« Quay lại

Chuyên san Khoa học xã hội &nhân văn số 6 năm 2018

Hồng Phú

 

"Trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác báo chí, xem báo chí là một mặt trận quan trọng. Sử dụng báo chí làm công cụ để phê phán tội ác của chủ nghĩa đế quốc và thực dân là một giai đoạn quan trọng trong quá trình nhận thức và tìm đường giải phóng dân tộc. Trong các tác phẩm báo chí của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh luôn thể hiện tinh thần phê phán mạnh mẽ, nghiêm khắc. Đặc biệt là các bài báo Bác viết trong thời gian hoạt động ở Pháp từ 1919 đến 1923".

Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành rời Bến Nhà Rồng, điểm đến mong muốn của ông là nước Pháp - đế quốc đang cai trị Việt Nam (và xứ Đông Dương lúc đó). Sau khi đến Pháp, ông tiếp tục cuộc hành trình đến nhiều quốc gia ở các châu lục khác nhau. Những chuyến đi này đã cho ông cái nhìn khá toàn cảnh về một thế giới khác những gì ông đã biết trước đó và nhận thức sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa nước cai trị và nước bị cai trị. Cuối năm 1917, ông quay lại nước Pháp trong thời điểm mà cuộc đấu tranh của tầng lớp tiến bộ trong Đảng Xã hội Pháp đang lên mạnh mẽ. Ông tham gia Đảng Xã hội Pháp và kết nối liên lạc với nhiều nhà yêu nước Việt Nam đang sinh sống tại Pháp. Sau giai đoạn làm quen dần với phong trào đấu tranh ở Pháp, từ năm 1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, ông bắt đầu xuất hiện nhiều trên báo chí và các diễn đàn hoạt động đòi tự do, độc lập cho các nước thuộc địa. Trong thời gian hoạt động ở Pháp lúc này, Nguyễn Ái Quốc đã viết hàng loạt bài báo phê phán chủ nghĩa đế quốc, phê phán thực dân Pháp và đòi tự do, bình đẳng cho người lao động, đòi quyền độc lập, tự quyết cho các nước thuộc địa. Vậy nên, dù quay lại Pháp từ cuối năm 1917, nhưng hoạt động báo chí của Nguyễn Ái Quốc thực chất bắt đầu từ năm 1919.

Từ bài báo đầu tiên với tựa đề "Vấn đề dân bản xứ"(1) đăng trên Báo L'Humanité ngày 2-8-1919 đến bài báo cuối cùng trước khi ông rời Pháp để sang Nga đăng trên Báo Le Paria số 15, tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc đã có 62 bài viết đăng trên nhiều báo khác nhau. Trong đó, có 23 bài đăng trên Báo L'Humanité, 20 bài đăng trên Báo Le Paria, 10 bài đăng trên Báo La Vie Ouvrière, 3 bài đăng trên La Revue Communiste, 3 bài đăng trên Báo Le Libertaire, 2 bài đăng trên Báo Le Populaire và 1 bài trên Le Juornal du Peuple(2). Thống kê này cho thấy ba tờ báo Nguyễn Ái Quốc viết nhiều nhất là L'Humanité (Báo Nhân đạo), Le Paria (Báo Người cùng khổ) và La Vie Ouvrière (Đời sống thợ thuyền). Trong những bài viết này, dù ở nhiều góc độ khác nhau nhưng mục tiêu chung của các bài viết của Nguyễn Ái Quốc là lên án tội ác của chủ nghĩa đế quốc với các nước thuộc địa nói chung và của đế quốc Pháp với người dân Đông Dương, trong đó đặc biệt là người dân Việt Nam nói riêng. Những bài viết này cũng thể hiện quan điểm về báo chí và hoạt động báo chí của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh từ lúc bước vào hoạt động cho đến xuyên suốt cuộc đời.

Trước hết, Nguyễn Ái Quốc lấy báo chí làm công cụ để đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, lên án chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc thuộc địa, các dân tộc bị áp bức. Chủ nghĩa tư bản phương Tây, như ông phân tích là con rắn nhiều đầu, thấy châu Âu là nơi quá chật hẹp để bóc lột và máu của vô sản châu Âu không đủ dồi dào để thỏa mãn thèm khát, nó bèn vươn những cái vòi khủng khiếp của nó tới khắp nơi của quả đất. Mà sau này, chính ông đã phân tích rõ hơn rằng: Chủ nghĩa tư bản là con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra. Với việc phê phán chủ nghĩa đế quốc, cũng là cách Nguyễn Ái Quốc đặt mình vào cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa, nhân dân lao động trên toàn thế giới chống lại những luận điệu bịp bợm, những tội ác của kẻ thống trị đối với kẻ bị trị. Những bài viết lúc này tập trung đả kích vào sự tàn bạo những kẻ thống trị, lật tẩy sự lưu manh của giới chính trị thực dân và những tên bồi bút đi làm thuê cho chúng. Qua những bài viết Nguyễn Ái Quốc cũng tạo cầu nối để những người cách mạng tiến bộ, người dân lao động ở các nước chính quốc hiểu hơn về bản chất của chủ nghĩa thực dân và hiểu hơn về nỗi khổ của người dân thuộc địa qua đó đoàn kết lại thành một khối.

Phần nhiều các bài viết, Nguyễn Ái Quốc tập trung mạnh mẽ vào việc tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với thuộc địa, đặc biệt là đối với dân An Nam (và cả người dân xứ Đông Dương). Ngay trong bài báo đầu tiên, "Vấn đề dân bản xứ", Nguyễn Ái Quốc đã công kích mạnh mẽ vào chính sách thống trị của thực dân Pháp: "Từ khi bị Pháp chiếm, đất nước chúng tôi hầu như luôn luôn sống lay lắt ngày này qua ngày khác, không hề biết chính quyền muốn dẫn mình đi đến đâu. Chính quyền này khi thì nói về chính sách đồng hóa, khi thì nói về chính sách liên hiệp hoặc gì khác nữa, nhưng thực ra chẳng áp dụng một chính sách nào cả"(3). Ông lột tả rõ đàng sau những diễn ngôn tốt đẹp như khai hóa cho dân bản xứ là hàng loạt những tội ác ghê rợn. Gieo rắc sự kinh hoàng cho dân bản xứ từ tâm lý khinh miệt, sự ngự trị bạo chính, chà đạp lên chân lý. Những phân tích trên báo chí của Nguyễn Ái Quốc đều tấn công vào mục đích thông suốt mấy chục năm đô hộ của thực dân Pháp là "ngoan cố kìm chân người bản xứ trong vòng nô lệ, không cho họ hưởng một chút quyền tự do nào cũng như các quyền khác theo pháp luật"(4). Những bài báo sau đó tiếp tục đi sâu tố cáo các tội ác của Pháp ở Đông Dương, từ việc đối xử với thợ thuyền thậm tệ, bắt thợ đi lính và chết ở các thuộc địa khác, đến việc bóc lột người dân bản xứ, đàn áp dã man các phong trào đấu tranh của người dân. Bắt bớ giam cầm những người không tuân theo mệnh lệnh của giai cấp thống trị mà không cần một luật lệ nào cả. Và "những người tù khốn khổ, ăn không đủ no, áo quần rách rưới, dậy từ sáng sớm cho đến tối mịt, gông đeo cổ, xiềng to xích chân, người nọ xích vào người kia, phải kéo bánh xe lu, chiếc xe lu to tướng mà họ phải lăn trên mặt đường rải đá dày. Bị kiệt sức, họ khó nhọc lê bước dưới mặt trời nóng bỏng. Quan Công sứ đến, cầm một chiếc gậy lớn theo thói quen, và với thói tàn bạo không thể tưởng tượng, y vô cớ lần lượt vung gậy đánh những người khốn khổ đó, mắng chửi họ lười biếng"(5). Không chỉ người thợ thuyền, người nổi dậy mà những người dân thường cũng bị đối xử tàn bạo của cái "công cuộc khai hóa quái đản", biến con người trở thành những động vật và thậm chí còn không bằng động vật. Chính kẻ thống trị đã làm cho "Trên mảnh đất bằng phẳng trước kia là ruộng muối, ba cái xác chết nằm đó: em bé bị lột truồng, thiếu nữ bị mổ bụng, cánh tay trái cứng đờ giơ lên trời vô tình, bàn tay nắm chặt. Còn xác ông cụ già thì, ghê gớm làm sao, cũng trần truồng như thế, nhưng bị thiêu cháy, nên không nhận ra hình thù được nữa, mỡ chảy lênh láng, đã đọng lại và da bụng thì phồng lên, chín vàng, óng ánh, giống như da con lợn quay vậy"(6). Bên cạnh lên án sự tàn bạo của kẻ thống trị, các bài viết của Nguyễn Ái Quốc còn đi vào lột tả sự thâm hiểm, ác độc của thực dân Pháp với những chính sách ngu dân, làm suy thoái nòi giống người bản xứ bằng rượu cồn, thuốc phiện, gái điếm, với những chứng cứ cụ thể qua những số liệu hay những so sánh thú vị như "10 trường học và 1500 đại lý rượu"... Trong sự phê phán mạnh mẽ đó, Nguyễn Ái Quốc vẫn giữ được sự tỉnh táo để nhận định tình hình một cách sâu sắc hơn: "Bị đầu độc cả về tinh thần và thể xác, bị bịt mồm và bị giam hãm, người ta có thể tưởng rằng cái bầy người ấy cứ mãi mãi bị dùng làm đồ để tế cái ông thần tư bản, rằng bầy người đó không sống nữa, không suy nghĩ nữa và là vô dụng trong việc cải tạo xã hội. Không: người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương"(7).

Ngoài phê phán những vấn đề lớn, lên án tội ác của cả hệ thống chủ nghĩa đế quốc nói chung hay thực dân Pháp nói riêng, Nguyễn Ái Quốc còn viết những bài đả kích vào những nhân vật, những sự kiện cụ thể. Từ những kẻ làm chính trị dối trá, lừa bịp dân chúng, những quan cai trị tàn độc hay những kẻ bán nước, chấp nhận làm tay sai cho thế lực cai trị. Bút pháp mà Nguyễn Ái Quốc sử dụng để phê phán các đối tượng khác nhau cũng đa dạng, có lúc là những bài chính luận sắc sảo, mạnh mẽ, có lúc là những vở kịch, những câu chuyện khôi hài mà sâu cay, rồi những bức thư hay những đoạn dịch nhẹ nhàng nhưng đầy giá trị đấu tranh và cả những bài viết mang tính khảo cứu khoa học… Một điều thú vị là tất cả 62 bài viết trên các báo chí trong khoảng 4 năm ở Pháp từ 1919-1923 lại được công bố khá rộng rãi trong khi Nguyễn Ái Quốc là người cách mạng đang sống ngay trên mảnh đất thực dân mà ông phê phán dưới sự theo dõi gay gắt của các mật thám Pháp. Đó là một điều khá ngạc nhiên trong đời sống chính trị ở Pháp lúc bấy giờ. Có thể nói đây là kết quả của các phong trào đấu tranh cho tiến bộ xã hội do một bộ phận cấp tiến trong Đảng Xã hội Pháp lãnh đạo. Một mặt mật thám vẫn theo dõi sát sao các nhà hoạt động cách mạng, đặc biệt là những người dân thuộc địa đang ở nước Pháp, mặt khác họ vẫn giữ một môi trường báo chí tương đối rộng rãi và cấp tiến. Vậy nên những quan điểm phê phán của Nguyễn Ái Quốc vẫn được công bố báo chí rộng rãi trên các tờ báo lớn mà không gặp phải nhiều khó khăn.

Cho đến thời điểm trước khi sang Nga (vào giữa năm 1923) tiếp xúc với các tư tưởng cộng sản, Nguyễn Ái Quốc vẫn là người theo chủ nghĩa yêu nước và đấu tranh cách mạng của ông lúc này vẫn theo phương hướng ôn hòa, lấy báo chí và các diễn đàn xã hội làm chiến trường để tranh đấu. Những bài viết trên báo chí của ông lúc này tập trung vào phê phán thực tại để nhận thức rõ hơn về tình hình thế giới, tình hình ở Pháp và các nước thuộc địa, về mối quan hệ giữa kẻ cai trị và người bị cai trị, giữa những người lao động ở chính quốc và người dân thuộc địa. Từ đó, ông hướng đến làm cho những người bị cai trị nhận thức rõ hơn về bản chất của chủ nghĩa đế quốc, lôi kéo các lực lượng cách mạng, các lực lượng tiến bộ vào phong trào đòi tự do, bình đẳng, bác ái, đòi quyền tự quyết cho các thuộc địa. Sau này, khi tiếp xúc với những người theo chủ nghĩa cộng sản, chịu ảnh hưởng của phong trào quốc tế cộng sản, ông đã lựa chọn con đường đấu tranh cho phong trào cách mạng Việt Nam là con đường tiến lên theo chủ nghĩa cộng sản. Trong quá trình hoạt động, nhất là sau khi giành được chính quyền, Nguyễn Ái Quốc cũng coi trọng việc xây dựng hệ thống báo chí và xem đây là một mặt trận trong quá trình đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc. Ở góc độ nào, thời điểm nào thì những bài viết của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh vẫn luôn thể hiện một tinh thần phê phán đối với cái hạn chế, cái tha hóa, cái xấu xa. Cái mà ngày nay người ta vẫn quen gọi là phản biện xã hội. Người ta nói nhiều đến quan điểm, tư tưởng báo chí của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, nhưng hầu như ít khi nghiêm túc học tập quan điểm phản biện xã hội từ báo chí của Bác. Và nhiều khi còn xem việc phản biện xã hội là một cái gì đó không tốt, đe dọa đến chính quyền, dễ bị các "thế lực thù địch" lợi dụng. Nhưng có một điều rằng, chính Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là người đi tiên phong trong việc sử dụng báo chí để phản biện xã hội, phê phán cái xấu xa, cái tha hóa, cái chậm tiến bộ để mở đường cho những cái tiến bộ, cái tốt đẹp hình thành và phát triển.

Báo chí, có thể coi là mặt trận đầu tiên mà Nguyễn Ái Quốc tham gia trong quá trình đấu tranh tìm đường giải phóng dân tộc. Xuyên suốt cả quá trình ông luôn xem trọng báo chí và đề cao tinh thần phê phán trên báo chí. Báo chí là sự phản ánh thực tại xã hội và người làm báo là những người đi phản ánh bức tranh xã hội hiện tại. Một nền báo chí tiến bộ khi thể hiện được thực tại khách quan của xã hội, và một nhà báo tiến bộ khi phản ánh được chân thực về xã hội. Nói vậy để rõ, báo chí phải phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội chứ không phải cho lợi ích của một bộ phận và càng không phải là đồ trang sức cho một bức tranh xã hội. Đó cũng là một phần quan trọng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về báo chí tiến bộ và đấu tranh bằng báo chí để thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.

Chú thích

(1). Trong những tài liệu sưu tầm được và in lại trong "Hồ Chí Minh toàn tập", Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, thì có một bài viết với nhan đề "Tâm địa thực dân" được Nguyễn Ái Quốc viết để phê phán lại luận điệu xuyên tạc của một nhà báo Pháp là Camilơ Đơvila. Tuy nhiên được chú thích là tài liệu đánh máy được lưu lại bằng tiếng Pháp chưa thấy in trong báo nào. Trong khi bài viết này tập trung vào các bài viết đã đăng trên các báo chí và tạp chí nên những bài là tài liệu đánh máy mà chưa rõ đã đăng ở báo hay tạp chí nào thì tạm thời bỏ qua.

(2). Tính các bài đã đăng tải trên các báo đã sưu tầm và in trong "Hồ Chí Minh toàn tập", Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011.

(3). "Vấn đề dân bản xứ", Báo L'Humanité, ngày 2-8-1919, in trong "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, trang 10.

(4). "Đông Dương và Triều Tiên", Báo Le Populaire, ngày 4-9-1919, in trong "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 1. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, trang 18.

(5). "Tội ác của chủ nghĩa thực dân", Báo La Vie Ouvrière, số 126, ngày 30-9-1921, in trong "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 1. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, trang 64.

(6). "Sự quái đản của công cuộc khai hóa", Báo Le Libertaire, ngày 30-9 đến 7-10-1921, in trong "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 1. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, trang 66.

(7). "Đông Dương", Tạp chí La Revue Communiste, số 14, tháng 4-1921, in trong "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 1. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, trang 40.

 

Đoàn Mạnh Tiến

Chủ tịch Hồ Chí Minh không những là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc mà còn là một nhà báo lớn. Người đã cống hiến cho báo chí cách mạng Việt Nam hàng nghìn bài báo có giá trị. Trong phạm vi một bài nghiên cứu nhỏ, chúng tôi không thể nói hết về sự nghiệp báo chí của Hồ Chí Minh mà chỉ muốn đi vào vấn đề: Một vài đặc điểm chính của ngôn ngữ báo chí Hồ Chí Minh qua đó mỗi nhà báo có thể rút ra được những bài học bổ ích về cách sử dụng ngôn ngữ của Bác Hồ trên báo chí.

Trước khi bàn vào vấn đề này, chúng tôi thấy cần nhắc lại một cách ngắn gọn ý kiến của Hồ Chí Minh về cách viết. Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, trước khi cầm bút, mỗi nhà báo phải tự định hướng cho mình bốn vấn đề sau đây:

Thứ nhất: "Mình viết cho ai đọc?". Với câu hỏi này, Hồ Chí Minh cho rằng mỗi tác giả phải xác định đối tượng mà bài viết hướng tới, phải quan tâm đến đối tượng tiếp nhận bài báo. Theo Người "Đối tượng chủ yếu mà nhà báo hướng tới là công nhân, nông dân, bộ đội, đây là lực lượng quần chúng công - nông - binh đông đảo, là lực lượng quần chúng của Đảng" (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, trang 210).

Thứ hai: "Mình viết để làm gì?". Nghĩa là mỗi tác giả phải xác định được mục đích của bài viết. Theo Bác, viết là để tuyên truyền cách mạng, tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, giáo dục đạo đức, lối sống mới nhằm góp phần rèn luyện nên con người mới của xã hội mới.

Thứ ba: "Mình viết cái gì?". Với câu hỏi này, Người cho rằng nhà báo phải xác định được nội dung bài báo mình sắp viết. Theo Người, các nhà báo phải viết về cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cách mạng xã hội chủ nghĩa, viết về cuộc sống và con người, đó là những nội dung cơ bản mà nhà báo phải lưu tâm.

Thứ tư: "Mình viết như thế nào?". Nghĩa là trước khi cầm bút, mỗi nhà báo phải xác định cách viết của mình: "Viết như thế nào, đó là tùy thuộc vào sở trường, năng lực của mỗi nhà báo nhưng phải nhằm vào cái đích cuối cùng là làm sao cho dân dễ hiểu, chưa xem thì muốn xem, xem rồi thì thấy bổ ích" (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, trang 215).

Đó là quan điểm của Bác Hồ về cách viết báo. Về ngôn ngữ báo chí, Bác có phong cách riêng. Hồ Chí Minh là người hiểu rõ hơn ai hết giá trị và khả năng tiềm tàng của tiếng nói dân tộc, tiếng nói của quần chúng, do đó Người đã khai thác và sử dụng vốn ngôn ngữ của quần chúng một cách triệt để.

Trước hết có thể nói trong các bài báo của mình, các hình thức ngôn ngữ có tính chất dân gian như: Thành ngữ, tục ngữ, ca dao... được Hồ Chí Minh sử dụng một cách tối đa, có hiệu quả lớn đối với người đọc.

Như chúng ta đã biết, thành ngữ, tục ngữ là cách nói ngắn gọn, chứa đựng những nội dung súc tích, kết tinh trí tuệ của quần chúng từ bao đời nay. Chúng đã được Hồ Chí Minh sử dụng một cách sinh động, sáng tạo, khéo léo, phù hợp với nội dung bài báo và hoàn cảnh mà bài báo đề cập đến. Cách dùng của Người rất đa dạng. Có khi Người giữ nguyên thành ngữ, tục ngữ, dùng phù hợp với từng đối tượng, từng vấn đề, tạo được những ngữ cảnh thích hợp. Chẳng hạn, trên Báo Nhân dân ngày 15/12/1961, Người viết: "Bọn Ngô Đình Diệm chẳng những rước voi giày mả tổ, cõng rắn cắn gà nhà mà còn dựa vào đế quốc Mỹ để càn quét, khủng bố, chặt đầu, mổ bụng, moi gan đồng bào ta ở miền Nam, trẻ nó không tha, già nó không từ". Câu văn trên đã tố cáo bộ mặt bán nước của bè lũ Ngô Đình Diệm. Các thành ngữ rước voi giày mả tổ, cõng rắn cắn gà nhà được đặt ra trong hoàn cảnh câu nói làm cho chúng vừa diễn đạt được cách nói của dân gian, vừa có nghĩa đen, vừa có nghĩa bóng, vừa tỏ rõ thái độ của tác giả: lên án, tố cáo bộ mặt thật của bè lũ Ngô Đình Diệm với lòng căm thù, khinh bỉ, mỉa mai cao độ. Cách dùng này được Người sử dụng nhiều như: "Đế quốc Mỹ chết thì chết mà nết không chừa. Bọn chúng như chó dại cắn càn, vừa ăn cướp vừa la làng" (Báo Nhân dân ngày 12/04/1964), hoặc như trên Báo Nhân dân ngày 05/03/1965, Người viết: "Chữ ký chưa ráo mực thì đế quốc Mỹ đã tìm mọi cách phá hoại Hiệp định Giơnevơ".

Trong nhiều bài báo, các thành ngữ, tục ngữ đã được Người dùng nguyên vẹn, ta gặp rất nhiều như: Vơ đũa cả nắm, lửa thử vàng gian nan thử sức, giả câm giả điếc, vỏ quýt dày có móng tay nhọn,...

Có khi Người không dùng nguyên vẹn thành ngữ, tục ngữ mà lược bỏ một vế nào đó, chỉ giữ lại vế liên quan trực tiếp đến nội dung bài báo của mình. Như trên Báo Nhân dân ngày 01/04/1964, Người viết: "Ở nước Mỹ có chuyện lạ kỳ: kẻ giàu thì rất giàu, người nghèo thì rất nghèo. Thật là kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra". Cần chú ý rằng trong bản gốc thì có hai câu:

Trời sao trời ở bất cân

Kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra

Ở bài báo trên, Người đã bỏ câu lục, chỉ giữ lại câu bát, làm cho nghĩa câu bát gắn cụ thể hơn với trường hợp mình đang diễn đạt.

Ngoài việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ, trong nhiều bài báo, thỉnh thoảng Người lại chen ca dao vào tạo nên sắc thái mới cho sự diễn đạt. Chẳng hạn, ca dao xưa có câu:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng

Khi đem vào bài báo của mình, Người đã lồng được vào hai câu ca dao ấy một nội dung mới có tính chất cách mạng như trong bức thư gửi binh lính ngụy quyền ngày 15/01/1951, Người khuyên lính ngụy hãy quay về với dân tộc:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Con Hồng cháu Lạc phải thương nhau cùng

Xin được lấy thêm ví dụ khác. Ca dao ta có câu:

Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

Hai câu ca dao đó nói lên sức mạnh của tinh thần đoàn kết, nhưng dù sao con số "Ba" cũng chỉ có tính chất ước lệ, ám chỉ số nhiều. Đến khi đưa vào bài báo kêu gọi nông dân tham gia hợp tác xã nông nghiệp, Hồ Chí Minh đã thay chữ "Ba" thành chữ "Nhiều" để càng nhấn mạnh thêm sức mạnh của việc vào hợp tác xã, đồng tâm hiệp lực tăng năng suất trong nông nghiệp, trong xây dựng nông thôn mới:

Một cây làm chẳng nên non

Nhiều cây chụm lại nên hòn núi cao

Như vậy, Người đã sử dụng ca dao vào các bài báo của mình một cách sáng tạo.

Một đặc điểm đáng chú ý nữa là trong các bài báo, Hồ Chí Minh hay sử dụng việc lẩy Kiều (còn gọi là tập Kiều), lấy cách diễn đạt trong Truyện Kiều của Nguyễn Du để diễn đạt ý mình. Người đưa câu Kiều vào bài báo của mình nhưng thêm vào đó nội dung mới, quan điểm mới. Chẳng hạn như trong lời tạm biệt đồng bào Việt Nam trước khi đi thăm các nước Ấn Độ, Miến Điện, Người đã viết hai câu Kiều:

Tiễn đưa thì nhớ hôm nay

Mừng về thì nhớ ngày này tuần sau

Nguyên văn hai câu Kiều là:

Chén đưa nhớ buổi hôm nay

Chén mừng xin đợi bữa này hôm sau

Hoặc trong bài diễn văn đón tiếp Tổng thống nước Ghi-nê là Xê-cu-tu-rê, sau khi nhắc lại kỷ niệm hồi tuổi trẻ đã gặp nhau, Người viết hai câu có dáng dấp Truyện Kiều:

Đến bây giờ mới thấy đây

Mà lòng đã chắc những ngày thanh niên

Nguyên văn hai câu Kiều là:

Đến bây giờ mới thấy đây

Mà lòng đã chắc những ngày một hai

Việc sử dụng tập Kiều của Người là rất linh hoạt, có cải biên sáng tạo cho phù hợp với nội dung cách mạng mà bài báo đang đề cập. Rõ ràng ít khi Người sử dụng nguyên văn câu thơ Truyện Kiều mà cải biến nó. Một ví dụ khác. Truyện Kiều có câu:

Thương nhau xin nhớ lời nhau

Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy

Người đã cải biến hai câu trên trong bài vận động quần chúng tham gia Mặt trận Việt Minh cứu nước:

Yêu nhau xin nhớ lời nhau

Việt Minh hội ấy mau mau tìm vào

Rõ ràng hai câu thơ sau tuy có dáng dấp câu Kiều nhưng nội dung đã được đổi mới, được cách mạng hóa. Có những câu Kiều được Người cải biến theo yêu cầu riêng của từng bài. Chẳng hạn tại kỳ họp Quốc hội khóa II, Người đã phân tích tình hình khó khăn trong những ngày đầu khi Quốc hội mới thành lập 15 năm trước, Người so sánh với tình hình tươi sáng lúc khóa II đang họp. Người viết: "So sánh bản đồ thế giới ngày nay với 15 năm trước thì ta cũng thấy rõ ràng:

Phe địch xuống dốc, phe ta lên cao

Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình"

Câu "Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình" vốn là của Truyện Kiều, nhưng ở đây, Người đã vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể để diễn đạt niềm phấn khởi của Người, của các vị đại biểu Quốc hội, của nhân dân trước sự trưởng thành nhanh chóng của phe ta, phe cách mạng. Đồng thời, chữ "Tình" cũng được Người lồng vào một nội dung mới: "Tình" ở đây không phải là tình yêu nam nữ như trong Truyện Kiều mà là tình cảm cách mạng, là niềm phấn khởi, tự hào trước sự phát triển của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.

Có khi Người không trình bày câu Kiều thành một dòng riêng mà xen lẫn kết hợp trong bài báo của mình một cách tự nhiên, thoải mái, không gây cảm giác đột ngột cho người đọc, người nghe. Chẳng hạn: "Năm 1946, tôi về thăm đồng bào, cách ít tháng sau thì bắt đầu kháng chiến. Từ lần gặp ấy đến lần gặp này thấm thoắt đã mười lăm năm. Trong "Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình".

Rõ ràng Người đã sử dụng rất linh hoạt cơ động, sáng tạo cách lẩy Kiều vào bài báo của mình để nhằm phục vụ cho nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục quần chúng nhân dân.

Một nét đặc biệt nữa là trong các bài báo của mình, Hồ Chí Minh hay dùng lối ví von so sánh. Ta đã biết quần chúng nhân dân có thói quen hay dùng cách nói cụ thể, dùng lối ví von so sánh. Hồ Chí Minh đã dựa vào thói quen này để đưa vào bài viết của mình. Chẳng hạn trên Báo Nhân dân ngày 15/12/1957, khi vạch trần bộ mặt của tên bán nước Ngô Đình Diệm, Người đã viết: "Ngô Đình Diệm đang điên cuồng như chó dại cắn càn". Việc so sánh này làm cho sự việc được trình bày một cách cụ thể rõ ràng, dễ hiểu.

Ngôn ngữ báo chí Hồ Chí Minh còn là ngôn ngữ được sử dụng phù hợp với từng đối tượng cụ thể (công nhân, nông dân, trí thức, công giáo...). Người viết thư cho tầng lớp nào thì Người dùng cách nói phù hợp với tầng lớp đó, làm cho họ thấy gần gũi, dễ hiểu, phù hợp với mình. Chẳng hạn khi viết thư gửi đồng bào theo đạo Phật, Người đã dùng những chữ họ vốn hay dùng, làm cho họ trở về với những điều họ đã biết, lấy những điều đã biết để hiểu cái mới mà Người muốn nói:

"Đời sống của nhân dân ta dần dần được cải thiện, cũng như tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm... Cuối cùng tôi xin chúc các vị luôn mạnh khỏe, tinh tiến tu hành, phục vụ chúng sinh, phụng sự Tổ quốc, bảo vệ hòa bình".

Cũng cần nói thêm: về mặt ngữ pháp mà xét thì câu văn của Bác thường ngắn, thường là một hai dòng, nhiều lắm là ba bốn dòng. Bác đã từng nói rõ quan điểm của mình như sau: "Nhiều người tưởng mình viết gì, nói gì người khác cũng đều hiểu được cả. Thật ra hoàn toàn không như thế. Dùng cả đoạn chữ Hán, dùng từng đống danh từ lạ, nói hoặc viết theo cách Tây, mỗi câu dài dằng dặc thì quần chúng hiểu sao được". Ta có thể dẫn ra rất nhiều câu ngắn của Người, ví dụ: "Chúng ta sáng tạo. Chúng ta xây dựng. Chúng ta tiến lên".

Nhiều khi Người đặt nhiều thành phần cùng chức năng ngữ pháp song song với nhau làm cho cách trình bày vừa sáng rõ, vừa tinh tế, vừa chính xác, vừa có tính chất nhấn mạnh. Chẳng hạn như khi Người nói về cụ Huỳnh Thúc Kháng: "Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan", hoặc "Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan".

Trên đây, chúng tôi đã nêu ra những đặc điểm chính trong ngôn ngữ báo chí của Bác Hồ. Có thể nói trong khi viết báo, Bác luôn luôn có ý thức dùng cách nói của quần chúng nhân dân. Đó là một trong những nét đặc sắc trong phong cách ngôn ngữ báo chí của Người, đó cũng là những ưu điểm lớn mà mỗi nhà báo chúng ta cần học 

Th.S Nguyễn Quốc Hồng

Ngày 11 tháng 4 năm 2007, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An ban hành Quyết định số 32/2007/QĐ-UBND về việc thành lập Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An (KHXH&NV) với chức năng: Tổ chức nghiên cứu vấn đề về khoa học xã hội và nhân văn ở Nghệ An nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc lập quy hoạch, kế hoạch, cơ chế chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tổ chức tư vấn và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về KHXH&NV, tham gia phát triển tiềm lực khoa học xã hội của tỉnh.

Sau khi thành lập, Trung tâm KHXH&NV gặp rất nhiều khó khăn về nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ nghiên cứu, cơ sở vật chất và những điều kiện hoạt động khác. Để thực hiện được chức năng và nhiệm vụ của UBND tỉnh đặt ra và vượt qua những khó khăn ban đầu, Tiến sĩ Trần Xuân Bí - Giám đốc Sở Khoa học & Công nghệ Nghệ An thời bấy giờ và lãnh đạo Trung tâm thảo luận đưa ra ý tưởng cần có một sản phẩm dưới dạng tạp chí khoa học để kết nối các nhà khoa học trong lĩnh vực KHXH&NV trao đổi những kinh nghiệm trong nghiên cứu, công bố các công trình nghiên cứu về Nghệ An tham gia nghiên cứu các lĩnh vực KHXH&NV nhằm giúp đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Trung tâm trong những ngày đầu mới ra đời.

Sau hơn một năm trăn trở chuẩn bị, tháng 6 năm 2018, Chuyên san KHXH&NV ra đời với mục đích: "Chuyên san KHXH&NV Nghệ An là diễn đàn tập hợp, quy tụ các nhà nghiên cứu khoa học, quản lý trong và ngoài tỉnh cùng chia sẻ kinh nghiệm trong công tác, trao đổi tri thức thuộc các lĩnh vực KHXH&NV; phổ biến, tuyên truyền, chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn về KHXH&NV vào sản xuất và cuộc sống góp phần phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và khoa học - công nghệ tỉnh nhà, đóng góp thiết thực cho sự nghiệp CNH - HĐH quê hương đất nước" (1).

Để có đội ngũ cộng tác viên cho Chuyên san trước mắt cũng như lâu dài, cố PGS. Ninh Viết Giao và Thạc sỹ Nguyễn Quốc Hồng - Giám đốc Trung tâm đã ra Hà Nội gặp GS. NGND Nguyễn Đình Chú tổ chức gặp gỡ các nhà khoa học trong lĩnh vực KHXH&NV, trước hết là người Nghệ đang sống và làm việc tại Hà Nội cộng tác viết bài cho Chuyên san. Kết quả rất thành công, đã có 20 nhà nghiên cứu, chuyên gia đến dự và hứa sẽ giúp đỡ, cộng tác với Trung tâm, với Chuyên san, trong đó có những nhà khoa học lớn như GS.Viện sĩ Nguyễn Cảnh Toàn; GS. Nguyễn Huệ Chi; GS.NGND Nguyễn Đình Chú; GS.TS Đỗ Quang Hưng; GS. Phong Lê; Nhà nghiên cứu Dương Trung Quốc; Nhà văn Võ Văn Trực….

Sau thành công cuộc gặp mặt tại Hà Nội, Ban biên tập tổ chức cuộc gặp tại thành phố Vinh, những nhà nghiên cứu về xứ Nghệ đã nhận lời mời của Ban biên tập cộng tác viết bài cho Chuyên san như: Đào Tam Tỉnh, Hoan Châu, Ninh Viết Giao, Quán Vi Miên, Bùi Văn Chất, Hồ Sỹ Hùy, Đào Khang, Đậu Kỷ Luật, Thái Kim Đỉnh, Phạm Quang Ái,...

Để có một ấn phẩm đảm bảo cả hình thức và nội dung trong điều kiện đội ngũ cán bộ của Trung tâm hầu hết là trẻ, mới tốt nghiệp các trường đại học, chưa có ai biết làm báo, Giám đốc Trung tâm đã mời Đại tá Nguyễn Khắc Thuần giúp cùng với giám đốc lên maket trình bày, chọn bài, đặt các chuyên mục cho ấn phẩm.

Chuyên san KHXH&NV: Hình thức và nội dung

Hình thức

Năm 2008 xuất bản 6 tháng một số, số 1 trình làng vào tháng 6 năm 2008. Năm 2009, 1 quý xuất bản 1 số, năm 2010 và 2011 xuất bản 2 tháng 1 số, năm 2012 tăng lên 9 số, từ năm 2013 đến nay xuất bản 1 tháng 1 số. Tính đến tháng 6 năm 2018, Chuyên san xuất bản 93 số. Ngoài 2 trang bìa, mỗi số có 68 trang, in 1000 bản được phát hành rộng rãi trên cả nước. Tòa soạn đầu tiên ở 75 Nguyễn Thị Minh Khai, đến năm 2012 chuyển về 126 Lý Tự Trọng - TP Vinh. Ngoài địa chỉ trên, Tòa soạn có 2 văn phòng đại diện ở thành phố Hà Nội.

Nội dung

Chuyên san có các chuyên mục: Sự kiện và vấn đề; KHXHNV & đời sống; KHXHNV với học đường; Diễn đàn KHXH & NV; Đất và người Nghệ An; Thông tin tư liệu và Tin KHXH&NV. Ngay từ số đầu tiên đến số 93, đánh dấu 10 năm ra đời của Chuyên san KHXH&NV, tòa soạn đã nhận được sự cộng tác nhiệt tình và trách nhiệm của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong và ngoài tỉnh đối với Chuyên san trên tất cả các lĩnh vực thuộc KHXH&NV xứ Nghệ từ lĩnh vực văn hóa, giáo dục, lịch sử, kinh tế, tôn giáo... đều được phản ánh trong từng số.

Nhiều chủ đề, chuyên mục các nhà khoa học, chuyên gia đã dày công nghiên cứu, tổng kết làm sáng tỏ thêm những vấn đề về văn hóa, con người xứ Nghệ xưa và nay.

Cụm bài về văn hóa làng của tác giả Ninh Viết Giao: Giếng làng, Ruộng làng, Âm thanh làng xã, Cây đa làng, Điếm canh, Bãi chăn thả... không chỉ khắc họa về tính cách, văn hóa làng xã cổ truyền của xứ Nghệ mà còn khơi dậy những ký ức về đời sống, sinh hoạt của người dân xứ Nghệ trong quá khứ đối với bạn đọc. Rồi đến các bài viết của tác giả như: Tìm hiểu lễ hội mùa xuân ở Nghệ An của Vũ Ngọc Khánh; Làng quê xưa đón Tết và một số lệ tục đầu năm của Lê Tài Hòe; Văn hóa làng, nông thôn Nghệ An qua các thời kỳ của Đào Khang; Một số tên đất mang dấu ấn văn hóa ở huyện Diễn Châu của Mạc Thực; Sắc thái văn hóa và hương ước làng Quỳnh của Phan Hữu Thỉnh.

 Lĩnh vực văn hóa các dân tộc ít người ở Nghệ An được khắc họa một cách sinh động bởi các nhà nghiên cứu như Quán Vi Miên với các bài: Đền 9 gian qua tư liệu cổ; Lễ hội cầu mưa của người Thái; Lễ hội đền Choọng và những vấn đề đặt ra; Trò chơi dân gian của trẻ em Thái Nghệ An,... Nhà nghiên cứu Đậu Kỷ Luật đã có một loạt bài viết về sắc màu văn hóa của đồng bào dân tộc ở Nghệ An: Vài nét về lễ hội đầu xuân của người Thổ; Múa Khèn "đặc sản" của dân tộc Mông; Mùa xuân của người Mường; Nghệ thuật và thẩm mỹ trang phục phụ nữ người Mông; Một số phong tục tập quán của người Tày Poọng ở Tương Dương - Nghệ An của Kiều Nga; Luật tục dựng vợ gả chồng của người Thái của Võ Anh Tuấn;... Và nhiều tác giả khác đã cung cấp các bài nghiên cứu về phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc ít người ở Nghệ An.

Về lĩnh vực lịch sử, Chuyên san đã đăng tải nhiều bài nghiên cứu của các nhà khoa học với hàm lượng khoa học và giá trị thực tiễn cao như: Nguyễn Hữu Chỉnh - Một nhân vật lịch sử đặc biệt thời Tây Sơn (1771 - 1801); Hoàng Kế Viêm - Vị phò mã kiên trì chống Pháp của triều Nguyễn của Hoàng Văn Lân; Vai trò của Nguyễn Xí với việc hình thành các làng xã của Nghệ An trong thế kỷ XV của Hoàng Anh Tài; Khởi nghĩa Mai Thúc Loan của Phan Huy Lê; Thành Sơn phòng Hà Tĩnh của Thái Kim Đỉnh và nhiều tác giả khác. Nhiều bài nghiên cứu của các tác giả đã làm sáng tỏ thêm tính cách của người Nghệ xưa và nay như: Con người Nghệ An của Ninh Viết Giao; Người xứ Nghệ nhìn từ lịch sử và trước yêu cầu của lịch sử của Phong Lê; Tính cách Nghệ và lao động người Nghệ An trong cơ chế thị trường của Nguyễn Văn Thâm; Người Nghệ khí khái, hào mại của Nguyễn Trung Hiền; Hằng số tính cách người xứ Nghệ trong bối cảnh đất nước hội nhập của Phạm Xuân Hoàng,...

Lịch sử kinh tế có các bài viết của các tác giả Trần Đình Thiên: Ba định hình cho tương lai Nghệ An, xây dựng chiến lược thu hút đầu tư phát triển kinh tế xã hội; Nghệ An trong hội nhập kinh tế quốc tế; Đặt miền Tây Nghệ An trong tọa độ nào để phát triển; Nguyễn Đăng Bằng có những bài phân tích sâu về kinh tế Nghệ An trong đổi mới: Kinh tế Nghệ An trong năm 2013 - Thực trạng và khuyến nghị,...

Lĩnh vực KHXH&NV có những bài viết: Để tiềm lực KHXH&NV thành động lực thúc đẩy và phát triển kinh tế - xã hội phát triển của Trương Công Anh; Tìm đường cho KHXH&NV đi vào cuộc sống của Phạm Xuân Cần; KHXH&NV với/ cho nền giáo dục hiện thời của đất nước của Nguyễn Đình Chú; KHXH&NV hướng tới nghiên cứu những vấn đề thực tiễn của Nguyễn Quốc Hồng; Về phương pháp nghiên cứu KHXH&NV xứ Nghệ của Lê Văn Tùng,... Và nhiều bài viết về ngôn ngữ, giáo dục, tôn giáo, văn học, danh nhân xứ Nghệ...

Chuyên san KHXH&NV vừa mang tính học thuật vừa gắn với những vấn đề thực tiễn cần được bàn luận và giải đáp; Do vậy, ngoài các bài viết của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trao đổi trên Chuyên san, Chuyên mục bàn tròn đã làm phong phú thêm nội dung của Chuyên san trong những năm qua. Nhiều vấn đề mới đặt ra trong thực tiễn như: Khi một số doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai từ chối không tiếp nhận lao động Nghệ An, Chuyên mục bàn tròn: Vì sao lao động Nghệ An bị từ chối? Các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, các nhà hoạt động xã hội được mời đến tham gia mổ xẻ nhiều vấn đề, tìm nguyên nhân, từ đó đưa ra các khuyến cáo cho những người lao động Nghệ An và trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành đối với người lao động.

Tháng 5 năm 2014, Trung Quốc ngang ngược hạ đặt giàn khoan HD 981 trên vùng biển Việt Nam, Chuyên san mở bàn tròn: Chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng bất khả xâm phạm. Khi Bộ Giáo dục & Đào tạo triển khai chương trình tích hợp các môn học, trong đó tích hợp môn Lịch sử với Giáo dục công dân, Quốc phòng an ninh thành môn học Công dân với Tổ quốc. Việc tích hợp có nhiều ý kiến trên các góc độ khác nhau. Để có tiếng nói chính thức trong lĩnh vực này, bàn tròn: Tích hợp môn Lịch sử - Nên hay không? Để lấy ý kiến của các nhà nghiên cứu, giảng dạy lịch sử và các em học sinh, các đối tượng hoạt động xã hội tổng hợp phản ánh với Bộ Giáo dục & Đào tạo về chủ trương tích hợp các môn học, và nhiều bàn tròn khác như: Trí thức với phản biện; Người Nghệ nói tiếng Nghệ,... đã để lại nhiều dấu ấn cho bạn đọc.

Trong 10 năm từ tháng 6 năm 2008 đến tháng 6 năm 2018, Chuyên san đã xuất bản 93 số với 1.738 bài viết và công bố kết quả nghiên cứu các công trình KHXH&NV, với nhiều nội dung đề cập hầu hết các lĩnh vực KHXH&NV Nghệ An từ văn hóa, con người, lịch sử, giáo dục, kinh tế, dân tộc… Để có được những kết quả đó, Chuyên san đã xây dựng  đội ngũ cộng tác viên đông đảo lên đến  hàng trăm người gồm các giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu, các chuyên gia đầu ngành KHXH&NV trong cả nước và các nhà nghiên cứu, chuyên gia sống, làm việc trên địa bàn tỉnh. Đội ngũ cộng tác viên trước hết đến với Chuyên san, hợp tác với Chuyên san, Chuyên san đã trở thành nơi hội tụ của các cộng tác viên, để rồi những bài viết, những công trình nghiên cứu về Nghệ An lan tỏa đi cả nước. Từ sự hội tụ và lan tỏa ấy, Chuyên san kết nối các nhà khoa học, các chuyên gia đến với Trung tâm KHXH&NV thông qua công trình nghiên cứu vừa có giá trị khoa học vừa có giá trị thực tiễn, vừa góp phần bảo tồn, tư liệu hóa văn hóa phi vật thể của Nghệ An trong thời kỳ hội nhập và phát triển. Đó là Dự án: Nghệ An toàn chí gồm 22 tập (đã xuất bản 12 tập) do PGS. Ninh Viết Giao chủ trì; Địa chí TP. Vinh do Th.S Nguyễn Quốc Hồng chủ biên,… Các đề tài khoa học: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 - 2020 và tầm nhìn đến 2030 do Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng chủ nhiệm; Huy động nguồn lực người xứ Nghệ trong và ngoài nước đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An do PGS.TS Trần Đình Thiên chủ nhiệm và nhiều hoạt động khác của Trung tâm được cộng tác viên của Chuyên san tham gia như các đề tài khoa học cấp tỉnh, các cuộc hội thảo khoa học, điều tra xã hội học, phản biện xã hội,...

Mười năm trôi qua, với hình thức trang nhã, với nội dung mang nhiều giá trị về học thuật, Chuyên san KHXH&NV Nghệ An là một trong những thành quả to lớn của Trung tâm KHXH&NV. Thành quả đó trước hết là sự xây dựng, kết nối đội ngũ cộng tác viên cho Chuyên san, là sự kết nối các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu về với Nghệ An, nghiên cứu về Nghệ An với sự tâm huyết, trách nhiệm để cho Chuyên san, cho Trung tâm đứng vững, phát triển trên con đường nghiên cứu KHXH&NV trong mười năm qua và thời gian tới.

 

Chú thích

(1). Lời giới thiệu số 1 -  tháng 6/ 2008 Chuyên san KHXH&NV Nghệ An.

 

GS. Phong Lê - Nguyên Viện trưởng Viện Văn học - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam:

Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An là địa chỉ đáng tin cậy

 

Trong nhiều địa chỉ báo và chí ở Hà Nội, và trong cả nước, thì Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An (thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An) là địa chỉ tôi tin cậy; trong nhiều năm đều thường xuyên có bài được đăng; trong đó có những bài tôi rất tâm huyết, nó là kết quả của những suy ngẫm khá lâu, hoặc là được rút ra từ những đề tài quan trọng tôi được mời tham gia ở nhiều cơ quan chuyên môn ở Hà Nội. Riêng năm 2016, chỉ trong 6 tháng đầu năm tôi đã được Tòa soạn "ưu ái" đăng 3 bài, trong đó có bài gần như tôi viết riêng cho báo - đó là bài Người xứ Nghệ nhìn từ lịch sử và trước yêu cầu mới của lịch sử (số 3).

Cho đến bây giờ, và vào bất cứ lúc nào tôi cũng đều dành một số bài như thế cho Khoa học xã hội & nhân văn Nghệ An, mà trong hình dung của tôi, nó là chung cho xứ Nghệ, tức gồm cả Hà Tĩnh, quê của tôi, mà không quan tâm đến việc tách hoặc nhập đã diễn ra như thế nào.

Viết cho KHXH&NV Nghệ An, tôi luôn nghĩ đến những ưu thế hoặc lợi thế mà tờ báo có được, so với nhiều tờ khác ở khắp các vùng miền trong cả nước (cố nhiên trừ Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh). Đó là, có một Trung tâm nghiên cứu KHXH&NV làm chỗ dựa, làm điểm tựa, rút từ các công trình hoặc dự án lớn do Trung tâm chủ trì hoặc tổ chức. Là nơi có Đại học Vinh - một trong số các trường Đại học được thành lập rất sớm - từ 1960, chỉ sau Đại học Tổng hợp Hà Nội 4 năm, và có cùng tuổi với Viện Văn học - nơi công tác của tôi. Là nơi, các lực lượng viết có tư cách chuyên gia khá đông đảo, gồm nhiều thành phần, nhiều lứa tuổi, không chỉ ở quê, mà rải khắp cả nước, tôi nghĩ không ai không nặng lòng với quê hương…

Từ những ý tưởng trên, qua thư này, tôi không đặt nặng yêu cầu góp ý, nhận xét về ưu hoặc nhược, cái hay - cái được bên cạnh cái chưa hay - chưa được của tờ Chuyên san, mà là một yêu cầu có thể là cao, hoặc cao hơn bây giờ. Đó là hãy phấn đấu để Chuyên san trở thành một địa chỉ tin cậy trong việc đặt ra và giải quyết các vấn đề thuộc các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học xã hội và nhân văn của đất nước nói chung và xứ Nghệ nói riêng, nơi là đất học nhưng vẫn còn là đất nghèo, với các lý do cơ bản cần được nhìn nhận, phân tích thấu đáo; nơi những người con xứ Nghệ như tôi, không ai không có trong mình niềm tự hào và vinh dự là đồng hương của Nguyễn Du, và Hồ Chí Minh, những Danh nhân mang tầm nhân loại…

Còn riêng tôi, với tôi, cũng như trước đây, và từ nay, trong nỗ lực của mình, tôi hứa sẽ có tiếp những bài mới cho Chuyên san, những bài tôi mong là đọc được .

GS. NGND Nguyễn Đình Chú - Nguyên giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Chuyên san đã phát huy được nội lực của quê hương và tạo được sức hút ngoại lực đáng kể

          Cách đây 10 năm, khi được biết Nghệ An ta thành lập Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn, tôi rất đỗi vui mừng. Vui mừng hơn nữa là Trung tâm lại có Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An là nơi trực tiếp thể hiện thành quả của Trung tâm mà ngay từ đầu tôi được mời cộng tác. Là một người con Nghệ An, tôi tự thấy không được phép thờ ơ trước lời mời gọi này nhưng thú thật ở buổi đầu đã không khỏi có ý nghĩ rằng Nghệ An ta đã có Tạp chí Văn hóa Nghệ An đáng giá như thế với cái ông Tổng biên tập Phan Văn Thắng khá sừng sỏ như thế rồi thì liệu Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An sẽ làm được gì bằng chưa nói là hơn. Nhưng thực tế  đã cho tôi càng ngày càng thấy điều băn khoăn buổi đầu của mình là phi thực tế. Bởi trước mắt tôi đến nay, đây là một Chuyên san được in ấn dày, đẹp, nhuận bút lại khá hơn so nhiều Tạp chí khác. Hẳn là có sự đầu tư của tỉnh mà được như thế. Tất nhiên giá trị chính phải là chất lượng nội dung của Chuyên san. Thì cứ nhìn vào   mục lục bài viết thuộc các chủ điểm: Sự kiện và vấn đề, KHXHNV và đời sống, KHXHNV với học đường, Diễn đàn KHXHNV, Đất và người Nghệ An, Tin KHXH&NV, với những cây bút tên tuổi của bao nhiêu người Nghệ đang sống tại quê hay đã ly quê, có cả người không phải là người Nghệ, người sống ở nước ngoài… trong đó có người nổi danh nhiều, người nổi danh ít, người chưa nổi danh… thì cũng đã hình dung được phần nào nội dung khoa học của Chuyên san. Cũng đã thấy Trung tâm qua Chuyên san với vai trò của tòa soạn đã phát huy được nội lực của quê hương và tạo được sức hút ngoại lực đáng kể, đã tranh thủ được một lực lượng cộng tác viên xa gần không dễ gì có. Chính đây là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của bất cứ Chuyên san hay Tạp chí, hay hội thảo khoa học nào. Mười năm, Chuyên san đã cho người đọc thấy thêm những thành quả mới về Nghệ An học thuộc đủ lãnh vực của cuộc sống Nghệ An: lịch sử, văn hóa, giáo dục, kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, tập quán, lễ hội và quan trọng là con người Nghệ An trong quá khứ và hiện tại. Thêm nữa là nhiều vấn đề trọng yếu, lý thú của đất nước, kể cả phần nào là của thế giới mà người Nghệ An nói riêng, độc giả nói chung cần biết, muốn biết. Nhân dịp kỷ niệm mười năm Chuyên san KHXH&NV Nghệ An ra số báo đầu tiên, tôi hy vọng sẽ có sự nhìn lại cái được đã đành mà còn là cái chưa được của Chuyên san một cách thấu đáo hơn. Riêng tôi, ngoài những gì vừa nói, vẫn muốn trên Chuyên san nên tăng tính chất tranh luận đúng nghĩa với văn hóa tranh luận trong đó lấy sự thuyết phục lẫn nhau làm chính chứ không phải sự thắng thua, trước những vần đề cấp thiết, trước yêu cầu xây dựng phát triển Nghệ An trở thành trung tâm của Bắc miền Trung mà nhà nước đã có chủ trương. Mặt khác, cũng rất cần coi trọng hơn tính ứng dụng của thành quả khoa học xã hội và nhân văn vào cuộc sống của Nghệ An hôm nay.

         Cuối cùng tôi vẫn muốn nói, có thể là chủ quan rằng Tạp chí Văn hóa Nghệ An và Chuyên san KHXH&NV Nghệ An là thuộc hàng đầu trong loại hình Tạp chí văn hóa và Chuyên san khoa học của nhiều tỉnh thành trong đó có thủ đô Hà Nội mà tôi loáng thoáng có biết ít nhiều. Nhiều bạn bè cũng nói với tôi như thế. Xin cảm ơn Chuyên san đã cho tôi thêm một cơ hội để được tự hào thêm về tiềm năng văn hóa của Nghệ An quê ta. Xin kính chúc Chuyên san mạnh bước tiến lên.

                                         

 

PGS.TS. Nguyễn Trọng Xuân - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Tôi tin tưởng vào khả năng phát triển của Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An

Tuy mới cộng tác được khoảng 7 - 8 năm, mặc dù thời gian chưa dài nhưng cũng tạm đủ để tôi cảm nhận được những thành công và suy nghĩ về tương lai của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An nói chung cũng như Chuyên san KHXH&NV nói riêng.

Điều tạo nên sự gần gũi đầu tiên, cũng như gắn bó tôi cho đến bây giờ với Trung tâm là những đồng nghiệp chân thành, nghiêm túc trong công việc, tổ chức các hoạt động nghiên cứu và liên kết các nhà khoa học rất hiệu quả (17 đề tài, 12 nhiệm vụ khoa học, 06 cuộc điều tra xã hội học, 04 đề án tham mưu Sở KH&CN trình UBND tỉnh ban hành chính sách,...); xuất bản nhiều công trình nổi bật về chất lượng và quy mô đồ sộ của công trình cũng là minh chứng về công sức, về khả năng quy tụ, liên kết các cơ quan nghiên cứu, các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà văn hóa, các nhà sử học, nhà quản lý... trong và ngoài tỉnh như "Nghệ An toàn chí", "Lịch sử Nghệ An"…

Chuyên san Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An: Một diễn đàn về KHXH, một nguồn thông tin quý đối với nhiều bạn đọc. Chuyên san đã thu hút, đăng tải được nhiều bài viết có chất lượng, vừa có tính học thuật cao vừa phản ánh kịp thời cuộc sống sinh động của xã hội.

Với tiềm năng và những kinh nghiệm hoạt động thực tiễn trong thời gian qua tôi tin tưởng vào khả năng phát triển của Trung tâm KHXH&NV Nghệ An. Hy vọng trong thời gian tới Trung tâm sẽ trở thành "Viện nghiên cứu KHXH vùng Bắc Trung bộ".

 

 TS. Nguyễn Hoài Nguyên - Trưởng khoa, khoa Sư phạm Ngữ văn - trường Đại học Vinh:

Tự hào là cộng tác viên của Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An

        Quãng thời gian 10 năm (2008 - 2018) chưa phải là dài đối với lịch sử một tờ báo nhưng với Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An, khoảng thời gian ấy được đo đếm bằng các con số, sự kiện và cả những hồi ức, kỷ niệm đáng nhớ. Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn, xuất bản định kỳ đã mười năm; theo thời gian, số sau đẹp hơn, hay hơn số trước. Nhiều người, trong đó có tôi, thích nhất là các bài viết ở hai chuyên mục KHXH&NV với học đườngdiễn đàn KHXH&NV.  Mười năm qua, tôi và nhiều đồng nghiệp Khoa Sư phạm Ngữ văn, Trường Đại học Vinh luôn gắn bó với Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn, lòng đầy tự hào được làm cộng tác viên của Chuyên san, và rất vui mỗi khi tên của mình xuất hiện trong các số Chuyên san.                                                      

         

          Nhà văn Nguyễn Khắc Phê - Nguyên Tổng biên tập Tạp chí "Sông Hương", Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế:

Một kênh thông tin đa dạng và hữu ích

Tôi là người biết đến Chuyên san KHXH&NV Nghệ An khá muộn. Ở Huế, người đóng góp sớm cho Chuyên san là nhà giáo lão thành Nguyễn Thúc Chuyên, tiếc rằng, một số đề tài ông dự định sẽ gửi gắm tiếp cho Chuyên san phải bỏ lỡ, do ông qua đời năm 2012.

Tuy không có điều kiện theo dõi toàn tập Chuyên san 10 năm qua, nhưng với những số Chuyên san có trong tay, tôi rất vui mừng nhận thấy, Chuyên san đã tỏ ra xứng đáng là diễn đàn khá phong phú của Trung tâm KHXH&NV Nghệ An, là một kênh thông tin đa dạng và hữu ích đối với những ai cần nghiên cứu, tìm hiểu về đề tài này. Nếu tôi không nhầm thì nhiều địa phương chưa có tổ chức và chú trọng nghiên cứu về KHXH&NV mà tập trung nguồn lực vào khoa học kỹ thuật, công nghệ… Trong cuộc đua tranh hiện đại hóa và tăng GDP trên toàn cầu hiện nay, việc tập trung cho khoa học kỹ thuật, công nghệ là rất quan trọng, nhưng ở nhiều nơi và ngay trên đất nước ta, đã có không ít bài học chứng tỏ sự xuống cấp về văn hoá, nếp sống, đạo đức, quan hệ giữa con người với con người… do không quan tâm đúng mức đến KHXH&NV. Nghệ An là một vùng đất giàu truyền thống lịch sử văn hoá, lại có lực lượng nghiên cứu KHXH&NV khá hùng hậu, nên chủ trương của tỉnh thành lập Trung tâm và xuất bản Chuyên san cùng nhiều công trình nghiên cứu công phu là rất đúng đắn và cần thiết.

Vấn đề là cần phải có cách tuyên truyền, phổ biến những ấn phẩm đó đến nhiều đối tượng hơn nữa, để những giá trị tinh thần được hun đúc và gìn giữ ở vùng đất xứ Nghệ trở thành nguồn lực hữu ích cho sự nghiệp xây dựng con người và cuộc sống mới hôm nay. Như thế, một mặt khác, các hoạt động của Trung tâm cũng như Chuyên san luôn phải cập nhật những vấn đề "nóng" nẩy sinh trong quá trình phát triển với tinh thần phản biện thẳng thắn, tôn trọng khoa học để Trung tâm và Chuyên san có nhiều đóng góp hơn nữa không chỉ cho Nghệ An trong thời kỳ mới…

                                                            

Đại tá Đậu Kỷ Luật - Nhà nghiên cứu, thành phố Vinh:

Thỏi nam châm và mạt sắt

         

          - Ông ngạc nhiên lắm phải không? Ừ, thì đã hơn 50 năm rồi còn gì, ngoài "bát thập" cả rồi, đời lính như thế này là hạnh phúc rồi. Cũng may là ông bạn có cái tên ngồ ngộ nên bạn bè ít ai quên. Tình cờ đọc bài viết của ông trên Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An thấy mừng quá. Ông viết sắc sảo đấy. Tôi điện vào tòa soạn xin số điện thoại của ông và tôi quả quyết cả nước chỉ có ông bạn tôi có cái tên như thế này.

          Đó là tâm sự của ông bạn già - Minh Phương, hết đánh Pháp, vào đánh Mỹ thì vào Đại học Tổng hợp và cắm chân ở Viện Lịch sử, có viết sách, dịch sách.

Tôi cởi mở: - Các vị "quý tộc" có học hàm học vị cao mà cũng để mắt đến tờ "lá cải" của bọn mình à?".

          - Hữu xạ tự nhiên hương - Minh Phương nói - Ở ngoài này bọn mình cũng được đọc Chuyên san của đất Nghệ. Vấn đề đâu có phải là trung ương hay địa phương, là dài hay ngắn.

          Ông bạn già ngạc nhiên, cái Chuyên san non trẻ thế mà lôi được mấy ông quen biết cộng tác: Nguyễn Đình Chú, Phong Lê, Chương Thâu, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Khắc Phê, Chu Trọng Huyến, Trương Quế Phương, Ninh Viết Giao, Đào Tam Tỉnh, Hồ Sỹ Hùy… và một số cán bộ chuyên ngành ở trường Đại học trong khu vực. Lại cả những cây bút viết về dân tộc thiểu số có triển vọng như: Quán Vi Miên, Sầm Văn Bình…

          Cũng như ông bạn tôi, tôi thấy Chuyên san "làm ăn" được. Bởi vì cái tên tuổi, cái tiền thì không đáng chi mấy. Cái anh viết là bị thôi miên bởi cái tình.

Từ giám đốc đến anh chị em của Trung tâm, các bộ phận dù rất trẻ nhưng khiêm tốn lắng nghe, trao đổi, dễ thân thiện. Hai lần tôi đi viện, hai lần tòa soạn đến thăm, cả gia đình tôi xúc động lắm. Nhuận bút trả cao và kịp thời cũng chỉ là phần nhỏ thôi. Cái quý nhất là biên tập trách nhiệm, người chủ trì có chính kiến, người viết hài lòng. Vả lại ít có tòa soạn nào, cộng tác viên được gửi báo khi ở xa cả khi không có bài đăng báo. Lớp lính già chúng tôi chỉ nhờ Chuyên san để HỌC TẬP VÀ TÌM HIỂU chứ không có tham vọng nghiên cứu to tát gì. Học ở các bài viết, gợi cho mình "tia chớp" và viết - chỉ đóng góp nhỏ nhoi của mình vào sự tích lũy lâu nay của bản thân mà viết lên mong được chỉ giáo. Mỗi tháng cố gắng viết một bài mà mình thích rồi do yêu cầu của tòa soạn, không lo lắng gì cả; vì học tập nên cứ làm tới. Tôi viết về dân tộc thiểu số, tôi yêu thiết tha nên cứ viết.

          Tôi thủy chung với Chuyên san của Trung tâm KHXH&NV không rời xa được, dù rằng sức khỏe tôi yếu nhiều, ra viện là viết ngay, trốn người nhà để viết.

Là mạt sắt, tôi bị thỏi nam châm hút lúc nào không hay, dù tài hèn, sức mọn, phương pháp luận… chẳng có là bao. Xin cám ơn tất cả các bạn.                         

    Ông Nguyễn Tâm Cẩn- Hội viên Hội VNDG Việt Nam:

Một Chuyên san có sức lan tỏa sâu xa

          Đến hôm nay Chuyên san KHXH&NV Nghệ An vừa tròn mười tuổi, là những bạn đọc và cộng tác viên, chúng tôi rất đỗi vui mừng trước sự trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt của Chuyên san. Về hình thức đó là một ấn phẩm đẹp, trang trọng. Về nội dung, đó là một nguồn thông tin phong phú bám sát thực tiễn cách mạng và sự phát triển của tỉnh Nghệ An cũng như cả nước.

      Nhìn một cách tổng quát có thể thấy chỗ mạnh của Chuyên san là đã đăng nhiều bài nghiên cứu giới thiệu các vấn đề KHXH &NV trong lĩnh vực văn hóa bác học. Chúng tôi thấy rất bổ ích khi đọc các bài viết của các giáo sư: Phong Lê, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Cảnh Toàn, Ninh Viết Giao..., các nhà nghiên cứu Trần Minh Siêu, Trương Công Anh, Đào Tam Tĩnh, Phạm Xuân Cần, Nguyễn Khắc Thuần, Doãn Trí Tuệ, Đậu Kỷ Luật... và nhiều người khác.

      Tuy nhiên mặt chưa thật mạnh là các bài viết về văn hóa dân gian chưa được phong phú và đồng đều như văn hóa bác học nhất là từ trước khi cố PGS. Ninh Viết Giao qua đời. Văn hóa dân gian là một nửa của nền văn hóa dân tộc. Đặc biệt ở Nghệ An là nơi có trữ lượng rất giàu có. Trong thời gian tới nên giới thiệu nhiều hơn các bài nghiên cứu về văn học dân gian, về kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc nghệ thuật dân gian... và các nghệ nhân dân gian nổi tiếng của tỉnh nhà. Cũng nên tổ chức một năm vài ba cuộc tranh luận về học thuật trên Chuyên san để thu hút sự chú ý mạnh mẽ của bạn đọc xa gần.

      Cuối cùng vì số lượng phát hành có hạn, hơn nữa trong điều kiện quá nhiều báo viết, báo mạng và tạp chí như hiện nay, để phát huy tối đa tác dụng của Chuyên san, Trung tâm nên nghiên cứu và xác định đối tượng đọc và phục vụ chính của mình để nhiều số Chuyên san đến được đúng địa chỉ người đọc. Ví dụ có những bài viết (thường là các bài nghiên cứu) về một vấn đề gì đó ở một địa phương hay ngành nào đó thì cần ưu tiên gửi đến nơi ấy một số lượng Chuyên san cần thiết.

                                                        

PGS.TS. Nguyễn Công Lý - Trường ĐHKHXH&NV - ĐHQG TP.HCM

Chuyên san đã cho công bố nhiều bài viết có giá trị khoa học và giá trị thực tiễn

Mới đó mà đã mười năm rồi. Thời gian trôi qua nhanh thật, chẳng khác nào như "bóng ngựa trắng vút qua khe cửa sổ" (bạch câu quá khích) như Trang Tử đã nói. Mười năm tồn tại của một Trung tâm nghiên cứu và cũng chừng ấy năm Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An hình thành và lớn mạnh. Quãng thời gian này không phải là ngắn nếu so với vòng đời con người, nhất là so với sự tồn tại và phát triển của một Chuyên san khoa học.

Với tư cách là một bạn đọc, đồng thời là một cộng tác viên của Chuyên san, tôi nghĩ, Nghệ An nói riêng, xứ Nghệ với vùng văn hoá Hồng Lam nói chung là vùng địa linh nhân kiệt. Nơi đây đã sản sinh ra nhiều bậc anh tài với nhiều cống hiến cho quê hương đất nước. Xưa cũng vậy mà nay cũng thế. Những người xứ Nghệ dù sống, làm việc ở đâu, trong hay ngoài nước, nhưng vẫn rất dễ nhận ra, bởi dấu ấn văn hoá xứ Nghệ in đậm nơi con người họ.

Riêng về Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An, theo tôi, nếu so với nhiều tờ báo, tạp chí khác ở trong nước thì đây là một tờ chuyên san của địa phương, có tuổi đời còn trẻ, được quản lý bởi một sở ngành. Tuy Chuyên san đang trong độ tuổi thiếu niên, nhưng lại là một thiếu niên đang dậy thì, có nhiều sức lực, đầy nhiệt huyết và lắm tiềm năng. Mỗi số Chuyên san thường có các chuyên mục sau: Sự kiện và Vấn đề; KHXHNV & Đời sống; KHXH&NV với Học đường; Diễn đàn KHXH&NV; Đất và Người Nghệ An; Thông tin - Tư liệu; Tin KHXH&NV.

Để đáp ứng các chuyên mục trên, Chuyên san đã quy tụ nhiều cây bút, bên cạnh những cây bút chủ lục của Trung tâm, còn có những cây bút vốn là những nhà nghiên cứu, nhà khoa học với những giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ đã và đang công tác tại quê nhà, trong đó nhiều nhất là ở Đại học Vinh. Ngoài ra còn có những cây bút gạo cội, những nhà khoa học đầu ngành vốn xuất thân từ xứ Nghệ, hiện đang làm việc tại nhiều vùng miền của Tổ quốc, mà nhiều nhất là ở Hà Nội. Có thể kể ra đây một số tên tuổi lớn như các giáo sư: Nguyễn Đình Chú, Phong Lê, Nguyễn Huệ Chi… Các vị đã đóng góp nhiều bài vở cho Chuyên san.

Đây lại là tờ Chuyên san của địa phương nên dấu ấn địa phương xứ Nghệ rõ nét qua những bài viết về văn hoá, lịch sử, giáo dục, đất và người xứ Nghệ; về ngôn ngữ và văn hoá các dân tộc ít người ở vùng đất này; giới thiệu các công trình nghiên cứu về XHNV ở Nghệ An đã được nghiệm thu.

Nhìn chung, theo tôi, Chuyên san đã cho công bố nhiều bài viết có giá trị khoa học và giá trị thực tiễn.

Điều mà tôi và có thể các bạn đọc mong muốn là Trung tâm nên đầu tư và phát triển Chuyên san sâu hơn nữa, chất lượng hơn nữa, để từ đó, đăng kí xin chỉ số quốc tế ISSN cho Chuyên san, y như tờ Tạp chí của Sở Khoa học Công nghệ Thừa Thiên - Huế đã có từ nhiều năm nay.

Cuối cùng, kính chúc Chuyên san phát huy những thành tựu đã có để phát triển tốt hơn nữa.

                                                                                                              

Ông Lê Văn Tùng - Nguyên Chủ nhiệm khoa Văn ĐHSP Vinh

Giải phóng năng lực nhân tính để giải phóng tiềm năng

Thường được nghe, đọc về tiềm năng mọi mặt của xứ Nghệ, nhưng ở nhiều lĩnh vực, câu chuyện tiềm năng vẫn đang ở dạng tiềm năng. Riêng lĩnh vực KHXH&NV, mười năm qua, tiềm năng của những "đặc sản" văn hóa, tinh thần… xứ Nghệ xưa và nay đã được khai phá có hiệu quả hiện thực bởi hoạt động của Trung tâm KHXH& NV Nghệ An thông qua Chuyên san KHXH&NV. Tiềm năng ấy được giải phóng bởi sự giải phóng các năng lực nhân tính của người trí thức do chủ trương và cách nhìn đúng đắn, sáng tạo của lãnh đạo tỉnh và ngành.

Mở được con đường giải phóng tiềm năng KHXH&NV, Chuyên san KHXH&NV đã hút được nhiều "hạt cơ bản" trong giới khoa học nước nhà (trong đó có những "hạt" văng ra khỏi xứ Nghệ vì nhiều lý do khác nhau) tham dự vào việc khai thác và cung cấp các giá  trị văn hóa, tinh thần… của xứ Nghệ, của cả nước và của nhân loại cho công chúng.

Qua mười năm ấy, một lực lượng nghiên cứu và quản lý KHXH&NV xứ này đã tiến bước vững vàng. Chúng ta tin tưởng ở họ có thể khắc phục một vài thiếu sót nhỏ trong "tuổi trưởng thành" của Chuyên san và đưa thành quả lớn đã đạt được đến tầm cao hơn trong thời kỳ mới.  

 

Đ/c Huỳnh Thanh Điền

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An

Xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, ngày càng thu hút sự quan tâm của các bộ ngành, địa phương, các trường đại học, đặc biệt là sự hưởng ứng mạnh mẽ của toàn xã hội. Đánh giá cao vai trò, động lực quan trọng của khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định số 2171/QĐ-UBND ngày 24/5/2017 về hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của tỉnh giai đoạn 2017-2020, cùng các giải pháp hỗ trợ, khuyến khích, tạo môi trường, cơ hội thuận lợi để ý tưởng khởi nghiệp của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp nảy mầm và phát triển.

Cuộc thi "Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Nghệ An năm 2018" là một trong những hoạt động quan trọng để hiện thực hóa kế hoạch trên của tỉnh Nghệ An. Năm 2018 lần đầu tiên tổ chức Cuộc thi đã góp phần nâng cao nhận thức, xây dựng tinh thần khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và tạo sự lan tỏa đến đông đảo người dân trên địa bàn tỉnh; Khơi dậy đam mê khởi nghiệp của thế hệ trẻ, từ đó tìm kiếm, chọn lọc, tôn vinh các sản phẩm, dự án khởi nghiệp tiềm năng, tạo điều kiện cho các dự án đó có thêm nhiều cơ hội phát huy vào thực tiễn cuộc sống. Cuộc thi đạt được những kết quả đáng khích lệ, thu hút gần 100 sản phẩm, dự án khởi nghiệp tham gia, từ đó chọn ra được 20 dự án vào vòng chung kết, trong đó có 10 sản phẩm, dự án xuất sắc nhất được trao giải gồm 1 giải Nhất, 2 giải Nhì, 3 giải Ba và 4 giải Khuyến khích với tổng giá trị tiền thưởng là 195 triệu đồng. Đồng thời tuyển chọn 13 dự án, sản phẩm tham dự Cuộc thi khởi nghiệp vùng Bắc Trung bộ, trong đó lựa chọn được 6 dự án tham gia vào vòng chung khảo tổ chức vào ngày 21/6/2018 tại Nghệ An. Các sản phẩm, dự án khởi nghiệp dự thi năm nay được đánh giá là có tính sáng tạo, khả thi cao, có khả năng ứng dụng và thành công cao trong thực tiễn.

Đối tượng tham gia Cuộc thi rất phong phú, thu hút nhiều nhất là các bạn thanh niên, sinh viên, đặc biệt có những tác giả đang rất trẻ, có những tác giả tuổi đã ngoài 60, có người mới chỉ học đến lớp 7, có người khuyết tật, nhưng tinh thần sáng tạo, nhiệt huyết lập nghiệp cũng như khao khát thành công đã vượt lên tất cả, không phân biệt lứa tuổi, học vấn hay nghề nghiệp. Có nhiều dự án khởi nghiệp là sự phát triển từ kết quả các đề tài nghiên cứu khoa học, hay xuất phát từ các sáng chế, sáng tạo KH&CN của bản thân các tác giả.

Thông qua cuộc thi, đã thu hút sự quan tâm, hỗ trợ của xã hội, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đối với các sản phẩm, dự án khởi nghiệp với giá trị tài trợ 500 triệu đồng cho 2 dự án và 8 dự án được ký hợp đồng hợp tác đầu tư, cho vay vốn ưu đãi. Đây là sự khởi đầu, tiền đề quan trọng cho sự phát triển của phong trào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong thời gian tới.

Để khởi nghiệp thực sự là một phong trào sôi nổi và rộng khắp trên địa bàn toàn tỉnh, trong thời gian tới đề nghị:

1. Các cấp ủy đảng, chính quyền, các cơ quan, đơn vị, địa phương trong tỉnh cần có nhận thức đúng đắn về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, trên cơ sở đó phát động và tổ chức phong trào khởi nghiệp sáng tạo trong cơ quan, đơn vị, địa phương mình một cách sâu rộng và thiết thực. Quan tâm phát hiện và tạo mọi điều kiện cho những ý tưởng khởi nghiệp mới, những kinh nghiệm khởi nghiệp hay, có cơ hội được hoàn thiện và ứng dụng trong thực tiễn. Kịp thời động viên, hỗ trợ, biểu dương, nhân rộng, chuyển giao những mô hình khởi nghiệp thành công từ cơ sở.

2. Các nhà quản lý, nhà khoa học, trường đại học, doanh nghiệp, chuyên gia, nhà đầu tư, các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An cần ưu tiên triển khai các hoạt động phù hợp với tình hình thực tế của khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh các hoạt động kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp của tỉnh với khu vực cũng như liên kết vùng; chú trọng công tác truyền thông cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

3. Tỉnh luôn ghi nhận, luôn tin tưởng, mong muốn và kêu gọi các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, đặc biệt là thế hệ trẻ tỉnh nhà với sức trẻ và nhiệt huyết, đam mê của mình, hãy mạnh dạn khởi nghiệp, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới. Tích cực tham gia vào cộng đồng khởi nghiệp để được trau dồi, học hỏi, tìm kiếm cơ hội hợp tác, để ngày càng có nhiều ý tưởng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được triển khai, phát huy hiệu quả trong đời sống.

4. Tỉnh luôn hỗ trợ, đồng hành cùng các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là các bạn trẻ, các bạn học sinh, sinh viên - chủ nhân tương lai của đất nước trên con đường khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

5. Tiếp tục tổ chức cuộc thi trong thời gian tới và đây là môi trường để khai thác, phát huy trí thông minh, tinh thần sáng tạo của con người xứ Nghệ.

Con đường khởi nghiệp chắc chắn là con đường chông gai và không hề dễ dàng, đòi hỏi người khởi nghiệp phải mạnh dạn dấn thân, kiên trì, dám nghĩ, dám làm, có ý chí và không ngừng học hỏi để vươn lên. Nhưng với trí tuệ, tinh thần sáng tạo không ngừng, với tư duy đổi mới và quyết tâm, hy vọng và tin tưởng rằng, khởi đầu từ cuộc thi này, phong trào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh sẽ ngày càng phát triển, đóng góp nhiều hơn nữa trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

 

Khơi nguồn khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở Nghệ An

 

LTS: Mặc dù là lần đầu tiên tổ chức nhưng chỉ sau 4 tháng phát động Cuộc thi "Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo" tỉnh Nghệ An đã thu hút gần 100 sản phẩm, dự án khởi nghiệp tham gia. Hội đồng chấm giải đã lựa chọn ra 20 dự án tham gia vòng chung kết, trong đó 10 dự án xuất sắc nhất được vinh danh, trao giải; Đồng thời tuyển chọn 13 dự án, sản phẩm tham dự Cuộc thi Khởi nghiệp vùng Bắc Trung bộ sẽ được tổ chức vào ngày 21 - 22/6/2018 tại Nghệ An.

Bên lề cuộc thi, Chuyên san KHH&NV có cuộc trao đổi với tác giả các công trình dự thi đạt giải, các nhà đầu tư, thành viên Ban giám khảo. Xin lược đăng gửi đến độc giả.

*    *

*

          Tác giả Hồ Xuân Vinh - Giải Nhất với Công trình "Thiết kế, chế tạo và thương mại dây chuyền công nghệ sản xuất gạch xây, gạch Terrazzo, gạch tự chèn ứng dụng công nghệ ép tĩnh thủy lực và công nghệ mâm xoay":

Xem thách thức là cơ hội trong khởi nghiệp

         

          Phát hiện thấy cơ hội về máy sản xuất gạch tự chèn, gạch xây không nung từ năm 2016, nhóm VIMA đã lên kế hoạch từng bước để hoàn thiện đề án và thương mại hóa sản phẩm. Làm startup rất nhiều khó khăn, rủi ro có thể đánh gục nhà khởi nghiệp bất cứ khi nào. Khó nhất là duy trì được đam mê, kiên trì với mục tiêu, nếu không có đam mê thì sẽ không thấy được niềm vui trong công việc, không cảm nhận được sự phấn khích khi hoàn thiện được một chi tiết máy, không thấy sung sướng khi tìm được lời giải cho một bài toán khó về kỹ thuật, có lẽ nhóm đã bỏ cuộc. Vì đam mê với những sáng chế, sáng tạo, đam mê với việc tạo nên những giải pháp cơ khí thiết thực của cuộc sống nên VIMA có đủ năng lượng, sự tự tin và sức mạnh để theo đuổi đến cùng mục tiêu. 

          Tuy nhiên, VIMA nhận thấy thách thức cũng chính là cơ hội. Vì chưa có tài liệu, chưa có sản phẩm nên đó là một thị trường đại dương cho VIMA khai thác. Vì đi từ đầu nên đó là một cơ hội cho VIMA trưởng thành, làm chủ được công nghệ và dẫn dắt được thị trường. Khi thành công trong sản phẩm này, VIMA có đủ nền tảng về kỹ thuật, công nghệ và kiến thức để có thể phát triển nhiều sản phẩm khác với thời gian nhanh hơn, chi phí tiết kiệm hơn và khả năng thành công về thị trường lớn hơn.

          Việc nhận được sự hỗ trợ, đầu tư của các nhà đầu tư tại Cuộc thi là điều rất quan trọng với nhóm. Với startup thì vốn là sự sống, nguồn vốn sẽ giúp nhà khởi nghiệp có nhiều thuận lợi hơn để phát triển sản phẩm, thương mại hóa hay mở rộng quy mô sản xuất.

          Kế hoạch của VIMA sắp tới là tập trung cải tiến sản phẩm hiện có, đẩy mạnh thương mại hóa sản phẩm, mở rộng sản xuất và phát triển sản phẩm mới. Những giải pháp nào có ích cho cuộc sống, đảm bảo tăng được năng suất lao động và giảm sự vất vả cho người lao động thì VIMA sẽ nghiên cứu để thiết kế và chế tạo.

Tác giả Phan Công Sỹ - Giải Ba với Dự án "Máy cày 3 chức năng (cày, bừa, xới):

Mong muốn của tôi là cùng với nhà đầu tư mang đến cho người nông dân sản phẩm tốt nhất

          Máy cày 3 chức năng (cày, bừa, xới) đã được tôi mày mò lắp ráp, chế tạo hơn một năm nay và được thị trường đón nhận rất tốt. Vì thế, tham gia và đạt giải tại Cuộc thi là niềm vui và vinh dự đối với bản thân tôi, tuy nhiên, đến với cuộc thi tôi mong muốn được giới thiệu sản phẩm rộng rãi hơn, tìm kiếm được nhà đầu tư để hợp tác kinh doanh.

          Việc tìm kiếm nhà đầu tư để cùng chia sẻ là điều quan trọng đối với dự án để mở rộng thị trường, chúng tôi (người nông dân thực thụ) chưa đủ tiềm lực và điều kiện để thực hiện. Hơn nữa, việc đầu tư cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị để hiện đại hóa phục vụ cho sản xuất, đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng.

          Đối với sản phẩm của mình, tôi tin nếu tìm được nhà đầu tư tâm huyết, chúng tôi sẽ thành công bởi sản phẩm có nhiều ưu việt so với các sản phẩm khác: Thứ nhất, là giá thành khá rẻ, rẻ hơn 4-5 lần so với các sản phẩm cùng chức năng, phù hợp với điều kiện của người nông dân; Thứ hai, các chi tiết trên máy được đơn giản hóa, dễ sử dụng, dễ sửa chữa, thay thế; Thứ ba, năng suất làm việc của máy so với các máy khác không thua kém. 

          Chúng tôi là những người nông dân nên hiểu rất rõ sự vất vả, khó khăn của nghề nông, vì thế mong muốn của tôi là cùng với nhà đầu tư mang đến cho người nông dân sản phẩm tốt nhất, giá thành phù hợp nhất để bất kỳ người nông dân nào cũng có thể sử dụng, giảm thiểu sự khó khăn, vất vả của họ.

Ông Phan Quang - Nhà đầu tư (Công ty Cổ phần gạch Xuân Hòa, Nghệ An):

Các tác giả dự án còn nhầm lẫn giữa khởi nghiệp và lập nghiệp

Tại cuộc thi này, Công ty đã lựa chọn 2 dự án để đầu tư đó là công trình Thiết kế, chế tạo và thương mại dây chuyền công nghệ sản xuất gạch xây, gạch Terrazzo, gạch tự chèn ứng dụng công nghệ ép tĩnh thủy lực và công nghệ mâm xoay của tác giả Hồ Xuân Vinh và xây dựng website quảng bá thương hiệu và truyền thông số Cộng đồng doanh nghiệp Nghệ An - Nơi kết nối, chia sẻ và giao thương của mọi doanh nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Linh. Đây là hai dự án vừa phù hợp với lĩnh vực hoạt động, nhu cầu của Công ty, vừa mang tính khả thi cao. 

Sản phẩm về dòng máy ép thủy lực sản xuất ra gạch lát, gạch không nung, đó là những sản phẩm thân thiện với môi trường. Trong xu thế hiện nay, với chủ trương của chính phủ là chuyển đổi từ dòng gạch nung sang gạch không nung, dần dần thay đổi sản phẩm, thay đổi công nghệ, quy trình và đến 2020 sẽ thay thế hoàn toàn, thì đây là dự án đáp ứng yêu cầu của thời đại. Bên cạnh, đây là sản phẩm đã được sản xuất, đã tìm kiếm được thị trường tiêu thụ, và tính ưu việt của sản phẩm khá cao, bởi vì trên một máy nhưng sản xuất ra được nhiều sản phẩm, giảm thiểu được lực lượng lao động. Đó là những ưu thế vượt trội mà Công ty chúng tôi quyết định lựa chọn Dự án để đầu tư.

Tuy nhiên, ngoài các dự án xuất sắc thì hầu hết dự án, chương trình, sản phẩm tham gia Cuộc thi lần này mặc dù phong phú, nhiều ý tưởng khá tốt, tính thực tiễn cao,... nhưng các tác giả còn nhầm lẫn giữa khởi nghiệp và lập nghiệp. Ở đây, chúng ta không phải là làm khoa học, nghiên cứu khoa học mà chúng ta lấy khoa học làm kinh tế. Vì thế, hầu hết các tác giả khi trình bày các dự án của mình mới chỉ giới thiệu, quảng bá mà chưa thể hiện được hiệu quả kinh tế cũng như lợi nhuận mà dự án mang lại để thuyết phục được các nhà đầu tư. Bởi nhà đầu tư bao giờ họ cũng chỉ quan tâm tới lợi nhuận, hiệu quả kinh tế mà không phải là bỏ tiên ra chỉ để làm nghiên cứu khoa học.

          Bà Nguyễn Thị Hoa - Nhà đầu tư (Công ty CP cơ khí và xây dựng Hà Thành):

Cuộc thi là cơ hội để các doanh nghiệp tìm kiếm các ý tưởng, đối tác hợp tác tốt

          Tham dự Cuộc thi này với tư cách nhà đầu tư, đối với tôi là một cơ hội tìm kiếm sự hợp tác sản xuất, kinh doanh. Công ty chuyên về cơ khí nên chúng tôi đặc biệt quan tâm đến các dự án chế tạo, tại Cuộc thi chúng tôi lựa chọn Dự án "Máy cày 3 chức năng" của tác giả Dương Công Sỹ để đầu tư và hợp tác. Đây là loại máy phù hợp với người nông dân, giá thành hợp lý hơn so với máy hàng trăm triệu đồng đang bán trên thị trường. Trong thời gian tới, cùng với tác giả Dự án chúng tôi sẽ mở rộng thị trường, hỗ trợ kỹ thuật chế tạo, đẩy mạnh marketing sản phẩm,... để hoàn thiện sản phẩm và đưa sản phẩm vươn ra thị trường trong và ngoài tỉnh.

          Dây chuyền thiết bị máy móc tạo nên sản phẩm thì gần như công ty đã có sẵn nên dễ dàng trong việc tạo ra sản phẩm. Đầu tiên Công ty hợp tác với dự án trong việc sản xuất máy trên công nghệ của họ, hoặc sản xuất những chi tiết của máy đó. Chúng tôi tin rằng nếu có sự đồng thuận giữa hai bên thì hợp tác sẽ thành công, mang lại lợi ích cho hai bên, đồng thời người nông dân cũng được hưởng lợi.

Ông Trần Vĩnh Quý - Ban giám khảo (Giám đốc Công ty đầu tư và hỗ trợ khởi nghiệp Nghệ An):

Ở Nghệ An, các bạn trẻ nên tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao để xây dựng dự án khởi nghiệp

Từ trước tới nay, Công ty CPĐT&HTKN Nghệ An đã tổ chức nhiều buổi chia sẻ với các bạn trẻ, các bạn sinh viên về kiến thức,  kỹ năng khởi nghiệp; đồng thời mở các lớp đào tạo về cách thiết kế ý tưởng khởi nghiệp, xây dựng quỹ tài chính khởi nghiệp, nghiên cứu thị trường trong khởi nghiệp, khung khổ pháp lý của khởi nghiệp,... với đội ngũ giảng viên ở các trường đại học, cao đẳng trong cả nước. Theo tôi nghĩ, việc trang bị kiến thức về khởi nghiệp cho các bạn trẻ là điều rất cần thiết, các dự án, chương trình khởi nghiệp chất lượng sẽ tốt hơn, gắn với thực tiễn hơn.

Đây là năm đầu tiên tổ chức Cuộc thi "Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo" của tỉnh nên hầu hết các dự án, chương trình mang đến còn mang màu sắc lập nghiệp hơn là khởi nghiệp. Một số công trình có ý tưởng tốt lại na ná với các mô hình đã có ở trong và ngoài nước. Tuy nhiên, một số công trình tính sáng tạo, tính ứng dụng thực tiễn cao như: công trình thiết kế, chế tạo và thương mại dây chuyền công nghệ sản xuất gạch xây, gạch Terrazzo, gạch tự chèn ứng dụng công nghệ ép tĩnh thủy lực và công nghệ mâm xoay của tác giả Hồ Xuân Vinh;  Vận thăng an toàn của tác giả Lê Duy Hoan; Mô hình Hợp tác xã Việt Xanh của tác giả Nguyễn Tuấn Anh và các cộng sự;...

Theo tôi, ở Nghệ An, muốn khởi nghiệp thành công các bạn nên tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp công nghiệp cao, đây được xem là mảnh đất màu mỡ, giàu tiềm năng để khai thác. Tuy nhiên đây là lĩnh vực khá khó, đòi hỏi phải lập thành nhóm khởi nghiệp, phải quy tụ được nhiều người và mỗi người là một chuyên môn khác nhau như: kỹ thuật, nông nghiệp, kinh tế, luật,... Có như thế mới xây dựng được kế hoạch khởi nghiệp hoàn chỉnh.

          Tòa soạn

 

 

Nguyễn Thị Hiền

Các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn (NNNT) có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm định hướng, khuyến khích, hỗ trợ tạo điều kiện cho người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, đưa nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu, cây trồng, vật nuôi góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, thực hiện cơ cấu lại ngành NN&PTNT. Năm 2017 - 2018, Trung tâm KHXH&NV Nghệ An tổ chức điều tra xã hội học:"Khảo sát, đánh giá hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển NNNT trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2013 - 2016".

Nhóm thực hiện tiếp cận 2 nhóm đối tượng chính là nhóm thực hiện chính sách và nhóm thụ hưởng chính sách trên địa bàn 12/21 huyện, thành thị. Với phương pháp triển khai gồm: phân tích tài liệu; phỏng vấn theo bảng hỏi (quy mô mẫu  là 1.090)  và phỏng vấn sâu cán bộ cơ quan quản lý, cơ quan triển khai chính sách ở cấp tỉnh, huyện, xã và phương pháp chuyên gia. Thông tin thu thập được xử lý bằng phần mềm thống kê xã hội học SPSS 20.0.

Nhóm nghiên cứu đã rà soát, tập hợp 37 văn bản quan trọng có liên quan tới chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn (NNNT) trên địa bàn tỉnh. Hệ thống chính sách này được phân thành 4 nhóm: (1) hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản); (2) hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ; (3) hỗ trợ vay vốn, tín dụng; (4) hỗ trợ tổ chức sản xuất và thị trường.

1. Kết quả thực thi và hiệu quả của chính sách

Kết quả khảo sát có 76.6% số doanh nghiệp, 87.5% số HTXNN và 52.3% số nông dân có biết thông tin về các chính sách; đối tượng tiếp cận hạn chế nhất là nông dân. Các đối tượng được thụ hưởng chính sách với mức độ khác nhau theo từng nhóm chính sách.

1.1. Các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp (nông - lâm - thủy sản) đã triển khai với nội dung hỗ trợ chủ yếu là: giống; phân bón, vật tư nông nghiệp; xây dựng phát triển vùng nguyên liệu; chế biến, bảo quản sau thu họach… Có 25.6% số doanh nghiệp, 80.0% số HTXNN (chính sách hỗ trợ trực tiếp cho HTX và hỗ trợ gián tiếp - HTX đứng ra làm mắt xích kết nối với xã viên) và 89.0% số hộ được nhận hỗ trợ. Nông dân là đối tượng được hưởng lợi trực tiếp nhiều nhất từ chính sách này. Từ nguồn hỗ trợ của nhà nước, đã tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển kinh tế, mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất, nông nghiệp đã chuyển theo hướng sản xuất hàng hóa, chú trọng cây con có sản phẩm chất lượng (gắn sản xuất đại trà với sản xuất cây con mũi nhọn).

1.2. Chính sách hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ (KHCN) đã đi vào thực tiễn với các nội dung hỗ trợ như: tập huấn, chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ KHCN; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng; đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu hàng hóa; tham gia hội chợ, xúc tiến, quảng bá thương hiệu; thực hiện dự án đầu tư công nghệ mới, đổi mới công nghệ; xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi xanh sạch; tham quan, học tập các mô hình kinh tế giỏi... Có 48.8% số doanh nghiệp, 75.0% HTXNN và 77.9% số hộ nông dân được hưởng lợi từ chính sách. Trong sản xuất các tổ chức, cá nhân đã áp dụng các tiêu chuẩn theo quy trình đạt chuẩn (HACCP, VietGap, IS0 9000...). Chính sách này đã đưa khoa học kỹ thuật đến cho người dân, từ đó nâng cao được chất lượng sản phẩm; khuyến khích các cá nhân, tổ chức đầu tư đổi mới công nghệ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ KH&CN nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp; đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất nông - lâm - thủy sản có hiệu quả dựa trên ứng dụng tốt tiến bộ KH&CN.

1.3. Chính sách hỗ trợ vay vốn, tín dụng. Trên cơ sở cơ chế chính sách của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh đã triển khai các gói cho vay đầu tư phát triển NNNT. Có 24.1% số doanh nghiệp, 34.5% số HTXNN và 44.3% số hộ có thực hiện vay vốn từ các tổ chức tín dụng chính thức (ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân) được áp dụng các gói vay ưu đãi. Đó là các trường hợp: doanh nghiệp vay đầu tư máy móc thiết bị sản xuất, thực hiện dự án trồng rừng nguyên liệu...; HTX vay mua máy móc sản xuất nông nghiệp, xây dựng nhà xưởng chế biến chè, cải tạo nhà kho...; nông dân vay mua trâu bò hàng hóa, mua máy móc sản xuất nông nghiệp, trồng rừng dự án WB3, nuôi lợn sinh sản, nuôi bò vỗ béo, đóng tàu mới... Nhìn chung, các ngân hàng đã triển khai các gói vay ưu đãi theo đúng chủ trương của Nhà nước, đồng tiền sử dụng đúng mục đích. Thông qua chính sách hỗ trợ vay vốn tín dụng đã phần nào tháo gỡ được khó khăn cho người sản xuất, có thêm nguồn vốn phục vụ sản xuất, từ đó gây dựng được tiềm lực tài chính cho cá nhân, tổ chức.

Chính sách tổ chức sản xuất và thị trường: Với vai trò là nòng cốt trong liên kết sản xuất và tiêu thụ, có 44.7% số doanh nghiệp được khảo sát có hợp đồng với nông dân. Trong đó, dạng hợp đồng cung ứng đầu vào và tiêu thụ nông sản được áp dụng, nổi bật với sản phẩm là cây mía, cây chè và cây lúa. Các doanh nghiệp ký hợp đồng với nông dân qua 2 hình thức: ký trực tiếp với nông dân và qua trung gian (qua HTXNN, qua xóm). Bên cạnh đó, có nhiều mô hình HTX kiểu mới đã trở thành mắt xích quan trọng liên kết với doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi giá trị sản xuất. Có 47.5% số HTXNN có hợp đồng với các doanh nghiệp và 25.0% số HTXNN có hợp đồng với nông dân dưới 3 dạng hợp đồng chính (cung ứng đầu vào và tiêu thụ nông sản, cung ứng đầu vào và không tiêu thụ và hợp đồng tiêu thụ nông sản). Các tác nhân tham gia liên kết sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn được hưởng một số ưu đãi của nhà nước về: đất đai, vay vốn, hỗ trợ kỹ thuật, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng... Có 21.3% số doanh nghiệp, 27.5% số HTXNN và 18.8% số hộ nông dân tham gia liên kết, xây dựng cánh đồng lớn có được sự hỗ trợ từ nhà nước. Với nông dân, ngoài nhận được sự hỗ trợ từ nhà nước còn được các doanh nghiệp liên kết hỗ trợ trực tiếp về: kỹ thuật sản xuất, vay phân bón trả chậm, bao tiêu sản phẩm... Thời gian qua, các mô hình liên kết đã triển khai cho hiệu quả rõ rệt đối với nông dân, các hợp tác xã và doanh nghiệp tham gia. Thông qua hợp đồng sản xuất, người nông dân được tiêu thụ sản phẩm, giá cả ổn định, ít rủi ro, tạo động lực cho các hộ nông dân tổ chức sản xuất theo mô hình trang trại; doanh nghiệp chủ động về nguồn cung sản phẩm nông nghiệp, chất lượng được quản lý, giá cả ổn định…

2. Tồn tại, hạn chế

- Nguồn lực đầu tư để thực hiện các chính sách còn dàn trải, chưa tập trung, định mức thực hiện chưa đủ mạnh để đạt các mục tiêu đề ra. Tính trên tổng thì kinh phí Nhà nước đầu tư là rất lớn song hiệu quả chưa cao, chưa thực sự tạo được động lực để kích thích các cá nhân, tổ chức mạnh dạn đầu tư vào sản xuất. Cụ thể như: Với kinh phí hỗ trợ mua vắc xin tiêm phòng cho gia súc các huyện miền núi khoảng 1-2 tỷ đồng/ năm mới chỉ tổ chức tiêm các loại vắc xin trọng điểm và chỉ đạt tỷ lệ 40-50%, chưa đạt tỷ lệ bảo hộ 80% tổng đàn. Hay kinh phí hỗ trợ cho nông dân mua máy nông nghiệp hàng năm bố trí không đủ (kinh phí thực hiện khoảng 20 tỷ đồng/ năm - thấp so với nhu cầu của nông dân). Tương tự, kinh phí hỗ trợ sau đầu tư đóng mới tàu cá khai thác xa bờ (tàu công suất lớn) cho ngư dân phân bổ khoảng 15-20 tỷ đồng/năm - thực tế con số này gấp nhiều lần. Tính đến tháng 10/2017 vẫn còn thiếu khoảng 29 tỷ đồng hỗ trợ máy nông nghiệp và 37 tỷ đồng hỗ trợ đóng tàu...

- Một số chính sách tuy đã ban hành nhưng khó/ không đi vào cuộc sống (do chưa phù hợp với thực tiễn, nhiều tiêu chí quy định quá cao cũng như thiếu nguồn lực để thực thi), cụ thể như: Nghị định 210/2013/NĐ-CP, số lượng doanh nghiệp nhận được hỗ trợ từ chính sách còn quá ít (toàn tỉnh mới chỉ có 2 doanh nghiệp nhận được hỗ trợ); Quyết định 2261/QĐ-TTg hỗ trợ phát triển hợp tác xã không có nguồn lực thực hiện; thiếu kinh phí cho xây dựng cánh đồng lớn (Nghị quyết số 52/2016/ NQ-HĐND tỉnh); Quyết định 23/2015/QĐ-UBND hỗ trợ đầu tư dự án công nghệ cao vẫn chưa có một doanh nghiệp nào nhận được hỗ trợ...

- Việc tiếp cận thụ hưởng một số chính sách còn khó khăn do hồ sơ thủ tục, quy trình, cơ chế còn rườm rà, phức tạp, chưa linh động trong xử lý tình huống. Cụ thể như: Các HTXNN gặp nhiều khó khăn trong thực hiện hồ sơ thủ tục nhận hỗ trợ thành lập; trong việc tiếp cận vốn vay ưu đãi từ ngân hàng bởi một số quy định của cơ chế tín dụng (tài sản đảm bảo thế chấp; chứng minh năng lực SXKD...). Một số chính sách mức hỗ trợ thấp nhưng hồ sơ thủ tục còn rườm rà: thủ tục hỗ trợ thiên tai (diện tích trồng lúa, hoa màu của rất nhiều hộ dân chỉ có 3- 5 sào, mức hỗ trợ thiệt hại ít trong khi các đơn từ, xác nhận, kiểm kê, biên bản... quá nhiều); thủ tục phối tinh cho lợn nái (một liều tinh hỗ trợ 2.000 đồng mà phải có 2 loại đơn từ: đơn đề nghị của dân, đơn xác nhận của xã). Hay thủ tục đầu tư xây dựng lò giết mổ gia súc, gia cầm tập trung, cá nhân, tổ chức phải qua hàng loạt đơn vị từ cấp xã tới tỉnh khiến nhà đầu tư không mặn mà.

- Thiếu chính sách đủ mạnh, có tính đột phá trong sản xuất nông nghiệp. Chính sách hiện tại đa số tập trung vào khâu đầu vào nhưng chưa tập trung vào đầu ra, tiêu thụ sản phẩm, chất lượng và thương hiệu. Vấn đề đầu ra cho nông sản sau thu hoạch của hộ nông dân, HTXNN vẫn là bài toán khó. Chính sách liên kết sản xuất và tiêu thụ có nhưng khó thực hiện do cơ chế quản lý thiếu chặt chẽ, quyền lợi của các bên tham gia chưa hài hòa... Ngay cả chính sách liên kết sản xuất và tiêu thụ vẫn hỗ trợ đầu vào (giống, vật tư, phân bón, kỹ thuật sản xuất). Tỷ lệ doanh nghiệp, HTXNN và nông dân nhận được hỗ trợ từ chính sách này là thấp nhất (chỉ có 21.3% số DN, 27.5% số HTXNN và 18.8% nông dân được hỗ trợ; so sánh với chính sách hỗ trợ phát triển KHCN tỷ lệ này là: 48.8% - 75.0% - 77.9% và chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp là: 25.6% - 80.0% - 89.0%...).

- Cách tiếp cận xây dựng chính sách vẫn chưa theo kịp xu hướng phát triển: lâu nay vẫn nặng hỗ trợ trực tiếp cho nông dân (xem nông dân là đối tượng chính), trong khi đối tượng doanh nghiệp, hợp tác xã chưa được quan tâm đúng mức. Việc hỗ trợ trực tiếp cho nông dân cũng vô tình làm cho thời gian dành cho việc giải quyết thủ tục kéo dài...

- Tính kết nối giữa các chính sách chưa cao (giữa chính sách chính thức với các chính sách khác). Cụ thể: Không chỉ trong chính sách phát triển sản xuất, việc xây dựng mô hình cũng đều có trong chính sách hỗ trợ của các chương trình mục tiêu, chính sách khuyến nông, khuyến công... nhưng do thiếu tính kết nối nên việc hỗ trợ xây dựng mô hình chưa cao (có khi chính sách khuyến khích một đường nhưng xây dựng mô hình một nẻo)...

- Công tác tuyên truyền còn hạn chế, có khi văn bản, thông tin chính sách đến chậm hoặc không đến được với các cá nhân, tổ chức (đặc biệt là đối tượng nông dân ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa) nên ảnh hưởng đến quyền lợi. Chỉ có 52.3 % số hộ nông dân có nghe/ biết thông tin về các chính sách. Có 52.6% số doanh nghiệp và 12.5% số HTXNN cho biết họ không biết thông tin cũng như không được hướng dẫn để tiếp cận các chính sách nên không được hưởng hỗ trợ.

3. Nguyên nhân

- Công tác hoạch định chính sách còn nhiều điểm hạn chế (chưa sát thực tiễn, chưa phù hợp xu hướng phát triển). Việc phân định chính sách phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, bảo hiểm rủi ro chưa rạch ròi.

- Ngân sách để xây dựng chính sách thấp dẫn đến chất lượng chính sách ban hành chưa cao (thiếu nguồn lực để thực thi chính sách).

- Sự rườm rà, phức tạp trong quy định hồ sơ thủ tục, quy trình thực hiện;

- Công tác tuyên truyền, phổ biến về các chủ trương chính sách chưa sâu rộng.

- Thiếu sự phản biện xã hội trong xây dựng, thực thi chính sách.

4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp trên đại bàn trong thời gian tới

4.1. Nhóm các giải pháp chung:

* Nâng cao hiệu quả công tác hoạch định chính sách:

- Thay đổi tư duy trong hoạch định chính sách cho phù hợp với xu thế phát triển: quan tâm hỗ trợ, đầu tư trực tiếp cho đối tượng doanh nghiệp, hợp tác xã nhiều hơn để kích thích sự phát triển.

- Phân định rạch ròi mục tiêu khi xây dựng chính sách: xóa đói giảm nghèo, bảo hiểm rủi ro, phát triển sản xuất. Đồng thời, chú trọng xây dựng chính sách hướng tầm vĩ mô: chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác; chính sách phát triển nông nghiệp theo chuỗi giá trị...

- Rà soát để giảm bớt, cắt bỏ các chính sách không phù hợp hoặc không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn (như: Nghị định 210/2013/NĐ-CP, Quyết định 23/2015/QĐ-UBND (tiêu chí quá cao, không có kinh phí); hay một số nội dung mức hỗ trợ quá nhỏ như: hỗ trợ phòng chống dịch bệnh lùn sọc đen hại lúa, hỗ trợ phối tinh cho lợn nái...).

* Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền:

- Kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể quy trình triển khai thực hiện chính sách.

- Thông tin kịp thời, nhanh chóng đến từng loại đối tượng thụ hưởng để chuyển tải các nội dung, quy định của các chính sách để các tổ chức, cá nhân hiểu và thực hiện có hiệu quả.

- Quan tâm hơn nữa việc lấy ý kiến phản biện của các tổ chức, đoàn thể, của nhân dân về các chính sách hỗ trợ phát triển NNNT.

* Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính:

- Đơn giản hóa các thủ tục để tránh rườm rà, gây khó khăn trong quá trình hoàn thiện hồ sơ thụ hưởng.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ thực thi với tinh thần tinh thông, chuyên nghiệp, trách nhiệm hơn.

* Bố trí đảm bảo nguồn lực để thực hiện chính sách:

- Trung ương đảm bảo kinh phí để thực hiện các chính sách đã ban hành, tạo điều kiện cho tỉnh triển khai thực hiện tốt.

- Ngân sách địa phương (tỉnh, huyện, xã) đảm bảo kinh phí thực hiện các nội dung chính sách hỗ trợ của địa phương ban hành, đồng thời đảm bảo kinh phí đối ứng thực hiện các chính sách của Trung ương.

- Tăng cường kiểm tra việc thực hiện chính sách.

4.2.Giải pháp đối với các nhóm chính sách phát triển NNNT

* Về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp:

- Hỗ trợ, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm phát triển phù hợp với địa phương và đáp ứng nhu cầu cần thiết để tạo được bước đột phá trong nông nghiệp. Tập trung hỗ trợ đầu tư phát triển cây con chủ lực, có giá trị hàng hóa cao; đầu tư sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; đầu tư các mô hình trọng điểm, đồng bộ cho liên kết sản xuất và tiêu thụ...

- Bố trí kinh phí hỗ trợ kịp thời để người dân chủ động hơn trong sản xuất (giải quyết kinh phí hỗ trợ về mua máy nông nghiệp và đóng tàu cá cho các hộ đã đầu tư; kinh phí hỗ trợ thiệt hại thiên tai...).

- Tách bạch mục tiêu các chính sách: hỗ trợ phát triển, xóa đói giảm nghèo và bảo hiểm rủi ro. Đồng thời, cần gắn nguồn lực thực hiện chính sách này với nguồn lực kinh phí xây dựng mô hình kinh tế của chương trình mục tiêu, khuyến nông, khuyến công...

* Về chính sách hỗ trợ phát triển KHCN

- Tăng cường hỗ trợ đầu tư về công nghiệp chế biến và bảo quản nông sản; hỗ trợ đầu tư chuyển giao khoa học kỹ thuật (cùng đầu tư với doanh nghiệp).

- Tăng cường đầu tư, hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu nông sản và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Đồng thời, tăng cường quản lý chất lượng nông sản (nhất là vệ sinh ATTP) và quản lý nguồn gốc xuất xứ nông sản.

* Về chính sách hỗ trợ vay vốn, tín dụng:

- Tăng mức cho vay, thời hạn cho vay, giảm lãi suất cho vay... phù hợp với chu kỳ sản xuất của từng loại sản phẩm nông nghiệp để tạo ưu đãi thực sự cho khu vực NNNT.

- Xây dựng quỹ hỗ trợ phát triển HTX để thực hiện cơ chế bảo lãnh tín dụng cho các HTX chưa đủ điều kiện vay vốn là chính.

- Có chính sách khuyến khích, thúc đẩy các ngân hàng thương mại cùng tham gia cho vay các hoạt động sản xuất kinh doanh trong NNNT.

* Về chính sách tổ chức sản xuất và thị trường

-  Tập trung đầu tư, hỗ trợ phát triển các hình thức liên kết sản xuất: mời gọi các doanh nghiệp mới vào ký kết hợp đồng liên kết với nông dân; khuyến khích nông dân, HTX ký hợp đồng sản xuất và tiêu thụ nông sản với doanh nghiệp; có cơ chế chính sách ưu đãi riêng đối với các doanh nghiệp làm tốt liên kết "4 nhà"; thực hiện cơ chế chính sách hỗ trợ nông dân gián tiếp qua doanh nghiệp thu mua, chế biến...

- Tăng cường sự định hướng, chỉ đạo, quản lý, điều tiết của Nhà nước với thị trường sản phẩm nông nghiệp. Nhà nước cần giữ vai trò chủ đạo trong liên kết "4 nhà", là trọng tài khách quan và xử lý kịp thời các vướng mắc do quan hệ lợi ích giữa doanh nghiệp, các tổ chức thu mua và nông dân.

- Quan tâm đến quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến nông sản để tạo vùng nguyên liệu, gắn kết công nghiệp chế biến với sản xuất để thúc đẩy nông nghiệp hàng hóa phát triển (phân vùng nguyên liệu để sản xuất bền vững).

 

Hoan Châu (dịch)

17 năm trước đây, tốt nghiệp khoa sinh học và hóa học tại Viện sư phạm Lê-nin (Matxcơva), tôi được bổ nhiệm về dạy tại một trường trung học. Khi đó tôi nghĩ rằng sau 5 năm dùi mài trong một trường đại học thì mỗi sinh viên có ít nhiều trí tuệ chắc tích lũy được một khối lượng tri thức vượt quá cái đầu bất kì học sinh nào, kể cả em có năng khiếu nhất. Nhưng chẳng bao lâu tôi thấy rằng mình đã nhầm. Không phải chuyện trong thực tế, một lớp học có một hay hai em học sinh có khi có thể có nhiều hiểu biết hơn thầy giáo về vấn đề này hay vấn đề nọ. Điều quan trọng là ở chỗ khác, do ngay bản chất của chúng, đám học trò - là học sinh cũng như sinh viên đều hướng về không phải các tri thức có chọn lọc, mà trái lại, về các tri thức hầu như có tính bách khoa. Ở góc độ này, vị trí của thầy giáo trở nên bất ổn. Phạm vi kiến văn của thầy phát triển chậm, khép mình suốt nhiều năm, chỉ với duy nhất môn học của mình, thầy đánh mất uy tín cá nhân của mình, bởi lẽ cung cách các em nhận thức thế giới không chấp nhận tính thiển cận, hẹp hòi. Vả lại, ngay sự phân chia các bộ môn thành từng cấp cũng cản trở các em cảm nhận thế giới xung quanh với tư cách là một tổng thể thống nhất. Các chương trình khoa học nhân văn và khoa học tự nhiên đều đặc biệt xa cách nhau. Đến một lúc, tuy là giáo viên khoa học tự nhiên, tôi cảm thấy sự đào tạo của mình là cạn hẹp, không chính xác thích hợp với hoạt động tại trường. Lần này tôi sẽ không che giấu rằng còn một lý do khác nữa.

Chả là, trong các bạn cùng khoa sinh học và hóa học của tôi, chỉ có vỏn vẹn một nhóm nhỏ đi vào ngành dạy học. Họ xem trường học là nơi ẩn náu cuối cùng cho những kẻ lỡ vận. Dư luận cho rằng trường học loại trừ mọi tăng trưởng sáng tạo đang có ưu thế. Thế là sau khi đã cải thiện đào tạo qua xã hội nhân văn, tôi quyết định cải chính quan niệm khuôn sáo thâm căn cố đế này đã hạ thấp các đồng nghiệp nhà giáo của tôi.

Từ đó, ở trường, tôi được giao giảng dạy 3 bộ môn khác nhau: Hóa học, Sinh học và Anh ngữ. Sau một thời gian, tôi đã cảm nhận rõ ràng mình còn thiếu điều gì trong các bài giảng. Chúng hoàn toàn thiếu tính nhân văn, và nhất là thiếu một tiếp cận lịch sử và các dữ kiện thuần túy khoa học. Tôi bèn liều làm một cuộc thực nghiệm thử dạy cho đám trẻ không phải khoa học thuần túy - qua các thí nghiệm và công thức - mà có dẫn đến lịch sử và văn học. Và dần dần tôi say mê cuộc thực nghiệm ấy đến mức tôi đã bắt đầu tiến hành những cuộc nghiên cứu nghiêm túc, và đã bảo vệ một luận án lịch sử khoa học.

Nhiều học sinh của tôi có thói quen (không phải không có hỗ trợ của bố mẹ) xem mình là những "nhà văn bẩm sinh" bỗng phát hiện ra rằng môn hóa học ẩn giấu một thế giới kì thú làm đam mê mà cho đến nay chưa được biết. Lý do không phải thuộc tài năng của thầy giáo nhiều hơn là trong các khả năng vô cùng to lớn của cung cách sử quan khi trình bày thiết bị học tập.

Trẻ con bị hấp dẫn bởi lôgic tiến triển của khoa học, mà lôgic này có thể hiểu được chỉ khi các "bi kịch của tư tưởng" và các "bi kịch nhân thế" không nằm ngoài màn hình. Điều này cũng đúng cho bất kì bài học nào. Đáng tiếc chăng khi mà tên của Pythagore chỉ kết hợp với hình tam giác nổi tiếng trong tâm trí học sinh và tên của Mendeleev với bảng tuần hoàn mang tên ông. Thế nhưng điều quan trọng nhất, việc đưa vào dạy những phần có liên quan đến mặt cảm xúc của con người, sẽ làm phong phú thêm không những môn học mà phong phú cả toàn bộ nền giáo dục, góp phần hình thành nhân cách của học sinh.

Chúng ta đang còn ở bước đầu. Nhưng cho dù hiện giờ, việc sử dụng một phần sự phát hiện này đã mang lại trong trường học những kết quả thú vị và bất ngờ. Một số học sinh lớp 7 (tương đương lớp 7 THCS nước Việt Nam) nắm vững nhanh chóng chương trình hóa học còn mới đối với chúng đã đặt cho tôi một vấn đề nghiêm túc. Hãm lại các "bước nhảy vọt" hay để cho chúng hoàn toàn tự do? Làm thế nào bây giờ? Kinh nghiệm của tôi quyết rằng, cả hai cách đều có hại. Cần phải nghĩ đến cách góp phần vào công cuộc hướng nghiệp cho các thiếu niên này, ngay từ cuối lớp 7 hoặc đầu lớp 8. Tôi đã tiếp xúc trực tiếp với Viện Công nghệ hóa học Mendeleev Moscova, nơi đã có nhiều học sinh chúng tôi theo học thời ấy. Và trong thời gian 3 năm ấy, nhiều học sinh lớp 8 của tôi đã ghi tên vào các lớp buổi tối của viện ấy. Điều rất quan trọng là, tuy phải học thêm buổi tối, các em không hề tụt hậu tí nào trong chương trình phổ thông trung học, về hóa học cũng như về toán và các môn khác. Điều này còn có vai trò quyết định trong cuộc đời của các học sinh lớp 8 này. Tốt nghiệp lớp buổi tối về hóa học, thế là với tư cách ngoại trú tại trường chúng tôi, tức là một trường trung học phổ thông, em ghi tên vào Viện Mendeleev, khoa tổng hợp hữu cơ, thế là mới 14 tuổi, em đã trở thành một trong các sinh viên đại học ít tuổi nhất nước.

Cuộc thí nghiệm của chúng tôi thành công thì một lần nữa thuyết phục tôi rằng trường học hiện nay đang cần các thầy giáo trình độ cao, được đào tạo bách khoa, có năng lực nắm vững rồi giảng dạy các bộ môn mà tôi chắc rằng sẽ dần dần đi vào chương trình học, như lịch sử của khoa học và văn hóa, lịch sử mỹ thuật, các khoa học tự nhiên đại cương,…

Hơn một chuyên gia khác, nhà giáo phải luôn luôn nghiên cứu, thử nghiệm, thực nghiệm. Nhưng trong thực tế thì trái lại thế. Nhưng không phải bao giờ cũng do sai lầm của bản thân thầy giáo, mà sự việc xảy ra lại khác thế rất nhiều. Khi bắt đầu công trình khoa học, ông ta không tránh được va chạm với những bảo thủ về sư phạm, trong khi vô số trở ngại quan liêu đang mai phục mỗi bước đi trên con đường khó khăn của mình.

Tại nước Nga trước 1917, nhiều nhà bác học, nhà văn, nhân sĩ văn  học có uy tín, thực hành khoa sư phạm. Khó mà tưởng tượng được có ai đó có thể ngăn không cho giáo sư vật lý và thiên văn Tsialkovski hay giáo sư khoa học tự nhiên Mendeleiev tiến hành các cuộc nghiên cứu hoặc công bố các tác phẩm của họ. Cũng có một truyền thống đúng đắn là các sách giáo khoa được các thầy giáo tiểu học và trung học soạn thảo. Tính lôgic còn gợi ý rằng có thể biết được trường học chỉ sau khi đã dạy học. Tình hình sư phạm hiện nay, buồn thay, đang bất chấp mọi lôgic có thể kể ra đây hàng trăm nhà khoa học lỗi lạc chưa bao giờ hoạt động dù chỉ một ngày trong một trường học mà lại có gan viết ra các tập và cuốn sách giúp cho các thầy giáo. Vai trò của tất cả các "bậc uy tín" ấy là gì - với các lời khuyên như của họ, và làm thế nào vượt khỏi được trở ngại hùng hậu ấy, nếu bạn chỉ là một thầy giáo tầm thường quan tâm đến lịch sử khoa học, đến ngôn ngữ học, triết học, đến xã hội học. Thực tiễn tỏ ra rằng đó là điều bất khả.

Sự việc cũng chẳng hề tiến triển tốt hơn ngay ở trường. Không chỉ riêng thầy giáo, mà cả hội đồng sư phạm trong toàn thể, hiện nay, sẽ không dám độc lập chọn phương pháp giảng dạy của mình, chừng nào mà hiệu trưởng của mình chưa được sự duyệt y của các cơ quan có thẩm quyền lãnh đạo ngành giáo dục quốc gia. Thế nhưng, về phần họ, các tổ chức này bất chấp cả cuộc cải cách hiện hành chỉ miễn cưỡng phê duyệt các cuộc thử nghiệm không phù hợp với các chỉ thị.

Không thể cải cách được nếu không dân chủ hóa được hệ thống giáo dục. Chừng nào thầy giáo không thể thực hiện được cuộc lựa chọn của mình, chừng nào sáng kiến của mình bị hãm lại thì ông ta sẽ thờ ơ và không có ham muốn tự nâng cao, và nâng cao trình độ nghề nghiệp của mình. Chẳng lạ lùng gì khi dần dần, theo năm tháng sẽ hình thành một hình tượng xuống cấp của thầy giáo xoàng xĩnh, chẳng có tham vọng, thường xuyên kiệt sức, luôn phụ thuộc vào mọi người, thực hiện theo đúng từng li mọi điều qui định và thông tư quan liêu.

Nghề nghiệp của chúng ta thực tế đánh mất uy tín của nó, tôi đã có thể nhận thấy qua kinh nghiệm bản thân: Cách đây mấy năm khi tôi dọn đến một khu phố khác của thành phố, và đi tìm một việc làm mới, thì vấp phải một hiện tượng mà tôi chưa bao giờ nghĩ tới trước đó. Việc tôi có 2  bằng đại học và là phó tiến sĩ khoa học tự nhiên đã gây ra những mối lo sợ thực sự cho lãnh đạo giáo dục và nhất là các đại diện của phòng giáo dục quận. Tôi sẽ không bao giờ quên được lời tuyên bố của một nữ thanh tra về bộ môn hóa học: "Trường học không cần đến những nhà trí thức!". Và còn nói thêm: "Các cựu sinh viên Đại học tổng hợp gây tác hại nhiều hơn là lợi ích". Và có những vị phụ trách đã hồn nhiên bảo tôi rằng: "Anh là phó tiến sĩ, sao lại đến tự giam hãm mình trong một trường phổ thông mà làm gì?... Tại đây, tất cả đều xám xịt, buồn tẻ, anh hãy vào một trường đại học hoặc một viện nghiên cứu". Tất cả như thể giống như một trò chơi. Nhưng rồi sau tôi đã hiểu thật ra là một lập trường, một lập trường có những hậu quả nguy hiểm. Làm sao một thầy giáo trung học mà ý thức được uy tín nghề nghiệp của mình nếu cộng đồng khoa học chỉ xem anh ta là một "kẻ xa lạ" và nếu sáng tạo của anh ta bị gạt bỏ?

Tôi tin chắc rằng hễ các thầy giáo trung học mà quan tâm đến khoa học mà xem như là những người "hâm" bởi không biết chiếm một vị trí "sang trọng" hơn trong cuộc sống, thì cuộc cải cách giáo dục vẫn thất bại.

(Theo Tạp chí Nga Xô Viết cũ)

 

Bùi Minh Hào

 

Trong nhiều năm qua, các nghiên cứu về giới và gia đình tập trung nhiều vào vấn đề bạo lực, bạo hành gia đình. Và nhiều nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề này từ góc nhìn mang nặng tính đạo đức, là những sự thay đổi về quan điểm đạo đức gia đình. Điều đó không hẳn là sai nhưng chưa thuyết phục. Bạo hành, bạo lực gia đình không chỉ là một hiện tượng, mà ở góc độ khác, đó là kết quả của một quá trình xung đột từ suy nghĩ, ý thức đến hành động. Sự xung đột, ở phương diện nào đó là thực tế xẩy ra khá phổ biến trong đời sống gia đình của các cặp vợ chồng trẻ hiện nay. Và ở đó, nam giới không chỉ đóng vai trò là các tác nhân, đối tượng gây ra bạo lực, nhiều khi họ cũng là nạn nhân. Vậy nên, khi phân tích vai trò của nam giới trong xung đột, bạo lực gia đình cũng cần phải nhìn đến vai trò kiến tạo sự ổn định trong cuộc sống gia đình của họ.

1. Xung đột gia đình trong các cặp vợ chồng trẻ hiện nay

Trong quan niệm truyền thống, người ta luôn nghĩ xung đột như là những hành động thể hiện sự không phù hợp, không tương thích hay đối lập nhau. Nhưng càng ngày, khái niệm xung đột được hiểu rộng hơn, bao hàm cả những xung đột chưa biểu hiện ra bằng hành động. Đó là những biểu hiện từ quan điểm, suy nghĩ, tư tưởng, ý niệm đến hành động không tương đồng nhau, nhiều khi là đối lập nhau. Các cặp vợ chồng trẻ hiện nay đang ngày càng chiếm đa số trong đời sống gia đình của cả nước khi mà số lượng gia đình nhiều thế hệ đang giảm dần và gia đình hạt nhân tăng lên. Cuộc sống hôn nhân gia đình ở các cặp vợ chồng trẻ cũng khác nhiều so với trước do sự giải phóng về quan niệm tình dục và hôn nhân, sự coi trọng giá trị và đời sống cá nhân và sự tự chủ về mặt kinh tế của giới trẻ. Nhưng điều đó cũng đưa các cặp vợ chồng trẻ đến với nhiều nguy cơ gây bất hòa hơn trong đời sống gia đình. Và những bất hòa này thể hiện trên nhiều khía cạnh, tuy nhiên, trong khảo sát nhỏ này, chúng tôi muốn tập trung vào các mặt mà chúng tôi coi là phổ biến và quan trọng nhất.

Đối tượng của cuộc khảo sát này là 46 cặp vợ chồng tuổi đời từ 18 đến 41, trong đó có 35 cặp vợ chồng sinh sống tại hai xã Thanh Yên và Thanh Khai (thuộc huyện Thanh Chương) và 11 cặp vợ chồng đang sinh sống tại thành phố Vinh. Về nghề nghiệp, có 16 cặp vợ chồng làm nông nghiệp, 7 cặp vợ chồng là cán bộ viên chức và giáo viên, 9 cặp vợ chồng làm công nhân, 8 cặp vợ chồng buôn bán nhỏ, dịch vụ, 5 cặp vợ chồng có vợ hoặc chồng làm nông nghiệp và người còn lại làm nghề khác, 1 cặp vợ chồng có chồng làm dịch vụ và vợ đang thất nghiệp. Độ tuổi trung bình của các đối tượng khảo sát là 27, người trẻ nhất là 18 và người lớn tuổi nhất là 41. Cuộc khảo sát tập trung vào những xung đột chính trong gia đình trong cuộc sống hàng ngày và nguyên nhân gây nên những xung đột đó.

Nhóm xung đột đầu tiên mà chúng tôi muốn nói đến là nhóm xung đột từ quan niệm sống. Đây không phải là nhóm chủ yếu nhưng nó có vị thế quan trọng vì có ảnh hưởng đến những nhóm xung đột khác. Quan niệm sống ở đây tập trung vào việc xây dựng gia đình thế nào và vấn đề gì quan trọng nhất để đảm bảo sự yên ổn trong gia đình. Nó liên quan đến nhiều vấn đề nhỏ khác như ở chung với bố mẹ hay ở riêng, sống ràng buộc với nhau hay tự do hơn, phải có công việc ổn định và thu nhập khá hay không,… Có 31 cặp vợ chồng (hơn 67%) cho rằng khi quan niệm sống khác nhau thì hay xẩy ra xung đột với nhau, trong đó, có 14 cặp vợ chồng hay cãi nhau vì chồng muốn sống với bố mẹ còn vợ muốn sống riêng; có 8 cặp vợ chồng hay cãi nhau vì quan niệm khác nhau trong việc sống ràng buộc với nhau hay tự do (mà chủ yếu là người chồng cho rằng ngoài việc chăm sóc con cái và các việc lớn trong nhà thì mỗi người cũng có những mối quan hệ riêng không nên can thiệp quá sâu vào cuộc sống riêng đó của nhau, trong khi vợ lại muốn đã lấy nhau thì phải chia sẻ hết mọi việc với nhau); có 7 cặp vợ chồng cãi nhau vì quan niệm không giống nhau trong việc làm và thu nhập (chồng cho rằng vợ chỉ cần có việc làm hoặc ở nhà trông con chứ không cần kiếm nhiều tiền vì việc đó là của người chồng lo, còn một số người vợ lại cho rằng mình cũng phải có việc làm, có thu nhập để tự chi tiêu và có quyền đi ra làm việc với các điều kiện như người chồng); và có 2 cặp vợ chồng mâu thuẫn vì khác nhau về quan niệm trong một số chuyện khác. Còn lại 15 cặp vợ chồng (33%) cho rằng ai cũng có quan niệm sống riêng và quan trọng là thông cảm và chia sẻ với nhau thì gia đình mới yên ổn được.

Nhóm xung đột thứ hai liên quan đến vấn đề kinh tế trong gia đình, đó là những xung đột quanh vấn đề tài chính của các cặp vợ chồng. Dù giai đoạn này, vấn đề kinh tế chưa bao giờ là chuyện nhỏ của mỗi gia đình. Đặc biệt các cặp vợ chồng trẻ, đang trong giai đoạn phấn đấu để ổn định cuộc sống về mặt tài chính. Một mặt, những mâu thuẫn, tranh cãi liên quan trực tiếp từ vấn đề tài chính, mặt khác, vấn đề tài chính cũng ảnh hưởng và gây ra nhiều xung đột ở các vấn đề khác. Nói dễ hiểu hơn, khi thiếu tiền, đói nghèo thì bao nhiêu chuyện xẩy ra, còn lúc dư giả thì mọi chuyện cũng êm đềm hơn. Phần lớn các cặp vợ chồng trẻ đều có ít nhiều xung đột liên quan đến tài chính, khi có đến 39/46 cặp vợ chồng cho rằng họ hay cãi nhau về những việc liên quan đến tiền bạc, trong đó, có 13 cặp vợ chồng cãi nhau liên quan đến việc kiếm tiền, 21 cặp vợ chồng cãi nhau liên quan đến việc sử dụng tiền vào các mục tiêu gì; còn 5 cặp vợ chồng cho rằng tranh cãi nhau vì một số vấn đề khác liên quan đến tiền bạc. Đối với các cặp vợ chồng làm nông nghiệp thì vấn đề tiền bạc hay xoay quanh chuyện bán các nông sản để sử dụng trong gia đình. Những khoản tiền kiếm được từ những việc khác trong thời gian rảnh nhiều khi trở thành mồi lửa châm ngòi cho việc cãi vã nhau. Như vợ chồng Hường và Dung, chủ yếu làm nông nghiệp, thời gian rảnh Hường đi làm thêm bằng nghề thợ xây và hàn bắn mái tôn. Mỗi lần đi xa về kiếm được một ít tiền để trang trải nhưng đồng thời cũng là thời gian vợ chồng hay cãi nhau. Hường cho rằng mình đi làm nhiều ngày mệt mỏi nên cũng cần nghỉ ngơi và hay tụ tập bạn bè ăn nhậu, còn Dung thì cho rằng chồng đi làm về có ít tiền cũng phải dành dụm để lo cho con chứ đi ăn tiêu hết đến khi con ốm hay phải nộp tiền học thì không có. Cứ vậy mà mỗi khi hai vợ chồng ở gần nhau sau thời gian đi làm xa về là luôn cãi nhau. Đối với các gia đình công chức, những xung đột liên quan đến tiền bạc cũng ít hơn vì tính ổn định của thu nhập trong gia đình. Tuy nhiên, đối với gia đình mà chồng đi làm còn vợ ở nhà thì những xung đột lại biểu hiện ngầm nhiều hơn khi người vợ gần như phụ thuộc tài chính vào chồng.

Thứ ba là nhóm xung đột liên quan đến việc nuôi dạy con cái trong các gia đình trẻ. Sinh con và nuôi dạy con cái là vấn đề quan trọng trong mọi gia đình. Trong số 46 cặp vợ chồng được khảo sát thì có 38 cặp vợ chồng có những mâu thuẫn, tranh cãi liên quan đến vấn đề nuôi dạy con (chiếm gần 83%). Trong đó, có 74% cho rằng vợ chồng khi chưa có con thường cãi nhau nhiều hơn khi đã sinh con. Có 62% các cặp vợ chồng cho rằng khi có cả con trai và gái sẽ ít bất hòa hơn so với những cặp vợ chồng chỉ có con trai hoặc con gái. Và có 86% số cặp vợ chồng cho rằng xung đột gia đình liên quan nhiều đến quan niệm về nuôi dạy con. Chăm lo cho con về mặt vật chất thường được các ông bố bà mẹ quan tâm nhiều. Tuy nhiên, đó là về mặt lý tưởng, còn thực tế thì cuộc sống mỗi gia đình có hoàn cảnh khác nhau nên việc đáp ứng các nhu cầu của con cái cũng phải xem xét, nhất là các gia đình sản xuất nông nghiệp. Có 63% ông bố bà mẹ cho rằng phải cố gắng để chăm lo đầy đủ cho con, 21% số cặp vợ chồng nghĩ rằng nên để con thiếu thốn một chút để nó biết tiết kiệm và biết cố gắng hơn, còn 16% số cặp vợ chồng lựa chọn là chăm sóc con tùy theo điều kiện gia đình. Trong khi các cặp vợ chồng ở thành thị quan tâm nhiều hơn đến đời sống vật chất cho con cái thì các gia đình ở nông thôn lại tùy thuộc vào hoàn cảnh của mình. Những xung đột giữa vợ chồng diễn ra nhiều hơn khi không chăm lo đầy đủ cho con được. Lúc con ốm đau hay thiếu thốn thì vợ chồng cũng hay tranh cãi hơn, từ việc ai quan tâm con nhiều hơn, ai trực tiếp chăm con hay vì sao mà không thể chăm lo đầy đủ cho con. Như vợ chồng Toàn và Linh, mỗi lần con ốm đau là hai vợ chồng lại hay tranh cãi. Linh cho rằng chồng ngoài việc kiếm tiền ra thì không quan tâm đến vợ con, khi con ốm cũng không vào chăm sóc hay quan tâm quá ít. Trong khi đó, Toàn cho rằng công việc mình làm dịch vụ phải đi liên tục và tiếp khách nhiều nên không có thời gian, vợ chỉ cần ở nhà chăm con chứ không phải đi làm mà vẫn để con bị ốm đau là vì không biết cách chăm con… Nhiều cặp vợ chồng không chỉ cãi nhau khi con cái đau ốm mà ngày nay, việc này xuất phát từ những chuyện rất nhỏ. Ngay khi con khóc thôi mà vợ thì muốn dỗ con cho nhanh hết khóc còn chồng cho rằng trẻ con khóc chẳng sao cả, cứ để nó khóc chán thì nín. Vậy là hai vợ chồng cũng cãi nhau khi vợ bảo chồng không chịu chăm con còn chồng thì cho rằng vợ đang làm hư con…

Nhóm xung đột thứ tư là những xung đột liên quan đến vấn đề tình dục và ngoại tình, đây là nhóm xung đột khá phổ biến và có vai trò quan trọng trong đời sống hiện nay nhưng vẫn ít khi được nhắc đến, được mổ xẻ. Một mặt vì những vấn đề này thuộc phạm trù đạo đức, mang tính nhạy cảm nên khía cạnh xã hội của nó cũng hay bị bỏ qua. Gần đây, khi chuyện tình dục và ngoại tình trở thành một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự đổ vỡ của các gia đình thì nhiều nhà nghiên cứu và nhiều cơ quan liên quan đã quan tâm hơn. Những vấn đề này ở nông thôn ít được nói đến hơn trong khi ở thành thị thì sự quan tâm nhiều hơn. Sự phân biệt giới cũng có khác biệt khi phản ánh vấn đề này. Có đến 74% phụ nữ trong các gia đình được khảo sát cho rằng chồng mình có ngoại tình nhưng chỉ 11% số người chồng nghĩ điều tương tự. Ở nhiều góc độ khác nhau, những người vợ này đồng nhất chuyện chồng đi chơi sau các cuộc nhậu từ đi tẩm quất, massage hay đi mua dâm ở các "khu đèn đỏ" với ngoại tình là như nhau. Đó là một biểu hiện của đời sống tình dục ngoài luồng. Trong khi đó, sự hòa hợp về tình dục của hai vợ chồng trở thành vấn đề nhạy cảm và ít được các cặp vợ chồng nói đến, nhất là ở nông thôn. Những cặp vợ chồng trẻ ở thành thị thì khá cởi mở hơn về vấn đề này khi họ xem đây là một nguyên nhân gây xung đột gia đình. Như một người vợ trẻ chia sẻ rằng: "Em chán luôn vì từ khi mang bầu thằng cu được 4 tháng đến nay con đã hơn một tuổi mà lão (tức chồng cô-TG) chẳng đụng gì đến em. Đã thế lại suốt ngày đi uống rượu rồi đi Xuân Thành ("khu đèn đỏ" nổi tiếng ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh) chơi, Mỗi lần cứ nghĩ đến chuyện này là sẽ có cãi nhau to". Chuyện không được đáp ứng các nhu cầu tình dục nhiều khi cũng đẩy người vợ/người chồng bước vào con đường ngoại tình. Nên nhiều người chồng, khi nói về vấn đề này, đều cho rằng, việc đi chơi, quan hệ ngoài luồng là có, nhất là khi đi với bạn bè sau khi ăn nhậu, tuy nhiên đi đâu làm gì thì về nhà vẫn phải "trả bài" đầy đủ. "Trả bài" ở đây được hiểu là đáp ứng lại nhu cầu tình dục của vợ. Nhìn chung, khi quan niệm về tình dục đang ngày càng phóng khoáng hơn, nó không còn là vấn đề đạo đức như trước đây thì quan hệ tình dục ngoài vợ chồng ngày càng phổ biến. Nó cũng là một nguyên nhân thường trực gây nên những xung đột trong đời sống gia đình. Ngay cả xã hội nông thôn, vốn dĩ suốt ngày cặm cụi với ruộng đồng thì nay cũng mọc lên những quán tẩm quất thư giãn hay những quán mại dâm trá hình khiến nhiều cặp vợ chồng tan nát khi không đủ bản lĩnh và ứng xử không phù hợp.

2. Vai trò của nam giới trong phòng chống bạo lực gia đình

Nghiên cứu bạo hành gia đình trong nhiều năm qua đều có điểm chung là hướng mũi nhọn về nam giới như là nguyên nhân chủ yếu, là đối tượng gây ra sự bạo hành trong gia đình, là thủ phạm của bạo hành gia đình. Nhưng quan niệm đó đang ngày càng thiếu cơ sở vì thực tế cuộc sống đang thay đổi nhanh chóng. Và nam giới hiện nay, không còn chỉ là những "kẻ" gây ra bạo hành gia đình phải trừng trị, mà nhiều khi trở thành những nhân tố quan trọng trong việc giải quyết vấn đề bạo hành gia đình.

Vấn đề giới (gender) và giới tính (sex) trong nhiều năm qua đã được dư luận xã hội và nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Trước đây, người ta tập trung nhiều vào vấn đề giới tính, vốn là một phân định về mặt tự nhiên giữa nam và nữ (đực và cái). Gần đây còn được mở rộng ra với các "giới tính" khác được công nhận để giảm thiểu sự kỳ thị xã hội với một bộ phận ngoài nam và nữ về mặt giới tính. Còn "giới" lại là một khái niệm khác, không đồng nhất với giới tính. Giới là khái niệm bao quát hơn, bắt nguồn từ quá trình nhận thức và phân tích về quan hệ quyền lực giữa các giới tính cũng như trong chính các giới tính. Trong những quan niệm truyền thống thì nam được coi là phái mạnh, là thể hiện của người "làm chủ gia đình" (trừ những tộc người mẫu hệ), là "kẻ thống trị", còn nữ là phái yếu, là "người bị trị". Vậy nên vấn đề giới nhiều khi được quy về việc đấu tranh để giải phóng phụ nữ. Thể hiện cao nhất của vấn đề này là sự xuất hiện của "Feminism" đang ảnh hưởng mạnh mẽ và lan rộng ra nhiều nước trên thế giới.  "Feminism" được hiểu là quá trình vận động, đấu tranh nhằm thay đổi vị thế của người phụ nữ trong xã hội. Ở Việt Nam, "feminism" được dịch là "thuyết nữ quyền", "phong trào và lý thuyết phụ nữ", "chủ thuyết phụ nữ", hay "thuyết vị nữ"…, tuy nhiên những cách chuyển nghĩa này vẫn chưa thể truyền tải hết ý nghĩa của thuật ngữ này. "Feminism" coi phụ nữ là trung tâm, là chủ thể, người người tạo ra và thực hành lý thuyết này. Vì quá tập trung vào phụ nữ nên "feminism" đã bỏ qua một điều quan trọng rằng nam giới cũng là một chủ thể có tính giới, và giữa các giới đều có sự tương tác với nhau, nhất là giữa nam giới với nữ giới.

Bạo hành gia đình là một vấn đề đang được nhiều nước quan tâm, trong đó có Việt Nam. Bạo hành gia đình là một vấn đề xã hội và cũng có nhiều biến đổi qua các thời kỳ, giai đoạn khác nhau. Trước đây, bạo hành gia đình được coi là hành động bạo lực mang tính đàn áp, quy chụp của người đàn ông đối với phụ nữ và các thành viên khác trong gia đình. Và xem người đàn ông là nguyên nhân của bạo hành gia đình. Nhưng gần đây, khái niệm bạo hành gia đình được hiểu rộng hơn. Bạo hành gia đình không còn chỉ là những hành động mang tính bạo lực của người đàn ông trong gia đình đối với vợ hay con của họ, mà nó còn chỉ cả những hành vi tâm lý mang tính trấn áp của những đối tượng khác nhau đối với các thành viên khác trong gia đình. Tức là có cả những bạo hành về tâm lý và bạo hành ngược tức là bạo hành của người phụ nữ đối với đàn ông trong gia đình hay các thành viên khác.

Từ kết quả của cuộc khảo sát ở Nghệ An nói trên cho thấy có 57% xung đột gia đình đến từ phía phụ nữ và 43% đến từ phía đàn ông dù nguyên nhân của các xung đột thì do nhiều nguồn khác nhau. Hay những cuộc "chiến tranh tâm lý" trong gia đình thì chủ yếu bắt nguồn từ phụ nữ (74%) trong khi những hành động bạo lực như đánh đập thì đến từ người đàn ông nhiều hơn (71%). Vẫn còn những người đàn ông gia trưởng lựa chọn bạo lực để đối xử với vợ con, hay những kẻ suốt ngày ăn nhậu rồi khi say xỉn về đánh đập vợ. Nhưng những trường hợp đó không còn phổ biến trong xã hội hiện nay do nhiều lý do khác nhau. Vị thế của người phụ nữ đang được tăng lên đáng kể, quan niệm gia đình cũng thay đổi và người ta không chỉ còn biết "chịu đựng vì gia đình" mà có những lựa chọn khác. Khi được hỏi về hành vi đánh vợ, 79% phụ nữ cho rằng đó là "hành vi hèn hạ, kém cỏi", "không đáng mặt nam nhi" của người đàn ông. Theo họ, dù có chuyện gì thì hành vi đánh đập phụ nữ là không thể chấp nhận. Tuy nhiên, cũng có 74% đàn ông lên án hành vi đánh vợ và họ coi "đàn ông mà đánh vợ mình thì là thằng vứt đi". Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng đàn ông đánh vợ, nhưng phần lớn đánh vì nóng  giận hơn là đánh để thể hiện "quyền của chủ gia đình". Trường hợp ngược lại, dù cuộc khảo sát với quy mô nhỏ này không có kết quả thống kê về việc vợ đánh chồng (vẫn được gọi là bạo hành ngược) trong gia đình. Tuy nhiên, nếu để ý trên báo chí và mạng xã hội thì trong mấy năm nay, việc những người phụ nữ đánh chồng là không hiếm, và nhiều vụ án nghiêm trọng liên quan đến mạng người đến từ những hành vi như vậy. Có một tâm lý khá phổ biến là hành vi bạo hành ngược ít được nói đến từ cả hai phía người bạo hành và người bị bạo hành. Có một điều thú vị được ghi nhận từ cuộc khảo sát là những người đàn ông giữ một vai trò quan trọng trong việc hòa giải các xung đột có thể gây nên những bạo hành trong gia đình. Khi được hỏi sau khi hai vợ chồng tranh cãi, giận hờn nhau thì ai là người chủ động làm hòa trước, thì có 46% đàn ông chủ động làm hòa trước, với phụ nữ con số này là 38%, còn lại đều để cho quên mọi chuyện và cuộc sống bình thường lại. Trong những cuộc "tâm lý chiến" thì người đàn ông cũng thường chịu thua trước. Như một người đàn ông trẻ chia sẻ: "Mình đi làm cả ngày, về nhà mà vợ cứ mặt mày nặng nhẹ thì rất khó chịu. Về với gia đình mà cứ cảm thấy nặng nề thì sao mà sống và làm việc được. Nên nhiều khi chẳng biết sai đúng thế nào, cứ nói khéo vài câu xin lỗi vợ cho không khí trong nhà vui vẻ hơn". Không chỉ những việc "vũ phu" được hạn chế nhiều hơn, những người đàn ông cũng ngày càng chia sẻ việc gia đình hơn. Việc nội trợ, chăm sóc con cái hiện nay không còn là "việc của người vợ" trong các gia đình trẻ, mà nó tùy thuộc vào thời gian và công việc của từng người.

3. Một vài điều gợi mở

Thế giới đang nói nhiều về hạnh phúc của con người. Thế nào là hạnh phúc và hạnh phúc đến từ đâu là những câu hỏi mà hàng trăm nhà nghiên cứu đã và đang đi tìm câu trả lời. Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa, thì với người Việt Nam, hạnh phúc con người luôn được gắn với các giá trị của hạnh phúc gia đình. Và trong quá trình tìm kiếm hạnh phúc gia đình, sự xung đột cũng thường diễn ra theo các mức độ nhất định. Xung đột gia đình, bạo lực gia đình là những vấn đề quan trọng trong đời sống xã hội, nó luôn thay đổi theo thời gian, giai đoạn cũng như nhận thức của con người. Thật khó để khẳng định một lý thuyết, một quan điểm nào là đúng đắn duy nhất trong quá trình giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, với một phân tích cụ thể từ một cuộc khảo sát nhỏ trên đây, có thể chưa đủ để chúng ta đi đến những kết luận to lớn, nhưng cũng phần nào gợi mở ra một số vấn đề cần thiết phải xem xét.

Trước hết, trong cuộc sống gia đình hiện nay, những xung đột gia đình ở các cặp vợ chồng trẻ đang biểu hiện ngày càng đa dạng hơn với nhiều nhóm tác nhân khác nhau. Trên đây mới chỉ là một số khía cạnh thể hiện cho sự xung đột đó. Với sự thay đổi của cuộc sống xã hội hiện đại, quan niệm về hôn nhân gia đình cũng có nhiều điểm mới, các gia đình hạt nhân hiện nay có độ linh động cao giúp thích nghi với sự biến đổi nhanh chóng của xã hội. Tuy nhiên, nó cũng đặt cuộc sống gia đình trước nhiều nguy cơ xung đột và tan rã lên cao hơn. Nhưng nói thế nào đi nữa, thì cuộc sống gia đình không thể bỏ ra ngoài hai chữ trách nhiệm. Khi vợ chồng đã cùng nhau xây dựng gia đình thì cần phải có trách nhiệm với nhau và trách nhiệm với gia đình mình. Bên cạnh đó, cần gắn giá trị của gia đình mình vào nền văn hóa của dân tộc. Có như vậy thì cuộc sống gia đình mới thật sự hạnh phúc và bền vững hơn.

Đối với vấn đề bạo lực gia đình, những phân tích trên cho thấy rằng hiện nay đang có nhiều sự thay đổi lớn: Không chỉ phụ nữ mới bị bạo hành mà đàn ông cũng bị bạo hành; không chỉ đàn ông mới gây ra bạo hành gia đình mà phụ nữ cũng gây ra những bạo hành gia đình. Các đối tượng bạo hành gia đình không chỉ là vợ hay chồng mà còn là con cái. Bạo hành gia đình cũng không chỉ là hành động mà còn là tâm lý. Thứ hai, người đàn ông đang ngày càng thể hiện vai trò quan trọng hơn trong việc nhận thức và hạn chế bạo hành gia đình. Thứ ba, tiếp cận và xử lý vấn đề bạo hành gia đình không chỉ là dựa trên việc đi vận động, đấu tranh để thay đổi vị thế của người phụ nữ trong gia đình, mà còn phải nhìn nhận từ phía nam giới, đặc biệt là sự tương tác giữa nam giới và nữ giới trong quá trình giải quyết vấn đề này. Cái nhìn truyền thống hay cái nhìn của phong trào feminism đang phổ biến đều không thể đi đến những cách giải quyết thỏa đáng vấn đề bạo hành gia đình ở Việt Nam hiện nay. Thay vào đó, cần có cái nhìn hài hòa hơn, vừa đề cao quyền bình đẳng của tất cả các giới, nhưng cũng phải trân trọng những giá trị gia đình, giá trị văn hóa truyền thống dân tộc để làm nền tảng cho việc giải quyết vấn đề này. Bạo hành đến từ nhiều phía trong gia đình và giải quyết bạo hành gia đình cũng phải từ nhiều phía và bằng nhiều phương pháp, biện pháp khác nhau.

 

Trương Công Anh

Tỉnh ta có diện tích rừng và đất rừng lớn nhất cả nước. Trừ diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, còn lại được gọi là rừng sản xuất. Trên diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng hiện có đang được coi là "vùng cấm" không sản xuất. "Cấm" với nghĩa là không được khai thác gỗ, không được đụng chạm vào 2 loại rừng này. Như thế liệu đã thật chính xác, đã thật phù hợp.

Với rừng (đất rừng) sản xuất, hay rừng kinh doanh, hiện tại đang được trồng cây nguyên liệu - với keo là cây chủ lực có chu kỳ sản xuất từ 5 đến 7 năm. Thực trạng này, liệu đã cho hiệu quả kinh tế cao và liệu đã phù hợp?

Miền Tây Nghệ An, nơi tập trung diện tích rừng và đất rừng của tỉnh, đang là vùng nghèo. Nghèo bởi chỉ có rừng và đất rừng là tài nguyên gần như duy nhất, bởi cơ sở hạ tầng, cả cứng và mềm đều còn thấp. Liệu rừng và đất nếu biết tổ chức sản xuất tốt có thể vực dậy được miền Tây không?

Thử lý giải để nghĩ khác:

1. Trong rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ngoài các loại cây gỗ là chủ yếu, dưới tán rừng còn có khá nhiều cây dược liệu, trong đó có những loại cây dược liệu quí (các loại sâm). Một số loại sâm có ở các khu bảo tồn thiên nhiên của tỉnh ta, có quan hệ họ hàng gần với sâm Ngọc Linh. Qua kiểm nghiệm, sâm của ta không hề thua kém sâm Ngọc Linh về chất lượng. Vậy ta nghĩ gì với tài nguyên dược liệu này? "Cấm" với nghĩa bịt chặt, để mặc các loại dược liệu này cứ tự sinh, tự diệt hay phải "bịt" càng chặt càng tốt, những gì phải bịt. Còn thì phải "mở" để tài nguyên dược liệu được khai thác, được tái tạo nhiều thêm lên. Thực tiễn việc khai thác, trồng, chế biến sâm Ngọc Linh ở huyện Bắc Trà Mi - Quảng Nam đã cho ta câu trả lời. Rừng vẫn được bảo vệ nghiêm ngặt, đất dưới tán rừng được dân, doanh nghiệp trồng sâm Ngọc Linh. Và sâm Ngọc Linh được chế biến  ra  nhiều sản phẩm thành chuỗi. Để cung ứng giống, lại có cơ sở nuôi cấy giống theo công nghệ cấy mô. Cây sâm Ngọc Linh đem lại nguồn thu lớn cho dân, cho doanh nghiệp, cho địa phương. Thế là nhất cử lưỡng tiện. Nghệ An hẳn phải học theo, làm theo Bắc Trà Mi - Quảng Nam. Học theo, làm theo càng sớm, càng tốt. Phải nghĩ khác đi, làm khác đi để bảo vệ và khai thác tổng hợp cả hiệu quả, phòng hộ, hiệu quả "đặc dụng" và hiệu quả kinh tế. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Y tế tỉnh ta hãy cùng nhau nghĩ khác và làm khác đi.

2. Rừng sản xuất, hay rừng kinh doanh, hiện tại chủ yếu đang trồng cây nguyên liệu với cây keo là chủ lực, tức là trồng rừng thuần chủng. Phương thức trồng rừng nguyên liệu này có mấy điều thuận sau đây:

- Không đòi hỏi đầu tư lớn/ ha trồng rừng, kỹ thuật cũng khá đơn giản, phù hợp với trình độ canh tác hiện nay. Do đó, có thể nhanh chóng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc.

- "Đầu ra" cho sản phẩm cây nguyên liệu đã tương đối ổn, với nhà máy gỗ ván sợi MDF ở Nghĩa Đàn và sẽ có thêm một nhà máy nữa ở Anh Sơn trong thời gian tới. Người trồng rừng có thể yên tâm để trồng và mở rộng diện tích trồng rừng nguyên liệu.

- Chu kỳ sản xuất ngắn 5-7 năm. Người trồng rừng sớm có thu nhập, quay vòng vốn nhanh.

Những điểm thuận trên đây đang là động lực tốt để trồng rừng nguyên liệu ở tỉnh ta tiếp tục phát triển, thúc đẩy sự phát triển kinh tế các huyện miền Tây.

Song, nhìn nhận thấu đáo cả hiệu quả kinh tế lẫn hiệu quả môi trường, nhìn nhận lợi ích dài hơi hơn, nhìn nhận theo quan điểm phát triển bền vững thì trồng rừng nguyên liệu với cây thuần chủng (cụ thể là keo) nếu so sánh với trồng rừng cây gỗ lớn, với trồng rừng hỗn giao (tức là nhiều loại cây xen nhau trên cùng một diện tích) lại có những điều không thuận hay bất lợi.

 Về hiệu quả kinh tế: Nếu tính chu kỳ cây nguyên liệu là 5 năm thì sẽ có 6 chu kỳ trong 30 năm. Vậy 1 ha cây nguyên liệu mỗi năm sẽ có 20 triệu tiền bán nguyên liệu. Cùng trong thời gian 30 năm trồng cây gỗ lớn với các cây lim, vàng tâm, sưa, trầm gió… ta sẽ có 400 cây lim, 100 cây sưa, 100 cây vàng tâm, 1.000 cây trầm gió/ha (lấy số liệu này từ bài: Chuyện người trồng rừng ở bản Hà - Báo Nhân dân số ra ngày 5/11/2017). Ông Đinh Xuân Niêm người trồng 5 ha rừng gỗ lớn hỗn giao cho biết cây lim lớn nhất trong rừng của ông có người trả 100 triệu đồng nhưng ông chưa bán. Còn cây trầm gió ông đã bán một đợt được 600 triệu (chưa bán hết toàn bộ cây). Như thế ước tính, sau 30 năm nếu khai thác bán hết tất cả các cây nói trên thì 1 ha sẽ bán được khoảng 40 tỷ. Một con số cực lớn. Mỗi năm 1 ha trồng rừng cây gỗ lớn hỗn giao sẽ bán được khoảng 1,3 tỷ, gấp nhiều lần so với trồng rừng nguyên liệu keo. Cứ cho là con số ước tính ấy quá cao, ta lấy một nửa thôi thì tiền bán được trên 1 ha cây gỗ lớn hỗn giao cũng gấp đến 35 lần so với trồng rừng nguyên liệu thuần keo. Tạm kết luận, trồng rừng nguyên liệu keo thuần là không thể làm giàu. Chỉ có trồng rừng cây gỗ lâu năm hỗn giao thì mới có thể làm giàu. Có điều trồng gỗ lâu năm thời gian một chu kỳ dài gấp 6 lần mà thôi.

Về hiệu quả kinh tế giữa rừng thuần và rừng hỗn giao có thêm một thông tin khá lý thú. Ở Lâm Đồng và Đắc Lắc, ngành nông nghiệp từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu khoa học đã khuyến cáo, khuyến khích các hộ, các doanh nghiệp trồng cà phê, trồng tiêu nên trồng xen không nên trồng thuần. Trồng xen cà phê với tiêu, với một số cây ăn quả như bơ, sầu riêng… Trồng xen như vậy cho hiệu quả thu nhập cao hơn, bảo vệ đất tốt hơn, tận dụng được nước, phân bón, phòng chống dịch bệnh cho cây tốt hơn và ứng phó với sự lên xuống của giá cả đối với từng sản phẩm cũng tốt hơn: Lấy cây này bù cây kia.

Về hiệu quả môi trường: Một trong những đặc điểm của rừng nhiệt đới là rừng hỗn giao - rừng nhiều tầng. Rất khác với rừng ôn đới là rừng thuần và ít tầng. Khí hậu nhiệt đới mưa nhiều, nhiệt độ trung bình cao, cường độ ánh sáng mạnh cho phép nhiều loại cây, ở nhiều tầng khác nhau có thể sinh trưởng và phát triển. Rừng tự nhiên là như vậy. Thế thì nếu ta trồng rừng thuần là không thật hợp với lẽ tự nhiên, không những thế trồng rừng thuần không tận dụng được lợi thế mà khí hậu nhiệt đới tạo cho. Đó là một sự lãng phí đối với tài nguyên khí hậu.

Rừng thuần cây nguyên liệu chu kỳ ngắn, độ khép tán mỏng, khả năng giữ đất, giữ nước thấp. Đó là chưa nói tới một số loại cây nguyên liệu nào đó còn làm đất xấu đi cả về tính chất lý - hóa - sinh. Ngược lại với rừng gỗ lớn hỗn giao có độ khép tán dày, có nhiều tầng nên khả năng giữ đất, giữ nước cao. Độ che phủ dưới tán rừng dày làm tăng độ phì nhiêu của đất. Rừng cây gỗ lớn hỗn giao bảo vệ môi trường và cả môi sinh tốt hơn hẳn so với trồng rừng thuần cây nguyên liệu.

Tạm kết luận: Để ngành trồng rừng phát triển bền vững, để làm giàu từ trồng rừng phải trồng rừng hỗn giao vừa có cây nguyên liệu (chu kỳ ngắn) vừa có những cây gỗ lớn - vừa có cây tầng cao, tầng giữa, tầng thấp.

Ngành nông nghiệp tỉnh ta cũng đã đặt vấn đề về trồng cây gỗ lớn bởi lợi ích lớn, lâu dài, căn cơ. Nhưng đầu tư ban đầu lớn, thêm nữa thời gian để có cái gọi là thu nhập quá dài, những 30 năm nên xem ra chưa mấy ai, chưa mấy địa phương mặn mà. Vậy phải nghĩ ra cách để làm. Làm thế nào xin nói ở sau.

3. Lý giải câu hỏi rằng: Liệu rừng và đất rừng nếu biết tổ chức sản xuất tốt có thể vực dậy được miền Tây Nghệ An không?

Câu trả lời là có thể, như đã lý giải một phần ở điểm 2 ở trên. Để rộng đường suy nghĩ xin cung cấp thêm thông tin sau đây:

Phần Lan là một quốc gia ở Bắc Âu đã giàu dần lên từ kinh tế rừng - xin nhấn mạnh: Kinh tế rừng - chứ không chỉ trồng rừng, nhưng điểm xuất phát là trồng rừng. Họ trồng rừng gỗ lớn - rừng thuần bởi khí hậu ôn đới họ không thể có rừng hỗn giao, rừng nhiều tầng như ở ta. Chu kỳ rừng trồng ở Phần Lan cũng dài, trên dưới 30 năm. Từ gỗ rừng trồng họ chế biến nhiều sản phẩm sau gỗ với nhiều công nghệ mới. Để chế biến gỗ như vậy họ cần có cơ khí chế tạo, có hóa chất… Để có sản xuất lớn họ phải cơ giới hóa ngành trồng rừng: làm đất, trồng cây, khai thác, vận chuyển. Các cơ quan khoa học làm dịch vụ về giống (để có giống tốt nhất) về chăm sóc, phòng chống dịch bệnh. Để cơ giới hóa, để có cơ sở chế biến, cơ sở sản xuất hóa chất… họ cần có năng lượng. Nguồn than trắng được họ tận dụng với việc xây dựng các nhà máy thủy điện. Như vậy là có tổng thể nhiều ngành cùng tác động, cùng phát triển mà ngành xuất phát là trồng rừng, sản xuất ban đầu là gỗ của rừng trồng. Tổng thể nhiều ngành ấy tạo nên khái niệm kinh tế rừng. Từ rừng - xoay quanh rừng, dựa vào nhau, tác động lẫn nhau, nâng bước nhau lên cùng một hướng: Phát triển bền vững, làm giàu. Để có một ngành lớn kinh tế rừng như vậy không phải là chuyện chục năm mà là chuyện nhiều chục năm. Với Phần Lan là trên dưới 40 năm. Dẫu cần đến gần nửa thế kỷ Phần Lan mới đạt được kết quả cuối cùng, nhưng sẽ không có được thành quả ấy nếu như không bắt tay vào làm từ những năm đầu tiên với tầm nhìn 30 - 40 - 50 năm.

Nghệ An ta nghĩ gì và nên nghĩ như thế nào từ "mô hình" Phần Lan?

Nghĩ khác để hướng tới việc trồng rừng hỗn giao - kinh doanh tổng hợp miền Tây Nghệ An.

1. Từ những lý giải ở trên để trước hết có cách hiểu biện chứng giữa truyền thống với hiện đại, giữa hiện tại và tương lai để khởi nghiệp sáng tạo cho ngành (nghề) trồng rừng ở mỗi xã, mỗi huyện của miền Tây tỉnh ta. Cách nhìn biện chứng này giúp ta sớm vượt qua tâm lý sớm thỏa mãn, sớm tự bằng lòng vốn có của người sản xuất nhỏ. Cùng cách hiểu biện chứng lại phải có cách hiểu hợp quy luật của tự nhiên, hợp quy luật kinh tế. Từ đó để hành động hợp quy luật khách quan. Hành động hợp quy luật tự nhiên, hợp quy luật xã hội thì tồn tại và phát triển. Hành động trái quy luật thì khó mà tồn tại chứ chưa nói đến phát triển.

Có cách nhìn đúng để có tầm nhìn rộng, tầm nhìn xa, phải nhìn rộng ra ở các tỉnh khác, ở các nước khác, mới nhìn mình chuẩn. Nếu cứ nhìn mình trong không gian hẹp, trong "lũy tre làng" thì bảo thủ là cái chắc. Phải nhìn xa về tương lai của 20 -30 - 40 năm sau để biết lấy ngắn nuôi dài, biết làm gì cho mình hiện tại đồng thời cũng làm cho con, cháu mai sau. Không có tầm nhìn xa sẽ rơi vào cảnh: "bóc ngắn cắn dài", "cha ăn mặn con khát nước".

Có cách nhìn đúng, có tầm nhìn rộng, nhìn xa mới có cơ sở để tìm ra cách làm, xác định được bước đi phù hợp, hiệu quả.

2. Hãy nghĩ tới - hãy nghĩ mới để hướng tới ngành trồng rừng hỗn giao - kinh doanh tổng hợp ở miền Tây tỉnh ta.

Rừng hỗn giao được hiểu là rừng vừa trồng cây nguyên liệu ít năm, vừa trồng cây gỗ lớn lâu năm trên một diện tích nào đó. Với cây gỗ lớn cũng trồng xen nhiều loại cây khác nhau chứ không thuần một loại cây nào. Rừng hỗn giao cũng được hiểu là rừng nhiều tầng: tầng cao, tầng giữa, tầng thấp. Khi bắt đầu trồng, cây chưa khép tán còn trồng các cây che phủ đất trống giữa các hàng cây nguyên liệu, cây gỗ lớn.

 Rừng kinh doanh tổng hợp là kiểu rừng đa sản phẩm: Gỗ, sản phẩm phi gỗ, sản phẩm dài ngày, sản phẩm ngắn ngày, dược liệu, nấm, hoa phong lan, mật ong, và các sản phẩm từ chăn nuôi dưới tán rừng… Kinh doanh tổng hợp còn có nghĩa là, gắn sản xuất với chế biến tạo nên chuỗi sản phẩm từ các sản phẩm của rừng. Kinh doanh tổng hợp cho ta nhiều nguồn thu: nguồn thu hàng vụ, hàng năm, hàng nhiều năm. Sau một chu kỳ, nguồn thu từ nhiều sản phẩm nguyên liệu và sản phẩm đã chế biến, nguồn thu từ trồng trọt và cả nguồn thu từ chăn nuôi (dưới tán rừng). Từ đó có nguồn thu tổng hợp vào một đơn vị diện tích trong năm lớn hơn nhiều so với chỉ một nguồn thu duy nhất khi đơn canh, kinh doanh độc ngành.

 Trồng rừng hỗn giao - kinh doanh tổng hợp là cách để lấy cực ngắn nuôi ngắn, lấy ngắn nuôi dài, lấy nguồn thu này bổ trợ nguồn thu khác. Trồng rừng hỗn giao, kinh doanh tổng hợp vừa tận dụng tối đa tài nguyên đất, nước, khí hậu vừa là giải pháp cơ bản, vững chắc để bảo vệ môi trường sinh thái: Bảo vệ nguồn nước, bảo vệ bầu không khí, bảo vệ chống xói mòn, chống sạt lở đất… và cũng là phương cách để thích ứng với biến đổi khí hậu.

 Tóm lại: Với trồng rừng hỗn giao, kinh doanh tổng hợp hiệu quả kinh tế cao và ngày một cao lên, hiệu quả môi trường tốt, đó chính là phát triển bền vững, là kết quả của cách nhìn, tầm nhìn cần có, hợp quy luật.

Nói hướng tới ngành trồng rừng hỗn giao - kinh doanh tổng hợp hàm nghĩa của hai nội dung sau đây:

- Từ các hộ, các doanh nghiệp trồng rừng, đến chính quyền các cấp, các tổ chức quản lý nhà nước, các đơn vị khoa học, kinh tế kỹ thuật liên quan phải ngay từ bây giờ không chỉ nghĩ và làm rừng nguyên liệu trồng thuần, đơn canh và độc canh. Đã đến lúc phải nghĩ đến trồng rừng hỗn giao, kinh doanh tổng hợp. Không thỏa mãn dừng lại ở trồng rừng nguyên liệu mà phải tạo bước đột phá để hướng tới trồng rừng hỗn giao, kinh doanh tổng hợp.

- Ngay từ bây giờ, phải xác định được cách đi, bước đi, phải tạo lập các tiền đề, điều kiện về nhận thức; về tổ chức, cán bộ; về nguồn lực và cơ sở hạ tầng; về cơ chế và chính sách; về lãnh đạo và chỉ đạo… để sớm có các mô hình, rồi từ mô hình nhân rộng cho các năm tiếp theo. Nói một cách tổng quát đã đến lúc phải có chủ trương chính thống. Từ chủ trương có một chương trình tổng thể, nhất quán. Từ chương trình đó mà xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn để rừng hỗn giao, kinh doanh tổng hợp ra đời và phát triển dần lên. Cái đích hướng tới là 30 - 40 năm sau Nghệ An thực sự có một ngành trồng rừng hỗn giao kinh doanh tổng hợp và miền Tây Nghệ An thoát nghèo.

Mấy gợi ý mang tính đề xuất

Để có rừng hỗn giao kinh doanh tổng hợp cần thời gian hàng chục năm. Nhưng không vì vậy mà không làm ngay từ bây giờ những việc mang tính mở đầu. Với tinh thần ấy, xin gợi ý mấy việc cần làm ngay trong thời gian tới:

1. Ngành nông nghiệp trực tiếp tham mưu để UBND tỉnh ban hành chủ trương với 2 nội dung:

- Trồng xen các cây gỗ lớn (lâu năm) trên đất đã hoặc sẽ trồng cây nguyên liệu chu kỳ 5 - 7 năm.

 - Giao một phần diện tích rừng tự nhiên đang do các khu bảo tồn thiên nhiên (Pù Mát, Pù Hoạt, Pù Huống), hoặc đang do các nông lâm trường quản lý để nuôi trồng khai thác dược liệu theo chương trình dược liệu mà Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đã xác định.

Nếu xét thấy cần thiết có thể tách từng nội dung để có chủ trương riêng.

2. Từ chủ trường trồng xen cây gỗ lâu năm (gỗ lớn) trên diện tích đã hoặc sẽ trồng cây nguyên liệu thuần, ngành nông nghiệp có một chương trình cụ thể và kế hoạch chi tiết để thực hiện tận từng hộ, từng doanh nghiệp trồng rừng, từng xã, từng huyện. Chương trình và kế hoạch tối thiểu cần có mấy việc sau đây:

- Xác định các loại cây gỗ lớn (chủ yếu là cây bản địa) cần trồng xen thích hợp nhất cho từng vùng.

Lập kế hoạch tạo giống, cung ứng giống (cây giống) cho từng xã, từng huyện (cả về chủng loại và số lượng) từng năm theo tiến độ thực hiện. Giao việc tạo giống và cung ứng giống cho tổ chức, đơn vị cụ thể.

- Thông qua tổ chức khuyến nông và cán bộ khuyến nông cơ sở để hướng dẫn và chuyển giao kỹ thuật cho hộ và doanh nghiệp trồng rừng.

- Đề xuất để UBND tỉnh có cơ chế và các chính sách để hỗ trợ, khuyến khích việc trồng xen cây gỗ lớn.

3. Từ chủ trương của UBND tỉnh, chương trình, kế hoạch của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cấp ủy huyện, xã xác định nội dung lãnh đạo, chính quyền và mặt trận - trực tiếp là hội nông dân, hội làm vườn tuyên truyền, vận động và hướng dẫn từng hộ, từng doanh nghiệp thực hiện.

4. Với chủ trương giao hoặc dành một số diện tích nhất định ở rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng hiện do các nông, lâm trường quản lý để nuôi trồng khai thác dược liệu, thì ngoài ngành nông nghiệp cần có sự vào cuộc đầy trách nhiệm của ngành y tế, của Sở Khoa học và Công nghệ, của các doanh nghiệp dược.

- Trên cơ sở điều tra, khảo sát chu đáo, tỉ mỉ trên thực địa, trên thị trường để xác định thật chính xác những cây dược liệu cần và có thể nuôi, trồng, khai thác dưới tán rừng của từng địa điểm địa lý.

- Từ kết quả đó xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng cây: Cây gì? Ở đâu? Diện tích cần bao nhiêu? Cây gì phải bắt đầu từ nuôi trồng sau đó mới khai thác, cây gì có thể vừa nuôi trồng vừa khai thác. Giao diện tích đó cho tổ chức, đơn vị kinh tế nào? Tạo giống và cung ứng giống cụ thể là bao nhiêu? Giao cho tổ chức hay đơn vị nào lo?

- Hướng dẫn và chuyển giao kỹ thuật nuôi trồng, bảo vệ, thu hái, bảo quản, sơ chế… tổ chức đầu ra cho dược liệu, liên kết để gắn nuôi trồng, thị trường và chế biến.

Mục đích cuối cùng của chủ trương này là rừng được bảo vệ tốt hơn, đồng thời dưới tán rừng được khai thác mang lại hiệu quả kinh tế cụ thể. Vẫn là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ nhưng có thêm chức năng rừng kinh tế.

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Y tế, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công thương phối kết hợp để thực hiện chủ trương này, trong đó Sở Y tế đóng vai trò chủ trì.

5. Với chủ trương nói trên, đây có thể coi là bước đột phá về nhận thức và hành động tiền năng đi tới hữu năng trong đời sống kinh tế, chứ không cứ mãi "sống tiềm năng". Để đột phá thành công phải:

- Làm đến nơi đến chốn, sâu sát, cụ thể việc tuyên truyền, vận động, thuyết phục, hướng dẫn để các hộ, các doanh nghiệp trồng rừng nhận thức tự giác về:

 Lợi ích cả trước mắt và lâu dài, lợi ích của từng cá thể và lợi ích chung của xã hội, lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường khi thực hiện chủ trương này.

 Đây là hướng đi hợp quy luật, hướng đi đúng và cần thiết để thoát nghèo, đi tới làm giàu từ rừng và trồng rừng.

 Rằng lấy cực ngắn nuôi ngắn, lấy ngắn nuôi dài mọi thành phần kinh tế cùng với sự hỗ trợ của nhà nước đều có thể làm được chủ trương này.

- Xây dựng mô hình ban đầu. Ở mỗi xã đều có mô hình. Phổ biến trên các phương tiện truyền thông các mô hình hay ở trong tỉnh và của các tỉnh bạn trong cả nước. Từ mô hình nhỏ dần mở ra các mô hình lớn. Chỉ đạo nhân rộng mô hình theo kiểu vết dầu loang (Mô hình cụ thể thế nào xin không trình bày ở đây).

- Tổ chức các lớp tập huấn, cập nhật và chuyển giao kỹ thuật theo phương châm cầm tay chỉ việc cho các hộ trồng rừng.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ có tâm huyết, có hiểu biết để tổ chức chỉ đạo việc thực hiện chủ trương này.

Chúng ta không thể mãi bằng lòng với hiện trạng của rừng và ngành trồng rừng hiện nay. Phải nghĩ tới và hướng tới ngành trồng rừng hỗn giao kinh doanh tổng hợp. Phải bắt tay vào làm ngay từ bây giờ. Là việc mới nên là việc khó. Nhưng hãy làm đi, vừa làm vừa học, thực tiễn sẽ giúp chúng ta sáng tỏ thêm, sẽ dạy để ta khôn thêm. Làm như cụ Nguyễn Hữu Đợi từng nói: "Nhảy vào tóe ra"!

 

Lãnh tụ Phan Bội Châu với một nước Việt Nam mới

Nguyễn Đình Chú

 

Tóm tắt những ý chính:

1). Phan Bội Châu là "một bậc anh hùng, một vị thiên sứ được hai mươi lăm triệu đồng bào sống trong vòng nô lệ tôn kính" (Nguyễn Ái Quốc). Cuộc đời cách mạng của Phan Bội Châu là tấm gương phản chiếu trung thành nhất sự chuyển biến của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam từ sau ngày phong trào Cần vương thất bại đến ngày có phong trào cách mạng vô sản.

2). Có thể nói cho đến nay, sự nhận thức của hậu thế về Phan Bội Châu còn bị hạn chế đáng kể. Một biểu hiện rõ nhất là đơn giản hóa sự nghiệp cứu nước và cách mạng của Phan Bội Châu gói gọn lại trong một khuynh hướng duy nhất là bạo động. Trong khi, đúng là Phan thiên về bạo động nhưng thực tế và trong ý tưởng lại bao gồm cả hai: vừa bạo động vừa duy tân cái cách. Phan là người sớm tiếp nhận tân thư từ năm 1897. Cũng là người đi trước nêu cao khẩu hiệu "Khai dân trí - Chấn dân khí - thực nhân tài" từ năm 1903 (Lưu cầu huyết lệ tân thư). Phan Đông du đi Nhật đúng là với ý đồ cầu viện theo con đường bạo động nhưng thực tế lại chỉ là duy tân đào tạo nhân tài.

3). Gần đây, đó đây có hiện tượng nhạt dần với con đường bạo động cứu nước mà xuất hiện khuynh hướng đề cao Phan Châu Trinh. Điều đó có lý do thời đại. Nhưng đáng tiếc là trong khi đề cao Phan Châu Trinh lại có chiều hướng hạ thấp Phan Bội Châu bằng cách đơn giản hóa sự nghiệp cứu nước của Phan Bội Châu cho là chỉ bạo động và bạo động mà thôi. Trong khuynh hướng hạ thấp cụ Phan xứ Nghệ lại dựa vào một số lời không hay gì của cụ Phan xứ Quảng chê bai cụ Phan xứ Nghệ.

4). Bài viết này muốn làm rõ sự nghiệp cứu nước của cụ Phan xứ Nghệ là phong phú, là tương kế tựu kế, tùy theo hoàn cảnh mà đối phó, không hề đơn điệu, thể hiện một tầm vóc văn hóa tối ưu trong việc lựa chọn đường lối đấu tranh. Đặc biệt đã hướng tới một mô hình đất nước mới mẻ và rất mực tiến bộ so với quá khứ đã đành mà còn đáng cho người Việt Nam hôm nay suy nghĩ. Đấy là một nước Việt Nam mới được Phan trình bày trong tác phẩm "Tân Việt Nam" viết năm 1907 trên đất nước Nhật. Với nước Việt Nam mới này, đất nước Việt Nam sẽ có mười điều sung sướng. Và để được mười điều sung sướng thì có sáu điều mong muốn. Trong nước Việt Nam mới này lại có một quân đội mới được thể hiện trong Quang phục quân phương lược sách do Nguyễn Đức Công (Hoàng Trọng Mậu) và Phan Bội Châu cùng viết năm 1912 trong dịp thành lập Việt Nam Quang phục hội với tôn chỉ: "Muốn cho ích nước lợi nhà/ Ắt là dân chủ cộng hòa mới xong".

Nội dung bài viết:

Sự nghiệp cách mạng của lãnh tụ Phan Bội Châu dù chưa thành công nhưng là vô cùng vĩ đại và cũng vô cùng phong phú, biến hóa. Tôi xin được nói rằng: hậu thế chưa hiểu hết tầm vóc vĩ đại, phong phú và biến hóa đó. Chẳng phải thế sao? Bao nhiêu năm nay, hầu như mọi người nói đến Phan Bội Châu là chỉ nói đến chủ trương bạo động trong khi Phan Châu Trinh thì chủ trương bất bạo động, cải cách duy tân,... Để rồi, trừ Chủ tịch Hồ Chí Minh, một thời say sưa với bạo động thì đề cao Phan Bội Châu, hạ thấp Phan Châu Trinh. Gần đây có phần nguội nhạt với cảm hứng bạo động mà thiên về cải cách duy tân bất bạo động thì lại đặt cụ Phan xứ Quảng lên trên cụ Phan xứ Nghệ, thậm chí còn hạ thấp cụ Phan xứ Nghệ. Do đã không thấy rằng cụ Phan xứ Nghệ ở thời gian đầu còn chịu ảnh hưởng của phong trào Cần vương thì vẫn theo con đường bạo động. Nhưng một khi chính thức dấn thân vào công cuộc cách mạng cứu nước thì tuy vẫn theo chủ trương bạo động nhưng trong chủ trương cũng như trong thực tiễn hành động cách mạng vẫn đi bằng hai chân. Chân phải là bạo động. Chân trái là duy tân cải cách. Chưa rõ là cụ Phan xứ Quảng đến với Tân thư, với Mạnh Đức Tư cưu (Montesquieu), Lư Thoa (Jean Jacques Rousseau) tự năm nào. Theo Niên biểu trong sách Phan Châu Trinh - về tác gia tác phẩm, NXB Giáo dục in năm 2007 thì năm 1902 trong khi làm Thừa biện Bộ Lễ, Cụ đọc Tân thư. Nhưng với cụ Phan xứ Nghệ thì Phan Bội Châu niên biểu đã cho biết là  "năm Đinh Dậu (1897) nhân dịp vào Huế, quen biết Nguyễn Thượng Hiền là người tàng trữ những văn chương của ông Kỳ Am Nguyễn Lộ Trạch xưa nay chưa ai xem, bây giờ mới đưa tôi xem. Tôi được đọc bài Thiên hạ đại thế luận của ông Kỳ Am mà nhân đó tư tưởng mới  măng mầm nơi tôi. Tiên sinh lại cho tôi mượn mấy pho sách như Trung Đông chiến ký, Phổ Pháp chiến ký cùng pho Doanh hoàn chí lược. Tôi vì xem những pho sách ấy mà hiểu qua được thời trạng cạnh tranh ở trong hoàn cầu, thảm trạng vì quốc vong, họa sâu vì chủng diệt, càng kích thích ở trong óc sâu lắm". Năm 1903, trong khi cụ Phan xứ Quảng đang tại chức Thừa biện Bộ Lễ, cụ Phan xứ Nghệ đã hăng hái tập hợp lực lượng, viết Lưu cầu huyết lệ tân thư cổ động việc mở trí khôn   cho dân (Khai dân trí), nhức nhói khí dân (chấn dân khí), vun trồng nhân tài (thực nhân tài). Hội Duy tân thành lập năm 1904. Cụ là một trong hai người sáng lập chính Chuyện Đông du sang Nhật Bản cũng là thế, lúc đầu  với ý thức cầu viện để đánh Pháp nhưng thực tế, vì lẽ này lẽ khác, lại chỉ tiến hành duy tân,  đào tạo nhân tài cho đất nước mà lịch sử đã coi đó là một điểm son chói lọi. Chưa kể là trong khi Đông du, năm 1906, về nước, Cụ vẫn bí mật hội kiến ban đêm trên sông Lam với các cụ Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Lê Văn Huân, Đặng Văn Bá  của Triêu Dương thương quán ở thành phố Vinh Nghệ An thuộc phái "minh xã". Với phong trào Đông kinh nghĩa thục, cũng vậy. Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu chẳng phải đã được Lê Đại trong Ban tu thư của trường Đông kinh nghĩa thục diễn nôm làm tài liệu học tập của nhà trường đó sao. Đúng là công cuộc cứu nước của lãnh tụ Phan Bội Châu ở buổi đầu tuy thiên vào bạo động nhưng vẫn là một sự phối hợp đẹp với khuynh hướng duy tân cải cách mà đó là đường lối, là phương thức tối ưu cho công cuộc cứu nước. Không như cụ Phan xứ Quảng một khi theo hướng duy tân cải cách thì quyết liệt chống khuynh hướng bạo động, cho là "bạo động tắc tử/ Vọng ngoại giả ngu". Đơn giản hóa trong tư duy, hoặc không nghiên cứu đầy đủ mà chạy theo cảm hứng một phía để rồi   lúc thì đề cao người này hạ thấp người khác, lúc thì ngược lại như đã có là không ổn. Cần phải nói lại như thế. Nhưng nói lại như thế vẫn chưa đủ. Phải nói thêm điều rất cần nói nữa để thấy rõ hơn tầm vóc vĩ đại của người họ Phan đeo trên mình viên ngọc quí (Phan Bội Châu) đã trở thành "bậc anh hùng, vị thiên sứ được hai mươi triệu đồng bào sống trong vòng nô lệ tôn kính" (Nguyễn Ái Quốc) đã đành. Quan trọng hơn, còn là để nhận diện thực trạng của phong trào cách mạng giải phóng đất nước ở đầu thế kỷ XX đầy đủ hơn và cũng là để có thêm cơ sở nhận thức cho công cuộc xây dựng phát triển đất nước hôm nay và mai sau. Điều cần nói thêm đó chính là Vấn đề nước Việt Nam mới trong học thuyết cách mạng của lãnh tụ Phan Bội Châu.

*   *

*

Thông thường nói đến độc lập là nói chủ quyền được bảo toàn trọn ven. Mất nước là mất chủ quyền trọn vẹn đó. Cứu nước là giành lại chủ quyền trọn vẹn cho đất nước. Nhưng có vấn đề là độc lập rồi thì vẫn giữ lấy chính thể cũ hay thay đổi bằng một chính thể mới. Ở nước ta từ ngày mất nước về tay thực dân Pháp, các phong trào cứu nước liên tục nối tiếp nhau. Mà với phong trào Cần vương cuối thế kỷ XIX thì chỉ lo chống Pháp chưa có ý niệm gì thay đổi thể chế chính trị xã hội. Nghĩa là phong kiến rồi vẫn phong kiến. Nhưng sang đầu thế kỷ XX trở đi, với phong trào cứu nước trước và sau 1930, đã kèm theo mục tiêu xây dựng một chế độ chính trị xã hội mới. Bởi thế mà có định ngữ cách mạng kèm theo khi nói đến các cuộc đấu tranh cứu nước thời này. Với phong trào cách mạng đầu thế kỷ XX đến 1930. Điều mới là đã nhận ra tính chất lỗi thời của chế độ phong kiến, mà người tiêu biểu, là  cụ Phan của xứ Quảng và cụ Phan xứ Nghệ. Với cụ Phan xứ Quảng, vua là "quốc tặc" (thằng giặc của đất nước). Với cụ Phan xứ Nghệ "vua là tượng gỗ"(1) , "Nguyễn triều của Việt Nam cũng như Mãn triều của Trung Quốc đều là phường chó chết cả"(2). Ở đây, đã có chuyện từ bỏ chế độ phong kiến để hướng tới một chế độ mới. Tuyên cáo của Việt Nam quang phục hội thành lập năm 1912 do chí sĩ Nguyễn Đức Công (Hoàng Trọng Mậu) chấp bút là chính đã viết: "Muốn cho ích nước lợi nhà/ Ắt là dân chủ cộng hòa mới xong". Thể chế xã hội đó đã được các sử gia mệnh danh là chế độ dân chủ tư sản cũ. Nhưng chế độ dân chủ tư sản cũ đó có nội dung cụ thể ra sao thì chưa được các sách báo nói rõ. Cụ Phan xứ Quảng có tác phẩm Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam viết ở Pháp trong khoảng thời gian 1913-1914 để gửi cho hai tên trùm thực dân Pháp là Metsximi và Albert Saraut. Tác phẩm được in lại trong Phan Châu Trinh toàn tập - Tập III thì chưa phải là một văn bản hoàn chỉnh. Nội dung ở đây chỉ mới có các vấn đề: 1. Lịch sử giáo thiệp của dân tộc Việt Nam với Trung  Quốc; 2. Lịch sử giáo thiệp giữa nước Nam và nước Pháp; 3. Đặc tính tự tôn và tự ty. Tính ỷ ngoại và bài ngoại; 4. So sánh chỗ mạnh yếu, được mất, đồng dị giữa dân tộc ta  và dân tộc Trung Hoa; 5. Luận về phong trào chống Pháp; 6. Chân tướng của hai đảng; 7. Lịch sử dân tộc nước Nam; 8. Nguyên nhân sa sút của người nước ta. Nguyên nhân phát khởi của người nước ta. Đề cập nhiều vấn đề như thế nhưng vấn đề tân Việt Nam sau khi đã liên hiệp với Pháp cụ thể là thế nào thì chưa có gì ở văn bản này. Tại tiểu mục 6, tác giả có nói đến những chủ trương của mình như lập trường tiểu học phổ thông ở nông thôn, lập các hội tân học, diễn thuyết, trồng cây, cắt tóc, mặc áo ngắn,... thì đó chỉ mới là những hoạt động duy tân mà chưa đủ thể hiện hình thái xã hội, thể chế chính trị mà nước Việt Nam mới sẽ có là gì. Trong khi Tân Việt Nam - Nước Việt Nam mới - của cụ Phan xứ Nghệ là tác phẩm được viết ở Nhật Bản, tại Bính Ngọ Hiên - Hoành Tân từ năm 1907, nguyên văn chữ Hán. Văn bản hiện có ở gia đình cụ Phan, Thư viện khoa học trung ương, Kho sách chữ Hán thuộc Cục lưu trữ Nhà nước. Đã có vài bản dịch ra Quốc ngữ. Có bản dịch đã được công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 78 (4 - 1968). Chuyên gia về Phan Bội Châu là Chương Thâu - đã dày công sưu tầm, kết nối, hoàn thiện văn bản của nguyên tác và có dịch phẩm in trong Phan Bội Châu toàn tập, tập II. Mở đầu tác phẩm có đoạn cụ Phan đã viết: "Bây giờ tôi xin thưa với đồng bào rằng: muốn xây dựng một Nước Việt Nam mới thì phải chịu sự cực như thế, chịu sự nhọc nhằn như thế, chịu sự phí như thế. Nếu đồng bào ta sợ cực lắm, nhọc lắm và phí lắm là bởi vì chưa biết nước Việt Nam ta sau khi đã duy tân rồi là sướng, là vui, là lợi đó mà thôi. Bây giờ tôi xin thưa với đồng bào ta có mười điều sướng lớn (thập đại khoái) như sau:

1. Không có cường quốc bảo hộ.

2. Không có bọn quan lại hại dân.

3. Không có người dân nào không được thỏa nguyện.

4. Không có người lính nào mà không được vinh dự.

5. Không có thuế xâu nào mà không  bình đẳng.

6. Không có hình luật nào mà không công bằng.

7. Không có nền giáo dục nào mà không hoàn thiện.

8. Không có nguồn địa lợi nào mà không khai phá.

9. Không có ngành công nghệ nào mà không phát đạt.

10. Không có ngành thương nghiệp nào mà không thịnh lợi.

Từ mười điều sướng lớn đó, tác giả làm rõ hơn nước Việt Nam mới là thế nào?

Là:

"… Sau khi đã duy tân rồi thì tư cách nội trị, quyền lợi ngoại giao đều do ta nắm giữ. Sự nghiệp văn minh ngày càng tiến bộ, phạm vi thế giới ngày càng mở mang. Ta sẽ có 300 vạn lục quân mạnh như cọp nhìn ngó trong bốn cõi, 50 vạn thủy quân dữ như kình, nghênh ngang trong biển lớn, rồi ta cũng có sứ thần  phái đi khắp các nước. Châu Âu, châu Mỹ, các nước Nhật, Mỹ, Đức, Anh đều liên kết với nước ta làm nước đồng minh bậc nhất. Các nước Xiêm La, Ấn Độ và các nước ở quần đảo Nam Dương đều tôn ta là nước minh chủ. Đến cả nước lớn ở châu Á là Trung Hoa cũng sẽ làm. nước anh em với nước ta. Nước thù địch của ta là nước Pháp cũng sợ ta, nghe theo ta, xin ta bảo hộ cho. Cờ nước ta phất phới trên thành Paris và sắc nước ta chói rạng ở trong địa cầu. Đến lúc ấy người nước ta chỉ sợ không rảnh mà bảo hộ cho nước khác. Bao nhiêu sự xấu hổ nhục nhã bị người khác bảo hộ trước đây đã thành như phương thuốc hay để gây dựng công việc duy tân đó mà thôi. Đài kỷ niệm xây cao, muôn đuốc sáng trưng thế giới. Gió tự do thổi mạnh, một luồng mát mặt cả năm châu. Nòi giống ta ưu thắng đến thế, sướng biết chừng nào!".

Là:

"Cái nọc chuyên chế của bọn người hại dân ấp ủ đã hàng ngàn năm nay từ bên Trung Quốc lây sang nước ta, đến nỗi một tên "độc phu" (vua) và vài vạn kẻ dung nhân (quan) làm cá làm thịt trăm họ dân ta. Thế mà dân ta ngu ngốc khờ dại không biết giành dân quyền, giữ quốc mệnh, chỉ ngày đêm lo hết lòng hết sức đem máu mỡ mình cung đốn cho bọn độc phu, dung nhân uống nuốt. Than ôi! Thật đấng thương thay!     

Sau khi đã duy tân rồi thì dân trí sẽ mở mang, dân khí sẽ lớn mạnh, dân quyến sẽ phát đạt. Vận mệnh nước ta do dân ta nắm giữ. Giữa đô thành nước ta đặt một tòa Nghị viện lớn. Bao nhiêu việc chính trị đều do công chúng quyết định. Thượng nghị viện phải đợi Trung nghị viện đồng ý. Trung nghị viện phải đợi Hạ nghị viện đồng ý mới được thi hành. Hạ nghị viện là nơi đa số công chúng có quyền tài phán việc của Trung nghị viện và Thượng nghị viện. Phàm nhân dân nước ta, không cứ là sang hèn, giàu nghèo, lớn bé đều có quyền bầu cử. Trên là vua nên để hay nên truất, dưới là quan nên thăng hay nên giáng, dân ta đều có quyền quyết đoán cả. Những vua tệ quan hư không hợp công đạo, thì khi hội nghị trong nghị viện, dân ta hội nhau công nghị, được có quyền khiển trách, trừng phạt. Đến khi ấy, trên quan dưới lại, ai mà hại dân, thì không được sống trong trời đất nữa. Đến khi ấy, dân ta chỉ có vui mừng sung sướng, ngậm cơm vỗ bụng mà thôi, như là cất đầu thấy trời, rầm tiếng vui ca muôn núi, tiếng vỗ tay ran như sấm, khen Chính phủ đến ngàn năm. Chúng ta vinh thịnh đến là thế, sướng biết chừng nào!".

Là:

"Sau khi duy tân rồi thì quyền uy nước ta cầm, nhân đạo ta giữ, nền văn minh thông suốt, cửa tự do mở rộng, báo chí tràn đường, tân thư đầy ngõ, đơn từ kiện cáo, bút lưỡi hùng đàm, luận bàn đủ các việc nội trị ngoại giáo. Người viết văn được rộng đường trước thuật. Bao nhiêu ẩn tình của chú phu xe, của người lính ngựa, của bà mẹ góa của đứa con côi, thảy thảy đều đạt tới tai vua. Đến khi đó, người nước ta sẽ sung sướng ngây ngất như khen biển lớn là không cùng, mắt xem khó hết, như là vì trời xanh sao quá rộng, tay khó với vin. Tự do như thế, sung sướng biết chừng nào!".

Là:

"Sau khi duy tân rồi thì trước là bỏ hết các tệ cũ đã từng kéo dài tới mấy triều vua, sau nữa phải sửa đổi hết các phép chính trị hà khắc của người Pháp. Thuế sưu, thuế thân không còn tí nào. Mọi thứ thuế khóa đều do Nghị viện quyết định. Việc đánh thuế thứ này, đánh thuế thứ kia phải được dân ta thừa nhận và đều dùng vào việc cần kíp, việc công ích. Nhân dân bình duyệt rồi, Chính phủ mới được sức tờ thu thuế xuống. Dân ta nạp một đồng tiền một hạt thóc đều có lòng vui sốt sắng, đều do lòng yêu nước tự nguyện nạp thuế, không có một tí gì là dã man cưỡng bức. Khi ấy chúng ta sung sướng như là trời cao biển rộng, bay nhảy khôn cùng. Ngày ấm gió hòa, trên dưới vui vầy, sướng biết chừng nào!".

Là:

"Từ trước đến đây, hình luật nước ta khắc nghiệt, tay chân phải gông cùm, thân thể bị đè nén, người muốn động mà không động được. Người bị tội khi ăn uống, thức ngủ so với trâu ngựa gà lợn không có gì khác biệt… Sau khi duy tân rồi thì trong nước không một người nào không có lòng yêu nước, phụng sự việc công, hết lòng thương yêu nhau, biết phục tùng chính lệnh, biết theo đuổi văn minh. Như vậy thì cần gì phải đợi đến những hình phạt nhỏ nhen nữa. Tuy vậy, nếu không may mà có vài người phạm tội thì cũng có những đạo luật hình văn minh để đối xử… Trong kinh đô, lập ra viện Cảm hóa có quan tòa do nhà Thái học cử ra phụ trách. Phàm những người phạm tội thì mở cho họ một trường học cho họ đến học để mở mang lòng lành, tu dưỡng tư cách người công dân của nước. Lại lập cho họ một xưởng thợ, rồi tùy theo tài mà dạy cho họ các nghề làm ăn để khỏi thất nghiệp bơ vơ mà phải đi đến chỗ mắc lỗi lầm. Lại đặt cho họ một người chức trách phán xử công bằng, một thầy giáo hiền lành, hàng ngày vào trong nhà giam thuyết giáo những điều phải chăng để người có tội biết hối cải, rồi đến khi mãn hạn giam, họ cũng như người vô tội. Mọi thứ dân quyền đều được bình đẳng… Lúc bấy giờ dân ta chỉ biết trị hòa mà không biết hình pháp là gì… Chúng ta sống vui như thế, sướng biết chừng nào!".

Là:

"Sau khi duy tân rồi thì trên triều đình dưới xã hội đều hết lòng chăm nom về việc giáo  dục, thể dục, không sót sự gì. Học Trung Quốc, học Nhật Bản, học châu Âu, học đủ mọi điều. Các ấu trĩ viên, dục anh viện, các trường tiểu học, trung học, đại học khắp thành thị thôn quê chỗ nào cũng có… Khi duy tân xong rồi thì người nước ta đã có trình độ hơn cả người châu Âu, châu Mỹ thì khỏi mời người nước ngoài dạy nữa. Cách thức mở trường, sắp xếp việc học, việc dạy và việc bổ nhiệm nhưng người học đã thành tài đều bắt chước theo cái hay cái tốt của các nước như Nhật Bản và châu Âu. Học triết học, văn học, sử học, chính trị, kinh tế, quân sự, luật pháp… Học công nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, nữ công, y thuật… bất kỳ giàu nghèo, sang hèn, trai gái, hễ từ năm tuổi trở lên, thì vào trường Ấu trĩ viện để chịu sự giáo dục của bậc ấu trĩ. Tám tuổi trở lên thì vào học trường Tiểu học để chịu sự giáo dục của bậc tiểu học. Mười bốn tuổi trở lên thì vào học ở trường Trung học để chịu sự giáo dục của bậc trung học. Đến tuổi mười tám tài chất đã khá thì vào học ở trường cao đẳng để chịu sự giáo dục của trường cao đẳng chuyên nghiệp. Tất cả mọi phí tổn về việc học đều do trên triều đình dưới xã hội chịu cả. Nếu như  người dân nào nghèo quá không làm sao đóng góp nổi thì triều đình xã hội tìm cách giúp đỡ khiến người trong nước không ai không được học đến bậc tiểu học trở lên… Sách học tiểu học, trung học, đại học thời có Bộ Giáo dục biên soạn có châm chước với lời nghị bàn, xét duyệt chung trong nghị viện. Tất cả nội dung của sách chỉ nhằm mở mang lòng dân yêu nước và lòng tin yêu lẫn nhau, khai dân trí, giúp dân quyền, khiến cho ai ai cũng tiến bộ ngày ngàn dặm… Được như thế sướng biết chừng nào!".

*   *

Những nội dung chính thuộc mười điều sướngnước Việt Nam mới sẽ đưa đến cho mọi người dân, không phân biệt giàu nghèo, sang hen, trai gái là như thế. Nhưng để có một nước Việt Nam mới với mười điều sướng đó, tác giả có sáu điều mong ước lớn (lục đại nguyện) đối với quốc dân đồng bào, gồm:

1. Xin mọi người trong nước ta đều có ý chí tiến thủ mạo hiểm.

2. Xin mọi người trong nước ta đều có tinh thần thương mến tin yêu nhau.

3. Xin mọi người trong nước ta đều có tư tưởng tiến bước lên nền văn minh.

4. Xin mọi người trong nước ta đều có sự nghiệp thực hành yêu nước.

5. Xin mọi người trong nước ta đều có sự nghiệp thực hành công đức.

6. Xin mọi người trong nước ta đều có hy vọng về danh dự, lợi ích.

-  Về điều mong ước lớn thứ nhất, tác giả viết:

 "Tâm trí người nước ta không phải không tinh xảo, tai mắt đầu óc người nước ta không phải không thông minh, tay chân khí phách người nước ta không phải không hùng tráng, nhưng tại sao ở trong nước thì tự xưng là vua mà bắt nạt dân, ngoài thì lại chịu làm tôi nước khác. Kể từ Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh cho đến Pháp ngày nay thì việc làm nô lệ đã khá hoàn bị. Thế là tại làm sao? Tại vì mọi người không có chí mạo hiểm tiến thủ, cho nên tự yên phận ngu hèn, tự vui bề mềm yếu, chỉ biết lấy sự ăn uống, trai gái làm điều kinh bang tế thế tuyệt vời, lấy vườn nhà xó bếp làm bầu trời cao rộng! Người khác có ỉa đái lên đầu mình thì cũng ỳ ra mà nói rằng: "Tớ chỉ biết yên phận". Họ khác có nuốt hết  giống ta thì cũng ngạo nghễ mà rằng: "Tớ chỉ đợi thời". Than ôi! Trường cạnh tranh xâu xé, lòng người dữ như rắn, chim chiện đuổi chim sẻ, con tẩy đuổi con cá, có ai là miệng Phật đâu. Mày không lo tiến thủ thì người ta giết mày. Mày không chịu mạo hiểm thì ai thương mày? Nước ta đến nay mà chưa thể cố gắng vươn lên được hay sao? Xin đồng bào hãy giương mày mở mắt để rửa thẹn cho non sông. Người ta đều là anh hùng cả. Sao mình lại chịu kém hèn… Đó là tiên phong duy tân thứ nhất".

- Về điều mong ước lớn thứ hai, tác giả viết:

"… Dân cư đông, đất đai rộng, của cải nhiều, dùng làm việc gì cũng được. Thế tại sao mà người nước ta phải làm tôi tớ, vật sản nước ta bị  hư nát tiêu mòn, đi buôn thì buôn lỗ, làm nông thì nông cùng, làm thợ thì bách công vụng về. Có phải trời đất hẹp với ta đâu. Chẳng qua là vì người nước ta không có tinh thần thương mến tin yêu nhau… ở với đồng chủng thì như cừu thù… đưa anh em một đồng tiền, tay nặng quá năm cân. Bạn hữu cách nhau gang tấc mà lòng xa vạn dặm… nhà tôi cứ hát xướng mặc cho nhà anh đang than khóc. Xóm đông cứ no say mặc cho xóm tây đang gặp đói khát. Than ôi! Đang khi núi sông như tro tàn, nhờ có tay chân giúp đỡ, làm sao lại nỡ riêng danh, riêng lợi, lìa đức, lìa lòng… Họa đã gần hết cả ba họ sao còn dành nhau trong phên, ganh nhau ghét nhau đến thế?... Chi bằng kết đoàn thể, liên tính tình, hợp trí mưu, góp của cải, bỏ hết mọi lòng ghen ghét nhau, chung với nhau một đường sống chết…Đó là tiên phong duy tân thứ hai".

- Về điều mong ước lớn thứ ba, tác giả viết:

"… Người nước ta… bây giờ con mắt còn như mù, lỗ tai còn như điếc, lòng như mê như dại là bởi làm sao? Chẳng qua vì không chịu đổi mới mà chỉ theo cách người trước làm sao thì cứ theo thế mà làm, không chịu suy nghĩ ra cách mới… Người lớn tuổi thì ngày càng mòn mỏi đi không còn mấy. Người trẻ tuổi thì vợ con trói buộc. Việc xe hơi tàu điện để cả cho người Pháp, còn ta thì làm chó làm ngựa cho người Pháp cũng không sao!... Ta không có cái học như người Tây. Các ông tiến sĩ cử nhân của nước Việt Nam ta không có kỹ xảo như người Tây mà chỉ là những thầy thông sở Toàn quyền, thầy phán tòa Công sứ, kiến thức để luận bàn chỉ có thế thì làm sao lại có thể biết được văn minh là cái gì!... Người ta biết đổi mới sao mình lại chịu vụng về cổ hủ? Việc học tập tinh thông nghề nghiệp ở các nước Anh, Nhật, Đức, Mỹ nhanh cũng đến hai năm, noi theo đó ta chớ lấy làm khó… Trước hết phải học tiếng nói, chữ viết, một năm, hai năm cho quen tiếng nhuần lưỡi, người có chí không lấy làm khó, mà cốt là muốn lên vũ đài văn minh mà thôi. Muốn theo sự hay sự tốt nước người thì phải đi khắp các đô thành nước người… cốt là muốn dựng chiến lũy văn minh mà thôi… Đó là tiên phong duy tân thứ ba".

- Về điều mong ước lớn thứ tư, tác giả viết:

 "Người nước ta bây giờ nói sự yêu nước, đánh chuông yêu nước, cũng không biết mấy rồi. Nhưng nói mà không làm thì cũng như không nói. Biết mà không làm thì cũng như không biết… Tôi xin kính chúc đồng bào ta, xin bày tỏ với đồng bào ta rằng, muốn sống còn, nay chỉ có hai điều:

1) Rưới máu tươi mà đánh kẻ gian nô, hãy vùng lên giết sạch lũ chúng.

2) Đem mồ hôi nghĩa mà mua nghiệp tốt, hãy quyên góp tiền của để mưu tính việc lớn.

Tôi đã từng xấu hổ vì không làm được, còn như đồng bào thi ai ai lại không làm được? Mười ông Nhiếp Chính, trăm ông Kinh Kha thì trong thế giới thù gì cũng báo được… Đó là tiên phong duy tân thứ tư".

- Về điều mong ước lớn thứ năm, tác giả viết:

"Xóm chợ làng quê, chỗ nào cũng biết nói công đức. Xin hỏi đồng bào ta, đến lúc bấy giờ thì có ai là người không làm nên chuyện  được?... Từ một người cho đến một nước, ai cũng như ai, thì việc gì mà lại không làm được? Đồng bào ta ơi! Biết công đức lớn  như thế, hãy xin gắng mà làm. Tính mạng đổi cho nhau cũng được, huống nữa, tiền bạc, của cải, vật dụng đều là vật chung nhau. Nước là nước ta, ta chỉ biết có nước mà thôi… Lúc bấy giờ sẽ tụ họp được đông đảo con em người nước ta để tranh giành với một nhóm ít người Pháp. Người Pháp dám đè đầu cưỡi cổ ta nữa hay không? Đó là tiên phong duy tân thứ năm".

- Về điều mong ước lớn thứ sáu, tác giả viết:

 "Nói về đạo đức thì không ai dám nói vì danh. Nói về anh hùng thì không ai dám nói về lợi.

Than ôi ! Danh lợi có can gì đến đạo đức với anh hùng đâu. Chưa có thực thì danh cũng  chóng mai một mà khi đã thì danh ấy sẽ xấu đến muôn đời. Ví cái lợi trước mắt, nếu một khi thế cuộc đã thay đổi thì phải chịu cái họa khôn cùng. Nếu mà có danh thực thì muôn đời không ai dám nói gì khác... Xin người nước ta ai ai cũng cầu danh như thế. Nếu mà lợi là lợi thật thì mình đã được lợi mà nhân dân cũng được nhờ ơn…. Xin người nước ta ai ai cũng cầu lợi như thế. Nhưng danh một ngày với danh muôn đời, danh gì hơn?... Vậy thì quyền nước lấy máu xương mà  giành, nền văn minh lấy của cải mà mua, người nước ta ai ai cũng vọng tưởng cho có danh lợi thì làm sao nước ta lại không giàu mạnh được? Đó là tiên phong duy tân thứ sáu".

*   *

*

Nước Việt Nam mới của lãnh tụ Phan Bội Châu được bày tỏ từ năm 1907 trên đất nước Phù Tang là thế. Trên đường cách mạng, đến năm 1912, Việt Nam Quang phục hội được thành lập ở Trung Hoa với tôn chỉ "Muốn cho ích nước lợi nhà/Ắt là dân chủ cộng hòa mới xong" (Tuyên cáo) mà có tác phẩm Quang phục quân phương lược sách do Phan Bội Châu và Nguyễn Đức Công (Hoàng Trọng Mậu) chấp bút. Nói đến tư tưởng quân sự Việt Nam ta, sách báo từng coi Binh thư yếu lược  của Hưng Đạo đại vương là tác phẩm mở đầu. Nhưng theo GS. Hà Văn Tấn thì đây là tác phẩm do người đời sau viết. Nếu thế thì Quang phục quân phương lược sách đáng được coi là văn bản bề thế và sáng giá đầu tiên thể hiện tư tưởng, học thuyết quân sự Việt Nam. Trước đó có Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ nhưng tầm vóc nội dung không bề thế bằng. Với Quang phục quân phương lược sách là chuyện đánh Pháp xâm lược giành độc lập dân tộc nhưng còn là chuyện xây dựng một đội quân của chỉnh thể Dân chủ cộng hòa, của một nước Việt Nam mới theo quan điểm đây mới là nội dung ban đầu, về sau tùy theo hoàn cảnh lịch sử của đất nước mà bổ sung hoàn thiện tiếp. Tác phẩm gồm bốn chương:

- Chương I: Từ tôn chỉ chung của Việt Nam quang phục hội, "tôn chỉ của Quang phục quân là: đánh đuổi thực dân Pháp. Khôi phục nước Việt Nam và thành lập nước Cộng hòa dân chủ".

- Chương II: Nghĩa vụ của Quang phục quân gồm bốn tiết:

Tiết 1. Đối với nhân dân (qui định mối quan hệ giữa quân đội với nhân dân, trách nhiệm của quân đội đối với nhân dân).

Tiết 2. Đối với người Pháp (giáo sĩ, thương nhân, viên chức, binh sĩ tại ngũ hoặc hồi hưu, có nét riêng với từng đối tượng).

Tiết 3. Đối với những người nước khác  (có quốc tịch Việt Nam, chưa có quốc tịch Việt Nam, thương nhân, kiều dân, nhà khoa học, người đi du lịch, có nét riêng với từng đối tượng).

Tiết 4. Đối với quân nhân (quân nhân tại ngũ, phục viên, thương binh, gia đình tử sĩ có quyền lợi và nghĩa vụ khác nhau).

- Chương III: Kỷ luật của Quang phục quân gồm:

25 điều về thưởng phạt.

4 điều chú ý trong quân thứ.

5 điều cần chú ý với tù binh và hàng binh.

3 điều cần chú ý sau khi chiến tranh kết thúc.

-  Chương IV: Kế hoạch của Quang phục quân gồm 45 điều thuộc các vấn đề cụ thể:

1) Thời kỳ quân chính, tổ chức quân đội.

2) Biên chế các cấp trong quân đội.

3) Lương thưởng, trang phục và phù hiệu.

4) Tài chính của quân đội, phát hành quân dụng phiếu, quốc trái, quân lương.

5) Tổ chức dân chính lâm thời các cấp, các đơn vị hành chính, hệ thống quan chức văn võ.

Xin trích lại đây một vài nội dung của Quang phục quân phương lược sách để bạn đọc cảm nhận rõ hơn bản chất quân đội cách mạng của nước Việt Nam mới mà lãnh tụ Phan Bội Châu mong muốn xây dựng:

"Quân đội đi đến đâu sẽ xóa bỏ ngay những chế độ khắc nghiệt của người Pháp trước kia. Những vật sở hữu của dân, trừ trường hợp vạn bất đắc dĩ phải tạm thời trưng  thu, còn nhất thiết không tơ hào xâm phạm".

"Những người làm quan lại hoặc đi lính tập cho Pháp, không kể từ bao giờ, nếu giết được quan Pháp, lính Pháp hoặc làm phản chính các thành ấp hoặc  bí mật cung cấp tình hình địch hoặc làm nội ứng, bản quân đều coi như đồng chí được đối xử và khen thưởng một cách đặc biệt. Trừ những kẻ trung thành với giặc tội không thể tha, còn thì tất cả đều không hỏi đến".

"Đại quân đóng tại quân thứ cũng như khi hành quân, mọi thứ nhu cầu cấp thiết như lương thực, thực phẩm, chất đốt cùng các vật dụng khác… thì địa phương phụ cận có nghĩa vụ cung cấp song nếu không có lệnh của chủ tướng thì không được tự tiện trưng mua, trưng dụng. Những vật cung ứng, bản quân sẽ trả với giá tương đương. Quân nhân có mua bán vật gì phải trao đổi công bằng, thanh toán tiền nong sòng phẳng. Những việc sách nhiễu, ép buộc giá cả… nhất thiết nghiêm cấm. Người nào trái lệnh sẽ chiếu theo quân pháp trị tội nặng".     

 *   *

*

Lãnh tụ Phan Bội Châu trong sự nghiệp anh dũng đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng đã nhe nhắm tới việc xây dựng một Nước Việt Nam mới lúc đầu là theo chế độ quân chủ lập hiến, sau thì chuyển sang chế độ dân chủ tư sản đại nghị trong đó có một lực lượng quân đội kiểu mới như thế. Hậu thế, từ thực tiễn cuộc sống đất nước hôm nay sẽ suy nghĩ như thế nào về Nước Việt Nam mới này nhỉ? Riêng những vị nào đó quen nghĩ rằng cụ Phan xứ Nghệ chỉ có bạo động và bạo động mà như thế thì không thích đáng bằng cụ Phan xứ Quảng là bất bạo động chỉ duy tân cải cách, sau khi biết chuyện như thế sẽ nghĩ lại về cụ Phan xứ Nghệ thế nào nhỉ? Kể cả theo quí vị, cách nhận xét của cụ Phan xứ Quảng về cụ Phan xứ Nghệ là thế nào nhỉ?

 

 Chú thích

1. Hải ngoại huyết thư

2. Việt Nam vong quốc sử.

 

HÀ VĂN TẢI[*]

  

        Núi Dũng Quyết đứng sừng sững giữa thành phố Vinh, tọa lạc ở phía Bắc sông Lam, vừa cổ kính với địa tầng cấu tạo lâu đời, vừa uy nghi và trang nghiêm như một báu vật ở viện bảo tàng. Dũng Quyết đã chứng kiến bao chứng tích thăng trầm của hàng ngàn năm lịch sử, vừa như tranh họa đồ, đẹp và nên thơ.

      Ngược dòng thời đại, chúng ta biết thành lũy Dũng Quyết sơn là tiền đồn bảo vệ kinh đô Thứu Lĩnh của nước Xích Quỷ thời Kinh Dương Vương. Thứu Lĩnh tên nôm gọi là núi Ngàn Hống ở bờ Nam sông Lam, có 99 ngọn non cao, hùng vĩ được Kinh Dương Vương chọn xây dựng kinh đô. Ngài đã cho xây dựng đồn lũy trên núi Dũng Quyết để quan sát cả một vùng rộng lớn từ Cầu Cấm đến Cửa Lò, Cửa Hội, phát hiện và khống chế bên bờ Bắc không cho tràn sang kinh đô Thứu Lĩnh.

      Vào thời nhà Đường, ở thế kỷ thứ 8, Mai Thúc Loan đã xây chiến tuyến dọc dãy Hồng Lĩnh và trên núi Quyết để đánh địch. Tại đây đã xẩy ra nhiều trận đánh rất ác liệt và quân Mai Thúc Loan đã đánh thắng nhiều trận lớn.

      Năm 1003, vua Lê Đại Hành thân chinh kéo quân vào vùng Dũng Quyết, đóng đại bản doanh dưới chân núi Quyết, chỉ huy đào kênh Đa Cái, cho xây cất nhiều kho trạm dự trữ quân lương và súng đạn. Vì thế vùng Dũng Quyết được mở mang khá trù phú.

      Lý Nhật Quang, con trai thứ 8 của vua Lý Thái Tổ được cử vào làm Tri Châu Nghệ An vào năm 1039 đã lấy núi Dũng Quyết làm nơi dừng chân đầu tiên. Ông đã cho xây Vọng hải đài ở đỉnh cao nhất trên núi Quyết để quan sát biển Đông, phát hiện sớm tàu thuyền của giặc xâm nhập cửa Hội Thống và cho lập Đồn Thủy cạnh Cồn Rùa, sát chân núi để kiểm soát đường thủy trên sông Lam, vừa làm nơi neo đậu chiến thuyền vừa làm trạm canh phòng đường thủy.

     Năm 1285, Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải lập phòng tuyến đánh giặc Nguyên Mông tại vùng Dũng Quyết. Ngày 28 tháng giêng năm 1284, Trần Hưng Đạo đã xin nhà vua cử Thái sư Trần Quang Khải mang một đạo tinh binh vào phục sẵn tại Nghệ An để chặn đánh quân Toa Đô từ Chiêm Thành tiến ra. Do giữ được bí mật tuyệt đối nên khi Toa Đô hùng hổ kéo quân qua Nghệ An, đã bị quân thủy bộ của Trần Quang Khải đánh cho tan tác, sau đó ông tiến thẳng ra Tây Kết, hợp sức cùng Trần Hưng Đạo đánh tan hơn 60 vạn quân Nguyên.

     Sau khi đại thắng quân Minh, ngày 15 tháng 4 năm Mậu Tuất 1428, Lê Lợi chính thức lên ngôi vua, đã cử tướng Nguyễn Xí mang theo đại binh vào trấn giữ Nghệ An. Ông đã chọn vùng đất phía Tây núi Dũng Quyết làm đại bản doanh, dựa vào thế núi để lập đồn lũy. Nguyễn Xí cho đào nhiều hầm sâu trong lòng núi Quyết để lập kho dự trữ quân lương.

    Vậy là, trước thời Quang Trung, đã có bao lần cha ông ta đã lấy vùng Nghệ An mà tiêu biểu là vùng núi Dũng Quyết để xây dựng căn cứ, tuyển mộ binh lính, luyện tập binh đao, quyết chiến đấu với kẻ thù để bảo vệ non sông, giữ gìn bờ cõi. Dũng Quyết đúng là nơi hội tụ khí thiêng sông núi.

 

    Từ thời Quang Trung, vùng Dũng Quyết càng có tầm quan trọng đặc biệt. Năm 1788, khi kéo quân ra Bắc để đánh quân nhà Thanh, ông dừng chân ở Lam Thành (Nghệ An) cho xây dựng đồn lũy ở Dũng Quyết, tuyển mộ thêm 5 vạn quân và thần tốc tiến ra Bắc Hà, lập chiến công hiển hách ở Ngọc Hồi - Đống Đa, đánh tan 29 vạn quân xâm lược nhà Thanh. Sau khi thống nhất đất nước, nhận thấy đóng đô ở Phú Xuân (Huế) không phù hợp nữa, ngày 01-10-1788 Hoàng Đế Quang Trung xuống chiếu xây dựng Phượng Hoàng - Trung Đô. Theo các tài liệu sử học, Phượng Hoàng - Trung Đô có hai lần thành, gọi là thành nội và thành ngoại. Thành ngoại có hình tứ giác, kiểu hình thang, chu vi dài 2.820 mét, trong đó cạnh dài nhất dựa vào sườn phía Tây núi Dũng Quyết. Do đó chỉ phải xây ba cạnh của thành ngoại cao chừng 3- 4 mét. Thành nội có hình chữ Thập, xây bằng đá ong, chu vi 1.680 mét. Giữa thành nội dựng tòa lầu Rồng 3 tầng bằng gỗ quý.

     Cùng với việc xây dựng kinh đô Phượng Hoàng, Quang Trung còn cho xây dựng trường thi Hương và Sùng Chính viện (nơi lưu trữ sách vở).

     Tiếc rằng việc xây dựng kinh đô mới còn dang dở thì Quang Trung lâm bệnh và đã qua đời đột ngột vào ngày 16-9-1792

 

     Đến thời cách mạng, núi Dũng Quyết và thành phố Vinh tiếp tục có nhiều sự kiện làm rạng rỡ lịch sử.

     Ngày 14 tháng 7 năm 1925, tại núi Con Mèo (nằm về phía Nam, sát núi Dũng Quyết) Hội Phục Việt, tổ chức cách mạng đầu tiên ở Nghệ An đã được thành lập. Năm 1927, sau khi bắt được liên lạc với Hội Thanh niên ở Quảng Châu và chịu ảnh hưởng sâu sắc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội Phục Việt đã đổi tên thành Việt Nam cách mạng đồng chí Hội và ngày 14-7-1928  đổi tên thành Tân Việt cách mạng Đảng (gọi tắt là Tân Việt). Sau này những đảng viên tiên tiến trong Tân Việt đã họp hội nghị tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn, một trong những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931), ngày 1 tháng 5 năm 1930, khi những người công nhân trong các nhà máy ở Trường Thi - Bến Thủy bị bóc lột nặng nề và đối xử tàn nhẫn, phải xuống đường biểu tình đấu tranh thì hàng ngàn nông dân từ các làng quê quanh thành phố Vinh đã tập hợp thành đội ngũ đông đảo từ nhiều hướng kéo về Bến Thủy vừa tiếp tế cơm nước vừa hợp lực tham gia tranh đấu. Khi bọn thực dân Pháp huy động lính tráng và cảnh sát dùng vũ lực, súng đạn đàn áp những người biểu tình thì lập tức anh Trần Cảnh Bình đã leo lên cây cột đèn ở Ngã ba Bến Thủy cắm lá cờ đỏ búa liềm trên cao để hiệu triệu mọi người đoàn kết xông tới. Từ trên gác hai của Nhà máy Điện, tên Calabi, chủ hãng Sifa thấy lá cờ đỏ búa liềm bay phất phới, hắn lồng lộn cầm khẩu súng trường bóp cò. Trần Cảnh Bình ngã xuống. Trong cuộc biểu tình tiêu biểu cho cao trào Xô Viết ấy, có 7 người phải hy sinh và mấy chục người bị thương.

    Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, nhân dân thành phố Vinh và vùng núi Quyết đã phá hoại mọi cơ sở vật chất, làm vườn không nhà trống để ngăn chặn bước chân xâm lược của thực dân Pháp.

    Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, thành phố Vinh bị đánh phá có tính hủy diệt. Vùng núi Quyết - Bến Thủy là túi bom. Gần ba ngàn ngày đêm, núi Quyết và thành phố Vinh đã đứng lên, ngẩng cao đầu, giữ vững lời thề "không có gì quý hơn độc lập tự do". Từ núi Quyết, chiếc máy bay phản lực F4D đầu tiên của Mỹ đã bị bắn rơi vào ngày 5-8-1964. Và đến ngày 14-9-1966 quân dân Vinh đã bắn rơi 100 máy bay Mỹ, là thành phố được Bác Hồ gửi thư khen. Dẫu cho thân mình bị nham nhở bởi những hố bom đào, núi Dũng Quyết vẫn như người lính gác cho những chuyến phà qua sông Bến Thủy, ngày đêm không ngớt đưa những đơn vị quân đội, thanh niên xung phong, dân công cùng những "hàng hóa đặc biệt" vào chiến trường miền Nam. Núi Quyết như con vật khổng lồ nằm choài ra lấy lưng làm giá đỡ cho những khẩu súng cao xạ chỉa thẳng bầu trời. Bụng con vật ấy chứa đựng kho tàng, đạn dược để có thể kháng chiến 5 năm, 10 năm, 20 năm.

    Vùng núi Quyết và thành phố Vinh đã có 1.500 người hy sinh và 3.500 người bị thương trong cuộc chiến đấu chống Mỹ. Nhưng nơi đây cũng có nhiều tập thể và cá nhân anh hùng nhiều nhất cả nước, Núi Quyết đúng là nơi hội tụ anh hùng. Về tập thể có E280 Pháo cao xạ Đoàn Hồng Lĩnh; E214 Pháo cao xạ Đoàn Sông Gianh ở núi Quyết; Nhà máy Điện Vinh; Nhà máy gỗ Vinh; Phà Bến Thủy; Đồn Công an số 5; phường Trung Đô; phường Bến Thủy; phường Hưng Dũng; xã Hưng Lộc. Về cá nhân anh hùng có: liệt sĩ Nguyễn Bá Chưng; Đại tá Công an Trần Đình Lư; Huỳnh Ngọc Đủ, công nhân nhà máy Điện Vinh; Trương Xuân Thâm, công nhân nhà máy Điện Vinh; Nguyễn Trọng Tường, công nhân Phà Bến Thủy; Nguyễn Hữu Tùng, công nhân Phà Bến Thủy; Hoàng Thị Liên, cửa hàng ăn uống Bến Thủy.

 

     Phà Bến Thủy và núi Dũng Quyết đã mấy lần tiễn chân Nguyễn Tất Thành lúc còn nhỏ theo cha mẹ vào Huế để học, lớn lên đã rời Tổ quốc bôn ba nơi chân trời góc bể để tìm đường cứu nước. Ngày 14 tháng 6 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm công trường xây dựng Nhà máy Điện Vinh dưới chân núi Dũng Quyết. Hai lần về thăm quê (tháng 6 - 1957 và tháng 12 - 1961) Người đã đến thăm nhiều nơi và nói chuyện với cán bộ, nhân dân Nghệ An và thành phố Vinh. Hình ảnh và lời nói của Người còn vọng mãi với quê hương. Giờ đây, nơi quảng trường Hồ Chí Minh ở trung tâm thành phố Vinh, ngày ngày cháu con của Người được ngắm nhìn bức tượng thân thương của Người, hứa với Người mãi mãi học tập theo tấm gương, tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người, góp phần xây dựng một nước Việt Nam, một tỉnh Nghệ An và thành phố Vinh đi lên giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

 

 

    Giờ đây, trèo lên núi Quyết, chúng ta đi dưới rừng thông bát ngát. Con đường nhựa bóng loáng chạy từ phía Nam vòng vèo dưới bóng mát rừng thông đưa ta lên đỉnh núi chẳng khác gì đi dưới rừng thông Đà Lạt. Ta thắp nén hương tại đền thờ Vua Quang Trung, bước lên 70 bậc xi măng tới vọng đài núi Quyết. Gió lộng bốn phương. Tâm hồn ta rạo rực:

                "Đường lên núi Quyết nắng mênh mông

                                            Vẳng tiếng quân reo vọng chiến công

                                            Nâng bước cháu con vào kỷ mới

                                            Trèo bao bậc núi bấy thành công"

    Ta thả hồn về bốn phía mà cảm nhận vẻ đẹp diệu kỳ non xanh nước biếc. Hồng Lĩnh "ai đắp mà cao". Giải lụa sông Lam hiền hòa "ai đào mà sâu". Xa xa là biển Đông mênh mông, trắng xóa. Một đô thị biển Cửa Lò trẻ trung, năng động. Ta ngắm nhìn những cánh đồng mầu mỡ của Đức Thọ, Nghi Xuân, hướng về quê hương đại thi hào Nguyễn Du, quê hương Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng. Ta sẽ mải mê ngắm nhìn núi Thiên Nhẫn như đàn ngựa ruổi rong, có thành xây của vua Lê Lợi ngày nào và vùng ẩn cư của danh sĩ Nguyễn Thiếp. Lòng ta xúc động nhìn về núi Đại Huệ có lăng mộ bà nội Bác Hồ và thân mẫu của Người, trông lên núi Đụn, núi Chung gắn bó với thời niên thiếu của Bác. Và đây còn có lăng mộ vua Mai, nhà lưu niệm của chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu. Tất cả là một vùng khí thiêng non nước.

    Núi Dũng Quyết đã và ngày càng rực rỡ là một vùng đất thiêng, một vùng du lịch văn hóa, tâm linh và sinh thái, một vùng du lịch đặc biệt, là của cải vật chất, tinh thần, văn hóa của xứ Nghệ và cả nước. Bổ sung quy hoạch và tiếp tục xây dựng vùng du lịch đặc biệt này đúng với tầm cỡ trong thời kỳ mới là trách nhiệm trực tiếp của thành phố Vinh, của tỉnh Nghệ An, và cả các ngành ở trung ương. Phải chăng, đó cũng là một đột phá, cần có một cơ chế đặc thù, tạo động lực để Vinh sớm trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa của vùng Bắc Trung bộ.



[*] Nhà nghiên cứu tp Vinh

 

* UBND tỉnh Nghệ An và Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam triển khai kế hoạch hợp tác nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH&NV

  Sáng ngày 25/5, UBND tỉnh Nghệ An tổ chức buổi làm việc triển khai Kế hoạch hợp tác nghiên cứu với Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam về các vấn đề khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tỉnh Nghệ An để phát huy tiềm năng và nét riêng có của Nghệ An. Tham dự buổi làm việc, về phía Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam có PGS.TS. Bùi Nhật Quang - UV Dự khuyết BCH TW Đảng, Phó Chủ tịch Viện cùng với Lãnh đạo Ban Quản lý Khoa học, Vụ Khoa học Xã hội Nhân văn và Tự nhiên - Bộ KHCN; Viện Kinh tế Việt Nam; Viện nghiên cứu văn hóa; Viện Dân tộc học; Viện Nghiên cứu tôn giáo; Viện nghiên cứu con người; Viện nghiên cứu phát triển bền vững vùng. Về phía tỉnh Nghệ An có đồng chí Huỳnh Thanh Điền - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, cùng lãnh đạo một số sở, ngành, thành phố Vinh, huyện Nam Đàn.

 Phát biểu ý kiến tại buổi làm việc, hai bên đều khẳng định cần nghiên cứu một số đề tài, nhiệm vụ nhằm giải quyết một số vấn đề cụ thể của Nghệ An, trên cơ sở phát huy tiềm năng, thế mạnh, sắc thái và sự khác biệt riêng để tạo sự đột phá, then chốt đưa tỉnh phát triển nhanh, mạnh hơn. Các chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học thống nhất các ý tưởng hợp tác nghiên cứu được đưa ra gồm: Nghiên cứu phát triển thành phố Vinh; phát triển du lịch Nghệ - An, trong đó Nam Đàn là trục trung tâm; định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nam Nghệ An gắn với biên giới Việt Lào; nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp phát huy bản sắc, tính cách con người Nghệ An trong thời đại mới; nghiên cứu văn hóa cư dân vùng ven biển khu vực Bắc Trung bộ; nghiên cứu về tôn giáo trên địa bàn Nghệ An.

Phát biểu kết luận, đ/c Huỳnh Thanh Điền - Phó CT UBND tỉnh cảm ơn sự quan tâm và quá trình hợp tác của Viện; tỉnh mong muốn Viện tiếp tục cùng Nghệ An nghiên cứu, lựa chọn các nhiệm vụ nghiên cứu để đưa ra các giải pháp mang tính khả thi cao nhằm giải quyết được các vấn đề của tỉnh đang đặt ra. Thống nhất cùng Viện tập trung nghiên cứu cho 3 lĩnh vực về phát triển kinh tế, văn hóa và tôn giáo. UBND tỉnh cùng với Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội sẽ ký kết kế hoạch hợp tác giai đoạn 2018-2020 và các năm tiếp theo để triển khai các nhiệm vụ đã thống nhất trên.

Nguyễn Thủy

* Tỉnh Nghệ An công bố quy hoạch hệ thống di tích

Sáng ngày 5/6, UBND tỉnh tổ chức Lễ công bố Quy hoạch hệ thống di tích trên địa bàn tỉnh định hướng đến 2030, tầm nhìn 2050. Tham dự Lễ công bố có các đồng chí: Nguyễn Xuân Sơn - Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Lê Minh Thông - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Lãnh đạo các sở, ban, ngành cấp tỉnh; Lãnh đạo UBND và phòng Văn hóa thông tin các huyện, thành, thị; Đơn vị tư vấn xây dựng Quy hoạch và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiện có khoảng 1.945 di tích, bao gồm 372 di tích đã được kiểm kê, xếp hạng, trong đó 3 di tích cấp Quốc gia đặc biệt (Khu di tích quốc gia đặc biệt Kim Liên; Địa điểm Mốc số 0 đường chiến lược Hồ Chí Minh; Khu lưu niệm Phan Bội Châu), 134 di tích cấp Quốc gia và 235 di tích cấp tỉnh; khoảng 1.573 di tích - danh thắng chưa được xếp hạng. Bên cạnh đó, có 960 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào danh mục kiểm kê và nhận diện, 3 di sản được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đặc biệt dân ca ví giặm đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại.

Do nhiều yếu tố, việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản chưa được triển khai một cách khoa học, có chiến lược đạt chuẩn mực quốc gia và quốc tế, đặc biệt chưa khai thác giá trị của các di sản vào phát triển kinh tế. Nhận thức tiềm năng, giá trị và tầm quan trọng của di sản, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 6103/QĐ-UBND ngày 18/12/2017 phê duyệt Quy hoạch hệ thống di tích trên địa bàn tỉnh Nghệ An định hướng đến năm 2030, tầm nhìn 2050.

Quy hoạch hệ thống di tích định hướng đến năm 2030, tầm nhìn 2050 được thực hiện qua 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 từ năm 2018 đến năm 2020 tập trung tiến hành rà soát và tổng kiểm kê lại các di tích đã xếp hạng và chưa xếp hạng. Giai đoạn 2 từ năm 2021 đến năm 2025 thực hiện quy hoạch tổng thể và lập các dự án đầu tư bảo tồn theo nhóm và từng phân vùng. Giai đoạn 3 từ năm 2026 đến năm 2030 chuyển giao trách nhiệm bảo tồn và phát huy giá trị di tích cho cộng đồng dân cư và doanh nghiệp.

Phát biểu tại Lễ công bố, đồng chí Lê Minh Thông - Phó Chủ tịch UBND tỉnh khẳng định việc quy hoạch hệ thống di tích trên địa bàn tỉnh nhằm mở ra cơ hội thay đổi tư duy, khơi dậy cảm hứng cộng đồng, thu hút các nguồn lực xã hội cùng gắn kết, tham gia bảo tồn, phát huy giá trị di tích, phát triển kinh tế di sản và du lịch.

Tại Lễ công bố, Sở Văn hóa - Thể thao đã ký biên bản bàn giao hồ sơ Quy hoạch hệ thống di tích trên địa bàn tỉnh định hướng đến năm 2030, tầm nhìn 2050 cho 21 huyện, thành, thị để quản lý và tổ chức thực hiện.

Minh Tú

* Nghệ An: Kỷ niệm 70 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc

Sáng ngày 8/6, tỉnh Nghệ An tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 - 11/6/2018). Nhân dịp này có 15 tập thể vinh dự được nhận Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong 70 năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Nghệ An đã đem hết sức mình, tham gia kháng chiến, kiến quốc, mang lại nhiều kết quả to lớn, để lại những dấu ấn sâu đậm, làm rạng rỡ thêm truyền thống quê hương cách mạng anh hùng.

Trong công cuộc đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An đã nỗ lực phấn đấu giành được nhiều kết quả quan trọng trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh và xây dựng Đảng.

Tại lễ kỷ niệm, các đại biểu đã được nghe tham luận của 5 tập thể, cá nhân điển hình, đạt nhiều thành tích trong bảo vệ, xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, giáo dục…

Phát biểu tại buổi lễ, đ/c Nguyễn Đắc Vinh - Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An cho biết: Thực hiện lời Bác, Nghệ An đã không ngừng vươn lên, đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận. Tuy vậy, đến nay, Nghệ An vẫn chưa là tỉnh "khá nhất miền Bắc" như Bác Hồ hằng mong ước. Lãnh đạo tỉnh Nghệ An mong muốn các cấp, ngành, các cán bộ, đảng viên, người lao động phải thi đua trước hết với chính mình, phải có ý thức rèn luyện, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác… để xây dựng Nghệ An - quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh - trở thành tỉnh khá như sinh thời Bác Hồ hằng mong muốn.

Nhân dịp này, có 15 tập thể của Nghệ An có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua được tặng Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ.

H.B

* Hội nghị xin ý kiến về tổ chức Liên hoan Ẩm thực du lịch quốc tế Nghệ An

Chiều 5/6, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị nghe ý kiến về việc tổ chức Liên hoan Ẩm thực du lịch quốc tế Nghệ An trong thời gian tới tại thị xã Cửa Lò.

Tại hội nghị, đại diện lãnh đạo Sở Du lịch - cơ quan chủ trì tổ chức liên hoan đã báo cáo sơ bộ các nội dung trong công tác chuẩn bị. Liên hoan dự kiến diễn ra trong vòng 4 ngày, từ ngày 2 - 5/8 tại Quảng trường Bình Minh, thị xã Cửa Lò. Quy mô 60 gian hàng, được chia thành các phân khu khác nhau: Khu ẩm thực, khu đặc sản địa phương, khu vực dành cho các tỉnh bạn, khu vực dành cho gian hàng quốc tế đến từ Lào, Thái Lan, Nhật Bản và Hàn Quốc…

Tại Hội nghị, các sở, ngành đều có ý kiến đóng góp để tiếp tục hoàn thiện thống nhất các nội dung trước khi ban hành chính thức.

Sau khi nghe góp ý từ các sở, ngành liên quan, đồng chí Lê Minh Thông kết luận: Thống nhất về thời gian tổ chức Liên hoan từ ngày 2 - 5/8/2018; Giao cho Sở Thông tin và Truyền thông về hoạt động họp báo và công tác tuyên truyền, tập trung vào hoạt động ẩm thực; các hoạt động văn nghệ nhẹ nhàng ý nghĩa gắn với quảng bá dân ca ví, giặm; Giao Sở Công Thương thông báo cho các đơn vị tham gia gian hàng đặc trưng; Đơn vị đầu mối tham mưu là Sở Du lịch cần tiếp thu các ý kiến để tiếp tục hoàn thiện kế hoạch, xin ý kiến Thường trực Tỉnh ủy để sớm ban hành kế hoạch triển khai thực hiện.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh cũng lưu ý ngành Điện lực cung cấp đầy đủ, tránh bị gián đoạn nguồn điện tại liên hoan. Bên cạnh đó, đồng chí nhấn mạnh, nguồn kinh phí cho hoạt động liên hoan chủ yếu là xã hội hóa.

Gia Hưng

* Thí sinh Nghệ An đạt giải Nhất kỳ thi tay nghề Quốc gia

Từ ngày 13 - 20/5/2018, tại thủ đô Hà Nội, Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội phối hợp các trường, cơ sở đào tạo nghề tổ chức Kỳ thi tay nghề Quốc gia lần thứ X. Tham dự kỳ thi có 520 thí sinh đến từ 56 đoàn dự thi ở 26 nghề.

Kỳ thi tay nghề Quốc gia được tổ chức định kỳ 2 năm một lần nhằm tôn vinh lực lượng lao động trẻ có tay nghề cao, tạo phong trào thi đua học tập, rèn luyện kỹ năng, nâng cao chất lượng đội ngũ lao động trẻ có kỹ năng nghề trực tiếp tham gia sản xuất kinh doanh, dịch vụ góp phần tăng năng suất lao động, tăng năng lực cạnh tranh quốc gia.

Tham dự kỳ thi lần thứ X, đoàn Nghệ An có 10 thí sinh được tuyển chọn từ kỳ thi tay nghề cấp tỉnh với 10 nghề. Kết quả, sau 1 tuần tranh tài, có 8/10 thí sinh đoạt giải với 1 giải Nhất, 2 giải Ba và 5 giải Khuyến khích.

Giải Nhất thuộc về thí sinh Vi Thị Diệu Vui (nghề may) - Trường Trung cấp Kinh tế - Công nghiệp - Thủ công nghiệp Nghệ An. Hai giải Ba thuộc về các em Lê Khắc Lực (nghề công nghệ ô tô), Hoàng Văn Đức (nghề hàn) - Trường Cao đẳng Kỹ thuật công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc.

Các giải khuyến khích thuộc về các nghề du lịch - dịch vụ nhà hàng, điện lạnh, mộc mỹ nghệ, xây gạch và điện tử.

Dự kiến thí sinh Vi Thị Diệu Vui và Hoàng Văn Đức sẽ được Ban tổ chức tuyển chọn tham dự Kỳ thi tay nghề ASEAN lần thứ XII tổ chức tại Thái Lan vào dịp cuối tháng 8, đầu tháng 9 sắp tới.

P.V

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.