« Quay lại

Chuyên san KHXH&NV Số 10/2018

Lê Văn Phong

 

          Lịch sử dân dộc Việt Nam vốn đã đầy ắp những sự kiện nhưng nó càng trở nên phong phú, sinh động bởi trong đó chứa đựng sự kiện Truông Bồn(1). Đây không chỉ là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh mà còn là sản phẩm của tư duy khoa học trong đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng Lao động Việt Nam.

Truông Bồn là một đoạn đèo dốc có độ dài khoảng 5km, độ cao gần 70m, nằm trên tuyến đường chiến lược 15A, hay còn gọi là đường 30, chạy qua địa phận xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. 

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Truông Bồn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, là "tuyến đường độc đạo" nối liền mạch máu giao thông chi viện từ miền Bắc cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ. 

Do có vị trí chiến lược quan trọng về nhiều mặt, Truông Bồn sớm trở thành trọng điểm đánh phá ác liệt của đế quốc Mỹ từ cuối năm 1965, sau đó vào các năm 1967-1968, sự đánh phá của máy bay Mỹ ngày càng mạnh mẽ hơn, biến nơi đây trở thành "tọa độ chết" trên một con đường độc đạo. Tính riêng trong 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10/1968, máy bay Mỹ đã ném xuống Truông Bồn 2.692 quả bom(2) và bắn hàng ngàn quả tên lửa, hàng vạn viên đạn pháo, phá hủy hàng trăm chiếc xe chở hàng và hàng chục khẩu pháo cao xạ của ta… Từ đó có thể thấy, trong những thời đoạn quan trọng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Truông Bồn đã trở thành mục tiêu đánh phá quyết liệt của kẻ thù và cũng là nơi diễn ra cuộc đấu tranh sinh tử giữa một bên là những thanh niên xung phong Nghệ An tuổi đời mười tám đôi mươi, với một bên là đế quốc Mỹ điên cuồng với những vũ khí tối tân hiện đại.

Về sự lãnh đạo của Đảng, ngày 29/7/1965, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 105 CT/TW Về việc tăng cường lãnh đạo công tác vận động thanh niên trong tình hình mới, nhấn mạnh: "Để phát huy truyền thống của các Đội thanh niên xung phong trong thời kỳ kháng chiến và để kịp thời đáp ứng với nhiệt tình của thanh niên đang sôi nổi thực hiện "Ba sẵn sàng", cần tổ chức các Đội thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước nhằm phục vụ cho chiến đấu và xây dựng. Mỗi Đội thanh niên xung phong phải là một đơn vị sẵn sàng chiến đấu khi cần thiết và đồng thời là một trường học văn hóa kỹ thuật, nơi đào tạo và rèn luyện thanh niên về mọi mặt. Các đội viên thanh niên xung phong sẽ hưởng chế độ cung cấp trong thời gian phục vụ (thoát ly khỏi địa phương), Chính phủ sẽ ban hành những quy định và chế độ cần thiết cho các Đội thanh niên xung phong"(3).

Cùng với sự lãnh đạo của Đảng, ngày 21/6/1965, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 71/TTg về việc "Tổ chức các Đội thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước phục vụ công tác giao thông vận tải", chỉ rõ: Trước những thất bại liên tiếp trong cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam, đế quốc Mỹ đang tăng cường và mở rộng từng bước cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, trước hết là phá hoại đường giao thông, các doanh trại bộ đội, các khu vực kinh tế nhằm gây cho ta những khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng kinh tế và củng cố quốc phòng. Trong tình hình đó, việc đảm bảo công tác giao thông vận tải không bị gián đoạn là một nhiệm vụ vô cùng trọng yếu đối với hoạt động sản xuất của các ngành, các địa phương và việc tăng cường khả năng quốc phòng. Thực hiện nhiệm vụ này cần phải có một đội ngũ lao động trẻ, có giác ngộ chính trị, có tổ chức kỷ luật chặt chẽ và có tinh thần dũng cảm trong sản xuất, trong chiến đấu với địch, bảo vệ giao thông, phục vụ cho được các nhu cầu cấp bách về vận chuyển tiếp tế(4).

Chỉ thị số 71/TTg của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ 6 nhiệm vụ của các "Đội thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước":

Một là, xây dựng các công trình cấp thiết về quốc phòng và kinh tế.

Hai là, xây dựng và sửa chữa các cầu đường bị địch phá hoại, bằng mọi cách khôi phục nhanh chóng giao thông, bảo đảm cho việc vận chuyển thông suốt liên tục.

Ba là, bốc xếp, chuyển tải và vận chuyển hàng hóa ở các đường khó khăn.

Bốn là, cứu chữa hàng hóa và các phương tiện vận tải trong các trường hợp bị địch bắn phá.

Năm là, chiến đấu chống sự phá hoại của địch để bảo vệ đường, phà, cầu và các phương tiện giao thông vận tải khi cần thiết.

 Sáu là, bổ sung cho quân đội trong trường hợp cần thiết.

Thực hiện chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Chính phủ, các đội thanh niên xung phong tỉnh Nghệ An nhanh chóng được thành lập. Đặc biệt, để đảm bảo giao thông thông suốt trên tuyến đường huyết mạch, Đội Thanh niên xung phong 300 đã thành lập "Tiểu đội 2", Đại đội 317, Đội 65, Tổng đội Thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước, tỉnh Nghệ An thường xuyên bám trụ ở Truông Bồn. Tiểu đội gồm 13 nữ và 2 nam, là những đội viên xuất sắc của các huyện: Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu và Hưng Nguyên, được tuyển chọn từ hai Đại đội Thanh niên xung phong 304 và 317, do chị Trần Thị Bảo làm Tiểu đội trưởng. Trước khi được điều về Truông Bồn thực hiện nhiệm vụ, những đội viên thanh niên xung phong này từng bám trụ và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đảm bảo giao thông tại các trọng điểm ác liệt như Cầu Cấm, Phương Tích, Rú Đụn, Cầu Gang, kênh nhà Lê… Khi về Truông Bồn, nhiệm vụ chủ yếu được giao là sửa đường, khắc phục hậu quả sau những trận bom, đảm bảo cho đoạn đường dài 5km qua Truông Bồn luôn thông suốt. Đặc biệt, thanh niên xung phong luôn phải ứng trực 24/24 giờ; ban ngày san lấp hố bom, sửa chữa đường; ban đêm dùng bẹ chuối trắng rải theo làn xe và mặc áo trắng đứng làm "cọc tiêu sống" dẫn đường cho xe tránh những hố bom, những quả bom nổ chậm.

Nhận thức sâu sắc yêu cầu nhiệm vụ, đặc biệt thấm nhuần tư tưởng "Không có gì quý hơn độc lập tự do" của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nêu cao    khẩu hiệu "Tất cả vì miền Nam ruột thịt"; "Tim có thể ngừng đập nhưng đường không thể tắc"; "Sống kiên cường bám cầu, bám đường; chết kiên cường dũng cảm", thanh niên xung phong thuộc "Tiểu đội 2" thực hiện nhiệm vụ ở Truông Bồn đã không quản ngại hy sinh gian khổ, nỗ lực hết mình cho những chuyến hàng vượt qua mưa bom bão đạn của kẻ thù để chi viện cho miền Nam đánh Mỹ. Với sự cống hiến hy sinh to lớn của thanh niên xung phong Truông Bồn, có 8/15 đội viên đã được kết nạp vào Đảng; 15/15 đội viên đều là "Chiến sĩ thi đua", được tặng lẵng hoa của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau một quá trình thực hiện và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tại trọng điểm Truông Bồn, 4 giờ ngày 31/10/1968, Tiểu đội 2 (Đại đội 317), do chị Trần Thị Thông làm Tiểu đội trưởng nhận được mệnh lệnh "Bằng mọi giá phải mở đường máu"5 để cho đoàn xe quân sự đi qua Truông Bồn trước khi trời sáng. Theo đó, các đội viên thanh niên xung phong "Tiểu đội 2" bằng tất cả sự nhiệt huyết của tuổi trẻ, với tinh thần lao động quên mình cho xe ra tiền tuyến, công việc "mở đường máu" theo mệnh lệnh của cấp trên được gấp rút hoàn thành. Đến 6 giờ 10 phút sáng, khi những công việc cuối cùng sắp kết thúc cũng là lúc một tốp máy bay Mỹ bất ngờ lao tới trút bom. Trong 4 tiếng đồng hồ, Truông Bồn phải hứng chịu ba đợt oanh kích của giặc lái Mỹ. Ngay loạt bom đầu tiên vào lúc 6h10 sáng ngày 31/10/1968, 13 chiến sĩ thanh niên xung phong của "Tiểu đội 2", Đại đội 317 đã mãi mãi ra đi. Trong ngổn ngang bom đạn, đất đá, 11 nữ thanh niên xung phong: Trần Thị Doãn, Hà Thị Đang, Hoàng Thị Nhung, Nguyễn Thị Tâm, Phan Thị Dung, Nguyễn Thị Phúc, Vũ Thị Hiên, Đoàn Thị Bốn, Thái Thị Văn, Nguyễn Thị Hoài, Đinh Thị Vinh và 2 nam thanh niên: Trần Văn Hạp, Cao Ngọc Hòa của Tiểu đội 2 đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc(6).

Điều đáng nói, loạt bom chôn vùi tiểu đội thanh niên xung phong thuộc Đại đội 317 ấy là loạt bom vào ngày cuối cùng trước khi đế quốc Mỹ tuyên bố ngừng ném bom đối với miền Bắc Việt Nam. Đó cũng là thời điểm tiểu đội thanh niên xung phong đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm giao thông ở Truông Bồn. Các chị, các anh ra đi khi tuổi đời mười chín, đôi mươi, mang theo trong mình cả ước mơ, hoài bão về một ngày chiến thắng; đặc biệt là sự hy sinh của anh Cao Ngọc Hòa và chị Nguyễn Thị Tâm khi đã cầm trên tay tờ quyết định, với dự định về quê tổ chức đám cưới. Thế nhưng, bữa cơm chia tay và những kế hoạch trọng đại của cuộc đời đã vĩnh viễn không trở thành hiện thực, bởi họ đã "tận hiến" trọn tuổi xuân cho Tổ quốc với tinh thần "còn ở lại đơn vị một giờ là còn chiến đấu"…

Từ thực tiễn trên cho thấy, sự kiện Truông Bồn không chỉ là minh chứng tiêu biểu cho thanh niên xung phong Việt Nam chống Mỹ, cứu nước, mà thực sự là sản phẩm của tư duy khoa học trong đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng Lao động Việt Nam. Đó là đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện. Bởi kế thừa thành quả và bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, phát huy tinh hoa truyền thống quân sự độc đáo của dân tộc, chiến tranh nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã phát triển lên một tầm cao mới với nội dung và hình thức đấu tranh hiệu quả và phong phú. Lực lượng tiến hành chiến tranh là toàn dân đánh giặc, gồm lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân làm nòng cốt và lực lượng chính trị của quần chúng; vừa là cơ sở để xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, vừa là chỗ dựa vững chắc để lực lượng vũ trang tác chiến, đồng thời phối hợp với lực lượng vũ trang tiến công, phản công quân địch... Phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân là cả nước tổ chức thành một mặt trận rộng lớn, mỗi người dân yêu nước là một chiến sĩ, mỗi làng xã, đường phố là một pháo đài; phát huy sức mạnh tổng hợp của sự kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trên ba vùng chiến lược, đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận, kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị với đấu tranh ngoại giao, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, kết hợp tiêu diệt địch với giành và giữ vững quyền làm chủ, chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực,v.v...

Thực tế 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng cho thấy, tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, quân dân ta trên khắp chiến trường đã tiến công địch bằng nhiều hình thức, bằng mọi vũ khí có trong tay, bằng nhiều mưu kế sáng tạo, mọi nơi, mọi lúc, cả trên bộ, trên không, trên sông, trên biển; tiền tuyến và hậu phương. Trong cuộc chiến đấu đó, quân dân ta luôn phát huy mạnh mẽ tư tưởng chiến lược tiến công, luôn tìm mọi cách giành và giữ quyền chủ động chiến trường, hãm địch trong thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp và hiểm hóc, buộc địch phải căng kéo, chia cắt, dàn mỏng lực lượng, tạo điều kiện cho chủ lực của ta tập trung lực lượng tiến hành các cuộc tiến công trên những hướng chiến lược trọng yếu gây tác động mạnh, làm chuyển biến cục diện chiến trường, giành thắng lợi từng bước, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, từ đó giành thắng lợi hoàn toàn; và trong những chiến công oanh liệt từ tư duy khoa học trong đường lối lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, Truông Bồn là một sản phẩm tiêu biểu. Vì suốt chiều dài 30 năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã có nhiều tấm gương trung kiên oanh liệt như: 10 liệt nữ ở Ngã ba Đồng Lộc; tấm gương 10 nữ du kích Lam Hạ; tấm gương 13 nữ thanh niên xung phong hy sinh ở Đông Sơn, Thanh Hóa; tấm gương về 8 nữ thanh niên xung phong hy sinh do bom Mỹ đánh sập hang đá nơi các cô trú ẩn để rồi thành di tích Hang Tám cô huyền thoại ở Cây số 34, Đường 20 Quyết Thắng; tấm gương Tiểu đội 10 nữ du kích Nam Phú bên dòng sông Bến Hải; rồi đến tấm gương 11 nữ du kích sông Hương,v.v và v.v…, nhưng sự hy sinh của "Tiểu đội 2", "Tiểu đội thép", Đại đội Thanh niên xung phong 317, Đội 65, Tổng đội Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước tỉnh Nghệ An là biểu tượng của ý chí gan góc, kiên cường, bất chấp hiểm nguy vì miền Nam ruột thịt, vì sự thống nhất non sông. Do đó, ngày 31/10 hàng năm đã trở thành ngày kỷ niệm sự kiện Truông Bồn, và nơi đây đã trở thành một "huyền tích" bất tử, được nhấn mạnh trên dòng bút tích của một vị khách người Mỹ có tên Alfred Postell: "Tôi đã từng đi thăm nhiều đài tưởng niệm chiến tranh tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng không có nơi nào mang lại xúc cảm mãnh liệt như Truông Bồn. Nó mang lại cho người ta cảm giác vừa đau đớn, vừa kinh ngạc. Từ một đài tưởng niệm hữu hình, nó khắc ghi trong tim mỗi người một đài tưởng niệm vô hình mà day dứt, không thể nào quên"(7).

Chiến tranh đã lùi xa, tuy cuộc sống đã hồi sinh ngay trên "tọa độ chết" năm xưa, nhưng Truông Bồn vẫn là nơi chứa đựng biết bao huyền thoại thiêng liêng cao cả; là sản phẩm của tư duy khoa học trong đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng Lao động Việt Nam. Với ý nghĩa đó, nhiệm vụ của chúng ta hôm nay là phải chắt lọc, vận dụng những kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với Truông Bồn là một biểu hiện sinh động, để vận dụng vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cùng với đó, phải phát huy những giá trị lịch sử, văn hóa, tâm linh của Khu di tích Truông Bồn để xứng tầm với vị thế của nó có được trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, qua đó giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc đối với các thế hệ người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, nhằm cùng nhau xây dựng và kiến tạo một Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội như Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định(8).

Chú thích

1. Trong tiếng Nghệ "Truông" là danh từ để chỉ một đoạn đèo dốc chạy giữa hai vách núi hiểm trở. Truông Bồn là một đoạn đèo dốc như thế có chiều dài 5km, độ cao gần 70m trên dãy núi Thung Nưa có đỉnh cao nhất là 450m so với mực nước biển, nằm trên tuyến đường chiến lược 15A hay còn gọi là đường 30 - đi qua địa phận xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

2. Thanh niên xung phong - Những trang oanh liệt, Nxb. Thanh niên, Hà  Nội.1996, tr.103.

3. Chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ đối với lực lượng thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước. https://cuutnxpvietnam.org.vn/chu-truong-va-su-lanh-dao-cua-dang-chinh-phu-doi-voi-luc-luong-tnxp-chong-cuu-nuoc/

4. Chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ đối với lực lượng thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước. https://cuutnxpvietnam.org.vn/chu-truong-va-su-lanh-dao-cua-dang-chinh-phu-doi-voi-luc-luong-tnxp-chong-cuu-nuoc/

5. Trương Mai Hương: Thanh niên xung phong miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. QĐND, Hà Nội.2016, tr.98.

6. Sau hơn 3 năm (1965-1968) làm nhiệm vụ tại các trọng điểm giao thông ác liệt, đặc biệt là ở Truông Bồn, Đại đội Thanh niên xung phong 317 đã góp phần làm mới, sửa chữa đường và khắc phục hậu quả do bom Mỹ đánh phá với khối lượng đào đắp, san ủi trên 300.000m khối đất đá. Vận chuyển, giải tỏa hàng nghìn tấn hàng, làm "cọc tiêu sống" dẫn đường cho hàng nghìn lượt xe vượt qua chảo lửa Truông Bồn an toàn. Dẫn theo Hoàng Thị Phương: Cuộc vận động phụ nữ miền Bắc của Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1975, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Hà Nội.2018, tr.88.

7. Huyền thoại Truông Bồn - Sự thật lịch sử càng làm cho cõi thiêng lay động lòng người. https://cuutnxpvietnam.org.vn/huyen-thoai-truong-bon-su-that-lich-su-cang-lam-cho-coi-thieng-lay-dong-long-nguoi

8. Ghi nhận địa danh Truông Bồn và ghi nhận sự cống hiến, hy sinh oanh liệt của thanh niên xung phong "Tiểu đội 2", "Tiểu đội thép", ngày 12/1/1996, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin ra Quyết định số 51/QĐ-BT công nhận Di tích lịch sử Quốc gia Truông Bồn. Đến ngày 23/9/2008, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Quyết định số 1304/QĐ-CTN, phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho tập thể 14 chiến sĩ thanh niên xung phong Truông Bồn thuộc Đại đội 317, Đội 65, Tổng đội Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước, tỉnh Nghệ An, trong đó có 11 chiến sĩ nữ và 2 chiến sĩ nam đã anh dũng hy sinh.

 

Lê Văn Tùng

 

1. Nửa thế kỷ đã đi qua với bao biến cố trọng đại của lịch sử đất nước: chiến tranh, kết thúc chiến tranh, thời hậu chiến khổ ải và thời đổi mới phát triển đi lên hội nhập cùng thế giới hiện đại ngày nay. Tôi nghĩ tới nửa thế kỷ ấy từ ngày 31/10/1968 đau thương và anh dũng với sự hy sinh của mười ba người con gái con trai trẻ tuổi trên mặt trận Truông Bồn - một trọng điểm giành giật con đường chiến lược vào chiến trường miền Nam mà thế lực xâm lăng thời ấy thì mong hủy diệt, còn chúng ta thì quyết bảo vệ đến cùng.

Cuộc chiến Truông Bồn lúc đó là một cuộc chiến sinh tử. Cuộc chiến chống xâm lăng ở đây như một trong những biểu hiện điển hình và nổi bật của lý tưởng văn hóa Việt Nam: Độc lập, tự do trong hòa bình và nhân ái. Chiến tranh không phải là lý tưởng văn hóa của một dân tộc canh tác lúa nước và kiếm sống trên mảnh đất của mình. Nhưng rõ ràng, cũng như hàng ngàn năm trước, thế lực ngoại tộc xâm lăng đã buộc chúng ta phải "đứng lên cầm khẩu súng". Đó là cuộc chiến tranh bắt buộc để cứu vong đất nước, bảo tồn dân tộc mà ngay từ 1946 - tháng 12, mở đầu cuộc chiến bảo vệ nền Dân chủ Cộng hòa và Độc lập, Tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với nhân loại cách ứng xử văn hóa của dân tộc Việt Nam: Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng, nhưng càng nhân nhượng giặc xâm lăng càng lấn tới, bởi chúng muốn chúng ta trở lại làm nô lệ. Vì vậy, chúng ta bắt buộc phải đứng lên cầm vũ khí.

Do đó, cũng như tất cả các mặt trận, các chiến trường của nước ta trước 1975, trận chiến ở Truông Bồn là trận chiến của toàn dân trong ý nghĩa trực tiếp và cụ thể của nó chứ không phải chỉ là của các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong (TNXP). Các tài liệu lịch sử, giao thông vận tải, báo chí, tác phẩm văn học nghệ thuật... đã ghi lại chi tiết và chân thực cuộc chiến đấu và chiến thắng của quân và dân Truông Bồn với nhiều gương hy sinh oanh liệt đầy cảm phục. Xin độc giả cùng tìm đọc: "Truông Bồn chiến công và huyền thoại" - Nxb Nghệ An, Báo Nghệ An 2008, "Truông Bồn - Khúc tráng ca về lòng quả cảm­" - Nxb. Giao thông vận tải, 2012, "Thánh ca Truông Bồn" (Trần Huy Quang) - Nxb. Phụ nữ, 2012, Nxb. Hội Nhà văn tái bản lần 2 - 2018 (tác phẩm được giải Nhì cuộc vận động sáng tác văn học về đề tài thương binh liệt sĩ và người có công do Bộ LĐ-TBXH và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2017), "Truông Bồn linh thiêng", Nxb. Hội Nhà văn và Sở GTVT Nghệ An, 2013...

Trong những cuốn sách đó, ta tìm được những tư liệu cụ thể về sự thật của cuộc chiến Truông Bồn mà một thời gian dài trước đây do thiếu điều kiện, phần lớn sự thật ấy còn bị khuất lấp như những chiến hào, những hố bom bị đất đá và cây cỏ lấp đầy. Có những sự thật tìm được trong tàng thư của một đơn vị, một cơ quan, một địa phương. Có sự thật được cất dấu trên nơi thờ tự của gia tộc, dòng họ có liệt sĩ hy sinh. Đặc biệt cảm động, có những sự thật được gìn giữ một cách thầm lặng trong ký ức của người thân yêu ruột thịt, trong bạn bè thời tuổi trẻ, trong ký ức của những người bạn chiến đấu của các liệt sĩ may mắn đi qua chiến tranh còn được sống tới ngày hôm nay. Chúng tôi nghĩ đó là loại ký ức văn hóa - một loại di sản văn hóa phi vật thể - được cất giữ thành kính và linh thiêng trong đáy thẳm tâm thức của những con người "biết hy sinh nên chẳng nhiều lời".

Hành trình của những người viết sử, của các ký giả báo chí, nhà văn, nhà thơ để đem về cho chúng ta những giá trị của Sự Thật trong những bài, những sách viết về Truông Bồn là một hành trình văn hóa đầy trách nhiệm với cộng đồng, hết sức cảm động. Xin được kể vắn tắt một hành trình như vậy: Nhà báo Giao Hưởng (nguyên thường trú Báo Lao động tại Nghệ An) cấp cho chúng tôi tư liệu về một lần lên đường đặc biệt vào tháng 11, 12/2010 (trong gần 30 lần anh lên đường dẫn các đoàn đi thắp hương và khảo sát Truông Bồn). Đó là lần anh đưa dẫn nhà văn Trần Huy Quang và các cộng sự của Nxb. Phụ nữ về tận những làng quê xa xôi, heo hút của Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu, Hưng Nguyên... xứ Nghệ để tìm hiểu và ghi nhận tư liệu qua người thân trong gia đình, bạn chiến đấu, bạn học của 13 liệt sĩ hy sinh ngày 31/10/1968. Mới biết, bố mẹ của hầu hết các liệt sĩ cũng không còn trên thế gian này nữa. Phần lớn họ đã "ra đi" sau lúc con họ mãi mãi nằm lại trong lòng đất Truông Bồn. Cha mẹ mất rồi, ai thắp hương thờ các liệt sĩ trên bàn thờ gia tộc khi cả 13 liệt sĩ còn ở tuổi thanh tân, chưa ai có vợ có chồng nói gì đến con cái? Ký giả cấp cho chúng ta một số thông tin:

- Liệt sĩ Nguyễn Thị Văn, em trai là Võ đi bộ đội về lập bàn thờ, thờ chị ở xã Thượng Sơn, Đô Lương.

- Liệt sĩ Phan Thị Dung được thờ trong nhà thờ Phan tộc ở xã Hợp Thành, Yên Thành.

- Liệt sĩ Nguyễn Thị Tâm, cháu là Nguyễn Trọng Đàn thờ cô ruột cũng ở xã Hợp Thành.

- Liệt sĩ Hà Thị Đang, cháu là Hà Văn Lưu thờ cô ruột ở thị trấn Yên Thành.

- Liệt sĩ Nguyễn Thị Phúc, anh trai là Nguyễn Trọng Quang thờ em ruột tại xã Phúc Thành, Yên Thành.

- Liệt sĩ Vũ Thị Hiên, em trai là Vũ Đình Liên thờ chị ở xã Tăng Thành, Yên Thành.

- Liệt sĩ Đàm Thị Bốn, cháu là Đàm Văn Hảo thờ cô ruột ở xã Khánh Thành, Yên Thành.

- Liệt sĩ Trần Văn Hạp, em dâu Nguyễn Thị Duân thờ anh chồng ở xã Vĩnh Thành, Yên Thành.

- Liệt sĩ Trần Thị Doãn, em trai là Trần Quốc Liêu thờ chị ở xã Sơn Thành, Yên Thành.

- Liệt sĩ Hoàng Thị Nhung, anh trai Hoàng Thanh Vận thờ em gái ở xã Lăng Thành, Yên Thành.

- Liệt sĩ Đinh Thị Vinh: người mẹ nghèo 93 tuổi đang thờ con gái ở Quỳnh Ngọc, Quỳnh Lưu (thời điểm 2010).

- Một trường hợp đặc biệt: liệt sĩ Cao Ngọc Hòa, cháu là Cao Ngọc Thắng thờ chú ruột tại xã Nghi Đức, thành phố Vinh. Thấy trên bàn thờ không có di ảnh của liệt sĩ Hòa, ký giả hỏi anh Thắng. Người cháu ruột trả lời là sau ngày chú hy sinh, ông bà nội cháu tìm khắp mà không có tấm ảnh nào. Nhưng ký giả nhớ kỹ là trong cuốn sách Truông Bồn chiến công và huyền thoại (sách đã kể trên) vẫn có ảnh của liệt sĩ Hòa? Anh Thắng xác nhận là có ảnh trong sách nhưng đó không phải là ảnh chú Hòa mà là ảnh của cháu trai Cao Quang gọi liệt sĩ Hòa là cậu ruột. Cao Quang thấy ảnh mình trong sách lại ghi là ảnh liệt sĩ Cao Ngọc Hòa thì hoảng hốt, một mình đi xe máy lên Truông Bồn thắp hương cho các liệt sĩ. Trong làn khói hương vấn vít như hồn người cõi âm da diết giao hòa với cõi dương, anh lại thấy ảnh mình trong nhà mộ. Sợ quá, suốt mấy ngày anh không ăn không ngủ.

- Riêng liệt sĩ Nguyễn Thị Hoài - liệt sĩ trẻ nhất trong 13 liệt sĩ (sinh 1951) hy sinh lúc mới 17 tuổi. Khi ký giả dẫn đoàn của nhà văn Trần Huy Quang và Nxb. Phụ nữ đến Hưng Yên, Hưng Nguyên vào sáng 29/11/2010 thì mẹ của liệt sĩ còn sống (cha mất 1982), ký giả cho hay chưa gặp một bà mẹ nào khốn khổ như mẹ liệt sĩ Hoài. Sau khi con gái hy sinh thì chồng chết, mẹ ở với con trai trưởng, con trai chết, ở với vợ chồng cháu đích tôn, cháu đích tôn chết, ở với cháu dâu và 3 đứa chắt, một đứa bị dị tật bẩm sinh.

Hóa ra, sau sự hy sinh anh dũng của 13 liệt sĩ Truông Bồn, vận mệnh các gia đình liệt sĩ cũng muôn nẻo đau thương và khốn khó. Nhưng tất cả đều thầm lặng chịu đựng và vượt qua vì chắc chắn trong mỗi người thân yêu của các gia đình đó đều ý thức được sự hy sinh của người ruột thịt là sự góp phần thiêng liêng cho sự sống còn của Tổ quốc và quê hương. Đó là ý thức văn hóa cao cả nhưng không bao giờ phát lộ thành lời to tiếng lớn.

2. Truông Bồn là cuộc chiến nhiều năm liền. Chiến công, chiến thắng trên mặt trận này là rất to lớn. Nhiều bài trong các cuốn sách nói trên đã ghi chi tiết và cụ thể chiến công, chiến thắng bằng những số liệu thấm đầy máu xương của bộ đội, TNXP, dân quân và nhân dân cả một vùng quê trung du của huyện Đô Lương xứ Nghệ. Ta có thể và có quyền nói và viết về sự tích Truông Bồn trong suốt bao năm chiến đấu dưới góc nhìn Văn hóa của chiến thắng. Chiến thắng đó nằm trong chiến thắng vĩ đại của toàn dân tộc suốt 30 năm chiến đấu (1946-1975). Trong thời đó, bất cứ một thôn bản, một phố thị, một rẻo quê, một chiến trường và mỗi người dân đều chiến thắng. Có chiến thắng có địa danh như Truông Bồn, Đồng Lộc, Khe Sanh, Xuân Lộc... Có vô vàn chiến thắng không có địa danh, không có cả tên người cụ thể: những bà mẹ nông dân đổ mồ hôi cày cấy góp từng cân thóc cho chiến trường cũng có quyền nghĩ về chiến thắng của mình. Kỷ niệm 30/4 hàng năm là ngày kỷ niệm chiến thắng chung cho cả nước, cho mỗi làng quê, đơn vị... và mỗi con người Việt Nam ta. Trong các sách kể trên và trong các diễn từ kỷ niệm "chiến thắng Truông Bồn", "chiến thắng Đồng Lộc" và nhiều nơi khác ở các thời điểm khác nhau, ta đã được đọc, được nghe những ngôn từ hùng tráng, trang trọng và cao cả. Đó là ngôn ngữ đặc trưng cho cảm thức Văn hóa chiến thắng. Nó cấp cho ta niềm tự hào, sức mạnh tinh thần vượt những ranh giới cản trở để thực hiện những mục tiêu của cuộc sống cộng đồng. Ta nhớ đến những cách thể hiện: "Bốn mươi năm chiến thắng Truông Bồn", "Truông Bồn, vang mãi khúc ca mở đường...", Truông Bồn "ký ức hào hùng...", Truông Bồn với "Những anh hùng bất tử", "Truông bồn vang mãi khúc tráng ca"... Tráng ca là bài ca hùng tráng về những sự nghiệp anh hùng chiến đấu vì lý tưởng nhân văn cao cả của loài người và dân tộc. Cuộc chiến đấu và chiến thắng mấy năm trường oanh liệt ở Truông Bồn đúng là đã vang lên khúc tráng ca bất diệt đó.   

Nhưng, Truông Bồn của thời khắc 6 giờ 10 phút ngày 31 tháng 8 năm 1968, một thời khắc trong suốt nhiều năm oanh liệt của Truông Bồn, lại cấp cho ta chủ yếu một bình diện khác của văn hóa. Đó là Văn hóa tâm linh, Văn hóa tưởng niệm về những bi kịch đau thương và anh dũng. Lại phải khẳng nhận ở đây khái niệm bi kịch không theo nghĩa thông tục tùy tiện mà theo nghĩa triết học - mỹ học của K.Marx: Bi kịch hiểu ở đây là những mất mát, niềm bất hạnh, nỗi thống khổ và cái chết của những con người chiến đấu cho những lý tưởng văn hóa cao đẹp của dân tộc và nhân loại. Nỗi đau xót và niềm tiếc thương mà những bi kịch đó lưu lại trong ký ức người sống và hậu sinh, không phải là những tình cảm rên xiết, bi lụy, bi thảm mà là những tình cảm tích cực, thanh lọc tâm hồn và tư tưởng, làm sáng nhân cách và đề cao cái vinh dự làm người trên mặt đất này. Theo ý nghĩa đó, trong trường hợp Truông Bồn 31/10/1968, quả thật là nhân vật bi kịch ngã xuống cho chân lý của nó đứng lên, cho lý tưởng văn hóa của nó phát sáng đến tận thế giới tâm linh của người đang sống và các thế hệ sinh ra sau chiến tranh.

Văn hóa là sự tích hợp ý thức về giá trị của con người từ thực tiễn đời sống trong lịch sử. Thực tiễn đời sống có đặc điểm mang tính đặc trưng nào thì văn hóa của thực tiễn đó có dấu ấn đặc trưng tương thích với đặc trưng của thực tiễn. Đặc điểm đặc trưng của thực tiễn Truông Bồn trong cả cuộc chiến đấu lâu dài là chiến công và chiến thắng. Vì vậy, văn hóa của chiến thắng là ý niệm văn hóa đặc trưng cho thực tiễn chung đó. Tuy vậy, trong dòng thời gian trải dài của thực tiễn chung đó ở Truông Bồn, có biết bao tình huống thực tiễn cụ thể ghi dấu sự hy sinh xương máu không thể nào đo đếm được của nhân dân và chiến sĩ, mà sự hy sinh đó đã góp vào thành quả của chiến thắng như một giá trị có sức thuyết phục nhất vì nó là sự thể hiện lý tưởng văn hóa của dân tộc này ở chiều sâu nhất.

Sự kiện 31/10/1968 là tình huống đặc trưng điển hình cho thực tiễn của sự hy sinh của nhân dân và chiến sĩ Truông Bồn trong suốt cuộc chiến.

Nó là điển hình vì tần suất của hy sinh lớn nhất. Chỉ trong giây lát mỏng manh một ngày đầu mùa đông mặt trời chưa kịp thức dậy, mười ba sinh linh trẻ tuổi đã không còn bao giờ được nhìn thấy mặt trời mọc trên quê hương họ nữa.

Nó là điển hình vì hầu hết liệt sĩ hy sinh trong thời khắc đó là liệt nữ (11/13 người). Khuôn mặt nhân từ là phẩm chất đặc trưng, là định mệnh của cuộc đời người phụ nữ luôn tương phản với bộ mặt gớm guốc, tàn bạo của chiến tranh. Nhưng như đã nói, cuộc chiến này là cuộc chiến bắt buộc của một dân tộc bảo vệ quyền sống của mình, cho nên những người phụ nữ Việt Nam đã tự nguyện ra trận và tự nguyện hy sinh. Cũng như mười cô gái TNXP Đồng Lộc, tám cô gái TNXP ở hang "Tám Cô", Quảng Bình và rất nhiều trường hợp hy sinh khác, chúng tôi cho rằng sự hy sinh của những người phụ nữ trong chiến tranh vệ quốc là điển hình của điển hình để diễn đạt chiều sâu lý tưởng văn hóa của dân tộc ở độ thăm thẳm nhất.

là điển hình, vì trong mười ba liệt sĩ ấy, ngày trước lúc hy sinh, bảy người đã nhận quyết định hết nhiệm kỳ TNXP. Đơn vị đã liên hoan chia tay, người trở về quê sẽ lại cày cấy làm ăn, người trở về để bước vào hôn lễ hạnh phúc, người trở về đã có giấy gọi nhập học các trường chuyên nghiệp để chuẩn bị cho tương lai. Nhưng tiếng gọi cứu lấy Truông Bồn trong ngày khốc liệt và hủy diệt nhất trước giờ ngưng bắn là tiếng nói từ trong tim óc họ và họ đã tự nguyện ra trận buổi cuối cùng. Cũng vì vậy, họ chỉ còn được sống những giây phút cuối cùng của đời mình trong cái ngày định mệnh ấy.

Vậy nên khi ta nghĩ đến ngày 31/10/1968 như là ngày Kỷ niệm chiến thắng Truông Bồn, thì quả thực từ góc nhìn khoa học cũng như góc nhìn văn hóa đều thấy một sự chuyển vị tư duy, vô tình làm nhạt đặc trưng của đối tượng.

3. Do đặc thù văn hóa của tư duy sáng tạo văn học nghệ thuật, những tác phẩm truyện và thơ viết về sự kiện Truông Bồn 31/10/1968 hướng sâu vào Văn hóa cảm thương, Văn hóa tưởng niệm là hiện tượng tất yếu. Nói thế không phải là không có trang viết theo hướng cảm hứng văn hóa chiến thắng, và điều đó cũng rất dễ hiểu. Vì giữa Văn hóa chiến thắngVăn hóa cảm thương tưởng niệm, trong trường hợp này, tính cộng đồng văn hóa thực sự gắn kết. Tuy nhiên, cũng cần ghi lại ở đây cái nhìn văn hóa sâu sắc của nhà văn Xvetlana Alechxievich (nữ nhà văn người Nga đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Liên xô 1985) về những hy sinh cao cả cho chiến thắng của chiến tranh về quốc: "Nói đến chiến thắng mà chỉ bằng những lời long trọng và những tràng pháo hoa thì càng làm nhỏ bé đi, hạ thấp bớt giá trị của chiến thắng. Chiến thắng là vĩ đại chính bởi vì trên con đường dẫn tới đó mỗi lúc lại phải đi qua những bi kịch của con người ".

Trở lại với một số dòng thơ gợi Văn hóa cảm thương ở người đọc.

- Nhà thơ Nguyễn Đăng Chế, năm 1993, tháng 10 đến Truông Bồn nhớ về các em gái TNXP "chết không một lời trăng trối". Và cho đến thời điểm 1993 ấy: "Đã lâu rồi các em nằm đó" dưới trăng sao, dưới gió Lào, trong "Đêm đông vây, tê cứng núi đồi", các em nằm đâu trong hoang địa? "Truông Bồn thành dấu hỏi trong tôi" (Dấu hỏi trong tôi)(1).

- Nhà thơ Nguyễn Văn Hùng cất lên tiếng kêu thảng thốt: "Ghé Truông Bồn/ Ai biết giá của tình yêu?", ai biết giá của những ước mơ bình thường của con người nếu bước ra khỏi chiến tranh là có thể với tới. Nhưng "Sau loạt bom mù", em "Cô gái thanh tân" đã "Vội bước vào lịch sử" (Giá của tình yêu)(2).

- "Dưới vòm hương tinh khiết"(3) Truông Bồn, nhà thơ Nguyễn Trường Thọ nghĩ về "Các chị nằm thương quá, bốn mươi năm/ Mây vần vũ bao điều chưa nói được/ Tuổi thanh xuân còn khát những con đường".

- Nhà thơ Nguyễn Hoài Nam, một chiều cuối đông 2007 đến Truông Bồn: "Tôi cúi lặng/ Chút khói hương hoài niệm". Nhớ thương "Các anh, các chị bị vùi trong bom đạn/ Để lại ngàn thu lá gió thì thầm"... (Truông Bồn chiều cuối đông)(4).

- Mầu trắng của ngàn lau Truông Bồn trong thơ Đậu Phi Nam quyện trong làn khói hương màu trắng bên chân mộ các liệt sĩ để những dòng lệ trắng dàn dụa trên mặt người còn sống. Mệnh bạc của đời người gửi vào ngàn năm lau trắng - Trắng phau Truông Bồn(5). Màu trắng ấy diễn tả cái hư vô, cái vô hạn cô đơn của những linh hồn không còn thân xác để đi về.

- Đặc biệt, nữ nhà thơ Vân Anh khi Về với Truông Bồn(6) đã không muốn chấp nhận có ngày 31/10/1968 trong lịch thời gian của loài người. Thi nhân "ước gì... bốn mươi năm trước/ Tháng mười không có ngày ba mốt". Niềm ước trái nghịch kia trở đi trở lại mấy lần trong bài thơ như một ám ảnh tâm lý - nghệ thuật của người thơ để gây nên ám ảnh văn hóa trong cảm thức của người đọc, có sức "Gọi nhân tâm về với Truông Bồn".

Gọi nhân tâm về với Truông Bồn, tiếng gọi nhân tính sâu thẳm trong tâm linh người đương đại chính là từ Văn hóa cảm thương tưởng niệm. Sự kiện Truông Bồn 31/10/1968 trước hết và chủ yếu giao cảm với người hôm nay - người của xã hội kinh tế hàng hóa thị trường - bằng chính Văn hóa cảm thương tưởng niệm trong cõi tâm linh từng cá thể với lòng thành kính biết ơn và ngưỡng vọng. Vì vậy, nên gọi ngày Truông Bồn 31/10 hàng năm là Ngày tưởng niệm. Giá như Truông Bồn có thêm một tháp chuông, để mỗi chiều mỗi sáng thỉnh lên những tiếng chuông trầm cảm, quyến gọi lòng người tứ xứ về đây tìm đồng cảm, đồng tâm trong xót thương kính ngưỡng và phục sinh được ít nhiều các phẩm chất nhân tính của mình đã từng bị chủ nghĩa vị lợi thực dụng đẩy vào tha hóa. Văn hóa tâm linh, cảm thương và tưởng niệm sẽ là sức hút, sức cảm hóa mạnh nhất với dòng người du lịch đến với Truông Bồn đông hơn, ấm áp hơn cho dù con đường từ phố thị đến đó có dài, ngoằn ngoèo đèo dốc và thực sự chưa dễ dàng đi lại.

Những chiến sĩ TNXP năm xưa còn được sống tới hôm nay, khi thắp hương cầu nguyện cho linh hồn các bạn chiến đấu đều khao khát trong thầm lặng cầu mong với "Những người đã đi qua chiến tranh hay chưa biết đến chiến tranh, dù sống ở đâu - thị thành hay thôn dã - hãy nghĩ về những nhân cách đang nằm lại dưới mảnh đất Truông Bồn này và cả khắp nơi trên đất nước này mà sống để những người ngã xuống không phải đau lòng"(7).

  Chú thích

(1). (2).(3).(4). (6): Tên các bài thơ của các tác giả in trong sách Truông Bồn linh thiêng - Nxb. Hội Nhà văn, 2013 (từ trang 268 đến trang 293).

(5). Đậu Phi Nam, Lau trắng Truông Bồn - Tập thơ, Nxb. Hội Nhà văn, 2015.

(7). Trần Huy Quang, Thánh ca Truông Bồn, Nxb. Hội Nhà văn, 2018, tr.137-138.

 

PGS.TS Nguyễn Công Khanh

 

1. Km số 0 của con đường chiến lược - đường Hồ Chí Minh bắt đầu từ làng Tra qua Truông Dong (huyện Tân Kỳ), Giang Sơn - Thị trấn Đô Lương đến Xuân Sơn - Mỹ Sơn, qua Truông Bồn của tỉnh Nghệ An... Ở Hà Tĩnh đường qua cầu Thọ Tường (huyện Đức Thọ), đến ngã ba Đồng Lộc (huyện Can Lộc), Truông Bát (Khe Giao), v.v... nối dài đến chiến trường miền Nam.

Hàng vạn ngày công của nhân dân Nghệ An, của bộ đội, của thanh niên xung phong... được huy động để đào đắp, san lấp hàng triệu m3 đất đá, hoàn thành tuyến đường từ làng Tra (Tân Kỳ) đến Nam Kim (Nam Đàn) với chiều dài trên 90km. Đoạn đường qua Truông Bồn từ xã Mỹ Sơn (Đô Lương) đến xã Nam Hưng (Nam Đàn) chỉ khoảng 7-8km, nhưng phải đi qua các thung lũng núi với ba dốc: Truông Bồn, Kỳ Lợn, Ba Cấp, hiểm trở quanh co, nền đất đá cứng, do đó, lực lượng mở đường phải đổ không biết bao mồ hôi, nước mắt mới có thể hoàn thành việc san lấp đèo núi quanh co, tạo thành một con đường mà các loại xe pháo có thể đi qua thuận lợi. 

Đường chiến lược Hồ Chí Minh trở thành mục tiêu đánh phá ác liệt của không quân Mỹ. Dốc Truông Bồn, dốc Kỳ Lợn, Ba Hàng, cầu Đòn, cầu Cao, cầu Thấp, phà Nam Đàn, đò Vạn Rú, núi Trét (huyện Nam Đàn), cầu Thọ Tường (huyện Đức Thọ), phà Linh Cảm, ngã ba Đồng Lộc v.v... là những túi bom đạn mà đủ loại máy bay Mỹ ném xuống suốt ngày đêm.

Chiến tranh ngày càng ác liệt, nhưng không thể để không quân Mỹ ngăn chặn những đoàn xe và những đoàn quân ra tiền tuyến. Bảo vệ những đoàn xe, bảo vệ đường chiến lược trở thành nhiệm vụ cấp thiết của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Thực hiện chủ trương của Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh quân khu IV đã điều động thêm nhiều đơn vị pháo phòng không của quân khu trực tiếp xây dựng trận địa, đánh địch suốt từ Tân Kỳ cho vào tận Đồng Lộc , v.v. . . nhằm bảo vệ con đường huyết mạch này. Tỉnh ủy Nghệ An chủ trương thành lập lực lượng thanh niên xung phong, các trung đội thép... để chiến đấu và phục vụ chiến đấu bảo vệ quê hương. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của lực lượng thanh niên xung phong và các trung đội thép lúc này là đảm bảo thông đường, thông xe, cứu người, cứu hàng, sẵn sàng tham gia chiến đấu. Khẩu hiệu: "Xe chưa qua nhà không tiếc" trở thành hành động cách mạng của tất cả cán bộ, đảng viên và nhân dân dọc theo tuyến đường huyền thoại suốt trong những năm tháng chiến tranh.

Truông Bồn là một địa danh thuộc xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, nằm trên tuyến đường chiến lược 15A trong kháng chiến chống Mỹ. Tuyến đường chiến lược này có chiều dài gần 200km, tiếp nối từ Quốc lộ 1A - giáp với tỉnh Thanh Hóa, đi qua địa bàn các huyện: Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Đô Lương về đến huyện Nam Đàn. Trọng điểm Truông Bồn có chiều dài 5 km nằm trên tuyến đường 15A. Cung đường này có địa hình phức tạp, lầy, hẹp và dốc, gồm dãy núi đồi liên kết với nhau xen kẽ thung lũng sâu với những địa danh không thể nào quên đối với những ai đã qua đây trong những năm tháng chống Mỹ: Cầu Om, dốc U Bò, khe Vực Chỏng, dốc Kỳ Lợn… 

Tại đây có một ngả rẽ về bến phà Linh Cảm, tỉnh Hà Tĩnh; một ngả đi về thành phố Vinh, qua phà Bến Thủy vào ngã ba Đồng Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Đây là huyết mạch giao thông quan trọng để vận chuyển nhân tài, vật lực chi viện cho chiến trường miền Nam khi máy bay Mỹ ném bom đánh phá, phong tỏa tuyến đường sắt, đường sông, đường biển và Quốc lộ 1A đi qua địa bàn tỉnh Nghệ An. Trên tuyến đường chiến lược này, Truông Bồn là điểm nút giao thông đặc biệt quan trọng.

Lực lượng thanh niên xung phong đảm nhận nhiệm vụ thông đường, thông xe ở Truông Bồn nói riêng và dọc tuyến đường chiến lược nói chung ra đời trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt đó. Họ là những người con gái, con trai, tuổi đời từ mười tám đến đôi mươi ở các huyện của tỉnh Nghệ An hồn nhiên, tươi trẻ mà dũng cảm, ngoan cường. Tất cả họ đều sẵn sàng hiến dâng cả tuổi trẻ cho quê hương đất nước. Trước khi 13 người con anh dũng đó ngã xuống trên vùng đất lịch sử Truông Bồn, không biết họ đã bao lần đối diện với cái chết, với đạn bom để hoàn thành nhiệm vụ. Và rồi trong một ngày đối diện với đạn bom thù như bao ngày khác để thông đường cho xe ra tiền tuyến, cả 13 người con gái, con trai ấy đã ngã xuống Truông Bồn. Máu của họ thấm vào đất quê hương góp phần tô đậm cho trang sử hào hùng mà các thế hệ cha anh đã viết nên trong suốt dòng chảy lịch sử dựng nước và giữ nước.

Sự hy sinh cao cả của họ chính là hiện thân của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong những ngày đánh Mỹ và thắng Mỹ trên cả hai miền Nam Bắc. Những đồng đội của họ nén đau thương tiếp tục đảm đương nhiệm vụ mà họ trao lại. Bất chấp đạn bom của kẻ thù những người con gái, con trai Nghệ An vẫn ngày ngày bám đường, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Bàn tay họ rát bỏng, phồng rộp, mồ hôi thấm đẫm quần áo, nhỏ xuống mặt đường, nhưng xẻng, cuốc, vót, xà beng, băng ca, v.v... trong tay liên tục đào, xúc, bạt núi, lăn bom để các đoàn xe ngày ngày nối đuôi ra tiền tuyến. Bài ca khát vọng của tuổi trẻ được viết nên ở dốc Truông Bồn nói riêng trên con đường huyền thoại dài hơn 25.000 km dọc theo sườn Đông và sườn Tây dãy Trường Sơn hùng vĩ trong suốt những năm tháng đánh Mỹ nói chung góp phần làm nên thắng lợi trọn vẹn trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà.

Dưới chân dốc Truông Bồn - nơi 13 người con trung dũng ngã xuống cho những đoàn xe ra tiền tuyến đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân đầu tư xây dựng nhà bia tưởng niệm ghi lại chiến tích của những người đã dâng trọn tuổi thanh xuân cho đất nước. Trên đỉnh dốc Truông Bồn một tượng đài hoành tráng với hình tượng 3 người chiến sĩ bộ đội thanh niên xung phong và dân quân đang hướng về miền Nam thân yêu đã hoàn thành. Con đường mà các anh chị mở cách đây gần nửa thế kỷ đã được rải nhựa và dưới chân Truông Bồn huyền thoại cuộc sống mới đang đâm chồi nảy lộc.

Lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước đã bất chấp hy sinh gian khổ đứng vững trước sự đánh phá ác liệt, liên tục ngày đêm của địch trên các tuyến đường. Truông Bồn cùng các "tọa độ lửa" khác ở tỉnh Nghệ An bảo đảm giao thông thông suốt ra chiến trường… Tại nơi đây đã ghi đậm những đóng góp, hy sinh và chiến công hùng tráng của những đơn vị và cán bộ, đội viên thanh niên xung phong, mãi mãi trở thành những địa danh lịch sử không thể nào quên trong lòng tuổi trẻ và nhân dân cả nước mà tiêu biểu là 13 chiến sĩ thanh niên xung phong Truông Bồn (Đội thanh niên xung phong 300) được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lao động và Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

2. Ở Nghệ An còn có một số địa danh cần phải nhắc đến. Nhắc đến Truông Bồn, coi đây là biểu tượng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ) với tấm gương của 13 liệt sĩ, nhưng chúng ta cũng không quên đến hàng vạn liệt sĩ khác, đến nhiều địa danh khác. Chúng ta có một Truông Bồn huyền thoại, nhưng cũng còn nhiều địa danh lịch sử khác nói lên sự anh hùng, hy sinh quả cảm của biết bao liệt sĩ thanh niên xung phong, cán bộ công nhân ngành giao thông khác. Ở đây, tôi muốn nói đến địa danh Truông Kè.

Nghĩa trang liệt sỹ ngành giao thông vận tải Nghệ An - Nghĩa trang Truông Kè (còn gọi là Nghĩa trang liệt sĩ Đường 7) tại xã Mỹ Thành, huyện Yên Thành là - nơi quy tập 454 phần mộ liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc khánh chiến chống Mỹ cứu nước ở Nghệ An. Nghĩa trang có diện tích 1.056 m2, được khởi công xây dựng và hoàn thành ngày 27/7/1993 với 1 đài tưởng niệm, 2 nhà bia ghi công ơn 454 anh hùng liệt sỹ và 50 phần mộ khác, được xem là một trong số nghĩa trang riêng của ngành Giao thông vận tải, bởi các phần mộ đều là những người thuộc ngành này và lực lượng thanh niên xung phong đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ đảm bảo giao thông. Nghĩa trang Truông Kè là biểu tượng của tinh thần sẵn sàng chiến đấu hy sinh của các anh hùng ngành giao thông vận tải Nghệ An.

Tại Truông Dong (Tân Kỳ), cũng có một nghĩa trang các liệt sĩ, chủ yếu là của các Thanh niên xung phong đã ngã xuống.

Như vậy, ngoài lực lượng quân đội và công an, ở nước ta ít có ngành nào như ngành giao thông vận tải là có những nghĩa trang riêng. Những nghĩa trang đó nằm dọc theo chiều dài đất nước - đó là nơi an nghỉ của hàng ngàn, hàng vạn cán bộ, công nhân ngành giao thông vận tải, thanh niên xung phong đã hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Thế hệ chúng ta hôm nay phải khắc ghi, trân trọng và tự hào vì được đứng trong hàng ngũ những người trong ngành giao thông vận tải, tiếp bước truyền thống cha anh. Đến Truông Bồn, chúng ta cũng cần để các thế hệ trẻ biết đến Truông Kè, Truông Dong... Tưởng nhớ, đúc tượng cho 13 chiến sĩ thanh niên xung phong "Tiểu đội cảm tử" - "Tiểu đội thép" - "Tiểu đội cọc tiêu sống" Anh hùng thuộc Ðại đội 317 - Đội 65 - Tổng đội thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước tỉnh Nghệ An với những chiến công và sự hy sinh oanh liệt ngày 31/10/1968, chúng ta cũng không được lãng quên hàng vạn liệt sĩ ngày đêm đảm bảo mạch máu giao thông đã ngã xuống. Nói đến Truông Bồn là nói về một chứng tích hào hùng, bất hủ, ghi dấu những chiến công và sự hy sinh oanh liệt của quân và dân ta trong cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước nhưng cũng không được lãng quên đến các Truông Kè, Truông Dong...

Truông Bồn, Truông Kè, Truông Dong, dốc Ba Cấp,... còn đó. Lớp lớp chiến công mà lực lượng thanh niên xung phong nói riêng, cán bộ, đảng viên, bộ đội và nhân dân viết nên tại những địa danh lịch sử ấy và cả con đường huyền thoại trong suốt cuộc chiến tranh ác liệt bằng lòng quả cảm cùng máu xương của mình đang đồng hành cùng chúng ta trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.

3. Bài viết này là tấm lòng của chúng tôi - thế hệ được sống, được hưởng hạnh phúc hòa bình hôm nay thành kính biết ơn các liệt sỹ thanh niên xung phong trên đất Nghệ An mà tiêu biểu là ở Truông Bồn - những người đã dâng hiến tuổi xuân cho Tổ quốc. Truông Bồn, Truông Kè, Truông Dong... mãi mãi là những "không gian thiêng liêng" trong tâm thức chúng ta và các thế hệ mai sau.

 

Đậu Văn Thanh và cộng sự

 

Trên địa bàn tỉnh Nghệ An trừ khối trường học, bệnh viện, trạm y tế tính đến tháng 5/2018 số lượng đơn vị sự nghiệp công lập là 233 đơn vị, với 829 đầu mối phòng, ban và tương đương. Tổng số biên chế công chức, viên chức của 233 đơn vị là 4.070 biên chế và 2.029 hợp đồng lao động. Phân theo cấp quản lý số đơn vị sự nghiệp trực thuộc: UBND tỉnh là 4 đơn vị; sở, ban, ngành là 110 đơn vị; UBND huyện là 99 đơn vị và Đảng, đoàn thể là 20 đơn vị. Phân theo lĩnh vực cụ thể: Lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch có 39 đơn vị; Lĩnh vực tài nguyên môi trường có 29 đơn vị; Lĩnh vực NN&PTNT có 27 đơn vị; Lĩnh vực thông tin, truyền thông và phát thanh, truyền hình có 24 đơn vị; Lĩnh vực Lao động thương binh xã hội, bảo trợ xã hội, chăm sóc người có công có 26 đơn vị; Lĩnh vực giáo dục có 23 đơn vị; Lĩnh vực y tế có 12 đơn vị; Lĩnh vực kinh tế, khoa học và khác có 33 đơn vị và Lĩnh vực đảng, đoàn thể có 20 đơn vị. Phân theo mức độ tự chủ: Có 1 đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên và đầu tư; 15 đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên; 157 đơn vị tự đảm bảo một phần chi thường xuyên và 60 đơn vị nhà nước đảm bảo chi thường xuyên.

Trong thời gian qua, các đơn vị sự nghiệp công lập của tỉnh cung ứng dịch vụ sự nghiệp công ở hầu hết các địa bàn, lĩnh vực. Các đơn vị sự nghiệp công lập giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng dịch vụ sự nghiệp công và thực hiện chính sách an sinh xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh hiện nay vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập.

Thứ nhất, về tổ chức bộ máy

(1). Quy hoạch mạng lưới tổ chức các đơn vị sự nghiệp công lập vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập, còn nhiều đầu mối đơn vị sự nghiệp công lập chưa phù hợp với tình hình thực tiễn. Quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập chưa gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; Chưa nghiên cứu để chuyển từ quy hoạch theo đơn vị hành chính sang quy hoạch theo ngành, lĩnh vực, nhu cầu của xã hội và thị trường. 

(2). Hệ thống tổ chức các đơn vị sự nghiệp còn cồng kềnh, manh mún, phân tán, chồng chéo, một số nhiệm vụ của các đơn vị trong ngành cũng như với các đơn vị của ngành khác còn chồng chéo, trùng lặp, có khi còn bỏ sót nhiệm vụ, chất lượng, hiệu quả dịch vụ còn thấp. Một số đơn vị quy mô nhỏ, khả năng tự chủ thấp. Năng lực quản lý điều hành, quản trị nội bộ yếu kém, hiệu quả hoạt động của một số đơn vị sự nghiệp còn hạn chế.

(3). Số lượng tổ chức bên trong các đơn vị sự nghiệp chưa tinh gọn, chưa hợp lý với số lượng biên chế được giao.

(4). Đề án vị trí việc làm các đơn vị chưa gắn được việc đổi mới tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế.

 (5). Một số nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp để tư nhân, xã hội làm sẽ tốt hơn và mang lại hiệu quả, giảm gánh nặng chi NSNN cho biên chế của đơn vị sự nghiệp công lập.

Thứ hai, về biên chế, cơ cấu đội ngũ cán bộ, viên chức

(1). Việc phân công, bố trí sử dụng biên chế, lao động còn nhiều hạn chế, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chưa thực sự hợp lý, năng suất lao động chưa cao; thiếu giải pháp và chưa quyết liệt trong sắp xếp, tinh giản công chức viên chức yếu kém, không hoàn thành nhiệm vụ.

(2). Số lượng và cơ cấu viên trong từng cơ quan chưa hợp lý; tỉ lệ người phục vụ cao, nhất là ở khối văn phòng, trong lúc các đơn vị sự nghiệp yêu cầu bộ phận chuyên môn nghiệp vụ phải chiếm tỷ lệ 65%. Số lượng hợp đồng lao động còn nhiều.

(3). Cơ cấu biên chế chưa cân đối ở một số ngành, lĩnh vực, còn tình trạng thừa, thiếu cục bộ giữa trình độ các chuyên ngành trong các đơn vị sự nghiệp. Tỷ lệ viên chức có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ ngày càng tăng, nhưng lại thiếu chuyên gia giỏi, đầu ngành ở các lĩnh vực.

(4). Cơ cấu công chức, viên chức còn chưa hợp lý về số lượng, chức danh ngạch, chức danh nghề nghiệp; trình độ, độ tuổi, dân tộc, giới tính, nhất là tương quan cơ cấu giữa các cơ quan, đơn vị; chưa phê duyệt được vị trí việc làm cho từng đơn vị; chưa xác định rõ, đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu quản lý nhà nước, yêu cầu cung cấp dịch vụ công của từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể để làm cơ sở xây dựng, hoàn thiện cơ cấu công chức, viên chức phù hợp.

(5). Việc đánh giá cán bộ, viên chức chưa thực sự khách quan, chính xác. Các tiêu chí đánh giá mới chủ yếu mang tính chất định tính, thiếu tính định lượng, rất khó xác định mức độ cụ thể. Hầu hết, cán bộ, viên chức hàng năm đều được đánh giá hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trong khi phẩm chất, năng lực của một bộ phận không nhỏ viên chức chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

(6). Chưa quy định số lượng biên chế tối thiểu được thành lập tổ chức, số lượng lãnh đạo cấp phó tối đa của một tổ chức phù hợp với đặc điểm của từng cấp, từng ngành.

Thứ ba, về cơ chế quản lý

(1). Việc ban hành một số cơ chế, chính sách triển khai thực hiện còn chưa kịp thời, thiếu đồng bộ như: quy định về việc xác định, phê duyệt vị trí việc làm; định mức viên chức, hợp đồng lao động; danh mục dịch vụ sự nghiệp công; hướng dẫn thực hiện tự chủ.

(2). Hệ thống cơ chế chính sách về quản lý và phương thức hoạt động của các đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công lập chưa được đổi mới đồng bộ, một số chính sách là tiền đề quan trọng của việc giao quyền tự chủ cho đơn vị sự nghiệp như hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật của từng ngành còn chậm, chưa đồng bộ, chưa được hoàn thiện nên khó khăn cho địa phương khi triển khai thực hiện. Hiện nay danh mục dịch vụ công của địa phương chưa ban hành; định mức kinh tế - kỹ thuật về giá dịch vụ công cũng chưa đầy đủ.

(3). Công tác quản lý, tổ chức các hoạt động của một số đơn vị sự nghiệp công lập còn hạn chế, chưa sử dụng hiệu quả nguồn lực tài sản, ngân sách, nhân lực của đơn vị cho các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ. Một số đơn vị sự nghiệp công lập còn trông chờ, ỷ lại vào ngân sách nhà nước, chưa phát huy tích cực tính chủ động, sáng tạo của đơn vị.

(4). Hiện chưa tách bạch rõ chức năng QLNN với chức năng chủ quản đơn vị sự nghiệp công lập. Các đơn vị trong các ngành chưa phân định rõ dịch vụ công phục vụ QLNN, dịch vụ công thu phí.

(5). Chưa xác định được bước đi cụ thể, phù hợp để triển khai chuyển đổi hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Chưa phân định rõ chức năng cung cấp dịch vụ công với chức năng quản lý nhà nước của cơ quan chủ quản.

(6). Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý sai phạm còn chưa kịp thời; chi tiêu ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập vẫn còn lớn.

Trước thực trạng đó, Kế hoạch 111-KH/TU ngày 02/01/2018 của Tỉnh ủy Nghệ An thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 BCHTW Đảng khóa XII "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả" xác định việc sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập là một trong những nội dung ưu tiên trong tổ chức thực hiện.

Nhằm làm sáng tỏ nội dung trên, Ban chủ nhiệm đề tài đã tiến hành nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và đề xuất phương án sắp xếp như sau:

1. Phương án tổ chức lại, sắp xếp các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An

1.1. Hợp nhất các đơn vị ở các sở, ngành

Hợp nhấp 4 trung tâm gồm: Trung tâm Xúc tiến đầu tư của tỉnh; Trung tâm Xúc tiến thương mại; Trung tâm Xúc tiến du lịch và Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp thành một Trung tâm với tên gọi là Trung tâm Xúc tiến và Hỗ trợ phát triển tỉnh Nghệ An.

Hợp nhất 5 ban quản lý dự án: Ban quản lý Dự án xây dựng dân dụng và hạ tầng kỹ thuật đô thị; Ban quản lý Dự án xây dựng công trình văn hoá, thể thao và du lịch; Ban quản lý Dự án bảo tồn, tôn tạo khu di tích lịch sử văn hoá Kim Liên gắn với phát triển du lịch; Ban quản lý Dự án xây dựng công trình y tế; Ban quản lý Dự án chuyên ngành giáo dục và đào tạo thành 01 Ban Quản lý dự án chung trực thuộc UBND tỉnh với tên gọi Ban quản lý Dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng công nghiệp và phát triển đô thị tỉnh Nghệ An.

1.2. Đối với các lĩnh vực cụ thể

- Lĩnh vực văn hóa thể thao du lịch: Hợp nhất 2 đơn vị là Đoàn Ca múa nhạc dân tộc và Trung tâm Bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ thành 01 đơn vị là Đoàn Nghệ thuật truyền thống của tỉnh. Hợp nhất 2 đơn vị là Trung tâm Thi đấu và Dịch vụ thể thao và Trung tâm Đào tạo và Huấn luyện thể thao thành một Trung tâm Huấn luyện và thi đấu thể thao. Hợp nhất 3 đơn vị sự nghiệp cấp huyện gồm Trung tâm văn hóa, Đài truyền thanh - truyền hình và nhà thiếu nhi (Nhà thiếu nhi Việt Đức và Nhà thiếu nhi Quỳ Hợp) thành một đơn vị là Trung tâm văn hóa và truyền thông.

Lĩnh vực tài nguyên và môi trường: Hợp nhất các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất các huyện, thành phố, thị xã thành một Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường; đồng thời chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự đảm bảo chi thường xuyên. Sáp nhập Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh vào Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh, đồng thời chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự đảm bảo chi thường xuyên.

Chuyển 03 đơn vị từ tự đảm bảo 1 phần chi thường xuyên sang đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên gồm: Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường sau khi sáp nhập với Trung tâm Phát triển quỹ đất; Trung tâm Công nghệ thông tin và Quỹ Bảo vệ môi trường.

- Lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn

Sáp nhập Ban quản lý Rừng phòng hộ Quỳ Hợp vào Khu BTTN Pù Huống thành một đơn vị. Sáp nhập 3 Ban quản lý dự án trực thuộc Sở NN&PTNT gồm BQL Dự án ngành NN& PTNT; BQL Dự án NN& PTNT; Ban quản lý Dự án duy tu bảo dưỡng các công trình thủy lợi và PCTT ngành thành 1 Ban quản lý Dự án ngành NN&PTNT và thực hiện cơ chế tự đảm bảo chi thường xuyên. Nghiên cứu phương án sáp nhập 10 Ban Quản lý Rừng phòng hộ còn lại thành một Ban Quản lý rừng phòng hộ trực thuộc Sở NN&PTNT và thực hiện cơ chế tự đảm bảo chi thường xuyên. Hợp nhất các trạm: Trạm trồng trọt và bảo vệ thực vật; Trạm chăn nuôi và thú y; Trạm khuyến nông và các ban phát triển nông thôn miền núi thành Trung tâm dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp cấp huyện.

Chuyển 4 đơn vị sự nghiệp sang cơ chế tự đảm bảo chi thường xuyên đến 2021: Trung tâm Giống cây trồng, Trung tâm Giống chăn nuôi, Trung tâm Giống thủy sản, Trung tâm Nước sạch và VSMTNT. Chuyển 04 đơn vị sang cơ chế tự chủ chi thường xuyên đến 2025: Trung tâm Khuyến nông; Đoàn Điều tra quy hoạch lâm nghiệp; Đoàn Quy hoạch nông nghiệp và thủy lợi; Ban Quản lý cảng cá. Chuyển công ty cổ phần cho 4 đơn vị đến năm 2025: Trung tâm Giống cây trồng, Trung tâm Giống chăn nuôi, Trung tâm Giống thủy sản, Trung tâm Nước sạch và VSMTNT.

- Lĩnh vực thông tin, truyền thông và phát thanh, truyền hình: Hợp nhất Đài Truyền thanh - Truyền hình và Trung tâm Văn hóa ở cấp huyện thành Trung tâm Văn hóa và Truyền thông. Nhà xuất bản Nghệ An từng bước chuyển sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 16 của Chính phủ. Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh chuyển đổi thành đơn vị tự chủ chi thường xuyên từ năm 2021.

- Lĩnh vực lao động thương binh xã hội, bảo trợ xã hội, chăm sóc người có công: Sáp nhập Nhà nuôi dưỡng thân nhân liệt sỹ vào Trung tâm Điều dưỡng thương binh Nghệ An. Sáp nhập Trung tâm công tác xã hội (sau khi chuyển chức năng, nhiệm vụ công tác xã hội cho Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh và đổi lại tên thành Trung tâm Nhân đạo Nghệ An) với Trung tâm Bảo trợ xã hội Nghệ An. Đối với 4 trường trung cấp nghề thuộc sở và 3 trường trung cấp nghề thuộc huyện quản lý sáp nhập với trung tâm giáo dục thường xuyên của huyện. Phấn đấu chỉ còn một đầu mối giáo dục nghề nghiệp công lập, hình thành quy mô theo hướng trường giáo dục nghề nghiệp công lập làm trọng tâm, đặt tại thành phố Vinh và có các vệ tinh ở các vùng Bắc Nghệ An (Quỳnh Lưu), Tây Bắc (Thái Hòa) và Tây Nam (Con Cuông).

Tổ chức lại các đơn vị có chức năng, nhiệm vụ tương đồng hỗ trợ chăm sóc phục hồi chức năng, trợ giúp các nhóm đối tượng, như: Trung tâm Công tác xã hội; Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh; Trung tâm Bảo trợ xã hội; các trung tâm chăm sóc, điều dưỡng người có công... theo hướng hợp nhất các đơn vị thành đơn vị bảo trợ xã hội, đơn vị chăm sóc người có công với cách mạng với mô hình đơn vị đa chức năng thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội quản lý.

Chuyển sang tự chủ chi thường xuyên: Trung tâm Chỉnh hình và phục hồi chức năng Vinh; Trung tâm Dịch vụ Việc làm; Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Xem xét đơn vị có đủ điều kiện để chuyển đổi thành công ty cổ phần: Trung tâm Chỉnh hình và Phục hồi chức năng Vinh.

-  Lĩnh vực giáo dục: Sáp nhập 07 Trung tâm giáo dục thường xuyên của 07 huyện, thị, thành (Vinh, Yên Thành, Đô Lương, Con Cuông, Thái Hòa, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc) có trường trung cấp nghề trên địa bàn (nhưng không có trung tâm dạy nghề, trung tâm hướng nghiệp kỹ thuật tổng hợp) vào trường trung cấp nghề trên địa bàn thành Trường Trung cấp giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên huyện và trực thuộc UBND cấp huyện. Đồng thời chuyển đổi sang cơ chế tự đảm bảo chi thường xuyên. Sáp nhập Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp Nghệ An vào Trung tâm Giáo dục thường xuyên số 1 Nghệ An.

- Lĩnh vực y tế: Hợp nhất 6 trung tâm y tế làm nhiệm vụ y tế dự phòng tuyến tỉnh gồm: Trung tâm Y tế dự phòng; Trung tâm Sức khoẻ sinh sản; Trung tâm Phòng chống HIV/AISD; Trung tâm Phòng chống sốt rét - ký sinh trùng - côn trùng; Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe; Trung tâm Tư vấn dịch vụ dân số kế hoạch hóa gia đình thành 01 Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh tỉnh. Tổ chức lại Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm thành một đơn vị Kiểm soát dược phẩm, thực phẩm và thiết bị y tế. Nâng cấp Trung tâm phòng chống phong da liễu lên Bệnh viện Da liễu tỉnh khi đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên.

- Lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực khác: Sáp nhập 2 đơn vị là Trung tâm Khuyến công, tư vấn phát triển công nghiệp và Trung tâm Tiết kiệm năng lượng thành 01 Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Nghệ An. Sáp nhập Ban quản lý Nghĩa trang thị xã Cửa Lò và Trung tâm Cứu hộ phòng chống thiên tai Cửa Lò thành Trung tâm cứu hộ và quản lý nghĩa trang Cửa Lò. Giải thể Trung tâm Tin học - Công báo.

Chuyển sang hình thức tự đảm bảo chi thường xuyên các đơn vị: Trung tâm Kiểm định xây dựng; Viện Quy hoạch kiến trúc xây dựng; Trung tâm tư vấn và hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số; Đội quản lý trật tự đô thị Vinh; Đội quản lý trật tự đô thị thị xã Cửa Lò; Trung tâm cứu hộ và quản lý nghĩa trang Cửa Lò; Phòng Công chứng số I và Phòng Công chứng số II. Chuyển sang công ty cổ phần các đơn vị: Ban quản lý Nghĩa trang thành phố Vinh; Trung tâm Sát hạch lái xe cơ giới đường bộ; Trung tâm Đăng kiểm xe cơ giới Nghệ An.

- Lĩnh vực khoa học và công nghệ: Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KHCN chuyển đổi hoạt động sang mô hình doanh nghiệp (Công ty cổ phần) từ năm 2021. Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường thực hiện cơ chế tự chủ chi thường xuyên, khi có điều kiện thì chuyển sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp. Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học và Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn thực hiện cơ chế tự chủ theo lộ trình. Nâng cấp Trung tâm KHXH&NV thành Viện Nghiên cứu kinh tế xã hội của UBND tỉnh hoặc Viện Nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn vùng Bắc Trung bộ.

-  Lĩnh vực đảng, đoàn thể: Hợp nhất Trung tâm Giáo dục lao động xã hội Phúc Sơn và Tổng đội TNXP 5 thành 01 đơn vị là Trung tâm giáo dục lao động xã hội Thanh niên xung phong. Giải thể bàn giao về địa phương Tổng đội TNXP 1. Giải thể chuyển giao vào Công ty Cổ phần đầu tư phát triển cao su Nghệ An Tổng đội TNXP 2. Giải thể chuyển giao vào Công ty Cổ phần tư vấn phát triển nguyên liệu TH Tổng đội TNXP 3. Giải thể chuyển giao vào Công ty Cổ phần thực phẩm sữa TH Tổng đội TNXP 6.

Chuyển hình thức tự chủ đối với các đơn vị: Nhà văn hóa lao động: Chuyển sang tự đảm bảo chi thường xuyên và đầu tư. Trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật số 1: Chuyển sang tự đảm bảo chi thường xuyên và đầu tư. Trung tâm dạy nghề nông dân: Chuyển sang tự đảm bảo 1 phần chi thường xuyên.

2. Một số giải pháp

2.1. Công tác tuyên truyền

Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm về mục tiêu, quan điểm, ý nghĩa, yêu cầu của công tác sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập,  nâng cao chất lượng dịch vụ công, qua đó, nâng cao trách nhiệm, thống nhất nhận thức và hành động của từng cấp, từng ngành và tạo đồng thuận trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị.

2.2. Giải pháp về quản lý biên chế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Đổi mới cơ chế xác định và giao biên chế theo hướng quản lý, giám sát chặt chẽ biên chế của các đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ hoặc một phần chi thường xuyên; thực hiện chế độ hợp đồng viên chức có thời hạn đối với những trường hợp tuyển dụng mới.

Tổ chức phân loại viên chức theo vị trí việc làm và sắp xếp, bố trí lại cơ cấu viên chức theo hướng vị trí chuyên môn, nghiệp vụ chiếm tỉ lệ ít nhất 65%.

Xây dựng, hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập.

Thực hiện nghiêm việc đánh giá, phân loại viên chức hằng năm theo quy định hiện hành để đưa ra khỏi đội ngũ những người 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ.

2.3. Giải pháp thực hiện tinh giản biên chế

Sắp xếp lại tổ chức bộ máy (cả tổ chức bên trong) của đơn vị sự nghiệp; rà soát sắp xếp, phân công, tổ chức lại lao động trong đơn vị, đây là giải pháp quan trọng hàng đầu để tinh giản biên chế.

Xây dựng khung phân loại thống nhất, tầm quan trọng, độ phức tạp, khối lượng công việc; phân loại đơn vị sự nghiệp; xác định cơ cấu viên chức; hoàn thiện, chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh viên chức; xây dựng định mức lao động, định mức sử dụng thời gian làm việc của viên chức.

Xây dựng chính sách, pháp luật, tham gia xây dựng và thực hiện đồng bộ các chế độ, chính sách hợp lý để thực hiện sắp xếp, kiện toàn, tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế (chế độ nghỉ hưu trước tuổi; chế độ cho thôi việc, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức viên chức…).

2.4. Đẩy mạnh cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo cơ chế thị trường, thúc đẩy xã hội hoá dịch vụ sự nghiệp công

Rà soát, sửa đổi, bổ sung và thực hiện các cơ chế, chính sách đẩy mạnh cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo cơ chế thị trường.

Thí điểm thực hiện cơ chế cấp phát ngân sách theo kết quả công việc thay cho cơ chế cấp kinh phí chủ yếu dựa vào chỉ tiêu biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công; tiến tới chuyển đổi cơ chế giao biên chế sang cơ chế giao kinh phí.

Khuyến khích thành lập các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, nhất là trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, giáo dục nghề nghiệp, y tế, khoa học và công nghệ.

Minh bạch hoá các hoạt động liên doanh, liên kết, hợp tác công - tư, nhất là ở các đơn vị thuộc lĩnh vực do Nhà nước cấp phép hoạt động; bảo toàn và phát triển vốn, tài sản nhà nước.

2.5. Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý

Nâng cao năng lực quản trị đơn vị, bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và khoa học - công nghệ tiên tiến, áp dụng các tiêu chuẩn, chuẩn mực quản trị quốc tế.

Áp dụng mô hình quản trị đối với các đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư như mô hình quản trị doanh nghiệp.

Thực hiện kiểm định, đánh giá và xếp hạng các đơn vị sự nghiệp công lập. Tăng cường hoàn thiện các công cụ quản lý và vai trò kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động cung cấp dịch vụ công nhằm phát huy các yếu tố tích cực, hạn chế các mặt trái của cơ chế thị trường.

2.6. Hoàn thiện, đổi mới cơ chế tài chính

Phân định rõ hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị do Nhà nước giao với hoạt động kinh doanh dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp công lập.

Có cơ chế, chính sách đủ mạnh để tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích việc tinh giản biên chế, bổ sung vào diện tinh giản biên chế một số đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Xây dựng hệ thống định mức phân bổ ngân sách mới cho các đơn vị sự nghiệp theo hướng, định mức phân bổ ngân sách dựa vào kết quả đầu ra hoặc đơn giá khối lượng công việc, đặt hàng cung cấp các dịch vụ công.

Hoàn thiện thể chế về cơ chế đặt hàng, mua hàng, giao nhiệm vụ cung ứng dịch vụ công. Ban hành danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước theo phân cấp thuộc phạm vi quản lý của tỉnh. Xây dựng, hoàn thiện và ban hành hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn của từng loại hình dịch vụ sự nghiệp công.

2.7. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả về quản lý nhà nước đối với các hoạt động sự nghiệp công lập

Thành lập tổ độc lập rà soát lại chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị sau khi thực hiện phương án sáp nhập để xác định chức năng nào phục vụ QLNN, chức năng nào thực hiện dịch vụ công.

Đẩy mạnh việc phân cấp, giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng phân định rõ việc quản lý nhà nước với quản trị đơn vị sự nghiệp công lập và việc cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.

Chuyển các đơn vị sự nghiệp công lập có tính chất cung cấp dịch vụ sự nghiệp công của sở, ngành về cấp huyện quản lý; sở chỉ chủ quản đối với các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước của sở và những đơn vị trọng điểm, chuyên sâu.

Rà soát, hoàn thiện quy hoạch định hướng mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả tỉnh và từng huyện; chuyển từ quy hoạch theo đơn vị hành chính sang quy hoạch theo ngành, lĩnh vực, nhu cầu của xã hội và thị trường.

Hình thành các tổ chức kiểm định, đánh giá độc lập về chất lượng dịch vụ sự nghiệp công theo ngành, lĩnh vực.

2.8. Hoàn thiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, viên chức, người lao động trong quá trình tổ chức, sắp xếp lại đơn vị sự nghiệp công lập.

Có chế độ, chính sách thỏa đáng đối với công chức, viên chức sau khi sắp xếp tổ chức lại theo quy định của pháp luật và cơ quan cơ quan có thẩm quyền.

Bổ sung, sửa đổi chế độ chính sách đối với cán bộ, viên chức, người lao động làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng đãi ngộ theo khối lượng và chất lượng công việc hoàn thành; trả lương theo vị trí việc làm, theo giá trị sản phẩm đầu ra.

Thực hiện đồng bộ, đầy đủ các quy định của pháp luật về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với đơn vị sự nghiệp.

2.9. Tăng cường kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước

Tăng cường kiểm, giám sát quá trình hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập đảm bảo đúng các quy định hiện hành của nhà nước.

Phát huy vai trò của người đứng đầu các ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong quá trình chức lại, sắp xếp các đơn vị sự nghiệp cô

Quảng Phước

Thờ Gia thần là một loại hình tín ngưỡng phổ biến trong dân gian Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng. Bản chất của tục thờ Gia thần cũng chính là thờ thần nhưng nó được giới hạn trong phạm vi gia đình. Người Việt quan niệm "đất có thổ công, sông có hà bá" nghĩa là ở đâu thì có chủ ở đó. Ở Kinh đô thì có Đô Đại Thành Hoàng, ở làng thì có Thành Hoàng làng và các vị thần linh của làng. Như vậy ở gia đình, trong một phạm vi nhỏ hẹp hơn cũng có những vị thần bảo vệ cho gia đình đó.    

Gia thần là những vị thần cai quản trong phạm vi của một gia đình cụ thể. Gia đình đó được xác lập bởi một không gian cư trú nhất định, có nhà cửa, đất đai, có con người sinh sống ở đó. Gia thần thường được gọi chung là "Ngũ tự phúc thần" hay "Ngũ tự gia thần" tức là 5 phúc thần tại gia. Tại sao lại là năm vị mà không phải là ba vị hay bảy vị hay là một con số khác? Bởi số năm trong quan niệm dân gian chính là "ngũ phúc". Với mong muốn "ngũ phúc nghênh lai" (năm phúc đưa đến), người xưa đã chọn con số năm vị phúc thần tại gia để bảo vệ cho gia đình luôn được trọn vẹn ngũ phúc. Vậy năm vị này là ai? Trước nay có nhiều quan niệm khác nhau về năm vị gia thần. Có sách cho rằng, năm vị Gia thần bao gồm: Táo (thần Bếp), Tỉnh (thần Giếng), Môn (thần Cổng), Hộ (thần Cửa) và thần Trung Lựu(1) (thần Đất). Có sách lại cho rằng, Gia thần bao gồm: Táo thần (thần Bếp), Thổ công (thần Đất), Tiên Sư (thần quản về nghề nghiệp làn ăn), Môn Gia Hộ Úy (thần giữ cổng), Nhân Súc Y Thần (thần bảo vệ sức khỏe con người và súc vật). Trong hai quan niệm trên thì có hai vị thần trùng nhau hoàn toàn là thần Bếp (Táo) và thần Đất (tức Thổ Công hay Trung Lựu). thần Môn Gia Hộ Úy của thuyết thứ hai là sự kết hợp của thần Cổng (Môn) và thần Cửa (Hộ) của thuyết thứ nhất. Các vị còn lại thì khác nhau. Để biết được tại sao lại có những khác biệt đó, chúng ta cần truy nguyên xuất xứ của tín ngưỡng và của từng vị thần.

Tín ngưỡng thờ Gia thần có nguồn gốc từ Trung Quốc cổ đại đã được ghi chép trong Lễ ký, gồm Táo, Tỉnh, Môn, Hộ và Trung Lựu. Tín ngưỡng này du nhập vào Việt Nam từ lâu đời. Người Việt đã Việt hóa tục thờ gia thần theo văn hóa bản địa.

Đối với Thần Đất và Táo Quân ở cả Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét tương đồng. 

Chọn mặt đất làm nơi cư trú là một bước tiến hóa của loài người. Con người có nguồn gốc từ loài linh trưởng sinh sống trên cây cao, đi bằng bốn chân nay rời bỏ nơi đã gắn bó hàng triệu năm để xuống một môi trường mới hoàn toàn xa lạ, đi bằng hai chân - đó là mặt đất. Con người nhờ đó mà tiến hóa dần trở thành loài tinh anh nhất trong các loài mà tạo hóa sinh ra. Do vậy, trong tâm thức của con người luôn tôn trọng đất, coi đất như có thần và hình thành nên tập tục thờ thần đất. Tín ngưỡng thờ thần đất là tín ngưỡng phổ biến trên thế giới, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc.      

Việc thờ Táo Quân tức thần Lửa là tín ngưỡng cổ xưa của loài người, không riêng gì ở Trung Quốc hay Việt Nam mà rất nhiều dân tộc trên thế giới có tục thờ lửa. Bởi tìm ra lửa là một phát minh vĩ đại của loài người, nó đưa loài người từ cuộc sống mông muội trở thành văn minh, từ bỏ lối "ăn tươi nuốt sống" thành "ăn chín uống sôi", giúp sưởi ấm, xua đuổi thú giữ... Đây là một bước ngoặt lớn trong sự phát triển của lịch sử loài người. Vì vậy, hình thành nên tín ngưỡng thờ Lửa, mà ở Việt Nam và Trung Quốc được chuyển hóa thành thờ Táo Quân /Hỏa Thần. Riêng ở Việt Nam, Táo Quân không phải chỉ có một vị mà là ba vị, được dân gian huyền thoại hóa thành câu chuyện "hai ông một bà" đầy tính nhân văn. Bộ ba đó được phân công những nhiệm vụ khác nhau, người cai quản bếp núc, người cai quản chuyện chợ  búa, người cai quản đất đai tài sản. Ngoài ra, Táo Quân còn có nhiệm vụ giám sát việc thiện, ác, phúc, họa, bổn mạng, sức khỏe... của các thành viên trong gia đình.   

Các vị còn lại trong Ngũ tự phúc thần thì có những sự khác biệt vì: 

Không gian nhà ở của người Trung Quốc thường có tường cao cổng kín, các ngôi nhà thường xây tường, cửa ra vào được đóng mở bằng hệ thống cánh cửa, muốn vào khuôn viên gia đình phải mở cánh cửa cổng, muốn vào trong ngôi nhà phải mở cánh cửa nhà. Môn (cổng) và Hộ (cửa) tách bạch rõ ràng và đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ ngôi nhà. Vì vậy thần Môn (cổng) và thần Hộ (cửa) được thờ riêng. Nhưng đối với không gian sinh hoạt của một gia đình người Việt lại hoàn toàn khác. Nhà ở của người Việt đại bộ phận là nhà tranh vách đất, bao bọc xung quanh chủ yếu là bờ tre, bụi dứa, cổng ra vào thường chỉ được định hình bằng hai cọc tre đóng hai bên, khi đi đâu hoặc ban đêm thì lấy cành cây để ngang cổng báo hiệu cho người ngoài biết. Nhà tranh nên cửa ra vào cũng chỉ là tấm liếp đan bằng tre, khi đi vắng thì hạ xuống. Nói chung là sự bảo vệ xung quanh ngôi nhà rất sơ sài, nhiều khi cổng cũng không có lối đi cụ thể, nhà cũng không có cánh cửa để đóng lại, qua cổng là vào nhà luôn, người ngoài rất dễ xâm nhập vào nhà, dân gian có câu "làng thương hơn nương kín". Vì thế người Việt đã gộp thần Môn (cổng) và thần Hộ (cửa) thành Môn Gia Hộ Úy (thần coi giữ cổng và cửa nói chung).        

Trong khuôn viên nhà ở của người Trung Quốc thường có giếng nước để cung cấp nước sinh hoạt cho gia đình. Mà nguồn nước là thứ quan trọng bậc nhất đối với cuộc sống con người nên hình thành nên tục thờ thần Thần Giếng (Tỉnh). Đối với người Việt Nam xưa ít có gia đình nào đào giếng trong khuôn viên nhà ở của mình. Bởi người Việt chủ yếu định cư bên các dòng sông, dòng suối nên nước để sinh hoạt thường lấy trực tiếp từ sông, suối hoặc từ các giếng làng. Vì vậy không có tục thờ thần giếng tại gia là vì vậy (có giếng đâu mà thờ).  

  Việc thờ Tiên Sư (thần quản về nghề nghiệp làm ăn) và Nhân Súc Y Thần (thần bảo vệ sức khỏe con người và súc vật) là nét riêng trong tín ngưỡng thờ Ngũ tự phúc thần của người Việt. Tập tục thờ này được hình thành khi xã hội đã phát triển đến trình độ tạo ra các ngành nghề để sinh nhai. Muốn nuôi sống một gia đình thì thành viên trong gia đình đó phải có nghề nghiệp để tạo ra của cải vật chất. Từ đó nảy sinh việc phải thờ vị thần cai quản về nghề nghiệp làm ăn đó là Tiên Sư. Nhưng vị thần Tiên Sư được thờ ở đây mang tính chất chung chung, không chỉ cho một nghề nghiệp cố định nào cả, khác với các tiên sư tổ nghề. Khi con người đã có cái ăn, cái mặc rồi lại mong muốn cho được mạnh khỏe, cường tráng nên cần thờ thần bảo hộ sức khỏe. Không chỉ bảo hộ sức khỏe cho con người mà còn cần bảo hộ sức khỏe cho cả vật nuôi trong gia đình. Vì vật nuôi cũng là tài sản quý của gia đình thậm chí được xếp vào "đầu cơ nghiệp". Vì vậy hình thành tục thờ Nhân Súc Y Thần. Thời xưa, hàng năm các gia đình thường cúng thần Ngưu Lan để cầu cho trầu bò, lợn gà và các loài vật nuôi nói chung được mạnh khỏe, sinh sản tốt chính là cúng Nhân Súc Y Thần trong Ngũ tự phúc thần.               

Trong Ngũ tự gia thần thì Táo Quân (thần Bếp) được xếp đứng đầu, gọi là "nhất gia chi chủ" (chủ đứng đầu của một gia đình), trong văn cúng Táo Quân ngày 23/12 có câu "ngài là vị chủ Ngũ Tự Phúc Thần". Bởi bếp lửa tượng trưng cho sự quần tụ, cho mái ấm gia đình, cho sự liên kết các thành viên trong gia đình, nơi giữ gìn hơi ấm cho cuộc sống. "Như là mặt trời, bếp làm cho mọi người gần nhau hơn bởi hơi ấm và ánh sáng của nó - đó cũng là nơi đun nấu thức ăn - vì vậy bếp là trung tâm của cuộc sống, cuộc sống được ban cho và sinh sôi. Bởi vậy, bếp được tôn kính trong tất cả các xã hội;... nơi con người cầu xin sự bảo hộ của Thượng Đế... Bếp của gia đình đóng vai trò trung tâm hoặc cái rốn của thế giới"(2). Táo Quân còn được dân gian suy tôn là "Định phúc Táo Quân" tức là định đoạt phúc đức cho gia đình. Bởi theo quan niệm dân gian, Táo Quân là vị thần thay mặt Thượng Đế cai quản nhân gian, ghi chép việc thiện ác của người trần. Hàng năm, đến 23 tháng Chạp, Táo Quân lại về trời chầu Ngọc Hoàng Thượng Đế để báo cáo công việc của năm qua. Như vậy, Táo Quân được coi như là Khâm sai Đại thần của Thiên Đình. Vì thế, trong năm vị gia thần, Táo Quân được xếp đứng đầu là hợp lý.  

Gia thần cai quản mọi việc trong nhà nên khi gia chủ có bất kỳ việc lớn nhỏ, vui buồn đều cầu cúng các vị để cầu xin được phù hộ, như ngày rằm, mồng một hàng tháng, các ngày lễ tết trong năm, sinh con, đầy tháng, đầy năm, kỵ giỗ, động thổ, đi thi, thi đậu hoặc nhà có người ốm, người mất... Thậm chí ngày giỗ cũng phải cáo trước với các vị Gia thần để xin phép cho các vong linh gia tiên được về nhà hưởng lễ. Qua đó cho thấy tầm quan trọng và sự ảnh hưởng của Gia thần đến đời sống tâm linh của người dân Việt.        

Mối quan hệ giữa Gia thần với Gia tiên (ông bà tổ tiên) trong gia đình rất đặc biệt. Gia thần cai quản mọi việc, định đoạt họa phúc của gia đình nên thuộc hàng quan trọng nhất, nhưng gia tiên lại sinh thành ra ta nên đáng được tôn kính nhất. Để hài hòa giữa hai bên, người Việt bài trí thờ Gia tiên ở gian chính giữa nhà (thường gọi là gian bảy) là nơi trang trọng nhất trong ngôi nhà, còn Gia thần thì thờ ở gian bên trái (theo Ngũ hành thì bên trái -phương Đông là nơi quan trọng thứ hai sau trung tâm) và cao hơn bàn thờ Gia tiên. Một bên ở nơi trang trọng nhưng vị trí thấp, một bên ở nơi kém hơn nhưng vị trí cao. Mối quan hệ giữa Gia thần và Gia tiên chẳng khác quan hệ giữa vua Lê và chúa Trịnh(3).

Ngũ tự gia thần là năm phúc thần nhưng người Nghệ An chỉ chú trọng Táo Quân, Thổ Công và Tiên Sư. Trong các bài văn cúng cổ, vị hiệu của các thần thường viết là "Bản Gia Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân, Bản Viên Thổ Công, Bản Đường Tiên Sư". Đặc biệt, Táo Quân và Thổ Công còn có cả kinh văn lưu truyền trong dân gian. Hiện nay, ở các Thiện đàn còn rất nhiều bản kinh cổ viết bằng chữ Hán Nôm "Táo vương chân kinh" "Thổ địa chân kinh". Nội dung của các bản kinh này nói về lai lịch của các thần, nhiệm vụ Tư mệnh, Khâm sai của các thần... Riêng Táo Quân còn có cả linh xăm (quẻ xăm), khi gia chủ có việc thắc mắc, nghi vấn có thể xin quẻ Táo Quân tương tự như xin quẻ ở các đền miếu thờ thần linh khác. Hai vị Môn Gia Hộ Úy và Nhân Súc Y Thần ít thấy xuất hiện danh hiệu riêng mà thường gọi chung trong cụm từ "Ngũ tự phúc thần". Thông thường hai vị này chỉ xuất hiện trong các lễ cúng riêng biệt như lễ mở cổng hoặc ngăn cổng thì cúng thần Môn Gia Hộ Úy, lễ cúng đầu năm để cầu cho trâu bò, súc vật mạnh khỏe, sinh sản tốt, thường gọi là lễ Ngưu Lan thì cúng thần Ngưu Lan (tức Nhân Súc Y Thần). Nhưng lễ Ngưu Lan hiện nay hầu như không còn được thực hiện.     

Truyền thống của người Kinh ở Nghệ An hầu hết các gia đình đều có ban thờ Gia thần. Ban thờ Gia thần thường được lập riêng ở phía đốc nhà và cao hơn bàn thờ Gia tiên. Qua khảo sát các văn bản Hán Nôm cổ như Thọ Mai Gia jễ, các sách văn cúng, gia phả các gia đình, dòng họ... cho thấy trong nghi lễ cổ truyền ở Nghệ An thường có những bài văn cúng dành riêng cho Gia thần vào những dịp lễ tiết trong năm hoặc các lễ không định kỳ, như: lễ Sóc vọng (mồng một, rằm), lễ Nguyên Đán, Khai hạ (7/1 ÂL), Thượng nguyên (15/1 ÂL), Đoan ngọ (5/5 ÂL), Trung nguyên (15/5 ÂL), lễ Thường tân (15/10 ÂL), 23 tháng Chạp, cúng Phần sài (nhóm lửa khai bếp), cúng Tạ bếp, cúng Khai môn (mở cổng), cúng nhân ngày giỗ gia tiên, cúng chẵn tháng con... Trong các nghi lễ cúng Gia tiên thì Gia thần được mời ở cuối cùng của bài văn cúng với mục đích là đến chứng giám cho buổi lễ "cung thỉnh/kính thỉnh: Bản Gia Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân, Bản Viên Thổ Công, Bản Đường Tiên Sư, Ngũ Tự Phúc Thần đồng lai giám cách. Phục duy cẩn cáo" (nghĩa là: Kính mời các thần Bản Gia Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân, Bản Viên Thổ Công, Bản Đường Tiên Sư, Ngũ Tự Phúc Thần cùng đến chứng giám. Thành tâm kính cáo). Như vậy chứng tỏ rằng thời xưa, Gia thần không thờ chung với Gia tiên. Trước khi cúng Gia tiên thì gia chủ đã làm lễ cúng Gia thần nên khi cúng Gia tiên chỉ cần mời Gia thần đến với tư cách chứng giám cho buổi lễ đó chứ không phải là nhân vật chính của buổi lễ.       

Khác với các vùng miền khác, ở Nghệ An chỉ có một ban thờ chung cho tất cả các vị Gia thần và bài trí đơn giản, không có bài vị hay tranh ảnh thờ. Người Nghệ An không quan niệm thần cai quản việc nào thì phải thờ ở vị trí đó như thần Bếp thì phải thờ ở bếp, Thần Cổng phải thờ ở cổng, thần Đất phải thờ dưới đất... Bởi người Nghệ chịu ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo nên đối với việc thờ phụng thần linh đều mang tính thiêng liêng, trang trọng, thành kính. Vì vậy không bao giờ thờ thần ở những nơi thiếu trang trọng hoặc uế tạp. Đồng thời, người Nghệ An vốn có tư duy thực dụng, ăn chắc mặc bền, tiết kiệm nên mọi việc đều đơn giản hóa. Vì vậy, người Nghệ đã gộp tất cả các vị trong Ngũ tự gia thần lại thờ chung một ban thờ.

Những điều trăn trở trong việc thờ Gia Thần ở Nghệ An hiện nay

Hiện nay, ở Nghệ An tín ngưỡng thờ Gia thần vẫn được duy trì. Tuy nhiên có nhiều biến đổi và việc thờ phụng phức tạp hơn so với trước đây. Kết cấu ngôi nhà thay đổi khác với ngôi nhà truyền thống do đó không gian thờ cúng cũng thay đổi theo. Cộng với đời sống vật chất được nâng cao, con người tất bật với những mưu sinh, danh vọng nên luôn cầu mong có sự giúp đỡ của thần linh. Vì thế, việc thờ phụng Gia thần cũng được chú trọng hơn, nhất là những vị thần cai quản công danh, tài lộc.

Hầu hết các gia đình ở thành phố thường nhập bàn thờ Gia thần chung với bàn thờ Gia tiên để phù hợp với không gian chật hẹp của ngôi nhà nơi phố phường và thuận tiện trong việc thờ cúng. Việc nhập chung bàn thờ Gia Thần và Gia Tiên tuy có thuận tiện hơn trong việc thờ cúng nhưng cũng có những bất cập nhất định. Thông thường ở những trường hợp này, trên bàn thờ có ba bát hương: ở giữa cao hơn là Bát hương Gia thần, ở hai bên thấp hơn là bát hương Gia tiên và bát hương Bà Cô; phía sau bát hương thường có long ngai/giá gương/khám hoặc di ảnh của Gia Tiên. Tuy bát hương của Gia thần được bài trí cao hơn bát hương Gia Tiên nhưng long ngai/giá gương/khám hoặc di ảnh của Gia Tiên lại còn cao hơn cả bát hương Gia thần như vậy chẳng khác nào Gia Tiên vẫn ngồi ở vị trí cao hơn Gia thần.

Nhiều gia đình vẫn giữ phong tục thờ riêng Gia thần và Gia tiên nhưng ít người hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng Gia thần mà chỉ lập theo thói quen, bắt chước theo hàng xóm. Một số gia đình còn lập am thờ Thổ công riêng ở trước sân nhà. Có gia đình lại lập quá nhiều bàn thờ Gia thần: vừa có am thờ Thổ công trước sân, vừa có ban thờ Ngũ tự phúc thần ở phía nhà, vừa có ban thờ Táo quân trong bếp nấu... Nói chung, việc thờ Gia thần trở nên phức tạp, rối rắm, hầu như hoàn toàn phụ thuộc vào sự hướng dẫn của "thầy cúng". Thậm chí các lễ cúng thường ngày ở trong gia đình còn đọc cả vị hiệu của Hoàng Thiên, Hậu Thổ, Bản Cảnh Thành Hoàng, Bản Xứ Long Quân Chúa Mạch Thổ Địa Tôn Thần, Ngũ Phương Thổ Công...

Đặc biệt, trong những năm gần đây, tục thờ Thần Tài, Thổ Địa trong góc nhà được du nhập từ miền Nam ra phía Bắc, trong đó có Nghệ An. Tục thờ này vốn là của người Hoa ở miền Nam Việt Nam. Theo quan niệm của người Hoa, Thần Tài là vị thần cai quản tiền tài, sự tích của thần như sau: "Ngày xưa, có một người lái buôn Trung Hoa tên là Âu Minh khi đi qua hồ Thanh Thảo tình cờ gặp Thủy Thần, được Thủy Thần cho một người gia nhân tên là Như Nguyện. Âu Minh đem Như Nguyện về nuôi ở trong nhà, từ đó công việc làm ăn của Âu Minh mỗi ngày một phát đạt. Trong một ngày Tết, vì một lý do nào đó, Âu Minh đánh Như Nguyện. Như Nguyện quá sợ hãi bèn chui vào đống rác và biến mất. Từ đó Âu Minh làm ăn thua lỗ, chẳng mấy chốc nghèo xác nghèo xơ. Người ta bảo Như Nguyện là Thần Tài và lập bàn thờ Như Nguyện, cũng chính vì thế mà bàn thờ Thần Tài thường nằm ở một góc trong xó nhà". Thổ Địa là vị thần cai quản đất đai, điền trạch. Mà đất là nơi sản sinh và tàng chứa vàng bạc, châu báu ("Thổ năng sinh bạch ngọc, Địa khả xuất hoàng kim" nghĩa là "Đất hay sinh ngọc trắng, Đất khá sản vàng ròng) do đó Thổ Địa được thờ chung với Thần Tài. 

Sau này, người Việt ở miền Nam tiếp thu tập tục thờ Thần Tài, Thổ Địa của người Hoa và đi theo bước chân của những người kinh doanh, thương mại truyền bá ra phía Bắc. Trong nền kinh tế thị trường thời mở cửa thì thương trường như chiến trường, mọi thứ đều khó khăn, con người ta luôn cầu mong được sự giúp đỡ của các thế lực vô hình để kiếm được thật nhiều tiền tài, danh vọng. Vì thế khi tục thờ Thần Tài, Thổ Địa du nhập ra phía Bắc nhanh chóng được người dân tiếp nhận - nhất là những gia đình làm nghề kinh doanh, thương mại. Bởi nó phù hợp với thị hiếu của các đối tượng này. Từ đó, nó lan tỏa ra cả những đối tượng khác. Rất nhiều cửa hàng, cửa hiệu và gia đình lập ban thờ Thần Tài, Thổ Địa ở góc nhà nhưng lại không hiểu được bản chất của việc thờ cúng đó là không phù hợp với văn hóa truyền thống của người Nghệ và thậm chí là thừa. Tại sao lại như vậy? Vì người Nghệ quan niệm, việc thờ cúng phải thực hiện ở những nơi trang nghiêm, thanh tĩnh, tinh khiết nhưng ở đây lại đặt bàn thờ ở trong góc nhà là nơi thường xuyên qua lại, bụi bặm, uế tạp rất phản cảm. Đồng thời trong tín ngưỡng thờ Gia Thần (Ngũ Tự Phúc Thần) đã bao hàm cả Thần Tài và Thổ Địa. Nếu lập thêm ban thờ thì vô hình chung một vị thần mà có hai nơi thờ khác nhau, một nơi thì thờ trên cao thậm chí còn cao hơn cả bàn thờ gia tiên, một nơi thì thờ dưới đất. Đó là chưa kể đến vấn đề hỏa hoạn, phòng cháy chữa cháy. Bởi hầu hết các cửa hàng với không gian chật hẹp, phần lớn diện tích được sử dụng cho việc kinh doanh, nhiều cửa hàng kinh doanh những sản phẩm dễ bắt lửa, dễ phát nổ như giấy, sách báo, quần áo, xăng dầu ... thì việc thắp hương hàng ngày là một vấn đề tiềm ẩn nhiều nguy cơ cháy nổ. Rất nhiều nơi bị cháy chợ, cháy cửa hàng, công xưởng mà nguyên nhân chính từ bàn thờ Thần Tài, Thổ Địa ở trong xó nhà.     

Tín ngưỡng thờ Gia thần là một tín ngưỡng có nguồn gốc lâu đời, xuyên suốt trong quá trình phát triển của người Việt. Với quan niệm "có thờ có thiêng, có kiêng có lành" nên người Việt nói chung và người Nghệ An nói riêng thờ các vị thần cai quản trong phạm vi gia đình với mong muốn được thần linh che chở cho cuộc sống bình yên. Trong tâm thức của con người, mỗi việc làm hàng ngày của mình đều có thần linh giám sát, ghi chép nên người ta sẽ hạn chế những việc ác và tích cực làm những việc thiện. Vì thế, tín ngưỡng thờ Gia thần sẽ còn mãi với thời gian. Tuy nhiên cần có những định hướng cho nhân dân hiểu được bản chất của tín ngưỡng này để thực hành đúng văn hóa truyền thống, đồng thời giữ gìn bản sắc của địa phương, tránh lai căng, tránh chạy theo phong trào, thờ mà không hiểu mình đang thờ ai, vị thần đó như thế nào. 

 

Chú thích

1. Về thần Trung Lựu cũng có nhiều cách giải thích khác nhau. Ở đây theo thiên Nguyệt Lệnh trong sách Lễ Ký viết rằng:"Trung ương thổ, kỳ đế Hoàng Đế, kỳ thần Hậu thổ. Kỳ trùng lõa. Kỳ âm cung, luật trung Hoàng chung chi cung. Kỳ vị cam, kỳ xú hương. Kỳ tự Trung Lựu, tế tiên tâm" (Thổ ở trung ương, có đế là Hoàng đế, thần là Hậu thổ. Chủ về hổ báo, về âm nhạc (nó) thuộc âm "Cung", về luật thuộc cung "Hoàng chung". Số của nó là năm, vị của nó là ngọt, mùi của nó là hôi. Lễ tế thổ ở Trung Lựu, kẻ tế tượng trưng cho vua). Như vậy thần Trung Lựu là Thổ Thần/Thổ Công (Thần Đất).    

2.  Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc, (2013), Đặc khảo về tín ngưỡng thờ gia thần, Nxb Văn hóa Văn Nghệ, Tp HCM, trang 37.  

3. Trần Ngọc Thêm, 2000, Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, trang 139.

 

Nguyễn Thế Đạt

Nguyễn Công Trứ sinh năm 1778, người làng Uy Viễn, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, đỗ Giải nguyên trường Nghệ, 42 tuổi mới nhập quan trường.

Phan Thúc Trực sinh năm 1808, người làng Vân Tụ, xã Khánh Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, đỗ Thám hoa năm 1847, 40 tuổi mới nhập quan trường.

Phan Thúc Trực sau Nguyễn Công Trứ đúng 30 năm. Khi Phan Thúc Trực được bổ làm quan thì cũng là lúc Nguyễn Công Trứ được nghỉ hưu.

Cụ Phan viết thơ phần nhiều bằng chữ Hán, rất ít bài chữ Nôm; cụ Nguyễn(1) lại viết thơ chủ yếu bằng chữ Nôm, chỉ để lại cho đời duy nhất 1 bài thơ chữ Hán.

Cụ Phan được vua ban mỹ tự "Học cao hạnh thuần", còn cụ Trứ thì có lúc vua gọi là "thằng cuồng".

Song không hiểu vì đâu mà bài thơ Vịnh cảnh cháy nhà thờ(2) thiên hạ lại dành cho cả hai cụ. Bài thơ như sau:

Phụng thờ hương khói bấy nhiêu đông,

Một phút làm nên rạng tổ tông.

Trống đánh vang lừng miền ấp lý,

Tàn bay phấp phới cõi tây đông.

Kẻ xa người ngái nhô đầu lại,

Xóm dưới làng trên ngoảnh mặt trông.

Vận hội khi may đen hóa đỏ,

Làm trai như thế sướng hay không.

Ở đây, chúng ta không bàn chuyện bài thơ là của cụ nào sáng tác, hay lại là của một cụ thứ ba nào đó, mà chỉ thấy người đương thời tôn sùng hai cụ đến dường nào, họ nghĩ chỉ có các cụ mới làm được bài thơ hay đến thế!

Tôi tin rằng cụ Nguyễn biết rất ít về cụ Phan. Ngược lại, cụ Phan lại biết rất nhiều về cụ Nguyễn.

Trong cuốn sách Quốc sử di biên, cụ Phan đã 23 lần ghi về cụ Nguyễn. Các sách quốc sử chính biên đã viết nhiều về cụ Nguyễn, song có lẽ cụ Phan thấy chưa đủ, họ viết theo thiên kiến của họ, cần bổ sung để có một cụ Nguyễn Công Trứ nguyên bản, không bị bóp méo.

Với 23 điểm nhấn đó, chúng ta cũng có thể hình dung được con người thực của cụ Nguyễn, con người nhiều thành công, nhiều thất bại; con người đã đưa hậu thế vào nhiều tranh cãi.

Nguyễn Công Trứ bước vào sách Quốc sử di biên của Phan Thúc Trực ở chương ghi năm 1825 với một lý lịch khó quên:

Tham tán Nguyễn Trứ thự Tư nghiệp… đỗ giải nguyên, giỏi thơ ca quốc âm, các Giám sinh đều ghét, giấu tên đề vào cửa nhà Giám một câu đối:

Bao Tề ý Tấn, thánh nhân bất đắc dĩ dụng quyền;

Ý cẩm cảnh y, quân tử ố kỳ văn chi trứ.

Nghĩa là:

Khen Tề Hoàn, trọng Tấn Văn, thánh nhân bất đắc dĩ dụng quyền;

Mặc áo gấm, lồng áo ngoài, quân tử ghét văn hoa chi Trứ(3).

Nhưng cũng ở đây,  tác giả ghi thêm chi tiết:

Trứ lúc ít tuổi, bạn thân với ông già Bồng Hải. Đến lúc Trứ ra làm quan, ông già kia không bằng lòng. Trứ đưa tặng thức gì, ông già cũng đều không nhận. Trứ thường than rằng chưa báo đền trọng hậu được(4).

Đến Bồng Hải cũng không hiểu được Trứ, nhưng Trứ không bao giờ quên ơn Bồng Hải.

Nếu là người khác viết, chắc gì đã có chi tiết này ghép vào đoạn văn trên.

Năm 1830, vua Minh Mạng đã phải khen rằng: Chính sự của Tông Quyền, văn học của Tế Mỹ, thao lược của Nguyễn Trứ có thể nói là không thẹn với khoa danh(5).

Cách đối xử với những kẻ can án cũng thật là lạ:

Năm 1833, thăng Nguyễn Công Trứ làm Tổng đốc Hải Yên. Trứ chiêu dụ những kẻ can án ra thú cho làm đội nghĩa binh, được hơn 1000 người, đều cho mặc áo xanh, cầm binh khí tinh nhuệ và đẹp đẽ(6).

Bao quát hơn:

Trứ vốn tính hào phóng: thường đắp phương trượng tam sơn ở sau công đường, trên núi làm chùa, đào hồ thả sen, bắc cầu trên hồ, nuôi 25 đồng nữ sớm tối cúng Phật. Trước kia đóng đồn Vân Trung bắt được 3 trai 7 gái người thổ nuôi làm gia thuộc, cho hát xướng, ngày đêm cùng tân khách và bè bạn đánh tổ tôm, hút thuốc phiện, nghe truyện Kim Vân Kiều tự xưng là Lão Trang. Thường nhân họp nhau uống rượu, làm thơ ca quốc âm, có ý coi rẻ miếng đỉnh chung. Việc này lọt đến tai vua. Vua cười, nói rằng: Thói cũ thằng cuồng vẫn hào phóng như thế đấy.

Có thể Quốc sử di biên được viết sau khi cụ Phan thi đậu, rồi bổ sung thêm khi cụ đi tìm sách ở Bắc Hà. Nhưng lòng quý trọng của cụ Phan đối với cụ Nguyễn thì đã có từ trước đó rất lâu. Bởi vậy, năm 1847, khi Nguyễn Công Trứ về hưu, cụ có làm bài thơ Tự thọ chữ Hán như sau:

日 對 兒 曹 自 解 頤

今 吾 不 似 故 吾 時

隨 机 傀 儡 供 人 笑

逐 驥 光 陰 屆 古 希

老 寔 不 堪 粧 面 目

英 花 安 用 染 鬚 髭

自 嫌 剪 劣 毫 無 狀

瀟 洒 鴻 山 又 是 非

Nhật đối nhi tào tự giải di,

Kim ngô bất tự cố ngô thì.

Tùy cơ khổi lỗi cung nhân tiếu,

Trục ký quang âm giới cổ hy.

Lão thực bất kham trang diện mục,

Anh hoa an dụng nhiễm tu tì.

Tự hiềm tiễn liệt hào vô trạng(7),

Tiêu sái Hồng sơn hựu thị phi. 

Cụ Lê Thước dịch là:

Ngày cùng lũ trẻ cợt đùa chơi,

Quả thực ta nay khác trước rồi.

Múa rối mấy hồi rằng giúp nước,

Sống lâu bảy chục cũng ơn trời.

Thân già bao quản khoe mình đẹp,

Tóc bạc xin đành kém vẻ tươi!

Những thẹn bất tài không báo bổ,

Non Hồng thôi mặc tiếng trên đời.

Cụ Phan Thúc Trực họa lại:

千 金 散 盡 一 枝 頤

勳 業 行 看 少 壯 辰

幾 度 邊 疆 曾 足 遍

古 來 儒 將 每 心 希

老 人 歲 月 頻 看 鏡

浮 世 功 名 笑 拔 髭

夢 醒 故 山 猿 鶴 約

悠 悠 誰 是 又 誰 非

Thiên kim tán tận nhất chi di,

Huân nghiệp hành khan thiếu tráng thì.

Kỷ độ biên cương tằng túc biến,

Cổ lai Nho tướng mỗi tâm hy.

Lão nhân tuế nguyệt tần khan kính

Phù thế công danh tiếu bạt tì

Mộng tỉnh cố sơn viên hạc ước

Du du thuỳ thị hựu thuỳ phi 

Chúng tôi xin tạm dịch:

Nghìn vàng tiêu sạch, một làn môi,

Huân nghiệp xem nơi thiếu tráng thời

Mấy độ biên cương, chân đạp khắp,

Xưa nay Nho tướng, bụng nào vui.

Tuổi già năm tháng nhìn gương chiếu,

Phù thế công danh vểnh miệng cười (nhổ râu cười).

Tỉnh mộng quay về non nước cũ,

Mặc đời ai đúng với ai sai.

Chúng tôi xin phép được trình bày điều suy nghĩ:

Ở câu thứ nhất: chữ di, theo Thiều Chửu, di không phải là cằm, cũng không phải là hàm, mà chỉ là má bên mép. Người quyền thế chỉ cần nhếch mép ra lệnh là người khác phải làm theo. Phan Sào Nam cho rằng, di là toàn bộ cằm miệng (di còn có nghĩa khác là nuôi dưỡng).

Giải di: cười đùa vui vẻ.

Câu xướng của cụ Nguyễn ý rõ ràng.

Câu họa của cụ Phan: Thiên kim tán tận nghĩa là nghìn vàng tiêu hết. Đúng là tính hào phóng(8) của Nguyễn Công Trứ rồi.

Nhưng, nhất chi di thì sao, nối với cụm từ  thiên kim tán tận tạo ra nghĩa thế nào? Có lẽ cụ Phan muốn để cho độc giả tự giải lấy.

Không những nghìn vàng, mà cả chức tước của cụ Nguyễn, nhiều khi cũng bị cách tuột, chỉ có cái cằm là nguyên vẹn mà thôi.

Muốn tìm huân nghiệp của cụ thì đừng tìm ở những tấm sắc phong ban, hay những tờ lệnh phế truất, mà phải tìm ở nơi khi cụ còn trai trẻ, khi mà dấu chân của cụ tung hoành từ Cao Bằng đến tận Cao Miên. Những huân nghiệp này được cụ Phan ghi trong cuốn sách Quốc sử di biên, xin trích một đoạn:

Tháng 9 năm 1833, cùng Lê Văn Đức và Trịnh Đình Vũ đánh Nông Văn Vân. Sau một loạt trận tấn công,… Nguyễn Trứ tiến đến đồn Tiên Lệ, theo đường núi Cao Xiển, quanh ra phía Bắc Thái Nguyên, Cao Bằng, đánh 5 trại Nà Dương. Tiến đánh Lũng Lếp, Lũng Lợi, vây mãi không hạ được... Tiếp ngày 27 tháng 12, … Nguyễn Công Trứ xông thẳng vào Vân Trung, đánh thắng một trận lại quay về đóng quân ở Khi Bác. Bắt được 22 người Thổ, Trứ dùng 12 người làm hướng đạo, băng qua núi đá, vào ngoại đồn… bèn sai 500 quân tấn công Vân Trung, rồi sai phi báo cho quân 4 trấn đồng thời cùng tiến. Trứ tiến vào trước, Nông Văn Vân tự trốn…(9).

Dẫu là ngòi bút chép sử, chúng ta vẫn nhận ra cụ Phan quý trọng cụ Nguyễn đến nhường nào!

Sự quý trọng đó, có lẽ bắt nguồn từ ý thức trách nhiệm của kẻ sĩ đối với Tổ quốc mà các cụ gọi là ngô phận sự:

Vũ trụ giai ngô phận sự (Nợ tang bồng - Nguyễn Công Trứ).

Hành dĩ đãn cầu ngô phận sự (Hương thí vị triệt cức…  - Phan Thúc Trực).

Và còn nữa: Người xưa có câu: Quân tử hòa nhi bất đồng. Hòa là lý tưởng, bất đồng là cá tính. Các cụ quả là những người quân tử.

Chú thích

(1). Trong bài báo này, chúng tôi xin được viết: cụ Phan, tức là cụ Phan Thúc Trực. Cụ Nguyễn, tức là cụ Nguyễn Công Trứ.

(2). Sách Thơ Nguyễn Công Trứ, tác phẩm văn học dành cho học sinh tham khảo - NXB Đồng Nai ghi đầu đề là Nhà thờ thất hỏa.

(3). Quốc sử di biên - Phan Thúc Trực

(4). Quốc sử di biên - Phan Thúc Trực

(5). Quốc sử di biên - Phan Thúc Trực

(6). Quốc sử di biên - Phan Thúc Trực

(7). Một số bản phiên âm ở các sách viết về Nguyễn Công Trứ, câu 7 và câu 8 ghi là: Tự tàm tiễn liệt hào vô trạng, Quái sát Hồng Sơn hữu thị phi.

(8). Hào phóng: từ của vua Minh Mạng nói Nguyễn Công Trứ ghi trong Quốc sử di biên

(9). Sách Quốc sử di biên - Phan Thúc Trực, chương Quý Tị, năm thứ 14 (1833).

 

Trương Công Anh

 Bài "Chủ tịch Hồ Chí Minh với đội ngũ trí thức trong cách mạng tháng 8, năm 1945 và kháng chiến chống Pháp" của tác giả Hà Đăng được đăng ở Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An số 8/2018 (từ trang 7 đến trang 13). Tôi đã để dành thời gian đặc biệt là đã để tâm đọc bài này. Đọc qua một lần thấy băn khoăn. Đọc lại vài lần càng thấy băn khoăn. Xin được giải bày mấy điều băn khoăn sau đây

1. Băn khoăn bao trùm là: sau phần mở đầu, tác giả trình bày 5 tiểu mục (từ 1 đến 5) in chữ "đậm". Bốn tiểu mục: từ 1 đến 4 là chính kiến của tác giả, xen vào giữa các lý giải cho chính kiến ấy, tác giả nêu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có tư tưởng thế nào với đội ngũ tri thức và nghệ thuật dùng người trí thức ra làm sao. Toàn bộ bài viết chỉ có 2 đoạn ngắn sau đây là nói về "Chủ tịch Hồ Chí Minh với đội ngũ trí thức…".

- "Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi tập hợp lực lượng, đặc biệt là tập hợp đội ngũ trí thức làm cách mạng đã xem tinh thần dân tộc là mẫu số chung, là sợi dây chủ đạo để liên kết các tầng lớp xã hội và tập hợp trí thức" (trang 8, cột 2).

- "Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đội ngũ trí thức trong Cách mạng tháng 8 - 1945 và kháng chiến chống Pháp là trân trọng tài năng, giao việc đúng tài và đúng người, bỏ qua thành phần xuất thân hay nguồn gốc tư tưởng" (trang 9, cột 2).

Còn lại là những chính kiến, những nhận xét, đánh giá… của tác giả về vấn đề trí thức, về quan điểm, thái độ, việc làm của Đảng, Chính phủ đối với trí thức trong 50 năm về sau. Phải chăng tác giả đã "mượn" đầu đề bài viết để nói chính kiến của mình? Nhận định của mình?

2. Có không ít những chính kiến, đánh giá, nhận định… của tác giả thể hiện trong bài viết hẳn cần được cân nhắc, cần được xem xét lại:

a, "Trí thức là tầng lớp tiêu biểu cho tinh thần dân tộc" (điều này đúng)? Nhưng ... "và họ chính là lực lượng lãnh đạo trong các cuộc đấu tranh" điều này liệu có đúng? (trang 8, cột 2).

b, "Hay nói cách khác, sợi dây tinh thần dân tộc của giới trí thức đã bị cắt rời sau hàng chục năm và vẫn chưa có thể kết nối lại được như thời đại Hồ Chí Minh đã làm được từ ngày đầu lập quốc" (trang 9 cột 1). Có thật tinh thần dân tộc của giới trí thức bị cắt rời?

c, "… ở nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề, nhà nước vẫn chỉ xem trí thức như những đồ trang sức để trình bày… hơn là sử dụng trí tuệ của họ" (trang 10, cột 2). Viết vậy, đã thực sự cầu thị? Liệu đã dựa trên những cứ liệu khách quan?

d, "Nói đến trí thức cũng là nói về tư tưởng…" (trang 10, cột 2). "Nhưng góc độ nào đó, tư tưởng vẫn là một lĩnh vực độc quyền của Đảng nên việc xây dựng, tập hợp đội ngũ trí thức lại trở nên khó khăn hơn"… "Muốn xây dựng nền tư tưởng như vậy thì cần phải công nhận vai trò lãnh đạo của đội ngũ tri thức…"… "Để làm được điều đó, cần trả lĩnh vực tư tưởng lại cho giới trí thức…" (trang 11, cột 2).

Xin được mạo muội bàn thêm một chút. Mỗi con người cụ thể, mọi giới cụ thể… đều có tư tưởng cụ thể không riêng gì giới trí thức, người trí thức mới có "vấn đề tư tưởng". Tự do tư tưởng không chỉ là đòi hỏi riêng của giới trí thức mà là đòi hỏi tất yếu của thời đại của xã hội. Đảng có thể độc quyền lãnh đạo - với Đảng ta, điều gọi là "độc quyền lãnh đạo" được lịch sử dân tộc giao phó. Đảng có thể độc quyền nắm chính quyền. Đảng không thể san sẻ quyền lực nhà nước cho bất cứ lực lượng nào. Vì có nắm được chính quyền mới có điều kiện tiên quyết, mới có công cụ quyền lực nhà nước để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, chế độ mới. Nhưng về tư tưởng thì Đảng có muốn độc quyền cũng không thể độc quyền được. Bởi thế điều ông viết: "Cần trả lĩnh vực tư tưởng lại cho giới trí thức…" xem ra không thật sự "chuẩn" cả về lý luận lẫn thực tiễn.

Còn nói về "vai trò lãnh đạo" thì lịch sử nhân loại từ chế độ chiếm hữu nô lệ… đến nay, giới trí thức hay đội ngũ trí thức tầng lớp trí thức chưa bao giờ có địa vị lãnh đạo, vai trò lãnh đạo dù ở bất cứ lĩnh vực nào kể cả lĩnh vực tư tưởng. Cái "lý" là vậy, và cái "sự" cũng là vậy.

e, Tác giả lại viết "Giới quyền lực vừa muốn sử dụng trí tuệ của giới trí thức trong các lĩnh vực nhất định, vừa sợ không đủ sức quản lý để giữ quyền lực của mình. Điều đó tạo nên một sự nửa vời trong đường lối chính sách đối với giới trí thức trong phát triển xã hội" (trang 12, cột 2). Khách quan và nghiêm túc, Đảng và Nhà nước ta (mà tác giả gọi là giới quyền lực) đã thừa nhận thời gian qua có những khuyết điểm, sai phạm có việc có khi nghiêm trọng trong phát hiện, đào tạo, sử dụng… bồi dưỡng, đãi ngộ nhân tài (trong đó có trí thức) thể hiện rõ nhất ở công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước. Nhưng, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với giới trí thức mấy chục năm qua vẫn kiên định vẫn nhất quán. Tuyệt nhiên không có bất cứ sự nửa vời nào. Xin tác giả suy ngẫm lại nhận định này của mình.

Đảng và Nhà nước ta, từ sau "Đổi mới" đến nay, với vai trò trách nhiệm của một Đảng lãnh đạo - Đảng cầm quyền đã đưa đất nước lên một vị thế mới. Cùng với đó, Đảng và Nhà nước cũng có những vấp váp, sai phạm, khuyết điểm ở lĩnh vực nào đó, ở phạm vi nào đó, ở mức độ nào đó.

Chúng ta bất kỳ ai đều có quyền và có trách nhiệm chỉ ra những "khuyết tật" đang có trong Đảng và trong Nhà nước ta (mà tác giả gọi chung là giới quyền lực). Nhưng hẳn phải thật sự cầu thị, phải với tinh thần khách quan, khoa học để nhìn nhận, đánh giá những "khuyết tật" ấy (thậm chí cả "bệnh" nữa). Cảm tính, chủ quan, vội vàng khái quát những "khuyết tật" ấy, e rằng khó mà tránh khỏi những điều băn khoăn.

 

 

Trần Văn Dũng - Huỳnh Ngọc Quốc

 

Quảng Nam dưới thời triều Nguyễn nổi lên là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi sản sinh ra các bậc chí sĩ yêu nước kiệt xuất như Phan Châu Trinh, Trần Cao Vân, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Khoáng,… là xứ có truyền thống cần cù, hiếu học được người đời xướng tên "Ngũ phụng tề phi"(1). Để có được những thành quả, danh trạng như vậy cơ yếu vẫn là sự nỗ lực, cố gắng vươn lên của các bậc hiền tài, nhưng cũng phải kể đến những bậc hiền triết, những người đã có công đưa đò, dạy dỗ, vun trồng, dẫn lối họ đến bến bờ của thành công. Người mà chúng tôi muốn nói đến ở đây là Tiến sĩ Trần Đình Phong. Trần Đình Phong tuy không sinh ra tại Quảng Nam nhưng sự nghiệp, công danh, cống hiến của ông gắn liền với vùng đất xứ Quảng. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của Tiến sĩ Trần Đình Phong, đặc biệt là những đóng góp to lớn cho giáo dục, khoa bảng tại Quảng Nam trong thời gian ông được cử làm Đốc học tại đây.

Vài nét về quê hương, gia thế của Tiến sĩ Trần Đình Phong

Trần Đình Phong, tự là Úy Khanh, hiệu Mã Sơn, sinh năm Quý Mão (1843) tại làng Yên Mã, tổng Quy Trạch, huyện Yên Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; nay thuộc xã Mã Thành, huyên Yên Thành, tỉnh Nghệ An(2). Thuở nhỏ ông được gia phụ gọi tên là Nho Bằng, với khí chất khỏe mạnh, thông minh cộng với bản tính hiền lành nên Trần Đình Phong rất được lòng người dân thôn xóm. Khi đến tuổi đi học, ông được nhà nho Bùi Huy Chân nổi tiếng là người đức độ nhận dạy. Với bản chất cần cù, sáng dạ, ông học đâu hiểu đó nên rất được bạn đồng môn kính nể, được thầy tin yêu.

Huyện Yên Thành, nơi Trần Đình Phong sinh ra và lớn lên được biết đến là vùng đất học nổi tiếng ở Nghệ An. Trong đó, người mở đầu cho truyền thống khoa bảng tại đây và cả xứ Nghệ là Trạng nguyên Bạch Liêu tại khoa thi Bính Dần năm Thiệu Long thứ chín (1226) đời vua Trần Thánh Tông. Từ đó về sau, theo các tài liệu đăng khoa lục thì huyện Yên Thành có 22 vị đỗ đại khoa, trong đó có 4 vị Trạng nguyên (cả Nghệ An có 6 vị Trạng nguyên), 3 vị Thám hoa, 3 vị Hoàng giáp, 7 vị Tiến sĩ, 4 vị Phó bảng. Tổng Quy Trạch có 4 Trạng nguyên, 2 Hoàng giáp, 4 Tiến sĩ, 20 Cử nhân, 192 Tú tài(3). Truyền thống hiếu học, khổ học và học giỏi của nhân dân huyện Yên Thành được nuôi dưỡng và phát huy suốt chiều dài lịch sử. Tiếp bước truyền thống học hành đỗ đạt của những danh sĩ cùng quê, Trần Đình Phong tự biết, chỉ có ý chí cố gắng, nỗ lực của bản thân mới có thể tiếp bước những danh trạng mà các bậc tiền bối đi trước đã hiển danh, làm rạng rỡ cho quê hương, dòng tộc. Chính động lực đó đã giúp ông không ngừng phấn đấu, chuyên tâm dùi mài kinh sử, với quyết tâm một ngày sẽ công thành danh toại, xứng đáng với sự tin tưởng, kỳ vọng của gia đình, thầy giáo và bạn bè đồng môn.

Sự nghiệp

Con đường học hành, khoa bảng

Trần Đình Phong là người thông minh, sáng dạ, học hành nhanh trí. Những bài giảng từ trên lớp được ông tiếp thu và học thuộc rất nhanh, đặc biệt, ông còn biết và làm thơ rất hay, cùng với cung cách sống có đạo, có nghĩa nên thầy giáo bạn bè hết mực quý trọng, tin tưởng. Trải qua nhiều năm tháng khổ học, sự nỗ lực, cố gắng của ông được đền đáp xứng đáng khi vào khoa thi Hương năm Tự Đức 21 (1868), ông thi đỗ Tú tài, khi đó mới 25 tuổi. Cứ tưởng đó chính là động lực cho sự tiếp nối những thành công ở các khoa thi tiếp theo. Tuy nhiên, ông lại thiếu một ít may mắn để làm được điều đó. Tại kỳ thi tiếp theo năm 1870, Trần Đình Phong không thể đỗ đạt cao hơn mà chỉ dừng lại ở mức đậu tú tài, vì nguyên cớ đó mà mọi người gọi ông là "Kép Bằng".

Tuy vậy, với ý chí kiên cường, "thất bại mà không nản", Trần Đình Phong tiếp tục dùi mài kinh sử, chuyên tâm học hành, khắc phục những hạn chế còn thiếu sót ở hai lần thi Hương trước đó, làm kinh nghiệm cho đợt thi tiếp theo được chắc chắn. Quả ngọt cho sự cố gắng, cần cù cuối cùng cũng tới, tại khoa thi năm Bính Tý, triều vua Tự Đức thứ 29 (1876), ông thi đỗ Cử nhân (cùng khoa với Phan Đình Phùng, Cao Xuân Dục); năm Kỷ Mão, triều Tự Đức thứ 32 (1879), triều đình mở ân khoa, ông tiếp tục thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân (cùng khoa với Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Đôn Tiết, Đỗ Huy Liệu)(4). Năm đó ông đã 36 tuổi, cái tuổi mà những tinh hoa tri thức đều được ông lĩnh hội một cách uyên bác. Để rồi, bằng sự cố gắng không ngừng nghỉ, lòng hiếu thảo với gia đình, hiếu đạo với người thầy, cùng lòng tự tôn của người con được sinh ra tại vùng đất học lâu đời, Trần Đình Phong đã đạt được công danh mà biết bao sĩ tử phải mơ ước. Qua đó, làm rạng rỡ cho quê hương, dòng tộc và gia đình.

Con đường hoạn lộ của Tiến sĩ Trần Đình Phong

Sau khi đỗ Tiến sĩ xuất thân, Trần Đình Phong được triều đình phong Hàn Lâm Sơ Phụ, đảm nhận trọng trách biên tu lịch lý ở Viện Hàn lâm. Bằng sự mẫn cán và tinh tế của bản thân, ông luôn hoàn thành tốt những công việc được giao phó. Một thời gian sau, Trần Đình Phong tiếp tục được tin tưởng, bổ nhiệm làm Tri phủ Thọ Xuân (Thanh Hóa), kiêm Lý cả huyện Bình Giang (nhân dân thời đó hay gọi ông là lưỡng phủ tri phủ). Với tấm lòng nhân đức, thương dân, chí công vô tư, cùng với cương vị đứng đầu hai phủ, ông ra sức bỏ tâm huyết của mình để giúp dân sản xuất, làm ăn, an cư lạc nghiệp, được nhân dân hết lòng tin yêu, kính trọng.

Năm 1885, nhận được tin mẹ mất tại quê nhà, Trần Đình Phong xin phép về quê chịu tang. Những ngày ở tại quê hương, ông chiêm nghiệm lại cuộc đời, thế sự, tương lai của bản thân và đưa ra quyết định thôi quan, tránh xa chốn quan trường đầy ải những thị phi, phức tạp. Ông ở lại quê nhà, thực hiện mong ước của mình bằng con đường dạy học. Trong thời gian này, kinh đô Huế thất thủ trước sức mạnh của thực dân Pháp, vua Hàm Nghi được Thượng thư bộ Binh Tôn Thất Thuyết đưa lên căn cứ Tân Sở (Quảng Trị) để tiếp tục kháng chiến. Tại đây, Tôn Thất Thuyết thay mặt vua ra chiếu Cần vương, từ đó nhân dân khắp nơi nổi dậy hưởng ứng chống Pháp. Tại quê nhà, Trần Đình Phong cũng tích cực tham gia nghĩa quân của cụ Nghè Nguyễn Xuân Ôn. Ngoài ra, ông còn động viên con cháu, họ tộc cùng nhân dân thôn xóm cùng hợp nhất chí nguyện đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược.

Tuy vậy, sau khi mãn tang, Trần Đình Phong tiếp tục được triều đình bổ nhiệm làm quan, chuyên trách giữ chức Đốc học tỉnh Quảng Ngãi(5). Năm Tân Mão (1891) được vua Thành Thái cử làm Giám khảo khoa thi Hương ở Hà Nam. Sau đó, tái bổ Tri phủ Thọ Xuân (Thanh Hóa). Đến năm Mậu Tuất (1893) vua Thành Thái xuống chỉ thăng ông làm Đốc học tỉnh Quảng Nam. Trong thời gian làm việc tại đây, ông đã góp không ít công sức cho nền giáo dục, khoa bảng của vùng đất xứ Quảng. Với những công lao đóng góp, năm 1894, ông được thăng Thị giảng học sĩ, phong Quang Lộc tự thiếu khanh, làm giám khảo khoa thi Hương ở Thừa Thiên(6).

Năm Canh Tý (1900) Trần Đình phong được cử là Phó Chủ khảo kỳ thi Hương tại Thanh Hoá, với cương vị đó Trần Đình Phong đã đề nghị triều đình cử cụ Nguyễn Sinh Sắc, cha của Nguyễn Sinh Cung (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) sung vào bộ phận sơ khảo, lúc này Nguyễn Sinh Sắc đang học Quốc Tử Giám. Năm Tân Sửu (1901), Nguyễn Sinh Sắc dự kì thi Hội, kết quả không đạt để vào thi Đình nhưng Trần Đình Phong (lúc này giữ chức duyệt quyển kì thi) đã can thiệp và cho đặc cách vào thi Đình và đậu Phó bảng(7).

Năm Ất Tỵ (1905), Trần Đình Phong được thăng Tế tửu Quốc Tử Giám (Hiệu trưởng Trường Quốc học Huế), ông giữ chức vụ này cho đến năm Mậu Thân (1908) dưới triều Duy Tân. Sau đó, ông được bổ làm Biên Tu Quốc sử và làm việc tại đây cho đến cuối đời.

Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Đình Phong để lại cho đời nhiều áng thơ, văn, cũng như các công trình sử học. Trong đó, đáng kể nhất là "Quốc triều chánh biên toát yếu" và "Quảng Nam tỉnh phú". Quốc triều chánh biên toát yếu do ông biên soạn. Sách gồm 7 quyển, soạn vào năm Duy Tân thứ hai (Năm Mậu Thân, 1908), do Cao Xuân Dục làm Tổng tài, Đặng Văn Thụy, Lê Hoàn hiệu đính.

Đây là bộ sử lược, rút gọn từ bộ Đại Nam Thực lục Tiền biênChánh biên của Quốc sử quán triều Nguyễn. Sách tóm tắt các sự kiện lịch sử để người đọc có một khái niệm giản yếu về các biến cố lịch sử xảy ra suốt chiều dài lịch sử mà không nghiên cứu, phân tách, phê phán hoặc bình luận các sự kiện đó. Chính vì vậy mà nhan đề bộ sử có một cái tên khiêm nhường: Quốc triều chánh biên toát yếu. Sách này được dịch ra Quốc ngữ vào năm 1924, in và phát hành cho các trường học ở Trung kỳ và Bắc kỳ làm sách giáo khoa để học(8).

Bên cạnh đó, ông còn để lại nhiều cuốn sách có giá trị, đó là: Trần tộc thế phả; Quỳ Trạch Đăng khoa lục (cuốn sách đã ghi chép những người thi đỗ từ bậc hiếu sinh trở lên, phần viết kĩ nhất là những người đỗ thi Hương, thi Hội và thi Đình (tức Hương khoa và Đại khoa); "Thanh Khê xã chí" (sách viết về duyên cách địa lý, đặc điểm núi sông, đồn điền, con người, phong tục, tập quán dân cày cấy và cho kiểm tra thường xuyên việc thu các thứ thuế, đinh điền, không cho bọn chức trách làm loạn nên dân chúng nơi nơi đều nghe tiếng biết ơn Trần Đình Phong).

Có thể thấy rằng, chính sự mẫn cán, cần cù, tâm huyết, mà Trần Đình Phong liên tục được các đời vua từ Tự Đức đến Duy Tân tin tưởng, bổ nhiệm vào các vị trí khác nhau và mang chức vị ngày càng cao. Dù ở cương vị nào, ông cũng dốc lòng đem tâm sức, trí tuệ, đức độ của bản thân để phục vụ tận lòng cho nhân dân, đất nước.

Đốc học Trần Đình Phong với sự nghiệp giáo dục, khoa bảng ở Quảng Nam

Tiến sĩ Trần Đình Phong là một người rất tâm huyết với giáo dục, vì thế, sau khi nhận chức Đốc học Quảng Nam năm 1893, ông đã ra sức dùng tâm, dùng đức độ của mình để trực tiếp dạy dỗ, khuyến khích sĩ tử xứ Quảng chuyên tâm học hành, tu dưỡng đạo đức, để có ngày công thành danh toại, đứng ra giúp đời giúp nước.

Tác phẩm "Quảng Nam tỉnh phú" được Trần Đình Phong sáng tác trong thời gian được cử làm Đốc học tại đây đã khái quát một cách tổng thể nhất về vùng đất, con người cũng như danh trạng, khoa bảng của các sĩ tử xứ Quảng:

"Quảng Nam, phía tả kinh kỳ, phần sao Thuần, Vĩ

Phủ hai, huyện sáu, tổng bốn mươi lăm;

Xã một nghìn dư, đinh năm vạn lẻ,

Ruộng đất hơn ba muôn mẫu,

Tô thuế đến năm vạn linh.

Trải xem non cao thủy thanh, thấy rõ hùng châu danh thắng.

Mới biết địa linh nhân kiệt, nảy sinh anh tuấn khác thường.

Nam cung ứng tuyển; nhạn tháp đề danh

Xuân thí khôi khoa, vân trình thẳng bước

Hoặc bà con một họ, tiến sĩ phó bảng ghi tên

Hoặc dòng dõi một nhà, khoa trước khoa sau đều đỗ

Khoa trường đã thịnh,

Hoạn lộ càng hanh".

Có thể thấy rằng, bài phú đã thể hiện tri thức uyên thâm, tài quan sát tinh tế và bao trùm lên tất cả là tình cảm thắm thiết của Trần Đình Phong đối với vùng đất ông gọi là "địa linh nhân kiệt". Quảng Nam được ông miêu tả là một tỉnh rộng lớn, người đông, nơi đây có nhiều danh lam, thắng cảnh, sông nước hữu tình. Đặc biệt, Trần Đình Phong còn ngợi khen xứ Quảng là vùng đất hiếu học, có nhiều người học giỏi, đỗ đạt cao: "khoa trường đã thịnh, hoạn lộ càng hanh". Ngoài yếu tố văn, thơ, "Quảng Nam tỉnh phú" còn được xem là nguồn tư liệu lịch sử có giá trị tham khảo khá cao.

Với tư cách là Đốc học Quảng Nam, Trần Đình Phong trực tiếp quản lý, chỉnh đốn lại trường học tại Thanh Chiêm, sắp xếp đội ngũ thầy giáo, chú ý chọn những người thầy có tài đức để giảng dạy cho sĩ tử. Bên cạnh đó, ông còn đi nhiều nơi, tuyển chọn các học sinh xuất sắc cho vào học trường tỉnh. Đặc biệt, trường hợp của Trần Quý Cáp (lúc nhỏ tên là Trần Nghị).

Trần Nghị là một người tư chất thông minh, học giỏi. Vì gia đình nghèo khó nên không có sách vở để học. Nhờ ở gần nhà Phụ đạo Nguyễn Thành Ý, Trần Nghị lại chơi rất thân với con của ông nên thường lui tới đây để mượn sách về học. Đến năm 20 tuổi, Trần Nghị đã nổi tiếng giỏi văn chương, được bạn bè đồng môn kính nể. Năm 1895, Đốc học Trần Đình Phong nghe tiếng liền đến khảo sát và tuyển ông vào trường Thanh Chiêm, cấp lương ăn học và cho phép đổi tên thành Trần Quý Cáp. Năm 1904, ông được đặc cách cho thi Hội rồi thi Đình, tại khoa thi năm Giáp Thìn, ông đỗ Tiến sĩ, cùng khoa với Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Văn Thụy.

Ngoài trông coi việc học của tỉnh, quan Đốc học còn mở các lớp giảng tập, giảng giải về những điều cao siêu trong kinh sách mà những môn sinh xuất sắc nêu ra. Vào các ngày mồng 3, mồng 9, 17, 25 mỗi tháng, quan Đốc học thường ra đề bài để học sinh mang về nhà làm, đến hạn nộp lại (gọi là văn kỳ) hoặc làm ngay tại trường với hạn thời gian trong vòng một ngày (gọi là văn nhật khắc). Sau khi tổng hợp đủ số lượng và chấm bài, quan Đốc học tập trung sĩ tử lại để nhận xét, chọn ra những áng văn hay để bình giảng, khích lệ tinh thần cố gắng học hành của các nho sinh.

Những năm tháng làm Đốc học tại Quảng Nam, bằng chính sự tâm huyết, hết lòng vì giáo dục, đào tạo người tài mà Trần Đình Phong luôn cố gắng vun trồng, bồi đắp, đã giúp cho nơi đây sánh ngang với những vùng đất học có truyền thống lâu đời trên cả nước. Điều đó đã được thể hiện khi trong thời gian này, một loạt sĩ tử được ông nuôi chí, dạy dỗ đã đỗ đạt rất cao, nổi bật là: Nguyễn Đình Hiến, Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng(9)

Tại khoa thi Hương năm Canh Tý (1900) Thành Thái 12, ở trường thi Thừa Thiên, sĩ tử Quảng Nam đỗ cử nhân chiếm tỷ lệ cao nhất so với các tỉnh (15/32 vị) và từ thủ khoa đến vị trí thứ 9 đều là học trò xứ Quảng: Trong đó có Huỳnh Thúc Kháng đỗ Giải Nguyên, Nguyễn Đình Hiến đỗ Á Nguyên, ngoài ra còn có Phan Châu Trinh, Lê Bá Trình cùng đỗ ở các vị trí tiếp theo. Một năm sau, tại khoa thi Đình năm Tân Sửu 1901, Thành Thái 13, Quảng Nam có 4 người đỗ Phó bảng là Nguyễn Đình Hiến, Võ Vỹ, Nguyễn Mậu Hán, Phan Châu Trinh. Bốn vị này được người đời tặng cho danh hiệu "Quảng Nam tứ kiệt".

Ba năm sau, khoa thi Giáp Thìn (1904), sĩ tử Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng cùng đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Ngoài ra, Huỳnh Thúc Kháng còn được người đời gọi là ông Nghè Song nguyên bởi ông từng đỗ Giải Nguyên (đỗ đầu kỳ thi Hương năm 1900) và đỗ Hội Nguyên (đỗ đầu kỳ thi Hội) khoa Giáp Thìn (1904).

Bên cạnh đó, nhiều sĩ tử không chỉ đỗ ở hàng trung khoa (Cử nhân) mà còn rất nhiều người đỗ ở hàng tiểu khoa (Tú tài). Những thành quả đó không chỉ tự nhiên có được mà phải trải qua một quá trình lâu dài tự thân học tập của các sĩ tử. Ngoài ra, chính những người thầy mà ở đây là Đốc học Trần Đình Phong đã có công tìm kiếm, tạo điều kiện, hết lòng chăm lo dạy dỗ để những tài năng đó được phát triển một cách tốt nhất.

Trần Đình Phong là một người thầy đức độ, yêu nước. Bên cạnh thời gian dạy học, truyền bá tri thức cho môn sinh, ông còn truyền đạt cho môn đồ của mình tấm lòng kiên trung, tinh thần xả thân cứu nước. Các sĩ tử như Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh,… chính là những học trò xuất sắc nhất của ông.

Phan Châu Trinh là lãnh tụ phong trào Duy Tân, với chủ trương khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh được xem là người có tư tưởng dân chủ sớm nhất trong số các nhà nho yêu nước tiến bộ thời đó. Phong trào đã có nhiều hoạt động sôi nổi đồng bộ như mở trường tân học, tổ chức diễn thuyết, lập hội buôn, nông hội… được quần chúng nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng và đấu tranh đã làm cho thực dân Pháp vô cùng lo sợ. Đỉnh điểm của phong trào Duy Tân vào năm 1908, nhân dân biểu tình xin sưu, chống thuế, nổi lên ở Quảng Nam sau đó lan nhanh ra các tỉnh miền Trung, thực dân Pháp biết được, ra tay khủng bố đẫm máu rồi nhanh chóng dập tắt phong trào, Phan Châu Trinh bị bắt đầy ra giam giữ ở Côn Đảo. Thời gian sau, ông được thả và tiếp tục con đường hoạt động yêu nước cho đến cuối đời.

Huỳnh Thúc Kháng là một chí sĩ yêu nước kiệt xuất được nhân dân gọi với cái tên thân thương là "cụ Huỳnh", ông cùng Trần Quý Cáp, Phan Bội Châu là một trong những lãnh tụ của phong trào Duy Tân. Năm 1908, ông bị bắt và đi đầy ở Côn Đảo, 13 năm sau mới được trả tự do. Năm 1926, ông được bầu làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung kỳ. Sau đó, vì chống lại Khâm sứ Pháp nên ông từ chức. Năm 1927, ông sáng lập tờ báo Tiếng Dân, và hoạt động đến năm 1943 thì bị đình bảng. Với tài năng, lòng yêu nước cùng với uy tín của mình, sau Cách mạng tháng Tám, Huỳnh Thúc Kháng được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời tham gia chính phủ Liên hiệp và từng giữ chức Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dù ở cương vị nào, ông cũng cần mẫn làm việc chăm chỉ, hết lòng phụng sự cho tổ quốc, cho nhân dân.

Đốc học Trần Đình Phong không chỉ để lại cho đời những học trò tài đức vẹn toàn, mà còn đào tạo những người con nối chí cha làm rạng danh gia phong cốt cách. Ông có mười bốn người con (5 gái, 9 trai), đều là những người thông minh, học hành tử tế. Trong đó, con đầu là Trần Đình Doãn đỗ Cử nhân khoa Canh Tý (1900). Thứ hai và thứ ba là hai tú tài Trần Đình Duyên và Trần Đình Quản. Người con thứ tư là Trần Đình Diệm từng trúng cử Đại biểu Trung kỳ năm 1926. Trần Đình Phiên là người con thứ năm từng làm phụ tá cụ Huỳnh Thúc Kháng, quản lý Báo Tiếng Dân trong suốt 16 năm. Ông Phiên cũng là một trong hai giáo viên chính ở Trường Dục Thanh, được xây dựng ở Phan Thiết năm 1907 (cùng năm xây dựng với trường Đông Kinh Nghĩa Thục). Thứ sáu là Trần Đình Quán, được xem là nghệ sĩ nhiếp ảnh đầu tiên ở Nghệ An.

Trần Đình Nam là người con thứ tám, sinh năm Ất Mùi (1896) tại tỉnh Quảng Nam. Từng là bạn học của Nguyễn Tất Thành thời còn học ở Huế. Ông học và tốt nghiệp Trường y sĩ Đông Dương ở Hà Nội. Sau đó, ông về làm việc ở bệnh viện Phan Thiết, Huế và tham phong trào yêu nước ở các tỉnh miền Trung. Ông từng giữ chức Thị trưởng Thành phố Đà Nẵng trong thời gian ngắn những năm 40. Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 09/3/1996, Trần Đình Nam được mời giữ chức Bộ trưởng Nội vụ của Chính phủ Trần Trọng Kim cho đến tháng 8 năm 1945. Thời kháng chiến chống Pháp, ông tham gia lực lượng kháng chiến và làm bác sĩ tại Bệnh viện dân y tỉnh Quảng Nam. Sau hiệp định Genève 1954, ông ở lại miền Nam và sống tại Đà Nẵng. Năm 1967, ông từ chối tham gia liên minh với ông Trần Văn Hương ứng cử vào chức vụ Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Ngoài công việc của một bác sĩ, Trần Đình Nam còn viết nhiều sách y học, sách khoa học tự nhiên và xã hội. Ông qua đời năm 1974, thọ 78 tuổi và được chôn cất tại Đà Nẵng(10).

Sự tài giỏi, lòng nhiệt huyết và tinh thần yêu nước từ những người con là thành quả của sự dạy dỗ đúng cách của Tiến sĩ Trần Đình Phong. Không chỉ đơn giản dạy dỗ về mặt chữ nghĩa, văn chương, ông còn thổi hồn vào đó tinh thần yêu nước, thương dân. Chính vì môi trường từ nhỏ được nuôi dưỡng bởi bàn tay đức độ từ cha mình mà những người con như Trần Đình Nam, Trần Đình Phiên đã hình thành cho mình cốt cách sống riêng,… nhưng đọng lại và hội tụ đầy đủ nhất vẫn là tình yêu quê hương, đất nước, dân tộc.

Thay lời kết

Sinh ra và lớn lên ở Nghệ An, một vùng đất học nổi tiếng của cả nước phần nào đã giúp Trần Đình Phong hình thành nên trong mình cốt cách của một nhân sĩ tài giỏi và đức độ. Bằng sự mẫn cán và thông minh, Trần Đình Phong liên tục kinh qua các chức vụ khác nhau từ thấp đến cao, và dù cương vị nào ông cũng hoàn thành tốt các công việc được giao phó, được triều đình tin tưởng, nhân dân kính trọng. Đặc biệt, trên cương vị là Đốc học Quảng Nam, Trần Đình Phong đã đóng góp rất nhiều công sức cho nền giáo dục, khoa bảng tại đây. Ông là người tuyển chọn từ thầy dạy học, hay đến nhiều nơi để chọn những môn sinh ưu tú. Ngoài ra, ông còn trực tiếp dạy dỗ, truyền thụ cho những môn đồ của mình những tinh hoa trí thức, phả vào đó những bài giảng khơi gợi tinh thần yêu nước, yêu dân tộc. Để rồi, rất nhiều học trò của ông sau này là những chí sĩ yêu nước, nhà cải cách kiệt xuất như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp,… Khi nhắc về người thầy của mình, các học trò ưu tú được Trần Đình Phong dạy dỗ thường kính cẩn gọi ông là "ân sư". Với cương vị là một người cha, ông luôn là tấm gương lớn để con cái noi theo và học tập, nhờ những lời dạy bảo từ cha mình, mà các con của ông sau này đều thành tài, đóng góp tinh thần, trí lực phục vụ đất nước.

Nghệ An là quê gốc của Tiến sĩ Trần Đình Phong và các con. Tuy nhiên, vùng đất Quảng Nam được xem là quê hương thứ hai của ông và gia đình, nơi mà sự nghiệp, cống hiến của ông đều gắn liền với vùng đất này. Chính tại nơi đây, ông đã đem hết tài năng, nhân cách của người trí thức xứ Nghệ góp phần khẳng định, nâng cao vị thế giáo dục, khoa bảng ở xứ Quảng. Những cống hiến lớn lao của ông là tiêu biểu cho mối quan hệ gắn bó truyền thống, lâu đời giữa người xứ Nghệ với người xứ Quảng trong quá trình lịch sử dân tộc.

 

Chú thích

1. Khoa thi năm Mậu Tuất 1898,  niên hiệu Thành Thái thứ X, triều đình Huế tuyển được 8 Tiến sĩ và 9 Phó bảng. Trong 17 vị này có 5 người quê ở Quảng Nam, gồm: Tiến sĩ Phạm Liệu, Tiến sĩ Phan Quang, Tiến sĩ Phạm Tuấn, Phó bảng Ngô Truân, Phó bảng Dương Hiển Tiến, đều là học trò của Tiến sĩ Trần Đình Phong. Chính sự đỗ đạt thành tài tại khoa thi này mà người đời tôn vinh là "ngũ phụng tề phi" nghĩa là "năm con phụng cùng bay".

2. Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân Quảng Nam tỉnh Quảng Nam, Thành ủy - Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng, "Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng", Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, năm 2010, Tr. 1614.

3. Hoa Lê, "5 vùng đất học nổi danh của Nghệ An" tại https://baomoi.com/5-vung-dat-hoc-noi-danh-cua-nghe-an/c/23976598.epi, ngày truy cập 19/9/2018.

4. Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân Quảng Nam tỉnh Quảng Nam, Thành ủy - Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng, "Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng", Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, năm 2010, Tr. 1615.

5. Châu Yếu Loan, "Đóng góp của một gia đình xứ Nghệ vào Văn hóa Quảng Nam - Đà Nẵng", tại http://www.vanhoanghean.com.vn/dat-va-nguoi-xu-nghe6/nguoi-xu-nghe43/dong-gop-cua-mot-gia-dinh-xu-nghe-vao-van-hoa-quang-nam-da-nang, ngày truy cập 19/9/2018.

6. Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân Quảng Nam tỉnh Quảng Nam, Thành ủy - Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng, "Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng", Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, năm 2010, Tr. 1615.7.

7. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam; Sở Văn hóa, Thể thao Thành phố Đà Nẵng, "Danh nhân Quảng Nam - Đà Nẵng thời trung - cận đại", tháng 10 năm 2017, Tr. 111.

8. Nguyễn Q. Thắng, "Quảng Nam Đất nước và nhân vật", tập 1, 2, Nxb Văn hóa Thông tin, Tr. 343.

9. Nguyễn Q. Thắng, "Quảng Nam Đất nước và nhân vật", tập 1, 2, Nxb Văn hóa Thông tin, tr 342.

10. Châu Yếu Loan, "Đóng góp của một gia đình xứ Nghệ vào Văn hóa Quảng Nam - Đà Nẵng", tại http://www.vanhoanghean.com.vn/dat-va-nguoi-xu-nghe6/nguoi-xu-nghe43/dong-gop-cua-mot-gia-dinh-xu-nghe-vao-van-hoa-

 

Phạm Xuân Cần

Danh nhân Tiến sỹ Trần Đình Phong (1843 - 1909) có tới mười mấy người con, tuyệt đại bộ phận là những người hoạt động chính trị xã hội nổi tiếng và thành đạt. Nhưng, ít ai biết rằng người con trai thứ sáu của cụ là Trần Đình Quán lại làm nghề nhiếp ảnh. Tuy nhiên, vượt lên trên khuôn khổ một người thợ ảnh, Trần Đình Quán đã trở thành một nghệ sỹ nhiếp ảnh đầu tiên, tài danh của xứ Nghệ, những tác phẩm của ông có giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật hết sức to lớn và sâu sắc. 

Lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam đã ghi nhận người đầu tiên đưa nhiếp ảnh vào nước ta là ông quan Đặng Huy Trứ, với hiệu ảnh Cảm Hiếu Đường, khai trương vào năm 1869 tại Hà Nội. Sau đó, đầu thế kỷ 20 có một nhân vật khác là ông Khánh Ký (tên thật là Nguyễn Văn Xuân) đã có công biến nhiếp ảnh thành một nghề và thậm chí còn xây dựng nên một "làng nghề nhiếp ảnh" độc đáo còn đến tận ngày nay, đó là làng Lai Xá (Hà Tây cũ).

Nghệ thuật nhiếp ảnh vào xứ Nghệ những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, với những bức ảnh đầu tiên của các nhà nhiếp ảnh Pháp, đặc biệt là P. Dieuleffils (với những bức như Người đàn bà hút thuốc, Thuyền trên Bến Thủy...).

Cho đến nay, qua những tài liệu thu thập được cho thấy người đầu tiên mở hiệu ảnh, hành nghề nhiếp ảnh chuyên nghiệp, đồng thời để lại những tác phẩm có giá trị lớn về nội dung và nghệ thuật ở Nghệ Tĩnh chính là Trần Đình Quán.

Trần Đình Quán sinh ra trong một gia đình nhà nho nổi tiếng và danh giá, bố ông là danh nhân, tiến sỹ Trần Đình Phong. Tiến sỹ Trần Đình Phong (1843-1909), đậu tiến sỹ khoa Kỷ Mão, năm Tự Đức thứ 32 (1879), từng giữ chức Đốc học Quảng Nam, Tế tửu Quốc tử giám triều Nguyễn.

Trần Đình Quán là con thứ sáu của Tiến sỹ Trần Đình Phong, nên thường được gọi là "Ấm Sáu". Tôi chưa tìm được tài liệu nào ghi năm sinh của Trần Đình Quán. Ngay cả phả hệ họ Trần Đình cũng không ghi, hồ sơ mật thám Pháp cũng không thể hiện. Tuy nhiên, nếu năm sinh của Trần Đình Phiên, người anh kế trên của Trần Đình Quán là 1883 và năm sinh của người em thứ tám (Trần Đình Nam) là 1896, thì ta có thể suy ra Trần Đình Quán sinh vào khoảng năm 1885 đến năm 1890. Gần đây, theo nhà giáo Trần Đình Lưu, một người trong họ cho biết thì Trần Đình Quán sinh năm 1885. Nếu đúng như vậy thì Trần Đình Quán sinh ra trong thời gian TS Trần Đình Phong về quê chịu tang mẹ.

Cũng không rõ lúc còn nhỏ ông sống ở quê hay ở Huế, chỉ biết theo hồ sơ của mật thám Pháp, năm 1927 ông học xong năm thứ ba ở trường Quốc học Huế. Không như những người anh hay em của mình, Trần Đình Quán về Vinh và mở hiệu ảnh.

Theo hồ sơ của mật thám Pháp (1927 -1935), Trần Đình Quán có vợ là Nguyễn Thị Sâm, con trai là Trần Đình Heros. Tuy nhiên, theo ông Trần Đình Lưu, nhà giáo về hưu ở xã Mã Thành, Trần Đình Quán có hai đời vợ và năm người con. Tên năm người con có ghi trên phả hệ của họ Trần Đình treo trong nhà thờ Trần Đình Phong (Tuy nhiên, trong sơ đồ này Trần Đình Heros được ghi là con của Trần Đình Phiên, có lẽ do nhầm lẫn). Nhưng, cũng theo ông Lưu, cho đến nay con cháu của Trần Đình Quán không còn ai ở trong nước. Một người con của ông là Trần Đình Nguyệt là một giáo viên rất giỏi ở Yên Thành, nhưng nay cũng đã mất. Theo nhà giáo, nhà thơ Huy Huyền, năm 1945 ông Huyền trọ học trong nhà Trần Đình Quán, khi đó ông Quán vẫn làm nghề nhiếp ảnh, cho đến tiêu thổ kháng chiến năm 1947 gia đình ông về quê, Mã Thành, Yên Thành. Theo ông Trần Đình Lưu trong cải cách ruộng đất vợ chồng Trần Đình Quán và người anh là Trần Đình Diệm về quê sinh sống. Gia đình ông sử dụng mười một mẫu ruộng do cụ Nghè để lại, nên bị quy là địa chủ, bị đấu tố. Một thời gian dài gia đình này bị coi là "tập đoàn phong kiến, địa chủ", bị định kiến rất nặng nề. Sau cải cách ruộng đất vợ chồng ông đi đâu không rõ, ngay cả chết ở đâu, mồ mả ở đâu, hiện nay họ hàng cũng không ai biết.

Chúng tôi cũng đã rất hy vọng sẽ tìm được một bức chân dung của Trần Đình Quán, nhưng ngay cả trong hồ sơ của mật thám Pháp cũng không có. Phải chăng câu châm ngôn "thợ đóng săng chết bó chiếu" đã vận vào người nghệ sỹ tài hoa nhưng số phận đầy nghiệt ngã này?

1. Hoạt động yêu nước và cách mạng

Cho đến nay hầu như không có tài liệu nào, hoặc truyền ngôn nào về hoạt động yêu nước và cách mạng của Trần Đình Quán, ngoài hồ sơ người bị địch bắt ở Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh và hồ sơ theo dõi của mật thám Pháp, hiện còn lưu trữ tại Cục Hồ sơ an ninh (Bộ Công an). Theo hồ sơ mang số hiệu 5736/C2 của Cục Hồ sơ An ninh, Trần Đình Quán (không rõ năm sinh), nguyên quán làng Yên Mã, tổng Quy Trạch, Yên Thành, Nghệ An. Bố là Trần Đình Phong giữ chức Tế tửu (Giám đốc) Quốc tử giám. Vợ là Nguyễn Thị Sâm, con là Trần Đình Heros. Theo một ghi chú trên hồ sơ này thì Trần Đình Quán đã từng bị bắt ở Vinh ngày 25/7/1921. Mật thám Pháp mở hồ sơ theo dõi Trần Đình Quán từ năm 1927 đến năm 1935. Theo hồ sơ này, từ những năm 1920, Trần Đình Quán cùng những người anh em ruột là Trần Đình Diệm, Trần Đình Nam, Trần Đình Phiên… đã hoạt động rất tích cực trong phong trào yêu nước do nhà yêu nước nhiệt thành Phan Bội Châu khởi xướng, (Trần Đình Diệm cũng được mật thám Pháp lập hồ sơ theo dõi). Trần Đình Quán là người tích cực tuyên truyền, quyên tiền và tuyển mộ người cho Cụ Phan. Năm 1928, ông trở thành người lãnh đạo công tác tuyên truyền của Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội ở Nghệ An. Từ năm 1927 đến 1935 hiệu ảnh của ông và bản thân ông thường xuyên bị mật thám Pháp theo dõi, mọi liên lạc và thư từ của ông đều bị kiểm soát. Mật thám Pháp cho rằng Hiệu ảnh của ông là nơi liên lạc và tụ tập của những người yêu nước ở Nghệ An, Hà Tĩnh… Trong những người liên hệ thư từ với ông có những người được mật thám Pháp ghi chú là "phần tử đặc biệt nguy hiểm".

Như vậy, có thể những biến thiên của lịch sử đã làm cho số phận mỗi người có nhiều thay đổi, nhưng không nghi ngờ gì nữa, gia đình cụ Trần Đình Phong là một gia đình yêu nước. Cụ và những người con ruột của mình, trong đó có Trần Đình Quán là những người yêu nước, tham gia hoạt động sôi nổi và có đóng góp đáng kể cho các phong trào yêu nước và cách mạng, nhất là ở các tỉnh Trung kỳ.

2. Nghệ sỹ nhiếp ảnh

Theo hồ sơ mật thám Pháp thì năm 1927 Trần Đình Quán mới từ Huế về Vinh mở hiệu ảnh. Thế nhưng, chúng tôi đã sưu tầm được một vài bức ảnh của Trần Đình Quán đã được in thành bưu thiếp từ năm 1925. Chưa kể, nếu bức chân dung TS Trần Đình Phong do Trần Đình Quán chụp thì có thể nói Trần Đình Quán đã hành nghề nhiếp ảnh từ rất sớm, trước năm 1919 (vì cụ Trần Đình Phong mất năm 1909). Và, có lẽ trước đó trong thời gian ở Huế ông đã học và hành nghề ảnh. Như vậy, sách "Nhiếp ảnh Nghệ An thế kỷ hai mươi" (NXB Nghệ An, 2003) ghi "mãi đến năm 1932 ông Trần Đình Quán (quê ở Yên Thành) mới mở hiệu ảnh đầu tiên ở phố Hoa kiều" là không chính xác. Một tài liệu khác cho rằng nghệ sỹ Quỳnh Sơn là người mở hiệu ảnh đầu tiên ở xứ Nghệ cũng không đúng, vì mãi đến năm 1936 ông Quỳnh Sơn mới mở hiệu ảnh ở Cầu Giát. Hồ sơ mật thám Pháp ghi Trần Đình Quán là "thợ ảnh" (photographe), trú ở số nhà 85 phố Marechal Foch (Phố Ga, nay là đường Quang Trung, thành phố Vinh), một đường phố trung tâm của Vinh ngày ấy cũng như hiện nay. 

Căn cứ trên dưới 60 bức ảnh đã xác minh chắc chắn của Trần Đình Quán, mà chúng tôi sưu tầm được, có thể thấy ông chụp khá nhiều lĩnh vực và đề tài khác nhau. Chúng tôi tạm thời chia ra thành năm mảng chính sau đây:

- Mảng ảnh thời sự, báo chí:

Ở mảng này không có nhiều tác phẩm, nhưng với những bức ảnh đã đăng báo, hoặc sử dụng trong các bộ lưu trữ cho thấy ông đã bám sát và phản ánh một số sự kiện chính trị, xã hội đương thời. Trong số đó có một số bức được đăng báo, như các bức ảnh phản ánh sự kiện Vua Bảo Đại thăm Nghệ An tháng 11/1932; sự kiện khánh thành Cầu Gang ở Nam Đàn năm 1934. Hoặc một số công trình thủy nông lớn của tỉnh thời kỳ đó cũng được ống kính của Trần Đình Quán ghi lại. Hoặc một số sự kiện thi đấu bóng đá ở Vinh đã được Trần Đình Quán chụp và đăng báo. Thậm chí một số sự kiện mang tính chất "khuyến nông" như ươm dừa ở Diễn Châu, ươm bưởi ở Anh Sơn cũng được ông ghi lại. Ảnh thuộc mảng này chưa sưu tầm được nhiều, nhưng có giá trị lịch sử quan trọng, cung cấp những bằng chứng sinh động khi nghiên cứu lịch sử địa phương và dân tộc trong giai đoạn này.

-  Mảng ảnh công trình kiến trúc, đô thị

Đây là mảng ảnh khá phong phú của Trần Đình Quán, chủ yếu ghi lại hình ảnh đô thị và các công trình kiến trúc đương thời ở khu vực Vinh - Bến Thủy, những năm 1920 - 1930. Ống kính của Trần Đình Quán đã cho chúng ta hình dung khá sinh động diện mạo đô thị Vinh thời kì đó. Những đường phố chính của Vinh như Marechal Foch (Đường Quang Trung hiện nay); Destenay (Trần Phú); Gia Long (Đặng Thái Thân); Ngã tư Chợ Vinh; những công trình kiến trúc như Dinh Công sứ, Bệnh viện, Bưu điện, Nhà Ga, công sở, trụ sở công ty… đều được phản ánh qua các tác phẩm của Trần Đình Quán.

Chính nhờ những bức ảnh chụp Vinh - Bến Thủy hồi đầu thế kỷ 20 của P. Dieuleffils, cùng với một số nhà nhiếp ảnh Pháp khác, cộng với những bức ảnh của Trần Đình Quán mà chúng ta ngày nay có thể hình dung được diện mạo đô thị Vinh - Bến Thủy suốt từ đầu thế kỷ đến những năm 1940. Giá trị lịch sử, văn hóa của những bức ảnh đó càng trở nên vô giá, khi thành phố Vinh hầu như đã bị tiêu hủy hoàn toàn qua chiến tranh, thiên tai và cả sự ấu trĩ, tả khuynh của con người.

- Mảng ảnh phong cảnh

Có thể Trần Đình Quán không có chủ ý về ảnh phong cảnh, nhưng trên con đường mưu sinh của một người hành nghề ảnh và trên con đường xê dịch của một nghệ sỹ, ông cũng đã thu vào ống kính của mình những phong cảnh đẹp, thơ mộng, hoặc hùng vĩ của quê hương, đất nước. Những bức ảnh về Bến Thủy, Cửa Lò, cảnh miền Tây xứ Nghệ, hay bức ảnh về một cây cầu trên đường 9 ở Quảng Trị đã cho thấy điều đó.

- Mảng ảnh chân dung, sinh hoạt

Với tư cách một người hành nghề nhiếp ảnh để mưu sinh chắc chắn đây là mảng ảnh chính của Trần Đình Quán. Thế nhưng, đây chính là mảng mà chúng tôi sưu tầm được ít ảnh nhất. Lí do đơn giản là những bức ảnh này chủ yếu nằm trong album gia đình, chứ không mấy bức được đưa ra bán, hoặc công khai hóa. Hiện nay, ngoài bức chân dung TS Trần Đình Phong, chúng tôi chỉ có một số bức ảnh chụp tập thể trong Dinh Công sứ. Trong tất cả những bức ảnh đó, Trần Đình Quán đã chụp được các nhân vật của mình trong trạng thái tự nhiên nhất, đây là việc rất khó trong chụp ảnh chân dung, nhất là trong những năm đầu nhiếp ảnh mới vào nước ta. Ngay bức ảnh chụp cụ Trần Đình Phong cũng cho thấy đây là một bức chân dung khác thường thời kì đó. Thay vì để cụ ngồi nghiêm ngắn, nhìn thẳng, hai tay để lên đầu gối như thường lệ chụp chân dung hồi đó, thì bức ảnh lại chụp cụ ở tư thế tự nhiên nhất, như vừa ăn cơm xong đang ngồi thư giãn, một chân co lên ghế, tay cầm quạt giấy để lên đầu gối rất tự nhiên. Rõ ràng đây không phải là bức chân dung do một thợ ảnh chụp, mà tác phẩm nghệ thuật của một nghệ sỹ nhiếp ảnh tài ba sáng tác.

Ngay việc Trần Đình Quán, mặc dù đang bị mật thám Pháp mở hồ sơ theo dõi, nhưng vẫn được Tòa Công sứ mời vào chụp ảnh các sự kiện ở đây, đã chứng tỏ tài năng và nhân cách của ông rất được tôn trọng.

- Mảng ảnh các di tích văn hóa, tín ngưỡng

Đây là mảng ảnh chứa đựng rất nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật của Trần Đình Quán. Hầu như các di tích lịch sử, các công trình văn hóa, tâm linh ở Vinh như Chùa Diệc, Thành Nghệ An, Văn Miếu, Võ Miếu, Thiên hậu phủ…đều được ống kính tài hoa của Trần Đình Quán ghi lại. Đó là chưa kể, trong Lời dẫn nhập cuốn "An Tĩnh cổ lục" (Le vieux An Tĩnh), Hippolyte Le Breton đã viết: "Những tấm ảnh về Nghệ An là của ông Trần Đình Quán, nhà nhiếp ảnh ở Vinh". Hippolyte Le Breton những năm 1924 - 1928 là hiệu trưởng Trường Quốc học Vinh (Colegé de Vinh), đồng thời là nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử kiệt xuất. Trong bốn năm ngắn ngủi ở Vinh ông đã cùng thầy trò Trường Quốc học Vinh đi điền giã khắp những nơi có di tích, danh thắng ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, lên đến tận bia Ma nhai ở Con Cuông. Không chỉ sử dụng ảnh của Trần Đình Quán, chúng tôi cho rằng trong những chuyến đi của thầy trò Quốc học Vinh Le Breton có thể đã rủ Trần Đình Quán đi cùng.

Trong bối cảnh các công trình văn hóa, tín ngưỡng ở Nghệ Tĩnh hầu hết đều bị hủy hoại thì kho tàng ảnh mà Trần Đình Quán cùng với H. Le Breton để lại là có giá trị vô cùng to lớn. Nó không chỉ khẳng định trầm tích, trữ lượng văn hóa lịch sử vô cùng giàu có của xứ Nghệ, mà còn là cơ sở khoa học cho việc trùng tu, phục dựng và bảo tồn các di sản văn hóa hiện nay của chúng ta.

- Về giá trị nghệ thuật:

Gia tài nhiếp ảnh của Trần Đình Quán để lại có giá trị hết sức to lớn, sâu sắc về lịch sử và văn hóa. Càng quan tâm đến nghiên cứu lịch sử, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa chúng ta càng trân trọng và đề cao giá trị của các tác phẩm của ông.

Về khía cạnh nghệ thuật, sẽ có những nhà chuyên môn phân tích sâu hơn. Theo tôi, những bức ảnh của Trần Đình Quán cũng đã cung cấp những khuôn hình mang tính kinh điển về bố cục và ánh sáng. Ông đặc biệt xuất sắc về chụp phố xá, công trình kiến trúc và các di tích lịch sử văn hóa. Việc lựa chọn góc độ, cắt cúp chính xác của ông đã cho chúng ta những khuôn hình trong đó có sự hài hòa, nhưng hết sức chặt chẽ về bố cục. Những bức ảnh chụp phố xá, công trình kiến trúc, công trình tín ngưỡng đều hết sức sinh động, có tình, có duyên. Đôi khi có cảm giác nghệ sỹ đã sắp xếp cả nhà cửa, cây xanh, con người để có những bức ảnh thật hài hòa, nhưng rất chân thực. Ở mảng ảnh chân dung, sinh hoạt Trần Đình Quán đã thể hiện tài năng của mình thông qua những bức ảnh mà trong đó các nhân vật thể hiện thần thái của mình hết sức tự nhiên và sinh động.

Những năm đầu thế kỷ các nghệ sỹ nhiếp ảnh nổi tiếng đều in tác phẩm của mình thành bưu thiếp để bán. Người bán được nhiều bưu ảnh nhất được cho là P. Dieuleffils. Chắc chắn phải đạt đến một chất lượng nội dung, nghệ thuật và kỹ thuật như thế nào đó thì những bức ảnh mới được in thành bưu thiếp và bán được trên thị trường. Bằng việc có nhiều ảnh được in thành bưu ảnh và bán được trên thị trường, Trần Đình Quán đã khẳng định được vị thế, tên tuổi của mình trên thị trường nghệ thuật hồi đó. Cũng cần lưu ý rằng hồi đó số nghệ sỹ nhiếp ảnh người Việt làm được điều này chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Như vậy, rõ ràng, Trần Đình Quán không chỉ người mưu sinh chuyên nghiệp bằng nghề ảnh, mà ông đã là một nghệ sỹ nhiếp ảnh tài danh. Những tác phẩm của ông có giá trị hết sức to lớn và sâu sắc về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật.

3. Đôi điều kiến nghị

Với những tài liệu đã có hiện nay có thể khẳng định:

- Trần Đình Quán là một người yêu nước, đã tham gia nhiều hoạt động yêu nước và cách mạng.

- Là người đầu tiên hành nghề nhiếp ảnh một cách chuyên nghiệp, mở hiệu ảnh rất sớm ở Vinh. Các tác phẩm nhiếp ảnh của ông đa dạng, phong phú, có giá trị lịch sử, văn hóa, giá trị nghệ thuật và trình độ kỹ thuật rất cao. Có thể nói, vượt ra khỏi khuôn khổ một người thợ ảnh, Trần Đình Quán đã trở thành một nghệ sỹ nhiếp ảnh lớn của vùng quê Nghệ Tĩnh, đồng thời có tên tuổi trong làng nhiếp ảnh đương thời của Việt Nam.

- Một số kiến nghị:

+ Thân thế, sự nghiệp của Trần Đình Quán, với cả hai tư cách nghệ sỹ nhiếp ảnh và chiến sỹ hoạt động yêu nước và cách mạng vẫn còn nhiều vấn đề chưa thật sáng tỏ. Rất cần thu thập đầy đủ và hệ thống hơn tư liệu thông tin về ông. Bên cạnh đó cũng phải nghiên cứu, biên dịch, xác minh hồ sơ của ông và người anh là Trần Đình Diệm do mật thám Pháp lập. Đồng thời sưu tầm và phân tích thẩm định các tác phẩm nhiếp ảnh của ông cả về giá trị văn hóa - lịch sử và giá trị nghệ thuật. Trên cơ sở đó có sự đánh giá chính xác hơn về những đóng góp và vị trí của ông trong lịch sử nhiếp ảnh tỉnh nhà, đồng thời có hình thức ghi nhận và tôn vinh xứng đáng với nhân vật này.

+ Tiếp tục sưu tầm thêm các tác phẩm nhiếp ảnh của Trần Đình Quán, khẳng định các giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật của các tác phẩm của ông. Xuất bản, phổ biến rộng rãi các tác phẩm của ông.

+ Đề nghị công nhận và tôn vinh Trần Đình Quán là nghệ sỹ nhiếp ảnh đầu tiên của Nghệ An và xứ Nghệ. Có hình thức tưởng niệm một cách phù hợp, ví dụ đặt một giải thưởng về nhiếp ảnh của Nghệ An mang tên Trần Đình Quán.

 

Yên Thành vùng đất cổ

Lê Xuân Nhương

 

Yên Thành là một khu vực lãnh thổ, có địa hình, rừng núi, đồng ruộng. Vùng núi Yên Thành nối liền với các dãy núi từ phía Tây Bắc Nghệ An đổ xuống, có nhiều lèn đá vôi, nhiều hang động và nhiều thung lũng kín, là địa bàn cư trú thuận lợi của người Việt cổ. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khảo cổ học cho biết, Yên Thành là nơi người việt cổ xuất hiện lâu đời. Các công cụ bằng đá đã tìm thấy ở khu vực Bảo Nham, Vườn Bổn - Vĩnh Tuy, Đồng Thành, Hậu Thành (chủ yếu là rìu và cuốc) có niên đại khoảng 2.700 năm TCN thuộc nền văn hoá Bàu Tró (Quảng Bình) - Nền văn hoá hậu kỳ đồ đá mới Việt Nam. Người Việt cổ quần tụ trên các hang động ở Yên Thành là những cư dân trồng lúa cuối thời đại đồ đá mới ở Nghệ Tĩnh. Họ là những con cháu của người vượn ghè đá ở Thẩm Ồm (Quỳ Châu), những bộ lạc săn bắn hái lượm ở Cồn Điệp (Quỳnh Văn) và là những người đương thời với những người Việt cổ ở Rú Ta - Hai Vai (Diễn Châu). Các hiện vật thu thập được cho thấy, các bộ lạc cuối thời kỳ đồ đá mới sống ở đây đã có kỹ thuật chế tác công cụ đạt đến trình độ cao. Nguồn sống của họ chủ yếu là lúa, ngô, khoai, các hải sản như tôm, tép, ốc, hến… Tất cả các chứng cứ khoa học đã chứng minh rằng Yên Thành là vùng đất cổ, một bộ phận khăng khít của các bộ lạc xa xưa cư trú ven biển Nghệ Tĩnh.

Đến thời đại văn hoá Đông Sơn, thuở các vua Hùng dựng nước Văn Lang, sống giữa thiên nhiên hoang dại, con người ở đây đã biết tự mình xây dựng cuộc sống kinh tế, văn hoá… Họ đã mở rộng địa bàn cư trú từ các hạng động xuống các dải đất cao dọc thung lũng ven khe suối. Con người chuyển từ thời đại đồ đá, sang thời đại đồ đồng, biết cày, cuốc ruộng, biết đồ xôi, làm bánh, làm đồ gốm bằng bàn xoay, biết đúc đồng, luyện sắt. Nguồn sống chính của họ là làm ruộng, trồng trỉa lúa, ngô, khoai và chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà…

Trên cơ sở chủ yếu là nền nông nghiệp trồng lúa nước, các công xã nông thôn xuất hiện với những địa danh như: kẻ Sừng, kẻ Sàng, kẻ Dền, kẻ Rục, kẻ Sấu, kẻ Rọc, kẻ Đót, kẻ Sọt, kẻ Găng, kẻ Gám, Đại Gia - Đại Độ… Con người sống trong cộng đồng làng xã với những quan hệ họ hàng, tôn tộc, và những sinh hoạt văn hoá mang màu sắc của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Trong suốt chiều dài lịch sử, thiên nhiên và con người Nghệ Tĩnh, trong đó có Yên Thành luôn gắn bó với nhau, và cũng từ đó sinh ra những con người hào khí. Lãnh tụ phong trào yêu nước Cần Vương Nguyễn Xuân Ôn có viết:

Non nước Hoan Châu đẹp tuyệt vời,

Sinh ra trung nghĩa biết bao người

Thiên nhiên ưu đãi và thử thách, thuận lợi và khó khăn, cùng với tiến trình dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên con người Yên Thành, vốn quý nhất. "Đại Nam nhất thống chí" viết:

Đất xấu, dân nghèo, tập tục cần kiệm

Nhà nông chăm chỉ ruộng nương, học trò ưa chuộng học hành.

Cư dân Yên Thành ngày xưa không đông lắm, dân số tăng chậm, mãi đến khi Quỳ Lăng, kẻ Dền được chọn là vùng đất lỵ sở cai quản Châu Diễn, cùng với công cuộc chuyển dân từ ngoài Bắc vào khai dân lập làng, cư dân mới tăng nhanh.

Theo Tạp chí "Báo kinh tế Đông Dương" tháng 11 năm 1930 Yên Thành có 64.000 người.

Theo tài liệu của Ủy ban kháng chiến hành chính Nghệ An năm 1951 Yên Thành có 125 làng, 42.202 hộ, 91.000 người.

Theo số liệu điều tra dân số năm 1989, Yên thành có 220.000 người, không có dân tộc thiểu số, tỷ lệ lao động là 45% và có 30.000 người theo đạo Thiên Chúa Giáo.

Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế và thư tịch cổ, trên đất Yên Thành không chỉ có người Kinh, mà cả người Mường cùng là chủ nhân vùng đất này (Tại xã Liên Thành đã tìm thấy các ngôi mộ cổ người Mường).

Đến thời kỳ đất nước ta giành quyền tự chủ, với công cuộc mở mang bờ cõi, khai hoang, di dân lập ấp của các triều đại phong kiến tập quyền, đồng đất Yên Thành mới được khai phá theo quy mô lớn, cư dân Yên thành ngày một đông đúc.

Thời Tiền Lê, Đông Thành vương Lê Long Ngân (có tên là Long Toàn, Lê Ngân Tích); Thời Lý, Uy minh vương Lý Nhật Quang, đã đưa từng tốp nông dân, từng dòng họ cùng với binh lính từ phía Bắc vào đây khai hoang mở thêm nhiều kẻ, chạ.

Thời Trần và hậu Lê (Thế kỷ XIII, XIV, XV) công cuộc khai hoang lập ấp, chẳng những được nhà nước đứng ra tổ chức, mà một số quan lại cũng đứng ra thành lập trang trại, một hình thức khai hoang nhỏ bé, nhưng phổ biến ở Yên Thành là từng tốp nông dân dựa vào quan hệ bà con, xóm giềng chung sức nhau lập nên những làng mới.

Thần phả và tộc phả nhiều dòng họ, các sắc phong của các triều đại còn để lại minh chứng, khẳng định các vị thần triệu cơ đã có công khai dân lập ấp. Cuối đời Trần có ông Nguyễn Duy Thiện, Phan Vân (là vị thần tổ họ Phan ở Đông Thành) vào kẻ Rục khai canh; Nguyễn Hữu Chỉ vào kẻ Lấu (Ngọc Thành - Vĩnh Thành) khai canh lập làng; Thời Lê có ông Trần Đăng Dinh, có công lập nên các làng Phúc Am, đồng Bản; Ông Vương Thức lập nên vùng đất kẻ Đót, ông Nguyễn Bặc, Trần Yết Tâm, lập nên vùng đất kẻ cuồi…

Tuyệt đại bộ phận dân cư Yên Thành là nông dân, lấy nghề nông làm nguồn sống chính, chưa có làng nào hình thành thủ công chuyên nghiệp và buôn bán ổn định rõ nét. Mỗi khu vực cư dân sinh sống đông đúc được hình thành một làng, làng nào cũng có đình, đền, chùa miếu, nhà thánh… có thành hoàng làng, có lệ làng, có hương ước. Những làng xã ấy rất thuận lợi cho việc đánh giặc giữ làng và khai thác đất đai ở phạm vi nhỏ, nhưng cũng từ đó thể hiện sự ngăn cản bảo thủ, trì trệ trong việc giao lưu trao đổi tiếp thu cái mới để phát triển xã hội.

Tuy vật lộn chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, mọi áp bức bất công của xã hội có giai cấp, dẫu cuộc sống có những lúc đắng cay, lay lắt nhưng nhân dân Yên Thành luôn xây dựng, vun đắp cho mình cuộc sống lạc quan yêu đời, với những ngày hội hè vui chơi thoải mái theo nhịp điệu mùa màng. Các trò các tục luôn được thể hiện trong các kỳ nghi lễ.

Tinh thần hiếu học của nhân dân Yên Thành luôn được nuôi dưỡng và phát huy, dân nghèo đói, nhưng ai cũng muốn cho con học dăm ba chữ để làm người. Nhiều gia đình đã từng chắt chiu hạt gạo, củ khoai cho con ăn học, nhân dân đã nuôi dưỡng, chăm sóc nhiều học trò ưu tú đậu đạt cao trong các kỳ thi. Từ thời Trần đến thời Nguyễn, Yên Thành có 18 vị đại khoa, trong đó có 4 vị đậu trạng nguyên, 3 thám hoa, 2 hoàng giáp, 5 tiến sỹ, 4 phó bảng.

Sự hình thành địa lý và con người trên vùng đất Yên Thành, đã để lại di sản văn hoá, trong đó các di tích lịch sử là tài nguyên vô giá, giúp cho việc giáo dục truyền thống, yêu đất nước, yêu quê hương, góp phần tác động xây dựng quê hương Yên Thành ngày càng đổi mới, phát triển.

 

GS.NGND Nguyễn Đình Chú - Khát vọng đưa các giá trị văn hóa truyền thống vào quá trình phát triển

Trang Tuệ

Người ta biết nhiều về GS.NGND Nguyễn Đình Chú với tư cách là một nhà giáo và một nhà nghiên cứu văn học. Điều đó là đương nhiên. Nhưng chỉ mới biết điều đó thì chưa đủ. Trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học của mình, GS Nguyễn Đình Chú dành mối quan tâm đến nhiều vấn đề rộng lớn hơn, tập trung vào ba lĩnh vực chính là văn học, giáo dục và văn hóa. Trong đó, dù nghiên cứu văn hóa không phải là sự nghiệp chính, không dùng để định danh của ông. Ông cũng không có những công trình nghiên cứu dày dặn về văn hóa mà chủ yếu là những bài viết tham gia hội thảo khoa học, những bài nghiên cứu đăng trên tạp chí… Nhưng không vì thế mà có thể làm giảm giá trị khoa học trong những nghiên cứu văn hóa của ông, trái lại còn nhận được nhiều đánh giá cao của nhiều người và có nhiều ảnh hưởng rộng lớn qua việc tác động trực tiếp đến người đọc, người nghe.

Như một cơ duyên trong cuộc đời, tôi được gặp GS Nguyễn Đình Chú, một người thầy, một nhà khoa học đồng hương mà tôi hằng ngưỡng mộ. Đó là một ngày mùa đông năm 2008, khi tôi mới chuyển về làm việc tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam. Tôi được giao nhiệm vụ đến gặp để trao đổi và xin ý kiến về các hoạt động chuyên môn mà Trung tâm đang hoạch định, đồng thời cũng muốn mời ông tham gia các hoạt động ở Trung tâm và sưu tầm các tài liệu về lịch sử cuộc đời của ông cũng như một số người thầy và đồng nghiệp của ông. Đó là thời điểm mà hoạt động của Trung tâm còn gây nhiều tranh luận, lại thêm đang bận rộn nhiều việc khác nên ông từ chối khéo. Sau đó, qua nhiều cuộc tiếp xúc để trao đổi thêm cho ông hiểu về công việc của Trung tâm, nhất là nhiều cuộc gặp có cả GS Văn Tạo (Nguyên Viện trưởng Viện Sử học) và cũng mời ông đến Trung tâm mấy lần để tham gia hội thảo hay trao đổi. Trước khi được gặp GS Nguyễn Đình Chú, tôi đã đọc nhiều bài viết của ông qua các sách, báo và trên mạng internet, nhất là các bài liên quan đến các nhà khoa học là các thầy của ông. Tuy nhiên, những bài viết về văn hóa của ông, lại gây cho tôi nhiều chú ý hơn, qua cả những cuộc trò chuyện và những lần được nghe ông phát biểu tại các hội thảo. Tháng 10 này, theo cách tính của người phương Đông thì ông lên tuổi 90, là tuổi thượng thượng thọ. Nhân dịp này, với chút hiểu biết của mình xin được viết vài dòng cảm nhận cá nhân về những nghiên cứu văn hóa của GS Nguyễn Đình Chú.

Trong hồ sơ giấy tờ, GS.NGND Nguyễn Đình Chú sinh ngày 20/9/1932, nhưng thực tế, ông sinh ngày 09/10/1929 (tức ngày 07 tháng 9 năm Kỷ Tỵ âm lịch) tại làng Thượng Xá (nay là tại xã Nghi Hợp), huyện Nghi Lộc, Nghệ An, là một nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng. Ông sinh ra trong một gia đình dòng dõi có truyền thống hiếu học nhiều đời, là hậu nhân của Cương Quốc công Nguyễn Xí. Thân sinh của ông là cụ Tú tài Nguyễn Huy Côn, bạn học của cụ Phan Bội Châu và cụ Nguyễn Sinh Sắc. Truyền thống gia đình đã ảnh hưởng nhiều đến cuộc đời học tập và nghiên cứu khoa học, giảng dạy của GS Nguyễn Đình Chú. Có thể vì vậy mà sau này, ông đã dành nhiều mối quan tâm nghiên cứu về vai trò văn hóa của các dòng họ giàu truyền thống ở xứ Nghệ trong đó có dòng họ của ông. Từ nhỏ ông đã được cho ăn học nghiêm túc. Năm 1954 ông vào học Đại học Sư phạm Văn khoa và năm 1957, ông tốt nghiệp thủ khoa của khóa. Từ đó, ông ở lại làm công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy Đại học Sư phạm Hà Nội cho đến khi nghỉ hưu. Ông được phong Phó Giáo sư năm 1984 và Giáo sư năm 1992, và nhận danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 1990 và Nhà giáo Nhân dân năm 1998. Dù phần lớn cuộc đời của ông sinh sống ở Hà Nội nhưng trái tim luôn đau đáu hướng về quê hương Nghệ An. Những hội thảo khoa học, các vấn đề liên quan đến sự phát triển của quê nhà, có cơ hội ông đều nhiệt tình tham gia mà không bỏ sót. Ngoài những bài viết sâu sắc về văn hóa xứ Nghệ, ông cũng có những ý kiến đóng góp thẳng thắn nhằm góp phần xây dựng quê hương. Vậy nên, GS Nguyễn Đình Chú không chỉ là một nhà nghiên cứu khoa học, một nhà giáo lớn mà còn là một người con tâm huyết của quê hương Nghệ An.

Lĩnh vực nghiên cứu chính của GS Nguyễn Đình Chú là văn học, tuy nhiên, cũng như nhiều người khác, ông dành mối quan tâm đến nhiều vấn đề rộng lớn hơn, đó là văn hóa, giáo dục, những lĩnh vực cơ bản của cuộc sống, của sự phát triển đất nước. Nghiên cứu văn hóa, với GS Nguyễn Đình Chú là để cố gắng làm sao "thoát áp". Và từ "thoát áp" để mở một cánh cửa cho việc tìm các giá trị văn hóa truyền thống phù hợp với thời cuộc, với điều kiện thực tiễn để đưa vào phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới, hội nhập và toàn cầu hóa.

"Thoát áp" được hiểu là thoát khỏi cách tư duy, hệ thống kiến thức và phương pháp luận đã được áp đặt theo lối mòn. Thoát áp cũng là hướng đến những giá trị mới từ sự tự do tư duy, suy nghĩ độc lập mà không phải từ các áp đặt, ràng buộc nào. Thoát áp là "làm sao vượt qua được trạng thái tư duy áp đặt, tư duy cộng đồng, tư duy phụ thuộc, tư duy minh họa, dựa dẫm, ăn theo nói leo để có được tư duy cá thể…"(1). Thoát áp, đó cũng là mong muốn của nhiều trí thức cùng thời với GS Nguyễn Đình Chú, và nhiều người đã lựa chọn con đường đó nhưng kết quả thì khá đa dạng. GS Nguyễn Đình Chú là một trong số những người đã có được một số kết quả trên phương diện nhận thức và khảo cứu từ mong muốn thoát áp đó.

Cũng như nhiều người thuộc thế hệ mình, Nguyễn Đình Chú nghiên cứu văn hóa trên quan điểm "gạn đục khơi trong", chắt lọc những giá trị cần thiết cho cuộc sống, cho sự phát triển của đất nước. Ông không đi khảo cứu để chỉ hiểu, chỉ biết mà còn đi đến mục tiêu xa hơn hiểu, biết là để hành, tức là để vận dụng vào cuộc sống thực tiễn, dù rằng sự vận dụng các nghiên cứu về văn hóa vào thực tiễn ở nước ta trong mấy thập kỷ qua vô cùng hạn chế.

GS Nguyễn Đình Chú không có những nghiên cứu đồ sộ về văn hóa, cũng không phải là những chuyên khảo về một vấn đề một cách toàn diện. Ông quan tâm đến nhiều vấn đề lớn, cơ bản đối với lịch sử văn hóa Việt Nam, đồng thời với những chuyện cụ thể, chi tiết về các vấn đề được nhiều người quan tâm. Nhưng không vì thế mà giá trị của các nghiên cứu này lại nhỏ bé đi, ở phương diện nào đó, nó còn có sức ảnh hưởng hơn khi đến với các nhóm người đọc cụ thể. Quan điểm đó gần như xuyên suốt các nghiên cứu văn hóa của ông và đã được ông nhấn mạnh: "… từ mấy quan điểm gốc có tầm vĩ mô bao trùm… mà quán triệt, triển khai tiếp vào nhiều vấn đề cụ thể với tinh thần thoát áp mong muốn góp phần hồi nguyên và phục hưng được chút nào hay chút nấy đối với văn hóa dân tộc trước nhiệm vụ thiêng liêng trọng đại đã đặt ra với đất nước là xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và hòa nhập mà không hòa tan"(2). Như vậy, mục tiêu nghiên cứu văn hóa của Nguyễn Đình Chú, trước hết là hồi nguyên và sau là phục hưng các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trên tinh thần thoát áp. Và tư tưởng, quan điểm đó được thể hiện hầu hết trong các bài viết, các mối quan tâm đến văn hóa của ông.

Văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn. Bước vào lĩnh vực này, Nguyễn Đình Chú cũng đặt ra những giới hạn cho mình. Đó là sự nhận diện, nhận thức về các yếu tố quan trọng trong nền văn hóa Việt Nam để tìm con đường tiếp cận nhằm tránh sa vào "thế giới lạc lõng" của văn hóa. Trên quan điểm đó, Nguyễn Đình Chú lựa chọn tiếp cận các giá trị văn hóa dân tộc từ các góc độ như Nho giáo, Phật giáo, văn hóa dòng họ, các danh nhân văn hóa hay cá nhân kiệt xuất… Ông cho rằng, đây là những vấn đề quan trọng mà khi hiểu được vai trò, vị trí của nó sẽ có cái nhìn bao quát và đúng đắn hơn về văn hóa Việt Nam để từ đó có thể có những sự vận dụng, phát huy các giá trị văn hóa vào quá trình phát triển đất nước. Trong mỗi chủ đề nghiên cứu, GS Nguyễn Đình Chú cũng tập trung theo con đường đi riêng của mình là hồi nguyên và phục hưng các giá trị văn hóa. Hồi nguyên chính là nhận thức về các giá trị nguyên bản, nguyên gốc của các yếu tố văn hóa. Chỉ có nhận thức đúng đắn các giá trị cơ bản thì mới có thể lựa chọn, đề xuất được những con đường phục hưng và phát huy các giá trị văn hóa cơ bản đó của dân tộc. Với mỗi vấn đề văn hóa, từ vấn đề lớn như Phật giáo, Nho giáo, văn hóa phong kiến hay các nhân vật văn hóa, ông đều có cái nhìn phê phán, phân tích hai mặt rõ ràng. Ông nhìn các vấn đề cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực, sau đó nhấn mạnh đến giá trị tích cực và cốt lõi nhất để tìm cách phục hưng giá trị đó.

Đối với Nho giáo, người ta thường nhìn theo một lối mòn là gắn Nho giáo với chế độ phong kiến nên coi Nho giáo là giáo điều, lạc hậu, gia trưởng, phân biệt đẳng cấp, coi thường phụ nữ… Nguyễn Đình Chú không phủ nhận điều đó, nhưng ông không đi vào phê phán theo lối hô khẩu hiệu, mà nhận thức sâu hơn: "Nhìn nhận Nho giáo là một học thuyết đạo đức chính trị xã hội, thì lại thấy đây là sự phân loại tầng lớp xã hội trên bình diện đạo đức chứ không phải trên bình diện chính trị xã hội, giai cấp, mặc dù có liên quan. Logic của Nho giáo ở đây là: quân tử là người tốt, có đạo đức, tiểu nhân là người xấu, không có đạo đức. Mà tốt là nhờ có học. Nhân bất học bất tri lý. Đã học thì dĩ nhiên có địa vị chính trị xã hội. Có địa vị chính trị xã hội nhưng có học thì khác loại thống trị không học"(3). Nhấn mạnh chữ "học" và học những cái hay, cái đẹp, cái cần thiết từ Nho giáo để phát triển đất nước, như nước Nhật Bản đã làm được: "để có một đất nước mặt trời chói lọi, siêu cường, thần kỳ như ngày nay, hẳn là có vai trò không nhỏ của Nho giáo đã được Nhật Bản hóa"(4). Từ đó, ông đi đến một nhận định rằng: "hãy đến với Nho giáo hôm nay ít nhiều với tinh thần phục hưng phương Đông một cách tỉnh táo"(5). Ông rất chú trọng đến tính phức tạp của Nho giáo và cho rằng không thể sử dụng các lý thuyết đương thời một cách máy móc vào tìm hiểu Nho giáo: "Quan điểm giai cấp máy móc thô thiển thường đã biến mọi vấn đề thành vấn đề chính trị đơn thuần cũng như quan điểm về hình thái xã hội theo kiểu thô thiển cũng đã dẫn đến căn bệnh tự mãn vô sản coi cái gì thuộc về hình thái xã hội chủ nghĩa cũng hơn hết"(6). Và ông đề xuất phải "bổ sung vào các thứ lý thuyết có tính chất phương pháp luận đó bằng phương pháp tiếp cận văn minh luận, văn hóa luận, nhân tính luận"(7). GS Nguyễn Đình Chú tiếp cận Nho giáo theo cách tìm những giá trị thích hợp đã được Việt Nam hóa, đã trở thành giá trị văn hóa truyền thống dân tộc để phát huy vào trong quá trình phát triển hiện tại. Trong đó, ông cũng có sự tách biệt tương đối vấn đề Nho giáo với chế độ phong kiến hay với Trung Quốc. Trong khi chữ Quốc ngữ ngày càng giữ vai trò quan trọng trong đời sống thì Nguyễn Đình Chú lại quan tâm đến vai trò của chữ Hán: "Đến thời tự chủ, trải qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Nguyễn, chữ Hán đã đóng vai trò công cụ hàng đầu của nền văn hóa, văn học bác học của Việt Nam. Nó là văn tự chính trong các lĩnh vực văn hóa Việt Nam: hành chính, giáo dục, thi cử, lễ nghi, văn học"(8). Biết chữ Hán là để biết một phần lịch sử vô cùng quan trọng của dân tộc, và để mất chữ Hán là sẽ làm cho sau này con cháu chúng ta không hiểu gì về tổ tiên mình. Vậy nên ông đề xuất "cần khẩn trương khôi phục việc dạy chữ Hán trong nhà trường phổ thông Việt Nam".

Cũng như Nho giáo, Phật giáo là một yếu tố quan tâm của GS Nguyễn Đình Chú trong quá trình nghiên cứu văn hóa Việt Nam. Ông coi Phật giáo là "ngọn nguồn chính của văn hóa bác học Việt Nam"(9); là "một tôn giáo giàu tình thương nhất trong mọi tôn giáo"(10). Nguyễn Đình Chú luôn gắn Phật giáo với các giá trị văn hóa dân tộc. Ông không chỉ nhấn mạnh Phật giáo Việt Nam không chỉ hướng con người sống lương thiện mà còn đề cao xu thế nhập thế của Phật giáo. Những nhà sư ngày thường có thể đi cứu khổ cứu nạn hay tu tâm tại chùa, nhưng khi đất nước có biến thì đều tham gia vào cuộc sống trần tục để bảo vệ đất nước. Trên quan điểm đó, ông tiếp cận các tư tưởng của triết thuyết "cư trần lạc đạo" của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Không chỉ nêu lên các điểm cốt lõi của triết thuyết, mà ông đi vào các đề xuất cụ thể hơn trong việc đưa các tư tưởng của Trần Nhân Tông vào cuộc sống hiện đại. Cụ thể, với thế hệ trẻ ở học đường cần phải biết về "cư trần lạc đạo", về giá trị cuộc sống. Muốn vậy thì trong trường học cần phải có môn thần học để giúp học sinh có thái độ đúng đắn với tôn giáo. Với các doanh nhân, hiểu biết về tư tưởng "cư trần lạc đạo" để "điều chỉnh tư thế, tâm thế một cách có ý nghĩa hơn trong khi kinh doanh làm giàu và cũng thanh thản hơn, kể cả khỏe mạnh hơn, ít bị stress hơn, kéo dài tuổi thọ hơn, gia đình cũng êm ấm hơn trong những năm tháng vật lộn với thương trường". Với các nhà lãnh đạo, quản lý đất nước cần phải "tôn trọng tín ngưỡng, tự do tôn giáo và không tôn giáo, đối xử công bằng với mọi tôn giáo đã có trên đất nước"… Nếu làm được vậy thì "triết thuyết cư trần lạc đạo của Phật Hoàng Trần Nhân Tông sẽ có thêm khả năng thâm nhập, điều chỉnh, cứu rỗi cuộc sống hiện đại vốn phồn tạp, đa chiều, thuận nghịch chiều…"(11). Những giá trị đó cần phải được gắn kết với tình hình phát triển hiện tại nhiều hơn. Tuy nhiên, ông cũng tỉnh táo khi không quá đề cao vị trí chính trị của tôn giáo.

Mặt khác, ông cũng tỉnh táo phê phán tình trạng nhân danh chính trị để can thiệp làm hư hại nhiều di sản văn hóa. Ông đã đau xót khi phải chứng kiến những sai lầm ấu trĩ trên quê hương mình: "Nghệ An trong 34 năm (1962-1996) nhân danh xây dựng đời sống mới, phá 1076 đền và chùa. Có phần do bom đạn kẻ thù nhưng không đáng kể. "Thành tích" này chủ yếu vẫn thuộc về người dân ta đó"(12) … Và từ đó ông cũng tự đặt ra câu hỏi: "Thiếu vắng cuộc sống tâm linh, thiếu vắng loại cảnh sát tâm linh thì tình hình xã hội sẽ là gì?"(13). Vậy nên, với Nguyễn Đình Chú, nghiên cứu về Phật giáo cần khai thác giá trị nhân văn của nó. Đó là tình yêu thương con người, lối sống hiền hòa, giản dị, thân thiện với môi trường, với con người.

Tiếp cận Nho giáo hay Phật giáo, GS Nguyễn Đình Chú không chỉ chú tâm vào tư tưởng cốt lõi của các tôn giáo này, mà ông còn nhấn mạnh đến các giá trị dân tộc thông qua các nhân vật cụ thể. Khi nghiên cứu về Nho giáo, ông đi sâu tìm hiểu về tư tưởng của Lê Thánh Tông - một danh nhân văn hóa mà ông cho là tiêu biểu nhất của thời đại Nho giáo; Hay ông tiếp cận tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc vận dụng, phát huy các giá trị của Nho giáo trong thời hiện đại. Khi nghiên cứu về Phật giáo cũng vậy, ông tập trung vào tư tưởng của Phật hoàng Trần Nhân Tông bởi đây là người đã đúc kết được các giá trị cốt lõi cơ bản của Phật giáo vào nền văn hóa Việt Nam.

Một góc độ khác của Nguyễn Đình Chú khi tiếp cận văn hóa Việt Nam: Trong khi nhiều người phê phán về việc phân bè chia nhóm ở nông thôn, trong đó có quan hệ dòng họ, quan hệ gia đình nhằm mục đích nâng cao các quan hệ tập thể mới được hình thành ông lại cố gắng đi tìm những giá trị văn hóa dòng họ của người Việt Nam. Nguyễn Đình Chú nhìn nhận giá trị của gia phong, gia đạo, vốn là cái cốt lõi của văn hóa dòng họ, văn hóa gia đình, là sợi chỉ đỏ quan trọng trong nền văn hóa dân tộc: "Gia phong đối với cha ông thuở trước không chỉ thuộc phạm vi gia đình nhỏ mà còn là gia đình lớn, kể cả đại gia tộc, đại tộc mặc dù có mức độ đậm nhạt giữa các phạm vi rộng hẹp đó và phụ thuộc vào mức độ ý thức, cảm nhận, thực thi của những thành viên cụ thể"(14). Khi nhìn lại thực tế của thời đại ông, là một sự đau lòng: "Ấy vậy mà một thời, cũng do ảnh hưởng của một thứ lý thuyết vu vơ, giáo điều mà đã có hiện tượng nơi này, nơi khác bỏ quên văn hóa dòng họ, mà cốt lõi là văn hóa gia đình, trong đó có gia phong gia đạo vốn là tinh hoa làm nền tảng vững chắc cho sự sống dân tộc. Văn hóa dòng họ một khi lên ngôi đã trở thành trụ cột của văn hóa làng. Có trường hợp là trụ cột của văn hóa vùng miền, thậm chí là văn hóa dân tộc"(15). Và ông cũng nhấn mạnh rằng: "Sự thăng hoa của dòng họ cũng như văn hóa dòng họ theo quy luật là phải bắt đầu từ sự đột khởi của cá nhân nổi trội mà không phải dòng họ nào cũng có. Từ cá nhân nổi trội đột khởi ở lĩnh vực này hay lĩnh khác của cuộc sống mà từ đó các dòng họ được thăng hoa ở các lĩnh vực đó"(16). Để khôi phục văn hóa dòng họ, cần phải hiểu và khôi phục lại gia phong gia đạo. Muốn vậy thì phải nhìn rộng ra: "muốn khôi phục gia phong theo yêu cầu hiện đại, phải coi trọng nhiều đến đời sống tâm linh, một thứ tâm linh chính đáng chứ không phải mê tín dị đoan nhảm nhí. Cũng cần thấy thêm tâm linh là thuộc văn hóa phi vật thể, nhưng cũng lại gắn với văn hóa vật thể, gắn với chùa chiền, đền đài, lăng mộ"(17). "Ở đâu phá đi một ngôi chùa thì ở đó cần xây một bệnh viện"(18).

Như vậy, dù nhìn ở góc độ nào, Nguyễn Đình Chú cũng cố gắng đi tìm những sự "thoát áp" từ các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc. Ông tiếp cận văn hóa dân tộc từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng đều không bỏ qua các mối liên hệ với nhau. Khi tìm hiểu về các lĩnh vực lớn như Nho giáo, Phật giáo, văn hóa dòng họ hay giá trị đức trị của văn hóa phong kiến thì cũng nhấn mạnh đến vai trò của các cá nhân xuất sắc. Tuy nhiên, toàn bộ những quan điểm cốt lõi của ông vấn xoay quanh tù "thoát áp", bởi có lẽ đó là mục tiêu từ khi ông bước chân vào con đường nghiên cứu khoa học xã hội. Đó có thể coi như là một hệ quả mà thời mới bước vào trường đại học, bước vào nghề làm nhà nghiên cứu, nhà giáo, ông đã phải chứng kiến, thậm chí là tham gia vào những việc đau lòng do sự áp đặt từ hệ tư tưởng, từ nhiệm vụ chính trị. Vậy nên khát vọng cũng như nỗ lực "thoát áp" càng trở nên mạnh mẽ hơn trong những năm tháng sau đó, để tìm đến những giá trị cởi mở hơn, cấp tiến hơn và thiết thực hơn. Để làm điều đó thì cần phải nhận thức thật sự rõ ràng, sâu sắc hơn các giá trị văn hóa truyền thống và xem đó là nền tảng, là cơ sở để "thoát áp".

Trải qua bao nhiêu chìm nổi trong kiếp nhân sinh, đọc, suy ngẫm và am hiểu sâu rộng nhiều thứ nhiều khi khiến GS Nguyễn Đình Chú cũng trở nên thâm trầm hơn. Dù những lúc phát biểu ý kiến, nói chuyện hay qua những bài viết, cũng có lúc đầy chua chát, cay đắng vì thời cuộc. Nhưng chung quy lại, ông vẫn là một người nhẹ nhàng, giản dị và dễ gần. Trong cuộc sống ngày càng nhộn nhịp, bon chen, ông vẫn chọn cho mình một con đường đi riêng biệt, làm những việc mình cần phải làm. Đúng như GS Phan Trọng Luận, một người bạn thân thiết, một người đồng nghiệp có hàng chục năm làm việc cùng nhau đã nhận xét: "Ai nghĩ sao thì cứ nghĩ vậy. Còn anh, anh cứ viết, cứ nghiên cứu, cứ tham gia đều đặn và có hiệu quả. Tên tuổi quen thuộc trong và ngoài nước suốt 50 năm qua nhưng không nghĩ chuyện in sách. Kể cũng lạ. Tôi dám chắc các bài viết của anh in ra cũng phải mấy ngàn trang, sẽ là những công trình có giá trị góp phần đáng quý vào công việc nghiên cứu và giảng dạy văn chương. Viết nhưng không nghĩ để in sách, viết không phải để có tên tuổi, để được giải thưởng này nọ hay vì nhuận bút… Tôi thầm nghĩ có được những người bạn như Nguyễn Đình Chú quả là một hạnh phúc. Trong cuộc sống phần nào xô bồ như hiện nay, có được những con người như Nguyễn Đình Chú thì cuộc đời yên bình, đáng yêu hơn biết bao nhiêu"(19).q

 

Chú thích

(1). "Cái quay búng sẵn trên trời". In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975". Trang 47.

(2). "Cái quay búng sẵn trên trời". In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975". Trang 21-22.

(3). "Cái quay búng sẵn trên trời". In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975". Trang 22-23.

(4). "Hôm nay với Nho giáo". In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975". Trang 101.

(5). "Hôm nay với Nho giáo". In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975". Trang 102.

(6). "Hôm nay với Nho giáo". In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975". Trang 109.

(7). "Hôm nay với Nho giáo". In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975". Trang 107.

(8). "Cần khẩn trương khôi phục việc dạy chữ Hán trong nhà trường phổ thông Việt Nam". In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục" (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975. Trang 91.

(9). "Vị trí của văn hóa Phật giáo trong nền văn hóa Việt Nam". In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục" (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975. Trang 180.

(10). "Vị trí của văn hóa Phật giáo trong nền văn hóa Việt Nam". In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục" (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975", trang 181.

(11). "Cuộc sống hiện đại và triết thuyết "cư trần lạc đạo" của Phật hoàng Trần Nhân Tông". In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục" (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975. Trang 233-234.

(12). "Cái quay búng sẵn trên trời". In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục" (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975), trang 27.

(13). "Cái quay búng sẵn trên trời". In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục" (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975) trang 27.

 (14). "Nghĩ về vấn đề gia phong trên đất Nghệ An quê ta". In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục" (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975). Trang 326.

(15). "Cái quay búng sẵn trên trời". In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục" (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975). Trang 29.

(16). "Dòng họ và vai trò của văn hóa dòng họ trong đời sống văn hóa dân tộc. In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục" (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975). Trang 349.

(17).  "Nghĩ về vấn đề gia phong trên đất Nghệ An quê ta". In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục" (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975), trang 327.

(18). Ý của Nguyễn Khắc  Viện, Nguyễn Đình Chú lấy lại để nhấn mạnh. "Nghĩ về vấn đề gia phong trên đất Nghệ An quê ta". In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975". Trang 327.

(19). Ý kiến của GS Phan Trọng Luận, In trong "Văn hóa, văn học, giáo dục" (tuyển chọn những bài nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Chú sau 1975) trang bìa 4.

 

Tìm hiểu về trường học tại các làng xã ở Nghệ An trước năm 1919 qua tư liệu tục lệ và văn bia

                                                                               Lê Thị Thu Hương

Tóm tắt: Do ảnh hưởng của nền giáo dục Nho học Trung Quốc, hệ thống trường học ở Việt Nam được định hình khá sớm. Việc triều đình nhà Lý cho dựng Văn Miếu năm 1070, Quốc Tử giám năm 1076 - ngôi trường đầu tiên ở nước ta đã đặt dấu mốc quan trọng trong nền giáo dục khoa cử nước nhà. Tại Nghệ An, để tạo điều kiện cho con em được đến trường đến lớp, nhiều làng xã đã tự dựng trường, mở lớp trên diện tích đất công của địa phương hoặc lấy Văn từ, Văn chỉ làm nơi dạy học. Mỗi ngôi trường đó đều có những quy định riêng về việc mời thầy, thưởng phạt đối với học sinh, kinh phí hoạt động, tu bổ. Ngoài ra, còn có trường học của các nhà khoa bảng được mở ra để dạy dỗ con em trong làng ngoài xã và những vùng lân cận, như trường của Tiến sĩ Nguyễn Đức Đạt, Tiến sĩ Nguyễn Nguyên Thành, thầy Hồ Mậu Đức. Điều đó được ghi chép cụ thể qua tư liệu tục lệ và bi ký Hán Nôm.

1. Việc dựng trường dạy chữ Hán tại Nghệ An

1.1. Trường học do thôn xã mở ra

Tại Nghệ An, theo nguồn tư liệu tục lệ và văn bia, các ngôi trường chủ yếu được dựng vào thế kỷ XIX, thời kỳ khoa bảng Nho học ở Nghệ An đạt được những thành tựu rực rỡ nhất. Trường được dựng lên ở các thôn xã, thu hút nhiều con em địa phương đến học. Đất dựng trường là đất công của bản giáp, thôn, xã với quy mô nhỏ, thường từ 3 gian đến 5 gian, gia đình có con em đến tuổi đi học đưa đến trường, mọi chi phí đã có từ nguồn hoa lợi của ruộng học điền"一款村內有例定設立學場一屋一位三间在本村[9b]公土或何家有子宜將至場呈師受教無費損一毛已有學田秋夏二務得二畝六高七尺六寸㨿全年給與教師支卞" (Trong thôn có lệ định dựng một ngôi trường học ba gian tại đất công của bản thôn, nhà nào có con nên đem đến trường trình thầy xin học, không phí tổn một hào (vì) đã có học điền, xuân hạ hai vụ được 2 mẫu 6 sào 7 xích 6 thốn, cả năm cấp cho thầy giáo chi biện)(1). Thôn Thượng Khê xã Hương Cái tổng Hải Đô(2) định lệ dựng một ngôi trường ở địa phận bản giáp, sức cho học sinh từ 12 tuổi trở lên được phép đến học, nếu bỏ học, lười biếng không chăm chỉ bị phạt 50 roi.

Văn từ, Văn chỉ là nơi thờ Khổng Tử cùng các vị tiên hiền, tiên Nho cùng các nhân vật đỗ đạt khoa bảng, nơi tổ chức các kỳ tế đinh vào mùa xuân, mùa thu hàng năm, nơi sinh hoạt của Hội Tư văn của các địa phương. Ngoài một số địa phương có quỹ đất cho việc lập trường, thôn Bùi Châu, xã Bùi Ngõa, tổng Hải Đô, phủ Hưng Nguyên lấy Văn từ bản xã làm trường học "其學場以本社文祠為所社內何人有子孫就學者只有時節之禮多少隨心"(3) (Trường học lấy văn từ bản xã làm nơi học, trong xã người nào có con cháu đến trường chỉ có lễ theo mùa, nhiều ít tùy tâm). Khuyến khích người dân mời thầy lập trường học thôn Na Điền huyện Thanh Chương quy định "村內某有延師立學場者本村給公錢每年貳拾贯"(Trong thôn ai mời thầy lập trường học bản thôn cấp tiền công mỗi năm 20 quan).

Tuy là trường do thôn, giáp lập lên xong mỗi ngôi trường đều đặt ra những quy định riêng rất chặt chẽ, nhằm mang lại kết quả học tập cao nhất cho người đi học. Ngày khai trường thường được diễn ra vào tháng Giêng đầu Xuân, lễ vật giao cho Lý trưởng lo biện, mời 2 thầy dạy đại tập, 2 thầy chuyên dạy trẻ nhỏ hàng tháng đều khảo xét, chính vì vậy việc học rất hiệu quả: "一定正月拾六日延請教師至十八日行開場禮存禮物交里長料行. 一筵請教師二員一員教大習每月進益課一期 據伊某月十五日就亭所考課 一筵二教師專教小童初習每月二期考課或對聯或詩賦隨教師意見命題"(4) (Ngày 16 tháng Giêng mời thầy đến, ngày 18 tiến hành lễ khai trường, lễ vật giao cho Lý trưởng lo liệu. Mời 2 thầy giáo, 1 người dạy đại tập, mỗi tháng một kỳ tiến khóa, cứ ngày rằm hàng tháng tập trung tại đình để khảo xét. Mời 2 thầy giáo chuyên dạy trẻ nhỏ mới học, mỗi tháng 2 kỳ khảo xét hoặc câu đối hoặc thơ phú tùy ý kiến mệnh đề của thầy). Để hoạt động của trường được diễn ra có kỷ luật, sĩ tử học tập có kết quả tốt, nhiều thôn xã bầu 2 người giám sát, cuối tháng thân chinh đến trường kiểm tra, người nào học tập chuyên cần, văn chương tiến bộ thì thưởng 1 quan tiền xanh, người nào ăn chơi phạt 30 roi, nếu không thay đổi, tái phạm thì đuổi khỏi trường để làm nghiêm việc học, như thôn Ngọc Điền, huyện Hưng Nguyên(5). Các thôn xã thuộc tổng Vân Tụ, huyện Yên Thành đều "bầu ra một người giám trường" giúp cho việc trông nom trường học và các công việc hiếu hỷ của thầy dạy.

Để có nguồn kinh phí dành cho việc tu bổ, duy trì hoạt động của trường các thôn xã có nhiều biện pháp rất linh hoạt: trích tiền công của thôn xã, thu của sĩ tử mới nhập học, bán thóc lúa dự trữ hoặc trích thuế ruộng. Thôn Lỗ Điền tổng Hải Đô "學校一座遞年摘取公消一百貫修捕 (…) 據入學士子炤收每名全年六貫以助 存欠干全民發買巡霜栗附入或摘稅每畝半方以供給再席帳與筆紙各款增捕在士子 亦可或里長支料俟有何支費炤扣亦可(6) (Trường học 1 ngôi nhà, hàng năm trích 100 quan tiền công để tu bổ, còn tiền (… ) sĩ tử nhập học chiếu thu mỗi người 6 quan cho cả năm để hỗ trợ, còn thiếu toàn dân phát bán thóc lúa phụ vào hoặc trích tiền thuế mỗi mẫu nửa phương để cấp. Các khoản chiếu trướng, bút giấy có thể thu thêm của sĩ tử hoặc lý trưởng liệu chi, đợi có khoản chi phí nào chiếu theo trừ bớt cũng được). Con em trong xã đến học tập nếu người nào không lo được giấy bút, toàn dân cấp cho, tiền giấy bút mỗi tháng là 1 quan(7), hoặc được cấp 3 sào ruộng giúp cho việc chi phí để biểu thị sự khuyến khích. Đó được coi như hình thức xã hội hóa giáo dục rất đáng học tập và khích lệ, tạo cho sĩ tử có một môi trường học tập tốt, điều kiện học tập tốt để họ yên tâm học tập và duy trì được dài lâu.

1.2. Trường học của các nhà khoa bảng

Bên cạnh việc các thôn xã tự dựng trường, mời thầy, đón học sinh về học, tại Nghệ An có khá nhiều trường lớp do nhà khoa bảng mở ra để dạy dỗ con em trong làng, ngoài xã và những nơi lân cận. Nhiều nhà khoa bảng chọn phương châm sống "tiến vi quan, thoái vi sư" khi nghỉ hưu, bản thân hoặc gia đình có chuyện riêng, hoặc không muốn ở lại quan trường nhưng vẫn muốn đem kiến thức tích lũy được truyền dạy cho các thế hệ học trò, nhiều thầy đã mở lớp dạy học, đào tạo được nhiều thế hệ học trò đỗ đạt, rạng danh cho quê hương, đất nước.

Thầy giáo Nguyễn Đức Đạt 阮德達 người xã Nam Kim, tổng Trung Cần, huyện Thanh Chương nay là thôn Hoành Sơn, xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông sinh năm Giáp Thân (1824), đậu Cử nhân khoa Đinh Mùi (1847), 30 tuổi đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh nhất danh (Thám hoa thứ nhất). Lúc đầu ông được bổ chức Thị giảng Tập Hiền viện, sau thăng Cấp sự trung. Được ít lâu xin về quê phụng dưỡng cha mẹ già. Năm Canh Thân (1860) trở lại Kinh, được bổ chức Chưởng Ấn Kinh kỳ đạo. Khi cha mẹ già qua đời, ông xin về cư tang, rồi mở trường dạy học. Học trò nghe danh tiếng gần xa đến xin theo học rất đông(8). Tiếp đó là những năm Nguyễn Đức Đạt "đăng trướng thụ đồ" ông nhận lời dạy học ở làng Hương Vân (Nam Đàn), sau dân làng Lãng Đông dựng sẵn một ngôi trường rồi gánh lễ sang đón mời ông đến dạy. Năm 1876 ông lấy cớ ốm đau bệnh tật xin cáo quan trở về, dân làng Hoành Sơn dựng ngay ngôi trường năm gian để đón ông về làng dạy học. Từ đó đến những năm cuối đời ông giành hết tâm huyết cho ngôi trường này. Học trò của ông đông lên từng ngày, không chỉ bên Hưng Nguyên, Nam Đàn mà cả bên Hương Sơn, Đức Thọ, Can Lộc học trò nghe tiếng cụ Đốc Thám Nhất về quê dạy học thì kéo đến ùn ùn, học trò ngồi cả ra sân, mỗi khóa có đến cả trăm người. Học trò của ông nhiều người thành đạt như Hoàng giáp Đặng Văn Thụy, Tiến sĩ Đinh Văn Chất, Hoàng giáp Nguyễn Đức Qúy(9)...

Thầy giáo Nguyễn Nguyên Thành 阮元城 (1825-?) người xã Đô Lương, huyện Lương Sơn, nay là Đông Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Ông tự là Uẩn Phủ hiệu Hương Phong, biệt hiệu Sơn Đường Dạng Phu, đỗ Tú tài khoa Bính Tý, Cử nhân khoa Mậu Thân (1848), 27 tuổi đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Hợi niên hiệu Tự Đức (1851). Hồi đầu giữ chức Biên tu, sau thăng Tri phủ Lý Nhân, do để vỡ đê ông bị giáng làm Lễ bộ Tư vụ. Năm Mậu Thìn sung làm Đốc học tỉnh Bình Định. Học trò của ông nhiều người đậu phó bảng, cử nhân, tú tài, thí sinh, họ cùng nhau dựng lại bia ghi tiểu sử về thầy với tiêu đề Sơn Đường tiên sinh tự bốc thọ tàng山堂先生自卜壽藏 (hiện đang lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm)(10).

Thầy Tôn Đức Tiến người xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tuy thi Hương mấy lần chỉ đậu Tú tài nhưng ông được sử sách đánh giá là một trong những người thầy uyên bác: "Tôn Đức Tiến, hiệu Lỗ Xuyên người huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, mấy lần thi đỗ Tú tài ở nhà dạy học, yên phận nghèo nàn kiệm ước, chỉ chăm chăm vào việc dẫn bảo hậu học về các kinh sử, chư tử bách gia cho đến cửu lưu (…) người đời sau khen là văn học sâu rộng, học trò được hiển đạt có mấy trăm người"(11).

Tiên sinh họ Nguyễn hiệu Lễ Nham, con trai thứ hai của cụ Thọ Phong, húy là Hoàn, tự là Chính Phủ. Năm Quý Mão đỗ Hương giải, sau khi tham dự thi Hội ông trở về mở trường dạy học, đào tạo được nhiều thế hệ học trò. Năm Bính Thìn bổ Hàn lâm viện Điển bạ, lãnh chức Huyện huấn huyện Quảng Điền, Phong Điền. Năm Đinh Tỵ nhiếp Huyện ấn huyện Hương Thủy, Phú Lộc. Năm Mậu Ngọ làm Giáo thụ phủ Đức Thọ, năm Tân Dậu làm học chính bản tỉnh. Học trò ông sau này nhiều người đậu cử nhân, tú tài họ cùng nhau dựng bia ghi lại tiểu sử thầy dạy(12).

Thầy giáo Hồ Mậu Đức sinh năm Bảo Hưng thứ 1 (1801) từ nhỏ nổi tiếng thông minh, được gọi là thần đồng, thi đỗ kì thi Hương, được bổ làm Huyện lệnh huyện Đông Triều. Sau xin về phụng dưỡng mẹ già, mở trường dạy học, mẹ mất lại ra làm quan, bổ làm Huyện doãn huyện Hương Sơn rồi bị miễn quan. Năm Mậu Thân (1848) ông về hưu, tiếp tục dạy học. Học trò theo ông rất đông, trong đó nhiều người hiển đạt. 270 người là cử nhân, tú tài, ấm sinh, khóa sinh, họ tên của họ được khắc đầy đủ ở mặt sau tấm bia(13).

Các thầy giáo nơi đây xuất phát từ những nhà Nho nghèo, họ mở trường lớp dạy học không phải mục đích mưu sinh mà để tiếng thơm cho đời, mang lại những thế hệ học trò rạng danh cho quê hương. Thông thường thầy dạy càng giỏi càng nhiều học trò tìm đến xin học, học trò đỗ đạt càng nhiều thầy giáo càng nổi tiếng, càng được trọng vọng. Thầy Dương Tồn dạy học ở Quỳnh Lưu đã có công đào tạo học trò nghèo là Hồ Sĩ Dương thi đậu Tiến sĩ, thầy được dân làng lập đền thờ làm Tiên hiền, con cháu đời đời được miễn phu phen tạp dịch, khi thầy mất hội đồng môn lo giỗ kỵ cho thầy. Nối tiếp sự nghiệp của thầy, Hồ Sĩ Dương truyền thụ kiến thức, đào tạo học trò là Hoàng Công Chí thi đậu Tiến sĩ năm 30 tuổi, Hoàng Công Chí lại có công đào tạo học trò Nguyễn Công Hãng cũng thi đậu Tiến sĩ(14).

Trường học với quy mô vừa và nhỏ được mở ra tại các thôn xã ở Nghệ An đã trở thành nơi học tập chung cho cả làng, cả xã, thậm chí nhiều xã lân cận trong vùng, góp phần vào việc dạy dỗ các lớp học trò, mở rộng môi trường học tập, đưa trường học đến gần hơn với người dân, đến với con em nhà nghèo. Có trường, có lớp, có thầy dạy, con em địa phương có cơ hội được học hành nhiều hơn, được truyền dạy chữ Thánh hiền, được  học đạo lý Nho gia, làm tiền đề cho con đường học tập, khoa cử sau này.

2. Việc mời thầy dạy và tinh thần "tôn sư trọng đạo"

Dân tộc ta có truyền thống tôn sư trọng đạo, đó là một truyền thống tốt đẹp của một dân tộc văn hiến và hiếu học. "Tôn sư" là đề cao, tôn vinh, coi trọng người thầy, "trọng đạo" là coi trọng nghề dạy học, đạo ở đây là đạo làm thầy. Ông cha ta từng nhắc nhở con cháu "nhất tự vi sư, bán tự vi sư" có nghĩa là người dạy cho ta một chữ cũng là thầy, dạy nửa chữ cũng là thầy, bởi "Không thầy đố mày làm nên".

Để tạo điều kiện học tập tốt nhất cho con em trong địa phương, ngoài việc dựng trường, trang bị đồ dùng học tập cho học sinh, các thôn xã tại Nghệ An còn đặc biệt quan tâm đến việc mời thầy về dạy học cho con em ở địa phương mình.  Việc chọn thầy có thể là người trong xã, ngoài xã, hoặc trong huyện, là quan về hưu hoặc tiến sĩ, cử nhân, tú tài, người đỗ nhất nhị trường, đôi khi những viên chức trong thôn có học hành được bầu làm thầy dạy con em trong làng… đều do quan viên, lý dịch, kỳ mục và toàn dân chọn mời(15).

Để các thầy chuyên tâm vào việc truyền dạy kiến thức cho học sinh, các thôn xã đã đặt ra những chế độ đãi ngộ rất tốt với thầy, thường thì thôn xã sẽ trích ra một số ruộng công nhất định, tùy từng nơi, có thể là 2 mẫu, 3 mẫu, có nơi lên đến 10 mẫu… làm ruộng học điền, có thể giao trực tiếp cho thầy để thầy tự lo liệu hoặc giao cho người dân địa phương trồng cấy lấy hoa lợi trả lương thầy. Người nhận ruộng học đó phải gắng sức làm, nếu để ruộng cằn cỗi sẽ bị phạt tiền để mua phân bón ruộng rồi mới được phép nhận canh tác tiếp, có nơi đợi đến cuối vụ đông nộp lúa để nuôi thầy, có nơi trích 100 quan ở kho thóc dự trữ để trả lương thầy. Toàn dân thôn Bùi Châu xã Bùi Ngõa "đặt 3 mẫu học điền để trả lương cho thầy, giao cho một đinh nam gánh nước hoặc thầy sai khiến khi có việc, cũng đặt 2 hai sào ruộng cho phép người đó canh tác để lấy hoa lợi", có thôn "hễ đến đông chí bản thôn nộp 40 gánh lúa để nuôi thầy", hay "cả học trò cùng thầy dạy đều được bản thôn cấp 3 sào ruộng công trợ giúp cho chi phí, biểu thị sự khuyến khích"(16). Xã Yên Pháp, tổng Đô Yên còn miễn tạp dịch cho những người đến 20 tuổi mới nhập hương ẩm, theo nghề thầy giáo và tập trung tâm trí vào việc dạy học.

"Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy" cha mẹ là người sinh ra, nuôi dưỡng chúng ta nhưng để chúng ta đỗ đạt, thành công trên con đường sự nghiệp hay không thì phần lớn phải nhờ vào công lao của người thầy. Vì vậy chữ "ơn thầy" cũng giống như ơn bậc cha mẹ đã sinh thành ra mình vậy. Trong phong tục tết xưa, người Việt đã rất coi trọng việc quan tâm đến người thầy "Mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy", trong ba ngày tết thì không thể thiếu ngày đến thăm hỏi thầy dạy. Tuy nhiên, có những nơi như thôn Quỳnh Lưu "Từ ngày mồng 2 tháng Giêng các quan viên chức sắc đã đi lễ ở nhà thờ các quan lớn đại khoa, học trò đến bái yết nhà thầy giáo không kể thầy còn sống hay chết". Nhiều thôn xã thuộc tổng Vân Tụ, huyện Yên Thành như thôn Phú Ninh, giáp Ngọc Hạ, thôn Kim Liên, xã Hợp Hòa…đều lập ra lệ đồng môn. Đồng môn ở đây là một nhóm gồm năm mười người cùng học một thầy, họ cùng nhau lập ra một hội, đề ra những quy định về việc lễ tết thầy, thăm hỏi thầy lúc ốm đau, khi gia đình thầy có việc, khi tang ma, giỗ chạp thầy coi đó như hình thức trả ơn công lao dạy dỗ của thầy. Đồng môn thôn Trịnh Sơn xã Quảng Động, huyện Yên Thành nghĩ rằng "Dân tôi có ông thầy học dạy học trò khi đầu thời dạy nghĩa dạy viết, sau thời dạy văn dạy bài khó nhọc lắm, cảm đến công ơn thầy cho nên làm ra lệ đồng môn để trả công ơn cho thầy, tục ngữ nói rằng muốn cho hay chữ thời yêu lấy thầy là phải lắm"(17). Thông thường hội đồng môn đó sẽ họp nhau lại lập một quyển sổ ghi tên mọi người vào, mỗi người góp một số tiền, góp gạo sau đó bầu ra một người trông coi trường, giữ cuốn sổ đó khi nào nhà thầy có việc vui việc buồn thì trích tiền đó ra chi dùng. Lệ đồng môn của thôn Yên Lăng xã Yên Lăng quy định rằng "Dân chúng tôi những người nào đi học với thầy học, dạy được năm mười người thời năm mười người ấy rủ nhau làm quyển sổ ghi tên vào, đóng tiền mỗi người 2 quan, bầu 1 người giám trường khi nào thầy có việc vui mừng hoặc có việc tang khóc thời người giám trường đi dạy cho những người ấy, lại để mà đi mừng thầy hoặc đi thăm thầy ấy là lệ đồng môn". Vào ngày mồng 5 Tết hàng năm đồng môn thôn Phong Niên, xã Đồng Thống, tổng Vân Tụ rủ nhau đem tiền, đem gạo đến nhà thầy lễ tết.

Khi các thầy sống được dân làng trọng hậu, khi thầy qua đời thì được thờ tự chu đáo. Hội đồng môn của nhiều thôn xã thuộc tổng Vân Tụ đã đề ra những quy định về việc để tang, giỗ chạp thầy dạy. Người dân thôn Phú Ninh, thôn Phong Niên, xã Tiên Cảnh, tổng Vân Tụ còn quy định khi thầy mất học trò phải mặc áo trắng, đội khăn trắng để tang thầy: "Dân chúng tôi học trò đến học theo thầy khi đương học phải làm lễ tiết, đến ngày thầy chết thời mặc đồ áo trắng khăn trắng đến đưa, lại làm câu đối cỗ xôi gà đến phúng, khi giỗ chạp đến lại cúng thầy"(18), những người có học với thầy ở xã Hiệp Hòa, tổng Vân Tụ đóng mỗi người một quan để lại khi nào thầy mất thời mỗi năm làm giỗ một lần.

Người làm thầy phải có đầy đủ các điều kiện, tài năng mới có thể làm thầy.  Người làm thầy ắt phải trung với đạo, truyền đạo thông qua "thụ nghiệp" cho học trò. Chính vậy đạo là tiêu chí căn bản đầu tiên để chọn thầy, người làm thầy đầu tiên phải có tín niệm, kiên trì đối với đạo(19). Thực tế trong xã hội đã có những trường hợp mượn cớ làm thầy mà gây ra nhiều phiền nhiễu, ảnh hưởng đến việc học tập của học trò, đến phong tục của làng xã. Vì vậy một số làng xã đặt ra những quy định riêng đối với thầy nhằm có được những người thầy đủ tài đủ đức để không chỉ truyền dạy kiến thức cho học trò mà còn dạy họ làm người tốt. Hương khoán của thôn Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, một vùng quê khoa bảng nổi tiếng Nghệ An đã đưa quy định "bản thôn vốn gọi là làng văn chương phong nhã, gần đây các người dạy học có người mượn cớ đạo để gây việc, gây ra nhiều oán báng, tệ ấy phải nên đe răn từ nay về sau nếu người nào quen thói hủ lậu, bị phát giác thì lập tức theo lời bàn công bằng mà bài trừ, người đã có công danh thì không cho đi thi, việc ấy quan hệ đến phong hóa, không cho chống chế, nhân đấy yết thị lên để cho phong hóa học trò được đúng đắn"(20). Nơi đây vốn sinh ra nhiều bậc văn chương chuyên làm nghề dạy học, nên thôn đưa ra quy định "một khi đã làm bậc thầy thì đều nên lấy đạo làm trọng, mỗi cử chỉ về lời nói việc làm không nên cẩu thả, nếu càn rỡ tự cho mình là bậc tôn quý đòi hỏi quá nhiều, một khi không vừa ý thì lăng nhục chủ nhà, đóng cửa chuồng trâu, và có ý riêng thế nào, tai tiếng đồn vang, làm thương tổn đạo nho, người có tên trong sổ hội thì tước bỏ tên ra, người không dự tên trong sổ hội thì đánh 30 gậy và đưa giấy sang nơi khác phải nhất thiết đuổi đi"(21).

Việc lựa chọn được thầy có tài, có đức cùng những chế độ đãi ngộ tốt, với tinh thần "tôn sư trọng đạo" đã khiến cho các thầy giáo toàn tâm toàn ý, dồn tâm dồn sức để dạy dỗ, truyền thụ kiến thức cho những thế hệ học trò nơi đây.

Kết luận: Không được thiên nhiên ưu đãi về mặt khí hậu, mảnh đất Nghệ An quanh năm nắng hạn khô cằn; không thuận lợi về khoảng cách địa lý do xa kinh đô, tỉnh lộ nhưng nhờ những ngôi trường được dựng lên ở các thôn, xã; những lớp học do các nhà khoa bảng mở ra  đã tạo tiền đề, nền tảng vững chắc giúp cho người dân Nghệ An trong học tập. Có trường lớp, có thầy dạy họ yên tâm, tin tưởng cho con em mình đi học, tiếp thu tri thức, tiến thân trên con được học hành, thi cử. Đó chính là trong những hoạt động khuyến học có ý nghĩa, thiết thực và giàu tính nhân văn. Với truyền thống tôn sư trọng đạo, có thể thấy vai trò của người thầy luôn được đề cao, coi trọng trong bất cứ thời điểm lịch sử nào, là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý.

 

Chú thích

(1). Nghệ An tỉnh, Hưng nguyên phủ, Hải Đô tổng, Hạ Khê thôn tục lệ乂安省興元府海都總賀溪村俗例, AFb1/7, tờ 9a.

(2). Nghệ An tỉnh, Hưng nguyên phủ, Hải Đô tổng, Thượng Khê thôn tục lệ乂安省興元府海都總上溪村俗例, AFb1/7, tờ 23b.

(3). Nghệ An tỉnh Hưng nguyên phủ Hải Đô tổng Bùi Ngõa xã Bùi Châu thôn tục lệ乂安省興元府海都總裴𤬪社裴洲村俗例, AFb1/12, tờ 38b.

(4). Nghệ An tỉnh Hưng nguyên phủ Hải Đô tổng Lỗ Điền thôn tục lệ乂安省興元府海都總魯田村俗例, AFb1/8, tờ 18-19.

(5). Nghệ An tỉnh Hưng nguyên phủ Thông Lãng tổng Do Lễ xã Ngọc Điền thôn tục lệ乂安省興元府通朗總由礼社玉田村俗例, AFb1/17, tờ 43a.

(6). Chú thích 4, tờ 18a.

(7). Nghệ An tỉnh Hưng nguyên phủ Thông Lãng tổng Do lễ xã Ngọc Điền thôn tục lệ乂安省興元府通朗總由礼社玉田村俗例, AFb1/17, tờ 43a.

(8). Ngô Đức Thọ (chủ biên), Các nhà khoa bảng Việt Nam, Nxb. Văn học, tr. 724.

(9). Ngô Đức Thọ (2012), "Thám hoa Nguyễn Đức Đạt (1825-1887) và trường Đông Sơn nổi tiếng cuối thế kỷ 19", nguồn http://ngoducthohn.blogspot.com/2012/10/tham-hoa-nguyen-uc-at-1825-1887.

(10). Sơn Đường tiên sinh tự bốc thọ tàng山堂先生自卜壽藏, N0 2655-56.

(11). Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, Huế, Thuận Hóa 1993, dẫn theo  Đào Tam Tỉnh  (2000), Khoa bảng Nghệ An (1075-1919), Sở VHTT Nghệ An, Thư viện Nghệ An, tr. 41.

 (12). Lễ nham đạo trai Nguyễn tiên sinh thọ tàng, 禮巖道齋阮先生壽藏, N02638 - 39.

(13). Vô đề N02848-49, Thư mục thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tập 2, tr. 309.

(14). Đào Tam Tỉnh (2000), Khoa bảng Nghệ An (1075-1919), Sở VHTT Nghệ An, Thư viện Nghệ An, tr. 32-33.

(15). Chú thích 7,  tờ 43a;  chú thích 3, tờ 38a  và Thượng An thôn hương lệ上安村鄉例, VHv.2675/1, tờ 5a.

 (16). Chú thích 3, tờ 38a; Yên Thành huyện Quan Trung tổng Phú Văn hương ước 安城縣關中總富文鄉約, HUN.807,  tờ 12.

(17). Yên Thành huyện Vân Tụ tổng Quảng Động xã Trịnh Sơn Công thôn luận tục lệ安城縣雲岫總廣洞社鄭山公論村俗例, VNv.7/2, tờ 5a.

 (18. Chú thích 18, VNv.7/1, tờ 6a.

(19). "Một số vấn đề về nội dung tư tưởng và ngữ pháp trong tác phẩm "Hàn thuyết" của Hàn Dũ. Nguồn: lytran187.wordpress.com/2010/12/09.

(20).  琼堆古 今事跡鄉編小引(鄉券), tờ.39a, b.

 (21). Chú thích 21, tờ.50b.

 

* Nghiệm thu đề tài cấp tỉnh: Đánh giá thực trạng hệ thống chính trị cấp xã và đề xuất giải pháp sắp xếp bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả trên địa bàn tỉnh Nghệ An    

Chiều ngày 01/10, Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội đồng KH&CN cấp tỉnh nghiệm thu đề tài "Đánh giá thực trạng hệ thống chính trị cấp xã và đề xuất giải pháp sắp xếp bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả trên địa bàn tỉnh Nghệ An". Đề tài do Ths Lê Quốc Khánh - Phó Trưởng ban thường trực Ban Tổ chức Tỉnh ủy làm chủ nhiệm và Trung tâm KHXH&NV chủ trì.

Đề tài được triển khai trong 5 tháng (5/2018-9/2018) với các nội dung chính là tổng quan cơ sở lý luận về hệ thống chính trị cấp xã; đánh giá thực trạng, những bất cập, hạn chế về tổ chức bộ máy; về đội ngũ cán bộ, công chức và người hoạt động không chuyên trách cấp xã, khối, xóm, bản; về tài chính; về tổ chức hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã; Đề xuất giải pháp về tinh gọn bộ máy, hoạt động hiệu lực hiệu quả,...

Sau khi nghe báo cáo kết quả đề tài, các thành viên hội đồng đã có những đánh giá, nhận xét và góp ý bổ sung để báo cáo hoàn thiện: Liên quan đến việc nêu ra 1 số mô hình của một số nước cần bổ sung nội dung mà địa phương mình có thể áp dụng. Làm rõ chức năng nhiệm vụ của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Nêu cụ thể nhóm trả lương, nhóm trả phụ cấp và làm rõ đối tượng hưởng lương, hưởng phụ cấp. Nghiên cứu có so sánh khối lượng cán bộ hệ thống chính trị cấp xã giai đoạn 2010-2018 để thấy được nguyên nhân số lượng cán bộ chính quyền cấp xã tăng nhanh.

Hội đồng đồng ý nghiệm thu và đánh giá đề tài đạt loại Xuất sắc.

Thủy Nguyễn

* Hội thảo khoa học góp ý Đề tài "Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp sắp xếp, tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Nghệ An"

Ngày 9/10, Sở Nội vụ phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An tổ chức Hội thảo khoa học góp ý đề tài: "Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp sắp xếp, tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Nghệ An". Đề tài do Th.s Đậu Văn Thanh - GĐ Sở Nội vụ làm chủ nhiệm và Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn chủ trì. Đồng chí Trần Quốc Thành - Giám đốc Sở KH&CN chủ trì hội thảo.

Tại Hội thảo, chủ nhiệm đã báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài về các vấn đề lý luận về hệ thống các ĐVSNCL, căn cứ thực tiễn, kinh nghiệm của một số địa phương; chỉ rõ thực trạng về tổ chức bộ máy, biên chế, cơ cấu đội ngũ cán bộ viên chức, người lao động; về cơ chế quản lý, mức độ tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh theo 11 lĩnh vực cụ thể và phương án sắp xếp tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập;... Tham luận tại hội thảo, các đại biểu xoay quanh các vấn đề về thực trạng cũng như những hạn chế, bất cập trong công tác tổ chức và quản lý các ĐVSNCL của ngành mình, địa phương mình và bàn luận về các giải pháp sắp xếp.

Kết luận Hội thảo, đồng chí Trần Quốc Thành đề nghị nhóm thực hiện đề tài tiếp thu những ý kiến đóng góp tại Hội thảo bổ sung, chỉnh sửa báo cáo khoa học và để tổ chức Hội đồng nghiệm thu đúng thời gian quy định.

Nguyễn Thủy

* Chi bộ Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An: Sinh hoạt chuyên đề học tập bài báo "Dân vận" của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thực hiện Hướng dẫn số 40-HD/BTG, ngày 20 tháng 9 năm 2018 của Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh về việc tổ chức hoạt động kỷ niệm 88 năm Ngày truyền thống công tác Dân vận của Đảng (15/10/1930-15/10/2018) và học tập bài báo "Dân vận" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chiều ngày 15/10, tại Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tổ chức sinh hoạt chuyên đề: Học tập bài báo "Dân vận" của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tại buổi sinh hoạt, chi ủy đã được nghe 9 tham luận của các cán bộ, đảng viên Trung tâm, trong đó có một số tham luận gắn với thực tiễn trung tâm như: Khoa học xã hội và nhân văn với công tác dân vận; Vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác dân vận; Công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; Công đoàn với công tác vận động quần chúng tham gia các phong trào thi đua lập thành tích ở cơ quan; Phương pháp tiếp cận cơ sở, người dân trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn (nghiên cứu lịch sử, văn hóa); Điều tra xã hội học, cách làm khoa học, dân chủ, công khai…

Hoàng Anh

* Sở Khoa học và Công nghệ: Tổ chức Giải thể thao nữ chào mừng ngày 20/10                  

Kỷ niệm 88 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (20/10/1930 - 20/10/2018), được sự nhất trí của Đảng ủy, Lãnh đạo Sở, Công đoàn Sở Khoa học & Công nghệ phối hợp với Ban nữ Công tổ chức Giải thể thao nữ giữa các đơn vị thuộc Sở vào sáng ngày 19/10.

Tham dự Giải có 6 đội, trong đó có 5 đội đến từ các đơn vị thuộc Sở và 01 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ.

Giải thể thao nữ Sở Khoa học & Công nghệ được tổ chức với 2 môn thi đấu là kéo co và đá bóng nữ. Với tinh thần giao lưu, học hỏi và đoàn kết toàn thể chị em trong các đội đã thi đấu hết mình đóng góp cho toàn thể các cổ động viên những trận thi đấu gay cấn và quyết liệt. Kết quả có 2 giải nhất, 2 giải Nhì và 4 giải Ba được trao cho các đội.

Hồ Thủy

* Kho tàng Vè xứ Nghệ

Kho tàng Vè xứ Nghệ là tổng tập những công trình nghiên cứu, ghi chép của "Nhà Nghệ học" - cố PGS Ninh Viết Giao, Nhà xuất bản Nghệ An (tái bản), in xong và nộp lưu chiểu quý 2, năm 2018.

 Kho tàng Vè xứ Nghệ được xuất bản lần đầu trong hai năm (từ 1999 - 2000), với số lượng trên một nghìn bài vè. Ngay sau khi xuất bản, bộ tác phẩm đã nhanh chóng có sức lan tỏa trong công chúng; trở thành tài liệu quan trọng để các nghệ sĩ, nghệ nhân tra cứu, nghiên cứu văn hóa dân gian xứ Nghệ; đặc biệt là tài liệu để lưu giữ, phát triển, vinh danh Di sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh.

Kho tàng Vè xứ Nghệ gồm 9 tập, trong đó: Tập 1 gồm 135 bài, nói về thiên nhiên, đất nước; Tập 2 gồm 125 bài, nói về làng xã; Tập 3 gồm 132, bài nói về nghề nghiệp trong xã hội cũ; Tập 4 gồm 110 bài, nói về phong tục tập quán trong xã hội cũ; Tập 5 gồm 125 bài, về chủ đề gia đình; Tập 6 gồm 145 bài, về tình yêu trai gái; Tập 7 gồm 120 bài, nói về giai cấp và tinh thần đấu tranh giai cấp và Tập 8 - 9 gồm 190 bài, về chủ đề chống Pháp.

Bùi Ngọc

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.