« Quay lại

Chuyên san Khoa học xã hội &nhân văn số 9 năm 2018

Trần Nhân Thiện

Lúc vâng lệnh vua Thái Đức là Nguyễn Nhạc ra đánh chiếm xong Phú Xuân từ tay họ Trịnh (1784), Nguyễn Huệ cũng chỉ với chức quan là Long nhương tướng quân do hoàng huynh ban. Sang năm Bính Ngọ (1786) Nguyễn Huệ ra Bắc xóa bỏ phủ chúa, tập trung quyền hành cho vua Lê. Khi ngài đã làm xong việc ấy thì Nguyễn Nhạc cũng đi ra. Đoạn, hai anh em cùng về Nam. Bấy giờ Nguyễn Nhạc tự xưng là Trung Ương hoàng đế, đô ở Quy Nhơn, phong Nguyễn Lữ làm Đông Định vương, đô ở Gia Định và Nguyễn Huệ làm Bắc Bình vương, đô ở Phú Xuân (quản lĩnh miền đất từ Hải Vân ra đến sông Gianh).

Sau đó, giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ có xẩy ra sự bất hòa. Nhưng việc cũng mau dàn xếp xong(1), bởi trong tư tưởng, Bắc Bình vương vốn không có ý đồ làm vua(2). Rồi, Bắc Bình vương về lại Phú Xuân và chỉ muốn bờ cõi của nhà Tây Sơn là từ sông Gianh trở vào. Song, cũng sau chuyến đi ra Bắc dịp nọ ngài mới nhận ra, tình hình ở Bắc Hà là chưa thể yên. Thể hiện ở chỗ lúc ngài đang bận việc ở Quy Nhơn thì Nguyễn Hữu Chỉnh, sau khi tụ tập được một số quân binh, đã kéo ra Thăng Long lộng hành, muốn thay quyền chúa Trịnh như cũ. Rồi Vũ Văn Nhậm được phái ra trị tội Chỉnh, đoạn y lại dẫm lên vết xe đổ ấy, khiến Bắc Bình vương phải thêm một chuyến Bắc hành để trừ khử Nhậm và thêm một bước, chấn chỉnh lại triều Lê. Còn vị vua mới được lập lên là Chiêu Thống thì không tin vào nhà Tây Sơn và dân nước nên đã cùng Thái hậu chạy sang cầu cứu nhà Thanh khi mà hoàng đế Càn Long ở bên đó đang chờ cơ hội. Tại đất Gia Định, Nguyễn Ánh vẫn ra sức khôi phục vương quyền của tông tộc mình và người Pháp đang tìm cớ "đòi món nợ" mà Bá-đa-lộc đã thay quyền chúa Nguyễn có Hoàng tử Cảnh đi theo làm con tin, ký với họ năm 1787(3). Như vậy, với hoàn cảnh của Bắc Bình vương lúc bấy giờ, mỗi khi có việc phải tiến quân ra Thăng Long thì từ Phú Xuân đến Bắc đèo Ngang, hình thế núi, sông đã thật là hiểm trở nên vương muốn chọn một nơi nào đó ở Nghệ An để đóng đô. Điều ấy đã được ngài bày tỏ cả về lòng ủy thác công việc trong Chiếu gửi La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp lần đầu tiên vào năm 1787. Mà ý định ấy của Bắc Bình vương vào lúc đó cũng không phải dễ dàng được Nguyễn Thiếp vâng theo vì Phu tử một mực giữ lòng trung với nhà Lê. Tuy nhiên, việc làm chính nghĩa của Bắc Bình vương ngày càng sáng tỏ, rồi qua những biến động ở Bắc Hà, đoạn vua Lê sang cầu cứu nhà Thanh hòng đánh lại phong trào nông dân thì ngài hết hy vọng ở triều xưa nên chịu xuống núi giúp ý kiến về chiến trận và tìm vị trí tại Nghệ An để Bắc Bình vương đóng đô; cũng như sau khi Hoàng đế Quang Trung băng hà thì Phu tử vẫn giúp vua Quang Toản.

Thuyết phục được bậc Phu tử vốn ôm mối "cô trung" với nhà Lê như vậy thuở bấy giờ,  Hoàng đế Quang Trung (kể từ buổi mới là Bắc Bình vương) đã tỏ rõ một phần là Thiên tài quân sự của thời đại.

Còn với Nghệ An, ta hãy phác lại bản đồ về địa thế núi sông của miền đất nơi đây để thấy rõ phần nào ở tầm nhìn rất thức thời về nơi đóng đô của vị Hoàng đế xuất thân là "Áo vải, cờ đào" thuở ấy.

Hãy bắt đầu từ núi Đại Huệ, nơi vua Hồ Quý Ly cho con là Hồ Nguyên Trừng vào chốt giữ khi quân Minh lăm le sang xâm chiếm Đại Việt. Nơi này, sách "Nghệ An ký" viết như sau: "Đại Huệ sơn, nhất điều vị Quỳ Châu lai mạch chi chỉ, đông hạ xuất hải vi Song Ngư đảo. Đại Huệ chi bắc hữu Cương Giang tây lưu chuyển nhập Lam Giang. Đại Huệ chi nam hữu Nộn Hồ đông lưu chuyển nam nhập Lam Giang. Lam Giang nhất đái tòng tây bắc xu nam, tòng nam quy đông bắc, đương tiền quýnh bão giang nam Thiên Nhẫn Sơn. Tây lai tác án kỳ gian cao bình sảng xu. Nộn Liễu, Chung Cự, Tự Trì, Dương Xá chư tinh phong thác lạc phân bố. Thử Nghệ An chi tối trung dã". 大 惠 山 一 條 葵 州 来 脉 之 止, 東 下 出 海 雙 鱼 島.大惠 之 北 有 岗 江 西 流 轉 南 入 蓝 江.大 惠 之 南 有 嫩 湖, 東 流 轉 南 入 蓝 江.蓝 江一 带 從 西 北 趣 南 從 南 帰 東 北.當 前 迥 枹 江 南 千 仞 山.西 来 作 案 其 间 高 平 夹 墟. 嫩 柳 鍾 巨 自 持 杨 舍 諸 星 峰 错 落 分 布, 此 乂 安 之 最 中 也: "Đại Huệ là nhánh tận cùng mà mạch là từ đất phủ Quỳ Châu tỏa về. Phía Đông, núi đi ra biển thành đảo Song Ngư, phía Tây Bắc Đại Huệ có sông Cương (địa phương gọi là Rào Gang). Sông Cương chảy theo hướng Tây rồi chuyển sang Nam mà đổ vào sông Lam. Phía Nam núi Đại Huệ có Nộn Hồ (Hồ Nón) chảy về Đông rồi cũng chuyển sang Nam mà đổ vào Lam Giang. Phía Nam (của nơi ấy) cách bờ sông Lam một quãng là vùng núi Thiên Nhẫn từ phía Tây kéo đến, án ngự; (còn) những núi ở các xã Nộn Liễu, Chung Cự, Tự Trì xuống Dương Xá (đất Hưng Nguyên) thì được phân bố rải rác ở trên cả địa bàn Đông và Tây của con sông (cũng là hồ) Nộn ấy. Đó thật là nơi trung tâm đất Nghệ"(4).    

Ấy là trung tâm về địa thế ở vùng đồng bằng và châu tuần về nơi đó, từ phía Tây Nam, ta phải kể thêm núi Lam Thành.

Sách "Nghệ An ký" ghi (phần đầu): "Lam Thành Sơn tại Hưng Nguyên, Phú Điền xã, cổ xưng Đồng Trụ Sơn, nhất danh Tuyên Nghĩa Sơn, hựu danh Hùng Sơn. Bình nguyên đột khởi nhất điều tuấn bạt hùng vĩ, trung nhất đính hữu Minh Trương Phụ Thành. Đính thượng sáp kỳ khảm. Tương truyền cổ Đồng Trụ xứ. Sơn bán hữu Tuyên Nghĩa miếu... Sơn hạ hữu An Quốc tự. Trần Trùng Quang đế thời, La Sơn Nguyễn Ngự sử Công Biểu phụng cầu phong, tử tiết vu thử... Đăng sơn diểu vọng tắc tây chi Hùng Lĩnh, Đại Huệ chư sơn; bắc chi Đại Hải, La Nham chư sơn, Nam chi Thiên Nhẫn, Hồng Lĩnh chư sơn; đông chi Kim Nguyên, Dũng Quyết chư sơn, giai tại củng tập, giang quang thụ thúy, cận phố giao thôn, phong cảnh như họa. Thị Nghệ An đại danh thắng...". 蓝 城 山 在 興 元 富 田 社, 古 称 铜 住 山 ,一 名 宣 義 山,又 名 熊 山.平 原  突 起 一 條 峻 拔 雄 伟. 中 一 顶 有 明 张 辅 城.顶 上 称 旗 坎 相 傳 古铜 住 处.山半 有 宣 義 廟...  山 下 有 安 国 寺. 陈 重 光 帝 时, 羅 山 阮 御 史 公 表 奉 求 封,  節 于 此...登山 眺 望,则 西 雄 嶺 大 惠 諸 山,北 之 大 海 羅 岩 諸 山;南 之 千 刃 鸿 嶺 諸 山.東 之 金 源,勇 决 諸 山,皆 在 拱 揖.江光 樹 翠,近 浦 遥 村,风 景 如, 是 乂 安 大 名 胜..."Núi Lam Thành ở xã Phú Điền, huyện Hưng Nguyên, xưa gọi là núi Đồng Trụ, lại có tên là núi Tuyên Nghĩa và Hùng Sơn (núi Gấu). Núi cao lớn, hùng vĩ đột xuất nổi lên giữa đồng bằng. Trong đó, một ngọn có thành của Trương Phụ nhà Minh. Trên đỉnh có lỗ cắm cờ. Tương truyền ấy là chỗ ngày xưa (quân nhà Hán) dựng Cột Đồng. Ở lưng chừng núi có miếu Tuyên Nghĩa(5). Chân núi có chùa An Quốc. Thời vua Trùng Quang nhà Trần (1409 - 1413), quan Ngự sử Nguyễn Biểu, người huyện La Sơn vâng mệnh đi sứ cầu phong, tử tiết ở nơi này... Lên núi trông xa thì thấy phía Tây có Hùng Lĩnh và núi Đại Huệ, phía Bắc có núi Đại Hải và núi La Nham, phía Nam có núi Thiên Nhẫn và núi Hồng Lĩnh. Phía Đông có núi Kim Nguyên và núi Dũng Quyết, tất cả đều chầu về núi này. Cây xanh, nước biếc, phố gần, thôn xa, phong cảnh như vẽ. Thật là một nơi đại danh thắng của Nghệ An". 

Rồi, ta hãy trở lại với dải Đại Huệ - Đại Hải - Thai Phong và Đầu Cân sơn để nhận rõ thêm sự châu tuần của núi sông về nơi Dũng Quyết.

Về Đại Huệ, ở sách "Nghệ An ký" phần viết riêng về núi này có đoạn:

"Đại Huệ sơn tại Nam Đường, Nộn Liễu xã, Nam Đường chi đại sơn dã, bắc vọng Đại Hoạch, đông liên Đại Bàn, Đại Tứ, Đại Hải tối chỉ Thăng Thiên động. Động phúc hữu Hồ Vương Đại Tuệ tự. Tự tả hữu tuyền nhạn vi Thạch Tỉnh sơn yêu, trà, mính thương thúy khả ngoạn, phủ hám Nộn Hồ. Hồ nam vi Nộn Liễu, Lâm Thịnh nhị tổng, dân cư bình khoáng, như kỳ bàn. Anh Duệ, Dương Chung chư phong thố lạc như kỳ tử. Hùng Lĩnh trĩ kỳ hữu, Lam Thành Sơn trĩ kỳ tả, Cương Giang, Nộn Xuyên triển nhiễu kỳ Tây, Đông. Tiền vọng Lam Giang nhất điều viên bão, phàm tường luân trại, duyên hối vãng lai ư hiểu hạ mộ yên gian. Giang nam Thiên Nhẫn sơn, bài thanh hiến tú, cận tại cung tập, thực Nghệ An đại danh thắng. Thanh Trì Búi Chấp Chính công đăng Sài sơn (6) Đại Tuệ thi vân:

Thiên tranh liệt chướng hồn nghi dực

Địa chiết trường giang lược tự câu.

Khứ lộ nha điều tăng hiệp hổ

Quy tiên khiêu thái mục tuần ngưu"...

之大 山也.北 望 大 镬.東 联 大盤 大驷 大 海 最 旨昇天峝.峝 腹 有 胡 王 大慧 寺.寺 左有泉 涯 石井山 腰.茶 茗 蒼 翠 可 玩 俯 憾 嫩 湖.湖 南 嫩 柳 林 城 盛 二 总. 民居 平 旷,如 棋 砧.英 锐 杨 鍾 諸 峰 错 洛 如 棋子. 雄 嶺 峙 其 又. 蓝 城山 峙 其 左 岡 江 嫩 川 纏 绕 其 西 東,前 望 蓝 江 一 條 圜枹.帆 樯 轮 霅 沿 泅 往 來 於 皢 霞 木暮烟 間.江南千刃山 排 青 献秀 近 在 拱 輯, 寔 乂安 一 大 名 胜. 青 池 裴執 政 公 登 柴 山 大 惠 詩云:

天挣 列 障 浑 疑 翼

地折 长 江 略 自 钩

去 路 穿 條 僧 侠 虎

帰 鞭 挑 菜 牧 燻 牛.

Lời dịch: "Núi Đại Huệ ở xã Nộn Liễu, huyện Nam Đường, là núi lớn trong huyện. Phía Bắc trông sang núi Đại Hoạch, phía Đông liền với các núi Đại Bàn, Đại Tứ và Đại Hải. Trên đỉnh có động Thăng Thiên, trong động có chùa Hồ Vương Đại Tuệ. Bên trái chùa có một ngọn suối, chảy thành giếng đá, sườn núi chè trồng xanh tốt, rất đáng ngoạn thưởng. Chân núi có Hồ Nón (Nộn Hồ). Phía Nam hồ là hai tổng Nộn Liễu và Lâm Thịnh, địa thế cư trú bằng phẳng vuông vắn như bàn cờ. Các ngọn Anh Nhuệ và Dương Chung đứng rải rác như quân cờ. Núi Hồng Lĩnh đứng đối trĩ bên phải, núi Lam Thành bên trái. Sông Gang và sông Nộn chảy quanh phía Đông và phía Tây. Mặt trước nhìn ra sông Lam bao quanh một dải. Thuyền bè, xe ngựa ngược xuôi trong cảnh nắng sớm, mù chiều. Phía Nam sông có núi Thiên Nhẫn phô xanh, bày đẹp gần như vái chào. Thật là một đại danh thắng của Nghệ An.

Quan trấn Bùi (Huy Bích), người Thanh Trì (tỉnh Hà Đông, khi nhậm trị ở Nghệ An), lên thăm chùa trên núi này có thơ:

... Trời chăng rặng núi như xòe cánh,

Đất uốn dòng sông tựa móc câu.

Lối cũ ngõ xuyên sư bỡn hổ,

Đường về roi phất, trẻ giong trâu..."(7).

Trên núi Đại Huệ (nay thuộc xã Nam Anh, Nam Đàn) còn có dấu tích về một dãy thành cổ (xếp bằng đá). Dân gian kể lại, thành vốn do vua Hồ Hán Thương (1401-1407) theo lệnh phụ hoàng vào đây đắp, nhằm để chặn quân Minh. Núi Đại Huệ chạy về phía Đông Bắc tạo thành ngọn Đại Hải. Vẫn lai lịch về tổ quán của nhà Tây Sơn, "Nghệ An ký" viết tiếp:

"Đại Hải sơn tại Hưng Nguyên, Hương Cái xã, Hưng Nguyên chi trấn sơn dã, tòng Đại Huệ lai, liên lụ đông hạ chí thử hốt chỉ. Cao đại, tề chỉnh, vọng chi như bình. Đông cự Ngư Hải ngũ thập lý. Kỳ gian vi Chân Phúc huyện lỵ chi địa...  Do tang thương biến di, cố thử sơn hữu Đại Hải chi danh... Sơn nam hạ thị Thai Phong... Tại Thái Lão xã thị Tây Sơn Nguyễn Nhạc tổ quán. Nhạc tự ngôn kỳ tứ thế tổ lưu ngụ vu Quy Nhân phủ, Phù Ly huyện, Tây Sơn trại... 大 海 山 在 興 元, 香 盖 社, 興 元 之 鎮 山也, 從 大 惠 来, 联 路 東 下 至 此 忽 止. 高 大 齐 正, 望 之 如 屏, 東 距 鱼 海 可 五 十 里. 其 間 真 福 縣 蒞 之 地...由 桑 滄 变 移, 故 此 山 有 大 海 之 名... 山 南 下 是 台 峰... 在 蔡 老 社, 是 西 山 阮 岳 祖 贯. 岳 自言 其 四 世 祖 流 庽 于 帰 仁 府, 符 離 縣, 西 山 寨... ".

Lời dịch: "Núi Đại Hải ở xã Hương Cái, huyện Hưng Nguyên, là núi đứng trấn trong huyện. Mạch từ núi Đại Huệ lại rồi liên lũ xuống phía Đông, đến đó bỗng dừng lại. Dáng núi cao lớn, ngay ngắn trông như bức bình phong. Phía Đông cách biển Hòn Ngư độ năm, sáu mươi dặm. Ấy là chỗ hồi xưa đặt lỵ sở của huyện Chân Phúc... Bởi cảnh bể dâu đổi thay như thế nên núi ấy có tên gọi là Đại Hải (Biển Lớn). Phía Nam đi xuống là núi Thai Phong thuộc xã Thái Lão. Đó là quê quán của tổ tiên Tây Sơn Nguyễn Nhạc. Ngài tự cho: Ông tổ bốn đời của mình (từ đó) lưu ngụ ở trại Tây Sơn, huyện Phù Ly, phủ Quy Nhơn (tỉnh Bình Định)".

Dõi về đất tổ buổi ban sơ của dòng họ Nguyễn Tây Sơn thì như trên kia đã trình bày, vị thủy tổ là Hồ Hưng Dật đến và chốt giữ đất Ngũ Bàu (Quỳnh Lưu). Đến triều Hồ, vua Hán Thương đã cho xây dựng đền miếu tại đấy để thờ tự. Sách "Nghệ An ký" cũng trình bày về cái nhìn của anh em Nguyễn Huệ thuở ấy:

"Bào Giang sơn tại Quỳnh Lưu Bào Giang xã chi đại sơn dã, tòng Kê Qua Sơn đông hạ. Hình thế hiểm trở... cựu hữu Hồ Vương miếu tại sơn lĩnh. Sử ký: Hồ Hán Thương Khai Đại nguyên niên sáng Linh Nguyên Bào Đột chư lăng tẩm, dĩ phụng tiên tổ. 泡 江 山 在 琼 瓊 溜 泡 江 社 之 大 山 也, 從 冠 山 東 下.形 势 深 阻...旧 有 胡 王 庙 在 山 嶺.史 记:胡 汉 篬 開 大 元 年 创 霊 源 泡 突 諸 陵 寝 庙,以 奉 先 祖".

Lời dịch: "Bào Giang là dãy núi lớn ở  xã Bào Giang, huyện Quỳnh Lưu. Núi ấy từ dãy Kê Quan (Mồng Gà) chạy xuống phía Đông, hình thế hiểm trở... Ngày xưa có miếu Hồ Vương ở trên đỉnh. Sách "Sử ký" chép: Vua Hồ Hán Thương, Khai Đại năm đầu cho xây các lăng tẩm, đền miếu ở Bào Đột để phụng thờ tiên tổ".      

Từ Bào Đột nhìn về phía Tây Đông là miền Mộ Dạ Sơn ăn ra sát biển. Nơi cuối cùng của sơn mạch ấy (giáp với biển Nghi Lộc) có một khối núi như là cột đá đứng trơ vơ nơi cát mặn sóng dồi. Nhân gian gọi đó là núi Đầu Cân (投 巾 山), tức khối đá để gieo khăn. Đó là nơi mang tích truyện về vua Thục An Dương Vương (hồi thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên). Khi vì vô ý trao Nỏ thần cho con rể là Trọng Thủy rồi bị chàng phản bội mà giặc phương Bắc sang cướp nước thì ngài cùng con gái lên ngựa, chạy vào trong này. Đến chỗ ấy coi như cùng đường, An Dương Vương liền lấy chiếc khăn vốn để làm hiệu ném lên khối đá kia rồi cho ngựa phi ra biển, cùng con gái trẫm mình. Từ đó, khối đá được mang tên là núi Đầu Cân(8). Về sau nhân dân địa phương đã xây đền, là nơi thờ Thục An Dương Vương đầu tiên tại Nghệ An ở dưới chân khối núi ấy. Nơi đó, nhìn về Nam, cách đảo Song Ngư không xa.

Núi Đầu Cân cũng như Lô Sơn (爐山) tức Rú Lò ở biển Ngư Hải, đều đứng án ngự bên bờ biển như làm các vị trí tiền tiêu cho đỉnh cao Dũng Quyết.

Ta đã điểm qua núi non ở cả bốn phương để nhìn lại Dũng Quyết Sơn, nơi Hoàng đế Quang Trung cho xây Phượng Hoàng Trung Đô. Sách "Nghệ An ký" viết về núi này:

"Dũng Quyết sơn tại Chân Lộc, Dũng Quyết xã, tòng Đại Hải Sơn lai. Bình Dương đột khỉ phủ hám Yên Lạc giang độ. Sơn nam hữu động. Động khẩu hữu Sơn Quang tự. Sơn tây xuất nhất phong tuyệt tiêu Ngọc Thỏ, tục viết Miêu Nhi Phong. Sơn đính nhất phương thạch đắng bình thản. Thanh Trì Bùi Chấp chính công Dũng Quyết sơn xuân vọng, vân:

Vọng lâu thạch tích bình hoa đắng

Tiên động cầm thanh cấu thảo lư

Tinh hoàn vị cùng thiên hải thú

Long Xuyên diểu diểu Hội, Song Ngư.

  , 社,從 . . . , 西 , . 嵿 . , :

...                 

         

         

          " .

Lời dịch:

"Núi Dũng Quyết ở xã Dũng Quyết, huyện Chân Lộc(9). Mạch từ núi Đại Hải chạy xuống đồng bằng rồi đột khởi, nổi cao mà trông xuống bến sông Yên Lạc. Phía Nam núi có động, cửa động có chùa Sơn Quang. Phía Tây núi có một ngọn nhỏ giống hình con thỏ, tục gọi là ngọn Con Mèo (Miêu Nhi phong)(10). Trên núi có một tảng đá vuông vắn, bằng phẳng. Quan Hiệp trấn Nghệ An Bùi Huy Bích khi chơi xuân ở núi này đã làm thơ (Mai Xuân Hải dịch):   

... Vọng lâu thềm đá hoa lồng

Mái tranh dựng giữa bâng khuâng tiên đàn.

Ngắm nhìn trời biển mênh mang,

Long Xuyên bát ngát tận đàn Song Ngư".   

Đấy là chưa nói đến cái hình thế, dưới chân núi là dòng sông Lam thông ra biển lớn, cách chỉ mấy "ngọn sào". Thật là chốn đắc địa để xây kinh thành dã chiến, nhằm lo việc thống nhất giang sơn thuở bấy giờ. 

Nhìn lại tình cảnh đất nước hồi cuối thế kỷ XVIII, ta thấy chủ trương của Nguyễn Huệ khi còn là Bắc Bình vương về việc chọn núi Quyết để đóng đô là trong sáng và có tầm chiến lược cao nên đã tranh thủ được sự đồng tình của cả các bậc đại thần, giới nho sĩ trí thức. Nhờ vậy, kinh đô Phượng Hoàng đã được xây dựng một cách khẩn trương và nhà vua cũng đã dành nhiều thì giờ để lưu lại ở nơi này.

Nhớ là, vào thời gian ấy vua nhà Thanh lại ban Sắc và cả làm thơ gửi cho Hoàng đế Quang Trung, giao Phúc An Khang (Tổng đốc Lưỡng Quảng) đem sang Thăng Long ban tặng. Nên mùa Thu năm Kỷ Dậu (1788), vua Quang Trung viết thư cho Phúc, nói: "Tháng Bảy, tiểu phiên (lời tự xưng nhún nhường) từ Thăng Long về địa phương Nghệ An xây dựng tiểu ấp, (nhưng) việc đắp thành sẽ hoãn lại mà sửa soạn ra Thăng Long để đón sắc phong và ngự thi. Tuy nhiên, việc khó xẩy ra cho thần là ra đến Đông Thành thì bị cảm phong sương, mắc chứng thương hàn... Mà tại Nghệ An thì đài, điện chưa xây xong khiến thần phải tạm ở lại thành này để chữa bệnh... ".

Sách "La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn" viết: "Tuy rằng vua Quang Trung thường đặt chuyện để dối vua Thanh nhưng chuyện cuối tháng Bảy ngài ra Nghệ An, cuối tháng Tám năm ấy (1788) về Phú Xuân là chuyện có thực"(10).

Trong Chiếu gửi La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp đề: "Quang Trung năm thứ hai, ngày 5, tháng Mười (1789) ", nhà vua viết: "Trẫm kim đô tại Nghệ An, dữ Tiên sinh mật nhĩ, hành thả tương trợ vi lý". 今都 在乂 行且相 助为理. "Trẫm nay đóng đô tại Nghệ An, cùng Tiên sinh gần gũi. Rồi đây Tiên sinh hãy ra mà giúp nhau để trị nước "(11).

Tiếc là triều đại Quang Trung quá ngắn ngủi, nhưng chủ trương của vị hoàng đế xuất thân từ "áo vải" trên đất Nghệ An, với việc cho chuyển tỉnh thành từ Phù Thạch ra Vĩnh Doanh và xây Phượng Hoàng Trung Đô tại núi Quyết là những công tích mở ra một thời đại mới cho doanh trấn thuộc vùng Hồng Lĩnh - Lam Giang, để nơi này, từ thuở bấy giờ thêm thành là một điểm tựa chiến lược quan trọng của đất nước.

 

Chú thích

(1) Trần Trọng Kim viết trong "Việt Nam sử lược", Nxb. Văn hóa - Thông tin Hà Nội. 1999, tr.390 rằng: "Được ít lâu (tức sau khi phân định vùng đất cho mỗi người quản lĩnh), Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ có chuyện hiềm khích với nhau, Nguyễn Huệ đem binh vào đánh vây thành Quy Nhơn, ngặt đến nỗi Nguyễn Nhạc phải lên thành mà kêu khóc, gọi Nguyễn Huệ mà bảo rằng: Nỡ lòng nào nồi da nấu thịt!". Chuyện có lẽ bắt nguồn từ chỗ Nguyễn Huệ sau khi lấy xong Phú Xuân thì đã ra Thăng Long làm các công việc như đã nói mà Nguyễn Nhạc thì không thấy hết sứ mệnh lịch sử của em mình ở chuyến đi ấy.

(2). Sau này, trong Chiếu gửi La Sơn Phu tử đề ngày Ba tháng Chín năm Mậu Thân (1788) Nguyễn Huệ vẫn lấy niên hiệu là "Thái đức" và ngài viết: "Cổ vân: Dư vô lạc hồ vi quân, Quả cung thành bất dĩ Nam diện vi lạc (古 云:予 無 楽 乎 .寡 宫 诚 不 以 南 面 楽)". Có nghĩa là: "Người (tức các vị hoàng đế) xưa nói: Ta chẳng coi việc giữ ngôi vua làm niềm vui... Quả cung với lòng thành cũng không lấy việc ở ngôi làm chuyện sung sướng". Về tên húy của Phu tử, đúng ra, phải đọc là Nguyễn Thiệp (阮 渉)  nhưng thường thì cứ viết là Nguyễn Thiếp; cũng như tên tự của ngài là Khải Xuyên thì chính là Khải Chuyên (啓 磚). Có lẽ đó là cách gọi tránh húy của dân gian rồi các sách lúc bấy giờ cũng viết như vậy. Tờ Chiếu chính thức (lần đầu) mà Bắc Bình vương gửi Phu tử ấy vẫn lấy đế hiệu của Nguyễn Nhạc nên đề ngày: "Thái Đức năm thứ 11, Mậu Thân (1788), tháng Sáu, ngày Mồng một".

(3). Tức bản thỏa thuận với các điều ước: triều đình Pháp nhận giúp Nguyễn Ánh về lính lấy từ thuộc địa ở châu Phi (Cafres) và nhiều súng đạn (để Nguyễn vương đánh quân Tây Sơn). Đổi lại, Nguyễn vương phải nhường cho nước Pháp cửa bể Hội An, đảo Côn Lôn và để cho riêng người Pháp được tự do ra vào buôn bán ở An Nam. Rồi khi nước Pháp cần lính người Việt thì Nguyễn vương phải cung cấp...!

(4). Phần trình bày về núi, sông chỗ này lấy ở sách "Nghệ An ký", dịch giả là Nguyễn Thị Thảo, mà bản chữ Hán là tại tr.52 và chúng tôi phiên âm ra tiếng Việt. Về các núi Đại Huệ, Thai Phong ta sẽ còn đề cập đến ở phần sau.

(5). Về nguyên tác, bản vi tính chữ Hán và lời dịch ở đoạn này thì cũng như điểm chú thích mà chúng tôi đã ghi về vùng núi trong đó có ngọn Đại Huệ ở trang trên. Xin có vài nét chú thích thêm ở điểm này: "Mộc Bất Bạt" chắc là Mộc Thạnh, tướng nhà Minh , tương truyền y đã cho dựng lại Cột đồng (vốn có từ thời Đông Hán), nên Lam Thành Sơn cũng được gọi là núi Đồng Trụ. Núi này còn có tên là núi Con Gấu. ("Ngận Sơn", do chữ "Hùng" () cũng hiểu là con gấu). Về miếu Tuyên Nghĩa ở trên núi, có thuyết cho đó là nơi thờ một tướng Tàu tên là Thái Phúc, vốn đóng quân tại đó. Ông ấy nghe lời kêu gọi của nghĩa quân Lam Sơn (1418-1428) mà ra hàng. Rồi ông bị vua Minh xử tội chết. Về sau vua Lê Thái tổ cho dựng miếu lấy tên là "Tuyên nghĩa" (nói rõ về lẽ phải), thờ ông tại đấy.

(6). Sài sơn: Ngọn núi, nơi cho củi, cho cỏ.

(7). Phần trích, và phiên âm, vi tính chữ Hán như đã nói ở chú thích về núi Lam Thành. Lời dịch bốn câu thơ trên là của Đỗ Ngọc Toại.

(8) Đầu Cân Sơn (投巾山) ở đây, cũng có nghĩa như Thác Đao Điền (托 刀 田 - ruộng ném dao) tức thái ấp được phong vào đầu thời nhà Lý.

(9). Chân Lộc là tên huyện có từ thời Lê. Sau này người ta tách phần bên hữu ngạn sông lập thành huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh).

(10,11). La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr.1055, 1058.

 

Hồng Phú

 

Hiện nay, quá trình đô thị hóa và hiện đại ở Vinh đang ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc. Nó không chỉ diễn ra trong nội thị và vùng lân cận mà ngày càng lan rộng ra khu vực nông thôn. Quá trình đô thị hóa tạo ra nhiều thành quả đáng kể, nhưng nó cũng làm cho nhiều người lo ngại và phải xem xét lại lịch sử của vấn đề này ở thành phố Vinh. Vinh và cả Nghệ An là vùng lịch sử văn hóa lâu đời. Nhưng Vinh trở thành một đô thị sầm uất thì có lẽ còn chưa quá xa trong lịch sử. Quá trình đô thị hóa ở Vinh bắt đầu từ thời điểm nào thì vẫn còn chưa thống nhất, nhưng nó không quá xa xôi như nhiều người vẫn nghĩ. Trong đó, thời Pháp thuộc là giai đoạn quan trọng mang tính bản lề cho quá trình đô thị hóa ở Vinh. Để có cái nhìn sâu sắc hơn về giai đoạn này, bài viết muốn đưa ra một vài ý kiến thảo luận thêm về quá trình đô thị hóa và sự hình thành tầng lớp thị dân ở Vinh thời Pháp thuộc. Nó có thể góp phần vào việc nhìn nhận lại lịch sử văn hóa  Vinh cũng như việc nhận thức và hoạch định chiến lược phát triển thành Vinh thành một trung tâm kinh tế lớn mạnh của khu vực mà Đảng, Chính phủ và lãnh đạo địa phương đang mong muốn.

1. Quá trình đô thị hóa ở Vinh thời Pháp thuộc

Đô thị hóa (Urbanization) là một quy luật phổ biến trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đặc điểm và tốc độ của quá trình đô thị hóa ở mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau tùy thuộc vào các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa. Và những nhận thức về quá trình đô thị hóa cũng không giống nhau. Các nhà xã hội học xem quá trình đô thị hóa là một khái niệm được dùng với ba nghĩa khác nhau: 1). Chỉ sự tăng trưởng nhanh chóng và quá mức trung bình số những người sống ở đô thị so với toàn bộ dân cư của một nước hay một lục địa. 2). Chỉ sự tăng trưởng về dân cư và/hoặc diện tích của các thành phố. 3). Chỉ sự mở rộng văn hóa và lối sống đô thị(1).

Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: "Đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất, bố trí dân cư, những vùng không phải đô thị thành đô thị. Tiền đề cơ bản của đô thị hóa là sự phát triển của công nghiệp, thương mại, dịch vụ… thu hút nhiều nhân lực từ nông thôn đến sinh sống, làm việc, làm cho tỷ trọng dân cư ở các đô thị tăng nhanh"(2). Định nghĩa này có vẻ hợp lý với trường hợp Việt Nam hơn. Nhưng vẫn chưa đầy đủ vì ngoài sức hút và sự phát triển của đô thị (mà định nghĩa đã nêu) thì sự lan toả, mở rộng của lối sống đô thị, văn hóa đô thị tới các vùng không phải đô thị có phải là đô thị hóa không? Như vậy, ta có thể hiểu đô thị hóa là một quá trình chuyển đổi mà: Về kinh tế: Kinh tế tự cung, tự cấp truyền thống bị phá vỡ, nền kinh tế thị trường phát triển ngày càng nhanh chóng, cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng tỷ trọng nông nghiệp giảm xuống và tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp tăng lên. Năng suất lao động tăng nhanh. Về xã hội: Xã hội nông thôn truyền thống bị biến đổi, các yếu tố đô thị xâm nhập và phát triển, số nông dân thuần nông nghiệp ngày càng giảm, số công nhân, viên chức ngày càng tăng. Về văn hóa: Lối sống nông thôn, văn minh nông nghiệp ngày càng thu hẹp lại cùng với sự bành trướng của lối sống đô thị, văn hóa thành thị và văn minh công nghiệp (hay sau đó là văn minh trí tuệ) ngày càng sâu rộng. Nó làm cho nhiều giá trị văn hóa truyền thống bị thay đổi. Từ những khái niệm cơ bản như vậy, soi xét vào trường hợp quá trình đô thị hóa ở Vinh để tìm hiểu về các quy luật cũng như đặc điểm của nó là vấn đề khả thi.

Lịch sử quá trình đô thị hóa ở thành phố Vinh diễn ra như thế nào đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Có người cho rằng Vinh đã trở thành một đô thị quan trọng từ thời phong kiến khi các triều đại trị vì vẫn thường cắt cử quan binh vào đây để xây doanh lập trại, mở mang giao thương và bảo vệ lãnh thổ phía Nam. Cũng có ý kiến cho rằng phải đến khi người Pháp đến đây xây dựng và mở mang thì Vinh mới có dáng dấp của một đô thị. Thậm chí có ý kiến còn cho rằng lịch sử đô thị hóa ở Vinh chỉ nằm trong khoảng nửa thế kỷ trở lại đây. Nhìn chung, các quan điểm đó không hẳn đã đối lập nhau, mà là do cách nhìn nhận và tiêu chí được đưa ra để xem xét có sự không giống nhau trong quá trình phân tích mà thôi.

Từ thời phong kiến, Nghệ An là vùng biên giới phía Nam, và được xếp vào một trong những vùng biên viễn quan trọng. Các triều đại phong kiến đều cắt cử các tướng tài vào đây mở mang bờ cõi, đưa dân vào xây dựng cuộc sống và bảo vệ biên cương. Vì là vùng biên viễn nên cũng có rất nhiều nhân sĩ tài năng vì chống đối lại triều đình thất bại mà bị bắt và đày ải vào đây. Chính vì vậy mà từ khá sớm, vùng phía Nam của Nghệ An là khu vực thành phố Vinh hiện nay đã trở thành một trung tâm chính trị, quân sự của khu vực phía Nam được các triều đại phong kiến coi trọng. Từ thời Lê-Trịnh, Nghệ An xuất hiện hàng chục xưởng đóng tàu phục vụ công tác vận tải của triều đình. Đến thời nhà Nguyễn thì Nghệ An trở thành một trung tâm về đóng tàu trong cả nước. Một ghi chép từ sử sách thể hiện điều đó: "Thiệu Trị năm thứ hai, chuẩn y lời tâu rằng: Tỉnh Nghệ An nhân bị nạn gió bão, 25 xưởng thuyền dưới nước đều bị đổ nát, tranh tre bị trôi mất nhiều, lợp sửa lần này mỗi xưởng hạng nhất cấp 60 quan tiền, mỗi xưởng hạng nhì cấp 50 quan tiền"(3). Bến Thủy là cảng biển và cũng là nơi đóng tàu quan trọng nhất tại đây. Trước đó, ngay khi lên nắm quyền lực, vua Gia Long đã lựa chọn khu vực thành Vinh hiện nay làm trung tâm để quản lý vùng này. Cho xây trấn sở ở làng Vĩnh Yên phía Tây Bắc núi Dũng Quyết. Đến năm 1831, vua Minh Mạng cho xây thành Nghệ An để làm nơi đóng quân và làm việc của chính quyền triều đình ở khu vực Nghệ An mà hiện nay dấu tích thành cổ vẫn còn rõ nét. Nhưng lúc này, Vinh có phải là một đô thị hay chưa thì vẫn còn nhiều điều bàn cãi, những có thể khẳng định, Vinh đã là một trung tâm tụ cư tập trung nhiều dân chúng, các hoạt động buôn bán cũng diễn ra sôi nổi, có bộ máy doanh trại, quan quân đóng ở đây để bảo vệ biên giới.

Tháng 8/1885, quân Pháp dưới sự chỉ huy của Chommod đã đổ bộ vào cảng Cửa Hội, theo đường sông tiến quân vào Bến Thủy tấn công thành Nghệ An. Quan quân triều đình nhanh chóng đầu hàng. Pháp mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược và xác lập quyền thống trị lên toàn bộ vùng Nghệ An. Sau khi hoàn tất việc đánh chiếm Nghệ An, thực dân Pháp bắt đầu gây dựng bộ máy cai trị để tiến hành khai thác thuộc địa ở vùng này. Trong quá trình khai thác thuộc địa, việc xây dựng các trung tâm hành chính, kinh tế, xã hội để phục vụ công cuộc khai thác, vơ vét của cải cũng như sự vận hành của bộ máy chính quyền cai trị là vấn đề quan trọng. Để dễ bề hoạt động và kiểm soát, người Pháp không xây dựng một đô thị lớn ở Nghệ An mà lựa chọn xây dựng các đô thị vừa và nhỏ. Năm 1899, chính quyền Pháp quyết định thành lập thị xã Vinh. Tiếp đó, năm 1914, thành lập thị xã Bến Thủy và đến năm 1917 thành lập tiếp thị xã Trường Thi. Dù thực sự, ba thị xã này không cách nhau quá xa và có những mối quan hệ khăng khít về mặt kinh tế, xã hội lúc đó. Ngoài Vinh là trung tâm hành chính quân sự đã được xây dựng trước đó, thì Bến Thủy và Trường Thi là hai thị xã được xây dựng dựa trên các cơ sở kinh tế do người Pháp xây dựng và phát triển từ ngày xác lập quyền cai trị.

Bến Thủy là cảng biển quan trọng bậc nhất khu vực Trung kỳ, trước đây đã là một trung tâm đóng tàu, và khi bước chân đến đây, người Pháp đã có kế hoạch xây dựng nó trở thành một trong những hải cảng quan trọng nhất của Pháp ở Đông Dương. Pháp đầu tư tiền của xây dựng hệ thống hạ tầng, nạo vét sông ngòi, xây dựng đường bộ và nối liền với đường sắt, biến Bến Thủy trở thành một đầu mối giao thông cả đường biển, đường thủy nội bộ, đường bộ và cả đường sắt. Vậy nên dần dần sự tập trung dân cư ở đây càng lên cao, trở thành một khu vực sầm uất với các hoạt động buôn bán, vận chuyển hàng hóa. Hàng năm có khoảng 40.000 tấn hàng hóa lưu thông qua cảng và mỗi năm tăng từ 4.000 đến 5.000 tấn, chủ yếu là gỗ, gạo, muối, nước mắm... Đến năm 1924, lượng hàng hóa thông qua cảng Bến Thủy là 39.813 tấn(4). Điều đó cho thấy sự sầm uất của càng Bến Thủy vào đầu thế kỷ XX. Báo chí lúc đó ca ngợi: "Cảng Bến Thủy hoạt động mạnh, chỉ sau cảng Hải Phòng, Sài Gòn, không kém cảng Văng-Đê của Pháp. Cảng Bến Thủy là cảng của 3 triệu dân, của một vùng bao la vô cùng giàu có về hàng xuất khẩu. Đây là chìa khóa mở cửa vào xứ Lào, vì có hai con đường chính nối liền Lào với cảng Bến Thủy: đường Vinh sang Trấn Ninh qua Cửa Rào, đường Vinh sang Mê Công qua Khăm Muộn. Bến Thủy sẽ là hải cảng chính. Người ta có thể xây dựng ở đây một thành phố lớn nhất Trung kỳ"(5). Đó cũng là mục tiêu từ đầu khi người Pháp quyết định lập thị xã Bến Thủy.

Cũng như Bến Thủy, để phục vụ việc cai trị và khai thác thuộc địa, năm 1904, Pháp cho xây dựng Nhà máy Sửa chữa xe lửa Trường Thi tại Vinh (thuộc Công ty Hỏa xa Đông Dương, do Sở Hỏa xa Đông Dương quản lý). Sau đó còn lập ga Vinh và xưởng sửa chữa đầu tàu. Những hoạt động của các nhà máy này đã tập trung một lượng dân cư rất lớn khiến cho khu vực vốn trước đây là các làng quê trở thành một đô thị mà sau đó lập thành thị xã Trường Thi. Sự xuất hiện của các nhà máy này có vai trò quan trọng trong quá trình đô thị hóa và sự hình thành tầng lớp thị dân ở Vinh sẽ được phân tích sâu hơn ở phần sau. Nhưng đây cũng là lần đầu tiên xuất hiện ngành công nghiệp hiện đại ở Vinh, nơi mà trước đó chỉ có nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. Sự xuất hiện công nghiệp là một yếu tố quan trọng trong việc hình thành đô thị trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX.

Đến năm 1927, chính quyền Pháp quyết định thành lập thành phố Vinh - Bến Thủy trên cơ sở các thị xã Vinh, Bến Thủy, Trường Thi. Đây là cột mốc quan trọng trong quá trình đô thị hóa ở Vinh, cũng như là cột mốc đánh dấu sự hình thành một thành phố hiện đại ở Nghệ An lúc bấy giờ. Lúc này, Vinh có dáng dấp của một thành phố hiện đại với sự phát triển của công nghiệp, thương mại dịch vụ. Không gian đô thị Vinh thay đổi cơ bản. Có các nhà máy công nghiệp để sản xuất, sửa chữa loại lớn, có cảng biển sầm uất hoạt động suốt ngày đêm. Các hoạt động giao lưu, buôn bán diễn ra tấp nập trên nhiều phương diện. Trường học theo nền giáo dục Pháp xuất hiện, các bệnh viện, nhà thương ra đời. Vinh trở thành một trung tâm kinh tế chứ không chỉ là một đồn quân sự như trước kia. Có thể nói, từ khi thành lập thành phố Vinh - Bến Thủy và xây dựng nó trở thành một trung tâm kinh tế hiện đại với công thương nghiệp phát triển mạnh mẽ thì cũng là thời điểm Vinh trở thành một đô thị hiện đại lúc đó. Dù cho những hoạt động kinh tế đó vẫn mang tính chất khai thác thuộc địa, vơ vét của cải, nhưng nó cũng ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người dân trong vùng, đến quá trình đô thị hóa ở Vinh.

Quá trình đô thị hóa hay quá trình hình thành và phát triển của một đô thị dù luôn có những sự kiện quan trọng nhưng nó không phải bắt đầu và kết thúc bằng những cột mốc cụ thể. Đó là một quá trình vận động, thay đổi từ cơ sở hạ tầng, hoạt động kinh tế - xã hội đến sự thay đổi nếp sống, thay đổi cảnh quan cũng như văn hóa của các cộng đồng chủ thể. Vậy nên nó có các giai đoạn khác nhau rất khó để xác định cột mốc bắt đầu và kết thúc. Nhưng nếu phải lấy cột mốc cụ thể cho quá trình đô thị hóa ở Vinh thời Pháp thuộc, thì thiết nghĩ có thể tính từ năm 1899 khi Pháp xây dựng thị xã Vinh hơn là năm 1885 khi Pháp tiến hành đánh chiếm Nghệ An vì sau khi đánh chiếm người Pháp còn phải mất một thời gian để ổn định, gây dựng chính quyền cai trị rồi mới tiến hành khai thác thuộc địa. Năm 1927, khi xây dựng thành phố Vinh - Bến Thủy là lúc hoàn thành quá trình xây dựng đô thị và bước vào quá trình phát triển lối sống đô thị. Tuy nhiên, tất cả những cột mốc đó đều mang ý nghĩa tương đối, chủ yếu dựa vào tiêu chí xác lập thông qua sự vận động của quá trình đô thị hóa. Nó chỉ cho người ta một cái hình dung về con đường đô thị hóa ở Vinh thời Pháp thuộc mà thôi. Và con đường đô thị hóa ở Vinh hoàn toàn giống với các quy luật về sự hình thành đô thị, nếu có khác thì đó là yếu tố tác động quan trọng đến từ chính quyền cai trị của Pháp.

2. Sự hình thành tầng lớp thị dân ở Vinh

Một trong những đặc trưng của một đô thị chính là tầng lớp thị dân. Một đô thị phát triển mạnh mẽ, thịnh vượng như thế nào và đạt đến trình độ văn minh ra làm sao phần nhiều tùy thuộc vào tầng lớp thị dân sinh sống ở đó. Thị dân được hiểu là những người hoạt động phi nông nghiệp và sinh sống trong các đô thị. Thị dân là những người chủ nhân của đô thị, là những người xây dựng và phát triển đô thị trong cả quá trình lịch sử. Sự hình thành tầng lớp thị dân là một phần của lịch sử đô thị.

Cho đến hiện nay, khi bàn về tầng lớp thị dân ở Vinh vẫn còn gây nhiều tranh cãi, chẳng khác gì bàn về quá trình đô thị hóa ở Vinh. Thị dân ở Vinh xuất hiện từ bao giờ là một câu hỏi chưa có câu trả lời chính xác. Trong lịch sử, từ thời phong kiến, liệu ở Vinh đã xuất hiện các tầng lớp thị dân chưa? Như đã nói ở trên, qua các triều đại, Nghệ An luôn có một vị trí quan trọng, và có sự tập trung dân cư nhất định. Hoạt động kinh tế cũng khá phát triển, nhất là thương mại với sự hình thành các cảng biển nhỏ hay hoạt động thủ công nghiệp. Những người hành nghề buôn bán cũng xuất hiện, cùng với những người là quan quân của triều đình cử về đây làm việc, họ có thể là những người thị dân đầu tiên của thành Vinh trong lịch sử? Nhưng có sự hình thành các tầng lớp thị dân chưa? Thiết nghĩ ban đầu là chưa, vì những người buôn bán ở đây vẫn theo mùa vụ, thậm chí quan quân cũng vậy, sau một thời gian họ luân chuyển đi nơi khác. Thời bấy giờ chưa hình thành một kết cấu xã hội dân cư cố định để gọi là tầng lớp thị dân được, kế cả việc xuất hiện những người Hoa đến đây buôn bán. Và lối sống của những người ở đấy lúc bấy giờ vẫn còn xen lẫn với cuộc sống nông thôn, liên quan đến hoạt động nông nghiệp. Vậy nên, xét theo khái niệm thị dân với ý nghĩa phải hình thành các nếp sống văn hóa đô thị và tách hẳn khỏi hoạt động nông nghiệp thì khi đó chưa có tầng lớp thị dân thật sự.

Nhưng từ đầu thế kỷ XX, khi người Pháp xây dựng các thị xã ở Vinh thì mọi chuyện đã thay đổi. Cùng với các hoạt động khai thác thuộc địa, xây dựng bộ máy chính quyền cai trị, mở rộng các hoạt động kinh tế, đặc biệt là thương nghiệp và công nghiệp đã khiến không chỉ không gian đô thị Vinh thay đổi mà cư dân, nếp sống cũng thay đổi. Thị dân ở Vinh được hình thành từ hai nguồn gốc chủ yếu. Thứ nhất là những người nông dân chuyển từ hoạt động nông nghiệp sang phi nông nghiệp và sau đó bỏ hẳn nông nghiệp, sinh sống trong đô thị và hoạt động phi nông nghiệp. Thứ hai là các thị dân từ khu vực khác di chuyển vào đây hoạt động kinh tế và sinh sống. Thương nghiệp và công nghiệp là hai ngành kinh tế quan trọng ảnh hưởng đến quá trình hình thành thị dân.

Trước hết, thương nghiệp phát triển hình thành một lớp thương nhân mới, cả làm việc cho Pháp lẫn các công ty tư nhân lúc đó. Họ sống chuyên bằng các nghề này và sinh sống ngay tại thành phố Vinh. Sự phát triển của thương mại góp phần quan trọng trong việc hình thành tầng lớp thị dân. Những người hoạt động trong lĩnh vực thương mại là những người tiên phong trong việc giao lưu, tiếp xúc và tiếp nhận các yếu tố văn hóa Pháp vào khu vực này. Họ phải quan hệ, giao tiếp với người Pháp trong bộ máy cai trị cũng như các khách hàng đến đây buôn bán. Thương mại phát triển cũng thu hút sự tham gia hoạt động kinh tế của người Hoa. Các phố người Hoa ở Vinh hình thành và khá đông đúc. Con số 3 triệu dân mà Tạp chí Thức tỉnh Kinh tế Đông Dương đưa ra năm 1931 khi viết về cảng Bến Thủy có lẽ là nói về số dân cả khu vực này, những nơi có quan hệ giao thương và luân chuyển hàng hóa về Bến Thủy chứ không phải là số lượng dân cư thành phố Vinh - Bến Thủy lúc đó. Nhưng thông tin đó cũng cho thấy rằng số lượng người tham gia các hoạt động thương mại ở thành phố Vinh vào những năm 1920, 1930 là vô cùng nhộn nhịp và đông đảo. Lối sống của tầng lớp thị dân tham gia thương mại cũng khác nhiều. Họ tiếp xúc với văn hóa Pháp, cho con đi học trường Pháp và tìm cách quan hệ, thậm chí xin việc cho con em vào hệ thống chính quyền cai trị của Pháp. Họ cũng tiếp nhận các giá trị văn hóa phương Tây và coi trọng cuộc sống cá nhân hơn, coi trọng lợi ích kinh tế hơn là chạy theo địa vị từ việc học hành của Nho giáo trước đó. Chính vì vậy mà sau này, người ta xếp họ vào tầng lớp tư sản, tiểu tư sản và bị coi là ít có tinh thần dân tộc, tinh thần cách mạng.

Sự xuất hiện ngành công nghiệp với các nhà máy sử dụng hàng ngàn công nhân đã khơi nguồn cho sự hình thành giai cấp công nhân ở đây. Họ làm việc tập trung và cũng sinh hoạt tập thể, hoàn toàn khác với làm việc trong các xưởng thủ công nghiệp trước đây. Chỉ tính riêng Nhà máy Xe lửa Trường Thi lúc đến đỉnh điểm có hơn 4.000 công nhân làm việc tại đây. Ngoài ra, để xây dựng cơ sở hạ tầng, mở mang đường sá, giao thông, chính quyền cai trị cũng đã bắt một lượng lớn thanh niên đi làm công nhân để mở đường, xây cầu hàng năm. Ước tính cuối những năm 1920, dân số ở Vinh - Bến Thủy khoảng 20 ngàn người thì công nhân khoảng 7.000 người, chiếm 1/3 dân số. Ngoài những người nông dân trong vùng trở thành công nhân thì còn có một lượng lớn công nhân từ Bắc chuyển vào, hình thành các làng công nhân Bắc kỳ ở Vinh. So với những người sống, làm trong lĩnh vực thương nghiệp thì tầng lớp công nhân phải chịu nhiều cực khổ hơn. Họ bị bóc lột sức lao động nhiều hơn, chế độ làm việc khắc nghiệt hơn và được trả thù lao thấp hơn. Họ cũng lệ thuộc nhiều vào sự cai trị của những người chủ nên đời sống gian khổ hơn. Phần lớn công nhân ở Vinh trước cách mạng đều là dân trong vùng vốn luôn có quan hệ mật thiết với gia đình họ đang sinh sống ở nông thôn. Nên họ luôn có tinh thần dân tộc và là những người tiên phong trong các cuộc cách mạng lật đổ chế độ cai trị của người Pháp sau đó.

Để phục vụ chính quyền cai trị, mở rộng sự ảnh hưởng của văn hóa Pháp, ngoài các cơ quan công quyền, người Pháp còn cho xây dựng trường học, bệnh viện, nhà ga, mở rộng hệ thống chợ mà lớn nhất là chợ Vinh. Bên cạnh đó là hệ thống nhà hàng, khách sạn và các sân chơi phục vụ tầng lớp cai trị. Một số lượng lớn cả người Pháp lẫn người Việt Nam đã làm việc trong hệ thống cơ quan do người Pháp quản lý này. Họ hoặc làm việc theo chế độ hợp đồng có lương bổng hoặc phải làm lao dịch hạng thấp. Nhưng những ảnh hưởng của các hoạt động này đến đời sống đô thị là rất lớn. Trường học Pháp xuất hiện và được dạy theo chế độ giáo dục Pháp làm thay đổi nhiều người. Những gia đình có điều kiện, là công viên chức làm việc cho Pháp hay con em của những người hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp thường cho con cái vào các trường này để học. Nhiều người Việt có năng lực cũng được vào làm việc tại các trường học và các cơ quan khác do người Pháp xây dựng. Nó làm cho quá trình hình thành một bộ phận là cán bộ, viên chức làm việc cho chính quyền cai trị lúc bấy giờ. Và sau này, nhiều người trong số đó đã trở thành những người lãnh đạo phong trào cách mạng ở đây.

Nói tóm lại, cùng với sự hình thành và phát triển đô thị ở Vinh, tầng lớp thị dân bắt đầu xuất hiện dưới sự ảnh hưởng của việc xác lập hệ thống chính quyền cai trị của Pháp và hoạt động kinh tế thương nghiệp, công nghiệp. Tầng lớp thị dân ở Vinh dù chưa đông đảo bằng các đô thị lớn khác nhưng cũng mang những đặc trưng của cư dân đô thị. Đó là tham gia các hoạt động kinh tế, dịch vụ chuyên nghiệp, tiếp thu các yếu tố văn hóa mới, sự hình thành ý thức cá nhân, tiếp cận các yếu tố văn hóa Pháp. Đồng thời, họ cũng là những người bắt đầu nhận thức rõ hơn về sự cai trị và bóc lột của thực dân Pháp. Đó là nguồn gốc và động lực giúp họ hình thành tinh thần yêu nước, tinh thần cách mạng để đứng lên đấu tranh khi thời cơ đến. Và phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930 -1931 thì những người công nhân có vai trò rất lớn.

3. Vài suy nghĩ thay lời kết

Quá trình đô thị hóa gắn liền với quá trình hình thành các tầng lớp thị dân. Không có đô thị nào hình thành và phát triển mà không gắn với các tầng lớp thị dân cả. Nhưng xem xét hai vấn đề này là câu chuyện không dễ dàng gì vì các đô thị hiện đại thay đổi nhanh chóng và quá trình thay đổi cũng làm mất mát đi nhiều nét văn hóa, lịch sử khiến cho sự nhận thức về nó lại thêm hạn chế. Đô thị hóa ở Vinh thời Pháp thuộc là giai đoạn bản lề cho quá trình thành phố Vinh được hiện đại hóa. Sự hình thành tầng lớp thị dân ở Vinh thời Pháp thuộc cũng là một quá trình lịch sử mang tính bước ngoặt trong sự phát triển của lịch sử địa phương. Đây cũng là quá trình tiếp xúc và tiếp nhận các giá trị văn hóa phương Tây, mà chủ yếu là văn hóa Pháp. Những quá trình trên làm thay đổi căn bản thành phố Vinh, từ một trung tâm tụ cư nhỏ dưới các triều đại phong kiến lên thành một thành phố hiện đại với hệ thống nhà máy, công xưởng, với những hoạt động công, thương nghiệp sầm uất, nhộn nhịp. Không gian đô thị ở Vinh thay đổi nhanh chóng với sự xuất hiện của những chiếc tàu vận tải to lớn, với xe lửa, đường sắt, nhà ga, bệnh viện, trường học Pháp, với hệ thống dịch vụ, giải trí… Không những vậy, đời sống con người cũng thay đổi. Mức độ tập trung dân cư cao hơn, nghề nghiệp đa dạng hơn, sự hình thành tầng lớp tiểu tư sản, công nhân… là nền tảng cho sự biến đổi xã hội và tiền đề cho các cuộc cách mạng sau đó. Nhưng xét cho cùng, quá trình đô thị hóa ở Vinh vẫn nhỏ lẻ, lối sống đô thị ở Vinh hình thành nhưng không phân lập với lối sống nông thôn và ngược lại luôn có mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau. Điều đó lý giải tại sao trong các phong trào cách mạng, việc kết hợp giai cấp công nhân và nông dân là điều cơ bản và cũng dễ thực hiện vì họ có chung nguồn gốc, có chung lợi ích, có chung kẻ thù và có quan hệ thân thiết do công nhân là những người nông dân vừa mới phải chuyển vào làm việc ở các nhà máy của Pháp. Những đặc trưng đó, các giai đoạn sau này cũng không thay đổi bao nhiêu.

Từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX, thành phố Vinh được xây dựng lại và phát triển. Trải qua gần nửa thế kỷ, Vinh đã trở thành một thành phố lớn, hiện đại, một trung tâm kinh tế - xã hội và văn hóa của khu vực miền Trung. Đó là những thành quả không thể bác bỏ. Nhưng bên cạnh đó, Vinh cũng đánh mất đi nhiều nét của một vùng đất có quá trình lịch sử đầy biến động. Mỗi đô thị trong quá trình phát triển đều có sự chồng chéo lên nhau, có nhiều tầng lớp văn hóa mang dấu ấn của các thời đoạn, giai đoạn lịch sử khác nhau. Hoạch định phát triển đô thị là làm sao để đô thị đó hiện đại hơn, bề thế hơn nhưng cũng không đánh mất những giá trị văn hóa, những yếu tố lịch sử của nó. Xét về phương diện đó, Vinh hiện nay không còn nhiều và càng ngày lại càng hao hụt thêm. Vậy nên, nhìn nhận về quá trình đô thị hóa ở Vinh, nhất là trong hoạch định chiến lược phát triển, cần phải có cái nhìn hệ thống - lịch sử văn hóa.

Chú thích

(1). G. Endrweit và G. Tromms Dorff (2002), Từ điển Xã hội học, Nxb. Thế giới, Hà Nội, trang 151-152.

(2). Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt (1995), Từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội, trang 836-837.

(3). Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ, Nxb. Thuận Hóa, 1993, trang 426.

(4). Giao thông vận tải Nghệ An - Truyền thống và đổi mới (1945-2015), Nxb. Giao thông Vận tải, Hà Nội, 2015, trang 43.

(5). Tạp chí Thức tỉnh kinh tế Đông Dương, số 690, ngày 14/6/19

Nguyễn Quang Hồng -

 Nguyễn Thị Kim Sang - Trần Quốc Bảo

 

1. Xin được bắt đầu bởi sự kiện Bắc Bình vương Nguyễn Huệ xuống chiếu gửi La sơn phu tử Nguyễn Thiếp vào ngày 03 tháng 9 năm Thái Đức thứ 11 tức ngày 01 tháng 10 năm 1788, nhờ ông xuống núi đến vùng đất Vĩnh Yên, Yên Trường, thuộc tổng Ngô Trường, huyện Chân Lộc, xem rõ cồn vụng để chọn đất đóng đô. Trong chiếu có viết: "… Nay kinh đô Phú Xuân hình thế cách trở. Ở xa trị Bắc Hà, sự thế rất khó khăn. Theo đình thần nghị rằng: Chỉ đóng đô ở Nghệ An là độ đường vừa cân, vừa có thể khống chế được trong Nam ngoài Bắc, và sẽ làm cho người tứ phương đến kêu kiện, tiện việc đi về.

Nhớ lại buổi hồi loan kỳ trước, lúc qua Hoành Sơn quả cung đã từng mở xem địa đồ, thấy ở huyện Chân Lộc, xã Yên Trường, hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng. Có thể chọn để xây kinh đô mới. Thực là chỗ đất đẹp để đóng đô vậy..."(1).

Vùng đất được Bắc Bình vương Nguyễn Huệ lựa chọn để xây dựng Trung Đô Phượng Hoàng thành hay còn gọi là Trung kinh Phượng Hoàng thành hay theo cách gọi dân gian là thành Phượng Hoàng thuộc địa giới hành chính xã Yên Trường, huyện Chân Lộc, ở khu vực núi Dũng Quyết còn có tên gọi khác là núi Phượng Hoàng (vì các cụ túc Nho xưa cho rằng núi Dũng Quyết có hình thế trông giống con chim Phượng Hoàng đang vỗ cánh vươn ra biển Đông) và núi Kỳ Lân, nay thuộc khối 3, phường Trung Đô, thành phố Vinh(2).

Công cuộc xây dựng Trung Đô Phượng Hoàng thành lẽ ra được thực hiện một cách triệt để, bởi Bắc Bình vương Nguyễn Huệ đã nói rõ trong chiếu: "Đã sức cho quan trấn sửa soạn gỗ, ngói, khí cụ, hẹn ngày làm việc,…" nhưng việc Hoàng thái hậu nhà Lê cùng một số gian thần, nịnh thần trong triều đem vàng bạc, châu báu sang cầu cứu vua Càn Long nhà Thanh, mở đường cho Tôn Sĩ Nghị cùng 29 vạn quân Thanh ồ ạt tràn vào nước ta vào cuối năm 1788, đặt toàn thể quốc gia dân tộc vào một thử thách hết sức lớn lao.Vì lợi ích của dân tộc, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu Quang Trung rồi cùng bách tính muôn dân nhanh chóng quét sạch 29 vạn quân Thanh và bè lũ vua tôi Lê Chiêu Thống ra khỏi bờ cõi trong cuộc tiến công chiến lược đầu xuân Kỷ Dậu 1789.

Đất nước thanh bình, trấn thủ Nghệ An, thừa mệnh Hoàng đế Quang Trung huy động nhân tài, vật lực xây dựng Trung Đô Phượng Hoàng thành. Công cuộc xây dựng thành Phượng Hoàng đang tiến hành một cách gấp rút, thì Hoàng đế Quang Trung đột ngột từ trần vào ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý 1792, do đó, đành bỏ dở. Người kế nhiệm ngai vàng là Hoàng đế Cảnh Thịnh đã không thực hiện lời căn dặn của vua Quang Trung trong lúc lâm chung là gấp rút tổ chức tang lễ, rồi chuyển dời kinh đô từ Phú Xuân về Trung Đô Phượng Hoàng thành để dựa vào nhân tài, vật lực của cộng đồng cư dân xứ Nghệ mà giữ nghiệp nhà Tây Sơn. Vì nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, sau khi Hoàng đế Quang Trung từ trần, cơ nghiệp nhà Tây Sơn chao đảo, lung lay đến tận gốc và đi đến sụp đổ hoàn toàn vào năm 1801 trước cuộc tiến công của Nguyễn Ánh.

Sự kiện Bắc Bình vương Nguyễn Huệ - Hoàng đế Quang Trung chọn vùng đất Vĩnh Yên, Yên Trường để xây dựng kinh đô và cho đến những ngày cuối cùng vẫn đau đáu việc dời đô về Nghệ An, chính là sự khẳng định của một nhà quân sự, chính trị lỗi lạc về vị thế địa chính trị - quân sự hết sức quan trọng của vùng đất Nghệ An - Hà Tĩnh nói chung, Vinh nói riêng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Tiếc rằng, Hoàng đế Cảnh Thịnh và cả bộ máy quan lại trong triều đình Phú Xuân lại quá mải mê với cuộc chiến tranh giành quyền lực, chia bè kết cánh, đẩy cơ nghiệp nhà Tây Sơn đến bờ vực của sự sụp đổ. Vùng đất Vĩnh Yên và Yên Trường chưa chính thức trở thành kinh đô, song vị thế chiến lược của nó được chính người anh hùng áo vải cờ đào Nguyễn Huệ lựa chọn. Nhưng cần phải khẳng định một điều việc Bắc Bình vương Nguyễn Huệ - Hoàng đế Quang Trung chọn và quyết tâm xây dựng Trung Đô Phượng Hoàng thành không đồng nhất với việc vùng đất Vĩnh Yên và Yên Trường đã chính thức trở thành trấn sở của trấn Nghệ An vào cuối thế kỷ XVIII. Bởi vì, cho đến năm 1803, trấn sở Nghệ An vẫn ở Lam Thành - Phù Thạch(3). PGS. Hoàng Văn Lân trong bài: "Vấn đề xác định năm ra đời của thành phố Vinh hiện nay" đã hoàn toàn chính xác khi khẳng định: "… Đó là việc tìm địa điểm và xây dựng "Trung Đô" của một vị anh hùng chứ không phải là việc xây dựng lỵ sở trấn Nghệ An lúc bấy giờ do Nguyễn Thận làm trấn thủ. Lỵ sở của trấn Nghệ An là một việc, một sự kiện. Còn "Đô" của Bắc Bình vương rồi Quang Trung hoàng đế lại là một việc khác. Coi việc đặt kinh đô cũng là việc đặt lỵ sở cho một trấn, là không đúng với luật pháp thời quân chủ tập quyền của nước ta vốn rất nghiêm ngặt về phương diện hành chính,… Còn cách đánh đồng hai sự kiện đó lại là không phù hợp với thực tế lịch sử nước ta"(4).

Nhưng ngay trong chuyến Bắc tuần lần thứ nhất để nhận sắc phong của nhà Thanh và thăm quê cha đất tổ ở làng Gia Miêu, Đông Sơn, Thanh Hóa vào năm 1803, vị vua đầu triều Nguyễn là Gia Long đã quyết định cho chuyển dời lỵ sở Nghệ An từ Lam Thành - Phù Thạch về Vĩnh Yên và Yên Trường. Tháng 5 năm Gia Long thứ 3 (tháng 5 năm 1804), công cuộc chuyển dời trấn sở Nghệ An từ Lam Thành - Phù Thạch về Vĩnh Yên và Yên Trường chính thức được thực thi. Vua Gia Long cho phép quan trấn Nghệ An huy động binh lính, dân đinh ở Nghệ An, Hà Tĩnh tháo dỡ nhà cửa, dinh thự, chuyển nguyên vật liệu ở thành Phượng Hoàng về xây dựng trấn thành Nghệ An. Thành Phượng Hoàng Trung Đô không còn nữa. Nhưng, từ năm 1804 đến năm 1884, trải qua 80 năm, Vinh luôn giữ vai trò là trấn thành của trấn Nghệ An (1804 -1831), tỉnh thành của tỉnh Nghệ An (1832 -1884), như bao trấn thành, tỉnh thành khác trong vương quốc Đại Nam(5).

Không chỉ là trung tâm chính trị, quân sự mà ngay ở phía Đông Nam lỵ sở Nghệ An, ngay từ đầu thế kỷ XIX, chợ Vĩnh từ chức năng một chợ tổng như bao chợ tổng khác ở lưu vực sông Lam đã chính thức trở thành chợ Trấn, đóng vai trò là trung tâm buôn bán, trao đổi đủ loại hàng hóa sầm uất bậc nhất so với nhiều trấn, tỉnh khác ở Bắc và Nam Trung bộ thời bấy giờ. Sự hưng thịnh của chợ Vĩnh đã đưa yếu tố thị phát triển thêm một bước, cho dù sự tồn tại bền vững của chính sách trọng nông và nền kinh tế tiểu nông mang tính tự cung tự cấp là nguyên nhân chính yếu khiến chợ Vĩnh và bao chợ phủ, chợ huyện, chợ tổng, chợ làng xã ở lưu vực sông Lam không đủ khả năng làm thay đổi diện mạo kinh tế tiểu nông lỗi thời và lạc hậu trong toàn trấn Nghệ An cũng như ở vùng đất Chân Lộc(6).

Bên cạnh đó, sự hiện diện của trường thi hương Nghệ An ngay từ khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm 1807 dưới thời vua Gia Long cũng đã chính thức biến Vinh trở thành một trong bảy trung tâm đào tạo, tuyển dụng hiền tài theo phương thức truyền thống trên toàn lãnh thổ vương quốc Đại Nam. Và, trong bước đường tồn tại, phát triển cho đến lúc kết thúc sứ mệnh lịch sử vào năm 1918, trường thi hương Nghệ An tổ chức 42/47 khoa thi hương kể cả ân khoa và chính khoa, góp phần không nhỏ vào việc duy trì nền giáo dục khoa cử Nho học cũng như tuyển chọn hiền tài giúp vua trị nước yên dân, cho dù, tình thế lịch sử đổi thay và đội ngũ trí thức Nho học ở nước ta đã không thể giúp vua giữ được độc lập dân tộc trước cuộc xâm lược của người Pháp(7). So với các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nam Đàn, Thanh Chương, thì vùng đất Vĩnh Yên và Yên Trường rộng hơn là cả huyện Chân Lộc có số người thi cử đỗ đạt tại trường thi hương Nghệ An thời Nguyễn ít hơn. Nhưng cứ mỗi khi nhà Nguyễn tổ chức kỳ thi, hàng ngàn học trò lều chõng, bút nghiên khắp các phủ, huyện từ đồng bằng ven biển đến miền núi trung du kéo về Vinh, ăn, ở, dự thí cho đến ngày ra bảng, tạo nên một bức tranh hết sức sống động trong đời sống xã hội ở trấn thành, tỉnh thành Nghệ An.

Với tư cách là trung tâm chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa của trấn, tỉnh Nghệ An, suốt từ năm 1804 đến năm 1884, trên vùng đất Vĩnh Yên và Yên Trường có thêm nhiều đình, đền, chùa, nhà thờ được xây dựng hoặc trùng tu, sửa chữa, phục dựng như: đền Hồng Sơn do thương nhân Hoa kiều ở chợ Vinh xây dựng để thờ ba anh em Lưu - Quan - Trương, đền thờ Đức Thánh Trần, đền thờ thành hoàng, đền thờ thần Nông, đền thờ Đức Thánh Mẫu,… chùa Cần Linh, chùa Diệc (Cổ Diệc tự)(8),… Bên cạnh đó còn có nhà thờ Cầu Rầm, nhà Văn Thánh Vinh,v.v… Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của các tầng lớp, giai cấp ở trấn thành, tỉnh thành Nghệ An có nhiều nét tương đồng với đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng dân cư ở các trấn, tỉnh thành khác trên lãnh thổ vương quốc Đại Nam.

2. Ngày 20 tháng 7 năm 1885, Chaumond (Sô Mông) cùng các sĩ quan và binh lính dưới quyền đổ bộ từ cảng Cửa Hội lên chiếm thành Nghệ An. Thương biện tỉnh vụ Nghệ An là Võ Trọng Bình và đám quan lại dưới quyền, mở sẵn cổng thành, khăn áo chỉnh tề, xếp hàng chào đón Chaumond và sĩ quan, binh lính Pháp vào thành Nghệ An. Sự kiện lịch sử này chính thức chấm dứt thời kỳ tồn tại của bộ máy quan lại do nhà Nguyễn đào tạo, tuyển dụng ra trấn thành, tỉnh thành Nghệ An để thay mặt nhà vua đưa vương pháp, vương quyền đến với mọi thần dân làng xã, bản mường trong khoảng không gian địa giới hành chính: Đông, Tây, Nam, Bắc đều rộng 500 dặm(9). Bởi vì, từ đây, Khâm sứ Trung kỳ và Toàn quyền Đông Dương mới là những người quyết định về sự có mặt của quan công sứ cũng như Tổng đốc Nghệ An và cả bộ máy thống trị hỗn hợp Pháp - Nam trên vùng đất rộng lớn này. Một hình thái kinh tế, chính trị - xã hội mới đã hiện hữu trên vùng đất Vinh nói riêng và cả lưu vực sông Lam cũng như toàn xứ Trung kỳ và cả vương quốc Đại Nam cũ.

Theo chân lực lượng viễn chinh, các tập đoàn tư bản Pháp đã nhìn thấy những tiềm năng hết sức lớn lao từ nguồn tài nguyên vị thế mà lỵ sở Vinh có thể mang lại cho công cuộc thống trị lâu dài toàn xứ Đông Dương thuộc Pháp. Điều này giải thích vì sao người Pháp nhanh chóng tìm cách loại bỏ Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Hữu Thu ra khỏi cảng Bến Thủy và độc chiếm luôn cảng sông này ngay trước khi kết thúc chương trình khai thác thuộc địa lần thứ 2 (1919 -1929) bởi tác động của khủng hoảng kinh tế (1929 -1933)(10). Trên lĩnh vực giao thông đường bộ, ngoài việc gấp rút hoàn thành tuyến đường xuyên Việt nối Vinh với các tỉnh phía Bắc cũng như các tỉnh phía Nam, người Pháp còn đầu tư xây dựng các tuyến đường thâm nhập số 7 và số 8 nối Vinh - Bến Thủy với vùng trung Lào. Bên cạnh đó tuyến đường bộ nối Vinh - Bến Thủy - Trường Thi với cảng Cửa Hội, Vinh - Hưng Nguyên - Nam Đàn - Thanh Chương, Vinh - Nghi Lộc - Diễn Châu - Đô Lương,… cũng gấp rút được đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng. Tuyến đường sắt nối Hà Nội - Vinh với tổng chiều dài trên 320km được hoàn thành và đưa vào khai thác vào năm 1905 cùng với Đề pô xe lửa Vinh, Nhà máy Sửa chữa đầu máy toa xe lửa Trường Thi được đầu tư xây dựng trên diện tích 10.000m2 thuộc địa phận làng Yên Dũng Thượng, thu hút hơn 1.000 công nhân Bắc kỳ vào làm việc từ những năm đầu thế kỷ XX. Trong khi đó, Công ty Rừng núi và Diêm Đông Dương sớm đầu tư xây dựng Nhà máy Cưa xẻ gỗ và sản xuất Diêm Bến Thủy có sản lượng lớn nhất Đông Dương và sử dụng khoảng 400 công nhân với đại bộ phận là công nhân nữ. Năm 1922, Công ty Rừng núi và Diêm Đông Dương chính thức đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện Bến Thủy. Đây là Nhà máy nhiệt điện lớn nhất Trung kỳ và Lào thời thuộc Pháp. Một điểm nhấn quan trọng khác làm thay đổi bức tranh đô thị Vinh ngay từ đầu thế kỷ XX, chính là việc vua Thành Thái xuống Đạo dụ thành lập Trung tâm đô thị Vinh (Centre ubaine) vào ngày 12 tháng 7 năm 1899 cùng 05 đô thị khác ở Trung kỳ là Thanh Hóa, Huế, Fai fo (Hội An), Quy Nhơn và Phan Thiết(11). Tiếp đó là việc vua Duy Tân ra Đạo dụ thành lập Trung tâm đô thị Bến Thủy vào ngày 11 tháng 3 năm 1914. Ngày 28 tháng 7 năm 1917, vua Khải Định ban hành Đạo dụ thành lập Trung tâm đô thị Trường Thi (Le Centre urbaine de Trương Thi).

Năm 1918, kỳ thi hương cuối cùng được tổ chức tại trường thi hương Nghệ An. Chỉ hai năm sau đó, Toàn quyền Đông Dương quyết định thành lập Trường Quốc học Vinh (Ecolle de Vinh) dành cho học trò các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình vào học. Năm 1927, Trường Quốc học Quy Nhơn được thành lập. Như vậy, trong thời kỳ thuộc Pháp trên lãnh thổ 14 tỉnh của xứ Trung kỳ, sau kinh đô Huế, Vinh và Quy Nhơn chính thức trở thành những trung tâm đào tạo đội ngũ tri thức Tây học Pháp - Việt quan trọng nhất.

 Công cuộc đô thị hóa diễn ra quyết liệt trên nhiều phương diện, nhanh chóng biến các đô thị: Vinh, Bến Thủy, Trường Thi thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, giao thông vận tải quy mô lớn tập trung của Trung kỳ. Đây chính là một trong những nguyên nhân để đến ngày 10 tháng 12 năm 1927, Toàn quyền Đông Dương Mon Guillo (Mông Ghi Nhô), ra sắc lệnh thành lập thành phố Vinh - Bến Thủy (commune de Vinh - Benthuy) với diện tích 20 km2 cùng 2 vạn dân nội thành trên cơ sở sáp nhập ba Trung tâm đô thị Vinh - Bến Thủy - Trường Thi. Đến năm 1930, toàn quyền Đông Dương Paxkiê (Passiquier) ra nghị định chia thành phố Vinh - Bến Thủy thành 10 khu phố đặt tên từ phố Đệ Nhất đến phố Đệ Thập.

 Bước đường đô thị hóa diễn ra trên địa bàn thành phố Vinh - Bến Thủy vừa mang đầy đủ những đặc điểm chung của các đô thị ở nước ta thời thuộc Pháp nhưng lại mang những nét riêng đặc thù do nhiều nguyên nhân khác nhau mà chúng tôi xin phép giải trình trong một bài viết khác. Có một thực tế hết sức đặc biệt là từ khi Pháp chiếm thành Nghệ An cho đến khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 bùng nổ và thắng lợi, các thế hệ cha anh trong không gian địa đô thị Vinh - Bến Thủy luôn là lực lượng tiên phong trong việc tiếp nhận những giá trị văn hóa - văn minh châu Âu, nhất là văn minh Pháp để làm phong phú, đa dạng hơn cho nền văn hóa - văn minh bản địa (ngôn ngữ nói, viết, cách ăn mặc, kiến trúc nhà cửa, khoa học kỹ thuật,…) và cũng chính họ luôn đứng đầu dậy trước trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

3. Với tinh thần và ý chí "đem sức ta mà giải phóng cho ta" dưới sự lãnh đạo của Đảng và Việt Minh, hàng vạn quần chúng nhân dân yêu nước trên địa bàn thành phố Vinh - Bến Thủy đã nhất loạt vùng lên, làm tan rã, sụp đổ hoàn toàn mọi gông xiềng nô lệ của Pháp - Nhật, phong kiến tay sai, mở đường cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền diễn ra và thắng lợi trên phạm vi toàn tỉnh Nghệ An vào cuối tháng Tám năm 1945. Một trang sử mới chính thức bắt đầu với Đảng bộ và nhân dân thành phố Vinh: Trang sử xây dựng, bảo vệ và phát triển bộ máy chính quyền cách mạng của dân, do dân và vì dân và phấn đấu để mọi người, mọi nhà đều được hưởng tự do, độc lập, ai ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai ai cũng được học hành.

Nghiêm chỉnh thực hiện một cách triệt để Chỉ thị: "Tiêu thổ để kháng chiến" từ tháng 12 năm 1946 đến tháng 4 năm 1947, với sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân nội ngoại thành, 1.335 ngôi nhà, trong đó có 301 nhà cao tầng, 300 toa xe lửa và 12 đầu máy, đường giao thông nội đô, cầu cống,… đã bị phá bỏ, tháo dỡ hoặc đánh sập. Hầu hết máy móc ở Nhà máy Sửa chữa đầu máy toa xe lửa Trường Thi, nhà máy điện, Nhà máy Diêm Bến Thủy, Nhà máy In Nguyễn Đức Tư,… được tháo dỡ, chuyển về các huyện trung du, miền núi trong tỉnh(12). Một số đầu máy, toa xe còn lại của Nhà máy Sửa chữa đầu máy toa xe lửa Trường Thi được anh em công nhân đưa lên cầu Yên Xuân, dùng mìn đánh sập cầu tạo thành hàng rào chắn ngang sông Lam để ngăn tàu chiến Pháp một khi chúng tiến ngược theo dòng sông Lam,… Toàn bộ dân cư trên địa bàn thị xã Vinh cũng tản cư về các huyện trung du, miền núi. Trên địa bàn thị xã chỉ còn lại lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

 Quá trình đô thị hóa ở thị xã Vinh đã không diễn ra theo một đường thẳng mà chịu ảnh hưởng sâu sắc của cuộc chiến tranh xâm lược do Pháp gây nên. Toàn bộ cơ sở vật chất trên địa bàn thành phố Vinh - Bến Thủy do Pháp đầu tư xây dựng không còn nữa. Cuối năm 1953, đầu năm 1954, mặc dù chiến tranh chưa kết thúc, nhưng một bộ phận dân cư thị xã Vinh đi tản cư ở các huyện trung du, miền núi đã trở lại địa bàn thành phố, dựng tạm nhà cửa bắt đầu công cuộc tái thiết lại thành phố Vinh. Nhờ những nỗ lực tuyệt vời của Đảng bộ, nhân dân thị xã Vinh cũng như sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, từ cuối năm 1954 đến năm 1962, bức tranh đô thị Vinh đã có nhiều thay đổi cả về không gian đô thị, kiến trúc đô thị cũng như kinh tế, văn hóa xã hội,… trên địa bàn đô thị. Ngày 10 tháng 10 năm 1963, Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Quyết định số 148/CP công nhận thị xã Vinh trở thành thành phố Vinh. Mốc lịch sử này đánh dấu cả một chặng đường phấn đấu, xây dựng thành phố đầy khó khăn, thử thách nhưng cũng rất đỗi tự hào của cán bộ, nhân dân thành phố Vinh nói riêng và Đảng bộ, nhân dân tỉnh Nghệ An nói chung.

Nhưng dòng chảy lịch sử - văn hóa thành phố Vinh lại một lần nữa thay đổi bởi cuộc chiến tranh tàn khốc do không quân và hải quân Mỹ gây nên đối với miền Bắc Việt Nam từ ngày 5 tháng 8 năm 1964. Do vị thế chiến lược của thành phố Vinh mà ngay từ những ngày đầu của cuộc chiến, Vinh đã trở thành một trong những mục tiêu đánh phá mang tính chất hủy diệt của hải quân và không quân Mỹ. Toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật trên địa bàn thành phố bị bom đạn Mỹ san phẳng. Trong khói lửa chiến tranh khốc liệt ấy, chỉ trong vòng 7 năm (1965 - 1972), nhân dân thành phố Vinh đã phải hai lần tản cư về các huyện trung du, miền núi trong tỉnh. Như vậy, nếu tính từ năm 1946 đến năm 1972, trải qua 26 năm, nhân dân Vinh đã ba lần tản cư và cũng từng ấy lần toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng kiến trúc đô thị, kinh tế đô thị,… bị phá hủy gần như hoàn toàn chỉ còn lại những đống gạch đổ nát, hoang tàn. Đây có thể là một trong những nét độc đáo, riêng có trên bước đường đô thị hóa của thành phố Vinh so với bất cứ một thành phố, đô thị nào khác ở nước ta từ thế kỷ XIX cho đến nửa sau của thế kỷ XX.

4. Ngày Quốc tế lao động 1/5/1974, trở thành một mốc son lịch sử trên bước đường tái thiết lại thành phố Vinh sau đổ nát, hoang tàn của chiến tranh. Đồng chí Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Xây dựng Đỗ Mười, thay mặt Đảng Nhà nước, cùng đồng chí Di-Tô-du-ê- rinh - Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa dân chủ Đức tại Việt Nam và đồng chí Nguyễn Sĩ Quế, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An đã đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng lại thành phố Vinh trước sự chứng kiến của hàng vạn công nhân và nhân dân thành phố. Công cuộc xây dựng lại thành phố Vinh diễn ra trong bối cảnh quân dân cả nước dồn toàn bộ tinh thần lực lượng giải phóng hoàn toàn miền Nam. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, non sông thu về một mối, tạo tiền đề để cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực hiện Nghị quyết số 245 của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành trung ương Đảng ngày 20 tháng 9 năm 1975, công cuộc sáp nhập hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh thành tỉnh Nghệ Tĩnh được tiến hành nhanh chóng. Vinh chính thức trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của một trong những tỉnh có diện tích tự nhiên rộng nhất cả nước và dân số đông nhất trong tổng số 49, 53 tỉnh, thành của cả nước lúc bấy giờ.

Sau 16 năm hợp nhất, đến năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh chia thành hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh. Vinh trở lại là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của tỉnh Nghệ An. Ngày 13 tháng 8 năm 1993, thành phố Vinh được công nhận là Đô thị loại II. Ngày 20 tháng 12 năm 1993, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 603/TTg, phê duyệt tổng thể xây dựng thành phố Vinh. Đây là một trong những mốc lịch sử quan trọng tạo tiền đề thúc đẩy quá trình phát triển nhanh, mạnh, toàn diện và bền vững trên tất cả các phương diện kinh tế, tài chính, văn hóa, xã hội,… của đô thị Vinh suốt thập kỷ 90 của thế kỷ XX cho đến đầu thế kỷ XXI. Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 239/2005/QĐ-TTg phê duyệt: "Đề án phát triển thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Bắc Trung bộ". Ngày 05 tháng 9 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1210/TTg công nhận Vinh là Đô thị loại I. Đến nay, Vinh có 16 phường, 9 xã, với tổng diện tích tự nhiên là 10.497,58 ha(13).

 Có ý kiến cho rằng, xuyên suốt chặng đường hình thành, phát triển suốt hơn hai thế kỷ (1804 -2017), đô thị Vinh thời quân chủ, thành phố Vinh - Bến Thủy thời thuộc Pháp và thị xã Vinh - thành phố Vinh thời hiện đại in đậm dấu ấn của mọi thăng trầm, biến đổi của lịch sử dân tộc. Bước đường đô thị hóa vùng đất Vĩnh Yên và Yên Trường xưa, Vinh ngày nay vừa mang đầy đủ những yếu tố đặc trưng của đô thị Việt Nam nhưng cũng có không ít những đặc điểm riêng mang tính đặc thù. Có một thực tế lịch sử từng tồn tại hơn hai thế kỷ qua là: cho dù các hình thái kinh tế, chính trị - xã hội có thay đổi thì vị thế địa chính trị - quân sự, văn hóa của đô thị Vinh vẫn ít thay đổi. Nhưng điều mọi người mong đợi là làm thế nào và đến bao giờ thành phố Vinh sẽ cất cánh để trở thành một trong những thành phố thông minh, và là một trong những trung tâm tài chính, tiền tệ lớn nhất ở miền Trung cũng như của cả nước? Khi đó, dòng chảy lịch sử - văn hóa của thành phố Vinh sẽ có nhiều điểm mới so với quá khứ đã từng diễn ra trên vùng đất có nguồn tài nguyên vị thế chiến lược và cả nguồn tài nguyên vô giá là nguồn lực con người có đủ trình độ, trí tuệ, ý chí, nghị lực và khát vọng vươn cao, bay xa trong cuộc cách mạng 4.0.

 

Chú thích

1. Chúng tôi trích theo Bản dịch Chiếu của Nguyễn Huệ gửi La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp năm Thái Đức thứ 11 ngày 03 tháng 9 năm 1788 tức ngày 01 tháng 10 năm 1788, trong sách: La Sơn phu tử do Hoàng Xuân Hãn biên soạn, nhà xuất bản Minh Tân phát hành, năm 1951, trang 292 -293.

2. Thư viện Nghệ An - Câu lạc bộ Hán Nôm: Xứ Nghệ với Hoàng đế Quang Trung, Nhà xuất bản Nghệ An, 2008.

3. Xem: Ngô gia văn phái: "Hoàng Lê Nhất thống chí", Bùi Dương Lịch: "Nghệ An ký". Quốc sử quán triều Nguyễn: "Đại Nam nhất thống chí, tập 2, phần Nghệ An tỉnh,…Trong cuộc Hội thảo chọn mốc lịch sử ra đời của thành phố Vinh năm 1998, Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Vinh và một số nhà khoa học tham dự Hội thảo đã quyết định chọn mốc ngày 01 tháng 10 năm 1788 làm mốc ra đời của thành phố Vinh.

4. Toàn văn bài viết: "Vấn đề xác định năm ra đời của thành phố Vinh hiện nay", của PGS. Hoàng Văn Lân, được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số1 (302) (I- II), năm 1999, tr.56-66; sau đó được Tạp chí Khoa học Công nghệ và Môi trường Nghệ An đăng lại. Năm 2013, bài viết này được in lại toàn văn trong cuốn sách: "Hoàng Văn Lân với Sử học", Nxb. Nghệ An, 2013, tr276 -292.

5. Nguyễn Quang Hồng: Thành phố Vinh - Quá trình hình thành và phát triển (từ năm 1804 đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945), Nhà xuất bản Nghệ An, 2003.

6.7. Đào Tam Tỉnh: Khoa bảng Nghệ An 1075 -1919, Nhà xuất bản Nghệ An, 2005 và Tìm trong di sản văn hóa Xứ Nghệ (những phát hiện tiêu biểu), Nhà xuất bản Nghệ An, 2010.

8. Ninh Viết Giao: Tục thờ thần và thần tích Nghệ An, Nhà xuất bản Nghệ An, 2000, tr 189 -2018.

9. Bùi Dương Lịch: Nghệ An ký, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, H, 1993.

10. Ngoài việc đánh giá cao tiềm năng của cảng Bến Thủy, ngày 17 tháng 3 năm 1930, Hội đồng các Hải cảng Đông Dương đã ra thông báo về Dự án cải tạo cảng Bến Thủy (toàn văn bản thông báo này đăng trên Tạp chí Chấn hưng kinh tế Đông Dương, số 690 ra ngày 14/6/1931) với tổng kinh phí dự toán ban đầu là 10.000.000 Fr. Nhưng, dự án này chưa kịp triển khai thì Xô viết Nghệ Tĩnh bùng nổ. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến Dự án cải tạo cảng Bến Thủy, dự án xây dựng nhà máy nước sạch, xây dựng hệ thống thoát nước cho thành phố Vinh - Bến Thủy,… không được thực thi. Không rõ vì nguyên nhân nào, cuối thế kỷ XX, người ta quyết định bỏ cảng Bến Thủy để đầu tư xây dựng, phát triển cảng Cửa Lò, trong khi theo tài liệu tính toán của các kỹ sư người Pháp thì việc đầu tư cải tạo nạn cát bồi, mở một đường biển phía Bắc gọi là đường Lộc Châu nối khúc cuối sông Lam với biển và mở một con đường thủy phía Nam gọi là Đan Hải nối sông Lam với biển để tàu có tải trọng từ 2 - 3 vạn tấn ở cảng sông Bến Thủy cho giá trị kinh tế cao hơn nhiều so với đầu tư xây dựng cảng biển Cửa Lò ( N.Q.H chú).

11. Trong một số công trình đã công bố, người ta nhầm lẫn sự kiện ngày 20 -10 -1898 (tức ngày 6 tháng 9 năm Thành Thái thứ 10 (6/9/1898 âm lịch) các đại thần trong Cơ mật viện triều đình Huế là: Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thuật, Trương Như Cương, Hoàng Vĩ dâng tấu trình lên vua Thành Thái đề nghị nhà vua thành lập các trung tâm thành phố (hiểu theo nghĩa là trung tâm đô thị) ở Trung kỳ, với sự kiện ngày 12 tháng 7 năm 1899 (tức ngày 5 tháng 6 năm 1899 Âm lịch), vua Thành Thái ban hành Đạo dụ thành lập trung tâm đô thị Vinh cùng 5 trung tâm đô thị khác ở Trung kỳ.

Đối chiếu với Công báo của Chính phủ Đông Dương (Journal official de L,indochine Francaise n015, Jeudi 20 Février 1902) về khái niệm "phố" và "thành phố", "thị xã", căn cứ vào Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 30 tháng 8 năm 1899, thì Vinh và cả 05 đô thị ở Trung kỳ chỉ là Trung tâm đô thị (Centre urbaine), chứ không phải là thành phố ville hiểu theo nghĩa của người Pháp.

12. Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam thành phố Vinh: Lịch sử Đảng bộ thành phố Vinh (1930 - 2005) sơ thảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr197 -201.

13. UBND thành phố Vinh: Địa chí thành phố Vinh, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, 2015, tr 220 -223.

 

Hồ Thủy

Cho đến năm 1804, khi vua Gia Long có Chỉ dụ chuyển lỵ sở Nghệ An về Yên Trường (thành phố Vinh ngày nay), cùng với việc xây dựng thành Nghệ An, thì Vinh vẫn là một đô thị nông nghiệp. Từ năm 1899, năm cuối cùng của thế kỷ XIX, khi Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ký quyết định chấp thuận thành lập 6 đô thị ở Trung kỳ theo như Đạo dụ của vua Thành Thái, trong đó có thành phố Vinh thì Vinh mới bắt đầu được xây dựng theo hướng đô thị công nghiệp và thương mại. Có thể nói từ đây Vinh bắt đầu phát triển một cách nhanh chóng. Chưa đầy ba mươi năm sau, năm 1927, Toàn quyền Đông Dương Moungillot kí Nghị định cho sáp nhập 3 trung tâm đô thị Vinh - Bến Thủy - Trường Thi thành thành phố Vinh - Bến Thủy. Đến lúc này Vinh đã có dáng dấp một đô thị hiện đại.

Vinh - Bến Thủy trở thành trung tâm công nghiệp - thương mại - giao thông lớn mạnh nhất vùng Bắc Trung bộ, với diện tích 20 km2, 2 vạn dân, trong đó có 8.000 công nhân, 20 nhà máy lớn và rất nhiều các hãng nhà buôn, nhà băng(1). Đặc biệt, lúc này Vinh đã có những yếu tố của một đô thị đa văn hóa, với trên dưới 700 người nước ngoài (Hoa, Ấn, Pháp…) thường trú. Tại thời điểm này, thành phố Vinh được quy hoạch và chia thành 3 khu vực trung tâm với ba công năng rõ ràng: Khu vực Vinh - trung tâm hành chính; Khu vực Trường Thi là nơi có Nhà máy Xe lửa Trường Thi và một số cơ sở công nghiệp khác; Khu vực Bến Thủy là trung tâm đô thị cảng, công nghiệp sầm uất.

Qua mô tả của sử sách và các tư liệu cũ, diện mạo đô thị Vinh lúc này chủ yếu vẫn là những ngôi nhà truyền thống, chen lẫn đồng ruộng. Tuy nhiên, trong khung cảnh chung đó, có hai sự khác biệt rất đáng kể. Thứ nhất, đó là khu phố người Hoa gần chợ Vinh, được sách "Tổng quát An Nam" năm 1901 mô tả là: "Khu vực người Hoa kiều ở có nhiều nhà gác cao đẹp, sân xây bằng đá san sát đều nhau"(2).  Điểm khác biệt thứ hai là dấu ấn của kiến trúc Pháp qua kiểu dáng thiết kế đường phố và hàng loạt công trình xây dựng thời kì đó, đặc biệt là các công trình tập trung ở trung tâm Vinh và khu vực Bến Thủy.

Rất tiếc tất cả các công trình đó hiện nay đều không còn, chúng ta chỉ có thể nhận diện và kể cả suy đoán chúng qua những tấm ảnh cũ may mắn sưu tầm được.

Trước hết, ta có thể nhận thấy dấu ấn kiến trúc Pháp qua thiết kế đường phố, vỉa hè. Những bức ảnh chụp ngã tư chợ Vinh, hay phố Disney cho ta thấy thành phố Vinh thời kỳ này không khác mấy so với các khu phố cũ thời thuộc Pháp ở Hà Nội hiện nay. Vỉa hè rộng, có bó vỉa cao, trên hè phố dựng cột điện và đặc biệt, trồng rất nhiều cây xanh. Hai bên là những dãy nhà hai hoặc ba tầng khá đều nhau. Khung cảnh này khác hẳn với khu phố người Hoa không có vỉa hè (giống như khu phố cổ Hà Nội), hay các làng của người Việt ở thành phố Vinh lúc đó. Có thể nhận thấy người Pháp đặc biệt ưu tiên không gian và cảnh quan xung quanh các khối kiến trúc. Thường những công trình, tòa nhà,... được xây dựng với lối kiến trúc châu Âu của những thế kỷ trước kết hợp với diện tích cảnh quan lớn như: dinh công sứ, nhà thương,... tạo nên một tổng thể hài hòa, quang đãng.

Đặc biệt, qua những tấm hình về Vinh xưa, có thể thấy một quỹ kiến trúc Pháp đặc trưng đã mang lại cho Vinh vóc dáng của một đô thị được thiết kế theo phong cách tân cổ điển. Đây là phong cách hàn lâm thịnh hành ở Pháp, và được người Pháp phổ biến ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX. Nguyên tắc của phong cách này dựa trên quy luật đối xứng nghiêm ngặt, trong đó nhấn mạnh diện trung tâm hay hai khối nhô ở hai bên và dựa trên cách thức, chi tiết trang trí kiến trúc theo tinh thần cổ điển. Tuy nhiên, khi vào Việt Nam, cụ thể là các tòa nhà ở Vinh những năm đầu thế kỷ XX thì đã có sự chuyển biến nhất định để phù hợp với điều kiện tự nhiên, hòa hợp với văn hóa bản địa, bao chứa cả tính khách quan của thời đại và cả tính chủ quan của cá nhân. Mặc dù vậy, các công trình, tòa nhà, dinh thự,... thời kỳ đó vẫn mang đậm kiến trúc Pháp với một phong cách riêng, tạo nên sự tổng quan hài hòa của đô thị Vinh thời kỳ này.

Có thể điểm diện một số dạng công trình kiến trúc tiêu biểu ở Vinh thời kỳ này:

Dạng kiến trúc cơ quan công quyền như Dinh công sứ, trụ sở Tòa án. Dinh công sứ ở Vinh tiêu biểu cho phong cách kiến trúc tân cổ điển của Pháp, với tổ hợp mặt bằng, mặt đứng cân xứng với những chi tiết kiến trúc thuần túy châu Âu. Bố cục cân đối, sử dụng nhiều hình thức cổ điển, mái dốc lợp ngói tây hoặc ngói đá, nhiều hình thức trang trí phong phú sử dụng cách thức, chi tiết cổ điển La Mã, Phục hưng, Baroque. Tuy nhiên, Dinh công sứ ở Vinh những năm đầu thế kỷ XX, được thiết kế một cách đơn giản nhất theo lối kiến trúc tân cổ điển của Pháp. Với mặt đứng của tòa nhà được thiết kế các phần vĩ ngang, các cột đối xứng thể hiện sự vững chắc, trang nghiêm, khỏe mạnh. Mặt trước của tòa nhà được nhấn mạnh bởi cửa chính với mái vòm cong nhẹ, đặc trưng của kiến trúc Pháp. Mái nhà được thiết kế theo kiểu mái thu hồi, lai phong cách của châu Á, với các đầu mái gắn cột là điểm nhấn thể hiện sự kết thúc của ngôi nhà, khác với kiến trúc của người Việt, mái nhà được thiết kế cong vút, chạm trổ hình rồng. Cửa sổ của tòa nhà cũng là nét kiến trúc đặc trưng của Pháp, bên cạnh sự đối xứng, các cửa sổ này được thiết kế trong kính, ngoài chớp phù hợp với điều kiện khí hậu ở nước ta,... Trụ sở tòa án cũng được thiết kế theo lối kiến trúc tân cổ điển, nhưng đã được đơn giản hóa, mang diện mạo đường bệ, uy nghi, thể hiện rõ sức mạnh của quyền lực.....

Dạng công trình công sở, như bưu điện, nhà ga, trụ sở 1 số công ty. Hầu như được thiết kế theo chủ nghĩa "chiết trung", lựa chọn những nét đẹp của trường phái kiến trúc Đông - Tây kết hợp tạo nên sự hài hòa, đẹp mắt. Trên nên tảng của sự vững chắc, ổn định, kiến trúc của các công trình công sở đơn giản hơn, bớt sự nặng nề hơn với lối kiến trúc mở. Sự đối xứng trong các chi tiết của ngôi nhà vẫn được nhấn mạnh thể hiện sự khỏe khoắn. Trụ sở một công ty ở Bến Thủy dựa vào lối kiến trúc châu Âu, với tầng một cửa sổ làm nhỏ hơn các tầng khác, nhằm làm phong phú thêm cho mặt đứng của tòa nhà, cửa sổ cũng được thiết kế kiểu mái vòm đặc trưng. Mặt trước của ngôi nhà đưa vào một số chi tiết kiến trúc đặc trưng của Pháp, và biểu tượng của công ty. Nhà Bưu điện có kết hợp với kiến trúc Á Đông ở mái nhà, với điểm nhấn là hình sọc dọc làm sống động thêm kiến trúc. Mái dốc lợp ngói, hoặc tôn, có hệ con sơn đỡ mái bằng gỗ mảnh hình tam giác, được tiện khắc công phu, với họa tiết trang trí không nhiều nhưng khá tinh tế, vừa có tác dụng nâng đỡ mái vừa là cách trang trí đẹp mắt cho ngôi nhà. Riêng bức ảnh chụp Nhà Ga Vinh khiến ta liên tưởng đến kiểu dáng Ga Hàng Cỏ (Hà Nội) trước đây. Tuy nhiên, so với Hàng Cỏ, Ga Vinh nhỏ và đơn giản hơn.

Dạng công trình văn hóa công cộng, vui chơi giải trí, như Câu lạc bộ (nhà séc) ở phố Disney, nhà thương Vinh… thường theo trường phái kiến trúc Gô-tích, hoặc mái vòm, kết hợp cùng với diện tích cảnh quan lớn. Điều đặc biệt trong quy hoạch xây dựng của người Pháp là ở tuyến phố chính, tại điểm giao nhau thường đặt các công trình mang tính biểu tượng, đẹp, như công trình văn hóa - thương mại hoặc tượng đài. Phố Disney ở Vinh thời kỳ này là một ví dụ. Tại đây họ cho xây dựng Câu lạc bộ vui chơi giải trí. Câu lạc bộ này được xây dựng với lối kiến trúc mới, hiện đại của Pháp thời kỳ đó. Với điểm nhấn là sảnh vào, sảnh cong khỏe mạnh, nhẹ nhàng, sử dụng những hình khối trong bố cục không gian, các khối vuông, chữ nhật kết hợp với khối bán trụ, tạo nên lối kiến trúc hiện đại, giản dị. Thêm vào đó là các họa tiết trang trí bằng thép uốn hoặc đắp nổi xi măng, thạch cao với đường nét mềm mại làm giảm bớt sự thô nặng của các khối chủ đạo. Đây là loại hình kiến trúc có nhiều sự cải biên phù hợp với công năng và điều kiện sống ở bản địa. Riêng kiến trúc Nhà thương Vinh, người Pháp đặc biệt chú trọng và ưu tiên không gian kiến trúc cảnh quan, môi trường xung quanh. Nhà thương được xây dựng tách hẳn môi trường ồn ào, náo động của đô thị, tạo nên một không gian an dưỡng yên tĩnh, trong lành. Thiết kế của Nhà thương cũng được đơn giản một cách tối đa với kiến trúc hành chính với lối vào, sảnh, cửa vào mái vòm, mái có con sơn kép, có ống thông hơi, hành lang rộng...

Dạng công trình trường học (Trường tiểu học Pháp - Việt, Trường Tư thục Khuất Như Khôi,...): Thời kỳ này, không chỉ các trường học ở Vinh mà hầu như các trường học ở Việt Nam đều mang phong cách kiến trúc địa phương Pháp. Từ những năm 1900, nhiều người Pháp mang cả gia đình sang Việt Nam sinh sống và làm việc nên họ mang theo những hoài niệm về quê hương thông qua những công trình kiến trúc nơi họ đã sống và do vậy cũng bắt đầu từ thời gian này, một loạt biệt thự, trường học cho người Pháp được xây dựng theo phong cách kiến trúc địa phương Pháp. Tuy nhiên, khi sang Việt Nam các công trình này đã không giống hoàn toàn ở chính quốc mà đã mang nhiều tính công năng, thực dụng và dỡ bỏ nhiều những hình thức trang trí nguyên gốc. Những công trình phong cách địa phương Pháp nhìn chung mang đậm tính hồi cố, duyên dáng, mang nhiều nét kiến trúc các địa phương miền Bắc nước Pháp và vùng Paris, tuy nhiên đã có những biến đổi nhất định để phù hợp với công năng mới và khí hậu nhiệt đời Việt Nam. Các công trình phong cách địa phương Pháp có mái với độ dốc lớn hoặc vừa phải, có hệ con sơn đỡ mái bằng gỗ mảnh hình tam giác được tiện khắc công phu, họa tiết trang trí không nhiều nhưng khá tinh tế.

Ngoài những công trình tiêu biểu đó, thời kỳ này ở thành phố Vinh - Bến Thủy còn có nhiều công trình nhà dân, khách sạn, rạp chiếu bóng… mang đậm phong cách kiến trúc Pháp. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ biết qua mô tả của một số tác phẩm văn học, chưa sưu tầm được ảnh, nên không dám bình luận sâu.  

Có thể nói, những công trình kiến trúc này không chỉ có giá trị lớn về nghệ thuật kiến trúc mà còn là kho tư liệu sinh động về kỹ thuật xây dựng đặc sắc của Pháp.

Tuy nhiên, do chiến tranh, do thiên tai, rất đáng tiếc, đến nay tất cả các công trình mang dấu ấn kiến trúc Pháp đã không còn. Riêng trong cuộc "tiêu thổ kháng chiến" năm 1947 đã có 235 công sở, 324 nhà cao tầng và 1.263 nhà dân bị dỡ bỏ, đập phá. Thiết nghĩ các nhà quản lý, các nhà quy hoạch, kiến trúc, các nhà nghiên cứu lịch sử và văn hóa cũng cần có suy nghĩ, để cho những dấu ấn kiến trúc Pháp ở Vinh được lưu giữ không chỉ trong ký ức và trên sách vở.

 

Chú thích

(1). Theo Lịch sử Thành phố Vinh, tập1, Nxb Nghệ An, tr 70.

(2). Nguyễn Quang Hồng, Thành phố Vinh quá trình hình thành và phát triển, Nxb. Nghệ An 2003

 

Chu Trọng Huyến

Thời Trung đại, nơi đóng bộ máy cai trị của Nghệ An là ở Lam Thành. Người có công trong việc cho chuyển trấn sở của tỉnh này từ đó ra làng Dũng Quyết (nay thuộc đất các phường Trung Đô và Bến Thủy- Vinh) là Bắc Bình vương Nguyễn Huệ (hồi cuối thế kỷ XVIII)(1). Đến năm 1804 thì vua Gia Long cho dời dinh trấn của Nghệ An từ đó lên làng Vĩnh Yên (nay thuộc phường  Đội Cung).

Xét về việc kinh doanh, buôn bán trên đất nước ta, sau khi Gia Long nhờ có tư bản Pháp giúp sức mà đánh bại triều Tây Sơn để cai trị cả nước thì đã mở thêm sự thuận lợi cho giới công thương. Tại Nghệ An, các doanh nhân lớn, chủ yếu từ Phù Thạch, nơi đối ngạn với Lam Thành chuyển hết ra vùng Vĩnh Yên, tên thường gọi là Vĩnh Doanh, mà nơi quần tụ chính của họ là tại Vĩnh Thị (đoạn đường từ Ngã Tư đi vào, cho đến 1946 từ đó được gọi là Phố Khách - Chợ Vĩnh) và vùng Bến Thủy. Như thế là trước khi người Pháp đặt được bộ máy cai trị của họ lên đất này, Vĩnh Thị đã có ngót trăm năm phát triển (cuối thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX). Trong "Niên giám Đông Dương" do chính quyền thực dân lập, họ đã ghi là: vào năm 1893 ở Vinh, về người Việt có Nguyễn Hiểu: chủ hiệu buôn vải, Đức Hợp: đồ gốm; Thuận Ký: thuốc Bắc... Thương gia người Hoa có: Vinh Xương Mậu: đồ sứ; Di Hòa: da thú... ; Đồng Hòa: thuốc Bắc... Ấy mới là một số đại thương gia bản địa thuở bấy giờ mà người Pháp nhận biết. Và suốt thời gian tiếp theo, các hãng công thương như thế vẫn đủ sức cạnh tranh với người Pháp trên những lĩnh vực mà họ kinh doanh. Đó là chưa kể các thương gia người Ấn với hàng buôn chính là len, lụa...

Còn về các doanh nhân người Âu, ta biết, món nợ mà triều Nguyễn (do Gia Long khởi ngôi) cần trả cho tư bản Pháp là rất nặng. Việc đầu tiên là nhà vua phải chịu để người nước họ được tự do đi lại, buôn bán trên toàn lãnh thổ của ta. Và, kể từ khi Pháp mới chiếm xong Nam kỳ thì một thương gia người nước họ là Đuy-puy (Jean Duipuis), chuyên buôn súng đạn và thăm dò khoáng sản đã có cái đặc quyền là được ghé vào bất cứ một bến sông nào trên lãnh thổ Việt Nam do vì sau cái chết của La-gơ-rê (Doudard De Lagré) - bị đắm thuyền khi ngược sông Hồng để khảo sát vùng Vân Nam, Trung Quốc - thì Đuy- puy đã vì quen thủy thổ, thác ghềnh mà dẫn đường để những kẻ kế tục công việc của La-gơ-rê thâm nhập vào xứ ấy. Rồi  Đuy-puy được Súy phủ Sài Gòn trả công như vậy. Đó là lý do để ông ta đến Bến Thủy từ khi thực dân Pháp chưa chiếm được kinh thành Huế mà xây trên vùng đất này một trạm buôn gỗ mang tên mình.

Khi quân đội Pháp đánh chiếm xong cả xứ Trung kỳ thì đến năm 1887, Đuy-puy nhượng cái cơ sở đó lại cho chính quyền thực dân ở Nghệ An. Năm 1892, trên cái nền ấy, Công ty Vô danh khai thác rừng và làm diêm Đông Dương (Société Anonynme Indochine de Forestiers et d'Alumettes) gọi tắt là SIFA được thành lập tại Bến Thủy. Vào năm 1894, số vốn của Công ty này là 500.000 quan tiền Tây. Công ty này do Tòa Công sứ Vinh nắm quyền quản lý(2). Năm 1903, họ lập thêm cơ sở làm Diêm (Fabrique d'allumettes). Rồi từ việc dùng điện bằng các mô-tơ (moteur électrique), năm 1922 công ty này xây hẳn một nhà máy điện, do Ca-la-bi, chủ của công ty SIFA trực tiếp làm quản đốc(3).

Rồi dần dần, chính quyền thực dân nhìn biết sự giàu có về thảo mộc, khoáng sản của vùng đất phía Tây Nghệ - Tĩnh và Trung - Thượng Lào nên cho phép các nhà tư bản trước tiên là người Pháp đặt kế hoạch khai thác miền đất  từ giáp Mê Kông xuống đến vùng trung du của xứ này. Mà để lưu chuyển nguyên vật liệu và của cải thì cần có đường sá, do vậy các công ty vận tải ra đời mà thế mạnh của Vinh - Bến Thủy là có cửa của Lam Giang cách biển chỉ khoảng mười cây số. Ấy là cơ hội để vùng cảng Bến Thủy có những con thuyền chạy bằng máy hơi nước ra vào. Mà về phương diện này thì thế mạnh không hoàn toàn thuộc về người Pháp. Nổi lên ở nơi này thuở bấy giờ là Bạch Thái Bưởi.

Ông vốn họ Đỗ, ở làng An Phúc, tỉnh Hà Đông, bố mất sớm, làm con nuôi một gia đình họ Bạch rồi mang họ của chủ. Từ đó, ông được đi học rồi tiếp xúc với kỹ thuật cơ giới. Ông là người chủ yếu cung cấp vật tư, thiết bị để người Pháp lắp đặt đoạn đường ray xe lửa Gia Lâm - Hàng Cỏ (Hà Nội). Năm 1909, ông thuê lại 3 chiếc tàu biển của một doanh nhân Pháp để mở tuyến đường biển giao thương Hà Nội - Nam Định - Bến Thủy. Từ đó, cầu cảng Bạch Thái Bưởi (có nhánh đường goòng riêng) là dài và rộng nhất ở cửa sông Lam. Năm  1917, hãng vận tải biển Đét-văng-đen (Deschwanden) của Pháp bị phá sản, Bạch Thái Bưởi mua lại 6 con tàu khác của hãng ấy. Bấy giờ ông đã có tiếng vang lớn trong kinh doanh đường thủy ở Đông Nam Á. Ngày 7-9-1919, Công ty Bạch Thái Bưởi cho hạ thủy con tàu Bình Chuẩn và ông được tôn xưng là "Vua tàu thủy của Việt Nam". Ông luôn luôn bênh vực người dân bị trị. Trong một cuộc hội nghị kinh tế lý tài họp ở Hà Nội, Rô-banh (René Robin) Thống sứ Bắc kỳ dọa: "Nơi nào có Rô-banh thì không có Bạch Thái Bưởi". Ông đáp lại: "Đất nước này còn Bạch Thái Bưởi thì không có Rô-banh". Trong hồi ký để lại của mình, một số thợ bốc vác ở Bến Thủy vẫn viết "Làm thuê cho nhà ông chủ họ Bạch công sá sòng phẳng và thường là có thưởng". Một số tài liệu cho rằng, kinh phí để trùng tu chùa Tập Phúc (Vinh) năm 1926 là do Bạch Thái Bưởi cung hiến. Người đời đánh giá: "Bạch Thái Bưởi là một nhà tư sản dân tộc, một thương gia lớn, giàu chí tự cường, một tâm hồn Việt, là khuôn mặt doanh nhân nổi trội trong ba mươi năm đầu của thế kỷ XX".

Cũng trong ngành giao thông vận tải, về đường bộ, nổi lên có hãng ô-tô (thường gọi là   ga-ra) Phạm Văn Phi với gần 150 thợ, số vốn có đến trên 200.000 quan tiền Tây. Đã một thời, hãng này đủ sức cạnh tranh với hãng vận tải ô-tô SAMANAL (Socité automobile messagerie Nord d' Annam et Laos) của người Pháp.

Trên đất Nghệ An hồi trước còn rất nhiều những công - thương gia người Việt cũng như ngoại kiều chuộng công lý, khát khao sự yên hàn để sản xuất, buôn bán, góp phần làm giàu có thêm cho xứ sở mà họ cư ngụ, kinh doanh. Ví như Lê Viết Lới chủ xưởng gỗ, dân biểu Trung kỳ thời kì 1933, 1934, đã có nhiều ý kiến về xây dựng thành phố Vinh, như mở rộng, nâng cấp cảng Bến Thủy; điều chỉnh thuế xăng dầu và một số sắc thuế khác; hạn chế mua sắm công; xây dựng hệ thống nhà vệ sinh công cộng ở Vinh… (những ý kiến này đều có đăng trên tờ Thanh Nghệ Tịnh tân văn); Phó Đức Thành: Chủ hãng buôn Vĩnh Hưng Tường, chuyên buôn thuốc bắc, đồng thời là người sáng lập và chủ tờ báo Thanh Nghệ Tịnh tân văn; Trịnh Văn Ngấn buôn bông vải sợi; Vương Đình Châu và Nguyễn Đức Tư kinh doanh in ấn... Và khi xứ sở này gặp sự biến về thiên tai, địch họa thì họ cùng chung sức chống chọi và khắc phục hậu quả.

Về kinh doanh công thương nói chung, nếu vùng Bến Thủy mạnh về buôn bán gỗ, gạch, xăng dầu, tiểu cơ khí, đồ hộp của người Âu thì tại vùng Vinh nặng về trao đổi các nhu yếu phẩm dân dụng. Tại đây có nhà kinh doanh như: Trịnh Văn Ngấn con của nhà tư sản Ký Phượng buôn tổng hợp; Nguyễn Tạo mở xưởng cưa trên đường Đuy-răng-tông (nay thuộc phường Hồng Sơn); Đề Hợp buôn lâm thổ sản; Vĩnh Dụ buôn xăng dầu, Quảng Phúc Hòa buôn đồ đồng; Thuận Ký và Vĩnh Hưng Tường buôn thuốc Bắc,  Lẹng-xẹng (người Hoa) buôn vải dạ, may đo, Bảo Nguyên, Quảng Tiến kinh doanh vàng bạc, Ký Hai buôn thuốc lào. Khách của các chủ hàng này có rất nhiều người giàu tinh thần cách mạng nên về sau, các nhà công thương ấy một lòng đồng hành với nhân dân ta suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Nhìn lại vùng đất Nghệ An mà Vinh - Bến Thủy là trung tâm, nơi giới công thương đã góp phần để cho xứ sở này cùng  phát triển; nay trước những cơ hội và thách thức mới của đất nước và toàn cầu khi tất cả cùng bước vào kỷ nguyên cách mạng công nghiệp 4.0, ta nhớ không lâu sau ngày Cách mạng tháng 8 thành công, ngày 13-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho giới công thương. Và trong thư gửi giới công thương hồi đó, Người viết: "Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng. Tôi mong giới công thương nỗ lực và khuyên các nhà công nghiệp thương nghiệp mau mau gia nhập vào Công thương cứu quốc đoàn, cùng đem vốn vào làm những công cuộc ích nước, lợi dân". Ngày 20/9/2004, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phan Văn Khải đã ký Quyết định số 990/QĐ - TTg về Ngày Doanh nhân Việt Nam, hằng năm lấy ngày 13/10 làm ngày Doanh nhân Việt Nam.

 

Chú thích

(1). Xin xem sách "Đại Nam thực lục", trang (Tr). 124 và sách "La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn" Tập 2, Tr. 1050.

(2). Vào năm 1897, tại Bến Thủy có thêm Công ty Lâm nghiệp Thương mại Trung kỳ do Măng- giơ (Mange) làm Giám đốc.

(3). Sách "Lịch sử Điện lực Nghệ An" do Nguyễn Văn Minh biên soạn, Nxb. Nghệ An, 2003, tr.14 viết  là "năm 1916, thị xã Vinh mới có một có một nhà máy điện nhỏ ở sát bờ hào sen gần Cửa Tiền - thành Nghệ An, do Đuy-cơ-lô xây dựng, nhưng rồi bị thất bại, sau khi Nhà máy Điện  Vinh- Bến Thủy được thành lập".

Tài liệu tham khảo

(1) Phó Giáo sư Nguyễn Quang Hồng trong sách "Thành phố Vinh, quá trình hình thành và phát triển", là Luận văn Tiến sĩ, Giải thưởng Nguyễn Thiện Duật năm 2000, Nxb. Nghệ An - in lại năm 2003 do Thành ủy Vinh xuất kinh phí và Phó Bí thư thường trực Thành ủy là ông Phạm Xuân Cần viết "Lời nói đầu". Ở tr. 22, Tiến sĩ Hồng viết: "Ngay ông Ma-hê (Mahé) nguyên Toàn quyền thuộc địa Đông Dương đã nghỉ hưu trong chuyến du lịch từ Vinh - Bến Thủy đi Lào đã phải đi xe của xí nghiêp Phạm Văn Phi, từ ngày 8- 4-1928 đến 17- 4-1928...". Nhưng Ma-hê không từng làm Toàn quyền Đông Dương (về hưu). Chức ấy, từ tháng 4/ 1928 trở ngược lên là: Robin từ 8/8 đến 26/12/1928; Monguillot: từ 11/1927- 8/1928; Pasquier từ 4/10/1926 - 16/5/1927, Varenne từ 8-11-1925 đến 4/10/1926... (đẫn theo "Leçon d' Histoire d' Annam" của Dương Quảng Hàm, Hà Nội,  Tr.198 và Charle B. Maybon trong "Pays d'Annam", Imprimerie d'Extrême- Orient, 1930).

(2). Bài "Bác Hồ và sự nghiệp xây dựng đội ngũ doanh nhân", Báo "Sài Gòn Online" 31-1-2017.

 

LTS: Tính đến nay, năm 2018, Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới đã qua được một chặng đường khá dài. Bên cạnh nhiều kết quả đạt được thì vẫn còn nhiều vấn đề cần được nhận thức đúng đắn và giải quyết hợp lý. Nghệ An là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về số lượng xã đạt tiêu chuẩn quốc gia về nông thôn mới. Tuy nhiên, ngoài những con số làm nức lòng nhiều người thì cũng tồn tại không ít những khó khăn, hạn chế phải có hướng giải quyết đúng đắn trong quá trình đẩy mạnh phát triển nông thôn. Để góp thêm tiếng nói vào việc đi tìm định hướng xây dựng và phát triển nông thôn, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với GS.TS Tô Duy Hợp, một chuyên gia hàng đầu về xã hội học nông thôn ở Việt Nam.

*    *   *

PV: Sau mấy năm thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, qua quan sát nhiều địa phương khác nhau, tôi thấy cái được nhiều nhất là cơ sở vật chất ở nông thôn. Tuy nhiên, tôi có cảm giác, hình như nông thôn vẫn là một "vùng lặng" trong sự phát triển sôi động của cả nước. Là một nhà xã hội học nông thôn, Giáo sư đánh giá thế nào về điều này? Thành tựu và hạn chế nhất của xây dựng nông thôn mới trong mấy năm qua là những gì?

GS. Tô Duy Hợp: Bạn nói rất đúng: "cái được nhiều nhất là cơ sở vật chất ở nông thôn", hay nói chính xác hơn là "cơ sở vật chất ở các xã được công nhận là "xã nông thôn mới" đã được nâng cấp rõ rệt sau 5 năm thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới theo 19 tiêu chí quốc gia. Đó là các tiêu chí về hạ tầng kinh tế - xã hội như giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư, trạm y tế xã. Điều này làm cho bộ mặt nông thôn khang trang hẳn lên so với 5 năm trước đây! Tuy nhiên, rất tiếc là cái gì cũng có mặt trái của nó! Cái giá phải trả của kết cấu hạ tầng vật chất mới là "Nợ xấu" (tức là nợ không có khả năng thanh toán của các xã nông thôn mới!). Theo tính toán sơ bộ của Chính phủ thì sau 5 năm thực hiện Chương trình quốc gia XDNTM, nợ xấu không dưới 15.000 tỷ VNĐ! Như vậy, hóa ra là "được cái này, lại mất cái kia".

Ngoài ra, các xã nông thôn mới đều rơi vào tình trạng "hơn cái này, thì thiệt cái kia"! Biểu hiện rõ nhất của tình trạng bất cập, thậm chí lệch lạc này là ở chỗ một mặt, các xã xây dựng nông thôn mới đều liên tục tăng trưởng kinh tế, mức sống của cư dân liên tục tăng, xóa được đói, giảm được nghèo; tuy nhiên, mặt khác, việc đẩy nhanh các quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm cho môi trường sống ngày càng xuống cấp nghiêm trọng do bị ô nhiễm nặng, tài nguyên bị suy kiệt nhanh do khai thác không có kế hoạch, và đáng lo ngại hơn là, cả đạo đức xã hội cũng xuống cấp do tăng tốc quá trình thị trường hóa không kiểm soát được mặt trái, mặt tiêu cực, mặt xấu của thị trường.

PV: Hơi cảm tính nhưng tôi thấy chương trình nông thôn mới đang hướng đến những thay đổi về nông thôn là chủ yếu. Còn hai đối tượng quan trọng khác là nông nghiệp và nông dân thì chưa được coi trọng bằng cái kia. Nông nghiệp với tư cách là hoạt động kinh tế chính ở nông thôn, còn nông dân là chủ thể chính. Nông nghiệp và nông dân vẫn chưa có nhiều thay đổi thì liệu có "nông thôn mới" được hay không? Và có một điều nữa, mới nghe có vẻ khôi hài nhưng lại là sự thật rõ ràng: nhiều thành phố, thị xã đang phấn đấu để trở thành... "Nông thôn mới".  Giáo sư quan niệm thế nào về ba đối tượng này? Để phát triển nông thôn thì mối quan hệ giữa ba đối tượng này phải được giải quyết như thế nào?

GS. Tô Duy Hợp: Nếu làm đúng quan điểm Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (Hà Nội, 05/08/2008) thì trong đó có một quan điểm quan trọng là "Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH, HĐH đất nước. Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt". Nếu làm đúng, làm đủ 19 tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới thì quan điểm nêu trên sẽ được quán triệt!

Tôi đã khảo sát tại nhiều xã nông thôn mới ở Đồng bằng Sông Hồng như Thụy Hương, Phú Nghĩa (huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội), Mai Đình (huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội), Yên Sở (Huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội), Ninh Vân (huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình), Đông Thọ (huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh), Tam Sơn (thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), và vài lần về Nghệ An. Qua những thực tế này, tôi nhận thấy rằng sự lựa chọn thuần nông nghiệp, hay chuyên nông nghiệp không được ưa chuộng; phi nông hoàn toàn cũng không được ưa chuộng, mô thức hỗn hợp trọng nông bị lép vế so với mô thức hỗn hợp trọng phi nông (tiểu thủ công nghiệp, buôn bán dịch vụ tại làng quê hoặc trở thành "Nông dân công" ở các khu công nghiệp, hoặc/và đô thị); nghĩa là xu hướng phi nông hóa (bao gồm phi nông nghiệp hóa, phi nông dân hóa, và phi nông thôn hóa) đang áp đảo tại các xã nông thôn mới! Xu thế áp đảo này giúp giảm nghèo nhanh, làm giàu cũng nhanh; tuy nhiên không tránh khỏi tình trạng lợi bất cập hại! Xu thế ly nông, và cả ly hương ngày càng gia tăng mạnh mẽ, làm cho khu xã bị "chảy máu chất xám", tại mỗi gia đình nông thôn chỉ còn người già, phụ nữ và trẻ em, tất yếu dẫn tới tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển tam nông bền vững!

Tôi cho rằng, Chương trình quốc gia Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 đã thiên vị quan điểm phát triển nông thôn theo định kiến lý thuyết khoa học được tổng kết từ kinh nghiệm phát triển nông thôn phương Tây, theo đó thì phát triển nông thôn có nghĩa là chuyển hóa nông thôn thành đô thị, và một cách tương ứng, phát triển nông nghiệp có nghĩa là chuyển hóa nông nghiệp thành công nghiệp và/hoặc dịch vụ, phát triển nông dân có nghĩa là chuyển hóa nông dân thành thị dân và/hoặc công nhân! Nếu tiếp tục đi theo đường lối này thì các xã nông thôn mới sẽ gia nhập vào khu xã công nghiệp - đô thị; nghĩa là, sẽ tách khỏi khu xã nông nghiệp - nông thôn của xã hội tổng thể. Và trong tương lai, nếu tất cả các xã đều trở thành xã nông thôn mới theo kiểu này thì sẽ không còn khu xã nông nghiệp - nông thôn; nghĩa là dẫn tới "cái chết" của nông thôn, nông nghiệp, nông dân theo nghĩa truyền thống! Thực ra, phát triển tam nông là một quá trình kép (= 1 quá trình bao hàm 2 quá trình vừa mâu thuẫn vừa thống nhất với nhau)": một là, chuyển hóa từ tam nông thành phi tam nông (tức là, từ nông thôn thành đô thị, từ nông nghiệp thành công nghiệp và/hoặc dịch vụ, từ nông dân thành thị dân và/hoặc công nhân), và hai là, chuyển đổi từ tam nông cũ (nghèo nàn, lạc hậu, phụ thuộc) sang tam nông mới (giàu sang, tiến bộ, tự chủ). Quá trình biến đổi kép này vốn là quá trình lịch sử tự nhiên, ngày nay đang trở thành đường lối chiến lược của các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới. Do đó, theo tôi, "Chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới" nên đổi tên thành "Chương trình quốc gia xây dựng tam nông mới" thì hợp lý hơn; như thế sẽ tránh được thiên vị nông thôn, hoặc nông nghiệp, hoặc nông dân; tránh được cả quan niệm lệch lạc = đồng nhất việc xây dựng nông thôn mới với chuyển hóa nông thôn thành đô thị, kết quả làm triệt tiêu nông thôn - nông nghiệp hay chí ít cũng là hy sinh nông thôn - nông nghiệp vì phát triển đô thị - công nghiệp. Phát triển thiên vị, hay lệch lạc đều là phát triển không lành mạnh; vì phát triển lành mạnh là phát triển toàn diện, hài hòa, bền vững.

PV: Như đã nói ở trên, dù nông thôn mới được đẩy mạnh, nhưng sản xuất nông nghiệp ở Nghệ An vẫn chưa có nhiều thay đổi. Gần như một công thức chung là giống cùng với hóa chất để đẩy mạnh năng suất và sản lượng. Nền nông nghiệp vẫn thiếu hiệu quả, khó tiếp cận nền sản xuất hàng hóa, thiếu an toàn cho cả người sản xuất và người tiêu dùng. Lâu dài thì vẫn không đảm bảo được an ninh lương thực lẫn an ninh con người. Quan điểm của Giáo sư về phát triển nông nghiệp trong xây dựng nông thôn mới như thế nào? Làm sao để có thể giải quyết được tình trạng trên?

GS. Tô Duy Hợp: Bạn nói đúng! Các quá trình đổi mới nền nông nghiệp ở nước ta trong thời gian qua theo hướng đẩy mạnh thị trường hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đều rơi vào tình trạng bất cập, lệch lạc, và có cả suy thoái!? Công cuộc xây dựng tam nông mới đòi hỏi phát triển nông nghiệp lành mạnh: một là, phải kiến tạo thị trường nông nghiệp lành mạnh, khắc phục tình trạng nông sản bẩn, thực phẩm độc hại do sử dụng hóa chất bằng nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái và bằng giáo dục đạo đức sản xuất - kinh doanh nông nghiệp của nông dân nói riêng, của mọi người nói chung; hai là, phải có chế độ sở hữu, sử dụng ruộng đất hợp lý, hợp tình bằng cách kết hợp hài hòa giữa công hữu và tư hữu, công dụng và tư dụng, vừa tránh độc tài nhà nước, vừa chống độc quyền tư bản tư nhân; ba là, phải phát triển nông nghiệp thông minh dựa trên công nghệ thông tin nói riêng, công nghệ cao nói chung.

PV: Bên cạnh nông nghiệp thì nông dân ở Nghệ An cũng chưa có nhiều thay đổi lắm. Phần lớn nguồn lực lao động di cư về các đô thị, vào các khu công nghiệp ở trong Nam và ngoài Bắc để làm việc. Những người được đào tạo cơ bản thì cũng ít quay về quê làm việc. Và quan trọng hơn nữa, một bộ phận nông dân đang có biểu hiện của sự suy thoái. Họ trở nên yếu hèn trong cuộc sống, ỷ lại, lợi dụng và lạm dụng sự hỗ trợ của nhà nước để hợp lý hóa tính lười biếng, không chịu lao động, không chịu vươn lên thoát nghèo. Có nhiều nguyên nhân nhưng quan trọng phải kể đến sự cố kết thân tộc, các nhóm lợi ích và sự yếu kém trong công tác quản lý của chính quyền. Đó cũng là biểu hiện của sự vứt bỏ lòng tự trọng để đổi lại một ít lợi ích. Qua nhiều nghiên cứu từ nhiều địa phương khác nhau, ông đánh giá thế nào về vấn đề này?

GS. Tô Duy Hợp: Theo định hướng phát triển nông dân bền vững này thì nhóm nông dân thuần nông sẽ giảm mạnh, và chuyển thành nông dân chuyên môn hóa nông nghiệp đủ sức hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với các nhóm nông dân không thuần nông. Nhóm nông dân không thuần nông, tức là nông dân kiêm nghiệp, sẽ tăng mạnh; trong đó, có nhóm nông dân kiêm nghiệp nông và phi nông, coi trọng nông nghiệp hơn phi nông nghiệp, và nhóm nông dân kiêm nghiệp nông và phi nông, coi trọng phi nông nghiệp hơn nông nghiệp; Ngoài ra, còn có nhóm nông dân chuyển đổi sang phi nông nghiệp hoàn toàn, tức là sang công nghiệp hoặc/và dịch vụ. Ai có lợi thế hơn ai trong phát triển bền vững? Không ai có lợi thế tuyệt đối cả! Nếu lấy chỉ tiêu về giảm nghèo nhanh và khả năng làm giàu to thì nhóm phi nông hoàn toàn là có lợi thế nhất, trái lại, nhóm thuần nông là kém lợi thế nhất. Tuy nhiên, nếu lấy chỉ tiêu về giảm nghèo bền vững và làm giàu bằng cạnh tranh thị trường lành mạnh thì mọi nhóm nông dân đều bình đẳng trước lương tâm và công luận, pháp lý và đạo lý! 

PV: Con người là tài sản quan trọng của đất nước, của xã hội. Xây dựng nông thôn mới, mà mục tiêu cuối cùng, tôi nghĩ cũng là để làm cho con người được ấm no, hạnh phúc hơn. Nhưng thực tế cho thấy điều đó còn khá xa vời. Phải chăng đó là một hệ lụy của cả một cơ chế trong mấy thập kỷ trước vận hành mà bây giờ biểu hiện rõ nét hơn? Và, với những biểu hiện như thế này, liệu nông thôn mới có "mới" được không thưa Giáo sư? Làm thế nào để con người ở nông thôn có thể vững vàng hơn, kiên định hơn, trung thực hơn và có ý chí hơn?

GS. Tô Duy Hợp: Quan điểm "Nông dân là chủ thể trong quá trình phát triển…" trong Nghị quyết 26-NQTW (05/08/2008) là đúng nhưng chưa đủ. Phải nói rộng hơn "Cư dân nông thôn là chủ thể trong quá trình phát triển…", và rộng hơn nữa "Con người là chủ thể trong quá trình phát triển…".   

Theo chủ thuyết phát triển bền vững của Liên hợp quốc mà Việt Nam là 1 thành viên chính thức thì mô thức phát triển bền vững hướng tới 6 mục tiêu (lợi ích, giá trị) sau: 1) Phát triển bền vững kinh tế, 2) Phát triển bền vững chính trị, 3) Phát triển bền vững văn hóa, 4) Phát triển bền vững xã hội, 5) Phát triển bền vững con người, 6) Bảo vệ môi trường sống bền vững; trong đó, con người là trung tâm của tứ giác phát triển (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội). Vận dụng vào Chương trình quốc gia xây dựng NTM ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020 thì trong 19 tiêu chí quốc gia XDNTM ta chưa thấy rõ sự quán triệt quan điểm "Cư dân nông thôn là yếu tố trung tâm của tứ giác phát triển ở khu xã tam nông". Chẳng hạn như thiếu vắng tiêu chí độc lập về phát triển nguồn nhân lực cho XDNTM, trong khi phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao là một trong 3 ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu lần thứ XI của Đảng CSVN (01/2011); hay như thiếu vắng tiêu chí độc lập về phát triển khu vực xã hội dân sự, là khu vực xã hội phát huy trực tiếp, thật sự quyền làm chủ của người dân nói chung, nông dân nói riêng! Như vậy, 19 tiêu chí tuy là nhiều, nhưng vẫn còn thiếu một số tiêu chí quan trọng như vừa được nêu ra ở trên! Ngoài ra, theo như dư luận xã hội đã đề cập và Quốc hội nước ta đang thảo luận để sửa đổi, bộ tiêu chí quốc gia XDNTM tỏ ra rất không phù hợp với đặc thù đa dạng vùng, miền, địa phương, và đa dân tộc ở Khu xã tam nông Việt Nam!

PV: Trong xây dựng nông thôn mới, người ta nói nhiều về liên kết, hơp tác giữa các nhà như nhà quản lý, nhà lãnh đạo, nhà nông, nhà buôn, nhà khoa học. Nhưng tôi nghĩ sự hợp tác cần dựa trên sự chia sẻ lợi ích hợp lý. Tôi có cảm giác trong nhiều năm qua, người nông dân được quá ít lợi ích so với các đối tượng khác. Nếu xây dựng nông thôn mới mà lợi ích của người nông dân không được đảm bảo đúng mức thì liệu có thực hiện được? Ông đánh giá thế nào về mối liên kết các nhà này hiện nay? Cần phải làm những gì để giải quyết tốt hơn mối quan hệ này trong quá trình phát triển nông thôn?

GS. Tô Duy Hợp: Nhu cầu liên kết nhiều nhà: nhà nông, nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà truyền thông, nhà giáo dục, … là do tất yếu kép: vừa là tất yếu khách quan, do 1 mình nhà nông, hoặc 1 mình nhà nước không thể thực hiện thành công Chương trình XDNTM mang tính hệ thống phức hợp liên - xuyên ngành; vừa là tất yếu chủ quan đã được khẳng định thành quan điểm thứ 4 trong Nghị quyết 26-NQTW của Đảng CSVN, 05-08-2008 "Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn hệ thống xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân. Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân".

Muốn liên kết thành công tốt đẹp thì chí ít là phải thực hiện tốt cơ chế "Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ". Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), đã được thông qua tại ĐH Đại biểu Toàn quốc lần thứ XI của Đảng CSVN, ghi rõ 8 phương hướng cơ bản cần quán triệt và thực hiện tốt, và trong quá trình thực hiện các phương hướng cơ bản đó, phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt 8 mối quan hệ lớn, trong đó có mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, với yêu cầu "Không phiến diện, cực đoan, duy ý chí" (Đảng CSVN, 2011, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG. Hà Nội, tr. 72-73). Tam giác "Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ" thực sự là một Nan đề (= Vấn đề nan giải)! Đây là một nan đề kép: vừa là nan đề tư duy - nhận thức: hiểu thế nào cho đúng là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ; vừa là Nan đề hành động - thực tiễn: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ là làm gì và làm như thế nào cho đúng đắn, với chất lượng, hiệu quả cao?

Vì sự liên kết nhiều nhà trong xây dựng nông thôn mới thành công tốt đẹp, cần hóa giải nan đề "Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ" trong Chương trình quốc gia XDNTM bằng cách kết hợp 2 giải pháp: một là, phải bảo đảm tự do thật sự, dân chủ đầy đủ trong nhà nước của Dân, do Dân, vì Dân; và hai là phải bảo đảm hợp ý Đảng vừa lòng dân trong các dự án phát triển kinh tế - xã hội lành mạnh ở cả 2 khu vực nông nghiệp - nông thôn và công nghiệp - đô thị của xã hội tổng thể, mà muốn thế thì phải phát triển mạnh mẽ khu vực xã hội dân sự, đủ sức phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân.

PV: Hiện nay, Nghệ An là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về số lượng xã đạt chuẩn nông thôn mới. Đó là một tín hiệu đáng mừng đối với nhiều người. Nhưng với tôi thì luôn có cảm giác lo lắng. Ngoài những con số làm nức lòng nhiều người, thì thực tiễn vẫn cho thấy nông thôn xứ Nghệ còn nghèo và sự phát triển mang theo nhiều vấn đề phải giải quyết. Một trong những vấn đề quan trọng là triết lý chủ đạo để phát triển nông thôn. Liệu có một triết lý chung cho tất cả các vùng nông thôn hay không? Và yếu tố gì quan trọng nhất trong triết lý phát triển đó?

GS. Tô Duy Hợp: Vừa không lại vừa có, tùy thuộc cách tiếp cận vấn đề! Không có triết lý chung trong tình trạng nhất nguyên luận, duy/vị cực đoan, loại trừ nhau hoàn toàn, theo nguyên tắc "được cái này, mất cái kia"; chẳng hạn như trong phát triển tam nông, nếu chọn thuần nông, hay chuyên nông thì sẽ loại trừ phi nông hoàn toàn, hoặc ngược lại! Trái lại, sẽ có triết lý chung, khi người ta lựa chọn theo nguyên tắc "được cái này và cả cái kia", hay là "vẹn cả đôi đường"; chẳng hạn như trong phát triển tam nông, có thể chọn phương án cân bằng 50/50 giữa nông và phi nông, hay phương án hòa hợp giữa nông và phi nông, nghĩa là dung hòa và dung hợp giữa nông và phi nông. Là mô thức phát triển con người và xã hội lành mạnh.

PV: Trong thời gian tới, để đẩy mạnh phát triển nông thôn, theo ông thì cần phải làm những gì để có hiệu quả hơn? Cả về triết lý phát triển đến những chính sách cụ thể?

GS. Tô Duy Hợp: Triết lý phát triển tam nông mới trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng là triết lý phát triển tam nông lành mạnh, sẽ bao gồm:

1) Quan niệm về phát triển tam nông lành mạnh: đó là sự phát triển toàn diện hệ thống (nông thôn, nông nghiệp, và nông dân), Phát triển hài hòa (theo lý tưởng hòa hợp giữa nông và phi nông); Phát triển bền vững (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, con người) và Bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp;

2) Quy luật chuyển đổi kép: một mặt, theo Logic lịch sử  - tự nhiên: Chuyển hóa nông thôn thành đô thị, nông nghiệp thành công nghiệp và/hoặc dịch vụ, nông dân thành thị dân hoặc/và công nhân; mặt khác, theo Logic lịch sử - văn hóa: Chuyển đổi tam nông cũ kém phát triển hoặc phát triển thiếu lành mạnh thành tam nông mới phát triển lành mạnh (ở Việt Nam hiện nay, có thêm đặc thù là chuyển đổi từ mô hình tam nông bao cấp XHCN sang mô hình tam nông thị trường có sự quản lý của nhà nước định hướng XHCN);

3) Chiến lược tam hóa: bao gồm: 3.1. Hiện đại hóa tinh hoa truyền thống Việt Nam, đặc biệt là truyền thống nông nghiệp đa canh, hữu cơ, sinh thái, sạch, an toàn thực phẩm, bền vững hàng ngàn năm qua, bằng cách kết nối 3 bước: kế thừa, phát huy, và phát triển; 3.2. Việt Nam hóa tinh hoa phát triển thế giới được du nhập, bằng cách kết nối 3 bước: Tiếp thu (bắt chước), Cải biên (cải tiến), và Đồng hóa (bản địa hóa, địa phương hóa, dân tộc hóa), 3.3. Lành mạnh hóa quá trình Đổi mới tam nông đương đại. Riêng đối với Chương trình quốc gia XDNTM ở Việt Nam hiện nay, cần có các Giải pháp lành mạnh hóa sau: a) Ở cấp độ điều chỉnh hệ chủ trương, và chính sách, cần thực hiện 3 Giảm (nghèo, lạc hậu, phụ thuộc) và 3 Tăng (giàu, tiến bộ, tự chủ); b) Ở cấp độ thay đổi hệ chủ trương, chính sách, cần thực hiện 3 Chống (bất cập, lệch lạc, suy thoái) và 3 Xây (Nông dân tiên tiến, Nông nghiệp thông minh, Nông thôn phát triển lành mạnh);

4) Nguyên tắc tam hợp: bao gồm: 4.1. Hợp lý (tức là hợp pháp lý, hợp luân lý, hợp chân lý = hợp quy luật khách quan); 4.2. Hợp tình (tức là hợp tình thương, hợp tình yêu, hợp tình nghĩa); 4.3. Hợp đạo (tức là hợp thiên đạo, hợp địa đạo, hợp nhân đạo);

5) Lý tưởng tam hòa, bao gồm:

5.1. Hòa bình (hòa bình thế giới, hòa bình khu vực, hòa bình quốc gia - dân tộc);

5.2. Hòa thuận (hòa thuận gia đình, hòa thuận cộng đồng, hòa thuận xã hội);

5.3. Hòa hợp (hòa hợp nhân cách, hòa hợp dân tộc, hòa hợp nhân loại). Hòa hợp là lý tưởng cao đẹp nhất của xã hội lành mạnh nói chung, của tam nông lành mạnh nói riêng.

PV: Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư về sự chia sẻ thú vị này! Nông thôn mới là vấn đề quan trọng của đất nước, và chúng ta sẽ còn quay lại với nhiều câu chuyện khác có liên quan.

GS. Tô Duy Hợp: Đừng khách sáo! Với tôi, mỗi cuộc trao đổi về nông thôn đều rất thú vị, nên tôi xin cảm ơn các bạn!

TÒA SOẠN

 

Lê Quốc Khánh

Xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã) được xác định là cấp cuối cùng trong phân cấp hành chính ở nước ta hiện nay và là nơi diễn ra mọi hoạt động của đời sống xã hội. Hệ thống chính trị cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; huy động mọi khả năng để phát triển kinh tế - xã hội; tổ chức cuộc sống cộng đồng dân cư. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách lớn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị cấp cơ sở.

 Hệ thống chính trị cấp xã trên phạm vi cả nước sau nhiều lần điều chỉnh, sửa đổi, thí điểm các mô hình bước đầu đã mang lại một số kết quả tích cực. Một số nơi như Quảng Ninh, Đà Nẵng sau khi thực hiện thí điểm tinh gọn bộ máy đã nhân rộng thực hiện đại trà và đem lại hiệu quả rõ rệt.

Nghệ An là tỉnh địa hình đa dạng, có vùng núi cao, đồng bằng, trung du; diện tích toàn tỉnh rộng nhất cả nước; dân số trên 3,1 triệu người (đứng thứ 4 cả nước) với nhiều thành phần dân tộc, tôn giáo. Vì vậy, hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở ít nhiều chịu sự tác động của từ những yếu tố này. Những năm gần đây, nhìn chung, hệ thống chính trị ở cấp cơ sở đã và đang từng bước được hoàn thiện dần về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức theo hướng tinh gọn, hiệu quả và có nhiều chuyển biến tích cực trên tất cả các lĩnh vực; bộ mặt của thành thị, nông thôn có nhiều thay đổi về đời sống vật chất và tinh thần; quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực ngày càng được phát huy, tạo ra sự đồng thuận xã hội, ổn định chính trị và kinh tế phát triển.

Tuy nhiên, hệ thống chính trị cấp xã ở Nghệ An hiện nay đang bộc lộ những bất cập, hạn chế như sau:

Thứ nhất, về tổ chức, bộ máy: Cồng kềnh, chồng chéo, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả. Việc bố trí cán bộ, công chức trong từng tổ chức và vị trí việc làm chưa phù hợp. Cơ cấu bộ máy chưa xác định rõ các nguyên tắc làm việc và quy chế phối hợp trong vận hành bộ máy hành chính ở địa phương. Nhiều địa phương chưa phân định rõ được vai trò, chức năng QLNN của bộ máy chính quyền với hoạt động mang tính chính trị - xã hội của mặt trận và các đoàn thể dẫn đến tình trạng chính quyền "đùn đẩy việc" và "hành chính hóa" hoạt động của các tổ chức này. Yêu cầu về nguyên tắc "tự nguyện, tự chủ, tự quản, tự trang trải kinh phí hoạt động" của các hội quần chúng chưa được thực hiện tốt.

Thứ hai, về đội ngũ cán bộ, công chức và người hoạt động không chuyên trách cấp xã, ở khối, xóm, bản: Chức danh đội ngũ cán bộ, công chức, người hoạt động không chuyên trách nhiều, gần như mỗi chức danh được bố trí một người riêng (trung bình 40,8 người/1 xã), trong khi đó yêu cầu công việc cần giải quyết lại không quá nhiều, một số hoạt động mang tính "xuân thu nhị kỳ" (hiện có 4.829 cán bộ xã, 5.750 công chức xã, 8.563 người hoạt động không chuyên trách cấp xã và 60.344 người hoạt động không chuyên trách ở khối, xóm). Việc bố trí kiêm nhiệm chức danh chưa được các địa phương quan tâm thực hiện. Chất lượng của một bộ phận cán bộ, công chức, người hoạt động không chuyên trách còn hạn chế, chưa đáp ứng với yêu cầu trong tình hình mới, chưa thực sự mạnh, chưa đồng bộ. Đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách cấp xã, xóm, thôn, bản đông nhưng chưa mạnh. Một số chức danh chuyên trách công chức ở cơ sở được tuyển chọn đào tạo cơ bản theo chuyên ngành nhưng lại thường xuyên bị thay đổi, luân chuyển, nhiều trường hợp không được bố trí đúng chuyên môn, nghiệp vụ làm cho đội ngũ cán bộ cơ sở đã yếu lại càng yếu thêm.

 Thứ ba, về tài chính: Chi ngân sách để duy trì hoạt động của hệ thống chính trị là rất lớn, vượt gấp nhiều lần so với nguồn thu của địa phương. Tổng chi ngân sách năm 2017 để chi lương và các khoản phụ cấp cho đội ngũ cán bộ, công chức, người hoạt động không chuyên trách cấp xã khoảng 2.832 tỷ đồng, trong khi đó thu của địa phương chỉ đạt 809 triệu đồng.

Thứ tư, về tổ chức hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã: Quy định về cơ cấu đại biểu HĐND chưa hợp lý, nặng theo ngành nghề, dân tộc, giới... phần lớn đại biểu HĐND hoạt động kiêm nhiệm. Một số nơi UBND có xu hướng đẩy việc xuống cho xóm, buông lỏng chỉ đạo, kiểm tra. Khối, xóm nhiều nơi bị hành chính hóa, trở thành cấp hành chính trung gian, các xóm trưởng phải làm nhiều việc vốn thuộc trách nhiệm của UBND xã. Mặt trận Tổ quốc không có đối tượng tác động trực tiếp mà thông qua các tổ chức thành viên; đối tượng của các tổ chức trùng lặp, một người tham gia vào nhiều tổ chức đoàn thể, nên công việc chồng chéo. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức đảng và UBND cấp xã được quy định khá rộng, chưa phù hợp với thực tế và khả năng tổ chức thực hiện. Việc thí điểm "nhất thể hóa" một số chức danh mới chỉ dừng lại ở yếu tố con người, yếu tố cán bộ trong khi hệ thống các chính sách, thể chế, văn bản hiện hành chưa "cụ thể hóa" nên giữa tổ chức và hoạt động chưa đồng bộ, khó kiểm soát. 

Thứ năm, về chế độ, chính sách: Hệ thống văn bản quy định về tổ chức bộ máy và quản lý biên chế có những thời điểm chưa đồng bộ, thống nhất, chưa phù hợp với thực tiễn, chưa tính hết yếu tố vùng miền, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội đối với mỗi địa phương. Chưa xây dựng được bộ tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm một cách khoa học nên thiếu cơ sở, căn cứ cho việc xác định chính xác số lượng biên chế, người làm việc trong các đơn vị. Chưa có quy định về tiêu chuẩn, nhiệm vụ của những người hoạt động không chuyên trách cấp xã. Chế độ, chính sách tiền lương, phụ cấp đối với cán bộ, công chức, đội ngũ bán chuyên trách còn có những điểm chưa phù hợp. Chưa thống nhất về thẩm quyền và cách thức quản lý biên chế giữa các khối đảng, đoàn thể và chính quyền.Việc thực hiện chế độ chính sách đối với việc kiêm nhiệm các chức danh tuy đã được ban hành nhưng chưa thật sự khuyến khích được cán bộ, công chức kiêm nhiệm các chức danh khác.

Trước thực trạng đó, kế hoạch 111-KH/TU ngày 02/01/2018 của Tỉnh ủy Nghệ An thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 BCHTW Đảng khóa XII "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả" xác định việc sắp xếp hệ thống chính trị cấp xã là một trong những nội dung ưu tiên trong tổ chức thực hiện, trong đó coi việc tinh gọn bộ máy ở xã, phường, thị trấn là một đột phá trong giảm biên chế hiện nay.

Nhằm làm sáng tỏ nội dung trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và đề xuất mô hình, giải pháp như sau:

1. Về mô hình sắp xếp tổ chức bộ máy và cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức và người hoạt động không chuyên trách cấp xã

1.1. Về sắp xếp tổ chức bộ máy

(1) Sắp xếp, bố trí bộ phận văn phòng phục vụ chung cho cấp ủy và chính quyền cấp xã gắn với trung tâm một cửa cấp xã

Đây là bộ phận tham mưu, giúp việc cho đảng ủy, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cấp xã theo nhiệm vụ được phân công; chịu sự lãnh đạo trực tiếp của thường vụ đảng ủy, thường trực HĐND và lãnh đạo UBND cấp xã.

Bộ phận văn phòng cấp xã bao gồm công chức văn phòng - thống kê, các công chức được giao nhiệm vụ trực tại trung tâm một cửa cấp xã. Đối với chức danh bán chuyên trách văn phòng đảng ủy được giao cho công chức văn phòng thống kê cấp xã kiêm nhiệm.

(2) Kết thúc hoạt động chi bộ cơ quan xã, thị trấn

Giải thể chi bộ cơ quan xã, thị trấn để nhằm tăng cường cán bộ, đảng viên về sinh hoạt tại chi bộ nơi cư trú, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ ở địa phương, đồng thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, những khó khăn, vướng mắc từ nhân dân và đảng viên để phản ánh với cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp xã kịp thời giải quyết, tháo gỡ và nâng cao chất lượng ban hành các nghị quyết, chủ trương của chi bộ.

(3) Đối với khối Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể

Giữ nguyên cơ cấu tổ chức như hiện nay và thực hiện khoán kinh phí hoạt động theo nhiệm vụ/kế hoạch hàng năm. Theo đó, hàng năm trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của từng tổ chức, Mặt trận Tổ quốc cấp xã chủ trì, phối hợp với các tổ chức đoàn thể chính trị xây dựng kế hoạch, trình cấp thẩm quyền phê duyệt và thực hiện việc khoán kinh phí hoạt động cho cả khối (không khoán kinh phí nhỏ lẽ cho từng tổ chức như trước đây) để tổ chức các hoạt động tránh sự trùng lắp.

(4) Thực hiện phương án đặt hàng những nhiệm vụ cần thiết đối với Hội quần chúng - xã hội nghề nghiệp

Đề xuất chỉ duy trì hai tổ chức hội là hội người cao tuổi và hội chữ thập đỏ. Đối với chức danh bán chuyên trách, chỉ bố trí 01 chức danh hưởng chế độ phụ cấp là chủ tịch hội người cao tuổi. Đối với chức danh chủ tịch hội chữ thập đỏ giao cho cấp trưởng hoặc cấp phó mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp xã kiêm nhiệm.

Đối với các hội quần chúng khác thực hiện nguyên tắc "tự nguyện, tự quản, tự bảo đảm kinh phí hoạt động và tuân thủ pháp luật". Trường hợp cần thiết có thể thực hiện phương án đặt hàng theo nhiệm vụ chính trị của từng địa phương, nhằm tiết kiệm tối đa nguồn kinh phí cấp; không bố trí cán bộ bán chuyên trách của các hội.

1.2. Cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn với các nhiệm vụ cụ thể

(1) Đối với chức danh cán bộ: Trước mắt, giữ nguyên theo các chức danh cán bộ như hiện tại, tuy nhiên cần thực hiện giải pháp kiêm nhiệm các chức danh cán bộ chuyên trách và không chuyên trách ở cấp xã theo hướng:

- Thực hiện bố trí phó chủ tịch HĐND hoặc cấp trưởng các đoàn thể kiêm nhiệm các chức danh bán chuyên trách khác (định hướng kiêm nhiệm các chức danh như: phó chủ nhiệm UBKT đảng ủy, phó chủ tịch UBMTTQ cấp xã…).

- Thực hiện việc thí điểm kiêm nhiệm các chức danh công chức với cán bộ chuyên trách; giữa cán bộ với cán bộ.

- Thực hiện mô hình bí thư đảng ủy đồng thời là chủ tịch HĐND; tiếp tục thực hiện thí điểm bí thư đảng ủy đồng thời là chủ tịch UBND cấp xã. Trường hợp bí thư đảng ủy đồng thời là chủ tịch UBND thì phó bí thư đảng ủy kiêm chủ tịch HĐND xã.

 (2) Đối với chức danh công chức cấp xã

- Về số lượng: Thực hiện mỗi chức danh công chức cấp xã chỉ nên bố trí 01 người, trường hợp cần thiết có thể bố trí 2 người cho 1 chức danh nhưng không được bố trí vượt quá số lượng người tối đa bình quân 10 người/1 xã, theo hướng: Xã loại 1 không quá 11 công chức; Xã loại 2 không quá 10 công chức và xã loại 3 không quá 09 công chức (Số lượng công chức này không bao gồm công chức là trưởng công an).

- Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, lãnh đạo UBND xã trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh số lượng người trên một chức danh cho phù hợp, bảo đảm sao cho phát huy tốt nhất và có hiệu quả nhất trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương.

(3) Đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã

- Về chức danh: Tiếp tục duy trì một số chức danh không chuyên trách theo Nghị quyết số 117/2013/NQ-HĐND ngày 13/12/2013 của HĐND tỉnh, gồm: Phó Chỉ huy Trưởng quân sự; Phó Chủ tịch MTTQ; Chủ tịch Hội người cao tuổi; Văn phòng Đảng ủy; Phó Chủ nhiệm UBKT đảng; Phó Bí thư Đoàn thanh niên; Phó Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ; Phó Chủ tịch Hội nông dân; Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh. Các chức danh bố trí riêng ở phường, gồm 2 chức danh: Trưởng ban và Phó ban bảo vệ dân phố. Riêng chức danh phó trưởng công an và công an viên thường trực cấp xã, thị trấn thực hiện theo đề án công an chính quy.

Đối với một số chức danh khác:

+ Không bố trí chức danh bán chuyên trách nội vụ, thi đua, khen thưởng, tôn giáo, dân tộc. Nhiệm vụ này khi thực hiện đề án vị trí việc làm phải giao cho cán bộ hoặc công chức cấp xã thực hiện.

+ Không bố trí chức danh bán chuyên trách quản lý nhà văn hoá - đài truyền thanh. Nhiệm vụ này chuyển cho công chức văn hóa - xã hội thực hiện.

+ Không bố trí chức danh bán chuyên trách bảo vệ thực vật, thú y, vì nhiệm vụ này thuộc lĩnh vực chuyên ngành đòi hỏi người thực hiện phải có trình độ chuyên môn, do đó lĩnh vực này do các cơ quan chuyên môn ngành dọc cấp trên thực hiện.

- Về số lượng: Trên cơ sở số lượng tối đa, chức danh theo nghị quyết của HĐND tỉnh và quyết định của UBND tỉnh đã quy định, cấp xã thực hiện bố trí kiêm nhiệm chức danh theo hình thức khoán số lượng tối đa bình quân 10 người/1 xã, theo hướng: Xã loại 1 không quá 11 người; xã loại 2 không quá 10 người và xã loại 3 không quá 09 người.

- Nguyên tắc bố trí kiêm nhiệm tùy thuộc vào điều kiện thực tế của từng địa phương nhưng không vượt quá số lượng tối đa cho phép, đồng thời thực hiện theo nguyên tắc:

+ Đối với chức danh cấp phó MTTQ và phó các đoàn thể chính trị - xã hội cấp xã phải kiêm nhiệm tối thiểu 1 chức danh bán chuyên trách khác nhưng tối đa không quá 02 chức danh.

+ Riêng đối với chức danh văn phòng đảng ủy và phó chủ nhiệm UBKT đảng ủy không bố trí riêng mà thực hiện việc kiêm nhiệm theo hướng: công chức văn phòng - thống kê kiêm nhiệm chức danh văn phòng đảng ủy; cán bộ là phó chủ tịch HĐND hoặc cấp trưởng các MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội kiêm nhiệm chức danh phó chủ nhiệm UBKT đảng ủy.

 (4) Đối với các chức danh khác được hưởng phụ cấp theo nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh

Có thể tiếp tục duy trì chế độ hỗ trợ, tuy nhiên cần phải có quy định và "ràng buộc" hơn đối với những chức danh này theo hướng: Đối với ủy viên thường trực MTTQ; ủy viên thường vụ các đoàn thể không bố trí riêng biệt mà phải gắn với ít nhất 1 - 2 chức danh khác, như: công chức cấp xã kiêm nhiệm, hoặc gắn với các chức danh ở khối, xóm (bí thư, xóm trưởng, trưởng các chi hội).

1.3. Cơ cấu lại đội ngũ người hoạt động không chuyên trách khối, xóm, bản

Tiếp tục duy trì các chức danh cán bộ không chuyên trách(1) và một số chức danh khác(2) được hưởng chế độ theo Nghị quyết của HĐND tỉnh(3). Tuy nhiên, không bố trí một người một chức danh như Nghị quyết mà phải thực hiện việc kiêm nhiệm chức danh theo hình thức khoán số lượng tối đa là mỗi khối, xóm, bản bố trí không quá 5 người.

Bỏ chức danh công an viên không kiêm xóm phó vì trong quá trình thực hiện theo quy định công an viên do chủ tịch UBND xã bổ nhiệm, xóm phó thì do hội nghị thôn, xóm bầu vì vậy có công an viên được chủ tịch UBND xã bổ nhiệm nhưng lại không trúng cử xóm phó do hội nghị thôn, xóm bầu vì vậy đã có một số bất cập trong việc bố trí chức danh kiêm nhiệm này.

Tùy thuộc vào điều kiện thực tế của từng khối, xóm, vùng, miền và năng lực của cán bộ, việc bố trí, sắp xếp kiêm nhiệm các chức danh ở khối, xóm, thôn, bản do đảng ủy và chính quyền cấp xã xem xét, quyết định trên cơ sở không vượt quá số lượng tối đa cho phép, đồng thời thực hiện theo nguyên tắc: Mỗi chức danh không chuyên trách ở khối, xóm phải kiêm nhiệm tối thiểu 1 chức danh khác nhưng tối đa không quá 02 chức danh. Cụ thể: Bí thư, xóm trưởng, thôn đội trưởng, trưởng ban công tác mặt trận kiêm thêm chức danh trưởng các chi hội, đoàn thể ở khối, xóm; chi hội trưởng phụ nữ kiêm nhân viên y tế thôn và cộng tác viên dân số. Trường hợp bí thư chi bộ kiêm xóm trưởng thì trưởng ban công tác mặt trận kiêm thôn đội trưởng hoặc trường hợp bí thư chi bộ kiêm trưởng ban công tác mặt trận thì xóm trưởng kiêm thôn đội trưởng, trong đó ưu tiên thực hiện mô hình bí thư chi bộ kiêm xóm trưởng.

2. Một số giải pháp

2.1. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức

Cấp ủy, lãnh đạo chính quyền địa phương và các đoàn thể có kế hoạch tuyên truyền phổ biến sâu, rộng đến các tầng lớp nhân dân về quan điểm, chủ trương, mô hình tổ chức để tạo sự đồng thuận trong xã hội, tạo chuyển biến rõ rệt về nhận thức và hành động.

Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về mục đích, ý nghĩa của sắp xếp hệ thống chính trị cấp xã; định hướng dư luận, tạo sự ủng hộ của nhân dân.

Tổ chức cho các chi bộ học tập, nghiên cứu, quán triệt nghiêm túc, đầy đủ, sâu sắc các nội dung của Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII), đồng thời làm tốt công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về ý nghĩa và sự cần thiết phải thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức.

2.2. Tăng cường công tác chỉ đạo

- Trách nhiệm của người đứng đầu hệ thống chính trị cấp xã phải tổ chức điều hành quyết liệt, bám sát thực tế, các nghị định đã ban hành để triển khai thống nhất và triệt để. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra việc thực hiện các quy định về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế trong hệ thống chính trị; xây dựng chế tài và xử lý nghiêm những cơ quan, tổ chức, người đứng đầu không thực hiện đúng các quy định.

- Tăng cường tính công khai, minh bạch những cải cách hệ thống chính trị cấp xã đang tiến hành thực hiện để nhận được ủng hộ của đội ngũ cán bộ, công chức, người hoạt động không chuyên trách và các tầng lớp nhân dân.

- Rà soát trình độ đào tạo của khối công chức cấp xã để có kế hoạch sắp xếp, bố trí cho phù hợp với vị trí việc làm và yêu cầu nhiệm vụ.

- Tiến hành rà soát đánh giá hoạt động các hội.

- Rà soát vị trí việc làm của cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và ở khối, xóm, thôn, bản để bố trí, sắp xếp hợp lý, tinh giản, hiệu quả.

2.3. Đề xuất ban hành một số cơ chế chính sách và đề nghị sửa đổi một số chủ trương, nghị quyết phù hợp với thực tiễn

a. Về cơ chế, chính sách:

Đề nghị Hội đồng nhân dân tỉnh sửa đổi Nghị quyết số 117/2013/NQ-HĐND ngày 13/12/2013; Nghị quyết số 315/2010/NQ-HĐND ngày 10/7/2010 Nghị quyết số 151/2014/NQ-HĐND ngày 12/12/2014 của HĐND tỉnh, gắn với sửa đổi, ban hành một số chính sách cụ thể sau:

(1) Chính sách phụ cấp kiêm nhiệm:

- Cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã kiêm nhiệm thêm 01 chức danh cán bộ và công chức khác thì được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm tối đa không quá 30% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung và hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có) của chức danh đó. Trường hợp kiêm nhiệm nhiều chức danh, thì chỉ được hưởng một mức phụ cấp kiêm nhiệm đối với chức danh có hệ số cao nhất. Nếu cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã kiêm nhiệm thêm chức danh cán bộ không chuyên trách thì: Khi kiêm nhiệm thêm chức danh thứ nhất được hưởng thêm 50% mức phụ cấp cho chức danh kiêm nhiệm đó, kiêm nhiệm thêm chức danh thứ 2 thì được hưởng thêm 30% mức phụ cấp của chức danh kiêm nhiệm.

- Đối với các chức danh hoạt động không chuyên trách cấp xã khi kiêm nhiệm thêm chức danh thứ nhất thì được hưởng thêm 70% mức phụ cấp của chức danh kiêm nhiệm đó, nếu kiêm nhiệm thêm chức danh thứ 2 thì được hưởng thêm 50% mức phụ cấp của chức danh kiêm nhiệm. Chế độ phụ cấp được chia thành 04 nhóm như Nghị quyết 117/2013/NQ-HĐND ngày 13/12/2013 của HĐND tỉnh là cơ bản phù hợp. Tuy nhiên, nên có cơ chế mở đối với những địa phương tự bảo đảm được ngân sách chi thường xuyên có thể hỗ trợ thêm cho đội ngũ cán bộ không chuyên trách cấp xã và khối, xóm nhưng không được vượt quá 50% mức phụ cấp tối đa cho phép theo Nghị quyết của HĐND tỉnh.

- Đối với các chức danh hoạt động không chuyên trách ở khối, xóm, bản khi kiêm nhiệm thêm chức danh thứ 1 thì được hưởng thêm 100% mức phụ cấp, kiêm nhiệm thêm chức danh thứ 2 thì được hưởng thêm 70% mức phụ cấp của chức danh kiêm nhiệm. Chế độ phụ cấp được chia thành 03 mức theo phân loại xóm (xóm loại 1, loại 2, loại 3) như Nghị quyết số 151/2014/NQ-HĐND ngày 12/12/2014 của HĐND tỉnh là cơ bản phù hợp. Tuy nhiên, cần có cơ chế mở đối với những xã, phường, thị trấn tự bảo đảm được ngân sách chi thường xuyên, HĐND cấp xã có thể cân đối hỗ trợ thêm cho đội ngũ cán bộ khối, xóm, bản nhưng không được vượt quá 50% mức phụ cấp tối đa cho phép theo Nghị quyết của HĐND tỉnh.

(2) Xây dựng, ban hành các chính sách thực hiện tinh giản biên chế của tỉnh phù hợp với khả năng cân đối dự toán ngân sách hàng năm; tổ chức thực hiện và tăng cường kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện tinh giản biên chế, đảm bảo đúng quy định chế độ chính sách và mục tiêu đề ra. Có cơ chế, chính sách phù hợp đối với những cán bộ, công chức, viên chức bị tác động trực tiếp trong quá trình sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức.

b. Kiến nghị với Chính phủ sớm sửa đổi Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

c. Đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh:

- Nghiên cứu ban hành quy định về tiêu chuẩn, nhiệm vụ, thời gian làm việc của những người hoạt động không chuyên trách cấp xã.

- Ban hành những quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc của các chức danh không chuyên trách cấp xã, và ở xóm, thôn, bản.

- Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với từng đối tượng, yêu cầu của địa phương để nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, người hoạt động không chuyên trách làm việc trong hệ thống chính trị ở địa phương.

 

Chú thích

(1). Chức danh cán bộ không chuyên trách ở khối, xóm gồm: Bí thư chi bộ; trưởng xóm, khối, bản; công an viên (kiêm xóm phó); thôn đội trưởng, tổ trưởng tổ bảo vệ dân phố (kiêm khối phó); y tế xóm, bản: tại các xã khó khăn.

(2). Trưởng ban công tác mặt trận; chi hội trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội và chi hội trưởng hội người cao tuổi; tổ viên tổ bảo vệ dân phố.

(3). Nghị quyết số 117/2013/NQ-HĐND ngày 13/12/2013 và Nghị quyết số 151/2014/NQ-HĐND ngày 12/12/2014.

 

Nguyễn Thị Hoài Thu

 

Đặt vấn đề

Dư Hoa là nhà văn Trung Quốc bắt đầu sáng tác tiểu thuyết từ những năm 90 của thế kỉ trước. Mặc dù số lượng không nhiều nhưng mỗi tác phẩm của ông ra đời đều trở thành "hiện tượng". Hiện nay, ông được biết đến như một trong những nhà văn lớn, tài ba bậc nhất ở đại lục. Tiểu thuyết của Dư Hoa bộc lộ một cái nhìn sắc sảo về cuộc đời, một khát vọng mãnh liệt tái cấu trúc nền văn hóa bản địa, được thể hiện bằng lối tự sự đan quyện giữa giản dị và kì dị, truyền thống và hiện đại. Trên hành trình sáng tạo, cái chết trở thành một kí hiệu đặc trưng để nhà văn truyền đi những thông điệp về cuộc sống.

Theo Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới, "cái chết chỉ sự kết thúc tuyệt đối một cái gì đó tích cực… Người ta sẽ không nói đến cái chết của một cơn bão, nhưng nói đến sự chết của một ngày đẹp trời". Cái chết, "từ ngàn xưa, vẫn được cảm thụ như là nỗi kinh hoàng và được biểu thị bằng những nét gây khiếp đảm" [1;160]. Với Dư Hoa, viết về cái chết thực sự trở thành "niềm đam mê" của nhà văn. Chúng tôi đã thống kê, các tiểu thuyết viết trong thập niên 90 thế kỉ XX: Gào thét trong mưa bụi, Chuyện Hứa Tam Quan bán máu, Huynh đệ, số nhân vật chết lần lượt là mười sáu, năm, tám. Riêng tác phẩm Sống, số nhân vật chết lên đến mấy ngàn người. Viết về cái chết, Dư Hoa chủ yếu hướng đến phơi bày cuộc sống bi thảm của con người trong một môi trường đầy bất trắc và lột trần mặt trái của nhân tính. Từ những năm 90, với dấu mốc quan trọng là tiểu thuyết Gào thét trong mưa bụi (1991), Dư Hoa chuyển đổi bút pháp, chủ yếu kiếm tìm và tôn vinh các giá trị nhân văn. Cái chết, đến đây, trở thành một kí hiệu đa nghĩa, có sức truyền tải mạnh mẽ tư tưởng nghệ thuật của nhà văn. Trong giới hạn bài viết này, chúng tôi chủ yếu khảo sát cái chết trong bốn tiểu thuyết đã được kể trên - là các tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn sáng tác thứ hai của Dư Hoa.

2. Nội dung

2.1. Cái chết trong tiểu thuyết Dư Hoa là kí hiệu về bản chất cô đơn của cuộc đời

Mở đầu Gào thét trong mưa bụi là kí ức u ám của "tôi" thuở còn là một đứa trẻ lên sáu. Trong khoảng mờ nhòe của kí ức, hiện lên nỗi sợ hãi vô cùng đối với cái chết. Mỗi đêm, cậu bé sáu tuổi lại sợ tiếng gào khản đặc của người đàn bà, nhưng cậu còn sợ cái chết hơn. Cậu "sợ sẽ như người đàn ông xa lạ, một khi ngủ say là mãi mãi không tỉnh dậy nữa" [4;20]. Thế nên mỗi lần đối diện với giấc ngủ đêm, "tôi" lại một mình đánh vật, chống chọi với nó. Nhưng "bàn tay chắc nịch của nó cứ lôi tôi xềnh xệch". Từ trong vô thức, cậu bé đã cảm nhận sâu sắc sức mạnh thống trị của sự cô độc và hư vô. Nó khiến con người trở nên bé nhỏ hơn bao giờ hết. Cô đơn trở thành âm điệu chủ đạo của Gào thét trong mưa bụi. Đó cũng là cái nhìn mang đậm triết lý hiện sinh xuyên suốt các sáng tác của Dư Hoa.

 Ở Gào thét trong mưa bụi, cái chết xuất hiện với nhiều cách thể khác nhau. Có cái chết để lại cho người còn sống nỗi cô đơn, trống vắng không cùng. Sự ra đi của những nhân vật này không được Dư Hoa miêu tả cụ thể nhưng khoảng trống mà họ để lại hiện hữu hết sức rõ ràng. Quốc Khánh sớm mất đi người mẹ và những người anh em ruột thịt, Tôn Quang Lâm mất đi người bố nuôi Vương Lập Cường đều là những đứa trẻ đánh mất tuổi thơ. Hay với bà già mặc áo đen, bà hoàn toàn sống trong thế giới của những người đã khuất. Đối với những nhân vật này, cái chết của những người thân dường như đã cắt đứt mọi mối liên hệ với cuộc sống của họ, khiến họ trở thành những cái tôi cô đơn, xa lạ với xung quanh.

Có cái chết lại cô độc như chính sự cô độc của con người trên cõi đời. Đó là cái chết đầy tuyệt vọng của Tô Vũ. Khi chấp chới trên ranh giới của sự sống và cái chết, cậu chứng kiến sự bỏ mặc, vô tâm của bố mẹ và người em trai. Cuộc đời ngắn ngủi của nhân vật Tô Vũ thực chất chỉ là sự tiếp nối kiếp đời cô đơn dằng dặc mà loài người đã trải qua hàng chục thế kỉ. Vương Lập Cường và anh trai của Lưu Tiểu Thanh cũng là hai phận người đơn độc trong nhân loại này. Hai con người, khác xa nhau về hoàn cảnh nhưng giống nhau ở chỗ trước khi chết, đều tha thiết mong có thêm một cơ hội được sống nhưng bị những người xung quanh chối từ, đẩy đến bước đường bế tắc. Cái chết đã đón nhận họ như một người bạn chung thủy không bao giờ phản bội con người.

Vậy nhưng, cũng có lúc cái chết bỏ quên con người, khiến họ cô đơn trên ranh giới của sự sống và cái chết. Tôn Hữu Nguyên, sau khi thốt lên "hồn ta đã bay đi" và tuyên bố về cái chết cận kề của mình, đã chờ đợi từng ngày thần Chết mang đi. Nhưng cơn hấp hối kéo quá dài đã khiến ông hết sức buồn khổ, bứt rứt và khó chịu. Trong những tháng ngày khắc khoải cuối cùng đó của cuộc đời, Tôn Hữu Nguyên trở thành người thừa, sống bên lề của gia đình, bị con trai Tôn Quảng Tài xỉ vả trên từng miếng ăn. Bà già sống cùng nhà với cậu bé Quốc Khánh lại là người đã từ chối sự sống đích thực và mang nỗi sợ hãi cái chết cũng sẽ từ chối mình. Bị cả sự sống lẫn cái chết vứt bỏ, bà lão cứ lay lắt đếm từng ngày cho đến khi chết bên vệ đường. Nhưng cuộc đời cô độc đến cố chấp của bà già chưa dừng lại ở đó bởi lẽ khi đến với thế giới bên kia, bà lại một mình tiếp tục lần mò và lạc lối trên con đường "dài không đi hết, vừa tối vừa lạnh" [4;315] dưới cõi âm. Trái với Tôn Hữu Nguyên và bà già mặc áo lụa đen mong chờ cái chết như đích cuối của cuộc đời, Lý Tú Anh lại trốn chạy cái chết, thoi thóp bám lấy sự sống mong manh. Bà sợ gió, sợ bụi, sợ ẩm thấp, sợ bóng tối, quanh quẩn trong căn buồng chật hẹp và lần tìm ánh nắng qua tấm kính cửa sổ. Lý Tú Anh tồn tại như một xác sống vô nghĩa trên cõi đời.

Bản chất của cuộc đời này là cô đơn. Nhưng khi đối diện với cái chết, cảm giác về sự cô độc, bơ vơ, mong manh trên cõi đời lại càng rõ ràng hơn bao giờ hết.

 2.2. Trong tiểu thuyết Dư Hoa, cái chết cho thấy bản chất phi lý và hư vô của cuộc đời, đồng thời, bởi thế, chính nó lại mang đến sức mạnh cho sự sống

Trong tiểu thuyết Dư Hoa, cái chết bộc lộ tất cả sức mạnh hủy diệt của nó. Nó hết sức trần trụi, mang hơi thở của cuộc sống hiện sinh. Sự kết thúc một chu trình sống ấy có thể đến với bất cứ ai và bất cứ lúc nào. Đó có thể là cái chết tuân theo quy luật sinh lão bệnh tử như cụ nội và mẹ của Tôn Quang Lâm (Gào thét trong mưa bụi), mẹ của Phú Quý (Sống),... Có cái chết do tự vẫn khi con người đi đến bước đường cùng như Vương Lập Cường (Gào thét trong mưa bụi), Xuân Sinh (Sống), Tống Cương (Huynh đệ). Trong tiểu thuyết của Dư Hoa, cái chết thường bất ngờ ập đến: Tôn Quang Lâm bị đuối nước ở trên sông; Tôn Quảng Tài say rượu sẩy chân chết đuối dưới hố phân; Tô Vũ vỡ mạch máu não; mẹ Tôn Hữu Nguyên bị chó hoang ăn thịt (Gào thét trong mưa bụi);… Chính cái chết sẽ lựa chọn ai và quyết định nó sẽ như thế nào. Bản chất hư vô và phi lý của cuộc đời vì thế hiện hình rõ nét qua cái chết.

Thế nhưng, ngay chính ở đây, cái chết đã mang lại ý nghĩa cho sự sống, bởi lẽ khi đối diện với nó, con người mới cảm nhận hết được sự khẩn thiết phải sống và hiện hữu, mới thấy được giá trị của sinh mệnh và ý nghĩa của sự sống. Con người cũng nhận ra rằng cơ hội để lựa chọn cách chết là rất hiếm hoi nhưng lại hoàn toàn có thể chủ động định nghĩa bản thân bằng cách sống. Từ đây, Dư Hoa đã đề xuất một cách ứng xử, cũng đồng thời là một cái nhìn của ông về giá trị của con người.

Đối mặt với định mệnh, nhân vật trong tiểu thuyết Dư Hoa những năm 90 của thế kỉ XX hết sức trân quý mạng sống của mình. Giữa cuộc sống phù du, bất định và đầy rẫy những phi lý, họ chỉ thấy mạng sống là đáng quý, là cái có thực. Tiểu thuyết thứ hai của Dư Hoa có tiêu đề là Sống, nhưng chủ đề tiếp tục là cái chết. Từ Phú Quý trải qua cuộc đời đầy đau khổ, tự tay lần lượt chôn cất bảy người thân trong gia đình. Nhân vật còn chứng kiến cái chết của những người bạn. Thậm chí, hơn một lần, Phú Quý đối diện với cái chết của chính mình. Tất cả đều là "số kiếp khó thoát" mà khi đối diện với nó, con người chỉ là một cá nhân hết sức bé nhỏ. Phú Quý dù có vùng vẫy thế nào cũng không thể tránh khỏi. Nhưng nếu so với các nhân vật trong các truyện ngắn giai đoạn trước, khi gặp khổ nạn, không có ngoại lệ, đều rơi vào kết cục là cái chết, thì ở đây Phú Quý tỏ rõ một sức sống dẻo dai, kiên cường, để cuối cùng chinh phục được khổ đau và đạt đến một tinh thần lạc quan. Nhịn chịu và trân quý mạng sống là cách sống cao thượng mà nhân vật này đã lựa chọn để tranh đấu với cái phi lý, vô thường của cuộc đời.

Tiếp nối tinh thần của Sống, tiểu thuyết Chuyện Hứa Tam Quan bán máu cũng thông qua cái chết để thấy được khả năng chịu đựng, vượt qua gian khổ của con người để được sống. Máu tượng trưng cho sự sống. Việc Hứa Tam Quan bán máu thực chất là lấy việc hủy diệt sự sống tự thân để tiếp tục duy trì sự sống. Với mười lần bán máu, Hứa Tam Quan đã duy trì mạng sống cho cả gia đình. Đặc biệt, phân đoạn Hứa Tam Quan vượt qua chặng đường ngàn dặm với năm lần bán máu liên tục nhằm lấy tiền chữa trị cho đứa con riêng của vợ đã cho thấy sự kiên cường đấu tranh với số phận cùng tình yêu thương, lòng vị tha của người cha đau khổ này. Vì thế khi về già, ông muốn bán máu để hưởng thụ chút thức ăn ngon đã bị người mua máu xua đuổi, cho rằng máu của ông bây giờ chẳng khác nào máu lợn. Việc bán máu của Hứa Tam Quan mặc dầu phạm vào tội "bán tổ tông" (theo quan niệm truyền thống của người Trung Quốc) nhưng lại vượt lên trên mặc cảm "tội tổ tông" - nỗi mặc cảm khiến loài người hàng bao thế kỉ cúi đầu với thân phận tội lỗi và thấp hèn. Hành động bán máu của Tam Quan bởi thế, thực chất là hành động sáng tạo ra bản thể, đáp ứng những nhu cầu, khát vọng căn bản của con người. Nó đã chứng minh cho triết lý giản dị mà cao cả: lòng hi sinh và vị tha khiến con người trở thành thực thể tinh thần cao quý và kiêu hãnh, đứng cao hơn bất cứ sinh vật nào.

Trong khi nhiều nhà văn cùng thời đang loay hoay với những vấn đề phản ánh và phê phán hiện thực thì Dư Hoa đã chọn cho mình một lối đi riêng. Ông đã từng phát biểu: "Sứ mệnh của nhà văn không phải là trút xả, không phải là tố cáo hay vạch trần. Anh ta nên thể hiện, nên trình bày sự cao thượng trước mọi người. Sự cao thượng mà tôi nói ở đây không phải là thứ tốt đẹp đơn thuần, mà là sự siêu nhiên sau khi đã hiểu rõ sự vật, nhìn nhận đối xử như nhau đối với thiện và ác hướng đến con người và phơi bày sự thanh cao, cái thanh cao ở đây không phải là vẻ đẹp đơn giản mà đứng cách biệt đằng sau mọi sự lý giải thông thường, đối xử bình đẳng với cái thiện và cái ác, dùng cái nhìn thông cảm để nhìn thế giới" [5;190]. Dùng cái chết để tôn vinh sự sống chính là phương thức hữu hiệu để Dư Hoa khẳng định vẻ đẹp thanh cao của con người. Sự hiện diện của cái nhìn này tuyên bố Dư Hoa đã thực sự chuyển từ một nhà văn truy vấn về nhân tính đến một Dư Hoa tin tưởng vào bản chất thiện lương của con người.

2.3. Cái chết trong tiểu thuyết Dư Hoa mang nỗi ám ảnh về một lịch sử bạo lực đẫm máu, qua đó thể hiện cái nhìn của tác giả về dân tộc Trung Hoa

Sau gần mười năm vắng bóng, Dư Hoa cho ra mắt Huynh đệ trước công chúng. Huynh đệ đã gây chấn động và nhiều tranh cãi. Cuốn tiểu thuyết tưởng như là một bước lùi của tác giả. Bởi nó lặp lại những cảnh tượng bạo lực, chết chóc kinh hoàng và phơi bày thú tính tàn ác của con người trong truyện ngắn Dư Hoa những năm 80 của thế kỉ trước. Rõ ràng, nỗi ám ảnh về một thời đại đau thương của Cách mạng văn hóa (1966 - 1976) cũng như sự ráo riết truy tìm căn tính của con người vẫn đeo bám Dư Hoa. Tuy nhiên, ngay ở đây, Huynh đệ đã trình bày một cái nhìn mới về cuộc đời và con người, thể hiện một niềm tin vào sự cứu chuộc của nhân tính thiện.

Như con rắn quấn lấy trí não của người đọc sau khi gấp trang sách cuối cùng của Huynh đệ, những cái chết thảm khốc thực sự khiến ta bị ám ảnh mạnh mẽ. Đó là Tôn Vĩ gục chết trên "bãi máu đầm đìa", đầu "lủng lẳng như sắp đứt" [6;342], là bố Tôn Vĩ không chịu nổi sự hành hạ về thể xác và cú sốc tinh thần mà đóng đinh vào đầu tự sát. Thê thảm nhất là cái chết của Tống Phàm Bình. Con người Tống Phàm Bình anh hùng, phi phàm trong mọi hành động lúc sống, vậy mà trước khi đi vào cõi chết, linh hồn anh đã bị một đòn chí mạng, trở thành kẻ tội đồ bị xã hội phỉ nhổ. Không chỉ vậy, thể xác anh trước khi vùi xuống đất lạnh cũng không thể vẹn nguyên theo đúng nghĩa đen của nó: cái xác to lớn phải bị "chặt đùi gối, bẻ cong bắp chân" mới có thể nằm gọn vào trong quan tài. Để vừa vặn vào cái khuôn khổ nhỏ hẹp cuối cùng ấy, sao với Tống Phàm Bình lại khó khăn và đau đớn đến thế! Bi kịch của gia đình họ Tống chưa dừng lại ở đó khi chính người con là Tống Cương cũng trải qua cái chết bi thảm. Cái chết của hai cha con có sự trùng lặp đến kỳ lạ. Cái chết của Tống Cương như một sự chiếu ứng với cái chết của người cha Tống Phàm Bình. Hai con người, hai thế hệ ở hai thời đại khác biệt nhưng đều chết nơi đầu đường xó chợ: một người chết ở bến xe, một người chết trên đường ray tàu hỏa, hai thân thể bấy nát đó đều được bỏ lên xe bò chở về nhà, nỗi đau đớn cào xé trong tim không thể cất thành lời của Lý Lan khi lau thân thể đầy vết thương của chồng một lần nữa lại được tái hiện nơi Lâm Hồng. Tống Cương không còn sống trong thời kì chém giết đẫm máu, không còn bị hành hạ bởi bạo lực nhưng thể xác và tâm hồn anh vẫn bầm dập, nát tan bởi chính sức mạnh gớm ghê của cái xã hội chạy theo dục vọng và đồng tiền. Và đó đâu đơn giản chỉ là cái chết của thể xác mà chính là sự tận diệt về số phận, về bản thể người. Phút trầm tư của Lý Trọc khi nhìn tro xương của người huynh đệ: "Một cái cây bé tí tẹo đốt thành tro, cũng còn nhiều hơn tro xương của Tống Cương" [6;10] khiến chúng ta xa xót về sự bé nhỏ và vô nghĩa của phận người.

 Dư Hoa viết về hai thời đại nhưng đều kể chung một câu chuyện là lịch sử bạo lực và thân phận của con người - câu chuyện mà nhà văn đã kể nhưng còn dở dang trong những truyện ngắn của năm 80 về lịch sử văn minh Trung Hoa hàng ngàn năm. Đó là một nền văn minh mà bản chất dã man đã ăn sâu vào cốt tủy, chỉ chờ cơ hội thích hợp lại hiện nguyên hình. Khi đối mặt với bạo lực và hỗn loạn, "văn minh", "nhân nghĩa" chỉ còn là những khẩu hiệu rỗng tuếch. Trong suốt chiều dài lịch sử đó, con người không chỉ là nạn nhân mà chính họ là tội nhân tự làm đau chính mình. Cái chết trong Huynh đệ vì thế không chỉ là một thất bại bi thảm tạm thời của cái thiện, một bất công trong cuộc sống mà còn là sự hấp hối của một nền văn hóa.

Tuy nhiên, việc Dư Hoa để Lý Trọc và Tống Cương như hai đại diện của nhân tính ác và nhân tính thiện gắn bó với nhau bằng tình huynh đệ mật thiết đã xoa dịu sự xung đột thiện ác, điều này vốn chưa từng xuất hiện trong truyện ngắn Dư Hoa thời kì tiên phong. Hơn nữa, trong thế giới tàn nhẫn, đầy tai ương và đổ vỡ này, ta vẫn cảm nhận được hơi ấm tình người đang lan tỏa. Đó là tình vợ chồng, tình phụ tử, tình mẫu tử, tình làng xóm… Dư Hoa đã khơi lên một cảm xúc mang tính người nhất - hi vọng. Đó là thứ neo giữ hồn người, neo giữ cả một nền văn hóa.

3. Kết luận

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã chỉ ra nguyên nhân khiến Dư Hoa trở thành nhà văn viết nhiều và ám ảnh về cái chết, từ các chi tiết đời tư, thời đại cho đến các nhà văn mà Dư Hoa đã chịu ảnh hưởng. Nhưng điều chúng ta cần khẳng định đó là nhà văn đã chủ động lựa chọn cái chết như một kí hiệu nghệ thuật đắc dụng để khám phá đời sống. Ý nghĩa của kí hiệu cái chết trong tác phẩm Dư Hoa cho ta thấy quá trình phát triển không ngừng trên hành trình tư tưởng để đi đến khẳng định giá trị của sự hiện hữu. Từ cái nhìn về một thế giới đen tối, cùng cực với sự thống trị của cái ác và sự bất lực của cái thiện, Dư Hoa đã tiến tới xây dựng niềm tin vào bản năng sinh tồn và tình yêu thương sẽ giúp con người chống chọi lại những bất công và phi lý của cuộc đời. Để rồi cuối cùng nhà văn thể hiện một khát vọng mạnh mẽ tái cấu trúc nền văn hóa Trung Hoa.

 

Tài liệu tham khảo

[1] Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (2002), Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb. Đà Nẵng, Tp. Hồ Chí Minh.

[2] Nguyễn Văn Hạnh (2007), Rabindranath Tagore với thời kì phục hưng Ấn Độ, Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội.

[3] Dư Hoa (2006), Chuyện Hứa Tam Quan bán máu, Vũ Công Hoan dịch, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.

[4] Dư Hoa (2008), Gào thét trong mưa bụi, Vũ Công Hoan dịch, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội.

[5] Dư Hoa (2011), Sống, Vũ Công Hoan dịch, Nxb. văn học, Hà Nội.Dư Hoa (2012), Huynh đệ, Vũ Công Hoan dịch, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội.

[6] Dư Hoa (2012), Huynh đệ, Vũ Công Hoan dịch, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội.

[7] Dư Hoa (2013), Trung Quốc trong

Quốc Huy

Thẳm Nàng Màn thuộc bản Nà Pha, xã Yên Khê, huyện Con Cuông được hình thành cách ngày nay hàng trăm triệu năm do quá trình phong hóa Karst(1), là một trong những hang động đá vôi đặc trưng của miền Bắc Việt Nam.

Quá trình phong hóa tạo thành hang động với các nhũ đá, măng đá và sông nối ngầm.

Thẳm Nàng Màn có diện tích khoảng 1.853m2, đây là hang động có cấu trúc đặc biệt do quá trình karst khoét cong mái vòm như một nhà hát khổng lồ, có hệ thống hang ngầm, xuyên thủng, nhiều nhũ đá đẹp(2).

Hang cao 51m so với mặt nước biển, cửa hang rộng 25m, cao 30m, ăn sâu vào 50m, càng đi sâu vào trong vòm hang càng cao. Nền hang cao khoảng 10m so với thung lũng trước cửa. Mặt nền khá mấp mô bởi những tảng đá tự nhiên nằm rải rác. Vòm hang hình bán cầu, giữa lòng hang trũng hình ao, phía trên có những tảng đá lăn. Xung quanh vòm hang là hệ thống nhũ đá, măng đá, cột đá tạo nên nhiều kiểu dáng kỳ lạ.

Phía dưới hang có một ngách đi xuống tạo thành dòng sông ngầm có mạch nước chảy ra sông Lam. Phía trên hang có ba ngách chính, hai ngách tỏa ra hai bên, một ngách ở giữa vách trong cùng của hang có thể đi xuyên qua mặt sau của núi, ngách có độ dài khoảng 400m. Càng đi sâu vào trong hang nhiệt độ giảm dần và có cảm giác mát lạnh.

Thẳm Nàng Màn là một hang động đá vôi nên quá trình phong hóa đã để lại cho hang một lượng lớn các măng đá, nhũ đá, cột đá tuyệt đẹp với nhiều hình thù kỳ thú như mẹ bồng con, bách thú tụ hội, cột chống trời, ruộng bậc thang, hình ô dù, tàn lọng, hình ngai măng rồng bay phượng múa… tạo nên những kỳ quan hấp dẫn.

Khối măng đá "mẹ bồng con": Đây là khối măng đá lớn nhất của Thẳm Nàng Màn nằm ở sườn hang nhìn ra cửa hang. Khối măng đá này có hình giống như người mẹ đang ngồi trên mỏm đá bồng con nhìn hướng ra cửa hang có chiều cao khoảng 3,5m, đường kính phía dưới khoảng 2m được kiến tạo nhỏ dần từ dưới lên trên. Đỉnh của khối đá có hình khuôn mặt người phụ nữ có hai mắt, mũi, miệng và nốt ruồi son ở giữa hai chân mày. Trên tay bên phải của người phụ nữ bồng đứa con nhỏ, đầu đứa trẻ nhô cao ngang gò má của mẹ. Mỗi khi ánh sáng chiếu vào làm cho khối măng đá trở nên lung linh huyền diệu.

Khối cột đá hình "trụ chống trời": Cột đá măng nằm ở ngách phía trên cửa hang. Do măng đá "mọc" lên và nhũ đá từ trên thòng xuống gặp nhau mà hình thành nên. Khối cột đá có chiều cao khoảng 4m, đường kính khoảng 2m hình trụ đứng. Phần măng đá chiếm khoảng 2/3 chiều cao, nhũ đá chiếm 1/3 chiều cao. Giữa lớp măng đá và nhũ đá có những khoảng trống chưa gắn kín hết. Các vân đá tạo hình như những nếp lụa gấp buông xuống. Quá trình kết tủa Cacbonat Canxi làm cho bề mặt trụ có hình vảy lấp lánh như những mảnh thủy tinh nhỏ.

Khối thạch nhũ hình "bách thú tụ hội": Khối thạch nhũ này có hình thù như một đàn thú gồm nhiều loại hổ báo, chó, mèo, chồn, cáo đang đuổi nhau chạy từ trên xuống.

Khối Măng đá hình "núi gạo" ở ngách bên trái của hang có khối măng đá đùn lên, mặt ngoài trắng toát trông như một núi gạo vừa mới giã xong.

Khối cột đá hình "thác bạc": Trên sườn vách của hang có khối măng đá hình như một dòng thác đổ từ trên cao xuống với những hạt nước trắng xóa lấp lánh ánh sáng. Hệ thống ruộng bậc thang: do quá trình phong hóa dưới sự tác động của nước bào mòn đá tạo nên những ô ruộng bậc thang trên đường lên ngách hang phía bên trên, trong các ô ruộng có nước tự nhiên.

Hệ thống nhũ đá trên vách hang và trần hang: Trên các vách hang là vô số các nhũ đá có kích thước khác nhau. Có những nhũ đá thòng xuống vài mét, có những cái mới hình thành. Hiện nay quá trình phong hóa vẫn diễn ra, các nhũ đá vẫn tiếp tục lớn lên theo thời gian.

Ngoài ra Thẳm Nàng Màn nằm trong hệ thống thực vật và động vật rừng rất phong phú. Về hệ thống thực vật có các nhóm cây quý như: Pơ mu, sa mộc, giáng hương quả to, lát hoa, gụ lau, đinh, sến… Hệ động vật gồm nhiều loài như: chim có trĩ cao, công gà lôi trắng, gà tiền, sáo, chào mào… Về loài thú có: sóc, chồn, cáo, thỏ. Về lưỡng cư và bò sát có: Rùa, tắc kè, kỳ đà, rắn và nhiều loài cá, côn trùng, dơi…

Thẳm Nàng Màn không chỉ được kiến tạo bởi tự nhiên với những hình khối kỳ lạ và đẹp mắt mà còn gắn với truyền thuyết cô nàng bồng con hóa đá. Một truyền thuyết đẹp nhưng đầy bi thương về tình yêu đôi lứa, toát lên khát vọng được sống, được yêu, khát vọng giải phóng cá nhân, giải phóng giai cấp.

Truyền thuyết kể rằng: vào thưở xa xưa, người Thái đã đến định cư ở vùng này. Cấu trúc xã hội người Thái thời ấy gồm các tầng lớp: Chẩu đin là tầng lớp nắm giữ toàn bộ đất đai cai quản hành chính và cả phần hồn của dân bản(3); tầng lớp "Páy, Táy" là những nông dân tự do; tầng lớp "Cuông, nhốc, thím" là những nông dân bán tự do và thấp nhất là tầng lớp "côn hươn, côn khỏi, lục khỏi" là những gia nô, đầy tớ của chúa đất.

Luật tục ở bản quy định rất chặt chẽ về mối quan hệ giữa các tầng lớp, người của tầng lớp này không được quan hệ, kết hôn với người của tầng lớp khác. Ai vi phạm sẽ bị đuổi ra khỏi bản, mường và bị những trừng phạt vô cùng khắc nghiệt.

Ở một bản có một Chẩu đin rất giàu có đầy quyền uy, gia nô, đầy tớ hầu hạ có đến hàng trăm người trong số đó có một chàng trai rất khôi ngô, tuấn tú. Hàng ngày Chẩu đin giao cho chàng những công việc nặng nhọc như bửa củi, cày nương, làm rẫy. Với sức khỏe của một chàng trai mới mười tám đôi mươi lại hiền lành, sáng dạ, công việc luôn làm tốt nên được Chẩu đin quý mến. Nhà Chẩu đin(4) có một người con gái rất xinh đẹp, hiền lành, hát hay, múa dẻo "khi nghe nàng hát chim rừng bay qua cũng phải dừng cánh, khi nàng xuống suối, tôm cá vây lượn quanh đôi bắp chân nõn nà của nàng"(5). Hàng ngày nàng ngồi dệt vải dưới sàn nhà, đôi mắt như biết nói của chàng trai liếc nhìn nàng và bắt gặp đôi mắt đen láy của nàng. Ngày này qua ngày khác cô gái đem lòng thầm yêu chàng trai, tình yêu hai người đã làm cho họ gần nhau không thể nào cưỡng lại.

Thế rồi nàng có thai với người con trai Côn Khỏi, thai ngày càng lớn dần, tình yêu của đôi trai gái bị lộ. Đây là việc chưa từng có của mường từ xưa tới bây giờ. Mặc dù Châu đỉn là chúa tể của mường nhưng không thể nằm ngoài luật tục chung của mường đã đặt ra mặc dầu ông rất thương đứa con gái yêu quý của mình. Một cuộc họp gồm các chức dịch và bô lão được mở ra, các thành viên dự họp để phản đối quyết liệt mối tình đi đến tội lỗi của chàng trai Côn Khỏi với con gái của Châu đỉn và phải thi hành theo luật tục của mường. Chàng trai Côn Khỏi bị đuổi ra khỏi mường, còn cô gái bị đưa lên hang núi, được mường để lại một số lương thực đủ ăn trong một thời gian rồi lấp cửa hang lại. Nếu cô gái may mắn sống sót được sau khi hết lương thực thì được giải thoát, nếu không thì phải cam chịu số phận chết lặng lẽ trong hang. Sau khi bị nhốt trong hang một thời gian cô gái đến kỳ "mãn nguyệt khai hoa" sinh ra một người con sống trong hang núi lạnh lẽo, cô đơn, đói khát, mẹ con nàng vô cùng tủi phận. Nước mắt chảy thành dòng suối trong hang, xuyên cả đá ra tận sông cả. Trước tình cảnh thương tâm của hai mẹ con nàng đã lay động đến tận trời cao. Ông trời thương cho mẹ con nàng cảnh cô đơn đói khát bèn sai các tiên nữ xuống hang hóa thành các hình thú lạ mắt để mẹ con nàng vơi bớt nỗi buồn, nhớ mong chàng trai Côn Khỏi và bản mường.

Ngày tháng lặng lẽ trôi đi, lương thực của mường để lại đã hết, mẹ con nàng vẫn ngóng chờ người yêu một cách vô vọng. Nàng đành bồng con lên tảng đá lớn nhất, cao nhất ngồi đưa mắt về phía bản mường để ngóng người yêu, nhưng nàng có biết đâu người con trai mà nàng yêu quý nhất đã đi khỏi bản mường từ lâu.

Nàng ngồi vậy không biết bao nhiêu ngày tháng, đến khi võng mạc đã mờ, chân trời bao lần hửng sáng, sự mòn mỏi chờ mong đến ngày hai mẹ con hóa đá.

Đối với Chẩu đin, đến kỳ ông đưa dân bản lên phá cửa hang để giải thoát cho nàng, nhưng khi những khối đá người mẹ bồng con hiện ra làm cho mọi người vô cùng đau xót. Từ đó, để tướng nhớ nàng, trân trọng mối tình đẹp đẽ nhưng đầy bi kịch của nàng với chàng Côn Khỏi, bản mường đã đặt tên cho hang là Thẳm Nàng Màn (Hang Nàng Màn).

Hang Nàng Màn gắn với truyền thuyết tình yêu đẹp nhưng đầy bi kịch của đôi trai gái người Thái trong xã hội phân tầng sâu sắc nằm trong khu vực có nhiều di tích lịch sử gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước trên địa bàn huyện Con Cuông như Bia Ma Nhai, thành Trà Lân, cây đa Cồn Chùa… Đồng thời cũng là khu vực có nhiều thắng cảnh thiên nhiên như khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát, đập Phà Lài, sông Giăng, Hang ốc, Thác Khe Kèm, eo Vực Bồng… tạo nên một vùng du lịch bởi những sản phẩm hấp dẫn của huyện Con Cuông, trong đó Thẳm Nàng Màn di tích danh thắng cấp tỉnh là điểm nhấn cho khu vực du lịch này.

Để Thẳm Nàng Màn và khu vực này trở thành điểm đến cho khách du lịch chính quyền các cấp cần xây dựng quy hoạch tổng thể cho khu vực nhằm bảo tồn và phát huy các di tích cảnh quan. Xây dựng chương trình quảng bá rộng rãi về Thẳm Nàng Màn, về các di tích danh thắng trên địa bàn huyện để mời gọi du khách đến tham quan, tạo nên những giá trị của di sản trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của huyện Con Cuông.

Chú thích

(1), (2). PGS.TS Nguyễn Khắc Sử: Báo cáo sơ bộ kết quả điều tra khảo cổ hang động ở 5 huyện của tỉnh Nghệ An - Tài liệu lưu tại Ban Quản lý Di tích tỉnh Nghệ An

(3). Châu đỉn: như là chúa đất, chủ đất

(4). Phần hồn được hiểu như là Chúa hồn, chủ hồn

(5). BCH Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Con Cuông: Lịch sử Đảng bộ huyện Con Cuông, T1 (1930 - 2003) NXB. Nghệ An, 2004, t

Phạm Xuân Cần

Sau sự kiện Xô viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931, Nghệ Tĩnh trở thành địa phương được nhà nước bảo hộ Pháp và chính quyền Nam triều dành cho sự chú ý đặc biệt. Ngoài việc tổ chức các "lễ Quy thuận" trong năm 1931, ngay sau khi về nước và làm lễ Hồi loan vào ngày 11 tháng 11 năm 1932, mấy ngày sau Hoàng đế Bảo Đại đã tổ chức chuyến tuần du ra Bắc miền Trung lần thứ nhất. Trong chuyến đi này, nhà vua đã thăm Thanh Hóa, sau đó đến Nghệ An, Hà Tĩnh và vào Quảng Bình.

Tại Nghệ An, sau khi thăm một số nơi ở Vinh nhà vua đã đến Nghi Lộc, Diễn Châu, Đô Lương, Anh Sơn, Thanh Chương, Nam Đàn và Hưng Nguyên. Đây là chuyến đi nhằm mục đích thị uy và phủ dụ dân chúng là chính. Những năm sau (1937 và 1938) nhà vua còn trở lại thăm Nghệ An hai lần nữa để tham dự một số sự kiện quan trọng diễn ra ở đây.

Đây là những sự kiện từ trước đến nay chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức. Để giúp bạn đọc hình dung một cách khách quan và cảm nhận được không khí của sự kiện này cách nay gần một thế kỷ, chúng tôi xin chép lại nguyên văn (kể cả cách viết theo chính tả thời đó) tường thuật của tuần báo Thanh Nghệ Tịnh Tân Văn, số 123, ra ngày thứ sáu, 25 tháng 11 năm 1932. Phần ảnh ngoài những tấm ảnh được in kèm theo bài báo (chất lượng kém) còn có những tấm ảnh về sự kiện này được chúng tôi sưu tầm qua các nguồn khác có chất lượng rất tốt.

Ngự giá Bảo Đại Hoàng đế tại phía Bắc Trung kỳ

(Báo Thanh Nghệ Tịnh Tân Văn số 123, ra ngày thứ sáu, 25/11/1932)(1).

Tại Nghệ An

Hoàng thượng tới Nghệ An

Vinh - Vào lúc gần 12 giờ trưa, ngự giá Hoàng thượng từ Thanh Hóa đến thành tỉnh Nghệ An. Vào cửa thành có súng hiệu nổ chào mừng; khi vào đến trong thành thì có lính khố xanh và lính thuộc địa đóng ở Vinh đứng sắp hàng chào. Hoàng thượng đi qua một lượt trước đạo binh rồi ngự vào trong Hành cung. Quan Khâm sứ Châtel(2), ông Hoàng Vĩnh Cân(3), cụ Phước môn quận công(4), các quan đi hộ giá Vua và các quan tùy hành Quan Khâm sứ đều vào Hành cung. Quan Công sứ Nghệ An Lagreze, quan Tổng đốc Nguyễn Khoa Kỳ(5) cùng các tỉnh thần, các quan hàm đương cùng các công sở bảo hộ đều vào Hành cung để làm Lễ Bái khánh.

Lễ Bái khánh tại Hành cung

Vua ngự trên ngai; các quan tỉnh, các Nam quan viên các công sở bên bảo hộ và các hưu quan vào lập ban tề chỉnh rồi làm Lễ Bái khánh. Trong lúc cử hành Lễ Bái khánh, thì những người không dự Lễ Bái khánh đều đứng hai bên tả hữu ngoài sân và đứng rất nghiêm trang trong khi làm Lễ Bái khánh. Khi đã tâu lễ thành rồi và phát hạ pháo rồi, Hoàng thượng vào nội điện ít lâu. Các quan hàm đương, các ông nhân dân đại biểu được phép thượng điện và cùng đứng sang bên hữu.

Vua lại ngự ra, quan Tổng đốc An Tĩnh đọc một bài hạ biểu bằng chữ Hán (xem phần chữ Hán ở trang nhì).

Đến Quan Công sứ Nghệ An đọc một bài chúc văn bằng tiếng Pháp. Bản dịch bài diễn văn ấy sẽ đăng sau đây.

Khi Vua ngự ra, có quan Khâm sứ đứng bên tả, Cụ Cơ mật viện trưởng Phước môn quận công đứng bên hữu.

Hạ biểu đọc xong, quan Tổng đốc tiến dẫn các hội thiện, hội tỉnh tuần, các hưu quan, Châu cấp, Tập Phúc, các ông nhân dân đại biểu và các hội viên lên bái yết Hoàng thượng. Rồi đến quan Công sứ tiến dẫn các quan Tây đầu các công sở, các hội viên người Pháp các quan đại lý cùng các quan chức Tây Nam các công sở vào bái yết.

Đoạn lại đến các đại biểu Trung Hoa ở Vinh. Có Chánh Phó bang trưởng, ông giáo sư tại trường học của người Trung Hoa ở Vinh và một người thân thương, các đại biểu Trung Hoa đều mặc lễ phục Tàu.

Các lễ vừa xong, Hoàng thượng lại bước xuống thềm ra sân đi trước hàng thân hào, thuộc quan, những người được ân thụ vinh hàm, các bang tá. Vua hạ cố ngự ra sân như thế là để những người không được thượng điện bái yết. Có một người dâng lên một tờ biểu; Hoàng thượng truyền cho thu nhận.

Lễ xong, Hoàng thượng, ông Hoàng thân, quan Khâm sứ, cụ quận công cùng các quan hộ giá tòng hành, từ giã Hành cung ra lầu Công sứ. Hoàng thượng ngự thiện tại đó cùng quan Khâm sứ, và các vị, các quan lớn đi hộ giá, tòng hành.

Hoàng thượng đi thăm các nơi

Trời tuy mưa, mà nghe ngự giá Hoàng thượng đi đến đâu, nhân dân đều nô nức hoan hô, đi xem rất náo nhiệt.

Sau bữa tiệc tại Tòa chánh Công sứ thì Quan sứ Lagreze, quan Tổng đốc Nguyễn Khoa Kỳ có đặt vòng hoa tại bia kỷ niệm quan cựu Công sứ De Botttini. Có quan Khâm sứ Châtel dự lễ này.

Buổi chiều, vào lúc 2 giờ, Hoàng thượng đi thăm trại khố xanh(6). Cuộc nghênh tiếp rất long trọng. Quan Giám binh Petit ra đón thánh giá vào. Hoàng thượng đi lượt qua đội lính khố xanh bấy giờ bồng súng đứng rất chỉnh tề. Một viên chánh quản và người lính số 1091 được gọi ra yến kiến trước Hoàng thượng.

Ngự giá Hoàng thượng lại ra đường cửa tiền, đi qua trường thành chung(7), Hoàng thượng và các quan vào thăm các học sinh bấy giờ đứng sắp làm hai hàng có cầm quốc kỳ (giữa đỏ hai bên vàng các sắc ngang nhau).

Ngự giá lại đi thăm trại lính Tây đóng ở trường college Vinh cũ(8); ngự giá lại trở về thăm Sở Y tế Vinh(9). Quan đốc tơ Lemoine đem các nhân viên trong sở đứng hai hàng nghinh tiếp. Vua vào thăm phòng mổ, phòng giải phẫu, phòng thuốc, phòng hộ sinh.

Thăm các phòng trong Sở Y tế xong rồi, Hoàng thượng lại đi thăm nhà Dục anh của hội Nghệ An Pháp Việt Dục anh hội(10). Đến đây, các bà sơ và hội viên đều đợi sẵn ngự giá đến. Vua đi thăm các nơi, chỗ ngủ chỗ ăn, và vào phòng tiếp khách của hội. Quan đốc tờ Lemoine là chánh hội trưởng hội Dục anh có đọc một bài chúc văn và nói về hội này, đoạn đưa quyển sách vàng (livre d'or) của hội ra. Hoàng thượng xem rồi ký tên vào.

Nghe nói Hoàng thượng có cho Dục anh hội hai trăm đồng. Vua có xem những trẻ mồ côi nuôi trong nhà hội. Phần nhiều các đứa trẻ bây giờ đều béo tốt, không ra vẻ mồ côi nữa.

Ngự giá vua đi thăm Dục anh rồi thì đi thăm trường học "Nguyễn Trường Tộ"(11). Quan thanh tra học chính trong tỉnh, M. Merlier, quan phó thanh tra M. Nguyễn Gia Thoại, các nam nữ giáo chức và nam nữ học sinh đều đứng đợi thánh giá ngự tới.

Hoàng thượng thăm trường học trong tỉnh rồi đi thăm nhà máy làm xe hỏa ở Trường Thi(12). Ông Chánh đốc xưởng máy là M. Wanderhassel đem các viên chức trong sở ra nghinh tiếp. Vua đi thăm các nơi trong nhà máy, xem thợ làm. Đoạn ngự giá đi thăm đồn Yên Dũng(13). Ông sếp đồn là M. Re nert đem lính ra nghinh thánh giá. Vua đi thăm trong đồn rồi đo đường Bến Thủy về Vinh. Cùng đi có quan Khâm sứ Châtel, ông Hoàng Vĩnh Cân, cụ Cơ mật, các quan tòng hành, quan Công sứ Lagreze và tỉnh thần Nghệ An. Khi về đến Hành cung tỉnh Nghệ An thì vào lúc năm giờ rưỡi chiều. Lúc ấy trời mưa, nhân dân trong thành phố và các vùng phụ cận đi xem đông lắm, đứng hai bên bờ đường và ngổn ngang ở giữa. Lính cảnh sát đã giữ trật tự rất nghiêm, xa giá mới từ từ đi về cửa Nam môn tiến vào trong thành. Tại trước cửa tiền người đi xem đứng dồn lại có đến cả trăm.

Hoàng thượng vào Hành cung, an nghỉ một lúc rồi tiếp các thân hào. Mấy ông dân biểu, hội viên, các hưu quan, rất đông người đến yết kiến. Vua lại tiếp đến những người trong Hoàng tộc hoặc làm quan, hoặc buôn bán ở đây.

Tám giờ tối, ngự giá ra tòa sứ(14) dự tiệc. Có đủ các quan Tây đầu các công sở được đến dự trong bữa tiệc này. Tiệc xong Hoàng thượng Hoàng thân về hành cung an nghỉ để sáng ngày 21 (18 novembre) đi các vườn trong tỉnh Nghệ An.

Hoàng thượng đi thăm các phủ huyện

Ngày 21 tháng mười ta (18 Novembere 1932) ngự giá Hoàng thượng đã đi gần khắp các phủ huyện trong tỉnh Nghệ An: Vua đã đến huyện Nghi Lộc, phủ Diễn Châu, đồn Thịnh Đức, xưởng làm việc đào Nông giang, phủ Anh Sơn, huyện Thanh Chương, huyện Nam Đàn, phủ Hưng Nguyên…

Vào lúc 7 giờ sáng, xa giá Hoàng thượng từ thành tỉnh Nghệ An do nam môn (cửa tiền) đi ra. Có quan Khâm sứ Châtel cùng đi với Hoàng thượng và ông Hoàng Vĩnh Cân. Các quan đi hộ giá có: quan cơ mật viện trưởng Phước môn quận công Nguyễn Hữu Bài, MM. Nguyễn Đệ, thư ký ngự tiền, Barthelemy, quan hai thủy quân, chánh võ phòng của vua, Nguyễn Hữu Duyên, Thống chế thị vệ.

Các quan tòng quan Khâm sứ có MM. Gau hier, hội lý hộ Lại, Haclewyn, chánh văn phòng, Berjoan, thư ký riêng, Trey, một quan chức trong sở Liêm phóng Trung kỳ ở Huế. Các vị đi hộ giá Hoàng thượng và tùy tòng quan Khâm sứ có tên kể trên đều khởi hành tại Huế và đã có ra Thanh.

Quan Công sứ Nghệ An Lagreze, quan Tổng đốc An Tịnh Nguyễn Khoa Kỳ đều có cùng đi các miền trong tỉnh. Các quý quan và các tỉnh thần trong tỉnh Nghệ An đi theo ngự giá Hoàng thượng cũng đông: quan Giám binh Petit, quan chánh sở Liên phóng ở Vinh: Billet, các quan chức trong sở Liêm phóng: MM. Laigillon, Quilici, Ferez, Paccard, quan kỹ sư Bertin, tỉnh thần ở Nghệ An cùng theo thánh giá lại có quan Bố chánh Nguyễn Phiên, quan Thương tá riêng M. Tôn Thất Hối.

Ông Le granelande là phóng viên một tờ báo lớn bên Pháp mới qua Đông Dương nhân thấy đức Bảo Đại Hoàng đế bắc tuần nên ông có theo quan Toàn quyền Pasquier vào Thanh Hóa, và vào luôn Vinh, hôm nay ông ta cũng có đi theo và đem cả máy chụp ảnh đi.

Theo xe vua tất cả có đến non bốn mươi người ngồi trên hơn một chục chiếc xe hơi. Lúc sáng khởi hành đi trời đang mưa, và cả ngày cũng mưa phùn luôn, chỉ khi đến phủ Diễn Châu thì còn hơi khô ráo, còn đến các nơi đường sá phần nhiều ướt át, nhất là tại chợ Rạng, Võ Liệt, Nam Đàn, Hưng Nguyên. Tuy trời mưa, nhưng khắp nơi mà xa giá Hoàng thượng đi qua đều thấy có vẻ rất tưng bừng náo nhiệt. Hai bên vệ đường, cờ bay phấp phới, những chỗ có thiết bài hương án hay dựng thể môn thì đều thấy trẻ già nô nức đứng xem. Những chỗ có đông dân đứng xem nhất là ở phủ Diễn Châu, và nhất là ở Võ Liệt (thuộc huyện Thanh Chương) chỗ này hình như dân cư đông lắm. Người đi xem đứng chật đường trong một đoạn dài, ấy là chưa kể đến hàng mấy trăm người đứng cả dưới ruộng mà coi. Người ta nói trời có nắng ráo người đi xem cũng không thể đông hơn được mấy, nhân dân nghe nói vua ra đều nô nức đi xem, chẳng ngại gì rét, chẳng kể gì mưa. Cho nên ta mới thấy người đi xem đông đến thế. Tại những chỗ mà vua có hạ giá mấy người đi xem đã nhiều, mà ở dọc đường lác đác đứng chờ xem không phải ít. Đường từ Vinh ra huyện lỵ huyện Nghi Lộc chừng mười ky lô mét. Ngự giá đi qua, dọc đường có đến bảy tám nơi có các bô lão trong làng ra bái hạ. Tại trước cửa huyện có lính đứng bồng súng và học sinh đứng cầm cờ đứng sang một phía Hoàng thượng hạ giá vào trong bên hữu có quan Khâm sứ, bên tả quan Cơ mật viện trưởng, Hoàng thượng đứng để các quan, nha, các vị hưu quan và thân hào trong huyện hạt đến bái khánh. Những người có chức vị cao, hoặc niên cao đứng trước, ai nấy vẻ mặt đều có nét mừng pha nét sợ - hình như ít lâu nay được nghe nói đức kim thượng đạt độ khoan hòa, kịp ngày nay lại được thấy rõ thiên nhan, nên ai nấy đều cảm động vô cùng. Khi được lịnh vào bái khánh, những người được vào trước đều quì lạy xuống đất. Vua liền cho đứng lên và chỉ cho đứng vái thôi.

Khi bái khánh xong rồi, một ông lão quì và dâng một tờ biểu. Vua truyền thu nhận.

Ngự giá lại đi Phủ Diễn từ đây, ở dọc hai bên đường từng đoạn lại có một người lính khố lục đứng bồng súng. Các đầu làng đều có bày hương án và bô lão mặc áo xanh ra bái hạ. Dọc con đường từ Nghi Lộc đi Diễn Châu, có mấy người quỳ bên đường và dâng sớ, vua cho xe dừng lại để thâu nhận. Khi đến phủ Diễn, ngự giá đi thẳng vào trong thành, ở đây có đạo lính thuộc địa do quan ba đại lý Delory chỉ huy ra bồng súng chào. Hoàng thượng và quan Khâm sứ có đi qua trước đạo quân và gắn Long bội tinh cho quan ba đại lý. Hoàng thượng, Hoàng thân Vĩnh Cân có đứng trông quan cảnh thành phủ Diễn. Tại đây thành để rêu xanh, trông có vẻ cổ xưa và hơi giống một nơi ở Huế.

Hoàng thượng, quan Khâm sứ, ông Hoàng, ông Cơ mật và các quan đi hộ giá, tòng hành đều vào trong Phủ. Ở đây Hoàng thượng có ngự dùng trà, và ngồi nghỉ tại đó trong non mười phút đồng hồ. Ở đây học trò cầm cờ cũng đông; cũng như các nơi khác, mỗi học sinh đều cầm một cây cờ giữa đỏ hai bên vàng. Đến phủ Diễn thì biết là nơi lắm quan. Các vị hưu quan có phẩm tước và có huy chương có đến bốn mươi vị. Ai nấy đều vào bái khánh. Hoàng thượng đứng thụ lễ rồi ban ngân tiền cho mấy người.

Ngự giá lại đi đồn Thịnh Đức(15). Đồn này làm trên một ngọn núi. Xa giá Hoàng thượng đi lên trên đồn, đi vòng xoáy ốc trong hai vòng thì lên đỉnh núi, tới đồn. Hoàng thượng thăm đồn và đứng trông ra bốn phía một lúc ngự giá lại đi thăm xưởng đào nông giang(16), có quan kỹ sư nông giang đến cắt nghĩa chương trình dẫn thủy nhập điền, ông Hội tịnh, cùng mấy người thầu chung đoạn nông giang có dâng tiệc             Champagne. Ngự giá vua đi Đô Lương, vào Phủ lỵ Anh Sơn. Cuộc nghênh thánh giá cũng hơi giống tại các nơi khác. Đến đây có hai ông lão già hơn chín mươi tuổi và là anh em (người ta gọi là cụ bá cả và cụ bá hai) ra bái khánh: Vua ban cho một tấm lụa. Tại Anh Sơn, có năm người được ngự ban cho ngân tiền. Ngự giá lại đi lên chợ Rạng. Đến đây ngự giá vào nghỉ trong đồn(17) và ngự dùng cơm sáng cùng các quan Khâm sứ, ông Hoàng, cụ Cơ mật và các quan chức tòng hành.

Quan Thống chế thị vệ, quan Bố chánh Nghệ An, mấy quan chức nhỏ đi hộ giá thì dùng cơm của quan huyện Thanh Chương đãi tại một nơi khác, nhà tranh, cất gần đồn. Mấy nhà làm báo do ông Tôn Thất Hối giới thiệu và ép phải ăn cơm của quan huyện đãi rất tử tế. Khỏi phải ăn bánh Tây trên ô tô như đã định trước.

Một giờ chiều ngự giá ra đứng thụ lễ trước đồn. Các thân hào trong vùng ra bái khánh vua ban ngân tiền cho mấy người rồi lại đi Võ Liệt (Thanh Chương). Tại Võ Liệt Thanh Quả có cất một cái trạm rất nguy nga. Hoàng thượng ngự nhận lễ các thân hào. Tại đây một viên Bang tá tuần trấp đã 76 tuổi, được đặc ân ban cho kim tiền. Ông này tên là Nguyễn Văn Tính. Đoạn đứng xem phong cảnh một hồi lâu mới lên xe đi Nam Đàn. Chỗ bến đò Gang sở Lục Lộ đã làm một cái cầu phao rất khéo: non mười chiếc phà để ngang, trên lát ván thành một cái cầu, có bao lan sắt hẳn hoi.

Đường từ chợ Rạng đến huyện Nam Đàn, quang cảnh rất thanh kỳ mà hiểm trở. Đến huyện lỵ Nam Đàn, ngự giá vua vào huyện thụ lễ của các thân hào trong hạt, ban ngân tiền cho nhiều người, đoạn lại thẳng đường đi phủ Hưng Nguyên. Sang đến hạt này, cuộc nghênh tiếp thánh giá có vẻ long trọng hơn. Khi đến phủ lỵ đã ba giờ rưỡi chiều, vua ngự thụ lễ, ban thưởng ngân tiền rồi về Vinh. Tại phủ Hưng Nguyên, các nam nữ học sinh cầm cờ và hát một bài chúc vua bằng tiếng An Nam nhưng không nghe rõ được câu gì.

Ngự giá vua về đến thành Vinh vào lúc 4 giờ chiều. Vua ngự vào Hành cung. Vào thành có súng hiệu đón mừng, các tỉnh thần ra bái  nghinh thánh giá vào an nghỉ.

Lời Hoàng thượng phủ dụ thần dân

Ngự giá đi các miền trong tỉnh Nghệ An, đi đến đâu nhân dân cũng nô nức hoan hô một cách rất náo nhiệt. Đến các nơi có đông thân hào đến bái khánh, cụ lớn Cơ mật đều có vâng lệnh của Hoàng thượng ban lời phủ dụ đại khái như sau này: "nay các thân hào, bô lão đến bái khánh, Hoàng thượng cảm ơn, (nghe đến câu này thì ai nấy đều vái rất cung kính cảm động). Hoàng thượng đi du học bên quý quốc nay về lâm chính, Hoàng thượng sẽ làm ngay cho dân được hạnh phúc. Trong khi Hoàng thượng còn du học, năm ngoái năm kia, trong nước có xẩy ra sự không may, sự lộn xộn, ngài đều nghe biết cả và Hoàng thượng rất lấy làm đau đớn cho dân(18). Những việc ấy là do bọn thiếu niên càn rỡ, họ làm không phải thì chịu tội, các ông cũng không phải liên lụy đến. Đành coi như một cái thiên tai vậy; nhưng kể ra thì tội lỗi ấy chẳng phải là các ông thân hào, hàng phụ lão không có trách nhiệm, có lỗi, vì các ông đã không biết lo giáo bối trước đi, để cho chúng nó làm càn, trước còn đe nạt, bắt ép dân quê ngu dại, sau càng ngày càng lộng, ép cả cha anh làm càn; như thế thật là trái đạo, vậy nay họ đã hối quá rồi, bổn phận các ông lại phải lo dạy bảo cương thường luân lý là những điều phải giữ để cho nước được mạnh, dân được giầu. Đức Hoàng đế mười năm du học, nay về cầm quyền trị nước, ngài có nhiệt tâm mưu cầu hạnh phúc cho dân; nhưng ngài thấy dân gian hy vọng nhiều quá, trong một lúc không thể khiến cho dân thỏa vọng cho hết được. Vì, hiện nay Hoàng thượng mới về cầm quyền chính, Hoàng thượng chưa thể hiểu rõ hiện trạng trong nước, chưa biết việc gì nên tiến hành trước, việc gì để lại sau, Hoàng thượng còn phải xem xét cho biết đã, nghĩa là còn phải có thời giờ để Hoàng thượng đi "quan phong tỉnh phương" rồi mới thương đồng cùng chính phủ Bảo hộ, với quan Toàn quyền, quan Khâm sứ, để mưu những việc ích quốc lợi dân, cho dân được thỏa nguyện. Nay các ông là bậc thân hào, người có tuổi đã từng trải việc đời, đã học đến chữ "quân, sư, phụ" các ông nên nhớ lấy, ghi nhớ lấy mà dạy bảo con em, thì trong nước trị an, Hoàng thượng sẽ tùy thời làm những việc cho dân được sung sướng, nước được mạnh giàu v.v". Cụ lớn nói khoan thai mà dõng dạc, ai nghe cũng hiểu được ngay và rất cảm động.

Hoàng thượng chít khăn đen, mặc áo đoạn, ngoài có áo che mưa, quần lụa và chỉ đeo có cái "Đệ nhất đẳng bắc đẩu bội tinh".

Bữa yến tại dinh quan Tổng đốc, và cuộc tiếp rước tại hành cung

VINH, - Tối hôm 18 November, ngự giá đi thăm các miền trong tỉnh Nghệ An và khi trở về thành tỉnh đã vào lúc 4 giờ chiều, Hoàng thượng an nghỉ tại hành cung. Tối hôm ấy ngự thiện tại dinh quan Tổng đốc Nghệ An. Khi tiệc xong, Hoàng thượng ngự về hành cung. Tại đó có cuộc múa hát, dật, đốt pháo bông, và cuộc bán hàng làm nghĩa, để lấy tiền giúp dân bị bão ở trung bộ xứ Trung kỳ. Mãi đến khuya, Hoàng thượng mới về hành cung an nghỉ.

Sáng hôm 19, vào lúc 7 giờ sáng ngự giá đi vào Hà Tịnh. Năm giờ rưỡi chiều ngự giá lại về Vinh.

Cuộc tiếp rước tại rạp chớp bóng

Sau bữa tiệc tại lầu quan Công sứ Nghệ An, ngự giá lại đến rạp chớp bóng Vinh. Tại đây đã trần thiết rất trang hoàng; trước cửa và trong rạp phía trên màn chiếu bóng có đèn điện kết thành hai chữ B. Đ. tỏ ý cuộc nghinh tiếp đức Hoàng đế Bảo Đại.

Tối chớp bóng này, lại có cuộc khiêu vũ vào lúc tạm nghỉ, và cuộc bán hàng làm nghĩa, lấy tiền giúp dân bị bão ở Trung bộ xứ Trung kỳ, và bán chương trình để lấy tiền làm việc nghĩa ấy.

Hoàng thượng có xuống chỗ bán hàng làm nghĩa, cùng quan Khâm sứ Châtel, ông Hoàng Vĩnh Cân, cụ lớn Phước môn quận công, và ngự dùng một vài thứ bánh do các hội viên Pháp - Việt Dục anh hội ở Vinh sắp đặt bán lấy tiền làm nghĩa. M. Medrano, chủ ô ten ở Vinh dọn hàng. Mme Kỷ Sung Thúc, Mme Trần Đình đã săn sóc trong chỗ "bán hàng làm nghĩa" này từ đầu chí cuối.

Trong lúc tạm nghỉ thì có cuộc bán hàng, và cuộc khiêu vũ của các người Pháp, đoạn lại chiếu nốt phim ảnh Le beau Danube bleu.

 Hoàng thượng cùng các quan ở lại đó rất khuya.

Những người được giấy mời đến dự xem tối này đều là các quan chức, các quan Chánh các công sở, các ông dân biểu, các hội viên v. v. Người đến dự có non 300 người đều mặc lễ phục.

Hoàng thượng ngồi ở lô giữa, cùng quan Khâm sứ, cụ lớn Phước môn, quan chánh võ phòng Bartheley.

Gần đó lại có các quan đi hộ giá Hoàng thượng, các quan tòng hành quan Khâm sứ, và những vị sau này: quan năm Legentilhomme, quan Công sứ Lagreze, quan Tổng đốc Nghệ An, quan tư coi đạo binh thuộc địa ở Vinh, quan Bố chánh, quan Án sát, các quan chánh công sở, các quan phủ huyện, các vị hưu quan, các ông dân biểu hội viên v. v.

Vào lúc 6 giờ sáng hôm 20, ngự giá đã đi Đồng Hới. Trước cửa hành cung, có các đội lính bồng súng; các quan chức đều mặc lễ phục đứng hai bên. Khi vào đến cửa thành có súng hiệu nổ chào. Các tỉnh thần Nghệ An đều đi theo ngự giá đến Bến Thủy.

Hoàng thượng vừa gửi ra Nghệ An cái ngân phiếu 380$

Hoàng thượng vừa gửi ra Nghệ An một cái ngân phiếu (chefque) 380$ để ban cấp cho những nơi sau nay:

Ban thưởng cho trại lính khố xanh Vinh 150$;

Ban cho nhà máy Trường thi 100$ (tiền ấy dùng để làm bữa tiệc cho thợ trong nhà máy).

Ban cấp cho những kẻ nghèo ốm nằm trong nhà thương 100$;

Khi Hoàng thượng đến thăm phòng Hộ sinh trong nhà thương, thì thấy một người vừa sinh được một đứa con giai; Hoàng thượng ban cho người sản phụ kia 10$;

Ban cấp sách vở giấy bút cho học sinh nghèo ở trường học 20$;

Cộng là 380$.

 

Chú thích

(1). Thanh Nghệ Tịnh Tân Văn là tờ tuần báo của Hội Pháp Việt Văn học, có trụ sở tại Phố Ga (124 Avenue Marechal Foch), Vinh, Nghệ An. Năm 1934 báo đổi tên là Thanh Nghệ Tịnh.

(2). Khâm sứ Trung kỳ.

(3). Có lẽ là hoàng thân Vĩnh Cẩn, người thường xuyên đi theo vua Bảo Đại.

(4). Là Viện trưởng Viện Cơ mật Nguyễn Hữu Bài, sau này là Thượng thư Bộ Lại, một trong năm thượng thư bị bãi chức trong cải cách của Bảo Đại năm 1933.

(5), Nguyễn Khoa Kỳ, Tổng đốc Nghệ An, người được cho là có công dẹp "loạn cộng sản", năm 1934 được phong chức Thượng thư Dân xã Kinh tế trong triều đình Huế.

(6). Trại lính khố xanh đóng ở trong Thành Nghệ An.

(7). Trường thành chung: Có thể là trường Quốc học Vinh (college de Vinh), trong giai đoạn này trường Quốc học Vinh đang phải nhường chỗ cho trại lính Tây và chia ra học ở một số nơi.

(8). Tức khu vực Bến xe Vinh vừa mới chuyển đi năm 2018.

(9). Là Nhà thương Vinh, ở khu vực công ty Lâm sản, đường Phan Đình Phùng hiện nay.

(10). Ở khu vực bệnh viện thành phố Vinh hiện nay.

(11). Nguyễn Trường Tộ là trường nữ sinh, có chung bờ tường với Trường Tiểu học Cao Xuân Dục, ngoảnh mặt ra đường Nguyễn Nghiễm, thuộc phường Quang Trung hiện nay.

(12). Khu vực phường Trường Thi hiện nay, phía Tây Quân khu 4.

(13). Khu vực Quân khu 4 hiện nay.

(14). Tòa Công sứ ở đường Lê Hồng Sơn hiện nay, mặt hướng ra cầu Cửa Tiền.

(15). Nằm bên cạnh đường quốc lộ số 7A, thuộc xã Bảo Thành, huyện Yên Thành.

(16). Có lẽ là công trường xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Nghệ An, ở Đô Lương. Năm 1937 vua Bảo Đại lại lên đây để khánh thành công trình này.

(17). Đồn Chợ Rạng sau này, năm 1940 bị quân khởi nghĩa của Đội Cung đánh chiếm.

(18). Muốn nói đến sự kiện Xô viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931, thường được chính quyền Nam Triều gọi là "loạn cộng sản".

 

* Hội thảo khoa học: Thực trạng và giải pháp sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị cấp xã

Sáng ngày 13/9, Ban tổ chức Tỉnh ủy phối hợp với Sở KH&CN tổ chức hội thảo khoa học "Thực trạng và giải pháp sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị cấp xã", thuộc Đề tài "Đánh giá thực trạng hệ thống chính trị cấp xã và đề xuất giải pháp sắp xếp bộ máy tinh ngọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả trên địa bàn tỉnh Nghệ An".

Tại Hội thảo, ông Lê Quốc Khánh, chủ nhiệm đề tài đã báo cáo thực trạng tổ chức bộ máy và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở Nghệ An giai đoạn 2010-2017. Đồng thời, đưa ra những đề xuất về sắp xếp mô hình tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị cấp xã tinh gọn hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Thảo luận tại hội thảo, các đại biểu có nhiều ý kiến góp ý, bổ sung về các nội dung như: mô hình tổ chức sắp xếp bộ máy, kết thúc hoạt động chi bộ cơ quan xã, phường, thị trấn; tổ chức và hoạt động của các hội; số lượng người hoạt động không chuyên trách cấp xã, chế độ chính sách trong kiêm nhiệm, cơ chế khoán, sắp xếp lại đội ngũ người hoạt động không chuyên trách khối, xóm, bản

 Hoàng Anh

* Hội thảo: Hoạt động khoa học và công nghệ cấp huyện năm 2018

Sáng ngày 20/9, tại huyện Đô Lương, Sở Khoa học & Công nghệ tổ chức Hội thảo khoa học "Hoạt động KH&CN cấp huyện năm 2018".

Tại hội thảo, các đại biểu đã được nghe báo cáo kết quả ứng dụng khoa học công nghệ vào các mô hình tại các huyện, thành, thị giai đoạn 2013 - 2017. Trong 5 năm, cấp huyện đã triển khai 1.134 mô hình chủ yếu trên các lĩnh vực: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, mô hình chuỗi giá trị... Các mô hình đều cho thu nhập cao, mở ra hướng đi mới trong phát triển sản xuất, tỷ lệ thành công mô hình từ nguồn KH&CN chiếm 97,9%, còn từ nguồn ngân sách khác là 84%. Về kết quả nhân rộng mô hình từ nguồn ngân sách khác là 42,5%, còn từ nguồn ngân sách KH&CN là 40%.

Các đại biểu đã tập trung thảo luận vấn đề liên quan như: nhân rộng mô hình, lồng ghép các nguồn xây dựng mô hình, xây dựng các thương hiệu, nhãn hiệu cho các sản phẩm, xác định các sản phẩm ưu tiên đầu tư tập trung, đổi mới công nghệ, quản lý nhà nước về tiêu chuẩn đo lường chất lượng.

Trước đó, đại biểu tham gia Hội thảo đã đi tham quan mô hình trồng thanh long ruột đỏ ở xã Xuân Sơn và mô hình trồng gai AP1 ở xã Lam Sơn, làng nghề Bánh đa kẹo lạc Vĩnh Đức ở thị trấn Đô Lương.

Nguyễn Thủy

* Triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu: "Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý"

Sáng 18/9, tại Trung tâm Văn hóa Thông tin huyện Nam Đàn, UBND tỉnh Nghệ An khai mạc triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu "Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý".

Tại triển lãm, có 154 bản đồ, tư liệu liên quan đến quá trình xác lập, thực thi chủ quyền biển đảo Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được trưng bày. Đặc biệt, triển lãm còn giới thiệu những công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam và quốc tế xuất bản ở trong và ngoài nước từ trước đến nay, các loại bản đồ khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như phiên bản của các văn bản Hán - Nôm, văn bản Việt ngữ và Pháp ngữ do triều đình phong kiến Việt Nam và chính quyền Pháp ở Đông Dương, ban hành từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX.

Triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu "Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý" diễn ra trong 3 ngày, từ 18/9 đến hết ngày 20/9/2018.

Hồng Bắc

* Nghiệm thu Đề tài cấp tỉnh: Nghiên cứu ứng dụng tri thức bản địa đồng bào dân tộc Thái miền Tây Nghệ An trong phát triển kinh tế - xã hội

Sáng ngày 24/9/2018, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An tổ chức nghiệm thu cấp tỉnh đề tài "Nghiên cứu ứng dụng tri thức bản địa đồng bào dân tộc Thái miền Tây Nghệ An trong phát triển kinh tế - xã hội".

Sau 2 năm triển khai thực hiện, đề tài đã hoàn thành và vượt mục tiêu, nội dung đề ra. Cụ thể: Hệ thống hóa tri thức bản địa của người Thái gồm: tri thức trồng trọt, chăn nuôi, thủy lợi, tri thức y học dân gian, tri thức ẩm thực, tri thức thủ công truyền thống; Nhận diện xu hướng biến đổi và khả năng phát huy tri thức của người Thái, Nghệ An vào phát triển kinh tế, xã hội; Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy ứng dụng tri thức của người Thái vào phát triển kinh tế, xã hội miền Tây;...

Thành viên Hội đồng đánh giá cao kết quả thực hiện Đề tài. Một số kết quả nghiên cứu về tri thức trồng trọt, chăn nuôi có thể áp dụng trong phát triển kinh tế nông nghiệp tại các địa phương hiện nay. Kết quả tri thức y học dân gian có thể vận dụng để chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Hội đồng đánh giá, nghiệm thu và xếp  loại Đề tài: Xuất sắc.

Hoàng Anh

* Thử nghiệm tour du lịch cộng đồng tại bản Khe rạn, xã Bồng Khê, huyện Con Cuông

Nằm trong khuôn khổ Dự án "Xây dựng mô hình du lịch cộng đồng gắn với xóa đói giảm nghèo ở miền Tây Nghệ An", trong hai ngày 15 - 16/9/2018, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An phối hợp với Phucgroup tổ chức thử nghiệm tour du lịch cộng đồng tại bản Khe Rạn, xã Bồng Khê, huyện Con Cuông.

Tour du lịch cộng đồng thử nghiệm được tổ chức 2 ngày 1 đêm với lịch trình: Tp Vinh - Nghĩa trang quốc tế Việt Lào - Khe suối nước mọc - Homestay tại Bản Khe Rạn - Đền Khe Sặt - Thác Khe Kèm - Đập Phà Lài  - TP. Vinh. Đây là mô hình chuỗi liên kết du lịch cộng đồng: doanh nghiệp, chính quyền địa phương và người dân cùng tham gia.

Sau chuyến thử nghiệm, các thành viên trong đoàn có đánh giá các tiêu chí, chất lượng để nhóm thực hiện dự án hoàn thiện mô hình du lịch cộng đồng.

    Hồ Thủy

* Thanh Chương: Đón nhận bằng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh nhà thờ họ Lê Văn

Sáng 3/9, huyện Thanh Chương long trọng tổ chức Lễ đón Bằng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh nhà thờ họ Lê Văn, xã Thanh Hưng.

Di tích Nhà thờ họ Lê Văn là công trình văn hóa tâm linh do con cháu trong dòng họ xây dựng nên để thờ phụng các vị tiên tổ của dòng họ, trong đó có những người có công với dân với nước. Sau Cách mạng tháng Tám, nhà thờ được Ủy ban hành chính kháng chiến xã Bình Dương sử dụng làm trụ sở làm việc. Từ năm 1946-1947, là nơi làm việc của Ngân hàng tỉnh. Trong kháng chiến chống Mỹ, nhà thờ được một số cơ quan sử dụng như Tiểu đoàn 418, Trung đoàn 57, trường sỹ quan lục quân, Công đoàn tỉnh, Nhà máy cơ khí Vinh...

Hiện nay, tại di tích nhà thờ Lê Văn còn lưu giữ được 87 hiện vật bằng nhiều chất liệu khác nhau như sứ, gỗ, giấy..., trong đó 31 hiện vật cổ, quý có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa.

H.T

* Lễ giỗ Hoàng đế Quang Trung lần thứ 226

Sáng ngày 8/9, UBND TP. Vinh đã tổ chức Lễ giỗ lần thứ 226 của Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ (29/7 năm 1792 Nhâm Tý - 29/7 năm 2018 Mậu Tuất).

Lễ giỗ Hoàng đế Quang Trung là một nét đẹp văn hoá truyền thống của nhân dân TP.Vinh. Hoạt động này không chỉ bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của người dân trước công lao to lớn của vị anh hùng áo vải mà còn có ý nghĩa giáo dục thế hệ trẻ lòng tự hào, giữ gìn, phát huy truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc, phát huy sức trẻ để xây dựng quê hương, đất nước.

Lễ giỗ đã được tổ chức chu đáo, trang nghiêm, thành kính với các lễ tế, lễ dâng hoa, lễ dâng hương, tiến cỗ và chương trình biểu diễn võ thuật, hát chầu văn.

G.H

* Giới thiệu sách: Hoàng Hoa sứ trình đồ

"Hoàng hoa sứ trình đồ" của tác giả Nguyễn Huy Oánh (1722-1789) do Nhà xuất bản Đại học Vinh tổ chức biên tập, xuất bản năm 2018.

Phần chính của cuốn sách là các trình đồ (bản đồ hành trình) mô tả đầy đủ, chi tiết hành trình của các đoàn sứ bộ Đại Việt, do Đình nguyên Thám hoa Nguyễn Huy Oánh (1713 - 1789) biên tập, hiệu đính và chú thích từ các tài liệu của nhiều thế hệ đi sứ trước, đồng thời bổ sung các tư liệu liên quan đến chuyến đi năm 1766 - 1767 do chính ông làm Chánh sứ.

Các trình đồ trong tập sách được vẽ bằng 3 màu, ghi chép về: thời gian và địa điểm qua các nơi dừng nghỉ theo lộ trình thủy bộ; chiều đi và chiều về; ngày lưu trú và các hoạt động của đoàn sứ bộ; chiều dài của mỗi dịch trạm, chiều dài toàn bộ đường thủy bộ đi sứ; kiến trúc và thời gian xây các cửa cung của Yên Kinh; các ghi chép tỉ mỉ về địa hình sông núi, phong cảnh, con người, và nghi lễ ngoại giao khi qua các địa phương Trung Quốc và Việt Nam.

Tập sách được dịch và phiên âm từ bản chép tay duy nhất còn lại được lưu giữ tại tư gia họ Nguyễn Huy ở làng Trường Lưu (nay thuộc xã Trường Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) và được Unesco công nhận di sản tư liệu thế giới.

    Uyên Linh

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.