« Quay lại

Chuyên san Khoa học xã hội &nhân văn số 7 năm 2018

Chiến tranh, nỗi đau và hi vọng

Minh Hải

 

Trong nhiều năm qua, vấn đề hòa giải dân tộc sau chiến tranh được các thế hệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhiều người quan tâm. Nhiều trí thức cũng đã lên tiếng về vấn đề này và xem hòa giải là một yếu tố quan trọng để xây dựng khối đoàn kết dân tộc và phát triển đất nước.Thương binh là những người chịu nhiều đau đớn và thiệt thòi trong và sau chiến tranh. Nhưng không vì vậy mà họ để sự thù hận làm hạn chế góc nhìn của mình. Đã có nhiều người thương binh đang nỗ lực làm những việc góp phần vào hòa giải và hàn gắn vết thương sau chiến tranh. Đó cũng là cách họ làm để vơi đi những vết thương trên cơ thể và trong tâm hồn của họ.

Chiến tranh là nỗi đau, là sự bất hạnh của một dân tộc

Tôi còn nhớ, lúc sinh thời, GS.TS Phạm Đức Dương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, một nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng đã nói rằng: Dân tộc Việt Nam bất hạnh vì phải trải qua quá nhiều cuộc chiến tranh. Chiến tranh trở thành một cái gì đó gắn liền với lịch sử hàng ngàn năm của đất nước. Chiến tranh diễn ra nhiều đến nỗi làm cho con người cảm thấy bình thường với cả điều kiện chiến tranh. Với nhiều dân tộc, chiến tranh là bất thường, còn Việt Nam, khi bước vào thời bình lại trở nên bất thường do trải qua quá nhiều cuộc chiến tranh nên việc tiếp cận sự phát triển lại thành ra gặp khó khăn. Ý kiến của GS. Phạm Đức Dương có phần xác đáng khi mà gần như mỗi người dân của Việt Nam đều có ít nhiều tháng ngày phải sống trong chiến tranh. Trong lịch sử, chúng ta rất ít khi có được một quãng thời gian hòa bình đủ dài để kiến thiết, xây dựng và phát triển đất nước. Các hoạch định chiến lược và chính sách phát triển thường bị ngắt quãng, thay đổi vì các cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước. Các cuộc chiến tranh không chỉ tàn phá cơ sở vật chất, hạ tầng, cướp đi nhiều của cải quý báu, mà nguy hiểm hơn, nó cướp đi hàng triệu người con của dân tộc đang trong độ tuổi trưởng thành và là nguồn lực chính để phát triển đất nước. Nhiều người may mắn sống sót trở về nhưng cũng mang trên mình những vết thương nghiêm trọng. Đặc biệt trong mấy cuộc chiến tranh vệ quốc trong thế kỷ XX đã ảnh hưởng rất lớn đến tình hình phát triển của đất nước. Và đến nay, chiến tranh đã lùi vào quá khứ hơn 40 năm nhưng những nỗi đau do chiến tranh để lại thì chưa khi nào nguôi cả.

Cảm nhận về chiến tranh của những người thương binh, có lẽ là cảm nhận thật nhất, con người nhất. Bởi họ tham gia vào cuộc chiến thật sự và phải gánh chịu những vết thương trên cơ thể. Họ đau trong cuộc chiến và cả khi cuộc chiến đã vào dĩ vãng hàng chục năm thì vết thương đó vẫn còn. Cụ Nguyễn Hữu Đức, 92 tuổi, thương binh ¼, là người đã kinh qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt kể lại: Năm 1946, vừa tròn 20 tuổi cụ tham gia vào quân đội, kinh qua cuộc kháng chiến chống Pháp, cụ 2 lần bị thương nặng trong đó có một lần suýt chết. Đến kháng chiến chống Mỹ cụ lại tiếp tục xông trận và chịu thêm 4 lần bị thương nữa. Nhưng nỗi đau lớn nhất của cụ là đã phải tự mình chôn cất cho nhiều đồng đội thân thiết. Có những lúc, đối diện với bom đạn, máu thịt, đói khát, sốt rét… khiến con người trở nên sợ hãi, thèm sống và có khi cảm giác muốn chạy trốn. Nhưng muốn chạy trốn cũng không có đường để trốn, chỉ có con đường là tìm lấy sự sống trong cái chết. Sau nửa thế kỷ nghĩ lại, cụ vẫn thấy được sự khốc liệt của chiến tranh: "Chẳng có cuộc chiến nào đẹp hay lãng mạn cả. Kinh khủng và tàn khốc, đó là chiến tranh. Chiến tranh khiến con người nhiều khi cũng giống con thú, hoặc lao lên chém giết, hoặc sợ hãi trốn tránh. Thế hệ chúng tôi, chiến đấu và hy sinh vì lý tưởng, và vì bảo vệ tổ quốc, nó thôi thúc mọi người vào chiến trận. Nhưng ai cũng là con người, đối diện với cái chết, nhặt từng mảnh xương thịt của đồng đội để mai táng, hoặc nhìn mà không kịp nhặt thì ai mà không bi thương, mà không sợ hãi".

Không kinh qua hai cuộc chiến tranh như cụ Đức, nhưng thương binh Đặng Sỹ Ngọc cũng có những năm tháng chiến đấu trong chiến trường chống Mỹ từ Quảng Trị đến nhiều chiến trường ác liệt khác. Ông cũng bị thương 7 lần và có lần suýt chết ở Quảng Trị, may mà được chuyển ra Bắc chữa trị kịp thời. Nói về sự ác liệt của chiến tranh, ông Ngọc kể lại rằng: Năm 1966, trong không khí cả nước hăng hái tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông nhập ngũ. Lúc đó, đi bộ đội là cảm thấy vinh dự, ai cũng hăng hái tham gia, có những người không đủ tiêu chuẩn cũng cố gắng tìm cách để đi cho bằng được. Nhưng vào chiến trường thật sự mới thấy nó quyết liệt, chết chóc, ghê rợn và đầy gian khổ. Chỉ một âm thanh vù qua, mọi thứ tan tác, không trở mình lại được mới cảm thấy đau và biết mình bị thương, khi mọi người chạy đến thì hai người đồng đội bên cạnh đã hy sinh, còn bản thân mình cũng bị thương nặng. Trận chiến nào cũng có những đồng đội hy sinh khiến nhiều người không khỏi chùn bước. Tháng 7/1972, ông bị thương nặng được chuyển ra Bắc điều trị. Trên đường di chuyển, bị địch phát hiện và thả bom, hai cô dân quân Quảng Trị kịp cáng ông xuống hầm rồi trở lên để lo cho người khác và không thấy họ quay lại. Ông nằm dưới hầm ngày rồi đến đêm, nghe côn trùng kêu, đói, khát, đau và nghe mùi thối rữa của vết thương. Ông thầm trách hai cô dân quân sao bỏ quên mình trong hầm. Để rồi hôm sau khi có người tìm được và đưa ông lên thì mới biết hai cô gái đã hy sinh ngay sau khi đưa ông xuống hầm. Từ chiến trường Quảng Trị khốc liệt, nếu ai đó may mắn khi bom đạn tránh mình thì hành quân tiếp vào Nam cũng đầy rẫy nguy nan. Nhưng những người bị thương di chuyển ra Bắc điều trị cũng khó thoát khỏi bom đạn, chẳng có chỗ nào gọi là an toàn cả. Như ông cảm nhận: "Chiến tranh khiến con người ta không tự làm chủ mình. Trên chiến trường phải giành giật sự sống. Phải nhìn thấy sự ác liệt của chiến tranh, thấy đồng đội, nhân dân mình hy sinh nên sự căm thù kẻ địch trở thành sức mạnh để chiến đấu. Và khi đó, trong người luôn nghĩ kẻ thù cụ thể bên kia chiến tuyến, họ chiến đấu vì xâm lược, vì làm tay sai cho giặc Mỹ nên phải tiêu diệt chúng…".

Khác với hai người thương binh trên, bác Nguyễn Trọng Thành, cũng là thương binh hạng ¼ lại rơi vào tình trạng khác. Năm 1972, tròn 20 tuổi ông nhập ngũ. Vào chiến trường Quảng Trị chiến đấu được một thời gian thì bị bắt trong một trận đánh mà đội của ông bị phục kích khiến ông bị trúng một mảnh pháo xuyên từ mắt trái lên trán. Ông được đưa về trại giam Mang Cá rồi vào bệnh viện Duy Tân ở Đà Nẵng để chữa trị. Sau đó bị đưa ra trung tâm phỏng vấn Đà Nẵng để hỏi cung; và bị chuyển ra nhà tù Phú Quốc. Đến tháng 3/1973 thì được trao trả sau Hiệp định Paris. Như ông kể lại, những ngày bị tra tấn khi hỏi cung thì bị đánh đập tàn nhẫn. Khi ra trại giam Phú Quốc, những ngày lễ, đề phòng tù nhân làm loạn, cai ngục cho thuốc xổ vào thức ăn hoặc nước uống để tù nhân bị đi ngoài, không làm loạn được. Những lúc có người vượt ngục thì bị tra tấn dã man. Họ cho ngậm một thanh sắt rồi lấy búa đập vào thanh sắt để lấy răng tù nhân. Và có rất nhiều hình thức tra tấn ghê rợn khác mà nhiều người phải chịu đựng. Có những người được nhận huy chương vì "thành tích" tra tấn tù nhân mà những người đã ở tù đây rất căm ghét. Chiến tranh là như vậy, có lúc con người ta đối xử với nhau không giống con người.

Còn vô vàn những người từng tham gia chiến tranh và bị mất đi một phần cơ thể của mình nơi chiến trường. Ký ức chung của họ là chiến tranh vô cùng tàn độc, khốc liệt và kinh khủng. Chiến tranh không chỉ để lại những vết thương cho tất cả những người bị cuốn vào cuộc chiến đó, nó còn là vết thương ăn sâu vào một đất nước, một dân tộc, kéo lùi sự phát triển đến cả trăm năm. Vậy nên, khi cuộc chiến kết thúc, làm sao để giảm nhẹ những vết thương cho những người phải chịu thiệt thòi cả cơ thể lẫn tinh thần từ chiến tranh, và cả giảm nhẹ vết thương của một dân tộc, đó là trách nhiệm của mọi con người.

Khép lại quá khứ, mở rộng tương lai, hòa giải để phát triển

Việt Nam là một dân tộc yêu chuộng hòa bình. Nhưng trớ trêu thay chúng ta lại phải chịu quá nhiều cuộc chiến tranh. Và ngoài các cuộc nội chiến tranh giành quyền lực giữa các thế lực trong nước thì phần lớn là do sức ép từ ngoài vào, do chủ nghĩa bá quyền của các nước đế quốc. Vậy nên, trong "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Rồi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Việt Nam không may khi bị chia thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Vậy nên, sau khi cuộc chiến kết thúc, chúng ta phải tiến hành công cuộc hòa giải dân tộc để phát triển đất nước. Trong nhiều năm qua, nhiều người nói về giá trị của việc chiến thắng trong các cuộc chiến tranh vệ quốc thường tập trung về giá trị chính trị của nó. Nhưng đất nước này, dân tộc này phải gồng mình đứng lên đánh giặc ngoại xâm không chỉ vì chế độ chính trị. Chúng ta phải đánh thắng giặc Mỹ thì mới thống nhất đất nước được. Và thống nhất đất nước là để đoàn kết toàn dân. Đoàn kết là để phát triển, xây dựng đất nước giàu mạnh, làm cho con người sống đầy đủ hơn, hạnh phúc hơn. Đó chính là giá trị quan trọng nhất, cao nhất của kháng chiến mà chúng ta đã phải đổ ra rất nhiều mồ hôi, nước mắt và máu. Muốn phát triển được trong bối cảnh hội nhập thì hòa giải các vết thương chiến tranh, hòa giải dân tộc là một việc làm cần thiết và có giá trị lớn. Quan điểm về hòa giải, hòa hợp dân tộc cũng được nhiều lãnh đạo cao cấp nhà nước quan tâm. Năm 2005, cựu Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã phát biểu trên báo chí rằng: "Chiến tranh đã qua cách đây ba chục năm. Chúng tôi đã chuyển giao quyền lãnh đạo cho thế hệ kế tiếp. Nói như thế có nghĩa là tôi mong chiến tranh thật sự phải thuộc về quá khứ. Một quá khứ mà chúng ta mong muốn khép lại... Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là vết thương chung của dân tộc, cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu... Đối với Việt Nam, nhất là ở miền Nam, tôi thường biết và hiểu nhiều gia đình đều có hai bên hết. Chính trong thân tộc của tôi, các anh em tôi, các cháu ruột của tôi cũng có số bên này và số bên kia. Cái đó có hoàn cảnh của nó. Có những gia đình một người mẹ có con đi chiến đấu, chết ở bên này và đứa con khác thì đi chiến đấu chết ở phía bên kia... Chúng ta đang nắm quyền lãnh đạo đất nước, muốn để mọi người Việt cùng chung tay hàn gắn, chung tay tạo dựng thì chúng ta phải thực tâm khoan dung và hòa hợp". Mười năm sau, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng nhấn mạnh tiếp rằng: "Tôi hiểu có những mức độ chấp nhận khác nhau về chuyện hòa giải. Có những nghịch lý tồn tại nhưng bước qua lằn ranh đâu đơn giản. Có những người chứng kiến sự hy sinh của dân tộc quá lớn, họ cứng như thép, không dễ xoay chuyển được. Có người cho rằng, thôi đã 30-40 năm qua rồi, hãy hòa hợp, hòa giải nhanh đi... Nếu nhìn vào những mất mát, hy sinh to lớn, xét về nguyên tắc là không thể nhân nhượng, bỏ qua được. Nhưng xét về tình dân tộc, nghĩa đồng bào, đã 40 năm rồi, thì trong quan hệ có thể cởi mở, mềm dẻo, đối xử nhẹ nhàng"… Điều đó cho thấy sự quan trọng của việc hòa hợp, hòa giải dân tộc đối với sự phát triển của đất nước. Và thực tế, việc hòa giải trong nhiều năm qua đã đạt được nhiều kết quả to lớn, góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Trong đó, có sự đóng góp của nhiều thương binh, bệnh binh, vốn là những người bị ảnh hưởng nặng nề nhất, chịu nhiều đau đớn do chiến tranh gây ra.

Nói về hòa giải vết thương chiến tranh, ông Nguyễn Trọng Thành cho rằng đó là việc cần thiết để phát triển đất nước trong điều kiện hiện tại. Chiến tranh đã qua, một thế hệ đã hy sinh một phần cơ thể hay cả tính mạng mình trong chiến tranh là vì mục đích bảo vệ đất nước, chống lại kẻ thù xâm lược. Và nói cho cùng, bao người chiến đấu và hy sinh là để đất nước độc lập, con người được tự do và ấm no, hạnh phúc hơn. Vậy nên, bây giờ, nhiệm vụ quan trọng của mọi người là phải xây dựng đất nước giàu đẹp hơn, lớn mạnh hơn. Muốn làm được điều đó thì phải xóa bỏ sự thù hận, căm ghét nhau, bắt tay hợp tác với nhau để xây dựng đất nước. Trong chiến tranh, ai cũng vì lý tưởng và nhiệm vụ của mình. Có người tự nguyện nhưng cũng có người bị ép buộc phải ra chiến trường. Còn sau khi buông bỏ súng đạn, ai cũng muốn có cuộc sống bình thường với gia đình và vợ con. Những vết thương sẽ không bao giờ lành nếu hàng ngày chúng ta cứ nghĩ đến nó. Ở góc độ khác, như ông Thành cho biết, trong chiến tranh, ở bên kia chiến tuyến cũng có nhiều người giữ được lương tri, không phải ai cũng tàn độc với đồng loại của mình. Họ là những người làm y tế vẫn cứu chữa cho tù nhân như những bệnh nhân khác, hay nhiều người làm những việc khác vẫn đối xử tử tế với tù nhân. Nhưng những người này bao nhiêu năm qua chúng ta không để ý đến tiếng nói của họ. Có nhiều gia đình ở miền Nam rơi vào hoàn cảnh "một gia đình hai chiến tuyến" đầy bi thương nhưng lại vô cùng khó xử. Và các chính sách xã hội đối với những người này cũng rất khó để thực hiện sao cho hợp lý vì đây là một vết thương nhạy cảm.

Đồng cảm với ông Thành, ông Ngọc cũng cho rằng mọi vết thương sẽ đau hơn khi bị khơi dậy. Chúng ta đã bị một vết thương lớn là trải qua quá nhiều cuộc chiến tranh trong thế kỷ XX. Vậy nên giờ phải phát triển đất nước để bù lại, làm lành lại những vết thương đó. Như ông từng nhớ, một lần cùng đồng đội đi thăm lại chiến trường, ông cũng gặp một nhóm người từng là lính miền Nam cộng hòa trước đây cũng có mục đích tương tự. Sau vài phút đầu ngần ngại, các ông cũng vui vẻ trò chuyện với nhau. Có lúc ông còn đùa: "ngày trước ông có ném lựu đạn vào chúng tôi không". Thấy người kia ngần ngại, ông cười và nói rằng: "Lúc đó chúng ta là kẻ thù, tôi sẵn sàng bắn vào ông trên chiến trường, còn bây giờ, chúng ta là người Việt Nam, là bạn bè". Bỏ quên trên mình đang mang 7 vết thương, nhiều năm nay ông Ngọc vẫn chạy xe ôm kiếm sống, hàng ngày vẫn bỏ ống một ít tiền để khi có điều kiện thì đi thăm đồng đội hay giúp đỡ những người không may mắn được như mình. Với niềm vui viết báo, ông còn đi sưu tầm tài liệu để viết về đồng đội, viết về những câu chuyện của thời chiến tranh. Gần đây, ông lại quan tâm đến viết những câu chuyện về những người bên kia chiến tuyến nhưng có những hành động tử tế với các tù nhân, các đồng đội của ông. Như ông chia sẻ: "Chúng ta nói nhiều về sự tàn ác của kẻ thù trong chiến tranh, điều đó không sai nhưng nói quá nhiều và nhiều khi còn nói quá lên vô hình chung gây nên tâm lý thù hận lẫn nhau dai dẳng. Trong khi đó, thời chiến tranh cũng có những người họ có lương tri, đối xử tử tế với tù nhân bị bắt, hay giúp đỡ nhiều chiến sĩ trốn thoát… Những người này ít được nói đến. Và quan trọng hơn, cái cần nói đến là lương tri của mỗi con người. Chiến tranh làm cho nhiều người mất lương tri, nhưng không phải tất cả. Và cả khi không có chiến tranh thì cũng có những người đánh mất lương tri của mình. Nên tôi nghĩ, hòa giải phải bắt đầu từ lương tri của mọi người. Chúng ta phải khép lại quá khứ để mở rộng tương lai".

Không chỉ những người nói trên, mà có lẽ còn nhiều người thương binh khác cũng có sự đồng cảm như vậy. Chiến tranh đã qua, vết thương sẽ không bao giờ lành, nhưng nếu khêu gợi lại vết thương thì nó càng đau đớn hơn. Hòa giải, đó là cách để con người ta làm giảm nhẹ nỗi đau do vết thương chiến tranh để lại, và cũng là để hàn gắn vết thương sâu thẳm của dân tộc bao nhiêu năm qua. Thù hận không làm cho ai hạnh phúc cả. Thù hận cũng không thể trở thành động lực để phát triển. Như cụ Đức nói: Chúng ta căm ghét cái xấu, căm ghét kẻ thù, nhưng không phải căm ghét một con người, một bộ phận cụ thể mãi mãi. Khi nào cũng phải biết căm ghét cái xấu để vươn đến cái tốt đẹp hơn. Hiện nay, tệ nạn xã hội, ma túy hay tham nhũng cũng là cái xấu cần phải căm ghét. Và căm ghét cái xấu không đồng nhất với việc khơi dậy thù hận trong quá khứ. Quá khứ không thể quên nhưng cũng không thể mang gánh nặng quá khứ vào sự phát triển của hiện tại và tương lai.

Hòa giải cần thiết cho sự phát triển của đất nước. Đó cũng là mong muốn của nhiều người, trong đó có những người thương binh đã nói ở trên. Vết thương của họ sẽ theo họ đến hết cuộc đời, nhưng mà họ vẫn dùng lương tri của mình, bỏ quên nỗi đau cơ thể của mình để mong muốn hòa giải những nỗi đau của nhiều người, của dân tộc. Vậy nên, chỉ có những người nào đó bị thương tật về tâm hồn mới không muốn hòa giải, mới không muốn những vết thương của đất nước được nguôi ngoai, được hàn gắn và con người cũng được hạnh phúc hơn.

 

Mấy suy nghĩ trong việc đánh giá đúng cán bộ

Hà Văn Tải

Ai cũng thừa nhận trong các khâu về công tác cán bộ thì việc đánh giá cán bộ là khâu đầu tiên và là khâu khó nhất. Đánh giá đúng thì sử dụng, đề bạt, đào tạo, bố trí, sử dụng đúng, sẽ có tác dụng to lớn đối với công việc và phong trào cách mạng. Ngược lại đánh giá sai dẫn đến bố trí, sử dụng, đề bạt sai, nhất là đối với người đứng đầu thì sẽ có nhiều tác hại, thậm chí cách mạng ở đâu thì ở đó phải trả giá đắt.

Đánh giá cán bộ nói chung, đánh giá người đứng đầu nói riêng đều phải lấy tiêu chuẩn đức và tài, trong đó "Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn. Chính trị là đức, chuyên môn là tài. Có tài mà không có đức là hỏng. Đức phải có trước tài"(1).

Tuy vị trí công tác của từng cán bộ mà tiêu chí về đức - tài cần phải cụ thể, vì thế xác định rõ những yêu cầu, những tiêu chí cần thiết của từng vị trí công tác thì việc đánh giá cán bộ mới đúng, không chung chung, lẫn lộn, dẫn đến đánh giá sai cán bộ. Ví dụ: đối với bí thư cấp ủy thì các tiêu chí cần thiết là khả năng đoàn kết, quy tụ được năng lực của toàn Đảng bộ; là khả năng lãnh đạo toàn diện từ chính trị đến kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, đặc biệt là khả năng về công tác xây dựng Đảng,... Đối với đồng chí phó bí thư, phụ trách chính quyền thì tiêu chí cần thiết là nắm vững pháp luật để quản lý tốt kinh tế, quản lý xã hội; xây dựng bộ máy chính quyền liêm chính, kiến tạo, phục vụ nhân dân,v.v... Nếu không xác định rõ như vậy thì sẽ dẫn đến những việc làm "lộn sân" và sẽ đánh giá sai cán bộ.

Đánh giá cán bộ trong trạng thái "tịnh" và trạng thái "động". Trạng thái "tịnh" là trạng thái bình thường, trạng thái "động" là khi tình hình có biến động như từ hòa bình sang chiến tranh, từ nông thôn ra thành thị hoặc khi thay đổi vị trí công tác của người cán bộ từ cấp trên luân chuyển về cấp dưới hoặc ngược lại, từ vị trí công tác này đến vị trí công tác kia. Trong trạng thái "động" càng lộ rõ bản chất đức, tài của cán bộ. Có người lúc bình thường thì hăng hái, tận tụy nhưng khi xảy ra chiến tranh thì hoang mang dao động; có người khi còn nhân viên hoặc chuyên viên thì lễ phép, trung thành nhưng khi có chức quyền thì hạnh họe, xa dân, tìm cách vơ vét "cho đầy túi tham",... Bởi vậy việc đánh giá cán bộ không chỉ làm một lần mà phải qua nhiều lần, qua từng thời gian 6 tháng, 1 năm, 1 nhiệm kỳ. Cũng có những cán bộ vi phạm khuyết điểm, thậm chí bị thi hành kỷ luật nhưng đã nghiêm túc sửa chữa, phấn đấu vươn lên là những cán bộ tốt cần được bố trí, sử dụng đúng. Cũng có khi bản chất cán bộ đó là tốt, thật sự vì dân, vì Đảng nhưng vì lí do nào đó đã bị đánh giá sai, kỷ luật sai thì trách nhiệm trước hết thuộc về cấp trên quản lý, phải nghiêm túc phê bình, rút ra bài học xác đáng và nghiêm túc sửa chữa. Đó là thái độ "công minh, chính đại" của Đảng ta.

Giờ đây tình hình đất nước nói chung, mỗi địa phương, mỗi ngành, mỗi đơn vị nói riêng có những sự phát triển nhanh, do đó trong đội ngũ cán bộ cũng có sự phát triển nhanh. Nhiều cán bộ có đức có tài nảy nở và cũng không ít cán bộ có biểu hiện thoái hóa về tư tưởng đạo đức và lối sống, thậm chí "tự chuyển biến", "tự chuyển hóa". Vì vậy việc đánh giá cán bộ, nhất là đánh giá người đứng đầu cần có cơ chế và quy định kịp thời, hợp lý, không chờ đến hết nhiệm kỳ. Ở những nơi có biểu hiện tham nhũng, lợi ích nhóm, mất đoàn kết trong lãnh đạo, lòng người phân tâm,... cần được cấp trên chỉ đạo kiểm tra, thanh tra, kết luận sớm để ổn định tình hình, giữ vững phong trào cách mạng của quần chúng.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dựa vào quần chúng để đánh giá cán bộ đề nghị Trung ương cần cơ chế công khai đối với loại cán bộ nào thì cần lấy ý kiến của đối tượng quần chúng nào. Thiết nghĩ không chỉ theo một kênh mà phải nhiều kênh, coi trọng ý kiến những người có hiểu biết về cán bộ đó, lại có lòng trung thực, dám nói đúng sự thực. Cần coi trọng đúng mức kênh báo chí, và những người đã nghỉ hưu có uy tín.

Thiết nghĩ trong tình hình tích cực và tiêu cực đan xen hiện nay phải gạt ra một bên đồng tiền đen tối bất chính như nhà văn hào Anh Sếch-xpia đã ví: đồng tiền như con đĩ, nó biến tớ thành thầy, thầy thành tớ và bất kỳ ở đâu, nếu ở đó có người đứng đầu công tâm, trong sáng, liêm chính thì ở đó việc đánh giá cán bộ sẽ dễ dàng và đúng đắn hơn. Đây cũng là một nội dung "cần làm ngay" để đưa Nghị quyết Hội nghị lần thứ (7 khóa XII) vào cuộc sống.

 

Chú thích

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, tập 1, tr.492

 

Triển vọng phát triển nông nghiệp công nghiệp hóa hành lang đường Hồ Chí Minh vùng Bắc Trung bộ

Nguyễn Thị Minh Tú

 

Phát triển nông nghiệp công nghiệp hóa (NNCNH) là phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn theo phương thức sản xuất công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh; đây là một khái niệm còn khá mới ở nước ta, nhưng nội hàm của nó không mới và đã được triển khai ở một số nơi với những mô hình khác nhau. Đặc biệt, vùng Bắc Trung bộ (BTB) đã có khá nhiều doanh nghiệp lớn như Mía đường Lam Sơn, TH True Milk, Vinamilk, Công ty cổ phần Chăn nuôi Bình Hà, VinGroup, FLC… đã tiên phong đầu tư một cách bài bản, phát triển theo chuỗi giá trị được xem như là các mô hình phát triển NNCNH và đã thành công trong sản xuất kinh doanh, có sức lan toả lớn, thu hút được người dân tham gia.

Hành lang đường Hồ Chí Minh vùng BTB là một vùng rộng lớn, bao gồm 24 huyện, thị xã với diện tích 2.092.078 ha. Đây là vùng có tiềm năng lớn về đất đai phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Tổng diện tích đất sản xuất nông, lâm nghiệp lớn chiếm 87,91% tổng diện tích đất tự nhiên, do đó đây là vùng có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp tập trung quy mô lớn theo hướng hàng hóa. Về đặc điểm thổ nhưỡng, hành lang đường Hồ Chí Minh vùng BTB chủ yếu là đất đỏ bazan nên rất thích hợp để trồng các loại cây công nghiệp và cây ăn quả dài ngày như cây ăn quả có múi, mía đường, cà phê, chè,...

Bên cạnh đó, hành lang đường Hồ Chí Minh vùng BTB có diện tích đất lâm nghiệp lớn (1.449.994 ha - chiếm 68,83% tổng diện tích đất tự nhiên) nên tiềm năng phát triển sản xuất lâm nghiệp theo hướng công nghiệp là rất lớn. Vùng này tập trung 5 vườn quốc gia, bao gồm: Vườn quốc gia Bến En (14.735 ha - Thanh Hóa), Pù Mát (94.804 ha - Nghệ An), Vũ Quang (55.028,9 ha - Hà Tĩnh), Phong Nha - Kẻ Bàng (85.754 ha - Quảng Bình), Bạch Mã (22.030 ha - Thừa Thiên Huế). Bên cạnh đó còn có 9 khu bảo tồn thiên nhiên: Pù Hu, Pù Luông, Xuân Liên (Thanh Hóa); Pù Hoạt, Pù Huống (Nghệ An); Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh); Bắc Hướng Hóa, Dakrong (Quảng Trị); Phong Điền (Thừa Thiên Huế). Vùng có sự đa dạng sinh học rất cao, nguồn cây thuốc phong phú. Đồng thời, BTB còn có hàng chục loài cây thuốc thuộc diện quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần bảo tồn theo sách đỏ Việt Nam.

1. Tiềm năng, lợi thế trong phát triển KT- XH vùng Bắc Trung bộ

Vùng rất thuận lợi trong phát triển giao lưu trong nước và quốc tế, đặc biệt là cảng biển và hàng hải. Có ưu thế rất lớn về phát triển kinh tế biển (hàng hải, nuôi trồng thủy hải sản, du lịch, nghỉ dưỡng): với 670 km bờ biển, vùng nước ven biển lên đến hàng triệu ha, có tiềm năng rất lớn phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản. BTB có 23 cửa sông, nhiều bãi tắm đẹp, hàng chục ngàn ha đầm phá, thềm lục địa rộng nhiều tài nguyên, thuận lợi phát triển du lịch và kinh tế tổng hợp biển.

BTB có thể và cần phải trở thành trung tâm của một số ngành công nghiệp và các khu kinh tế hàng đầu: BTB giàu tài nguyên khoáng sản, chiếm khoảng 60% trữ lượng quặng sắt, 80% thiếc, 100% Cronit, 40% đá vôi so toàn quốc (mỏ sắt Hà Tĩnh; mỏ crômit Thanh Hoá; mỏ thiếc Nghệ An). Về trữ lượng, hàng đầu là đá (hoa cương hàng tỷ tấn, đá vôi xi măng hàng tỷ tấn), sắt nửa tỷ tấn, sau đó đến thiếc, cao lanh... dầu mỏ khí đốt. Là khu vực đã và đang hình thành khá nhiều khu kinh tế.

Vùng có thế mạnh hàng đầu về du lịch và nghỉ dưỡng: Nhiều bãi biển đẹp như Sầm Sơn, Cửa Lò, Thiên Cầm, Nhật Lệ, Cửa Tùng, Thuận An, Đầm phá Tam Giang, Lăng Cô,... Nhiều vườn quốc gia, cảnh quan thiên nhiên kỳ thú; Nhiều di tích lịch sử, văn hoá, kiến trúc có giá trị, có 144/1221 di tích đã xếp hạng của cả nước; Nhiều lễ hội truyền thống mang tính văn hoá đặc sắc, lành mạnh, tất cả tạo điều kiện tốt để phát triển du lịch.

Về phát triển kinh tế rừng, BTB chỉ đứng sau Tây Nguyên về tài nguyên rừng, với khoảng 3,4 triệu ha, trong đó đất có rừng 1,63 triệu ha, trữ lượng gỗ 134.737 triệu m3 gỗ, 1.466,49 triệu cây tre nứa. Đất không có rừng 1.6 triệu ha, 204 nghìn ha núi đá. Đáng chú ý là tre luồng (riêng Thanh Hóa có khoảng 100.000 ha) và các công nghệ mới chế biến tre luồng có thể trở thành một mặt hàng XK thế mạnh của BTB.

Về phát triển nông nghiệp, BTB có vị trí địa lý - khí hậu và địa chính trị tương đồng với nhiều quốc gia là cường quốc xuất khẩu rau hoa quả trên thế giới như  Mexico, Ecuador, Brasil, Philippine, Thái Lan,... Khu vực vành đai đường HCM ở BTB có mật độ dân số thưa, tiềm năng đất đai để phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp còn rất lớn. Nhóm đất đỏ vàng chiếm khoảng 62,46% diện tích đất tự nhiên, tập trung chủ yếu ở vùng miền núi và trung du, thích hợp với cây dài ngày và cây lâm nghiệp. Vùng này rất thuận lợi cho việc trồng các cây ăn quả và công nghiệp lâu năm, đã hình thành các khu chuyên canh cây công nghiệp như mía (Thanh Hóa), chè (Nghệ An), cao su (Quảng Bình), hồ tiêu (Quảng Bình), cà phê... Vùng có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, nguồn cung cấp nước sạch dồi dào. Hiện có 16 điểm suối khoáng được đánh giá là có thể sử dụng tốt cho an dưỡng, chữa bệnh, giải khát.

2. Những thách thức chủ yếu của nông nghiệp vùng Bắc Trung bộ

Phương thức sản xuất chủ yếu là kinh tế hộ tiểu nông, quy mô sản xuất nhỏ, phân tán; công cụ và kỹ thuật sản xuất còn lạc hậu; Năng suất lao động Việt Nam còn rất thấp so với khu vực.

Thiếu hoặc thiếu đồng bộ về chủ trương, chính sách, hành lang pháp lý, như quy hoạch phát triển, chính sách về đất đai, tín dụng, liên kết sản xuất tiêu thụ sản phẩm, ứng dụng KH&CN... cho phát triển nông nghiệp công nghiệp của cả nước nói chung và cho vùng BTB nói riêng.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản BTB gặp rất nhiều khó khăn do biến đổi khí hậu. Thời tiết khắc nghiệt, khô hạn, bão lụt thường xuyên.

Thiếu hụt 3 loại tri thức cơ bản gồm: (1) Tri thức kinh tế và thông tin thị trường. (2) Tri thức KH&CN, các trào lưu phát triển nông nghiệp mới trên thế giới: nông nghiệp thông minh, nông nghiệp chính xác, nông nghiệp công nghiệp 4.0; các thành tựu mới của CNSH; các tri thức về đối tượng sản xuất (cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật) và các công nghệ sản xuất phù hợp; các công cụ quan sát, thu thập thông tin mới qua các sensors, GPS,...; các phương pháp phân tích thông tin để quản lý và điều khiển hệ thống sản xuất theo chuẩn quốc tế (Global GAP, EURO GAP,...) và liên kết thị trường toàn cầu. (3) Tri thức kinh tế đối ngoại: Nhiều hiệp định hợp tác quốc tế song phương và đa phương đã được ký kết, mở đường cho phát triển kinh tế, tuy nhiên hệ thống sản xuất nói chung chưa theo kịp để khai thác sức mạnh của kinh tế đối ngoại. Nhận thức và hoạt động kinh tế đối ngoại phục vụ xuất nhập khẩu còn yếu. Khả năng ngoại ngữ và giao lưu quốc tế yếu kém. Trong điều kiện toàn cầu hóa quốc tế hiện nay, kinh tế đối ngoại đóng vai trò quyết định đối với phát triển.

Thiếu hụt các phát minh sáng chế và công nghiệp chế tạo phục vụ đổi mới và phát triển nông nghiệp.

Phát triển công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, du lịch chưa kết hợp với phát triển nông nghiệp.

3. Hiện trạng phát triển một số sản phẩm nông nghiệp chính vùng Bắc Trung bộ

* Ngành trồng trọt:

- Sản xuất ngành trồng trọt, đặc biệt là sản xuất lúa, mía đường, chè,… của vùng giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu ngành của cả nước, góp phần quan trọng đảm bảo an ninh lương thực cho vùng; đã bước đầu hình thành một số vùng sản xuất tập trung theo hướng hàng hóa như: vùng sản xuất mía đường ở Thanh Hóa; vùng sản xuất chè ở Nghệ An; vùng sản xuất lạc ở Nghệ An, Hà Tĩnh,…

- KH&CN đã góp phần thúc đẩy sản xuất; nhiều giống mới, biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến đã được áp dụng, cơ giới hóa được đẩy mạnh góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản một số cây trồng chính của vùng; Đã có một số doanh nghiệp đầu tư xây dựng mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như: mô hình phát triển cây chanh leo của Nafoods Group ở Nghệ An, ứng dụng CNC trong sản xuất mía, rau, củ, quả, hoa của Công ty CP mía đường Lam Sơn ở Thanh Hóa...

- Trình độ sản xuất nông nghiệp hàng hóa chưa cao, chất lượng nông sản chưa đồng đều ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh và tìm kiếm thị trường tiêu thụ, hiệu quả sản xuất và thu nhập của nông dân ở một số nơi còn thấp; Quan hệ sản xuất đang dần được hình thành, một số mô hình liên kết đã được áp dụng như hợp tác xã kiểu mới, tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp cổ phần (hay doanh nghiệp hợp tác xã),… tuy nhiên thực tế triển khai còn gặp nhiều khó khăn.

* Ngành chăn nuôi

BTB có tiềm năng lớn để phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi đại gia súc. Những năm gần đây, ngành chăn nuôi bước đầu đã phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, các tiến bộ về giống, thức ăn đã được nghiên cứu, ứng dụng góp phần nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm; hình thành được một số vùng chăn nuôi đại gia súc, gia súc quy mô trang trại, gia trại ở các huyện miền núi; đã có một số doanh nghiệp chăn nuôi công nghệ cao, quy mô lớn, thành công trong phát triển sản phẩm chủ lực của vùng.

Tuy nhiên, ngành chăn nuôi của vùng chưa phát huy được tiềm năng do ngành chế biến sản phẩm chăn nuôi chưa phát triển, toàn vùng hiện nay mới chỉ có 4 cơ sở/ nhà máy chế biến thịt gia súc giết mổ quy mô 4.000 tấn/năm, còn lại chỉ là cơ sở chế biến nhỏ lẻ, trình độ công nghệ còn hạn chế; chất lượng sản phẩm của ngành chăn nuôi chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu; thị trường tiêu thụ sản phẩm còn hạn chế, không ổn định, phụ thuộc chủ yếu vào thị trường nội địa. Việc ứng dụng công nghệ cao trong chăn nuôi mới chỉ dừng lại ở một vài cụm chăn nuôi tập trung. Để ngành chăn nuôi phát triển tương xứng với tiềm năng, trong thời gian tới vùng BTB cần tập trung chăn nuôi theo hướng tập trung, ứng dụng công nghệ cao, đầu tư sản xuất theo chuỗi giá trị.

* Ngành lâm nghiệp

Tài nguyên rừng của vùng chỉ đứng sau Tây Nguyên và đây chính là nguồn cung quan trọng về gỗ và lâm sản cho đồng bằng sông Hồng, cũng như đáp ứng một phần lĩnh vực sản xuất gỗ ở nước ta. Ngoài cây luồng Thanh Hóa, BTB còn có nhiều đặc sản dưới tán rừng và tài nguyên động vật phong phú, có giá trị kinh tế; Tính đa dạng sinh học của vùng còn khá cao so với các vùng khác, gần như tỉnh nào cũng có vườn quốc gia.

Cây tre, luồng ở vùng BTB cũng là một trong những loại cây trồng tập trung với diện tích lớn, mang lại nguồn thu cho người sản xuất lâm nghiệp, cung cấp cho thị trường 85.401 nghìn cây (số liệu năm 2016).

Ngành lâm nghiệp của vùng BTB trong những năm qua đã đạt được những kết quả tốt so với cả nước. Tỷ lệ che phủ rừng bình quân toàn vùng đạt 55,06%, cao hơn 1,33 lần mức bình quân cả nước. Công tác bảo vệ rừng được thực hiện tốt. Diện tích rừng trồng mới hàng năm tương đối cao, diện tích rừng sản xuất cho hiệu quả kinh tế khá.

4. Triển vọng phát triển nông nghiệp công nghiệp hóa hành lang đường Hồ Chí Minh vùng Bắc Trung bộ     

4.1. Cơ sở lý luận

a. Cơ sở lý luận xét trên góc độ kinh tế

- Xu thế phát triển kinh tế đang đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức sản xuất: Nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu ngoạn mục, trở thành một trong 20 quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, nền nông nghiệp đang có xu hướng phát triển kịch trần do nền nông nghiệp vẫn trong tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún, dựa trên kinh tế hộ nhỏ lẻ với phương tiện và công cụ sản xuất nghèo nàn, lạc hậu. Do vậy, đổi mới phương thức sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa là cấp bách và phải được xem là cốt lõi nhất trong đổi mới kinh tế.

- Nông nghiệp công nghệ cao đã và đang tạo ra sự bứt phá trong phát triển nông nghiệp.

Nông nghiệp công nghệ cao đã trở thành phương thức sản xuất chủ lực ở hầu hết các nước phát triển như Mỹ, Canada, EU, Israel, Nhật Bản, Úc… Đặc điểm cơ bản của nông nghiệp công nghệ cao trên thế giới là sản xuất dựa trên các thành tựu hàng đầu của công nghiệp, có hàm lượng tri thức cao, tích hợp các công cụ và công nghệ sản xuất hiện đại như công nghệ sinh học (CNSH), cơ giới hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa, tự động hóa, tin học hóa.

Đặc điểm quan trọng khác của nông nghiệp công nghệ cao là sản xuất quy mô lớn, có giá trị hàng hóa cao và lợi nhuận cao. Nông nghiệp công nghệ cao là một phương thức sản xuất cơ bản của thời đại công nghiệp. Nó được hình thành và phát triển cùng với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Mỗi một giai đoạn phát triển của các cuộc cách mạng công nghiệp, có một trình độ phát triển tương ứng của nông nghiệp. Nông nghiệp công nghệ cao hiện đại là phương thức sản xuất dựa trên các thành tựu của các cuộc cách mạng 4.0 và CNSH.

b) Yếu tố thị trường đã có nhiều thay đổi và tác động trực tiếp đến phát triển

-  Sự phân cực kinh tế thế giới: Hiện nay nông nghiệp quốc tế chia làm 2 cực

+ Các nước phát triển bão hòa hoặc dư thừa nông sản, chiếm hầu hết trong tốp 20 nước xuất khẩu nông nghiệp hàng đầu. Nhưng cũng là các quốc gia nhập khẩu nông sản chủ lực, là những sản phẩm chất lượng và giá trị kinh tế cao. Bên cạnh đó, đã xuất hiện nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp tinh hoa (Thực phẩm dinh dưỡng và an toàn cao; rau hoa quả cao cấp; nông nghiệp hữu cơ; thực phẩm không chuyển gen - Non GMO; thực phẩm chức năng;…).

+ Các nước nghèo với khoảng 2 tỷ người thiếu đói. Thị trường nông nghiệp chủ yếu ở các nước này là lương thực với chất lượng và giá thành trung bình và thấp. Đây cũng là một thị trường nông nghiệp tiềm năng của Xa lộ NN HCM.

- Thị trường nông sản toàn cầu cũng đã có sự chuyển dịch khá rõ.

+ Thị trường nông sản quốc tế tăng trưởng mạnh mẽ, từ 342 tỷ USD năm 2001, lên tới 1036 tỷ USD năm 2016 với 9 mặt hàng nông sản chủ lực. Trong đó, rau quả là ngành hàng chủ lực, đạt 237 tỷ USD năm 2016, chiếm gần 23% tỷ trọng của toàn bộ thị trường nông sản quốc tế; tiếp theo là ngũ cốc, chiếm 14,4%; thủy hải sản chiếm 13,2%. Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm rau quả nhiệt đới, trái mùa và hữu cơ sẽ tăng tại các nước phát triển.

+ Nhiều nước trong số các nước ký hiệp định thương mại tự do với nước ta là các nước nhập khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc là các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

4.2. Xu thế thời đại, thách thức và cơ hội phát triển vùng

a) Bốn dòng chảy của thời đại

Mức độ hội nhập toàn cầu thể hiện qua sự thông thoáng của bốn dòng chảy: Tri thức, Công nghệ, Tiền tệ, Thị trường - Hàng hóa trên thế giới. Sự tích lũy về tri thức, công nghệ, tiền tệ trên thế giới đã tạo ra những dòng thác rất lớn làm động lực cho sự phát triển toàn cầu.

Đây cũng là một cơ hội đầu tư phát triển quan trọng hàng đầu đối với nông nghiệp công nghệ cao ở nước ta. Nghiên cứu về phát triển, công nghệ cao đường Hồ Chí Minh xuất phát từ tư duy về chọn vùng trọng điểm và tổ chức liên kết sản xuất, tập trung các doanh nghiệp hàng đầu đủ sức mạnh thu hút bốn dòng thác vĩ đại trên đây nhằm tạo ra một vùng nông nghiệp công nghệ cao hàng đầu khu vực và quốc tế.

b) Phát triển kinh tế dựa trên tri thức

Nguồn lực tri thức, thiết bị và công nghệ chủ yếu nằm trong tay các nước phát triển và là động lực vĩ đại nhất làm thay đổi phương thức sản xuất xã hội. Để việc phát triển nông nghiệp công nghiệp hóa công nghệ cao hành lang đường Hồ Chí Minh phải tạo ra nguồn lực để thu hút được các chuyên gia hàng đầu, các giống và công nghệ ưu tú nhất trên thế giới.

c) Thách thức bởi sự liên kết chính trị và kinh tế giữa các quốc gia là không thể tránh khỏi và trở thành một thủ đoạn cạnh tranh.

Hàng loạt các các hiệp ước FTA, nhất là hiệp ước TPP là thể hiện xu thế liên kết và cạnh tranh quốc tế. Các nước Mỹ, Nhật, Hàn, Úc, EU, Israel có nền nông nghiệp công nghệ cao phát triển rực rỡ. Cần tranh thủ cơ hội này để chuyển hóa sức mạnh liên kết chính trị thành sức mạnh liên kết phát triển kinh tế nông nghiệp. Vai trò của nhà nước là giúp cho các vùng nông nghiệp công nghệ cao các nguồn lực quốc tế và thị trường quốc tế.

d) Quan hệ với các nước lớn và khu vực

Trung Quốc vẫn liên tục là nhà nhập khẩu nông sản hàng đầu của Việt Nam (với kim ngạch xuất khẩu năm 2017 đạt 2,65 tỷ USD, tăng 52,4% so với năm 2016, chiếm 75,7% tổng xuất khẩu rau quả cả nước). Bên cạnh đó, Hoa  Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc là các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt  Nam.

đ) Thách thức bởi các trào lưu mới trong phát triển NNCNC trên thế giới.

Trong hệ thống sản xuất, đã có nhiều sự thay đổi dựa vào công nghệ đã tạo ra các trào lưu mới, bao quát toàn bộ các mô hình kinh tế mới nổi nhằm tạo giá trị tối đa trong chuỗi sản xuất, cụ thể: Kinh tế sinh học (bioeconomy), kinh tế sinh khối (biomass economy), công nghệ sinh học, nông nghiệp chính xác, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp 4.0, nông nghiệp xanh hay còn gọi là nông nghiệp sinh thái xanh, nông nghiệp hữu cơ..., đó chính là những khái niệm và trào lưu sản xuất mới rất quan trọng đối với phát triển NNCNC trên thế giới.

4.3. Đặc trưng của hành lang đường Hồ Chí Minh vùng Bắc Trung bộ gắn kết với phát triển NNCNH

- Có đầy đủ các yếu tố về điều kiện tự nhiên và xã hội

Là một vùng nông nghiệp lớn, hội tụ đầy đủ các ngành sản xuất nông, lâm nghiệp, chăn nuôi và kinh tế biển, giao thông thủy, bộ, hàng không thuận lợi. Vùng đất chạy theo 2 bên chiều dọc đường Hồ Chí Minh rất rộng lớn, đất đai phì nhiêu, nhiều sông suối, nước sạch dồi dào, không khí trong lành, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và sinh thái xanh.

- Có các yếu tố về địa lý - chính trị và an ninh quốc phòng.

Đường Hồ Chí Minh chạy dài theo trục xương sống của đất nước, kết nối các vùng núi và trung du của nước ta với nhau và với 2 nước bạn Lào và Campuchia. Đây là vùng đất đai rộng lớn và khá phì nhiêu, đặc biệt là đoạn từ Thanh Hóa đến miền Đông Nam bộ, rất thuận lợi cho phát triển. Khả năng kết nối vùng này với các cảng biển lớn cũng rất thuận lợi cho xuất khẩu.

Khu vực đường Hồ Chí Minh còn là xương sống quốc phòng của nước ta và các nước Việt Nam-Lào-Campuchia. Nói rộng ra, Khu vực đường Hồ Chí Minh còn là xương sống an ninh quốc phòng của ASEAN.

Phát triển kinh tế vùng ven đường Hồ Chí Minh sẽ làm cho xương sống quốc phòng nước ta trở nên bền chắc. Sức mạnh "công", "thủ" mang tính chiến lược của khu vực cần phải được tăng cường bằng thực lực kinh tế.

5. Định hướng phát triển và giải pháp thúc đẩy phát triển nông nghiệp công nghiệp hóa hành lang đường Hồ Chí Minh

5.1. Định hướng

- Xây dựng được các tổ hợp nông nghiệp theo hướng công nghiệp, công nghệ cao, liên hoàn về cấu trúc sinh thái và kinh tế, tăng cường an sinh xã hội và an ninh quốc phòng và sinh thái bền vững trên xa lộ HCM.

- Xây dựng được mô hình liên kết theo chuỗi và theo chức năng: Nông nghiệp tiên tiến thời đại - kinh tế - an ninh quốc phòng bền vững, góp phần đổi mới phương thức sản xuất làm tăng thu nhập kinh tế cho nông dân và doanh nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân và an sinh xã hội.

- Hình thành các thành phố và cụm dân cư nông nghiệp, văn minh, hiện đại, xanh trên trục hành lang đường Hồ Chí Minh: Thành phố sữa, thịt; thành phố rau quả và nông sản tinh hoa; thành phố NNCN cao và đa dạng sinh học khác biệt với các đô thị công nghiệp.

- Hình thành các trung tâm công nghệ sinh học sản xuất và dịch vụ giống; trung tâm giáo dục và đào tạo; trung tâm chuyển giao công nghệ và quảng bá các sản phẩm nông nghiệp.

- Hình thành và phát triển các tổ chức nghiên cứu thích ứng với yêu cầu nhiệm vụ, hình thành các doanh nghiệp KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp.

- Phát triển hành lang đường Hồ Chí Minh đảm bảo sự bền vững, gắn với an dân và phát triển độc lập, đảm bảo an ninh quốc phòng bền vững và có tính lan tỏa.

5.2. Giải pháp thúc đẩy phát triển NNCNH hành lang đường Hồ Chí Minh

5.2.1. Lựa chọn sản phẩm chủ lực, có lợi thế phát triển

Các nông sản thương mại chủ lực trên thế giới UNSTAD đã rà soát đưa ra danh mục các sản phẩm thương mại chủ lực đang được thương mại hóa trên thế giới, gồm: Rau quả; Ngũ cốc và các sản phẩm chế biến; Thủy sản: Cá, động vật giáp xác, động vật thân mềm và các chế phẩm của chúng; Thịt và các sản phẩm chế biến; Cà phê, chè, ca cao, gia vị và các chế phẩm từ chúng; Sản phẩm sữa và trứng; Thức ăn chăn nuôi (trừ ngũ cốc chưa xay); Các sản phẩm khác và các chế phẩm từ chúng; Đường, các chế phẩm từ đường và mật ong; Thực phẩm chức năng; Thực phẩm dinh dưỡng; Máy và công nghệ nông nghiệp; Hạt giống, cây giống. Về sản phẩm nông sản hiện có 7 loại mặt hàng chủ lực trên thế giới, trong đó, rau quả là sản phẩm chiếm thị phần lớn nhất và cũng là sản phẩm nông sản có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu toàn cầu nhanh nhất.

Về khuynh hướng tiêu dùng trên thế giới: Trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu toàn cầu, rau quả và thủy hải sản chiếm thị phần lớn nhất và tăng trưởng nhanh nhất. Xu hướng tiêu dùng mới nổi lên bao gồm các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ, thực phẩm chức năng và thực phẩm dinh dưỡng.

Một số sản phẩm nông - lâm nghiệp - dược liệu chủ lực, có lợi thế phát triển:

- Sản phẩm rau quả: Tập trung vào phát triển cây ăn quả chất lượng cao, cây có múi không hạt; một số loại rau củ phù hợp với vùng.

- Sản phẩm cây lâm nghiệp: Tập trung vào một số loại cây có năng suất cao, cây công nghiệp dài ngày có giá trị cung cấp gỗ lớn cho năng suất, chất lượng cao cho các loài cây trồng rừng chủ lực như các loài keo, bạch đàn, huỷnh, sao đen, giổi xanh...

- Sản phẩm chăn nuôi: Tập trung hướng đến đối tượng vật nuôi có thế mạnh và có khả năng mở rộng địa bàn.

- Sản phẩm dược liệu: Trong đó chú trọng phát triển một số loài dược liệu quí dưới tán rừng; dược liệu có nguồn gen đặc trưng của vùng.

5.2.2. Đề xuất các giải pháp để phát triển nông nghiệp công nghiệp hóa hành lang đường Hồ Chí Minh vùng Bắc Trung bộ

a. Giải pháp về chính sách

Cần phải nghiên cứu để có chính sách đồng bộ từ trung ương đến địa phương nhằm tạo cú huých thu hút được các nhà đầu tư cũng như tháo gỡ cho người dân nhằm phát huy được tiềm năng của trục đường, nhất là chính sách khuyến khích các nhà đầu tư sản xuất sản phẩm có lợi thế của vùng.

b. Giải pháp về quy hoạch và phát triển hạ tầng

- Sớm lập quy hoạch phát triển NNCNH hành lang đường Hồ Chí Minh vùng Bắc Trung bộ và được cấp thẩm quyền phê duyệt làm cơ sở cho các địa phương có căn cứ để điều chỉnh quy hoạch phát triển nông nghiệp nói riêng và kinh tế - xã hội của từng tỉnh nói chung. Trước mắt cần rà soát, bố trí lại cơ cấu cây trồng vật nuôi cho phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng, gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ sản phẩm tạo thành sự liên kết nông nghiệp - chế biến - dịch vụ thị trường trên địa bàn vùng; xây dựng vùng chuyên canh trồng cây dược liệu, rừng kinh tế, chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung để ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất, chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao.

- Triển khai xây dựng Đề án "Phát triển nông nghiệp công nghiệp hóa xa lộ đường Hồ Chí Minh vùng Bắc Trung bộ".

c. Giải pháp khoa học và công nghệ

- Lựa chọn doanh nghiệp hỗ trợ đầu tư ứng dụng, đổi mới công nghệ mới trong chế biến, bảo quản nông sản, góp phần chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, nâng cao giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp.

Làm chủ các công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại và đồng bộ theo chuỗi giá trị, nhất là các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, có khả năng phát triển thành vùng hàng hóa tập trung. Đổi mới công nghệ chế biến tại các nhà máy trong vùng nhằm nâng cao năng lực chế biến, nâng cao chất lượng, giá trị nông sản.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đầu tư vào sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị (xây dựng các nhà máy chế biến ở các tỉnh trọng điểm sản xuất hồ tiêu, cà phê, cao su, nguyên liệu giấy, thủy hải sản,…).

Khuyến khích các thành phần kinh tế xây dựng các cơ sở chế biến vừa và nhỏ ở các địa phương để thu gom sơ chế, làm vệ tinh cho các nhà máy chế biến trong vùng; hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao với quy mô vừa làm dịch vụ sản xuất giống kết hợp chế biến nông sản chất lượng cao.

- Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng KH&CN nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi

+ Đối với lĩnh vực trồng trọt

Nghiên cứu chọn tạo giống và công nghệ sản xuất giống cây trồng có năng suất cao và chất lượng phù hợp với nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu, chống chịu điều kiện bất lợi, tập trung vào các cây trồng có lợi thế cạnh tranh: lúa gạo, cây ăn quả... cây trồng có tiềm năng phát triển: mía, hồ tiêu, cà phê, chè... các cây trồng thay thế nhập khẩu: ngô, đậu tương; chuyển đổi diện tích trồng trọt có hiệu quả thấp sang trồng cây ăn quả, trồng cỏ nuôi bò.

Nghiên cứu đồng bộ các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất các loại cây trồng mới được chọn tạo ở từng vùng sinh thái, ưu tiên nghiên cứu các biện pháp tiết kiệm đầu vào, tăng hiệu quả, thân thiện môi trường và bền vững. 

Xây dựng và hoàn thiện quy trình kỹ thuật theo hướng ứng dụng công nghệ cao, thâm canh tăng năng suất, sản xuất hữu cơ gắn với chuỗi giá trị cho các đối tượng chủ lực nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm, giảm chi phí đầu vào. Nghiên cứu xây dựng quy trình trồng rừng thâm canh cây gỗ lớn và cây lâm sản ngoài gỗ đạt hiệu quả kinh tế cao. Nghiên cứu ra các chế phẩm sinh học, tác nhân phòng trừ sinh học sử dụng trong trồng trọt, bảo vệ thực vật và môi trường.

+ Đối với lĩnh vực chăn nuôi: Nghiên cứu chọn tạo giống vật nuôi chủ lực có năng suất, chất lượng cao, giống thích ứng với biến đổi khí hậu. Phục tráng và phát triển một số vật nuôi bản địa có giá trị kinh tế cao. Nghiên cứu ứng dụng quy trình công nghệ mới tiên tiến ưu tiên công nghệ cao nhằm tăng năng suất, tăng hiệu quả và giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi. Nghiên cứu xây dựng mô hình liên kết chăn nuôi theo chuỗi nhằm nâng cao giá trị gia tăng trong quá trình sản xuất sản phẩm chăn nuôi.

+ Lĩnh vực thủy sản: Nghiên cứu, chuyển giao các quy trình công nghệ nuôi các đối tượng cá nước lạnh, có giá trị kinh tế và phù hợp với điều kiện tự nhiên, môi trường của vùng. Thúc đẩy phát triển nuôi thủy sản trên hồ chứa một cách bền vững.

+ Bảo tồn, khai thác bền vững lâm nghiệp và các loại lâm sản ngoài gỗ. Cải thiện sinh kế cho cộng đồng gắn với bảo vệ và phát triển rừng sẽ là giải pháp quan trọng đối với các vùng sâu, vùng xa, vùng cao, nơi có dân số là người nghèo và người dân tộc thiểu số sinh sống bên trong hoặc gần các khu rừng tự nhiên.

+ Sản xuất dược liệu: Đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ nhằm khai thác, phát triển nguồn dược liệu quý, ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học trong việc trồng, bào chế thuốc phục vụ sản xuất các loại thuốc mới. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, điều hành từ khâu nuôi trồng, khai thác và chế biến, sử dụng dược liệu trong sản xuất thuốc, chữa bệnh và các ngành khác (sản xuất thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, công nghiệp chiết xuất).

+ Lĩnh vực cơ điện, công nghệ sau thu hoạch: Nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ, thiết bị sơ chế, bảo quản và chế biến sâu một số sản phẩm chủ lực của vùng nhằm năng cao chất lượng. Nghiên cứu, hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo máy, thiết bị phục vụ cơ giới hóa, tự động hóa.

+ Nghiên cứu chính sách phát triển thị trường, chuỗi giá trị nông sản. Nghiên cứu, đề xuất chính sách và thể chế nâng cao hiệu quả ứng dụng khoa học và công nghệ; phát triển các hình thức liên kết, hợp tác, xã hội hóa dịch vụ trong nông nghiệp nông thôn.

d. Xây dựng và phát triển thương hiệu gắn với tạo lập thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

Xây dựng, quản lý, bảo vệ và phát triển thương hiệu góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong đó ưu tiên hỗ trợ các sản phẩm chủ lực, đặc thù, có tiềm năng xuất khẩu. Tăng cường công tác tiếp thị, hội chợ triển lãm nhằm quảng bá các sản phẩm có khả năng xuất khẩu trong vùng. Xúc tiến nghiên cứu, đăng ký thương hiệu sản phẩm hàng hóa trên thị trường quốc tế như các sản phẩm: bưởi Phúc Trạch, cam Vinh, lạc, cà phê Hướng Hóa, tiêu Tân Lâm,…

Kết hợp đầu tư công nghệ kết nối thông tin, kiểm soát chất lượng trong việc xây dựng các chợ đầu mối để làm nơi giao lưu trao đổi hàng hóa nông sản, trao đổi thông tin đầu vào - đầu ra ở những vùng có sản phẩm hàng hóa tập trung, trước mắt cần ưu tiên bố trí xây dựng ở những trung tâm huyện, thị xã ở các tỉnh trong vùng.

Xây dựng, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu nhằm phục vụ việc khai thác thị trường trong và ngoài nước để tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nông sản. Chủ động hợp tác, khuyến khích các thành phần, tổ chức kinh tế tham gia thiết lập các mạng lưới kết nối tự động trong việc thu mua trực tiếp từ nông dân, bao tiêu sản phẩm nông sản hàng hóa, gắn chế biến với tiêu thụ sản phẩm.

 

Hình thành chuỗi liên kết trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao

Trần Quốc Thành

Nghệ An là tỉnh có diện tích rộng nhất cả nước, đa dạng thổ nhưỡng, có nhiều vùng tiểu khí hậu, tính đa dạng sinh học cao, có nhiều loại động, thực vật quý hiếm, đặc sản, có Khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận. Do vậy, phát triển nông nghiệp công nghệ cao là rất cần thiết và đúng hướng.

Trong những năm qua, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của tỉnh đã có bước phát triển đáng kể. Nhiều giống cây trồng vật nuôi có năng suất chất lượng đã được khảo nghiệm, ứng dụng, mở rộng. Nhiều khâu trong quy trình canh tác đã được cơ giới hoá như khâu làm đất, thu hoạch,... nhiều thiết bị hiện đại được ứng dụng như trong khai thác thuỷ sản (máy tầm ngư solar, đèn led, định vị, ..), công nghệ tưới tiên tiến, công nghệ thông tin (sử dụng chíp điện tử, tự động điều khiển), nhà lưới nhà màng, công nghệ sinh học (sản xuất giống bằng phương pháp ghép, vi ghép, nuôi cấy mô, chọn giới tính ở bò, cá rô phi, sử dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nuôi trồng thuỷ sản, chăn nuôi gia súc gia cầm, và trồng trọt), giá thể thay thế đất, thuỷ... được doanh nghiệp và nông dân áp dụng.

Một số quy trình canh tác tiên tiến như SRI, VietGAP, GlobalGAP, canh tác theo phương thức nông nghiệp sinh thái đã được triển khai thử nghiệm... Doanh nghiệp và nông dân đã bắt đầu tham gia chuỗi, đã quan tâm đến tín hiệu thị trường, xây dựng thương hiệu sản phẩm, đã hình thành vùng sản xuất quy mô lớn, tập trung,..

Đặc biệt, 2 thương hiệu lớn là TH và Vinamilk được công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao. Chính vì vậy, năng suất hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp có bước phát triển khá, thu nhập và đời sống nông dân tăng lên. Đã xuất hiện khá nhiều tỷ phú nông dân trên địa bàn Nghệ An.

Tuy nhiên, phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Nghệ An vẫn đang ở bước khởi đầu. Vấn đề áp dụng cơ giới hoá, công nghệ tiên tiến ở một số khâu quan trọng như bảo quản, sơ chế, chế biến đang còn yếu và thiếu; doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này còn ít so với tiềm năng...

Để phát triển nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn Nghệ An trong thời gian tới, tôi  đề xuất một số nhiệm vụ và giải pháp như sau:

Thứ nhất, cần làm tốt khâu quy hoạch với sự đóng góp tư vấn của các chuyên gia, các viện, trường để xác định vùng ứng dụng nông nghiệp CNC, đối tượng sản xuất ứng dụng CNC phù hợp với nhu cầu của thị trường hiện tại và tương lai. Trên cơ sở xác định vùng, đối tượng để có định hướng ứng dụng công nghệ, thiết bị, quy trình sản xuất phù hợp với giá trị, giá cả sản phẩm mà thị trường chấp nhận. Trong đó, cần ưu tiên một số đối tượng có giá trị kinh tế cao để áp dụng đồng bộ hơn, ví dụ: tôm, cây có múi, dược liệu, rau màu đặc sản, tảo, vi tảo, nấm, vi nấm,... Ưu tiên hơn vùng miền Tây Nghệ An trong phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC.

Thứ hai, phát triển nông nghiệp CNC rất cần hình thành chuỗi sản xuất để tiến tới chuyên môn hoá các khâu sản xuất, kinh doanh. Trong đó, vai trò dẫn dắt chuỗi của doanh nghiệp nông nghiệp cực kỳ quan trọng. Do đó, cần có sự tích tụ ruộng đất để có cơ sở cho DN tham gia sản xuất, tiêu thụ, chế biến làm nòng cốt dẫn dắt chuỗi và nông dân là vệ tinh tham gia chuỗi dọc. Và tất nhiên rất cần có sự liên kết ngang của nông dân (hợp tác xã  chuyên cây con) để đại diện nông dân hợp tác, hợp đồng với doanh nghiệp.

Trong các khâu của chuỗi, trước hết cần quan tâm ưu tiên ứng dụng CNC ở một số khâu: Sản xuất quản lý giống, thuốc BVTV, thú y an toàn sinh học, tưới tiêu, phân bón vi sinh hữu cơ, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, tự động hoá, sơ chế, bảo quản, quảng bá...

Thứ ba, cần thường xuyên phối hợp, hỗ trợ doanh nghiệp nắm bắt và dự báo thị trường sản phẩm để định hướng quy mô, cơ cấu sản xuất ở từng giai đoạn, từng năm theo hướng sản xuất theo hợp đồng, tránh tình trạng sản xuất theo phong trào. Hỗ trợ xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ sản phẩm với các thành phố lớn, và xuất khẩu, chú trọng cả thị trường khó tính và cả thị trường truyền thống như khu vực Nga, Đông Âu.

Thứ tư, đẩy mạnh chương trình sở hữu trí tuệ để xây dựng, quảng bá, khai thác phát triển thương hiệu sản phẩm chủ lực, đặc sản Nghệ An, đặc biệt là sản phẩm nông nghiệp sạch, sản phẩm ứng dụng CNC ở trong và ngoài nước. Mở rộng mô hình dán tem truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm nông nghiệp ATVSTP và sản phẩm ứng dụng CNC.

Thứ năm, cần xây dựng và triển khai chương trình đào tạo, tập huấn cho đội ngũ kỹ thuật, cán bộ doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại theo cách gửi thực tập ở trong và ngoài nước về NNCNC. Cần sớm giao cho viện, trường  hình thành trên địa bàn Trung tâm đào tạo nghề nông nghiệp CNC theo hướng đào tạo - thực hành.

Thứ sáu, đề nghị UBND tỉnh thu hút, tạo điều kiện hỗ trợ các viện, trường, các tổ chức KHCN, các doanh nghiệp lớn đầu tư các Trung tâm, Trạm nghiên cứu ứng dụng NNCNC, nhất là ở vùng Tây Nghệ An. Trong đó cần ưu tiên Trạm nghiên cứu ứng dụng nông nghiệp CNC tại TX Thái Hoà của Sở Khoa học và Công nghệ, tiếp tục triển khai dự án Khu nông nghiệp ứng dụng CNC tại Nghĩa Đàn mà đã quy hoạch, Trung tâm thực nghiệm nông nghiệp của Trường Đại học Vinh, các Trung tâm R&D của Tập đoàn TH, NafoodGroup, Massan...

Thứ bảy, tiếp tục thu hút, hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp CNC. Tìm và giải quyết vấn đề tại sao doanh nghiệp khó tiếp cận chính sách thu hút DN đầu tư vào nông nghiệp, gói tín dụng hỗ trợ phát triển NNCNC?

Thứ tám, trong thời gian từ nay đến năm 2025, ưu tiên triển khai các đề tài, dự án ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp, nhất là hỗ trợ hình thành chuỗi sản xuất kết nối hợp tác giữa doanh nghiệp - hợp tác xã - nông dân. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia thực hiện các dự án ứng dụng CNC trong nông nghiệp theo hướng hợp tác PPP, có sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước.

Kết nối các kết quả nghiên cứu của các đề tài dự án với các chương trình khuyến nông, nông thôn mới,... để mở rộng vùng ứng dụng. Ngành nông nghiệp, UBND các huyện, các doanh nghiệp tăng cường nghiên cứu, phát hiện vấn đề, đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp một cách trọng tâm, trọng điểm, thiết yếu giúp Sở Khoa học và Công nghệ tổng hợp tham mưu UBND tỉnh kế hoạch thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ hàng năm.

Tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp với các nhà khoa học trong ứng dụng CNC trên cơ sở kết nối cung cầu công nghệ. Khuyến khích khởi nghiêp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực nông nghiệp, nhất là nông nhiệp CNC.

 

Bàn tròn tháng 7: Chiến lược phát triển mới cho Miền Tây Nghệ An

LTS: Miền Tây Nghệ An là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của tỉnh Nghệ An, có tiềm năng và lợi thế phát triển về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy điện, khai khoáng, du lịch và kinh tế cửa khẩu. Với những tiềm năng, vị thế đó ngày 04/12/2013 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2355/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển kinh tế - xã hội miền Tây tỉnh Nghệ An đến năm 2020 tạo cơ sở pháp lý quan trọng, cũng như khai mở nhiều động lực và kỳ vọng mới trên thực tế cho phát triển mạnh mẽ hơn khu vực này.

    Với mục tiêu của Quyết định số 2355/QĐ-TTg là "Khai thác hợp lý và có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh về phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy điện, khai khoáng, du lịch và kinh tế cửa khẩu để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế miền Tây tỉnh Nghệ An cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh; cải thiện rõ rệt và đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, dân sinh và bảo đảm quốc phòng, an ninh; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, đặc biệt là nhân dân vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới; gắn phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và ổn định chính trị,...".

Sau 5 năm thực hiện Đề án, Miền Tây Nghệ An đang thể hiện một diện mạo, vị thế mới đối với sự phát triển của tỉnh Nghệ An. Điều này được chứng minh qua tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 8,5%, cao hơn tăng trưởng bình quân chung toàn tỉnh là 7,59%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2018 ước đạt 26,5 triệu đồng, tăng 1,53 lần so với năm 2013 (bằng 70% so với bình quân đầu người của cả tỉnh). Đã hình thành một số vùng sản xuất cây nguyên liệu (mía, chè, cao su, cam, cây nguyên liệu chế biến gỗ,...) tập trung, quy mô lớn phục vụ chế biến và xuất khẩu; chăn nuôi tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao gắn với phát triển công nghiệp chế biến (bò sữa, bò thịt, lợn,...) được hình thành và tiếp tục phát triển. Công nghiệp phát triển khá nhanh, với nhiều nhà máy thủy điện, khai thác và chế biến khoáng sản, chế biến nông, lâm sản hoàn thành đi vào hoạt động đã tạo động lực cho chuyển đổi cơ cấu và phát triển kinh tế. Thương mại, dịch vụ được mở rộng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đời sống và sản xuất. Thu hút 163 dự án với 64.100 tỷ đồng vốn đầu tư đăng ký đầu tư vào khu vực miền Tây Nghệ An, phần lớn các dự án đầu tư trong lĩnh vực khai thác, chế biến khoáng sản, thủy điện, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông, lâm sản, trồng rừng...  Một số dự án tạo năng lực mới đã hoàn thành và đi vào hoạt động như: Nhà máy chế biến sữa của Công ty CP Chuỗi thực phẩm TH, Nhà máy chế biến gỗ Nghĩa Đàn, Nhà máy chế biến tinh bột sắn Anh Sơn; các nhà máy chế biến đá trắng, đá xẻ, đá ốp lát ở Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn; 7 nhà máy thủy điện với tổng công suất 638,5MW đã phát điện; một số dự án đang thực hiện đầu tư như: Dự án Bảo tồn và phát triển dược liệu gắn với phát triển rừng bền vững của Công ty Cổ phần dược liệu TH; dự án trang trại chăn nuôi lợn kỹ thuật cao Masan Nutri - Farm Nghệ An ở huyện Quỳ Hợp của Tập đoàn Masan; sản xuất MDF tại huyện Anh Sơn; chế biến hoa quả ở Nghĩa Đàn....

Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên; công tác phát triển nguồn nhân lực được chú trọng; an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm đạt kết quả khá. Hoạt động khoa học công nghệ đã hướng vào mục tiêu đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.

Tuy nhiên, theo đánh giá, kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của vùng, dự báo có 4/27 chỉ tiêu quan trọng trong Quyết định số 2355/QĐ-TTg khó đạt mục tiêu đề ra đến năm 2020 gồm: chỉ tiêu về tăng trưởng; cơ cấu kinh tế; thu nhập bình quân đầu người; thu ngân sách. Quy mô kinh tế còn nhỏ bé, hiệu quả chưa cao. Chưa tạo được sự chuyển biến căn bản, đột phá quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững của vùng. Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao.

Để giải quyết những vấn đề đặt ra của miền Tây Nghệ An trong quá trình phát triển và thiết kế một chiến lược mới cho phát triển miền Tây Nghệ An,  Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An tổng hợp, giới thiệu cùng bạn đọc các "hiến kế", "mách nước" của chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý.

 

Ông Hồ Xuân Hùng   - Nguyên thứ trưởng Bộ NN&PTNT:

Cần nhận thức đúng về nguồn lực của miền Tây Nghệ An

Có ba nguồn lực để phát triển kinh tế gồm nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực con người và nguồn tài chính. Đối với phát triển miền Tây cần nhận thức đúng các nguồn lực đó và cách thức khai thác các nguồn lực một cách hiệu quả nhất.

Thứ nhất, nguồn lực tài nguyên thiên nhiên: Ngay từ những năm 50-60 miền Tây Nghệ An đã được Chính phủ quan tâm thành lập các nông, lâm trường và đầu những năm 90 thành lập thêm những tổng đội thanh niên xung phong. Việc thành lập các nông, lâm trường, tổng đội ở thời điểm đó đã mang lại kết quả đáng ghi nhận cho kinh tế miền Tây Nghệ An. Như vậy, không chỉ Nghệ An mà ngay cả TW đã khẳng định rất rõ thực lực, tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên vùng này. Sau này, hình thành nhà máy đường Tate & Lyle vùng Phủ Quỳ với công suất từ 6.000 tấn/ngày lên 9.000 tấn/ngày;  Nhà máy sữa TH, nhà máy gỗ MDF đến nay đã làm thay đổi bộ mặt của vùng đất này. Ngoài đặc sản cam Phủ Qùy, vịt bầu Quỳ Châu, ca mát sông giăng, chè gay… còn có khoáng sản, lâm nghiệp. Có thể khẳng định tài nguyên thiên nhiên miền Tây Nghệ An đa dạng, phong phú nhưng chưa phát huy hết được tiềm năng. 

Thứ hai, nguồn lực con người, đây là một lợi thế, tạo ra lực lượng lao động tại chỗ dồi dào có khả năng tiếp cận được với kiến thức mới, khoa học tiên tiến.

Thứ ba, nguồn lực tài chính: 4 năm lại đây tăng trưởng trung bình của các tỉnh miền Tây đạt 28,5%/năm, thu hút đầu tư tuy không đạt yêu cầu nhưng đã thu hút được 200 dự án. Tuy nhiên, nguồn ngân sách của tỉnh còn khó khăn, phát triển miền Tây cần xác định nguồn lực chính không phải từ ngân sách mà phải tăng thu hút đầu tư.

Từ việc nhận thức đúng các nguồn lực, từ đó đề ra các phương thức để khai thác hiệu quả các nguồn lực đó, tạo sự phát triển bền vững cho miền Tây Nghệ An.

 

PG.TS Trần Đình Thiên   - Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam:

Xác định những ưu thế vượt trội của Miền tây Nghệ An

Miền Tây Nghệ An chiếm hơn 83% diện tích, nhưng chỉ chiếm 37% dân số toàn tỉnh. Như vậy để thấy đây còn là mảnh đất màu mỡ, giàu tiềm năng, tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất để phát triển kinh tế. Vì thế mà trong Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị đã dành hẳn một mục riêng cho phát triển miền Tây Nghệ An, trong đó chỉ rõ đầu tư phát triển KT - XH miền Tây thành một trong 3 vùng trọng điểm của tỉnh gắn vùng nguyên liệu với khai thác chế biến khoáng sản, sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp. Xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao với trung tâm là Nghĩa Đàn.

Ở đây cần nhấn mạnh là phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, toàn bộ khu vực miền Tây được xác định là khu nông nghiệp công nghệ cao mà trung tâm là Nghĩa Đàn, Thái Hòa, làm điển hình nông nghiệp công nghệ cao của cả vùng. Có thể thấy rõ những ưu thế vượt trội cũng như tiềm năng lớn của miền Tây trong phát triển kinh tế của tỉnh:

Thứ nhất, ở đây hình thành nhiều vùng sản xuất truyền thống với các cây trồng đặc sản như: cam, chanh, hoa quả, rau màu,... và có rất nhiều lợi thế để phát triển theo hướng công nghiệp hóa.

Thứ hai, miền Tây những năm vừa rồi là một trong những địa chỉ định hình mẫu phát triển cho Nghệ An, khác với các tỉnh thành khác trong khu vực bắc Trung bộ. Nếu Thanh Hóa, Hà Tĩnh tập trung vào công nghiệp nặng, công nghiệp truyền thống ven biển thì Nghệ An tận dụng những năng lực vốn có của mình để chuyển hướng sang lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao. Nhưng điển hình phát triển thành công như tập đoàn TH, Nafood, doanh nghiệp Khánh Tâm, đã minh chứng cho điều này.

Thứ ba, miền Tây cần định hình các tuyến phát triển rõ ràng: Tuyến thứ nhất, tuyến rừng quốc gia, chúng ta có một diện tích rất lớn với tài nguyên phong phú và quý giá, nhưng cho đến nay chúng ta chỉ mới dừng lại ở việc bảo tồn mà chưa biết cách khai thác phát triển; Tuyến thứ hai là tuyến thủy điện, không chỉ thủy điện tạo ra năng lượng mà còn tạo ra các hồ trên núi; Tuyến thứ ba là tuyến khai thác phát triển tiềm năng đất. Tiềm năng đất của miền Tây là rất lớn, nhưng từ trước tới nay chỉ mới khai thác một cách manh mún, nhỏ lẻ.

Thứ tư, cần xác định rõ sản phẩm chủ lực, đặc trưng của vùng là gì? Các sản phẩm này phải là những sản phẩm chủ lực của tỉnh, gắn với mô hình phát triển của tỉnh.

 

Ông Trương Đình Tuyển - Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại:

Chuyển tư duy nông nghiệp toàn diện sang tư duy nông nghiệp đa chức năng

Theo tôi, việc coi miền Tây là trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là cần thiết và chính xác. Tôi không nói đến điểm mới mà nói đến vấn đề cũ trên  góc nhìn mới. Đó chính là sự hội nhập càng sâu sắc, các tầng lớp trung lưu ngày càng phát triển và đang có một xu hướng dịch chuyển về tiêu dùng. Trên thế giới và cả trong nước, người tiêu dùng đang có xu hướng giảm dần nhu cầu sử dụng tinh bột, chuyển sang sử dụng chất hữu cơ, tăng cường rau quả. Tầng lớp trung lưu phát triển tạo ra xu hướng tiêu dùng với yêu cầu sạch hơn, an toàn hơn. Ngay ở nước ta, tầng lớp trung lưu cũng đang đi theo sự lựa chọn đó. Đây chính là cơ hội để miền Tây Nghệ An với tiềm năng lợi thế về diện tích, thổ nhưỡng, con người, sản phẩm và các giá trị đặc hữu khác thực hiện cuộc cách mạng trong nông nghiệp nhằm đáp ứng các đòi hỏi của thị trường.

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra nhiều cơ hội và thách thức lớn, nhưng chúng ta phải biết lựa chọn những lĩnh vực có lợi thế so sánh cao nhất, có tác động lan tỏa lớn nhất. Chúng ta không thể làm tất cả mọi thứ được vì nguồn lực chúng ta có hạn. Khu vực Miền tây Nghệ An có 2 lợi thế nổi trội là nông nghiệp và du lịch. Hai lợi thế này sẽ tạo thế mạnh và sự phát triển cho kinh tế miền Tây nếu chúng ta biết khai thác đúng cách.

Theo tôi:

Không nên tư duy phát triển nông nghiệp toàn diện mà chuyển sang tư duy phát triển nông nghiệp đa chức năng dựa trên lợi thế so sánh, để hình thành chuỗi giá trị sản phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng. Tại sao phải phát triển nông nghiệp đa chức năng, bởi vì trước tiên đảm bảo an ninh lương thực, tiếp đến là chức năng cải tạo môi trường sinh thái, cải thiện đất. Cần xóa bỏ tư duy nông nghiệp truyền thống, phải xem đây là ngành công nghiệp sản xuất lương thực và thực phẩm. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 làm mờ dần ranh giới giữa công nghiệp và dịch vụ, cho nên vừa làm nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, lồng ghép vào nhau trong một doanh nghiệp sẽ thành công hơn.

Gắn sản xuất với chế biến, hiện nay công nghệ cao cho phép chúng ta kiểm soát chất lượng, sản phẩm kể cả chế biến, trồng, bảo quản, lưu thông phân phối. Đó là chuỗi các hoạt động diễn ra một cách liên tục được số hóa ghi lại để tất cả mọi người đều có thể kiểm soát được chính xác. Công nghệ này rất quan trọng trong việc truy xuất nguồn gốc, kiểm định chất lượng và không chỉ cần cho sản xuất rau củ quả mà còn trong lĩnh vực chế biến gỗ, chế biến các sản phẩm nói chung.

 

Ông Trần Quốc Thành  - Giám đốc Sở Khoa học & Công nghệ Nghệ An:

Mở rộng liên kết vùng với Thanh Hóa, Hà Tĩnh, hình thành hành lang công - nông nghiệp hiện đại lấy trục chính là đường Hồ Chí Minh

Miền Tây Nghệ An không chỉ khó khăn về địa hình, khí hậu khắc nghiệt mà việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ còn nhiều hạn chế. Mặc dù trong những năm qua, ngành khoa học đã tập trung rất nhiều nguồn lực ưu tiên phát triển nông nghiệp, nhưng các mắt xích trong chuỗi phát triển các sản phẩm còn lỏng lẻo. Ví dụ như sản xuất cây mía đã có chuỗi liên kết từ nông dân đến doanh nghiệp nhưng khâu chọn giống làm chưa tốt dẫn đến năng suất cây trồng thấp hơn các năm; sản xuất cây chè các khâu khác đều làm rất tốt, năng suất cao, tuy nhiên khâu chế biến lại yếu dẫn đến giá đầu ra của sản phẩm thấp,... Một hạn chế nữa là mặc dù đã xây dựng được mô hình tuy nhiên việc nhân rộng mô hình còn nhiều hạn chế, phân tán, nhỏ lẻ, không mang lại kết quả cao. 

Cuối cùng là chúng ta còn lẫn lộn giữa mô hình phát triển và mô hình xóa đói giảm nghèo, vì thế không có một cái trục, một định hướng cụ thể về chỉ tiêu phát triển. Các chương trình xóa đói giảm nghèo như 135, 30a, nông thôn mới,... có kinh phí, ngân sách sự nghiệp cấp rất lớn nhưng hiệu quả mang lại không cao.

Vì thế, để phát triển miền Tây Nghệ An thành cực tăng trưởng của tỉnh cần:

Thứ nhất, về quy hoạch cần tách miền Tây Nghệ An thành hai khu vực rõ ràng: vùng trung du núi thấp và vùng núi cao. Đối với vùng trung du núi thấp tập trung phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả,... kết nối chuỗi giá trị với chế biến; Đối với vùng núi cao phát huy tối đa đặc sản, đặc hữu và cái sự chuyên biệt của thổ nhưỡng cũng như khí hậu như lan kim tuyến, sâm puxailalaeng,...

Thứ hai, mở rộng liên kết vùng với Thanh Hóa, Hà Tĩnh, hình thành hành lang công nông nghiệp hiện đại lấy trục chính là đường Hồ Chí Minh. Trong đó khuyến khích các doanh nghiệp chế biến bám theo lành lang Hồ Chí Minh để thuận lợi về giao thông, về kết nối.

Thứ ba, kết nối chặt chẽ giữa doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc có thể thành lập doanh nghiệp cộng đồng dạng nâng cấp hợp tác xã. Đặc biệt chú trọng phát triển  doanh nghiệp tại chỗ, doanh nghiệp vừa và nhỏ các huyện để có khả năng hợp tác, kiên kết các doanh nghiệp lớn trong nước cũng như nước ngoài.

Thứ tư, tập trung nguồn lực vào một số sản phẩm chủ lực để tạo thành chuỗi sản phẩm. Chúng ta có thể vừa kết nối, vừa xây dựng và vừa nhân rộng. Từ đó xây dựng chính sách hỗ trợ theo từng đối tượng cụ thể, tách bạch từng vùng mà không phải là hỗ trợ từng công đoạn như hiện nay khiến hiệu quả mang lại rất thấp.

Thứ năm, trung ương, tỉnh cần tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ hơn nữa, hiện đang xây dựng trung tâm nghiên cứu và triển khai ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao tại Thái Hòa, là điểm tập trung ưu tiên cho dược liệu và cây ăn quả.

Thứ sáu, xã hội hóa để tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ, làm sao để các doanh nghiệp có thể vào cuộc xây dựng các đơn vị nghiên cứu tư nhân hoặc theo chương trình nhằm tăng cường hơn nữa tiềm lực khoa học công nghệ; hoặc liên kết giữa khoa học nông nghiệp với các ngành khác để triển khai theo chuỗi trong xây dựng và nhân rộng.

 

GS.TS Đỗ Năng Vĩnh   - NCV cao cấp Viện Di truyền nông nghiệp:

Miền Tây Nghệ An nên tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao

Có thể nói, nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) ở miền Tây của Nghệ An phát triển khá sớm và có những kết quả tốt, trong đó có một số dự án sản xuất quan trọng của Tập đoàn TH, Nafood... đang tạo năng lực mới cho sự phát triển nông nghiệp, công nghiệp với quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao của vùng. Các công ty này cũng đã thu hút mạnh mẽ nguồn đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài như Israel, Nhật Bản, Hàn Quốc,... về vốn cũng như công nghệ tiên tiến.

Tuy nhiên, phát triển NNCNC ở miền Tây Nghệ An còn nhiều hạn chế, sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC chỉ mới tập trung chủ yếu vào việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản mà chưa đạt chuỗi.

Ở miền Tây Nghệ An, có nhiều lĩnh vực để áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhưng theo tôi, tỉnh nên tập trung đặc biệt vào công nghiệp sản xuất rau, hoa quả và chế biến. Ở đây có cây cam, chanh leo, các loại dược liệu,... với những vùng sản xuất truyền thống như: Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn với cam Vinh nổi tiếng; Quế Phong trồng chanh leo, hoặc các huyện khác có thế mạnh về cây dược liệu, cây hoa màu,...

    Tuy nhiên, làm thế nào để ứng dụng thành công công nghệ cao vào phát triển nông nghiệp là một bài toán khó và đòi hỏi thời gian đối với Nghệ An nói riêng, khu vực hàng lang đường mòn Hồ Chí Minh của các tỉnh Bắc Trung bộ nói chung.

    Thứ nhất, cần làm tốt công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội dọc hành lang đường Hồ Chí Minh; xây dựng cơ chế chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào phát triển nông nghiệp công nghệ cao và xác định trách nhiệm của chính quyền địa phương, tạo sự liên kết đồng thuận chính quyền - người dân - doanh nghiệp phát triển nông nghiệp công nghệ cao.

    Thứ hai, cần nâng cao nhận thức của người dân về vai trò, vị trí của khoa học và công nghệ; đổi mới hình thức tổ chức trong sản xuất là điều quan trọng. Nghệ An nói riêng, các tỉnh nói chung cũng sẽ phải kiện toàn lại các HTX, sẽ xây dựng các HTX chuyên ngành, như HTX rau, HTX cây ăn quả, HTX chăn nuôi... và liên kết với doanh nghiệp, để ứng dụng công nghệ cao và thực hiện sản xuất, kinh doanh chuyên nghiệp hơn.

    Thứ ba, để phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cần phải xác định được các sản phẩm chủ lực, có lợi thế của vùng; xây dựng và phát triển thương hiệu gắn với tạo lập thị trường tiêu thụ sản phẩm… Các sản phẩm đó phải có đặc trưng và khả năng phát triển thành vùng hành lang tại tất cả hoặc một số tỉnh dọc hành lang đường Hồ Chí Minh nhằm khai thác tiềm năng và vị trí của vùng.

    Cuối cùng, các tỉnh trong khu vực Bắc Trung bộ cần đẩy mạnh liên kết vùng, tăng cường sự phối hợp giữa các địa phương, từ đó xác định đối tượng nông sản cần hướng đến, xây dựng quy mô sản xuất phù hợp, lựa chọn công nghệ phù hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất. Quan trọng hơn trong phát triển nông nghiệp công nghiệp hóa hành lang đường Hồ Chí Minh cần có sự liên kết chặt chẽ giữa chính quyền - doanh nghiệp - người dân.

TÒA SOẠN

 

 

 

Một số vấn đề cần quan tâm trong quá trình phát huy nguồn lực văn hóa vào phát triển kinh tế - xã hội các dân tộc thiểu số Miền Tây Nghệ An

Hồ Thị Hiền - Bùi Minh Hào

 

1. Nhìn nhận lại quá trình phát triển miền Tây Nghệ An

Bao nhiêu năm nay, người ta nói về chiến lược phát triển tập trung quá nhiều vào yếu tố và mục tiêu kinh tế. Ở đây gần giống với chiến lược tăng trưởng kinh tế, tức là lấy các mục tiêu kinh tế làm trọng tâm cho quá trình hoạch định chiến lược phát triển. Vậy nên phần lớn nguồn vốn đầu tư cho quá trình phát triển miền Tây Nghệ An tập trung nhiều vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế. Việc đầu tư như vậy phần nào làm cho đời sống kinh tế - xã hội người dân thay đổi nhanh chóng, tốc độ phát triển kinh tế nhanh hơn, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao hơn. Tuy nhiên, quá trình phát triển theo hướng lấy mục tiêu tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm cũng đem lại nhiều hệ quả không mong muốn đối với quá trình phát triển ở miền Tây Nghệ An.

Trước hết, các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, ô nhiễm, khó phục hồi lại được. Nhìn chung, sự phát triển kinh tế ở miền Tây Nghệ An trong mấy thập kỷ qua gắn liền với quá trình khai thác mạnh mẽ các nguồn tài nguyên thiên nhiên như các loại khoáng sản, lâm thổ sản, rừng, và gần đây là sự khai thác tài nguyên nước để xây dựng các nhà máy thủy điện. Rừng là tài nguyên quan trọng, không chỉ là hệ sinh thái tự nhiên mà còn là hệ sinh thái nhân văn quan trọng của các cộng đồng tộc người sinh sống ở miền núi. Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ XX, cùng với sự di cư của người miền xuôi lên miền núi, chính sách xây dựng các lâm trường, nông trường thì việc khai thác rừng được đẩy mạnh. Hàng triệu khối gỗ quý bị chặt và chuyển về xuôi phục vụ xây dựng cơ bản. Hàng chục cánh rừng già bị triệt hạ, khai thác kiệt quệ. Phải đến những năm 1990, người ta mới nhận thức lại và tìm cách để trồng rừng, khôi phục lại môi trường sinh thái. Dù diện tích rừng trong mấy năm qua được tăng lên đáng kể, nhưng chủ yếu là rừng sản xuất, rừng mới với các loại cây như thông, keo, bạch đàn… Trong khi đó, rừng già không chỉ không được tái tạo mà vẫn tiếp tục bị mất do xây dựng thủy điện ào ạt. Các nguồn tài nguyên khoáng sản như thiếc, vật liệu xây dựng, than, đá quý… sau bao nhiêu năm tiến hành khai thác ồ ạt nay trữ lượng còn ít, hiệu quả thấp do chủ yếu khai thác và bán sản phẩm thô. Tài nguyên nước trước đây khá dồi dào cả về nước mặt và nước ngầm. Nhưng sau khi diện tích rừng bị giảm thì nguồn nước ngầm cũng bị hạn chế, nguồn nước mặt thì ngày càng bị ô nhiễm nhiều hơn do các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và cả thủ công nghiệp. Đã vậy, dòng chảy của các con sông cũng bị can thiệp nhiều do các công trình thủy điện. Tài nguyên nước bị hạn chế, ô nhiễm và bị can thiệp mạnh quá gây nên nhiều mối nguy hiểm đến đời sống sinh hoạt và sản xuất, từ thiếu nước tưới tiêu cho đồng ruộng, hạn hán đến những trận lũ lụt gây hậu quả nặng nề.

Thứ hai là trong khi kinh tế phát triển chưa nhanh và chưa bền vững nhưng văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số bị mai một, mất mát nhanh chóng. Đây là một trong những hệ quả nặng nề của các chiến lược phát triển miền Tây Nghệ An trong mấy thập kỷ qua. Miền Tây Nghệ An được biết đến như một rừng hoa về văn hóa tộc người mà ở đó mỗi dân tộc, mỗi nhóm địa phương, mỗi cộng đồng là một bông hoa sặc sỡ mang đậm nét văn hóa dân tộc. Nhưng rồi các chính sách phát triển giống như các tác nhân lai tạo đã biến cả rừng hoa đa dạng, sặc sỡ đó ngày càng bị đồng hóa, đồng dạng và giảm tính đa dạng về bản sắc văn hóa. Nhiều yếu tố văn hóa truyền thống của người dân tộc thiểu số bị mai một, mất mát theo thời gian. Từ hệ thống tri thức dân gian, các điệu múa, bài hát, các phong tục tập quán, lễ hội, cưới hỏi, ma chay đến các bộ trang phục truyền thống đều bị biến đổi mạnh mẽ. Nhưng hơn hết, đó là những thay đổi to lớn trong suy nghĩ, tư duy của người dân tộc thiểu số. Trong khi những người lớn tuổi vẫn hoài niệm và muốn níu kéo, phục hưng lại các giá trị văn hóa truyền thống thì những người trẻ tuổi lại lãnh đạm với văn hóa truyền thống và chạy theo các giá trị văn hóa hiện đại mà thực tế là các giá trị văn hóa từ miền xuôi tràn lên. Những giá trị văn hóa truyền thống bị mất mát đã ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống hiện tại của các cộng đồng tộc người. Những người già cảm thấy hẫng hụt, cô đơn trong đời sống văn hóa vì thiếu các sinh hoạt văn hóa truyền thống. Những người trẻ cũng không thể tìm lại với các giá trị văn hóa truyền thống nhưng cũng chưa đi đến với các giá trị văn hóa hiện đại được nên hình thành một tâm thế lưng chừng trong văn hóa cộng đồng. Nó làm cho quá trình tái tạo truyền thống văn hóa cũng như tiếp thu và tích hợp các giá trị văn hóa mới trở nên khó khăn hơn bội phần.

Thứ ba, kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển nhưng lợi ích lại thuộc về người miền xuôi lên nhiều hơn trong khi người bản địa vẫn chưa tìm được con đường thích hợp để đi vào thị trường. Một thực tế là trong gần ba thập kỷ qua, kinh tế thị trường ở miền núi phía Tây Nghệ An đã bắt đầu phát triển sau nhiều năm tháng xây dựng nền kinh tế bao cấp. Thực chất, trước đó kinh tế hàng hóa đã hình thành và phát triển đến một mức độ nhất định. Nhưng sau đó bị hạn chế dần và phải sau khi đổi mới thì kinh tế hàng hóa mới hồi sinh và phát triển mạnh mẽ hơn. Với sự hình thành kinh tế thị trường, nền kinh tế ở miền núi trở nên năng động hơn và tốc độ tăng trưởng cũng không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, một điều rõ ràng là các doanh nghiệp, các đại lý cũng như những buôn bán nhỏ lẻ phần lớn là những người từ dưới xuôi lên. Các đầu mối quan trọng để vận hành kinh tế thị trường ở miền núi vẫn do người miền xuôi nắm giữ. Nói cách khác là kinh tế thị trường ở miền núi Nghệ An vẫn phụ thuộc nhiều vào người miền xuôi lên. Còn đồng bào dân tộc thiểu số đang gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thị trường. Họ thiếu vốn tài chính, thiếu mạng lưới xã hội, thiếu các kỹ năng, kiến thức về kinh tế thị trường, thiếu cả các chính sách hỗ trợ phát triển có hiệu quả từ phía nhà nước… Trong đó, có một cái thiếu quan trọng chính là sự trải nghiệm kinh tế thị trường của người dân còn hạn chế. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho kinh tế phát triển nhưng đời sống người dân bản địa vẫn còn khó khăn, văn hóa truyền thống tộc người còn bị mai một, mất mát.

Như vậy, có thể thấy rằng, chiến lược phát triển miền Tây Nghệ An lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm dù đã đạt được những kết quả đáng kể nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Đã đến lúc phải nghiêm túc xem xét lại vấn đề hoạch định chiến lược cho sự phát triển miền Tây dựa trên quan điểm phát triển bền vững và phù hợp với các địa phương cụ thể. Muốn vậy cần phải nhấn mạnh đến mục tiêu của chiến lược phát triển. Trong đó, thiết nghĩ cần thay đổi mục tiêu trọng tâm, từ phát triển để tăng trưởng kinh tế sang phát triển miền Tây Nghệ An để bảo tồn văn hóa tộc người và bảo vệ an ninh quốc gia. Coi sự hài hòa trong quá trình phát triển là vấn đề quan trọng nhất, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái nhân văn, bảo vệ an ninh quốc phòng, bảo tồn văn hóa tộc người. Để làm được điều đó, cần coi trọng và phát huy được nguồn lực văn hóa của các cộng đồng tộc người trong quá trình phát triển.

2. Thực trạng nguồn lực văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An

Miền núi phía Tây Nghệ An là một địa bàn có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống. Ngoài các dân tộc như Thái, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu, Thổ thì ở miền núi còn có các nhóm nhỏ là người các dân tộc thiểu số ở nơi khác mới di cư đến với số lượng mấy chục đến hơn trăm người, như nhóm người Nùng ở xã Yên Khê (Con Cuông)… Các dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An sau hàng trăm năm tụ cư, sinh sống và phát triển đã tạo ra những nền văn hóa mang đậm bản sắc văn hóa tộc người. Tuy nhiên, trong bài viết này không cố gắng đi mô tả hay diễn giải về các bản sắc văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An, mà chủ yếu tập trung vào việc nhìn nhận các giá trị văn hóa truyền thống tộc người trên phương diện là một nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội dựa vào quan điểm phát triển miền Tây Nghệ An để bảo tồn văn hóa truyền thống và bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ môi trường.

Trong nhiều thập kỷ qua, những nhà nghiên cứu khi tiến hành các hoạt động sản xuất tri thức khoa học liên quan đến văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An thường đi vào mô tả và lý giải các hoạt động văn hóa của các cộng đồng bản địa, hay đi tìm nguồn gốc tộc người từ các yếu tố văn hóa. Những nghiên cứu này có vai trò quan trọng trong việc nhận dạng các nhận thức các giá trị văn hóa truyền thống tộc người. Đây cũng là điều cần thiết để bước vào việc hoạch định các chiến lược phát triển liên quan đến miền núi. Tuy nhiên, khi thực hiện quá trình xây dựng chính sách thì những nhà quản lý chưa coi trọng đến các kết quả nghiên cứu khoa học về văn hóa các cộng đồng ở miền Tây Nghệ An. Và hệ quả thì nhiều người đã thấy, quá trình phát triển đã phải đánh đổi lại là sự mất mát, mai một văn hóa tộc người và làm cạn kiệt, ô nhiễm các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nói vậy không có nghĩa là cứ quan tâm đến văn hóa thì có thể giải quyết được hay tránh được các vấn đề này. Vấn đề ở chỗ cần phải nhìn nhận yếu tố văn hóa ở vị thế nào cho hợp lý trong quá trình phát triển. Muốn vậy, cần phải nhận định đúng được đặc điểm của yếu tố văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An với tư cách là một nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội. Xin được đưa ra vài ý kiến mang tính tham khảo, vì đây là vấn đề phức tạp và cần nhiều nghiên cứu công phu hơn chứ không phải trong một bài viết.

Trước hết, nguồn lực văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An rất đa dạng và phong phú. Ít có địa phương nào có được sự đa dạng và phong phú về văn hóa tộc người như miền núi phía Tây Nghệ An. Về số lượng dân tộc, có lẽ có nhiều địa phương còn có nhiều dân tộc cư trú hơn Nghệ An. Tuy nhiên, ở đây không chỉ đa dạng về văn hóa tộc người mà còn phong phú, phức tạp về sắc thái các cộng đồng riêng. Người Thái ở Nghệ An phân chia thành các nhóm địa phương với những nét văn hóa khác nhau. Vậy nên nói đến văn hóa dân tộc Thái ở Nghệ An, một mặt cũng có những đặc điểm chung của người Thái Việt Nam, mà nhiều yếu tố giống với người Thái ở Tây Bắc. Tuy nhiên, còn nhiều nét văn hóa mang tính địa phương mà các nhóm địa phương khác nhau đã hình thành và phát triển riêng. Nó làm cho văn hóa Thái trở nên đa thanh đa sắc hơn. Rồi các tộc người khác cũng khá đa dạng. Dân tộc Thổ bao gồm nhiều nhóm địa phương khác nhau mang các sắc thái văn hóa khác biệt. Xem xét ở các cộng đồng dân tộc riêng biệt thì mỗi cộng đồng đều sở hữu một di sản văn hóa cả vật thể và phi vật thể đa dạng với nhiều giá trị độc đáo. Đó là sự đa dạng, phong phú về văn hóa tộc người, một nguồn lực quan trọng để phát triển nếu có chiến lược phát triển, phát huy nguồn lực này hợp lý. Và ngược lại, nếu không thì đây lại trở thành một sự phức tạp, khó giải quyết các mâu thuẫn, xung đột văn hóa.

Thứ hai, nguồn lực văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An rất khó để vận dụng vào quá trình phát triển. Như đã phân tích ở trên, nguồn lực văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An rất đa dạng và phong phú. Nhưng cũng vì vậy mà nó tạo thành sự phức tạp, hỗn độn, khó nhận thức và đặc biệt là khó vận dụng vào quá trình phát triển. Trước đến nay, chúng ta thường xây dựng những chính sách phát triển mang tính chung, của toàn quốc, hoặc của địa phương, gắn với các địa giới hành chính mà quên rằng văn hóa luôn đan xen vào nhau. Vậy nên, sự phức tạp về văn hóa trong bối cảnh bị quy định bởi các khung chính sách chung thì sẽ khó để vận dụng, phát huy vào quá trình phát triển. Trong khi đó, việc xây dựng các chính sách mang tính đặc thù cho từng cộng đồng, từng đối tượng tộc người ở địa phương lại gặp nhiều khó khăn. Vậy nên về cơ bản, yếu tố văn hóa tộc người ở đây vẫn ở dạng nguồn lực tiềm năng cho quá trình phát triển và đang chờ từng cơn gió mới để phất lên, góp phần vào quá trình phát triển của cộng đồng, của địa phương.

Thứ ba, nguồn lực văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An đang bị mất đi nhanh chóng. Điều này không cần phải phân tích nhiều khi mà các lập luận phía trên đã chứng minh điều đó. Ở đây chỉ nhấn mạnh một điều, nếu không kịp thời điều chỉnh thì đến một lúc nào đó, nguồn lực văn hóa tộc người sẽ bị mất mát hết, và khi đó, không chỉ địa phương mất đi một nguồn lực phát triển, mà còn mang thêm một gánh nặng trong quá trình phát triển.

3. Phát huy nguồn lực văn hóa tộc người vào quá trình phát triển miền Tây Nghệ An

3.1. Văn hóa tộc người là một nguồn vốn

Từ trước đến nay, người ta vẫn quan niệm về "vốn" như là một cái gì đó đem ra chỉ để mua bán, trao đổi trong kinh tế thị trường. Và nhiều quan điểm xem nó như là một cái gì đó làm xấu đi các giá trị văn hóa. Vậy nên, hoặc nhiều người chỉ coi vốn là tiền bạc, hoặc có người coi vốn là những thứ đem ra buôn bán, và là những giá trị gì đó không bền vững trong cộng đồng. Những quan niệm trên không phải hoàn toàn sai. Vốn đúng là những thứ có thể luân chuyển để tạo ra lợi nhuận. Nhưng nó không phải là cái gì đó làm mai một giá trị văn hóa. Các giá trị văn hóa chân chính, khi được vận dụng, luân chuyển hợp lý vẫn tạo ra lợi nhuận và vẫn giữ được bản chất và giá trị của nó. Đó là vốn văn hóa. Khái niệm vốn văn hóa được nhà xã hội học Pháp, Pierre Bourdieu đưa ra từ những năm 60 của thế kỷ trước và sau đó có ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu. Trải qua nhiều thảo luận từ nhiều nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau, khái niệm vốn văn hóa dần hoàn thiện hơn, đa dạng hơn và ngày càng được mở rộng hơn. Dù mang những sắc thái, các lớp giá trị khác nhau, nhưng chung lại thì khái niệm vốn văn hóa nhấn mạnh một số điểm: văn hóa cộng đồng là một loại vốn, và như bao nhiêu loại vốn khác là nó có thể luân chuyển, tham gia vào thị trường và tạo ra lợi nhuận. Vốn văn hóa có thể tồn tại theo nhiều trạng thái khác nhau tùy theo cách phân chia của các nhà nghiên cứu. Từ sự phân chia trạng thái thể hiện, trạng thái khách quan và trạng thái thể chế của   Bourdieu đến các phân chia như trạng thái vật thể và phi vật thể, trạng thái vật chất và tinh thần… Tuy nhiên, dù cách phân chia nào thì cũng mang tính chất tương đối vì vốn văn hóa cũng là một khái niệm trừu tượng. Nhưng nhìn nhận văn hóa là một loại vốn để có sự tỉnh táo trong quá trình xem xét, hoạch định chính sách để đưa nguồn lực văn hóa vào quá trình phát triển. Bởi quan niệm văn hóa không phải là thứ có thể đem ra trao đổi, buôn bán vẫn ăn sâu vào đầu óc nhiều người nên cần phải nhận thức lại vấn đề này để cởi mở hơn về văn hóa trong quá trình phát triển.

3.2. Đầu tư đồng bộ các nguồn vốn và chú trọng đến vốn văn hóa

Theo khung sinh kế bền vững đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm thì tài chính chỉ là một trong số các nguồn vốn đầu tư cho quá trình phát triển. Bên cạnh đó còn có vốn vật chất, vốn xã hội, vốn con người và vốn tự nhiên. Tuy nhiên, cả khung sinh kế bền vững cũng chưa đầy đủ khi bỏ qua một nguồn vốn quan trọng là vốn văn hóa. Đặc biệt, trong xã hội đa văn hóa, đa tộc người như Việt Nam thì vốn văn hóa càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của các cộng đồng nói riêng, của đất nước nói chung. Trong quá trình đầu tư, chúng ta khó có thể xem loại vốn nào quan trọng hay không quan trọng, vấn đề phụ thuộc vào tình hình cụ thể của từng khu vực, từng địa phương và từng cộng đồng. Tuy nhiên, để có được sự phát triển mang tính bền vững, cần có sự đầu tư đồng bộ về các loại vốn trong quá trình phát triển. Một thực tế là trong nhiều năm qua, đầu tư phát triển miền núi thiên về đầu tư vốn tài chính, vốn vật chất. Mặt được của nó là cơ sở hạ tầng được nâng cao. Nhưng nó lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nguồn vốn khác, như làm cho vốn tự nhiên bị khai thác cạn kiệt, vốn xã hội không được phát huy và vốn văn hóa bị mai một.

Để phát triển miền núi, vùng dân tộc thiểu số ở Nghệ An, ngoài việc đầu tư đồng bộ các loại vốn nhằm đảm bảo tính bền vững cho quá trình phát triển, còn cần phải chú trọng đến vốn văn hóa tộc người. Trên quan điểm phát triển để bảo tồn, phát triển để bảo vệ thì vốn văn hóa chính là đối tượng của sự phát triển thông qua các mối quan hệ khác nhau mà con người là trung tâm và bảo vệ bản sắc văn hóa cũng là bảo vệ con người. Muốn vậy, cần phải có chính sách, chiến lược bảo tồn các bản sắc văn hóa tộc người ở các cộng đồng, hạn chế sự mất mát, mai một về văn hóa. Tiếp đó là xây dựng các chính sách phát triển cụ thể nhằm phát huy nguồn vốn văn hóa vào quá trình phát triển. Như vậy, phát triển phải gắn với bảo tồn văn hóa tộc người và bảo tồn là để tạo nguồn lực cho quá trình phát triển.

3.3. Kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa

Với kinh tế di sản, chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản đó là lĩnh vực kinh tế phát triển dựa vào nguồn lực di sản văn hóa, tức là phát huy các giá trị văn hóa của các di sản làm động lực để phát triển kinh tế. Về thực tiễn, việc phát triển kinh tế từ các giá trị di sản đã được người ta quan tâm từ lâu, nhưng để hình thành một thuật ngữ, một lĩnh vực riêng thì đây vẫn còn là điều mới lạ ở Việt Nam. Như đã phân tích ở trên, vùng miền núi Nghệ An có một hệ thống di sản văn hóa tộc người đa dạng và phong phú. Phát triển kinh tế di sản có thể là một hướng đi khả dĩ và phù hợp để đạt được mục tiêu vừa phát triển kinh tế vừa bảo tồn văn hóa tộc người. Nhưng đó là lý thuyết. Trên thực tế, phát triển kinh tế là vấn đề phức tạp và khó khăn hơn nhiều. Nó cần nguồn vốn tài chính lớn và thu hồi lâu nên ít nhận được sự quan tâm. Dù kinh nghiệm từ nhiều nước phát triển kinh tế di sản mạnh mẽ cho rằng đầu tư vào lĩnh vực di sản văn hóa là cách đầu tư mang lại nhiều lợi nhuận hơn người ta nghĩ và hơn nhiều việc đầu tư vào các ngành nghề khác. Mặt khác, để phát triển kinh tế di sản ở miền núi cũng cần quan tâm đến mục tiêu cuối cùng là bảo tồn văn hóa. Vì kinh tế di sản mang lại lợi nhuận khá cao nên dễ đưa người ta chạy theo lợi nhuận mà vứt bỏ mục tiêu quan trọng nhất của kinh tế di sản. Đó là một thách thức không nhỏ.

Công nghiệp văn hóa cũng là một thuật ngữ mới nổi lên gần đây và được nhà nước xây dựng thành chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa mang tầm quốc gia. Ở Nghệ An, tháng 4/2017, tỉnh đã ban hành Kế hoạch "Triển khai chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 của tỉnh Nghệ An". Đây là sự khẳng định cho đường hướng phát triển kinh tế di sản cũng như sự đầu tư vào lĩnh vực văn hóa của tỉnh nhà. Tuy nhiên, trên thực tế, gần như chưa có nhiều biến đổi quan trọng so với trước đây về nhiều mặt. Nên vẫn chưa có ngành nào đáp ứng các tiêu chuẩn để trở thành ngành công nghiệp văn hóa theo đúng khái niệm của nó. Nhưng để công nghiệp hóa văn hóa các giá trị văn hóa tộc người ở Nghệ An vẫn là bài toán khó cho mọi cấp quản lý. Thứ nhất, không phải giá trị văn hóa nào cũng có thể công nghiệp hóa được. Thứ hai là có những yếu tố văn hóa có lợi thế về công nghiệp hóa nhưng khả năng biến đổi lại cao và ảnh hướng đến các giá trị văn hóa khác. Thứ ba là công nghiệp hóa văn hóa cần có tầm nhìn xa, nó là tổng tích hợp nhiều yếu tố khác nhau với tầm nhìn sâu rộng nên không dễ để làm ngay, làm nhanh được. Trong khi thói quen của nhiều cán bộ là thấy cái gì mới, cái gì có triển vọng và được bộ máy nhà nước ủng hộ thì lao vào làm mà chưa rõ bản chất của vấn đề là gì. Vậy nên công nghiệp hóa văn hóa là câu chuyện cần thảo luận kỹ lưỡng, và phải kết hợp với thủ công nghiệp hóa văn hóa trước, sau đó mới có những bước đi rõ ràng, cụ thể hơn.

Nói tóm lại, kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa là những gợi mở cho chiến lược phát huy nguồn lực văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Có điều, làm sao vận dụng các khái niệm, các quan điểm hay tiêu chí này vào quá trình phát triển thì là câu chuyện khác. Nó cần xem xét các hình thức xây dựng các mô hình, các đường hướng phát triển hợp lý hơn cho từng địa phương, từng cộng đồng.

3.4. Một số hình thức khai thác, phát huy nguồn lực văn hóa

Đây là câu chuyện quan trọng, là những mô hình tổ chức sản xuất hay những định hướng, những con đường để phát triển kinh tế - xã hội dựa trên nguồn lực văn hóa tộc người ở miền núi Nghệ An. Nhìn từ thực tế hiện tại, câu chuyện đưa văn hóa thành nguồn lực kinh tế đã được khai thác trên nhiều phương diện khác nhau. Xin đề cập đến một số hình thức cụ thể:

Trước hết, đó là phát triển du lịch văn hóa. Chẳng phải lạ lẫm gì với khái niệm du lịch văn hóa khi mà mấy thập niên qua, ngoài sự phát triển du lịch gắn với các yếu tố thắng cảnh tự nhiên là vấn đề khám phá các nền văn hóa. Nếu thưởng thức, ngắm cảnh tự nhiên thu hút các khách du lịch ngắn hạn thì du lịch văn hóa lại có sức hút với các khách du lịch muốn tìm hiểu các nền văn hóa trong thời gian dài ngày. Ở đó du khách muốn được trải nghiệm, chiêm nghiệm và tham gia vào các sinh hoạt văn hóa, ngoài khám phá tự nhiên thì họ còn khám phá về văn hóa, con người bản địa. Giữ du khách lại dài ngày là cơ hội, là yếu tố cơ bản để kiến tạo các nguồn thu ổn định và lớn hơn so với việc đón các du khách chỉ đến ngắm cảnh tự nhiên. Sự phát triển du lịch dựa trên các lễ hội, các phong tục tập quán của các cộng đồng đã được khai thác khá lâu. Gần đây là sự phát triển của du lịch cộng đồng. Thực chất đây là sự phát triển du lịch dựa vào yếu tố văn hóa, đây có thể coi là một cách phát triển kinh tế di sản. Tuy nhiên, ở Nghệ An, du lịch cộng đồng vẫn còn hạn chế, đang thiếu vắng nhiều yếu tố trải nghiệm văn hóa. Nói cách khác vẫn chỉ là cách khai thác nguồn lực văn hóa truyền thống trong phát triển du lịch, nó chưa thổi vào luồng gió mới mang tính trải nghiệm khi mà du khách đến và đi trong quỹ thời gian eo hẹp, chưa đủ để khám phá, tìm hiểu các giá trị văn hóa tộc người.

Thứ hai là quá trình thương mại hóa các giá trị văn hóa tộc người, mà điển hình là thương mại hóa các tri thức dân gian các dân tộc thiểu số. Điểm nổi bật nhất chính là thương mại hóa các tri thức dân gian về y học, dược học. Những hoạt động này, ở góc độ nào đó là một thể hiện cho quá trình công nghiệp hóa văn hóa các dân tộc thiểu số. Tri thức dân gian của các cộng đồng vốn có từ bao đời, nay được một số doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế cộng đồng sử dụng kỹ thuật công nghệ vào để sản xuất thành hàng hóa đưa ra thị trường. Hàng loạt các sản phẩm được chiết xuất từ các tri thức dân gian của các cộng đồng được đưa ra thị trường và qua quá trình trao đổi đã sản xuất ra hàng trăm tỷ đồng cho những người đầu tư. Điều đó góp phần nâng cao cuộc sống của nhiều người. Nhưng hầu hết lợi ích lại rơi vào tay các doanh nghiệp, mà chủ yếu là dưới xuôi lên đầu tư phát triển. Vậy nên, về mặt lâu dài, sự chia sẻ lợi ích không hợp lý sẽ gây ra nhiều vấn đề xã hội khác nhau, trong đó vấn đề xung đột lợi ích nhóm, lợi ích tộc người là vô cùng nguy hiểm.

Bên cạnh đó, còn nhiều hình thức khác trong quá trình khai thác các nguồn lực văn hóa vào phát triển kinh tế. Tuy nhiên, câu chuyện hiệu quả cũng như sự hài hòa lợi ích cộng đồng trong quá trình phát triển lại trở nên nguy cấp hơn hết. Đó cũng là vấn đề quan trọng trong quá trình hoạch định chiến lược phát triển miền núi.

3.5. Thị trường hóa văn hóa và văn hóa hóa thị trường

Một câu chuyện tưởng chừng như cũ kỹ, được coi là "cũ như trái đất", nhưng thực tế chưa bao giờ cũ ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số. Kinh tế hàng hóa đã phát triển ở nhiều dân tộc thiểu số trước khi có sự tương tác của người Kinh dưới xuôi lên. Tuy nhiên, sau đó, với sự phát triển của kinh tế hợp tác xã, kinh tế hàng hóa ở miền núi bị hạn chế. Sau đổi mới, nó mới trỗi dậy và phát triển. Ngày nay, kinh tế thị trường đang ngày càng thống trị kinh tế ở miền núi với các mức độ khác nhau. Kinh tế thị trường phát triển ở miền núi, kéo theo hai quá trình đi song song với nhau, đó là quá trình thị trường hóa văn hóa và quá trình văn hóa hóa thị trường.

Thị trường hóa văn hóa là quá trình đưa các giá trị văn hóa truyền thống của các cộng đồng vào phát triển kinh tế thị trường. Nó làm cho các giá trị văn hóa luôn được luân chuyển, tạo ra lợi nhuận. Nhưng cũng đẩy các giá trị văn hóa vào sự biến đổi sâu sắc, mà nếu không có định hướng hợp lý thì sẽ làm mai một các giá trị văn hóa truyền thống. Quá trình thị trường hóa văn hóa thể hiện khá rõ ràng khi hầu hết các giá trị văn hóa cộng đồng đang ngày càng tham gia vào thị trường, từ kinh tế di sản, công nghiệp hóa văn hóa, thủ công nghiệp theo thị trường. Kể cả các giá trị phi vật thể cũng ngày càng tham gia vào thị trường hơn qua nhiều hoạt động thương mại khác nhau. Thị trường hóa văn hóa không xấu như người ta vẫn nghĩ nếu như có sự định hướng, đặc biệt là sự chủ động của người dân bản địa khi gia nhập thị trường.

Ngược lại với thị trường hóa văn hóa là quá trình văn hóa hóa thị trường. Đây là cách thức vận dụng thị trường vào phát triển kinh tế - xã hội hợp với tình hình, đặc trưng văn hóa tộc người. Nghe có vẻ đơn giản nhưng lại vô cùng khó khăn khi mà văn hóa hóa thị trường cần một nội lực rất mạnh. Ở đây, các chính sách của nhà nước chỉ mang tính mở đường, còn thành bại lại phụ thuộc vào năng lực của chủ thể văn hóa. Văn hóa hóa thị trường là điều chỉnh kinh tế thị trường sao cho vừa phát triển kinh tế, vừa bảo tồn được bản sắc văn hóa tộc người mình. Muốn làm được điều này, cần tăng cường phát triển năng lực trải nghiệm thị trường của người dân bản địa. Bên cạnh đó cần kiến tạo tâm thế vững chãi cho người dân trong quá trình phát triển. Muốn vậy, cần trả lại quyền tự quyết về văn hóa, phát triển cho cộng đồng người dân bản địa, để họ chủ động khi tham gia thị trường cũng như phân chia lợi ích trong phát triển thị trường.

4. Một vài gợi mở

Trước hết, để phát triển bền vững miền núi phía Tây Nghệ An, cần thay đổi quan điểm phát triển, từ quan điểm phát triển lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm sang quan điểm phát triển để bảo tồn văn hóa tộc người, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ tài nguyên môi trường. Đó là cơ sở nền tảng để hoạch định các chiến lược phát triển miền núi Nghệ An.

Tiếp theo cần nhận thức lại vai trò của các yếu tố văn hóa tộc người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Phải xem văn hóa là nguồn lực, là nguồn vốn để phát triển kinh tế - xã hội. Từ đó có sự đầu tư các nguồn vốn một cách hợp lý trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Để làm được điều đó cần nhận thức rõ hơn về thực trạng nguồn lực văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An.

Để phát huy nguồn lực văn hóa tộc người vào quá trình phát triển miền Tây Nghệ An cần có nhiều vấn đề, nhiều hình thức. Và mọi hình thức, mỗi quan điểm đều chỉ là gợi mở, còn thực tế cần nhìn vào thực trạng cụ thể của từng cộng đồng, địa phương. Tuy nhiên, cái quan trọng hơn, quyết định hơn là tâm huyết, tư duy của những người làm hoạch định chiến lược phát triển. Mà điều này thì phải xem xét cả hệ thống các vấn đề liên quan. Vậy nên tất cả các phân tích về mặt lý thuyết, nói cho cùng là sự gợi mở, còn lại cần sự tâm huyết, nghiêm túc từ bộ máy quản lý. Nói vậy không phải coi nhẹ kết quả nghiên cứu của các nhà chuyên môn, mà vấn đề là sự tích hợp tâm huyết, sức lực của các bên liên quan trong quá trình phát triển. Phát triển, là sự tương tác tích cực và tổng hợp các thế lực và nguồn lực liên quan.

 

 

 

 

Tác động của ti vi và những thay đổi trong quan hệ gia đình, cồng đồng của người Thái

Vi Văn An

1. Nhìn nhận lại quá trình phát triển miền Tây Nghệ An

Bao nhiêu năm nay, người ta nói về chiến lược phát triển tập trung quá nhiều vào yếu tố và mục tiêu kinh tế. Ở đây gần giống với chiến lược tăng trưởng kinh tế, tức là lấy các mục tiêu kinh tế làm trọng tâm cho quá trình hoạch định chiến lược phát triển. Vậy nên phần lớn nguồn vốn đầu tư cho quá trình phát triển miền Tây Nghệ An tập trung nhiều vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế. Việc đầu tư như vậy phần nào làm cho đời sống kinh tế - xã hội người dân thay đổi nhanh chóng, tốc độ phát triển kinh tế nhanh hơn, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao hơn. Tuy nhiên, quá trình phát triển theo hướng lấy mục tiêu tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm cũng đem lại nhiều hệ quả không mong muốn đối với quá trình phát triển ở miền Tây Nghệ An.

Trước hết, các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, ô nhiễm, khó phục hồi lại được. Nhìn chung, sự phát triển kinh tế ở miền Tây Nghệ An trong mấy thập kỷ qua gắn liền với quá trình khai thác mạnh mẽ các nguồn tài nguyên thiên nhiên như các loại khoáng sản, lâm thổ sản, rừng, và gần đây là sự khai thác tài nguyên nước để xây dựng các nhà máy thủy điện. Rừng là tài nguyên quan trọng, không chỉ là hệ sinh thái tự nhiên mà còn là hệ sinh thái nhân văn quan trọng của các cộng đồng tộc người sinh sống ở miền núi. Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ XX, cùng với sự di cư của người miền xuôi lên miền núi, chính sách xây dựng các lâm trường, nông trường thì việc khai thác rừng được đẩy mạnh. Hàng triệu khối gỗ quý bị chặt và chuyển về xuôi phục vụ xây dựng cơ bản. Hàng chục cánh rừng già bị triệt hạ, khai thác kiệt quệ. Phải đến những năm 1990, người ta mới nhận thức lại và tìm cách để trồng rừng, khôi phục lại môi trường sinh thái. Dù diện tích rừng trong mấy năm qua được tăng lên đáng kể, nhưng chủ yếu là rừng sản xuất, rừng mới với các loại cây như thông, keo, bạch đàn… Trong khi đó, rừng già không chỉ không được tái tạo mà vẫn tiếp tục bị mất do xây dựng thủy điện ào ạt. Các nguồn tài nguyên khoáng sản như thiếc, vật liệu xây dựng, than, đá quý… sau bao nhiêu năm tiến hành khai thác ồ ạt nay trữ lượng còn ít, hiệu quả thấp do chủ yếu khai thác và bán sản phẩm thô. Tài nguyên nước trước đây khá dồi dào cả về nước mặt và nước ngầm. Nhưng sau khi diện tích rừng bị giảm thì nguồn nước ngầm cũng bị hạn chế, nguồn nước mặt thì ngày càng bị ô nhiễm nhiều hơn do các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và cả thủ công nghiệp. Đã vậy, dòng chảy của các con sông cũng bị can thiệp nhiều do các công trình thủy điện. Tài nguyên nước bị hạn chế, ô nhiễm và bị can thiệp mạnh quá gây nên nhiều mối nguy hiểm đến đời sống sinh hoạt và sản xuất, từ thiếu nước tưới tiêu cho đồng ruộng, hạn hán đến những trận lũ lụt gây hậu quả nặng nề.

Thứ hai là trong khi kinh tế phát triển chưa nhanh và chưa bền vững nhưng văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số bị mai một, mất mát nhanh chóng. Đây là một trong những hệ quả nặng nề của các chiến lược phát triển miền Tây Nghệ An trong mấy thập kỷ qua. Miền Tây Nghệ An được biết đến như một rừng hoa về văn hóa tộc người mà ở đó mỗi dân tộc, mỗi nhóm địa phương, mỗi cộng đồng là một bông hoa sặc sỡ mang đậm nét văn hóa dân tộc. Nhưng rồi các chính sách phát triển giống như các tác nhân lai tạo đã biến cả rừng hoa đa dạng, sặc sỡ đó ngày càng bị đồng hóa, đồng dạng và giảm tính đa dạng về bản sắc văn hóa. Nhiều yếu tố văn hóa truyền thống của người dân tộc thiểu số bị mai một, mất mát theo thời gian. Từ hệ thống tri thức dân gian, các điệu múa, bài hát, các phong tục tập quán, lễ hội, cưới hỏi, ma chay đến các bộ trang phục truyền thống đều bị biến đổi mạnh mẽ. Nhưng hơn hết, đó là những thay đổi to lớn trong suy nghĩ, tư duy của người dân tộc thiểu số. Trong khi những người lớn tuổi vẫn hoài niệm và muốn níu kéo, phục hưng lại các giá trị văn hóa truyền thống thì những người trẻ tuổi lại lãnh đạm với văn hóa truyền thống và chạy theo các giá trị văn hóa hiện đại mà thực tế là các giá trị văn hóa từ miền xuôi tràn lên. Những giá trị văn hóa truyền thống bị mất mát đã ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống hiện tại của các cộng đồng tộc người. Những người già cảm thấy hẫng hụt, cô đơn trong đời sống văn hóa vì thiếu các sinh hoạt văn hóa truyền thống. Những người trẻ cũng không thể tìm lại với các giá trị văn hóa truyền thống nhưng cũng chưa đi đến với các giá trị văn hóa hiện đại được nên hình thành một tâm thế lưng chừng trong văn hóa cộng đồng. Nó làm cho quá trình tái tạo truyền thống văn hóa cũng như tiếp thu và tích hợp các giá trị văn hóa mới trở nên khó khăn hơn bội phần.

Thứ ba, kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển nhưng lợi ích lại thuộc về người miền xuôi lên nhiều hơn trong khi người bản địa vẫn chưa tìm được con đường thích hợp để đi vào thị trường. Một thực tế là trong gần ba thập kỷ qua, kinh tế thị trường ở miền núi phía Tây Nghệ An đã bắt đầu phát triển sau nhiều năm tháng xây dựng nền kinh tế bao cấp. Thực chất, trước đó kinh tế hàng hóa đã hình thành và phát triển đến một mức độ nhất định. Nhưng sau đó bị hạn chế dần và phải sau khi đổi mới thì kinh tế hàng hóa mới hồi sinh và phát triển mạnh mẽ hơn. Với sự hình thành kinh tế thị trường, nền kinh tế ở miền núi trở nên năng động hơn và tốc độ tăng trưởng cũng không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, một điều rõ ràng là các doanh nghiệp, các đại lý cũng như những buôn bán nhỏ lẻ phần lớn là những người từ dưới xuôi lên. Các đầu mối quan trọng để vận hành kinh tế thị trường ở miền núi vẫn do người miền xuôi nắm giữ. Nói cách khác là kinh tế thị trường ở miền núi Nghệ An vẫn phụ thuộc nhiều vào người miền xuôi lên. Còn đồng bào dân tộc thiểu số đang gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thị trường. Họ thiếu vốn tài chính, thiếu mạng lưới xã hội, thiếu các kỹ năng, kiến thức về kinh tế thị trường, thiếu cả các chính sách hỗ trợ phát triển có hiệu quả từ phía nhà nước… Trong đó, có một cái thiếu quan trọng chính là sự trải nghiệm kinh tế thị trường của người dân còn hạn chế. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho kinh tế phát triển nhưng đời sống người dân bản địa vẫn còn khó khăn, văn hóa truyền thống tộc người còn bị mai một, mất mát.

Như vậy, có thể thấy rằng, chiến lược phát triển miền Tây Nghệ An lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm dù đã đạt được những kết quả đáng kể nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Đã đến lúc phải nghiêm túc xem xét lại vấn đề hoạch định chiến lược cho sự phát triển miền Tây dựa trên quan điểm phát triển bền vững và phù hợp với các địa phương cụ thể. Muốn vậy cần phải nhấn mạnh đến mục tiêu của chiến lược phát triển. Trong đó, thiết nghĩ cần thay đổi mục tiêu trọng tâm, từ phát triển để tăng trưởng kinh tế sang phát triển miền Tây Nghệ An để bảo tồn văn hóa tộc người và bảo vệ an ninh quốc gia. Coi sự hài hòa trong quá trình phát triển là vấn đề quan trọng nhất, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái nhân văn, bảo vệ an ninh quốc phòng, bảo tồn văn hóa tộc người. Để làm được điều đó, cần coi trọng và phát huy được nguồn lực văn hóa của các cộng đồng tộc người trong quá trình phát triển.

2. Thực trạng nguồn lực văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An

Miền núi phía Tây Nghệ An là một địa bàn có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống. Ngoài các dân tộc như Thái, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu, Thổ thì ở miền núi còn có các nhóm nhỏ là người các dân tộc thiểu số ở nơi khác mới di cư đến với số lượng mấy chục đến hơn trăm người, như nhóm người Nùng ở xã Yên Khê (Con Cuông)… Các dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An sau hàng trăm năm tụ cư, sinh sống và phát triển đã tạo ra những nền văn hóa mang đậm bản sắc văn hóa tộc người. Tuy nhiên, trong bài viết này không cố gắng đi mô tả hay diễn giải về các bản sắc văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An, mà chủ yếu tập trung vào việc nhìn nhận các giá trị văn hóa truyền thống tộc người trên phương diện là một nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội dựa vào quan điểm phát triển miền Tây Nghệ An để bảo tồn văn hóa truyền thống và bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ môi trường.

Trong nhiều thập kỷ qua, những nhà nghiên cứu khi tiến hành các hoạt động sản xuất tri thức khoa học liên quan đến văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An thường đi vào mô tả và lý giải các hoạt động văn hóa của các cộng đồng bản địa, hay đi tìm nguồn gốc tộc người từ các yếu tố văn hóa. Những nghiên cứu này có vai trò quan trọng trong việc nhận dạng các nhận thức các giá trị văn hóa truyền thống tộc người. Đây cũng là điều cần thiết để bước vào việc hoạch định các chiến lược phát triển liên quan đến miền núi. Tuy nhiên, khi thực hiện quá trình xây dựng chính sách thì những nhà quản lý chưa coi trọng đến các kết quả nghiên cứu khoa học về văn hóa các cộng đồng ở miền Tây Nghệ An. Và hệ quả thì nhiều người đã thấy, quá trình phát triển đã phải đánh đổi lại là sự mất mát, mai một văn hóa tộc người và làm cạn kiệt, ô nhiễm các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nói vậy không có nghĩa là cứ quan tâm đến văn hóa thì có thể giải quyết được hay tránh được các vấn đề này. Vấn đề ở chỗ cần phải nhìn nhận yếu tố văn hóa ở vị thế nào cho hợp lý trong quá trình phát triển. Muốn vậy, cần phải nhận định đúng được đặc điểm của yếu tố văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An với tư cách là một nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội. Xin được đưa ra vài ý kiến mang tính tham khảo, vì đây là vấn đề phức tạp và cần nhiều nghiên cứu công phu hơn chứ không phải trong một bài viết.

Trước hết, nguồn lực văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An rất đa dạng và phong phú. Ít có địa phương nào có được sự đa dạng và phong phú về văn hóa tộc người như miền núi phía Tây Nghệ An. Về số lượng dân tộc, có lẽ có nhiều địa phương còn có nhiều dân tộc cư trú hơn Nghệ An. Tuy nhiên, ở đây không chỉ đa dạng về văn hóa tộc người mà còn phong phú, phức tạp về sắc thái các cộng đồng riêng. Người Thái ở Nghệ An phân chia thành các nhóm địa phương với những nét văn hóa khác nhau. Vậy nên nói đến văn hóa dân tộc Thái ở Nghệ An, một mặt cũng có những đặc điểm chung của người Thái Việt Nam, mà nhiều yếu tố giống với người Thái ở Tây Bắc. Tuy nhiên, còn nhiều nét văn hóa mang tính địa phương mà các nhóm địa phương khác nhau đã hình thành và phát triển riêng. Nó làm cho văn hóa Thái trở nên đa thanh đa sắc hơn. Rồi các tộc người khác cũng khá đa dạng. Dân tộc Thổ bao gồm nhiều nhóm địa phương khác nhau mang các sắc thái văn hóa khác biệt. Xem xét ở các cộng đồng dân tộc riêng biệt thì mỗi cộng đồng đều sở hữu một di sản văn hóa cả vật thể và phi vật thể đa dạng với nhiều giá trị độc đáo. Đó là sự đa dạng, phong phú về văn hóa tộc người, một nguồn lực quan trọng để phát triển nếu có chiến lược phát triển, phát huy nguồn lực này hợp lý. Và ngược lại, nếu không thì đây lại trở thành một sự phức tạp, khó giải quyết các mâu thuẫn, xung đột văn hóa.

Thứ hai, nguồn lực văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An rất khó để vận dụng vào quá trình phát triển. Như đã phân tích ở trên, nguồn lực văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An rất đa dạng và phong phú. Nhưng cũng vì vậy mà nó tạo thành sự phức tạp, hỗn độn, khó nhận thức và đặc biệt là khó vận dụng vào quá trình phát triển. Trước đến nay, chúng ta thường xây dựng những chính sách phát triển mang tính chung, của toàn quốc, hoặc của địa phương, gắn với các địa giới hành chính mà quên rằng văn hóa luôn đan xen vào nhau. Vậy nên, sự phức tạp về văn hóa trong bối cảnh bị quy định bởi các khung chính sách chung thì sẽ khó để vận dụng, phát huy vào quá trình phát triển. Trong khi đó, việc xây dựng các chính sách mang tính đặc thù cho từng cộng đồng, từng đối tượng tộc người ở địa phương lại gặp nhiều khó khăn. Vậy nên về cơ bản, yếu tố văn hóa tộc người ở đây vẫn ở dạng nguồn lực tiềm năng cho quá trình phát triển và đang chờ từng cơn gió mới để phất lên, góp phần vào quá trình phát triển của cộng đồng, của địa phương.

Thứ ba, nguồn lực văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An đang bị mất đi nhanh chóng. Điều này không cần phải phân tích nhiều khi mà các lập luận phía trên đã chứng minh điều đó. Ở đây chỉ nhấn mạnh một điều, nếu không kịp thời điều chỉnh thì đến một lúc nào đó, nguồn lực văn hóa tộc người sẽ bị mất mát hết, và khi đó, không chỉ địa phương mất đi một nguồn lực phát triển, mà còn mang thêm một gánh nặng trong quá trình phát triển.

3. Phát huy nguồn lực văn hóa tộc người vào quá trình phát triển miền Tây Nghệ An

3.1. Văn hóa tộc người là một nguồn vốn

Từ trước đến nay, người ta vẫn quan niệm về "vốn" như là một cái gì đó đem ra chỉ để mua bán, trao đổi trong kinh tế thị trường. Và nhiều quan điểm xem nó như là một cái gì đó làm xấu đi các giá trị văn hóa. Vậy nên, hoặc nhiều người chỉ coi vốn là tiền bạc, hoặc có người coi vốn là những thứ đem ra buôn bán, và là những giá trị gì đó không bền vững trong cộng đồng. Những quan niệm trên không phải hoàn toàn sai. Vốn đúng là những thứ có thể luân chuyển để tạo ra lợi nhuận. Nhưng nó không phải là cái gì đó làm mai một giá trị văn hóa. Các giá trị văn hóa chân chính, khi được vận dụng, luân chuyển hợp lý vẫn tạo ra lợi nhuận và vẫn giữ được bản chất và giá trị của nó. Đó là vốn văn hóa. Khái niệm vốn văn hóa được nhà xã hội học Pháp, Pierre Bourdieu đưa ra từ những năm 60 của thế kỷ trước và sau đó có ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu. Trải qua nhiều thảo luận từ nhiều nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau, khái niệm vốn văn hóa dần hoàn thiện hơn, đa dạng hơn và ngày càng được mở rộng hơn. Dù mang những sắc thái, các lớp giá trị khác nhau, nhưng chung lại thì khái niệm vốn văn hóa nhấn mạnh một số điểm: văn hóa cộng đồng là một loại vốn, và như bao nhiêu loại vốn khác là nó có thể luân chuyển, tham gia vào thị trường và tạo ra lợi nhuận. Vốn văn hóa có thể tồn tại theo nhiều trạng thái khác nhau tùy theo cách phân chia của các nhà nghiên cứu. Từ sự phân chia trạng thái thể hiện, trạng thái khách quan và trạng thái thể chế của   Bourdieu đến các phân chia như trạng thái vật thể và phi vật thể, trạng thái vật chất và tinh thần… Tuy nhiên, dù cách phân chia nào thì cũng mang tính chất tương đối vì vốn văn hóa cũng là một khái niệm trừu tượng. Nhưng nhìn nhận văn hóa là một loại vốn để có sự tỉnh táo trong quá trình xem xét, hoạch định chính sách để đưa nguồn lực văn hóa vào quá trình phát triển. Bởi quan niệm văn hóa không phải là thứ có thể đem ra trao đổi, buôn bán vẫn ăn sâu vào đầu óc nhiều người nên cần phải nhận thức lại vấn đề này để cởi mở hơn về văn hóa trong quá trình phát triển.

3.2. Đầu tư đồng bộ các nguồn vốn và chú trọng đến vốn văn hóa

Theo khung sinh kế bền vững đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm thì tài chính chỉ là một trong số các nguồn vốn đầu tư cho quá trình phát triển. Bên cạnh đó còn có vốn vật chất, vốn xã hội, vốn con người và vốn tự nhiên. Tuy nhiên, cả khung sinh kế bền vững cũng chưa đầy đủ khi bỏ qua một nguồn vốn quan trọng là vốn văn hóa. Đặc biệt, trong xã hội đa văn hóa, đa tộc người như Việt Nam thì vốn văn hóa càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của các cộng đồng nói riêng, của đất nước nói chung. Trong quá trình đầu tư, chúng ta khó có thể xem loại vốn nào quan trọng hay không quan trọng, vấn đề phụ thuộc vào tình hình cụ thể của từng khu vực, từng địa phương và từng cộng đồng. Tuy nhiên, để có được sự phát triển mang tính bền vững, cần có sự đầu tư đồng bộ về các loại vốn trong quá trình phát triển. Một thực tế là trong nhiều năm qua, đầu tư phát triển miền núi thiên về đầu tư vốn tài chính, vốn vật chất. Mặt được của nó là cơ sở hạ tầng được nâng cao. Nhưng nó lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nguồn vốn khác, như làm cho vốn tự nhiên bị khai thác cạn kiệt, vốn xã hội không được phát huy và vốn văn hóa bị mai một.

Để phát triển miền núi, vùng dân tộc thiểu số ở Nghệ An, ngoài việc đầu tư đồng bộ các loại vốn nhằm đảm bảo tính bền vững cho quá trình phát triển, còn cần phải chú trọng đến vốn văn hóa tộc người. Trên quan điểm phát triển để bảo tồn, phát triển để bảo vệ thì vốn văn hóa chính là đối tượng của sự phát triển thông qua các mối quan hệ khác nhau mà con người là trung tâm và bảo vệ bản sắc văn hóa cũng là bảo vệ con người. Muốn vậy, cần phải có chính sách, chiến lược bảo tồn các bản sắc văn hóa tộc người ở các cộng đồng, hạn chế sự mất mát, mai một về văn hóa. Tiếp đó là xây dựng các chính sách phát triển cụ thể nhằm phát huy nguồn vốn văn hóa vào quá trình phát triển. Như vậy, phát triển phải gắn với bảo tồn văn hóa tộc người và bảo tồn là để tạo nguồn lực cho quá trình phát triển.

3.3. Kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa

Với kinh tế di sản, chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản đó là lĩnh vực kinh tế phát triển dựa vào nguồn lực di sản văn hóa, tức là phát huy các giá trị văn hóa của các di sản làm động lực để phát triển kinh tế. Về thực tiễn, việc phát triển kinh tế từ các giá trị di sản đã được người ta quan tâm từ lâu, nhưng để hình thành một thuật ngữ, một lĩnh vực riêng thì đây vẫn còn là điều mới lạ ở Việt Nam. Như đã phân tích ở trên, vùng miền núi Nghệ An có một hệ thống di sản văn hóa tộc người đa dạng và phong phú. Phát triển kinh tế di sản có thể là một hướng đi khả dĩ và phù hợp để đạt được mục tiêu vừa phát triển kinh tế vừa bảo tồn văn hóa tộc người. Nhưng đó là lý thuyết. Trên thực tế, phát triển kinh tế là vấn đề phức tạp và khó khăn hơn nhiều. Nó cần nguồn vốn tài chính lớn và thu hồi lâu nên ít nhận được sự quan tâm. Dù kinh nghiệm từ nhiều nước phát triển kinh tế di sản mạnh mẽ cho rằng đầu tư vào lĩnh vực di sản văn hóa là cách đầu tư mang lại nhiều lợi nhuận hơn người ta nghĩ và hơn nhiều việc đầu tư vào các ngành nghề khác. Mặt khác, để phát triển kinh tế di sản ở miền núi cũng cần quan tâm đến mục tiêu cuối cùng là bảo tồn văn hóa. Vì kinh tế di sản mang lại lợi nhuận khá cao nên dễ đưa người ta chạy theo lợi nhuận mà vứt bỏ mục tiêu quan trọng nhất của kinh tế di sản. Đó là một thách thức không nhỏ.

Công nghiệp văn hóa cũng là một thuật ngữ mới nổi lên gần đây và được nhà nước xây dựng thành chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa mang tầm quốc gia. Ở Nghệ An, tháng 4/2017, tỉnh đã ban hành Kế hoạch "Triển khai chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 của tỉnh Nghệ An". Đây là sự khẳng định cho đường hướng phát triển kinh tế di sản cũng như sự đầu tư vào lĩnh vực văn hóa của tỉnh nhà. Tuy nhiên, trên thực tế, gần như chưa có nhiều biến đổi quan trọng so với trước đây về nhiều mặt. Nên vẫn chưa có ngành nào đáp ứng các tiêu chuẩn để trở thành ngành công nghiệp văn hóa theo đúng khái niệm của nó. Nhưng để công nghiệp hóa văn hóa các giá trị văn hóa tộc người ở Nghệ An vẫn là bài toán khó cho mọi cấp quản lý. Thứ nhất, không phải giá trị văn hóa nào cũng có thể công nghiệp hóa được. Thứ hai là có những yếu tố văn hóa có lợi thế về công nghiệp hóa nhưng khả năng biến đổi lại cao và ảnh hướng đến các giá trị văn hóa khác. Thứ ba là công nghiệp hóa văn hóa cần có tầm nhìn xa, nó là tổng tích hợp nhiều yếu tố khác nhau với tầm nhìn sâu rộng nên không dễ để làm ngay, làm nhanh được. Trong khi thói quen của nhiều cán bộ là thấy cái gì mới, cái gì có triển vọng và được bộ máy nhà nước ủng hộ thì lao vào làm mà chưa rõ bản chất của vấn đề là gì. Vậy nên công nghiệp hóa văn hóa là câu chuyện cần thảo luận kỹ lưỡng, và phải kết hợp với thủ công nghiệp hóa văn hóa trước, sau đó mới có những bước đi rõ ràng, cụ thể hơn.

Nói tóm lại, kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa là những gợi mở cho chiến lược phát huy nguồn lực văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Có điều, làm sao vận dụng các khái niệm, các quan điểm hay tiêu chí này vào quá trình phát triển thì là câu chuyện khác. Nó cần xem xét các hình thức xây dựng các mô hình, các đường hướng phát triển hợp lý hơn cho từng địa phương, từng cộng đồng.

3.4. Một số hình thức khai thác, phát huy nguồn lực văn hóa

Đây là câu chuyện quan trọng, là những mô hình tổ chức sản xuất hay những định hướng, những con đường để phát triển kinh tế - xã hội dựa trên nguồn lực văn hóa tộc người ở miền núi Nghệ An. Nhìn từ thực tế hiện tại, câu chuyện đưa văn hóa thành nguồn lực kinh tế đã được khai thác trên nhiều phương diện khác nhau. Xin đề cập đến một số hình thức cụ thể:

Trước hết, đó là phát triển du lịch văn hóa. Chẳng phải lạ lẫm gì với khái niệm du lịch văn hóa khi mà mấy thập niên qua, ngoài sự phát triển du lịch gắn với các yếu tố thắng cảnh tự nhiên là vấn đề khám phá các nền văn hóa. Nếu thưởng thức, ngắm cảnh tự nhiên thu hút các khách du lịch ngắn hạn thì du lịch văn hóa lại có sức hút với các khách du lịch muốn tìm hiểu các nền văn hóa trong thời gian dài ngày. Ở đó du khách muốn được trải nghiệm, chiêm nghiệm và tham gia vào các sinh hoạt văn hóa, ngoài khám phá tự nhiên thì họ còn khám phá về văn hóa, con người bản địa. Giữ du khách lại dài ngày là cơ hội, là yếu tố cơ bản để kiến tạo các nguồn thu ổn định và lớn hơn so với việc đón các du khách chỉ đến ngắm cảnh tự nhiên. Sự phát triển du lịch dựa trên các lễ hội, các phong tục tập quán của các cộng đồng đã được khai thác khá lâu. Gần đây là sự phát triển của du lịch cộng đồng. Thực chất đây là sự phát triển du lịch dựa vào yếu tố văn hóa, đây có thể coi là một cách phát triển kinh tế di sản. Tuy nhiên, ở Nghệ An, du lịch cộng đồng vẫn còn hạn chế, đang thiếu vắng nhiều yếu tố trải nghiệm văn hóa. Nói cách khác vẫn chỉ là cách khai thác nguồn lực văn hóa truyền thống trong phát triển du lịch, nó chưa thổi vào luồng gió mới mang tính trải nghiệm khi mà du khách đến và đi trong quỹ thời gian eo hẹp, chưa đủ để khám phá, tìm hiểu các giá trị văn hóa tộc người.

Thứ hai là quá trình thương mại hóa các giá trị văn hóa tộc người, mà điển hình là thương mại hóa các tri thức dân gian các dân tộc thiểu số. Điểm nổi bật nhất chính là thương mại hóa các tri thức dân gian về y học, dược học. Những hoạt động này, ở góc độ nào đó là một thể hiện cho quá trình công nghiệp hóa văn hóa các dân tộc thiểu số. Tri thức dân gian của các cộng đồng vốn có từ bao đời, nay được một số doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế cộng đồng sử dụng kỹ thuật công nghệ vào để sản xuất thành hàng hóa đưa ra thị trường. Hàng loạt các sản phẩm được chiết xuất từ các tri thức dân gian của các cộng đồng được đưa ra thị trường và qua quá trình trao đổi đã sản xuất ra hàng trăm tỷ đồng cho những người đầu tư. Điều đó góp phần nâng cao cuộc sống của nhiều người. Nhưng hầu hết lợi ích lại rơi vào tay các doanh nghiệp, mà chủ yếu là dưới xuôi lên đầu tư phát triển. Vậy nên, về mặt lâu dài, sự chia sẻ lợi ích không hợp lý sẽ gây ra nhiều vấn đề xã hội khác nhau, trong đó vấn đề xung đột lợi ích nhóm, lợi ích tộc người là vô cùng nguy hiểm.

Bên cạnh đó, còn nhiều hình thức khác trong quá trình khai thác các nguồn lực văn hóa vào phát triển kinh tế. Tuy nhiên, câu chuyện hiệu quả cũng như sự hài hòa lợi ích cộng đồng trong quá trình phát triển lại trở nên nguy cấp hơn hết. Đó cũng là vấn đề quan trọng trong quá trình hoạch định chiến lược phát triển miền núi.

3.5. Thị trường hóa văn hóa và văn hóa hóa thị trường

Một câu chuyện tưởng chừng như cũ kỹ, được coi là "cũ như trái đất", nhưng thực tế chưa bao giờ cũ ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số. Kinh tế hàng hóa đã phát triển ở nhiều dân tộc thiểu số trước khi có sự tương tác của người Kinh dưới xuôi lên. Tuy nhiên, sau đó, với sự phát triển của kinh tế hợp tác xã, kinh tế hàng hóa ở miền núi bị hạn chế. Sau đổi mới, nó mới trỗi dậy và phát triển. Ngày nay, kinh tế thị trường đang ngày càng thống trị kinh tế ở miền núi với các mức độ khác nhau. Kinh tế thị trường phát triển ở miền núi, kéo theo hai quá trình đi song song với nhau, đó là quá trình thị trường hóa văn hóa và quá trình văn hóa hóa thị trường.

Thị trường hóa văn hóa là quá trình đưa các giá trị văn hóa truyền thống của các cộng đồng vào phát triển kinh tế thị trường. Nó làm cho các giá trị văn hóa luôn được luân chuyển, tạo ra lợi nhuận. Nhưng cũng đẩy các giá trị văn hóa vào sự biến đổi sâu sắc, mà nếu không có định hướng hợp lý thì sẽ làm mai một các giá trị văn hóa truyền thống. Quá trình thị trường hóa văn hóa thể hiện khá rõ ràng khi hầu hết các giá trị văn hóa cộng đồng đang ngày càng tham gia vào thị trường, từ kinh tế di sản, công nghiệp hóa văn hóa, thủ công nghiệp theo thị trường. Kể cả các giá trị phi vật thể cũng ngày càng tham gia vào thị trường hơn qua nhiều hoạt động thương mại khác nhau. Thị trường hóa văn hóa không xấu như người ta vẫn nghĩ nếu như có sự định hướng, đặc biệt là sự chủ động của người dân bản địa khi gia nhập thị trường.

Ngược lại với thị trường hóa văn hóa là quá trình văn hóa hóa thị trường. Đây là cách thức vận dụng thị trường vào phát triển kinh tế - xã hội hợp với tình hình, đặc trưng văn hóa tộc người. Nghe có vẻ đơn giản nhưng lại vô cùng khó khăn khi mà văn hóa hóa thị trường cần một nội lực rất mạnh. Ở đây, các chính sách của nhà nước chỉ mang tính mở đường, còn thành bại lại phụ thuộc vào năng lực của chủ thể văn hóa. Văn hóa hóa thị trường là điều chỉnh kinh tế thị trường sao cho vừa phát triển kinh tế, vừa bảo tồn được bản sắc văn hóa tộc người mình. Muốn làm được điều này, cần tăng cường phát triển năng lực trải nghiệm thị trường của người dân bản địa. Bên cạnh đó cần kiến tạo tâm thế vững chãi cho người dân trong quá trình phát triển. Muốn vậy, cần trả lại quyền tự quyết về văn hóa, phát triển cho cộng đồng người dân bản địa, để họ chủ động khi tham gia thị trường cũng như phân chia lợi ích trong phát triển thị trường.

4. Một vài gợi mở

Trước hết, để phát triển bền vững miền núi phía Tây Nghệ An, cần thay đổi quan điểm phát triển, từ quan điểm phát triển lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm sang quan điểm phát triển để bảo tồn văn hóa tộc người, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ tài nguyên môi trường. Đó là cơ sở nền tảng để hoạch định các chiến lược phát triển miền núi Nghệ An.

Tiếp theo cần nhận thức lại vai trò của các yếu tố văn hóa tộc người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Phải xem văn hóa là nguồn lực, là nguồn vốn để phát triển kinh tế - xã hội. Từ đó có sự đầu tư các nguồn vốn một cách hợp lý trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Để làm được điều đó cần nhận thức rõ hơn về thực trạng nguồn lực văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An.

Để phát huy nguồn lực văn hóa tộc người vào quá trình phát triển miền Tây Nghệ An cần có nhiều vấn đề, nhiều hình thức. Và mọi hình thức, mỗi quan điểm đều chỉ là gợi mở, còn thực tế cần nhìn vào thực trạng cụ thể của từng cộng đồng, địa phương. Tuy nhiên, cái quan trọng hơn, quyết định hơn là tâm huyết, tư duy của những người làm hoạch định chiến lược phát triển. Mà điều này thì phải xem xét cả hệ thống các vấn đề liên quan. Vậy nên tất cả các phân tích về mặt lý thuyết, nói cho cùng là sự gợi mở, còn lại cần sự tâm huyết, nghiêm túc từ bộ máy quản lý. Nói vậy không phải coi nhẹ kết quả nghiên cứu của các nhà chuyên môn, mà vấn đề là sự tích hợp tâm huyết, sức lực của các bên liên quan trong quá trình phát triển. Phát triển, là sự tương tác tích cực và tổng hợp các thế lực và nguồn lực liên quan.

 

 

 

 

 

Về sách giáo khoa bậc phổ thông - như tôi hiểu và mong muốn

Phong Lê

1. Ngữ - Văn: Tiếng nói và Chữ viết. Phải quan tâm cả hai phía; và chú ý tính đặc thù của Ngữ - Văn Việt trên con đường khó khăn đi tìm Chữ.

Tiếng nói Việt có từ rất lâu đời, nhiều nghìn năm. Còn chữ viết thì muộn, phải về sau mới có, với trật tự từ Hán - Nôm sang Quốc ngữ.

Có tiếng nói là có văn học - đó là văn học truyền khẩu, gồm nhiều loại hình, có trước và cùng tồn tại song song với văn học viết trên suốt chiều dài lịch sử. Và sự giao thoa, tác động qua lại giữa hai khu vực cũng là một tồn tại lâu dài. Những bà mẹ Việt Nam mù chữ vẫn thuộc lòng và lưu truyền 3254 câu thơ Kiều cùng ca dao và các truyện Nôm khác. Cho đến thời hiện đại vẫn tồn tại truyện và thơ dân gian - như thơ Bút Tre.

2. Ngữ Văn - đó là nghệ thuật của ngôn từ, để phân biệt với các loại hình nghệ thuật khác như họa, nhạc…

Đồng ý với cách phân biệt 3 loại văn, theo cấp độ khác nhau.

- Văn thông tin: cần cho mọi nhu cầu giao tiếp.

- Văn nghị luận: cần chất trí tuệ.

- Văn nghệ thuật: cần xúc cảm, mỹ cảm.

Trong chương trình phổ thông cần trang bị sự hiểu biết và vận dụng cần thiết cả 3 loại văn. Tối ưu là cả 3. Tối thiểu là 1 và 2. Văn thông tin để diễn đạt tốt các ý tưởng (trong nói và viết) cho bất cứ ai là công dân từ nhỏ đến lớn, trên mọi ngành nghề, mọi phân công xã hội để ăn nói được gẫy gọn, sáng sủa; viết công văn, thư từ (ở tất cả các cấp từ xã, phường đến Trung ương) không sai, vụng, gây nhầm hiểu hoặc khó hiểu. Với văn nghị luận, trong diễn đạt phải có ý tưởng, tư tưởng. Có thêm cảm xúc và có cách thức trình bày mang tính sáng tạo đó là văn nghệ thuật. Nói như Rolland Barthes (1915-1980): chỉ được xem là nhà văn những người có được văn phong và tạo được một ngôn ngữ riêng. Còn Nguyễn Tuân thì rất dị ứng với những người viết cẩu thả, và người đọc nông nổi.

Như vậy, học văn tối thiểu là để giúp trẻ em biết cách thức giao tiếp trong sinh hoạt và trong trường đời.

Còn tối đa - sẽ có một tỷ lệ nhỏ, hoặc rất nhỏ trong số các em rồi sẽ thành nhà báo, nhà văn, nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình văn chương, hoặc khoa học xã hội - nhân văn, và đó cũng là một yêu cầu đặt ra, để trong sự chọn lọc tự nhiên của nó, do nhờ vào năng khiếu mà biết đâu vài chục, hoặc vài trăm năm sau, dân tộc Việt sẽ có thêm một Nguyễn Du cho thời hiện đại. Hoặc không lâu nữa, sẽ có tiếp Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Nam Cao, Xuân Diệu, Tố Hữu, Chế Lan Viên, Tô Hoài... cùng rất đông các tên tuổi mới sau 1945, kể từ Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng… đến Xuân Quỳnh, Hữu Thỉnh, Đỗ Chu, Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa…

3. Cần chú ý nét đặc thù trong lịch sử văn chương Việt để có cách đưa đến cho trẻ em bậc phổ thông một cách tiếp cận và tiếp nhận có hiệu quả, đi từ dễ đến khó, từ thấp lên cao. Nếu nương theo lịch sử và dựa theo cái khung văn học sử thì phải bắt đầu từ Văn Hán - với các loại hình như hịch, phú, cáo, chiếu, biểu, văn tế, truyện chương hồi, qua Văn Nôm - với truyện thơ, sử ca…, rồi mới đến Quốc ngữ - với thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, ký, kịch… Điều này rất gây khó cho các em; mà phải theo một trật tự ngược, từ dễ đến khó, bắt đầu từ văn Quốc ngữ thời hiện đại với những áng văn dễ đọc, dễ hiểu.

Có thể bắt đầu bằng những trích đoạn văn của các tác giả tiêu biểu như Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Tô Hoài, xen với ca dao, Truyện Kiều, truyện cổ tích…

Ở bậc tiểu học, thậm chí có thể tìm chọn, hoặc đặt hàng cho các nhà văn viết cho các em những bài, những đoạn như trong Quốc văn giáo khoa thư trước 1945 do Trần Trọng Kim - Đỗ Thận soạn: Ai bảo chăn trâu là khổ, Cảnh quê hương đẹp hơn cả… Cũng nên có môn học thuộc lòng, để các em học thuộc những đoạn văn hay rồi nhớ suốt đời…

Từ khởi động là hiện đại (văn Quốc ngữ) sẽ đi ngược dần về cổ điển (Hán Nôm) cho đến năm cuối - lớp 12, hoặc hai năm cuối - lớp 11 và 12, các em sẽ có được một hình dung sơ bộ về lịch sử văn học, theo trật tự: Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, Truyện Kiều, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc… đến Tuyên ngôn độc lập và các áng văn Quốc ngữ của các tác giả tiêu biểu trước và sau 1945.

Trong 6 tác phẩm buộc học sinh các cấp phải học như đã kể trên thì chỉ riêng Truyện Kiều là có đủ đầy giá trị văn chương và đáp ứng trọn vẹn một trăm phần trăm các tiêu chí của văn nghệ thuật. Và nói nghệ thuật là nói chức năng bồi dưỡng tâm hồn, vun trồng cái thiện, trau dồi phẩm chất người; nói cách khác là để làm người, trước khi nói đến những kỹ năng khác… Một chức năng tổng hợp như thế cần tìm đến môn Ngữ - Văn; và với môn Ngữ Văn, phải tìm đến những tác phẩm lớn trong đối sánh với các kiệt tác của nhân loại. Thật may mắn là văn học Việt Nam có được một tác phẩm như thế là Truyện Kiều với một chủ nghĩa nhân văn xuyên thấu mọi thời đại, và một tiếng Việt như một khúc "Nam âm tuyệt xướng", "Thiên thu tuyệt diệu từ", kết tinh hồn cốt Việt, bản lĩnh Việt, bản sắc Việt.

Ngoài 6 tác phẩm trên, đương nhiên phải có một cái khung rộng rãi cho sự tuyển chọn, để có thể hình dung lịch sử văn chương đã diễn ra qua các tác giả và tác phẩm tiêu biểu như thế nào? Nên có một danh mục rộng qua các thời kỳ, và trên các chủ đề, cho người giảng chọn lựa. Danh mục này cần được cân nhắc kỹ trên nhiều tiêu chí, và dựa vào những đánh giá hoặc tổng kết của các giới sáng tác, nghiên cứu, phê bình, giảng dạy qua các thời kỳ, chứ không nên tùy tiện, chủ quan.

Có nghĩa là các Ban biên soạn - gồm cả Chủ biên hoặc Tổng Chủ biên phải là những chuyên gia có uy tín, hoặc ít nhất phải được sự tin cậy của các giới chuyên môn. Cần công khai danh tính Ban biên soạn và những cá nhân hoặc tổ chức được tham khảo.

4. Nhìn chung việc tuyển chọn và bình giảng qua 3 bậc phổ thông cần từ dễ đến khó, đơn giản đến phức tạp. Những tác gia, tác phẩm tiêu biểu như Truyện Kiều cần được trở đi trở lại nhiều lần trong nhiều năm, từ thấp lên cao, chứ không phải chờ lên lớp cao mới học; thậm chí nên có phần học thuộc lòng, để cho các ý tưởng hay, và câu văn đẹp trong tiếng Việt thấm sâu vào tâm và trí các em, đến với các em ngay từ đầu đời, và sống với các em suốt đời. Tôi cứ mong ước: giá như từ bậc tiểu học các em đã biết đến Truyện Kiều, và học thuộc lòng được dăm chục câu; sang bậc trung học cơ sở và phổ thông, mỗi bậc vài trăm câu, thì sau này vào đời, đó sẽ là một cái vốn quý làm nên hành trang đủ cho cả ba phương diện: giao tiếp, trí tuệ và mỹ cảm.

Trong diện rộng của tuyển chọn cần tránh tùy tiện, lười biếng mà phải đạt được sự tâm phục, khẩu phục của các giới chuyên môn. Vì đây là sách giáo khoa cho hàng chục triệu con em, và với giá trị ổn định, bền lâu, chứ không chỉ là nhất thời, thay đổi theo thời vụ, chọn các em làm vật thí nghiệm, để nếu có ý kiến phản hồi, không đồng tình thì chỉ cần "rút kinh nghiệm" là xong! Nếu không đủ sức tìm chọn, thì nhờ chính các tác giả hoặc các chuyên gia tìm chọn, thậm chí có thể tổ chức các cuộc thi về các chủ đề cũ và mới trong các giới sáng tác, nghiên cứu, giảng dạy… để có được những bài hay.

Theo tôi, động thái quan trọng, nếu không nói là quan trọng nhất cho giáo khoa - đó là việc tuyển chọn hoặc trích giảng cho giảng văn, về những áng văn tiêu biểu. Với 4 câu Nam quốc sơn hà… thì đó là toàn văn, khỏi phải chọn. Một khổ 4 hoặc 8 câu của tứ tuyệt hoặc bát cú của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, hoặc Nguyên tiêu của Hồ Chí Minh thì đó cũng là việc đơn giản. Nhưng còn trích chọn những tác phẩm lớn như Chinh phụ ngâm (bản dịch), Cung oán ngâm, và nhất là Truyện Kiều 3254 câu thì đó là câu chuyện phải nghĩ, phải chuẩn bị rất kỹ ở cả 3 khâu: người soạn giáo khoa, người giảng và người học - để, sao cho với các trích giảng, sau mỗi cấp học, đối tượng chính là trò có thể thâm nhập được dần vào toàn bộ giá trị của tác phẩm. Với Truyện Kiều, thời tôi, gần như ngay từ cấp II (trước 1954), tôi đã thuộc không dưới vài trăm câu liền mạch, cùng với toàn bộ cốt truyện, với các nhân vật chính; còn ở giáo khoa thì được học, và buộc phải thuộc một trích đoạn chính gồm 24 câu tả cảnh nhà Vương Ông bị tịch biên, bắt đầu từ câu 575:

Hàn huyên chưa kịp giãi dề,

Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao.

đến câu 597:

Một ngày lạ thói sai nha,

Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.

Từ sau 1956, sau khi vào đại học, do không theo dõi nên không biết việc học ở bậc phổ thông. Gần đây, từ sau 2005, qua bài của PGS.TS Trịnh Khắc Mạnh(1), và sách của PGS.TS Trương Xuân Tiếu(2) tôi được biết Truyện Kiều được học ở hai lớp 9 và 10, bậc phổ thông, với 9 trích đoạn, có tên: Chị em Thúy Kiều (23 câu), Cảnh ngày xuân (17 câu), Kiều ở lầu Ngưng Bích (21 câu), Mã Giám Sinh mua Kiều (25 câu), Thúy Kiều báo ân báo oán (53 câu) - lớp 8; Trao duyên (33 câu), Nỗi thương mình (19 câu), Chí khí anh hùng (17 câu), Thề nguyền (19 câu) - lớp 9. Nếu buộc học thuộc lòng thì cuối cấp phổ thông mỗi học sinh sẽ thuộc được tối thiểu 227 câu Kiều…

Đến 2017 và 2018, trong Chương trình giáo khoa mới đang được soạn thảo để trưng cầu ý kiến của các giới chuyên môn, Nguyễn Du và Truyện Kiều được giảng ở 2 bậc: 8 - 9 và 10 - 12, kèm với một số tác giả, tác phẩm cổ điển khác, nhưng chưa nói rõ được trích chọn và giới thiệu như thế nào. Điều tôi mong mỏi là, đến năm kết thúc bậc phổ thông, các em có thể nắm được, và có thể kể lại được nội dung, cốt truyện cùng hành trạng các nhân vật chính của Truyện Kiều, cùng với dăm trăm câu Kiều được thuộc. 

5. Lịch sử văn học - để nắm hiểu được nó, là cả một giàn giáo rất nặng; thế hệ tôi phải vào bậc đại học mới được làm quen với khái niệm này. Do vậy không cần thiết phải chất đầy, hoặc nhồi cho đủ vào đầu óc non trẻ của các em. Chỉ cần là một hình dung sơ bộ, qua các áng văn tiêu biểu, dễ tiếp nhận, sau khi kết thúc bậc phổ thông. Để sau này, khi vào bậc đại học, chỉ những ai chọn nghề ở khu vực văn chương, hoặc khoa học xã hội - nhân văn nói chung mới cần đi sâu, với tính hệ thống của nó, bằng các giáo trình, hoặc chuyên đề.

Cũng như vậy, Lý luận văn học, là môn phải vào bậc đại học mới cần đến nó. Không nên vội nhồi vào các em những khái niệm vừa quá sức, vừa khó tiêu - như là văn bản, chủ thể, nhân vật, điển hình, cá tính, trường phái, chủ nghĩa… này nọ.

Theo tôi hiểu, viết một giáo trình cho bậc đại học dễ hơn rất nhiều lần so với bậc phổ thông; và ở bậc phổ thông thì các cấp thấp khó hơn cấp cao. Do vậy ở khu vực này cần nhiều hội nghị Diên Hồng lớn nhỏ, trên nhiều khu vực với sự tập hợp ý kiến của các chuyên gia tiêu biểu.

 

Chú thích

(1).. Bản góp ý cho Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo; tháng 1 - 2018.

(2). Tác phẩm của Nguyễn Du dạy trong nhà trường; Sách Hán Nôm học trong nhà trường; Nxb.Khoa học Xã hội; H; 2008.

(3). Tìm hiểu vẻ đẹp 9 đoạn trích trong "Truyện Kiều" được dạy, học ở trường phổ thông; Nxb.Giáo dục; 2007.

 

 

 

 

 

Giai thoại

Nguyễn Xuân Đức

1. Có một loại truyện tự cổ chí kim đều có, chủ yếu được truyền bằng miệng, đặc biệt ngày nay được phát tán rộng rãi trên mạng internet, cũng đã được ghi chép, tập hợp trong nhiều bộ sách,… nhưng vấn đề loại hình/ loại thể của nó lại còn rất mù mờ, hỗn loạn, đó là giai thoại.

Khái niệm giai thoại dường như không khó hiểu, nhưng nó là văn học dân gian hay văn học viết thì hầu như chưa có ai chỉ ra một cách cặn kẽ, có sức thuyết phục. Nhiều người mặc nhiên xem nó là bộ phận của văn học viết, bên cạnh đó, một số người sưu tầm nghiên cứu văn học dân gian (nhất là bộ phận không chuyên) dựa vào một vài đặc điểm như việc được truyền bằng miệng, có hàm chứa "chất dân gian"… rồi xem đó là văn học dân gian. Dù có từ xa xưa nhưng trong xã hội đương đại giai thoại vẫn được lưu truyền, phát triển. Đặc biệt, nói về tính phong phú, nhất là về số lượng, giai thoại không thua kém bất kỳ thể loại văn học dân gian nào, cũng chẳng kém cạnh nhiều thể loại văn học viết. Vậy nhưng, đến nay dường như chưa có chuyên luận độc lập nào bàn về giai thoại từ phương diện loại hình/ loại thể đến những đặc trưng nghệ thuật của nó! Gần như giới        folklore học chuyên nghiệp không quan tâm nhiều tới giai thoại. Với một số nhà sưu tầm xem giai thoại là thể loại văn học dân gian, khái niệm giai thoại cũng chỉ được đặt ra qua những biện luận trong phần giới thiệu của bộ sưu tập. Do chưa có những chuyên luận khảo sát, xác định loại hình/ loại thể, cũng như đặc trưng, tính chất của loại truyện này nên trên mạng internet có rất nhiều bài viết đã sử dụng khái niệm giai thoại một cách hết sức tùy tiện, hỗn loạn. Thí dụ, ở trang web doctruyencotich.vn , truyện Cố Bu (Cố Bợ) xứ Nghệ được gọi là giai thoại, xếp đồng loại với các truyện: Truyện Ba Vành, Truyện Quận He, Truyện Quận Gió, Danh tướng Yết Kiêu… với xưng gọi Giai thoại sử Việt(1). Còn trên báo Dân Trí, tác giả Duy Tuyên gọi truyện Chúa Chổm giai thoại(2). Thậm chí có những công trình được xuất bản hẳn hoi cũng sử dụng khái niệm giai thoại một cách không chính xác. Nguyễn Khắc Thuần xây dựng bộ sách Việt sử giai thoại(3) (6 tập), trong đó các truyện được lấy từ Việt Điện u linh Lĩnh Nam chích quái, cùng nhiều tài liệu khác, có thêm ở cuối truyện Lời bàn của tác giả. Kiều Văn (Hải Phòng) xây dựng bộ Giai thoại lịch sử Việt Nam(4) khá đồ sộ (gần chục tập), phần lớn cũng tập hợp các truyền thuyết đã được sưu tầm, công bố trong nhiều tài liệu, được tác giả chép/ viết lại; vân vân và vân vân! Trong cơ chế bỏ tiền túi in sách (lấy danh), ai làm gì thì cứ làm, các nhà chuyên môn dường như không để ý, hoặc không hơi đâu tranh luận.

Về khái niệm giai thoại, chiết tự ra, giai là đẹp/ tốt/ hay… nên giai thoại hướng tới việc ngợi ca những nhân vật nổi tiếng (là các nhà thơ, nhà văn, nhà khoa bảng…), trong đó có không ít giai thoại sử dụng yếu tố gây cười; còn thoại là truyện, nhưng không ít trong đó chỉ là những mẩu chuyện nhỏ, chưa thành truyện(5). Vì nhằm ca ngợi nhân vật nổi tiếng nên giai thoại tồn tại ở dạng chùm (chuyện kể chung quanh một nhân vật). Hầu hết các giai thoại do "các nhà chữ nghĩa" (chữ của Trần Thanh Mại) từng thời sáng tác, nhưng trong quá trình lưu truyền bằng miệng, bộ phận những chuyện/truyện về các nhân vật lịch sử có tầm ảnh hưởng rộng lớn trong xã hội đã được dân gian hóa, tổ chức thành những truyền thuyết, điều này đã được PGS,TS. Nguyễn Thị Bích Hà đề cập đến trong bài viết Giai thoại - một thể loại văn học dân gian(6).  Còn một bộ phận có tính gây cười lại được chuyển hóa vào những truyện cười nổi tiếng như truyện Trạng Quỳnh.

2. Trong hai xu hướng quan niệm loại hình/ loại thể của giai thoại, xu hướng xem giai thoại là văn học viết chiếm ưu thế hơn cả. Theo xu hướng này không chỉ có các nhà nghiên cứu văn học viết mà có cả các nhà folklore học chuyên nghiệp. Trong bộ Giai thoại văn học Việt Nam, nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại không xem giai thoại là thể loại văn học dân gian. GS. Kiều Thu Hoạch khi cùng nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Phách sưu tầm, biên soạn bộ Giai thoại văn học Việt Nam(7), dĩ nhiên cũng đã đồng quan điểm xem giai thoại không phải là văn học dân gian. Ngay trong Từ điển văn học (bộ mới), dù trong nhóm tác giả có mặt chuyên gia văn học dân gian là PGS,TS. Chu Xuân Diên, nhưng mục từ này lại do nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân viết và dĩ nhiên giai thoại là văn học viết(8).

Người chính thức đặt vấn đề xem giai thoại là văn học dân gian là PGS. Vũ Ngọc Khánh, nhưng đây chỉ là biện luận trong bài viết của bộ sưu tập Kho tàng giai thoại Việt Nam(9), chứ không phải là một chuyên khảo chuyên biệt. Biện luận của Vũ Ngọc Khánh như sau: "… Những câu thơ, câu đối ở đây có vẻ giàu chữ nghĩa, điển tích như ở văn chương bác học, song điều bắt buộc là phải vận dụng theo phong cách dân gian, lấy chất liệu và cả biện pháp quen thuộc của ca dao, câu đố… tác phẩm văn học bác học được xem như tác phẩm dân gian và có thể sống trong quần chúng…". Có thể thấy biện luận này chưa đủ sức thuyết phục và chính tác giả cũng tỏ ra chưa thật tự tin vào ý kiến của mình. Trước hết Vũ Ngọc Khánh thừa nhận giai thoại là "tác phẩm văn học bác học", "những câu thơ, câu đối ở đây có vẻ giàu chữ nghĩa, điển tích như ở văn chương bác học", nhưng cái để giai thoại được tác giả xem như văn học dân gian vì đã "vận dụng theo phong cách dân gian, lấy chất liệu và cả biện pháp quen thuộc của ca dao, câu đố…". Có lẽ nhận ra căn cứ thiếu chắc chắn này nên tác giả đã kết luận một cách khá dè dặt, rằng giai thoại là những "tác phẩm văn học bác học được xem như tác phẩm dân gian và có thể sống trong quần chúng" (Những chỗ gạch chân là do tôi nhấn mạnh - NXĐ).

Thực tế, đâu phải cứ "vận dụng theo phong cách dân gian, lấy chất liệu và cả biện pháp quen thuộc của ca dao, câu đố…" thì tác phẩm sẽ là văn học dân gian. Trong thực tế, dẫu có một số tác phẩm văn học viết (chủ yếu là thơ lục bát được sáng tác theo thi pháp ca dao) được dân gian lưu truyền, chiếm lĩnh rồi sống trong lòng dân gian cho đến khi các nhà sưu tầm ghi chép được, thì vẫn còn rất nhiều những tác phẩm văn học viết cũng được sáng tác theo phong cách dân gian, cũng được lưu truyền bằng miệng như thơ Bút Tre lại không được dân gian chiếm lĩnh. Như vậy, lập luận rằng giai thoại là sáng tác dân gian vì "vận dụng theo phong cách dân gian…" của PGS. Vũ Ngọc Khánh là chưa đủ cơ sở thuyết phục và phải chăng vì thế nó dường như không được các nhà folklore học chuyên nghiệp thừa nhận, sử dụng. Cụ thể là, năm 2004, các tác giả Từ điển văn học vẫn khẳng định giai thoại là văn học viết.

Năm 2006, trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam, góc nhìn thể loại, GS. Kiều Thu Hoạch có vẻ như thay đổi quan điểm, đồng tình với Vũ Ngọc Khánh rằng giai thoại là văn học dân gian, nhưng lập luận của ông cũng có vẻ không mạnh dạn khi viết: "Về cơ bản và trên đại thể, chúng tôi đồng tình với lập luận của Vũ Ngọc Khánh". Thật khó xác định nội dung cụm từ "Về cơ bản và trên đại thể", nhất là khi tác giả lý giải sự đồng tình của mình rằng: "giới nghiên cứu folklore hiện nay trên thế giới cũng không còn đồng tình với quan điểm một thời đã qua coi sáng tác folklore chỉ là sáng tạo của người lao động, của người mù chữ… với cách nhìn nhận như vậy thì giai thoại rõ ràng là các sáng tác dân gian, là folklore, và đương nhiên nó phải là một thể loại nằm trong loại hình tự sự dân gian"(10) (Những chỗ gạch chân là do chúng tôi nhấn mạnh - NXĐ). Thật ra, không chỉ giới nghiên cứu folklore hiện nay trên thế giới mà hầu hết giới folklore học Việt Nam cũng không hề coi sáng tác folklore chỉ là sáng tạo của người lao động, của người mù chữ. Trước hết, ai cũng thừa nhận một số bài ca dao được xem là dân gian, có mặt trong nhiều bộ sưu tập ca dao người Việt, mặc dù người ta đã tra ra nguồn gốc công bố và tác giả của chúng. Đó là hiện tượng "chiếm lĩnh" trong nguyên lý sáng tạo của văn học dân gian. Về nghiên cứu, năm 1998, tác giả Nguyễn Phương Châm đã có bài viết chỉ ra "tính chất bác học trong ca dao xứ Nghệ"(11)với việc tham gia hát ví, hát giặm của các học giả như Nguyễn Du, Nguyễn Huy Oánh,… Năm 2011, tại hội thảo khoa học Bảo tồn và Phát huy các giá trị Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, PGS. Ninh Viết Giao cũng đã có báo cáo về Tính bác học của ca từ trong dân ca ví giặm xứ Nghệ(12). Như vậy, lấy cái nhìn giới nghiên cứu folklore hiện nay trên thế giới không coi sáng tác folklore chỉ là sáng tạo của người lao động, của người mù chữ để khẳng định giai thoại là các sáng tác dân gian rõ ràng không đủ sức thuyết phục. Phải chăng, khi nêu ý kiến này, GS. Kiều Thu Hoạch cũng đã mường tượng ra điều mà sau này PGS,TS. Nguyễn Thị Bích Hà nhận thấy rằng trong giai thoại có hai bộ phận: văn học viết và văn học dân gian, nên chỉ đồng tình với Vũ Ngọc Khánh "Về cơ bản và trên đại thể" mà thôi.

Năm 2013, chuyên gia văn học dân gian - PGS,TS. Nguyễn Thị Bích Hà - đã nêu ra ý kiến: Giai thoại - một thể loại văn học dân gian. Điều đáng chú ý ở bài viết này là tác giả đã chỉ ra tính dân gian trong một số giai thoại, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tính chất truyền miệng của những sáng tác này. Khi phản biện định nghĩa của Từ điển Văn học do Nhà xuất bản Thế giới phát hành năm 2004, trong đó khẳng định giai thoại được truyền bằng miệng nhưng thuộc văn học viết, Nguyễn Thị Bích Hà viết: "Định nghĩa giai thoại trên có phần mâu thuẫn. Một mặt nó đã khẳng định "giai thoại là một thể loại chuyện kể truyền miệng" (tức nó thuộc VHDG), nhưng lại nêu thêm "Nó thuộc về văn chương bác học, gắn với sinh hoạt văn học thành văn" (Chỗ gạch chân là do chúng tôi nhấn mạnh - NXĐ). Ý kiến phản biện của Nguyễn Thị Bích Hà cho thấy tác giả đã dựa vào tính truyền miệng để khẳng định giai thoại là văn học dân gian. Thế nhưng, dù tính truyền miệng là thuộc tính hàng đầu của văn học dân gian, chi phối nhiều thuộc tính khác, thì truyền miệng cũng không phải là thuộc tính duy nhất để xem: hễ tác phẩm nào được truyền miệng đều là dân gian. Chứng cớ là không ít tác phẩm truyện Nôm khuyết danh như Phạm Tải Ngọc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa,… cũng như nhiều bài thơ Bút Tre cũng được truyền bằng miệng; đặc biệt hơn, phần lớn truyện cười của bác Ba Phi đều được truyền bằng miệng,… nhưng hầu hết những sáng tác vừa nêu đều không phải là văn học dân gian. Đi sâu nghiên cứu, chúng ta còn thấy: ngay cả trong những bộ sưu tập văn học dân gian, nhất là bộ phận truyện, nhiều tác phẩm lâu nay được xem là dân gian thực chất cũng không phải là văn học dân gian đích thực mà chỉ là nhại dân gian(13), hoặc là biến thái của văn học dân gian. Bởi giới tăng lữ thường dùng phương thức kể chuyện để thuyết giáo, nên sáng tác ra những truyện nhại dân gian hoặc lấy từ truyện kể dân gian rồi uốn nắn phần nào cho phù hợp với yêu cầu thuyết minh giáo lý của đạo Phật(14). Như vậy, không thể dựa vào duy nhất một đặc điểm là được truyền bằng miệng để khẳng định đó là tác phẩm dân gian. Thái độ thận trọng khoa học của PGS,TS. Nguyễn Thị Bích Hà là ở chỗ: Dù đưa ra một tiêu đề "như đinh đóng cột", rằng giai thoại là một thể loại văn học dân gian và với sự tra cứu, phân tích sâu sắc, cũng như phản biện nhiều ý kiến của những người đi trước, thì đến cuối bài viết, tác giả cũng xem đó chỉ: "là một số ý kiến sơ bộ… về giai thoại. Chắc chắn rằng để có thể coi giai thoại như một thể loại văn học dân gian, có thể đưa thể loại này vào giảng dạy chính thức trong nhà trường thì còn cần thời gian và cần thêm những nghiên cứu chuyện sâu hơn"(15) (Những chỗ gạch chân là do tôi nhấn mạnh - NXĐ).

3. Sự gợi mở của PGS, TS. Nguyễn Thị Bích Hà rằng có một bộ phận giai thoại là văn học dân gian không phải không có cơ sở. Phần lớn giai thoại là những mẩu chuyện/ truyện nhỏ được tổ chức dưới dạng những cốt kể mô đun (module), tạo thành một chùm thông qua một nhân vật trung tâm có thật và nổi tiếng ở một vùng. Điều này khiến các thành tố như nhân vật, không gian và thời gian trong giai thoại luôn được xác định (tên nhân vật, tên địa phương và khoảng thời gian mà nhân vật sống). Tuy nhiên, trong chùm giai thoại, các module cùng "liên kết nhau" quanh một nhân vật lại ít bị ràng buộc chặt chẽ bằng một trục thời gian. Nhờ đặc điểm này, một chùm giai thoại không phụ thuộc vào số lượng module và trong quá trình lưu truyền người ta có thể thêm, bớt các module; thêm nữa, một module điển hình nào đó có thể được đưa vào những chùm giai thoại về các nhân vật khác nhau(16). Chính đặc điểm này đã "giúp" tác giả dân gian xây dựng những chùm truyện cười quanh một nhân vật trung tâm nào đó. Thí dụ, từ nhiều giai thoại về Cống Quỳnh cộng thêm một số module về những nhân vật (ông Cống) khác, tác giả dân gian đã tổ chức thành Truyện Trạng Quỳnh. Cho nên Trạng Quỳnh dù có thể được xây dựng từ nguyên mẫu Cống Quỳnh, tập hợp, sáng tạo lại nhiều giai thoại về Cống Quỳnh, thì cũng không phải là Cống Quỳnh như một số người nhầm lẫn, hoặc cố ý gán ghép. Đặc điểm vừa nêu càng rõ ở Truyện Trạng Lợn. Như vậy có thể thấy nhiều giai thoại, vốn được những người chữ nghĩa sáng tác, đã được dân gian chiếm lĩnh, xây dựng thành những chùm truyền thuyết nếu nhân vật lịch sử trung tâm có ảnh hưởng rộng rãi trong cộng đồng; hoặc thành những chùm truyện cười về một nhân vât mang tính hư cấu.

Đến đây cũng cần quay lại với lý thuyết sáng tạo lại của văn học dân gian. Một tác phẩm văn học dân gian ban đầu được một người sáng tác, người đó không hẳn chỉ là người lao động không biết chữ mà còn là những học giả như Nguyễn Du (1766 - 1820), Nguyễn Huy Oánh (1713 - 1789), Nguyễn Huy Quýnh (1734 - 1785),… những người từng tham gia ở tư cách "thằng bày" (người đặt lời) trong hát phường vải xứ Nghệ(17). Tuy nhiên, những sáng tác của họ lại do các o phường vải xướng lên, lưu truyền không chỉ một lần, một nơi,… và đó là những sáng tác dân gian. Trong nguyên lý sáng tạo của văn học dân gian, quá trình lưu truyền đồng nhất với quá trình sáng tạo, cho nên hầu hết các sáng tác dân gian được sáng tạo lại không ngừng trong quá trình lưu truyền. Sự sáng tạo lại nhiều khi tạo nên những dị bản, tuy nhiên không phải có tạo ra dị bản mới gọi là sáng tạo lại, bởi với mỗi lần diễn xướng, môi trường diễn xướng và chủ thể trữ tình,… đã thay đổi (dù từ ngữ vẫn giữ nguyên như đối với nhiều lời ca dao, dân ca). Chính từ nguyên lý sáng tạo lại này, một số giai thoại dạng module đã được tập hợp lại thành những chùm truyện dân gian (truyền thuyết, truyện cười). Đến đây lại cũng phải nói thêm rằng, về lý thuyết, trong một chùm truyền thuyết về một nhân vật lịch sử, có thể có truyền thuyết về một vị tướng, đặt riêng thấy đơn lẻ (chẳng hạn về Lê Lai, người liều mình cứu Chúa), nhưng trong chùm truyền thuyết về Lê Lợi, nó không là một truyền thuyết đơn lẻ mà được lưu truyền đồng hành với những truyền thuyết khác nhằm tôn vinh, khẳng định một điều: cuộc kháng chiến do Lê Lợi khởi xướng là chính nghĩa nên được thần thánh, tổ tiên phù trợ, được nhân dân và tướng lĩnh xả thân hiệp lực.

Nói như vậy cũng có nghĩa là bên cạnh những cốt kể vốn là giai thoại, được dân gian "chiếm lĩnh", tạo thành những chùm truyền thuyết, những chùm truyện cười, sẽ có những giai thoại không bị chiếm lĩnh (thường về những nhân vật không có phạm vi ảnh hưởng rộng), nên không thể xem đó là sáng tác dân gian. Chính điều này đã dẫn đến tình trạng dường như không có khái niệm giai thoại dân gian. Nhìn vào tên gọi các bộ sưu tập giai thoại, dù có bộ, trong phần giới thiệu khẳng định giai thoại là văn học dân gian, thì các tác giả, những người sưu tầm, biên soạn vẫn không thể đặt tên "…giai thoại dân gian…" để phân biệt với giai thoại văn học.

 

Chú thích

(1). http://doctruyencotich.vn/truyen-thuyet-giai-thoai/co-bu-giai-thoai-dan-gian-viet-nam.html

(2). Duy Tuyên (2016), Chúa Chổm - Giai thoại và những dị bản..., http://dantri.com.vn/xa-hoi/chua-chom-giai-thoai-va-nhung-di-ban-20160212114432958.htm

(3). Nguyễn Khắc Thuần (2003), Việt sử giai thoại. Nxb Giáo dục.

(4). Kiều Văn (2012), Giai thoại lịch sử Việt Nam. Nxb Tổng hợp TP. HCM

(5). Chỉ cần vào mạng, mở một trang website (chẳng hạn Quê Hương http://quehuongonline.vn/van-hoc-nghe-thuat/giai-thoai-viet-nam/trang-2.htm), sẽ thấy rõ điều này.

(6). PGS,TS. Nguyễn Thị Bích Hà (2013), Giai thoại - một thể loại văn học dân gian.

http://tailieuhoctap.com/baiviettacgiatacpham/giai-thoai-mot-the-loai-van-hoc-dan-gian.9wq0xq.html.

(7). Hoàng Ngọc Phách, Kiều Thu Hoạch (1988). Giai thoại văn học Việt Nam, in lần thứ 2. Nxb VH, tr.5.

[Dẫn theo PGS,TS. Nguyễn Thị Bích Hà, bđd].

(8). Từ điển Văn học (2004), Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (CB), Nxb Thế giới tr.519.

(9). Vũ Ngọc Khánh (2001), Kho tàng giai thoại Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin.

(10). Kiều Thu Hoạch (2006), Văn học dân gian người Việt, góc nhìn thể loại. Nxb KHXH, tr.422.

(11). Nguyễn Phương Châm (1998), Tính chất bác học trong ca dao xứ Nghệ. TC Văn hóa dân gian số 3, tr.46-54.

(12). Ninh Viết Giao (2011), Tính bác học của ca từ trong dân ca ví giặm xứ Nghệ. http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/tinh-bac-hoc-trong-ca-tu-cua-dan-ca-vi-giam-xu-nghe

(13). Nguyễn Xuân Đức (1995), Cổ tích hay là nhại cổ tích. TC Văn hóa dân gian số 2.

(14). Minh Chiếu (1999), Truyện cổ Phật giáo (4 tập). Nxb Thuận Hóa.

(15). PGS, TS. Nguyễn Thị Bích Hà, bđd.

(16). Thí dụ giai thoại về Một ông đồ Nghệ đi đường mỏi chân, khi gặp đội lính tuần ở một huyện mà thầy đồ biết chắc học trò mình đang là tri huyện, liền réo tên tri huyện chửi cho lính tuần nghe. Lập tức lính tuần bắt người chửi tri huyện, bỏ cũi khiêng về huyện đường để xử phạt. Khi tri huyện ra xem kẻ nào to gan vậy thì nhận ra thầy giáo cũ của mình, liền quát lính tháo cũi và quì lạy, xin thầy tha lỗi. Thầy đồ chỉ cười bảo không sao cả, thầy đi bộ mỏi chân, muốn bọn lính tuần khiêng một quãng cho đỡ mệt thôi mà… Giai thoại này bắt gặp ở nhiều chùm truyện về các ông đồ Nghệ khác nhau, chỉ ghép vào đó tên thầy đồ, tên huyện và tri huyện… là được.

(17). Xứ Nghệ còn truyền tụng về một cuộc ví phường vải rằng: một bận có mấy nho sinh đến hát cũng một phường vải nọ. Ở màn chào hỏi, mấy o vừa quay tơ vừa hát "Nghe tin chàng học đã tài/ Bố thầy Mạnh Tử là ai hỡi chàng?". Biết chắc rằng phải có người bày, còn mấy o không đi học, làm sao biết các nho sinh chỉ học đến "Tử" là cao nhất (Khổng Tử, Mạnh Tử,…), các chàng liền đáp lại "Thầy Mạnh Cụ Mạnh sinh ra/ Đ. mẹ con hát, tổ cha thằng bày".

 

Di sản thơ văn Ngự chế của các Hoàng để triều Nguyễn

Nguyễn Huy Khuyến

 

Di sản thơ văn trên di tích cung đình Huế là một trong những loại hình di sản vô giá đã được Ủy ban Di sản ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương (MOWCAP) công nhận là di sản ký ức thế giới năm 2016. Phần lớn trong số thơ văn ngự chế trên di tích là thơ văn của các vị vua đầu triều Nguyễn, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức. Khai thác giá trị thơ văn của các vị Hoàng đế để thấy được tư tưởng làm thơ khác với các văn sĩ đương thời, đặc biệt là cái khẩu khí của các bậc đế vương. Trong bài viết này chúng tôi xin được giới thiệu một số những tác phẩm của các vị hoàng đế được thống kê trong Quốc thư thủ sách, quyển thượng, mang số ký hiệu A.2601/ 9-10.

1. Mở đầu

Cổ học viện thư tịch thủ sách là bộ sách được Lê Doãn Thăng biên tập, Nguyễn Tiến Khiêm,  Nguyễn Bá Trác hiệu duyệt; chép năm Khải Định 9-10 (1924-1925)Trong bộ sách này được chia theo các bộ kinh, sử, tử tập. Theo đó, bộ A.2601/9-10 (T9, T10) là bộ Quốc thư thủ sách, Kho Quốc thư, gồm 601 tập bộ Ngự chế thư, Pháp học khoa, Quốc sử khoa, Văn học khoa, Quốc âm thư... (Trần Nghĩa, Di sản Hán Nôm thư mục đề yếu ). Tuy nhiên, trong bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những trước tác của các vua triều Nguyễn được ghi chép trong bản A. 2601/ 9-10. Theo thống kê và nghiên cứu của chúng tôi về số lượng các văn bản thơ văn ngự chế của các vị hoàng đế dưới triều Nguyễn đa phần đều bảo quản được các ván in mộc bản. Mặc dù số lượng không toàn vẹn, song nó là bản gốc để nghiên cứu rất có giá trị về mặt tư liệu. Là căn cứ xác đáng để nghiên cứu về mặt văn bản học. Hiện nay, phát huy giá trị tài liệu lưu trữ, những văn bản thơ văn ngự chế của các Hoàng đế dần được quan tâm nhiều, đặc biệt là nghiên cứu về mặt nội dung tư tưởng của các hoàng đế qua thơ văn. Điều này, giúp ích rất nhiều cho việc lưu giữ bảo tồn các giá trị di sản, giá trị tư liệu và văn hóa của dân tộc.

2. Những trước tác của các vị hoàng đế dưới triều Nguyễn

Những tác phẩm của vua Minh Mệnh

Về sự nghiệp trước tác của vua Minh Mệnh được ghi chép trong Quốc thư thủ sách so với những ghi chép trong Đại Nam thực lục và các sách khác là không đầy đủ. Mặc dù vậy, chúng tôi cũng xin được giới thiệu những ghi chép, biên mục theo nghiệp vụ lưu trữ của tiền nhân về các tác phẩm được vua Minh Mệnh sáng tác.

Trong bài tựa cho sách Ngự chế thi sơ tập, vua Minh Mệnh viết: Thơ ta làm đó phần nhiều là mình tự dạy mình về đạo kính trời yêu dân, so sánh lúc tạnh lúc mưa để xem thời tiết, không có lời hoa hoè chải chuốt để cho người ta thích nghe. Không như cái học của thư sinh, tìm từng chương trích từng câu mà muốn đua đẹp tranh hay với các văn nhân mặc khách đâu. Thơ văn ta làm, một chữ một câu đều do tự ý mình, tôi con trong triều đều biết cả. Hãy đơn cử một việc mà nói: Trẫm hằng ngày lúc nào rỗi việc một chút cũng còn chăm việc thi thư, huống chi những kẻ văn học, lấy đấy mà được hiển vinh, nổi tiếng há lại chẳng lo dùi mài cố gắng sao! Lấy điều ấy mà biết cảm phát phấn khởi mà đến được chỗ thành công thì tập thơ này cũng có ích cho bọn văn học các ngươi vậy". Vua lại dụ Nội các rằng: "Trong bản Ngự chế văn sơ tập có các bài dụ chỉ do tay ta soạn năm trước đặt ở đầu quyển thì cứ thế mà khắc in cũng đủ, bất tất phải làm tựa".

Trong Quốc thư thủ sách quyển thượng do Cổ học viện vâng mệnh kiểm kê, sách có kí hiệu A 2601, hiện lưu trữ tại VNCHN có ghi chép về bộ Ngự chế thi của vua Minh Mệnh.

Minh Mệnh Ngự chế thi sơ tập, vâng chép từ nguyên niên đến năm thứ 11, gồm 2 quyển mục lục, sách 10 quyển, san khắc năm Minh Mệnh thứ 12 (1831).

Minh Mệnh Ngự chế thi nhị tập, vâng chép từ  năm thứ 12 đến năm thứ 13, gồm 2 quyển mục lục, sách 10 quyển, san khắc năm Minh Mệnh thứ 14 (1833).

Minh Mệnh Ngự chế thi tam tập, vâng chép từ  năm thứ 12 đến năm thứ 13, gồm 2 quyển mục lục, sách 10 quyển, san khắc năm Minh Mệnh thứ 17 (1836).

Minh Mệnh Ngự chế thi tứ tập, vâng chép từ  năm thứ 16 đến năm thứ 17, gồm 2 quyển mục lục, sách 10 quyển (ở bộ tứ tập không có ghi thời gian khắc in).

Minh Mệnh Ngự chế thi ngũ tập, vâng chép từ  năm thứ 18 đến năm thứ 19, gồm 2 quyển mục lục, sách 10 quyển, san khắc năm Minh Mệnh thứ 20 (1839).

Minh Mệnh Ngự chế thi lục tập, vâng chép từ  năm thứ 20 đến năm thứ 21, gồm 2 quyển mục lục, sách 10 quyển, san khắc năm Thiệu Trị nguyên niên 1841.

Minh Mệnh Ngự chế văn sơ tập, vâng ghi từ năm đầu đến năm thứ 11, mục lục 1 quyển, sách 13 quyển.

Minh Mệnh Ngự chế văn nhị tập, vâng ghi từ năm thứ 11 đến năm thứ 21, mục lục và sách 9 quyển.

Minh Mệnh Thánh huấn thập điều, năm Minh Mệnh thứ 15 kính vâng ngự chế huấn địch thập điều, năm Khải Định thứ 9 Cổ học viện sao lại.

Những tác phẩm của vua Thiệu Trị

Vua Thiệu Trị mặc dù chỉ trị vì 7 năm nhưng nhiều trước tác của vua gồm: "Ngự chế ra 2 tập văn, 4 tập thơ, lại có những tập Ngự Đề đồ hoạ, Sử luận, Hoàng huấn, Bắc tuần võ công, Cổ kim thể cách, Tài thành phụ tướng, Lịch đại đế vương, không đầy 6 - 7 năm, mà làm xong 14 bộ sách. Thơ văn làm ra đều là những bài chăm chính sự, yêu nhân dân, xét lúc tạnh, tính lúc mưa, hoặc là xúc cảnh nên thơ, làm ra những lời ngâm vịnh như câu "phong mộc", bài "Lục nga" ngụ tấc lòng mơ tưởng ở trong canh, trên tường, vốn không phải có ý tìm tòi, làm cho đẹp đẽ để cùng với bọn nghệ sĩ, văn nhân đua hơn, so kém; tưởng có hại gì cho việc làm mà cần phải đem nói? Vả, thơ là để nói rõ chí hướng, cốt để đào luyện tính tình cho người ta, có câu "làm việc dư sức thì học văn", cổ nhân chưa từng cho văn là không đáng chuộng (Quốc sử quán, 2007, tr 101).

Ta coi chính sự khi nào nhàn thì nhân sự vật mà ngâm thơ để ngụ ý mình, thế còn hơn là ham thích cái khác.

Những trước tác của vua Thiệu Trị được Quốc thư thủ sách biên mục thống kê dưới đây:

Thiệu Trị Ngự chế thi sơ tập, vâng ghi từ năm đầu đến năm thứ 2, mục lục 3 quyển, sách 13 quyển, khắc năm Thiệu Trị thứ 3).

Thiệu Trị Ngự chế thi nhị tập, vâng ghi chép từ năm thứ 3 đến năm thứ 4, mục lục 3 quyển, sách 15 quyển, khắc năm Thiệu Trị thứ 5).

Thiệu Trị Ngự chế thi tam tập, vâng ghi chép từ năm thứ 5 đến năm thứ 6, mục lục 5 quyển, sách 20 quyển, khắc năm đầu Tự Đức.

Thiệu Trị Ngự chế thi tứ tập, vâng ghi chép năm thứ 7 mục lục 3 quyển, sách 7 quyển, khắc năm đầu Tự Đức).

Thiệu Trị Ngự chế văn sơ tập, vâng ghi chép từ năm đầu đến năm thứ 5, mục lục 2 quyển sách 13 quyển, khắc năm Thiệu Trị thứ 6.

Thiệu Trị Ngự chế văn nhị tập, vâng ghi chép từ năm thứ 6 đến năm thứ 7, mục lục và sách 4 quyển, khắc năm đầu Tự Đức.

Thiệu Trị Ngự chế cổ kim thể cách, các cách làm thơ theo các thể cổ kim xếp thành quyển, mục lục và sách 4 quyển, khắc năm Thiệu Trị thứ 7.

Thiệu Trị Ngự đề đồ hội thi tập, vâng ghi các bài thơ ngự chế thuộc phần danh thắng, cổ tích, thời lệnh, nhân vật, lại có phụ thêm ảnh của 12 cảnh của xứ Thần kinh, khắc năm Thiệu Trị thứ 4.

Thiệu Trị Ngự chế lịch đại tổng luận, vâng chép những tổng luận các triều đại của Trung Quốc, mục lục và sách 3 quyển, khắc năm Thiệu Trị thứ 6.

Thiệu Trị Hoàng huấn cửu thiên, dựa theo thể cổ trong Kinh Thi sáng chế ra 9 thiên, mỗi thiên 3 chương, tổng là 9 chương, khắc khoảng thời Thiệu Trị.

Những tác phẩm của vua Tự Đức

Trong số các vị vua được Quốc thư thủ sách biên mục các trước tác thì vua Tự Đức có số lượng công trình nhiều nhất. Về quan điểm sáng tác theo ghi chép của Đại Nam thực lục cho biết:  "Khi làm văn chương mà văn thơ trước thuật, đều là văn trời đất tự nhiên. Tức như câu nói: "Thành công vòi vọi, văn chương rỡ ràng" (Quốc sử quán, 2007, tr 8).

Làm thơ cũng để phục vụ cho công việc, đặc biệt là vấn đề liên quan đến mùa màng nông nghiệp. Những lúc cầu mưa, cầu tạnh được linh ứng vua mừng, làm thơ để ghi nhớ. Trong tập thơ ngự chế, dưới đây cũng thế. Sau này phàm có việc gì quan hệ đến sự lo buồn vui vẻ, cùng dân cùng vui buồn, thường làm ra nhiều bài thơ, để ngụ ý mình.

Những trước tác của vua Tự Đức được Quốc thư thủ sách biên mục thống kê dưới đây:

Tự Đức Ngự chế thi sơ tập, vâng ghi chép từ năm đầu đến năm thứ 13, mục lục 2 quyển, sách 15 quyển, khắc năm Tự Đức thứ 28.

Tự Đức Ngự chế thi nhị tập, vâng ghi chép từ thứ 14 đến năm thứ 27, mục lục 2 quyển, sách 15 quyển, khắc năm Tự Đức thứ 28.

Tự Đức Ngự chế thi tam tập, vâng ghi chép từ thứ 15 đến năm thứ 36, mục lục 2 quyển, sách 20 quyển), bản chép.

Tự Đức Ngự chế văn sơ tập, vâng ghi chép từ năm đầu đến năm thứ 13, mục lục 1 quyển sách 13 quyển, khắc năm Tự Đức thứ 9.

Tự Đức Ngự chế văn nhị tập, vâng ghi chép từ năm thứ 14 đến năm thứ 27, mục lục và sách 22 quyển, khắc năm Tự Đức thứ 9.

Tự Đức Ngự chế văn tam tập, vâng ghi chép từ năm thứ 28 đến năm thứ 33, mục lục 1 quyển sách 14 quyển, khắc năm Thành Thái thứ 8.

Chương Hoàng hậu từ huấn lục, Dực Tông Anh hoàng đế cung kính thuật lại những lời giáo huấn của Từ Dũ Hoàng Thái hậu, mục lục và sách 4 quyển, khắc khoảng thời Tự Đức.

Tự Đức Ngự đề văn tập, vâng ghi chép từ năm thứ 22 đến năm thứ 36, bản viết tay.

Tự Đức Ngự chế thiên tự văn,  năm Tự Đức thứ 23.

Tự Đức Ngự chế thất tình trâm, sách chép danh ngôn của người xưa đều có diễn nghĩa.

Tự Đức Ngự chế Nam kì thổ sản phú, phú về sản vật do Trần Văn Y tỉnh Hà Tiên đến cống.

Tự Đức Ngự chế Khiêm cung kí, năm thứ 24 cung kính ghi ý nghĩa đặt tên Khiêm cung, năm Tự Đức thứ 28 cung kính ngự bút khắc in.

Tự Đức Ngự diễn huấn địch thập điều, năm Tự Đức thứ 23 cung kính theo 10 lời dạy của Minh Mệnh diễn theo thể trên 6 dưới 8, thiếu điều 7, năm Khải Định thứ 9 Cổ học viện sao thêm điều 7.

Tự Đức Ngự chế quốc âm thi ca, vâng ghi chép những trước tác của vua, thành 1 quyển, năm Khải Định thứ 9 Cổ học viện sao lại.

Tam diệu pháp thiếp, thư pháp của Âu Dương Tu, Triệu Mạnh Phủ, Đổng Kì Xương, 1 quyển, năm Tự Đức thứ 3 cung kính.

Tự Đức Ngự chế Việt sử tổng vịnh thi, trên từ Lạc Long  (Quân) dưới đến Hậu Lê chia môn loại, mục lục và sách 11 quyển, năm Tự Đức 27 khắc.

Tự Đức Ngự tuyển lịch đại thi tập, cung kính tuyển chọn ca dao thi ca các triều đại Bắc quốc, mục lục và sách 2 quyển, chép tay.

Tự Đức Thánh chế Luận ngữ thích nghĩa ca, cung kính dịch chính văn Luận ngữ ra quốc âm, theo thể trên 6 dưới 8, mục lục và sách 7 quyển, khắc năm Thành Thái thứ 8.

Tự Đức Ngự chế Tự học giải nghĩa ca, cung kính Thánh chế tự học giải nghĩa diễn theo thể trên 6 dưới 8, khắc năm Thành Thái thứ 7.

Tự Đức Ngự chế Đỗ thi toát yếu, cung kính ngự tuyển tập thơ họ Đỗ, và bình chú thơ họ Đỗ, phê thơ, khen thơ họ Đỗ thành 1 tập, 30 quyển.

Tác phẩm của vua Đồng Khánh

Theo thống kê của Quốc thư thủ sách thì vua Đồng Khánh chỉ có 1 tác phẩm duy nhất là Đồng Khánh ngự chế thi văn. Do vua chỉ ở ngôi được 3 năm từ  (1886 -1888), lại chính là lúc đất nước rối ren, có thể vì thế mà số lượng tác phẩm của vua Đồng Khánh không nhiều.

Đồng Khánh Ngự chế thi văn tập, vâng ghi chép thơ và các trước tác khác, văn 1 quyển, thơ 1 quyển).

Những tác phẩm của vua Khải Định

Khải Định Ngự giá Như Tây kí, vâng ghi chép nghi chú các mục trong chuyến ngự giá Như Tây (sang Pháp), 1 quyển, khắc năm Khải Định thứ 9).

(Khải Định Ngự giá Như Tây thi tập, vâng ghi chép thơ ngự chế từ năm thứ 7 khi qua 60 tỉnh trong chuyến đi Như Tây (Pháp) và cả những sáng tác khi trở về, 1 quyển, khắc năm Khải Định thứ 9).

Mặc dù những thống kê trên chưa đầy đủ về các văn bản trước tác của các hoàng đế đầu triều Nguyễn. Tuy nhiên, qua những thống kê của Cổ học viện, có thể nhận thấy quá trình bảo quản, lưu trữ những thư tịch dưới triều Nguyễn rất cẩn thận, chi tiết. Mỗi loại thư mục đề có ghi ghép, trích yếu nội dung, số biên mục, năm khắc in. Qua đó, khi nghiên cứu về lịch sử thư tịch sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhà nghiên cứu. Hơn nữa, qua những ghi chép thống kê này có thể khẳng định dưới triều Nguyễn số lượng thư tịch và trước tác là rất đồ sộ. Tiếc rằng, ngày nay nhiều bộ thư tịch đã mai một khá nhiều. Vì vậy, qua nghiên cứu và thống kê của Quốc thư thủ sách giúp cho chúng ta biết được kho thư tịch đồ sộ và một nền văn hiến rực rỡ của nước ta dưới thời Nguyễn.

 

Tài liệu tham khảo

1. Quốc thư thủ sách, kí hiệu A. 2601. Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tập 7, (bản dịch năm 2007), Nxb Giáo dục, HN.

3. Minh Mệnh, Ngự chế thi sơ tập, kí hiệu A. 134. Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

 

 

Trai làng Nha Môn

Bùi Đình Sâm

1. Ông Nguyễn Tự Cường (1905 - 1984)

Nguyễn Tự Cường (1905 - 1984) sinh ra trong một gia đình giàu có, được theo học chữ Hán, chữ Pháp và chữ Quốc ngữ khá sớm. Khi phong trào Đông Du phát triển mạnh, nó đã tác động đến tầng lớp thanh niên Nghệ Tĩnh, trong đó có thanh niên làng Nha Môn. Nguyễn Tự Cường là một trong những người con của làng sớm giác ngộ và quyết định xuất dương theo các sĩ phu đương thời. Ông sang Thái Lan hoạt động được một thời gian thì nhận được tin ở quê nhà vợ ông bị bệnh nặng. Ông trở về nhà chăm sóc vợ, nhưng do bệnh tình của vợ quá nặng nên ông đành phải ở lại quê nhà. Mặc dù không trực tiếp hoạt động ở nước ngoài nhưng ông vẫn thường xuyên liên hệ và có những đóng góp nhất định. Ông sinh được 6 người con, 3 trai 3 gái. Các con ông đều thoát ly làm việc nhà nước, trong đó có 1 liệt sĩ chống Mỹ. Ông mất năm 1984, hưởng thọ 79 tuổi.

2. Ông Trần Huy Quán (1911 - 1984)

Trần Huy Quán (1911 - 1984) sinh ra trong một gia đình, anh em, dòng họ Trần Huy khá giả. Ông được gia đình cho ăn học sớm cả về chữ Hán, chữ Pháp và chữ Quốc ngữ. Do ảnh hưởng bởi các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta ở cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, ông sớm giác ngộ cách mạng và tích cực tham gia hoạt động yêu nước sôi nổi. Ông tham gia phong trào xuất dương nhưng bị bắt ở Thái Lan rồi trục xuất về nước và xử tù, tài liệu hiện còn lưu trữ bằng tiếng Pháp tại Bảo tàng Xô Viết Nghệ - Tĩnh(1). Đến năm 1948, ông tham gia quân đội đánh Pháp ở mặt trận Lào. Năm 1956, cải cách ruộng đất, ông có về thăm quê. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông sống, lập gia đình ở Sài Gòn và mất năm 1984, hưởng thọ 74 tuổi.

3. Ông Nguyễn Tư Hồng (1905 - 1984)

Nguyễn Tư Hồng (1905 - 1984), bút hiệu là Đông Tùng và có tên khác là Ký Hồng, Nguyễn Văn Bồng. Ông sinh 15/5/1905 trong một gia đình nhà nho làm thuốc Đông y. Ông thông minh, hiếu động, giỏi tiếng Pháp và tiếng Hán. Ông từng làm thư ký Ca đát (hoạt động về lĩnh vực địa chính) ở Vinh, nên dân làng thường gọi ông là ông Ký Hồng. Năm 21 tuổi (1926), ông được cán bộ của phong trào Đông Du giác ngộ, ông đã cùng nhiều thanh niên khác vượt Trường Sơn sang Lào, qua Thái Lan, vượt biển sang Hương Cảng, đến Quảng Châu là trụ sở Tổng hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Tại đây, ông theo học và tốt nghiệp các lớp chính trị, lớp sĩ quan quân báo trường võ bị Hoàng Phố (có giấy sao chứng nhận của Hội ái hữu Sài Gòn). Sau đó, trở lại Thái Lan hoạt động và đến tháng 1/1935 Chính phủ Thái bắt ông giao cho chính quyền Pháp ở Đông Dương, rồi chúng đưa ông về giam tại nhà lao Vinh. Một thời gian sau chúng lại đưa ông đi đày ở Ban Mê Thuật…

Trước năm 1947, gia đình ông sống ở Vinh. Sau tiêu thổ kháng chiến năm đó, gia đình ông về quê làng Nha Môn sinh sống. Thời gian này ông hoạt động trong ngành an ninh. Ông đã tích cực hoạt động và có đóng góp trong sự nghiệp bảo vệ an ninh của tỉnh Nghệ An. Sau 1954, ông được tổ chức cử vào Nam hoạt động và tham gia nhiều lĩnh vực, nhất là nghiên cứu văn hóa, lịch sử. Trong thời gian ông hoạt động ở miền Nam, gia đình ông được sự quan tâm của chính quyền, ngành an ninh, nên gia đình được cấp sổ gạo và các chế độ, các con của ông đều được đi học, học giỏi, tốt nghiệp đại học. Ông có 6 người con, 2 gái, 4 trai, trong đó có 3 con trai đi bộ đội. Gia đình ông được Nhà nước tặng thưởng "Bảng vàng danh dự". Giải phóng miền Nam 1975, ông là hội viên Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh; Thư ký Hội đông y thành phố… Đầu năm 1977, ông ra Hà Nội và được giới thiệu về giúp việc nghiên cứu lịch sử tại Ban nghiên cứu lịch sử của Tỉnh ủy Nghệ An. Sau ba năm, do tuổi cao sức yếu ông xin về nghỉ tại quê nhà và mất ngày 18/ 02/ 1984, hưởng thọ 79 tuổi.

Bên cạnh những con người xuất dương, làng Nha Môn còn có nhiều Đảng viên lão thành và cán bộ tiền khởi nghĩa. Nay các ông đã về nơi vĩnh hằng nhưng tên tuổi các ông vẫn sống mãi với dân làng Nha Môn và Đảng bộ xã Hồng Long. Một số cán bộ đảng viên tiêu biểu: Nguyễn Khắc Phạn, Bùi Văn Điều, Trần Văn Cát, Nguyễn Văn Hiếu (còn gọi ông Hiếu Trì); Nguyễn Khắc Danh; Nguyễn Khắc Oanh (em ruột cụ Danh), Nguyễn Khắc Trinh, Vương Đình Vinh và Vương Đình Dinh (gọi Vương Đình Vinh là chú ruột). Trong các ông nói trên, trường hợp ông Vương Đình Dinh là một trường hợp đặc biệt. Ông Vương Đình Dinh (1920 - 2000), sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo nhưng được bố mẹ cho ăn học khá chu đáo cả tiếng Hán, tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ, ông Dinh sớm giác ngộ cách mạng và tham gia hoạt động yêu nước. Ông Vương Đình Dinh vào ngành an ninh và được tổ chức của ta chấp nhận. Ông hoạt động bí mật trong lòng địch. Khi khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945, ông tham gia ở tỉnh Bình Định. Trong vụ án phản động ở Nghệ An 1950 kết thúc, nhiều tên phản động bị kết án tù, trong đó có ông Vương Đình Dinh với án 8 năm tù. Sau 1954, ông Dinh tiếp tục vào Nam hoạt động, do bị lộ, ông quay ra Bắc và hoạt động trong ngành công an phía Bắc vĩ tuyến 17, Vĩnh Linh, Quảng Trị. Năm 1968, ông phụ trách đồng bào Vinh Linh, Quảng Trị ra Bắc tại Tân Kỳ, Nghệ An. Đến năm 1975, ông được nghỉ hưu, nhưng vẫn chưa được công nhận cán bộ tiền khởi nghĩa. Lúc ông còn sống đã làm rất nhiều hồ sơ đề nghị xét công nhận, có các cụ lão thành cách mạng cùng hoạt động và sinh hoạt Đảng hồi đó còn sống chứng kiến, như cụ Hoàng Nghĩa Duy, nguyên là Viện trưởng Viện Kiểm sát Nghệ - Tĩnh và cụ Nguyễn Văn Đồng cán bộ lão thành cách mạng ở Nam Tân, Nam Đàn xác nhận, nhưng vẫn không được công nhận, vì thiếu cuốn lý lịch gốc cán bộ. Mãi đến năm 1998, ông 78 tuổi, công việc đề nghị vẫn tiếp tục. Rất may ở Thừa Thiên Huế, tổ chức của ta còn lưu giữ cuốn lý lịch gốc này. Cuối cùng ông được xác nhận là cán bộ tiền khởi nghĩa (số 208 - XN/TU của Tỉnh ủy Nghệ An, ngày 27/8/1998).

Làng Nha Môn bây giờ đã khởi sắc, nhưng vẫn đậm nét xưa. Trai làng Nha Môn ngày xưa là thế và truyền thống ấy ngày nay lại được nhân lên gấp bội. Những người con làng Nha Môn luôn tự hào và biết ơn sâu sắc các thế hệ cha ông trước đây và quyết tâm đem hết sức mình góp phần xây dựng quê hương Nha Môn, Hồng Long ngày càng giàu đẹp, văn minh.

 

Chú thích

1. Xem Hồ sơ số 1.236 / Gy: 576; 6629/CN.MT.C; F.1954.                               

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.