« Quay lại

Chuyên san KHXH&NV số 12/2018

LTS: Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ trong thời gian gần đây, khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) trên cả nước đã có những bước chuyển mình đáng kể để thích nghi với một không gian mới trong kỷ nguyên công nghệ. KHXH&NV ở Nghệ An cũng không nằm ngoài dòng chảy đó với các công trình nghiên cứu gắn liền với cuộc sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

          Tuy nhiên, đi liền với sự phát triển của KHCN, những giá trị truyền thống đã bị thay đổi nhanh chóng. Trong sự lựa chọn phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, khoa học xã hội và nhân văn đã bị mất đi hấp lực vốn có của mình. Đứng trước nguy cơ phát triển mất cân bằng ấy, cần nhìn nhận lại vai trò, vị trí khoa học xã hội và nhân văn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

          Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An cùng các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên gia, nhà quản lý trao đổi về vấn đề này!

 

Tiến sĩ Trịnh Duy Luân - Nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam:

Khoa học xã hội và nhân văn giữ vai trò hỗ trợ tích cực cho toàn bộ tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, địa phương theo hướng phát triển nhanh, bền vững

          Có thể khẳng định ngay vai trò của KHXH&NV trong ba lĩnh vực trụ cột của phát triển bền vững (PTBV) chính là kinh tế, xã hội và môi trường, trong đó lĩnh vực xã hội chính là địa bàn hoạt động của KHXH&NV. PTBV nói chung và PTBV về mặt xã hội không thể thiếu sự đóng góp của KHXH&NV. Kinh nghiệm thực tế cho thấy trong quá trình phát triển ở nước ta những thập niên gần đây, cơ chế thị trường với sức mạnh vật chất áp đảo thường có xu hướng lấn lướt các quá trình phát triển xã hội và văn hóa, bảo vệ môi trường. Kết quả là chúng ta có những tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thậm chí nóng, nhưng đồng thời cũng là những tăng trưởng "xấu" do làm phát sinh hàng loạt vấn đề xã hội gay gắt như phân hóa giàu nghèo, mất công bằng xã hội, những nhóm xã hội yếu thế, dễ bị tổn thương,… hay các sự cố môi trường, làm sút giảm hiệu quả của tăng trưởng. KHXH&NV có thể tham gia vào quá trình này như là một cuộc đấu tranh nhằm bảo đảm sự phát triển cân bằng, hài hòa cả 3 trụ cột của PTBV.

          Thực tế tham gia của KHXH&NV vào bảo đảm PTBV này được thể hiện rõ nhất ở các nghiên cứu đánh giá tác động xã hội (ĐTX) giờ đây đang ngày càng trở nên quen thuộc đối với các chương trình, dự án, chính sách phát triển cấp quốc gia và địa phương (bên cạnh các nghiên cứu đánh giá tác động môi trường).  

          Đánh giá tác động xã hội chính là việc dự báo và phân tích có hệ thống các tác động có thể của một can thiệp (dự án đầu tư, chính sách,…) đối với cuộc sống của con người hay cộng đồng. ĐTX là cần thiết để nhận định về các mục tiêu kinh tế - xã hội của các dự án hay của các phương án quy hoạch. Đó cũng là quá trình đưa khía cạnh xã hội, văn hóa, nhân văn vào các dự án phát triển, giúp đề phòng các ảnh hưởng nghiêm trọng đối với đời sống con người trong khu vực của dự án. Đối với những tác động xấu, sẽ đưa ra các biện pháp giảm thiểu và phòng tránh.

Thông qua hoạt động nghiên cứu, ĐTX cũng có thể tạo dựng hệ thống thông tin phản hồi (feedback) từ cơ sở, từ các cộng đồng tới chủ dự án và các cơ quan chức năng, gắn trách nhiệm của các bên liên quan, trong đó có trách nhiệm của các cơ quan quản lý.

          Tóm lại, về mặt lý thuyết và chức năng, KHXH&NV có tiềm năng to lớn, có thể giữ vai trò hỗ trợ tích cực cho toàn bộ tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, địa phương/ cộng đồng theo hướng phát triển nhanh, bền vững. Vấn đề còn lại là con người, những chủ thể có liên quan nhận thức như thế nào về tiềm năng và vai trò đó của KHXH&NV. Và tiếp theo đó, là triển khai thực hiện trên thực tế, làm ra các tri thức KHXH mới, vận dụng chúng vào hoạt động phát triển nói chung ở địa phương mình, theo tinh thần bảo đảm tính bền vững trong mọi lĩnh vực phát triển.

 

Tiến sỹ Nguyễn Sỹ Dũng - Nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, thành viên Tổ tư vấn kinh tế Nghệ An

Khoa học xã hội nhân văn là nền tảng rất quan trọng để hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội

          Khoa học xã hội và nhân văn nghiên cứu về con người, nghiên cứu xã hội. Xã hội phát triển theo những quy luật riêng của nó và con người trong xã hội cũng hành xử dưới những tác động nhất định của những yếu tố khách quan, chính vì vậy hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội mà không có nền tảng của khoa học xã hội sẽ rất chủ quan. Do đó, khoa học xã hội nhân văn là nền tảng rất quan trọng để chúng ta hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội.

          Ở đây, phát triển khoa học xã hội trên cơ sở là những bộ môn khoa học mang tính ứng dụng, lý luận chung chung sẽ rất khó khăn. Ví dụ, Nghệ An muốn hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xã hội thì phải biết được những dữ liệu xã hội quan trọng, như:  lực lượng lao động của Nghệ An như thế nào? Kỹ năng của con người Nghệ An ra sao? Người lao động có kỹ thuật chiếm bao nhiêu phần trăm? Người Nghệ xa quê có bao nhiêu? Mỗi năm họ về Nghệ An bao nhiêu lần? Chuyển về Nghệ An bao nhiêu tiền?… Đó là những dữ liệu không thể thiếu để chúng ta hoạch định.

          Vấn đề đặt ra là làm thế nào để thay đổi nhận thức về khoa học xã hội và nhân văn. Thứ nhất, quan trọng thì phải làm cho CẦU về khoa học xã hội nó xuất hiện. Ví dụ như nếu bây giờ UBND tỉnh hay Tỉnh ủy Nghệ An muốn hoạch định một đường lối phát triển nông nghiệp công nghệ cao thì rõ ràng chúng ta phải biết được một loạt các dữ liệu như: CẦU về công nghệ cao ở trong tỉnh, thị trường trong tỉnh là bao nhiêu? Bán cho bên ngoài là bao nhiêu? Hành vi mua bán đối với hàng nông nghiệp công nghệ cao ở Nghệ An đã có chưa, nó chiếm bao nhiêu phần trăm thị phần?... Sẽ không thể hoạch định những chiến lược sản xuất của mình mà thiếu những thông tin đó. Chúng ta tạo CẦU cho KHXH&NV chứ không thể quan tâm mỗi CUNG cho KHXH&NV, chi tiền ngân sách để lên chương trình và tự nghiên cứu thì chỉ lãng phí tiền nhà nước.

          Thứ hai, tạo CẦU thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vì nếu như không có những dữ liệu mà khoa học xã hội và nhân văn cung cấp sẽ không có được kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

          Thứ ba, tạo CẦU bằng cách thu hút doanh nghiệp nước ngoài, thu hút những tập đoàn doanh nghiệp lớn vào để họ đặt hàng theo nhu cầu thì mới phát triển được, đó là cái phù hợp nhất để chúng ta phát triển khoa học xã hội và nhân văn.

 

PGS.TS Trần Đình Thiên - Thành viên Tổ tư vấn kinh tế Chính phủ, Tổ phó Tổ tư vấn kinh tế Nghệ An

Đã chín muồi các điều kiện để Trung tâm KHXH&NV Nghệ An phải "lột xác" để trở thành Viện Nghiên cứu Khoa học Xã hội Nghệ An

          Việc thành lập Trung tâm KHXH&NV của Nghệ An cách đây hơn 10 năm là một quyết định đúng đắn của tỉnh Nghệ An. Điều này đã được chứng tỏ bằng những kết quả hoạt động của Trung tâm trong những năm qua. Khi đề cập đến kết quả hoạt động của Trung tâm, tôi không chỉ nói đến các công trình nghiên cứu mà Trung tâm đã thực hiện và đã được các Hội đồng Khoa học cho phép nghiệm thu. Điều quan trọng hơn thế là chất lượng khoa học và đóng góp thực tiễn ngày càng được ghi nhận và được đánh giá cao của những công trình.

          Trung tâm còn là tọa độ liên kết, phối hợp với các cơ quan khoa học và các nhà nghiên cứu ngoài Trung tâm - ví dụ như các viện nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam - để tạo sức mạnh trí tuệ đủ mạnh giải quyết các vấn đề thực tiễn vượt ngoài khả năng xử lý của Trung tâm.

          Tôi cũng muốn nói đến hoạt động tư vấn phát triển cho các cấp, các ngành, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An do Trung tâm và các cán bộ của Trung tâm thực hiện.

          Chưa ai thỏa mãn với những thành tích đạt được đó, thậm chí còn phải nói những gì đạt được hãy còn khá khiêm tốn, song không nghi ngờ gì rằng những đóng góp của Trung tâm là có ý nghĩa và ngày càng to lớn. Một phần thành tích đó thuộc về công lao và sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh, Sở Khoa học - Công nghệ Nghệ An và các sở, ban, ngành khác đến Trung tâm.

          Nhưng có thể thấy trong cơ chế hiện tại, sự quan tâm đó chưa đủ để Trung tâm phát huy sức mạnh và thực hiện đầy đủ chức năng của mình. Để tồn tại và phát triển, Trung tâm vẫn cần đến sự "ưu ái" của lãnh đạo Tỉnh, cần đến sự cảm thông và hỗ trợ mang tính cá nhân - đột xuất.

          Tôi cho rằng tại thời điểm hiện nay, hoàn cảnh, điều kiện và các yêu cầu đặt ra cho Trung tâm đã thay đổi mạnh mẽ. Đã chín muồi các điều kiện để Trung tâm phải "lột xác" để trở thành Viện Nghiên cứu Khoa học Xã hội Nghệ An.

          Ngay từ mấy năm trước, đề xuất này đã được nêu lên nhưng không được chú ý. Bây giờ thì các điều kiện đã thực sự chín muồi. Chậm trễ thay đổi, chậm trễ nâng cấp Trung tâm thành Viện Nghiên cứu đang trở thành điểm bất cập lớn cần được giải quyết sớm.

          Việc xây dựng Viện Nghiên cứu Khoa học Xã hội (và Nhân văn) Nghệ An cần được coi là một giải pháp phát triển quan trọng cho Nghệ An trong giai đoạn tới. Viện sẽ là nơi tụ hội nhân tài, tập trung trí tuệ của một xứ "địa linh nhân kiệt", vốn lâu nay vẫn phải "ly hương", kiếm sống hoặc làm giàu nơi xứ người.

          Cách tiếp cận phát triển Trung tâm như vậy chắc chắc là một giải pháp chiến lược đúng và tốt cho Nghệ An.

 

Thạc sỹ Trần Quốc Thành - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An

Cần có sự thay đổi trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn để phù hợp với bối cảnh mới

          Trong môi trường công nghệ, thế giới phẳng hiện nay tác động làm thay đổi rất lớn đến kinh tế - xã hội - văn hóa. Vậy hoạt động khoa học xã hội và nhân văn nên  thế nào trong môi trường xã hội mà khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ như hiện nay?

          Khoa học công nghệ, truyền thông, mạng intenet đã làm quan hệ xã hội thay đổi rất nhiều, vì thế yếu tố văn hóa cũng bị tác động trong thế giới phẳng này. Như vậy khoa học xã hội và nhân văn cũng khác đi, trước đây nó biệt lập, nhưng nhờ công nghệ hiện nay chúng ta chỉ cần ngồi một chỗ cũng có thể biết được mọi vấn đề đang diễn ra trên thế giới. Và điều đó chúng ta phải có sự thay đổi trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn để phù hợp với bối cảnh mới.

          Đối với lĩnh vực văn hóa thường đi sâu nghiên cứu về sắc thái, bản địa, sự khác biệt, cái gọi là "bản sắc", thế giới càng "phẳng" thì càng cần nhấn mạnh "bản sắc", cạnh tranh bằng "bản sắc"; nên chúng ta có thể dùng văn hóa để cạnh tranh, để định hướng và phát triển trong kỷ nguyên công nghệ này.

          Đối với lĩnh vực kinh tế, khi nghiên cứu cần xem xét ở nhiều khía cạnh, nhiều vấn đề, chẳng hạn như vấn đề "kinh tế chia sẻ". Có một thực tế đang diễn ra hiện nay đối với sản xuất ở nước ta là "được mùa mất giá", bởi một lẽ càng đầu tư nhiều thì sản phẩm càng thừa ra. Như vậy thì cần đến "kinh tế chia sẻ", làm thế nào để người đang thừa và người đang thiếu kết nối lại được với nhau, cùng chia sẻ sản phẩm và cân bằng được cung - cầu. Cơ chế quản lý "kinh tế chia sẻ" từ trước đến nay chúng ta chưa có, do đó cần nghiên cứu và đề xuất cơ chế, chính sách đổi với quản lý "kinh tế chia sẻ" như thế nào? Hay là vấn đề dùng robot thay thế con người, giải quyết người lao động ra làm sao? Khi đó người lao động có bị mất vai trò hay không? Rất nhiều vấn đề đặt ra cần khoa học xã hội và nhân văn phải nghiên cứu.

          Đối với lĩnh vực đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp (statup), lập nghiệp, vấn đề ứng dụng công nghệ trong quản lý,... cũng đòi hỏi nghiên cứu để có định hướng và chính sách phát triển phù hợp, hiệu quả. Hay các vấn đề xã hội như: mạng xã hội, vấn đề phản biện, vấn đề dư luận và cả mặt trái của xã hội,... cũng cần có những nghiên cứu chuyên sâu.

          Ngay cả vấn đề y tế, sức khỏe trong đời sống ngày này cũng nảy sinh những bệnh mới; Lĩnh vực giáo dục, trong điều kiện mới thì đào tạo học sinh như thế nào? Tạo nền tảng gì?… cũng đặt ra nhiều vấn đề để khoa học xã hội và nhân văn đầu tư, nghiên cứu.

          Như vậy, liên quan đến lĩnh vực xã hội và nhân văn có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu, quan trọng là KHXH&NV cần có sự thay đổi để bắt kịp với tốc độ phát triển khoa học công nghệ trong giai đoạn hiện nay?

Tiến sĩ Trần Vũ Tài - Viện trưởng Viện KHXH&NV, Trường Đại học Vinh

Hiện nay đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn phát triển nhanh về số lượng lẫn chất lượng

          Đội ngũ trí thức KHXH&NV Nghệ An hiện nay phát triển nhanh về số lượng lẫn chất lượng. Nguồn nhân lực khoa học bao gồm các nhà khoa học làm việc tại các viện và trung tâm nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng, các doanh nghiệp trong và ngoài nhà nước; đông đảo lực lượng "trí thức bản địa". Họ có trình độ chuyên môn cơ bản, phần lớn được đào tạo bài bản, có ý thức trách nhiệm cao đối với đất nước và quê hương. Nhưng đội ngũ trí thức chưa hình thành được các nhóm nghiên cứu mạnh, tính hợp tác chưa cao, chưa cập nhật phương pháp nghiên cứu hiện đại.

          "Khoa học xã hội và nhân văn hướng về việc hỏi đáp các vấn đề lý luận và thực tiễn, dự báo các xu thế phát triển, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng con người, phát huy những di sản văn hóa dân tộc, sáng tạo những giá trị văn hoá mới của Việt Nam", do đó đòi hỏi trí thức KHXH&NV Nghệ An phải đi sâu nghiên cứu, lý giải có căn cứ khoa học những vấn đề lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi mới và hội nhập của Nghệ An hiện nay.

          Để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao đó, phải thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ KHXH&NV, hình thành đội ngũ chuyên gia, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh trong từng lĩnh vực. Đồng thời cần có những giải pháp đồng bộ: chăm lo đời sống vật chất, tinh thần; mở rộng dân chủ, tạo lập môi trường học thuật; tập hợp trí thức trong và ngoài tỉnh; khuyến khích trí thức trẻ, mở rộng hợp tác quốc tế… để trí thức khoa học xã hội nhân văn Nghệ An phát huy được vai trò của mình trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập.

Tiến sĩ Trần Xuân Bí - Nguyên GĐ Sở KH&CN, Chủ tịch Hội khuyến học tỉnh Nghệ An

Nên phát triển Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn thành Viện Kinh tế - Xã hội của tỉnh

          Sự ra đời của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An vào năm 2007 là một tất yếu khách quan đáp ứng yêu cầu của thực tiễn công tác nghiên cứu, sưu tầm, tổng hợp, biên soạn các công trình thuộc các lĩnh vực khoa học lịch sử, địa lý, văn hóa (đặc biệt là văn hóa dân gian xứ Nghệ), giáo dục... phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước.

          Trong hơn 10 năm qua, những đóng góp của Trung tâm KHXH&NV Nghệ An nói riêng và hoạt động nghiên cứu KHXH&NV nói chung cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An là rất lớn và đáng tự hào. Ngay sau khi được UBND tỉnh thành lập, Trung tâm KHXH&NV tỉnh đã tập hợp được các chuyên gia khoa học trên các lĩnh vực: Lịch sử, Địa lý, Văn hóa, Kinh tế… mà đứng đầu là Cố PGS. Ninh Viết Giao cùng bắt tay, chung sức, đóng góp trí tuệ xây dựng bộ Nghệ An toàn chí; Cũng trong thời gian ấy: Lịch sử Nghệ An (từ thời nguyên thủy đến 1975), Lịch sử Quân sự Nghệ An và lịch sử nhiều huyện, thị, ngành, cơ quan, đơn vị cũng được nghiên cứu, biên soạn và xuất bản; đến nay nhiều tỉnh, thành chưa làm được điều này. Nhiều cuộc hội thảo khoa học nhằm tập hợp ý kiến của các nhà khoa học, quản lý tầm cỡ quốc gia được Trung tâm KHXH&NV giúp UBND tỉnh tổ chức góp phần cho sự phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Nghệ An. Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An, thuộc Trung tâm xuất bản 12 số/năm, bản in giấy và trang điện tử tại địa chỉ: khxhnvnghean.gov.vn là diễn đàn nghiên cứu, trao đổi, tiếp thu - lĩnh hội các vấn đề khoa học xã hội và nhân văn. Đội ngũ cán bộ Trung tâm luôn cố gắng vươn lên tiếp cận các tri thức, kinh nghiệm hoạt động về KHXH&NV; luôn cố gắng làm tốt vai trò cầu nối giữa các nhà khoa học ở các viện, trường ở trung ương, ở tỉnh bạn và trong tỉnh với các vấn đề mà cuộc sống ở tỉnh nhà đặt ra;...

          Các kết quả, thành tựu trong nghiên cứu, hoạt động khoa học kể trên của Trung tâm KHXH&NV Nghệ An nói riêng và của anh chị em làm công tác khoa học tỉnh nhà nói chung là những minh chứng cho sức sáng tạo, trí tuệ uyên bác và những tấm lòng hiếu học - học giỏi thành tài phục vụ quê hương, đất nước, nhân dân nói chúng và vì một Nghệ An phát triển giàu mạnh và bền vững nói riêng.

Trong thời gian tới rất mong muốn tỉnh tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện cho Trung tâm KHXH&NV phát triển. Không nên sáp nhập với một số đơn vị khác về chuyên môn, nghiệp vụ làm mất "Thương hiệu" của đơn vị đã xây dựng lâu nay. Hoặc phát triển Trung tâm trở thành Viện Kinh tế - Xã hội của tỉnh.

TÒA SOẠN

 

 

LTS: Trong sự phát triển hiện nay trên thế giới, cùng với sự toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng thì các lĩnh vực về khoa học tự nhiên lại trở thành sự lựa chọn hàng đầu của người Việt Nam, trong khi các lĩnh vực thuộc ngành khoa học xã hội và nhân văn dường như ngày càng bị xem nhẹ. Như vậy, để trả lời cho câu hỏi làm thế nào để thu hút nguồn lực cho ngành khoa học xã hội và nhân văn trong quá trình hiện đại hoá - toàn cầu hoá ở Việt Nam hiện nay, thì có lẽ trước khi đưa ra những biện pháp giải quyết, chúng ta cần phải nhìn nhận lại vai trò của nhóm ngành khoa học xã hội và nhân văn trong đời sống xã hội.

          Bàn về vấn đề này, Chuyên san KHXH&NV đã có bài phỏng vấn với GS.TS Hồ Sỹ Quý - Nguyên Viện trưởng Viện Thông tin KHXH, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.

P.V: Khoa học là một hệ thống tri thức mà nhân loại phải trải qua quá trình lịch sử sáng tạo dài lâu mới có thể có được. Hệ thống tri thức đó được phân loại thành các loại hình khoa học khác nhau, như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học nhân văn v.v... Theo đó, khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) là một hệ thống những tri thức về xã hội và con người. Nhiệm vụ của KHXH&NV, về đại thể là nhằm phát hiện những quy luật của sự hình thành, phát triển của con người và xã hội loài người, làm rõ quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội và giữa con người với giới tự nhiên.

Vậy theo ông, trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước, KHXH&NV có vai trò như thế nào đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung, xây dựng quan điểm và chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam nói riêng?

GS.TS. Hồ Sĩ Quý:  KHXH&NV, sau đây tôi sẽ gọi chung là KHXH, ở Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam cũng như ở nhiều Trung tâm KHXH khác trên thế giới, tên gọi "Viện KHXH" hay "Trung tâm KHXH" đã ngầm định bao gồm trong đó tất cả các khoa học nhân văn và một số ngành Arts (nghệ thuật học).

          Như nhiều học giả trong và ngoài nước đã khẳng định, vào những năm đầu thời kỳ Đổi mới, KHXH Việt Nam trên thực tế, đã tự đổi mới mình và làm "Bừng tỉnh" xã hội bằng những quan niệm rất mới mẻ về những vấn đề cốt tử làm nền tảng cho sự vận động của đời sống xã hội. Đó là những quan niệm về CNTB, về CNXH, về thời kỳ quá độ, về bóc lột, về kinh tế tư nhân, về vai trò của đảng cầm quyền, về văn hóa và về con người... Cũng phải mất một thời gian xã hội mới quen dần với những nhận thức mới để từ đó có một thái độ mới với các vấn đề đó. Nhưng đó thực sự là những chuyển biến có ý nghĩa cách mạng. Ngày nay thái độ chung của toàn xã hội và của từng cá nhân (đối với những vấn đề đó) đã mềm dẻo hơn và thực tế hơn rất nhiều - điều mà trước những năm 1980, ngay cả những đầu óc cấp tiến nhất cũng không thể hình dung được. Xã hội chắc chắn không thể có được bước phát triển và diện mạo như ngày nay, nếu chúng ta vẫn giữ những quan niệm cũ gắn liền với thái độ cũ về kinh tế tư bản tư nhân, về đặc trưng của CNXH, về sự bóc lột và lao động làm thuê, về văn hóa và truyền thống, về tôn giáo và tâm linh, về con người và giải phóng các nguồn lực…

          Tôi muốn nói rằng, KHXH dường như không đi tiên phong nhưng thực tế lại không đứng ngoài những điểm nóng nhất của đời sống xã hội, cung cấp những nền tảng nhận thức và hành động đặc biệt có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội mà thường phải có thời gian người ta mới nhận thấy được. Thực chất là KHXH đã làm thay đổi phương thức phát triển đất nước - từ chỗ cứng nhắc, sách vở, chủ quan… sang phương thức mới, mềm dẻo hơn, thực tế hơn, năng động hơn - giải phóng được các nguồn lực nội sinh, sử dụng được ngoại lực, tiếp thu được sức mạnh và tinh hoa văn minh bên ngoài, gần gũi hơn với xu hướng tiến bộ của cộng đồng thế giới. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 188/193 quốc gia thành viên LHQ, tham gia và là thành viên tích cực của hơn 70 định chế quốc tế; có quan hệ Đối tác chiến lược với 16 nước, Đối tác toàn diện với 11 nước; được 70 nước công nhận là Việt Nam có nền kinh tế thị trường; tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và liên tục khoảng 5-7%/năm…

P.V: Một trong những nhiệm vụ của KHXH&NV là cung cấp các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chiến lược, chính sách phát triển đất nước nhanh và bền vững trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị... Thực tế, những kết quả nghiên cứu của KHXH&NV đã giúp Chính phủ hoạch định các chính sách đúng đắn, làm nền tảng cho sự phát triển bền vững của quốc gia. Điều quan trọng hơn, KHXH&NV còn đóng vai trò thiết yếu để phát huy chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc. Vì thế, KHXH&NV cần phải được đặt đúng vị trí, vai trò của nó và việc đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực KHXH&NV phải luôn là một nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình hội nhập và phát triển của đất nước. Những điều GS vừa nói liệu có đánh giá quá cao KHXH hay không, khi thực trạng…?

          GS.TS. Hồ Sĩ Quý: Dĩ nhiên điều vừa nói không có nghĩa là bản thân KHXH Việt Nam không hề có vấn đề gì và sự phát triển của đất nước hiện đều tốt đẹp cả. Ngược lại, với nhu cầu cần phải phát triển nhanh đồng thời bền vững, thì nền kinh tế - xã hội đất nước trên thực tế đang đứng trước những thử thách không hề nhỏ và cũng khá nan giải. KHXH cũng thế, so với khu vực và thế giới cũng như so với tiềm năng và nhu cầu phát triển thì ở rất nhiều mặt, KHXH đang cần phải có những bứt phá rất căn bản mới có thể thu hẹp được khoảng cách với ngay cả các nước quanh ta như Thái Lan, Singapore.

          Nhưng có lẽ những điều bất cập của KHXH và của sự đối xử với KHXH, chúng ta sẽ nói sau, còn bây giờ xin được tiếp tục nói sơ qua về những điểm tương đối tích cực mà KHXH phải rất nhọc công mới có được đã.

          Ngày nay xã hội nước ta đã ở vào một trình độ khác so với hai ba mươi năm trước. Khoảng hơn một thập niên qua, tại các Trung tâm khoa học lớn như Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh… giới KHXH đã cố gắng rất nhiều và do vậy cũng đã đạt được những thành tựu mới, rất đáng ghi nhận trong hợp tác nghiên cứu và đào tạo với nước ngoài, trong việc công bố quốc tế, và cả trong tư vấn chính sách với Chính phủ và với các cơ quan công quyền có trách nhiệm…

          KHXH có chức năng cố hữu của nó là nghiên cứu, đào tạo và tư vấn chính sách. Đấy là nói thật ngắn gọn để đỡ phải trình bày dài về các thành phần cùng những đặc trưng khá phức tạp của từng chức năng đó. Phương thức mà KHXH đi vào xã hội, vào đường lối, chủ trương, chiến lược, chính sách… của Đảng, Chính phủ và các thiết chế xã hội… rất đặc thù là vừa trực tiếp vừa gián tiếp. Nhà KHXH và một quan niệm nào đó của KHXH có thể trực tiếp can thiệp, tác động vào chiến lược, chính sách… Tuy nhiên, phương thức gián tiếp thông qua dân trí để tác động vào văn hóa và con người cũng không kém phần hiệu quả. Ở nước ta, cách thức thứ hai này thường phổ biến hơn.

          Không ồn ào, khoa trương, nhưng khá vững vàng, nhất quán và kiên định, KHXH nước ta đã thổi vào xã hội, khơi dậy những tư tưởng sáng suốt mang đậm bản sắc truyền thống Việt Nam về độc lập, tự chủ quốc gia; về chủ quyền lãnh thổ, đặc biệt về chủ quyền biển đảo; về sức mạnh lòng dân; về ý chí dân tộc… Về điều này, Đại hội XII của Đảng đánh giá: "Trong những năm qua, khoa học xã hội và nhân văn đã góp phần quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; khẳng định lịch sử hình thành và phát triển dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, bảo tồn các giá trị và bản sắc văn hóa Việt Nam"(1).

          Trong bối cảnh Việt Nam đã hội nhập quốc tế sâu rộng, KHXH đã làm xã hội ngày càng nhận thức sâu sắc thêm và có thái độ hợp lý hơn trong quan hệ với các đối tác, đặc biệt với các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ…

          Với trình độ một nước tuy mới ở mức thu nhập trung bình thấp nhưng có nền tảng công nghệ thông tin khá phát triển, lượng người dùng mạng xã hội đông đảo tới bốn năm chục triệu người, KHXH thông qua con đường dân trí đã góp phần định hướng cho xã hội những quan niệm và thái độ hợp lý hơn về dân chủ và trách niệm, về công khai, minh bạch và quyền công dân… góp phần tương đối tích cực trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; chống tham nhũng, bòn rút của cải quốc gia…

          Sức lay động, ảnh hưởng của KHXH thông qua các Hội thảo, hội nghị khoa học quốc gia và quốc tế; các báo cáo định kỳ và không định kỳ của các thiết chế khoa học; các bài báo quốc tế và quốc gia; các tạp chí và báo chí, kể cả online; các kiến nghị, tư vấn, đặc biệt những kiến nghị trực tiếp tới các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước; các ý kiến tư vấn khác của các chuyên gia, các nhà khoa học có uy tín và đông đảo các nhà giáo, các nhà hoạt động xã hội… trên thực tế đã làm đời sống tinh thần xã hội phải không ngừng trăn trở với từng bước đi và hành động của mình. Công cuộc chống tham nhũng quyết liệt và hiệu quả của Đảng gần đây đã tiếp thêm sức mạnh để KHXH góp phần lấy lại niềm tin trong xã hội. Quan niệm "làm quan-bổng lộc" (mà thuật ngữ khoa học gọi là Kleptocray) nay đã buộc phải thay đổi. Đó thực sự là tín hiệu đáng mừng. Tôi nói KHXH không ồn ào, khoa trương, nhưng khá vững vàng, nhất quán và kiên định với lập trường của mình là vì vậy.

P.V: Những điều vừa rồi, chủ yếu GS nói về KHXH Việt Nam. Vậy ở các nước phát triển, thì KHXH&NV có vị thế như thế nào trong nền khoa học cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung?

          GS.TS Hồ Sĩ Quý: Tất cả các quốc gia thành công đều là các quốc gia tôn trọng khoa học xã hội và thường có nền KHXH hùng mạnh. Nhật Bản, Mỹ, Pháp, Anh, Đức… đều là những nước có nền KHXH mạnh. Ở Đông Á và Đông Nam Á, KHXH Singapore, Đài Loan, Trung Quốc… cũng có nhiều ngành KHXH thuộc vào loại có tiếng thế giới. Điều tôi quan sát và thấy rất đáng chú ý là, gần như tất cả các bộ máy chiến lược, các Think Tank, các trung tâm đầu não của các chính phủ mạnh đều là nơi tập trung trí tuệ của các nhà KHXH uyên bác. Các "cỗ máy tư duy chiến lược" như Goldman Sachs, Brookings Institution, Heritage Foundation (Mỹ); Chatham House (Anh); European Policy Center (EU); Nira, Japan Institute of International Affairs (Nhật Bản), Institute of Southeast Asian Studies (Singapore)… đều là những Think Tanks như vậy.

          Công việc hoạch định chiến lược, hay định hướng phát triển của các quốc gia chính là nơi không thể thiếu trí tuệ của KHXH. Thậm chí ở đây, KHXH còn quan trọng hơn cả khoa học tự nhiên và công nghệ. Ở một số nước châu Âu, một số kiến thức chuyên ngành KHXH như Luật, Kinh tế, Chính trị học, Ngoại giao… còn trở thành điều kiện cần để một người nào đó có thể trở thành chính khách. Ngày nay, nhiều sản phẩm của khoa học tự nhiên và công nghệ, kể cả những sản phẩm chiến lược, người ta đều có thể nhập khẩu được. Một số quốc gia còn không ngần ngại thuê luôn cả nhân lực vận hành cùng với việc nhập sản phẩm khoa học tự nhiên và công nghệ. Cách thức này thực ra không ảnh hưởng nhiều đến xu hướng, tốc độ hay diện mạo phát triển của một quốc gia.

          Nhưng với KHXH thì hoàn toàn khác. Chẳng hạn, khi những đối tượng thuộc văn hóa Việt Nam hay con người Việt Nam, thuộc xã hội Việt Nam hay lịch sử Việt Nam… được KHXH nước ngoài nghiên cứu, thì kết quả nghiên cứu dù tốt đến mấy cũng chỉ có ý nghĩa tham khảo. Nghĩa là, không gì có thể thay thế KHXH Việt Nam trong việc nghiên cứu và cung cấp những căn cứ khoa học về con người và xã hội Việt Nam được. Đặc biệt là trong những nghiên cứu liên quan đến sự thành bại hay an nguy của dân tộc, đất nước.

          Nhờ khả năng trực tiếp định hướng cho hành động, khoa học xã hội bao giờ cũng là chỗ dựa tinh thần và tâm lý tuyệt đối vững chắc, trang bị sức mạnh tư tưởng và văn hóa đủ tin cậy, cung cấp luận cứ khoa học có chiều sâu lịch sử… để các chính phủ kịp thời hoạch định chiến lược hay các quyết sách, ứng phó với tình huống, từ giải pháp chính trị đến đột phá phát triển kinh tế hay chiến lược bảo vệ chủ quyền quốc gia. Ngày nay, phát triển dù chọn phương thức nào thì các quốc gia cũng đều coi các giá trị về con người và bản sắc văn hóa dân tộc là lý do tồn tại đầu tiên của mình.

          Với Việt Nam, bằng hành trang lịch sử có bề dày hàng nghìn năm, tương lai của đất nước chắc chắn đã ít nhiều được đảm bảo bằng các giá trị con người và văn hóa mà các thế hệ cha ông dày công tạo dựng bằng cả mồ hôi, máu, và nước mắt để lại cho con cháu.

          Từ những điều vừa nói, tôi muốn lưu ý và nhấn mạnh rằng, KHXH có vai trò không thể thiếu, không thể xem nhẹ đối với từng bước phát triển của đất nước, của con người và của xã hội. Nếu hôm nay, chúng ta xem nhẹ hay đánh giá thấp tiếng nói của khoa học xã hội, thì ngày mai hậu quả có thể sẽ là khôn lường.

          P.V: Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam hiện nay, KHXH&NV đang dường như không được coi trọng. Có thể thấy, dư luận xã hội và ngay cả giới nghiên cứu cũng thừa nhận, hiệu quả ứng dụng các đề tài KHXH&NV vào cuộc sống rất hạn chế; tình trạng nghiên cứu xong "cất vào tủ" khá phổ biến. Nếu điều đó không sai thì lý do vì sao vậy, thưa GS.?

          GS.TS Hồ Sĩ Quý: Đúng là nhìn vào một số hiện tượng, thì KHXH ở ta có vẻ ngày càng bị xem nhẹ, bị coi thường. Có thể nói kỹ hơn một chút.

          Thí sinh đăng ký thi hoặc xét tuyển vào đại học thuộc các ngành KHXH&NV vài năm trước đã ít đến mức báo động đỏ, hai năm nay có khá hơn, nhưng tỷ lệ vẫn thấp, đặc biệt là khối ngành sư phạm. Tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm đúng chuyên ngành cũng không cao. Một số sinh viên tiếp tục theo học thạc sỹ hoặc tiến sỹ đôi khi cũng vì chưa tìm được việc làm. Những người chọn KHXH làm nghề chính cho đời sống và sự nghiệp của mình thường phải đối mặt với muôn vàn khó khăn. Để thành đạt trong KHXH thì lại còn khó khăn hơn nữa, ít nhất phải mất 10 đến 20 năm mới có thể trở thành nhà KHXH có vị thế xã hội khiêm tốn nào đó và từ đó có thể có đóng góp ít nhiều cho xã hội. Nói chung chọn con đường dấn thân cho KHXH quả thực là mạo hiểm, nếu người lựa chọn không có "gen KHXH" hoặc "đam mê bẩm sinh" đối với KHXH.

          Ở một khía cạnh khác, hiện thời mặt bằng tri thức KHXH của nhiều đối tượng dường như đã thấp đến mức báo động. Những hiểu biết về lịch sử Việt Nam, về văn học và tiếng Việt, về văn hóa và truyền thống… đều hổng ở mức đáng ngại mà báo chí đã nói nhiều từ mấy năm trước. Sinh viên, phóng viên, phát thanh viên… nói sai, viết sai, hiểu sai… có thể bắt gặp hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thậm chí, giáo sư, phó giáo sư cũng có những người nói và viết còn có vấn đề. Không ít sinh viên khi ra trường còn chưa biết trích dẫn, chưa biết trình bày một văn bản khoa học giản đơn; khi đến nhận việc tại các cơ quan, công sở, họ đều phải dành thời gian để đào tạo lại. Các cơ sở đào tạo sau đại học cũng đôi khi cho ra lò những thạc sỹ, tiến sỹ có trình độ khá non. Tình trạng đạo văn không khó bắt gặp.

          Nhìn từ khía cạnh học thuật, thì đề tài nghiên cứu khoa học các cấp công bố ngày càng nhiều, đầu sách ra mắt cũng không ít, nhưng số lượng xuất bản thường chỉ vài trăm cuốn và những cuốn sách có giá trị lâu bền, có độ tin cậy cao rất hiếm. Sách dịch rất cập nhật nhưng không ít cuốn lại sai sót, cẩu thả, cắt gọt… gây tâm lý thiếu tin cậy. Hầu như không mấy ai nghĩ đến việc viết sách "để đời", kể cả những nhà nghiên cứu gạo cội; cơ chế xuất bản không khuyến khích người viết, chỉ tạo điều kiện cho người "làm sách" nên sáng tạo KHXH vô tình rơi vào tình trạng mất động lực thôi thúc từ bên trong để viết sách khoa học xuất bản, ngày nay rất hiếm.

          Tại nhiều thư viện, việc mua bổ sung sách mới và tạp chí khoa học rất hạn chế. Đất nước giàu có hơn, nhưng kinh phí cho mua sách, tạp chí lại ít dần, ít đến mức báo động. Lý do được đưa ra là người đọc ngày càng ít đến thư viện. Lý do này có lẽ không sai, nhưng theo tôi, việc cắt giảm kinh phí mua sách báo cũng lại là một trong những nguyên nhân làm giảm lượng người đến thư viện và làm xuống cấp văn hóa đọc.

          Trong nhiều công bố khoa học, số liệu nghiên cứu định lượng, kể cả số liệu điều tra lẫn số liệu thống kê, độ tin cậy đều thường không cao. Tình trạng điều tra xã hội học để làm đẹp luận điểm rất dễ bắt gặp.

          Ngay trong bảng phân loại khoa học mà Bộ KH&CN ban hành năm 2008 và mới khẳng định lại từ 2012, KHXH cũng chỉ là một trong sáu ngành khoa học được công nhận ở Việt Nam, ngang hàng với nông nghiệp hay y dược… Sự phân loại này sẽ gây vấn đề khi hoạt động khoa học có liên quan tới các quy định hành chính hoặc thể chế.

          Một số học giả nước ngoài đánh giá Việt Nam tiếp thu cái mới khá nhanh. Có thể đúng là như vậy. Nhưng tiếp thu sâu đến đâu, có triệt để hay không, có tiếp thu với tinh thần phê phán hay không… lại là điều cần bàn. Hầu hết các "trào lưu" học thuật hay tư tưởng có xuất xứ từ bên ngoài thường rất nhanh được PR và trở thành thời thượng tại Việt Nam. Nhưng gần như chưa kịp hiểu và ứng dụng thì những cái mới này lại đã được thay thế bằng cái khác. "Kinh tế tri thức", "Thế giới phẳng", "Nhà nước kiến tạo", "Quốc gia khởi nghiệp", "Cách mạng công nghiệp 4.0"… là những hiện tượng như vậy. Hiện nay, rất nhiều người thích nói "4.0", nhưng rất ít người hiểu cặn kẽ tri thức này chân giả như thế nào. Thậm chí khi Robot Sophia xuất hiện tại Việt Nam, một vài người rất có trọng trách cũng đã không tiếc lời hồn nhiên ca ngợi.

          Tôi muốn nói rằng, tình trạng hời hợt, nông cạn tương tự không phải là tư duy truyền thống của KHXH Việt Nam.

          Các KHXH&NV thì được coi là chỉ mới xuất hiện từ Auguste Comte, nhưng tư duy thâm thúy, uyên bác, sâu sắc về con người, về xã hội, về lịch sử… của cha ông ta thì đã có rất sớm từ trước đó. Nền học thuật Nho giáo có nhiều hạn chế, nhưng tác phong cẩn trọng, "nói có sách" và khiêm nhường cũng là những mực thước bắt buộc được truyền dạy. Truyền thống KHXH được tiếp thu từ Học viện Viễn Đông bác cổ Pháp cũng rất "kinh điển", ở vào trình độ rất cao, và thực tế đã làm xuất hiện một thế hệ các nhà khoa học Việt Nam tầm cỡ.

          Cách thức nghiên cứu, giảng dạy và "hiến kế" của KHXH Việt Nam từ những năm 1950 đến rất gần đây thường bám rất sát những chuẩn mực đó. Tình trạng dễ dãi với sự hời hợt, nông cạn, cẩu thả là sản phẩm chỉ xuất hiện mới đây thôi.

          P.V. Trong bối cảnh hiện nay, KHXH&NV cần những điều kiện gì để phát triển và đáp ứng nhu cầu của cuộc sống? Và làm thế nào để vị thế và trình độ của KHXH&NV Việt Nam được nâng cao như đòi hỏi của thực tiễn trong điều kiện hiện nay?

GS.TS Hồ Sĩ Quý: Câu hỏi phải nói là thú vị, hay, nhưng không dễ trả lời.

Trước hết tôi thấy cần phải lưu ý điều này. Thực ra, xưa nay, từ trong tâm tưởng sâu xa, chúng ta đều không hề coi nhẹ tri thức, tư duy hay trí tuệ về lĩnh vực xã hội và nhân văn. Những người thâm thúy, sâu sắc, "ưu thời mẫn thế" lúc nào cũng được trọng vọng. Ông cha ta xưa đã luôn như thế và chúng ta ngày nay cũng vậy. Trong các văn bản pháp quy, chúng ta cũng không bắt gặp có chỗ nào thể hiện thái độ coi thường các tri thức hay vai trò của KHXH&NV.

          Tuy nhiên, chỉ riêng điều đó vẫn là chưa đủ. Hiện nay và chắc cũng còn không ít năm nữa, xã hội sẽ vẫn ưu tiên chọn hướng mưu sinh cho con cháu ở những lĩnh vực khác, tìm đường thành danh, kiếm lợi ở những chân trời khác, chứ không phải KHXH. Chúng ta buộc phải tính đến hoặc thừa nhận xu hướng thực tế này.

          Nghĩa là, nếu muốn nhiều người chọn KHXH làm nghề nghiệp của mình, thì chắc chắn sự điều tiết vĩ mô của xã hội và của Nhà nước cần phải có những giải pháp tạo cho khu vực lao động trí óc đặc thù này có những lợi ích và những giá trị ít nhiều thiết thực để khơi dậy tình yêu KHXH vốn "bẩm sinh" trong phần lớn người Việt.

          Tôi nghĩ rằng khi đời sống kinh tế ngày càng được nâng cao thì số người đến với KHXH sẽ ngày càng nhiều thêm. Sẽ đến một lúc, KHXH sẽ trở thành "giá trị đầu vào" không thể thiếu đối với tất cả mọi người, mọi nhà.

          Nói như vậy có nghĩa là, những hạn chế, khiếm khuyết và cả những sai lầm của KHXH có nguyên nhân không chỉ ở bản thân KHXH, ở nền giáo dục hay ở nền khoa học nói chung, mà một phần, nếu không muốn nói là phần lớn, nguyên nhân lại thuộc về môi trường xã hội, thuộc về thể chế, thuộc về trình độ của đời sống kinh tế - xã hội. Tất nhiên sứ mệnh của KHXH là làm nền tảng để xã hội vận hành, dự báo, định hướng hành lang an toàn để xã hội tiến bộ. Nhưng thể chế kinh tế - xã hội hoàn toàn có khả năng trói buộc hoặc giải phóng sự sáng tạo của KHXH. Sự quan tâm tạo môi trường sáng tạo bình thường đối với KHXH từ phía quản lý vĩ mô, là nhân tố không bao giờ thừa. Nếu thiếu môi trường sáng tạo bình thường, KHXH rất dễ trở thành không đầy đủ hoặc méo mó.

          Ngày nay, KHXH hiện đại rất mạnh ở chức năng tham mưu, tư vấn, phản biện (chính sách, chiến lược, đường lối…). Chính sách nếu thiếu sự tham mưu, tư vấn, phản biện của KHXH thì rất dễ không đủ tối ưu, hoặc không hợp lý. Ở nước ta, cơ chế thực hiện điều này hiện vẫn chưa có. Tuy nhiên, các nhà KHXH và các cơ quan KHXH có uy tín lâu nay vẫn được tham vấn và nhiều kiến nghị cũng như những ý kiến tham vấn đã được đánh giá rất cao. Một số Think Tank Việt Nam gần đây cũng đã xuất hiện và cũng được trân trọng sử dụng. Vấn đề là ở chỗ, nếu không có cơ chế sử dụng tiếng nói tham mưu, tư vấn, phản biện của KHXH, thì giá trị của tiếng nói đó đành phải hoàn toàn phụ thuộc vào thái độ cầu thị hay không cầu thị của người có chức trách và cơ quan có trách nhiệm.

          Sẽ thật là lãng phí nếu những tiếng nói có hàm lượng chất xám cao, có độ tin cậy được ít nhiều kiểm chứng bởi thực tế, có chiều sâu văn hóa và lịch sử…, lại vô tình bị lãng quên.

HOÀNG ANH - HỒNG BẮC (thực hiện)

Chú thích

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XII. Nxb. CTQG. Hà Nội, tr. 118.

 

Nguyễn Quốc Hồng

          Nghệ An là tỉnh nằm ở vùng Bắc Trung bộ, là vùng đất văn hiến, có lịch sử và truyền thống nhân văn phong phú, sâu sắc, mang bản sắc riêng. Truyền thống nhân văn đó được hình thành từ hàng ngàn năm, và được bồi đắp trong lịch sử phát triển đất nước, con người Nghệ An. Trong quá trình phát triển ấy, Nghệ An trở thành vùng đất địa linh nhân kiệt đã sinh ra nhiều danh nhân tài năng uyên bác với những đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

          Bước sang thế kỷ 21, Nghệ An cùng với cả nước đẩy nhanh tiến trình hội nhập và phát triển, đặc biệt là bắt nhịp cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Phát triển không chỉ đơn thuần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế mà mở ra một thời kỳ phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội. Trong thời kỳ phát triển đó, khoa học - kỹ thuật đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế, nhưng để có một môi trường xã hội nhân văn lành mạnh, con người phát triển một cách toàn diện thì khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) có vị trí đặc biệt quan trọng.

          Từ lâu, chúng ta đã nói nhiều về vai trò cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt đối với sự phát triển đất nước. Nhưng có lẽ, không phải khi nào cũng hiểu một cách thấu đáo rằng cách mạng khoa học - kỹ thuật tức là khoa học và kỹ thuật và khoa học tức là khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn. Vì thế, đã có một thời gian dài KHXH&NV đã không được nhìn nhận một cách thỏa đáng, đúng với vai trò của nó.

          Bản thân KHXH&NV liên quan đến sự phát triển của một quốc gia, một địa phương thể hiện ở các phạm vi sau đây: Đường lối, chiến lược, sách lược, chính sách, cơ chế, tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo, điều hành; Xã hội lành mạnh, môi trường tốt hơn để phát triển; Nhân tố con người mà quốc gia nào cũng coi là nhân tố quyết định cho sự phát triển. Đây là phạm vi mà KHXH&NV tác động trực tiếp và mang ý nghĩa quyết định cho sự phát triển.

          Bước vào thời kỳ đổi mới, nhận thức về vai trò của KHXH&NV được thay đổi từng bước đưa KHXH & NV đúng với vai trò to lớn trong phát triển toàn diện, vững chắc của đất nước. Mặt khác, bản thân các tổ chức, cá nhân nghiên cứu lĩnh vực KHXH&NV đã bám sát thực tiễn, tổng kết khoa học thực tiễn "Khoa học xã hội và nhân văn sau Đại hội VI đã từ bỏ khuynh hướng nghiên cứu có tính chất hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tế, nặng về thuyết minh, minh họa một chiều của những giai đoạn trước, chuyển sang nghiên cứu những vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách về kinh tế - xã hội - văn hóa - tư tưởng" (1).

          Cùng với sự chuyển biến nhận thức về vai trò của KHXH&NV cả nước, lãnh đạo tỉnh Nghệ An cũng đã nhận thức lại một cách đúng đắn hơn về khoa học xã hội và nhân văn trong sự phát triển bền vững của tỉnh. Quá trình nhận thức đó được thể hiện trong các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh; Đại hội XV Đảng bộ tỉnh đã đưa ra những định hướng hoạt động của KHXH&NV và từng bước được hoàn thiện. Đến Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh, các nội dung nghiên cứu về lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn tỉnh nhà được tiếp tục hoàn thiện "Đẩy mạnh nghiên cứu các lĩnh vực KHXH&NV, tổng kết thực tiễn, phục vụ cho nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của chính quyền và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Nghiên cứu khai thác các giá trị truyền thống văn hóa, lịch sử quê hương, phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội"(2).

          Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII tiếp tục khẳng định vai trò của KHXH&NV trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội "Đẩy mạnh nghiên cứu các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, tổng kết thực tiễn phục vụ cho nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của chính quyền và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Nghiên cứu khai thác các giá trị truyền thống văn hóa, lịch sử của quê hương phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Tích cực xúc tiến để sớm hình thành phân viện nghiên cứu khoa học xã hội khu vực Bắc Trung bộ tại Nghệ An"(3).

          Cùng với quá trình hoàn thiện về nhận thức, lãnh đạo tỉnh đã tổ chức các chương trình nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tiêu biểu là các chương trình: "Kinh tế - xã hội Nghệ An trong tiến trình đổi mới năm 1993" do Giáo sư, Viện sỹ Nguyễn Duy Quý chủ trì với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, chuyên gia của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia cùng với các chuyên gia của tỉnh tiến hành có sự phối hợp với các chương trình cấp Nhà nước KX01, KX 04, KX 06. Kết quả của chương trình đã đánh giá một cách khoa học mặt mạnh, mặt yếu của Nghệ An trong tiến trình đổi mới. Song kết quả cao nhất của đợt nghiên cứu là sự gợi mở, kích thích tư duy của lãnh đạo tỉnh và các chuyên gia tìm kiếm giải pháp cho Nghệ An phát triển. Chương trình "Con người Nghệ An trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa'', mã số KX - 1 - NA 1996 - 1998 do cố Phó Giáo sư Lê Bá Hán chủ trì với mục tiêu là "Xây dựng luận cứ khoa học, đề xuất các kiến nghị, giải pháp, động viên phát huy tiềm năng con người Nghệ An thực hiện có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững kinh tế xã hội Nghệ An giai đoạn 1996 - 2000 và 2010"(4).

          Tiếp theo là các chương trình: "Nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế - xã hội nhằm thúc đẩy nhanh quá trình phát triển ở Nghệ An", mã số KX - 02 - NA và "Phát triển tiềm lực khoa học công nghệ tỉnh Nghệ An", mã số KX - 03 - NA. Cũng trong giai đoạn này, lãnh đạo tỉnh thành lập Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An vào tháng 4 năm 2007 với mục tiêu khâu nối, tập hợp các nhà nghiên cứu Khoa học xã hội trong và ngoài nước nghiên cứu về KHXH&NV Nghệ An; đồng thời tổ chức nghiên cứu các đề tài khoa học, tổng kết thực tiễn trên địa bàn tỉnh. Gần một năm sau (ngày 26/03/2008), UBND tỉnh phê duyệt Đề án: "Nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, xây dựng luận cứ khoa học cho các chủ trương, chính sách của cấp ủy và chính quyền nhằm đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Nghệ An giai đoạn 2008 - 2015 và đến năm 2020".

          Tiếp tục mạch nghiên cứu, sau khi Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn ra đời, đã tham mưu lãnh đạo tỉnh triển khai các chương trình nghiên cứu, tổng kết thực tiễn về lĩnh vực KHXH&NV, có thể kể đến các chương trình tiêu biểu: "Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 - 2020 và tầm nhìn đến 2030" do Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng - Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam làm chủ nhiệm với mục tiêu là nêu ra luận cứ khoa học để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp tạo sự phát triển kinh tế - xã hội mang tính chất đột phá ở tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 - 2020 và tầm nhìn đến 2030. Chương trình "Sưu tầm, nghiên cứu tổng thể về văn hóa dân gian Nghệ An (Nghệ An toàn chí)" do cố Phó Giáo sư Ninh Viết Giao làm Chủ tịch hội đồng với mục tiêu hệ thống hóa những tri thức về văn hóa Nghệ An nhằm bảo tồn và lưu giữ những gia tài di sản của các thế hệ cha ông để lại; hàng chục đề tài và dự án khác đã và đang triển khai.

          Quá trình hoàn thiện nhận thức về tầm quan trọng của KHXH&NV và sự nỗ lực vào cuộc nghiên cứu, tổng kết thực tiễn của các nhà khoa học, các chuyên gia trong và ngoài tỉnh đã xây dựng và cung cấp những luận cứ khoa học để các thế hệ lãnh đạo tỉnh xây dựng các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội. Nhiều kết luận khoa học của các chương trình KHXH&NV tỉnh nhà được dùng làm cơ sở cho việc xây dựng Văn kiện Đại hội tỉnh qua các nhiệm kỳ. Cụ thể:

          Đánh giá thực trạng con người Nghệ An qua những năm đổi mới, những giá trị truyền thống cần phát huy, những mặt yếu cần khắc phục, những mặt thiếu cần bồi đắp.

          Thực trạng kinh tế của Nghệ An khi bước vào sự nghiệp đổi mới như thế nào và đang ở đâu?

          Những nguồn lực và yếu tố phát triển của Nghệ An trong công cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (4.0).

          Vấn đề phân vùng kinh tế, các tuyến trong liên kết vùng, vấn đề đô thị hóa.

          Những chương trình, dự án trọng điểm cần được ưu tiên nhằm tạo sự phát triển đột phá kinh tế, xã hội của tỉnh Nghệ An...

          Tuy nhiên, để Nghệ An có những đột phá trong phát triển bền vững và trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ của vùng Bắc Trung bộ thì vai trò của KHXH&NV trong tiến trình phát triển cần phải được tiếp tục khẳng định cả về nhận thức và hành động thực tế.

          Thế giới hiện nay đang đặt ra cho KHXH&NV hai vấn đề lớn: Một là, phải trả lời được những yêu cầu mà cuộc sống đang đặt ra. Trong đó yêu cầu cao nhất là thế giới con người phải đạt tới một xã hội bền vững trên cơ sở phát triển. Cân đối, hài hòa giữa vật chất với tinh thần, hiện tại với tương lai và giữa các vùng miền với nhau.

          Thứ 2 là, phải có sứ mạng đi trước thời đại, dự báo chính xác những vấn đề của xã hội loài người, dẫn đường cho ứng dụng hiệu quả các thành tựu của KHTN và công nghệ.

          Thực tiễn phát triển kinh tế của tỉnh đang đặt ra cho KHXH&NV những yêu cầu rất cụ thể và cũng rất nặng nề để Nghệ An cất cánh trong thời gian tới.

Nghệ An đang cùng với cả nước bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, để thực hiện thành công cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thì phải xây dựng nguồn lực con người. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định tại cuộc họp chính phủ rằng: "Cách mạng công nghiệp 4.0 không thể khả thi nếu thiếu con người 4.0". Nghệ An rất nhiều nhân tài, thành đạt ở trong nước và nước ngoài, nhưng chúng ta đang trăn trở về một chính sách khả thi để thu hút người tài cống hiến cho quê hương, KHXH&NV phải chỉ ra được những điểm nghẽn trong chính sách để thu hút được người tài cống hiến tài năng, trí tuệ phục vụ cho phát triển quê hương.

          Nghệ An cần phải trả lời một cách khách quan, khoa học về tiềm năng, thế mạnh thực sự của tỉnh là gì, từ đó để hoạch định chiến lược cho phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ phát triển, hội nhập sâu rộng. Nhiệm vụ của KHXH&NV phải chỉ ra được những tiềm năng thế mạnh ấy và tìm ra những giải pháp và phát huy có hiệu quả.

          Câu hỏi đặt ra làm day dứt bao thế hệ cán bộ lãnh đạo và nhân dân: Nghệ An giàu tiềm năng, nhất là tiềm năng con người, giàu truyền thống, ý chí; nhưng đến nay Nghệ An lại chậm phát triển so với các tỉnh khác trong khu vực - KHXH&NV phải trả lời trợ lực chính là ở đâu?

          Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh các khóa XV, XVI, XVII, XVIII xác định nguyên nhân chủ quan về hạn chế khuyết điểm, mặc dầu chữ nghĩa có khác nhau đôi chút, nhưng tựu trung là "Tư tưởng bảo thủ, trì trệ, chủ quan, nóng vội, không dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm, ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, đang là lực cản lớn đối với quá trình phát triển của tỉnh"(5). KHXH&NV phải chỉ cho được nguyên nhân để chặn đứng lực cản trong quá trình phát triển của tỉnh, làm sao mà Đại hội XIX không lặp lại điệp khúc trên.

          Tham gia và đóng vai trò phản biện các chính sách kinh tế xã hội của tỉnh là một yêu cầu rất lớn đang đặt ra đối với các ngành khoa học xã hội và nhân văn của tỉnh. Hoạt động phản biện trong những năm qua còn hạn chế. Do vậy, các nhà hoạt động khoa học xã hội và nhân văn cần phải được định vị rõ ràng hơn trong việc cung cấp những luận cứ khoa học để lãnh đạo hoạch định đường lối và các chính sách cụ thể. Làm tốt vai trò phản biện sẽ giúp cho việc xây dựng các chính sách trở nên chính xác và hiệu quả hơn.

          Còn nhiều vấn đề khác đang đặt ra đối với sự phát triển đột phá bền vững của Nghệ An. Trong việc tìm ra lời giải cho sự cất cánh của Nghệ An phải có vai trò cực kỳ quan trọng của khoa học xã hội và nhân văn.

Chú thích

1. Đặng Hữu (chủ biên), 50 năm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (1945-1995), Nxb - KHKT, Hà Nội, 1995, trang 373.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam - Tỉnh ủy Nghệ An: Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII - Tháng 12 - 2010, trang 93.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam - Tỉnh ủy Nghệ An: Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII - Tháng 12 - 2015, trang 129

4. Chương trình khoa học "Con người Nghệ An trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa" - Bản tổng kết giai đoạn I (1996 - 1998) trang 9

5. Đảng cộng sản Việt Nam - Tỉnh ủy Nghệ An: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII - Tháng 12 - 2010 trang 35

 

Bùi Hào

          Trong kỳ họp lần thứ 8 của Hội đồng Nhân dân tỉnh Nghệ An khóa XVII (từ 10/12 đến 12/12/2018), vấn đề chính sách dân tộc và phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số ở miền núi phía Tây Nghệ An lại trở thành điểm nóng được nhiều người quan tâm. Đây không phải là lần đầu tiên vấn đề này được đặt ra, mà chỉ là nối tiếp những mối quan tâm trăn trở của lãnh đạo địa phương và nhiều người tâm huyết với vùng dân tộc thiểu số trong hàng thập kỷ qua mà thôi. Nhiều vấn đề đã được đề cập đến, trong đó người ta quan tâm nhiều đến kinh tế, cơ sở hạ tầng và các nguồn đầu tư tài chính… Trong khi đó, phát triển vùng dân tộc thiểu số ở miền núi là một vấn đề tổng hợp và phức tạp, nó không chỉ đơn thuần là đổ tiền vào thì sẽ có kết quả. Chính vì nó rất phức tạp nên cần phải bắt đầu bằng nhận thức. Để nhận thức rõ hơn về vấn đề phát triển miền núi, cần có sự hỗ trợ, bổ trợ và tương tác từ các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Nói cách khác, các ngành khoa học xã hội và nhân văn cần có một vai trò, vị trí xác đáng trong quá trình hoạch định chính sách và quản lý phát triển vùng dân tộc thiểu số ở miền núi.

1. Vai trò của các ngành khoa học xã hội nhân văn trong quá trình nhận thức và ban hành các chính sách phát triển xã hội

          Khoa học xã hội luôn giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhân loại, đặc biệt trong việc xây dựng, ban hành và thực hiện các chính sách phát triển "Khoa học xã hội có khả năng cung cấp cho người quyết định một tập hợp phong phú các thông tin, khái niệm và lý luận. Toàn bộ những dữ liệu này có thể góp phần làm cho biện pháp chính trị thích đáng hơn vì có cơ sở để hiểu biết đúng hơn các điều kiện hiện tại và có khả năng hơn, đạt tới những kết quả nhờ đó các điều kiện ấy được chấp nhận" (Carol Hirschon Weiss, 2007: trang 473).

          Có những thời đoạn, người ta quá coi trọng và ưu tiên cho sự phát triển của khoa học kỹ thuật mà coi nhẹ vai trò của khoa học xã hội. Đặc biệt là cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, khoa học kỹ thuật làm thay đổi toàn bộ bộ mặt thế giới. Nhưng nó cũng góp phần mang lại một hệ lụy là bùng nổ các cuộc chiến tranh quy mô lớn. Trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới khiến người ta phải xem xét lại vị trí của các ngành khoa học, trong đó có khoa học xã hội. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, các nhà khoa học xã hội đã nhấn mạnh đến vai trò của khoa học xã hội đối với quá trình nhận thức và hoạch định chiến lược phát triển ở cả cấp vĩ mô lẫn vi mô. Những thảo luận đó đã được nhà nghiên cứu Carol Hirschon Weiss (2007) tổng hợp và nhấn mạnh đến 4 vai trò chính sau:

          1). Phản ánh thực trạng, phạm vi và phân bố các vấn đề xã hội, mô tả diễn biến của các vấn đề xã hội.

          2). Phân tích nguồn gốc của các vấn đề và nguyên nhân gia tăng của các vấn đề đó.

          3). Nghiên cứu, đề xuất những phương pháp đối chứng trong tiếp cận các vấn đề này nhằm xác định chính sách tốt nhất để giải quyết vấn đề xã hội.

          4). Đánh giá những hậu quả của các chính sách, các chương trình đã được chấp nhận để đi đến quyết định có nên tiếp tục theo đuổi hay dừng lại hoặc phải thay đổi. Vì vai trò này nên nghiên cứu khoa học xã hội cần phải cung cấp những phương hướng chỉ đạo để cải thiện các chính sách và cải thiện nhân loại.

          Nói tóm lại, như Carol Hirschon Weiss khẳng định: "Một phần quan trọng của nghiên cứu khoa học xã hội là mục đích giúp các chính phủ cải thiện những dự án, chính sách và cách thực hiện để phục vụ công dân" (Carol Hirschon Weiss, 2007, trang 473-474).

          Các xã hội càng phát triển thì người ta càng tạo ra nhiều khung phân tích từ các ngành khoa học xã hội để nhận thức về vấn đề cũng như phân tích, tìm hiểu, dự đoán về tính khả thi, các hệ quả của các chính sách, dự án phát triển. Họ luôn cố gắng đưa dẫn các nhà nghiên cứu khoa học xã hội tham gia và góp phần vào công cuộc phát triển cộng đồng, nhất là trong việc ban hành và thực hiện các chính sách, các dự án phát triển. Khoa học xã hội, nếu đảm bảo môi trường dân chủ, tiến bộ cũng như sự nghiêm túc, khách quan và khoa học của các nhà nghiên cứu thì sẽ cung cấp cho các nhà quản trị xã hội một hệ thống thông tin dữ liệu để nhận thức các vấn đề xã hội, tạo ra hàng loạt các khung phân tích khác nhau để lựa chọn hoặc tích hợp thành những khung phân tích hiệu quả và toàn diện nhất đối với vấn đề mà họ quan tâm. Từ đó sẽ giúp cho các nhà quản trị xã hội có được cơ sở nền tảng để xác định, lựa chọn các dự án, chính sách phát triển, đồng thời quản lý được quá trình thực hiện các dự án, chính sách đó thông qua việc đánh giá tác động của nó đến các bên liên quan.

          Ở Việt Nam, việc đánh giá, phân tích vai trò của các ngành khoa học xã hội nhân văn đối với cuộc sống, với sự phát triển của cộng đồng, của dân tộc vẫn còn rất hạn chế. Vai trò, vị trí của các ngành khoa học xã hội thường được các nhà quản lý, các nhà lãnh đạo nhấn mạnh qua các diễn ngôn trong các sự kiện kỷ niệm về ngành hay các sự kiện văn hóa, xã hội có liên quan. Và hầu hết các diễn ngôn này mang tính động viên, khích lệ hơn là việc nhấn mạnh đến vai trò, vị trí của ngành khoa học xã hội với đời sống. Sự quan tâm chỉ được thể hiện bằng các diễn ngôn thôi thực chất chưa đủ để cho các ngành khoa học xã hội phát triển, nhất là trong bối cảnh nó còn chịu nhiều ảnh hưởng từ hệ tư tưởng, hệ thống chính trị và bộ máy tổ chức quản lý nhà nước và xã hội. Chính vì lẽ đó, chúng ta có cả một nền khoa học xã hội đi làm nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền chính sách nhưng lại có không nhiều các nghiên cứu khoa học xã hội có chất lượng và có đóng góp thật sự vào sự phát triển của cộng đồng, của dân tộc. Các nhà quản trị xã hội thực sự cũng chưa coi trọng vai trò của khoa học xã hội, chưa thực sự cầu thị đón nhận các kết quả nghiên cứu khoa học xã hội vào quá trình quản trị xã hội, chưa sẵn sàng mời gọi các nhà khoa học xã hội tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện các chính sách, dự án phát triển. Ở chiều hướng ngược lại, các nhà khoa học xã hội, phần lớn cũng can tâm với vị thế "đi rao giảng" với các đồng nghiệp, các cộng đồng của mình hơn là nỗ lực phá bỏ các rào cản từ hệ tư tưởng, từ bộ máy chính trị để hướng đến những công trình nghiên cứu có chất lượng và có giá trị thật sự. Gần đây, khi sự hội nhập thế giới càng sâu rộng thì người ta mới nhìn nhận lại vị trí của các ngành khoa học xã hội, các nhà khoa học xã hội đang ở đâu trong quá trình phát triển của đất nước. Đó cũng là một vấn đề quan trọng để định vị lại quá trình phát triển của đất nước. Cũng cần phải nhấn mạnh thêm rằng: Để xây dựng và thực hiện một chính sách, một dự án phát triển thì cần có sự hỗ trợ của các ngành khoa học xã hội để nhận thức cũng như lựa chọn phương án và đánh giá tác động của nó. Điều đó hạn chế được nhiều bất cập, hạn chế các tác động tiêu cực, các rủi ro ở mức thấp nhất cho các đối tượng liên quan.

          2. Vai trò của các ngành khoa học xã hội nhân văn trong phát triển bền vững miền núi phía Tây Nghệ An: một cái nhìn gợi mở

          2.1. Tính đặc trưng khu vực miền núi

          Miền núi phía Tây Nghệ An là một khu vực mang tính đặc thù về địa lý tự nhiên, địa lý nhân văn, văn hóa tộc người và cũng là khu vực biên giới, liên quan đến cả vấn đề an ninh quốc phòng. Với diện tích 13.745 km2 (chiếm 83% diện tích tự nhiên toàn tỉnh) và dân số là 1.197.628 người (chiếm 41% dân số toàn tỉnh) trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 466.161 người, chiếm 15,2% dân số toàn tỉnh và chiếm 36% dân số trên địa bàn miền núi. Cả tỉnh có 39 dân tộc, trong đó dân tộc thiểu số có số đông như: Thái, Thổ, Khơ Mú, Mông, Ơ Đu, chủ yếu sinh sống ở vùng miền núi. Đây là một vùng đa dạng và phức tạp cả về tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người. Nếu không nhận thức được các nét đặc thù như vậy thì khó để có thể có được những dự án, chính sách phát triển hợp lý đối với khu vực này. Tuy nhiên, làm sao để nhận thức rõ hơn về bức tranh toàn cảnh cũng như các vấn đề của miền núi phía Tây để làm cơ sở cho việc hoạch định các chiến lược phát triển? Đương nhiên, có rất nhiều kênh thông tin để tìm hiểu. Trong đó, các ngành khoa học xã hội và nhân văn sẽ là "phương tiện" giúp ích rất lớn cho việc nhận thức về miền núi phía Tây Nghệ An.

          Thực ra, quay lại lịch sử khai mở và phát triển miền núi phía Tây Nghệ An đương nhiên có vai trò của các ngành khoa học xã hội, mà đúng hơn là những hiểu biết từ khoa học xã hội đã cung cấp cho các nhà quản lý và hoạch định các chính sách cai quản, phát triển khu vực này. Nhưng trong mấy thập kỷ gần đây, sự phát triển ngày càng phức tạp hơn. Đó là quá trình Kinh hóa, hiện đại hóa, đa dạng hóa, toàn cầu hóa, quá trình hội nhập kinh tế xã hội,… những điều đó làm cho sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa càng mạnh mẽ hơn, sâu sắc hơn, cùng với đó là sự lệ thuộc, liên quan đến nhau giữa các cộng đồng, các vấn đề. Nó tạo thành một mạng lưới các yếu tố phát triển có liên quan mật thiết với nhau. Nếu không nhìn nhận được một cách bao quát cũng như hiểu được những vấn đề cụ thể thì thật khó để xây dựng các dự án phát triển hợp lý. Và nhận thức thế nào để có thể đưa ra được những dự án, chính sách phát triển hợp lý hơn? Đó chính là thách thức trong quá trình hoạch định chiến lược phát triển miền núi phía Tây Nghệ An hiện nay. Nó đặt ra yêu cầu phải quay lại xem xét vai trò của khoa học xã hội và nhân văn trong việc phát triển bền vững ở khu vực này. Tại sao phải là phát triển bền vững? Bởi đây là xu hướng phát triển mà nhân loại đang đề cao và các quốc gia trong đó có Việt Nam đang theo đuổi; Bởi đây là con đường phù hợp nhất để phát triển cho một khu vực đa dạng và phức tạp như ở đây. Phát triển kinh tế xã hội gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa xã hội và cân bằng giữa các mục tiêu khác nhau.

2.2. Quy trình tác động của khoa học xã hội nhân văn đến một dự án, chính sách phát triển

          Cần đặt vấn đề rằng: khoa học xã hội nhân văn cần làm những gì để góp phần vào việc xây dựng các dự án, các chính sách phát triển miền núi phía Tây, qua đó góp phần làm cho người dân miền núi thêm no ấm? Như Carol Hirschon Weiss đã tổng kết về vai trò của các ngành khoa học xã hội ở trên, chúng ta cần xem xét vai trò này đối với miền núi Nghệ An.

          Thứ nhất, các ngành khoa học xã hội nhân văn cần đi vào khảo sát, tìm hiểu và mô tả các thực trạng phát triển ở miền núi hiện nay. Qua đó phát hiện các vấn đề bất cập gây hạn chế cho quá trình phát triển hay tạo nên những nguy cơ gây xung đột xã hội. Muốn làm được điều này thì các nhà khoa học xã hội nhân văn phải dấn thân vào quá trình nghiên cứu nghiêm túc. Từ việc khảo cứu lịch sử hình thành, phát triển của khu vực này, lịch sử hình thành và đặc trưng văn hóa của các cộng đồng tộc người ở đây. Nó vẫn còn là "khoảng trống" trong nghiên cứu về Nghệ An. Điểm qua điểm lại cũng chẳng được bao nhiêu nghiên cứu liên quan đến vấn đề này. Đương nhiên là nhiều người có thể kể ra hàng loạt các sách báo liên quan, từ lịch sử địa phương đến các địa chí của các huyện thị, rồi các cuốn sách, báo khác. Tôi không có ý coi nhẹ giá trị của các sách báo này, nhưng để nói về việc đóng góp vào quá trình nhận thức và xây dựng chính sách, dự án phát triển miền núi thì các sách báo này chưa đảm bảo được chất lượng và cần phải cẩn thận khi tham khảo.

          Thứ hai, sau khi phát hiện và mô tả các vấn đề xã hội của miền núi phía Tây thì các nhà khoa học xã hội nhân văn cần đi sâu tìm hiểu, phân tích nguồn gốc của các vấn đề đó và nguyên nhân làm gia tăng các vấn đề đó cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến các vấn đề đó. Ví dụ như việc trong khi kinh tế xã hội ở miền núi Nghệ An vẫn còn chậm phát triển thì văn hóa truyền thống tộc người bị mai một, mất mát nhanh chóng. Muốn hiểu được vấn đề này lại phải nghiên cứu các vấn đề cách đây nửa thế kỷ, đó là việc hoạch định phát triển miền núi từ giữa thế kỷ XX như thế nào? Việc đưa người miền xuôi lên miền núi ồ ạt, rồi xây dựng các nông lâm trường, xây dựng hệ thống hợp tác xã… Những vấn đề này tác động như thế nào đến đời sống văn hóa tộc người sẽ là cơ sở để trả lời cho câu hỏi phía trên. Nhưng thử hỏi, chúng ta có bao nhiêu nghiên cứu có chất lượng về ảnh hưởng của việc di cư miền xuôi lên miền ngược, tác động của các nông trường, lâm trường và kinh tế hợp tác xã đến văn hóa xã hội các cộng đồng tộc người ở miền núi Nghệ An? Rất hạn chế nếu không muốn nói là thiếu trầm trọng các nghiên cứu như vậy. Thế nên chẳng có gì lạ khi trong nhiều năm gần đây chúng ta gặp phải lúng túng trong việc xây dựng dự án và chính sách phát triển miền núi.

          Thứ ba, sau khi phân tích rõ nguồn gốc và các yếu tố tác động, các nhà khoa học xã hội phải đi nghiên cứu những phương pháp xử lý đối chứng để đề xuất những chính sách, dự án tối ưu cho các nhà quản trị xã hội và hoạch định phát triển theo đuổi. Đây là giai đoạn nhà khoa học xã hội nhân văn phải thể hiện được sự tương tác của mình với các nhà hoạch định chính sách, dự án phát triển, các nhà quản trị xã hội. Không chỉ nghiên cứu, đề xuất các chính sách khả thi nhất, tối ưu nhất mà nhà nghiên cứu còn phải làm thế nào để thuyết phục các nhà quản lý nghe theo mình, chấp nhận các phương án chính sách do nhà nghiên cứu tư vấn, đưa ra. Nếu không thì mọi công sức nghiên cứu đã bị lãng phí đi rất nhiều.

          Và cuối cùng, sau khi các nhà quản lý chấp nhận các phương án mà các nhà nghiên cứu khoa học xã hội đưa ra thì các nhà nghiên cứu tiếp tục đồng hành với các nhà quản lý trong việc thực hiện các chính sách, dự án phát triển. Nghiên cứu lúc này tập trung vào việc đánh giá mức độ tác động đến các bên liên quan của dự án, dự đoán các hậu quả, hệ quả của dự án đối với cộng đồng. Những nghiên cứu lúc này phải thật khách quan, hoặc vì lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân, hoặc vì cực đoan, bảo vệ ý kiến, quan điểm của mình mà đánh giá sai thì hệ lụy sẽ vô cùng lớn. Các nhà nghiên cứu sau khi phân tích kỹ các tác động thì tiếp tục tư vấn cho nhà quản lý nên tiếp tục dự án hay dừng dự án lại hay thay đổi sao cho hợp lý và hiệu quả.

          2.3. Các yếu tố để xác lập vai trò của khoa học xã hội nhân văn trong quá trình phát triển miền núi

          Khoa học xã hội nhân văn, xét cho cùng là một yếu tố mang tính nhận thức luận trong quá trình phát triển, dù rằng trong nó cũng bao gồm nhiều lĩnh vực ứng dụng quan trọng đã được xác nhận. Vậy nên nó có xác lập và khẳng định được vai trò trong quá trình phát triển hay không cũng cần có những điều kiện chủ quan và khách quan. Vậy nên cần phải phân tích các yếu tố tác động đến nó.

          Trước hết, xét ở khía cạnh chủ quan, nền khoa học xã hội nhân văn hiện tại có đáp ứng được nhu cầu của phát triển và đủ sức để khẳng định vị thế của mình hay không? Chính các nhà khoa học xã hội nhân văn phải tự xác lập cho mình điều đó. Đây là yếu tố tiên quyết nhưng cũng là một hạn chế khó khăn trong quá trình phát triển miền núi Nghệ An. Đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn ở Nghệ An còn mỏng, chất lượng chưa cao, trong khi đó việc mời gọi, tạo điều kiện cho các chuyên gia nghiên cứu trong và ngoài nước đến nghiên cứu còn hạn chế. Cho đến nay, chúng ta không có nhiều những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài về miền núi Nghệ An. Trong khi thực tế, sức hấp dẫn về mặt văn hóa ở đây không thua các khu vực miền núi khác là bao. Còn đội ngũ cán bộ nghiên cứu tại chỗ thì chất lượng vẫn còn là câu hỏi lớn. Thêm nữa, thiếu những nhà khoa học đầu đàn để tổ chức các nghiên cứu có quy mô và tập hợp được nhiều người cùng thực hiện. Đã vậy, hầu hết đội ngũ nghiên cứu lại tiếp cận các vấn đề nghiên cứu khá sơ sài, như nhân viên văn phòng đi tìm tài liệu mà thiếu những phương pháp điều tra khảo sát cụ thể, tỉ mỉ và thiếu cả cơ sở lý thuyết để tiếp cận vấn đề. Vậy nên, nhìn chung những dự án nghiên cứu khoa học xã hội ở địa phương có chất lượng còn thấp, hầu hết sau khi hoàn thành đều đưa vào tủ kính mà ít khi đưa được vào cuộc sống. Cũng có thể đó là một may mắn, bởi với những nghiên cứu mà hệ thống thông tin tư liệu không đầy đủ, khảo sát không cặn kẽ, phương pháp tiếp cận không hợp lý và lý thuyết để giải thích không vững vàng thì nếu vận dụng vào quá trình phát triển có thể gây nên những hệ lụy khôn lường. Chúng ta phải bỏ ngay suy nghĩ rằng khoa học xã hội nhân văn không tác động trực tiếp đến cuộc sống. Nhìn lại những vấn đề cấp bách của miền núi, vùng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay đều là hậu quả của các chính sách dân tộc, chính sách phát triển không hợp lý từ giữa thế kỷ XX, khi nhấn mạnh đến việc phải đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, đưa người dân tộc thiểu số phát triển kịp người Kinh. Như nhà nghiên cứu dân tộc học Mai Thanh Sơn nhận định: "Việc lấy người Kinh làm khuôn mẫu chung để "phát triển" văn hóa miền núi và vùng dân tộc thiểu số hiển nhiên là một sai lầm tệ hại. Nó hoàn toàn đi ngược lại với quy luật tự nhiên của đa dạng văn hóa". Vậy nên, khi nhà khoa học xã hội đưa ra những phương án tư vấn cho các nhà quản lý cần phải nghiêm túc và khách quan, đảm bảo tính khoa học trong các nghiên cứu của mình. Bên cạnh đó, nhà khoa học cũng cần có cả những năng lực hợp tác làm việc với các nhà quản lý phát triển.

          Thứ hai, để khoa học xã hội nhân văn góp phần vào phát triển miền núi thì cũng cần có những người quản lý, những người hoạch định chính sách có tài, có tâm, có tấm lòng cầu thị và lắng nghe những ý kiến từ các nhà khoa học. Thực tế cho thấy nhiều nhà quản lý phát biểu thể hiện sự trân trọng các nhà nghiên cứu và coi trọng công tác nghiên cứu khoa học xã hội nhưng hầu hết đó là về mặt diễn ngôn. Còn thực tế có lẽ không như vậy. Bằng chứng là chẳng mấy khi thấy các nhà quản lý đối thoại thật sự cởi mở với các nhà nghiên cứu trong các vấn đề xã hội. Và cả khi có rất nhiều nhà khoa học xã hội ý kiến về các vấn đề xã hội cũng chẳng mấy trường hợp được tiếp thu và xử lý. Vậy nên, để có những nhà quản lý coi trọng và hợp tác mật thiết với các nhà nghiên cứu khoa học xã hội trong việc hoạch định các dự án phát triển. Trong phát triển miền núi Nghệ An, việc các nhà quản lý địa phương cấp thấp để hợp tác với các nhà khoa học là hạn chế, trong khi quản lý cấp cao hơn vẫn chưa thực sự thể hiện vai trò trong vấn đề này.

          Thứ ba, một nhân tố quan trọng trong việc hợp tác nghiên cứu và thúc đẩy khoa học xã hội vào quá trình phát triển là các doanh nghiệp. Việc các doanh nghiệp hợp tác với các nhà khoa học trong việc nghiên cứu và đưa ra các dự án phát triển là một chuyện bình thường. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, điều đó không thể hiện rõ ràng ở miền núi Nghệ An. Các doanh nghiệp ở miền núi chủ yếu là vừa và nhỏ, chưa đủ ngân quỹ để đầu tư các dự án nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn. Các doanh nghiệp lớn nếu đầu tư phát triển ở miền núi thì chủ yếu cấu kết với các nhà quản lý nhằm khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên là chủ yếu và rất ngại việc để các nhà khoa học xã hội vào nghiên cứu vì sợ rò rỉ các thông tin không minh bạch.

          Thứ tư, cũng là yếu tố rất quan trọng, đó là môi trường xã hội để thúc đẩy khoa học xã hội phát triển. Đó là môi trường dân chủ, tiến bộ, tôn trọng lao động trí thức, tôn trọng sự hợp tác giữa các nhà khoa học, các nhà quản lý và các nhà doanh nghiệp. Chỉ có môi trường lành mạnh như vậy thì khoa học xã hội mới phát triển và mối liên kết giữa các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý và các nhà doanh nghiệp mới được đảm bảo. Một thực tế là trong nhiều năm qua, các nhà nghiên cứu, các nhà doanh nghiệp và các nhà quản lý cứ mạnh ai nấy làm, thiếu sự hợp tác với nhau trong việc xây dựng các dự án phát triển. Các nhà nghiên cứu sau khi hoàn thành nghiên cứu của mình và bảo vệ thành công trước hội đồng thì coi như xong việc và gần như ít quan tâm đến việc đưa kết quả đó vào ứng dụng. Trong khi các nhà quản lý khi cần vẫn trao đổi, thảo luận với các nhà khoa học, nhưng cơ bản là mang tính hình thức, mang tính diễn ngôn còn thực tế lại chưa hẳn cầu thị để nghe những ý kiến nghiêm túc. Trong nhiều dự án phát triển, khi các nhà nghiên cứu phát hiện các vấn đề bất cập thì thường ngại nói vì sợ đụng chạm, hoặc có nói thì cũng chỉ nói tránh nói né, không nghiêm túc phân tích cái được, cái mất một cách thẳng thắn nhằm tìm giải pháp khắc phục. Trong khi đó các doanh nghiệp lại chạy theo lợi nhuận, có phần không coi trọng các nhà nghiên cứu nhưng lại móc ngoặc với các nhà quản lý để khai thác tài nguyên.

          Nói tóm lại, muốn khẳng định và phát huy được vai trò của các ngành khoa học xã hội nhân văn trong quá trình phát triển miền núi phía Tây Nghệ An, thì cần có nhiều yếu tố. Trong đó, quan trọng là phải có đội ngũ nghiên cứu khoa học có tri thức, phương pháp nghiên cứu, có tinh thần khoa học khách quan, chấp nhận sự dấn thân vào những cuộc khảo sát nghiên cứu tỉ mỉ và có năng lực hợp tác, bản lĩnh để đưa được những kết quả nghiên cứu khoa học nghiêm túc vào các dự án phát triển; Phải có những người làm quản lý biết tôn trọng tinh thần khoa học, có thái độ nghiêm túc, cầu thị, lắng nghe và hợp tác với các nhà nghiên cứu; Có các doanh nghiệp biết nhìn xa trông rộng, hướng đến làm ăn lâu dài, bền vững chứ không phải làm ăn chộp giật; Và có một môi trường lành mạnh, dân chủ, tiến bộ để phát triển. Giống như Carol Hirschon Weiss đã nhấn mạnh: "Điều kiện thuận lợi để sử dụng công trình nghiên cứu bao gồm một hệ thống chính trị mở, coi trọng tính duy lý, một cộng đồng tích cực những nhà nghiên cứu chuyên tâm về các công trình quan hệ với chính sách công, các dòng kênh vững chắc có khả năng phổ biến kết quả nghiên cứu. Nó cũng bao gồm sự đối thoại thường xuyên giữa người nghiên cứu và ra quyết định, những người ra quyết định này có trình độ đủ về lĩnh vực khoa học xã hội để có khả năng đánh giá và hiểu được những thông điệp ấy" (Carol Hirschon Weiss, 2007: trang 473).

Tài liệu tham khảo

1. Vi Văn An (2017): Người Thái ở miền Tây Nghệ An, Nxb Thế giới.

2. Chu Tiến Ánh và Vương Toàn dịch, Phạm Khiêm Ích biên tập và giới thiệu (với sự cộng tác của nhiều người) (2007): Khoa học xã hội trên thế giới, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

3. Carol Hirschon Weiss (2007): Các liên hệ giữa nghiên cứu và chính sách công: nghiên cứu khoa học có ảnh hưởng như thế nào? In trong "Khoa học xã hội trên thế giới", Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007.

4. Nguyễn Đình Lộc (1993): Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An, Nxb Nghệ An.

5. Bùi Dương Lịch: Nghệ An ký, Nxb Khoa học Xã hội.

6. Nhiều tác giả (2015), Nhân học phát triển: lịch sử, lý thuyết và công cụ thực hành, (Nguyễn Văn Sửu tuyển chọn), Nxb Tri thức, Hà Nội.

7. Neefies, Koos (2008), Môi trường và sinh kế: các chiến lược phát triển bền vững, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

8. Phỏng vấn Mai Thanh Sơn, ngày 30/11/2018.

9. Oscar Salemink (2008), Một góc nhìn từ vùng cao: phần lịch sử quan trọng về mối quan hệ giữa đồng bằng và miền núi ở Việt Nam, In trong "Thời kỳ mở cửa: Những chuyển đổi kinh tế - xã hội ở vùng cao Việt Nam", Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, tr. 11-36.

 

Huỳnh Thanh Điền

Phó Chủ tịch UBND tỉnh

          Hoạt động khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh trong những năm gần đây được tăng cường chỉ đạo, tạo chuyển biến tích cực và từng bước tham gia phục vụ cho sự đổi mới và phát triển của tỉnh. Nhận thức về vai trò của KH&CN ở các cấp, các ngành, các thành phần kinh tế và nhân dân bước đầu đã có chuyển biến, các định hướng, chính sách về khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội là đúng hướng. Hoạt động KH&CN của tỉnh với nhiều cách làm đổi mới, sớm tiếp cận với doanh nghiệp, phối hợp cùng doanh nghiệp cùng đầu tư cho KHCN. Nhiều kết quả nghiên cứu, nhiều tiến bộ KH&CN được áp dụng mang lại hiệu quả cao trong sản xuất và đời sống, góp phần tạo ra một số sản phẩm hàng hóa có chất lượng. Khẳng định việc ứng dụng khoa học công nghệ trên địa bàn phát huy kết quả và thể hiện cụ thể như:

          Cấp ủy và chính quyền các cấp đã ban hành chủ trương lớn và một số chính sách về phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN), trong đó nổi bật như: Quy hoạch phát triển KH&CN đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030; Nghị quyết của BCH Đảng bộ tỉnh về phát triển KH&CN; Đề án khung các nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen; Đề án đổi mới công tác truyền thông KH&CN; Đề án KH&CN phục vụ phát triển kinh tế xã hội miền Tây Nghệ An; Đề án phát triển Nghệ An thành trung tâm KH&CN vùng Bắc Trung bộ; Kế hoạch phát triển thị trường KH&CN; Chương trình phát triển tài sản trí tuệ và kế hoạch hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra, tỉnh ban hành một số cơ chế, chính sách tạo môi trường dân chủ, công khai, thuận lợi cho trí thức KH&CN lao động, sáng tạo phục vụ phát triển KH&CN, kinh tế - xã hội của tỉnh (giải thưởng sáng tạo KH&CN; tôn vinh các nhà khoa học, quản lý có đóng góp).

          Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tập trung đầu tư triển khai 6 chương trình KH&CN trọng điểm (chiếm 70-75% ngân sách SNKH): nông nghiệp, y dược, KHXH&NV, công nghệ cao, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, KH&CN phục vụ phát triển kinh tế xã hội các huyện, thành, thị. Hoạt động khoa học và công nghệ đã đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, mà nổi bật nhất là chỉ số năng suất tổng hợp - TFP của tỉnh tăng từ 25% (năm 2015) lên 30% (năm 2017), trung bình các giai đoạn là 27%. 

          Tập trung ưu tiên các đề tài, dự án có tính ứng dụng, tính thực tiễn, khả năng nhân rộng và sản phẩm thương mại hóa cao. Nhất là các dự án gắn với các doanh nghiệp sẵn sàng có chiến lược kinh doanh chế biến ngay trên địa bàn và liên kết với nông dân, có đến 50-60% nhiệm vụ KH&CN ở dạng dự án và có doanh nghiệp tham gia. Ưu tiên các đề tài, dự án nghiên cứu phát triển các sản phẩm theo chuỗi từ khâu giống, quy trình thâm canh (nuôi trồng), thu hoạch sản phẩm, chế biến sau thu hoạch và phát triển thị trường sản phẩm. Tập trung vào các sản phẩm chủ lực của tỉnh, sản phẩm đặc sản có tính hàng hóa ở các địa phương. Thực hiện chương trình 100 sản phẩm hàng hóa có tác động của KH&CN trên địa bàn toàn tỉnh gắn với thương hiệu Nghệ An.

          Nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH&NV đã mang đến một số nhận thức mới, cách tiếp cận mới, giải pháp mới và cung cấp một số luận cứ khoa học về hoạch định quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đã tư liệu hóa, văn tự hóa những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, nghiên cứu văn hóa, lịch sử truyền thống của địa phương, ngành. Điều tra XHH được đẩy mạnh và cung cấp thông tin, dư luận xã hội phục vụ cho các cơ quan quản lý.

          Lĩnh vực y tế: các kết quả nghiên cứu mô hình bệnh tật cho cộng đồng làm cơ sở cho các cấp các ngành vận dụng trong chỉ đạo cơ quan quản lý y tế các cấp về công tác dự phòng, nhằm tăng cường sức khỏe, tăng cường chất lượng cuộc sống cho cộng đồng. Nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật mới trong điều tṛị một số bệnh, như: Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm; điều trị bệnh ưng thư phổi không tế bào nhỏ bằng đốt sóng cao tần dưới hướng dẫn của robot; ứng dụng công nghệ tế bào gốc trong điều trị bệnh và thẩm mỹ; ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh. Nghiên cứu bảo tồn, phát triển các nguồn dược liệu quý hiếm; ứng dụng công nghệ sản xuất, bào chế một số dược liệu có nguồn nguyên liệu tại Nghệ An. Ứng dụng công nghệ cao trong điều trị như kỹ thuật thụ tinh nhân tạo; tế bào gốc; ứng dụng công nghệ robot trong đốt sóng cao tần điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ, trong mổ u mô tuyến giáp rỗng...

          Một số công nghệ mới, sản phẩm mới đã và đang được ứng dụng mang lại hiệu quả cao, như: Công nghệ nuôi trồng và chế biến Tảo xoắn; Công nghệ chế biến sản phẩm chức năng Nattokinase; Chiết xuất bào chế các dạng thuốc từ dược liệu; chiết xuất Chlorophil E6 từ tảo xoắn…. Nghiên cứu, lựa chọn các công nghệ sản xuất sạch hơn trong công nghiệp và các ngành dịch vụ.

          Hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, đổi mới công nghệ theo Quyết định số 24/2014/QĐ-UBND/2014 về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Xây dựng và hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, các hệ thống quản lý, mô hình, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng làm cơ sở quan trọng cho việc quản lý, bảo đảm an toàn, vệ  sinh, bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh, tăng cường xuất khẩu cho các doanh nghiệp trên địa bàn. Tổ chức tốt công tác Giải thưởng chất lượng quốc gia hàng năm, năm 2017 Nghệ An vinh dự có 3 doanh nghiệp được trao thưởng, trong đó Công ty Lương thực thực phẩm Nghệ An thuộc Tổng Công ty Vật tư nông nghiệp Nghệ An được trao giải Vàng.

          Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh bước đầu được hình thành và đạt được những kết quả khả quan: Năm 2018 lần đầu tiên tổ chức cuộc thi Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh và trao giải cho 10 dự án khởi nghiệp xuất sắc; các nhà đầu tư đã trao tiền hỗ trợ trực tiếp cho 2 dự án và 8 dự án được các nhà đầu tư ký kết hợp tác hỗ trợ đầu tư. Tổ chức cuộc thi "Tìm kiếm tài năng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo vùng Bắc Trung bộ 2018" đã chọn 16 dự án có ứng dụng thực tế, có những sản phẩm đã cho ra thị trường với tính thương mại hóa cao vào vòng chung kết. Phối hợp với Đài Truyền hình xây dựng Chương trình "Khởi nghiệp" giới thiệu, tôn vinh các tấm gương khởi nghiệp, đồng thời tạo cơ hội để các startup được gặp gỡ các chuyên gia, các nhà quản lý để chia sẻ kinh nghiệm, tháo gỡ khó khăn về khởi nghiệp. Tổ chức thành công Khóa đào tạo khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh thu hút gần 100 các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp; các nhà đầu tư và nhà hoạch định chính sách tham gia. Thông qua các hoạt động, nhiều dự án đã được "tiếp sức" để phát triển. Đặc biệt, Dự án Nâng cao giá trị cam Vinh thông qua phát triển sản phẩm chế biến và du lịch trải nghiệm vườn cam của Công ty CP Trang trại nông sản Phủ Quỳ được Vietnam Silicon Valley (VSV) bình chọn là dự án hay nhất 2018, được trao thưởng 2000USD..

          Công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ được quan tâm triển khai, hiện có 17 đối tượng được cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu tập thể, 1 nhãn hiệu chứng nhận và 1 chỉ dẫn địa lý đối với thương hiệu cam Vinh. Hầu hết, những sản phẩm được cấp quyền bảo hộ trí tuệ đều là những sản vật, thực phẩm có tiếng như: trám đen Thanh Chương, cam Vinh, gà đồi Thanh Chương, tôm nõn Diễn Châu, mực khô Quỳnh Lưu, cá thu nướng Cửa Lò, mật mía làng Găng... Từ năm 2017 đã tổ chức Hội chợ Cam Vinh đạt được hiệu ứng tốt, dán tem truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm Cam và đến nay trên 30 sản phẩm nông nghiệp của tỉnh dán tem truy xuất nguồn gốc góp phần tăng thêm chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp và phát triển thương hiệu nông sản Nghệ An.

          Nhiều hoạt động kết nối cung - cầu công nghệ được triển khai như tổ chức đoàn tham gia Diễn đàn Xúc tiến chuyển giao công nghệ Việt Nam - Lào 8/2018, Nghệ An đã trình diễn một số công nghệ và ký hai hợp đồng chuyển giao công nghệ cho nước bạn Lào. Tổ chức gần 10 cuộc hội nghị kết nối cung - cầu công nghệ, mở ra những cơ hội hợp tác, chuyển giao, đổi mới công nghệ với các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp. Đặc biệt, tháng 10/2018 ra mắt Sàn tri thức Novelind Nghệ An với mạng lưới các nhà khoa học 3 miền Bắc - Trung - Nam tham gia vào 50 lĩnh vực nghiên cứu với mục tiêu làm cầu nối giữa nhà khoa học và doanh nghiệp thông qua giải quyết các thách thức từ doanh nghiệp bằng kết quả nghiên cứu từ nhà khoa học. Đây cũng là bước đệm tạo nên hệ sinh thái khoa học công nghệ, nơi mà doanh nghiệp và nhà khoa học chia sẻ, hỗ trợ cho nhau trên 3 yếu tố của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là: nghiên cứu - đào tạo - sản xuất.

          Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch ngày càng được chú trọng phát triển. Hiện tổng diện tích canh tác nông nghiệp ứng dụng CNC là 9.502 ha, chiếm 3,1% diện tích canh tác nông nghiệp. Giá trị sản xuất bình quân từ 200-250 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 2-3 lần so với sản xuất nông nghiệp đại trà. Tổng đàn bò sữa được nuôi ứng dụng CNC đạt 47.600 con; Tổng đàn lợn được nuôi ứng dụng CNC đạt 13.300 con; Chăn nuôi trang trại có ứng dụng công nghệ cao gần 70 trang trại, đạt khoảng 15% tổng số trang trại, gia trại chăn nuôi. Tổng diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng áp dụng quy trình VietGap đạt 150 ha, chiếm 8% diện tích nuôi tôm, lợi nhuận thu đượt tăng từ 20-30% so với nuôi truyền thống. Tỷ trọng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm khoảng 5-10% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp; năng suất, giá trị sản phẩm cây trồng vật nuôi được ứng dụng CNC tăng 20 - 40%, lợi nhuận cho người sản xuất tăng trên 30% so với doanh thu.

          Trên địa bàn tỉnh hiện có 12 doanh nghiệp hoạt động khoa học công nghệ và ứng dụng CNC trong nông nghiệp (7 doanh nghiệp hoạt động KH&CN, 5 doanh nghiệp ứng dụng công nghệ trong trong sản xuất nông nghiệp và 1 trạm nghiên cứu ứng dụng nông nghiệp CNC). Đây là những doanh nghiệp đi đầu trong ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, tạo sức lan tỏa trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của tỉnh. Các công nghệ tiên tiến được áp dụng như công nghệ giống; công nghệ nhà kính hiện đại; công nghệ thông tin điều khiển tự động về tưới tiết kiệm nước, nhiệt độ, độ ẩm, dinh dưỡng, ánh sáng. Một số doanh nghiệp đã đầu tư thành lập Viện nghiên cứu, Trung tâm nghiên cứu như Tập đoàn TH True milk thành lập Viện Bò Sữa, Tổng Công ty vật tư nông nghiệp thành lập Trung tâm Giống, Công ty Nafood thành lâp Viện Trung tâm nghiên cứu và phát triển cây trồng Nafood … tập trung nguồn lực cho công tác nghiên cứu, ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh; đầu tư cơ sở vật chất tương đối hiện đại, đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.

          Trong lĩnh vực xây dựng, khai thác khoáng sản ứng dụng máy cắt đá bằng dây công nghệ CNC; Lĩnh vực giao thông đã ứng dụng công nghệ vật liệu nhẹ, rỗng, cốt thép siêu cường lực; Lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ứng dụng công nghệ sơn tĩnh điện công nghệ cao, ứng dụng công nghệ sản xuất viên củi nén... các công nghệ được áp dụng đã góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất. Công nghệ cao trong công nghiệp đã thu hút các doanh nghiệp điện, điện tử, năng lượng mặt trời, chế biến thủy sản, bột đá siêu mịn... Ứng dụng công nghệ cao trong ngành tài chính, ngân hàng như điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, ngân hàng điện tử, fintech hay công nghệ robot đã và đang được phát triển và ứng dụng vào hoạt động ngân hàng.

          Phát triển tiềm lực KH&CN: Tổng số các tổ chức KH&CN trên địa bàn có tham gia hoạt động nghiên cứu triển khai là 62 đơn vị; các đơn vị nghiên cứu triển khai trên lĩnh vực nông nghiệp - thuỷ sản và y tế chiếm tỷ lệ cao. Có 6 trường đại học, 13 trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cung cấp cho vùng và trong cả nước. Có 6 đơn vị KH&CN của các Bộ đóng trên địa bàn, phạm vi hoạt động mang tính vùng: Viện Khoa học - Kỹ thuật nông nghiệp vùng Bắc Trung bộ; Trung tâm Khí tượng - Thuỷ văn Bắc Trung bộ, Phân Viện   nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Bắc Trung bộ, Chi cục Thú y vùng 4, Trung tâm bảo vệ thực vật vùng 3, Đại học Vinh, Đại học Sư phạm kỹ thuật Vinh. Có 4 đơn vị KH&CN tỉnh đã có liên kết hoạt động KHCN trong vùng: Trung tâm kiểm nghiệm Mỹ phẩm - Dược phẩm Nghệ An, Trung tâm kiểm định xây dựng, Viện Quy hoạch và kiến trúc, Trung tâm Kỹ thuật đo lường, thử nghiệm thuộc Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng.

          Thiết bị, máy móc và năng lực kiểm tra, thử nghiệm của các phòng thí nghiệm trên địa bàn tỉnh ngày càng được nâng lên. Đặc biệt Trường Đại học Vinh đã tiếp nhận, chuyển giao các trang thiết bị mới cho 02 phòng thí nghiệm hiện đại nhất trong các trường đại học trên cả nước và đưa vào phục vụ đào tạo, nghiên cứu gồm: Phòng thí nghiệm công nghệ thực phẩm (năm 2017, vốn đầu tư 48 tỷ đồng); Phòng thí nghiệm công nghệ hóa dược (năm 2018, vốn đầu tư 40 tỷ đồng).

          Phát triển đội ngũ trí thức KH&CN: Theo số liệu điều tra 237 đơn vị là các cơ quan QLNN, viện nghiên cứu, tổ chức KH&CN, trung tâm, trạm trại, trường đại học, cao đẳng, trường trung cấp, trường PTTH và các DN KH&CN trên địa bàn tỉnh: Tổng nhân lực KHCN hiện có 49.342 người có trình độ đại học trở lên, trong đó: 4.989 thạc sỹ, 421 tiến sỹ, 75 phó giáo sư và 5 giáo sư. Nhân lực chất lượng cao tập trung chủ yếu ở các trường đại học, cao đẳng. Hiện nay đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ phủ hết ở tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên về cơ cấu vẫn còn bất hợp lý. Lĩnh vực GD-ĐT có đội ngũ cán bộ đông nhất, lĩnh vực nông nghiệp là một trong những lĩnh vực kinh tế kỹ thuật có số đơn vị và số lượng cán bộ KH-CN lớn. Nhưng đội ngũ cán bộ triển khai, đầu ngành còn thiếu. Một số ngành còn thiếu như hóa thực phẩm, chế biến nông lâm sản,...

          Công tác quản lý chất lượng được quan tâm và phong trào sáng tạo KH&CN của các tầng lớp nhân dân được phát triển, có nhiều đóng góp thiết thực cho sản xuất và đời sống.

          Bên cạnh những kết quả đã đạt được hoạt động KH&CN còn một số tồn tại, hạn chế như: Công tác quản lý nhà nước về KH&CN vẫn chưa mạnh, chưa đồng đều trong các cấp, các ngành. Việc nhân rộng các đề tài, dự án KH&CN chưa nhiều, chưa như mong muốn. Xã hội hóa nguồn lực đầu tư cho KH&CN vẫn còn chưa cao. Các đề tài, dự án nghiên cứu đồng bộ để phát triển theo chuỗi cho các sản phẩm chủ lực chưa nhiều. Phát huy tiềm lực KH&CN của các viện, trường trên địa bàn kết quả chưa cao. Ứng dụng và phát triển công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao còn ít, chủ yếu tập trung một số sản phẩm trong nông nghiệp (Rau sạch, bò sữa, tảo xoắn...) và các dự án thu hút đầu tư. Trình độ công nghệ của doanh nghiệp ở Nghệ An nhìn chung còn thấp.

          Để tiếp tục khẳng định vai trò KH&CN phục vụ phát triển KTXH trong thời gian tới tập trung một số định hướng:

          (1) Triển khai có hiệu quả Nghị quyết 06-NQ/TU ngày 14/12/2016 của BCH Đảng bộ tỉnh về phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025.

          (2) Tăng cường công tác quản lý nhà nước về KH&CN trên các lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng; quản lý chất lượng, sở hữu trí tuệ, năng suất chất lượng, truyền thông KH&CN.

          (3) Nâng cao chất lượng, ứng dụng thực tiễn phục vụ phát triển kinh tế xã hội của các đề tài, dự án KH&CN. Trong lĩnh vực xã hội tập trung nghiên cứu bản sắc người Nghệ, nghiên cứu văn hóa, nghiên cứu xã hội, đạo đức, nông thôn mới, nghiên cứu trong khoa học quản lý...

          (4) Phát triển doanh nghiệp, nền tảng là kinh tế tư nhân. Lấy doanh nghiệp làm chủ thể của quá trình nghiên cứu. Có chính sách thu hút và tạo môi trường cho các doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp KH&CN.

           (5) Cách mạng công nghệ 4.0 là cơ hội để Nghệ An thúc đẩy KH&CN là động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng cho Nghệ An, nên tập trung thúc đẩy công nghệ số, công nghệ thông tin truyền thông, phần mềm, chính phủ điện tử, thương mại điện tử.

          (6) Phát triển mạnh các thành tố cơ bản của hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Xây dựng môi trường sinh thái ươm dưỡng doanh nghiệp, công nghệ để Nghệ An trở nên hấp dẫn hơn. Thành lập trung tâm đổi mới sáng tạo tại Nghệ An.

           (7) Phát triển nguồn lực phục vụ phát triển KTXH của tỉnh: Có chính sách thu hút các nhà khoa học tại tỉnh phát huy được trí tuệ sáng tạo của mình và thu hút được các nhà khoa học là con em Nghệ An và cả nước luôn luôn quan tâm tham gia các chương trình khoa học của tỉnh. Khuyến khích, thu hút người Nghệ An là nhà khoa học trong toán học, kinh tế,… Có chính sách để thu hút các nhà khoa học về thành lập doanh nghiệp, thành lập startup…Thu hút nguồn lực cho khoa học, huy động các lực lượng nghiên cứu của các trường đại học, các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp lớn trên địa bàn; Các nhà khoa học trong và ngoài tỉnh để phục vụ cho phát triển KH&CN.

 

Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trong thời kỳ toàn cầu hóa đã và đang diễn ra mạnh mẽ, tác động đến mọi quốc gia, dân tộc. Tốc độ phát minh khoa học ngày càng gia tăng. Khoảng cách từ phát minh đến ứng dụng rút ngắn. Sự cạnh tranh về công nghệ cao diễn ra quyết liệt. Nhiều tri thức và công nghệ mới ra đời đòi hỏi quá trình giáo dục phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, suốt đời để người lao động có thể thích nghi được với những biến đổi mới của khoa học - công nghệ. Giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ phải được "chuẩn hoá", "hiện đại hoá", và hội nhập quốc tế.

          Trong thời gian vừa qua hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH&CN trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh được quan tâm và một số đề tài, dự án ứng dụng có hiệu quả phục vụ công tác quản lý, giảng dạy như: Nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông trên địa bàn tỉnh; Nghiên cứu, biên soạn tài liệu dạy học lịch sử địa phương ở trường trung học phổ thông; Nghiên cứu biên soạn và triển khai thực hiện chương trình, tài liệu giáo dục an toàn giao thông cho học sinh phổ thông trên địa bàn; Nghiên cứu tâm lý nghề nghiệp và định hướng đào tạo nghề cho học sinh phổ thông tại các huyện miền Tây Nghệ An giúp các em học sinh phổ thông các huyện miền Tây định hướng đúng đắn về việc chọn nghề nghiệp, ngành nghề đào tạo phù hợp với năng lực cá nhân, nhu cầu thị trường lao động để thuận lợi khi chọn việc làm, phát triển nghề nghiệp trong tương lai; Nghiên cứu đề xuất đáp ứng nhu cầu về tiêu chuẩn và số lượng của giáo viên trung học phổ thông tỉnh Nghệ An (2 giai đoạn): Đã xây dựng được mô hình bồi dưỡng kỹ năng dạy học cho giáo viên THPT ở một số môn theo định hướng phát triển năng lực học sinh và thiết kế một số dạng đề thi đánh giá kết quả học tập của HS theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở môn toán và văn; Nghiên cứu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy, học tập dân ca trong trường học để cho mọi người, nhất là thế hệ trẻ tự hào, yêu mến và hiểu biết giá trị của dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, từ đó có ý thức phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống nói chung, dân ca ví giặm nói riêng, có giải pháp tiếp tục gìn giữ, phát huy dân ca trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa... Các nghiên cứu, ứng dụng đã được áp dụng vào thực tiễn giảng dạy, học tập tại các trường PTTH trên địa bàn.

          Hoạt động sáng kiến kinh nghiệm cấp tỉnh được triển khai hàng năm: Trong thời gian gần đây các SKKN được đầu tư có chất lượng và ứng dụng trong giảng dạy, tuy nhiên số lượng đề tài được các tác giả tập trung nhiều nhất vẫn là đề tài khai thác ở các vấn đề chuyên môn, chưa tạo mối liên kết giữa công tác giảng dạy gắn với nghiên cứu khoa học công nghệ.

          Thông qua cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng tỉnh hàng năm đã khơi dậy tiềm năng, phát huy tư duy sáng tạo của thanh thiếu niên nhi đồng; hướng thanh thiếu niên nhi đồng vào các hoạt động khoa học công nghệ, đóng góp công sức, trí tuệ vào nghiên cứu, sáng tạo, nâng cao chất lượng công tác, học tập, lao động sản xuất, làm ra được nhiều sản phẩm thiết thực, hữu ích phục vụ sản xuất đời sống. Tiêu biểu năm 2017, giải Đặc biệt trao cho công trình "Những ứng dụng của VietDe trong đời sống người Việt" của học sinh Trần Mạnh Cường đến từ lớp 12A1, trường THPT Anh Sơn 2 - Đây là phần mềm trong Bộ các sản phẩm ứng dụng tiện ích cho đời sống ứng dụng được thiết kế hoạt động trên nền tảng các thiết bị di động như smartphone, máy tính bảng... Phần mềm này tích hợp nhiều chức năng giúp người dùng sử dụng nguồn tài nguyên trên hệ thống, như học tiếng Anh qua các bài hát; Nhập công thức để vẽ nhanh các đồ thị; chia sẻ và dễ dàng tìm kiếm công thức toán học… Các công trình, sản phẩm dự thi đều có tính mới, tính sáng tạo, khả năng áp dụng, tư duy và khả năng trình bày và ứng dụng trong cuộc sống. Cuộc thi tạo ra môi trường khoa học - kỹ thuật để tuổi trẻ vận dụng những tri thức, kỹ năng để sáng tạo ra những sản phẩm, những giải pháp hữu ích, có hàm lượng trí tuệ cao. Từ đó, góp phần phục vụ sản xuất, đời sống, học tập, rèn luyện và tham gia các hoạt động xã hội. Tạo sân chơi lành mạnh và sáng tạo cho thanh thiếu niên.

          Tuy nhiên, kết nối giữa các bên liên quan trong huy động mọi tiềm năng đội ngũ, cơ sở vật chất, nguồn lực đầu tư để nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu và chuyển giao, giữa nhà trường, viện nghiên cứu với doanh nghiệp và cơ sở sản xuất chưa nhiều và gặp nhiều khó khăn. Sự gắn kết giữa nghiên cứu và giảng dạy còn thấp. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH&CN trong trường học khối PTTH chưa được nhiều, đặc biệt là những nghiên cứu, ứng dụng công nghệ phục vụ giảng dạy đặt ra nhiều thách thức. Đào tạo kỹ năng mềm còn thiếu...

          Và để tạo liên kết giữa nhà trường - nhà khoa học trong thời gian tới cần tập trung một số giải pháp như:

          Đối với hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tập trung: Nghiên cứu các giải pháp nâng cao khoa học quản lý của lĩnh vực giáo dục; Nghiên cứu đổi mới phương pháp giảng dạy, đào tạo học sinh phù hợp, phát huy và khắc phục điểm yếu văn hóa xứ Nghệ; Các giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học - văn hóa, đạo đức, tin học, ngoại ngữ... Các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh cũng như đào tạo nhân lực chất lượng cao. Ứng dụng, chuyển giao, tiếp thu công nghệ mới, CNTT vào công tác quản lý, giảng dạy và học tập của các trường học.

          Tăng cường đẩy mạnh giáo dục theo phương pháp STEM, dã ngoại, tìm hiểu để trang bị cho học sinh kiến thức, kỹ năng để làm việc và phát triển trong thế giới công nghệ hiện đại ngày nay và hướng tới phát triển tư duy sáng tạo. Triển khai ứng dụng công nghệ mới phục vụ cho học tập và giảng dạy, khoa học quản lý giáo dục, bổ sung các môn học robocom. Tổ chức đào tạo một số kỹ năng mềm và địa phương học cho học sinh PTTH.

          Tổ chức các hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh. Kết nối các chương trình dã ngoại cho học sinh ở các lĩnh vực khác nhau như: học sinh phổ thông với trung tâm dạy nghề; học sinh phổ thông với cao đẳng dạy nghề; Tổ chức tham quan tại các Hội chợ công nghệ, thiết bị; Vườn thực nghiệm nông nghiệp; Rừng quốc gia Pù Mát...

          Mời các nhà khoa học, các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nói chuyện, trao đổi trong một số các cuộc sinh hoạt chuyên đề tại trường. Tạo sân chơi cho học sinh, gắn học tập, nghiên cứu với thiên nhiên, cuộc sống để tạo nên sự sáng tạo, ý tưởng để hình thành các ý tưởng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Khuyến khích học sinh trung học nghiên cứu khoa học; sáng tạo kỹ thuật, công nghệ và vận dụng kiến thức của các môn học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn.

          Phát động sâu rộng và hướng dẫn, động viên các học sinh tham gia cuộc thi sáng tạo KHKT dành cho thanh thiếu niên. Phối hợp với các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng; các viện và trung tâm khoa học công nghệ; Sở Khoa học và Công nghệ; Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật; Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; các nhà khoa học trong việc hướng dẫn và đánh giá các dự án khoa học của học sinh; tạo điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị cho học sinh nghiên cứu khoa học và tham gia các Cuộc thi sáng tạo kỹ thuật khoa học.

          Trong một số các môn học kỹ thuật, mời các chuyên gia, kỹ sư có kinh nghiệm về giảng dạy, hướng dẫn kỹ thuật để có thể vừa học lý thuyết, vừa thực hành.

Xây dựng cơ sở dữ liệu để tìm hiểu, nghiên cứu, học tập (thư viện điện tử).

          Phát triển câu lạc bộ KHKT trong các cơ sở giáo dục trung học nhằm tạo môi trường cho học sinh nghiên cứu, chia sẻ về kiến thức, kỹ năng và các sản phẩm NCKH; giúp đỡ học sinh trong việc tiếp cận và vận dụng các phương pháp NCKH và sản phẩm khoa học vào thực tiễn; rèn luyện những kỹ năng cần thiết cho hoạt động NCKH, học tập và trong cuộc sống. Tạo cơ hội để học sinh trung học giới thiệu kết quả nghiên cứu KHKT của mình.

          Kết nối Sở KH&CN làm cầu nối cho các trường THPT tham quan, học tập kinh nghiệm để có những kiến thức thực tiễn, vận dụng kiến thức học tập trong nhà trường để tìm hiểu, nghiên cứu trong thực tiễn tại các trung tâm nghiên cứu, trại thực nghiệm. Bố trí học sinh tham quan, tìm hiểu về các công nghệ, thiết bị, sản phẩm trong các lĩnh vực tại các Hội chợ công nghệ thiết bị. Trong các hội thảo khoa học cấp tỉnh mời các giáo viên có liên quan trong môn học tham gia để bổ sung kiến thức. Đào tạo một số giáo viên về kiến thức khởi nghiệp đổi mới sáng tạo để có những định hướng, truyền cảm hứng sáng tạo cho học sinh.

 

Tóm tắt: Xứ Nghệ gồm Nghệ An và Hà Tĩnh, có nhiều nét tương đồng đến độ xưa nay ít người quan tâm tìm hiểu về sự khác biệt giữa 2 địa phương này. Thực tế, Nghệ An và Hà Tĩnh có nhiều khác biệt lớn, cả về tự nhiên và nhân văn. Về tự nhiên, là sự khác biệt về địa thế, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, thủy văn, thực vật tự nhiên (và cả cây trồng). Về nhân văn, là sự khác biệt về lịch sử định cư, dân tộc thiểu số, một số cách dùng từ ngữ,...

          Có thể do quan niệm về "xứ" chưa thật đầy đủ nên xưa nay, khi nói về "Xứ Nghệ" các tác gia quan tâm nhiều hơn đến những tương đồng về đặc điểm nhân văn xung quanh khu vực hạ du sông Lam để xét một xứ Nghệ "đại đồng" mà ít đề cập sâu đến những "tiểu dị" trong xứ Nghệ.

          Dị/khác giữa Nghệ An và Hà Tĩnh là không tiểu/nhỏ chút nào, cả về tự nhiên và nhân văn. Sau đây chỉ là một số ít trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi.

Kì 1: Tiểu dị về tự nhiên trong xứ Nghệ

          Sự khác biệt giữa Nghệ An và Hà Tĩnh về tự nhiên thể hiện rất rõ từ địa thế theo lí thuyết phong thủy, địa hình, địa chất, khí hậu, thổ nhưỡng, thực vật đến thủy văn.

          1. Tiểu dị về địa thế xét theo lí thuyết phong thủy

          Theo lí thuyết phong thủy, một đơn vị kiến trúc quần cư lớn hay nhỏ đều được quy định: sau lưng là Huyền vũ (rùa đen), trước mặt là Minh đường (phượng hoàng đỏ), bên trái là Thanh long (rồng xanh), bên phải là Bạch hổ (hổ trắng). Quan niệm phong thủy Trung Hoa và Việt Nam thống nhất về địa thế của Huyền vũ và Minh đường: dựa lưng vào huyền vũ có địa thế như lưng rùa và trông ra minh đường thoáng đãng có thể vươn cánh bay xa như phượng hoàng là tốt. Tuy nhiên, về Thanh long và Bạch hổ thì không thống nhất. Phần lớn người Trung Hoa coi địa thế Thanh long phải thấp hơn Bạch hổ mới tốt. Theo họ, Thanh long được quan niệm là dòng sông - hình dáng con rồng chuyển động; Bạch hổ là khối núi - hình dáng con hổ đang ngồi. Dòng sông phải thấp hơn khối núi mới thuận lẽ tự nhiên và ngược lại. Quan niệm của phần lớn người Việt Nam là Thanh long phải cao hơn Bạch hổ thì mới tốt. Theo họ, rồng là biểu tượng quyền lực của bậc đế vương phải vươn cao hơn hổ. Tuy nhiên, đây không phải là quan niệm của tất cả người Việt Nam. Theo chúng tôi, Thanh long thấp hơn Bạch hổ là hợp lí hơn. Thanh long, Bạch hổ nên được quan niệm là linh vật của tự nhiên, không nên theo quan niệm là biểu tượng quyền lực của con người.

          Theo lí thuyết phong thủy, xứ Nghệ có Huyền vũ là dãy Trường Sơn, Minh đường là biển Đông, rất hợp phong thủy.

          Dãy Trường Sơn được các nhà khoa học đánh giá là "Đệ nhất thiên nhiên Đông Dương" về tầm vóc (sự hùng vĩ của núi) và đa dạng sinh học (sự phong phú về sinh vật tự nhiên).

          Về sự hùng vĩ của dãy Trường Sơn, chỉ tính trong xứ Nghệ cũng đã thấy rõ, có 3 đơn vị núi lớn là khối Pù Hoạt, dãy Pu Xai Lai Leng - Rào Cỏ và khối Hoành Sơn.

          Khối Pù Hoạt có đỉnh Pù Hoạt cao 2.452 m. Dãy Pu Xai Lai Leng - Rào Cỏ có dãy Pu Xai Lai Leng (Nghệ An) đỉnh cao 2.711m và dãy Rào Cỏ (Hà Tĩnh) đỉnh cao 2.235m. Khối Hoành Sơn có đỉnh cao nhất 1.046 m [8].

          Đệ nhất về đa dạng sinh học, chỉ tính ở Trường Sơn Bắc đã có 115 loài thú, 416 loài chim, 87 loài bò sát - lưỡng cư, 119 loài cá nước ngọt, 760 loài động vật không xương sống và khoảng 1.500 loài thực vật. Đáng chú ý là có 25 loài thú, 23 loài chim, 17 loài bò sát - lưỡng cư, 9 loài cá, 24 loài thực vật là những loài đặc hữu hẹp, chỉ có ở Trường Sơn Bắc [4].

          Biển Đông là tên gọi riêng của Việt Nam để nói đến vùng biển có tên quốc tế có tên South China Sea (tiếng Anh) hay Mer de Chine méridionale (tiếng Pháp), trải rộng từ Singapore tới eo biển Đài Loan, diện tích khoảng 3.447.000 km²; lớn thứ tư thế giới sau biển Philippines, biển San Hô và biển Ả Rập) [6] (Riêng vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam  rộng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần vùng lãnh thổ trên đất liền; có khoảng 2.030 loài cá, 225 loài tôm, 663 loài tảo rong biển, 55 loài mực, 5 loài rùa, 21 loài rắn biển; nhiều loài hải sản quý khác) [1].

          Từ vị trí địa lí giao thông, địa lí chính trị, địa lí văn hóa đến nguồn lợi, biển Đông thật sự là Minh đường lí tưởng. Xứ Nghệ may mắn có được Minh đường như thế.

Về Thanh long và Bạch hổ của Nghệ An và Hà Tĩnh

          Xét theo lí thuyết phong thủy được nhiều người ủng hộ: Thanh long (dòng sông) thấp hơn Bạch hổ (khối núi) thì Hà Tĩnh có địa thế đẹp hơn Nghệ An.

          Với Hà Tĩnh, Thanh long là Lam giang, dòng chảy uốn lượn mềm mại, nguồn nước dồi dào, màu nước trong xanh gần như quanh năm. Mùa lũ nước không quá lớn. Mùa hạn nước không quá cạn. Hai bên bờ cư dân đông đúc, làng mạc trù phú, sự sống sinh sôi nảy nở. Bạch hổ của Hà Tĩnh là khối Hoành Sơn, ngạo nghễ mà không quá hiểm trở. Các ngọn núi có đỉnh chạy xuôi cùng hướng, quanh năm khí lành không dứt. Với Nghệ An, Thanh long là dãy núi cao thuộc các huyện từ Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn đến các lèn đá vôi của huyện Quỳnh Lưu. Địa hình ở đây rất hiểm trở. Cấu trúc địa tầng có đủ đá macma (nhiều nhất là granit), đá biến chất (tiêu biểu là đá hoa/cẩm thạch), đá trầm tích (rất nhiều đá vôi,…). Hướng núi lộn xộn, đỉnh núi nhọn lởm chởm. Bạch hổ của Nghệ An không phải là một khối núi cao (địa hình dương) mà là Lam giang (địa hình âm).

          Như vậy, theo quan niệm trong phong thủy, Thanh long và Bạch hổ của Hà Tĩnh là thuận theo lí thuyết, còn của Nghệ An thì ngược lại.

2. Tiểu dị về địa hình trong xứ Nghệ

          Cũng như các tỉnh khác ở miền Trung, Nghệ An và Hà Tĩnh có đủ các dạng địa hình, tính từ Tây sang Đông là: núi, đồi, dải đồng bằng ven biển và biển.

2.1. Tiểu dị về địa hình đồi núi trong xứ Nghệ

          Tuy cùng nằm trên dãy Trường Sơn Bắc nhưng địa hình đồi núi của Nghệ An và Hà Tĩnh có nhiều điểm khác nhau.

a. Khác về hướng của địa hình đồi núi

          Hướng địa hình đồi núi của Nghệ An là Tây Bắc - Đông Nam, của Hà Tĩnh thiên về Tây - Đông hoặc Tây Nam - Đông Bắc. Nghĩa là hướng địa hình đồi núi của Nghệ An và Hà Tĩnh không những không tương đồng/song song với nhau mà còn vuông góc với nhau, tạo thành hình chữ V. Sự khác nhau này dẫn đến nhiều hệ quả về hướng dòng chảy các con sông và về khí hậu (sẽ trình bày ở các nội dung Tiểu dị về Thủy văn và Tiểu dị về Khí hậu).

b. Khác nhau về độ cao và bề mặt địa hình đồi núi

          Các dãy núi của Nghệ An đứng đầu về độ cao so với các tỉnh ở Bắc Trung bộ với một loạt đỉnh cao trên 2.000 m như Pu Xai Lai leng 2.711 m, Pù Hoạt 2.452 m, Pu Soong 2.365 m, Pu Tông Chinh 2.345 m, Pu Ma (2.194m), Pu Loong 2.176 m,... [4].

          Đỉnh núi cao nhất của Hà Tĩnh là Rào Cọ (2.235 mét). Ngay cả dãy Hoành Sơn, một đơn vị địa hình đặc biệt, tạo ra bước nhảy thứ nhất về khí hậu từ Bắc vào Nam của Việt Nam cũng chỉ cao 1.044m [5].

          Bề mặt địa hình đồi núi Nghệ An hiểm trở, cắt xẻ mạnh. Độ dốc trung bình của Nghệ An rất lớn, khoảng 12m/km. Bề mặt địa hình đồi núi Hà Tĩnh mềm mại, hầu hết là núi thấp và đồi hình bát úp.

2.2. Tiểu dị về địa hình bờ biển trong xứ Nghệ

a. Khác về địa hình các dải, cồn cát

          Ở Nghệ An, địa hình các dải cát khu vực ven biển cứ 1 dải cao rồi đến 1 dải trũng. Ở Hà Tĩnh địa hình tương đối phẳng, không phân biệt rõ như thế.

          Hướng của bờ biển Nghệ An và Hà Tĩnh khác nhau dẫn đến hướng, độ lớn, hình dạng của các dải/cồn cát ở Nghệ An và Hà Tĩnh cũng khác nhau.

          Bờ biển Nghệ An chạy theo hướng Bắc - Nam nên các dải/cồn cát ven biển cũng có hướng Bắc - Nam hoặc gần Bắc - Nam, thấy rõ nhất là khu vực Vinh - Cửa Hội - Cửa Lò. Tại đây đã hình thành một hệ thống các dải/cồn cát cao - thấp xen kẽ nhau tương đối đều đặn, cứ 1 dải cao lại đến 1 dải trũng. Các dải cao là khu dân cư với xóm làng trù phú và các vườn trồng hoa màu, cây lâu năm, hiện nay có thêm làng nghề cây cảnh (ở các xã Nghi Phú, Nghi Liên, Nghi Kim). Các dải trũng chủ yếu được dùng để trồng lúa.

          Bờ biển Hà Tĩnh có hướng gần Tây Bắc - Đông Nam nên các dải/cồn cát ven biển cũng có hướng gần Tây Bắc - Đông Nam, có độ cao gần bằng nhau. Nguyên nhân là do bờ biển Hà Tĩnh gần vuông góc với hướng gió Đông Bắc nên các dải cát chịu tác động của gió Đông Bắc mạnh hơn, tạo ra lực đẩy lớn hơn, đẩy các dải cát vào sâu trong đất liền hơn, đồng thời cát trên các dải cao bị gió thổi bay ra, lấp hết các dải trũng. Những năm 1950 trở về trước, vùng ven biển huyện Nghi Xuân của Hà Tĩnh còn có hiện tượng cát tiến vào vùi lấp đồng ruộng, có khi còn đe dọa cả nhà cửa. Gió Đông Bắc thổi vào bờ biển Nghệ An tạo ra 1 góc nhỏ, tác động của gió đối với bờ biển không lớn như đối với bờ biển Hà Tĩnh nên hiện tượng cát tiến vào vùi lấp đồng ruộng, làng mạc là rất hiếm.

          Trong phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, người dân Nghệ An ít tác động hơn vào địa hình các dải/cồn cát so với người Hà Tĩnh. Nông dân các xã ven biển của huyện Kỳ Anh đã có hình thức sử dụng đất cát nghèo dinh dưỡng vào trồng trọt rất hiệu quả. Nông dân đào đất xuống sâu đến gần mực nước ngầm (đường thủy đẳng), tạo ra những ô ruộng trũng nhưng không có nước để trồng hoa màu. Chất dinh dưỡng từ trên bề mặt đất lâu nay được thấm xuống đến độ sâu này thì ít bị di chuyển xuống sâu hơn. Mực nước ngầm thấp sẽ khắc phục tình trạng thiếu nước. Kết quả là nông dân đã tạo ra được môi trường gieo trồng cây hằng năm thích hợp nhất có thể.

          - Khác về địa hình cồn cát chứa vỏ sò: Chỉ có ở Nghệ An, không có ở Hà Tĩnh.

          Bờ biển Nghệ An đoạn phía Bắc sông Cấm có các mũi đá nhô hẳn ra biển (Mũi Gà, Mũi Rồng,…) chia bờ biển thành các bãi tắm hình vòng cung khép kín. Giữa 2 mũi đá là một cồn cát chứa các mảnh vỏ sò cao 5 - 7 m (Các dải này có độ cứng vừa phải, đủ mềm để đục thành các công trình ngầm: phòng nghỉ, rạp hát, casino hang động,... ), đủ cứng để đảm bảo sự bền vững lâu dài.

          Lớp cát chứa mảnh vỏ sò kiểu này còn tìm thấy ở các xã dọc Quốc lộ 1A từ xã Quỳnh Văn của huyện Quỳnh Lưu đến các xã ven biển của huyện Diễn Châu. Trước đây, nhân dân còn đào lớp này, đẽo thành gạch làm vật liệu xây dựng, gọi là "gạch sò" [2]. Địa hình cồn cát chứa mảnh vỏ sò hoàn toàn không có ở Hà Tĩnh.

          Trên các vách hang động của nhiều dãy núi đá vôi ven biển ở Quỳnh Lưu còn rõ các vết xâm thực của nước biển. Kiểu địa hình này cũng hoàn toàn không có ở Hà Tĩnh.

          - Khác nhau về địa hình cồn cát trắng: Chỉ có ở Hà Tĩnh, không có ở Nghệ An.

          Cồn cát trắng là dạng địa hình đặc trưng của một số đoạn bờ biển miền Trung Việt Nam. Cát được sóng và dòng ven bờ đưa vào bờ, sau đó được gió thổi dồn vào sâu trong đất liền đến hàng trăm mét và chất thành cồn cao có khi đến hàng chục mét. Dạng địa hình này rất phổ biến ở Quảng Bình, Quảng Trị, Ninh Thuận, Bình Thuận và rải rác ở một số địa phương khác. Khu vực ven biển từ Cẩm Xuyên đến Kì Anh của Hà Tĩnh có khá nhiều cồn cát trắng dạng này do cát có thành phần chủ yếu là thạch anh, các tạp chất hữu cơ sẫm màu lẫn trong cát bị sóng có tần suất và cường độ cao (do bờ biển vuông góc với hướng gió Đông Bắc) chuyển đi. Bờ biển Nghệ An hoàn toàn không có kiểu địa hình cồn cát trắng này.

3. Tiểu dị về cấu trúc địa chất trong xứ Nghệ

3.1. Tiểu dị về hoạt động và cấu trúc địa chất

a. Lãnh thổ Nghệ An được nâng lên nhiều hơn lãnh thổ Hà Tĩnh

          Xứ Nghệ nằm trong địa khối Trường Sơn Bắc. Trong khối này, sự nâng lên của lãnh thổ Nghệ An mạnh hơn của Hà Tĩnh.

          Địa khối Trường Sơn Bắc có vận động Tân kiến tạo có cường độ không đồng đều, giảm dần từ Nghệ An trở vào. Nghĩa là sự nâng lên của lãnh thổ Nghệ An mạnh hơn của Hà Tĩnh. Có thể đó là một trong những nguyên nhân làm cho Nghệ An có nhiều đỉnh núi cao hơn Hà Tĩnh. Ở Hà Tĩnh, các khối núi đá vôi trong lòng đại dương chưa được nâng lên. Kết quả là Hà Tĩnh không có đá vôi.

b. Khác nhau về thành hệ kiến trúc địa chất

          Nghệ An và Hà Tĩnh nằm trong hệ uốn nếp Trường Sơn, có 3 đới thành hệ kiến trúc: Phức nếp lồi Pù Hoạt, Phức nếp lõm sông Cả và Phức nếp lồi Trường Sơn. Nghệ An và Hà Tĩnh có chung Phức nếp lõm sông Cả. Nghệ An có riêng Phức nếp lồi Pù Hoạt, Hà Tĩnh có đặc điểm của Phức nếp lồi Trường Sơn rõ nét hơn [9].

          3.2. Tiểu dị về địa tầng/nham thạch

          a. Nghệ An có đá bazan, Hà Tĩnh không có

          Nghệ An có đá bazan và sản phẩm phong hóa của đá này là đất đỏ bazan là những thứ mà Hà Tĩnh hoàn toàn không có.

          Lịch sử phát triển địa chất của Nghệ An và Hà Tĩnh đều có hoạt động macma phun trào có tính axit (tỉ lệ SiO2 cao). Ở Nghệ An rõ nhất là đá Rú Mượu. Ở Hà Tĩnh là khu vực hồ chứa Sông Rác. Tuy nhiên loại macma phun trào có tính bazơ (tỉ lệ SiO2 thấp) thì chỉ có ở Nghệ An. Nhờ đó mà Nghệ An có đá bazan, dẫn đến có đất đỏ bazan mà Hà Tĩnh không có.

b. Nghệ An có nhiều đá vôi, Hà Tĩnh rất hiếm

          Địa tầng đá gốc của Hà Tĩnh rất hiếm đá vôi. Vậy nên Hà Tĩnh không có nhà máy xi măng nào, thậm chí không có cả lò vôi nung đá (Một số lò vôi trước đây ở khu vực ven biển Hà Tĩnh là nung vỏ của các loài nhuyễn thể: nghêu, sò, ốc, hến,… từ lâu đã không hoạt động nữa).

          Đá vôi phân bố nhiều nhất ở các huyện Anh Sơn, Con Cuông, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kì và rải rác ở Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu,... Đây là cơ sở để Nghệ An xây dựng nhiều nhà máy xi măng, nhiều lò nung vôi. Các nhà máy xi măng tiêu biểu là: Hoàng Mai, Cầu Đước, Anh Sơn, Sông Lam,... Lò nung vôi thì rất nhiều xã có.

c. Nghệ An có đá hoa, Hà Tĩnh không có

          Đá vôi khu vực Phủ Quỳ của Nghệ An chịu ảnh hưởng của hoạt động núi lửa Núi Én (huyện Nghĩa Đàn). Nhiệt độ cao và áp suất lớn khi núi lửa hoạt động làm cho đá vôi gần khu vực núi lửa bị biến chất mạnh, tái kết tinh hoàn toàn tạo thành cấu trúc khảm của các tinh thể canxit, đá giảm độ cứng, tạo ra loại đá vôi bị hoa hóa, còn được gọi là đá hoa hay cẩm thạch (đá đẹp như gấm). Đá hoa là loại đá biến chất từ đá vôi có cấu tạo không phân phiến, có màu đẹp, độ cứng nhỏ (<4 trong Thang độ cứng Mohs gồm 10 cấp) nên thường được sử dụng để tạc tượng, ốp lát trang trí (Tượng thần Vệ Nữ thành Milo  (Venus de Milo) là tác phẩm điêu khắc Hy Lạp cổ đại của Alexandros xứ Antioch được làm từ loại đá này).

          Ở Việt Nam loại đá này chỉ có nhiều (qui mô khai thác công nghiệp) ở Nghệ An và Yên Bái. Đá hoa khu vực Phủ Quỳ tương đối tinh khiết, có màu trắng đặc trưng. Những nơi bị tái kết tinh mạnh, tạo ra loại đá hoa hạt thô như muối rất quý hiếm, có giá bán rất cao trên thị trường thế giới. Cần phân biệt đá hoa với đá hoa cương. Đá hoa (thuộc nhóm đá biến chất) có độ cứng nhỏ (khoảng 3,5 - 4). Đá hoa cương là đá granit (thuộc nhóm đá macma xâm nhập) có độ cứng 6,5 - 7. Gọi là hoa cương để chỉ đá đẹp (hoa) và cứng (cương).

d. Nghệ An có đá quý hiếm, Hà Tĩnh chưa tìm thấy

          Đá quí ở Nghệ An có nhiều tại Qùy Châu, chủ yếu là rubi. Đây là nguồn lợi lớn cho phát triển công nghiệp khai thác và chế tác đá quí.

Hà Tĩnh chưa tìm thấy đá quý có trữ lượng có thể khai thác như ở Nghệ An.

e. Nghệ An có địa hình karster, Hà Tĩnh không có

          Địa hình karst ở Nghệ An phong phú và phát triển trên các thành tạo đá vôi Ninh Bình - Thanh Hóa - Nghệ An. Trong lịch sử địa chất, khu vực miền núi Nghệ An có hoạt động đứt gãy khá phát triển, do đó đá vôi bị chà xát mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động rửa lũa của nước đối với đá vôi. Nước theo các khe nứt, hòa tan đá vôi tạo nên các dạng địa hình karster. Địa hình karster ở Nghệ An không kéo dài liên tục thành dải (kiểu Phong Nha - Kẻ Bàng), mà nằm rải rác tại các núi đá vôi (lèn) ở khắp các dãy núi đá vôi.

          Quá trình karster đã tạo nên nhiều kiểu địa hình đặc trưng của đá vôi Nghệ An: Karster bóc mòn; Sườn và vách karst bóc mòn (ở xã Mường Típ và ở núi Hồi Cóc của huyện Kì Sơn); Karster xâm thực; Sườn và vách karst xâm thực (ở Kì Sơn, Con Cuông, Anh Sơn, Quế Phong); Các dạng karster xói ngầm; Địa hình đá tai mèo (ở hầu hết các dãy núi đá vôi); Hang động karster rất phong phú, có giá trị du lịch cao, tiêu biểu là các hang: Bua, Thẩm Ồm, Thung Khiển, Mặt Trắng,…[2].

e. Nghệ An có địa hình tômbôlô, Hà Tĩnh hiện tại chưa có

          Vùng ven biển có một dạng địa hình dùng để chỉ một hòn đảo gần bờ được phù sa bồi đắp, lâu dần được nối liền với bờ, gọi là tômbôlô [2].

          Các đảo gần bờ ở Nghệ An có xu hướng và tốc độ hình thành tômbôlô nhanh hơn Hà Tĩnh. Trong vài chục năm lại đây, tại Cửa Lò, phù sa đã nối bờ biển với đảo Lèn Chu (trước đây đảo này nằm cách xa bờ hàng chục mét), hình thành tômbôlô có tên Lan Châu, nay là một điểm du lịch - nhà hàng. Hiện tại, đảo Hòn Ngư đang trong quá trình hình thành tômbôlô với tốc độ ngày càng nhanh. Vị trí nằm ở bờ Bắc và gần cửa sông Lam là một lợi thế rất lớn trong việc bồi đắp phù sa của địa hình bờ biển Nghệ An (vì giới hạn dung lượng, bài viết không thể giải thích lí do). Chỉ một thời gian ngắn nữa, tômbôlô Hòn Ngư sẽ được hình thành, cho dù biến đổi khí hậu có làm nước biển dâng, bởi vì quá trình bồi lắng phù sa ở đây nhanh hơn quá trình nước biển dâng, chưa kể, vùng ven biển Nghệ An nói riêng, Bắc Trung bộ nói chung, thuộc khu vực địa chất đang được nâng lên [7].

Trong khi đó các đảo được coi là của Hà Tĩnh là Hòn Nồm, Hòn Lạp (cách bờ biển khoảng 4km), Hòn Én (cách bờ biển 5km), Hòn Bơớc (cách bờ biển 2km), Hòn Sơn Dương (cách bờ biển 4km, giáp ranh với tỉnh Quảng Bình) chưa thấy có xu hướng hình thành tômbôlô.

          (Hiện tượng này dựa trên nguyên lí: Các đảo ven bờ tạo ra các bóng sóng làm cho vận tốc sóng và vận tốc các dòng chảy ven bờ giảm nhanh. Khi vận tốc giảm thì phù sa sẽ lắng xuống, bồi đắp bờ biển để nối bờ biển với các đảo ven bờ, hình thành nên các tômbôlô).

4. Tiểu dị về khí hậu

a. Khác nhau về tính biển

          "Tính biển" được xác định bằng tỉ lệ: đường bờ biển/diện tích đất liền. Tính trung bình mỗi tỉnh ven biển của Việt Nam có 112 km đường bờ biển. Nghệ An có đường bờ biển nhỏ hơn, Hà Tĩnh có đường bờ biển lớn hơn trung bình chung này. Xét về tính biển thì:

          Hà Tĩnh là một tỉnh "đại dương": 137 km đường bờ biển trên diện tích đất liền 5.997,3 km2, tỉ lệ: 1km bờ biển/44km2 đất liền.

          Nghệ An là một tỉnh "lục địa": 82 km đường bờ biển trên diện tích đất liền 16.493,7km2, tỉ lệ 1km bờ biển/201km2 đất liền, chỉ bằng khoảng 1/5 (20%) của Hà Tĩnh. Trong xu hướng tiến ra biển hiện nay, Hà Tĩnh có nhiều lợi thế hơn để phát triển kinh tế - xã hội.

          b. Khác nhau về ảnh hưởng của gió mùa

          Đặc trưng khí hậu Bắc Trung bộ là có cả thời tiết lạnh của gió mùa Đông Bắc (mùa đông) và thời tiết khô nóng do hiệu ứng phơn của gió mùa Tây Nam (mùa hè).

          Do hướng của địa hình đồi núi khác nhau mà ảnh hưởng của gió mùa ở Nghệ An và Hà Tĩnh cũng khác nhau.

          Địa hình chắn gió tạo ra sự thiếu hụt lượng mưa tiêu biểu của Nghệ An là khu vực dọc sông Cả, đoạn từ Mường Xén của huyện Kì Sơn đến giáp huyện Con Cuông. Các dãy núi cao ở đây tạo ra một thung lũng khuất gió, lượng mưa bình quân chỉ đạt 600 -  700mm/năm, thấp hơn lượng bốc hơi 600 - 800mm/năm, modul lưu lượng nhỏ, chỉ dưới 15 l/s/km2; tương đương chỉ tiêu khí hậu bán khô hạn/bán sa mạc (Việt Nam chỉ có  2 khu vực có lượng mưa thấp như thế là Ninh Thuận - Bình Thuận và khu vực này của Nghệ An). Đây là cơ sở để Nghệ An nghiên cứu đánh giá thích nghi cây trồng vật nuôi, đưa vào thử nghiệm nuôi trồng các loại cây con chịu hạn có giá trị kinh tế cao và đầu ra thuận lợi như: nho, bông, vani, cừu, đã thích hợp với điều kiện tự nhiên của vùng Ninh Thuận - Bình Thuận.

          Địa hình chắn gió tạo ra sự dư thừa lượng mưa tiêu biểu của Hà Tĩnh là khu vực sườn Bắc của dãy Hoành Sơn, thuộc địa phận phía Nam huyện Kì Anh. Gió mùa Đông Bắc khi thổi đến đây thì bị chặn lại, gây ra lượng mưa lớn cục bộ. Dãy Hoành Sơn là địa hình chắn gió Đông Bắc, được coi là bước nhảy thứ Nhất về khí hậu theo chiều Bắc - Nam của Việt Nam. Các huyện đồng bằng từ Cẩm Xuyên trở ra, lượng mưa mùa đông thấp hơn hẳn so với khu vực cực Nam huyện Kì Anh.

          Mùa hè, toàn lãnh thổ Nghệ An đều chịu ảnh hưởng của gió Lào khô nóng thì Hà Tĩnh chỉ có 2 phía Nam và Bắc chịu ảnh hưởng rất mạnh của loại gió này, còn vùng giữa, rõ nhất là thành phố Hà Tĩnh, rất ít khi có gió Lào thổi qua. Hình như chưa có tài liệu nào nói về hiện tượng này trong khi thực tế thì người dân ở thành phố Hà Tĩnh đều nhận biết được.

5. Tiểu dị về thổ nhưỡng

          Như đã trình bày ở phần địa chất, Hà Tĩnh không có đá bazan nên không có đất đỏ bazan, trong khi đó Nghệ An có đến 13 ngàn ha. Đây là loại đất giàu dinh dưỡng bậc nhất trong các loại đất feralit đồi núi. Ở Bắc Trung bộ của Việt Nam loại đất này chỉ có nhiều ở các huyện Cam Lộ, Gio Linh của tỉnh Quảng Trị và vùng Phủ Qùy của Nghệ An [7].

          Cũng do rất ít đá vôi nên Hà Tĩnh gần như không có đất phong hóa từ đá vôi, trong khi đó ở Nghệ An huyện nào cũng có loại đất này. Ở Bắc Trung bộ của Việt Nam loại đất này tỉnh nào cũng có nhiều, trừ Hà Tĩnh. Như vây, thổ nhưỡng của Hà Tĩnh đơn giản hơn của Nghệ An, thiếu hẳn loại đất đỏ bazan, đất tích vôi và đất phong hóa trên nền đá vôi.

6. Tiểu dị về hệ thực vật và cây trồng

          Sự khác biệt về vị trí địa lí và độ cao địa hình đã tạo ra sự khác biệt giữa Nghệ An và Hà Tĩnh về một số loại thực vật tự nhiên và cả cây trồng, dễ nhận thấy là một số loại cây có nguồn gốc cận nhiệt đới.

          Vùng núi cao của Nghệ An có nhiều pơmu, samu tạo thành các cánh rừng thực vật khổng lồ ở các huyện Quế Phong, Kì Sơn, Tương Dương (Tiêu biểu là rừng samu ở xã Thông Thụ huyện Quế Phong). Hà Tĩnh không có các cánh rừng các loại thực vật họ thông như thế, cũng không có các cánh rừng săng lẻ tiểu biểu như ở Tương Dương của Nghệ An.

          Quế rất phát triển ở Nghệ An: "Nhất quế Qùy, nhì quế Thanh". "Quế Quỳ" chỉ vùng Quỳ Châu và Quế Phong của Nghệ An, nơi có nhiều quế tự nhiên phát triển. Hà Tĩnh lại rất hiếm quế. Tương tự như thế là sơn và hồi: các loại cây này phát triển ở Nghệ An nhưng không thấy nhiều ở Hà Tĩnh.

          Ở vùng đồng bằng ven biển, hệ thống cây trồng, nhất là loại cây thực phẩm ngắn ngày có nguồn gốc cận nhiệt đới và ôn đới, có sự khác biệt rất lớn giữa Nghệ An và Hà Tĩnh. Chỉ là ranh giới con sông Lam mong manh nhưng ở phía Nghệ An, các loại cải bắp, su hào, cà chua,... được trồng nhiều và phát triển rất tốt trong khi ở bờ Nam, Hà Tĩnh rất khó trồng các loại cây này.

7. Tiểu dị về hướng dòng chảy của các con sông lớn

          Địa hình là nhân tố quyết định hướng dòng chảy của các con sông trong một vùng lãnh thổ. Nghệ An và Hà Tĩnh cùng nằm trong đơn vị địa hình lớn là dãy Trường Sơn Bắc. Thế nhưng hướng địa hình núi của Nghệ An và dòng chảy của các con sông lớn ở Nghệ An và Hà Tĩnh rất khác nhau. Các dòng sông lớn của Nghệ An như Nậm Nơn, Nậm Mô có hướng dòng chảy là Tây Bắc - Đông Nam. Các dòng sông lớn của Hà Tĩnh như Ngàn Sâu, Ngàn Phố có hướng dòng chảy là Tây Nam - Đông Bắc, vuông góc với hướng của các sông lớn ở Nghệ An. Các sông lớn của 2 tỉnh hợp nhất thành hình chữ V ở hạ lưu sông Lam để cùng chảy ra biển ở Cửa Hội.

Kết luận

          Nghệ An và Hà Tĩnh cùng nằm trong một xứ "non xanh nước biếc" nhưng gần như tất các hợp phần tự nhiên của hệ thống lãnh thổ này, từ địa hình, địa chất, khí hậu, thổ nhưỡng, thủy văn đến thực vật (cả tự nhiên và cây trồng) đều không giống nhau. 

          Nghiên cứu sự khác biệt về tự nhiên giữa Nghệ An và Hà Tĩnh gần như chưa có, thậm chí chưa có cả trong suy nghĩ của những con người quan tâm và yêu mến xứ Nghệ. Bởi xưa nay và trong tâm khảm, người xứ Nghệ không muốn có sự phân hóa nào giữa 2 bộ phận này, kể cả những an bài của tạo hóa.

          Bài viết hi vọng góp phần giúp người xứ Nghệ hiểu nhau hơn, yêu quý hơn những gì của riêng mình và trân trọng những khác biệt của nửa khác trong một vùng lãnh thổ thống nhất. Các nhà quản lí cũng có thể tham khảo thêm về các khác biệt để hoạch định chiến lược phát triển của riêng địa phương mình trong cái nền chung của xứ Nghệ.

(Còn tiếp kỳ sau)

Tài liệu tham khảo

1. Công ty TNHH MTV Thông tin điện tử Hàng hải Việt Nam, Nguồn lợi hải sản ở vùng biển Việt Nam, Cổng thông tin điện tử, 2018.

2. Đào Khang, Địa mạo bờ biển huyện Nghi Lộc, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội 1990.

3. Đào Khang, Khả năng hợp tác phát triển du lịch Nghệ An, Tạp chí Du lịch Việt Nam, Số 6/2010.

4. Đào Khang (Chủ biên), Địa lý Nghệ An, NXB Thông tin và Truyền thông 2014.

5. Lịch sử Trường chính trị Hà Tĩnh 1945-2002, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr. 13. Truy cập trên Internet ngày 23 tháng 7 năm 2016.

6. Nguyễn Văn Nhưng, Nguyễn Văn Việt, Phân vùng địa lý tự nhiên đất liền, đảo - biển Việt Nam và lân cận, Hà Nội tháng 4 năm 1998.

7. Lê Bá Thảo, Thiên nhiên Việt Nam, NXBGD 2009.

8. Cổng thông tin điện tử các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên -  Huế.

9. A. E. Dovjikov, Bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam 1.500.000. Tổng cục địa chất 1965.

 

Đậu Kỷ Luật

          Trong quân đội, mọi lĩnh vực, mọi ngành công tác đều có chính trị làm hạt nhân. Nói rộng là xem xét tầm văn hóa trong đó. Thực hành chính trị tư tưởng ở đâu cũng phải xử sự bằng văn hóa. Tu thân và xử thế là đối với mình, với người, thực chất đó là làm chính trị. Chúng tôi cho rằng chính trị cần như con người cần nước, mà nước thì mềm mại, uyển chuyển, khiêm tốn, mềm như nước mà cứng cũng như nước "nước chảy đá mòn". Bởi thế mà ngay từ ngày đầu thành lập LLVT tại căn cứ Cao Bằng, Đảng và Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (VNTTGPQ) và giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt đoàn thể lo tổ chức và trực tiếp phụ trách đội. Về tên và phương châm, bản Chỉ thị nêu rõ "Tên Đội VNTTGPQ" nghĩa là "Chính trị trọng hơn quân sự" nó là đội tuyên truyền không hề bao hàm thượng võ mà chủ yếu là thu phục lòng dân được lòng dân nên dù quân ít mà hóa ra lại nhiều, vì đó là vận động quần chúng làm cách mạng.

          Ngày 15/10/1949, Người lại có bài viết "Dân vận". Bài viết là một sự hướng dẫn công tác "Khéo dân vận", tin yêu dân, kính trọng dân. Có dân yêu là có tất cả, lòng tin của nhân dân là số một, là thượng sách và chính vậy mà sau đó nhân dân gọi bộ đội là "Bộ đội cụ Hồ". Cái cụm từ là từ nhân dân tôn vinh. Và cũng từ đó khi học tập chính trị của các khóa đều nhấn mạnh danh hiệu cao quý đó. Vậy cũng là chính trị trọng hơn quân sự. Sau này bộ đội ta đi làm nhiệm vụ quốc tế nhân dân bạn đều tin yêu vì bộ đội Việt Nam là "Bộ đội cụ Hồ". Đảng và lãnh tụ từ văn hóa truyền thống dân tộc mà rèn luyện, giáo dục bộ đội.

          Việt Nam thuộc tầng văn hóa Đông Nam Á là một miền (hay khu vực văn hóa lịch sử) trong đó bao gồm Đông Nam Á lục địa (Đông Dương) và Đông Nam Á hải đảo là những khu vực văn hóa lịch sử. Vùng văn hóa lịch sử Đông Nam Á hình thành ít nhất cũng từ thời đại gắn với văn hóa Hòa Bình, cách ngày nay gần chục ngàn năm. Thời kỳ trước công nguyên, vùng văn hóa lịch sử Đông Nam Á bao gồm cả Nam sông Dương Tử của Trung Quốc ngày nay. Và do quá trình biến đổi thì Văn hóa - Lịch sử vùng Đông Nam Á thu hẹp lại như Đông Nam Á ngày nay. Trong văn hóa ta chú ý, văn hóa gốc du mục khác văn hóa gốc nông nghiệp. Hiểu như vậy ta sẽ tìm hiểu tính cách khác nhau. Ví như văn hóa du mục mạnh về truyền thống thượng võ khác với tính cách cư dân gốc văn hóa nông nghiệp. Trong ứng xử với thiên nhiên, họ sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên có ý thức tôn trọng và ước vọng sống với thiên nhiên. Tuy ở cạnh hai nền văn hóa lớn Ấn Độ và Trung Hoa nhưng vào Việt Nam đều bị khúc xạ, biến thành sắc thái Việt Nam. Trong lĩnh vực tâm linh người Việt Nam "nhờ trời", "ơn trời", "lạy trời", rồi thì "trông trời, trông đất, trông mưa...".

          Về mặt tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa trọng tình theo kiểu "Một bồ cái lý không bằng một tý cái tình" bởi thế họ rất trọng văn hóa, trọng đức, trọng phụ nữ. Nói du mục là lửa thì họ là nước, du mục là cương thì nông nghiệp là nhu, du mục là dương thì nông nghiệp là âm. Ta cũng thấy trong cư dân nông nghiệp dù biểu hiện tùy tiện, vô tổ chức, kỷ luật không cao. Cũng như cư dân Đông Nam Á, nông nghiệp lúa nước nên Việt Nam rất mềm dẻo, hiền hòa, khoan dung, độ lượng. Ta thấy các tôn giáo của thế giới, khu vực vào ta rất hòa bình, sớm thích nghi với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, một nếp văn hóa tri ân nổi bật, bao giờ cũng đề cao biết ơn trời, ơn đất, ơn người bạn bè.

          Từ trong cội nguồn không gian văn hóa Việt Nam được định hình trên nền của không gian văn hóa khu vực Đông Nam Á. Và phổ biến văn hóa nơi đây là thống nhất trong đa dạng là vùng đa dân tộc, đa tôn giáo nhưng thường là sống hiền hòa.

          Bác Hồ là người tiêu biểu của hồn dân tộc, đỉnh cao của văn hóa Việt Nam. Chúng ta luôn luôn từ bản sắc dân tộc, quốc gia để thực hiện văn hóa tộc người đa dân tộc, đa tôn giáo thống nhất trong đa dạng. Bởi vậy từ ngày đầu thành lập, Đảng ta đã đề ra nhất quán chính sách dân tộc, tôn giáo trong cả nước, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Văn hóa Phương Đông vào Việt Nam ví như "Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân" và bác ái của đạo Thiên Chúa, từ bi hỉ xả của đạo Phật... Hay đến phong tục, tập quán của các dân tộc trong cả nước đều phù hợp với truyền thống "Thương người như thể thương thân", "Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một dàn"... Ta thấy phổ biến ở Đông Nam Á nói về nguồn gốc người mình đều mang mô típ quả bầu mẹ. Bác Hồ kính yêu là từ ngày lập nước đã dùng từ "đồng bào" và người kêu gọi hàng đầu là "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết". Hồ Chí Minh trong các tác phẩm của mình đều tập trung xây dựng đạo đức cho cán bộ quân đội và nhân dân. Từ "Đường cách mệnh" (1927), Người đã giảng trong bài "Tư cách một người cách mệnh". Năm 1947, Người viết tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc" coi như cuốn sách gối đầu giường cán bộ, bộ đội chúng ta, còn soạn bài giảng chính trị, bài "Đạo đức cách mạng" đến bây giờ vẫn còn nguyên giá trị trong học tập tư tưởng, đạo của người nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Sau này người cũng nói đạo làm người là thực hiện nhân, nghĩa, trí, dũng, những đức này trong đạo nho cũng đã nêu mọi người trong thiên hạ đều mong đạt tới. Chúng tôi cho rằng quân đội ta trong công tác chính trị thực hiện nhân, trí, dũng. Và nhân là nòng cốt trong 3 đức lớn, đức nào cũng phải có nhân. Nhân đẻ ra trí, dũng, liêm, trung. Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư...

          NHÂN chữ nho viết (gồm chữ nhân là người đứng đầu đội trời, chân đạp đất và hai gạch tiếp là thiên, địa). Ta hiểu NHÂN là con người đối xử với nhau, trong nhân đã có trời, có đất mà con người ở giữa (hiện tại) đất ở dưới và trên đầu là trời, người là trung tâm quyết định, vận dụng thiên thời, địa lợi, nhân hòa; còn có thể đó là bất biến trong ứng vạn biến mà Bác Hồ thường căn dặn chúng ta như kinh dịch đã từng chép" dựng nên đạo của trời, có âm và dương; địa nên đạo của đất có nhu và cương dựng nên đạo của trời, có cả nhân và nghĩa. Trong chữ nhân có khuynh hướng trọng dân, đối với dân phải khoan huệ, nhân ái; phản đối chính trị hà khắc, bạo ngược đối với dân, dùng dân thì phải theo đạo nghĩa. Nói theo ngôn ngữ hiện nay là sự thống nhất trong các cặp phạm trù mà ta bắt gặp trong thơ Bác. Như ta đã biết Nho giáo vào Việt Nam là thứ nho giáo đã Việt Nam hóa, tức là Nho giáo tiếp tục phát triển trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.

          Sau khi trở thành người Cộng sản chân chính, với tư cách là học trò của Mác - Lê Nin, Hồ Chí Minh đã đặt ra một yêu cầu khó khăn nhưng rất vẻ vang đó là bổ sung "cơ sở lịch sử của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà ở thời mình Mác không thể có được. Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại... Xem xét Chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học. Phương Đông, đó chính là nhiệm vụ mà các Xô viết đảm nhận. Trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập I, NXB Chính trị Quốc gia 1995, trang 398, Người khẳng định: "Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân". Về mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lê Nin với Nho giáo, một số học giả cho rằng "Phân tích xã hội để hiểu về lịch sử, xác định đường lối thì chủ nghĩa Mác hơn hẳn, nhưng trong Mác, đạo đức không được nổi bật và cụ thể như Nho giáo. Có thể nói không có học thuyết và chủ nghĩa nào đặt vấn đề "xử thế rõ ràng và đầy đủ như vậy (Nguyễn Khắc Viện, Bàn về đạo đức Nho giáo, 1997)". Hoặc "Chủ nghĩa Mác - Lê Nin đặt vấn đề chính trị, kinh tế rất sắc sảo, nhưng đặt vấn đề xây dựng con người còn chưa đầy đủ lắm". "Cụ Hồ làm đầy đủ hơn chủ nghĩa Mác - Lê Nin" (Trần Văn Giàu NXB thành phố Hồ Chí Minh 1993, tr 349).

          Thực hiện chính trị trọng hơn quân sự chính là lối ứng xử văn hóa và có thể đó là "Hồn dân tộc Việt Nam". Nói là tính cách nước mềm mại không làm ai đau cả, có thể là có lý với xem xét bản sắc, tính cách người Việt Nam. Bởi thế chúng tôi muốn đề nghị trong tuyên truyền chính trị, giáo dục tư tưởng nhất là trong học tập và làm theo Bác, đi sâu vào tư tưởng, đạo đức, ta nên vận dụng văn hóa Đông Nam Á, văn hóa tộc người, văn hóa vùng đất Khu 4, khai thác hết thế mạnh của các tầng văn hóa này tốt tức là ta đã coi trọng đã làm đúng "chính trị trọng hơn quân sự". Ta khiêm tốn nhưng cũng phải tự hào là Bộ đội trên thế giới chưa có tên lãnh tụ làm tên của Bộ đội, không phải muốn mà được, mà nó từ trong lòng nhân dân tôn vinh, thấy bộ đội đi theo tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp con người phương Đông truyền thống giá trị tốt đẹp đã đúc kết thành tiêu biểu của Phương Đông "Phú quý bất năng dâm, Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất" (Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không chuyển lay, không bị uy vũ đánh sụp). Các lãnh tụ Cộng sản của chúng ta vừa qua xứng đáng là như vậy mà chúng ta muốn có để phấn đấu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng hiện nay.

          Nắm chắc học và hành 3 phạm trù nhân, trí, dũng như nêu trên cũng là làm theo Hồ Chí Minh. Người đã nói đó mới là người "cách mạng chân chính" không để ai làm việc có hại đến Đảng, đến Tổ quốc, nhân dân.

          Được lòng người, được lòng dân, song đối với kẻ địch ta càng thể hiện Nhân, Trí, Dũng. Theo Bác Hồ, lòng khoan dung độ lượng của Việt Nam bao đời nay với kẻ địch là Tâm Công, "Đúng là đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại" đánh vào lòng người đối phương, tức là Việt Nam đã vận dụng văn hóa của mình đánh gục đối phương dù hung hãn đến đâu.

          Lời căn dặn của Bác Hồ với các tướng lĩnh thật sâu sắc ta thấy như "Binh thư yếu lược" của thời đại mới "Đối với binh sỹ, thì từ lời ăn, tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, quần áo, nhất nhất là phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam, cộng khổ với binh sỹ thì khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh họ sẽ hăng hái đánh". Tất cả chúng ta, dù ở cương vị binh nhì hay tướng soái và nói chung là cả lực lượng vũ trang 3 thứ quân cũng cần làm theo. Vì ta đã biết, đã vào máu thịt mỗi người một cách hoàn toàn tự giác, vì thực tiễn đã chứng minh Đảng là linh hồn, công tác chính trị là nguồn sống của LLVT ta. Đối với Quân đội thì sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Đảng sinh ra và nuôi dưỡng Quân đội trưởng thành. Ta làm được như vậy, tức là ta đã thực hiện truyền thống văn hóa tri ân của tổ tiên ta, của dân tộc ta luôn luôn uống nước nhớ nguồn.

          Nói thêm một vài điều về chữ Dũng; Không phải khi ra trận mạc, khi công tác mà trong tư tưởng trong tu dưỡng phẩm chất, nhất là trong phê bình và tự phê bình, ai ai cũng phải Dũng, phải có gan sửa chữa khuyết điểm.

          Đối với một Đảng, Người cũng nêu lên: "Nói về Đảng, một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó vì đâu mà có khuyết điểm đó xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính" (Toàn tập, tập 4, tr.477).

          Có lần Bác nhắc nhở: "... Các chú có biết nhân dân ta từ lâu sống với nhau như thế nào không?. Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình, có nghĩa. Từ khi có Đảng lãnh đạo và giáo dục tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu, bốn biển một nhà. Hiểu chủ nghĩa Mác - Lê Nin là sống với nhau phải có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lê Nin".

          Xưa kia Mạnh Tử cũng đã từng vạch ra: "Nếu cho ăn mà không yêu thương thì đó là cách giao tiếp với lợn, nhưng yêu thương mà không kính trọng, thì đó cũng chỉ là cách nuôi vật trong nhà" (theo Khổng Học Đăng của Phan Bội Châu). Việt Nam có câu tục ngữ đầy chí lý, chí tình, đúng là cốt cách Tiên Rồng con người theo văn hóa cổ truyền phương Đông là hành Thổ nằm ở trung tâm và 4 hướng là thủy (bắc), hỏa (nam), mộc (đông), kim (tây). Thổ bao giờ cũng ở giữa giữ vị trí quyết định mà các hành khác đều quy tụ.

          Cứ xem từng điểm từ Tình, Nghĩa riêng thì nước nào cũng có nhưng từ kép tình - nghĩa thì chỉ có Việt Nam mới có (theo nhà văn hóa lớn Nguyễn Khắc Viện). Từ đầu ở quê ta có tình nghĩa xóm làng, vào bộ đội ta có tình đồng đội nằm ngay trong 10 lời thề danh dự.

          Tình nghĩa nằm ở mọi nơi trong xử thế. Bác Hồ định nghĩa chữ người nghĩa hẹp là gia đình, anh em, bầu bạn; nghĩa rộng là đồng bào cả nước, rộng nữa là biên giới. Và quan niệm của Hồ Chí Minh về con người: "Người ta sinh ra đều vốn tốt cả, nhưng về sau do ảnh hưởng của bố mẹ, bạn bè, xã hội mà dần dần mỗi người một khác. Đồng thời ngay trong mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Vì vậy ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi. Đối với những người có thói hư, tật xấu; từ hạng người phản bội Tổ quốc và nhân dân ta, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác chứ không phải đập cho tơi bời" (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Sự Thật, 1989).

          Thấy rằng cái câu nói của dân gian "Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau" rất phù hợp với lối ứng xử mà ta có thể thấy đó là thực hiện phần nào "chính trị trọng".

          Học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh cũng là học tập văn hóa dân tộc Việt Nam mà Người là tiêu biểu nổi bật và bền vững của văn hóa Việt Nam.

          Cuối bài này chúng tôi muốn gợi ra một vấn đề mà còn tiếp tục trao đổi tiếp. Con người là một thực thể đa chiều, trong đó có 3 kích thước cơ bản cần lưu ý nhiều: Bản chất sinh học, bản chất xã hội, bản chất tâm linh, ba bản chất trên tạo thành chiều sâu, chiều rộng và chiều cao của con người. Tâm linh không chỉ có ở đời sống tôn giáo, tâm linh còn gắn liền với cái thiêng liêng, cái cao cả, cái ưu việt. Rộng ra nói tới Tổ quốc, lòng yêu thương con người, sự thật và vẫn công lý càng thiêng liêng không kém. Có thế mới thấy ý nghĩa của chữ Nhân để tự hào cao cả của con người. Trong đó vốn dĩ bản chất tâm linh chưa được đề cập mấy nên cần trao đổi mà theo chúng tôi cũng phục vụ cho chuyên đề "Chính trị trọng hơn quân sự của Bộ đội Cụ Hồ" (muốn nói cả bộ đội thường trực và CCB mình).

          Cái tâm linh hoàn toàn không nằm ngoài phạm vi nghiên cứu khoa học mà còn là độc lập của khoa học về phần giá trị. Ngày nay người ta càng quan tâm khám phá từ cái nhìn phân tâm học. Việt Nam ta đã xuất bản một số công trình đã trở thành kinh điển của các tổ sư phân tâm học thế giới như: S.Freud, C.G.Jung, E.fromm, R.A ssagioli. Đây ta tìm hiểu văn hóa tâm linh theo nghĩa hẹp.

          Erich From (1900 - 1980) là một trong những nhà tư tưởng quan trọng của thế kỷ XX những người ông chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất là Sigmund, Freud và KarlMarx. Fromm muốn kết hợp Marx và phân tâm học, thời gian này ông làm quen với Phật giáo, nhất là thiền và thủy chung với nó suốt đời. Tác phẩm chủ chốt của ông để lại cùng với các bản dịch đã cùng bổ sung trong phân tâm học và văn hóa tâm linh (NXB VHTT, năm 2002). Trong giới thiệu, có nêu một ý kiến của Fromm, trích ra đây để chúng ta tham khảo và suy ngẫm với tình hình hiện nay trên toàn cầu. Fromm coi văn hóa công nghiệp hiện đại nửa sau thế kỷ XX là văn hóa của một xã hội hoàn toàn tha hóa nên đã sản sinh ra kiểu tính cách xã hội thị trường làm mất đi sự định hướng bên trong. Đặc điểm của xã hội đó là cảm xúc giả tạo đối tượng hóa, tình yêu méo mó, bệnh nhiễu tâm liên quan đến cuộc sống vô nghĩa và vô hồn. "Con người với tính cách thị trường, ông viết không hề biết yêu, biết cảm thụ những cảm xúc "lỗi thời" này không phù hợp với kiểu cấu trúc tính cách chỉ hoàn toàn hoạt động ở cấp độ lý tính và gạt bỏ mọi thứ tình cảm tích cực cũng như tiêu cực bởi cái tình cảm đó sẽ cản trở sự đi đến mục tiêu cơ bản của tính cách thị trường, chính xác hơn, cản trở sự hoạt động phù hợp với lôgic của "cỗ máy" khổng lồ mà trong đó con người chỉ là một bộ phận, nó không đưa ra bất kỳ câu hỏi nào, trừ một câu hỏi về sự thăng tiến cá nhân trên chiếc thang quan chức.

          Với tình hình hiện nay, trong công tác chính trị, tư tưởng chúng ta càng phải quan tâm đến mặt trái của cơ chế thị trường vấn đề suy thoái đạo đức phải từ văn hóa mà xem xét.

 

Nguyễn Đình Chú

          Nhiều năm qua - đặc biệt là thời gian gần đây trên phương tiện thông tin đại chúng, trên thương trường, trong quân đội và ngoài xã hội, kể cả trên địa hạt văn hóa nghệ thuật, nổi tiếng một con người: Đại tá, AHLĐ Nguyễn Đăng Giáp. Các nguyên thủ quốc gia, các chính khách, các tướng lĩnh và nhiều văn nghệ sỹ, nhà báo, nhà nghiên cứu đã dành cho Nguyễn Đăng Giáp sự đánh giá, chúc tụng, ngợi ca trọng vọng, xứng tầm. Nhà văn hóa, nhà thơ Nguyễn Chí Tình có hẳn trường ca về anh hơn một ngàn hai trăm câu. Nhạc về Nguyễn Đăng Giáp cũng không ít. Vinh quang đến thế dễ có mấy người...

          Với tôi, từ lâu, còn có chút tư tình với Nguyễn Đăng Giáp vì là đồng hương, hai nhà xưa cách nhau khoảng bốn cây số, lại là chỗ bà con. Thân phụ tôi và Cụ nội Nguyễn Đăng Lương của anh Giáp vừa là bạn đồng môn lại vừa là anh em đồng hao. Thuở nhỏ hàng năm, tôi vẫn theo cha đến nhà ông nội Giáp ăn giỗ và ông nội Giáp cũng đến ăn giỗ ở nhà tôi. Bởi thế, khi biết Nguyễn Đăng Giáp nổi tiếng như thế tôi rất đỗi vui mừng. Hơn mười năm nay, tôi và Nguyễn Đăng Giáp đã có quan hệ với nhau khá thân tình...

          Ấy vậy mà trong tôi, từ nhiều năm nay, một câu hỏi cứ neo đậu trong đầu: Nguyễn Đăng Giáp - Anh là ai? Đành là một cá thể sống với một cá tính trời sinh (Cha mẹ sinh con trời sinh tính) nhưng cũng phải có những nguồn tinh lực nào hun đúc mới tạo nên Nguyễn Đăng Giáp như thế chứ? Cuộc đời Nguyễn Đăng Giáp còn là gì ngoài những điều ai cũng đã biết? Cái bệnh nghề nghiệp của tôi là nghề nghiên cứu văn học trong đó chuyện cốt lõi là khám phá thế giới con người. Cho nên, tôi vẫn coi Nguyễn Đăng Giáp như là một nhân vật tiểu thuyết mà mình khám phá xem sao? Bước đầu thì đã thấy Nguyễn Đăng Giáp là một cá thể sống độc đáo trong đó là một sự phức hợp phong phú đa chiều nên hiểu cho hết cá thể sống này cũng không đơn giản.

          Nguyễn Đăng Giáp trước hết là người con của làng Đông Chử xưa, Nghi Trường nay, vốn là một làng quê rất độc đáo, xứng đáng là nơi "địa linh nhân kiệt". Đông Chử là bến nước phía Đông do hiện tượng biển lùi để lại nhiều vũng nước mà có. Đông Chử vào loại nghèo nhất trong vùng bởi chỉ cồn khô cát bạc. Nhưng Đông Chử đã nẩy sinh nhiều người tài giỏi về Đông y. Đặc biệt cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một bậc đại nhân sư tiêu biểu không chỉ trên đất Lam Hồng mà còn với cả nước: Cụ Nguyễn Thức Tự, đậu cử nhân làm quan chức Sơn phòng sứ Hà Tĩnh, là người chuẩn bị khu căn cứ cho vua Hàm Nghi xuất bôn phát hịch Cần vương chống Pháp. Sau khi vua Hàm Nghi bị bắt, Cụ về quê mở trường dạy học, đào tạo khoảng bốn trăm sĩ tử, nhiều người là đại khoa, nhiều người trở thành những chí sĩ cứu nước sáng danh trong lịch sử như Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Lê Văn Huân, Đặng Văn Bá, tiêu biểu nhất là Phan Bội Châu. Nguyễn Sinh Sắc thân phụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là môn đệ của cụ Tự. Thời đó, làng Đông Chử nghèo nàn mà trở thành một trung tâm giáo dục lớn có hiệu quả nhất không chỉ trên đất Lam Hồng. Như thế không là "địa linh nhân kiệt" hiếm có sao? Chính gia đình cụ Nguyễn Thức Tự lại là một gia đình cách mạng trong phong trào cứu nước cũng hiếm có của cả nước. Cụ có bảy con trai thì năm người tham gia cứu nước. Đặc biệt có ba người lẫy lừng trong lịch sử. Trong đó riêng chí sĩ liệt sĩ Nguyễn Thức Đường (Trần Hữu Lực) trước họng súng của quân thù đã để lại câu đối Tuyệt mệnh mà học giả Đặng Thai Mai đã cho là "tiếng nói cao cả nhất trong văn chương yêu nước của loài người": "Giang sơn dĩ tử, ngã an đắc dư sinh, thập niên lai, luyện kiếm ma đao, tráng chí phục thù Hồng tổ quốc/ Vũ dực ví thành, sự hốt nhiên trung bại, cửu tuyền hạ, điều binh khiển tướng, âm hồn ám trợ thiếu niên quân" (Non sông đã chết, ta há sống thừa ư, hơn mười năm luyện kiếm mài gươm, chí lớn những mong phò Tổ quốc/ Lông cánh chưa thành, sự bỗng đâu thất bại, dưới chín suối, điều binh khiển tướng, hồn thiêng ngầm giúp thiếu niên quân)... Ca dao dân gian từng ngợi ca gia đình cụ Nguyễn Thức Tự (quen gọi là cụ Sơn): "Ai về Nghi Lộc Nghệ An/ Hỏi thăm con cháu cụ Sơn thế nào? Hỏi Canh (Nguyễn Thức Canh) Canh đã sang Tàu (Đông du)/ Hỏi Đường (Nguyễn Thức Đường) Tây đã chặt đầu năm nao. Dần dà hỏi đến Thức Bao/ Côn Lôn tin bặt lần sau vượt vời/ Cha con sau trước mấy người/ Hiến thân cho nước cho nòi Việt Nam"…

          Nghĩ đến Nguyễn Đăng Giáp, đầu tiên tôi nghĩ là anh được phúc lớn là sinh ra ở cái bến nước phía Đông kỳ lạ này chứ ở nơi khác chắc gì đã có Giáp như hôm nay.

          Nơi bến nước phía Đông này, Nguyễn Đăng Giáp lại được trời cho sinh ra trong một gia đình chẳng giàu sang khoa bảng. Nhưng chính gia đình này được đón nhận bao nhiêu tinh lực của quê hương, đất nước mà nhiều gia đình cao sang nơi khác chắc gì đã có. Gia đình của Giáp sống cùng xóm với gia đình cụ Nguyễn Thức Tự. Cụ nội Nguyễn Đăng Lương là học trò của cụ Tự và bạn học với những sĩ phu ưu tú của đất nước như Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế... mới 18 tuổi đã làm Chánh tổng tổng Thượng xá. Trước đó, thân phụ cụ Lương là cụ Nguyễn Đăng Thanh cũng từng làm chánh tổng. Tổ tiên đã như thế chả trách mà sau này có "hổ tử" Nguyễn Đăng Giáp. Cụ Nguyễn Sinh Sắc trong những ngày ra tập bài tại trường cụ Tự đã ở trọ trong nhà cụ Lương. Cu Nguyễn Đăng Thanh và cụ Nguyễn Đăng Lương đã để lại cho con cháu bức hoành phi Phúc Lai Thành (có phúc đức mới thành công). Nguyễn Đăng Giáp là thành quả của Phúc Lai Thành. Con cụ Lương và là ông nội của anh Giáp, ông Chương Đớn, tám chục năm rồi, vẫn để lại trong tôi ấn tượng về một con người trầm lặng, có dáng dấp nho phong mới thoáng nhìn đã thấy rõ. Rồi đến thân phụ của anh Giáp là ông Nguyễn Đăng Cẩn mà cách đây khoảng mười năm, nhân dịp cùng Truyền hình Việt Nam về Nghi Trường làm phim Danh nhân đất Việt về Vị đại nhân sư trên đất Lam Hồng Nguyễn Thức Tự thì tôi bỗng nhiên gặp ông ở nghĩa trang nhà anh Giáp. Ông Cẩn có dáng người đẹp, cao ráo, gương mặt lộ vẻ thông minh. Ông chào tôi như chào một người thân và trong chuyện trò gọi tôi là cậu với một ngôn từ đậm sắc thái bà con làm tôi cảm động và sống lại những ký ức tuổi thơ theo cha đến ăn giỗ ở nhà ông Chương Đớn. Rồi nữa là bà mẹ của anh Giáp, bà Nguyễn Thị Sinh, người họ Nguyễn Thức, cũng là một hiền mẫu ít thấy. Đặc biệt, hai ông bà sinh hạ chỉ rặt con trai những tám cậu, sớm hy sinh mất một, còn lại bảy mà cậu nào cũng ra cậu nấy mặt mũi sáng sủa và sống nghiêm túc, tử tế… xứng đáng là con bố Cẩn mẹ Sinh. Trông thấy ảnh bảy anh em dàn hàng ngang mà chụp ảnh, hẳn ai cũng thèm cái phúc nhà này sao mà lớn đến thế. Đúng là gia đình anh Giáp từng là một gia đình có nho phong nho cốt. Đến nay dù cho cuộc sống đổi thay nhưng di truyền văn hóa đó ít nhiều vẫn còn. Trưởng nam Nguyễn Đăng Giáp mà có được như thế là điều dễ hiểu khi được trời cho sinh ra trong một gia đình như thế.

          Và đây là Nguyễn Đăng Giáp, một cá thể sống phức hợp phong phú đa chiều độc đáo. Như mọi người đã biết, tốt nghiệp phổ thông trung học, Nguyễn Đăng Giáp có giấy báo trúng tuyển đại học, nhưng anh lại xung phong nhập ngũ lên đường chiến đấu ở chiến trường miền Nam trong những ngày gian khổ, ác liệt nhất. Sau ngày giải phóng miền Nam, anh lại cùng đơn vị tham gia giúp bạn Lào chẵn 10 năm. Từ chiến trường trở về, bước vào cuộc chiến thương trường không kém phần quyết liệt khó khăn, từng bước phấn đấu, anh trở thành một doanh nhân lớn của quân đội và của đất nước. Nhiều năm qua, trên cương vị của mình, người Thuyền trưởng tài năng Nguyễn Đăng Giáp đã chèo lái "con thuyền 36" vượt qua biết bao ghềnh thác để cập đến nhiều bến bờ vinh quang. Công trình nối tiếp công trình, chiến công nối tiếp chiến công, cá nhân Tổng Giám đốc Nguyễn Đăng Giáp và sau đó là tập thể Tổng Công ty 36 được tuyên dương Anh hùng Lao động trong thời kỳ Đổi mới. Cùng với các công trình, đại công trình có tầm vóc, có ý nghĩa kinh tế xã hội lớn, Nguyễn Đăng Giáp còn chỉ đạo tiến hành các hoạt động đền ơn đáp nghĩa có ý nghĩa chính trị và nhân văn sâu sắc.

          Để nhận diện Nguyễn Đăng Giáp, tôi muốn dùng hai thuật ngữ trung tâm và ngoại biên của lý thuyết hậu hiện đại đang thịnh hành trên thế giới để soi chiếu vào anh cho rõ hơn. Trung tâm chính là một Nguyễn Đăng Giáp, đảng viên cộng sản, đại tá quân đội, Tổng Giám đốc Tổng Công ty 36, Anh hùng lao động thời đổi mới, được tôn vinh là Doanh nhân tiêu biểu của Châu Á Thái Bình Dương và Doanh nhân của thế giới. Còn ngoại biên là một Nguyễn Đăng Giáp nằm ngoài phạm trù doanh nhân mà với ai thì chưa biết thế nào chứ với tôi thì đây là chỗ còn thể hiện nhiều giá trị người nhân bản truyền thống bền vững ở Nguyễn Đăng Giáp. Trước hết ở chỗ coi trọng đạo hiếu dựa trên cơ sở triết lý nhân sinh: "Vật bản hồ thiên/ Nhân sinh do tổ" (muôn vật sinh ra là nhờ có Trời/ Con người sinh ra là nhờ có tổ tiên). Với Nguyễn Đăng Giáp, cứ nhìn vào các việc anh tu tạo nhà thờ, xây khu lăng mộ ở quê, vừa chăm sóc chu đáo vừa làm nhiều thơ tri ân bố mẹ đẻ và đối xử với mẹ vợ thì biết anh là con người nặng tình, nặng nghĩa trong quan hệ gia đình là thế nào... Với anh "chữ hiếu ta lấy làm đầu" đúng với đạo lý Việt Nam xưa. Rồi là việc anh xây Đài tưởng niệm 32 liệt sĩ tại Cao điểm 21, Gio Mỹ, Gio Linh, Quảng Trị để tỏ lòng tri ân những đồng đội của mình đã hy sinh cho Tổ quốc. Đặc biệt, anh đã chủ trì bỏ công sức, tiền của để tiến hành tái thiết đền Diên Cờ ở quê nhà với một qui mô hoành tráng hiếm có trên đất Nghệ An thời nay. Đây là ngôi đền xưa nổi tiếng thiêng liêng thờ thần Cao Sơn, Cao Các được coi là hai vị thần phù hộ dân nghèo bị thiên tai bệnh tật và thờ thêm mấy vị có công lớn với dân làng, sau cách mạng bị phá bỏ thành nơi hoang phế.

          Đền Diên Cờ sau khi tái thiết còn là nơi phối tế Anh hùng dân tộc Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn và Thái sư Cương Quốc Công Nguyễn Xí "Người hai lần khai quốc". Theo truyền thuyết lịch sử, vào thế kỷ 15, Nguyễn Xí được nhà vua giao chỉ huy quân đội vào chinh phạt quân Chiêm Thành đang xâm lấn bờ cõi Đại Việt. Trên đường hành quân vào phương Nam, Nguyễn Xí đã cho quân sỹ dừng lại tại đây để luyện binh. Đền Diên Cờ đã được công nhận là Di tích quốc gia. Đón xuân, có lễ hội đền Diên Cờ trọng thể, đông vui. Theo tôi, việc tái thiết đền Diên Cờ là công lao to lớn nhất của Nguyễn Đăng Giáp. Đây là sự thành kính tri ân của anh đối với các bậc danh thần, danh tướng, các bậc anh hùng; là công trình văn hóa lịch sử tâm linh trao tặng quê hương, món quà đặc biệt trao lại cho nhân dân cả thời nay và cho hậu thế mai sau. Người cha muôn vàn kính yêu của anh đã về với tổ tiên. Anh Giáp rồi cũng không thoát khỏi luật trời định. Nhưng người dân Đông Chử - Nghi Trường kể cả trong vùng hôm nay và muôn đời sau hẳn sẽ không quên công đức của gia đình ông Nguyễn Đăng Cẩn với vai trò chủ lực của trưởng nam Nguyễn Đăng Giáp đã cứu lại cho quê hương đời sống tâm linh vững chãi để có cuộc sống yên bình mãi mãi về sau… Với tôi, đây là cống hiến lớn nhất của Nguyễn Đăng Giáp và gia đình anh ở cõi dương thế này... Nguyễn Đăng Giáp có chấp nhận ý tôi không nhỉ?

          Thuộc ngoại biên, ở Nguyễn Đăng Giáp còn là sự phong phú của thế giới tâm hồn. Tôi thực sự bất ngờ khi thấy ông Tổng Giám đốc Tổng công ty 36 anh hùng này lại còn thuộc thơ, mê thơ làm được thơ đến thế. Thơ của Nguyễn Đăng Giáp là thơ "để nhớ" để "suy ngẫm", là thơ về quê cha đất tổ, về cha về mẹ, về đồng đội thắm thiết nghĩa tình và cũng có thơ, ít thôi, thuộc phân thù tạc. Đặc biệt anh có trường ca Đoạn trường tôi sống 475 câu mà cũng liền mạch liền hơi, cũng tuôn trào cảm xúc chứng tỏ anh là người có thi hứng thi tình, thi ngôn, thi ảnh đáng nể, ít ra là với tôi tuy một đời sống với văn chương nhưng không được ông trời ban lộc thi ca. Đọc thơ của anh Nguyễn Đăng Giáp, tôi nghĩ đến một hiện tượng hôn phối không dễ có ở thế giới doanh nhân mà đầu óc đã phải dành cho sự tính toán lợi ích này lợi ích khác, con số này con số khác. Trong khi thi nhân dù thi lực nhiều hay ít thì trong tâm não cũng đã có chất lơ mơ, lãng đãng, thả hồn phiêu diêu nơi cỏ cây mây gió của đất trời, nơi cõi lòng thăm thẳm.

          Với Nguyễn Đăng Giáp, ai bảo anh không hiếu danh. Hiếu danh quá đi chứ. Bởi không tạo thanh danh thanh thế như thế thì lấy đâu ra điều kiện để khẳng định và phát triển. Bản chất của loại thanh danh này khác hư danh, khác danh hão. Cứ đọc mấy câu thơ rất thơ và đậm triết lý nhân sinh ở phần người ngoại biên này của anh sẽ thấy anh là người đáng yêu đáng quý biết bao về chí làm trai, về chuyện danh lợi ở đời:"Đời người như những khúc ca/ Lúc trầm bổng lúc hào hùng ngân xa/ Đời người là những kiếp hoa/ Khi tươi bướm lượn ong vờn vào ra/ Hoa tàn đừng để nhụy tàn/ Con chim để tiếng con người để danh/ Làm người để được thanh tao/ Coi thường danh lợi cao đầu mà đi/... Đường đời còn lắm chông gai/ Sức trai còn một ta nhân lên mười" (Mười năm suy ngẫm). "Đã mang chí lớn làm trai/ Chọc trời khuấy nước mấy ai sánh bằng/ Doanh nhân tâm sáng chí bền/... Âm vang danh hiệu anh hùng/ Chắc cương Xích thố dặm trương ta phi" (Đoạn trường tôi sống). Trên đất Lam Hồng ngày trước, cụ Nguyễn Công Trứ chẳng đã hiếu danh ghê gớm đó sao: "Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông". Nhưng chính Nguyễn Công Trứ hơn ai hết lại thấy: "Trên dường danh lợi vinh liền nhục/ Trong cuộc trần ai khóc lẫn cười". Với cụ, chữ danh gắn liền với "Nợ tang bồng vay trả trả vay/" với "Chí làm trai nam bắc đông tây/ Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể/ Nhân sinh thế thượng thùy vô tử/ Lưu đắc đan tâm chiếu hạn thanh" được đẩy lên mức anh hùng: "Chí những toan xé núi lấp sông/ Làm nên đứng anh hùng đây đấy tỏ". Tất cả là dựa trên ý thức và nhiệt huyết tự nhiệm trước cuộc đời: "Vũ trụ nội mạc phi phận sự" (Trong vũ trụ này, không chuyện gì là không phận sự của mình). Ấy thế nhưng cuối cùng thì lại: "Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo/ Giữa trời vách đá cheo leo/ Ai mà chịu rét thời trèo với thông". Có thể coi Nguyễn Đăng Giáp là hậu duệ của tướng công Nguyễn Công Trứ được không? Tôi muốn nói thế mặc dù vẫn thấy so với cụ Nguyễn, Giáp ta vẫn nhiều điều bất cập dù khi anh đã rất ngưỡng mộ và muốn noi theo cốt cách sống của Uy Viễn tướng công: "Kiếp phong trần trả vay vay trả/ Qua mấy đời vẫn chưa hoàn nợ" (Nốt lặng mùa thu). "Cụ đã từng ra trận/ Nghiêng ngả với đời quan/ Biết là vinh liền nhục/ Quên đi cảnh bần hàn/ Con cuộc đời binh nghiệp/ Gian khổ và tha hương/ Vẫn vững vàng tâm thế/ Trải một thời oanh liệt/ Khẩu xà nhưng tâm Phật/ Nghĩa thủy chung bạn bè/ Hiên ngang giữa cuộc đời/ Như cây tùng cây bách/ Dẫu hương sen bùn lầy/ Không hổ danh xứ Nghệ/ Nhân kiệt cùng địa linh/ Đời người là bể khổ/ Đa tài thường đa đoan/ Chí làm trai phải thế/ Dẫu đoạn trường dâu bể/ Thơm danh cùng nước non" (Thấp cao cuộc đời). Nguyễn Đăng Giáp không chỉ thích thơ, làm thơ mà còn thích nhạc. Nhiều bài thơ của anh được phổ nhạc. Đã có một quyển sách bề thế và đẹp Nguyễn Đăng Giáp đời là nhạc là thơ. Lại có cả một đêm nhạc thơ Nguyễn Đăng Giáp hoành tráng công phu ít thấy. Nghe nhạc thơ Nguyễn Đăng Giáp, tôi càng thấy con người này đúng là một nhân vật của tiểu thuyết khá hấp dẫn. Con người này có cái đặc tính đã làm gì thì cũng hết mình, theo ý mình và luôn luôn thẳng thắn "Kiếp sau nếu được làm người/ Thì còn bạch thoại hơn mười kiếp ni". Nhiều người quý nể Nguyễn Đăng Giáp có thứ bạch thoại (nói trắng ra) không vòng vèo, không vuốt ve này.

          Tóm lại, với tôi, Nguyễn Đăng Giáp - Anh là ai? Đó là một người được sinh ra trên một cái nôi "địa linh nhân kiệt", trong một gia đình họ Nguyễn Đăng có truyền thống cương cường, vào đời được hun đúc thử thách trong một môi trường đầy cam go, quyết liệt. Và hơn thế, bản thân anh có một nghị lực phấn đấu phi thường, một trí tuệ sắc sảo và một bản lĩnh vững chắc, nổi trội. Đặc biệt là: Với một cá tính mạnh, anh là người dám nghĩ, dám làm, dám nói, dám chịu trách nhiệm; Anh biết sống là thế nào, biết hạnh phúc là thế nào với một cá tính sống độc đáo đậm đà giá trị người thể hiện ở cả hai phạm trù trung tâm và ngoại biên như thế.

 

Bãi dọc, bãi ngang huyện Quỳnh Lưu từ cực Bắc giáp tỉnh Thanh; cực Nam giáp huyện Diễn Châu, bao gồm 11 xã, từ phía Bắc trở vào là Quỳnh Lập, Quỳnh Phương, Quỳnh Liên, Quỳnh Bảng, Quỳnh Lương, Quỳnh Minh, Quỳnh Nghĩa, Tiến Thủy, Quỳnh Thuận, Quỳnh Long, Sơn Hải và Quỳnh Thọ. Vùng biển nói chung hay bãi Ngang, bãi dọc Quỳnh Lưu là một dải đất có phong cảnh đẹp, non nước hữu tình. Đại thi hào Nguyễn Du khi đến đây đã viết: Mang mang hải thuỷ tiếp thiên xu (Mặt nước mênh mông bể lẫn trời). Mỗi làng quê, ngọn núi, mỗi ngôi đền đều gắn với những câu chuyện lịch sử và huyền thoại.

          Chạy dọc theo bờ biển với chiều dài 34 km là những cửa lạch nhận nguồn nước từ các con sông đổ ra biển đông; những ngọn núi và những bãi cát trắng phẳng lỳ. Phía Bắc là sông Hoàng Mai đổ ra cửa biển Lạch Cờn thuộc xã Quỳnh Phương. Phía Nam là sông Thai (phía thượng nguồn gọi là sông Cầu Giát) đổ ra cửa biển lạch Thơi thuộc xã Sơn Hải. Nối hai con sông phía Bắc và phía Nam là sông Mơ. Sông Thai và sông Mơ chia một nhánh đổ ra cửa biển lạch Quèn thuộc hai xã Tiến Thủy, Quỳnh Thuận. Sông Mơ là con sông đào, có chiều dài lịch sử hơn 1.200 năm. Sông được đào từ thời Tiền Lê nên có tên gọi là kênh Nhà Lê. Dòng sông cũng được nhiều lần nạo vét, tôn tạo để đảm bảo cho công tác vận tải đường thuỷ phục vụ các cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lăng và phát triển kinh tế, xã hội. Sông Mơ là biên giới tạo nên 5 xã vùng bãi Ngang từ Quỳnh Liên cho tới Quỳnh Nghĩa. Còn 6 xã biển hội tụ xung quanh 3 cửa lạch của 3 con sông ấy được gọi là các xã vùng bãi dọc.

          Nhân dân vùng biển Quỳnh Lưu đã đặt tên cho các làng của mình như Phú Lương, Phú Minh, Phú Nghĩa, Phú Thanh, Phú Quý, Phú Đức với khát khao được giàu có, nhưng giàu có về sự sáng suốt, lương thiện.

          Những hòn núi lớn nằm dọc bờ biển là: Phía cực Bắc có núi Xước, quãng giữa là rú Ói, phía nam là núi Rồng, Bà Bà, Kiến Sơn, Tiên Kỳ, hòn Thè... Thời Lý- Trần, cảng Xước dưới chân núi Xước là một quân cảng lớn của nhà nước. Ngày xưa nhiều cuộc hành quân của vua quan, quân lính Nhà nước Đại Việt từ kinh đô Thăng Long vào chinh phục phương Nam phải đi bằng đường biển. Chính địa hình gần cửa lạch, bên núi cao là nơi trú quân an toàn, lợi thế. Hòn Bảng, hay là hòn Ói nhìn từ xa như một cái bảng dựng giữa trời. Tương truyền rằng, địa phương nào địa thế nhìn về hòn Bảng thì nhân dân làng đó học hành giỏi, nhiều người đỗ đạt, giật được bảng vàng vua ban. Rú Rồng thuộc hai xã Quỳnh Nghĩa, Tiến Thủy, dài 4km, có đỉnh cao 140m, uốn lượn như con rồng khổng lồ bên bờ biển. Trên đỉnh rú Rồng có Ao tiên, bàn Cờ tiên. Ngược với huyền thoại Từ Thức đi gặp tiên nữ, ở đây các cô tiên nữ giáng trần ngắm cảnh, múa hát và đánh cờ. Một nàng tiên đã mê chàng thanh niên đánh cá đẹp trai, khoẻ mạnh và quyết định ở lại trần gian, kết duyên với chàng rồi sinh con, cháu... ngày càng đông đúc. Cho nên dân bản địa tự hào mình là con tiên. Bãi biển chân rú Rồng nước trong xanh, cát trắng, sóng lặng; say với cảnh đẹp nơi đây, các tiên nữ thường xuống tắm mát và thi nhau ném đá. Những tảng đá, hòn đá các nàng tiên ném bỗng hoá thành hình thù những con vật như: Hòn Cọp, giống một con hổ dữ tợn, hòn Cóc trông hiền từ như một con cóc đang đuổi theo cắn vào đuôi hổ, hòn Trống mang hình cái trống. Cạnh đó là hòn Ông, hòn Bà tựa hình một cặp vợ chồng ngư phủ. Câu chuyện cổ về hòn Ông, hòm Bà có ý nghĩa về mặt giáo dục đạo đức sâu sắc.

          Xã Quỳnh Thuận có ba câu chuyện ở trên núi Bà Bà như sau:

          - Chuyện Sơn thần nâng trời: Ngày xưa bầu trời rất thấp, sát đỉnh đầu. Sơn thần đã dùng sức mạnh của mình để nâng bầu trời lên. Để giúp Sơn thần nâng bầu trời cao hơn nữa, dân làng đã xúc đất, khiêng đá làm nền cho Sơn thần đứng. Gò đất đá dân đắp cao dần thành núi Bà Bà. Khuất phục trước ý chí của con người, trời tiếp tục nâng vòm trời và vén mây lên cao tít như hôm nay.

          - Chuyện chim phượng hoàng đẻ trứng vàng: Trong một đợt gió nóng kéo dài, có đôi chim phượng hoàng lông biếc, mỏ vàng, mào đỏ từ đại ngàn bay về tắm biển, làm tổ trên núi Bà Bà và đẻ những quả trứng vàng trong tổ vùi kín như cất vật báu. Dân làng phát hiện ra, chưa kịp mừng vui thì bão tố ập đến, có ba con thuồng luồng dưới biển lên núi, cướp trứng vàng, lặn xuống thủy cung.

          - Chuyện bảy ông tiên uống rượu, đánh cờ trên núi Bàn Cờ. Bàn cờ là một phiến đá phẳng và bảy cụm đá quanh phiến đá là ghế ngồi của các ông tiên. Các di vật này hiện còn trên đỉnh núi.

          Xã Quỳnh Lập có câu chuyện kể về việc vua Lê Thánh Tông đi đánh giặc Chiêm Thành, khi trở về không vào đền Cờn trả lễ, bị gió Đông hồi quật trở lại nên xã Quỳnh Lập có một vùng được đặt tên là Đông Hồi.

          Ở xã Quỳnh Phương thì có câu chuyện về cây gỗ thần; chuyện huyền thoại xung quanh đền Cờn linh thiêng.

          Truyện hang cáo núi Hung ở xã Quỳnh Thọ v.v.

          Là một vùng quê mà mọi hoạt động của nhân dân gắn liền với biển trời, sông nước. Và tất nhiên chịu tác động rất lớn của thiên nhiên nhất là gió bão, mưa, nắng, thủy triều... Các hiện tượng thiên nhiên bất thường và những thiên anh hùng ca trong cuộc chiến chống thiên tai đã đi vào những câu chuyện huyền thoại trong dân gian. Từ xa xưa nhân dân vùng biển đã tìm đến một sức mạnh thần bí để phụng thờ và mong được phù hộ cho họ dành chiến thắng trong cuộc chiến này. Lúc đầu là thờ nhiên thần, thiên thần rồi thờ nhân thần và phối thờ các vị anh hùng dân tộc đã vì nước vì dân. Do đó, làng quê nào cũng có nhiều đền, chùa, miếu, nghè thờ gắn với những câu chuyện huyền thoại. Đền thờ lớn nhất trong vùng, nổi tiếng trong cả nước là đền Cờn ở xã Quỳnh Phương được nhà Trần phong là: Quốc gia Nam hải Đại càn thánh nương. Ngày nay, được Nhà nước ta công nhận là di tích văn hóa Quốc gia. Đền Xuân Úc xã Quỳnh Liên thờ tướng quân Đặng Tế, người có công đánh giặc phương Nam; Đền Thượng xã Quỳnh Nghĩa thờ hai vị thần: Đế thích thần thông thượng đẳng thần và Cao sơn Cao các thượng đẳng thần; đền Tây xã Quỳnh Bảng thờ Quận công Hồ Hữu Nhân và đình Tám mái xã Quỳnh Thuận được xếp hạng di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia. Đền Chính xã Tiến Thủy thờ Tứ vị Đại càn thánh nương được xếp hạng di tích văn hóa cấp tỉnh. Các xã Tiến Thủy, Quỳnh Lập, Quỳnh Long, Quỳnh Thọ, Quỳnh Bảng mỗi xã có từ 3 đến 8 đền thờ.

          Biển mênh mông ngàn triệu năm sóng vỗ; những dòng sông, cửa lạch thơ mộng đã sinh ra và nuôi lớn những người con ưu tú của quê hương đất nước. Đó là một làng Quan xã Quỳnh Thuận có 9 Quận công, tướng lĩnh họ Hồ thời Lê và các tên tuổi khác như: Quận công Trương Đắc Phủ xã Quỳnh Nghĩa; Quận công Hồ Hữu Nhân xã Quỳnh Bảng; Võ tướng Đặng Tế triều Lý xã Quỳnh Liên... Toàn vùng có năm nhà văn, hai nhạc sỹ, một nghệ sỹ sân khấu. Ở xã Sơn Hải là nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhà văn Thái Bá Lợi và nhạc sỹ là Ánh Dương; xã Tiến Thủy là nhà văn Bùi Hiển;  xã Quỳnh Minh là nhà văn Trần Huy Quang; xã Quỳnh Thọ là nhà văn Đàm Quỳnh Ngọc; xã Quỳnh Nghĩa là nhạc sỹ Hồ Hữu Thới và xã Quỳnh Long là hội viên Hội nghệ sỹ sân khấu Việt Nam Trần Khải. Trong đó nhà văn Nguyễn Minh Châu được giải thưởng Hồ Chí Minh; nhà văn Bùi Hiển, Thái Bá Lợi và nhạc sỹ Ánh Dương được giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật. Làng Phú Nghĩa, thuộc hai xã Quỳnh Nghĩa, Tiến Thủy, có truyền thống văn hóa dân gian đặc sắc.

          Một nét đặc biệt của nhân dân vùng biển là giọng nói. Các xã vùng bãi dọc thường giọng nói khá nặng, như có chan thêm vị mặn nước biển nên người ta thường nói là dân vùng biển "ăn sóng nói gió". Bởi đàn ông khi đến tuổi trưởng thành thì nghề chính là ra khơi bám biển, họ phải nói như vậy mới át được sóng biển vỗ ì ọap đêm ngày, nhất là khi biển động. Từ bản chất công việc như vậy đã tạo nên tính cách của nhân dân vùng này là ngang tàng, kiên cường, dũng cảm, cần cù và chấp nhận cả đau thương, mất mát để có sản phẩm nuôi sống gia đình và cung cấp sản phẩm cho xã hội. Từ tính cách của người đàn ông mà dần dà thành tính cách cả cộng đồng. Nhân dân vùng bãi ngang nhìn chung giọng nói nhẹ hơn, na ná như giọng nói vùng đồng bằng. Nhân dân vùng này rất cần cù và sáng tạo trong sản xuất. Điều kiện sản xuất với loại đất cát pha ven biển ấy, không có hệ thống thủy lợi nên cây trồng chủ yếu rau màu và cây con giống. Một nghề quan trọng thứ hai của nhân dân vùng này là làm muối. Họ đã biến nước biển mặn thành hạt muối trắng tinh, góp phần tăng thêm vị đậm đà cho bữa ăn mỗi nhà. Để có được sản phẩm có giá trị trên mảnh đất này, người dân vùng bãi ngang phải cần cù, chịu khó, một nắng hai sương.

          Bãi dọc, bãi ngang là vùng đóng góp nhiều nông hải sản, diêm nghiệp, thủ công nghiệp của huyện Quỳnh Lưu; một vùng có tiềm năng du lịch tâm linh, tắm mát và nghỉ dưỡng. Sản lượng thủy sản của toàn huyện như cá, tôm, cua, mực...; chế biến nước mắm, ruốc, mực khô, cá khô chủ yếu được sản xuất chế biến tại vùng bãi dọc, bãi ngang. Những con thuyền buôn nước mắm, hàng thủy sản của dân vùng biển Quỳnh Lưu đi khắp đất kinh kỳ, nên có câu "Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An". Một dải đất cát pha ven biển tập trung nhất là từ Quỳnh Liên đến Quỳnh Nghĩa là vùng đất chuyên canh rau màu cao cấp từ cải bắp, su hào, hành tỏi, khoai tây, cà rốt... Rồi ươm các loại giống rau. Hàng hóa cây con giống, rau màu vùng này, nhất là hai xã Quỳnh Lương, Quỳnh Minh đã chiếm lĩnh thị trường trong và ngoại huyện. Vùng bãi dọc, bãi ngang còn nổi tiếng nghề mộc truyền thống; nghề đóng tàu thuyền, đan lưới phục vụ đánh bắt hải sản. Tiêu biểu về nghề mộc, đóng tàu thuyền là các xã Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Lương, Quỳnh Minh, Sơn Hải, Quỳnh Thọ. Nghề du lịch cũng đang không ngừng phát triển. Vào những ngày cuối tuần của những tháng hè hầm hập nắng, gió lào; du khách thập phương đã đổ về các bãi biển đẹp như Quỳnh Liên, Quỳnh Bảng, Quỳnh Lương, Quỳnh Minh, Quỳnh Nghĩa để tắm biển, nghỉ dưỡng; chiêm bái đền Cờn và du ngoạn các thắng cảnh trong vùng.

          Nhân dân vùng biển Quỳnh Lưu đã dũng cảm, kiên cường trong công cuộc chiến đấu, chống chọi với thiên tai địch họa để tồn tại và phát triển đi lên; xây dựng được đời sống vật chất, tinh thần phong phú. Mặt khác, sự phong phú về ngành nghề và sản phẩm của vùng bãi ngang, bãi dọc sẽ là những tiền đề phát triển thành một vùng quê ngày càng trù phú, giàu đẹp.     

 

Linh Nhi

1. Văn hóa dòng họ ở Quỳnh Lưu

          Ở Việt Nam, dòng họ thường bắt nguồn từ một thủy tổ, là người có công đầu tiên khai sơn phá thạch ở một địa vực nhất định. Theo thời gian, dòng họ sinh sôi, nảy nở trở thành nhiều chi, nhánh với nhiều thế hệ nối tiếp, gồm cả thế hệ trước và cả người cùng thế hệ và cùng thời với nhau, bắt nguồn từ vị thủy tổ chung. Đặc điểm chung nhất của các dòng họ người Việt là chế độ phụ hệ, nghĩa là quan hệ dòng họ được tính theo người cha.

          Do xuất phát từ quan hệ cùng huyết thống nên từ xa xưa đến nay, dòng họ là một thiết chế xã hội quan trọng, trực tiếp góp phần tạo nên kết cấu làng xã và rộng hơn nữa là đất nước, gắn bó chặt chẽ với làng xã. Dòng họ không chỉ là một thiết chế xã hội mà còn là một môi trường văn hóa mang tính đặc thù. Truyền thống của dòng họ trở thành nhân tố cơ bản góp phần tạo nên truyền thống làng xã, truyền thống địa phương và dân tộc. Nhiều nhân vật kiệt xuất đã mang lại vinh quang cho gia đình, dòng họ, dân tộc được sinh ra từ những dòng họ khác nhau. Do vậy, dòng họ và văn hóa dòng họ còn là nhân tố nội sinh thúc đẩy sự phát triển văn hóa và xã hội Việt Nam.

          Cũng như những địa phương khác trên cả nước, ở xứ Nghệ, từ lâu đã tồn tại những dòng họ mà sự đóng góp của những dòng họ ấy vào quá trình xây dựng, bảo vệ quê hương, góp phần làm nên bản sắc văn hóa của quê hương, xứ sở thật to lớn, đậm đà, độc đáo chất Nghệ. Trong đó, Quỳnh Lưu là huyện được xem là tiêu biểu cho các hoạt động của các dòng họ với 1.952 dòng họ. Trải qua quá trình hình thành và phát triển, nét đẹp văn hóa dòng họ ở Quỳnh Lưu đang được giữ gìn, phát huy và trở thành nhân tố quan trọng góp phần tạo nên truyền thống văn hóa làng xã tại các địa phương trong toàn huyện.

          Đã có thời gian, do yếu tố toàn cầu hóa và nền kinh tế thị trường đã khiến lớp trẻ thờ ơ với những giá trị truyền thống. Tuy nhiên, các dòng họ Quỳnh Lưu đã nỗ lực phục hồi "sức mạnh dòng họ" của mình bằng việc phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp, tổ chức dòng họ một cách chặt chẽ, đoàn kết, vững mạnh bất kể khoảng cách về địa lý. Các dòng họ đã thành lập ban liên lạc thông qua đó kết nối con cháu dòng họ trong huyện, trong tỉnh, trong cả nước và thậm chí cả ở nước ngoài. Ban liên lạc cũng đã có nhiều hoạt động ý nghĩa như gây quỹ khuyến học, quyên góp giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn trong dòng họ, ghi ơn, tôn vinh những người có công, tu sửa nhà thờ, chăm lo việc họ, chăm lo hiếu hỷ trong dòng họ,...

          Mặc dù giữa các dòng họ ở Quỳnh Lưu luôn có tính đặc thù, không dòng họ nào giống dòng họ nào và mỗi dòng họ tạo nên một cộng đồng khép kín với đầy đủ các yếu tố tâm linh, phong tục tập quán, truyền thống đạo lý, quan hệ ứng xử,... nhưng hầu hết các dòng họ đều có hoạt động họp họ, tế tổ với các nội dung: lễ tế tổ hàng năm, viết và bổ sung gia phả, chỉnh sửa, bổ sung tộc ước, việc công đức của con cháu, hoạt động khuyến học, hoạt động xã hội của dòng họ,... Thông qua những nội dung hoạt động đó mà các dòng họ giáo dục hậu thế hiểu rõ nguồn cội và quan hệ huyết thống của mình, giáo dục các truyền thống tốt đẹp của tổ tiên,... qua đó tăng thêm niềm tự hào, sự gắn kết và trách nhiệm đối với tổ tiên, dòng họ cũng như đối với đất nước, quê hương. Bằng bề dày truyền thống cũng như nét đẹp văn hóa của mình, các dòng họ đã góp phần  không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội - văn hóa của huyện Quỳnh Lưu.

2. Tộc ước - nét độc đáo của văn hóa dòng họ

          Văn hóa dòng họ bao hàm trong đó những giá trị vật thể như bia ký, gia phả, từ đường, lăng mộ… và các giá trị phi vật thể như bề dày truyền thống của dòng họ, quy ước dòng họ, việc thờ cúng tổ tiên và nghi lễ, mối quan hệ giữa các thành viên nội tộc, mối quan hệ với xã hội, vai trò và vị trí của dòng họ đối với sự phát triển của địa phương hoặc đối với đất nước… Trong đó, nếu như Gia phả được xem là "gia bảo", giúp hậu thế hiểu rõ nguồn cội và huyết thống của mình; thì Tộc ước được xem là "kim chỉ nam" trong giáo huấn con cháu dòng họ bằng những quy tắc, chuẩn mực về đạo đức, xã hội được lập ra nhằm điều chỉnh hành vi, ứng xử của con cháu trong dòng họ nhằm giữ gìn, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống, thuần phong mỹ tục, qua đó góp phần củng cố và phát triển dòng họ. Mỗi dòng họ ở Quỳnh Lưu đều có Tộc ước riêng, được xây dựng dựa trên cơ sở những hành vi văn hóa vừa kế thừa chọn lọc các giá trị cổ truyền, vừa quy nạp thêm các giá trị mới mang tính nhân bản, tiến bộ để góp phần giáo dục con cháu dòng họ.

Thông qua Tộc ước, các dòng họ tạo nên một khuôn phép riêng giống như luật pháp riêng của dòng họ mình để hướng con cháu sống theo quy tắc, quy định và điều lệ chung của dòng họ. Nhờ đó, con cháu dòng họ tự trau dồi đạo đức, lối sống, cố gắng học hành, rèn luyện, trau dồi đạo đức tự hoàn thiện mình, giữ nề nếp gia đình, dòng họ. Những kẻ "bất giáo hoá", ăn ở bất hiếu, thất đức thì cả họ lên án, bài trừ, coi như không phải con cháu trong họ, không được đến nhà thờ, không dám ngẩng mặt nhìn họ hàng. Nhiều khi lệ luật của họ lại đáng sợ hơn cả pháp luật Nhà nước.

          Cùng với Gia phả, Tộc ước như một sự kết nối với tổ tiên, thông qua những công đức, gương sáng của tiền nhân, danh thơm của họ mình mà giáo huấn con cháu về truyền thống, đạo lý của dân tộc. Nhờ đó, dù vô tình hay hữu ý, thông qua Gia phả, tộc ước thế hệ sau sẽ tiếp nhận được những chuẩn mực giáo dục của cha ông, từ đó mỗi cá nhân tự điều chỉnh cho phù hợp, hài hòa trong xã hội hiện đại.

2.1. Tộc ước với giáo dục truyền thống trọng lão

          Sự kính trọng, tôn vinh các bậc cao niên vốn là nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam. Từ cổ xưa, người nước Nam thường quan niệm tuổi thọ là "thiên tước" (tước vị trời ban), thậm chí nó còn được xem trọng hơn cả tước vị của triều đình ban phong. Từ xưa, người già nhất trong cộng đồng thường là người điều hành công việc của làng xã bằng kinh nghiệm sống và uy tín của mình. Lệ chúc thọ, lên lão, khao lão đã được các cộng đồng làng xã chú trọng duy trì dưới các hình thức khác nhau theo quy định trong hương ước của mỗi làng.

Giáo dục con cháu kính trọng, yêu thương người cao tuổi là truyền thống tốt đẹp, nhân văn của người Việt Nam, trong Phần 5 của Tộc ước họ Hồ ở Quỳnh Đôi ghi rõ:

          "Điều 17. Việc hiếu, hỷ phải đảm bảo thuần phong mỹ tục của dòng họ, cố kết tình thân ái, đoàn kết trong dòng họ, khuyến khích những tình cảm tốt đẹp, chia sẻ những vui buồn của cá nhân và gia đình để mọi người đều cảm thấy ấm áp tình đồng tộc.

          Điều 18. a. Các cụ lên tuổi thọ 70, 80, 90, 100 có lễ trình Tiên tổ, họ có lễ mừng tại gia.

          b. Các bậc thúc phụ, tôn trưởng, thành viên ban cán sự đương nhiệm và các vị nguyên là ban cán sự các thời kỳ, những người có nhiều công lao với họ, khi đau ốm được họ tổ chức thăm hỏi tại gia.

          c. Các cụ từ 70 tuổi trở lên (con trai, con dâu, con gái) khi qua đời BCS thay mặt họ đến kính viếng. Những người có nhiều công lao với họ, thành viên BCS các thời kỳ tuy chưa đến tuổi 70, khi qua đời họ cũng tổ chức kính viếng....".

          Họ Hồ là họ lâu đời ở Quỳnh Lưu. Kể từ trạng nguyên Hồ Hưng Dật lập nghiệp ở Hương Bào Đột (nay thuộc Quỳnh Lâm, Quỳnh Lưu, Nghệ An), đến nay đã trên ngàn năm. Người họ Hồ tập trung ở Châu Hoan (Nghệ An - Hà Tĩnh), con cháu ngày nay có mặt khắp nơi trên cả nước. Tộc phả dòng họ Hồ bị thất truyền 11 đời (khoảng 300 năm). Đến đời thứ 12 (ông Hồ Liêm) dời ra Thanh Hóa và đời 13 (ông Hồ Kha) ở Nghệ An, tộc phả mới liên tục. Cháu đời thứ 15 của trạng nguyên Hồ Hưng Dật là Hồ Quý Ly (vua nhà Hồ), Trạng nguyên Hồ Tông Thốc, Quản lĩnh hầu Hồ Hân, Hoan quận công Hồ Nhân. Cháu 27 đời là vua Quang Trung (Hồ Thơm), Hoàng giáp Hồ Sĩ Đống, nữ sĩ Hồ Xuân Hương, Tư nhân hầu Hồ Phi Tứ. Đến nay di duệ cụ tổ Hồ Hưng Dật đã đến đời 38, 39; đời nào cũng có công đóng góp nhiều cho đất nước, có nhiều di tích văn hóa lịch sử được Nhà nước công nhận. Nhà thờ họ Hồ ở Quỳnh Đôi thì chắc chắn ai cũng biết, trong đó tập hợp rất nhiều danh nhân, như công thần nhà Lê là Quản lĩnh hầu Hồ Hân, các nhà thơ, nhà sử học như Hồ Sĩ Dương, Hồ Phi Tích, Hồ Sĩ Tân, Hồ Sĩ Đống… cùng các nhà yêu nước và cách mạng, như Hồ Sĩ Tuần, Hồ Ngọc Lãm, Hồ Tùng Mậu… Tiếp nối truyền thống, ngày nay con cháu họ Hồ có nhiều đậu đạt, hiển danh, có nhiều đóng góp cho quê hương, đất nước. Cùng với việc không ngừng ghi chép, bổ sung con cháu vào gia phả thì trong Tộc ước, họ Hồ cũng không ngừng sửa đổi, bổ sung các điều khoản, nội dung để phù hợp với từng giai đoạn lịch sử.

          Tộc ước của họ Hồ được soạn thảo khá công phu với 10 phần, gồm: Phần một: Những quy định chung; Phần hai: Việc thờ tự; Phần ba: Công tác tổ chức; Phần bốn: Chế độ sinh hoạt họ; Phần năm: Hiếu - Hỷ; Phần sáu: Công tác xã hội và khuyến học, khuyến tài; phần bảy: Tài sản - tài chính của họ; Phần tám: Công tác kiểm tra; Phần chín: Khen thưởng và nhắc nhở; Phần mười: Điều khoản thi hành.

          Trong 10 phần của Tộc ước họ Hồ thì Phần năm là phần giáo huấn nhằm nhắc nhở con cháu dòng họ hiếu thảo trong gia đình, chăm sóc người già, hướng về cha ông, tổ tiên,...

2.2. Tộc ước với giáo dục truyền thống hiếu học

          Đối với các dòng họ ở Quỳnh Lưu, nổi bật lên là văn hoá giáo dục, là truyền thống hiếu học, truyền thống yêu nước cách mạng của dòng họ. Hiếu học, khổ học thành tài là đức tính quý báu của các dòng họ. Có lúc, có nơi cả nhà, cả họ đều miệt mài, đèn sách mặc dầu đời sống vật chất thật là nghèo khó, thiếu thốn. Do đó, việc giáo dục truyền thống hiếu học rất mạnh mẽ thông qua các ban khuyến học và quỹ khuyến học của dòng họ. Phần sáu của Tộc ước họ Hồ ghi:

          "Điều 22. Họ Hồ là họ có truyền thống hiếu học lâu đời, có nhiều người đỗ đạt cao, đóng góp xứng đáng cho đất nước, quê hương và dòng họ. Noi gương tiên tổ, con cháu phải phát huy truyền thống hiếu học của dòng họ, ra sức học tập, rèn đức, luyện tài; trở thành những người có đạo đức, tri thức để phụng sự tổ quốc, góp phần tôn vinh gia đình và dòng họ.

          Điều 23.(...) Các trung, tiểu chi, nhánh phải lập quỹ khuyến học, khuyến tài và làm tốt công tác khuyến học, khuyến tài của trung, tiểu chi, nhánh của mình.

Điều 24. Các cháu đạt các thành tích xuất sắc trong lao động sáng tạo, trong nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, trong kinh doanh, trong hoạt động chính trị - xã hội đều được họ vinh danh và khen thưởng".

          Mỗi năm, trong kỳ xuân tế hoặc kết thúc năm học, trước bàn thờ tổ tiên nghi ngút khói hương, các dòng họ tổ chức báo cáo thành tích học hành của con em dòng họ trong năm đó và phát phần thưởng cho con em học hành giỏi, nhắc nhở con cháu gắng sức học hành để ngày một làm rạng danh thêm truyền thống dòng họ. Những buổi lễ như thế có giá trị to lớn chẳng khác gì buổi lễ phát phần thưởng trong dịp tổng kết năm học ở nhà trường. Nó nuôi dưỡng ý thức thường trực về việc học, thậm chí còn coi việc học là một nghề. Những dẫn chứng đó cho thấy dòng họ có vai trò to lớn trong giáo dục truyền thống hiếu học.

          Không chỉ trong Tộc ước, ở mỗi quyển sử của các dòng họ đều chứa đựng tinh thần hiếu học sâu sắc, chẳng hạn mở đầu quyển sử của họ Dương ở Quỳnh Đôi là câu đối "Thế xuất khoa bảng - Thanh bạch môn phong" (Nếp nhà thanh bạch - Đời có khoa danh). Trong các quyển sử của hầu hết các dòng họ đều có phần "Khoa danh trường biên", đây là phần ghi thành tích học hành khoa bảng của các cá nhân ở nhiều thế hệ khác nhau. Một số dòng họ còn xây cả bia trong khuôn viên nhà thờ gọi là "Bách danh đài" để ghi tên những người có công lao đối với đất nước, có công lao đối với làng xóm, dòng họ, có thành tích nổi bật trong học hành khoa bảng đã làm rạng danh cho dòng họ, làng xóm, đất nước. Nhờ thế, Quỳnh Lưu nổi tiếng với bề dày thành tích trong giáo dục từ xưa đến nay.

2.3. Tộc ước với giáo dục truyền thống trọng đạo lý, gia phong

          Ngoài giáo dục truyền thống trên, Tộc ước của các dòng họ còn giáo dục con cháu các truyền thống tốt đẹp của cha ông: truyền thống tôn trọng đạo lý, gia phong, như:

          "Điều 21. Họ là một tập thể trong cộng đồng làng xã nên phải giáo dục con cháu:

          - Nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương chính sách và pháp luật của nhà nước, quy định của địa phương. Đoàn kết với các dòng họ, đoàn kết xóm làng, chống chia rẽ bè phái.

          - Giáo dục con cháu không vi phạm các tệ nạn xã hội. Trung, tiểu chi, nhánh nào có người hư hỏng thì trung, tiểu chi, nhành đó phải giáo dục giúp đỡ họ tiến bộ" (Trích Phần 5, Tộc ước họ Hồ ở Quỳnh Đôi).

3. Lời kết

          Các giá trị đạo đức truyền thống, nền tảng văn hóa bị "xâm phạm" như hiện nay đã gióng lên tiếng chuông báo động về sự xuống cấp của đạo đức xã hội, nhất là trong giới trẻ. Việc các dòng họ xây dựng, biên soạn Tộc ước đã góp phần giáo dục con cháu về các giá trị truyền thống tốt đẹp, gắn với việc xây dựng nền tảng đạo đức xã hội, ngăn ngừa sự xâm nhập của các loại hình văn hóa và lối sống ngoại lai phi truyền thống. Cũng với Gia phả, Tộc ước được xem là kênh trao truyền và gìn giữ văn hóa dòng họ tích cực, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

          Các nhà khoa học cũng đồng thuận khẳng định rằng, không một gia đình nào không nằm trong dòng họ, xây dựng gia đình văn hóa cũng chính là xây dựng dòng họ văn hóa, sự kết nối giữa các dòng họ trong cộng đồng tạo nên một xã hội văn hóa. Trong xu hướng xã hội ngày càng nhận thức được gia đình là nơi gìn giữ, phát huy tốt nhất các giá trị truyền thống tốt đẹp của dòng họ, thì nên chú trọng đến việc chăm lo xây dựng đạo đức của dòng họ, và lan tỏa giá trị đạo đức dòng họ đến nề nếp gia phong của từng gia đình để chung tay gìn giữ đạo đức xã hội khi đang có những vấn đề đáng báo động. Vì thế, cần phát huy vai trò của dòng họ với những tinh hoa tốt đẹp trong xây dựng con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.