« Quay lại

Chuyên san KHXH&NV số 11/2018

LTS: Những năm gần đây, mạng xã hội trở thành một kênh giao tiếp quan trọng trong đời sống, Việt Nam được xem là quốc gia có tốc độ phát triển rất nhanh về Internet và mạng xã hội với 60 triệu người sử dụng Facebook và các mạng xã hội khác (năm 2018). Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, mạng xã hội cũng tồn tại không ít những yếu tố tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường xã hội, lợi ích cộng đồng, thậm chí cả an ninh quốc gia.

Làm gì và làm như thế nào để phát huy ưu điểm, thế mạnh; hạn chế mặt trái, tính chất "con dao hai lưỡi" của loại hình kết nối và thông tin này - đó là câu hỏi đặt ra cho cả xã hội, đặc biệt là các cơ quan chỉ đạo, quản lý thông tin, báo chí, văn hóa, an ninh.  

Xuất phát từ thực tiễn đó, Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức tọa đàm bàn tròn với chủ đề "Mạng xã hội - Nhận diện và định hướng quản lý" với sự tham gia của các nhà quản lý, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên gia, và nhà báo. Trân trọng giới thiệu cùng độc giả!

*    *

*

Ông Phạm Xuân Cần - Facebooker: Mạng xã hội mở rộng không gian sống của con người

          Có thể coi mạng xã hội trước hết là một không gian, một môi trường sống và hoạt động của con người. Từ chỗ là không gian, môi trường sống của một nhóm, đến nay nó đã mở rộng và xâm nhập sâu vào đời sống xã hội. Ở Việt Nam hiện nay, mạng xã hội đã trở thành một môi trường, một không gian sống của đa số người dân. Với tư cách là một không gian, không gian ấy cần được mở rộng. Với tư cách một môi trường, môi trường đó phải được trong lành. Vì vậy, đừng bao giờ nghĩ đến việc thu hẹp, hay cấm đoán nó, mà chỉ nên nghĩ đến cách quản lý nó, để nó được thông thoáng và giảm nhẹ ô nhiễm. Mạng xã hội hoàn toàn do con người tạo ra, cho nên quản lý nó thực chất cũng là quản lý xã hội.

          Nhìn ở một góc độ khác, mạng xã hội là một phương tiện để các chủ thể sử dụng nó vào những mục đích khác nhau. Với tư cách này, mạng xã hội không bao giờ có lỗi, lỗi nằm ở phía người sử dụng. Giống như một khẩu súng, trong tay người lính chiến đấu bảo vệ Tổ quốc nó là vũ khí cần thiết, ngược lại trong tay một tên tội phạm, nó là hung khí có thể giết người lương thiện. Chính quyền không thể và không nên vì mấy vụ giết người mà cấm cả quân đội của mình không được sử dụng súng.

          Với cả hai khía cạnh đó, một người dân của xã hội hiện đại được, cần và nên tham gia vào mạng xã hội, coi đó như là một cách mở rộng không gian sống, đa dạng môi trường sống của mình. Đó cũng là cách để thỏa mãn các nhu cầu bậc cao của mình, cũng như có thể thực hiện nhiều hoạt động sống, lao động, sáng tạo và kinh doanh trên đó. Chối bỏ mạng xã hội là tự mình tước đi của mình quyền mở rộng không gian và môi trường sống. Tuy nhiên, mỗi người tùy hoàn cảnh, điều kiện và mục đích, lợi ích của mình cần thiết và có thể lựa chọn cách thức, mức độ tham gia và sử dụng mạng xã hội khác nhau. Giống như ai cũng thở, nhưng  nhu cầu và cách thở của một người khỏe mạnh khác với một bệnh nhân bị bệnh tim mạch. Hoạt động nào cũng cần kiến thức và kĩ năng. Muốn có kiến thức và kĩ năng thì phải học tập dưới nhiều hình thức khác nhau. Là một sản phẩm của công nghệ cao, mạng xã hội càng đòi hỏi người tham gia phải học, phải trang bị cho mình những kiến thức, kĩ năng, thậm chí cả văn hóa cần thiết.

          Cũng như xã hội thực tế, mạng xã hội có thể tác động đến các thành viên khác, đặc biệt là thông qua các cơ chế như giám sát và tạo hiệu ứng xã hội. Tuy nhiên, với sự trợ giúp của công nghệ, mức độ và tốc độ lan truyền của mạng xã hội cao gấp nhiều lần trước đây khi chưa có mạng xã hội. Bởi vậy hiệu ứng mà nó gây ra cũng sâu rộng hơn và đặc biệt hết sức nhanh chóng. Đặc biệt, mạng xã hội đã tỏ ra hết sức hiệu nghiệm trong việc tạo ra các hiệu ứng tâm lý đám đông. Chính vì thế nhiều tổ chức và cá nhân đã biết tận dụng khả năng này để quảng bá, quảng cáo sản phẩm, hoặc tạo hiệu ứng xã hội (ủng hộ hay phản đối) đối với một sự kiện, chính sách, hoặc nhân vật nào đó. Thậm chí mạng xã hội cũng đã góp phần đắc lực tạo ra hàng loạt các "cuộc cách mạng" trên thế giới. Do vậy, nếu nói một cách ẩn dụ "mạng xã hội là quyền lực thứ năm" thiết nghĩ cũng không sai.

          Mạng xã hội có sức mạnh ghê gớm như vậy, cho nên chính quyền và bản thân các chính khách, các nhà lãnh đạo các cấp cũng nên biết sử dụng nó, coi nó như một công cụ quan trọng để đưa quan điểm, chủ trương, chính sách của mình đến với dân chúng. Chí ít cũng là để biết, để dò, để đo lường tâm trạng xã hội, qua đó để định hướng, hoặc điều chỉnh hành vi của mình. Trong điều kiện hiện nay, nếu một vị lãnh đạo nào đó còn nói "Tôi không dùng mạng xã hội", thì hãy coi đó cũng là một thiếu sót. Hãy xem các đời Tổng thống Mỹ gần đây, hay gần ta hơn là Thủ tướng Campuchia Hunxen là những ví dụ thuyết phục cho việc chính quyền và các chính khách biết sử dụng mạng xã hội một cách rất hiệu quả.

          Thực tế đó đòi hỏi chính quyền, cũng như mỗi người chúng ta cần phải có một thái độ chủ động và tỉnh táo gia nhập mạng xã hội. Không nên quay lưng lại mạng xã hội, bởi vì dù chính quyền hay mỗi người chúng ta quay lưng lại nó, thì liệu nó có buông tha cho chúng ta? Tuy nhiên, chính quyền cũng như mỗi người chúng ta cần phải biết quản lý khi tham gia mạng xã hội. Nhà nước quản lý mạng xã hội vì lợi ích của nhân dân và xã hội, nhưng nhà nước cần nhớ rằng: Quản lý mạng xã hội là để mở rộng và phát triển nó, ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường mạng, chứ không phải là để ngăn cấm hay thu hẹp nó. Còn mỗi người tự quản lý mình, quản lý các mối quan hệ, quản lý các sản phẩm của mình trên mạng xã hội cũng là để tự bảo vệ mình. Được như vậy chúng ta sẽ được hưởng lợi rất lớn từ mạng xã hội, đồng thời hạn chế được những tác hại mà nó có thể mang lại.

Tiến sĩ Hồ Bất Khuất - Tạp chí Gia đình & Trẻ em: Cần có trách nhiệm với cộng đồng khi tham gia mạng xã hội

          Không gian mạng bao la tạo cảm giác tự do. Song, những người có trách nhiệm với cộng đồng hiểu ngay rằng, tự do của bản thân mình sẽ kết thúc khi xâm phạm tự do của người khác. Những người có chuyên môn trong lĩnh vực báo chí - truyền thông hiểu được rằng, tự do - suy cho cùng là sự tự nhận thức; nghĩa là anh phải biết mình là ai và ứng xử phù hợp với vai trò, địa vị, trình độ… của mình.

          Vì vậy, người có trách nhiệm với cộng đồng khi tham gia mạng xã hội; trước hết, cần phải giới thiệu tên tuổi, nghề nghiệp, quê quán, nơi sinh sống… của mình. Điều này chính là "cái neo" giữ người đó lại để không "dạt trôi" quá xa vào những miền vô định khác. Theo dõi những gì diễn ra cả chục năm nay, tôi thấy hầu hết những người phát biểu chững chạc, đàng hoàng trên mạng xã hội đều có phần lý lịch khá rõ ràng; thậm chí, họ đăng cả ảnh chân dung của mình lên mạng. Những người như thế này rất có ý thức bảo vệ danh dự của mình; họ không chửi đổng, không nói càn; những gì họ nói đều có lý lẽ, có dẫn chứng cụ thể.

Điều thứ hai cần làm là hãy hết sức bình tĩnh trước những thông tin được cho là "nóng", là "gây sốc". Người có trách nhiệm thường không bàng quan, không vô cảm trước những  điều này nhưng họ sẽ không nóng nảy, không tỏ ra cục cằn, họ không miệt thị, không xúc phạm những người nói hoặc làm những điều sai trái, lạ lẫm.

          Thứ ba, nếu bị khiêu khích trên không gian mạng, cần kiên trì, nhẫn nại, tỉnh táo đối đáp. Làm được như vậy, những người khiêu khích đơn thuần (khác quan điểm) sẽ hiểu ra vấn đề và họ ngừng tranh luận. Còn những người xem khiêu khích là "trách nhiệm" của họ thì họ cũng sẽ "bị lộ". Khi những người "khiêu khích chuyên nghiệp" bị lộ thì họ không còn giá trị nữa. Việc của những người đàng hoàng lúc này là không đối đáp, hoặc không cho họ tham gia (khóa) nữa.

          Nếu ai cũng làm được 3 điều tôi nói trên, mạng xã hội sẽ phát huy tác dụng và có những đóng góp giá trị vào thị trường thông tin.

Nhà báo Phạm Việt Thắng - Báo Lao động Nghệ An: Tham gia mạng xã hội nhà báo nên chọn cho mình "đường ranh" để không vượt qua những quy định của luật pháp, của cơ quan và các giá trị khác

          Mạng xã hội, nơi kết nối các thành viên mà không kể đến không gian, thời gian - đó là tiện ích nên con người ngày càng tham gia nhiều hơn. Ở Việt Nam, có đến 60 triệu người tham gia mạng xã hội. Vậy thì không lí gì nhà báo lại không tham gia mạng xã hội. Nếu gạn lọc đi các yếu tố "bẩn" thì mạng xã hội không chỉ là nguồn tin tức vô tận mà còn là trường học lớn cho những ai muốn tìm kiếm thông tin, học hỏi kiến thức, trao đổi kinh nghiệm. Mà tin tức là nguồn sống của báo chí, nên nhà báo tham gia mạng xã hội là việc như "cơm ăn, nước uống" vậy.

          Còn tham gia như thế nào và với mức độ nào, thì hoàn toàn không có một thời lượng, cách thức chung nào cho từng người.

          Ví dụ, một nhà báo được giao nhiệm vụ đề xuất đề tài, thì anh ta phải "lang thang" trên mạng nhiều hơn, để tìm thông tin, trao đổi, chia sẻ… để thu về được nhiều thông tin cần thiết, từ đó đề xuất đề tài để phóng viên thực hiện.

          Tuy nhiên, theo tôi, dù có đặc thù gì thì mỗi người cũng xây dựng cho mình một thời gian biểu hợp lí, không ai dành phần lớn thời gian trong ngày để tham gia mạng xã hội. Và, có ý nghĩa cỡ nào thì nhà báo cũng phải chọn cho mình một "đường ranh" để không vượt qua những quy định của luật pháp, của cơ quan và các giá trị khác…

          Còn việc có nhiều người làm báo đang thể hiện những thái độ khác nhau, thậm chí là mâu thuẫn nhau khi xuất hiện trên báo chính thống và mạng xã hội, theo tôi có mấy nguyên nhân sau:

          Thứ nhất, hầu hết các cơ quan báo chí rất ngại đưa ra những nhận định, thông tin, bình luận được cho là "nhạy cảm", dẫn đến một số bài viết, ý kiến của người làm báo không được sử dụng. Khi những ý kiến đó không được sử dụng trên báo chính thống thì họ đưa lên mạng xã hội để thỏa mãn nhu cầu chia sẻ, cung cấp thông tin, bày tỏ quan điểm của cá nhân.

          Thứ hai, một số người làm báo chỉ vì mục đích nhuận bút, nên họ chỉ chọn những đề tài an toàn để viết, còn những vấn đề gai góc thì bày tỏ trên mạng xã hội.

          Thứ ba, một số người vẫn giữ nguyên thái độ, mà chỉ thay đổi cách thể hiện. Khi viết báo thì họ "mềm mại" hơn, khi tham gia mạng xã hội thì gay gắt hơn.

Ông Kha Văn Tám - Phó Trưởng Ban Thường trực, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và người dân khi tham gia mạng xã hội

          Bản chất internet là môi trường mở cho phép người sử dụng được tự do cung cấp, tìm kiếm và sử dụng thông tin, tính truyền tải nhanh, diện tham chiếu rộng, thông tin gần như tức thì, dễ tạo hiệu ứng xã hội theo chiều rộng nên rất khó quản lý và kiểm soát. Tính ưu trội của mạng xã hội với sự đa dạng của các trang mạng xã hội được sử dụng hiện nay như: Facebook, Google, Twitter, Youtube, Zalo,…  còn tạo ra khả năng giao lưu, chia sẻ, kết nối cộng đồng rất thuận lợi. Đây là tính năng đặc biệt hấp dẫn đối với những người sử dụng.

          Bên cạnh đó, internet được ví như con dao 2 lưỡi chứa nhiều hiểm họa khó lường đối với người sử dụng không đúng mục đích. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay các thế lực thù địch đã triệt để tận dụng mạng internet để thực hiện chiến lược "Diễn biến hòa bình" chống phá cách mạng Việt Nam, trong đó Nghệ An là một trong những địa bàn trọng điểm mà các thế lực thù địch tập trung chống phá. Thông qua việc thiết lập các website, blog, facebook, youtube để tổ chức truyền tải thông tin xấu, độc nhằm: 1. Phá hoại tư tưởng, đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân; 2. Gây nhiễu loạn thông tin, làm phức tạp về chính trị xã hội; 3. Làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp.

          Chiêu bài chính chúng tập trung hướng vào là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống để xuyên tạc, thổi phồng; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là "tài liệu chứng minh" để xuyên tạc vai trò lãnh đạo, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bịa đặt về bí mật theo kiểu hé lộ những "thâm cung bí sử" trong Đảng…

          Cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiện nay đã và đang tiếp cận, sử dụng các trang mạng xã hội với nhiều mục đích khác nhau: tìm kiếm tài liệu phục vụ học tập, trao đổi thông tin hữu ích, chia sẻ, kết nối bạn bè… Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy bên cạnh những tác động tích cực của các trang mạng xã hội mang lại thì không tránh khỏi những tác động tiêu cực, đặc biệt là những tác động trực tiếp ảnh hưởng đến bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức, lối sống, mục tiêu, lý tưởng cách mạng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiện nay.

          Thực tế cho thấy việc giao lưu, chia sẻ thông tin lên mạng xã hội hiện nay đang ẩn chứa những hệ lụy khó lường, đôi khi chính người sử dụng cũng không thể ngờ tới cho đến khi xảy ra những tiêu cực, hậu quả xấu. Phòng, chống hiệu quả tác động tiêu cực của các trang mạng xã hội đối với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiện nay là một yêu cầu cấp thiết song cũng hết sức phức tạp, có tính lâu dài. Để chủ động ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội, phòng, chống có hiệu quả tác động tiêu cực của các trang mạng xã hội, làm thất bại chiến lược "Diễn biến hòa bình" trên mạng internet đối với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp sau:

          Một là, mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý đối với hệ thống thông tin nói chung, mạng internet nói riêng. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đối với mạng internet cần phải quán triệt, định hướng chính trị, nâng cao nhận thức cho các đối tượng khi tiếp cận thông tin, mạng internet, nhất là các cổng thông tin điện tử, các trang mạng xã hội có nội dung xấu, độc. Quản lý chặt chẽ việc sử dụng các thiết bị điện tử thông minh của các đối tượng trong cơ quan, đơn vị. Khi phát hiện các thông tin, hình ảnh, clip có nội dung xấu tại địa phương, đơn vị bị phát tán trên mạng xã hội, Internet, kịp thời báo cáo cấp trên; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tiến hành các biện pháp xử lý, ngăn chặn, bóc gỡ kịp thời, không để tán phát trên các trang mạng xã hội và Internet. Chủ động nắm, quản lý, dự báo, thông tin định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước các thông tin xấu độc.

          Hai là, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội nói chung, chống "Diễn biến hòa bình" trên mạng internet nói riêng; nhận diện các thủ đoạn, nội dung thông tin xấu độc, tính chất nguy hại của nó đối với cá nhân và xã hội. Qua đó trang bị kiến thức cần thiết để mỗi người có thể tự sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống, đồng thời "miễn dịch" với những thông tin xấu độc làm nhiễu loạn môi trường xã hội.

          Ba là, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị, xã hội tham gia đấu tranh chống âm mưu, hoạt động "Diễn biến hòa bình" trên mạng internet. Kịp thời cung cấp thông tin tuyên truyền, ngăn chặn không để các quan điểm sai trái phát tán trên mạng internet có điều kiện tác động đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Đấu tranh, phê bình trực diện đối với những cá nhân cơ hội, lệch lạc về chính trị ngay từ các cơ quan, đơn vị, địa phương. Đi liền với công tác đấu tranh chống địch phá hoại về tư tưởng chính trị, cần tăng cường công tác quản lý nội bộ, không để địch lợi dụng, kích động, lôi kéo, chia rẽ.

          Bốn là, thường xuyên đổi mới hình thức, phương pháp tuyên truyền, đấu tranh chống âm mưu, hoạt động "Diễn biến hòa bình". Thông tin về từng sự kiện, hiện tượng kịp thời, vấn đề cần được khai thác, phát hiện từ nhiều góc độ, bình diện khác nhau, tránh được sự đơn điệu, trùng lặp và một chiều, kết hợp nhiều thể loại, nhiều hình thức. Công tác tuyên truyền, đấu tranh chống "Diễn biến hòa bình" phải có đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn, phân tích một cách sâu sắc, có sức thuyết phục.

Ông Nguyễn Bá Hảo - PGĐ Sở Thông tin Truyền thông: Xây dựng cơ chế, chính sách để đảm bảo môi trường pháp lý bình đẳng, minh bạch trên mạng xã hội

          Trong vòng gần 10 năm trở lại đây, việc tham gia các trang mạng xã hội (MXH) như Facebook, YouTube, Google, Twitter, Zalo, Zing.me… của người Việt Nam với nhiều mục đích khác nhau ngày càng trở nên phổ biến. Bên cạnh việc giao lưu, kết nối bạn bè, giải trí, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin thì hệ lụy mang lại do những tác động tiêu cực từ các trang MXH cũng không hề nhỏ.

          Để quản lý hoạt động của mạng xã hội, trong những năm qua, Việt Nam từng bước xây dựng, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động internet nói chung và mạng xã hội nói riêng, bảo đảm môi trường pháp lý bình đẳng, minh bạch, phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Hoàn thiện các quy định về quản lý hoạt động thông tin trên mạng nói chung và mạng xã hội nói riêng, tập trung nghiên cứu xây dựng Luật về quản lý thông tin trên mạng để có thể tạo ra hành lang pháp lý đầy đủ, phù hợp.

          Bộ Thông tin và Truyền thông cùng các cấp, các ngành đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành, tăng cường công tác quản lý MXH và thông tin trên mạng xã hội. Trong đó, tập trung yêu cầu các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội chủ động rà soát toàn bộ hoạt động cung cấp dịch vụ của mình, nâng cao trách nhiệm quản lý thông tin trên mạng xã hội do mình cung cấp. Tăng cường  công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động mạng xã hội, xử lý nghiêm những đối tượng vi phạm,  phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội phối hợp ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin sai phạm. Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đã thiết lập được cơ chế phối hợp với Google và Facebook. Đây là hai dịch vụ của nước ngoài có khá đông người Việt Nam sử dụng.

          Bên cạnh đó,  Bộ Thông tin và Truyền thông cũng chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức, văn hóa của người sử dụng mạng xã hội, nhất là giới trẻ, để từng người sử dụng có ý thức, trách nhiệm hơn khi phát ngôn trên mạng xã hội. Đồng thời, đẩy mạnh cung cấp thông tin, công khai, minh bạch thông tin trên các phương tiện truyền thông chính thống góp phần hạn chế cơ hội phát triển của các phát ngôn vi phạm pháp luật, gây thù ghét trên mạng xã hội.  Hướng tới mục tiêu cùng chung tay xây dựng mạng xã hội tại Việt Nam lành mạnh, an toàn, đóng góp ngày càng tích cực và hiệu quả vào sự phát triển của toàn xã hội. Chủ động, tích cực tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, làm cho nhân dân thấy rõ tính hai mặt của mạng xã hội, nhất là mặt tiêu cực, tác động do âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá, tránh tình trạng vô tình tiếp tay cho các hoạt động chống phá và các hành vi tiêu cực, phản cảm, thiếu văn hóa trên mạng xã hội. Đồng thời tăng cường sự giám sát, phát hiện thông tin sai phạm từ cộng đồng.

          Xây dựng và triển khai bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội cho các nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng mạng xã hội, hướng tới xây dựng môi trường mạng lành mạnh, an toàn tại Việt Nam. Đồng thời, xây dựng chính sách hỗ trợ, khuyến khích hình thành các trang mạng xã hội lớn, mạnh của các doanh nghiệp Việt Nam có khả năng thay thế hoặc cạnh tranh được với các trang mạng xã hội nước ngoài đang cung cấp dịch vụ xuyên biên giới vào Việt Nam.

          Triển khai các giải pháp kỹ thuật nhằm tăng cường tính chủ động, kịp thời trong công tác quản lý internet và mạng xã hội. Theo đó, quản lý, thu thập, phòng ngừa và cảnh báo, lọc và phát hiện tin giả, tin sai sự thật, công cụ đo lường theo thời gian thực mức độ lan truyền, phát tán những thông tin này trên mạng xã hội và các phương tiện truyền thông trực tuyến khác nhằm chủ động ngăn chặn sự lan truyền và cảnh báo sớm tin giả ngay khi nó xuất hiện trên mạng xã hội. Có cơ chế phối hợp giữa các đơn vị quản lý và doanh nghiệp trong việc ngăn chặn, gỡ bỏ các thông tin xấu độc trên mạng xã hội.

          Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực, tuy nhiên công tác quản lý MXH vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, những thách thức này xuất phát từ chính sự phát triển bùng nổ của MXH và sự gia tăng chóng mặt của lượng người dùng. Chính vì vậy cần sự vào cuộc của rất nhiều ngành và nhiều người, và trước hết là chính người dùng MXH, để mỗi người dùng MXH là một "người tỉnh táo" góp phần làm trong sạch môi trường mạng với một thái độ tích cực, cầu thị và có trách nhiệm.

Ông Trần Quốc Thành - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ: Xây dựng môi trường văn hóa trên mạng xã hội

          Mạng xã hội là một sản phẩm của kỷ nguyên internet. Tiền thân của mạng Internet ngày nay là mạng ARPANET do cơ quan Quản lý Dự án nghiên cứu phát triển ARPA thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ xây dựng.  Với khả năng kết nối rộng lớn, tiện ích, Internet đã trở thành một mạng lớn nhất trên thế giới, mạng của các mạng, xuất hiện trong mọi lĩnh vực thông tin, thương mại, chính trị, quân sự, khoa học, giáo dục, văn hoá, xã hội...

Mấy năm gần đây, cùng với hệ thống báo chí đã có, trên Internet xuất hiện ngày càng nhiều các mạng xã hội, công cụ tìm kiếm, kết nối thông tin khác. Chúng phát triển nhanh, lan tỏa rộng khắp toàn cầu, điển hình là Facebook, Twitter, YouTube, Google, Yahoochat, Gmail...

          Mạng xã hội xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng năm 2005 - 2006 với sự thâm nhập và phát triển của các mạng xã hội nước ngoài và sự hình thành, phát triển của mạng xã hội do người Việt tạo ra. Thực tế cho thấy, sau gần 20 năm kể từ khi xuất hiện tại Việt Nam (đối với Internet), 10 năm (đối với mạng xã hội), Internet và mạng xã hội đã và đang phát triển mạnh mẽ, luôn theo kịp sự phát triển các mô hình Internet và mạng xã hội trên thế giới, đồng thời ngày càng đi sâu vào cuộc sống của người dùng Việt Nam, tạo ra giá trị văn hóa mới - văn hóa mạng, góp phần cấu thành văn hóa Việt Nam đương đại, với một số biểu hiện khẳng định sự tồn tại của lĩnh vực này trong xã hội Việt Nam.

          Một trong những nhu cầu thể hiện rõ nét nhất trên mạng xã hội đó chính là nhu cầu được chia sẻ, mọi thông tin đều được đưa lên mạng xã hội và mỗi người tham gia mạng xã hội đều trở thành "nhà báo" theo cách của mình. Tuy nhiên, vô tình mạng xã hội tạo nên luồng dư luận xã hội khổng lồ với tốc độ lan truyền nhanh chóng và rộng rãi. Trước đây dư luận là sự truyền miệng, tiếp đó là bằng giấy, hình ảnh,... Còn bây giờ là internet, là mạng xã hội, nó được xem là kênh thông tin có sức mạnh ghê gớm hơn nhiều vì sự nhanh chóng, tức thời, sự lan tỏa về số lượng và không gian của nó.

          Vô hình chung, mạng xã hội trở thành tờ báo khổng lồ với đội ngũ "phóng viên" hùng hậu, một lực lượng phản biện xã hội to lớn mà có thể ngoài thực tế ít có điều kiện thể hiện; đồng thời là kênh dư luận xã hội lan tỏa điều tốt, phê phán điều xấu xa trong xã hội, chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh tế, chia sẻ khó khăn và tương trợ lẫn nhau... Nó tạo ra một "xã hội ảo" tồn tại song song với xã hội thực, sự lan truyền hay "lây nhiễm" của mạng xã hội đang khiến cho bất kỳ cá nhân nào, đặc biệt là những người trẻ - đối tượng có thể hấp thụ nhanh chóng về công nghệ, buộc phải tham gia vào mạng xã hội nếu không muốn đứng lại hay lạc hậu so với xã hội. Chính vì vậy, sự phát triển của các mạng xã hội sẽ không bị thoái trào mà còn ngày càng phát triển và ảnh hưởng tới hành vi của con người cũng như sự phát triển của xã hội thực.

          Tuy nhiên, bên cạnh ưu điểm thì mạng xã hội đang trở thành môi trường thuận lợi để thông tin xấu độc, gây hại, những phát ngôn thù ghét phát triển, lan tỏa; mức độ tác động đến xã hội ngày càng nghiêm trọng.

          Do đó, để xây dựng môi trường mạng xã hội lành mạnh, văn hóa, cần chú trọng:

          Thứ nhất, khuyến khích các cơ quan nhà nước, các lãnh đạo bên cạnh website cần thành lập và xây dựng những tài khoản trên mạng xã hội để tạo thành những kênh truyền thông nhằm nâng cao nhận thức cho chính người sử dụng mạng xã hội, nắm bắt dư luận để phục vụ công tác quản lý xã hội và chống tiêu cực trong bộ máy.

          Thứ hai, cần công khai thông tin chính thống trên các phương tiện thông tin và mạng xã hội để mọi người tiếp cận và định hướng dư luận. Giải thích, phản bác, các thông tin sai, hoặc hiểu nhầm. Minh bạch thông tin việc xử lý những phản ánh đúng, khuyến khích động viên các thông tin chia sẻ tương trợ, thiện nguyện, người tốt việc tốt để định hướng và xây dựng đạo đức xã hội. 

          Thứ ba, cần có chế tài xử lý đối với thông tin phỉ báng, bôi nhọ, vi phạm quyền cá nhân, hành vi cắt ghép sửa đổi hình ảnh bằng công nghệ làm sai lệch thông tin có chủ đích.

          Thứ năm, giáo dục, hướng dẫn thế hệ trẻ văn hóa giao tiếp trên mạng. Coi đó là ảo nhưng không ảo mà đấy là giao tiếp xã hội!q

TÒA SOẠN

 

Là chú cừu trong bóng tối hay cầm khiên và giáo lên bước ra vùng sáng?

10 năm trước, sở hữu và tiếp cận thông tin là thế mạnh không chia đều cho tất cả. Ngày hôm nay, trong bầu khí quyển truyền thông, đặc quyền bị phá bỏ khi thông tin tràn ngập trong mọi lĩnh vực, khả năng lựa chọn, phân tích thông tin mới là ưu thế sống còn. 

Những ngày này, câu chuyện chúng ta thường hay nhắc đến là gì? 

Chuyện một nhà nghiên cứu già dành gần hai chục năm cuộc đời để theo đuổi một công trình của riêng ông về ngôn ngữ. Chưa bàn đến sự khả dụng hay không, nhưng tâm huyết và sự nghiêm túc của ông dành cho công trình này là có thật, và nó đáng được trân trọng.

Thế nhưng, chúng ta thấy gì trên mạng Internet?

Công trình của vị PGS-TS bị cư dân mạng ném đá không thương tiếc. Hàng triệu con người sử dụng mạng xã hội lao vào và sử dụng những từ ngữ tục tĩu nhất để miệt thị một công trình nghiên cứu đầy say mê. Cư dân mạng mê man hùa theo một cơn giận dữ ảo, như thể vị PGS - TS kia là một tội đồ mắc tội không dung thứ. Chỉ riêng việc lướt comment và đọc những lời nói cay độc, những bức ảnh chế cũng đủ giúp bạn nhìn thấ hết những từ ngữ xấu xí nhất trong từ điển Việt Nam. Thậm chí, có người chỉ tham gia hùa vào, chửi cho vui, miệt thị cho vui, cho đúng xu thế chứ chẳng đọc đầu đuôi câu chuyện, chẳng đặt câu hỏi tại sao lại thế này? Vì sao lại thế kia? 

Câu chuyện này tương tự như n câu chuyện khác trôi nổi trên MXH, xuất hiện hàng ngày, kéo dài vài tuần, thậm chí cả tháng. Tất cả đều có một điểm chung: Cơn giận dữ mù quáng của cư dân mạng.  

Sự phát triển quá nhanh của công nghệ không tặng kèm cho chúng ta một màng lọc thông tin hiệu quả. Mỗi cá nhân phải tự trang bị cho mình thiết bị để xác định và chắt lọc ra sự thật. Thiết bị ấy cũng là vũ khí để chúng ta tự bảo vệ. Thứ thiết bị/ vũ khí đó không nằm ngoài cơ thể, mà cần cài đặt bên trong: Tư duy phân tích, tên gọi khác là tư duy phản biện.

Bóng tối không tồn tại?

Trong giới học thuật lưu truyền một câu chuyện thú vị. Cách đây không lâu, câu chuyện ấy được dựng thành một clip với tên Does God Exist?

Trong một lớp tiểu học nọ, người thầy đứng trước học trò và nói: "Ta sẽ chứng minh cho các con rằng, nếu Chúa tồn tại, thì ông ta là quỷ dữ". Người thầy lập luận: "Chúng ta đều biết Chúa tạo ra mọi thứ. Nếu đó là thật thì Chúa cũng tạo ra quỷ dữ. Như vậy Chúa chính là quỷ dữ".

Một cánh tay giơ lên từ cậu bé tóc xoăn: "Thưa thầy, cái lạnh có tồn tại không ạ?". 

"Tất nhiên là có. Trong các em ai lại chưa thấy lạnh nào?".

"Thầy đã sai!". Cậu bé lắc đầu. "Sự thật là cái lạnh không tồn tại. Theo các định luật vật lý, thứ ta gọi là lạnh thực chất chỉ là biểu hiện của thiếu vắng nhiệt độ. Thưa thầy, bóng tối có tồn tại không ạ?".

Thầy bối rối: "Tất nhiên… là có".

"Thầy sai một lần nữa. Bóng tối cũng không tồn tại. Bóng tối thực chất là sự thiếu vắng ánh sáng. Chúng ta có thể nghiên cứu ánh sáng, không phải bóng tối". Cậu bỗng nghiêm giọng. "Quỷ dữ không tồn tại. Chúa không tạo ra quỷ dữ. Vì giống như cái lạnh và bóng tối, đó là kết quả của việc con người không có được tình yêu của Chúa".

Đoạn clip khép lại với tên cậu bé hiện ra: Albert Einstein. Chúng ta đều biết đó là ai.

Không bàn đến các yếu tố tôn giáo và mục đích của đoạn clip là kêu gọi tăng cường giảng dạy giáo lý tại các trường học Mỹ, câu chuyện này là ví dụ dễ hiểu nhất cho tư duy phản biện, ở cả cốt lõi nhận thức và thái độ. Đó là cách một người dùng các lập luận rõ ràng, logic, có tính thuyết phục cao, để phản bác lại một vấn đề được nêu ra trước đó. Người đó cũng đã vượt qua các rào cản cấp bậc trong quan hệ, không để nó ảnh hưởng đến sự công tâm, khách quan, tính chính xác của điều mình phân tích và tin tưởng.

Hiểu một cách đơn giản, tư duy phản biện là việc chúng ta không chấp nhận ngay lập tức một vấn đề, dù nó hấp dẫn và có vẻ dễ tin đến đâu. Luôn có nhiều mặt cần xem xét đối với vấn đề ấy và phải trải qua quá trình tư duy, bao gồm các giai đoạn từ thu thập dữ liệu, phân tích, lập luận, đánh giá rồi mới đi đến kết luận cuối cùng.

Kết quả của quá trình đó là tính chính xác của vấn đề được làm sáng tỏ. Nói cách khác, mọi vấn đề đều có thể khởi đi từ vùng tối, phản biện là quá trình chúng ta bước từng bậc lên khỏi miệng hang, tìm kiếm từng tia sáng nhỏ nhoi cho đến khi bước ra vùng sáng sau cùng.

Người đồng hành vô hình

Trong phim World War Z, nhân vật của Brad Pitt hỏi một người Israel rằng vì sao chỉ có dân tộc này biết được đại dịch xác sống mà cả thế giới thì không. Người Israel ấy trả lời: "Đó là nhờ quy tắc của chúng tôi. Nếu trong 10 người Israel mà 9 người đầu có cùng kết luận, người còn lại buộc phải cho rằng 9 người kia sai." Chi tiết này không hoàn toàn hư cấu.

Nếu bạn đọc quyển Quốc gia khởi nghiệp, hẳn đều nhớ chi tiết: Tại Israel, nhân viên mới của công ty được phép tranh luận với Tổng giám đốc. Một người lính cấp bậc thấp khi cần có thể không tuân theo lệnh cấp trên. Một thường dân có quyền nêu ý kiến với các cán bộ cấp cao. Tưởng phi lý nhưng không hề phi lý. Bởi đó chính là một trong các bí quyết làm nên thành công của người Israel, khiến họ được xem là dân tộc thông minh hàng đầu: Văn hóa phản biện.

Ở Mỹ và châu Âu, giáo viên rèn luyện cho học sinh tranh luận từ cấp tiểu học. Họ đặt ra các đề tài mang tính khơi gợi như "Ma quỷ có tồn tại không?" hay "Ta nên luôn trung thực hay có thể nói dối khi cần thiết?" rồi chia học sinh thành hai nhóm có ý kiến khác nhau. Các nhóm sẽ trình bày lập luận, sau đó giáo viên sẽ đổi vai trò, nhóm nào từng chống lại giờ phải ủng hộ, và ngược lại. Mục đích không phải là tìm câu trả lời, mà rèn luyện cho trẻ em thấy được các mặt khác nhau của cùng một vấn đề. Tư duy phản biện trở thành môn học chính quy. Ở mỗi cấp, lại có những môn học về tư duy mang tính chuyên sâu khác nhau, như: Phân tích bằng chứng hay Tiếp cận và phát triển tranh luận. Các chủ đề cũng được chia ra như phản biện về chính trị, tôn giáo, giáo dục, tâm lý, lịch sử… cung cấp những kĩ năng tư duy trong mỗi lĩnh vực.

Ở môi trường công việc, tư duy phản biện đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của cá nhân lẫn cộng đồng. Phản biện thực sự mới giúp giải quyết các mâu thuẫn, nảy ra các ý tưởng mới, hướng giải quyết mới, sáng tạo mới.

Quá trình phát triển của nhân loại chứng minh không có tiến bộ vĩ đại nào xuất hiện nếu không có tư duy phản biện đồng hành.        Giordano Bruno bị Giáo hội trung cổ thiêu sống vì tin vào các bằng chứng cho thấy Trái Đất hình cầu chứ không phải mặt phẳng. Khi Charles Darwin lần đầu công bố Thuyết tiến hóa, ông bị cộng đồng khoa học tẩy chay dữ dội. Albert Einstein, bộ óc vĩ đại nhất nhân loại thế kỉ 20, cũng bị ngờ vực khi đưa ra Thuyết tương đối… Các cá nhân trên không để cho tư tưởng cũ đàn áp hoặc áp lực cộng đồng chi phối, mà kiên định tin tưởng vào kết quả từ quá trình tự vấn, trao đổi và suy nghiệm của bản thân. Nhờ bạn đồng hành vô hình mang tên phản biện, tri thức loài người đã tiến những bước xa.

Nếu chúng ta là những chú cừu?

Cách đây hai năm, trong cuộc hội thảo về văn chương Việt đương đại, một dịch giả người Pháp bỗng đặt câu hỏi thoạt nghe có vẻ "lạc đề": Tại sao trong trang viết của các nhà văn trẻ Việt Nam thường xuyên xuất hiện một (vài) nhân vật lớn tuổi, được miêu tả theo màu "chính diện", người không ngừng khuyên nhủ bảo ban các nhân vật khác, cả khi được yêu cầu lẫn khi không được yêu cầu? Mọi người đang ngơ ngác chưa biết giải thích ra sao, dịch giả này cho biết khúc mắc của ông: Khi dịch ra các ngôn ngữ khác, theo góc nhìn chung của độc giả phương Tây, những "người tốt" này được xem là kẻ hợm hĩnh dạy đời. Còn các nhân vật chỉ biết nghe lời, tuân theo chỉ dẫn của kẻ khác cũng bị đánh giá thấp (!)

Có nhiều cách giải thích cho thắc mắc của dịch giả trên, nhưng sâu xa, vấn đề nằm trong sự khác biệt ở tư duy người Việt. Từ xa xưa, cha ông ta không đề cao việc tự tìm tòi phản biện. Thậm chí, phẩm chất này bị triệt tiêu từ trứng nước: Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe. Việc im lặng không dám bày tỏ, với nam nhi được xem là khiêm tốn, với nữ nhi được xem là kín đáo nhu mì. Tâm lý né tránh tranh luận được đúc kết như cách ứng xử khôn ngoan: Một sự nhịn, chín sự lành. Tuổi tác, vai vế, chức vụ hay kinh nghiệm đem đến tiếng nói quyết định chứ không phải quá trình trao đổi và phân tích để có được giải pháp tốt hơn. Còn trẻ mà tự tin thể hiện là không nên, bị chê "Múa rìu qua mắt thợ". Chính vì thế, khi du học, học sinh sinh viên người Việt thường bối rối khi giảng viên từ chối trả lời trực tiếp mà đề nghị hãy tự tìm lời giải.

Từ "phản biện" (critical) theo nhận thức chung thiên về yếu tố "suy xét" trong tư duy. Nhưng trong tiếng Việt, nó lại thường được hiểu theo nghĩa tiêu cực, là các ý kiến phê phán, chống đối. Vô cùng đáng tiếc, đây lại là rào cản chưa được tháo bỏ.

Thực tế cho đến hôm nay, phần đông người Việt trẻ chúng ta, trong học tập, công việc lẫn cuộc sống hằng ngày, rất ít sử dụng đến kỹ năng phân tích và phản biện, dù các bạn có thể. Giáo dục phổ thông lẫn đại học vẫn theo hình thức áp đặt một chiều. Trừ một số trường quốc tế hay thực nghiệm, hầu hết học trò không được khuyến khích thể hiện bản thân. Nếu chúng ta có vấn đề thắc mắc cần đào sâu hay muốn đưa ra góc nhìn riêng, việc trình bày trước lớp dễ bị đánh giá là "tinh tướng" hay "chơi nổi", tranh luận với thầy cô bị xem là "hỗn láo". Trong gia đình, việc con cái "nghe lời" vẫn được khen nhiều hơn là "trao đổi" với mẹ cha. Dần dần, chúng ta trở nên thụ động, mong muốn được dẫn dắt hơn là tự tìm đường, thích dựa dẫm hơn là tự trải nghiệm. Chúng ta vui vẻ trong cộng đồng những người giống như mình, khó chịu khi chứng kiến ai đó hành động khác biệt.

Một giáo sư đến từ Arizona, Mỹ, từng có bài báo phân tích về tình trạng này ở Việt Nam. Trong đó, ông cho rằng điểm yếu lớn nhất của sinh viên Việt là không biết thể hiện chính kiến. Nếu không phạm đến lợi ích của mình, họ sẽ không phát biểu. Trong những công việc mang tính thử thách, sinh viên thường nương theo tập thể, không có ý định tự vấn xem ý kiến chung đó là đúng hay sai. Hiện nay, việc đào tạo nhân lực hiện tại của chúng ta sinh ra các nhân viên với tư duy gần như nhau. Chúng ta thường chấp nhận ngay chỉ đạo từ cấp trên, ít phản hồi, ngay cả khi phản hồi đúng đắn.

Thế nên lao động Việt thường bị đánh giá thiếu sáng kiến, thiếu đột phá. Những người lãnh đạo cũng hiếm khi tự phản biện để nhận sai, mà nương vào quyền lực để lấp liếm hoặc cho qua. Xa hơn, chúng ta không có được nhiều thành tựu ở các ngành đòi hỏi khắt khe về tư duy phản biện. Theo thống kê, tỉ lệ các công trình khoa học được công bố trên các tập san quốc tế của chúng ta thấp hơn rất nhiều các nước trong khu vực, chỉ bằng 1/5 Thái Lan, 1/10 Singapore… trong khi dân số cao hơn hẳn.

Sập bẫy ngụy biện

Với sự lên ngôi của mạng xã hội, thông tin được chia sẻ rộng rãi trong thế giới phẳng đang thay đổi con người một cách sâu sắc. Trang bị tư duy phản biện trở thành nhu cầu thiết thân để mỗi cá nhân tồn tại được giữa những đợt sóng thông tin khổng lồ, ứng xử hợp lý trước các tác động tích cực lẫn tiêu cực mà thế giới mạng mang lại. 10 năm qua có thể xem như giai đoạn chúng ta chập chững làm quen với Internet. Ở một lẽ nào đó, chúng ta giống những người lao ra đại dương trên chiếc xuồng mỏng manh, đối diện cơn bão các hệ lụy. Chưa bao giờ chúng ta tiếp nhận thông tin dễ dàng, nhanh chóng và đa dạng đến thế. Nhưng cũng chưa bao giờ chúng ta dễ bị đánh lừa, bị lôi kéo, và hay nhầm lẫn đến thế.

Khi nhận được một thông tin, phản ứng đầu tiên trên mạng thường là chỉ trích, thiếu quá trình xác minh thông tin đó đúng hay không, có các mặt tốt và xấu nào. Vì thế mới có các vụ thông tin giả tràn lan. Một tấm ảnh chụp bộ xe hơi đồ chơi đăng tải cũng có thể khiến dư luận dậy sóng truy tìm chủ nhân các "siêu xe". Một thông tin xào nấu từ bài báo cũ, thêm thắt chi tiết bạo lực, cũng được lan truyền gây hoang mang sợ hãi. Những tin đồn về cái chết của ai đó, dù họ vẫn sống, được chia sẻ mà không cần suy nghĩ.

Trở thành một netizen, khá đông người trẻ rơi vào một trong hai thái cực: Hoặc vì thiếu góc nhìn riêng, lười suy xét, cảm thấy khó khăn khi phân biệt đúng sai, chúng ta sẽ tìm đến một số cá nhân có tiếng nói mạnh hơn, chờ đợi ý kiến và quan điểm của họ. Chính từ đây hình thành nên những đám đông dễ bị kích động, với những vụ "ném đá tập thể" đã và sẽ còn tiếp tục xảy ra. Hoặc trường hợp thứ hai, chúng ta trở thành chính các cá nhân mạnh mẽ có thể dẫn dắt đám đông, gây nên những cuộc tranh cãi ồn ào. Vấn đề là ở đây, khi trình bày quan điểm, các bước phân tích, đánh giá không được dùng đến. Tiêu chí chính xác bị bỏ qua. Mục tiêu tìm kiếm sự thật bị gạt bỏ, nhường bước cho mong muốn bằng mọi giá giành phần thắng trong "cuộc chiến". Và như thế, hầu hết những cá nhân này rơi vào bẫy ngụy biện.

Có lẽ không ở đâu những câu ngụy biện xuất hiện dày đặc như trên mạng xã hội. Khi thần tượng bị anti fan chỉ ra khuyết điểm, thay vì tìm đúng-sai để bảo vệ thần tượng, chúng ta thường phủ đầu đối thủ: "Có được như người ta không mà bày đặt chê!". Khi dịch vụ của chúng ta có vấn đề, thay vì trao đổi để cải thiện, chúng ta tức tốc đáp trả: "Không thích thì biến đi chỗ khác!". Khi ai đó thân quen phạm lỗi, thay vì giúp sửa đổi, chúng ta viết: "Nó mới làm điều đó lần đầu!". Hay gần đây, khi nhà chức trách tiến hành hoạt động bắt giữ chó vô chủ gây nguy hiểm cho người dân, trên mạng có nhiều ý kiến phẫn nộ: "Sao không dành kinh phí bắt chó để... bắt cướp?". Bao biện, quy chụp, thành kiến, đánh tráo khái niệm, sử dụng tiêu chuẩn kép là những lối ngụy biện phổ biến trong giới trẻ. Ngoài đời, chúng không tốt cho một cá nhân. Nhưng với khả năng lan truyền của mạng, thái độ ngụy biện gây hại cho cả một thế hệ, một cộng đồng.

Tấm khiên và ngọn giáo

Có một sự thật trong thế giới mạng: Các thông số về lượng like, follow hay comment có thể dùng thay thế cho uy tín và sự thật. Không chỉ người khác, ngay chính bản thân chủ nhân cũng ngộ nhận về điều này. Một người phát ngôn trên mạng thường tin chắc ý kiến của mình đúng tuyệt đối. Gặp phải luồng trái chiều, phản ứng đầu tiên là cố sức chứng minh "tôi đúng - anh sai", chứ không mong cầu sự thật hay các kết luận đủ thuyết phục cho cả hai bên.

Thiếu vắng tư duy tự phê phán, thế giới mạng không mang lại không gian để giao tiếp, học hỏi và chia sẻ, như ý định ban đầu của người thiết kế ra nó. Không có tư duy phản biện sẽ không có tranh luận. Không có thái độ phản biện dẫn đến không có sự tôn trọng.

Ai cũng có khả năng tư duy, nhưng không hẳn ai cũng có kỹ năng phê phán. Tư duy phản biện cần phải được đào luyện và thực tập nhuần nhuyễn. Những kỹ năng đó bao gồm phân tích, tổng hợp, và đánh giá, không những về ý kiến, nhận định của người khác mà quan trọng là của chính mình.

Nhà xã hội học William Graham Sumner từng viết năm 1906: "Tư duy phản biện, nếu dùng thường xuyên trong đời sống xã hội, chính là một cách tốt để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Những người có học vấn sẽ giữ thái độ trung lập để xem xét, chờ đợi các bằng chứng hoặc lập luận có trọng lượng. Họ không bị ảnh hưởng bởi áp lực hay sự tự tin của người khác. Họ có thể chống lại những định kiến. Giáo dục tư duy phản biện chính là đường lối giáo dục giúp hình thành nên những công dân tốt."

Đặt ở bối cảnh hiện tại, thế kỷ 21 này, chúng ta thấy Summer vẫn đúng, đến từng từ. Tư duy phản biện có thể áp dụng trong mọi mặt đời sống, đặc biệt là đời sống mạng. Đó chính là tấm khiên giúp chúng ta tự chặn thông tin độc hại, mang tính kích động hoặc lung lạc. Tính chất tự phê phán của tư duy phản biện giúp ta giữ thái độ cầu thị, biết lắng nghe, luôn tự vấn, không hùa theo số đông, và từng bước hoàn thiện bản thân.

Rèn luyện tư duy phản biện thành một bản năng, một thói quen, biến nó thành ngọn giáo sắc nhọn, giúp ta đào sâu vào bản chất vấn đề, từ đó có thái độ cân bằng và đúng đắn. Tư duy phản biện không biến ta thành người khổng lồ, nhưng nó giúp ta tự do và làm chủ bản thân. Winston Sieck, học giả và là người sáng lập Học viện Tư duy (Thinker Academy) đầu tiên trên thế giới nhận định: "Nếu bạn còn tò mò, khao khát khám phá, không cần biết bạn yêu thích lĩnh vực nào, bạn vẫn sẽ cần tư duy phản biện cho cuộc đời mình".

          Và chúng ta có thể thực hành ngay bây giờ, bằng cách xem lại Does God Exist về Albert Einstein. Một người với tư duy phản biện sẽ lập tức đặt nghi vấn rằng, liệu Einstein có thật sự từng có cuộc tranh luận ấy với người thầy? Một clip có vẻ chuyên nghiệp và đáng tin đến thế, là bởi vì nó tìm mọi cách để tăng sức thuyết phục cho người xem. Einstein là cái tên rất thuyết phục, vì cả thế giới đều biết ông là ai. Đó là lý do câu chuyện này vừa là một ví dụ, vừa là một bài tập. Và nếu thật sự truy đến cùng, bạn sẽ biết sự thật: Không, Einstein chưa bao giờ nói những lời đó!

 

Phản biện xã hội qua mạng xã hội đang ngày càng trở thành vấn đề quan trọng, có giá trị đối với sự phát triển và tiến bộ xã hội. Nhưng nhận thức về vai trò của mạng xã hội và phản biện xã hội qua mạng xã hội không phải khi nào cũng tích cực và rõ ràng. Nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi mà việc quản lý mạng xã hội đang trở thành vấn đề được nhiều người quan tâm với nhiều quan điểm khác nhau. Để tìm hiểu thêm một chút về vấn đề này, chúng tôi xin đặt ra một số ý kiến, quan điểm riêng về vai trò và giá trị của phản biện xã hội qua mạng xã hội.

1. Thế nào là phản biện xã hội và phản biện qua mạng xã hội

Hai khái niệm chúng ta phải làm rõ để đi vào bài viết này là "phản biện xã hội" và "mạng xã hội". Và cũng từ hai khái niệm này để chúng ta hiểu thế nào là phản biện xã hội qua mạng xã hội hiện nay.

Theo Phạm Quang Tú (2012), "Phản biện xã hội là sự phản tư của các lực lượng xã hội đối với những kiến tạo chính sách, thể chế... trực tiếp liên quan đến quyền lợi của các thành viên trong cộng đồng, từ đó giúp các cơ quan hữu quan điều chỉnh chủ trương, chính sách cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Như vậy, về bản chất, phản biện xã hội là sự tương tác, giao thoa về quan điểm, tư tưởng giữa các lực lượng (chính trị, kinh tế, xã hội) trong một cộng đồng. Do đó, thực tiễn và chất lượng của hoạt động phản biện nói lên tính chất tiến bộ, trình độ dân chủ, văn minh của cộng đồng ấy".

Phản biện xã hội được hiểu theo nhiều cấp độ khác nhau. Ở góc độ rộng lớn, phản biện xã hội là một hình thức tư duy lại các vấn đề xã hội nhằm tìm kiếm những sự hạn chế để bồi đắp, bổ sung vào các nhận thức mới về vấn đề xã hội. Bên cạnh đó, phản biện xã hội là bày tỏ quan điểm, tư tưởng, hành vi của một cá nhân, tập thể về một vấn đề xã hội theo hướng trái chiều, không đồng thuận với các quan điểm, chính sách, hành vi xã hội hiện tại. Nói cách khác, phản biện vừa là hình thức tư duy, là nhận thức, vừa là hành vi, ý kiến, quan điểm phản đối về một vấn đề xã hội.

Mạng xã hội, được hiểu một cách phổ biến nhất là dịch vụ kết nối các thành viên có cùng sở thích hay cùng sự quan tâm trên internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau và không phân biệt về thời gian. Như vậy, nó là một loại mạng lưới xã hội ảo, được hình thành và phát triển dựa trên nền tảng phát triển của internet và các trang thiết bị công nghệ thông minh. Các mạng xã hội ảo phổ biến hiện nay như face book, zalo, Instagram, Twitter, Youtube… Các mạng xã hội tập hợp các thành viên theo nhiều phương cách khác nhau, có thể là các cá nhân, các nhóm, hình thành các cộng đồng khác nhau trên các mạng xã hội. Mạng xã hội cũng là không gian tương tác không chỉ giữa các cá nhân mà còn tương tác các nhóm, các cộng đồng khác nhau. Các cá nhân, các nhóm thể hiện các quan điểm, ý kiến của mình bằng những thông điệp có thể là ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh hay ký hiệu và được lan truyền qua các thành viên. Các thành viên tham gia vào mạng xã hội cũng tiếp nhận các thông điệp mà họ hiểu được và bày tỏ ý kiến của mình qua các ngôn ngữ, ký hiệu, biểu tượng hay hình ảnh, âm thanh….

Phản biện xã hội qua mạng xã hội là một hoạt động phản biện thông qua sự tương tác trên mạng xã hội. Ở đó, các cá nhân, nhóm thể hiện quan điểm, ý kiến của mình về các vấn đề xã hội và nhận những phản ứng khác nhau thông qua sự tương tác của các thành viên trên mạng xã hội đó. Nói một cách dễ hiểu thì phản biện xã hội qua mạng xã hội là hoạt động phản biện thông qua sự tương tác trên các mạng xã hội. Như vậy, sẽ phải có một thông điệp được đặt ra trên mạng xã hội liên quan đến các vấn đề xã hội mà các thành viên quan tâm. Từ thông điệp đó, các thành viên sẽ bày tỏ ý kiến của mình thông qua các comment hay các biểu tượng, các ký hiệu khác. Có nhiều loại thông điệp trên mạng xã hội như thông điệp cá nhân và thông điệp xã hội; Thông điệp phản biện và thông điệp trung tính. Thông điệp cá nhân là do một người đưa ra và liên quan chủ yếu đến bản thân họ để thông qua mạng xã hội sẽ có những tương tác với các thành viên khác. Thông điệp xã hội có thể do một cá nhân hay một nhóm đưa ra liên quan đến các vấn đề xã hội đang được nhiều người quan tâm. Thông điệp phản biện là những thông điệp được đưa ra thể hiện ý kiến trái chiều một cách rõ ràng về các vấn đề xã hội đang được xem xét. Thông điệp trung tính là thông điệp thể hiện các quan điểm mang tính chất trung lập về các vấn đề xã hội mà các thành viên đang thảo luận. Việc phân chia thành các loại thông điệp như vậy chỉ mang tính chất tương đối vì mọi thứ trên mạng xã hội đều đa dạng và phức tạp. Các thông điệp sau khi được đưa ra sẽ nhận sự tương tác giữa các thành viên khác trong mạng xã hội đó. Có nhiều loại tương tác khác nhau. Trước hết là các tương tác ủng hộ, thể hiện sự đồng tình với thông điệp được đưa ra. Thứ hai là tương tác phản đối, là sự thể hiện các ý kiến phản đối, trái chiều với thông điệp được đưa ra. Thứ ba là tương tác trung tính, thể hiện một quan điểm khác với quan điểm được đưa ra trong thông điệp chính. Ngoài ra còn có thể phân biệt thêm hai loại là tương tác hình thức và tương tác nhận thức. Tương tác hình thức là một sự thể hiện tương tác bằng các ký hiệu, biểu tượng mà bản thân chủ thể tương tác chưa nắm rõ quan điểm cụ thể của thông điệp được đưa ra thảo luận. Hay nói dễ hiểu hơn là họ có tương tác dù chưa đọc, chưa hiểu thông điệp đưa ra. Tương tác nhận thức lại ngược lại, thể hiện quan điểm của mình sau khi đã nhận thức và suy nghĩ kỹ về thông điệp xã hội được đặt ra. Có nhiều hình thức để thể hiện tương tác ủng hộ như "like" hay "unlike", lựa chọn biểu tượng có sẵn hay thể hiện ý kiến của mình bằng ngôn ngữ, hình ảnh… Có nhiều cách thể hiện hành vi tương tác, từ đơn giản nhất là nhấn các ký hiệu, biểu tượng có sẵn trên các mạng xã hội, viết các ý kiến dưới dạng các comment phía dưới các thông điệp, thể hiện bằng các hình ảnh, âm thanh, hay viết các bài viết để thể hiện quan điểm của mình, hay trích dẫn các ý kiến của người khác để thể hiện ý kiến, quan điểm của mình…

Phản biện xã hội qua mạng xã hội rất đa dạng. Nhưng nhìn chung nó cũng có thể được gom lại thành hai loại chính là phản biện chính sách và phản biện hành vi. Phản biện chính sách là sự thể hiện ý kiến, quan điểm trái chiều về các chính sách xã hội đang tác động đến cuộc sống. Các chính sách xã hội được đưa ra đều không thể hoàn thiện và hợp lý ngay được. Do vậy phản biện chính sách xã hội có giá trị giúp cho các nhà quản lý, những người thực hiện chính sách thấy được những điều hợp lý và chưa hợp lý về các chính sách đã đưa ra hoặc đang chuẩn bị đưa ra. Từ đó điều chỉnh sao cho phù hợp với sự phát triển của xã hội. Phản biện chính sách tồn tại sớm và đóng góp rất lớn và sự tiến bộ của xã hội. Phản biện hành vi là các ý kiến phê phán các hành vi sai trái liên quan đến các hoạt động xã hội. Đó có thể là một hành vi cá nhân hoặc của một nhóm nhưng tác động cụ thể đến đời sống xã hội. Phản biện hành vi có giá trị trong việc kiểm soát, điều chỉnh hành vi xã hội một cách đúng đắn và hợp lý hơn, phê phán các hành vi cậy quyền, thách thức xã hội, vượt ra khỏi đạo lý. Nếu trước đây, các phản biện xã hội phải thể hiện trực tiếp hoặc qua các cuộc họp lấy ý kiến với số lượng thành viên tham gia không nhiều thì hiện nay, phản biện qua mạng xã hội sẽ thuận lợi hơn nhiều do vượt qua được khoảng cách không gian và thời gian và lan truyền với tốc độ nhanh. Các mạng xã hội, góc độ nào đó trở thành một không gian quan trọng trong việc nhận thức, xem xét và kiểm soát các hành vi và chính sách xã hội, làm thay đổi nó theo hướng tích cực hơn. Nhưng mặt khác, nếu sử dụng sai mục đích thì nó cũng có những tác động tiêu cực, gây nên sự cản trở đối với sự tiến bộ xã hội.

Tóm lại, với sự phát triển nhanh chóng của các mạng xã hội đã hình thành ra nhiều không gian mới để con người thực hiện các phản biện xã hội nhằm thúc đẩy sự phát triển xã hội. Mạng xã hội khắc phục được hạn chế về khoảng cách không gian và thời gian, giúp người dân tiếp cận được các chính sách xã hội, hành vi xã hội một cách nhanh chóng và cũng dễ dàng biểu đạt ý kiến, quan điểm của mình đối với các chính sách, hành vi xã hội. Các hình thức thể hiện ý kiến, quan điểm cũng đa dạng hơn và tương tác với nhau một cách đa diện hơn. Hơn nữa, các mạng xã hội cũng tạo thành các nhóm nhằm hỗ trợ, ủng hộ và bảo vệ lẫn nhau đối với các thành viên khi họ thể hiện các ý kiến trái chiều, phê phán các thực tại xã hội, phản ánh các hành vi xã hội mang tính sai trái, tiêu cực. Sự hỗ trợ mang tính chất bảo vệ lẫn nhau qua mạng xã hội đã tiếp thêm sức mạnh cho các thành viên tham gia phản biện xã hội, nó cũng làm cho các nhà chức trách không thể "muốn làm gì thì làm" đối với những người đứng lên phê phán, phản biện xã hội.

2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phản biện xã hội qua mạng xã hội

Phản biện xã hội qua mạng xã hội rất đa dạng và phức tạp nên cần xem xét kỹ càng, nhất là trong bối cảnh xã hội đang có nhiều chuyển đổi như hiện nay. Không phải ai cũng nhận ra được các giá trị tích cực của các mạng xã hội để sử dụng nó một cách hợp lý và có giá trị văn hóa, cũng như có hiệu quả xã hội thật sự. Muốn vậy chúng ta cần tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phản biện xã hội qua mạng xã hội.

Trước hết, cần phải nói đến yếu tố tâm lý và quan điểm cá nhân. Nói cho cùng thì tâm lý và quan điểm cá nhân của  các thành viên trong mạng xã hội sẽ chi phối hành vi phản biện xã hội của họ trên mạng xã hội đó. Vì tham gia vào các mạng xã hội đều do sự tự nguyện của các thành viên. Cũng không ai có quyền bắt ép họ phải đưa ra các thông điệp xã hội hay thể hiện các quan điểm, ý kiến để phản biện xã hội. Tất cả đều tự nguyện và tùy theo nhận thức của mỗi người. Khi họ thấy cần phải thể hiện quan điểm của mình về các vấn đề xã hội, và nhất là mong muốn có nhiều người ủng hộ quan điểm của mình, hay được nhiều người tương tác để hiểu sâu thêm thì họ thể hiện điều đó trên mạng xã hội. Họ có thể đưa ra thông điệp và tương tác với những người khác. Hoặc họ thể hiện quan điểm, ý kiến của mình qua thông điệp do người khác đưa ra. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quan điểm và tâm lý cá nhân của những người tham gia phản biện xã hội trên mạng xã hội. Có thể phải kể đến như quan điểm chính trị xã hội của họ, trình độ học vấn, vốn văn hóa, vốn xã hội, địa vị xã hội, nhận thức xã hội, kỹ năng về công nghệ thông tin… Trong số nhiều yếu tố đó thì quan điểm chính trị xã hội, nhận thức xã hội và địa vị xã hội là những yếu tố quan trọng chi phối sự phản biện xã hội trên mạng xã hội. Một người có quan điểm chính trị đúng đắn được nhiều người quan tâm và ủng hộ, có vị trí xã hội được nhiều người biết đến thì những thông điệp hay quan điểm của họ thường được nhiều người quan tâm và vì thế mà ảnh hưởng lớn hơn đến người khác. Một ví dụ là các thông điệp cá nhân của một số nhân vật nổi tiếng liên quan đến vấn đề phòng chống bạo hành tình dục trong nhiều năm qua đã phát huy được hiệu quả nhất định. Được xem là những vấn đề nhạy cảm và ít được nói đến, nhưng khi một vài nhân vật nổi tiếng lên tiếng phản đối về việc này, qua các mạng xã hội đã nổi lên các phong trào đấu tranh phòng chống bạo hành tình dục và ảnh hưởng sâu rộng hơn đến đời sống xã hội. Như vậy, quan điểm của những người này đã tác động mạnh đến hành vi, nhận thức của những người khác qua mạng xã hội.

Yếu tố thứ hai vô cùng quan trọng mà chúng ta phải bàn đến là tâm lý đám đông. Tâm lý đám đông là một vấn đề quan trọng trong nghiên cứu tâm lý học xã hội. Nó được nhà tâm lý học nổi tiếng người Pháp là       Gustave Le Bon (1841-1931) phân tích kỹ càng trong tác phẩm nổi tiếng "Tâm lý học đám đông". Theo đó, tâm lý đám đông chi phối nhiều đến các hành vi, các quyết định của các cá thể khi tham gia vào các hoạt động mang tính xã hội. Nhiều khi, tâm lý đám đông vừa là động lực, là sức mạnh để các cá nhân tham gia vào các hoạt động phản biện xã hội, nhưng cũng vừa là sức ép ảnh hưởng đến quan điểm, quyết định, ý kiến của họ. Cũng một cá nhân khi tham gia vào một sự phản biện trên xã hội nhưng ở các nhóm khác nhau. Một thông điệp được đưa ra, trong đó có nhiều ý kiến khác nhau. Người ta sẽ có sự ảnh hưởng của áp lực đến từ đám đông. Khi hầu hết những người khác lên tiếng phản đối một chính sách, một hành vi xã hội họ cho là không hợp lý, nếu một thành viên làm ngược lại sẽ bị những người khác phê phán. Điều đó khiến cho họ phải suy nghĩ. Trước một thông điệp nhạy cảm, nếu họ không tham gia phản đối thì có thể họ bị người khác cho là "hèn nhát", không dám đấu tranh. Nhưng nếu họ thể hiện quan điểm, nhiều khi họ sợ bị hệ lụy từ phía những người quản lý… Rõ ràng họ đang bị chi phối bởi tâm lý đám đông. Tâm lý đám đông chính là một trong những nguyên nhân quan trọng tạo nên sự tương tác hình thức. Nhiều người không đọc kỹ thông điệp để tìm hiểu, mà đơn giản họ vào tương tác như là lựa chọn biểu tượng, nhấn nút "like" chỉ là để cho người khác thấy họ đã quan tâm. Còn nội dung cụ thể nhiều khi họ không nắm bắt rõ ràng. Như vậy, khi một cá nhân tham gia vào một mạng xã hội, đặc biệt tham gia vào các nhóm, các diễn đàn thì họ bị ảnh hưởng nhiều từ quan điểm chung của nhóm, diễn đàn đó. Để thể hiện được quan điểm riêng của mình một cách có hiệu quả, những người tham gia phản biện xã hội trên mạng xã hội cũng cần phải có bản lĩnh thật sự, có hiểu biết và sự nghiêm túc nhằm giúp họ vượt qua được tâm lý đám đông quanh mình. Điều đó cũng tạo thành sự phân chia ra những người tham gia phản biện xã hội tích cực và những người tham gia mang tính phong trào, hình thức.

Yếu tố thứ ba cần phải tính đến là tâm lý và lợi ích nhóm. Trên các mạng xã hội cũng thể hiện rõ tâm lý nhóm, lợi ích nhóm. Nhiều sự phản biện xã hội mang tính tích cực được các nhóm thực hiện và có giá trị xã hội thật sự. Nhưng cũng có nhiều người tham gia các mạng xã hội và sử dụng các mạng xã hội để phục vụ lợi ích nhóm, bảo vệ lợi ích nhóm. Xét cho cùng, xã hội là một tổng thể gồm nhiều nhóm chứ không phải là một cơ thể thống nhất. Và mỗi nhóm lại gắn với các giá trị, các lợi ích khác nhau. Nên lợi ích nhóm luôn tồn tại. Có điều xã hội phát triển cần phải hạn chế tối đa lợi ích nhất, nhất là không để lợi ích nhóm đứng lên trên lợi ích dân tộc, lợi ích xã hội. Một cá nhân khi tham gia vào mạng xã hội cũng đều mong muốn đạt được những lợi ích nhất định và cũng chịu sự chi phối của tâm lý nhóm và lợi ích nhóm mà mình tham gia. Nhiều khi mạng xã hội trở thành công cụ của các nhóm để đấu tranh với nhau. Nhưng mạng xã hội đa dạng và đa chiều, không ai có thể kiểm soát hết được nên nhóm này lấy lợi ích của mình làm trọng thì sẽ có nhóm khác phản đối lại. Cứ vậy cũng tạo ra những sự cân bằng động nhất định.

Yếu tố cuối cùng mà chúng ta đề cập đến là chính sách về phát triển công nghệ thông tin, về quản lý mạng xã hội của nhà nước. Đây là những yếu tố mang tính tiền đề ảnh hưởng đến quá trình phản biện xã hội qua mạng xã hội. Nếu trong một quốc gia mà công nghệ thông tin không phát triển, mạng internet bị hạn chế, kiểm soát gay gắt hay thậm chí không được tiếp xúc thì sẽ không có các mạng xã hội như chúng ta đang bàn ở đây nên cũng không có cái gọi là phản biện xã hội qua mạng xã hội được. Các chính sách quản lý các mạng xã hội cũng ảnh hưởng lớn đến sự phản biện xã hội trên đó. Như đã nói, mạng xã hội là một không gian ảo do con người tạo ra qua khoa học công nghệ của mình. Bản thân nó không có tư tưởng, chỉ có những người sử dụng đặt vào các mục đích khác nhau. Nên việc sử dụng sao cho hợp lý và hiệu quả cũng là do chính sách mà các nhà quản lý đặt ra. Ngược lại, chính mạng xã hội cũng là một góc độ để đánh giá sự phát triển của xã hội, của hệ thống chính sách và quản lý nhà nước đối với xã hội.

Bên cạnh các yếu tố trên thì còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến sự phản biện xã hội qua mạng xã hội. Xã hội càng phát triển thì mạng xã hội cũng thay đổi liên tục và ngày càng đa dạng hơn, rộng lớn hơn, sự tương tác ngày càng mạnh mẽ hơn. Nó đòi hỏi người ta phải nhận thức được đầy đủ hơn để có những ứng xử hợp lý đối với các mạng xã hội cũng như bản thân mình trong các mạng xã hội đó.

3. Vài suy nghĩ về giá trị của sự phản biện xã hội qua mạng xã hội

Gần đây, việc nhà nước tiến hành thực hiện các chính sách nhằm thắt chặt sự quản lý nhà nước đối với các mạng xã hội đã gây nên nhiều ý kiến trái chiều trong dư luận. Có người ủng hộ nhưng cũng rất nhiều người phản đối. Nhưng để bàn về điều này trên phương diện đúng sai thật sự không dễ dàng. Nhưng như đã nói, phản biện xã hội là vấn đề quan trọng và có giá trị rất lớn trong sự tiến bộ xã hội. Phản biện xã hội cũng thể hiện sự tiến bộ của xã hội, trình độ dân chủ và cả trình độ dân trí của cộng đồng, đất nước. Muốn phát triển thì cần mở rộng phản biện xã hội, nâng cao dân chủ và nâng cao dân trí của người dân. Không thể có chuyện xã hội không cần phản biện mà vẫn đi đúng hướng, vẫn phát triển hợp lý được. Nhất là trong bối cảnh xã hội hiện đại, khi đời sống xã hội ngày càng phức tạp hơn nên nhận thức của con người về xã hội cũng manh mún hơn, phiến diện hơn. Phản biện xã hội là cách để người ta nhận thức đầy đủ hơn, toàn diện hơn về thực tại xã hội, qua đó giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý xã hội thực hiện công việc của mình hợp lý hơn. Cấm đoán hay hạn chế phản biện xã hội là đi ngược với sự phát triển, đi ngược sự tiến bộ. Nó triệt tiêu tinh thần dân chủ và cũng làm mất cơ hội để nhận thức xã hội toàn diện hơn.

Mạng xã hội là một thực thể công nghệ, là sản phẩm của nền văn minh hiện đại. Nó có rất nhiều giá trị đối với cuộc sống. Mạng xã hội dù ảo nhưng mang lại nhiều giá trị to lớn cho cuộc sống thực. Trong đó có việc tạo ra một không gian về phản biện xã hội. Phản biện xã hội qua mạng xã hội là hoạt động phản biện tạo ra nhiều giá trị mà giá thành lại rẻ nhất. Thử ví dụ, trước đây, muốn lấy ý kiến của một ngàn người dân về một chính sách thì người ta phải tổ chức nhiều cuộc họp, di chuyển nhiều và mất nhiều thời gian, tốn nhiều tiền của. Nhưng hiện nay, qua mạng xã hội, để lấy ý kiến như vậy lại vô cùng đơn giản và hiệu quả, không tốn kém tiền của và người được lấy ý kiến có thể phát biểu, tranh luận nhiều lần với các ý kiến khác. Vậy nên chẳng có lý do gì để ngăn cấm sự phản biện xã hội qua mạng xã hội cả. Quản lý mạng xã hội cũng như quản lý xã hội vậy, cần có sự cởi mở, sự mềm mại chứ không thể cứng nhắc được. Không phải cái gì quản lý không được, khó quản lý thì ngăn cấm. Cấm đoán là thể hiện cho sự kém cỏi, thiếu năng lực để quản lý. Thay vì cấm đoán thì nên tạo ra các hành lang nhằm nâng cao trình độ văn hóa và bản lĩnh cho những người tham gia phản biện xã hội qua mạng xã hội để phát huy các giá trị tích cực của mạng xã hội. Như TS Nguyễn Thị Hậu đã phân tích: "Sự xuất hiện với những tính năng đa dạng, nguồn thông tin phong phú, mạng xã hội cho phép người dùng tiếp nhận, chia sẻ và chọn lọc thông tin một cách có hiệu quả, vượt qua trở ngại về không gian và thời gian. Nó giúp nâng cao vai trò của mỗi công dân trong việc tạo lập quan hệ và tự tổ chức xoay quanh những mối quan tâm chung trong những cộng đồng thúc đẩy sự liên kết các tổ chức xã hội. Với chức năng đa dạng và sự gia tăng ngày càng nhanh số lượng thành viên, mạng xã hội đã có tác động làm thay đổi nhiều thói quen cũ và hình thành những biểu hiện mới của tư duy, lối sống, văn hóa…." (Nguyễn Thị Hậu, 2013, trang 5-6).

Nói tóm lại, mạng xã hội có nhiều giá trị và lợi ích quan trọng nếu sử dụng nó một cách hợp lý. Vấn đề là sự ứng xử của mỗi con người đối với nó, là mục đích của con người khi tham gia vào nó. Bản thân mạng xã hội không tạo ra sự tiêu cực mà chính những người tham gia làm nên điều đó. Vậy nên, để phát triển thì cần phát huy được các giá trị tích cực của mạng xã hội. Một trong những giá trị tích cực đó là tạo không gian để phản biện xã hội qua mạng xã hội. Một kinh nghiệm cho thấy, thay vì tìm cách ngăn cấm, các nhà lãnh đạo nhiều quốc gia trên thế giới đã tham gia vào mạng xã hội và xem đó là những kênh thông tin quan trọng đối với công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội của họ. Đó là những Tổng thống Mỹ Barack Obama và Donald Trump; bà Hillary Clinton, nữ Thủ tướng New Zealand Jacinda Ardern, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, Tổng thống Indonesia Joko Widodo, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Thủ tướng Campuchia Hun Sen, Chủ tịch Cu-ba Miguel Díaz-Canel Bermúdez… Điều đó khẳng định, mạng xã hội là một sản phẩm của nền văn minh nhân loại và vứt bỏ nó là từ chối giá trị văn minh. Còn phản biện xã hội qua mạng xã hội là một hoạt động văn hóa quan trọng trong xã hội hiện đại, nên cần phải phát huy các giá trị tích cực của nó vào quá trình hội nhập và phát triển đất nước.

 

Tài liệu tham khảo

1. Gustave Le Bon (2006): Tâm lý học đám đông, Nxb Tri thức, Hà Nội.

2. Nguyễn Thị Hậu (chủ biên): Mạng xã hội với giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Văn hóa Văn nghệ, Tp HCM, 2013.

3. Phạm Quang Tú (2012): Phản biện xã hội: Khái niệm, chức năng và điều kiện hình thành, Tạp chí Văn hóa Nghệ An, số 216, ngày 10/3/2012. Bản online: http://www.vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/cuoc-song-quanh-ta46/phan-bien-xa-hoi-khai-niem-chuc-nang-va-dieu-kien-hinh-thanh

4. Nguyễn Duy Xuân (2018): Chính khách và mạng xã hội, Bản online: http://www.vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/cuoc-song-quanh-ta46/chinh-khach-va-mang-xa-hoi

5. Nguyễn Trần Bạt (2014): Phản biện xã hội, Bản online: http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/phan_bien_xa_hoi.htm

Nguyên Hồ

Mạng xã hội (MXH) là một thành quả to lớn của loài người, nó kéo con người lại gần nhau, làm cho thế giới trở nên "phẳng" hơn. Song, MXH cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho tất cả mọi người, đặc biệt là những người làm công tác quản lý trong lĩnh vực báo chí, truyền thông.

 MXH đang đặt ra những thách thức lớn đối với báo chí

Về nguyên tắc, cái gì cũng có hai mặt: tốt và xấu. MXH cũng thế; chỉ có điều, quy mô tốt - xấu của MXH vô cùng to lớn khiến chúng ta choáng ngợp và nhiều khi không kiểm soát được. Có thể nói khi loài người xây dựng nên mạng Internet và tạo nên không gian MXH, thực chất sinh hoạt của con người đã bước sang một giai đoạn mới, đặc biệt là trong lĩnh vực thông tin, giao tiếp, thể hiện bản thân mình… Xét thực trạng hiện nay, nói không quá, sau không khí, nước và thực phẩm, MXH đã trở thành một nhu cầu thiết yếu của con người - hiện nay, nhiều người sẽ không sống được nếu thiếu MXH.

Việt Nam là một nước nghèo và lạc hậu nhưng lại là quốc gia tích cực tham gia phát triển công nghệ thông tin và sử dụng Internet. Hiện nay, số người Việt Nam sử dụng Internet chiếm khoảng 63% dân số, nghĩa là có gần 60 triệu người. Nhiều chuyên gia quốc tế trong lĩnh vực công nghệ thông tin khẳng định Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia có số người sử dụng Internet nhiều nhất thế giới. Số liệu do chính Facebook công bố khẳng định, Việt Nam xếp thứ 7 trong 10 nước có nhiều người dùng facebook.

Internet và MXH mang lại cho Việt Nam những điều mới mẻ trong cuộc sống, giúp họ thuận lợi hơn trong mưu sinh và có sự phong phú, đa dạng hơn trong sự lựa chọn các hình thức giải trí. Người Việt Nam dùng MXH vào rất nhiều việc, từ trao đổi thông tin, phổ biến kiến thức, đến làm ăn, buôn bán, thể hiện quan điểm của bản thân mình. Không gian mạng bao la vô tận tạo cảm giác tự do, phóng khoáng nên đại đa số dân cư mạng càng ngày càng trở nên bạo dạn, mạnh mẽ; thể hiện hầu như tất cả các góc cạnh của con người mình. Hoạt động này tạo ra vô vàn những điều thú vị nhưng đồng thời cũng mang lại bao nhiêu điều rắc rối. Hai mặt của một sự việc là vấn đề muôn thuở mà chúng ta cần giải quyết. Làm thế nào để MXH mang lại nhiều cái tốt hơn xấu, nhiều cái lợi hơn cái hại là vấn đề mà tất cả chúng ta đều quan tâm, đặc biệt là những người có trách nhiệm quản lý.

Để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực trên MXH, quốc gia nào cũng có sách lược của mình. Thông thường có 4 biện pháp để hạn chế những tác động tiêu cực của MXH: 1. Ban hành quy chế và luật lệ để kiểm soát thông tin và những người sử dụng thông tin trên mạng; 2. Dùng các biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn dân cư mạng tiếp xúc với những nguồn tin không có lợi; 3. Dùng lực lượng chuyên môn của chính quyền để đấu tranh, phản bác quan điểm của những người được cho là có ảnh hưởng xấu đối với xã hội; 4.Trang bị kiến thức, kỹ năng để người dân miễn nhiễm với những thông tin được cho là độc hại trên MXH.

Có lẽ Việt Nam là quốc gia đang sử dụng cả 4 biện pháp trên để đối phó với những ảnh hưởng tiêu cực trên MXH. Một số bộ, ngành có những đơn vị đặc biệt để bảo đảm an ninh mạng. Điều này là bình thường và cần thiết. Việt Nam có đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực công nghệ thông tin khá hùng hậu. Việc dùng các văn bản pháp quy để quản lý cũng được sử dụng kịp thời. Biểu hiện rõ nhất là chúng ta có tới hai bộ luật liên quan đến MXH, đó là Luật an toàn thông tin mạng và Luật An ninh mạng. Việc sử dụng lực lượng chuyên môn của chính quyền để đấu tranh, phản bác quan điểm của những người được cho là ảnh hưởng xấu đến xã hội chưa thể đánh giá kết quả được vì đây là một hoạt động rất nhiều tầng, nhiều tuyến mà kết quả rất khó đánh giá. Cái khó thể hiện ngay từ việc xác định đối tượng và những quan điểm của họ. Có thể thấy nhiều người phản biện với ý thức xây dựng nhưng không được đánh giá đúng. Điều này có lúc gây nên không khí căng thẳng không cần thiết.

Tuy nhiên, nhìn chung cả 4 hình thức này vẫn chưa mang lại hiệu quả như mong muốn. Bằng chứng là cả ông Võ Văn Thưởng - Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Việt Nam, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương và ông Nguyễn Mạnh Hùng - Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đều chưa yên tâm về vấn đề này. Cả hai ông đều có những phát biểu mang tính chỉ đạo trong thời gian gần đây. Điều này cũng không có gì lạ vì đây là vấn đề phức tạp mà chúng ta mới đương đầu hơn chục năm trở lại đây.

Ngày 4/9/2018, làm việc với Tỉnh ủy Bình Thuận, khi nói về các vấn đề liên quan đến mạng xã hội hiện nay, ông Võ Văn Thưởng nhấn mạnh: "Chúng ta không nên coi mạng xã hội như tội đồ. Chính người dùng mạng xã hội có thể làm cho mạng xã hội tốt lên hay xấu đi. Nếu mỗi cán bộ đảng viên đều lan tỏa một thông tin tốt thì xã hội sẽ tốt lên rất nhanh". Còn trong dịp Báo Tiền Phong kỷ niệm 65 năm ngày ra số báo đầu tiên, ông Thưởng cũng đặt vấn đề: "Liệu mỗi một tờ báo, hay tòa soạn báo, phóng viên chuyên nghiệp đều bất lực, bó tay trước mạng xã hội mà mình không thể nào theo kịp không, hay là mình chưa tìm ra cách gì đúng đắn trong điều kiện mạng xã hội phát triển như hiện nay?". Ông Thưởng khẳng định báo chí chính thống phải tìm mọi cách để không bất lực trước MXH. Điều này buộc các nhà báo phải năng động, sáng tạo hơn.

Còn Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng trong bài phát biểu khai giảng lớp "Bồi dưỡng nâng cao kiến thức quản lý nhà nước về báo chí" cho 130 học viên là lãnh đạo của 80 cơ quan báo chí sáng 13/11 tại Hà Nội cũng đã đề cập đến sự cạnh tranh giữa báo chí và MXH. Ông Hùng nói: "Báo chí có thể nhanh hơn MXH không? Câu trả lời là không. CNN, khi xuất hiện MXH thì đã đổi Slogan từ Be The First To Know thành Facts First. CNN đã chuyển từ nhanh nhất sang tin chính xác nhất. Báo chí của chúng ta không nên chạy đua với MXH về việc đưa tin nhanh nhất. Hãy đưa tin có kiểm chứng. MXH đang mất uy tín vì Fake News (tin giả), đang tạo ra một nhu cầu ngày một lớn hơn về tin chính xác, về tin có kiểm chứng. Và đây chính là mảnh đất của báo chí. MXH không chỉ cạnh tranh với báo chí mà còn giúp xã hội nhìn rõ hơn giá trị của báo chí. Báo chí phải thấy rõ giá trị của mình để phát huy, thay vì bắt chước thì hãy giữ giá trị cốt lõi của mình".

Đây là những chỉ đạo rất có giá trị của những người có trách nhiệm nhất trong lĩnh vực báo chí, truyền thông liên quan đến những thách thức mà MXH đặt ra cho xã hội Việt Nam nói chung, cho báo chí nói riêng. Những chỉ đạo này có tính nguyên tắc, có tính lý luận và vạch ra đường hướng. Còn để thực hiện thành công trên thực tế lại phụ thuộc vào tất cả chúng ta, mà đóng vai trò quan trọng là các chuyên gia truyền thông và đội ngũ nhà báo chuyên nghiệp.

Hiểu rõ mạng xã hội để đối phó hiệu quả với những thách thức

Việc quản lý MXH là do các cơ quan chức năng làm là chính. Các cơ quan này sử dụng nghiệp vụ, công nghệ thông tin, pháp luật… làm công cụ chính để đấu tranh và hạn chế tác động tiêu cực của MXH. Đây là hoạt động thiên về hướng dẫn và quản lý, một phần nào đó tạo điều kiện cho những tư tưởng lành mạnh phát triển và phát huy tác dụng. Còn các chuyên gia truyền thông đang tìm cách lái hoạt động của mạng MXH ở Việt Nam gần gũi với thế giới, phát huy những mặt tích cực trong thế giới hội nhập.

Chúng ta phải công nhận MXH có sức mạnh vô cùng lớn vì cư dân của họ quá đông đảo và có mặt ở khắp mọi nơi. Vì vậy, thông tin của MXH nhiều hơn và nhanh hơn báo chí là điều không có gì lạ. Khi có một sự kiện nào đó xẩy ra, MXH cùng với báo chí chính thống thông tin khẩn trương, nhanh chóng, rộng rãi với ý kiến đa chiều. Nhiều khi MXH tỏ ra mạnh dạn hơn so với báo chí chính thống. Điều này có thể hiểu được vì lực lượng của họ rất đông, rải ra ở khắp mọi nơi; họ lại không có thói quen bị (hay là được?) ai đó biên tập; họ cũng không có tâm lý sợ bị sai, bị phạt. Phần lớn dân cư mạng đưa tin một cách nhiệt tình, ngây thơ. Trình độ của dân cư mạng tuy không đồng đều nhưng rất đa dạng, phong phú; có nhiều người có trình độ uyên thâm cũng tham gia MXH, viết rất chuyên nghiệp và đứng đắn. Ngoài ra, các nhà khoa học, các nhà kinh tế, những người có uy tín trong xã hội cũng góp tiếng nói trên MXH, do vậy MXH là một diễn đàn rộng rãi, thẳng thắn, mạnh mẽ. Nhiều thông tin quan trọng mà xã hội trông ngóng thường được xuất hiện trên MXH trước báo chí chính thống đề cập.

Tuy nhiên, MXH cũng đã bộc lộ nhiều điểm yếu "chết người". Điểm yếu thứ nhất của MXH là thông tin kém độ tin cậy hơn so với báo chí. Điểm yếu thứ hai của MXH là một số cư dân mạng ứng xử thiếu lịch lãm, thiếu văn hóa trong khi trao đổi thông tin. Điểm yếu thứ ba của MXH là một số người tỏ ra cực đoan trong sử dụng từ ngữ và bày tỏ quan điểm, nhận thức.

Những điểm yếu trên đây khiến MXH đánh mất một phần sức mạnh, một phần giá trị của mình. Đây là điều đáng tiếc. Dù MXH đang đặt ra những thách thức lớn cho xã hội và cho báo chí, truyền thông nhưng báo chí không cần và không nên cạnh tranh với MXH, mà liên kết với MXH để cùng nhau làm tốt hơn công tác thông tin. Báo chí phải tận dụng được những thế mạnh của MXH là thông tin nhanh, nhiều và có sức lan tỏa lớn, có tính phản biện cao, tạo nên sức mạnh trong dư luận xã hội.

Để làm được nhưng điều này, tất cả các nhà báo nên tham gia MXH. Khi tham gia MXH, các nhà báo cần phải đàng hoàng, minh bạch và có trách nhiệm. Ít nhất, nhà báo cần nêu đầy đủ họ tên, cơ quan mình công tác và có ảnh chân dung. Điều quan trọng nhất là các nhà báo phải thể hiện được tính chuyên nghiệp, những phẩm chất đạo đức và thái độ ứng xử văn hóa của mình trên MXH. Thái độ ứng xử văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ giá trị của MXH.

Các nhà báo tham gia MXH cũng là một cách rèn luyện bản lĩnh nghề nghiệp. Trên thực tế, mỗi nhà báo tham gia MXH có thể xem mình vừa là phóng viên, vừa là biên tập viên và là tổng biên tập. Nhà báo phải chịu trách nhiệm về tất cả những gì mình đưa lên mạng xã hội trên trang cá nhân của mình. Làm việc này thường xuyên, nhà báo có điều kiện nâng cao năng lực nghiệp vụ cũng như sự tương tác với độc giả. Một khi nhà báo không chỉ chịu trách nhiệm về những thông tin trên báo chí chính thống, mà còn phải chịu trách nhiệm về những thông tin trên trang cá nhân của mình thì nhà báo phải nỗ lực rất nhiều.

Nhà báo là những người hoạt động truyền thông chuyên nghiệp nên họ có trách nhiệm đi đầu trong việc khai thác thông tin, phổ biến thông tin trên báo chí cũng như trên MXH. Nhà báo tuyệt đối không tạo tin giả; trong quá trình tác nghiệp, nhà báo phải có những biện pháp kiểm định để tránh sử dụng và phổ biến tin giả. Nếu lúc nào đó vô tình sử dụng tên giả, khi phát hiện ra, nhà báo phải có bản lĩnh để xin lỗi bạn đọc và đính chính. Đây cũng là một yêu cầu đối với những người làm báo hiện đại.

Ngoài ra, khi tham gia MXH, nhà báo phải tỏ ra tỉnh táo, kiên nhẫn và thể hiện được bản lĩnh nghề nghiệp của mình. Nhà báo cần làm gương cho cư dân mạng thông thường về sự đàng hoàng, lịch lãm, chính xác trong cách thông tin. Những điều này cũng sẽ góp phần đối phó có hiệu quả với những thách thức do MXH đặt ra trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống.

Như vậy, để đối phó có hiệu quả với những thách thức do MXH đặt ra, chúng ta cần sử dụng hai lực lượng cơ bản: 1. Các cơ quan chức năng của các bộ, ngành với việc vận dụng cả 4 giải pháp đã nêu trên; 2. Các chuyên gia truyền thông và các nhà báo chuyên nghiệp với trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình.

Kết hợp giữa biện pháp quản lý và nâng cao dân trí, nâng cao trình độ hiểu biết luôn luôn mang lại hiệu quả thiết thực trong công việc tác động đến hầu hết các đối tượng trong xã hội. Đây dường như là một chân lý đơn giản và được vận dụng rộng rãi trong xã hội đương đại.    

Nguyễn Đăng Bằng

Cách mạng công nghệ (CMCN ) 4.0 đã và đang làm thay đổi vận mệnh các quốc gia và trật tự kinh tế thế giới. Từ trước tới nay chưa có cuộc CMCN nào nhanh như CMCN 4.0. Các nước Mỹ, EU và Nhật Bản đã tận dụng thành công cuộc cách mạng này để phát triển kinh tế. Các nước trung bình đang bứt phá để vươn lên. Các nước nghèo, kém phát triển đang vật lộn để thoát ra khỏi nhóm nước tụt hậu xa so với thế giới. Nghệ An của Việt Nam là tỉnh lớn, nếu không muốn bị bỏ lại đằng sau trong cuộc cạnh tranh toàn cầu, không có con đường nào khác là phải thích ứng nhanh với CMCN 4.0. Đứng trước cuộc CMCN 4.0 tiềm năng, lợi thế, thách thức, khó khăn tồn tại đan xen. Nghệ An phải vươn lên bằng nội lực của chính mình, bằng sự bứt phá mạnh mẽ chắc chắn sẽ thành công.

1. Cách mạng công nghiệp 4.0 - cơ hội và thách thức

Nhân loại đã chứng kiến 3 cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử. Đến nay đã có sự nhìn nhận thống nhất về ba cuộc CMCN qua, mỗi cuộc cách mạng đều đặc trưng bằng sự thay đổi về bản chất của sản xuất và sự thay đổi này được tạo ra bởi các đột phá của khoa học và công nghệ. Cuộc CMCN lần thứ nhất diễn ra vào nửa cuối thế kỷ 18 và gần nửa đầu thế kỷ 19, với thay đổi từ sản xuất chân tay đến sản xuất cơ khí do phát minh ra động cơ hơi nước. Cuộc CMCN này đã đưa lại sự biến đổi to lớn về kinh tế - xã hội. Nước Anh đã trở thành "công xưởng thế giới". Sức lan tỏa của cuộc CMCN lần thứ nhất cực kỳ nhanh. Cuộc CMCN lần thứ hai diễn ra vào nửa cuối thế kỷ 19 cho đến khi đại chiến thế giới lần thứ nhất xảy ra, với thay đổi từ sản xuất đơn lẻ sang sản xuất hàng loạt bằng máy móc chạy với năng lượng điện. Cuộc CMCN lần thứ ba diễn ra từ những năm 1970 với sự ra đời của sản xuất tự động dựa vào máy tính, thiết bị điện tử và internet.

Giá trị của 3 cuộc CMCN trước đây vô cùng lớn đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế thế giới. Bên cạnh mặt tích cực mà các nước lớn đã tận dụng được, những hệ lụy của nó không nhỏ. Sự áp bức, bất công giữa nước giàu và nước nghèo; giữa người lao động và giới chủ. Những cuộc chiến tranh thế giới và khu vực mà các nước lớn đã phát động có nhiều nguyên nhân nhưng ở đó vai trò của công nghệ vô cùng lớn. Phải chăng sự đột phá công nghệ đã tạo ra bất bình đẳng, đói nghèo và bệnh tật. Vài năm lại đây cuộc CMCN lần thứ tư hay còn gọi là CMCN 4.0, được cho là đã bắt đầu. Đại thể là cuộc cách mạng về sản xuất thông minh dựa trên các thành tựu đột phá trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano,… với nền tảng là các đột phá của công nghệ số.

Khái niệm "Cách mạng công nghiệp 4.0" được đưa ra vào năm 2011 tại Hội chợ Hannover, giới thiệu các dự kiến của chương trình công nghiệp 4.0 của nước Đức, nhằm nâng cao nền công nghiệp cơ khí truyền thống của Đức. Không chỉ nước Đức với chương trình Công nghiệp 4.0, các nước phát triển trong vài năm qua đều có các chương trình chiến lược về sản xuất khi những tiến bộ của khoa học và công nghệ đang diễn ra rất nhanh. Nước Mỹ có "Chiến lược quốc gia về sản xuất tiên tiến" cho ba thập kỷ tới. Nước Pháp có "Bộ mặt mới của công nghiệp nước Pháp". Hàn Quốc có "Chương trình tăng trưởng của Hàn Quốc trong tương lai". Trung Quốc có "Sản xuất tại Trung Quốc năm 2025". Nhật Bản có "Xã hội thông minh 5.0",… Nhiều người cũng cho rằng cái tên "cách mạng công nghiệp lần thứ tư" mới có tính chất dự báo và chưa xảy ra.

 Báo chí thường mô tả CMCN 4.0 với các thành tựu của trí tuệ nhân tạo, với máy móc tự động và thông minh như ô tô tự lái, in ấn 3 chiều, kết nối vạn vật, công nghệ sinh học và công nghệ nano,… Nhưng cốt lõi của những đột phá này là gì? Có hay không điểm chung của các đột phá đó? Có thể nói rằng đó chính là đột phá của công nghệ số trong những năm vừa qua, tiếp nối thành quả của cuộc cách mạng số hoá đã diễn ra mấy chục năm qua từ khi có máy tính. Sự ra đời của máy tính đã dẫn đến cuộc cách mạng số hóa, nhất là khi máy tính cá nhân và internet xuất hiện. Máy tính chỉ làm việc với hai con số "0" và "1". Để tính toán trên máy tính ta cần biểu diễn được các thực thể bằng những con số "0" và "1" trên máy tính. Ta có thể hiểu biểu diễn này là "phiên bản số" của các thực thể. Có thể hình dung đơn giản "phiên bản số" của một chiếc ô tô là số liệu kỹ thuật chi tiết của các bộ phận của xe, hoặc có thể là số liệu về chuyển động của xe và các ảnh số thu được từ camera của xe khi xe chạy trên đường. Những "phiên bản số" của một người có thể là những ý kiến của người này trên facebook, những số liệu đo được từ các thiết bị đeo trên người hay bệnh án điện tử của người này trong cơ sở dữ liệu ở bệnh viện. Gần đây, với tiến bộ và sử dụng các cảm biến (sensor) việc số hoá đã có những bước tiến lớn, góp phần vào hiện tượng dữ liệu lớn và thúc đẩy công nghệ số tiến bộ.

Trí tuệ nhân tạo hay người máy thông minh không cần chờ lâu nữa, mà ngay hiện nay ở thành phố Dubai của Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất người ta đã nhìn thấy một người máy cảnh sát làm việc trong 24/24 giờ hàng ngày. Hay khi làm thủ tục đi máy bay, tàu hỏa đều được trí tuệ nhân tạo xử lý các thủ tục cần thiết cho hành khách. Người máy hay trí tuệ nhân tạo đã cướp đi hàng nghìn việc làm. Những nghề như hành chính văn phòng, thư ký, kế toán, hướng dẫn viên du lịch đều dần mất đi bởi trí tuệ nhân tạo. Nếu lĩnh vực dịch vụ, thương mại lao động truyền thống đang bị mất dần thì lĩnh vực giáo dục đào tạo cũng đang đứng trước thách thức lớn. Lớp học truyền thống Thầy dạy, Trò nghe thì tới đây lớp học đó sẽ không còn. Người học có thể ngồi  trước màn hình máy tính tại nhà để nghe một giáo sư của Đại học Havard (Mỹ) giảng. Sinh viên có thể đối thoại với giáo sư mà không cần gặp mặt trên lớp.

Cuộc CMCN 4.0 sẽ làm đảo lộn thị trường lao động. Khi người máy thông minh, trí tuệ nhân tạo thay thế lao động chân tay, thì hàng vạn lao động sẽ mất việc làm. Đó là chưa kể đến có những việc làm mới nhưng lao động không thích ứng được. Trạng thái thất nghiệp trá hình đã và sẽ diễn ra trong nay mai. Hiện nay chất lượng nguồn nhân lực của Nghệ An thấp hơn các tỉnh Bắc bộ và Nam bộ. Theo thống kê năm 2016, lao động Việt Nam đạt 3.660 USD/ năm, chỉ bằng 4,4% Singapore, 17,4% Malaysia và 32,5% Thái Lan. Dựa trên các tiêu chí này thì năng suất lao động Nghệ An vẫn còn thua mức bình quân chung của cả nước. Lao động Nghệ An thường được đánh giá cao tính cần cù, chịu khó; nhưng yếu về ngoại ngữ, kỹ năng làm việc nhóm. Lao động bậc cao ở Nghệ An còn rất ít. Phần lớn lao động có kỹ năng và tay nghề thấp. CMCN 4.0 sẽ tạo cơ hội cho nhân lực bậc cao, còn lao động giản đơn sẽ thừa nhiều. Vậy thì nếu không chuẩn bị trước, khi lợi thế nhân công giá rẻ không còn, lao động Nghệ An sẽ còn gặp vô vàn khó khăn. Cuộc CMCN truyền thống hướng đến cơ cấu một nền công nghiệp với các nhà máy quy mô lớn, hàng ngàn lao động, sở hữu nhiều ha đất. Ngày nay, CMCN 4.0, hàng hóa được sản xuất ra bởi các người máy và công nghệ thông minh. Con người sẽ trở thành bộ phận của máy móc. Lúc đó liệu các khu công nghiệp tồn tại còn thích hợp không? Đó là chưa kể đến tình trạng ô nhiễm môi trường rất khó khắc phục. Thương mại điện tử vừa tiết kiệm chi phí giao dịch, vừa nhanh sẽ thách thức thương mại truyền thống dưới hình thức các siêu thị, các chợ. Việc mua bán trên mạng sẽ thu hút hàng triệu khách hàng trong tương lai. Đó là thành quả của CMCN 4.0, đồng thời con người đứng trước thách thức của cuộc cách mạng đó.

2. Kinh tế Nghệ An sẽ thích ứng như thế nào trước cách mạng công nghiệp 4.0

Thứ nhất, chủ động tạo ra một thị trường lao động hấp dẫn bằng cách nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nguồn nhân lực là nhân tố hàng đầu của cuộc CMCN 4.0. Nhưng CMCN 4.0 đòi hỏi khắt khe chất lượng nhân lực. Đó là nhân lực chủ động, sáng tạo, chứ không phải nhân lực bắt chước, sao chép. Muốn có nhân lực chất lượng cao cần phải có các giải pháp đột phá trong đào tạo nguồn nhân lực. Năm 2007 khi sang thăm Việt Nam, ông Lý Quang Diệu chia sẻ: "Nếu thắng trong cuộc đua giáo dục, sẽ thắng trong phát triển kinh tế". Lý Quang Diệu cho rằng Việt Nam: "cần giữ nhân tài ở trong nước"; Muốn giữ nhân tài "phải biết trọng dụng nhân tài"; Phải đào tạo tiếng Anh thật giỏi, "Coi tiếng Anh là chìa khóa, là then chốt"; "Giáo dục được phép thừa, không được thiếu". Không nên cho rằng đào tạo nhiều lao động bậc cao sẽ lãng phí. Một trong 4 nhân tố tăng trưởng thì nhân tố nhân lực quyết định. Nhân tài của Nghệ An làm việc ở nước ngoài hoặc các tỉnh khác rất đông. Làm sao để thu hút được họ về xây dựng quê  hương? Chờ đến bao giờ để thu hút được nhân tài? Thay vào nghĩ cách thu hút, chúng ta tiếp tục đào tạo ra các chuyên gia trẻ, tìm cách giữ chân họ ở lại. Đối với người Nghệ An đi ra nước ngoài, khi họ thành đạt, Nghệ An tiếp đón họ với tư cách là nhà đầu tư, chuyên gia kinh tế. Xóa bỏ cách hành xử "khi đi thì chặt chẽ, khi về thì chặt chém". Nghệ An phải tạo môi trường để họ cống hiến. Đồng thời phải có chế độ đãi ngộ thỏa đáng.

Giải pháp đột phá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là sắp xếp lại hệ thống các cơ sở đào tạo từ dạy nghề đến đại học trên địa bàn. Các trường dạy nghề từ trung cấp đến cao đẳng ở Nghệ An chưa thật sự đủ năng lực. Theo thống kê của Sở Lao động Thương binh & Xã hội, Nghệ An hiện nay có 67 cơ sở đào tạo nghề. Hệ thống trường nghề có 44 trường, còn lại 23 các trung tâm đào tạo nghề. Từ năm 2014 - 2017, trung bình mỗi năm các cơ sở này đã đào tạo được 77.000 lao động. Quy mô đào tạo tăng nhanh, số lượng rất lớn, nhưng cơ cấu ngành không hợp lý và chất lượng khá thấp. Vì vậy cần sắp xếp lại các trường nghề theo hướng sáp nhập lại với nhau để tăng cường năng lực chuyên môn và cơ sở vật chất. Các trung tâm đào tạo nghề cũng cần sắp xếp lại không nên để thành lập tràn lan như hiện nay. Các cơ sở đào tạo kém chất lượng, không có khả năng phát triển nên giải thể.

Hiện nay ở Nghệ An có 5 trường đại học, hàng năm khoảng 10.000 cử nhân và kỹ sư ra trường. Các trường đại học ở Nghệ An nếu xếp hạng chỉ ở tốp trung bình của cả nước. Các trường đại học ở Nghệ An chưa thoát khỏi mặc định "trường địa phương". Một số trường đại học điểm đầu vào thấp, sát điểm sàn, không đạt chuẩn đầu ra. Trong xu thế chung, để nâng cao chất lượng đào tạo, các trường đại học cần chủ động xây dựng chiến lược phát triển dài hạn của trường mình. Tuy nhiên tỉnh Nghệ An cần có định hướng; Phải sắp xếp lại hệ thống trường đại học trên địa bàn. Nên chăng phải sáp nhập lại với nhau thành các trường lớn hơn. Giao quyền tự chủ cho các trường đại học. Khuyến khích các trường đào tạo các ngành nghề mới, hàm lượng kỹ thuật cao. Đào tạo sinh viên chất lượng cao, trong đó chú trọng kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ (như tiếng Anh)  và công nghệ thông tin. Các trường đại học chủ động mở rộng sự hợp tác với các trường đại học ở nước ngoài. Tỉnh mạnh dạn cho nước ngoài mở trường đại học tại TP. Vinh. Dịch vụ đào tạo phát triển sẽ mở ra cơ hội tìm việc làm. Hướng đến đào tạo nghề chất lượng cao trong một số lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, tự động hóa, chế tạo máy, y dược, ô tô, nông nghiệp. Chấm dứt tình trạng đào tạo tràn lan, chạy theo số lượng, hạ thấp chất lượng.         

Thị trường lao động không chỉ bị tác động bởi chất lượng đào tạo mà còn bởi cơ chế tuyển dụng. Phải xây dựng thị trường phẳng cho lao động và việc làm. Tỉnh phải có cơ chế minh bạch, công khai trong công tác tuyển dụng. Kể cả tuyển dụng công chức lãnh đạo. Nghệ An phải thu hút lao động giỏi không chỉ người Nghệ An mà khu vực Bắc Trung bộ, cả nước.

Thứ hai, phát triển ngành dịch vụ chất lượng cao, ngang tầm với các nước phát triển.

Dịch vụ là lĩnh vực cần ứng dụng công nghệ 4.0. Kinh nghiệm cho thấy, những nước nghèo tiềm năng tự nhiên, họ chỉ tập trung  phát triển một số ngành có lợi thế. Dịch vụ là ngành được tính đến nhiều nhất. Dịch vụ dễ ứng dụng người máy, trí tuệ thông minh. Nhiều thành phố lớn ở Trung Đông lĩnh vực dịch vụ khá phát triển. Thu nhập của người dân tăng lên. Đời sống của người dân giàu có, thịnh vượng. Ở Nghệ An trước đây thường chú trọng phát triển đồng đều. Quá nhiều mũi nhọn, thực chất là không có mũi nhọn nào. Để tạo đột phá cần thúc đẩy dịch vụ phát triển. Thực tế ngành dịch vụ ở Nghệ An chưa đáp ứng nhu cầu khách hàng, tự phát, manh mún, chưa đồng bộ. Không nên làm dịch vụ theo kiểu ăn theo. Thiết nghĩ trong tương lai gần Nghệ An có bãi biển đẹp, phải có khách sạn hạng sang đủ tiện nghi, sân Gol tầm cỡ khu vực, nhà hàng đạt chuẩn quốc tế. Để có thể đăng cai được các giải Gol, giải bóng chuyền, hội thảo, hội nghị   trong nước và quốc tế. Dịch vụ loại sang không chỉ là sản phẩm của con người cần cù, chăm chỉ mà là của người máy, trí tuệ thông minh. Trong đó chú trọng phát triển hệ thống dịch vụ ngân hàng, tài chính. Xây dựng hệ thống ngân hàng và trung tâm tài chính mạnh, cung cấp nhiều sản phẩm dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nước ngoài. Để hiện đại hóa ngân hàng, tài chính cần phải sử dụng công nghệ tự động hóa. Tự động hóa và trí tuệ thông minh sẽ đảm nhận các khâu trong giao dịch vừa nhanh, gọn, minh bạch, vừa tiết kiệm thời gian đi lại, chi phí giao dịch. Xóa bỏ ngay các giao dịch thủ công, trực tiếp vừa chậm, vừa dễ sai sót, chi phí giao dịch cao.

Thứ ba, miền Tây Nghệ An có lợi thế về nông nghiệp. Ở đó đất đai màu mỡ, diện tích lớn, tập trung, thích hợp với nhiều cây, con có giá trị kinh tế. Nếu tốc độ đô thị hóa ở Nghệ An nhanh, lao động nông nghiệp, nông thôn giảm. Đó sẽ là cơ hội để đưa nông nghiệp chuyển sang giai đoạn sản xuất bằng máy, năng suất cao. Ngày nay cuộc cách mạng trong lĩnh vực nông nghiệp, vấn đề cơ bản không phải là sản xuất ra cái gì mà là "sản xuất bằng công cụ gì". Nông nghiệp nước ta sẽ đón nhận CMCN 4.0 như một cơ hội và thách thức. Một mặt CMCN 4.0 sẽ đòi hỏi nền nông nghiệp Nghệ An phải phát triển sang quy mô lớn hiện đại, hình thành chuỗi giá trị. Ví dụ: Tập đoàn TH đã và đang đầu tư, phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Mô hình chuỗi giá trị nông sản đã hình thành tại Tập đoàn TH. Trong tương lại gần, Tập đoàn TH phải ứng dụng công nghệ cao vào các khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, tiêu thụ.

Thứ tư, thực hiện cải cách hành chính triệt để nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, phát triển  dịch vụ hành chính công. Trước đây do hạn chế về tư duy chúng ta chưa thực sự làm cách mạng trong lĩnh vực quản lý hành chính. Điều dễ nhận thấy là ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động hành chính nhưng công chức hành chính vẫn không giảm, tổ chức hành chính phình ra. Việc chia tách các đơn vị hành chính chưa thật hợp lý, dẫn đến chồng chéo, nơi thừa, nơi thiếu. Dịch vụ hành chính công chất lượng thấp. Công chức hành chính hạn chế về năng lực và đạo đức công vụ. Trong quản lý hành chính tình trạng nhiều giấy tờ văn bản, họp hành, hội nghị, hội thảo nhiều không cần thiết. Theo tinh thần NQTW6 về  cải cách hành chính, Nghệ An cần hành động quyết liệt hơn. Theo đó, phải cắt giảm bộ máy hành chính công theo hướng sáp nhập các đơn vị cùng chức năng, nhiệm vụ với nhau. Đồng thời phải tinh giản thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, gọn nhẹ, hiệu quả. Từ đó, có thể đưa máy móc hiện đại vào thay thế lao động thủ công. Tăng cường giao ban trực tuyến, họp trực tuyến, giao dịch bằng online thay cho công văn giấy tờ.

Thứ năm, phải xây dựng TP. Vinh thành trung tâm của vùng  Bắc Trung bộ. Tốc độ đô thị hóa ở Nghệ An khá chậm. Quy hoạch TP. Vinh có khoảng 1 triệu dân, (30%) dân số Nghệ An sống ở TP Vinh. Khi dân  số TP. Vinh  tăng lên, nhu cầu dịch vụ sẽ lớn dần. Đó chính là điều kiện để ứng dụng công nghệ 4.0. Công nghệ 4.0 không còn là mơ ước mà thật sự đã đến. Có những nhu cầu tự thân nó sẽ có sự đòi hỏi đáp ứng. Ví dụ dịch vụ y tế, giáo dục sẽ phát triển ra sao nếu TP. Vinh có 1 triệu dân sinh sống. Theo tư duy truyền thống, dân số thành thị đông sẽ là gánh nặng bởi những người ăn theo. CMCN 4.0 sẽ cho chúng ta thấy dân số thành thị đông sẽ là cơ hội để phát triển dịch vụ và sản xuất. Nếu TP. Vinh được quy hoạch trở thành thành phố xanh sạch đẹp, phát triển vượt trội để cung cấp dịch vụ cho cả vùng Bắc Trung bộ. Sản phẩm dịch vụ phong phú, đa dạng sẽ thu hút được nhiều khách hàng trong và ngoài nước.

3. Kết luận

Trong năm 2017, Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh của Nghệ An đạt loại khá (21/ 63). Điều đó minh chứng cho một Nghệ An vươn lên không chỉ để thoát nghèo mà trở thành tỉnh khá của cả nước. Trước bối cảnh cuộc CMCN 4.0, cùng với cả nước, Nghệ An cần có tư duy đột phá. Theo tôi cần khắc phục hạn chế của tư duy CMCN truyền thống, lấy sản xuất làm nền tảng, phát triển toàn diện ở tất cả các ngành, các vùng. Xây dựng nền kinh tế theo "mô hình quả mít". CMCN 4.0 đặt ra vấn đề mới ứng dụng ngay công nghệ tự động, trí tuệ thông minh vào trong quá trình phát triển. Hãy lựa chọn và trao cơ hội cho những ngành, vùng có khả năng ứng dụng công nghệ 4.0, tạo ra hiệu quả kinh tế tốt nhất. Trong bối cảnh CMCN 4.0, Nghệ An phải nhanh chóng xây dựng thành phố Vinh thành thành phố hiện đại, là thủ phủ của vùng Bắc Trung bộ. Thành phố Vinh sẽ tác động và lối kéo cả vùng Bắc Trung bộ cùng phát triển.

 

Tài liệu tham khảo

1. PGS.TS. Bùi Thị Lan (18/8/2018), Cách mạng công nghệ lần thứ 4 và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam. Tạp chí Tài chính.

2. VnexPress ( 18/4/2017), Cách mạng công nghệ lần thứ 4 là gì?

3. Tạp chí Tự động hóa ngày nay (5/2016), Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, bối cảnh, xu hướng lớn và những sản phẩm điển 

Lê Văn Khánh

 

1. Đặt vấn đề

Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một hợp phần của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; gắn với phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Ngày 10 tháng 6 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 899/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững", trên cơ sở đó UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định số 6593/QĐ-UBND ngày 31/12/2013 về việc phê duyệt Đề án "Cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Nghệ An theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, giai đoạn 2013 - 2020". Tuy nhiên, quá trình tái cơ cấu nông nghiệp ở Nghệ An gặp nhiều khó khăn do tỉnh có diện tích lớn nhất nước, địa hình phức tạp, điều kiện khí hậu khắc nghiệt; quy mô dân số lớn nhưng tổ chức sản xuất chủ yếu theo hình thức nông hộ, trong khi đó bình quân đất đai sản xuất ít, lại manh mún nên khả năng ứng dụng các tiến bộ sản xuất hạn chế, là lực cản trong sản xuất hàng hóa theo chuỗi. Bên cạnh đó, số lượng, chất lượng các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn còn ít, quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh còn hạn chế. Ngoài ra, giá cả các loại vật tư nông nghiệp không ổn định nên việc đầu tư thâm canh cho sản xuất của bà con nông dân gặp nhiều khó khăn. Giá cả các mặt hàng nông sản biến động, nhiều mặt hàng giá xuống thấp như cao su, mía đường,... ảnh hưởng đến hiệu quả và đầu tư sản xuất của nông dân

Tại Nghệ An, nguồn lực khoa học công nghệ mặc dù được nâng lên, nhưng còn một số lĩnh vực chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn; Vốn đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (các đề tài, dự án) còn rất khiêm tốn, công tác xã hội hóa trong hoạt động khoa học và công nghệ chưa tốt nên việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN theo chuỗi sản phẩm còn hạn chế. Những vấn đề này dẫn đến quá trình tái cơ cấu nông nghiệp ở Nghệ An chưa có kết quả thật rõ nét. Nhằm góp phần thúc đẩy nhanh, hiệu quả và bền vững tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp thì cần lấy KH&CN tạo đột phá cho quá trình này.

2. Một số kết quả nghiên cứu ứng dụng KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp

- Trong giai đoạn 2013 - 2018 có 59 đề tài, dự án KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp đã được triển khai thực hiện. Các nhiệm vụ KH&CN tập trung phát triển một số cây, con chủ lực theo nhiều hướng tác động khác nhau. Chẳng hạn như:

+ Đối với cây chè, đã có nghiên cứu về chè Tuyết shan ở Kỳ Sơn, nghiên cứu kỹ thuật bón phân, quy trình sản xuất chè theo VietGAP. Có các nghiên cứu để chế biến, xây dựng sản phẩm chè theo chuỗi giá trị.

+ Cây mía: Có các nghiên cứu để chọn các giống mới sạch bệnh, năng suất cao; nghiên cứu về kỹ thuật luân canh, xen canh; nghiên cứu các giải pháp phòng trị bệnh tổng hợp;

+ Cây lúa: Có các nhiệm vụ để tuyển chọn các giống lúa chất lượng cao, giống lúa chịu lạnh; các đề tài phục tráng giống địa phương; nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật canh tác; hỗ trợ ứng dụng tiến bộ KH&CN trong sản xuất giống, chế biến lúa gạo làm trà thảo dược, gạo lứt,...

+ Cây lạc: Có các nhiệm vụ liên quan đến tuyển chọn giống lạc, nhất là giống lạc địa phương (lạc sen, lạc cúc..); các giống lạc mới năng suất cao, chất lượng tốt (L27), các biện pháp phòng trừ sâu (sâu xanh, sâu khoang), bệnh (thán thư),.. cho cây lạc.

+ Cây dược liệu: Bước đầu đã có quá trình điều tra, phân tích dược tính; đánh giá, bảo tồn; các biện pháp nhân giống cho nhiều đối tượng; các biện pháp kỹ thuật trồng dược liệu; cũng đã có chế biến một số sản phẩm (Trà linh lăng, cà gai leo, dây thìa canh, thuốc Xuyên Tâm Liên,..).

+ Cây cam: Nghiên cứu chọn tạo giống cam sạch bệnh, năng suất cao, chất lượng tốt; nghiên cứu biện pháp kỹ thuật canh tác (bón phân, tưới nước nhỏ giọt); nghiên cứu phòng trừ sâu bệnh; bảo quản cam trên cây và kho lạnh; chế biến một số sản phẩm từ cam (tinh dầu, mứt cam, xà phòng cam); xây dựng, phát triển chỉ dẫn địa lý cam Vinh và làm tem truy xuất nguồn gốc cho vùng chỉ dẫn địa lý cam Vinh.

+ Cây chanh leo: Nghiên cứu nhân giống, phòng trừ sâu bệnh tổng hợp, tưới nước tiết kiệm,..

+ Cây thức ăn chăn nuôi: Tuyển chọn nhiều giống cỏ, cây ngô phục vụ làm thức ăn chăn nuôi; nghiên cứu kỹ thuật chế biến thức ăn chăn nuôi.

+ Con bò: Có các nghiên cứu về cải tạo đàn bò; bảo tồn, khai thác và phát triển các giống bồ địa phương (u đầu rìu, Mông); chăn nuôi vỗ béo bò thịt hàng hóa.

+ Con trâu: Bảo tồn nguồn gen trâu Thanh Chương, cải tạo trâu Mura; chăn nuôi vỗ béo trâu hàng hóa.

+ Gia cầm: Tập trung chủ yếu là phát triển gà, đã có các nhiệm vụ KH&CN trong chăn nuôi gà an toàn sinh học; xây dựng nhãn hiệu tập thể cho gà (gà cây canh Hưng Nguyên, gà đồi Thanh Chương, gà Phủ Diễn,..)

+ Tôm: Nghiên cứu về bệnh tôm, xây dựng và phát triển thương hiệu tôm nõn.

+ Cá nước ngọt: Nuôi các đối tượng có giá trị cao như trắm đen, trắm gòn - chép giòn; cá rô phi lai xa dòng Israel; ứng dụng công nghệ lồng nhựa chi phí thấp, sông trong ao để nuôi thủy sản.

- Các hoạt động khoa học và công nghệ trong nhưng năm qua đã đóng góp tích cực trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp cũng như sự phát triển kinh tế xã - hội của tỉnh. Chẳng hạn như: Hình thành các mô hình áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào sản xuất theo chuỗi và gắn với lấy doanh nghiệp làm nòng cốt, nên năng suất các loại cây trồng chủ lực trong năm 2017 của tỉnh đạt cao như: Lúa (54,0 tạ/ha), chè búp tươi (114,0 tạ/ha), lạc (25,0 tạ/ha), mía 56,6 (tạ/ha), cam 157, 0 (tạ/ha ) tăng cao từ 4 - 13% so với năm 2015. Nhiều mô hình kinh tế trang trại được phát triển có hiệu quả (HTX nông nghiệp 19/5 Nghĩa Đàn, mô hình trồng và chế biến dược liệu của Công ty CP Dược liệu Pù Mát, Công ty cổ phần dược liệu Mường Lống…). Đã hình thành mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong chăn nuôi bò sữa của Công ty CP thực phẩm sữa TH; mô hình trồng, khai thác và chế biến dược liệu...

- Nhiều nhiệm vụ KH&CN đạt kết quả tốt được nhân ra diện rộng.

+ Trong lĩnh vực nông nghiệp: Trồng chè Tuyết shan ở Kỳ Sơn; chanh leo ở Quế Phong; trồng lúa Japonica ở Quế phong; mô hình trồng Cam, quýt PQ, bưởi Hồng Quang Tiến, Đại táo, mô hình sản xuất giống và trồng cây trám đen ở Thanh Chương; công nghệ tưới nhỏ giọt cho mía, cam ở Quỳ Hợp, Tân Kỳ; ứng dụng tiêu chuẩn VietGap trong sản xuất chè ở Hùng Sơn, Anh Sơn; chăn nuôi trâu bò hàng hóa, vỗ béo bò quy mô hộ gia đình,... ở các huyện miền núi.

+ Thủy sản: Sản xuất giống và nuôi thương phẩm tôm thẻ chân trắng; nuôi cá theo công nghệ sông trong ao; nuôi cá trong lồng trên các thủy vực lớn; nuôi rô phi lai xa dòng Israel; chế biến một số mặt hàng thủy sản như cá phi lê, cá tẩm gia vị, chế biến sứa; ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế tàu cá vỏ gỗ đã giúp cho công tác đóng mới và kiểm định tàu cá trên địa bàn nhanh chóng thuận lợi và hiệu quả; ứng dụng tiến bộ KHCN để nâng cao hiệu quả nghề khai thác bằng lưới chụp 4 tăng gông,..

+ Một số mô hình ứng dụng công nghệ sinh học như: sản xuất giống và trồng Nấm ở Tân Kỳ, Yên Thành đã thành công và đang lan tỏa ra toàn tỉnh và trở thành một nghề mới; ứng dụng công nghệ vi sinh chế biến thức ăn cho trâu, bò, lợn từ cây ngô, lá sắn ở Thanh Chương, Anh Sơn; mô hình sản xuất chế phẩm Compost Marker để sản xuất phân bón từ phế phụ phẩm nông nghiệp; chế phẩm BOEM trong sản xuất phân bón; sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn, gà; chế phẩm Biogreen để xử lý tồn dư hóa chất trên đất trồng rau đã được UBND tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ; nghiên cứu các biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại lúa, chanh leo, lạc...

Ngoài ra, khoa học công nghệ còn hỗ trợ xây dựng chỉ dẫn địa lý và dán tem truy xuất nguồn gốc cam Vinh, Thương hiệu tập thể chè Nghệ An, Nhãn hiệu chứng nhận nước mắm Vạn Phần, thương hiệu tập thể nước mắm Hải Giang, và nhiều nhãn hàng, mã vạch, mã số cho các doanh nghiệp, ...

3. Các khâu KH&CN tạo đột phá trong cơ cấu lại ngành nông nghiệp

3.1. Phát triển nông nghiệp công nghệ cao

- Hình thành trung tâm công nghệ sinh học phục vụ khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Nghĩa Đàn.

- Phát triển vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tập trung ở các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp và thị xã Thái Hòa.

- Thu hút các tổ chức KH&CN, doanh nghiệp đầu tư cơ sở khảo nghiệm, ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp, nhất là cây ăn quả, dược liệu, chăn nuôi và hoa cao cấp.

- Ươm tạo công nghệ, doanh nghiệp ươm tạo KH&CN và ứng dụng công nghệ cao để phục vụ phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

3.2. Quy hoạch, phát triển, tái cơ cấu Nông nghiệp theo vùng

- Vùng miền Tây Nghệ An

+ Hình thành các sản phẩm chủ lực có lợi thế so sánh, đặc sản.

+ Ứng dụng tiến bộ KH&CN trong trồng và chế biến dược liệu.

+ Đa dạng sinh học và bảo tồn, phát triển gen quý, có giá trị kinh tế.

+ Đầu tư công nghệ hỗ trợ phát triển các vùng nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế biến.

- Vùng miền núi cao Nghệ An (4 huyện 30 a)

+ Phát huy lợi thế về diện tích đất rộng lớn để phát triển cây gỗ lớn phục vụ chế biến lâm sản.

+ Khai thác điều kiện sinh thái đặc thù để phát triển một số đối tượng đặc trưng như chanh leo, lúa chịu lạnh (Japonica), cây ôn đới (đâu tây, đào, lê).

+ Khai thác và phát triển cây dược liệu quý hiếm, trồng và chế biến dược liệu.

+ Phát triển chăn nuôi đại gia súc quy mô tập trung theo hướng hàng hóa.

+ Phát triển nuôi trồng thủy sản trong các hồ đập lớn.

3.3. Xây dựng chuỗi giá trị các sản phẩm chủ lực

Trên cơ sở các sản phẩm chủ lực đã được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt, cần có đánh giá, tổng kết và lựa chọn một số sản phẩm đặc trưng có lợi thế cạnh tranh để tập trung ưu tiên đầu tư theo chuỗi giá trị từ khâu sản xuất giống, các biện pháp kỹ thuật canh tác, thu hoạch, bảo quản chế biến; xây dựng nhãn hiệu và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm này.

4. Quan điểm và định hướng để KH&CN tạo đột phá trong cơ cấu lại ngành nông nghiệp

4.1. Quan điểm

- Cơ cấu lại ngành nông nghiệp cần căn cứ theo các mục tiêu, nhiệm vụ của Bộ Nông nghiệp và PTNT.

- Trong quá trình tái cơ cấu cần thay đổi tư duy từ năng suất, sản lượng sang giá trị. Nhất thiết phải lấy thước đo giá trị sản phẩm làm chuẩn.

- Cần tư duy phát triển nông nghiệp theo lợi thế của vùng miền.

- Cần tổ chức lại sản xuất từ quy mô nhỏ lẻ, phân tán sang quy mô lớn và theo hướng tập trung.

- Cần có sự đầu tư, hỗ trợ, tập trung nguồn lực để xây dựng chuỗi giá trị cho một số cây trồng, vật nuôi chủ lực.

- Coi trọng việc nghiên cứu, ứng dụng KH&CN để tạo đột phá trong cơ cấu lại ngành nông nghiệp.

4.2. Định hướng

a) Hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KH&CN phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

- Ưu tiên các đề tài, dự án nghiên cứu phát triển các sản phẩm theo chuỗi từ khâu giống, quy trình thâm canh, thu hoạch sản phẩm, chế biến sau thu hoạch và phát triển thị trường sản phẩm.

- Tập trung vào các sản phẩm chủ lực của tỉnh, sản phẩm đặc sản có tính hàng hóa ở các địa phương. Lựa chọn một số sản phẩm có tiềm năng, lợi thế để tập trung đầu tư về KH&CN nhằm phát triển thành sản phẩm hàng hóa, hoặc thành những vùng nguyên liệu tập trung có quy mô lớn.

- Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với các ngành hoàn thiện chính sách ưu đãi cho hoạt động công nghệ cao của tỉnh. Tập trung thẩm định các dự án ứng dụng công nghệ cao và vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; đẩy mạnh hoạt động ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao và lĩnh vực công nghệ cao.

- Ứng dụng các thành tựu công nghệ sinh học và gắn kết ứng dụng các tiến bộ khác để sản xuất một số nông sản có chất lượng cao, khối lượng hàng hóa lớn, giá trị gia tăng cao, thương hiệu mạnh như: Chè, mía, chanh leo, cao su, sữa, rau củ quả, lúa, ngô, lạc, vừng, hoa, trâu, bò sữa, bò thịt, gà, thủy hải sản...

- Chú trọng khảo nghiệm và du nhập các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng tốt, có khả năng cạnh tranh. Tăng cường chọn tạo giống mới có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao góp phần đẩy nhanh tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng.

- Tiếp thu các công nghệ sản xuất tiên tiến trong nông nghiệp của thế giới, đồng thời đẩy mạnh áp dụng các kỹ thuật tạo giống, canh tác, thu hoạch, chế biến, bảo quản nông sản theo tiêu chuẩn VietGap, Global Gap và các tiêu chuẩn quốc tế khác cho các sản phẩm nông - lâm nghiệp chủ yếu của tỉnh.

b) Hoạt động ứng dụng, nhân rộng kết quả nghiên cứu khoa học và công nghê.

- Đẩy mạnh việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu của các nhiệm vụ KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp, có các chính sách hỗ trợ trong nhân rộng các kết quả nghiên cứu đã thành công.

- Tiếp tục thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa theo hướng tập trung để xây dựng các cánh đồng lớn nhằm mục tiêu tạo ra các sản phẩm lớn phục vụ chế biến và thương mại hóa sản phẩm.

c) Hoạt động phát triển tài sản trí tuệ và bảo tồn, phát triển quỹ gen các sản phẩm nông nghiệp.

- Ngành nông nghiệp lựa chọn các sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu để đầu tư phát triển thương hiệu sản phẩm Nghệ An. Nghiên cứu để xây dựng một số sản phẩm nông nghiệp mang thương hiệu quốc gia của Nghệ An.

- Thực hiện một số dự án có sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước để xác lập bảo hộ và phát triển thương hiệu một số sản phẩm nông nghiệp mang địa danh Nghệ An, như: cam Vinh, lạc Nghệ An, chè Nghệ An, bò Mông miền Tây Nghệ An, nhung hươu Quỳnh Lưu, gà đồi Thanh Chương, tương Nam Đàn, trám đen Thanh Chương

- Phát hiện, giúp đỡ các doanh nghiệp bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, bản quyền giống cây trồng, trên cơ sở đó thương mại hóa tài sản trí tuệ của mình.

- Bảo tồn, khai thác và phát triển đa dạng sinh học, quỹ gen quý hiếm nhất là các loại dược liệu nhằm phát huy giá trị khu dự trữ sinh quyển thiên nhiên miền Tây Nghệ An.

d) Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và thương mại hóa sản phẩm nông nghiệp.

- Khuyến khích, hỗ trợ để doanh nghiệp đóng vai trò nòng cốt trong chuỗi giá trị sản xuất kinh doanh những sản phẩm.

- Khuyến khích doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp sử dụng quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp để đầu tư đổi mới công nghệ, ươm tạo công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo; áp dụng mô hình quản lý tiên tiến, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng nông sản; thương mại hóa các sản phẩm từ nông nghiệp của doanh nghiệp;

- Đẩy mạnh hoạt động công bố, trình diễn, giới thiệu các sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu thông qua các chợ - hội chợ nông sản.

 

Lê Thanh Tùng

Bến quê là một trong vài truyện ngắn, ngắn nhất của Nguyễn Minh Châu. Đây là một truyện ngắn có thi pháp độc đáo, chất chứa một dung lượng nghệ thuật vượt tầm cái bến... quê. Không phải bất cứ tác phẩm nào của ai cũng đạt được trình độ có thi pháp. Khi hình thức nghệ thuật chưa thành một hệ thống chỉnh thể, mang quan niệm của tác giả, nhằm khái quát một chân lý cuộc sống mà nhờ đó tác phẩm thành một cơ chế mang sự sống văn hóa sinh thành mãi mãi trong lòng độc giả, thì tác phẩm ấy chưa thể có thi pháp. Chúng tôi theo hướng tìm thi pháp của một tác phẩm cụ thể của Nguyễn Minh Châu để tìm giá trị của nó, nhằm tránh khuynh hướng xuất phát từ những chỉ định, những "yêu sách" ngoài nghệ thuật như một vài trường hợp đã làm với Nguyễn Minh Châu trước đây.

Yếu tố thi pháp nổi nhất của truyện này là không gian nghệ thuật. Nguyễn Minh Châu tập trung khai thác nó như một hình thức của quan niệm, của tư tưởng. Các yếu tố khác của thi pháp như thời gian nghệ thuật, hệ thống nhân vật, chi tiết nghệ thuật... là các yếu tố cộng hưởng tạo một không gian độc đáo gắn liền với vận mệnh tinh thần, văn hóa của nhân vật chính: anh Nhĩ.

Nhân vật Nhĩ đang trong một tình trạng đặc biệt: bệnh nặng sắp chết, đang nằm trên tấm phản sát cửa sổ nhà mình, bất ngờ phát hiện cái không gian bên ngoài ngay cạnh cửa sổ. Điểm nhìn không gian này có được nhờ vợ anh đang chăm sóc người chồng toàn thân bất toại: Chải đầu cho chồng xong, Liên đỡ anh ngồi dậy (tr.61)(1). Qua điểm nhìn này, anh thấy Những tia nắng sớm đang từ từ di chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bãi một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi trên bến sông quê, lúc này đang nhô ra trước khuôn cửa sổ nhà Nhĩ một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non - những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ (tr.61). Không gian đó là một chân trời gần gũi ngay đây. Vậy mà cả đời anh đã không đoái tưởng đến. Đây là phút độc thoại tự phán của nhân vật. Thời gian nghệ thuật từ thời gian thực của hiện tại vụt đến thời gian quá vãng, và không gian từ không gian cận cảnh ngay đây bay tới không gian xa viễn: Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất (tr.62). Ở đoạn sau, Nhĩ có nhắc đến một chuyến công tác ở một nước bên Mỹ la tinh hai năm trước (tr.65). Các chi tiết đó cho hay Nhĩ vốn là một nhân vật có hoạt động xã hội rộng lớn, có tầm quan trọng nào đấy trong những sự kiện trọng đại của lịch sử trước đó. Anh đã từng trải qua những không gian viễn xứ được đo bằng miền, châu, quốc gia, lục địa, đại dương, những chân trời, trái đất... để thi hành - chắc chắn - những sự nghiệp lớn lao tương ứng. Vậy mà giờ đây, phát hiện ra cái không gian trước mắt chỉ đo được bằng một tầm nhìn, thậm chí chỉ với một cái với tay, Nhĩ cảm nhận nó gần gũi mà lại xa lắc vì chưa bao giờ đi đến (tr.62). Đó là cái bến sông quê. Trong tâm lý nhân vật, đây không phải là trạng thái nặng nề của sự cắn rứt lương tâm, vì không có một lời nào trong tác phẩm phủ nhận những gì anh đã đi qua, đã sống và hiến dâng cho sự nghiệp. Đây chỉ là một niềm hối tiếc pha chút ân hận: Sao trong những năm tháng trải bước khắp mọi phương trời, ta lại không một lần ngoái về để nhìn ra được vẻ đẹp của những gì thân quen, gần gũi nhất, nơi đẻ ra ta, nuôi ta lớn thành người và là nơi ta sẽ nằm xuống mãi mãi trong lòng đất mẹ. Đó là một bước thức nhận của tâm hồn và lý trí trên lộ trình dài dặc quanh co của đời người.

Giờ đây, kiệt lực trên tấm phản trong tình trạng toàn thân bất toại, Nhĩ khao khát chiếm lĩnh cái không gian gần kề này. Ai giúp anh? Ta trở về không gian trong cửa sổ để thấy cùng Nhĩ một khía cạnh khác của sự thức nhận kia. Đó là phút Nhĩ thấy: Lần đầu tiên Nhĩ để ý thấy Liên đang mặc tấm áo vá (tr.63), và anh nghe Vẫn cái tiếng bước chân rón rén quen thuộc suốt cả một đời người đàn bà trên những bực gỗ mòn lõm (tr.64). Tất cả là một cái gì đã cũ, bị lớp bụi của quên lãng, thờ ơ phủ lên, giờ đây như một sự phát hiện lại, tất cả mới tinh khôi. Nhĩ đã tìm thấy nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này (tr.67). Người vợ là hình ảnh quá khứ vừa là hình ảnh hiện tại của sự dưỡng nuôi thể xác và an ủi tâm hồn Nhĩ lúc gần đất xa trời này. Còn Tuấn - con trai anh, là hiện thân của hiện tại và tương lai đang thay anh đặt những bước chân vật chất để "thám hiểm" bến sông quê theo lời khẩn cầu kì lạ của anh. Anh muốn lết đến gần cửa sổ để dõi theo bước chân của nó, nhưng sức tàn lực kiệt Nhĩ đã thu hết tàn lực lết dần, lết dần trên chiếc phản gỗ (tr.65). Không gian chiếc phản gỗ là không gian hẹp nhất, nhưng cũng là khoảng cách quá lớn đối với Nhĩ lúc này. Để chinh phục nó, anh đã cố nhấc mình ra được ngoài phiến nệm nằm, anh tưởng như mình vừa bay được nửa vòng trái đất trong một chuyến đi công tác ở một nước Mỹ la tinh hai năm trước đây (tr.65).

Từ sự vận động trong một không gian cực rộng, giờ đây anh nhọc nhằn và bất lực xê dịch trong một không gian cực hẹp. Ai tiếp sức cho anh? Mấy đứa trẻ hàng xóm xuất hiện với những ngón tay chua lòm mùi nước dưa, chúng rất nương nhẹ, giúp anh đi nốt nửa vòng trái đất từ mép tấm nệm nằm ra mép tấm phản khoảng cách ước chừng 50 phân (tr.60). Nhờ vậy, anh đã nhìn thấy cánh buồm con đò ngang mỗi ngày một chuyến. Anh lo con anh mảng chơi chậm chuyến đò. Anh buồn bã nghĩ về sự vòng vèo của đường đời và hối tiếc sau khi mình đã từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ (tr.67), giờ mới nhận ra cái bến quê giàu có lẫn mọi vẻ đẹp. Và cái điều anh khám phá thấy giống như một niềm mê say pha lẫn nỗi đau đớn ân hận (tr.67). Anh khát thèm tự mình thám hiểm cái mặt đất dấp dính phù sa của bến quê. Nỗi khao khát kia càng cháy bỏng, anh lại càng đau khổ trong những cố gắng kiệt lực và vô vọng. Ông lão hàng xóm hốt hoảng khi thấy mặt mũi Nhĩ đỏ rựng một cách khác thường, hai mắt long lanh chứa một nỗi mê say đầy đau khổ, cả mười đầu ngón tay Nhĩ đang bấu chặt vào cái bậu cửa sổ, những ngón tay vừa bấu chặt vừa run lẩy bẩy... trong chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô ra khỏi cửa sổ... (tr.68).

*  *  *

Quá trình tâm lý - tư tưởng đó diễn biến trong cái không gian nhỏ hẹp của tấm phản, căn phòng, khung cửa sổ, bến sông quê cạnh nhà. Nó gần gũi nhất mà duyên cách lại vô cùng lớn vì nó mới lạ, lần đầu phát hiện trong nỗi vô vọng bất lực của nhân vật. Nó là không gian vi mô hiện lên trước cái nhìn cận cảnh trong sự đối sánh nghịch dị với không gian vĩ mô tạo bởi cái nhìn xa viễn vào những chân trời quá khứ. Cùng với không gian ấy là sự đối chứng của thời gian hiện tại ngay đây, ngắn ngủi của ngày thường với thời gian lịch sử đời người mà Nhĩ đã trải qua. Thời gian trong trường hợp này là chiều thứ tư - chiều sâu của không gian. Bến sông là một không gian ước lệ tượng trưng trong truyền thống văn học. Ở đây Nguyễn Minh Châu không dựng một không gian bến sông chung nào đó. Đây là cái bến quê như đầu đề của tác phẩm. Nó là tất cả những phát hiện ấm áp tình người, tình đời của nhân vật (cũng là của tác giả) trước những gì thân quen nhất, thương yêu nhất (người vợ), những gì hồn nhiên và gần gũi nhất (bầy trẻ và ông lão láng giềng), những gì là giàu có đẹp đẽ thuần phác nhất và cổ sơ nhất của mảnh đất đã sinh thành ra ta và sẽ nhận ta về khi nhắm mắt xuôi tay. Đó là Bến quê, là cuộc sống thường nhật của bao kiếp người lam lũ làm ăn vẫn thao thức hoài một câu hỏi lớn về hạnh phúc.

Không gian bến quê vì vậy, là một không gian tư tưởng mang quan niệm độc đáo của nhà văn về bước thức nhận của đường đời. Chiếc phản hẹp, căn phòng, khung cửa sổ, cái bến sông, không gian nhỏ hẹp ấy không diễn đạt một sự lùi về với "Gió lùa gian gác xép/Đời tàn trong ngõ hẹp" (Vũ Hoàng Chương), hay với "Gường chiếu hẹp"  trong "Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn" (Chế Lan Viên), mà đây là một không gian tìm tới, là sự phát hiện cả một thế giới mới lạ đầy sức sống. Không gian Bến quê, theo ý nghĩa đó là một thức nhận sáng ngời của nhân vật về đường đời và cuộc sống. Nhưng oái oăm thay, nhân vật đau đớn trong một giới hạn mang tính bi kịch: Đã nhìn thấy chân lý mà không còn điều kiện thực hiện. Đó là "sự bất lực của thực tiễn" trước khát vọng đẹp đẽ lành mạnh như một "yêu cầu tất yếu". Đó là một "tình huống thế giới" của nhân vật bi kịch chân chính. Điều cơ bản, đó là một thức nhận tuy đau khổ nhưng ngời sáng, cảnh tỉnh cho con anh và lớp người kế bước. Vì vậy, không gian nhỏ hẹp kia là thước đo không gian rộng lớn của nhân loại: Xét ở phương diện này, Nguyễn Minh Châu đã nối bước văn hào Nga vĩ đại Đôxtôiepxki. Truyện của Đôxtôiepxki diễn ra trong những không gian cực nhỏ nhưng lại chất chứa dung lượng tư tưởng nghệ thuật cực lớn. Ông nói: Tôi đo cái thước không gian này bằng sự vĩnh cửu.

*  *  *

Với Nguyễn Minh Châu, không gian Bến quê cũng là một không gian văn hóa thẩm mỹ mới mẻ, anh phát hiện trong những tác phẩm sau 1980. Trước đó, không gian trong tác phẩm của anh, gắn liền với những bước đi lớn của lịch sử qua khói lửa chiến tranh theo những Dấu chân người lính(2), qua những Miền cháy(3) với Những vùng trời khác nhau(4)... Không gian đó gắn với không khí sử thi và nhân vật anh hùng. Đó là thi pháp có giá trị của văn học một thời kỳ, mà ngay cả trong nhiều tác phẩm sau 1980 anh vẫn còn tiếp tục trình diễn nhân vật trong kiểu không gian rộng lớn đó, dĩ nhiên với một tư duy sáng tạo không dẫm lại "dấu chân" trước của mình: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành(5), Cơn giông(6)... Sau 1980, một kiểu không gian mới thức dậy trong anh miền đất lạ: Cuộc sống thường nhật trong mỗi nếp nhà, tâm sự và vận mệnh cá nhân một con người, niềm thao thức thế sự, sự tự hối và phản tỉnh của đời người, những ngõ ngách khuất dạng của tâm hồn và tư tưởng... Bến quê khái quát cho kiểu không gian này, trong ý nghĩa tượng trưng có sức tái sản xuất văn hóa của nó. Còn trong ý nghĩa trực tiếp cụ thể của Bến quê thì đó là mảnh đất quê hương - xứ Nghệ của anh, nơi đã sinh dưỡng anh một thời trai trẻ, nơi anh ly biệt mấy mươi năm vì nghĩa vụ làm người, nay anh như đứa con xa xứ khao khát trở về với "mảnh đất tình yêu", đón tiếp một Khách ở quê ra (7), rồi lại tìm về Phiên chợ Giát(8) chót cùng sau bao nhọc nhằn nghĩ suy đau đớn và kỳ vọng vào sự đổi mới của đất quê. Tuy nhiên, khát vọng sáng tạo của anh trên không gian Bến quê này vẫn còn ở những dự đồ lớn lao phía trước. Đau đớn thay, đường về bến quê hương của con thuyền văn của anh còn dang dở. Bỗng nhiên tôi nghĩ đến số mệnh đời người: Hay là anh đã dự cảm điều bất hạnh về mình qua sự thức nhận sáng ngời và đau đớn của nhân vật Nhĩ mấy năm trước ngày anh từ biệt không gian bến quê của cõi thực để bước vào không gian vĩnh hằng của cõi hư vô.

Chú thích

 (1). Các trích dẫn có kèm số trang (61),(62),... đều rút từ truyện ngắn Bến quê in trong tập truyện  cùng tên của Nguyễn Minh Châu, Nxb Tác phẩm mới, H.1985.

(2). (3).(4).(5).(6).(7).(8): Tên các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu.

 

Phạm Quang Ái

Về năm mất của Nguyễn Công Trứ (1858) được công bố trong tài liệu đầu tiên công trình biên khảo Sự nghiệp và thi văn Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ (1928) của GS. Lê Thước đã có sự nhầm lẫn đáng tiếc. Từ bấy đến nay, đã có một số nhà nghiên cứu đưa ra thông tin khác (mất năm 1859) hoặc bàn luận để cải chính nhưng không được số đông hưởng ứng. Bài viết này nhằm cung cấp cho độc giả những cứ liệu xác đáng để cải chính năm mất của Nguyễn Công Trứ là 1859 chứ không phải là 1858 như phần lớn tài liệu từ trước tới nay vẫn ghi.  

Về năm sinh và năm mất của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ, phần lớn các tài liệu phổ biến từ trước tới nay đều ghi theo sách Sự nghiệp và thi văn Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ của GS. Lê Thước (nhà in Lê Văn Tân, 1928) là sinh năm 1778 và mất năm 1858. Về năm sinh, không thấy ai bàn tới nhưng về năm mất thì có một số tài liệu ghi khác và một số nhà nghiên cứu đã tham gia bàn luận để đính chính nhưng rốt cuộc vẫn không mấy người theo. 

Trong công trình biên khảo của mình, khi tóm tắt về tiểu sử, hành trạng của Nguyễn Công Trứ, đoạn nói về những năm tháng cuối đời của cụ, GS. Lê Thước đã có sơ suất, mâu thuẫn nhưng hình như ít người để ý. Đoạn ấy như sau: "Năm thứ 11 (1858), nhân trong nước có việc ngoại hoạn (tức là bị phương Tây xâm lược - PQA), các quan tỉnh thần là ông Võ Trọng Bình, ông Lê Bá Thận thường tới nhà hỏi han cơ lược. Cụ lại thường cùng với quan tỉnh đi xem xét hình thế các cửa bể để thiết lập đồn bảo mà giữ các nơi hiểm yếu ở về hải phận.                      

Năm Tự Đức thứ 12, người Pháp Lan Tây và Tây Ban Nha đến đánh Đà Nẵng và lấy đất Nam kỳ. Các quan trong triều đều dâng sớ cử cụ đi đánh...

Đến tháng mười một (tháng một) năm ấy (năm Tự Đức thứ 12 - PQA), nhằm ngày 14 giờ Sửu (7 Decembre 1858) cụ mất tại chính quán là làng Uy Viễn. Hưởng thọ 80 tuổi" (1).

Có thể khẳng định rằng, với vị thế vừa là nhà Hán học uyên thâm vừa là một học giả được tiếp thu khá sâu sắc nền tân học và có thâm niên nhiều năm làm công tác sưu khảo lại là người đồng châu, đồng quận với Uy Viễn tướng công, GS. Lê Thước là người có điều kiện thuận lợi nhất để tiếp cận với những tài liệu cần thiết liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Công Trứ, của dòng họ Nguyễn làng Uy Viễn. Vì thế, những thông tin về tiểu sử, hành trạng của Nguyễn Công Trứ trong quyển sách của mình, Lê Thước không thể không tham khảo từ Gia phả. Ngay đoạn trích trên (mặc dù chúng tôi đã lược đi khá nhiều câu) đã cho thấy sự tương đồng về thông tin giữa tác giả và Gia phả.

Trong đoạn trích nói trên, mở đầu, tác giả đã nói đến sự kiện năm Tự Đức thứ 11 (1858), trong nước có việc ngoại hoạn, tức là sự kiện liên quân Pháp và Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng; đến đoạn tiếp theo, tác giả viết: "Năm Tự Đức thứ 12, người Pháp Lan Tây và Tây Ban Nha đến đánh Đà Nẵng và lấy đất Nam kỳ. Các quan trong triều đều dâng sớ cử cụ đi đánh... ". Nêu sự kiện như vậy là chính xác về mặt sử liệu: vì, ngày 3 tháng 8 năm 1858, Pháp tấn công Đà Nẵng đến ngày 02 tháng 02 năm 1859 thì kết thúc chiến dịch vì không thể đánh chiếm được; liền đó, ngày 18 tháng 02 năm 1859, quân Pháp tiến vào Nam và đánh chiếm thành Gia Định. Nhưng không hiểu tại sao, sau đó GS. Lê Thước lại viết "Đến tháng mười một (…) năm ấy, nhằm ngày 14 giờ Sửu (7 Decembre 1858) cụ mất tại chính quán là làng Uy Viễn. Hưởng thọ 80 tuổi". Theo mạch lạc, logic của đoạn văn thì khi đã viết "đến tháng mười một năm ấy" tất phải hiểu "năm ấy" là năm Tự Đức thứ 12, tức là năm 1859. Thế nhưng tác giả lại sơ suất mở ngoặc đơn chua là "7 Decembre 1858" (ngày 7 tháng 12 năm 1858). Vả lại, nếu mất vào ngày 7 tháng 12 năm 1858 thì đổi ra âm lịch là ngày 03 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1858), chứ không phải là ngày 14 tháng 11 cùng năm.         

Cuốn sách ra đời từ năm 1828 đến nay đã 90 năm nhưng sự sơ suất dễ thấy nói trên đã không được một ai trực tiếp chỉ ra và cứ thế "dĩ ngoa truyền ngoa". Tuy không có người chỉ ra sự sai lầm, mâu thuẫn của GS. Lê Thước nhưng không phải không có người đính chính, bàn luận về thời điểm từ trần của Uy Viễn tướng công.        

Trước hết, từ năm 1934, trong sách Văn đàn bảo giám (Nam Ký thư quán xuất bản, Hà Nội, 1934; tr. 19), Trần Trung Viên ghi năm Nguyễn Công Trứ mất là 1859 nhưng không nêu căn cứ. Đến năm 1943, Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố nhân phê bình quyển Thi văn bình chú của Ngô Tất Tố đã viện dẫn Đại Nam chính biên liệt truyện (quyển 20) để khẳng định rằng Nguyễn Công Trứ mất năm 1859: "Năm Tự Đức thứ 12 (1859), vì có việc binh cách, vua xuống chỉ dùng ông; ông trần tình là già yếu không kham nổi, vua ý cho. Năm ấy ông mất, thọ 82 tuổi"(2). Nếu ông mất năm 1859 thì tính đúng là 81 tuổi, còn tính cả tuổi bà mụ là 82 tuổi. Tuy nhà thư tịch học Nguyễn Văn Tố đã viện dẫn tài liệu của Quốc sử quán nhà Nguyễn nhưng về sau đó cũng rất ít người theo để cải chính.

Mãi đến năm 1959, nhân ngày giỗ của Nguyễn Công Trứ, ông Nguyễn Công Huân, một trong những hậu duệ của cụ Thượng Trứ, đã viết: "Một thế kỷ một năm qua, hôm nay ngày 14 tháng 11 âm lịch nhằm ngày 13-12-1959 lại đã đến húy nhựt của Cụ Nguyễn Công Trứ mất ngày 14 tháng 11 năm Mậu Ngọ Tự - Đức thứ 12 hồi 3 giờ sáng tại chánh quán làng Uy Viễn, hưởng thọ 82 tuổi"(3). Ông Huân đưa ra thông tin như vậy nhưng trong bài viết của mình ông không nêu căn cứ. Tuy nhiên, thông tin của ông có chỗ nhầm lẫn. Năm Mậu Ngọ mà ông nói là năm 1858 nhưng năm Tự Đức thứ 12 thì phải là năm 1859 và mất năm 1859 thì mới có thể nói là cụ Nguyễn hưởng thọ 82 tuổi (tuổi bà mụ).

Mấy năm sau, trong sách Việt Nam ca trù biên khảo (xuất bản tại Sài Gòn, 1962), ở chương 11 "Tiểu truyện tác giả" (trang 620), Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề chép năm mất của Nguyễn Công Trứ là 1859 và cũng không nói rõ là chép theo tài liệu nào. Hai mươi hai năm sau, trong bài viết Những điểm sai lầm về Nguyễn Công Trứ đăng trên Văn học số 52 (Sài Gòn, ngày 15/12/1965; tr. 19), ông Nguyễn Quảng Tuân lại viện dẫn sách Đại Nam chính biên liệt truyện (có trích lại đoạn Nguyễn Văn Tố đã trích mà chúng tôi có dẫn ở phần trên) để đính chính lại thông tin về năm mất của Nguyễn Công Trứ là năm 1859. Sau đó khi biên soạn sách giáo khoa môn văn, ông Nguyễn Quảng Tuân đã mạnh dạn sửa lại năm mất của Nguyễn Công Trứ là năm 1859. Tuy vậy, dường như sự đính chính của ông Nguyễn Quảng Tuân cũng không được thiên hạ lưu tâm nên gần 10 năm sau, năm 1974, trong sách Mảnh vụn văn học sử (Chân Lưu xuất bản, Sài Gòn, 1974; tr.142-144), nhà nghiên cứu Bằng Giang một lần nữa lại xới vấn đề lên. Ông điểm qua quá trình diễn biến về thông tin năm mất của Nguyễn Công Trứ từ khi Lê Thước công bố trong tài liệu của mình cho đến thời điểm lúc bấy giờ. Tuy nhiên, Bằng Giang cũng chỉ nêu lại như là một vấn đề về văn học sử cần phải khảo cứu để đi đến thống nhất chứ ông không khẳng định hẳn là Nguyễn Công Trứ mất năm nào.

Trong khi đó, trước năm 1945 và ở miền Nam sau 1954 ít nhiều còn có người bàn luận, đính chính về năm mất của Nguyễn Công Trứ thì ở miền Bắc, sau năm 1954, hầu như tất cả các tài liệu viết về Nguyễn Công Trứ từ các bài báo lẻ, sách giáo trình văn học sử, sách lịch sử các loại đều thống nhất ghi năm mất của Nguyễn Công Trứ theo tài liệu của GS. Lê Thước (mất năm 1858). Sau năm 1975 cho đến nay, điều kiện sưu tầm, tham khảo thuận lợi hơn rất nhiều nhưng cũng không thấy ai đặt lại vấn đề năm mất của Uy Viễn tướng công. Các tác giả khi viết về Nguyễn Công Trứ vẫn nghiễm nhiên ghi năm mất của ông như các bậc tiền bối đã ghi. Đơn cử tài liệu xuất bản gần đây nhất là bộ Giáo trình văn học trung đại Việt Nam do Lã Nhâm Thìn và Vũ Thanh đồng chủ biên (NXB Giáo dục Việt Nam, 2015; tập 2, tr.253) vẫn chép Nguyễn Công Trứ mất năm 1858(4).

Gần đây, chúng tôi có điều kiện tiếp cận tài liệu Gia phả tập biên của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán-Nôm (ký hiệu A.3075), trong đó có phần Nghi Xuân, Uy Viễn Nguyễn gia thế phả (tr.87 - 251), thì thấy Gia phả chép về năm mất của Nguyễn Công Trứ trùng hợp với sách Đại Nam chính biên liệt truyện. Gia phả chép về hai năm cuối đời của ông như sau: "Năm [Tự Đức] thứ 11 (1858), bọn Tây Dương đến quấy nhiễu cửa biển Đà Nẵng, sở tại kinh động. Các quan tỉnh Đỗ Trọng Bình và Bố chánh Lê Bá Thận luôn luôn tới nhà xin ông đến tỉnh để hỏi han kế sách. Ông liền cùng đi đến cửa biển của tỉnh và các miền ven sông khám xét địa thế, thiết lập đồn lũy. Ngày tháng 5 năm [Tự Đức] thứ 12 (1859), nhân có chương văn đề cử của bộ Binh và các quan ở Sử quán, kính vâng chu phê: "Nguyễn Công mỗ tài đức như thế nào mà nhiều người suy tôn khen ngợi? Trước đây đã có người xin, nay các quan ở Sử quán lại xin, trẫm thấy khanh ấy đã cao tuổi không nỡ cưỡng dùng, nay nên hỏi xem khanh ấy có tình nguyện ra làm việc hay không để biết ý của khanh ấy. Hãy kính làm theo!". Ngày nhận được mệnh vua, ông vui mừng lập tức dâng sớ hồi đáp, trong có câu: "Màn che rách, lọng rách không nỡ chịu khuất phục sự suy lão. Còn một hơi thở, xin lập tức lên đường". Tỉnh thần phục tấu: thấy ông dầy dạn thao lược, muốn cùng ông bảo vệ thành trì, nhưng vì ông chỉ ngoài mười bước đã thở dốc, đi đứng đều phải có người đỡ". 

Ngày tháng 6 phụng chỉ: "Nguyễn Công mỗ, nghe tỉnh thần phúc tâu, quả thật đã già yếu, trẫm không muốn đem việc binh đao làm phiền lão thần, nay miễn cho. Hãy kính tuân theo!". Năm ấy, Tự Đức thứ 12 (1859), ngày 14 tháng 11 giờ Sửu, ông mất ở nhà chính, thọ 82 tuổi. Con trai 14 người, con gái 14 người. Bấy giờ quan tỉnh sai Thông phán và Tri bạ đem các thứ tiền, lụa hợp sức cùng các viên huyện lại lo tang lễ chu toàn. Việc xong, tâu lên đầy đủ. Lại phụng chỉ: "Viên ấy thuộc hàng lão thần, nhà rất thanh bần, tiền tuất cho hết; ngày đặt mộ, lại ủy thác cho 2 viên quản vệ đem 200 biền binh đến tống táng" (Nghi Xuân, Uy Viễn Nguyễn Gia thế phả (trang 119 nguyên tác), bản dịch của PGS.TS Trần Thị Băng Thanh).      

Như vậy là đã rõ ràng: Nguyễn Công Trứ mất vào giờ Sửu (khoảng 3 giờ sáng) ngày 14 tháng 11 năm Kỷ Mùi, tức là ngày 07 tháng 12 năm 1859. Theo đó, có thể thấy tư liệu về năm mất của Nguyễn Công Trứ do ông Nguyễn Công Huân đưa ra dẫu ông không nói rõ xuất xứ và có sự nhầm lẫn nhưng chắc là cũng căn cứ vào Gia phả.                        

Việc đính chính về năm mất của một nhân vật lịch sử quan trọng như Nguyễn Công Trứ là một việc làm cần thiết. Từ đó có thể thấy, một sự kiện đã được ghi chép trong quốc sử và trong Gia phả mà còn bị đời sau biên chép sai lầm thì hẳn những tài liệu về cuộc đời, sự nghiệp và thơ văn của Uy Viễn tướng công được người sau sưu tầm và công bố sẽ còn không ít nhầm lẫn. Vả chăng, việc xác định chính xác năm mất của Nguyễn Công Trứ (7/12/1859) sẽ là một căn cứ quan trọng trong việc tiếp tục sưu tầm, khảo cứu về con người và sự nghiệp lớn lao của ông.

 

Chú thích

(1). Lê Thước, Sự nghiệp và thi văn Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Tân xuất bản, Hà Nội, 1928. Chuyển dẫn theo sách Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử, Đoàn Tử Huyến chủ biên, NXB Nghệ An, 2008; tr.480.

(2). Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, Quyển Thi-văn bình-chú, Tạp chí Tri tân số 91, ngày 15/4/1943; tr.5. Cũng ở đoạn trích trong Đại Nam chính biên liệt truyện mà Nguyễn Văn Tố đã dẫn dịch thì bản dịch của Viện Sử học sau này diễn đạt như sau: "Năm thứ 12 (Tự Đức), có chỉ cho khởi phục, Trứ lại ra làm việc đánh giặc. Nhưng Trứ tự trình bày là tuổi già suy yếu không làm nổi việc. Vua y cho. Rồi sau Trứ chết thọ 82 tuổi" (Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (bản dịch), tập 2, NXB Thuận Hóa, Huế, 2014; tr.291);

(3). Nguyễn Công Huân, Nhân ngày giỗ lần thứ 101, ôn lại cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Công Trứ, Văn hóa Á châu, số 21, tháng 12/1959; tr.3;

(4). Trước đó, năm 2003, trong sách Nguyễn Công Trứ về tác gia, tác phẩm do Trần Nho Thìn giới thiệu và tuyển chọn (NXB Giáo dục, 2003), tại trang 05, lời nói đầu của nhà xuất bản, thì ghi Nguyễn Công Trứ mất năm 1859 nhưng đến phần niên biểu (trang 464-465) lại vẫn ghi Nguyễn Công Trứ mất năm 1858.

 

Quảng Phước

Nghệ An là một vùng đất có bề dày lịch sử, giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc. Chính vì vậy các di tích - danh thắng ở Nghệ An giàu về số lượng, đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung, đậm đà bản sắc xứ Nghệ. Theo Quyết định số 201/QĐ-UBND ngày 17/01/2018 của UBND tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt danh mục kiểm kê di tích, danh thắng trên địa bàn Nghệ An có 2.602 di tích - danh thắng, trong đó 4 di tích quốc gia đặc biệt, 139 di tích cấp quốc gia, 272 di tích cấp tỉnh. Các di tích danh thắng là những chứng cứ vật chất và tinh thần thể hiện cội nguồn dân tộc và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước Việt Nam nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng. Đồng thời đây cũng là bức thông điệp phản ánh sinh động bản sắc văn hoá xứ Nghệ.

Hiện nay, các loại hình di tích có gắn với việc thờ tự ở Nghệ An gồm có: Đình, đền, chùa, nhà thờ họ, nhà thánh, thiện đàn, nhà lưu niệm, nhà tưởng niệm. Mỗi loại hình di tích trên đều có một công năng thờ tự riêng. Tuy nhiên, do hậu quả của chiến tranh, thiên tai, đặc biệt là sau thời kỳ cải cách ruộng đất, phần lớn các di tích đã bị xuống cấp hoặc bị tàn phá, đồ tế khí ly tán nhiều nơi, dẫn đến quá trình hợp tự, bài trí sắp xếp các ngai thờ hết sức lộn xộn, thần, phật, thánh lẫn lộn, không đúng với công năng của từng loại hình di tích. Có di tích là đình làng vốn thờ Thành Hoàng nhưng nay Phật ngồi chính cung, Thành Hoàng xếp sang một bên; có di tích là chùa nhưng Thần được bài trí thờ trên Phật; có di tích là đền nhưng chính cung lại thờ Phật… kể cả nhà thờ dòng họ việc bài trí thờ cũng hết sức lộn xộn, không theo trật tự trên dưới, có khi ngai thờ của thủy tổ lại ở dưới ngai thờ của con cháu…  

Về các loại đồ tế khí ở các di tích Nghệ An rất phong phú và đa dạng như: long ngai, bài vị, hương án, bộ chấp kích, bộ bát bửu, trống, chiêng, kiệu, đài trản, y môn, cọc nến, lư hương, đỉnh đồng, mâm cổ bồng, lọ hoa, tam sự, ngũ sự… Mỗi loại đồ thờ đều có những công năng, ý nghĩa tâm linh riêng và phải được sắp xếp tại một vị trí nhất định phù hợp với quy luật âm dương, ngũ hành… Nhưng một thực tế hiện nay là việc sắp xếp, bài trí đồ tế khí hết sức bừa bãi, không theo một nguyên tắc nào, có di tích bát hương đặt trong cùng của hương án, có di tích bát hương đặt ngoài cùng, có di tích bát hương lại đặt chính giữa và số lượng bát hương trên mỗi cung thờ nơi ít, nơi nhiều, có khi vị trí trống chiêng lẫn lộn, đỉnh đồng đặt ở vị trí long ngai bài vị… Việc bài trí đồ thờ hiện nay hoàn toàn theo cảm tính mà không hiểu vì sao lại phải theo nguyên tắc như: tả chiêng hữu trống, tả nam hữu nữ, đông bình, tây quả, bát hương nên đặt chỗ nào của cung thờ cho đúng, cọc nến đặt ở đâu, đỉnh đồng để ở đâu…

Qua nghiên cứu thực tế tại các di tích trên địa bàn tỉnh Nghệ An và các sách về viết về phong tục truyền thống như Thọ Mai gia lễ của Tiến sĩ Hồ Sĩ Tân, Hồ Thượng thư gia lễ của Lễ bộ Thượng thư Hồ Sĩ Dương, Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, Đất lề quê thói của Nhất Thanh, các bản gia phả dòng họ, hương ước của nhiều làng xã ở Nghệ An, chúng tôi tạm rút ra một số nguyên lý cơ bản của việc bài trí thờ tự như sau:       

- Bài trí theo nguyên lý Âm - Dương  

Thuyết âm dương là cốt lõi của nền triết học cổ Đông phương. Theo thuyết này thì âm dương là hai mặt, hai thế lực đối lập nhau nhưng lại thống nhất với nhau trong vạn vật, là khởi đầu của mọi sinh thành biến hóa. Âm dương không loại trừ nhau mà tạo điều kiện tồn tại cho nhau, gắn kết với nhau trở thành động lực của mọi vận động và phát triển. Căn cứ theo thuyết này thì trời là dương, đất là âm; mặt trời là dương, mặt trăng là âm; nam là dương, nữ là âm; trẻ là dương, già là âm; cứng là dương, mềm là âm; động là dương, tĩnh là âm; đậm là dương, nhạt là âm; đông là dương, tây là âm; nam là dương, bắc là âm; trái là dương, phải là âm... Âm dương ở đây mang tính chất tương đối, trong âm có dương, trong dương có âm, dương trưởng âm tiêu, âm trưởng dương tiêu, dương đến cực đại thì hóa thành âm, âm đến cực đại thì hóa thành dương. Điều này được thể hiện rất rõ qua biểu tượng khoáy âm dương. Cùng một vật thể đó nhưng đặt trong mối quan hệ với cái này thì nó là dương nhưng khi đặt nó trong mối tương quan với cái khác thì nó lại là âm. Ví dụ như xét về tính chất cứng - mềm thì đất là dương, nước là âm, nhưng xét về tính chất động - tĩnh thì nước là dương, đất là âm. Hoặc màu xanh, màu đỏ là dương, màu trắng, màu đen là âm nhưng nếu chỉ xét riêng màu xanh với màu đỏ thì đỏ là dương, xanh là âm; màu trắng và màu đen thì trắng là dương, đen là âm... Nghĩa là âm dương đối đãi cùng tương hòa, giao hợp mà phát triển. Khái niệm âm dương đã được triết học hóa vào Kinh dịch. Trong Kinh dịch có hai quẻ trái ngược nhau là quẻ "địa thiên thái" (thường gọi là quẻ Thái) và "thiên địa bỉ" (thường gọi là quẻ Bỉ). Quẻ "địa thiên thái" có hình quẻ âm ở trên, dương ở dưới, tượng quẻ "Thiên địa hòa xướng chi tượng: tượng trời đất giao hàa", âm dương giao hòa, gắn bó mật thiết với nhau, vận động và chuyển hóa cho nhau khiến cho mọi vật yên ổn, thúc đẩy phát triển thịnh vượng. Ngược lại với quẻ "địa thiên thái" là "thiên địa bỉ". Tượng quẻ này là "Thượng hạ tiếm loạn chi tượng: trên dưới lôi thôi". Âm dương riêng rẽ, không giao nhau dẫn tới bế tắc, quy luật ở người như vậy mà ở vạn vật cũng như vậy. Đã bế tắc thì không phát triển. Người xưa đã biết vận dụng triết lý âm dương của Kinh dịch trong việc bài trí sắp xếp đồ tế khí, được đúc kết lại thành những câu thành ngữ như: "đông bình, tây quả" nghĩa là phía đông thuộc dương đặt bình hoa, phía tây thuộc âm đặt đĩa quả, tức là đơm hoa trước, kết quả sau. Hoặc "đông chinh tây cổ", "đông chung, tây đạc" nghĩa là phía đông để chinh (chiêng), chung (chuông) là những đồ tế khí được làm bằng kim loại, thuộc dương; còn phía tây để cổ (trống), đạc (mõ) với vật liệu làm từ da, gỗ, thuộc âm. Hoặc "đông phù tây thủy" nghĩa là phía đông để đĩa trầu cau (trầu cau là cây cỏ, thuộc dương), phía tây để chén nước (nước thuộc âm). Hoặc "nam tả, nữ hữu" nghĩa là nam bên trái (dương), nữ bên phải (âm)... Nhưng khái niệm đông - tây, tả - hữu ở đây không phải hiểu theo phương vị địa lý trên thực tế mà là căn cứ theo hướng tay ngai từ trong nhìn ra thì đông có nghĩa là bên trái (tả), tây có nghĩa là bên phải (hữu) [ngược với người sống]. 

- Bài trí theo nguyên lý Ngũ Hành

Theo quan niệm cổ đại, tất cả vạn vật đều phát sinh từ năm nguyên tố cơ bản và luôn trải qua năm trạng thái là: Thổ, Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, được gọi là Ngũ hành (五行). Ngũ hành không phải là vật chất như cách hiểu đơn giản theo nghĩa đen trong tên gọi của chúng mà đúng hơn là cách quy ước của người cổ đại để xem xét mối tương tác và quan hệ của vạn vật. Học thuyết Ngũ hành diễn giải sinh học của vạn vật qua hai nguyên lý cơ bản là Tương sinh và Tương khắc.

Trong mối quan hệ tương sinh thì Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ. Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau, hỗ trợ nhau để phát triển. Đem Ngũ hành liên hệ với nhau thì thấy năm hành có quan hệ xúc tiến, nương tựa lẫn nhau. Trong luật tương sinh của ngũ hành còn bao hàm ý nữa là hành nào cũng có quan hệ trên hai phương diện: Cái sinh ra nó và cái nó sinh ra.

Ngược lại là quan hệ tương khắc: Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ. Tương khắc có nghĩa là áp chế lẫn nhau, giúp duy trì sự cân bằng, nhưng nếu tương khắc thái quá thì làm cho sự biến hóa trở thành bất thường. Từ quy luật tương khắc, bàn rộng thêm ta có tương thừa (nghĩa là khắc quá đỗi) và tương vũ (nghĩa là khắc không nổi mà bị phản phục lại). Trong tương khắc, mỗi hành cũng lại có hai mối quan hệ: Cái khắc nó và cái nó khắc.

Hiện tượng tương sinh, tương khắc không tồn tại độc lập với nhau. Trong tương khắc luôn có mầm mống của tương sinh, trong tương sinh luôn có mầm mống của tương khắc, ví dụ như thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa nhưng thủy lại khắc hỏa… Do đó các trạng thái của sự sống được cân bằng, vạn vật luôn luôn tồn tại và phát triển. Nếu sinh thái quá hoặc khắc thái quá thì dẫn đến quá thừa hoặc quá thiếu, muôn vật sẽ không phát triển bình thường được. Hiểu được nguyên lý đó, con người ta với mong muốn cuộc sống được bình hòa, yên ổn thì luôn luôn tìm cách cân bằng ngũ hành, không để cái gì thái quá cũng không để cái gì bất cập.  

Người xưa đã áp dụng những quy luật đó vào việc bài trí thờ tự, sắp xếp đồ tế khí đảm bảo ngũ hành cân bằng, hài hòa. Do đó trong một cung thờ các đồ tế khí đều có vị trí ứng với những chức năng riêng nhưng không tách rời mà hòa quyện vào nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất: Hương án phía trước bàn thờ là tượng trưng cho tầng trời, cho vũ trụ vì thế ở đây bao giờ cũng được bài trí đầy đủ ngũ hành: tro trong bát hương và những đồ bằng sứ tượng trưng cho hành Thổ; những đồ bằng kim loại như bộ đỉnh trầm, hạc đồng tượng trưng cho hành Kim; nước và rượu tượng trưng cho hành Thủy; hoa, quả, cây hương và đồ bằng gỗ như đài, tam sơn tượng trưng cho hành Mộc; lửa cháy trên nén hương và lửa trên ngọn nến tượng trưng cho hành Hỏa… Không bao giờ các đồ tế khí trên một bàn thờ chỉ được làm bằng một loại chất liệu mà thường có sự kết hợp giữa nhiều loại chất liệu như đồng, đá, gỗ, sứ… Đặc biệt, thể hiện rõ nhất của việc kết hợp ngũ hành đó là mâm ngũ quả. Ngũ quả không có nghĩa là chỉ năm loại quả, mà đây có ý nghĩa tượng trưng cho ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ), ngũ phương (đông, tây, nam, bắc và trung ương) để cầu mong ngũ phúc (phúc, lộc, thọ, khang, ninh)… Quả màu xanh tượng trưng cho hành Mộc ở phương Đông, quả màu đỏ tượng trưng cho hành Hỏa ở phương Nam, quả màu trắng tượng trưng cho hành Kim ở phương Tây, quả mà đen hoặc tím hoặc thẫm màu tượng trưng cho hành Thủy ở phương Bắc, quả màu vàng tượng trưng cho hành Thổ ở phương Trung ương.

- Bài trí theo nguyên lý giữa trước, hai bên sau: 

Giữa có nghĩa là nhân vật được thờ chính tại đó; hai bên có nghĩa là nhân vật phối thờ, tòng tự hoặc có vị thế thấp hơn. Trong một ngôi đền, đình… thì vị thần chủ ở đó bao giờ cũng được bài trí ở vị trí trung tâm, ở nơi thâm nghiêm nhất thể hiện sự tôn sùng, thành kính của người thờ phụng, xác lập rõ đây là chủ nhà. Các vị thần được phối thờ hoặc không phải là thần chính, thậm chí kể cả những vị thần có phẩm trật cao hơn nhưng chỉ là nhân vật phối thờ thì được thờ cấp bậc thấp hơn hoặc ở các vị trí "vòng ngoài". Đối với nhà thờ họ thì gian chính giữa bao giờ cũng là nơi thờ ông bà thủy tổ của dòng họ, các gian kế tiếp sẽ là nơi thờ các vị tổ phân chi hoặc các nhân vật được tòng tự tại nhà thờ. Cung thờ nhân vật chính sẽ được bài trí đầy đủ các đồ tế khí hơn, cũng là nơi trang trọng, thâm nghiêm nhất, thậm chí là ít người được tiếp cận đến. Ngay cả việc dâng lễ cúng thì ở đây cũng là nơi "chính hiến" (dâng lễ chính) còn các ban thờ còn lại chỉ là "quân hiến" (dâng đều). Vì vậy, muốn bài trí đúng cần phải xác định rõ nhân vật được thờ chính là ai và nhân vật nào là phối thờ, tòng tự?  

Riêng đối với việc bài trí ở chùa thì lấy chư Phật làm trung tâm. Các vị Bồ Tát, Long Thiên, Hộ Pháp, chư tổ, đức ông… được thờ ở hai bên hoặc phía sau chính điện. Mặc dầu, ở trong chùa các tượng Phật thường được xếp theo kiểu tam cấp từ cao xuống thấp nhưng nó không có ý nghĩa phân biệt cấp bậc cao thấp vì các vị đã thành quả Phật thì đều ngang hàng với nhau. Việc sắp xếp các tượng Phật từ cao xuống thấp chỉ có ý nghĩa về thời gian xuất thế của các vị, đồng thời để chúng sinh ở dưới có thể dễ dàng chiêm ngưỡng được tất các vị (vì nếu xếp bằng nhau cả thì sẽ có những tượng ở phía trong bị che khuất).   

- Bài trí theo nguyên lý nội trọng, ngoại khinh:

Nội ở đây nghĩa là bên trong, phía trong; ngoại là bên ngoài, phía ngoài. Trọng khinh ở đây được hiểu là coi trọng, khinh có nghĩa là nhẹ, chứ không hiểu theo nghĩa khinh thường. Trong một ngôi đình, đền, nhà thờ họ thì những điện thờ ở phía trong bao giờ cũng quan trọng hơn những điện thờ ở phía ngoài. Vì thế, để tạo không gian thiêng và sự thâm nghiêm cho nơi thờ tự người ta làm nhiều tòa liên tiếp nhau kiểu chữ Tam (), chữ Nhị (), chữ Công () hoặc nội Công ngoại Quốc (内工外国). Trong đó loại kiến trúc "nội công ngoại quốc" có quy mô lớn nhất và nhiều công trình với nhiều chức năng phúc tạp. Một ngôi đền có kiến trúc "nội công ngoại quốc" thường bố trí như sau: Từ ngoài vào là Nghi môn, có nơi Nghi môn làm đơn giản chỉ có bốn trụ biểu nhưng có nơi Nghi Môn làm thành một tòa nhà đồ sộ có chính môn, tả môn, hữu môn. Ở Nghi môn chỉ đắp tượng quan văn, quan võ, voi, ngựa hoặc ông hổ… mang tính chất bảo vệ vòng ngoài. Tếp đến là nhà Ca vũ chỉ để tế lễ, múa hát hầu thánh (tòa này thì có nơi có, có nơi không). Thứ ba là Hạ điện thường bài trí thờ công đồng, để kiệu, voi ngựa… Tòa thứ tư là Trung điện, ở tòa này thì thường bài trí thờ các vị phối tự hoặc các vị thị tùng của thần chính. Tòa trong cùng là Thượng điện, thường gọi là cung cấm hay nội điện là nơi thờ vị thần chính. Nội điện/cung cấm ở sâu trong cùng, muốn vào được phải đi qua các tòa nhà phía trước, vì vậy ít người được tiếp cận với khu vực này. Hai bên dãy công trình chính là Tả vu, Hữu vu đây là nơi cất các đồ tế khí hoặc nơi soạn lễ, thay đồ… Ít khi bài trí thờ cúng ở hai dãy nhà này.

Trong trường hợp chỉ có một tòa kiến trúc, để tạo cho nơi thờ tự có chiều sâu người ta thường bài trí thờ dọc, dân gian có câu "họ thờ ngang, làng thờ dọc" là vì vậy. Thờ dọc tạo cho không gian thờ tự thâm nghiêm hơn thờ ngang. Nếu thờ dọc thì người ta ngăn gian trong cùng làm cung cấm. Ngăn cách giữa cung cấm bên trong và không gian bên ngoài là bức thuận bằng gỗ, ở giữa trổ cửa sổ xuyên hoa, hai bên có cửa ra vào kiểu thượng song hạ bản; hoặc ở giữa làm cửa võng, phía trước đặt hương án chắn ngang, cửa ra vào mở hai bên. Phía trong cung cấm này là nơi thờ vị thần chính, còn các vị thần phối thờ hoặc thị tùng của thần chính được thờ ở ban công đồng phía ngoài.

- Bài trí theo nguyên lý thân trọng sơ khinh:

Khái niệm "khinh - trọng" ở đây cũng được hiểu tương tự như trên. Những vị thần nguyên gốc ở mỗi di tích sẽ được bài trí ở vị trí quan trọng hơn, còn những vị thần mới phối thờ sau này sẽ thờ ở vị trí kém hơn. Nguyên lý này thường áp dụng cho những nơi hợp tự hoặc phối thờ nhiều nhân vật.

Trong trường hợp hợp tự nhiều đình, đền, chùa, miếu ở trong làng, trong xã và trong vùng về thì ngoài vị thần chủ đương nhiên là ở vị trí chính cung, còn những vị được hợp tự sẽ phân biệt theo thân sơ. Những vị thần của làng (tuy không phải là thần chủ ở đó nhưng được dân làng thờ phụng và có công lao với dân làng) hoặc những vị thần có sự tích liên quan đến vị thần chủ thì sẽ được thờ ở những vị trí quan trọng thứ hai sau thần chủ. Những vị thần của các làng khác hợp tự về sẽ thờ ở các vị trí kém hơn các vị trên. Trong các bài văn tế ở những nơi này người ta cũng chỉ thường đọc vị hiệu các vị thần của làng sở tại, còn các vị hợp tự từ các làng khác về chỉ được ghi chung chung một câu "bản từ/bản miếu/bản đình hợp tự liệt vị thần quan đại vương" và thường đọc sau khi đọc hết toàn bộ vị hiệu thần của làng sở tại. Điều đó cho thấy "thân" bao giờ cũng quan trọng hơn "". 

Một số dòng họ, gia đình do bên ngoại không có con trai, việc thờ tự được giao cho con gái nên trong nhà thờ hoặc trong gia đình có thiết lập bàn thờ tổ tiên bên ngoại. Nhưng những bàn thờ này thường nhỏ, thấp hơn, bài trí đơn giản hơn, ít đồ tế khí, lễ vật đạm bạc hơn bàn thờ tổ tiên bên nội. Khi có cúng đơm, giỗ chạp thì cũng thắp hương sau, cúng lễ sau, có được xướng tên trong văn tế thì cũng xướng sau khi xướng hết các vị hiệu của tổ tiên bên nội.    

- Bài trí theo nguyên lý thượng tôn, hạ ty:

"Thượng tôn hạ ty" nghĩa là trên thì cao, dưới thì thấp. Trong trường hợp một nơi thờ tự thờ nhiều vị thần khác nhau thì vị nào có phẩm trật cao hơn được thờ ở trên, vị nào có phẩm trật thấp hơn được thờ ở dưới. Thời Lê, triều đình không phân rõ phẩm trật cụ thể cho các vị thần, mà chỉ phong chung là Đại Vương. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là không có sự phân biệt cao thấp trong đó. Đối với các vị nhân thần là khai quốc công thần hoặc trung hưng công thần thì tùy theo công lao mà được vinh phong cao thấp theo 24 cấp: Suy trung, Dực vận, Tá lý, Tĩnh nạn, Kính thận, Minh nghĩa, Trung ý, Phụ quốc, Hiệp mưu, Đồng đức, Khiêm cung, Đoan nhã, Kiệt tiết, Tráng liệt, Uy dũng, Cương chính, Bình văn, Hiệu thuận, Thuần tín, Đôn hậu, Tuyên lực, Cẩn lễ, Tán trị, Dương võ. Ngoài ra, các vị nhân thần sinh thời có quan tước thì còn theo phẩm trật của triều đình. Đối với các vị nhân thần khác và các loại thần linh khác thì sự vinh phong cao thấp được thể hiện qua số mỹ tự trong sắc phong thần. Thần càng có nhiều mỹ tự thì chứng tỏ càng linh thiêng, được phong nhiều lần và phẩm trật cao. Vì thế có một số vị thần như Tứ Vị Thánh Nương, Uy Minh Vương, Sát Hải Đại Vương, Cao Sơn Cao Các… sắc phong rất dài, số mỹ tự lên đến hàng chục chữ. Trong khi đó có những vị thần chỉ có vài ba mỹ tự ngắn gọn. Vì vậy, chúng ta có thể căn cứ vào các vị mỹ tự đó để sắp xếp các vị thần theo thứ bậc cao thấp. Đến thời Nguyễn, việc sắc phong cho bách thần được quy định chặt chẽ hơn, phẩm trật cho bách thần được quy định rõ ràng thành ba cấp: Thượng đẳng (cao nhất), Trung đẳng (bậc ở giữa) và Hạ đẳng (bậc thấp nhất). Vì vậy chúng ta có thể căn cứ vào đó để sắp xếp một cách dễ dàng.

Đối với trường hợp ở Nhà thánh thì các vị được thờ tại Nhà thánh thường ít khi được phong thần (đối với Khổng Tử, vua không bao giờ ban sắc phong thần mà chỉ tôn kính và truy tôn các danh hiệu cho ngài) thì việc sắp xếp ngôi thứ tại đây lại căn cứ theo khoa bảng, học hàm, học vị. Nghĩa là ai đỗ đạt cao thì được thờ ở trên, ai đỗ đạt thấp thờ ở dưới, hai người cùng đỗ bằng nhau thì ai đỗ trước thờ trước, ai đỗ sau thờ sau, hoặc thờ ngang hàng.

Đối với nhà thờ họ, việc bài trí ngôi thứ tôn ty theo thứ tự huyết thống, phả hệ, các thế hệ trước được thờ trên, các thế hệ sau thờ dưới. Hoặc theo thứ tự chiêu mục, bên chiêu tức là bên trái thờ những người có vị thế cao hơn, bên mục nghĩa là bên phải thờ những người có vị thế thấp hơn.

Việc bài trí thờ tự, sắp xếp đồ tế khí đều mang những ý nghĩa tâm linh thiêng liêng, gửi gắm trong đó những khát vọng, ước mơ của tiền nhân, hàm chứa trong đó những ý nghĩa triết học sâu sắc về nhân sinh quan và vũ trụ quan. Vì vậy cần bài trí thờ tự - sắp xếp đồ tế khí cho các di tích một cách khoa học đúng với ý nghĩa tâm linh của các đồ thờ tự, phù hợp với các loại hình di tích, nhằm bảo đảm tính khoa học, thẩm mỹ, tính thiêng và đảm bảo giá trị truyền thống,  định hướng kịp thời để bảo tồn và phát huy giá trị di tích lâu dài.

 

 

Nguyễn Quốc Hồng

Hoàng giáp Đinh Văn Chấp sinh ngày 14 tháng 3 năm Nhâm Ngọ (1882), khi mới sinh được đặt tên là Đinh Văn Chí, người làng Kim Khê, huyện Chân Lộc, tỉnh Nghệ An (nay là huyện Nghi Lộc, Nghệ An), là con trai thứ 2 của Tiến sĩ Trực Hiên khoa Ất Hợi Đinh Văn Chất. Hoàng giáp là đời khoa bảng thứ 7 liên tiếp trong dòng họ Đinh Văn ở Kim Khê. Tháng 10 năm Đinh Hợi (1887), lúc mới 6 tuổi, gia đình gặp đại nạn: Bố là Đinh Văn Chất - một trong những thủ lĩnh phong trào Cần vương đang tổ chức lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu với quân Pháp tại căn cứ Sơn Phận vùng rừng núi huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An thì bị Pháp bắt, giao cho Nam triều trị tội. Vua Đồng Khánh đã khép Đinh Văn Chất vào tội "khi quân" và hạ chiếu "tru di tam tộc". Thực hiện chiếu của nhà vua, quân lính triều đình lục soát, bắt bớ các thành viên trong nội tộc để thi hành án. Trong hoàn cảnh hỗn loạn ấy, có một bà cụ trong làng quàng vào người cậu bé Đinh Văn Chí một tấm váy mang đi dấu. Đinh Văn Chí được đưa đến nhà bà ngoại ở Thuận Ký, Vinh(1); rồi ngay đêm đó được bà ngoại đưa sang xã Khu Vị, huyện Đồng An, Phủ Toàn Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Ở đây, Đinh Văn Chí được bà con bên ngoại nuôi ăn học. Mười một năm sau (tức 1898), khi vụ án "tru di tam tộc" đã qua lâu, Đinh Văn Chí được đưa về nước để tiếp tục đi học. Nhưng phải đổi tên thành ĐinhVăn Chấp, khai sụt tuổi để tránh không trùng với thời gian xảy ra vụ án của cha mới được đi thi.

Bấy giờ, hoàn cảnh gia đình Đinh Văn Chấp rất khó khăn, bố và anh trai đã bị thụ án, bà con họ hàng tan tác mỗi người mỗi ngã, năm 1909 ông Lê Huy Thản là người bà con bốn đời bên ngoại làm quan trong triều, bảo lãnh đưa vào Huế học trường Quốc Tử Giám. Thời gian này Đinh Văn Chấp vừa học ở Quốc Tử Giám vừa dạy học ở làng Phong Lai để kiếm thêm tiền nuôi gia đình và bản thân.

Năm Nhâm Tý (1912), Đinh Văn Chấp đậu Cử nhân. Năm sau, đậu đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp), khoa Quý Sửu (1913) niên hiệu Duy Tân thứ 7. Khoa thi này không có đệ nhất giáp tiến sĩ, chỉ "Ban đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân một người: Đinh Văn Chấp" ông được bổ chức Đốc học ở Quảng Nam.

Năm 1919, nhà nước bỏ chế độ thi cử, chức đốc học coi như không còn, nên năm 1920, Đinh Văn Chấp được bổ làm Tri phủ Vĩnh Linh (Quảng Trị). Sau đó được chuyển vào làm Tri phủ Hòa Đa (Bình Thuận).

Năm 1922 nhậm chức Tri phủ Bồng Sơn (Hoài Nhơn) rồi Tri phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) sau thăng chức Án sát Khánh Hòa.

Năm 1934 Đinh Văn Chấp giữ chức Án sát Hà Tĩnh, Thăng Bố Chánh Hà Tĩnh, rồi Tuần Vũ Quảng Ngãi. Hai năm sau, ông được bổ về giữ chức Tham tri Bộ kinh tế (xã dân kinh tế: trông coi về kinh tế nông thôn). Thời gian này, có quan đồng liêu là Nguyễn Khoa Kỳ luôn kèn cựa với ông, nhiều lần ton hót với cấp trên và người Pháp tìm mọi cách giáng cấp của Đinh Văn Chấp.

Sau khi nghỉ quan, Hoàng giáp tập trung vào công việc của quê hương, dòng họ. Ông đã tự bỏ tiền ra trùng tu cầu Khoa Trường, chợ Giang Đình, xây hội quán làng Kim Khê, đào giếng để có nước sạch cho dân dùng.

Ông đã dành thời gian sưu tầm, lập gia phả dòng họ Đinh Kim Khê, kết nối các chi họ, các dòng họ Đinh ở Nghệ An - Hà Tĩnh - Hải Dương. Ông còn để lại những bút tích giá trị như các câu đối - hoành phi đặt trong các nhà thờ: Họ Đinh Nho ở Hương Sơn - Hà Tĩnh; Họ Đinh Phúc ở Đức Thọ - Hà Tĩnh; Chi họ Đinh ở Nam Đàn, Nghệ An.

Trong cuộc đời làm quan của Hoàng giáp Đinh Văn Chấp, ông là một con người mẫn cán với triều đình và hết lòng lo cho dân dẫu ở vị trí nào; Nhưng trong sự nghiệp quan lại của ông chịu nhiều gian nan, thử thách. Là một vị khoa bảng đầy nhân cách, không chấp nhận thói xu nịnh của những quan lại có chức quyền. Nhiều lần ông đã tỏ thái độ bất hợp tác, bởi vậy ông thường bị dèm pha, kèn cựa của những tên quan tham xu nịnh.

Hoàng giáp Đinh Văn Chấp có 11 người con 7 trai 4 gái. Tất cả những người con của ông là những người thành đạt và có địa vị trong xã hội. Đặc biệt, nối tiếp dòng dõi Tiến sĩ của dòng họ Đinh có Tiến sĩ Phật học Đinh Văn Nam (tức Hòa thượng Thích Minh Châu), nhà Nho học Đinh Văn Vinh…

Hoàng Giáp Đinh Văn Chấp mất ngày 17 tháng 10 năm 1953, hưởng thọ 71 tuổi. Phần mộ của ông được con cháu nội tộc chăm sóc, thờ phụng tại nghĩa trang gia tộc quê nhà.

Trong sự nghiệp của Hoàng giáp Đinh Văn Chấp, không chỉ có làm quan, mà ông còn để lại cho hậu thế một sự nghiệp quan trọng, đó là: ông là dịch giả đầu tiên dịch thơ thời Lý - Trần sang chữ Quốc ngữ, là người tiên phong trong việc bảo tồn tinh hoa truyền thống của dân tộc qua thơ chữ Hán thời Lý - Trần.

Ngay những năm tháng làm việc ở Huế, Hoàng giáp Đinh Văn Chấp đã tham gia dạy chữ Hán cho những sĩ tử. Trong những khi rảnh rỗi ông tìm đến các chùa để đàm đạo, suy ngẫm cùng các vị cao tăng và cư sĩ uyên thâm về Phật pháp. Trong các buổi gặp gỡ, đàm đạo ấy Hoàng giáp Đinh Văn Chấp đã tìm đến kinh tam tạng và những kiến thức Phật học, cũng từ đây ông dần trở thành cư sĩ uyên thâm về Phật pháp.

Đinh Văn Chấp xuất thân là một nhà nho với tri thức uyên thâm nhưng tâm hồn của ông luôn hướng về thiền học, điều đó được thể hiện qua các bài thi cử nhân, tiến sĩ của ông, đồng thời thơ văn của ông luôn chứa đựng tinh thần Phật học đặc sắc, đến khi nghỉ làm quan ông nghiên cứu về thần học và dịch thơ thiền, đặc biệt là thơ Lý - Trần. Phải chăng thơ của hai triều đại Lý - Trần mang nặng tư tưởng thiền học và Phật giáo. Đây cũng là ảnh hưởng to lớn của ông đối với người con trai là Đinh Văn Nam sau này trở thành vị trưởng lão Hòa Thượng Thích Minh Châu (1918 - 2012), là người Việt Nam đầu tiên đỗ tiến sĩ Phật học, văn học Pali tại Ấn Độ vào tháng 9 năm 1961 với luận án "So sánh tập Pali Trung bộ kinh với tập Trung A hàm chữ Hán" (The chinaese Madhyama gama and The Pali Majjhima NiKaya). Sau khi về nước vị hòa thượng đã giữ các chức vụ quan trọng của Giáo hội Phật giáo (GHPG) Việt Nam.

Là người uyên thâm về Phật pháp, Hoàng giáp Đinh Văn Chấp đến với thơ Lý - Trần, phù hợp với tâm hồn hướng thiền của ông. Phật giáo thời Lý - Trần là tôn giáo có ảnh hưởng lớn nhất đối với triều đại Lý - Trần. Vai trò giáo hóa tư tưởng của đạo Phật sâu đậm trong đời sống văn hóa thời bấy giờ.

Những bài thơ Hoàng giáp Đinh Văn Chấp dịch đã toát lên một sự giải thoát, tự tại, chứa đựng những triết lí sâu xa nhưng cũng rất gần gũi với con người ở trần thế. Với tư tưởng bình đẳng, vô ngã và vị tha, các tác giả đã khắc họa nên những tác phẩm thơ tuyệt vời, ẩn chứa phong cách của họ đồng thời tạo nên vẻ đẹp của Phật giáo với tinh thần "Nhập thế mà không trụ thế".

Năm 1927, trên Tạp chí Nam Phong số 114, tháng 2, số 115, tháng 3 và số 116, tháng 4, Hoàng giáp Đinh Văn Chấp đã công bố 123 bài, trong đó có một số đầu bài 2 kỳ nên số bài là 216 của 43 tác giả cả thời Lý và thời Trần(2).

Sau đây chúng tôi giới thiệu một số bài thơ do Hoàng giáp Đinh Văn Chấp dịch.

Đời Lý

Kệ "Thị Tịch" của thiền sư Mãn Giác

Phiên âm chữ Hán

Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhãn tiền quá

Lão tùng đầu thượng lai

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đinh tiền tạc dạ nhất chi mai

Hoàng giáp Đinh Văn Chấp dịch:

Thời tiết qua rồi lại

Hẹn hò xuân với hoa

Trước mắt thoi đưa việc

Trên đầu tóc giục già

Chớ nói xuân tàn hoa cũng vậy

Sân mai một đóa mới hôm qua(3)

Đời Trần

Văn pháp hoa tôn giả, đề thanh mai tự của Minh Tông

Thóa thủ trần hoàn dĩ liễu duyên

Giác hoàng kim lũ đắc nhân quyền

Thanh sơn mạn thảo quan tàng lý

Bích thụ thâm sơn xác thoát thiền

Dạ yểm giảng đường kim cổ nguyệt

Hiểu mê trượng thất hữu vô yên

Tương đầu chấm giới tà phi tích

Trác tự ai chương lệ huyễn nhiên.

Hoàng giáp Đinh Văn Chấp dịch:

Trắng tay chẳng chút nợ trần mang

Đã có người truyền phép Giác vương

Giầy xếp trong quan nghìn núi cỏ

Ve ra ngoài xác một cây sương

Trăng đêm nương náu trong tăng viện

Mù sớm ngăn che trước pháp trường

Kim cổ cùng nhau nay vắng vẻ

Viếng ai một khúc lệ đôi hàng (4).

Với việc Hoàng giáp Đinh Văn Chấp dịch, công bố 126 bài thơ chữ Hán thời Lý - Trần, trên Tạp chí Nam Phong các số 114 tháng 2, 115 tháng 3 và 116 tháng 4 năm 1927, chúng ta có thể khẳng định rằng lần đầu tiên trong lịch sử Văn học Việt Nam, dòng thơ Lý - Trần đã được dịch sang tiếng Việt với chữ Quốc ngữ và công bố rộng rãi với công chúng qua Nam Phong tạp chí - một tờ nguyệt san có uy tín thời bấy giờ.

Việc dịch và công bố dòng thơ thời Lý - Trần được tiếp tục sau 15 năm của các dịch giả: Ngô Tất Tố với các công trình: Văn học đời Lý và Văn học đời Trần năm 1942; Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu năm 1941 và Việt Nam thi văn trích giảng năm 1943; Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử năm 1942… như vậy Hoàng giáp Đinh Văn Chấp là người có công đầu tiên dịch và là người đầu tiên giới thiệu, chuyển ngữ thơ chữ Hán thời Lý - Trần sang Việt ngữ trong lịch sử văn học nước nhà, góp phần vào việc bảo tồn di sản thơ văn nói chung và thơ chữ Hán thời Lý - Trần, đó chính là một trong những di sản của ông để lại cho hậu thế.

Chú thích

 (1). Lúc bấy giờ Thuận Ký là nơi các cửa hàng bán thuốc Bắc của người Hoa, nay là trục đường Phan Đình Phùng.

(2). Xem thêm Nam Phong tạp chí với việc bảo tồn di sản chữ Hán thời Lý - Trần của PGS.TS Nguyễn Công Lý.

(3). Bài thơ này chúng tôi dẫn lại từ tham luận: Danh sĩ xứ Nghệ, tiến sĩ Đinh Văn Chấp, người mở đầu cho công cuộc dịch thơ thiền thời Lý - Trần của Đào Nguyên đăng trong Kỉ yếu hội thảo khoa học: Văn hóa Phật giáo xứ Nghệ: Quá khứ, hiện tại, tương lai, thành phố Vinh tháng 8 - 2012, có đối chiếu với công trình: Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi.

(4). Thơ văn Lý - Trần tập II quyển thượng NXB Khoa học Xã hội - Hà Nội 1998, trang 807.

Tài liệu tham khảo 

1. Thơ văn Lý - Trần T1- NXB Khoa học Xã hội - 1977.

2. Thơ văn Lý - Trần T2, quyển Thượng NXB Khoa học Xã hội - 1988.

3. Nguyễn Đổng Chi: Việt Nam cổ văn học sử - 1970.

4. Nguyễn Q Thắng và Nguyễn Bá Thế: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam - NXB Văn hóa Hà Nội, 1997.

5. Ngô Đức Thọ (chủ biên): Khoa bảng Việt Nam (1075-1919), NXB Văn học Hà Nội 1993.

6. Đào Tam Tỉnh: Khoa bảng Nghệ An (1075-1919), NXB Nghệ An - 2005.

7. Ninh Viết Giao: Từ điển nhân vật xứ Nghệ - NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh - 2008.

8. Ninh Viết Giao (chủ biên): Địa chí Nghi Lộc - NXB Nghệ An - 2014.

9. PGS.TS Nguyễn Công Lý: Nam Phong tạp chí với việc bảo tồn di sản chữ Hán thời Lý - Trần.

10. Kỷ yếu hội thảo khoa học: Văn hóa Phật giáo Xứ nghệ quá khứ, hiện tại, tương lai - Vinh tháng 8/2012.

11. Trung ương GHPG Việt Nam, Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu - công bố ngày 02/9/2012.

 

Bùi Hào

Dù đã có hàng chục cuộc trò chuyện với GS. Phong Lê trong 10 năm qua, nhưng viết về ông quả thật rất khó. Khó thứ nhất là sự khác biệt về chuyên môn. GS. Phong Lê chuyên nghiên cứu về văn học còn với tôi thì chẳng có chút hiểu biết gì về lĩnh vực này. Khó thứ hai là tuổi tác và trải nghiệm. Tuổi đời và trải nghiệm của tôi thua ông gần nửa thế kỷ, lại trong hoàn cảnh lịch sử xã hội hoàn toàn khác nhau. Nên viết về cuộc đời của ông tôi cũng không đủ sức làm. Khó thứ ba là có nhiều người đã viết về ông. Đó là những người đồng nghiệp, bạn bè, học trò… và họ viết trên hầu hết các phương diện từ những đóng góp về chuyên môn của ông, về các kỷ niệm hay những câu chuyện mà họ được chứng kiến, được trải nghiệm cùng với GS. Phong Lê(1). Thành ra lần lữa mãi bao năm vẫn không nghĩ ra mình nên viết gì. Nhưng rồi trước khi rời đất Hà Thành để về quê, tôi được GS. Phong Lê và gia đình tin tưởng bàn giao toàn bộ khối tài liệu đồ sộ về lịch sử cuộc đời của ông để đưa về lưu giữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam. Nhân dịp GS. Phong Lê tròn 80 tuổi, xin được mạn phép giới thiệu thêm về bộ sưu tập tài liệu quý giá đang được lưu giữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học, nhất là quá trình lưu giữ tài liệu suốt gần 60 năm qua của ông cũng như những trăn trở trước khi bàn giao nó lại cho nơi khác.

Lần đầu tiên tôi trò chuyện GS. Phong Lê vào tháng 11/2008 tại nhà riêng của vợ chồng ông ở phố Thái Hà (Đống Đa, Hà Nội). Đó là một căn hộ tập thể cũ kỹ và chật hẹp, phần lớn diện tích dành để tài liệu của hai ông bà, đặc biệt là GS. Phong Lê: "Dù trải qua nhiều sự chuyển đổi, phải di chuyển do điều kiện không thể không đi, nhưng mình luôn cố gắng lưu giữ lại hầu hết các tài liệu liên quan đến các hoạt động chuyên môn cũng như cuộc đời mình. Không nghĩ để lại sau này làm di sản gì đâu. Mà trong quá trình làm việc mình thấy những tài liệu như vậy nhiều khi quan trọng và cần thiết. Và càng ngày quả thật càng thấy nó cần thiết thật. Nhiều năm qua, từ những tài liệu sưu tầm và lưu giữ lại được chính là cơ sở quan trọng để mình thực hiện các công trình nghiên cứu và xuất bản". Phải qua nhiều cuộc trò chuyện, tôi mới hiểu hơn rằng tại sao ông bà lại dành phần lớn diện tích lưu giữ các tài liệu này. Sách báo cũ, bản thảo, ghi chép, sổ, giấy tờ, văn bản, biên bản, thư từ, hiện vật, đồ lưu niệm, ảnh… được ông bà xếp thành từng tập, lấy dây bó lại và để ở khắp mọi nơi có thể để được. Từ trên các giá, trên tủ, gầm giường, chân ghế… Bụi bặm, xú uế, ẩm mốc… đó là tình trạng của cả một gia sản khổng lồ được gìn giữ hơn nửa thế kỷ hoạt động khoa học và giáo dục của vợ chồng ông. Thoạt nhìn chẳng khác gì một "vựa giấy vụn" mà ông bà tích trữ bao nhiêu năm qua. Nhưng "mớ giấy vụn" đó lại là những vết tích, những di sản mà sau bao nhiêu năm đã gắn bó cùng ông. Bởi ngoài những giá trị mang tính chuyên môn như ông đã nói, thì nó cũng là những kỷ niệm, những hiện vật gắn liền với cuộc đời của ông bà, của gia đình và bạn bè thân thiết. Nói cách khác là nó còn nhiều giá trị tinh thần gắn với cuộc đời ông. Thế nên ông mới quý. Và quý nên trải qua hơn nửa thế kỷ ông vẫn lưu giữ lại.

Nhiều cơ quan lưu trữ đến xin các tài liệu nhưng ông không đồng ý. Kể ra cũng khó, chẳng dễ dàng gì lìa xa những thứ đã gắn bó với mình hơn nửa thế kỷ. Cũng như những người cha, người mẹ, sinh con ra và nuôi con lớn đều mong muốn tìm cho con một chỗ thật tốt để gửi gắm. Với GS. Phong Lê, tìm một chỗ để gửi gắm các tài liệu lịch sử cuộc đời mình cũng chẳng khác nào cha mẹ tìm chỗ gửi gắm con cái cả.

GS. Phong Lê tên thật là Lê Phong Sừ, sinh ngày 10/11/1938 tại xã Sơn Trà, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Trong ký ức của ông thì Sơn Trà là một xã nghèo nhất nhì huyện Hương Sơn, nằm cạnh hai dòng sông thơ mộng là Ngàn Sâu và Ngàn Phố và kẹp giữa hai dãy núi Thiên Nhẫn và Đại Hàm. Xóm ông ở "gần núi, xa sông xa chợ, cách biệt với các phần còn lại do giao lưu đi lại khó khăn, kinh tế kém phát triển, thiếu nước sinh hoạt trầm trọng nên hàng ngày người dân phải ra sông cách khá xa để gánh nước về nhà. Ông sinh ra trong một gia đình "chức sắc, hương sư". Ông nội ông làm một chức sắc nhỏ trong làng, có 9 người con, trong số đó có người con thứ 3 được học chữ Nho và giỏi về kinh dịch tướng số với bố ông là con út được học cả Nho học và Pháp học, sau làm nghề dạy học, được coi là một hương sư có uy tín cả vùng. Mẹ ông là con của một thầy giáo ở làng Xuân Tân bên cạnh, từ bé ít khi phải lao động chân tay nhưng từ khi về Sơn Trà làm dâu thì phải làm lụng vất vả. Chỉ riêng chuyện hàng ngày đi gánh nước về nhà đã quá sức với mẹ ông, nhưng bà vẫn vượt qua được tất cả nhờ tình yêu chồng con. Những năm cải cách ruộng đất diễn ra ở quê nhà, do ông nội từng làm chức sắc, bố là nhà giáo nhưng vẫn có nhiều hệ lụy. Bố ông lo sợ nhiều khi không dám về mà bảo con trai đạp xe mấy chục cây số về xem tình hình thế nào. Cho đến trước khi rời quê ra Hà Nội ăn học, dù cuộc sống so với những người khác cũng được coi là êm đềm nhưng ông cũng kinh qua không ít gian lao vất vả.

Năm 1956, khi Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập, Lê Phong Sừ thi đậu và trở thành sinh viên khóa I của khoa Ngữ văn. Ông là bạn đồng môn đồng khóa với nhiều nhà nghiên cứu có uy tín như Nguyễn Huệ Chi, Hồ Sỹ Vịnh, Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Kim Đính, Trần Thị Băng Thanh, Phùng Văn Tửu, Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh… Cũng tại đây, các ông được học những trí thức nổi tiếng và uy tín nhất trong lĩnh vực khoa học xã hội lúc bấy giờ như Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu, Cao Xuân Huy, Hoài Thanh, Hoàng Xuân Nhị,… Năm 1959, tốt nghiệp đại học, ông mong muốn được về làm việc tại Đại học Sư phạm Vinh vừa mới thành lập. Nhưng như một cơ duyên không kém phần bất ngờ, ông lại trở thành sinh viên duy nhất trong lớp lúc đó được về công tác tại Viện Văn học (Ủy ban Khoa học Xã hội nhà nước), nơi mà hai người thầy đồng hương từng dạy ông ở trường đại học đang làm lãnh đạo là GS. Đặng Thai Mai và nhà nghiên cứu Hoài Thanh. Cũng từ đó, cuộc đời ông gắn liền với các hoạt động ở Viện Văn học. Trải qua nhiều cương vị khác nhau, và đến năm 1988, ông tiếp nối những bậc tiền bối người Nghệ như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Hoàng Trung Thông làm Viện trưởng Viện Văn học. Việc làm viện trưởng của ông cũng khá đặc biệt, đó là kết quả của công cuộc đổi mới trong ngành khoa học xã hội. Ông được bầu cử lên, bỏ phiếu công khai minh bạch và được cấp trên đồng ý kết quả bỏ phiếu đó. Sau này, như GS. Huệ Chi, một người bạn đồng môn ở khóa I Tổng hợp Văn cũng như đồng nghiệp ở Viện Văn học viết lại: "Khi Phong Lê trúng viện trưởng - cũng là người duy nhất được đưa lên do bầu cử, nhờ ánh chớp đổi mới rọi vào các cơ quan khoa học xã hội một nhoáng, để rồi tan cũng rất mau chóng…"(2). Quãng thời gian ông làm viện trưởng từ 1988 cho đến 1995 là giai đoạn của những cuộc đụng độ thật sự trên nhiều phương diện trong đời sống văn học, khoa học xã hội. Những vấn đề bất cập, dù ngoài mong muốn liên tục diễn ra. Những cuộc họp kiểm điểm, những cuộc tranh cãi, và không thiếu những kỷ luật, những phê phán… Đó cũng là giai đoạn gắn với nhiều sự thay đổi lớn lao trong đời sống học thuật và đời sống văn học mà là Viện trưởng Viện Văn học thì ông không thể thản nhiên đứng ngoài cuộc. Quá trình công tác ở Viện Văn học cũng gắn liền với quá trình nghiên cứu văn học của Phong Lê. Ông định hình rõ ràng về con đường nghiên cứu của mình là văn học Việt Nam hiện đại. Không chỉ đi sâu vào một số tác gia lớn, Phong Lê tập trung nghiên cứu sâu vào các vấn đề thể loại, những vấn đề văn học dựa trên nền tảng tư duy tổng quát cũng như sự phân tích tư liệu tỉ mỉ. Một số công trình quan trọng như: "Mấy vấn đề văn xuôi Việt Nam 1945-1970" (1972), "Văn và người" (1976), "Văn xuôi Việt Nam trên con đường hiện thực xã hội chủ nghĩa" (1980), "Chủ tịch Hồ Chí Minh và văn học Việt Nam hiện đại" (1986), "Văn học và công cuộc đổi mới" (1994), "Nam Cao - Phác thảo sự nghiệp và chân dung" (1997), "Văn học trên hành trình của thế kỷ XX" (1997), "Một số gương mặt văn chương học thuật Việt Nam hiện đại" (2001), "Văn học Việt Nam hiện đại - những chân dung tiêu biểu" (2001), "Văn học Việt Nam hiện đại - lịch sử và lý luận" (2003),… 

Bây giờ xin được quay lại với quá trình nghiên cứu, sưu tầm tài liệu về lịch sử cuộc đời của GS. Phong Lê mà tôi thực hiện trong 8 năm từ 2008 đến 2016. Đó không phải là một quãng thời gian ngắn, nhưng cũng không phải quá dài để thuyết phục một nhà khoa học gửi gắm lại toàn bộ gia tài khoa học của mình, nhất là gửi cho một cơ quan ngoài nhà nước trong lĩnh vực lưu trữ.

Sau cuộc gặp đầu tiên tại Thái Hà, tôi đã nhiều lần đến trao đổi về vấn đề sưu tầm, bảo quản khối tư liệu này với vợ chồng GS. Phong Lê. Nhưng lúc đó, các hoạt động của Trung tâm đang có nhiều dư luận trái chiều, mà phần lớn bắt nguồn từ việc chưa nắm rõ được ý tưởng cũng như mục tiêu của Trung tâm. Phải mất nhiều thời gian, hàng trăm cuộc gặp gỡ các nhà khoa học chúng tôi mới làm cho họ hiểu hơn và ủng hộ các hoạt động của mình. Riêng GS. Phong Lê, việc sưu tầm tư liệu còn gặp nhiều khó khăn hơn: Hàng ngày, ông vẫn làm việc và vẫn cần phải sử dụng các tài liệu lưu trữ của mình thường xuyên để nghiên cứu, viết lách, và như đã nói là ông rất quý khối tài liệu này nên giữ gìn cẩn thận và không thể ngày một ngày hai có thể đồng ý chuyển cho một cơ quan khác. Từ đầu tôi đã nhận ra điều đó. Nên tôi không cố gắng đến thuyết phục ông tặng tài liệu cho trung tâm, thay vào đó là việc trao đổi với ông để làm sao giữ gìn vào bảo quản cho tốt khối tài liệu để không bị mối mọt, ẩm mốc hay bị mất mát… Trong nhiều cuộc trao đổi, tôi đề nghị ông cho phép chúng tôi đến vệ sinh và phân loại toàn bộ tài liệu ông đang lưu giữ nhằm hạn chế việc mối xông mọt ăn. Ban đầu ông từ chối vì bận quá nhiều việc mà theo ông thì chúng tôi sẽ thực hiện việc vệ sinh phân loại cùng với ông vì chỉ ông mới nắm rõ được các tài liệu. Mọi việc chưa đâu vào đâu thì được biết ông chuyển nhà. Đó là vào năm 2010, gia đình ông chuyển từ Thái Hà lên phố Võng Thị gần Hồ Tây. Tôi được biết tin sau khi ông đã chuyển xong nhà. Nên tôi liên hệ lại để đến thăm nhà mới mà mục đích chính là xem lại những tư liệu mà ông chuyển lên như thế nào, có bị mất mát nhiều không. Vì "ba lần chuyển nhà ngang một lần cháy nhà", các tài liệu, giấy tờ dễ bị mất mát, hư hỏng. Cũng may mắn, ở nhà mới rộng rãi hơn. Các tài liệu cũng đã được ông sắp xếp lại. Các sách vở quan trọng được ông xếp lại trong các giá sách cố định ở gác 1 và gác 2. Còn các tài liệu cũ gồm bản thảo, bản ghi chép, báo, tạp chí… thì được xếp lại trong một góc riêng ở ngay cửa đi vào. Thoạt nhìn qua tôi biết là tài liệu này vẫn được bó thành các tập như hồi ở Thái Hà chứ chưa có sự sắp xếp lại. Ngoài các bìa vẫn được GS. Phong Lê ghi chú để thuận tiện khi tìm kiếm. Những tài liệu này vẫn bị bụi bám và ố màu, giòn và có nguy cơ hư hỏng rất cao. Nhưng dù sao tôi cũng yên tâm vì hầu hết các tài liệu đã được GS. Phong Lê và gia đình chuyển về nhà mới mà không bị vứt bỏ, mất mát nhiều. Nhưng việc làm sao để thuyết phục ông chuyển cho cơ quan lưu trữ bảo quản vẫn là câu chuyện khó với tôi. Thời gian sau đó, tôi tiếp tục giữ liên hệ với ông và thỉnh thoảng gọi điện hay đến thăm, trao đổi về vấn đề lưu trữ.

Trong khoảng thời gian từ 2010-2015, Trung tâm liên tiếp sưu tầm được nhiều khối tài liệu lịch sử cuộc đời của nhiều nhà khoa học uy tín. Trong đó phải kể đến những khối tài liệu lớn do tôi trực tiếp sưu tầm như của GS. Văn Tạo, GS. Nguyễn Văn Chiển, GS. Nguyễn Cảnh Toàn, GS. Phạm Đức Dương, GS. Hà Minh Đức… Sau khi sưu tầm các khối tài liệu lớn, chúng tôi tổ chức các buổi lễ tiếp nhận tài liệu, dù cách thức đơn giản, gọn nhẹ nhưng trọng thị, thể hiện sự trân trọng di sản của các nhà khoa học. Trong các buổi tiếp nhận tài liệu này, tôi đều mời GS. Phong Lê đến tham dự, nhất là các cuộc tiếp nhận tài liệu của các nhà khoa học trong lĩnh vực khoa học xã hội như Văn Tạo, Phạm Đức Dương… Đến năm 2015, GS. Phong Lê đã chủ động liên hệ lại với tôi đến để trao đổi về vấn đề bảo quản tư liệu. Tuổi ngày càng già, sức khỏe ngày càng hạn chế, quỹ thời gian ngày cũng eo hẹp dần nên ông bắt đầu lo lắng cho những tài liệu mà hơn 50 năm qua ông vẫn gìn giữ và sưu tầm, sử dụng. Ông cũng nói rõ với tôi về việc Trung tâm Lưu trữ Quốc gia và Bảo tàng Văn học có công văn đề nghị sưu tầm các tài liệu quan trọng của ông. Bên cạnh đó là Trung tâm Di sản các nhà khoa học chỗ tôi làm việc. Thay vì thuyết phục GS. Phong Lê trao tặng tài liệu cho Trung tâm, tôi dành nhiều thời gian trao đổi với ông về công tác nghiệp vụ phân loại và lưu trữ tài liệu mà Trung tâm đang tiến hành, về những ưu điểm và hạn chế của các hoạt động ở các cơ quan lưu trữ và bảo tàng mà ông đang quan tâm. Sau nhiều cuộc trao đổi, đến tháng 8/2015, GS. Phong Lê quyết định trao tặng lại hầu hết khối tài liệu liên quan đến lịch sử cuộc đời của ông cho Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam quản lý, lưu giữ và khai thác vì mục đích khoa học. Sau hơn 1 năm tiến hành vệ sinh, phân loại, ghép các bộ sưu tập tư liệu và lập danh mục, đến tháng 9/2016 công việc mới hoàn thành để đưa vào kho lưu trữ.

Đây là một bộ sưu tập tư liệu lớn với hơn 8.000 tài liệu, hiện vật liên quan đến cuộc đời GS. Phong Lê. Đó là các bản thảo công trình nghiên cứu khoa học được ông sửa đi sửa lại nhiều lần với nhiều vết bút tích khác nhau. Trong đó có nhiều bản thảo các bài viết, các công trình bước đầu khi ông mới vào nghề vào đầu những năm 1960. Các sổ ghi chép, bản ghi chép của ông lưu lại trong nhiều chục năm, bao gồm sổ công tác, sổ ghi chép chuyên môn, ghi nội dung các cuộc họp, các cuộc trao đổi hay ghi lại những suy nghĩ, trăn trở của ông. Là các hồ sơ tài liệu nghiên cứu văn học được ông xếp lại thành các bó với các nội dung khác nhau. Như ông cho biết thì khi thu thập tài liệu về một vấn đề ông quan tâm thì ông xếp lại. Khi đọc các tài liệu liên quan thì ông cũng ghi chép và lưu lại. Rồi qua các lần sửa chữa, các bản thảo cũng được xếp chồng với các tài liệu liên quan. Khi hoàn thành công trình và đưa đi xuất bản thì ông cũng xếp toàn bộ tài liệu bao gồm các tài liệu tham khảo, các tài liệu ghi chép, các bản thảo và cả các nhận xét của đồng nghiệp lại thành một bộ hồ sơ. Hầu hết các công trình khoa học quan trọng của GS. Phong Lê đều gắn với một bộ hồ sơ như vậy. Bên cạnh tài liệu liên quan đến hoạt động chuyên môn là các tài liệu về quản lý Viện Văn học, về các hoạt động khác của ông. Từ những bức thư bố mẹ gửi cho ông ngày ông còn đi học ở Đại học Tổng hợp Hà Nội mà ông luôn gìn giữ và coi trọng, "thỉnh thoảng mang ra đọc lại để có thêm sức mạnh để vươn lên học tập và làm việc". Đến bức điện "ai đó" gửi đến ông rằng "mẹ ốm nặng anh về gấp" ngay trước ngày ông được đi dự Đại hội Đảng toàn quốc… Rồi những biên bản ghi lại nội dung các cuộc họp hành căng thẳng trong quãng thời gian sau Đại hội Đảng lần VII năm 1991, những bản tự kiểm điểm… mà như ông nói đây là những tài liệu liên quan đến giai đoạn khó khăn trên cương vị Viện trưởng của ông: "ngày ba cuộc họp", "họp đến quên ăn", "sức khỏe giảm sút, người yếu hẳn" nhưng phải luôn cố gắng, tỉnh táo để giải quyết công việc… Hay những tài liệu liên quan đến quá trình giảng dạy, đào tạo. Từ các bản thảo bài giảng, các nhận xét, đánh giá luận án, đến các bản thảo luận án của học trò mà ông sửa chữa ông cũng xin để lưu giữ lại. Những tấm ảnh hoạt động chuyên môn, ảnh với bạn bè, đồng nghiệp và ảnh của gia đình mà ông giữ suốt mấy chục năm. Những hiện vật như các cặp sách đã theo ông nhiều năm, những chiếc bút, đến những đồ lưu niệm, kỷ vật bạn bè trong nước và quốc tế tặng… Mỗi tài liệu và sưu tập tài liệu đều có những giá trị riêng. Nó là quá trình nhận thức, hình thành các công trình nghiên cứu của GS. Phong Lê, hay là những tài liệu liên quan đến quá trình phát triển của Viện Văn học,… Và cả khối tài liệu đồ sộ này cũng có nhiều giá trị trong việc tìm hiểu về lịch sử cuộc đời của GS. Phong Lê nói riêng, của nhiều vấn đề văn học, giáo dục mà ông có liên quan hay được chứng kiến… Nó cũng thể hiện ý thức sưu tầm, lưu giữ tài liệu của GS. Phong Lê. Ngay từ khi bước chân vào con đường nghiên cứu, ông đã xác định rõ việc sưu tầm và lưu giữ các tài liệu liên quan để phục vụ công tác chuyên môn. Và khi đã hoàn thành công trình nghiên cứu ông cũng giữ lại các tài liệu một cách cẩn thận.

Song song với việc phân loại và lập danh mục tài liệu đã sưu tầm, chúng tôi tiến hành các buổi trao đổi, phỏng vấn về lịch sử cuộc đời của GS. Phong Lê để làm tư liệu và lấy thông tin để xử lý tài liệu. Các cuộc phỏng vấn được tiến hành ghi âm, ghi hình với các nội dung liên quan đến quê hương, dòng họ, gia đình, thời thơ ấu, quá trình học tập từ phổ thông đến đại học, quá trình nghiên cứu khoa học, quản lý Viện Văn học, quá trình đào tạo và giảng dạy, những tâm đắc, trăn trở với công việc, với cuộc sống. Trong khoảng thời gian 6 tháng đầu năm 2016, tôi đã có 37 cuộc gặp gỡ, trao đổi với GS. Phong Lê và hơn 10 cuộc gặp gỡ phỏng vấn các đồng nghiệp, học trò, bạn bè của ông về quá trình hoạt động khoa học và giảng dạy của ông. Trong đó, có 12 buổi phỏng vấn sâu về các nội dung liên quan đến cuộc đời với gần 1.100 phút ghi âm. Từ những sự kiện lớn đến những chuyện trong cuộc sống đời thường đều được ông kể lại một cách chi tiết. Nó là bộ sưu tập "tài liệu âm thanh, hình ảnh đầy đủ nhất, cụ thể nhất và nhiều câu chuyện thú vị nhất liên quan đến cuộc đời Phong Lê, trong đó có nhiều chuyện cho đến giờ vẫn chưa mấy ai được biết". Sau đó, các băng ghi âm này được đánh máy lại và được chuyển đến cho GS. Phong Lê xem và hiệu đính lại các thông tin đã trình bày trước đó.

Ngày 25/9/2016, sau tròn 8 năm tiến hành trao đổi và sưu tầm các tài liệu liên quan đến cuộc đời GS. Phong Lê, công việc của tôi cũng hoàn thành. Và đánh dấu bằng việc tổ chức lễ tiếp nhận tài liệu ở phố Trích Sài, ngay cạnh Hồ Tây. Hàng chục nhà nghiên cứu là bạn bè, đồng nghiệp, học trò và có cả những nhà khoa học thuộc lĩnh vực khác đã vô cùng ngạc nhiên khi được tận mục sở thị các tài liệu do ông lưu giữ và tặng lại Trung tâm. Chính PGS.TS Nguyễn Văn Huy, một chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực bảo tồn bảo tàng đã nhận xét trong buổi lễ này: "Hơn 8.000 tài liệu của GS. Phong Lê là khối di sản có giá trị không chỉ liên quan đến cuộc đời hoạt động khoa học của ông. Đây là còn những tài liệu liên quan đến nhiều vấn đề khác như lịch sử phát triển của Viện Văn học, lịch sử nhiều vấn đề nghiên cứu, phê bình văn học nửa sau thế kỷ XX. Nó vừa thể hiện quá trình trưởng thành của một nhà khoa học, vừa là tài liệu lịch sử về sự thay đổi nhận thức đối với các vấn đề văn học, và nhiều vấn đề xã hội. Những hồ sơ bản thảo các công trình khoa học, đề tài nghiên cứu mà             GS. Phong Lê tham gia, chủ trì sẽ cho chúng ta thấy sự biến chuyển trong đời sống nghiên cứu, phê bình văn học đương thời. Những tài liệu văn bản, giấy tờ qua các giai đoạn khác nhau là chứng tích cho quá trình phát triển của các cơ quan, đoàn thể mà ông đã sinh hoạt, công tác. Những bài tham luận, phát biểu tại các hội thảo khoa học cùng hàng ngàn bức thư trao đổi, và đặc biệt là những ghi chép của ông về các nhà văn, các vấn đề văn học… là những tài liệu quý giá. Ấn tượng hơn nữa là các bản tường trình, kiểm điểm từ những cuộc họp diễn ra trong thời gian ông làm Viện trưởng - một thời đoạn chuyển mình đầy phức tạp trong đời sống tư tưởng của đất nước vào cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Không chỉ có tài liệu tiểu sử mà hàng ngàn trang bản thảo liên quan đến các công trình khoa học cũng là những mảnh ghép ký ức, những di sản thể hiện quá trình lao động trí tuệ của             GS. Phong Lê"(3). Trong buổi lễ, tôi đã thấy GS. Phong Lê rơi nước mắt. Nhưng là những giọt nước mắt hạnh phúc. Khi tiễn ông và gia đình cuối buổi lễ tiếp nhận, ông đã nắm chặt tay tôi và nói rằng "mình vui lắm, gửi được toàn bộ những tài liệu đã lưu giữ mấy chục năm cho các bạn, mình cảm thấy nhẹ nhõm hơn".

Tháng 11 này, GS. Phong Lê tròn 80 tuổi. Cũng tháng 11 này, tròn 10 năm tôi được quen biết ông. Trải qua hàng chục cuộc gặp gỡ, trò chuyện, nhiều thứ tình cảm được sinh sôi. Nhưng trong đó, có một tình cảm mà mỗi cuộc gặp đều được nói đến: đó là tình đồng hương xứ Nghệ. Lâu lâu, nhớ lại những chuyện cũ, lại mở một vài băng ghi âm ra để được nghe cái giọng hùng hồn và đanh thép của ông nói. Cuộc đời cũng là những cuộc nhân duyên. Duyên của tôi với GS. Phong Lê, có lẽ gắn liền với quá trình sưu tầm các tài liệu lịch sử cuộc đời của ông. Mong rằng những công việc mà chúng tôi đã dành rất nhiều thời gian trong một thập kỷ qua sẽ được những người có trách nhiệm trân trọng và tiếp tục phát huy các giá trị của khối di sản khoa học mà ông đã trao tặng. Để ở đó, cả tôi và ông đều cảm thấy vui.

Chú thích

1. Năm 2008, nhân dịp GS. Phong Lê tròn 70 tuổi, các đồng nghiệp, bạn bè và học trò đã biên soạn và xuất bản cuốn sách "Phong Lê & Chúng tôi" (Nxb Hội Nhà văn, 2008) để làm kỷ niệm. Đây là cuốn sách tập hợp hơn một trăm bài viết bao gồm những bài viết của các bạn bè, đồng nghiệp và học trò chia sẻ những kỷ niệm, những câu chuyện, những ấn tượng về Phong Lê, các bài viết liên quan đến một số công trình của Phong Lê và một số bài hồi ức, kỷ niệm do GS Phong Lê viết lại.

2. "Những năm tháng với Phong Lê", in trong "Phong Lê & Chúng tôi", Nxb Hội Nhà văn, 2008, Trang 57.

3. Bài phát biểu của PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong lễ tiếp nhận tài liệu GS Phong Lê tại Hà Nội ngày 25//9/2016.

 

* Hội thảo góp ý "Chức năng phần mềm và bộ quy chế quản lý, cập nhật cơ sở dữ liệu tổ chức bộ máy và biên chế của hệ thống chính trị tỉnh Nghệ An"

Chiều ngày 9/11/2018, Hội thảo góp ý về "Các chức năng phần mềm và bộ quy chế quản lý, cập nhật cơ sở dữ liệu tổ chức bộ máy và biên chế của hệ thống chính trị tỉnh Nghệ An" được tổ chức. Đây là một trong những nội dung của đề tài khoa học cấp tỉnh "Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin trong xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu tổ chức bộ máy và biên chế của hệ thống chính trị tỉnh Nghệ An". Đồng chí Trần Quốc Thành - Giám đốc sở Khoa học và Công nghệ chủ trì Hội thảo.

Hội thảo được nghe đại diện Tập đoàn Công nghệ viễn thông quân đội Viettel trình bày tổng quan, chức năng hệ thống, tính năng kỹ thuật cũng như việc bảo mật, an toàn thông tin và mô hình triển khai của hệ thống phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu tổ chức bộ máy và biên chế của hệ thống chính trị tỉnh; trình bày Dự thảo quy chế quản lý và khai thác hệ thống cơ sở dữ liệu tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng phụ cấp từ ngân sách trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc tỉnh Nghệ An.

Tham luận tại Hội thảo, các đại biểu cho rằng: Cần có cơ chế giám sát thông tin của bản thân cán bộ và cấp trên có thẩm quyền; Cần thống kê tính toán số lượng được quản lý phần mềm là bao nhiêu làm cơ sở để viết phần mềm, phạm vi thời gian quản lý như thế nào?; Cho cá nhân tự nhập có đảm bảo độ chính xác không? Cần có chức năng giám sát đối sánh với hồ sơ giấy có tính pháp lý; Phần mềm viết trên dạng web nên khả năng rủi ro cao…

Kết luận Hội thảo, ông Trần Quốc Thành đề nghị ban chủ nhiệm đề tài tiếp thu những ý kiến góp ý của các đại biểu, chỉnh sửa và hoàn thiện nội dung.

Hoàng Anh

* Đánh giá kết quả và bàn định hướng phối hợp hoạt động KH&CN trong lĩnh vực y tế               

 Chiều ngày 19/11/2018, Sở Khoa học và Công nghệ cùng với Sở Y tế có buổi làm việc đánh giá kết quả hoạt động khoa học công nghệ trong lĩnh vực y tế; đồng thời thảo luận định hướng hoạt động trong thời gian tới.

Trong lĩnh vực y tế hàng năm có trên 300 đề tài, sáng kiến cấp cơ sở của các đơn vị thuộc ngành được triển khai. Giai đoạn 2015-2018 ngành triển khai 11 đề tài KH&CN cấp tỉnh. Trong ngành một số nghiên cứu nổi bật ứng dụng thành công như: điều trị ung thư thực quản theo phương pháp phẫu thuật cắt thực quản nội soi kèm tạo hình thực quản bằng ống dạ dày tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh; nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị tiêu sợi huyết tĩnh mạch kết bệnh nhân nhồi máu não sớm,...

Thảo luận tại buổi làm việc, hầu hết các ý kiến của ngành y tế đều nhấn mạnh: Ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực y tế luôn được ngành, các đơn vị quan tâm và thực hiện thường xuyên; Tuy nhiên một số nghiên cứu về lĩnh vực quản lý y tế chưa nhiều, ứng dụng công nghệ thông tin trong khám chữa bệnh chưa được áp dụng rộng rãi, đặc biệt trong việc nghiên cứu đa trung tâm, kết nối các bệnh viện và các tỉnh. Các ý kiến đề nghị cần có các đề tài nghiên cứu các kỹ thuật mới chuyên sâu, tiếp tục các nghiên cứu y tế cộng đồng...

Phát biểu kết luận, đồng chí Trần Quốc Thành - Giám đốc Sở KH&CN đánh giá cao việc ứng dụng triển khai hoạt động KH&CN của ngành y tế. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế do đó, trong thời gian tới, để hoạt động KH&CN trong lĩnh vực y tế tốt hơn ngành cần tổ chức triển khai điều tra cộng đồng về một số bệnh lạ; cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa người nghiên cứu và bệnh viện để ứng dụng hiệu quả kết quả nghiên cứu; triển khai một vài sản phẩm thực phẩm chức năng để thăm dò thị trường;...

M.T

* Định hướng ứng dụng KH&CN trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn

Thực hiện chương trình công tác tháng 11, ngày 20/11, tại hội trường UBND huyện Nghĩa Đàn đã diễn ra buổi làm việc giữa Sở KH&CN và UBND huyện.

Tại buổi làm việc, các thành viên đã được nghe báo cáo kết quả hoạt động KHCN của huyện Nghĩa Đàn đến tháng 11/2018. Trao đổi tại buổi làm việc, các đồng chí lãnh đạo huyện và đại diện các phòng đề nghị được Sở KH&CN hỗ trợ thêm các nội dung như: hỗ trợ huyện tiến hành kiểm tra về hoạt động kinh doanh xăng dầu dịp cuối năm; hỗ trợ mô hình ứng dụng tiến bộ KHCN "mật mía làng Găng" trong việc cải tiến dây chuyền công nghệ để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Huyện muốn đặt hàng cho Sở KH&CN 4 vấn đề liên quan cây ăn quả đó là: Giống, chất lượng, mẫu mã và phòng trừ cỏ dại không sử dụng hóa chất.

Phát biểu tại buổi làm việc đ/c Trần Quốc Thành - Giám đốc Sở đánh giá cao hoạt động chung của huyện trong hoạt động KH&CN. Trong thời gian tới cần quan tâm đồng bộ hoạt động KH&CN. Kiện toàn Hội đồng KH&CN huyện tư vấn các đề án, chính sách phục vụ phát triển KTXH của huyện. Tác động KH&CN xoay quanh các cây chủ lực của huyện như mía, cây ăn quả (bơ, ổi, bưởi) và dược liệu. Việc phát triển các cây chủ lực này cần phối hợp với các ngành và có sự tham gia vào cuộc của doanh nghiệp. Phát triển cây cam cần có lộ trình, và lựa chọn giống tốt, quan tâm phát triển bưởi, quýt. Quan tâm công nghệ chế biến để tăng giá trị đầu ra của sản phẩm.

Minh Tú - Nguyễn Thủy

* Hội thảo "Thực trạng, giải pháp và đề xuất mô hình Hợp tác xã hoạt động hiệu quả phù hợp với điều kiện của tỉnh Nghệ An"

Chiều ngày 26/11, Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội thảo: "Thực trạng, giải pháp và đề xuất mô hình Hợp tác xã hoạt động hiệu quả phù hợp với điều kiện của tỉnh Nghệ An". Đây là một trong nội dung của đề tài KHCN: "Giải pháp nâng cao hiệu quả và nhân rộng các mô hình hợp tác xã kiểu mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An" do Trung tâm KHXH&NV chủ trì, ThS Nguyễn Thị Trang Nhung làm chủ nhiệm. Ông Trần Quốc Thành - Giám đốc Sở khoa học và công nghệ chủ trì hội thảo.

Sau khi nghe chủ nhiệm đề tài đã trình bày tóm tắt kết quả thực hiện của đề tài, Hội thảo được nghe các ý kiến phát biểu, đề xuất của các hợp tác xã đang hoạt động trên địa bàn như: hợp tác xã hiện nay còn mang tư duy bao cấp, trong khi yêu cầu các HTX cần phải tự làm chủ, tự tìm thị trường để phát triển nên khi đi vào hoạt động còn nhiều bỡ ngỡ. Vấn đề về đất đai, về vốn, về đào tạo nguồn nhân lực cho hợp tác xã đều gặp khó khăn,...

Kết luận Hội thảo, đồng chí Trần Quốc Thành đề nghị ban chủ nhiệm đề tài tiếp thu và nghiên cứu thêm các nội dung để áp dụng thực tiễn và các mô hình HTX trong phần 2 của đề tài: Phần lý luận cần có phân tích thêm điểm giống của HTX và DN; Phần thực trạng làm nổi bật điểm yếu, điểm mạnh của HTX hiện nay; Phần mô hình cần khái quát hóa mô hình tổng thể và nên tổng hợp lại 3 mô hình chính: Mô hình HTX thực hiện toàn bộ các khâu từ khâu sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm; Mô hình hợp tác xã có DN tham gia là 1 thành viên HTX; Mô hình HTX kinh doanh tổng hợp. Nghiên cứu sâu để có những kiến nghị, đề xuất liên quan đến: vốn vay cho HTX; về đất sản xuất; đào tạo cho lớp trẻ, lớp kề cận trong lãnh đạo các HTX; một số cơ chế, chính sách.

Hồng Bắc

* Thanh Chương: Kỷ niệm 20 năm đón nhận bằng Di tích Lịch sử Văn hóa Quốc gia Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ và Nhà thờ Nguyễn Sỹ Sách

 Sáng ngày 10/11/2018, tại sân vận động UBND xã Thanh Lương, nhà thờ họ Nguyễn Sỹ, nhà thờ Nguyễn Sỹ Sách tổ chức Kỷ niệm 20 năm đón nhận 2 bằng Di tích Lịch sử Văn hóa Quốc gia.

Dòng họ Nguyễn Sỹ xã Thanh Chương là dòng họ có bề dày lịch sử, văn hóa; có nhiều vị anh hùng đóng góp công sức to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc như dũng tướng Nguyễn Sỹ Xung - vị tướng của Hoàng đế Quang Trung, Phó bảng Nguyễn Sỹ Ấn, Hàn lâm Viện thị giảng, cử nhân Nguyễn Sỹ Lạng,... Nơi đây còn lưu giữ nhiều di vật, cổ vật, bảo vật quý hiếm như các đạo sắc, mũ tướng của Hoàng đế Quang Trung phong cho ông Nguyễn Sỹ Xung; các hoành phi câu đối của cụ Nguyễn Sinh Sắc, của Chí sỹ Giải nguyên Phan Bội Châu,… Với những giá trị đặc biệt, độc đáo đó vào hai năm 1997 và 1998 dòng họ Nguyễn Sỹ vinh dự đón 2 Bằng công nhận Di tích LSVH Quốc gia: nhà thờ họ Nguyễn Sỹ, nhà thờ Nguyễn Sỹ Sách.

Kỷ niệm 20 năm đón nhận 2 bằng Di tích Lịch sử Văn hóa Quốc gia nhà thờ họ Nguyễn Sỹ và nhà thờ Nguyễn Sỹ Sách là dịp để gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị di tích, dòng họ, tạo tinh thần đoàn kết, gắn bó "uống nước nhớ nguồn" của con em dòng họ, địa phương trên mọi miền Tổ quốc.

Huy Khánh

* Hưng Nguyên: Kỷ niệm 190 năm, năm sinh nhà canh tân yêu nước Nguyễn Trường Tộ

Tối ngày 22/11, tại xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên tổ chức lễ kỷ niệm 190 năm, năm sinh nhà canh tân yêu nước Nguyễn Trường Tộ.

Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828 ở làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình theo đạo Gia tô. Ông nổi tiếng là người có khí tiết, có quan điểm sống rõ ràng và có tư tưởng canh tân vượt tầm thời đại; 58 bản điều trần đề nghị cải cách đất nước trên nhiều phương diện đến nay vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn.

Kỷ niệm 190 năm, năm sinh của Nhà canh tân yêu nước Nguyễn Trường Tộ là dịp để chúng ta hiểu biết hơn về cuộc đời và sự nghiệp, đặc biệt là về tư tưởng canh tân đất nước, về phương pháp tư duy xử lý hài hòa giữa việc đời, việc đạo của Nhà yêu nước Nguyễn Trường Tộ, từ đó vận dụng những giá trị tư tưởng cải cách vào công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển hiện nay.

    Bùi Bình

* Nghệ An: 2 thanh niên xuất sắc được trao Giải thưởng Lương Định Của năm 2018

Ngày 23/11, tại thành phố Cần Thơ diễn ra lễ trao Giải thưởng Lương Định Của lần thứ XIII, năm 2018. Nghệ An vinh dự có 2 gương thanh niên nông thôn xuất sắc nhận giải thưởng này.

Đó là anh Trần Văn Vinh (xã Nghi Tiến, huyện Nghi Lộc) - Giám đốc Công ty TNHH Tiên Phong Trần, chuyên kinh doanh vật liệu xây dựng, trang thiết bị nội thất; và là chủ trang trại nuôi gà, hươu, cá và vịt trời thương phẩm với số lượng lớn.

Anh Nguyễn Trung Thành (phường Quỳnh Thiện, thị xã Hoàng Mai) - Giám đốc CT CP      Auriga với chuỗi hệ thống khép kín từ chăn nuôi, sản xuất, chế biến đến tiêu thụ thực phẩm an toàn; và lĩnh vực sản xuất gỗ bóc chuyên sản xuất nguyên liệu ván gỗ ép cho các công ty ép gỗ xuất khẩu Đài Loan, Mỹ, Úc…

Hai gương mặt tiêu biểu trên còn là chủ nhiệm CLB thanh niên phát triển kinh tế của huyện Nghi Lộc và thị xã Hoàng Mai; luôn tích cực, năng nổ trong tham gia các phong trào của Đoàn thanh niên, đồng hành cùng các tổ chức Đoàn - Hội trong các hoạt động an sinh xã hội cũng như các hoạt động của cộng đồng.

Gia Hưng

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.