến năm 2030.

Phát biểu đề dẫn, PGS.TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng thời gian qua, Nghệ An đạt nhiều chuyển biến trong sản xuất công nghiệp. Đã có một số sản phẩm chủ lực làm xoay chuyển cục diện, tạo diện mạo công nghiệp mới của tỉnh. Tuy nhiên, định hướng công nghiệp chiến lược ở Nghệ An chưa rõ với 3 hạn chế lớn: chưa có công nghiệp công nghệ cao; Chưa có lực lượng chủ lực để phát triển công nghiệp và thu nhập của người lao động Nghệ An quá thấp. Đó cũng chính là nội dung được đưa ra thảo luận tại Hội thảo.

Tham luận tại hội thảo, các ý kiến đều đánh giá cao sự tăng trưởng của công nghiệp Nghệ An trong những năm gần đây, tăng trưởng bình quân gần 13%/năm, chỉ số sản xuất công nghiệp Nghệ An đã để lại nhiều ấn tượng. Tuy nhiên các ý kiến cho rằng: Đối với lĩnh vực công nghiệp cơ khí, điện tử và công nghệ cao Nghệ An cần xác định được ngành công nghiệp ưu tiên và hình thành cụm liên kết ngành, phát triển nguồn nhân lực công nghiệp, xây dựng năng lực công nghiệp và kết nối kinh doanh; Trong công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy - sản tỉnh nên tập trung phát triển một số ngành như: lúa gạo, mía đường, chè, sữa, lâm sản, cây ăn quả, thủy sản; Công nghiệp vật liệu xây dựng mới cần đẩy mạnh thu hút đầu tư, nâng cao năng lực các doanh nghiệp sản xuất, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và nâng cao trình độ công nghệ;...

Kết luận Hội thảo, đồng chí Nguyễn Đắc Vinh trân trọng cảm ơn các ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các diễn giả; đồng thời khẳng định Nghệ An luôn xác định phát triển công nghiệp là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để tỉnh trở thành một trong những trung tâm công nghiệp của khu vực Bắc Trung bộ.

Hồng Bắc

* Nghệ An chú trọng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế tập thể

Sáng ngày 14/5, Ban chỉ đạo đổi mới, phát triển kinh tế tập thể, Hợp tác xã (HTX) Việt Nam đã có buổi làm việc với UBND tỉnh về tình hình thực hiện thông báo số 110 của Văn phòng Chính phủ về xây dựng Nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển HTX tại huyện Nam Đàn; Tình hình phát triển kinh tế hợp tác, HTX và hoạt động của liên minh HTX; thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế HTX.

Tại buổi làm việc Ban Chỉ đạo đổi mới, phát triển kinh tế tập thể, HTX Việt Nam đã đánh giá cao nỗ lực của tỉnh Nghệ An, đặc biệt là việc thực hiện Kết luận số 110 của Văn phòng Chính phủ về xây dựng Nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển HTX tại huyện Nam Đàn.

Đồng tình với các nhóm giải pháp của Nghệ An trong phát triển loại hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã và hoạt động của liên minh hợp tác xã giai đoạn 2015 - 2020, tuy nhiên đại diện liên minh hợp tác xã Việt Nam cũng lưu ý Nghệ An nên chú trọng số lượng và chất lượng hợp tác xã, nhất là gắn với chuỗi giá trị, phát triển đồng bộ tổ hợp tác, liên hiệp hợp tác xã, thị trường tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, tỉnh cũng cần rà soát phân loại hợp tác xã để hỗ trợ theo loại hình một cách chính xác, tránh dàn trải; Có chính sách thu hút, đào tạo nguồn nhân lực quản lý hợp tác xã chất lượng...

Tiếp thu những ý kiến gợi mở của Ban chỉ đạo, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Viết Hồng cho biết: Nghệ An rất quan tâm trong việc xây dựng, nhân rộng các mô hình kinh tế hợp tác xã để nâng cao thu nhập cho các thành viên; cùng với đó đã chỉ đạo Liên minh HTX tỉnh tập trung phát động xây dựng nhân rộng mô hình hợp tác xã điển hình và hợp tác xã kiểu mới; Nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình kinh tế tập thể, quyết tâm đưa khu vực hợp tác xã chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng GDP của tỉnh.

P.V

* Hơn 200 hiện vật quý hiếm về nghề thêu, dệt truyền thống lần đầu ra mắt công chúng

Kỷ niệm 128 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2018) và lễ hội Làng Sen 2018, kỷ niệm 40 năm ngày Quốc tế Bảo tàng (18/5/1978 - 18/5/2018), sáng 16/5, Bảo tàng Nghệ An tổ chức khai mạc trưng bày chuyên đề "Tinh hoa nghề dệt, thêu truyền thống ở Nghệ An".

Hơn 200 hiện vật, hình ảnh, tư liệu gốc, độc bản có giá trị về nội dung và nghệ thuật về nghề thêu, dệt truyền thống lần đầu tiên được công bố và trưng bày tại Bảo tàng Nghệ An thu hút đông đảo người dân tham quan, tìm hiểu.

Các hiện vật, hình ảnh và tư liệu được trình bày theo 3 chủ đề chính: Nghề dệt, thêu trong đời sống của người Kinh ở Nghệ An; Nghề dệt trong đời sống của dân tộc Thái ở Nghệ An; Bảo tồn và phát huy giá trị nghề dệt, thêu truyền thống nhằm giúp cho công chúng có cái nhìn chân thực, khái quát hơn về nghề thêu, dệt thủ công của địa phương.

Ngoài việc trưng bày các hiện vật cổ, buổi triển lãm còn đưa nghề vải thủ công truyền thống và nghệ nhân tới gần hơn cộng đồng những người quan tâm bằng việc trải nghiệm thêu, dệt của người dân tộc Thái và trò chuyện với các nghệ nhân.

Triển lãm mở cửa đến tháng 12/2018.

Linh Nhi

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.