Chuyên san KHXH&NV số 1/2019

PGS. Chương Thâu

 

I. Sự kiện

Chiến tranh Thế giới thứ Nhất kết thúc ngày 11 - 11 - 1918. Sáng sớm hôm đó, đoàn đại biểu của nước Đức do Écbécgiơ (Erzberger) cầm đầu, thay mặt Khối liên minh Đức - Áo - Hung, đã ký Hiệp ước đình chiến với Khối hiệp ước Anh - Pháp - Ý - Mỹ - Nhật ở khu rừng Côngpienhơ (Conpiègne) trên đất Pháp. 11 giờ cùng ngày, từ Paris đã vang lên 101 phát đại bác báo hiệu sự chấm dứt hoàn toàn cuộc tàn sát ghê gớm đầu tiên giữa những tập đoàn đế quốc chủ nghĩa trên quy mô thế giới.

Ngày 18-11-1919, Tổng thống Pháp Poanh Carê (Raymond Poin Caré) chính thức tuyên bố khai mạc Hội nghị Hòa bình (Hòa hội Versailles) ở Paris: "Thưa các Ngài", ông nói: "Đúng 48 năm trước đây, cũng tại phòng gương tráng lệ này, Cung điện Versailles, đế quốc Đức tự tuyên bố thành lập. Hôm nay chúng ta tập hợp tại đây để chấm dứt sự tồn tại của nó".

Hội nghị Hòa bình này do Thủ tướng Pháp Côlêmăngxô (Clémenceau) làm chủ tịch và có các thành viên là các đại biểu của 27 nước lớn nhỏ từng tham chiến cùng dự họp. Nhưng mọi công việc của Hội nghị được quyết định bởi 10 người của 5 nước Anh, Mỹ, Pháp, Ý và Nhật.

Tại Hội nghị này, Thủ tướng Pháp Clémenceau hi vọng nước Pháp giữ được vị trí bá chủ ở châu Âu đối trọng với Thủ tướng Anh là Lôi Gioocgiơ (Loyd George). Tham gia Hội nghị còn có Tổng thống Mỹ Uynxơn (Thomas Woodaon Wilson) mà trước đó (1-1918) đã đưa ra bản Chương trình 14 điểm (1). Chương trình này khá chi tiết, nhưng chỉ là những lời đường mật mị dân đầy cám dỗ dựa trên nguyên tắc phân chia "công bằng - quả thực chiến thắng" theo quan điểm của chủ nghĩa đế quốc, trong đó có cả vấn đề "dân tộc tự quyết cho các nước thuộc địa".

Sau nhiều tháng ngày bàn cãi gay go giữa các đoàn tham dự, ngày 6-5-1919, Hội nghị toàn thể đã thông qua Hòa ước Versailles. Chủ tịch Hội nghị, Thủ tướng Pháp Clémenceau hùng hồn tuyên bố: "Giờ phút cuối cùng đã đến. Các Ngài yêu cầu hòa bình. Chúng tôi đồng ý trao hòa bình cho các Ngài".

Ngày 28-6-1919 hoàn thành việc ký kết. Chiều hôm đó ở Paris tràn ngập cả rừng cờ. Từ tháp Epphen, ánh đèn xanh, đỏ, trắng, vàng chiếu vào thành phố. Cũng vào ngày đó, các thành phố ở nước Đức treo cờ rủ để tang vì "bại trận"!

Nội dung Hòa ước gồm các điều khoản về lãnh thổ, về đảm bảo an ninh, về bồi thường chiến tranh. Quy ước thành lập Hội Quốc liên (do Mỹ đề nghị) ký ngày 28-4-1919 cũng được đưa vào Hòa ước.

Theo bản Hòa ước này, Anh là kẻ được lợi nhiều nhất vì thuộc địa được mở rộng. Thành quả chủ yếu của Pháp là lấy lại được hai tỉnh Andát, Loren và được quyền khai thác than ở hạt Xarơ (Sarre). Ngoài ra, trong số thuộc địa của Đức và Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp được quyền ủy trị ở Xiri, Libăng, một phần Tôgô và một phần Camơrun. Các nước thuộc phe thắng trận đều được chia ra một số quyền lợi nhất định, như Nhật Bản được làm chủ phần bán đảo Sơn Đông của Trung Quốc, làm chủ các đảo ở Thái Bình Dương phía Bắc đường xích đạo vốn là thuộc địa của Đức.

Với Hòa ước này, Đức mất 1/8 đất đai, 1/11 dân số, 3/4 mỏ sắt, 2/5 sản lượng gang, 1/3 sản lượng thép, 1/7 diện tích trồng trọt,… Đức phải bồi thường 132 tỉ mác, Đức bị hạn chế lực lượng vũ trang đến mức tối đa. Các thuộc địa của Đức trở thành đất "ủy trị" của Hội Quốc liên.

Bấy giờ, tại Paris, tổ chức "Nhóm những người yêu nước An Nam" mà đại biểu là các chí sĩ Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường đã cử người thanh niên ưu tú mang đến Hòa hội, nhờ chuyển cho các đại biểu Đồng minh và tất cả các Nghị viên của Quốc hội Pháp bản văn bản "YÊU SÁCH CỦA NHÂN DÂN AN NAM" gồm 8 điểm, dưới ký tên người thay mặt là NGUYỄN ÁI QUỐC. Và từ đây, "Tên gọi Nguyễn Ái Quốc như một nguồn ánh sáng, một niềm hy vọng đã lóe sáng trong bầu trời đen thẫm"(2).

Bản Yêu sách in làm 3 thứ tiếng: tiếng Pháp do Phan Văn Trường dịch, bản tiếng Trung Quốc do cụ Phan Bội Châu dịch. Ngoài ra, bản Yêu sách còn được Nguyễn Ái Quốc diễn đạt dưới hình thức thơ lục bát và song thất lục bát với đầu đề Việt Nam yêu cầu ca.

Bản Yêu sách sau khi đưa đến cho các vị ở Hội nghị đã được in trên Báo Nhân đạo, Dân chúng (L'Humannité, Le Populaire) vào thứ tư ngày 18-6-1919 với nhan đề Quyền của các dân tộc, đồng thời in thành truyền đơn, được phát trong các cuộc mít tinh cho người Pháp, cho Việt kiều và những người Việt Nam bị bắt đi lính ở Pháp để góp phần giác ngộ chính trị cho họ.

II. Văn bản

1. Yêu sách của nhân dân An Nam

Từ ngày Đồng minh thắng trận, tất cả các dân tộc bị lệ thuộc đều chứa chan hi vọng rằng theo những lời cam kết chính thức và trịnh trọng mà các cường quốc Đồng minh đã tuyên bố với toàn thế giới, trong cuộc đấu tranh của Văn minh chống Dã man, thì tiền đồ một thời đại công lý và chính nghĩa nhất định là phải đến với họ.

Trong khi chờ cho nguyên tắc dân tộc sẽ từ lĩnh vực lý tưởng chuyển vào lĩnh vực hiện thực do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc được thừa nhận thật sự, nhân dân nước An Nam trước kia, nay là xứ Đông Pháp, xin trình với các quý Chính phủ trong Đồng minh nói chung và với Chính phủ Pháp đáng kính nói riêng, những yêu sách khiêm tốn sau đây:

1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;

2. Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người dân bản xứ được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người châu Âu, xóa bỏ hoàn toàn các Tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;

3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận;

4. Tự do lập hộihội họp;

5. Tự do cư trú ở nước ngoàitự do xuất dương;

6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;

7. Thay thế chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ.

Đưa ra những yêu sách trên đây, nhân dân An Nam trông chờ vào chính nghĩa thế giới của tất cả các cường quốc và đặc biệt tin vào lòng rộng lượng của nhân dân Pháp cao cả, tức là những người đang nắm vận mệnh của nhân dân An Nam, những người do chỗ nước Pháp là một nước Cộng hòa, nên được gọi là những người bảo hộ cho nhân dân An Nam. Khi nhân dân An Nam nhắc đến sự "bảo hộ" của nhân dân Pháp, thì không lấy thế làm hổ nhục chút nào mà trái lại còn lấy làm vinh dự: vì nhân dân An Nam biết rằng nhân dân Pháp đại biểu cho tự do và công lý, và không bao giờ từ bỏ lý tưởng cao cả của mình là tình bác ái toàn thế giới. Vì thế, nghe theo tiếng nói của những người bị áp bức, là nhân dân Pháp sẽ làm tròn nhiệm vụ của mình đối với nước Pháp và đối với Nhân loại.

Thay mặt Nhóm những người yêu nước An Nam

Nguyễn Ái Quốc(3).

2. Thư gửi Tổng thống Mỹ(4)

Paris, ngày 18-6-1919

Kính gửi Ngài Tổng thống Cộng hòa Hợp Chủng quốc

Đại biểu ở Hội nghị Hòa bình

Thưa Ngài,

Nhân dịp chiến thắng của Đồng minh, chúng tôi xin mạn phép gửi đến Ngài, kèm theo đây bản ghi các Yêu sách của nhân dân An Nam.

Tin tưởng ở độ lượng cao cả của Ngài, chúng tôi mong Ngài ủng hộ trước những người có thẩm quyền.

Xin Ngài vui lòng nhận sự biểu thị lòng kính trọng sâu sắc của chúng tôi.

Thay mặt Nhóm những người yêu nước An Nam

    Nguyễn Ái Quốc

    56, Pranhxơ Paris(5).

3. Bản Yêu sách còn được diễn đạt dưới hình thức thơ lục bát và song thất lục bát với đầu đề:

VIỆT NAM YÊU CẦU CA

Rằng nay gặp hội Giao hòa,

Muôn dân hèn yếu gần xa vui tình.

Cậy rằng các nước Đồng minh,

Đem gương công lý giết hình dã man.

Mấy phen công bố rõ ràng,

Dân nào rồi cũng được trong bình quyền.

Việt Nam xưa cũng oai thiêng,

Mà nay đứng giới (dưới) thuộc quyền Lang sa.

Lòng thành tỏ nỗi sót sa (xót xa),

Giám (dám) xin đại quốc soi qua chút nào.

Một xin thả kẻ đồng bào,

Vì chưng chính trị mắc vào tù giam.

Hai xin pháp luật sửa sang,

Người Tây, người Việt hai phương cùng đồng.

Những tòa đặc biệt bất công,

Dám xin bỏ giứt (dứt) rộng dung dân lành.

Ba xin rộng phép học hành,

Mở mang kỹ nghệ, tập tành công thương.

Bốn xin được phép hội hàng,

Năm xin nghỉ ngượi (ngợi) nói bàn tự gio (tự do).

Sáu xin được phép lịch du,

Bốn phương mặc sức, năm châu mặc tình.

Bảy xin hiến pháp ban hành,

Trăm đều (điều) phải có thần linh pháp quyền.

Tám xin được cử nghị viên,

Qua Tây thay mặt giữ quyền thổ dân.

Tám điều căn tỏ xa gần,

Chúng nhờ vạn quốc công dân xét tình.

Riêng nhờ dân Pháp công bình,

Đem lòng đoái lại của mình trong tay.

Pháp dân nức tiếng xưa nay,

Đồng bào, bác ái sánh tày không ai!

Nỡ nào ngoảnh mặt ngơ tai,

Để cho mấy ức triệu người bỏ cơ.

Giân (Dân) Nam một dạ ước mơ,

Lâu nay tiếng núp bóng cờ tự gio (tự do).

Rộng xin giân (dân) Pháp xét cho,

Trong phò tiếng nước, sau phò lẽ công.

Dịch mấy chữ Quốc âm bày tỏ,

Để đồng bào lớn nhỏ được hay.

Hòa bình nay gặp hội này,

Tôn sùng công lý, đọa đày giã man (dã man).

Nay gặp hội khải hoàn hỉ hả.

Tiếng vui mừng khắp cả đông giân (dân).

Tây vui chắc đã mười phần,

Lẽ nào Nam lại chịu thân tôi đòi.

Hãy mở mắt mà soi cho rõ,

Nào Ai Lao, Ấn Độ, Cao Ly,

Xưa, hèn phải bước suy vi,

Nay, gần độc lập cũng vì Giân (dân) khôn.

Hai mươi triệu quốc hồn Nam Việt,

Thế cuộc này phải biết mà lo.

Đồng bào bình đẳng tự gio (tự do),

Xét mình rồi lại đem so mấy (với) người.

Ngổn ngang lời vắn ý giài (dài),

Anh em đã thấu lòng này cho chưa?(6).

III. Bình luận

Về ý nghĩa của Hòa hội Versailles và bản Yêu sách:

1. Sau này (1948), Nguyễn Ái Quốc kể lại cho tác giả cuốn sách "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch":

"Ông Nguyễn (Ái Quốc) hiểu rằng những lời tuyên bố tự do của các nhà chính trị tư bản trong lúc chiến tranh thật ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc. Và muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình.

Những lời yêu cầu của ông Nguyễn cũng như của các đại biểu các dân tộc bị áp bức khác không có kết quả gì hết.

Nhưng không thể nói những yêu cầu ấy là không có tác dụng, bởi vì nó đã đánh dấu một giai đoạn mới trong phong trào giải phóng dân tộc.

Việc in những bản yêu cầu ấy thành truyền đơn đem phát trong các cuộc mít tinh. Do đó một số đông người Pháp đã hiểu thêm về Việt Nam.

… Phát những truyền đơn ấy cho tất cả những Việt kiều và những người Việt đi lính ở Pháp… trước thờ ơ với chính trị nay cũng giác ngộ.

… Chính nhờ những tờ báo ấy mà người Việt Nam biết được bản Yêu cầu và từ ấy phong trào cách mạng Việt Nam càng lên cao"(7).

2. Nguyễn Ái Quốc cũng nhớ lại: "Ngày 18-6-1919 sau khi bản Yêu sách được gửi cho các đại biểu ở Hội nghị Versailles thì Nguyễn Ái Quốc nhận được sự trả lời của đại biểu Nicaragoa, và đặc biệt trong hai ngày liên tiếp, Nguyễn Ái Quốc nhận được giấy báo nhận diện của đại diện sứ quán Mỹ và thư trả lời của đại biểu Mỹ.

Trước hết, thư trả lời của đoàn Nicaragoa cho biết rằng ông Samônô, đại biểu của Nicaragoa nhờ chuyển lời cảm ơn về bản Yêu sách "Đã làm cho ông ta hết sức chú ý". Bởi lẽ từ năm 1912 đến năm 1933 nước Cộng hòa Nicaragoa không ngừng bị rối ren bởi nội chiến và sự can thiệp của Anh và Mỹ, nên rất thiết tha nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết.

Song song với thư của Nicaragoa, thư trả lời của đoàn đại biểu Mỹ trịnh trọng viết:

"Kính thư ông Nguyễn Ái Quốc.

Tôi lấy làm hân hạnh để báo cho ông biết rằng chúng tôi đã nhận được thư ông đề ngày 18-6-1919 và xin nói rằng chúng tôi sẽ trình thư đó lên Tổng thống.

Ký: Thư ký riêng của Tổng thống Mỹ"(8).

3. Các Báo Nhân đạo và Dân chúng đăng bản Yêu sách 8 điểm của Nguyễn Ái Quốc. Người Pháp coi hành động của Nguyễn Ái Quốc là một vụ nổ "quả bom chính trị" giữa Paris làm cho dư luận Pháp hết sức chú ý và lần đầu tiên nhân dân Pháp thấy ra có một vấn đề ở Việt Nam. Còn nhân dân Việt Nam thì cho đấy là phát báo hiệu giục dã đấu tranh. Hàng ngũ bọn thực dân bị chấn động. Thống đốc Nam kỳ gửi điện về Pháp:

Sài Gòn ngày 25-7-1919

Kính gửi ông Anbe Xarô, Bộ Thuộc địa Pháp.

Điện mật số 1791 - có truyền đơn kích động gửi từ Paris ngày 18-6 cho nhiều tờ báo ở thuộc địa. Truyền đơn mang đầu đề "Yêu sách của nhân dân An Nam" và ký "Thay mặt Nhóm những người Việt Nam yêu nước. Nguyễn Ái Quốc".

Tôi rất cảm ơn nếu như ông điện gấp cho tôi biết ngay lý lịch của những người viết truyền đơn nói trên. Người này trong thư gửi về đây còn cho biết đã gửi truyền đơn cho nhiều nhân vật ở chính quốc và theo tình báo của Nam kỳ thì người đó Bộ Thuộc địa đã biết. Ký: Mông Ghiô".

Và đại diện của Toàn quyền Đông Dương:

"Gửi ông Ghétxtơ, Bộ Thuộc địa.

Điện mật số 872. Tôi báo để ông rõ: Một người Bắc kỳ hồi hương bị bắt trong người có mang theo truyền đơn "Quyền các dân tộc" của Nguyễn Ái Quốc đăng trên Báo Nhân đạo. Người đó khai rằng tờ truyền đơn này được phân phát ở Cảng Mácxây cho từng người trong tổng số 50 người bản xứ hồi hương lúc tàu sắp khởi hành. Ký: Môngritxơ Lông".

Mấy tờ báo thực dân ở Việt Nam không thể không nói đến sự kiện này. Tờ "Tương lai Bắc kỳ" lúc đó viết:

"Lại Nguyễn Ái Quốc nữa!

Gần đây chúng tôi mới trích đăng một bản yêu sách viết ở Paris, dưới ký tên Nguyễn Ái Quốc. Nay chuyến tàu gần đây nhất đem chính các bản yêu sách đó đến cho chúng tôi đầu đề là "Quyền các dân tộc". Bản yêu sách này cũng đến tay nhiều thầy ký, thầy thông của nhiều công sở khác nhau".

Bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ "Tin thuộc địa" ra ngày 27-6 có một bài nhan đề "Giờ nghiêm trọng" nêu lên: "Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản Yêu sách của nhân dân để công kích chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được. Phải kìm giữ họ lại mãi mãi trong vòng nô lệ"(9).

4. Đánh giá tác dụng của bản Yêu sách, gần đây (1985), tác giả Xô viết là E.Côbêlép viết: "Bản Yêu sách đã trở thành tuyên ngôn chính trị báo hiệu sự mở đầu của giai đoạn mới trong việc phát triển phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam". Nhằm chứng minh sinh động hơn cho nhận xét trên E.Côbêlép dẫn một đoạn trong Hồi ký của Bùi Lâm: "Người Pháp coi việc đấu tranh đó là một "quả bom" làm chấn động dư luận nước Pháp. Còn người Việt Nam cho đó là một tiếng sấm mùa Xuân. Tiếng sấm ấy đã xoa tan màn sương mù vây bọc chúng tôi, làm nảy sinh những mầm sâu trong lòng chúng tôi. Người mình ra nước ngoài kiếm ăn, nói chung yêu nước, mong được độc lập. Bấy giờ ngay tại Thủ đô nước Pháp, trên diễn đàn quốc tế, có một người Việt Nam ngang nhiên đứng ra đòi quyền lợi chính đáng cho cả dân tộc mình, dư luận thế giới xôn xao bàn tán. Ai mà không kính, không phục. Độ ấy, người mình gặp nhau ở Pháp đều nói độc lập, tự quyết, đều nói Nguyễn Ái Quốc. Chính cái tên Nguyễn Ái Quốc bản thân nó có sức hấp dẫn kỳ lạ"(10). E.Côbêlép viết tiếp: "Tất nhiên lúc ấy, anh Nguyễn Ái Quốc có đầy đủ kinh nghiệm để hiểu rằng việc trao bản Yêu sách cho bọn đế quốc khó lòng đạt được kết quả gì. Anh coi sáng kiến của anh chỉ là một cơ hội thuận tiện để một lần nữa vạch trần những chủ nghĩa thực dân, thu hút sự chú ý của giới dân chủ Pháp tới tình hình Việt Nam và thức tỉnh chính những người Việt Nam đang u mê, ảo tưởng,… chẳng bao giờ cầu xin được công lý ở bọn đế quốc. Vậy thì lối thoát ở đâu? Chỉ có trong cuộc đấu tranh một mất một còn. Để giải phóng mình, các dân tộc thuộc địa phải lật đổ ách thống trị của bọn áp bức như người lao động Nga đã làm!"(11).

 

Chú thích

(1). Nội dung "Chương trình 14 điểm" của Wilson: 1. Hòa ước ký công khai (bất lương lượng riêng và kín); 2. Hoàn toàn tự do đi lại trên mặt biển; 3. Hủy bỏ những hàng rào kinh tế; 4. Giảm vũ khí các nước đến mức tối thiểu; 5. Giải quyết công tâm những vấn đề thuộc địa, chiếu cố các dân tộc bản xứ và các chính phủ; 6. Rút quân khỏi Nga để Nga tự chọn lấy chính phủ; 7. Rút quân khỏi Bỉ, không hạn chế chủ quyền; 8. Điều chỉnh biên giới Ý theo nguyên tắc dân tộc; 9. Rút quân khỏi Pháp và hoàn trả Alsace Lorenne cho Pháp; 10. Đảm bảo quyền phát triển tự lập của các dân tộc Áo, Hung; 11. Rút quân khỏi Roumanie Monténégro, mở đường cho Serbrie ra biển; 12. Đảm bảo quyền phát triển tự lập của các dân tộc Thổ, tự do quốc tế vùng eo biển; 13. Phục hưng Ba Lan độc lập, có đường ra biển; 14. Thành lập một "Tổng hội các dân tộc".

(2). Thu Trang, Nguyễn Ái Quốc tại Paris (1917 - 1923), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.83

(3). Nguyên văn tiếng Pháp: Revendications du people Annamite, 1919. Bản dịch trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1 (1999 - 1924). Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.435-436.

(4). Thư này được gửi kèm với bản Yêu sách của nhân dân An Nam, đồng thời cũng gửi tới Trưởng đoàn của các nước dự Hội nghị Versailles.

(5). Theo Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.437.

(6). Trích theo Nguyễn Thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp. Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1998, tr.47-48.

(7). Những mẩu chuyển về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Nxb Văn học, Hà Nội, 1989, tr.30-31.

(8). Dẫn theo Mai Văn Bộ, Con đường vạn dặm của Hồ Chí Minh. Nxb Trẻ, tp. Hồ Chí Minh, 2000, tr.82.

(9). Trích theo Hồng Hà, Thời thanh niên của Bác Hồ. Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1976, tr.77-79.

(10). Bùi Lâm, Gặp Bác ở Paris, in trong cuốn Bác Hồ. Nxb Văn học, Hà Nội, 1960.

(11). E.Côbelép, Đồng chí Hồ Chí Minh. Nxb Thanh niên - Hà Nội và Nxb. Tiến bộ - Matxcơva, 1985, tr.52.

 

 

GS. Phong Lê

          Từ giữa 1911, Nguyễn Ái Quốc rời cảng Sài Gòn sang Pháp, ghé Mácxây và Lơ Havrơ; rồi rời Pháp sang Anh; tiếp đó vòng quanh châu Phi - qua Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Tuynidi, Đông Phi, Cônggô… ; rồi sang Mỹ; lại trở về Pháp vào cuối 1917 khi Đại chiến thế giới lần thứ nhất sắp kết thúc.

Hơn 6 năm, qua bao đại dương, đến với bao lục địa.

          Tất cả cái vốn hiểu biết, từng trải qua 12 nghề (theo Trần Dân Tiên), trong đó có một nghề được Nguyễn ghi trong bản tự khai khi là thành viên dự các Hội nghị Quốc tế Cộng sản vào những năm 1930 - nghề thuỷ thủ, đó là hành trang tinh thần Nguyễn đã tích lũy được ở tuổi ngoài 20, rồi sẽ trở thành chất liệu vô cùng dồi dào, phong phú cho một sự nghiệp viết của Nguyễn Ái Quốc được bắt đầu trong bối cảnh sống của Nguyễn vào nửa đầu những năm 1920 thế kỷ XX ở Pari. Pari - thủ đô "nước mẹ" Đại Pháp, người "khai hoá", ông chủ ở Đông Dương, sào huyệt của chủ nghĩa đế quốc hiện đại, cũng đồng thời là trung tâm của phong trào cách mạng vô sản ở châu Âu.

          Pari - nơi Nguyễn Ái Quốc không chỉ tìm được cẩm nang cứu nước, mà còn là, với cẩm nang ấy, Nguyễn đã mở ra rất rộng các biên độ của cảm xúc và trí tuệ để tạo nên một sự nghiệp viết gồm cả báo chí và văn chương, với chỉ một mục tiêu duy nhất là kết án chủ nghĩa thực dân, đòi quyền độc lập và tự do cho tất cả những người nô lệ da màu trên các lục địa, trong đó có quê hương, Tổ quốc mình.

          Áng văn đầu tiên ký tên Nguyễn Ái Quốc đó là Yêu sách của nhân dân Việt Nam, gửi Hội nghị Vécxây họp vào ngày 28-6-1919, trước đó đã được đăng trên Báo Nhân đạo, cơ quan ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp, số ra ngày thứ Tư, 18-6-1919, với tiêu đề là Quyền của các dân tộc, kèm theo Lời Toà soạn như sau:

          "Là những người xã hội chủ nghĩa trung thực, bảo vệ quyền lợi của các dân tộc, chúng tôi ủng hộ sự phản đối của những người Việt Nam, nạn nhân của tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp, cũng như chúng tôi ủng hộ nguyện vọng của những người Ai Cập, nạn nhân của chủ nghĩa đế quốc Anh"(1).

Bản Yêu sách được gửi đến Hội nghị kèm với bức thư có tên ký là Nguyễn Ái Quốc - "thay mặt Nhóm những người Việt Nam yêu nước" - "Groupes des patriotes Annamites". Chúng ta biết lúc này Nguyễn đang học tiếng Pháp, nên việc thảo Yêu sách phải nhờ ông Phan Văn Trường, người cùng Phan Châu Trinh đã đến Pháp từ nhiều năm trước, và rất thông thạo tiếng Pháp trong nghề luật sư "Ông Nguyễn không đủ tiếng Pháp để viết và phải khẩn khoản yêu cầu ông Phan Văn Trường viết thay. Ông Trường viết giỏi nhưng không muốn ký tên. Mà chính ông Nguyễn đã phải ký tên những bài báo"(2). Nói như vậy để thấy, vào thời kỳ đầu ở Pari - bút danh Nguyễn Ái Quốc chưa phải là một tên riêng. Phải vài năm sau, khi đã thông thạo tiếng Pháp, đã có thể viết bài cho các báo theo sự hướng dẫn của Giăng Lôngghê - cháu ngoại Mác, chủ bút Báo Dân chúng, và Gatxtông Môngmútxô - chủ nhiệm Báo Đời sống thợ thuyền; và khi cho ra đời tờ Người cùng khổ thì Nguyễn Ái Quốc mới là tên riêng của một Người, và trở thành một cái tên quen thuộc đối với công luận.

          Bản Yêu sách rồi được phân phát cho các binh sĩ và công nhân người Việt ở Mácxây, và từ đó một số ít được chuyển về nước. Dẫu sao, viết bằng tiếng Pháp chủ yếu vẫn là viết cho công chúng nước Pháp - một công chúng rất cần được thức tỉnh - để biết được sự thật ở các nước thuộc địa. Do vậy mà Nguyễn quyết tâm học tiếng Pháp để đọc và viết. Một quá trình rất kiên trì và nỗ lực, khi Nguyễn ý thức được sự bức thiết của thứ vũ khí lợi hại là tiếng nói; và thấy cần tranh thủ cơ hội hiếm hoi ở Pari - chính quốc là nơi, người cách mạng còn có một ít tự do tối thiểu để hành động; là nơi, việc tố cáo những tội ác của chủ nghĩa thực dân, không phải là phạm tội, dù ở Đông Dương, đó là một tội đáng tử hình.

          Ngót 6 năm tính từ cuối 1917 khi Nguyễn đến Pari cho đến tháng 6-1923 khi Nguyễn rời Pari sang Mátxcơva là thời gian Nguyễn chứng kiến và tham dự vào những sự kiện trọng đại có ý nghĩa quyết định cho sự hình thành trọn vẹn tư cách Người yêu nước họ Nguyễn, tư cách nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam, biết sử dụng công cụ báo chí và văn chương để phục vụ sự nghiệp cách mạng.

          Pari - trong 6 năm sinh sống và hoạt động của Nguyễn Ái Quốc, đó là địa bàn, là đất đai gieo trồng và hái lượm những kết quả đầu tiên của dòng văn học cách mạng - hiện đại trên hệ ý thức vô sản của Việt Nam.

          Ở trên đã nói đến áng văn chính trị viết bằng tiếng Pháp đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc: Yêu sách của nhân dân Việt Nam. Cũng nội dung 8 điểm trong Yêu sách rồi sẽ được Nguyễn Ái Quốc chuyển sang bài văn vần Việt Nam yêu cầu ca, bằng chữ Quốc ngữ - là thứ chữ của dân tộc vào thập niên đầu thế kỷ XX đang trong quá trình vừa đồng hành, vừa thay thế chữ Hán và chữ Nôm. Là thứ chữ các nhà Nho đầu thế kỷ XX rất có ý thức sử dụng khi nhiệm vụ canh tân đất nước được đặt ra như một nhu cầu bức xúc của lịch sử. Thứ chữ ấy Nguyễn có ý thức đem đến cho những người Việt xa xứ, số lớn là công nhân và binh lính trong đội quân SOS được huy động từ các thuộc địa để bảo vệ mẫu quốc, tập trung ở bến cảng Mácxây. Chuyển từ chữ Pháp sang chữ Quốc ngữ, trong thể lục bát và song thất lục bát quen thuộc, Nguyễn Ái Quốc ngay từ đầu sự nghiệp viết của mình đã là người không lúc nào nguôi quên viết bằng tiếng Việt cho chính đồng bào mình. Việt Nam yêu cầu ca gồm 56 câu, trong đó có 48 câu lục bát và 8 câu song thất lục bát, theo tài liệu của cảnh sát Pháp, đã được phân phối trong các giới công nhân và binh sĩ An Nam ở Mácxây vào tháng 9 - 1922:

Một xin tha kẻ đồng bào

Vị chưng chính trị mắc vào tù giam

Hai xin pháp luật sửa sang

Người Tây người Việt hai phương cùng đồng

Ba xin rộng phép học hành

Mở mang kỹ nghệ, tập tành công thương

Bốn xin được phép hội đàng

Năm xin nghĩ ngợi nói bàn tự do

Sáu xin được phép lịch du

Bốn phương mặc sức năm châu mặc tình

Bảy xin hiến pháp ban hành

Trăm điều phải có thần linh giúp quyền

Tám xin được cử nghị viên

Quan Tây thay mặt giữ quyền thổ dân(3).

          Cần nhớ đây là bài văn vần bằng Quốc ngữ viết cho những người Việt xa xứ, rời quê từ đầu Thế chiến lần thứ nhất (1914-1918), cũng là thứ chữ Nguyễn đã quen dùng, trước khi rời quê hương vào giữa năm 1911. Thứ chữ của thơ ca dân gian và thơ tuyên truyền cổ động của các nhà Nho trong phong trào Duy tân và Đông Kinh nghĩa thục mà Nguyễn rất quen thuộc ở tuổi thành niên, nhằm đem lại cho nội dung chính trị một hình thức văn chương nhất định, để có hiệu quả trực tiếp và phổ cập trong công chúng cần lao.

          Rời quê hương, ngoại ngữ đầu tiên Nguyễn quyết tâm chiếm lĩnh là tiếng Anh, ngôn ngữ cho sự mưu sinh và giao thiệp trên những chặng dài của hải trình và hành trình qua nhiều xứ sở. Nhưng cùng với tiếng Anh, Nguyễn đã quyết tâm học tiếng Pháp từ rất sớm, ngay khi còn ở Anh. Từ cuối 1917, về Pari, tiếng Pháp đã dần dần trở thành phương tiện đưa Nguyễn tham gia vào các hoạt động xã hội và chính trị; và là ngôn ngữ đưa Nguyễn Ái Quốc vào sự nghiệp báo chí và văn chương, nhằm thực hiện một cách triệt để và kiên định mục tiêu cao nhất và duy nhất của đời mình là cứu nước: "Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, đấy là tất cả những gì tôi hiểu (…). Có thể nói là ông Nguyễn suốt ngày nghĩ tới Tổ quốc, và suốt đêm mơ đến Tổ quốc mình" (4).

Tiếng Pháp - với văn phong "rất Pháp", như nhận xét của Phạm Huy Thông năm 1974 khi ông có trách nhiệm chuyển dịch sang tiếng Việt các văn bản truyện và ký Nguyễn Ái Quốc, viết vào đầu những năm 1920 thế kỷ XX ở Pari. Nhưng với nhà thơ Nga Ôxíp Manđenxtam, trong cuộc gặp Nguyễn vào cuối năm 1923, ở Pari, thì thứ tiếng Pháp đó như bị "nén lại", bởi "tiếng mẹ đẻ": "Đồng chí nói tiếng Pháp, nói bằng cái thứ tiếng của bọn áp bức, nhưng những lời bằng tiếng Pháp vang lên một cách mờ nhạt tựa như tiếng chuông bị nén lại của tiếng mẹ đẻ"(5).

          Viết bằng tiếng Pháp cho các tờ báo lớn theo xu hướng tiến bộ của Pháp ở Pari, rồi làm báo bằng tiếng Pháp ở Pari - đối tượng đọc chủ yếu của Nguyễn lúc này là người Pháp. Nhưng ngay cả ở Pari - Nguyễn cũng không lúc nào nguôi quên viết bằng tiếng Việt cho người đọc là đồng bào mình, trước hết là bộ phận người xa xứ ở Pháp, và sau đó là tất cả đồng bào đang bị đầy ải ở quê hương. Với hai ngôn ngữ Pháp và Việt, Nguyễn sẽ trở thành người đặt nền móng, người khai sáng cho trào lưu văn học cách mạng và hiện đại Việt Nam. Cách mạng - vì mục tiêu cao nhất là lật đổ ách thực dân, thiết lập nền dân chủ. Hiện đại - là sự hoà nhập, và sớm trở thành một bộ phận của nền văn học tiến bộ của thế giới trong thời đại đế quốc chủ nghĩa.

*  *  *

          Trở lại các sự kiện lớn trong hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Pari. Hơn một năm sau ngày gửi Yêu sách đến Hội nghị Vécxay, đó là giây phút Nguyễn được đọc Đề cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, đăng trên Nhân đạo, ra ngày 16 -17 tháng 7-1920. Về sự kiện này, Nguyễn đã có lần viết, đại ý: Được đọc Đề cương, Nguyễn sung sướng và cảm động xiết bao. Ngồi một mình trong buồng kín mà Nguyễn nói to lên như nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!".

          Có thể nói đó là giây phút bừng sáng của trí tuệ, là bước ngoặt quyết định trên đường hoạt động của Nguyễn. Cũng là giây phút đánh dấu hạt giống đầu tiên của cách mạng Việt Nam được một người gieo trồng, hoặc chính Nguyễn là hạt giống đó - trong bối cảnh thế giới còn đang chìm trong bóng đêm của chủ nghĩa thực dân; và thế giới mới ở Liên Xô cũng chỉ vừa ra đời 3 năm, còn trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc. Được soi sáng bởi Đề cương, Nguyễn sẽ có dịp cụ thể hoá và hình tượng hoá thực trạng và lối thoát của nhân loại da mầu trong hình ảnh chủ nghĩa đế quốc như một con đỉa có hai vòi - một so sánh, nếu không phải là người sinh ra từ những cánh đồng khô hạn hoặc trắng băng lũ lụt của các xứ sở châu Á, châu Phi, sẽ không thể tìm ra được "Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một cái vòi thôi thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra" (6).

          Từ đây, với Nguyễn, là sự triển khai khẩn trương một sự nghiệp viết liên tục và kiên định nhằm cảnh tỉnh thế giới phương Tây và thức tỉnh thế giới phương Đông. Từ Đề cương này của Lênin và hoạt động của Đệ tam Quốc tế, Nguyễn sẽ mạnh mẽ dấn thân vào trường hoạt động chính trị, tham gia vào phe cánh tả của Đảng Xã hội trong Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua, từ 25 đến 30-12-1920; và là thành viên sáng lập của Đảng Cộng sản Pháp trong Đại hội đầu tiên họp vào sáng 30-12-1920.

          Tốc ký biên bản Đại hội Tua lịch sử cho ta được biết lời phát biểu cháy bỏng tình yêu nước của một thanh niên mất nước đã tìm được sự chia sẻ của tình đồng chí ở chính quốc. Những hoan hô, vỗ tay và ngắt lời của cử tọa trước tình cảnh thuộc địa lần đầu tiên được phơi bày, và cả sự chỉ trích gay gắt toát ra từ một trái tim sôi nổi - đã ghi nhận sức mạnh tiếng nói của một đại biểu thuộc địa trên diễn đàn thế giới: "Nếu đồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, nếu đồng chí không bênh vực các dân tộc thuộc địa thì đồng chí làm cái cách mạng gì?"(7).

          Từ Đề cương của Lênin và việc tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, con đường cứu nước của Nguyễn đã được soi sáng bằng lý luận và từ lý luận được soi sáng, Nguyễn bắt đầu đi vào con đường tổ chức, tập hợp lực lượng, cũng chính trên địa bàn Pari. Đó là Hội liên hiệp thuộc địa (L'Union Intercoloniale) được thành lập năm 1921, với cuộc họp đầu tiên vào ngày 9-10-1921; và 6 tháng sau, ra đời cơ quan ngôn luận của Hội là tờ Le Paria (Người cùng khổ), ra số đầu vào 01-4-1922 mà Nguyễn là người sáng lập, chủ bút và tổ chức toàn bộ công việc của Toà soạn. Có một cơ quan ngôn luận ở Pari; lại học được nghệ thuật viết báo nhờ vào sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí bạn, Nguyễn đã viết và cho in hàng loạt bài gồm tiểu phẩm, phóng sự, truyện, chính luận trên Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân… trong đó có các tác phẩm đích thực là văn chương hoặc có giá trị cao về văn chương như Pari (Nhân đạo; 30 và 31-5-1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (Nhân đạo; 24-6-1922), Con người biết mùi hun khói (Nhân đạo; 20-7-1922), Sở thích đặc biệt (Le Paria, 1-8-1922), Đồng tâm nhất trí (Nhân đạo; 29-9-1922)…

          Đây chỉ là lược kê những bài có giá trị văn chương, hoặc đích thực là tác phẩm văn chương, trong rất nhiều bài sau này - nếu tính từ khi có bản dịch ra tiếng Việt - phải đến đầu những năm 1960 - mới được công bố trong Bản án chế độ thực dân Pháp và trong hai tuyển Lên án chủ nghĩa thực dân, và Đây, "công lý" của thực dân Pháp ở Đông Dương, nhờ vào công sưu tầm và lưu trữ của Đảng Cộng sản Liên Xô. Quả là một sức sáng tạo đã được khơi nguồn, và tuôn chảy thật dồi dào vào năm 1922 và nửa đầu năm 1923, trong đó, áng văn có sự ra đời rất đặc biệt là truyện ngắn Pari đăng trên Nhân đạo, số ra ngày 30 và 31-5-1922. Theo lời kể của Nguyễn sau này, Pari đã được viết bởi một hào hứng rất bất ngờ - sau khi đọc một truyện ngắn của văn hào Nga L.Tônxtôi: "Khi đã biết viết báo mình lại muốn viết tiểu thuyết. Nhưng lại nghĩ rằng biết chữ Tây võ vẽ như mình thì viết tiểu thuyết sao được! Tình cờ đọc một truyện ngắn của Tônxtôi thấy viết một cách rất giản dị, dễ hiểu, thì cho rằng mình cũng viết được. Từ đó mình bắt đầu viết truyện ngắn… Lúc đó mình sống ở khu phố công nhân nghèo, hiểu rõ đời sống của họ, mình cứ viết những điều mắt thấy tai nghe…"(8).

          Việc học tập L.Tônxtôi còn được tác giả kể lại một lần nữa trong một bài viết cho báo Văn học (Liên Xô) số ra ngày 19-11-1960, nhân kỷ niệm 50 năm mất của nhà văn Nga vĩ đại.

          Những ảnh hưởng của văn chương hiện đại phương Tây rất cần được xem là một nguồn nuôi dưỡng, một hỗ trợ tích cực cho sự hình thành văn học cách mạng Việt Nam - mà người đại diện duy nhất, số một là Nguyễn Ái Quốc vào những năm 1920 "Về văn học, ông Nguyễn thích đọc Sếchxpia và Đíchken bằng tiếng Anh. Lỗ Tấn bằng tiếng Trung Hoa và Hugô, Zola bằng tiếng Pháp. A.Frăngxơ và L.Tônxtôi có thể nói là những người đỡ đầu văn học cho ông Nguyễn"(9).

          Những hồi nhớ sau đây rất quý giá giúp cho ta hình dung con đường Nguyễn Ái Quốc đi vào một sự nghiệp viết, trong đó có văn chương, để trở thành người mở đầu, người sáng lập nền văn học Việt Nam cách mạng và hiện đại.

          "Đọc những truyện ngắn của A.Frăngxơ và L.Tônxtôi, ông Nguyễn thấy hứng thú vì văn chương giản đơn và tự nhủ: Người ta chỉ cần viết điều gì người ta thấy và cảm, bằng cách nắm lấy mầu sắc và hoạt động của sự vật, như thế thì viết cũng không khó lắm"(10).

          Đó là lý do cho sự hình thành truyện ký Pari, rút từ những sự thật hằng ngày, sự thật đời thường ở ngõ hẻm Côngpoăng - nơi có căn gác trọ tồi tàn của Nguyễn, nơi Nguyễn chứng kiến sự phân đôi hai thế giới, nơi những nạn nhân của thế giới đại chiến cũng có mặt để cất lên tiếng nói tố cáo, ngay ở thủ đô chính quốc.

Pari đưa lại cho Nguyễn món nhuận bút 100 quan - đủ cho Nguyễn có thể đi thư viện suốt tháng mà khỏi phải lo cái sống hàng ngày.

          "Thành công đầu tiên này đã khuyến khích ông Nguyễn viết những truyện ngắn khác. Ngoài việc tả lại đời sống thợ thuyền Pari, ông thường viết về các thuộc địa, và đặc biệt là Việt Nam, không có một phút nào ông quên Tổ quốc mình đang bị giày xéo và đồng bào mình đang bị áp bức. Ông Nguyễn chỉ viết một quyển sách duy nhất là quyển Bản án chế độ thực dân Pháp"(11).

          Nền văn học hiện đại Pháp vào thời điểm Nguyễn ở Pari được đại diện bởi Macxen Prútx, Pôn Valêri, Andrê Giđơ… Nhưng sự gần gũi về tư tưởng chính trị và quan niệm nghệ thuật lại đưa Nguyễn đến gần với Anatôn Frangxơ; và Hăngri Bacbuytx, tác giả cuốn tiểu thuyết chống chiến tranh rất nổi tiếng: Khói lửa, cũng là người đỡ đầu cho sự nghiệp văn học và báo chí của Nguyễn. Trụ sở Hội Ánh sáng (Clarté) - Hội quốc tế các nhà văn tiến bộ do H.Bacbuytx làm Chủ tịch đặt ở số nhà 16 phố Giắccơ Calô, đã nhường một phòng cho Toà soạn Người cùng khổ, trong thời gian đầu ra báo, trước khi về trụ sở chính ở nhà số 3 phố Macsê đề Patriacsơ. Chính từ trường tri thức cách mạng với những đại diện ưu tú của nền văn hoá Pháp như A.Frăngxơ, H.Bacbuytx, G.Lôngghê, G.Môngmutxô, Macxen Casanh, Pôn Laphacgiơ, Pôn Vayăng Cutuyariê… đã đưa Nguyễn nhanh chóng và tự nhiên vào sự nghiệp báo chí cách mạng và văn chương hiện đại. Và nếu hiểu nền văn học mới của giai cấp vô sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa là một hiện tượng thế giới, thì truyện ký Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp những năm 1920 thế kỷ XX là hiện tượng tiền trạm, mở đầu, có ý nghĩa soi sáng, chuẩn bị cho nền văn học vô sản Việt Nam, phải chuyển sang những năm 1930 mới thành một dòng bên những dòng khác trong bối cảnh xã hội thuộc địa.

*  *  *

          Cùng với việc khai trương vào tháng 4 - 1922 tờ Người cùng khổ, và cho đăng khá dồn dập những truyện ký trên báo Nhân đạo năm 1922, còn phải kể đến một sự kiện có tiếng vang khá rộng rãi trong đời sống văn hoá - chính trị ở Pari - đó là cuộc Triển lãm thuộc địa do chính quyền thực dân ở chính quốc tổ chức, khai mạc ngày 21-6-1922 và kéo dài trong 6 tháng, nhằm tuyên truyền, khuếch trương chính sách khai thác thuộc địa, đồng thời với việc ấn hành cuốn Khai thác các thuộc địa Pháp dài 675 trang của Bộ trưởng Bộ thuộc địa Anbe Xarô. Sự kiện vua An Nam là Khải Định sang Pháp ngày 21-6-1922 dự Triển lãm đã là cơ hội cho Nguyễn Ái Quốc lập tức viết ngay vở kịch Con rồng tre (Le dragon en bambou) để trực tiếp đánh vào bọn tay sai Nam triều. Vở kịch đã được diễn ở Câu lạc bộ Ngoại ô (Faubourg) và nhận được sự hoan nghênh nồng nhiệt của khán giả; nhưng đáng tiếc là văn bản vở kịch không còn. Ngót 30 năm sau ta mới được biết về nó qua lời kể của Trần Dân Tiên trong Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch: "Có những cây tre thân hình quặt quẹo. Những người chơi đồ cổ lấy về đẽo gọt thành con rồng. Nó là một đồ chơi. Là con rồng nhưng thật ra chỉ là một khúc tre. Là một khúc tre, nhưng lại hãnh diện có tên và hình dáng con rồng. Tuy vậy chỉ là một con quái vật vô dụng"(12). Cũng theo Trần Dân Tiên vở kịch này bị Chính phủ Pháp cấm. Nhưng nó vẫn được Câu lạc bộ Ngoại ô trình diễn tại Gácsơ - một thị xã gồm 2 vạn dân ở ngoại ô Pari, trước hàng vạn khán giả Pháp, Việt kiều và kiều dân các thuộc địa khác trong ngày hội hàng năm của báo Nhân đạo "Vở kịch được trình diễn trên sân khấu ngoài trời giữa một công viên đầy bóng mát và nắng ấm. Trước lúc mở màn, tác giả vở kịch xuất hiện giữa những tiễng vỗ tay vang dậy. Tác giả tranh thủ báo những tin thời sự mới nhận được từ các thuộc địa về cuộc bãi công của công nhân Việt Nam, của nông dân ở Goađơlúp, Đahômây, Tuynidi…"(13).

          Theo Trần Dân Tiên, vở kịch được các nhà văn nghệ "khen hay". Trước đó, vào năm 1946, nhà báo Pháp Lêô Pônđet khi được tiếp kiến Hồ Chủ tịch ở Pari cũng đã có kể cho tác giả nghe về vở kịch này với lời bình: "… thật là hay, thật là đẹp, lời vừa chải chuốt, vừa gọn gàng với những cái châm biếm, dí dỏm của Aristophane; bản kịch này có đủ ưu điểm để mang lên sân khấu" (14).

          Ngót 10 năm sau, năm 1955, nhà báo Mỹ Rôbớt Saplân, trên tờ Thông tin viên, cũng có nhận xét như Pônđet về giá trị hài hước kiểu Aristophane trong vở kịch (15).

          Đối với Nguyễn Ái Quốc ở Pari, quả hiếm có cơ hội nào thích hợp hơn cho việc ra đòn một cách trực tiếp vào thế giới quan trường An Nam qua một đại diện đớn hèn là Khải Định. Điều đáng lưu ý là trước khi diễn Con rồng tre, thậm chí ngay sau khi Khải Định đặt chân lên Mácxây vào ngày 21-6-1922 trên chiếc tàu Poóctốt của Hãng Đầu Ngựa, Nguyễn Ái Quốc đã có một truyện để đón tiếp hoàng đế của xứ sở mình, đăng trên Nhân đạo số ra ngày 24-6-1922, có tên Lời than vãn của bà Trưng Trắc - với lời đề từ: "Quốc vương nước Nam sắp làm "khách của nước Pháp". Gọi là có lời chào mừng tí ti, chúng tôi kính dâng ngài giấc mộng này của đồng chí Nguyễn Ái Quốc của chúng tôi, người bầy tôi trung thành của ngài". Đây là truyện viết theo phong cách huyền thoại cho đối mặt và đối thoại hai nhân vật đứng ở hai cực thời gian và hai cực tư cách là Bà Trưng và Khải Định. Một hồn ma linh thiêng ở tầm cao vời vợi và một hoàng đế đương chức xám nhợt lẩy bẩy. Lịch sử dân tộc qua cuộc đối thoại này mà hiện lên trên những trang sáng ngời, lẫm liệt và đang rơi vào tận đáy sự sỉ nhục bởi một tên vua hèn hạ. Tan giấc mơ kinh hoàng phải đối diện với Bà Trưng, Khải Định lập tức trở về với cõi thực trước lệnh phán truyền của ông chủ thực dân bên Toà Khâm chuyển sang…

          Tiếp tục và đạt đỉnh cao của giá trị phê phán Khải Định còn có truyện Vi hành, đăng trên Nhân đạo, 19-2-1923 - một truyện ngắn với phong cách viết rất hiện đại, dưới hình thức một bức thư gửi cô em họ bằng tiếng Việt, được tác giả dịch sang tiếng Pháp… Cô em họ giả định này ở quê nhà, sẽ qua bức thư của ông anh giả định mà biết được cặn kẽ hành trang của Hoàng đế nước mình trong những ngày ăn chơi, trác táng đáng xấu hổ ở Pari. Vi hành vừa có giá trị hạ nhục tên vua bù nhìn, vừa chứng minh sự dò la, rình rập, săn đuổi của cảnh sát đối với tất cả những người Việt Nam yêu nước trên đất Pháp - trong đó Nguyễn là một trong số ít người được trông nom nhiều nhất: "Suốt trong thời gian Khải Định ở lại Pháp, ông Nguyễn ngày đêm bị hai tên mật thám theo dõi không rời một bước"(16).

          "Cái vui nhất là ngay đến Chính phủ cũng chẳng nhận ra được khách thật của mình nữa, và để chắc chắn khỏi thất thế trong nhiệm vụ tiếp tân, Chính phủ bèn đối đãi tất cả mọi người An Nam vào hàng vua chúa và phái tuỳ tùng đi hộ giá tuốt (…). Có thể nói là các vị bám lấy đế giày tôi, dính chặt tôi như hình với bóng. Và thật tình là các vị cuống cuồng cả lên nếu mất hút tôi chỉ trong dăm phút"…(17)

          Rời quê hương từ 1911, đến lúc này Nguyễn mới có cơ hội tiếp tục cơn giận lớn của các nhà Nho sĩ phu đối với bọn vua quan phong kiến đớn hèn. Với kịch Con rồng tre và những bài chung quanh sự kiện Khải Định sang Pháp, Nguyễn Ái Quốc là người duy nhất tiếp tục chủ đề chống phong kiến Nam triều của các nhà Nho đầu thế kỷ. Hoạt động đó của Nguyễn được sự hưởng ứng của Phan Châu Trinh - lúc này cũng đang cùng Nguyễn Ái Quốc ở Pari, trong bức thư gửi Khải Định ngày 15-7-1922 nêu 7 tội lớn của y. Bức thư viết bằng chữ Hán, rồi được dịch ra tiếng Pháp, đăng báo và phát thành truyền đơn "để cầu công luận của người Pháp"(18).

*  *   *

          Tháng 6-1923 Nguyễn bí mật rời Pháp để sang Nga, theo con đường qua Béclin, rồi theo đường biển đến Xanh Pêtecbua. Nguyễn đi trong bí mật, sau khi để lại cho các đồng chí ở Toà soạn Người cùng khổ bức thư chia tay: "Đối với tôi câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ vào đấu tranh giành tự do, độc lập(19).

          Vậy là Nguyễn đã ở Pari trong 6 năm; 6 năm với bao là công việc trọng đại đã được triển khai ở tư cách người cách mạng, tư cách người làm báo, viết báo, và cả tư cách người viết kịch, viết văn - trên cả hai ngôn ngữ Pháp và Việt. Tuy rời Pháp, nhưng Nguyễn vẫn tiếp tục các hoạt động viết của mình bằng tiếng Pháp trên Le Paria và các báo ở Pari, như Đoàn kết giai cấp (Le Paria - 5-1924), Con rùa (Le Paria - 2-3-1925), Những trò lố hay Varen và Phan Bội Châu (Le Paria - 9-10-1925)… Và đặc biệt đáng nhớ là Nguyễn đã cho ấn hành ở Pari tác phẩm quan trọng nhất trong giai đoạn mở đầu sự nghiệp viết của mình là Bản án chế độ thực dân Pháp (Le procès du colonialisme francaise).

          Theo Trần Dân Tiên đây là quyển sách duy nhất trong thời gian Nguyễn ở Pari.

          Duy nhất và lớn nhất trong giai đoạn đầu hành trình viết của Nguyễn Ái Quốc.

          Nói là một quyển sách thì rất đúng, bởi sự chặt chẽ trong cấu trúc của nó gồm 12 chương, chứ không phải là những bài lẻ đăng trên các báo, phải nhiều chục năm sau mới được gom lại thành sách như Lên án chủ nghĩa thực dân và Đây, "công lý" của thực dân Pháp ở Đông Dương. 12 chương, với mục tiêu quán xuyến là kết án chủ nghĩa thực dân, nhằm hoàn thiện một bản cáo trạng - nhân danh các dân tộc thuộc địa, trong đó có dân tộc Việt Nam, bắt đầu từ Chương I là Thuế máu, qua các Chương: Việc đầu độc người bản xứ, Các quan thống đốc, Các quan cai trị, Những nhà khai hoá, Tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị, Bóc lột người bản xứ…          Rồi chuyển sang các chương Công lý, Chính sách ngu dân, Chủ nghĩa giáo hội, Những khổ nhục của người bản xứ, để đến kết thúc là chương Nô lệ thức tỉnh, cùng với Phụ lục là một bức Thư gửi thanh niên.

          Năm 1925, cùng với việc ấn hành Bản án chế độ thực dân Pháp, còn là năm ra mắt truyện ngắn Những trò lố hay Varen và Phan Bội Châu (Le Paria; số 9 và 10-1925). Một sự hưởng ứng thật tuyệt vời. Phan Bội Châu - bạn đồng hương, đồng môn của Nguyễn Sinh Sắc, bậc tiền bối cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn đã rất kịp thời có một áng văn tôn vinh Phan Bội Châu, vị thiên sứ, tuy bị cầm tù vẫn lẫm liệt tư chất người anh hùng dân tộc trong đối diện và đối lập với Toàn quyền Varen, viên chính khách lớn của Đảng Xã hội Pháp đã đi vào con đường phản bội.

          Bản án chế độ thực dân Pháp xuất bản năm 1925 ở Pari, mãi đến 1946 mới được ấn hành ở Hà Nội, và đến 1960 mới có bản dịch ra tiếng Việt, sau 35 năm ra đời. Cùng với Bản án chế độ thực dân Pháp, một số phóng sự, tiểu phẩm, ký, truyện khác được Nguyễn Ái Quốc viết ở Pari trong thời gian từ 1920 đến 1925 cũng phải đến 1972 mới được dịch ra tiếng Việt; trong đó một số truyện, ký đích thực có giá trị văn học thì mãi đến 1974, tức là 5 năm sau ngày Hồ Chí Minh qua đời, bạn đọc mới được biết đến, qua bản dịch và giới thiệu của Phạm Huy Thông. Có sự chậm muộn như vậy trong ấn hành bởi những gì có liên quan đến sự nghiệp viết của bản thân, lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tránh nói đến. Ngay cả Ngục trung nhật ký và bản dịch Nhật ký trong tù được công bố năm 1960 và ấn hành hàng nhiều chục vạn bản, chỉ khi nào được hỏi chuyện Bác mới nói qua về hoàn cảnh ra đời của tập thơ, và đều không nhận mình là nhà thơ.

          Thế nhưng, Người có một sự nghiệp viết chẵn 50 năm, kể từ Yêu sách của nhân dân Việt Nam (1919) đến Di chúc (1969), con người đó, ngay từ khi bắt đầu sự nghiệp viết, và vào bất cứ lúc nào, cũng tràn ngập một bầu nhiệt huyết, và kiên định một ý chí chống chủ nghĩa thực dân… Do vậy điều dễ hiểu: 6 năm ở Pari đã là một cơ hội lớn và thích hợp cho Nguyễn Ái Quốc thực hiện mục tiêu cảnh tỉnh và thức tỉnh đối với một bộ phận công chúng ở chính quốc và các thuộc địa, trong đó có Đông Dương. Cảnh tỉnh thế giới phương Tây và thức tỉnh thế giới phương Đông. Thể hiện sinh động và sắc sảo nội dung đó và xu thế đó, những trang viết đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc ở Pari đã trở thành một bộ phận hợp thành của trào lưu vô sản - cách mạng trong văn học hiện đại thế giới có khởi nguồn từ Công xã Pari 1871, trước khi xuất hiện thành một dòng, một khuynh hướng sáng tác ở Việt Nam, vào đầu thập niên 1930 thế kỷ XX, sau sự kiện Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, mà tác phẩm Nhật ký chìm tàu, hơn 100 trang, in bằng chữ Quốc ngữ và số lớn hơn bằng chữ Nôm của chính Nguyễn Ái Quốc, là tác phẩm mở đầu.

*  *  *

          10 thế kỷ văn học trung đại Việt Nam đã mượn chữ Hán và dựa vào chữ Hán để xây dựng nền văn học viết cho mình; và dẫu bằng chữ Hán, nó vẫn là bộ phận hợp thành hữu cơ của văn học dân tộc. Thế kỷ XX, cùng với chữ Quốc ngữ đến từ mẫu tự la tinh của phương Tây và chữ Hán vẫn được tiếp tục từ Phan Bội Châu đến Hồ Chí Minh, lại có thêm một bộ phận viết bằng chữ Pháp của Nguyễn Ái Quốc ngay trên địa bàn Pari - nơi là trung tâm của chủ nghĩa tư bản hiện đại và cũng là trung tâm của phong trào cách mạng vô sản hiện đại.

Vậy là, chính Nguyễn Ái Quốc, trên hành trình tìm đường cứu nước của mình, đã tạo nền móng cho nền văn học mới của dân tộc, từ những năm 1920 thế kỷ XX trên địa bàn Pari. Một nền văn học, từ khởi điểm đã mang hai thành tố cơ bản là cách mạng và hiện đại, nhằm thỏa mãn hai yêu cầu cách mạng hóa và hiện đại hóa, được lịch sử đặt ra cho dân tộc, trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, thời đại của sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

 

Chú thích

1. Dẫn theo Tổng tập văn học Việt Nam; Tập 36; Nxb. Khoa học Xã hội; H; 1980; tr64.

2. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch; Nxb. Sự thật; H; 1975; tr35.

3. Tổng tập; Sđd; tr.67-68.

4. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch; Nxb.Sự thật; H;1975; tr.35; tr.49.

5. Đăng trên Ngọn lửa nhỏ (tiếng Nga), số 39; 23-2-1923; chuyển dẫn theo Niculin: Văn học Việt Nam và giao lưu quốc tế; Nxb Giáo dục; H; 2000; tr 579.

6. Hồ Chí Minh: Tuyển tập; Nxb Sự thật; H; 1960; tr.179.

7. Dẫn theo Hồng Hà: Thời thanh niên của Bác Hồ; Nxb. Thanh niên; H;1976; tr.106.

8. Về công tác văn hoá - văn nghệ; Nxb.Sự thật; H; 1977; tr.61-62.

9, 10. Những mẩu chuyện…; Sđd; trang 36.

11. Những mẩu chuyện…; Sđd.

12. Những mẩu chuyện…; Sđd.

13, 14. Tổng tập; Sđd; tr.106-107.

15. Tổng tập; Sđd; tr.106-107.

16. Truyện và ký; Nxb. Văn học; 1974; tr.29.

17. Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp; Nxb. Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh; 2000; tr.368.

18.19. Những mẩu chuyện…; Sđd; tr.52.

 

Trung Sơn

          "Theo quan niệm xưa, số lẻ thuộc hành dương, số chẵn thuộc hành âm. Trong đó, 9 là số lớn trong dãy số dương nên còn được gọi là cực dương và chứa đựng nhiều ý nghĩa tốt lành. Theo số học, số 9 cũng rất đặc biệt bởi nếu nhân với một số bất kỳ có một chữ số, tổng của hai số trong kết quả sẽ luôn là 9. Trong tiếng Trung, phát âm của số 9 trùng với âm tiết của từ "cửu" trong vĩnh cửu…". Những "tín điều" này của các nước phương Đông thời xưa, nay vào "Google" sẽ thấy. Tuy không ai dám đoán chắc hễ trúng số 9 là "ngon lành", nhưng thiên hạ cứ thích chọn "nút số 9"!

          Vậy nên vào lúc đất trời giao mùa, Xuân 2019 đã gõ cửa, nhớ lại năm "số 9" trong cuộc đời Bác Hồ có lẽ cũng là điều có ý nghĩa và thú vị. Năm "số 9" đầu tiên đáng nhớ của Bác Hồ là năm 1909, cách đây tròn 110 năm! Chuyện chúng ta đều biết là năm 1908, sau khi tham gia cuộc đấu tranh chống thuế, cậu học sinh Trường Quốc học Huế Nguyễn Sinh Cung (còn gọi là Nguyễn Tất Thành - về sau trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh) không chịu khuất phục trước sự đe dọa và cám dỗ của mật thám Pháp, chẳng thà bị đuổi học để đi tìm cuộc sống tự do. Chúng ta cũng đã biết sau đó chàng thanh niên 20 tuổi Nguyễn Sinh Cung đã trở thành trợ giáo Trường Dục Thanh (Phan Thiết) trước khi vào Sài Gòn, rồi lên tàu biển tại Bến cảng Nhà Rồng để tìm đường cứu nước. Nhưng chàng thanh niên ấy rời Huế lúc nào và đi với ai về phương Nam xa xôi, đường sá cách trở, lại chưa có ai quen biết?

          Câu hỏi ấy, mãi sau này mới tìm được lời đáp xác thực. Theo "Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử" (NXB Chính trị Quốc gia - 2005), trong tờ trình của Bộ Lại ngày 29-5-1909 (ngày 14-4 năm Duy Tân thứ 3) hiện lưu tại Viện Hồ Chí Minh, ghi rõ việc cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy (tức Sắc) được cử làm Tri huyện Bình Khê (Bình Định) và Mật văn của Sở Mật thám Trung kỳ ngày 7/5/1920 ghi lời khai của bà Nguyễn Thị Thanh (chị của Nguyễn Sinh Cung) hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội) cho biết năm 1909, hai anh em Nguyễn Tất Đạt và Nguyễn Tất Thành đã cùng với thân phụ đi vào Bình Định khi cụ Huy vào đây nhận chức Tri huyện Bình Khê…

          Trong đêm khuya lạnh vắng ngày cuối năm, tôi lật mở những trang sử cũ, chợt vọng đến tiếng còi tàu khi vượt qua nút giao dưới chân dốc Bến Ngự. Tiếng còi tàu gợi nhớ chuyến "hành phương Nam" của ba bố con cụ Phó bảng hơn một thế kỷ trước(1). Sử sách chỉ ghi vắn tắt rằng khi cụ Huy được bổ làm Tri huyện Bình Khê, cụ đã đưa cả hai anh em đi theo, nhưng với Nguyễn Sinh Cung, có thể gọi đó là một chuyến đi lịch sử. Tôi bỗng hình dung trên sân ga Huế ngày đó, cụ Huy, một lần nữa, bảo Nguyễn Sinh Cung: "Chỉ mình anh Đạt đi với bố được rồi. Con ở lại, có cụ Cao, thầy Miến giúp đỡ, răng cũng tìm được nơi học tiếp. Vô trong nớ, huyện Bình Khê giữa rừng sâu, núi thẳm…". Nguyễn Sinh Cung biết cụ Thượng thư Bộ học Cao Xuân Dục, thầy Lê Văn Miến cùng là người đồng hương xứ Nghệ, mà thân phụ từng qua lại, nhưng chí anh đã quyết. Thầy Miến cũng đã chia tay với anh, gợi ý cho anh về nơi dừng chân đầu tiên trên lộ trình tìm đường cứu nước là Tổ quốc từng giương cao ngọn cờ "Tự do - Bình đẳng - Bác ái"… Cũng chính vì thế, chỉ một thời gian ngắn sau khi đến Bình Khê, Nguyễn Sinh Cung đã trở lại thành phố Quy Nhơn, theo học tiếng Pháp với thầy Phạm Ngọc Thọ (là thân sinh của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch). Theo hồi ức của bà Phạm Ngọc Diệp (chị ruột của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch) hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội), Nguyễn Sinh Cung đã về Quy Nhơn cũng vào một thời điểm có "số 9" - đó là tháng 9/1909!

          Lâu nay, khi nói đến việc ra đi tìm đường cứu nước của Bác Hồ, sử sách thường chỉ nhắc sự kiện ngày 5/6/1911, anh Ba (tức Nguyễn Tất Thành) đến bến Nhà Rồng, xuống tàu Amiral Latouche Tréville để sang Pháp… Lịch sử không có chữ "nếu", nhưng từ những điều "giả sử", hậu thế sẽ hiểu vấn đề toàn diện hơn, đánh giá sự kiện đúng mức hơn. Phải! "Giả sử" ngày đó, Nguyễn Sinh Cung không lên chuyến tàu rời Huế? Có thể lắm, có tài liệu cho biết cuối năm 1908, chàng đã trở về quê Nam Đàn. Và Huế, dù đang phải sống dưới chế độ phong kiến thuộc địa, vẫn là vùng đất giàu truyền thống văn hoá, sông núi hữu tình, nơi hội tụ giới tinh hoa của đất nước; nơi đây, chàng từng có bao kỷ niệm, bao thầy trò thân quen, có ngôi mộ người mẹ yêu quý bên núi Ngự Bình cỏ vừa lên xanh đang thiếu người hương khói… Tất cả, đều có sức níu giữ Nguyễn Sinh Cung ở lại Huế. Giả như điều ấy xảy ra thì không thể có chuyện Nguyễn Sinh Cung trở thành trợ giáo trường Dục Thanh (Phan Thiết) và tất nhiên không thể có việc "anh Ba rời bến Nhà Rồng tháng 6/2011"! Nhưng chàng đã quyết lên đường! Cả đến năm 2010, khi cụ Phó bảng và anh trai của chàng buộc phải trở lại Huế, Nguyễn Sinh Cung vẫn kiên trì giữ hướng đi đã chọn "Hơn hai mươi triệu con Hồng cháu Lạc, quyết không chịu làm nô lệ… Tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đang vang dội…". Chỉ với những điều tâm huyết cao cả này, Nguyễn Sinh Cung mới đủ nghị lực thoát mọi ràng buộc, nhất quyết lên đường hướng đến chân trời mới. Hơn ba chục năm sau (năm 1941), điều này đã được Nguyễn Ái Quốc thể hiện trong lời kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên vì sự nghiệp giải phóng dân tộc…

          Vậy nên theo tôi, việc Nguyễn Sinh Cung rời Huế lên đường vô phía Nam năm 1909 xứng đáng là một chuyến đi có tính lịch sử! Phải! Chính là nhờ Nguyễn Sinh Cung quyết chí lên đường tìm chân trời mới ngày đó, đất nước Việt Nam mới có Chủ tịch Hồ Chí Minh!

***

          "Nút số 9" thứ hai của Bác Hồ cũng thật có ý nghĩa và lâu nay thường bị "chìm" sau sự kiện năm 1920. Một sự trùng hợp thú vị, sự kiện đặc biệt này xảy ra vào năm 1919, tròn một thế kỷ trước!

          Lâu nay, nói về giai đoạn đầu Nguyễn Ái Quốc hoạt động tại Pháp, công chúng chỉ nhớ đến sự kiện Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội Tour thành lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920. Thực ra, đây là hệ quả tất yếu của tình thế lúc đó và là kết quả của một quá trình mà những hoạt động năm 1919 là rất quan trọng. Gần đây, trong "Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử", lần đầu tiên công bố chính thức các hoạt động có thể nói là dày đặc của Nguyễn Ái Quốc năm 1919. Ở đây, chỉ xin dẫn ra 2 sự kiện có tầm quan trọng đặc biệt:

          "… Khoảng đầu năm, Nguyễn Ái Quốc vào Đảng Xã hội Pháp. Khi được hỏi vì sao vào Đảng, Nguyễn Ái Quốc trả lời: "Chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: TỰ DO, BÌNH ĐẲNG, BÁC ÁI".

          Chính nhờ tham gia Đảng Xã hội Pháp, "Nguyễn Ái Quốc có dịp gần gũi và hoạt động với các nhà hoạt động chính trị và văn hoá nổi tiếng của Pháp như Mácxen Casanh (Marcel Cachin), Pôn Vayăng Cutuyriê (Paul Vaillant Couturier), Lêông Bơlum (Léon Blum), Raymông Lơphevrơ (Raymond Lefèbvre), Giăng Lôngghê (Jean Longuet), Gaxtông Môngmútxô (Gaston Monmousseau), v.v.".

          Có thể nói, cũng chính nhờ thế, mà ngay từ buổi đầu hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm có phẩm chất một nhà văn hoá.

Sự kiện đặc biệt thứ hai trong năm 1919 của Nguyễn Ái Quốc là:

          "Thay mặt Hội Những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, Nguyễn Tất Thành gửi đến Hội nghị Vécxây (Versailles) bản yêu sách của nhân dân An Nam. Dưới bản yêu sách Người ký tên: NGUYỄN ÁI QUỐC. Bản yêu sách gồm tám điểm…"(2); trong đó có hầu hết những quyền tự do dân chủ cơ bản mà con người có quyền được hưởng như tự do báo chí và ngôn luận, tự do lập hội và hội họp…

          Một điều cũng thú vị là cùng ngày 18-6-1919, Nguyễn Tất Thành, ký tên là Nguyễn Ái Quốc đã gửi thư kèm bản Yêu sách cho Tổng thống Mỹ đang dự Hội nghị Hoà bình, đề nghị Ngài Tổng thống ủng hộ bản Yêu sách, chứng tỏ tầm nhìn xuyên thế kỷ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ tuổi thanh xuân.

          Đồng thời với sự kiện này, có 1 chi tiết nhiều người chưa biết là chính danh hiệu Nguyễn Ái Quốc được "khai sinh" ngày 18/6/1919 - thời điểm đưa bản Yêu sách đến Hội nghị Vécxây - hội nghị hòa bình tổ chức sau khi kết thúc Đại chiến lần thứ nhất (1914-1918). Tham gia dự thảo bản Yêu sách là bộ ba: Phan Châu Trinh - luật sư Phan Văn Trường - Nguyễn Tất Thành. Khi dự thảo Yêu sách hoàn thành, người viết bản Yêu sách ra tiếng Pháp là Phan Văn Trường, nhưng ai sẽ ký tên? Thoạt đầu, Nguyễn Tất Thành đề nghị cụ Phan và luật sư Phan Văn Trường đứng tên vì 2 người đã có uy tín lớn trong giới Việt kiều, nhưng sau một lúc bàn bạc, cụ Phan đề nghị phải dùng một cái tên tiêu biểu cho nguyện vọng chung của nhân dân. Tên Nguyễn Ái Quốc - Người Yêu Nước, ra đời từ đó. Và cũng từ đó, Nguyễn Tất Thành mang tên Nguyễn Ái Quốc!

          Tròn một thế kỷ đã qua từ ngày đó! Sự kiện này - từ 100 năm trước, khi đất nước còn chìm trong bóng tối của chế độ thuộc địa-phong kiến, một người dân "An Nam" mang tên Người Yêu Nước đã cất tiếng giữa Hội nghị quốc tế lớn gồm 27 nguyên thủ quốc gia hàng đầu thế giới đòi quyền sống, quyền tự do cho nhân dân Tổ quốc mình, có thể nói là "vô tiền khoáng hậu", là sự tiên báo tầm vóc lãnh tụ sẽ đưa dân tộc Việt Nam vượt qua mọi thác ghềnh, nhất quyết không cúi đầu trước mọi thủ đoạn của các cường quốc. Chính mật thám Pháp cũng đã thấy tầm vóc Nguyễn Ái Quốc từ ngày đó, nên suốt mấy tháng cuối năm 1919, chúng theo sát Nguyễn Ái Quốc hàng ngày, làm hồ sơ ghi lại mọi việc làm, mọi cuộc tiếp xúc của Nguyễn Ái Quốc…

***

          Chính từ bước khởi đầu đó, 10 năm sau - năm 1929 - vào lúc ba tổ chức cộng sản mới thành lập chưa tìm được tiếng nói thống nhất, "đồng chí Vương" (còn có bí danh là Lý Thụy, Tống Văn Sơ) - tên gọi của Nguyễn Ái Quốc lúc đó - là người đủ uy tín, đại diện Quốc tế Cộng sản, được mời về chủ trì Hội nghị thống nhất 3 đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam (Nguyễn Ái Quốc về Hồng Kông ngày 23/12/1929, nhưng do chờ đại biểu Đông Dương Cộng sản liên đoàn, nên ngày 6/1/1930 mới khai mạc Hội nghị).

          Lại 10 năm nữa qua! Một giai đoạn Nguyễn Ái Quốc đã trải qua biết bao thăng trầm. Có thể nói như thế, khi "Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử", dù rất tóm tắt, đã viết:      "… Hai lần bị giam cầm trong xà lim và ngục tù của bọn đế quốc phản động, cả hai lần đều bị ốm nặng và có tin đã chết(!). Trong việc đấu tranh để xác lập và bảo vệ đường lối cách mạng đúng đắn chống mọi khuynh hướng "tả" và "hữu" trong Đảng ta và trong Quốc tế Cộng sản, Người đã bình tĩnh, sáng suốt, kiên trì giữ vững quan điểm sáng tạo, đúng đắn của mình. Bằng dũng khí và trí tuệ, với sự tế nhị khéo léo, với ý thức tổ chức, kỷ luật, Người đã phấn đấu quyết liệt và bền bỉ để Đảng, do Người sáng lập, đi đúng đường lối mà Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định và ngày càng lớn mạnh…". Phải! Nhờ có "dũng khí" và cả sự "tế nhị, khéo léo, bền bỉ", Nguyễn Ái Quốc mới vượt qua mọi trắc trở, để đến tháng 8 năm 1939, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu một chặng đường mới có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự thành công của Cách mạng tháng Tám: Sau khi tổ chức cộng sản trong nước bắt liên lạc được với Nguyễn Ái Quốc, Trung ương đã quyết định cử cán bộ sang Quảng Tây, Vân Nam tìm đón Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng…

          Do thông tin thời đó còn thô sơ, Nguyễn Ái Quốc thì phải dời địa điểm liên tục, mãi đến mùa Xuân 1941, Nguyễn Ái Quốc mới vượt qua biên giới về tới Cao Bằng vào ngày mồng 2 Tết Tân Tỵ…

          Những sự kiện sau đó - nhất là từ khi Nguyễn Ái Quốc mang tên Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2/9/1945 - thì mọi người đã biết. Càng không thể quên vào ngày 2 tháng 9 năm 1969, Người "lên đường" đi gặp "các vị cách mạng đàn anh khác"… Trước khi "đi xa", đúng vào dịp kỷ niệm lần thứ 39 ngày thành lập Đảng, Xuân 1969, trong bài viết quan trọng "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân", thêm một lần nữa, Bác Hồ đã bày tỏ nỗi lo âu khiến Người luôn thao thức từ khi Đảng nắm quyền. Chính vì thế, Bác Hồ đã thiết tha nhắc nhở: "Mỗi cán bộ đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết…".

          Nhân ngày Xuân 2019, nhớ lại một vài sự kiện quan trọng có "nút số 9" trong cuộc đời Bác Hồ - nếu đó không phải là một "bí ẩn" của tạo hóa chưa giải thích được, thì cũng là một điều thú vị. Thật ra, điều quan trọng hơn, những sự kiện đó là bằng chứng sinh động và xác thực rằng, suốt cuộc đời, Bác Hồ luôn "hết lòng hết sức phục vụ Tổ̉ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân" như chính Bác đã viết trong Di chúc.

          Đây chính là "con đường Bác Hồ đã chọn" mà chúng ta nguyện đi theo - con đường CHÍ MINH sáng đẹp tạo nên sức mạnh đủ khả năng quét sạch mọi thứ rác rưởi, mọi loại cám dỗ luôn "phục kích" trong cuộc đấu tranh xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

          1909… 1969… Một trăm mười năm và nửa thế kỷ. Những "thước đo" thời gian đủ để thử thách và xác định những giá trị vĩnh cửu. Hy vọng Xuân 2019, cuộc khởi hành trên con đường lớn đó sẽ ngày một rầm rộ, tràn đầy khí thế tiến công như những cuộc xuống đường, những cuộc hành quân năm xưa đã làm nên kỳ tích trong sự nghiệp chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam...

Chú thích

(1). Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, đường sắt Huế-Đà Nẵng bắt đầu khai thác từ năm 1906, nên ông tin chắc rằng ba bố con cụ Huy đã rời Huế bằng tàu hỏa.

(2). Những dòng in xiên trong đoạn này đều dẫn từ "Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử".

 

Đậu Kỷ Luật

          Tết năm mới của các tộc người thiểu số luôn luôn giữ được nét cổ xưa hơn; phong tục đón tết phong phú và đa dạng. Tết còn là nơi xuất hiện "một sân khấu thời trang" lộng lẫy và còn là nơi gặp gỡ tình cảm với nhau. Biết bao đôi lứa xe duyên nên vợ nên chồng nhờ vào dịp lễ tết này. Tết xuân là dịp cộng cảm của con người và vạn vật, cộng cảm giữa người sống và người chết, cộng cảm cá nhân và gia đình, gia tộc, xóm thôn, làng nước.

          Một trong những tộc người ở miền Tây Nghệ An khá hấp dẫn là Tết Mông: có thể nói là tìm hiểu văn hóa Mông thì đến Tết Mông là thuận lợi nhất và khó quên được vì cái nét đặc sắc cộng cảm như nói trên là nổi bật.

          Về đến đầu bản, thấy sân chơi páo páo (ném còn) chật ních người. Những con ngựa hồng, ngựa trắng trong tàu ngựa rung chuông, gõ gót xuống sàn. Nhà nào nhà nấy đốt lửa từ gà gáy chuẩn bị đi lấy nước nguồn về cho ngày lễ. Mấy nhà mới chuyển về bản đang hối hả giã bánh dày. Mùi thịt nướng thơm ngọt bốc ngào ngạt. Những thanh gỗ thông làm bếp còn thơm mùi hương, bồ hóng chưa kịp bám. Mái lợp bằng gỗ pơmu sang trọng khoe sắc. Chiếc cối xay ngô, dân bản mới dùng xong, bột ngô vương tung tóe bám lên cả cột nhà. Lò rèn ông trưởng họ đã xếp gọn để đón tết. Tết Mông trước tết Nguyên đán khoảng một tháng. Quanh nhà nào, trên bàn thờ, nhà nấy cũng có những tờ giấy trắng tự làm dán trên vách gỗ, trước cổng ra vào cũng có giấy.

Nghề làm giấy

          Bộ đội ta về bản dự vui tết cứ ngắm những tờ giấy mà suy nghĩ, thì được ngay lời kể đầy tự hào của người già kể chuyện về người Mông biết làm giấy trước châu Âu hàng thế kỷ.

          Trước khi có giấy, thì người Tàu đã phải khắc chữ lên mai rùa, xương thú, kim loại, đá, thẻ tre, ván gỗ, dải lụa…, nhưng rồi xương thú, mai rùa đâu có nhiều, kim loại và đá thì quá nặng, còn vải lụa lại quá hiếm, tre gỗ chiếm thể tích rất lớn, tất cả đều sử dụng không hề tiện lợi. Thời đó Mặc Tử đi đâu cũng chở theo ba xe sách bằng tre, còn Tần Thủy Hoàng thì mỗi sáng phải vận chuyển bằng tay cả trăm cân văn thư cồng kềnh.

          Từ cái khó ló ra cái khôn. Người Trung Hoa tìm ra loại đay gai, vải rách, lưới đánh cá rách nát để chế biến ra giấy. Nhiều người cho rằng thực ra là sáng kiến của người Bách Việt chúng ta - trong đó có Miêu tộc - họ làm nghề, nấu lên làm giấy như ta nấu nồi bánh đúc mà thôi, không phức tạp gì lắm. Sau này họ lấy loại cây nứa, tre, vầu mọc tự nhiên ở trong rừng cao khoảng vài mét, chưa có lá. Coi như có sẵn kho vật liệu gửi trên rừng dùng dần. Bóc vỏ ngoài lấy phần ruột, chặt từng đoạn ngắn, chẻ thành nhiều mảnh nhỏ xếp vào chảo, bỏ dưới đáy một ít tro bếp để khi đem đun không cháy nguyên liệu. Cứ xếp xong một lớp lại rắc một lớp tro bếp. Xếp cho gần đầy, đổ nước vào lấp xấp, rồi lấy lá chuối rừng ủ kín miệng chảo, xong bắc lên bếp lò nấu như kiểu nấu bánh chưng 3 - 4 tiếng, khi lá chuối cháy hết ngả màu xám là được. Vớt số nguyên liệu đó bỏ vào trong giỏ mang ra suối rửa sạch tro bếp. Sau đó mang về ủ ở góc bếp 3 - 4 ngày. Áng chừng đã được, người ta lấy ra đặt lên ván gỗ, dùng thanh gỗ đập cho giập nát ra hết, đem bỏ vào thùng nước, dùng hai tay bóp cho nguyên liệu tơi ra, rồi vớt lấy bã, sau đó dùng một que dài ba gang tay khoắng đều trong thùng cho bã nổi lên quấn vào que rồi bỏ ra ngoài. Lúc này trong thùng chỉ còn tinh bột giấy. Cái khuôn không cố định các lần mà dùng xong vứt luôn, bữa sau cần thì làm lại bởi vì khuôn chỉ là một cái khung bằng nứa hình chữ nhật, dài 10 gang tay, rộng 5 gang, có buộc những đoạn nứa đóng đều nhau theo chiều rộng để giữ cho khung không bị xô lệch. Khung làm xong, lấy một tấm vải xung quanh khâu diềm rồi căng lên khung nứa tạo thành khuôn giấy, tùy theo số lượng tinh bột mà làm khuôn.

          Khuôn giấy làm xong xếp nằm trên mặt đất, nơi khô ráo, có ánh nắng. Chỉ còn việc lấy bát múc tinh bột đổ lên khuôn, đổ đến đâu giát mỏng đến đấy, khi khuôn đầy, lấy ống nứa lăn đều rồi phơi khô sẽ có giấy dùng. Giấy chỉ dùng tại nhà, tại bản khi có nghi lễ gia đình.

          Trước đây người ta cứ cho rằng nghề giấy có từ khoảng năm 150 Tây lịch, nhưng đến năm 1957 khai quật được ở ngoại thành phía Đông Tây An ở Bá Thước có loại giấy cổ đầu đời Tần Hán, trước Công nguyên 2 thế kỷ. Đó là loại giấy cổ nhất thế giới. Nghề làm giấy phổ biến ở người Tàu, người Bách Việt, sau đó truyền sang Việt Nam ngày nay, rồi đến Nhật Bản, Triều Tiên và sang thế kỷ thứ VIII mới truyền sang Ả Rập, tới I Rắc, Xy Ri… Giấy ở Ả Rập sản xuất nhiều bán sang châu Âu. Đến thế kỷ XII, thấy xuất hiện xưởng giấy ở châu Âu (Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Đức…). Khoảng năm 1800, nghề giấy được cơ giới hóa đầu tiên bằng chiếc máy làm giấy của người Pháp tên là Rô - be (Robert) và công nghiệp hiện đại biến giấy phát triển mạnh mẽ ở châu Âu.

          Lược sử ghi, vào năm 284 có một lái buôn nước Đông La Mã đã phải mua 3 vạn tờ giấy của nước ta để dâng vua Tấn Vũ Đế (265 - 317). Thế mà nghề giấy ở ta mai một, mãi tới thế kỷ X mới được phục hồi. Ta có tên làng Giấy, cầu Giấy… Theo Lê Quý Đôn trong "Vân đài loại ngữ" thì ta trồng nhiều cây gió để làm giấy rồi sau này dùng đến cây thượng lạc (hay còn gọi là cây niết  hay cây niệt) - loại này bên Tàu lúc bấy giờ chưa biết. Bởi vậy người ta nói người Viễn đông mình có tài phát minh nhưng ít có tài lợi dụng cái phát minh để phát triển tiến lên, nên thua người Tây phương, bởi thế mà nền kỹ thuật của mình non kém.

          Cái nghề làm giấy cho ta nhiều bài học lắm. Đó là lối tư duy bảo thủ trì trệ hạn chế phát triển.

          Nói đi vui tết là ta tìm hiểu được nhiều điều văn hóa thú vị là vậy.

          Tết đến, không ai là không lân la trò chuyện với ông trưởng họ về cái lò rèn. Chỉ tóm tắt thôi, ông cũng tự hào cao giọng, say mê: Tổ tiên người Mông xưa (người Hán gọi là Miêu) là dân trồng lúa nước nên họ quan tâm đến cái lò rèn. Rồi từ hồ Bành Lãi và Động Đình (thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay), chính là miền đất phía Nam Đông Á cổ đại. Một trong những tộc người nằm trong nhóm Bách Việt cổ xưa phải đương đầu với dân du mục phong kiến phương Bắc thượng võ. Họ chống cự không được, phải bỏ đất mà đi. Họ chạy mà vẫn phải đi thụt lùi để luôn để mắt nhìn về phía kẻ địch mà cảnh giác. Khẩu súng kíp Mông đi vào lịch sử, vào tính cách Mông (xưa ta hay gọi là Mẹo) là có cái lý của nó. Đọc sử ta, trong truyện Họ Hồng Bàng cũng nhắc ta về tộc người Miêu với nhân vật Suy Vưu. Cái mảnh đất mà tổ tiên người Mông sinh cơ lập nghiệp xa xưa là nơi có nghề làm thuốc súng, làm vũ khí khá sớm. Ít ra cũng có hơn 1000 năm nay. Vào đời nhà Đường (Trung Quốc) người dân vùng này đã biết làm thuốc súng. Cái tên hỏa dược (thuốc súng) có từ đây. Gọi là thuốc vì thành phần chủ yếu của thuốc súng là diêm tiêu lưu huỳnh là dược phẩm quan trọng có tác dụng trong các thuốc trị bệnh mẩn ngứa, phong thấp và sát trùng. Thuốc súng và hỏa khí phát minh ra ở Trung Quốc khoảng từ 1225 - 1248 truyền qua Ấn Độ, Ả Rập rồi sau người châu Âu mới học theo: Tây Ban Nha thế kỷ XIII, Anh, Pháp thế kỷ XIV.

          Người Mông ở vùng cao biết chế ra súng để giữ bản mường, chống thú rừng và kẻ địch. Người Mông bản Đống (Kỳ Sơn) đã nổi tiếng về đánh Pháp với người chỉ huy là ông trưởng họ Sùng Lừ, được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất tiếng vang cả Nghệ An và vang xa sang cả đất bạn Lào. Thủ lĩnh Mông Thao Tu chỉ huy bộ đội Pachay của Pa thét Lào khoe với cả bản mường người Mông Xiêng Khoảng, Nọng Hét, cả nước Lào.

          Chuyện trò về nghề giấy, nghề rèn rồi đi vào ăn tết trong từng gia đình. Lại cái điều hấp dẫn nhất trong ẩm thực Tết Mông là chuyện bánh dày.

          Đầu tiên phải kể đến nguồn nước. Tục thờ nước là một tín ngưỡng dân gian rất cổ của sinh hoạt văn hóa Mông. Các cụ già bảo nước là sữa của đất trời, là vàng, là bạc ông trời, bà đất ban cho, những đêm giá buốt nhất, nước đóng băng trên máng, dân bản đem được ra trong đêm tối mịt, cạy từng máng nước đóng băng sắp vào gùi mang về kịp hơ cạnh bếp lửa để sáng mai có nước dùng. Chọn nước hệ trọng lắm, khác nào đồng bào Kinh các cụ sai con gái chọn giếng làng nơi có mạch nước tốt, sạch sẽ nhất. Chỉ có nước giếng nào tinh khiết mới xứng với nước ngâm nếp làm bánh dày ngày tết. Nước đủ về ngâm nếp, các cụ, các mẹ mới vui lòng. Nếp được chọn những bông lúa mẩy hạt, mười hạt đậu mười, mùi thơm phức. Nhà nào cũng chọn một vài yến nếp. Xôi được đồ lên vừa độ, dẻo thơm, thấy đạt tiêu chuẩn các cụ mới cho vào cối. Vài chàng trai khỏe mạnh thay nhau giã thật mịn, thật dẻo. Tiếng chày, nhịp chày lúc này âm thanh nhẹ và nhặt hơn, dồn dập hơn. Giã cho tới khi xôi quánh chặt vào chày tất cả mới đạt yêu cầu; âm thanh tiếng chày lúc này mảnh và sắc hơn, bởi thêm tiếng chày gõ nhẹ vào miệng cối đã ngân dài như kết thúc bản nhạc. Có nhà kỹ tính hơn, lấy lòng đỏ trứng gà đã luộc xoa vào tay rồi nắm từng nắm bọc trong lá chuối non đã hơ héo. Bánh có thể dùng ăn ngay hoặc để vài ngày sau mới ăn, hay cắt thành từng lát rán mỡ sẽ nở to càng ngon. Trong số bánh làm ra, chọn ép những chiếc bánh có đường kính vài ba gang tay đặt lên bàn thờ cúng tổ tiên. Tết Mông không nhà nào thiếu bánh dày. Bàn thờ không thể thiếu bánh dày. Đây là vấn đề tâm linh ăn sâu vào máu thịt người Mông.

Chuyện kể, ngày xửa ngày xưa, trên đỉnh núi cao chót vót có những bãi chơi của con nhà trời. Người Mông không hề biết, thấy trống vắng nên kéo nhau lên đó làm nhà ở. Vua trời biết được, phái thần đuổi người Mông đi. Người Mông vốn gan chắc như chiếc đai thùng, không hề nhúc nhích một bước. Trời tức khí, bèn sai thần sấm băm vằm vách núi, dọa, nhưng người Mông vẫn trơ gan. Trời cấm thần nước không được mang nước đến cho người Mông. Rồi sai thần gió mang lạnh, rét cắt da cắt thịt đến bủa vây, nhưng người Mông không nản chí. Trời đành bắt giam ông tổ người Mông một nơi không đi lại được. Giam cầm, bị đói, cụ tổ mắt mờ, chân run. May sao gặp lũ trẻ bé tí bằng ngón tay cho ăn một thứ là lạ - sau này mới biết đó là cơm. Rồi cụ đi một quãng xem lũ trẻ chặt cây có nhiều hạt vàng óng ánh - đó là giống nếp, lũ trẻ đem ra vãi. Cụ biết đích xác đây là giống quý nuôi người nên cụ tỉa trộm một ít hạt cho vào túi để có dịp về gặp gia đình, họ hàng làm giống trồng. Một hôm mưa to gió lớn thổi bay cụ tổ vào phía Nam. Bỗng nhiên có chim đại bàng giang cánh rộng và cắp được cụ tổ về với con cháu. Thế là thoát khỏi địa ngục trần gian được về sống với con cháu. Từ đó trời cũng chịu thua không hành hạ người Mông nữa.

          Hạt giống của cụ tổ, lấy từ nhà trời về gieo lên nương, mọc nhanh cho hạt nhiều. Thu hoạch về xay giã, làm thành chiếc bánh hình tròn như mặt trời gọi là bánh dày.

          Từ đó trở đi, người Mông có phong tục ngày tết nhà nào cũng vậy, dù nghèo đến mấy cũng phải dành dụm để có mâm bánh dày to đặt trên bàn thờ để cúng tổ tiên, nhớ về cội nguồn và tạ ơn chim đại bàng đã giúp tổ tiên mình thoát nạn.

Du xuân

          Tết Mông có tục du xuân rất nhân văn. Xem hình ảnh đẹp, nghe âm thanh réo rắt bay bổng thì về du xuân hàng năm với người Mông. Trang phục ngày tết là đỉnh cao để tìm cái đẹp trong văn hóa mặc. Mà xưa nay, dân tộc nào thì phụ nữ cũng làm đẹp nổi trội nhất.

          Trang phục nữ là một tác phẩm nghệ thuật, là kỹ thuật và biểu cảm ở tâm - nét đặc sắc văn hóa Mông. Lòng mẹ là nước trong nguồn chảy ra là ở đây.

          Ta hãy bắt đầu bằng y phục cổ nhất và chung nhất của  nhiều tộc người ở Đông Nam Á. Đó là trang phục của người Mông (y phục và trang sức). Phụ nữ Mông hoa của hai nước Việt - Lào biên giới liền nhau. Gắn bó của người mẹ với người con gái từ thuở ấu thơ đến khi về nhà chồng.

          Tôi bảo đảm rằng một phong tục mà không đâu trên hoàn cầu này, Đông cũng như Tây có được là khi người con gái về nhà chồng, mẹ thường gửi theo dưới đáy hòm con gái bộ áo váy lanh do mẹ tự may, để đến khi về với tổ tiên thì nó lại lấy ra mặc khâm liệm chôn cất. Từ bé mẹ đã dạy con làm chiếc váy, người con gái 15 năm lao động để có kiểu váy ấy. Người Mông cho rằng dù đói rách, khi chết cũng phải có áo lanh mặc vào. Hồn của lanh đã ăn vào tâm thức Mông.

          "Chỉ có mặc vải lanh mới không lẫn tổ tiên, mặc vải lanh thì ma tổ tiên mới nhận được mặt con cháu".

          Chiếc váy trong lễ hội tết đặc sắc của phụ nữ Mông hoa ai cũng phải trầm trồ. Váy hình chóp cụt, nó là một tác phẩm nghệ thuật. Váy làm bằng sợi lanh. Thân váy là một tấm vải dài 7 mét, người ta gấp nhiều nếp trên cạp váy chỉ còn khoảng 90 cm. Cạp váy làm từ miếng vải rộng 40 cm, gấp làm đôi và khâu ôm lấy phần thân váy, người ta còn đính thêm một dải vải dài hơn 1,8 m vào cạp váy rồi quấn quanh thắt lưng. Phần tiếp giáp của hai vạt nằm ở phía trước, và được che bằng chiếc yếm rộng 30 cm, dài 80 cm. Yếm được giữ bằng một dải thắt lưng thêu hoa văn, ngày thường cũng như ngày lễ, người ta thắt váy nhiều thắt lưng. "Vành đai" vải này là giá đỡ chiếc gùi khi đi làm, hoặc chiếc địu trẻ nhỏ lúc ở nhà. Cô gái nhà giàu còn đính thêm vào thắt lưng những đồng bạc trắng.

          Đầu năm, cô gái trẻ nào cũng "khoe" tài của mình qua chiếc váy mới do tay mình làm. Đặc biệt nổi nhất và độc đáo là những hoa văn thể hiện trên chiều ngang chiếc váy chia làm bốn phần. Phần cuối chừng 25 cm là hoa văn hình học, những họa tiết hình vuông, hình quả trám, hình tam giác xếp ghép liền kề nhau. Trên đó chừng 15 cm là dải hoa văn đen đậm nằm giữa hai dải hoa văn đồng biến màu trắng nối đuôi nhau chạy quanh váy. Phần trên khoảng 30 cm lại thể hiện hoa chanh hình học kẻ mờ trên nền xanh sậm. Cuối cùng là phần eo. Bàn tay vàng của cô gái Mông tỉ mỉ rút sợi thành múi tạo ra nếp gấp ở eo; trên phần gấp ấy đính rất nhiều miếng vải hình khối nổi nhỏ bằng đầu ngón tay nối nhau quanh chiếc váy. Chiếc váy mặc vào ôm tròn lấy eo, sau đó bồng lên như chiếc đuôi công xòe. Cách bố trí hoa văn trên váy của họ làm ta liên tưởng đến cách bố cục hoa văn trên đuôi công. Ngoài váy là bộ xà cạp điểm hoa văn hình học quấn quanh bụng dưới và trên là chiếc khăn dài màu gụ được quấn nhiều lớp. Nhưng nổi bật nhất là trang sức vòng bạc, khuyên tai. Tết đến, phụ nữ Mông thường đeo ba kiểu hoa tai: kiểu hình mũi tên có vòng tròn bao quanh, kiểu hình chữ S, kiểu hình chiếc móc có nhiều vòng tròn nhỏ đính vào. Họ đeo nhiều vòng bạc to nặng ở cổ, thường từ 1 đến 7 vòng, có người còn móc thêm vào vòng có nhiều chùm xích bạc trắng có đuôi hình chiếc khóa, hình con cá, hình con bướm, hình bánh xe, hình cái chuông… Các cô gái trẻ còn đeo nhẫn bạc vào cả 10 ngón tay. Cổ tay đều có 3 - 4  vòng bạc lấp lánh.

          Đi chơi xuân, gái Mông ăn mặc lộng lẫy như vậy, ai biết rằng ngày thường leo núi, lên nương họ vất vả biết bao, đi từ gà gáy sáng đến tối mịt mặt trời lặn mới từ rừng trở về nhà lo cơm nước cho gia đình.

          Đi chơi xuân gọi là hội Gầu Tào, có nơi gọi là hội Sai Sán (Tây Bắc), lễ hội thường tổ chức trên một vùng đất rộng, dưới chân núi, hay trong thung lũng. Giữa rẻo đất, người ta dựng một cây tre làm cây nêu, trên ngọn được treo một dải vải đỏ và một quả bầu. Dưới gốc người ta bày la liệt đồ ăn uống, trong những chiếc nia, trên những tàu lá chuối xanh mướt. Trước khi vào lễ hội, những người cao niên đến thắp hương làm lễ dưới gốc cây nêu cho con cháu mạnh khỏe, bản làng yên vui, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, chăn nuôi phát đạt. Những trò chơi hội xuân: bắn nỏ, đánh quay, ném vòng, đánh yến, hát ống, ném páo páo (ném còn), hát giao duyên, múa khèn, nhiều nơi tổ chức đua ngựa. Riêng múa khèn, một đặc sản của văn hóa Mông, chúng ta đã có dịp giới thiệu trên Chuyên san KHXH&NV.

Do khuôn khổ, xin được nêu vài nét về hát giao duyên. Chơi xuân, trai gái Mông thích tỏ tình bằng những điệu ca, múa, nhạc. Dân ca Mông rất phong phú, có bài dài hàng trăm câu. Họ có tiếng hát mồ côi, tiếng hát làm dâu và tiếng hát vui náo nức là tiếng hát tình yêu. Bởi vậy mà nhà thơ lớn Chế Lan Viên đã khẳng định: "Những bài thơ này - có hàng trăm bài thơ như vậy - nó có thể không hổ thẹn trong những tập thơ của thế giới".

Tiếng hát tình yêu (Gầu Plềnh) xin trích mấy câu ngắn gọn, súc tích:

"… Gió về thổi lá cây bên nhà

Nếu ta là hạt mưa sương

Ta xin tan trên bàn tay nàng

Gió thổi lá cây ngả nghiêng bên suối

Nếu ta là hạt mưa sương

Ta xin tan dưới bàn chân nàng"

Và: "Đêm qua đêm tàn, ngày mai sáng lên

Ta lê bước vào nhà

Hồn như còn ở thắt lưng em

Đêm qua đêm lụi, ngày mai rạng

Ta quay gót về cửa phòng

Vía còn phủ cả khăn mặt"…

Và lấy điệu nhạc thủ thỉ tiếng đàn môi tình tứ chỉ đủ hai người nghe sao mà da diết lạ: "Con sâu ăn lá không ăn mầm

Con nhện giăng tơ chẳng được sợi tơ bóng

Vì mối tơ tình ta phải lần mò lúc đêm trăng.

Con sâu ăn lá không ăn mầm

Con nhện giăng tơ giăng được sợi tơ bóng

Vì mối tơ tình ta phải lần mò lúc canh khuya".

"Đôi ta lúc này ngồi bên nhau

Khác chi mặt trăng với mặt trời.

Để ta cầm que đo nước sâu hay không sâu

Đôi ta lúc này ngồi cạnh nhau

Khác chi mặt trời với mặt trăng

Để ta cầm que đo nước nông hay không nông"

Và đây nữa, có lạ không? Có đỉnh cao không? Nó vượt qua tất cả lễ giáo lâu nay mà "phải liều":

"Mình hỡi: Ta có thể bỏ ao nước trong của cha mẹ ta để lại

Ta cũng có thể lừa cả mẹ cha

Nhưng chàng trai cô gái yêu nhau

Bỏ nhau là nát ruột

Ta có thể bỏ ao nước cạnh

Của cha mẹ ta để cho

Ta cũng có thể xa cả cha mẹ

Nhưng người trai gái yêu nhau

Rời nhau là nát tim…"

Nhắc lại:

"Tiếng khèn biết nói không biết kết

Kết thứ như hoa đào nở trên núi cao".

          Múa khèn còn biểu hiện tinh thần thượng võ của người con trai, do giao hòa tiếp kiến văn hóa với cư dân du mục phương Bắc (nhóm Bách Việt), người Mông đến với âm nhạc không phải để giải trí, mà có thể âm nhạc, đặc biệt là "múa khèn" là hồn Mông độc đáo. Họ đánh giá cao chức năng giáo dục của âm nhạc trong đời sống. Có nhiều chuyện cổ tích sâu sắc. Xin kể ra đây một mẩu chuyện do nhạc sỹ Dương Hồng Từ ghi lại trong tác phẩm của ông năm 2010 "Âm nhạc dân gian dân tộc Mông ở Nghệ An" - Chàng trai dùng tiếng khèn để cứu vợ: "Già Ba Sử và Y Dơn sống với nhau thật đầm ấm và hạnh phúc, một cặp vợ chồng thủy chung, Nhưng xót xa thay, một hôm Già Ba Sử lên nương vợ ở nhà chưa kịp đi cùng, vợ chàng bị một con hổ lớn đến cướp mất. Về nhà, Già Ba Sử muốn vào rừng sâu để cứu vợ. Ngày đêm anh luyện võ, được người trưởng họ cho thanh kiếm quý gọi là có hồn của dòng họ khi cần kíp mới đem ra dùng. Và như có trời, đất, tổ tiên phù hộ. Khi võ nghệ đã thạo, sức đã được nâng lên, anh lên đường vác kiếm quý trong tay, cõng nhà trên lưng, đi tìm khắp rừng trên, suối dưới. Anh chỉ biết dùng khèn thổi gọi vợ bằng những bài mà khi yêu nhau, Y Dơn đã say mê thuộc lòng. Và đây rồi, con hổ xuất hiện, anh toan vung kiếm đọc mấy câu niệm khấn của người trưởng họ dạy. Chàng, lạ thay, tiếng nói từ con hổ kia: "Em là Y Dơn, là vợ anh đây, hổ xám đã bắt em mang lốt hổ. Con hổ ấy sắp về rồi đấy!...". Quả nhiên con hổ xuất hiện. Nó nhảy vào anh. Anh quần với hổ như mình có sức mạnh diệu kỳ của thần linh. Lại có sức mạnh của Y Dơn truyền thêm. Và rồi chàng chém chết con hổ xám kia.

          Bây giờ còn phải thay lốt hổ cho Y Dơn. Tiếng khèn lại vang lên cầu may… Thật kỳ diệu, linh thiêng làm sao, bỗng lốt hổ biến mất, hiện rõ Y Dơn xinh đẹp, nồng nàn. Vợ chồng đưa nhau về, không múa nhưng chàng vẫn thổi khèn bên nàng.

          Sau này hai vợ chồng con cháu đầy đàn, tình yêu thương hạnh phúc tràn trề…

 

Phạm Khắc Lanh

          1. Đặt vấn đề

          Mã Liềng là một trong 5 nhóm địa phương (cùng Sách, Mày, Rục, A Rem) hợp thành dân tộc Chứt, thuộc dòng Việt - Mường, hệ ngôn ngữ Nam Á, dân số khoảng 1.200 người1(1), cư trú chủ yếu ở Quảng Bình và Hà Tĩnh. Ở Hà Tĩnh chỉ có 42 hộ với 146 khẩu, cư trú ở bản Rào Tre (xã Hương Liên, huyện Hương Khê). Người Mã Liềng từ bao đời luôn xem hôn nhân là việc đại sự, nền tảng của việc duy trì nòi giống, hạnh phúc gia đình. Họ có quan niệm, phong tục, nghi lễ cưới hỏi mang nét đặc trưng riêng, góp phần tạo nên bức tranh đa màu sắc của các dân tộc ở Việt Nam.

          Cho đến nay, người Mã Liềng ở Hà Tĩnh đã được đề cập trong khá nhiều công trình nghiên cứu, nhưng chủ yếu mới được nhắc đến trong phần địa bàn cư trú, lịch sử tộc người, dân số hay thực trạng về kinh tế, văn hóa, xã hội,... riêng lĩnh vực hôn nhân với nhiều giá trị tốt đẹp chưa được nhiều công trình quan tâm. Bài viết nghiên cứu nghi lễ hôn nhân của người Mã Liềng ở bản Rào Tre, xã Hương Liên, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, qua đó nhấn mạnh những nét văn hóa đặc sắc cần được bảo tồn và phát huy trong bối cảnh hiện nay.

          2. Quan niệm về hôn nhân

          Thanh niên Mã Liềng, nam từ 15-16 tuổi, nữ từ 13-14 tuổi được tự do tìm hiểu, yêu đương, nhưng để trở thành người một nhà thì phải được sự đồng ý của cha mẹ. Tiêu chuẩn chung để lựa chọn chồng, vợ là gia đình phải đông anh em, người thân. Người Mã Liềng cho rằng, gia đình nào đông con, đông anh em sẽ dễ dàng giúp nhau trong những lúc khó khăn, hoạn nạn, trong sản xuất. Đối với người con gái phải chịu khó, thành thạo các công việc nội trợ và ứng xử lễ phép với cha mẹ, anh chị, họ hàng, dân bản. Đối với người con trai phải khỏe mạnh, thạo việc nương rẫy, đốn củi, bẫy thú, biết quan tâm đến gia đình nhà gái. Người Mã Liềng có quan niệm về "môn đăng hộ đối", đặc biệt là "môn đăng hộ đối" trong hành vi ứng xử gia đình. Do điều kiện sống tương đồng, các gia đình người Mã Liềng hầu như không có sự khác biệt nhiều về vật chất nên vấn đề "môn đăng hộ đối" về kinh tế có đặt ra nhưng không phải là ưu tiên quan trọng trong hôn nhân.

3. Giai đoạn trước đám cưới

* Tục ở rể (Cò mà tèm)

          Ở rể là tục lệ bắt buộc đối với nam thanh niên Mã Liềng trước khi lập gia đình. Sau khi tìm được cô gái mà mình ưng ý và muốn ở rể để tiến đến hôn nhân, chàng trai phải vào rừng chặt một bó củi đặt trước nhà cô gái, nếu đồng ý nhà gái sẽ lấy bó củi vào đun nấu, không đồng ý thì để nguyên. Thời gian ở rể thường kéo dài từ 2-3 năm, công việc hàng ngày của chàng rể là đi rừng làm rẫy, bẫy thú, lấy củi phụ việc cùng cha mẹ cô gái, hoặc theo cô gái vào rừng hái lượm, săn bắn. Trong thời gian ở rể, chàng trai phải thực hiện một số điều kiêng kỵ như: chỉ được sinh hoạt trong một góc phía ngoài buồng bên trái ngôi nhà, không được ngủ chung, ăn chung, không đi lên cầu thang bên phải ngôi nhà, không được ngồi gần bếp lửa của nhà gái. Việc ở rể trước khi tiến đến hôn nhân là một truyền thống văn hóa tốt đẹp của đồng bào Mã Liềng nhằm mục đích trả công cho nhà vợ, góp phần dạy cho chàng trai và cô gái cách làm ăn, phát nương rẫy, trồng trọt, chăn nuôi, bẫy thú,... để có thể tự túc được cuộc sống sau khi thành vợ chồng. Đây cũng là khoảng thời gian để gia đình nhà trai chuẩn bị lễ vật tiến hành nghi lễ đám cưới.

* Lễ đi hỏi (Ơ xa anh)

          Sau thời gian ở rể, được sự đồng ý của gia đình cô gái, chàng trai về thông báo và mời cha mẹ sang hỏi chuyện đám cưới. Bên nhà trai đi thưa chuyện thường là cha mẹ và anh trai, nếu không còn cha mẹ thì bác, cậu hoặc anh trai có thể thay mặt. Lễ vật nhà trai mang theo gồm 1 chai rượu, 1 đĩa trầu cau, thuốc lá và 1 bó chè. Trong lễ hỏi chuyện, hai gia đình thống nhất về thời gian tổ chức đám cưới, trao đổi các bước thực hiện nghi lễ, thành phần tham gia, các lễ vật cần có, nếu hoàn cảnh khó khăn, nhà trai sẽ trình bày để xin nhà gái giảm bớt lễ vật. Hai gia đình cũng thống nhất với nhau sẽ mời ai làm người đại diện và các vấn đề khác liên quan đến hôn nhân của con cái. Lễ hỏi chuyện là lần đầu tiên hai gia đình gặp nhau để bàn về việc hôn nhân của con cái nhưng lại có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi đây cũng là lần bàn chuyện gần như duy nhất giữa cha mẹ chú rể và cha mẹ cô dâu. Trong các nghi lễ đám cưới về sau, mọi việc hai gia đình phải giao lại cho người đại diện.

* Lựa chọn người đại diện cho gia đình nhà trai và nhà gái

Người đại diện của gia đình nhà trai gồm 2 người đàn ông, gọi là "ông Rừng" (hay còn gọi là "ông Cà Pá" - Cà Pá là cái oi mà người đàn ông đi rừng thường mang theo buộc vào hông để thu lượm các thức ăn nhặt được) và "ông Cau" (hay còn gọi là "ông Gá" - Gá là cái rá (cái rổ)). "Ông Rừng" phải là người có uy tín cao đối với dân bản, là người biết nhiều, hiểu rộng, am hiểu sâu về phong tục tập quán, về các lễ nghi, luật tục, có tài ăn nói hoạt bát, có vợ, con cái khỏe mạnh. "Ông Cau" là một người lớn tuổi trong gia đình nhà trai, thường là bác, chú hay cậu của chú rể, am hiểu về phong tục tập quán, đặc biệt là có kinh nghiệm sắm sửa lễ vật đám cưới. Trong lễ ăn hỏi, "ông Cau" là người thực hiện theo ý kiến của "ông Rừng" chuẩn bị hoặc bổ sung thêm các lễ vật mà nhà gái yêu cầu.

          Người đại diện cho gia đình nhà gái gọi là "ông Thào Ke", là người trong gia đình nhà gái, thường là bác, cậu hay dượng của cô gái, là người khéo ăn nói, hiểu biết về phong tục tập quán. Quy định của người Mã Liềng về người đại diện không cứng nhắc mà có thể chuyển đổi vai trò đại diện tùy theo từng nghi thức cưới hỏi. Trong lễ ăn hỏi, "ông Rừng", "ông Cau" là người đại diện cho gia đình nhà trai đến hỏi cưới nhà cô gái; ngược lại trong lễ giao dâu, "ông Rừng", "ông Cau" lại là người đại diện cho gia đình nhà gái đưa dâu sang giao cho gia đình nhà trai. Trong các nghi lễ cúng ma bếp, ma nhà, ma rừng bắt buộc phải có sự chứng kiến của "ông Rừng", "ông Cau".

* Lễ ăn hỏi (Ha anh)

          Thường sau lễ thưa chuyện 1-2 tuần, người Mã Liềng tổ chức lễ ăn hỏi. Lễ ăn hỏi là lễ quan trọng nhất cho một cuộc hôn nhân của người Mã Liềng, có thể trong lễ thưa chuyện nhà gái đã đồng ý tổ chức lễ cưới cho con cái nhưng trong lễ ăn hỏi nhà gái vẫn có thể "lật kèo" từ chối, hoặc gây khó dễ cho gia đình nhà trai. Qua phỏng vấn anh Hồ Nam (sinh năm 1987, bản Rào Tre) cho biết: Năm 2004, trong lễ ăn hỏi của anh và chị Hồ Thị Khiên (sinh năm 1989, bản Cà Xen, Quảng Bình), nhà gái đã gây khó dễ cho gia đình nhà trai, nguyên nhân là do trong quá trình ở rể, anh Hồ Nam đã có một số hành vi ứng xử tùy tiện, nhiều lần uống rượu say. Để giải quyết vấn đề, "ông Rừng" phải bưng bát nến sáp ong quỳ xin gia đình nhà gái liên tục trong 6 giờ (từ 18 giờ đến 0 giờ) và phải nộp phạt một số tiền, nhà gái mới đồng ý nhận lễ và cho tổ chức đám cưới.

          Thành phần nhà trai đi ăn hỏi gồm: "ông Rừng", "ông Cau", chú rể, cha mẹ chú rể, một số anh em, chú bác, cô, cậu, dì. Phía nhà gái có "ông Thào Ke", cha mẹ cô dâu và một vài người thân. Thời gian tổ chức lễ ăn hỏi vào buổi chiều tối (sau 18 giờ), tùy điều kiện về địa lý mà nhà trai có thể xuất phát sớm hay muộn nhưng phải đến nhà gái trước 18 giờ. Những người tham gia đi ăn hỏi phải mang theo lễ vật gồm: 2 con lợn (1 con lớn và 1 con bé); gà (ít nhất 1 con), 10 cái bát ăn cơm; 2-4 cái bát to; 3 cái nồi; 3 cái dao; 1 cái rìu; 1 tấm vải; 1 bộ quần áo, 1 đĩa trầu cau, thuốc lào, rượu (tối thiểu 1 chai), gạo nếp (tùy điều kiện), 1 bó chè xanh. Ngoài ra, nhà trai có thể gửi thêm cho nhà gái một số tiền nhưng không nhiều. Các lễ vật này dùng để thực hiện  nghi thức thờ cúng, tổ chức ăn uống trong đám cưới cho cả cộng đồng và làm quà hồi môn cho đôi vợ chồng sau này ở riêng.

          Khi phía nhà gái đồng ý nhận lễ vật, "ông Rừng" mời cô dâu, chú rể ăn trầu và tuyên bố 2 người chính thức trở thành vợ chồng. Cha cô dâu nhận đĩa trầu cau đưa vào buồng để báo cáo sự việc với ma nhà và xin tổ tiên, ông bà cho phép hai gia đình tổ chức nghi lễ đám cưới cho con cái.

4. Các nghi lễ trong đám cưới

          Theo phong tục của đồng bào, sau khi kết thúc lễ ăn hỏi, hai gia đình bước vào thực hiện nghi lễ đám cưới

* Lễ bắt bếp (Cù muých Po ta pe)

          Nghi lễ bắt bếp được thực hiện bằng hai phương thức: cúng sống và cúng chín. Trong quan niệm của người Mã Liềng, đồng bào rất kiêng kỵ tiếng kêu của lợn và gà, họ xem đây là tiếng kêu của các loài ma trách phạt con người. Trong lễ cúng sống, cô dâu cầm đôi đũa bếp đánh mạnh vào cổ con gà 3 lần, chú rể nhổ một ít lông trên lưng con lợn bỏ vào bếp làm cho các con vật này kêu lên. Mục đích của việc cúng sống là để ma bếp chứng kiến sự chuẩn bị lễ vật đầy đủ của gia đình nhà trai và mong không bị trách phạt.

          Thực hiện xong lễ cúng sống, người thân của hai gia đình mang lợn, gà ra giết thịt lấy nội tạng và một số bộ phận để làm lễ cúng chín. Lễ vật cúng chín gồm 1 nồi canh nấu các loại nội tạng của lợn, gà và 1 nồi cơm. Ngoài ra cha cô dâu hoặc chú rể phải lấy 2 cái chân gà, 2 cái chân lợn, 1 vòng cườm của mẹ cô dâu và đôi đũa bếp buộc lại với nhau tượng trưng cho sự đoàn kết và no đủ. Thực hiện nghi lễ, cả 4 người cầm đôi đũa bếp có hai cái chân lợn, 2 cái chân gà và vòng cườm lần lượt giơ lên nồi canh và nồi cơm, cha mẹ cô dâu đọc bài cúng cầu xin ma bếp giúp đỡ cho đôi vợ chồng trẻ làm ăn thuận lợi, no đủ quanh năm.

* Lễ ăn chung (Ăn chông)

          Lễ ăn chung được thực hiện ngay tại gian bếp, nơi cha mẹ cô dâu thường ngồi ăn cơm. Lễ vật gồm một rổ cơm và một rổ thức ăn. Thực hiện nghi lễ, cha mẹ và cô dâu, chú rể ngồi bốn góc lần lượt cầm đũa chỉ vào rổ thức ăn và rổ cơm vừa giả vờ ăn vừa nói rằng từ nay chàng rể đã trở thành người một nhà, cùng ăn cơm, uống nước, sống hòa thuận với gia đình nhà gái và cầu mong thần linh che chở phù hộ. Sau đó, cha mẹ đẩy rổ cơm về phía hai người con, hai người con đẩy rổ thức ăn về phía cha mẹ nhằm thể hiện sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái và của con cái đối với cha mẹ, thể hiện sự đoàn kết, thương yêu trong gia đình.

* Lễ cúng ma nhà (Cù muých cờ nó)

          Để thực hiện lễ cúng ma nhà, chú rể phải trùm một tấm vải hoặc cái áo màu trắng lên đầu cùng cô dâu quỳ xuống trước lễ vật hướng về cột nhà ma và lạy 3 lạy. Sau đó, cha cô dâu đưa lễ vật vào buồng, thắp nến sáp ong, thông báo với tổ tiên, ông bà rằng hôm nay là ngày lành tháng tốt, hai gia đình tổ chức đám cưới cho con cái, có đầy đủ lễ vật, chàng rể đã là một thành viên trong gia đình và cầu xin tổ tiên, ông bà luôn phù hộ cho con cháu, cho cả hai gia đình mạnh khỏe, gặp nhiều may mắn.

* Lễ cúng ma rú (Cù muých ờ gấu)

          Thực hiện xong lễ cúng ma nhà, mâm lễ vật và con lợn tiếp tục được đưa ra phía ngoài căn nhà, đặt trước sân hoặc bên hiên để cúng ma rú. Người thực hiện nghi lễ không quy định cụ thể, có thể là một thành viên phía gia đình nhà trai hoặc nhà gái, nhưng phải là người am hiểu các bài cúng, am hiểu về thần linh. Trường hợp đám cưới của Hồ Tình và Hồ Thị Kiên tại bản Rào Tre (tháng 6/2017), gia đình đã mời thầy mo của bản là Hồ Púc để làm lễ. Bước vào thực hiện nghi lễ, người cúng khoác tấm vải hoặc áo trắng lên vai hú lên 3 tiếng gọi ma, lạy 3 lạy về phía rừng và thông báo với ma rú sự kiện đám cưới của đôi bạn trẻ, phía nhà trai có đầy đủ lễ vật và hai gia đình thực hiện đủ các bước nghi lễ. Đồng thời xin ma rú, ma rừng phù hộ cho đôi vợ chồng trẻ sản xuất, săn bắn gặp nhiều may mắn, tìm được những bãi đất thuận lợi để sẻ rẫy, mùa màng bội thu, không bị thú rừng phá hoại, không gặp những tai nạn khi đi rừng như rơi xuống nước, dẫm phải gốc cây, rắn rết cắn,... Lễ cúng ma rú kết thúc, hai gia đình tổ chức ăn cỗ, uống rượu đến tận sáng và những ngày tiếp theo.

* Lễ giao dâu (Cháo du)

          Theo phong tục của người Mã Liềng, sau lễ ăn hỏi, lễ ăn chung và các nghi thức cúng ma bếp, ma nhà, ma rú, chú rể và cô dâu phải ngủ lại nhà gái 5 đêm, 5 ngày. Đến sáng ngày thứ 6, hai gia đình tổ chức làm lễ giao dâu. Thành phần đi giao dâu gồm: "ông Rừng", "ông Cau", "ông Thào Ke", cha mẹ cô dâu và cô dâu, chú rể. Lễ vật nhà gái chuẩn bị đi giao dâu gồm có: 1 con gà, 1 đĩa trầu cau, 1 cái chăn, 1 miếng vải trắng, 2 cái bát, 1 chai rượu, thuốc lá. Khi về nhà chồng, cô dâu phải lên cầu thang bên phải nơi có gian bếp của ngôi nhà, khi lên cầu thang được mẹ chồng hoặc chị gái chồng, chị dâu đón.

          Các bước thực hiện trong lễ giao dâu cùng gồm các nghi thức: bắt bếp, ăn chung, cúng ma nhà nhưng có một số thay đổi nhỏ, như: không làm lễ cúng ma rú, trong lễ bắt bếp không có con lợn sống, trong lễ cúng ma nhà chỉ có cô dâu thực hiện nghi lễ...

* Lễ lại mặt (Ơ ếch lại)

          Lễ giao dâu kết thúc, đôi vợ chồng trẻ phải ngủ ở nhà cha mẹ chồng 5 đêm, 5 ngày, đến sáng ngày thứ 6 phải làm lễ lại mặt về gia đình nhà gái. Về nhà gái, đôi vợ chồng phải chuẩn bị 1 con gà và một con lợn nhỏ. Lễ lại mặt cũng trải qua các bước: Bắt bếp, ăn chung và cúng ma nhà. Kết thúc lễ lại mặt, đôi vợ chồng trẻ cũng ở lại gia đình cha mẹ vợ 5 đêm, 5 ngày, đến sáng ngày thứ 6 mới trở về nhà chồng, kết thúc các nghi lễ hôn nhân, bước vào một cuộc sống mới. Như vậy, một đám cưới truyền thống của người Mã Liềng kể từ nghi lễ ăn hỏi đến hết lễ lại mặt được thực hiện trong 15 ngày với nhiều nghi lễ thờ cúng và nhiều lễ vật kèm theo.

5. Cư trú sau hôn nhân

          Trong luật tục của người Mã Liềng, nghi lễ đám cưới là một điều kiện bắt buộc đối với đôi trai gái khi tiến đến hôn nhân. Sau khi tổ chức lễ cưới, đôi vợ chồng trẻ về sống chung cùng với cha mẹ chồng đến khi nào có điều kiện làm nhà ra ở riêng. Nếu đôi vợ chồng nào chưa tổ chức được đám cưới để trở thành ma một nhà thì vẫn được cộng đồng thừa nhận là vợ chồng nhưng không được ở cùng nhà với cha mẹ chồng hay cha mẹ vợ mà phải làm nhà riêng để ở với nhau đến khi nào tổ chức đám cưới mới được trở về ở cùng nhà với bố mẹ. Việc làm ngôi nhà riêng đó ở đâu, gần nhà vợ hay chồng tùy thuộc vào sự thỏa thuận của đôi vợ chồng trẻ. Ông Hồ Pắc (sinh năm 1965, bản Rào Tre) cho biết, tâm lý của người Mã Liềng thường thích cư trú riêng sau hôn nhân. Qua khảo sát tại bản Rào Tre, có 19/41 hộ còn cha mẹ, trong đó chỉ có 4/19 hộ sống chung với cha mẹ: 1 hộ ở với mẹ vợ, 2 hộ ở với cha mẹ chồng, 1 hộ ở với cha mẹ vợ; còn lại 15/19 hộ ra ở riêng sau khi kết hôn(2).

6. Lễ cưới ra

          Theo quan niệm của người Mã Liềng, để cuộc sống hạnh phúc, gặp nhiều may mắn, mỗi cặp vợ chồng phải trải qua 2 lần cưới mà đồng bào gọi là cưới vào và cưới ra, nhưng không phải là quy định bắt buộc cho tất cả mọi người. Lễ cưới ra được tổ chức khi có đầy đủ các điều kiện: Tổ chức lễ cưới vào; Cha, mẹ (hoặc một trong hai người) của người vợ vẫn còn sống; Có điều kiện về kinh tế. Thời gian tổ chức lễ cưới ra thường từ 5-10 năm kể từ ngày tổ chức lễ cưới vào. Lễ cưới ra được tổ chức tại nhà cha mẹ vợ, gồm các nghi thức: bắt bếp, ăn chung, cúng ma nhà, ma rú nhưng đơn giản hơn so với lễ cưới vào. Lễ vật cưới ra gồm một con lợn và một con gà. Lễ cưới ra kết thúc, đôi vợ chồng phải ngủ lại nhà cha mẹ vợ 5 đêm, 5 ngày, đến sáng ngày thứ 6 cả gia đình làm lễ ăn chung, sau đó đôi vợ chồng về nhà của mình, kết thúc lễ cưới ra. Mục đích chính của lễ cưới ra nhằm cầu xin các loại ma phù hộ cho cha mẹ, con cái luôn được khỏe mạnh, cuộc sống yên ổn. Qua khảo sát và phỏng vấn hồi cố trên địa bàn bản Rào Tre từ năm 1976 đến nay, đã có 35/55 cặp vợ chồng tổ chức lễ cưới vào, nhưng chỉ có 6/35 cặp vợ chồng tổ chức lễ cưới ra.

7. Kết luận

          Qua nghiên cứu về hôn nhân của người Mã Liềng ở Hà Tĩnh cho thấy, việc lựa chọn và lập gia đình chủ yếu là do đôi trai gái tự nguyện đến với nhau, và theo quan niệm của họ, để hôn nhân hạnh phúc, một cặp vợ chồng phải trải qua 2 lần tổ chức đám cưới. Việc tổ chức đám cưới ảnh hưởng đến vấn đề cư trú sau hôn nhân và liên quan đến tập quán tín ngưỡng của đồng bào. Người Mã Liềng cho rằng, nếu đôi vợ chồng chưa tổ chức được đám cưới thì còn một món nợ lớn đối với các loài ma, còn nợ bà con dân bản. Họ sống trong sợ hãi rằng có thể bị các loại ma trách phạt làm cho ốm đau, bệnh tật, gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.

          Qua nghiên cứu về hôn nhân của người Mã Liềng cho thấy, dù còn những hạn chế nhất định nhưng các nghi lễ hôn nhân của họ chứa đựng nhiều giá trị tốt đẹp cần được gìn giữ và phát huy. Điển hình là nét đẹp trong văn hóa ứng xử của con cái đối với người cha, người mẹ của mình. Một trong những nội dung chính của nghi lễ đám cưới của người Mã Liềng là cầu xin thần linh cho cha mẹ luôn mạnh khỏe, sống lâu, nếu không còn cha mẹ thì lễ cưới ra cũng không được tổ chức.

          Đám cưới của người Mã Liềng có thể nói là ngày lễ, ngày hội long trọng nhất của đồng bào trong năm, qua đó thể hiện một nét đẹp văn hóa về tình đoàn kết, gắn bó tương trợ lẫn nhau trong cuộc sống. Đám cưới diễn ra có sự tham gia của hầu hết mọi thành viên trong bản, ai có gì thì ủng hộ nấy, dù chỉ là một bát gạo, vài con cá, một ít măng rừng hay chai rượu,... thậm chí không có gì cũng tham gia được, mỗi người phụ giúp một tay cho hai gia đình dọn dẹp, làm các lễ vật. Sau khi hoàn thành các thủ tục nghi lễ, mọi người cùng uống rượu, nhảy múa suốt đêm khuya để chúc mừng cho đôi vợ chồng trẻ.

Những nét đặc sắc trong tập quán hôn nhân của nhóm người Mã Liềng ở Hà Tĩnh là một kho tàng giá trị nhân văn tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc Chứt nói riêng và các dân tộc Việt Nam nói chung cần được bảo tồn và phát huy.

Tài liệu tham khảo

1. UBND xã Hương Liên, huyện Hương Khê, Danh sách các hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã, 12/2016, Bản đánh máy.

2. UBND xã Lâm Hóa, huyện Tuyên Hóa, Danh sách các hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã, 5/2017, Bản đánh máy.

3. UBND xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, Danh sách các hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã, 5/2017, Bản đánh máy.

4. UBND xã Trọng Hóa, huyện Minh Hóa, Danh sách các hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã, 7/2017, Bản đánh máy.

5. Viện dân tộc học (1978), Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

 

HÀ ĐÌNH THÀNH

NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG

 1. Mở đầu                                                            

          Trung bộ là một vùng lãnh thổ gồm 14 tỉnh, thành, từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, trong đó có 6 tỉnh Bắc Trung bộ và 8 tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ, nơi hội tụ nhiều điều kiện để phát triển ngành du lịch mang tầm cỡ khu vực, quốc tế, đem lại nguồn sinh kế cho các tộc người trong vùng. Do vậy, khai thác vốn văn hóa trong phát triển du lịch vùng Trung bộ là xây dựng môi trường văn hóa ổn định và mang tính nhân văn cao và có tính chiến lược phát triển lâu dài. Để biện giải rõ vốn văn hóa trong phát triển du lịch vùng Trung bộ, nhóm tác giả trình bày: Vốn văn hóa Vinh, Đồng Hới (đại diện Bắc Trung bộ) và Quảng Ngãi (đại diện Duyên hải Nam Trung bộ) trong phát triển du lịch vùng Trung bộ.

2. Vốn văn hóa vùng Trung bộ với việc phát triển du lịch

          Vốn văn hóa mà các tộc người vùng Trung bộ tích lũy được qua nhiều thiên niên kỷ thích ứng với các điều kiện tự nhiên, đấu tranh với giặc ngoại xâm, xây dựng đời sống cộng đồng, dân tộc, quốc gia chính là một lượng vốn văn hóa lớn có khả năng kiến tạo hệ giá trị Việt Nam với tư cách là hệ thống chuẩn mực được cộng đồng chấp nhận và có ý nghĩa như những động lực phát huy sức mạnh dân tộc và khẳng định bản sắc dân tộc trong phát triển.

          Thực tế, trong vài ba thập kỷ gần đây, du lịch đã trở thành một ngành công nghiệp không khói chiếm vị trí quan trọng và trở thành một nhu cầu sống còn của vùng Trung bộ. Đồng thời, sự phát triển du lịch lại có nhu cầu lớn về khai thác vốn văn hóa của các tộc người  vùng Trung bộ. Để biện giải rõ vốn văn hóa trong phát triển du lịch vùng Trung bộ, nhóm tác giả chọn thành phố Vinh, Đồng Hới (Bắc Trung bộ) và tỉnh Quảng Ngãi (Duyên hải Nam Trung bộ) để trình bày minh họa.

2.1.Vốn văn hóa Vinh và Đồng Hới trong phát triển du lịch

          Vinh và Đồng Hới, cũng như các thành phố khác ở Bắc Trung bộ bao chứa sự phong phú của vốn văn hóa và thiên nhiên, lại nằm trên "Hành trình Di sản miền Trung", nên trong những năm gần đây, du lịch phát triển mạnh. Quảng Bình - Đồng Hới với du lịch "Huyền thoại biển" và Phong Nha - Kẻ Bàng; Nghệ An - Vinh với "Lễ hội làng Sen'',... Chính du lịch đã tạo nên cơ hội giao lưu hội nhập của vùng miền nơi đây với các vùng miền khác và du khách quốc tế. Công nghiệp du lịch phát triển, vốn văn hóa sẽ có cơ hội khởi sắc, "cất cánh", biến đổi theo xu hướng tích cực, đáp ứng nhu cầu du lịch tham quan, hưởng thụ, nghỉ dưỡng của thập khách gần xa.

          Thành phố Vinh là một trong 5 vùng du lịch trọng điểm của tỉnh Nghệ An (du lịch thành phố Vinh, du lịch Cửa Lò, du lịch Nam Đàn, du lịch Vườn quốc gia Pù Mát và du lịch sinh thái văn hóa Quỳ Châu, Quế Phong). Trong bản đồ du lịch của quốc gia, Vinh được biết đến là thành phố với nhiều di tích, danh thắng có giá trị như đền Hồng Sơn, chùa Cần Linh, đền thờ vua Quang Trung, lâm viên Núi Quyết, công viên Thành cổ, công viên Trung tâm, công viên Nguyễn Tất Thành, rừng bần, tràm chim tại xã Hưng Hòa và các di sản văn hóa như hát phường vải, hát ví giặm, hát dân ca Nghệ Tĩnh, các làng nghề truyền thống, các món ăn dân tộc... Đến thành phố Vinh, du khách có thể tham gia vào nhiều loại hình du lịch như: du lịch nghiên cứu, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch tâm linh… Thành phố cũng là trung tâm phân phối khách du lịch trong nước và khu vực với các tour du lịch bằng đường sắt, đường bộ, đường hàng không nối liền với các khu du lịch hấp dẫn như khu du lịch bãi biển Cửa Lò, vườn quốc gia Pù Mát, thác Sao Va, khu du lịch Bãi Lữ, khu du lịch Xuân Thành, du lịch tâm linh đền ông Hoàng Mười, khu nghỉ dưỡng suối nước nóng Sơn Kim,… và đến các điểm du lịch nước ngoài như các tỉnh Đông Bắc Thái Lan, Lào,…

          Thành phố Đồng Hới có nhiều tiềm năng và lợi thế về vốn văn hóa để phát triển du lịch với nhiều loại hình hấp dẫn. Các di tích văn hóa - lịch sử, danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố đã được tôn tạo và khai thác có hiệu quả, thu hút đông đảo du khách đến tham quan, đặc biệt là hệ thống các di tích văn hóa - lịch sử ven biển, các công trình văn hóa như tượng đài Mẹ Suốt, Trương Pháp, di tích Thành Đồng Hới, chứng tích tội ác chiến tranh Tháp chuông Nhà thờ Tam Tòa, những điểm lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Quảng Bình, trận địa pháo lão dân quân Đức Ninh, Quang Phú.

          Trong thời gian qua, hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố Vinh, Đồng Hới phát triển nhanh và góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của hai thành phố. Du lịch đã và đang tác động đến văn hóa vật chất và phi vật chất của người dân trên địa bàn hai thành phố, làm thay đổi nhanh cuộc sống của họ, tạo công ăn việc làm, cải thiện mức sống, tăng thu nhập cho người dân, nhất là những hộ dân nằm trong khu vực phát triển du lịch. Du lịch phát triển cũng góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác, đặc biệt là ngành dịch vụ phát triển. Các giá trị văn hóa truyền thống, các lễ hội trên địa bàn hai thành phố qua đó được gìn giữ, khôi phục và phát huy. Thành phố Đồng Hới đã khôi phục và phát triển các lễ hội truyền thống, nhất là các lễ hội tiêu biểu tạo được điểm nhấn, ấn tượng lớn đối nhân dân địa phương và du khách thập phương như lễ hội bơi trải, lễ hội Cầu ngư, lễ hội bơi thuyền truyền thống, múa bông chèo cạn… Tuần Văn hóa - Du lịch Đồng Hới hàng năm được tổ chức ngày càng có tính chuyên nghiệp, quy mô và có nhiều điểm mới và tạo được dấu ấn tốt đẹp, góp phần thu hút lượng khách đến tham quan - du lịch tại thành phố Đồng Hới ngày càng tăng. Đây cũng là dịp thuận lợi để người dân tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí, văn hóa, thể thao... góp phần nâng cao đời sống tinh thần. Bên cạnh các hoạt động do thành phố tổ chức, các xã, phường đã chủ động tổ chức các hoạt động phù hợp với địa phương mình, trong đó mỗi xã, phường đều tổ chức ít nhất một hoạt động văn hóa như cướp cù, chọi gà, bài chòi, cờ thẻ, cờ người, múa bông chèo cạn, lễ hội Cầu ngư... Đồng thời, các phường, xã tổ chức các lễ hội truyền thống như lễ hội xuống đồng (xã Lộc Ninh), lễ hội rằm tháng giêng (phường Hải Đình), lễ hội cướp cù (Đồng Phú), lễ hội Cầu Ngư (xã Bảo Ninh, phường Hải Thành)...

          Thành phố Vinh đã khai thác triệt để vốn văn hóa trong việc xây dựng các chương trình du lịch gắn với lễ hội truyền thống hàng năm của tỉnh Nghệ An như lễ hội Làng Sen, lễ hội Vua Mai, lễ hội đền Cờn, lễ hội du lịch biển Cửa Lò, lễ hội Hang Bua,… Nhờ vậy, những lễ hội được khôi phục, phát huy và được quảng bá rộng rãi đến đông đảo mọi người.

          Hiện nay, các di tích văn hóa - lịch sử trên địa bàn thành phố Đồng Hới, thành phố Vinh được tôn tạo và được giới thiệu rộng rãi, thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế đến tham quan. Một số chương trình du lịch văn hóa gắn kết với lễ hội truyền thống được khôi phục và phát huy có hiệu quả, hoạt động du lịch đã thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là du lịch biển.

          Bên cạnh đó, hai thành phố đã xây dựng mô hình các đội văn nghệ quần chúng trên cơ sở các câu lạc bộ dân ca, dân vũ tại một số phường, xã để phục vụ nhu cầu của khách du lịch. Chính vì thế, những làn điệu dân ca, hò khoan, chèo cạn, hát ví giặm, hát phường vải,... có cơ hội được phát huy và quảng bá rộng rãi. Các sản phẩm, mặt hàng lưu niệm có giá trị văn hóa, văn hóa ẩm thực truyền thống của hai thành phố thông qua hoạt động du lịch ngày càng đến được với du khách. Như ở thành phố Vinh đã đưa vào sử dụng "Phố ăn đêm Thành cổ" tạo điều kiện cho nhân dân và du khách thưởng thức văn hoá ẩm thực xứ Nghệ. Nếu không thể phát huy giá trị của vốn văn hóa này bằng các hoạt động du lịch và thúc đẩy kinh tế phát triển thì không thể đưa các giá trị văn hóa vào môi trường như nó vốn đã tồn tại và giảm gánh nặng về ngân sách. Mặt khác, phát triển kinh tế là một hướng đi có tầm quan trọng để thúc đẩy phát triển vốn văn hóa, nhưng nếu kinh tế mà không gắn liền với phương châm phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo đời sống xã hội thì việc thương mại hóa các sản phẩm du lịch từ vốn văn hóa sẽ nhanh chóng làm biến dạng các giá trị văn hóa - lịch sử và khiến cho vốn văn hóa vơi dần và xuống cấp trầm trọng. Yếu tố thị trường thúc đẩy chuỗi giá trị sản phẩm du lịch tham gia vào chuỗi giá trị ở quy mô quốc gia và quốc tế sẽ tạo thuận lợi cho sự cạnh tranh và bảo tồn vốn văn hóa một cách bền vững. Với lợi thế về tiềm năng vốn văn hóa đã đề cập ở trên, Vinh và Đồng Hới có nhiều cơ hội để tạo ra chuỗi giá trị gia tăng liên quan đến các sản phẩm du lịch từ vốn văn hóa. Từ đó tạo nên bản sắc trong phát triển văn hóa để hội nhập vùng và quốc tế. Mặt khác, các thách thức đang hiện hữu đối với hai đô thị này là việc giải quyết xung đột trong lợi ích về chủ sở hữu đối với hoạt động trình diễn văn hóa phi vật thể và di sản vật thể.

2.2.Vốn văn hóa Quảng Ngãi trong phát triển du lịch

          Với nhiều lợi thế so sánh, du lịch biển, đảo hiện nay đang ngày càng phát triển mạnh mẽ và trở thành sản phẩm đặc trưng cho các tỉnh vùng Trung bộ, trong đó có Quảng Ngãi. Tuy nhiên, muốn phát triển du lịch bền vững, Quảng Ngãi cần khai thác vốn văn hóa địa phương đặc thù.

          Quảng Ngãi là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung bộ có nhiều tiềm năng về tài nguyên du lịch. Bên cạnh 150 km đường bờ biển kéo dài từ An Tân đến Sa Huỳnh cùng nhiều bãi biển đẹp và nổi tiếng, như Sa Huỳnh, Mỹ Khê, Lệ Thủy, Minh Tân..., Quảng Ngãi còn nổi tiếng với đảo Lý Sơn - nơi có nhiều vốn văn hóa để phát triển du lịch, xứng đáng trở thành một trung tâm du lịch biển đảo hấp dẫn trong toàn quốc. Hơn nữa, Quảng Ngãi nằm trong khu vực có sự phát triển du lịch năng động nhất ở Duyên hải Nam Trung bộ với các trung tâm du lịch nổi tiếng như Nha Trang (Khánh Hòa), Đà Nẵng, Hội An (Quảng Nam)... Cùng với sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy và chính quyền địa phương trong phát triển du lịch, Quảng Ngãi có nhiều lợi thế để có thể đưa du lịch phát triển và được kỳ vọng trở thành một trong những trung tâm du lịch mới của cả nước.

          Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có 29 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, 76 di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh được xếp hạng. Đây là vốn văn hóa phong phú, là tiền đề cho du lịch Quảng Ngãi có hướng phát triển du lịch văn hóa bên cạnh việc phát triển du lịch sinh thái dựa trên thế mạnh biển đảo.

          Vốn văn hóa phi vật thể, như lễ hội "Khao lề thế lính Hoàng Sa"(3); các vốn văn hóa khác, như nghệ thuật hát bài chòi, các ngành nghề thủ công, văn hóa của các làng chài... là nguồn tài nguyên văn hóa đặc thù trong phát triển du lịch của tỉnh. Đặc biệt, trên đảo Lý Sơn, bên cạnh chương trình du lịch "Lý Sơn - biển đảo quê hương", còn có các chương trình như: "Tiếng gọi Hoàng Sa", "Lý Sơn - mùa tỏi", "Khám phá núi lửa xưa", "Hành trình của các thần linh"... Ở các chương trình này, vừa lựa chọn các di tích làm điểm nhấn, vừa khai thác các di sản văn hóa phi vật thể (lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, dân ca, dân vũ,..) để tạo thành thương hiệu du lịch. Như vậy, dựa vào vốn văn hóa để phát triển du lịch mang tính đặc thù đã góp phần cho Quảng Ngãi có vẻ đẹp riêng, sức hấp dẫn riêng. Vốn văn hóa đặc thù, riêng có sẽ làm cho du lịch Quảng Ngãi cất cánh. Phát triển du lịch đặc thù từ vốn văn hóa đòi hỏi phải có những giải pháp mang tính chất tổng thể, trong đó có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà nghiên cứu, nghệ nhân với doanh nghiệp du lịch. Vốn văn không chỉ đi tìm các vẻ đẹp cổ xưa hay ca ngợi cái hay, cái đẹp của ca dao Quảng Ngãi mà vốn văn hóa thực sự là nguồn lực để phát triển du lịch. Từ vốn văn hóa, di sản văn hóa Quảng Ngãi sẽ trở thành tài sản của du lịch.

 Kết luận

          Với các tộc người vùng Trung bộ, vốn văn hóa được tích lũy hàng ngàn năm đã hun đúc thành các chuẩn mực ứng xử và hệ giá trị tiêu biểu trong phát triển du lịch nói riêng, kinh tế - xã hội nói chung ở vùng Trung bộ.

          Từ những phân tích, trình bày trên, bài viết đã làm xuất lộ diện mạo của văn hóa với tư cách là một nguồn vốn, một nguồn lực nội sinh, một cội nguồn căn rễ, một nền tảng tinh thần cần thiết cho phát triển du lịch vùng Trung bộ. Đó cũng chính là việc triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII để Nghị quyết đi vào đời sống, biến thành sức mạnh vật chất phục vụ phát triển trong bối cảnh mới đầy thách thức nhưng cũng đầy cơ hội của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.

          Chắc chắn trong tương lai gần, vốn văn hóa vùng Trung bộ sẽ trở thành di sản văn hóa trong phát triển du lịch của các tộc người vùng Trung bộ và đông đảo du khách gần xa. Việc nhận thức, đánh giá đúng vốn văn hóa trong phát triển du lịch vùng Trung bộ là vô cùng cần thiết, để giá trị của vốn văn hóa này luôn là một biểu trưng mang đậm giá trị văn hóa vùng Trung bộ và giá trị văn hóa Việt Nam.

 

Chú thích

(1). Khao lề thế lính Hoàng Sa là nghi lễ đặc biệt gắn liền với huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi). Lễ này do cư dân làng An Vĩnh và An Hải thực hiện, gắn liền với Hải đội Hoàng Sa thời chúa Nguyễn bị tử nạn trên biển khi làm nhiệm vụ. Do vậy, việc khao lề thế lính là việc thế người lính còn sống bằng hình nhân và tế người đã chết. Ngoài những lễ vật cần thiết trong tế lễ như trầu rượu, hoa quả, các loại thức ăn chế biến từ hải sản và gia cầm, đặc biệt là phải có hình nhân thế mạng (được làm bằng bột gạo hoặc rơm rạ), linh vị và thuyền lễ. Bên cạnh đó, nghi lễ khao lề thế lính Hoàng Sa mang giá trị khảo cứu lịch sử quan trọng trên vùng ven biển DHNTB bởi nó liên quan trực tiếp tới đội Hoàng Sa dưới thời chúa Nguyễn. Nó là chứng nhân hùng hồn về mặt văn hóa, lịch sử của Việt Nam nói chung và của bao thế hệ cư dân vùng ven biển DHNTB đối với chủ quyền biển đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

 

Trần Hải

          Là tên chung của vùng Hoan Châu thời hậu Lê, xứ Nghệ là để gọi miền văn hóa Lam Hồng. Miền đất huyền sử, hun đúc biết bao khí thiêng sông núi mà thành một cõi lồng lộng nhân gian, cảnh sắc. Về với xứ Nghệ để chạm vào trầm hùng đất cổ, chiêm nghiệm trầm tích triệu lớp, ngàn tầng mà bay cùng sông núi.

          1.Về xứ Nghệ, trôi trong miền tâm linh, không thể quên lối tới Nam Đàn, về Hoàng Trù quê mẹ, làng Sen quê cha - nơi hun đúc, nuôi dưỡng hình tượng và nhân cách Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Từ đó, trải cùng một dòng Lam giang, chợt ngẩng lên đã gặp núi Quyết đường bệ khởi nguồn, quần tụ khí thiêng mà dựng một Trung Đô Phượng Hoàng, lẫm liệt sắc đại bào người anh hùng áo vải Quang Trung.

          Men sóng chốn này về Bắc mấy đỗi, đã gặp một Bãi Lữ nằm e ấp trong những triền núi bên chân sóng chở che cách Cửa Lò chừng 20km, lên hướng QL1A, ta gặp linh thiêng đền Cuông lưng chừng núi Mộ Dạ với huyền tích An Dương Vương theo thần Kim Quy, hóa thân nơi cửa biển Tư Hiền trong nỗi đau bội phản. Đây cũng còn ghi dấu rưng rưng mối tình Mỵ Châu - Trọng Thủy.

          Hành trình chiêm bái, đưa ta đến với đền Cờn, đệ nhất linh của tứ linh xứ Nghệ: "Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng". Nơi đây thờ tứ vị Thánh nương, là các nữ Thần bảo vệ dân chài. Ngược bến Lường, gặp đền Quả Sơn (Đô Lương), nơi thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, một trong 9 vị danh nhân của đất nước Đại Việt. Sang đất "nhút mặn, chua cà" Võ Liệt (Thanh Chương), ta được gặp đền Bạch Mã thờ tướng quân Phan Đà thời tiền Lê. Vị tướng tài trẻ tuổi đã phò nhà Lê những ngày đầu khi thác đi đã được phong là "Đô Thiên Đại Đế Bạch Mã Thượng Đẳng Phúc Thần".

          Lên với cao xanh miền Tây, xứ Nghệ lại càng thêm kỳ bí, linh thiêng với những địa chỉ tâm linh của bà con các dân tộc vùng cao. Về miền đất cổ Chiêng Ngam, ta gặp Lễ hội Hang Bua ở Châu Tiến (Quỳ Châu). Ngược lên nữa, đến cuối đường QL48, ta lại hòa chung khí thiêng của dãy núi Pú Chờ Nhàng của đất Quế Phong, nơi đó có đền Chín Gian - biểu tượng hun đúc khí thiêng của đồng bào Thái miền Tây.

          2. Để thư thái và dịu lại sau những thời khắc linh thiêng, chúng ta có thể tìm đến một xứ Nghệ tuyệt đẹp với bao cảnh sắc say đắm lòng người. Bạn có thể "phiêu" trên bát ngát thảo nguyên hoa hướng dương ở Nghĩa Sơn (Nghĩa Đàn) mỗi năm 2 lần. Có khi lạc bước, lên với những rừng lau bạt ngàn, cheo leo tận chót vót miền Tây như Nậm Càn, Mường Lống (Kỳ Sơn). Rồi thảnh thơi một buổi nào, ta lên với Vườn quốc gia Pù Mát, món quà vô giá của thiên nhiên với cả một quần thể hùng vĩ và hoang sơ của núi rừng, cây cỏ…

          Đi lên miền Tây, cách thành phố Vinh khoảng 160 km về miền Tây xanh trầm mặc, ta đã được thả mình trong dòng suối mát, ngắm thác Sao Va (Quế Phong), "Thác Camly của xứ Nghệ" và, thưởng thức đặc sản núi rừng: nhím, lợn ri, măng, vịt bầu Cắm Muộn, thịt gà đen Tri Lễ, lợn nít, cơm lam. Bước lãng du còn khiến người khách xa đi ngược đường QL7, lên với chợ biên Nậm Cắn, ngôi chợ hữu nghị của tấm tình Việt - Lào anh em.

          Đất Hoan Châu đến nay vẫn còn giữ nguyên nhiều nghề truyền thống. Khi đã thưởng thức bát nước chè xanh ngọt chát trứ danh vùng Đại Huệ, ta lại như được trôi đi trong những miền đất cổ. Chốn nào nghe tiếng đục dội trầm như ở làng mộc nề Nam Hoa, nghe thoảng hương chum tương đang ủ của làng tương Tự Trì, chợt thấy sáng rực những đốm sao bay ở làng rèn Quy Chính. Dạo xuôi phía bờ Lam giang, đã như nghe được miên man, thắm thiết câu hát phường vải của làng dệt Xuân Hồ, Xuân Liễu, Tầm Tang, trắng lên lấp lóa một làng nón Đông Liệt. Rồi nương câu ví giặm mà qua làng nồi đồng Bố Ân, Bố Đức, làng gạch ngói Hữu Biệt, làng dầu bông, dầu lạc Đan Nhiệm, Đồng Trung, đâu đâu cũng thao thiết theo dòng chảy một chặng nào dòng Lam.

          3. Lạc bước trong những cảnh quan tuyệt đẹp hay làng nghề huyền sử, cũng đừng quên thưởng thức sản vật xứ Nghệ. Miền đất nắng lắm mưa nhiều, nhưng lại dâng đời biết bao thời trân kỳ thú.

          Bản đồ ẩm thực còn vang danh lươn xứ Nghệ. Con lươn đất này đã định hình trong tâm hồn ẩm thực của khách sành ăn với súp lươn, cháo lươn, miến lươn. Riêng miến lươn đã lập kỷ lục ẩm thực châu Á năm 2012.

          Ăn xong món lươn lúc trời tháng Chạp ta, lại được tráng miệng cam Vinh (1 trong 50 sản vật cây trái nổi tiếng nhất Việt Nam) thời còn gì thú hơn. Xuống cùng xứ biển Cửa Lò, gặp món mực nháy tươi rói thì đâu dễ đã ai quên. Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam đã từng công bố Top 10 đặc sản hải sản Việt Nam trong hành trình tìm kiếm, quảng bá đặc sản và ẩm thực Việt Nam lần thứ 1/2012 trong đó có mực nháy.

          Được ví như "kim chi" xứ Nghệ, làm từ mít của vùng trung du miền núi, nhút là món dân dã, nhưng là dân dã đến đắm say. Tất cả các vùng trung du xứ Nghệ đều có nhút, nhưng nhút Thanh Chương là ngon nhất. Đã nói đến "nhút Thanh Chương" thời phải kể tới "tương Nam Đàn". Bởi đây là 2 thức dân dã quê nghèo, nhưng lại là hồn cốt níu lòng kẻ đi xa. Cũng xứ Nam Đàn, còn có me Nam Nghĩa. Loại bê con được nuôi chăn thả nơi đồi, ruộng cùng những vạt cỏ tươi xanh. Rồi không thể quên món bánh đúc Sa Nam. Bánh đúc được làm từ gạo chiêm, là đặc sản nổi tiếng nhất của chợ Sa Nam (Nam Đàn).

          Sản vật miền núi Nghệ An cũng có biết bao kỳ thú. Có thể quên nhiều thứ, nhưng sẽ khó quên vịt bầu Quỳ, là giống vịt bầu đặc biệt chỉ có ở 2 huyện cuối đường QL48 là Quỳ Châu và Quế Phong. Dọc trên lạch nguồn của con sông Giăng chảy giữa nguyên sinh xanh Pù Hoạt, Pù Huống, còn có thời trân cá mát. Nổi danh từ thành ngữ "Cơm Mường Quạ, cá sông Giăng", cá mát đã trở thành một đặc sản "lưu trú" trên sông Giăng.

          Biết bao mây nước, linh thiêng, kỳ thú gọi mời, đắm say và hồn hậu trong 2 tiếng xứ Nghệ thân thương.

 

LÊ VĂN TÙNG

          Con người từ trong những hình thái xã hội xưa trước đã thường là một hiện tượng không đơn giản. Bước sang xã hội hiện đại, nhất là khi xã hội vận động trong quy luật sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường, từng bước một, ý thức cá nhân dần dần được giải phóng, hiện tượng con người xã hội ngày càng phát triển phức tạp và phong phú. Nhà văn Nga (thời Xô viết) Valenti Ratputin trong tiểu thuyết "Sống mà nhớ lấy" (giải thưởng quốc gia Liên Xô 1977) đã quan niệm về con người ấy: "Trong mỗi con người hai chân hai tay của nó vẫn không chỉ có một người, mà mấy người. Chúng cứ kéo họ về nhiều phía, làm cho đứt ra từng mảnh, cho đến khi nào lôi hẳn họ xuống mồ mới thôi". Quả thật là vậy. Trong xã hội hiện đại khó có thể tìm ra một hiện tượng con người sống theo một chuẩn mực giá trị đơn nhất, độc nhất. Con người chúng ta luôn luôn bị "kéo về nhiều phía" do những quan hệ, những khát vọng, dục vọng khác nhau, có khi ngược chiều nhau cùng giằng xé một con người. Chẳng hạn, khi chúng ta đang tự ý thức mình là con người chính trị, con người cách mạng, vì tập thể, vì cộng đồng lại có một con người khác bên trong đòi hỏi ta phải vì cá nhân mình, gia đình mình, họ tộc mình; khi chúng ta đang là con người của thời kinh tế thị trường, lại bị níu kéo bởi quán tính của con người thời bao cấp; khi ta ý thức mình là con người của thời đại dân chủ, lại có một con người mang mặc cảm lệ thuộc còn dư rớt lại.v.v...

          Nói tóm tắt, con người của thời kinh tế hàng hóa đang tiến dần lên hiện đại từ những chân trời xưa của cái lạc hậu, bảo thủ, luôn luôn là kiểu con người - khối mâu thuẫn. Để hóa giải những mâu thuẫn đó, nhằm tránh xa con đường thoái hóa tha hóa thủ tiêu nhân tính, con người có một sức mạnh nền tảng làm điểm tựa để chống giữ và vươn dậy đồng hành cùng cộng đồng Người của mình, đó là sức sống văn hóa trong mỗi con người cá nhân chúng ta. Hay nói cách khác, trong mỗi con người "khối mâu thuẫn" của chúng ta có một con người văn hóa. Ở mỗi cá nhân cụ thể, con người văn hóa yếu hay mạnh tùy từng cá thể, lúc đậm lúc nhạt tùy từng tình huống cuộc sống của mỗi cá nhân. Thiếu hoặc đánh mất sức mạnh văn hóa trong con người, có nghĩa là con người đã mất nhân tính.

          Chúng tôi quan niệm việc học tập Bác Hồ là hết sức cần thiết. Nhưng do vị thế và tình huống lịch sử cuộc sống và hoạt động của Bác, chúng ta không thể học Bác theo cách bắt chước máy móc, hay copy tập theo các hành động, hành vi, ngôn ngữ và hoạt động cụ thể mọi mặt của Bác. Điều cần học nhất ở Bác, theo chúng tôi là học tập con người văn hóa của Bác, để bồi dưỡng sâu thêm, cao thêm nền tảng sức mạnh văn hóa của mỗi chúng ta, giúp chúng ta có được ứng xử văn hóa để trước hết hóa giải từng tình huống mâu thuẫn trong chính tư tưởng, tình cảm, tâm lý của mỗi chúng ta và quan trọng hơn ta có ứng xử văn hóa với các tình huống quan hệ với người khác, với cộng đồng trong mọi hoạt động xã hội của chúng ta.

          Tấm gương con người văn hóa Bác Hồ, nếu có ý thức học tập ta có thể tìm thấy ở rất nhiều tư liệu, tài liệu. Bao nhiêu bài báo đã viết về Bác từ các tài liệu phong phú đa dạng đó. Bài này chỉ đi vào tìm hiểu để học tập Bác từ một trong những bình diện giá trị của một tác phẩm văn học đặc biệt của Bác: tập thơ "Ngục trung nhật ký" (Nhật ký trong tù - NKTT). Đó là bình diện con người văn hóa của Bác trong một tác phẩm đặc sắc về nhiều mặt. Vấn đề con người văn hóa Bác Hồ trong NKTT đã có nhiều công trình tìm hiểu, học tập ở các bình diện con người cao cả, có tầm văn hóa lớn lao tương thích với những vấn đề lịch sử, dân tộc, cách mạng, thời đại - hay ta tạm dùng một từ quen thuộc: tầm vĩ mô. Nhưng chúng ta vẫn đinh ninh rằng ngay cả con người văn hóa ở Bác Hồ cũng có đến mấy con người: có con người ở tầm văn hóa vĩ mô và con người bình thường giữa cuộc sống thế sự như mọi chúng ta, tạm gọi là con người vi mô. Tìm hiểu, học tập văn hóa Bác Hồ trong NKTT, chúng tôi hướng vào con người văn hóa ở tầm "vi mô" bình thường này. Ngoài lý do học tập Bác một cách thực tế gần với vị thế đời thường của mình, tôi cũng còn có một lý do cá nhân khác.

          Đó là một kỷ niệm "điếng người" của tôi về đề tài Bác Hồ. Số là khoảng năm 1979, nhân ngày giỗ thứ 10 của Bác, chi đoàn thanh niên cán bộ giảng dạy khoa Văn, Đại học Sư phạm Vinh lúc đó mời một thầy giáo lão thành chuyên nghiên cứu về ngôn ngữ văn học - thầy Nguyễn Nguyên Trứ (hiện về hưu đang sống ở TP Hồ Chí Minh) - đến nói chuyện thơ viết về Bác Hồ. Bấy giờ, tôi phải điều hành cuộc trao đổi. Trước khi giới thiệu thầy nói chuyện, tôi nghĩ phải nói ít lời về Bác, mà những lời này phải lớn lao, cao cả. Lòng kính phục chân thành gặp tuổi trẻ bốc đồng, tôi bắt đầu "đại ngôn". Ngắn thôi, khoảng hai phút, nhưng tôi còn nhớ như in một câu tôi phát ra: "Từ nửa thế kỷ nay, Hồ Chí Minh đã không ngừng tạo ra những địa chấn trong đời sống tinh thần của nhân loại". Tôi còn nói nữa, say sưa, kiểu như vậy và giới thiệu thầy giáo nói chuyện. Thầy đứng lên, nhẹ nhàng mở đầu: "Thưa các bạn, ở Bác Hồ, thơ là người, giọng thơ là giọng Người, nhưng "Giọng của Người không phải sấm trên cao"... Tôi điếng người, đỏ mặt xấu hổ, tôi biết thầy giáo không có ý định dạy thêm cho tôi bài học. Nhưng với tôi, đó là bài học cảnh báo với mình: Đề phòng bệnh "đại không" khi nói và viết (lời to tiếng lớn khi chưa nhận thức đầy đủ chân lý về đối tượng). Nhiều năm sau này, khi được học tập thêm, biết thêm, tôi mới nghiệm ra bệnh non nớt, bồng bột kiểu đó ở nhiều người. Có người hồn nhiên, chân thành cũng có người có mục đích hẳn hoi.

          Tôi tự thấy ở mình, hồi đó mắc bệnh "đại không" cũng là do bị ám ảnh bởi những lời, những bài trong một thời gian dài nói về Bác thường dùng những lời lẽ lớn lao, cao cả và qua đó hướng giá trị con người Bác tới cõi thiêng liêng, thành một thần tượng để tôn thờ. Rất đúng! Nhưng với Bác không chỉ như vậy, mà nếu chỉ vậy thì con cháu sau này làm sao học tập được tấm gương của Người. Khi đã thánh hóa một người thì người ta chỉ còn một việc: thắp hương. Giờ đây, ta đang học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, để góp phần nhỏ cho công việc cần thiết này khỏi trở thành chỉ là chuyện khẩu hiệu, chuyện thắp hương thiếu thiết thực, xin nói ít điều về con người văn hóa tự nhận thức, tự cảm nhận của Bác Hồ qua tác phẩm thơ độc đáo Nhật ký trong tù.

          Tác phẩm văn học này đặc biệt khác với mọi tác phẩm văn học khác của Bác ở đặc trưng thể loại của nó: Nhật ký viết bằng thơ. Hiển nhiên, nó chỉ có một người đọc duy nhất: đó là tác giả. Viết về mình, chỉ cho mình đọc, đối thoại với mình cũng là độc thoại thì còn gì chân thực bằng (những tác phẩm viết theo thể loại khác phải chấp nhận một tỉ lệ hư cấu). Bác Hồ viết NKTT, hoàn toàn không có ý định giáo dục ai, răn dạy ai hoặc tuyên truyền cho ai. Đây hoàn toàn là những chuyện, những tâm trạng, những suy nghĩ riêng tư nhất "Một mình mình biết, một mình mình hay". Bác Hồ viết NKTT không hề có ý định cho người thứ hai đọc (Việc NKTT trở thành một trong hai tác phẩm văn học Việt Nam được xuất bản nhiều lần nhất - cùng Truyện Kiều của Nguyễn Du - lại là một câu chuyện khác, câu chuyện không hề liên quan đến mục đích, động cơ của Bác khi viết tác phẩm này). Do đó, tác giả không có gì phải câu nệ, nắn nót câu chữ, ý tưởng cho hợp vị thế của mình và có hiệu quả với đối tượng nghe hoặc đọc mình. Nhân vật trữ tình trong tác phẩm, vì vậy hiện lên như một con người văn hóa trần gian nhất, bình thường nhất, hồn nhiên, nguyên vẹn đến tận cùng, kể cả trong những cảm giác đau buồn.

          Qua NKTT, từ ý nghĩa khách quan của hình tượng ta có thể nhận ra ở con người này một giá trị có tầm cỡ lớn lao, một ý nghĩa giáo dục sâu sắc trên nhiều khía cạnh: nào là con người của "chất thép" chiến đấu, con người lạc quan cách mạng, con người với trái tim rộng lớn "Ôm cả non sông mọi kiếp người", con người mà đêm ngủ vẫn mơ "Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh".v.v... Con người văn hóa Hồ Chí Minh ở phương diện này ta đã được nghe, được đọc nhiều, nhiều vẫn chưa hết. Nhưng nghe, đọc nhiều lại thường dẫn ta tới ý nghĩ: Bác vĩ đại thế, như một vị thánh, ta tôn thờ nhưng sao ta học nổi. Hóa ra không phải hoàn toàn như vậy. Ý nghĩa trực tiếp mà văn bản tác phẩm cùng hồn cốt thể loại của nó mang đến do chính chủ thể muốn nói về mình lại ở một phương diện khác: Đó là một con người bình thường như mọi con người hiện lên trong tư cách trần thế nhất với mọi cảm xúc, nghĩ suy, cảm giác gần gũi nhất, người nhất.

          Trước hết, hãy nói ngôn ngữ Bác dùng để viết NKTT: Tiếng Hán, chữ Hán. Có người nước ngoài nào đó đã cho rằng Hồ Chí Minh thiếu nhất quán, rằng ông yêu cầu nhà báo, nhà văn Việt Nam phải viết bằng ngôn ngữ đại chúng, mộc mạc, giản dị để quần chúng công nông binh đọc ai cũng hiểu được, vậy mà chính ông lại viết tác phẩm bằng ngôn ngữ nước ngoài, sao cho đại chúng người Việt Nam đọc hiểu? Đó là một nhận xét phiến diện, hồ đồ, vì ông nước ngoài không đọc hết quan điểm Hồ Chí Minh về người đọc. Ông này không biết trước khi đề nghị với nhà văn, nhà báo như trên, Bác đã nêu một vấn đề then chốt: viết cho ai? viết để làm gì? Chứng tỏ, Bác đặc biệt quan tâm đến người đọc. Tác phẩm viết bằng các ngôn ngữ phương Tây cho người phương Tây đọc thì đã rõ. Riêng NKTT như trên nói chỉ cho một người đọc. Văn tự Hán lại là sở trường ngôn ngữ dòng dõi Nho gia của Bác. Lựa chọn đó chứng tỏ một ứng xử văn hóa của con người bình thường nơi Bác. Bác không cần câu nệ cố tỏ ra mình có ý thức dân tộc khi dùng ngôn ngữ, vì trong trường hợp này Bác đâu có mục đích tuyên truyền. Vả lại, tính dân tộc đâu chỉ có nơi ngôn ngữ (cha ông mình nghìn năm trước đã dùng văn chương chữ Hán để yêu nước chống xâm lăng đấy thôi), tính dân tộc chủ yếu là ở tâm thức văn hóa của người cầm bút. Cũng không phải Bác dùng chữ Hán để làm cho thơ mình được sang trọng, vàng son lộng lẫy như lựa chọn của các nhà thơ trung đại. Vì có viết cho ai đâu mà cần lộng lẫy vàng son.

          Mặt khác thơ NKTT viết bằng chữ Hán nhưng đề tài và chất liệu lại mang tính trần thế bình thường dân chủ nhất, không bốc lên cõi phi phàm như thơ chữ Hán trước đây. Trong NKTT, con người văn hóa Hồ Chí Minh rất dị ứng với tâm thế phi phàm. Từ quan sát, cảm giác, tri giác đến cảm xúc, cảm hứng đều từ những gì thuộc thế giới phàm trần này: một cảnh bắt rận, thiếu nước tắm, ở bẩn, ghẻ ngứa, cái gậy chống, quán cháo bên đường, cái chăn giấy, cơm tù, rét, rệp... Đây là những cảm xúc nảy sinh từ cảm giác vật thể rất người ở Bác: bốn tháng bị giam không nước tắm, không thay quần áo, ăn không đủ, ngủ không yên... Cảm giác vật thể này tạo ra cảm xúc đau đớn về một cuộc sống dưới mức con người "Sống chẳng ra người vừa bốn tháng". Mặc dù "gầy đen như quỷ đói", "ghẻ lở mọc đầy thân", "rụng một chiếc răng", dù "phi nhân loại sinh hoạt", nhưng do ý thức được cuộc sống phi nhân loại đó, nên tự mình khẳng định với mình ta vẫn là con người (Bốn tháng rồi)...

          Những cảm xúc tinh thần hướng thượng ở con người văn hóa Hồ Chí Minh trong NKTT phần nhiều bắt nguồn từ những cảm giác, cảm xúc rất hồn nhiên, tự nhiên, phàm trần như trên.

          Trong tù, Hồ Chí Minh tự giác về mình cũng là một thân phận tù nhân như mọi thường phạm khác, không bao giờ có ý phân biệt, nếu có chỉ là khi tự nghĩ riêng về mình để phấn đấu, để rèn luyện. Còn cuộc sống và ứng xử của Bác hoàn toàn bình đẳng, hòa nhập với thế giới tù nhân. Bác gọi họ là "nạn hữu" (bạn cùng hoạn nạn) đến 8 lần, Bác là một trong "nhân nhân" (mọi người), "ngã mẫn" (chúng tôi), Bác là "tân phạm" (tù nhân mới) được "cựu phạm" (tù nhân cũ) đón tiếp. Bác gọi họ là "nhĩ" (anh - đại từ ngôi hai). Bác coi họ là "đồng chu cộng tế" (cùng hội cùng thuyền giúp nhau). Đó là ứng xử văn hóa mà con người bình thường phải có với nhau, không chỉ trong tình huống ở tù, mà do cái nhìn con người đầy tình nhân ái nơi Bác.

          Nhân ái ở Hồ Chí Minh là nhân ái truyền thống trong cốt cách dân tộc mà ở con người Việt Nam bình thường ai cũng có thể có hoặc có thể noi gương nhau không khó khăn gì. Nhân ái ấy là văn hóa "Thương người như thể thương thân", còn là "ân trả nghĩa đền", biết ơn người giúp đỡ, cưu mang mình trong hoạn nạn là một nét văn hóa mang hồn cốt Việt Nam đích thực, cho dù người đó, vào lúc ấy là người của "phía bên kia". Không có của cải tiền bạc đền ơn, thì một lời biết ơn trân trọng tự nói với mình trong thơ cũng là một ứng xử văn hóa cảm động. Bác có đến 8 bài thơ trong NKTT bày tỏ lòng biết ơn chân thành với một số người trong chính quyền Tưởng Giới Thạch - trực tiếp quản lý Bác - đã đối xử tốt, giúp đỡ, quan tâm tới Bác. Đó là Trần khoa viên, Hầu chủ nhiệm, khoa trưởng họ Ngũ, khoa viên họ Hoàng, chủ nhiệm Lương, trưởng ban họ Mạc, tiên sinh họ Quách, sở trưởng Long An họ Lưu. Người Trung Quốc có chuyện "Bát cơm Phiếu mẫu", người Việt Nam thành cả một triết lý sống: "một miếng khi đói bằng cả gói khi no". Phần lớn các bài thơ loại này đã không có mặt trong NKTT xuất bản lần thứ nhất - 1960 (có 20 bài bị gạt ra ngoài vì nhiều lý do lịch sử: chính trị, quan niệm, trình độ nhận thức của người dịch và xuất bản tác phẩm...). Phải thấy rõ ở Hồ Chí Minh lập trường giai cấp và dân tộc là rõ ràng và là nguyên tắc tối cao. Nhưng không vì vậy mà hạn chế cái nhìn văn hóa với tính người nhân loại. Ở đây không chỉ là vấn đề tính người phổ quát nhân loại như một số người đã nói mà còn là cốt cách văn hóa dân tộc. Cái nghĩa ân tình chung thủy với người cứu khổ cứu nạn mình ở con người văn hóa Hồ Chí Minh hoàn toàn nhất quán từ thi ca đến hành vi ứng xử ngoài đời. Không có gì thần thánh ở đây cả, chỉ có ý thức văn hóa thật sự con người là cháu con học được, làm được như Bác mà thôi. Tiếc thay, khối người bây giờ "Miệng nam mô bụng bồ dao găm", nói và làm tương phản.

          Cứ nghĩ về thói quan liêu của những người trong "bộ phận không nhỏ" cán bộ đảng viên ở thời ta càng thấm thía văn hóa sống, văn hóa quan tâm mọi người bình thường ở Bác sâu sắc biết bao, nhưng cũng không phải là cao xa, quan cách khó học tập. Chắc bạn đọc còn nhớ một nhân vật cao cấp nhất một tỉnh miền Trung trong bộ phim truyện về một dòng sông nổi tiếng: Cô gái trên sông. Ông này thời hoạt động bí mật bị đối phương phát hiện, truy đuổi. Ông liều mạng nhảy xuống dòng sông kia và được một cô gái điếm cứu sống và dùng con thuyền của mình chở ông trở về căn cứ trên rừng. Sau giải phóng, ông làm cán bộ lãnh đạo cao nhất tỉnh. Cô gái vẫn phải theo nghề cũ, muốn bỏ nghề để tìm việc làm ăn lương thiện nhưng không có đủ điều kiện. Nữ nhà báo tìm hiểu để viết phóng sự về các cô gái điếm trên dòng sông nọ đã phát hiện ra câu chuyện kia. Trao đổi với nhân vật lãnh đạo (là bạn của nữ nhà báo) người nữ phóng viên chất vấn tại sao anh không giúp ân nhân cứu mạng mình một công việc bình thường để giải phóng cho họ. Ông lãnh đạo trả lời với "lập trường" lạnh lẽo: cách mạng về đã giải phóng cho tất cả rồi đấy thôi. Thật là một bài học điển hình và không phải là ít của thói quan liêu mà Lênin từng phê phán là "thói quan liêu cộng sản", và Bác Hồ đã nhiều lần báo động cảnh cáo thói xấu này của cán bộ trong tác phẩm "Về đạo đức cách mạng" (Nxb Sự thật, 1976).

          Thơ NKTT cũng tự nói về nỗi buồn thường tình của con người ở Bác. Buồn vì xa xứ, nhớ cố hương đất nước đã đành còn buồn vì nỗi "muôn cay nghìn đắng", "ngoảnh lại hơn trăm ngày ác mộng", nên trên mặt "vương chút u sầu" (Đến Liễu Châu). Trung thu: "Người trong ngục nuốt sầu", "Gió thu đều vương sầu". Tiết Thanh minh mưa phùn "Người tù buồn đứt ruột". Một buổi Chiều tối nhìn cánh chim về rừng tìm chốn ngủ lại thấy một mảnh "cô vân" trôi dạt giữa bầu trời. Buồn, cô đơn, mệt mỏi, khao khát một mái ấm gia đình, một nơi nghỉ chân an lành trên con đường lưu đày xa xứ. Cô gái trẻ trong ngôi nhà xóm núi xay ngô làm bữa tối, bếp lửa đỏ ấm áp tình thương là sự tưởng tượng da diết của người tù trong niềm khao khát ấy. Đó là khao khát thường tình như tất cả chúng ta. Nhưng chúng ta hầu hết đã có được, còn lại Bác Hồ trên con đường vạn dặm, một lòng vì nước vì dân chẳng bao giờ được bước chân vào ngôi nhà ấm cúng đó của mình. Ta có được nhiều thứ hơn cả bình thường mà Người không thể có, sao ta khó có một hành vi ứng xử văn hóa bình thường như Bác giữa cuộc đời này?

 

TS. Nguyễn Hoài Nguyên

          Để giải quyết bài toán chính tả D/GI, bài viết đề xuất các quy tắc: dựa vào thanh điệu và khả năng kết hợp để viết chính tả các âm tiết D/GI Hán Việt; dựa vào từ láy âm, khả năng kết hợp và những quan hệ lịch sử để viết các âm tiết D/GI thuần Việt. Các quy tắc này dễ áp dụng, giải quyết căn bản cách thể hiện âm vị /z/ bằng hai con chữ D và GI.

1. Đặt vấn đề

          1.1. Chữ viết của bất kì ngôn ngữ nào cũng phải hướng tới đạt hai yêu cầu cơ bản: chữ viết càng hợp lí càng tốt và chính tả phải thống nhất. Chính tả có thống nhất thì mới phát huy đầy đủ chức năng của nó là làm cho giao tiếp không bị hạn chế bởi khoảng cách không gian và trong những điều kiện nhất định, cả trong thời gian. Đồng thời, chữ viết càng hợp lí thì càng tiện dùng, nhất là cho số đông và việc phát huy chức năng của nó mới thuận lợi.

          1.2. Về cơ bản, chữ viết tiếng Việt tương đối hợp lí và nhìn chung, chính tả thống nhất ở cách viết âm tiết. Nguyên tắc cơ bản của chữ Quốc ngữ là nguyên tắc ngữ âm học, nghĩa là, giữa chữ viết và ngữ âm có sự nhất trí. Cố nhiên, chữ Quốc ngữ chưa phải là lối chữ ghi âm hoàn thiện, vì trong một số trường hợp, giữa chữ và âm có sự xê dịch quá lớn. Điều này dẫn đến có quá nhiều trường hợp chưa có sự thống nhất về chính tả, gây không ít trở ngại trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt trong hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học, v.v.. Thực tế ấy đã và đang đòi hỏi phải có những quy định chặt chẽ về chính tả và tiến tới xây dựng chuẩn chính tả nhằm bảo đảm cho việc thực hiện tốt chức năng xã hội của chữ viết.

          1.3. Ngày nay, trừ một số thổ ngữ Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, nói chung, trong toàn quốc đều không phân biệt D, GI trong phát âm nhưng trong chữ viết (và cả chính tả) thì lại có sự phân biệt. Tình hình này dẫn đến cách viết chính tả D/GI thiếu thống nhất và trở thành bài toán chính tả cho toàn quốc. Bài viết này muốn góp bàn về thực trạng chính tả D/GI và đưa ra lời giải cho bài toán phức tạp đó.

2. Cách viết chính tả D và GI

2.1. Cơ sở ngữ âm học của bài toán D và GI

          Nói không còn sự phân biệt D/GI trong phát âm, cả hai đều phát âm [z], là xét trong hệ thống ngữ âm tiêu chuẩn tiếng Việt. Thực tế, trường hợp được ghi D và GI, hiện nay có cách phát âm khá khác nhau giữa các vùng. Ở Bắc bộ, nói chung, ghi D ở chữ Quốc ngữ phát âm là [z], ở Nam Trung bộ và Nam bộ phát âm là [j]. Nhưng trong nội bộ khu vực Bắc bộ lại cũng có sự khác nhau: ở những thổ ngữ còn có sự phân biệt /s/ (x) và /ş/ (s) thì D là âm hữu thanh /z/, ứng với /s/ (x); ở những thổ ngữ không có sự phân biệt ấy (nghĩa là /s/ và /ş/ nhập lại làm một /s/), D và GI đều phát âm [z] thì /z/ (d) và /s/ không hẳn còn tương ứng nhau. Ở Bắc Trung bộ, hầu hết các thổ ngữ Nghệ Tĩnh, một vài thổ ngữ Bố Trạch (Quảng Bình), D phát âm thành [dj], còn hầu khắp các thổ ngữ Bình Trị Thiên phát âm mềm thành [z'] nên cũng không tương ứng với cấu âm cứng của /s/ (x).

          Lùi xa hơn nữa vào quá khứ, ta thấy một số từ có D, trong Từ điển Việt - Bồ - La [7], A.de Rhodes ghi bằng de (hoặc dě). Con chữ D được A.de Rhodes ghi bằng con chữ de, đôi khi là dě là biểu thị âm tắc đầu lưỡi /d/ và biến thể có cấu âm ngạc hoá mạnh /dj/, là một phụ âm xát mặt lưỡi. Hàng loạt từ có D, hầu hết các thổ ngữ Nghệ Tĩnh phát âm thành [dj]: (con) đao (< dao), đưới (< dưới), (đi) đáy (< dạy), đám (< dám), (con) đam (< dam), (để) đèng (< dành), (nói) đối (< dối), (lá) đong (< dong), v.v.. Như vậy, cách phát âm D thành [dj] trong các thổ ngữ Nghệ Tĩnh phản ánh cách phát âm của một phụ âm (đầu) tiếng Việt thế kỉ XVII.

          Về con chữ GI, nhìn chung, ở các phương ngữ chính, không có một âm riêng dành cho GI. Ở Hà Nội, GI phát âm thành [z] (bao gồm cả D và R). Ở Nam Trung bộ và Nam bộ, GI phát âm thành [j] (bao gồm cả D và V). Còn ở nhiều thổ ngữ Nghệ Tĩnh và một số thổ ngữ Quảng Trạch, Bố Trạch (Quảng Bình) GI phát âm thành [cj], một phụ âm mặt lưỡi, tắc, ngạc hoá mạnh.

          Về mặt lịch sử, những từ hiện nay viết với GI vốn xưa không phải cùng một gốc. Các từ giời, giăng, giầu, gio, gianh... lên đến thế kỉ XVII đang còn viết với bl. Quá trình bl > GI mới xẩy ra gần đây (cuối thế kỉ XIX) và chỉ xẩy ra ở Bắc bộ. Theo Nguyễn Tài Cẩn [1], một số từ hiện nay viết với GI còn có gốc là */c/. Trong Từ điển Việt - Bồ - La [7], những từ như gì, giá A.de Rhodes đã viết với GI. Trường hợp */c/ đưa đến GI có thể chứng minh qua những tương ứng sau đây trong cách phát âm của các thổ ngữ Nghệ Tĩnh: chự (bò) - giữ (bò), (con) chán - (con) gián, (cái) chiếng - (cái) giếng, (cái) chờng - (cái) giường, chận (chắc) - giận (nhau), (cười) chon - (cười) giòn, chạng (háng) - giạng (háng), (ngủ một) chớc - (ngủ một) giấc, v.v.. Như vậy, cách phát âm [cj] của các thổ ngữ Nghệ Tĩnh phản ánh âm đầu /cj/ trong tiếng Việt cách nay hơn ba thế kỉ. Vậy là, quá trình */c/ > GI xẩy ra qua trung gian là phụ âm có yếu tố ngạc hoá [cj].

          Tóm lại, xét về mặt lịch sử, âm xát /z/ (d, gi) ngày nay là kết quả diễn biến của hai âm đầu cổ /d/ (và biến thể /dj/) và /c/ (và biến thể /cj/). Âm /z/ được thể hiện trên chữ viết là D và GI phát âm khác nhau trong các phương ngữ, thổ ngữ dẫn đến tình trạng viết chính tả D, GI lẫn lộn trong phạm vi toàn quốc. Chính vì tình trạng lẫn lộn D, GI phổ biến như vậy, lại thiếu cơ sở ngữ âm, dù là ngữ âm địa phương, cho nên, nhiều người đề nghị bỏ sự phân biệt này trong chính tả và thay D, GI bằng con chữ Z.

2.2. Thực trạng viết D và GI

2.2.1. Cách viết D và GI trong các từ điển tiếng Việt

a. Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (2000)

          - Trong Từ điển tiếng Việt (TĐTV), có 3616 âm tiết viết D và GI, trong đó, có 2252 âm tiết với với D, 1364 âm tiết viết với GI. Ở cấp độ từ, có 539 từ đơn tiết D và GI, trong đó, có 339 từ viết với D, có 200 từ viết với GI.

          - Có 19/539 từ đơn tiết tồn tại hai cách viết: vừa viết D, vừa viết GI. Đó là các trường hợp: dải 238 - giải 387, dại 239 - giại 388, dàm 239 - giàm 390, dang 240 - giang 391, dàng 240 - giàng 369, dành 242 - giành 392, dăng 243 - giăng 396, dâm 245 - giâm 397, dẫm 245 - giẫm 397, dậm 245 - giậm 397, dấn 248 - giấn 398, dận 250 - giận 397, dồi 262 - giồi 403, dội 262 - giội 403, dông 263 - giông 403, dũa 265 - giũa 405, duộc 267 - giuộc 406. Có ba từ song tiết có hai cách viết: dăng dăng 244 - giăng giăng 396, dâu da 249 - giâu gia 398, dở dói 263 - giở giói 404.

b. Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên (1999)

          - Đại từ điển tiếng Việt (ĐTĐTV) có 9060 âm tiết D và GI, trong đó, có 5835 âm tiết viết với D, có 3225 âm tiết viết với GI. Ở cấp độ từ, có 711 từ đơn tiết viết D và GI, trong đó, có 491 từ viết với D, có 220 từ viết GI.

          - Có 6/711 từ đơn tiết tồn tại hai cách viết: vừa viết với D, vừa viết với GI. Đó là các trường hợp dạc 506 - giạc 725, dắm 516 - giắm 743, dòi 544 - giòi 754, dóng 546 - gióng 765, dấm 553 - giấm 740, doi 567 - gioi 748. Một số trường hợp, ở TĐTV có hai cách viết thì ở ĐTĐTV chỉ có một cách viết. Chẳng hạn: viết D trong dải (đất), dông (tố), dàm, dũa, duộc...; viết GI trong giồi, giội, giận, giâu gia, v.v..

2.2.2. Cách viết D và GI trong các từ điển chính tả

a. Việt ngữ chánh tả tự vị của Lê Ngọc Trụ (1959)

          Trong công trình này, có 15 trường hợp vừa viết D, vừa viết GI. Đó là các trường hợp: dả/ giả 127, dải/ giải 133, dàm/ giàm 135, dám/ giám 136, dặm/ giặm 161, dệu/ giệu 160, dít/ gít 164, dìm/ gìm 166, diềng/ giềng 167, dong/ giong 177, dọng/ giọng 180, dọt/ giọt 181, dợn/ giợn 188, dượng/ giượng 204.

b. Từ điển chính tả phổ thông của Viện văn học (1963)

          Trong công trình này, có 9 trường hợp tồn tại hai cách viết vừa D vừa GI. Đó là các trường hợp: dạm 77/ giạm 109, dăng 79/ giăng 111, diết 83/ giết 113, dói 85/ giói 114, dỏng 86/ giỏng 115, dở  88/ giở 116, dùi 89/ giùi 117, dụi 89/ giụi 117, dượng 92/ giượng 117.

c. Chính tả tiếng Việt của Hoàng Phê (1999)

          Đây là công trình từ điển chính tả công phu nhất và có tính khoa học cao vì tác giả biên soạn theo từng vấn đề chính tả, trong đó có chính tả D/GI. Trong công trình này, có 15 cặp âm tiết D/GI, tức là vừa viết D, vừa viết GI. Đó là các trường hợp: (quả dâu) da/ gia 50, (dối) dà/ già 50, (con) dang/ giang 54, (sóng đánh) dạt/ giạt 56, (dục) dặc/ giặc 56, (đánh) dậm/ giậm 58, dấn/ giấn (đầu xuống) 58, (rau) dền/ giền 61, dò/ giò (phong lan) 64, (dở) dói/ giói 65, (ăn) dỗ/ giỗ 66, dở/ giở (dói) 66, (dập) dờn/ giờn 68, dũa/ giũa (cái cưa) 69, dục/ giục (dặc) 69.

2.2.3. Nhận xét

          - Qua thống kê trên văn bản, chúng ta dễ dàng nhận thấy cách viết D/ GI giữa các từ điển tiếng Việt là chưa nhất quán. So sánh đối chiếu TĐTV và ĐTĐTV, chúng tôi thấy rằng, so với TĐTV thì ĐTĐTV có số lượng mục từ nhiều hơn nhưng một số âm tiết D/GI có trong TĐTV lại không có trong ĐTĐTV như: dắt, dẫm, doạng, dũa, duộc, giạt1, giạt2, giầm, giấn, giấp, giầu1, giầu2, gièm, giẹp, giếc, gìn, giảy, giô, giồ, giỗi, giùi, giúi1, giúi2, giụi.

          - Trong các từ điển chính tả, cách viết D/GI cũng không thống nhất. Chẳng hạn, Từ điển chính tả phổ thông viết dông (tố), dải (thưởng), trong khi đó, tất cả các từ điển khác đều viết giông (tố), giải (thưởng). Các từ điển khác viết dìm (xuống nước), trong khi đó, Từ điển chánh tả tự vị lại viết gìm (xuống nước)... Một số trường hợp, cách viết trong các từ điển chính tả khác với cách viết phổ biến hiện nay. Chẳng hạn: gia giết, gìm, (láng) diềng, (già) giặn, giây (thừng), giầm (mưa), giềnh giàng, (trán) giô, (rau) dền... (cách viết trong các từ điển) - da diết, dìm, (láng) giềng, (già) dặn, dây (thừng), dầm (mưa), dềnh dàng, (trán) dô, (rau) giền...(cách viết phổ biến hiện nay).

          - Bỏ qua cách viết D/GI trên sách báo và trong các bậc học phổ thông và đại học (vốn hết sức phức tạp), chỉ khảo sát trong các từ điển, chúng ta cũng có thể hình dung bài toán chính tả D/GI là nan giải. Do đó, dựa vào từ điển, trong đó có từ điển chính tả để viết D/GI cũng không hoàn toàn có đủ độ tin cậy. Lâu nay, trong một số công trình của Nguyễn Tri Niên, Nguyễn Phan Cảnh [4], Phan Ngọc [3], Hoàng Phê [6]... vấn đề chính tả D/GI cũng đã được giải quyết ở một mức độ nhất định. Trong một phương hướng như thế, chúng tôi cũng muốn đưa ra một giải pháp góp phần giải quyết căn bản bài toán chính tả D/GI.

2.3. Đề xuất viết đúng chính tả D và GI

2.3.1. Cách viết chính tả các âm tiết D/GI Hán Việt

(1) Dựa vào thanh điệu

          Trên chữ viết, các thanh điệu được ghi lại bằng các dấu (thanh). Trong các âm tiết D/GI Hán Việt, sự khác nhau trong cách viết D/GI biểu hiện cụ thể và khá triệt để gắn với dấu thanh. Âm tiết Hán Việt viết D đi với dấu ngã và dấu nặng (mẹo dưỡng dục của Phan Ngọc), còn âm tiết Hán Việt viết GI đi với dấu sắc và dấu hỏi (mẹo giảm giá của Phan Ngọc). Theo đó, ta viết chính tả với D trong các trường hợp: diễn (viên), (hấp) dẫn, dưỡng (lão), dũng (cảm), (điền) dã, dĩ (nhiên), (bình) dị, (kì) diệu, dược (phẩm), dạ (hội), v.v..  Viết GI trong các trường hợp (cam) thảo, giải (thích), giả (thiết), giản (lược), (can) gián, giá (trị), (tam) giác, giới (tuyến), v.v..

          Âm tiết Hán Việt không có dấu (thanh ngang) mà chữ cái sau chữ cái âm đầu không phải "a" thì viết D, còn "a" thì viết GI. Theo đó, ta viết D: di dân, diêm (sinh), do (thám), du (lịch), dung (nhan), dư (luận)...; Viết GI: gia (đình), giai (cấp), giang (sơn), giam (cầm), v.v..

(2) Dựa vào khả năng kết hợp

          - Âm tiết Hán Việt D/GI có chữ cái liền sau chữ cái ghi âm đầu là "a" thì hầu hết viết với GI. Ngược lại, âm tiết Hán Việt D/GI có chữ cái liền sau chữ cái ghi âm đầu không phải là "a" thì đều viết với D. Theo cách này, ta viết D/GI như sau:

          + Viết GI: gia (đình), (thính) giả, giá (cả), giác (ngộ), giai (đoạn), giải (pháp), giam (cầm), gia giảm, giám (định), gian (trá), giản (đơn), gián (đoạn), giang (sơn), giảng giải, giáng (cấp), giao (liên), giảo (quyệt), giáo (sư), giáp (binh)... Có 5 ngoại lệ phải nhớ: dã (sử), dạ (hội), (nhân) dạng, danh (tính), (tiêu) dao.

          + Viết D: dâm (ô), dân (sự), (năm) dần, (bán) dẫn, (ẩn) dật, (năm) dậu, di (truyền), dĩ ( nhiên), dị (nhân), dịch (chuyển), diêm dân, diễm (lệ), diệm (sơn), (ngoại) diên, diện (tích), diệp (lục), (tiêu) diệt, diễu (binh), diệu (kì), dĩnh (ngộ), do dự, (phủ) doãn, doanh (trại), du (lịch), (công) dụng, duy (trì), duyên (số), duyệt (binh), dư dật, dữ dội, (tham) dự, dược (phẩm), dương (cầm), dưỡng dục, v.v..

2.3.2. Cách viết chính tả các âm tiết D/GI thuần Việt

(3) Dựa vào láy âm

          Trong từ láy âm, D và GI không láy âm được với nhau, cho nên, những từ láy điệp âm đầu thì hoặc là điệp D, hoặc điệp GI, chứ không lẫn lộn. Dựa vào láy âm ta viết:

          - Những từ láy âm điệp GI: giặc giã, giây giướng, giẹo giọ, giềnh giàng, giệnh giạng, gióng giả, giấm giúi, giữ giàng, giùi giập, v.v..

          - Những từ láy âm điệp D: dai dẳng, dài dặc, dại dột, dãi dầu, dạn dĩ, dào dạt, dầm dề, dằn dỗi, dí dỏm, dõng dạc, dông dài, dồn dập, dở dom, dửng dưng.

          Cũng trong láy âm, GI không bao giờ láy âm với l, nhưng D lại láy âm với l. Do đó, gặp những chữ băn khoăn viết D hay GI, nếu láy âm với l thì phải viết D.          Đó là các trường hợp: lẹt dẹt, lở dở, lâm dâm, lim dim, lò dò, lù dù, lang dang, líu díu, lềnh dềnh, lầm dầm, v.v..

(4) Dựa vào kết hợp

          Về mặt kết hợp, GI không bao giờ xuất hiện trước các vần bắt đầu bằng oa, oă, oe, uy, uê, uyê, còn D lại có thể đứng trước các vần đó. Vậy nên, trong các trường hợp sau đây, ta phải viết D: dọa (nạt), doãng (chân), duềnh (nước), (do) doe, duy (nhất), duyên (số), v.v..

(5) Dựa vào những quan hệ lịch sử

          Theo tác giả Phan Ngọc [3], có thể dựa vào những quan hệ lịch sử làm cơ sở để viết chính tả D/GI. Để tránh trình bày những điều quá uyên bác, ta không nói âm nào có trước, âm nào có sau mà xuất phát từ những điều có thực trong cảm thức của những người Việt bình thường là có những chữ cùng nguồn gốc với nhau. Theo đó, tác giả trình bày thành hai mẹo: Dặn đến nhà thương và Giao tranh cho tôi cầm. Mẹo Dặn đến nhà thương để viết D, nghĩa là những chữ có D thì cùng nguồn gốc với những chữ có D (dặn), có Đ (đến), có NH (nhà), có TH (thương). Cụ thể:

          D (dặn): dùng - dụng, (nói) dài - (nói) dai, dáng (người) - dạng (người), dù - dầu, dễ dàng - dung dị, v.v..

          Đ (đến): dứt - đứt, (con) dao - (con) đao, dằng dẵng - đằng đẵng, dày dặn - đầy đặn, (cây) da - (cây) đa, dằn (xuống) - đằn (xuống), (để) dành - (để) đèng, dĩa - đĩa, v.v..

          NH: dớn dác - nhớn nhác, dồi - nhồi, dút dát - nhút nhát, dừ - nhừ, dơ (bẩn) - nhơ (bẩn), (một) dúm - (một) nhúm, dường (bao) - nhường (bao)...

TH: dư - thừa, v.v..

          Còn mẹo Giao tranh cho tôi cầm dùng để viết GI, nghĩa là những chữ có GI cùng gốc với những chữ có GI (giao), có TR (tranh), có CH (cho), có T (tôi), có C/K (cầm). Cụ thể;

GI: giềng (mối) - giường (mối), giẫm (chân) - giậm (chân), v.v..

TR: giả - trả, giời - trời, giầu - trầu, giăng - trăng, giun - trùn, gio - tro, gianh - tranh, giồng - trồng, v.v..

CH: giặm - chêm, giong (đèn) - chong (đèn), giồi (mài) - chùi (mài), giàng (dịt) - chằng (chịt), (cái) gì - (cái) chi, (bây) giờ - (bây) chừ, giống (loài) - chủng (loại), v.v..

T: giạt - tạt, (vóc) giạc - tuổi tác, giọng - tiếng, giặc (nước) - (thuỷ) tặc, v.v..

C/K: giỗ - kị, gian (nhà) - căn (nhà), giao - keo, giác - cắc, v.v..

Trên đây là những quy tắc viết đúng chính tả D và GI. Trong thực tế, áp dụng các quy tắc này vẫn còn những trường hợp ngoại lệ nhưng nắm vững những quy tắc trên chúng ta sẽ giải quyết cơ bản bài toán chính tả D/GI.

3. Kết luận

Từ những tư liệu thống kê trong các loại từ điển, ta nhận thấy chính tả D và GI vẫn đang là bài toán nan giải. Để viết chính tả D/GI một cách thống nhất và giản tiện, chúng tôi đề xuất các quy tắc, đó là: dựa vào thanh điệu và khả năng kết hợp để viết chính tả âm tiết Hán Việt D/GI; dựa vào láy âm, khả năng kết hợp và những quan hệ lịch sử để viết chính tả các âm tiết thuần Việt D/GI. Các quy tắc trên dễ áp dụng, giải quyết căn bản các trường hợp thể hiện âm vị /z/ trên chữ viết bằng hai con chữ D và GI.

 Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Tài Cẩn, Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo), Nxb Giáo dục, H. 1995.

  2. Cao Xuân Hạo, Mấy nhận xét về chữ Quốc ngữ, trong cuốn "Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp", Nxb Giáo dục, H. 1998.

  3. Phan Ngọc, Chữa lỗi chính tả cho học sinh, Nxb Giáo dục, H. 1982.

  4. Nguyễn Tri Niên, Nguyễn Phan Cảnh, Sơ lược về tình hình phát âm D và GI hiện nay, Nghiên cứu văn học, 1961, số 8.

  5. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, H. 2000.

  6. Hoàng Phê, Chính tả tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, H. 1999.

  7. A.de Rhodes, Từ điển Việt - Bồ - La, Nxb Khoa học Xã hội, H. 1999.

  8. Trương Thị Kiều Thuỷ, Vấn đề chính tả D, GI và I, Y, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, (Nguyễn Hoài Nguyên hướng dẫn) Trường ĐH Vinh, Vinh, 2010.

  9. Lê Ngọc Trụ, Việt ngữ chánh tả tự vị, Nxb Sài Gòn, 1959.

  10. Viện văn học, Từ điển chính tả phổ thông, Nxb Văn học, H. 1963.

  11. Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H. 2002.

 

Lê Thị Thu Hương[*]

Trước mỗi kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh Đại học Cao đẳng, hồi hộp, lo lắng là tâm trạng chung của mỗi thí sinh. Cùng với việc tập trung ôn luyện, hệ thống kiến thức, trong những năm gần đây nhiều sĩ tử và người thân đã giành thời gian để đến đền, chùa, Văn miếu… làm lễ cầu xin Thần, Phật phù hộ, mong gặp may mắn và đạt kết quả cao trong kỳ thi. Đó được gọi là lễ "cầu khoa". Lễ đó được người dân Nghệ An thực hiện từ xưa và được ghi chép cụ thể trong các văn bản tục lệ cổ truyền.

1.  Tư liệu: Tục lệ (khoán lệ, hương khoán, khoán ước, tục lệ…) là tên gọi chung một loại hình văn bản trong đó ghi chép một cách có hệ thống những quy ước chung liên quan đến đời sống nhiều mặt của từng cộng đồng làng xã người Việt, chủ yếu là ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ(1). Hiện trong kho sách Hán Nôm của Viện nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ khá nhiều các văn bản tục lệ của tỉnh Nghệ An. Chỉ tính riêng kho AF, tỉnh Nghệ An có 31 quyển (2) (từ AFb1/1- AFb1/31) ghi chép tục lệ huyện Hưng Nguyên, Chân Lộc và Nghi Lộc. Ngoài ra, còn có 12 quyển mang kí hiệu A, VHv và VNv ghi chép tục lệ các thôn xã của 06 huyện trong tỉnh: Thanh Chương (VHv.1201-09, VHv.2677), Lương Sơn (VHv.1825, VHv. 2679 và VHv.2654), Nam Đàn (VHv.1210) (3), Quỳnh Lưu (A.3154, VHv.2675/1-2, VHv.1824), Đông Thành (VHv.1218) và Yên Thành (VHv.2763, VHv.1216 và VNv.7/1-2). Trên cơ sở những văn bản tục lệ này chúng tôi tiến hành khảo sát và tìm ra tục lệ của 24 thôn xã có ghi chép về lễ cầu khoa. Đó là:

STT

Tên sách

Huyện

Kí hiệu

Niên đại

  1.  

乂安省興元府安場總安榮社俗例 (Tục lệ xã Yên Vinh tổng Yên Trường phủ Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An)

 

Chân Lộc

AFb1/2

Tự Đức 8 (1854)

  1.  

乂安省興元府安場總安勇社下村俗例(Tục lệ thôn Hạ xã Yên Dũng tổng Yên Trường phủ Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An)

Chân Lộc

AFb1/2

Tự Đức 9(1855)

  1.  

员山村券例 (Khoán lệ thôn Viên Sơn)

 

Đông Thành

VHv.2763

Sao năm Duy Tân 5(1911)

 

 

  1.  

乂安省興元府扶龍總各社村俗例(福厚村) Tục lệ thôn Phúc Hậu tổng Phù Long phủ Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An)

Hưng Nguyên

AFb1/16

Gia Long 3 (1804)

 

  1.  

乂安省興元府海都總科陀村俗例(Tục lệ thôn Khoa Đà tổng Hải Đô phủ Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An)

 

Hưng Nguyên

AFb1/7

Đồng Khánh 2 (1886)

  1.  

乂安省興元府海都總福隆村俗例  (Tục lệ thôn Phúc Long tổng Hải Đô phủ Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An)

 

Hưng Nguyên

AFb1/7

 

Thiệu Trị 6 (1845)

  1.  

乂安省興元府海都總總上溪村俗例 (Tục lệ thôn Thượng Khê tổng Hải Đô phủ Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An)

 

Hưng Nguyên

AFb1/7

 

Tự Đức 25 (1871)

  1.  

乂安省興元府海都總各社村俗例(裴孔社東村) (Tục lệ thôn ĐôngBùi Khổng tổng Hải Đô phủ Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An).

 

Hưng Nguyên

AFb1/9

Thiệu Trị 1(1841)

  1.  

乂安省興元府福川村俗例 (Tục lệ thôn Phúc Xuyên phủ Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An)

 

Hưng Nguyên

AF b1/21

Không rõ năm lập

  1.  

乂安省興元府扶龍總各社村俗例(安居村) (Tục lệ thôn Yên Cư tổng Phù Long phủ Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An)

Hưng Nguyên

AFb1/16

  Thiệu Trị 6 (1846)

  1.  

乂安省興元府海都總上溪村俗例 (Tục lệ thôn Thượng Khê tổng Hải Đô phủ Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An)

Hưng Nguyên

AFb1/7

Tự Đức 25(1871)

  1.  

乂安省興元府海都總裴孔社東村俗例 (Tục lệ thôn Đông xã Bùi Khổng tổng Hải Đô phủ Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An)

Hưng Nguyên

AFb1/7

Tự Đức 25(1871)

  1.  

朗田口傳例摺 (朗田社) (Tập tục lệ khẩu truyền Lãng Điền xã Lãng Điền)

Lương Sơn

VHv.2654

Thành Thái 16 (1904), Sao Duy Tân 5 (1911)

 

  1.  

乂 安 省 宜 祿 縣 上 舍 總 各 社 村 俗 例 (春睛村) (Tục lệ thôn Xuân Tình tổng Thượng Xá huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An)

Nghi Lộc

AF b1/29

Tự Đức 22 (1868)

 

  1.  

乂 安 省 宜 祿 縣 羅 雲程 總 各 社 村 俗 例 (金塢社) (Tục lệ xã Kim Ổ tổng Vân Trình huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An)

Nghi Lộc

AFb1/30

Minh Mệnh 11 (1830)

  1.  

乂 安 省 宜 祿 縣 雲程  總 各 社 村 俗 例 (萃英村) (Tục lệ thôn Tụy Anh tổng Thượng Xá huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An)

Nghi Lộc

AFb1/31

Tự Đức 1(1847)

  1.  

乂 安 省 宜 祿 縣 雲程總 各 社 村 俗 例(芳蹟社) (Tục lệ xã Phương Tích tổng Vân Trình huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An)

Nghi Lộc

AFb1/31

Tự Đức 18 (1864)

  1.  

黃梅總各社村鄉俗(Hương tục các thôn xã tổng Hoàng Mai: thôn Thọ Vinh xã Thọ Mai)

Quỳnh Lưu

VHv.1824

Sao năm Duy Tân 5 (1911)

  1.  

上安村鄉例( Hương lệ thôn Thượng An)

 

Quỳnh Lưu

VHv.2675/1

Sao năm Thành Thái 7  (1895)

  1.  

貴和村券例 (Khoán lệ thôn Quý Hòa)

Quỳnh Lưu

VHv.2675/1

Sao Tự Đức 13(1859)

  1.  

琼堆今事跡鄉編小引(會券) (Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên tiểu dẫn: Hội khoán)

Quỳnh Lưu

A.3154

Thiệu Trị 4 (1844)

  1.  

玉琰村俗例(Tục lệ thôn Ngọc Diễm)

 

Quỳnh Lưu

VHv.2675/1

 

Thành Thái 11

  1.  

英山府清漳縣南金總南金社Xã Nam Kim tổng Nam Kim  huyện Thanh Chương phủ Anh Sơn.

Thanh Chương

VHv.1208

Thành Thái 10 (1898)

  1.  

清章縣各社鄉(土豪)(Hương lệ các xã huyện Thanh Chương, xã Thổ Hào).

Thanh Chương

VHv.2677

 

Tự Đức 23 (1869)

 (sao năm Duy Tân 5(1911))

  1.  

雁塔村口傳( Tục lệ khẩu truyền thôn Nhạn Tháp)

Yên Thành

VHv.2763

Sao năm Duy Tân 5 (1911)

2. Lễ cầu khoa trong tư liệu Tục lệ cổ truyền của Nghệ An:

Về mặt không gian: Qua bảng khảo sát trên có thể thấy lễ cầu khoa được thực hiện hầu khắp các huyện trên địa bàn tỉnh, cụ thể: huyện Chân Lộc (1 thôn , 1 xã), Đông Thành (1 thôn), Hưng Nguyên (9 thôn), Lương Sơn (1 xã), Nghi Lộc (2 thôn, 2 xã), Quỳnh Lưu (5 thôn), Thanh Chương (2 xã), Yên Thành (1 thôn)

Về mặt niên đại: Các văn bản tục lệ có ghi chép về lễ cầu khoa có niên đại lập, niên đại sao tập trung vào triều Nguyễn, thời kì khoa cử Nghệ An có số người đỗ đại khoa đứng đầu 23 tỉnh có số người đỗ đại khoa trong cả nước (91 người) vượt hẳn tỉnh có người đỗ thứ 2 là Thừa Thiên (60 người), Hà Tĩnh (44 người) (4). 23/24 văn bản có niên đại lập hoặc niên đại sao chép, văn bản có niên đại sớm nhất là tục lệ thôn Phú Hậu tổng Phù Long huyện Đông Thành lập năm Gia Long 3 (1804), số văn bản lập vào niên hiệu Tự Đức chiếm số lượng nhiều nhất (10 văn bản), có 04 văn bản được sao lại vào năm Duy Tân 11 (1911), bản có niên đại lập muộn nhất là tục lệ xã Lãng Điền huyện Lương Sơn lập năm Thành Thái 16 (1904).

Thời gian tổ chức lễ cầu khoa: Vào triều Nguyễn khi Gia Long lên ngôi, việc học hành thi cử mất mấy năm mới dần dần khôi phục, năm Đinh Mão Gia Long 6 (1807) mới tổ chức được khoa thi Hương đầu tiên của triều Nguyễn, năm Nhâm Ngọ Minh Mệnh 3 (1822) mới mở khoa thi Hội đầu tiên, cả triều Minh Mệnh, Thiệu Trị 3 năm mới mở một khoa thi Hội vào các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi (5)… vì vậy không phải năm nào cũng có khoa thi và năm nào Nghệ An cũng có người ứng thí. Chỉ vào những năm thôn, xã đó có người dự thi địa phương mới tổ chức lễ cầu khoa: "一士人某有應試者本村定辨芙酒金銀禮敬錢陸貫行祈科 (6) (Học trò có ai đó ứng thí bản thôn biện lễ trầu rượu, tiền vàng 6 quan làm lễ cầu khoa). Thời gian tổ chức lễ này thường được diễn ra trước kỳ thi, khi các sĩ tử nhập trường ứng thí. Thôn Thọ Vinh xã Thọ Mai tổng Hoàng Mai quy định như sau " 科目坦途國家盛典凡鄉试會試届期士子入場應试民村先辨𥸷芙酒行祈禮以重風化,兹約" (7) (Nhất khoản: khoa mục thênh thang, quốc gia hưng thịnh phàm đến kỳ thi Hương thi Hội, sĩ tử nhập trường ứng thí, dân thôn biện gà xôi trầu rượu làm lễ cầu khoa để coi trọng phong hóa. Nay đặt lệ). Thôn Khoa Đà tổng Hải Đô phủ Hưng Nguyên quy định như sau " 一例定村內何年科場士子中核得入應試本村卞禮祈科"( 乂安省興元府海都總科陀村俗例" (Lệ định trong thôn năm nào khoa trường, sĩ tử trúng sát hạch được vào dự thi bản thôn biện lễ cầu khoa) (8) hay " 一約民村遇有科期有人應試者交俊長卞禮祈科 (9) (Điều ước dân thôn gặp khoa kỳ có người ứng thí giao cho Tuấn trưởng biện lễ cầu khoa) . Hội Tư văn thôn Thượng Khê, tổng Hải Đô, Hưng Nguyên; Thôn Đông xã Bùi Khổng, thôn Thượng Khê xã Hương Cái và thôn Phúc Long đều tổ chức lễ cầu khoa trước kỳ thi Hương "一本會例定係屆科鄉前各宜誠心(…)行祈科礼祭悉之後現在飲酒.(Lệ bản hội định hễ đến trước kỳ thi Hương đều nên thành tâm (… ) làm lễ cầu khoa, sau khi tế xong những người có mặt cùng uống rượu). Thường các thôn xã chọn ngày tốt tháng Giêng trước kỳ thi Hương làm lễ cầu khoa như thôn Hạ xã Yên Dũng tổng Yên Trường, xã Nam Kim tổng Nam Kim "一祈科礼係是年鄉科先期酌議錢文約肆拾貫各於是年正月蠲吉日祈科礼" (10) Lễ cầu khoa: hễ năm có khoa thi hương, trước kỳ thi đó bàn bạc tiền văn khoảng 40 quan, chọn ngày tốt trong tháng Giêng hành lễ cầu khoa)

 Địa điểm tổ chức lễ cầu khoa: Văn miếu, văn chỉ là nơi thờ tự Khổng Tử cùng các vị Tiên hiền. Thông thường Văn miếu dùng để chỉ di tích Nho giáo ở cấp phủ trở lên, Văn chỉ dùng để chỉ di tích Nho giáo cấp xã, tuy vậy, trên thực tế tại Nghệ An có những nơi thờ tự Khổng Tử và các vị tiên hiền cấp xã, thôn cũng được gọi là Văn miếu, như trường hợp Văn miếu thôn Viên Sơn xã Quan Trung huyện Đông Thành được dựng tại xứ Đồng Cầu. Là nơi thờ Khổng Tử và các vị tiên hiền, những người khai mở việc học, những người đại biểu ưu tú của văn học (11) vì vậy nơi đây thường được dùng làm nơi thực hiện lễ cầu khoa. Thôn Viên Sơn xã Quan Trung tổng Quan Trung, huyện Đông Thành "一文廟貳座在同求處春秋崇祀祈科是斯文事體" (12) (Văn miếu 2 tòa tại xứ Đồng Cầu, xuân thu kính lễ cầu khoa  là đạo lý của hội Tư văn). Xã Kim Ổ tổng Thượng Xá huyện Nghi Lộc cũng thực hiện lễ cầu khoa ở tại văn chỉ bản xã "一祈科禮係至何年試期本村修辨芙酒就文址壇祈禱以篤文風" (13) (Năm nào có kỳ thi bản thôn biện lễ trầu rượu đến văn chỉ cầu đảo để đốc thúc văn phong"  Hội Tư văn của thôn Quỳnh Đôi cũng tập trung ở văn chỉ của thôn thực hiện lễ cầu khoa trước kỳ thi Hương, thi Hội " 绍治四年正月初六日共議前鄉会祈科已有舊券、兹再凡鄉会祈科本会應就祠宇,敬設祈科拜謁一壇、礼錢十貫上下永為例 (14) (Ngày mồng 6 tháng Giêng năm Thiệu Trị 4 (1844) cùng nhau bàn bạc: trước kỳ thi hương, thi hội có lễ cầu khoa, (điều đó) đã có trong lệ cũ, nay lại bàn thêm phàm lễ cầu khoa của thi Hương, thi Hội bản hội tập trung ở văn chỉ). Ngoài văn miếu, văn chỉ ra một số thôn, xã làm lễ cầu khoa ở đình, đền, võ sở, nơi thường tổ chức các hoạt động tế lễ của địa phương. Thôn Phúc Hậu tổng Phù Long Đông Thành   "一 士 子 入 第 一 場 在 本 村 出 公 錢 六 貫 買 卞 雞 金 銀 香 灯 花 果 設 禮 在 亭 祈 科" (15) (Học trò đi thi nhập trường nhất bản thôn xuất 6 quan tiền công biện lễ xôi gà tiền vàng hương đăng hoa quả đến đình cầu khoa . Thôn Thượng An huyện Quỳnh Lưu "本村祈科在祠宇" (16) (Bản thôn làm lễ cầu khoa tại đền vũ).

Lễ vật trong lễ cầu khoa: Lễ vật trong lễ cầu khoa tùy từng địa phương khác nhau quy định khác nhau, thường là xôi gà, hoa quả, hương đăng, trầu rượu, tiền vàng, có nơi quy định số tiền cụ thể dùng vào việc sắm lễ. Hội Tư văn thôn Phúc Long tổng Hải Đô "  一本會例定係屆科鄉前各宜誠心卞𥸷雞二盘芙酒一盘香灯用足行祈科礼祭悉之後現在飲" (17) (Bản hội định lệ trước kỳ thi Hương đều nên thành tâm biện xôi gà 2 bàn, trầu cau 1 bàn, hương đăng đủ dùng… làm lễ cầu khoa ). Các giáp của thôn Thượng Khê xã Hương Cái tổng Hải Đô quy định cụ thể hơn "一本甲例定係屆科鄉前各宜誠心雞一頭𥸷二斤香二封蠟一包卞𥸷芙酒用足甲內修整衣冠行祈科礼" (18) (Bản giáp lệ định hễ đến trước kỳ thi Hương đều nên thành tâm gà 1 con, xôi 2 cân, hương 2 phong, nến 1 bao, biện xôi, trầu rượu đủ dùng, trong giáp tu chỉnh khăn áo làm lễ cầu khoa). Thôn Phúc Hậu tổng Phù Long quy định dùng 6 quan tiền công để biện lễ cầu khoa, thôn Yên Cư quy định 3 quan "本 村 出 公 錢 每 期 三 貫 交 守 祠 買 卞 禮 物 祈 科" (19) (Bản thôn xuất tiền công  mỗi kỳ 3 quan giao Thủ từ biện lễ vật cầu khoa). Xã Nam Kim, tổng Thổ Hào huyện Thanh Chương chi khoảng 40 quan để biện lễ cầu khoa "係是年鄉科先期酌議錢文約肆拾貫各於是年正月蠲吉日祈科礼" (20) (Hễ là năm có khoa thi Hương, trước kỳ thi bàn bạc tiền văn khoảng 40 quan, ngày tốt tháng Giêng năm đó làm lễ cầu khoa).

 Người tham gia lễ cầu khoa: Tùy từng địa phương người tham gia lễ cầu khoa khác nhau, thôn Quỳnh Đôi huyện Quỳnh Lưu, thôn Phúc Long tổng Hải Đô các viên chức trong hội Tư văn tham gia vào lễ cầu khoa "會內員職各整服衣冠行祈科礼" (21) (viên chức trong hội mũ áo chỉnh tề làm lễ cầu khoa), có nơi giao cho Thủ từ "一 條 議 定 有 士 子 應 試 本 村 出 公 錢 每 期 三 貫 交 守 祠 買 卞 禮 物 祈 科 (22) (Nhất điều bàn bạc có học trò ứng thí bản thôn xuât tiền công mỗi kỳ 3 quan giao thủ từ biện lễ vật cầu khoa), Thôn Thượng Khê tổng Hải Đô do người trong bản giáp thực hiện "甲內修整衣冠行祈科礼"(Trong giáp tu chỉnh áo mũ làm lễ cầu khoa), xã Thổ Hào tổng Thổ Hào huyện Thanh Chương giao cho chính sĩ tử thực biện.

3. Kết luận: Qua tư liệu tục lệ cổ truyền của Nghệ An hiện lưu giữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm chúng ta phần nào thấy được một hoạt động mang tính tâm linh sâu sắc được thực hiện tại các thôn xã trước mỗi kỳ thi, nhằm tạo tâm lý ổn định, giúp sĩ tử yên tâm, tự tin bước vào kỳ thi sau những tháng ngày rùi mài kinh sử.  Ngoài ra, lễ cầu khoa còn thể hiện sự tôn kính, sùng bái văn học, coi trọng phong hóa của các thôn xã nơi đây. Thiết nghĩ đó cũng là nét đẹp trong truyền thống khoa cử cần được phát huy và nhân rộng.

[*] Viện Thông tin KHXH, Thư mục hương ước VN thời kỳ Cận đại,  Hà Nội 1991, tr.1.

[*] Trần Nghĩa chủ biên (2002), Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu, Bổ di I, Q.Hạ, Nxb KHXH, Hà Nội, tr.52-72.

 

[*] Các kí hiệu VHv.1201-1210 đóng chung trong 1 quyển.

[*] Đào Tam Tỉnh (2000), Khoa bảng Nghệ An 1075-1919, Sở VHTT Nghệ An, tr.385

[*] Ngô Đức Thọ chủ biên, Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919), Nxb Văn học, tr,15

[*]雁塔村口傳,VHv.2763, trang 2b.

[*]黃梅總各社村鄉俗,VHv.1824, trang 20b.

[*]  乂安省興元府海都總科陀村俗例, AFb1/7, tr.26a.

[*]乂安省興元府福川 村俗例, AFb1/21,tr4a.

[*] 英山府清漳縣南金總南金社, VHv.1208, tr.3a.

[*] Nguyễn Hữu Mùi (2010) Truyền thống hiếu học và hệ thống Văn miếu  Văn từ Văn chỉ ở Vĩnh Phúc, Sở VHTT và DL Vĩnh Phúc, trang.157,158

[*]员山村券例 VHv.2763, tr.1b

[*]乂安省宜祿縣上舍總金塢村俗例, AFb1/30, tr.7b.

[*]琼堆今事跡鄉編小引,會券. A.3154), tr.28a

[*]  福 厚 村 俗 例, AF.b1/16, tr. 11b.

[*]上安村鄉例, VHv.2675/1, tr.1b.

[*]乂安省興元府海都總福隆村俗例, AFb1/7, tr.9a

[*]乂安省興元府海都總總上溪村俗例AFb1/7, tr.20b.

[*]乂安省興元府扶龍總安居 村俗例, AFb1/16, tr.12b.

[*] 英山府清漳縣南金總南金社, VHv.1208, tr.3a

[*]乂安省興元府海都總福隆村俗例, AFb1/7,tr.9a

[*] 乂安省興元府扶龍總安居 村俗例, AFb1/16,tr,12b

Tài liệu tham khảo:

  1. Đào Tam Tỉnh (2000), Khoa bảng Nghệ An 1075-1919, Sở VHTT Nghệ An.
  2. Ngô Đức Thọ chủ biên, Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919), Nxb Văn học.
  3. Nguyễn Hữu Mùi (2010) Truyền thống hiếu học và hệ thống Văn miếu  Văn từ Văn chỉ ở Vĩnh Phúc, Sở VHTT và DL Vĩnh Phúc
  4. Trần Nghĩa chủ biên (2002), Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu, Bổ di I, Q.Hạ, Nxb KHXH, Hà Nội.
  5. Viện Thông tin KHXH, Thư mục hương ước VN thời kỳ Cận đại,  Hà Nội 1991.
  6. Các văn bản tục lệ bằng chữ Hán tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

[*] Th.s, Viện NC Hán Nôm

 

Thái Huy Bích

I. Truyền thống "tôn sư trọng đạo" ngày xưa

          Xứ Nghệ, nay gồm 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh là vùng đất nổi tiếng về sự chăm học và học giỏi. Vùng đất này xưa kia cằn cỗi, mùa hạ thì gió lào bỏng rát, mùa thu thì nước ngập trắng đồng. Hạn hán, lũ lụt thường xẩy ra khiến đời sống người dân vô cùng gian nan vất vả. Muốn thoát khỏi cảnh lam lũ chỉ còn cách cho con học chữ để thoát ly nghề cày. Ngày xưa cho con học để biết đạo cương thường; nếu đậu đạt làm quan thì "vinh thân phì gia"; nếu không đậu cao làm quan thì cũng biết làm thầy đồ, thầy thuốc, thầy địa lý, thầy cúng,... Ai cũng muốn cho con học hành nhưng hiếm gia đình có điều kiện cho con ăn học. Chỉ khoảng 5% người dân được đi học. Học trò lại phải có chí lớn mới mong thành đạt. Xứ Nghệ nổi tiếng với tinh thần khổ học và học giỏi. Câu đối sau đây toát lên tinh thần ấy:

"Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa

Cha  đỗ,  con  đỗ,  cháu đỗ,  đỗ  cả  nhà"(1)

          Nghề dạy học và người thầy được nhân dân tôn trọng. Người ta quan niệm "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư" (dạy một chữ là thầy, dạy nửa chữ cũng là thầy). Truyền thống "Tôn sư trọng đạo" thể hiện qua mấy câu ca dao sau đây:

"Muốn sang thì bắc cầu kiều

Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy".

"Ăn quả nhớ người trồng cây

Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa".

"Ơn thầy soi lối mở đường

Cho con vững bước dặm trường tương lai".

          Thời xưa, trẻ khoảng 6, 7 tuổi thì cha mẹ chọn thầy để đưa con đến lớp hoặc mời thầy về nhà dạy học. Lễ nhập môn thịnh soạn thì có cỗ xôi gà, đơn giản có be rượu, cơi trầu. Thầy đồ đặt lễ lên bàn thờ cúng các bậc tiên hiền, cầu mong phù hộ cho việc học của con trẻ được hanh thông. Thực hiện phương châm "Tiên học lễ, hậu học văn", vài tháng đầu thầy đồ tập cho trẻ các thói quen tốt như chào hỏi, lễ phép, vệ sinh lớp học,… Học trò được dạy về tuân thủ quyền uy "quân, sư, phụ" (Vua, thầy học rồi mới đến cha). Người ta dạy con bằng ca dao:

"Vua, thầy, cha - ấy ba ngôi

Kính thờ như một, con ơi ghi lòng"

          Học trò vâng lời thầy nhất mực. Hỗn láo với thầy giáo bị cha mẹ mắng và cả làng xã chê cười. Ngày Tết không thể quên chúc tết thầy học. Người ta có lệ "mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy".

          Mỗi khi thầy học qua đời - nhất là những thầy nổi tiếng, học trò dù đã làm quan to vẫn đến viếng thầy. Trong cuốn "Nghệ An đất phát nhân tài"(2), PGS Ninh Viết Giao viết về sự ra đi của hai nhà giáo tiêu biểu "Khi thầy Nguyễn Đức Đạt (quê làng Hoành Sơn, nay thuộc xã Khánh Sơn, Nam Đàn) qua đời, học trò già trẻ, người làm đến thượng thư, tổng đốc; kẻ đỗ tiến sỹ, cử nhân, có người chỉ là anh khóa, anh đồ,… đều đến Hoành Sơn tổ chức lễ an táng cho thầy. Họ quyết định chôn cất thầy trên núi Nam Sơn, dựng bia ghi công đức của thầy ngay giữa đỉnh núi, nơi thầy thường đứng giảng bài, truyền đạo làm người khi còn sống. Đoạn tang họ lập từ đường để thờ thầy tại mảnh vườn nhỏ ở làng Hoành Sơn".

          "Thầy Nguyễn Thức Tự  (quê làng Đông Chữ, nay thuộc Nghi Trường, Nghi Lộc) qua đời. Đưa thầy tới nơi an nghỉ cuối cùng không chỉ có người thân, học trò mà còn có nhiều quan viên chức sắc. Đêm di quan cả làng Đông Chữ sáng như sao sa. Xóm dưới làng trên không ai chợp mắt. Được tin thầy qua đời, từ nước Trung Hoa xa xôi, Nhà yêu nước Phan Bội Châu đã gửi về bài văn điếu, trong đó có câu "Kinh sư dị đắc, nhân sư nan tầm" (thầy dạy kinh điển dễ gặp, thầy dạy làm người khó tìm)"(3).

          Nhờ tinh thần hiếu học, trọng nghề dạy học, tôn kính thầy học, xứ Nghệ sản sinh nhiều nhân tài làm rạng danh đất nước: Trạng nguyên Bạch Liêu, Thám hoa Nguyễn Huy Oánh, Thám hoa Nguyễn Đức Đạt, Thám hoa Nguyễn Văn Giao, Đại thi hào Nguyễn Du, Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, Nhà sử học Phan Huy Chú, Học giả Trần Trọng Kim. Thủ lĩnh khởi nghĩa Phan Đình Phùng, Nhà yêu nước vĩ đại Phan Bội Châu, Tổng Bí thư Trần Phú, Tổng Bí thư Hà Huy Tập, Tổng Bí thư Lê Hồng Phong. Đặc biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh được UNESCO vinh danh là "Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới".

II. Truyền thống "tôn sư trọng đạo" ngày nay

          Ngày nay học không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của công dân. Bác Hồ dạy: "Học để làm việc, làm người, làm cán bộ". Học để làm cho bản thân hạnh phúc, gia đình và xã hội giàu có, văn minh, hạnh phúc. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, thực hiên lời kêu gọi của Bác Hồ, nhân dân ta đã vùng lên, giành thắng lợi thần kỳ trong sự nghiệp "Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm". Truyền thống "tôn sư trọng đạo" được phát huy cao độ. Nước ta từ chỗ 95% người dân mù chữ, đã thanh toán nạn mù chữ trong thời gian ngắn. Từng bước phấn đấu vươn lên theo kịp các nước có trình độ giáo dục tiên tiến thế giới. Học sinh nước ta đạt thứ hạng cao trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế. Du học sinh Việt Nam không thua kém nước nào tại các trường đại học danh tiếng. Số nhà khoa học, doanh nhân thành công tầm cỡ thế giới đang tăng dần hàng năm. Trong đó người xứ Nghệ đóng góp đáng kể. 

          Tình cảm của học sinh ngày nay đối với thầy giáo có sự phân hóa rõ rệt, nhất là khi đất nước bước vào cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Những thầy giáo dạy giỏi, hết lòng vì học sinh thân yêu luôn được các thế hệ học sinh kính trọng và yêu mến. Những thầy giáo có hạn chế về năng lực sư phạm, chưa coi nghề dạy học là nghề chính, chưa tôn trọng học sinh thì bị học sinh và phụ huynh xem thường, thậm chí còn bị xúc phạm.

          Ngày nay nhiều học sinh cũ vẫn luôn giành cho thầy giáo cũ những tình cảm trân trọng và biết ơn chân thành. Có doanh nhân xứ Nghệ  thành đạt tặng thầy giáo cũ thời học đại học một căn hộ chung cư mấy trăm triệu. Nhiều vị lãnh đạo cao cấp vẫn giành thời gian đến bệnh viện thăm thầy giáo cũ. Ngày  9/10/2017 thầy Văn Như Cương (quê xã Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu) - Hiệu trưởng trường THPT Lương Thế Vinh, qua đời ở tuổi 80. Sáng 12/10  hàng vạn người, gồm bạn bè, đồng nghiệp, người thân và rất nhiều thế hệ học sinh tập trung về nhà tang lễ dự lễ tang Thầy. Trước đó 7 tháng, khi biết tin thầy ốm nặng phải nằm viện, 3.000 học sinh toàn trường tập trung lại hát vang bài hát truyền thống Bài ca trường Lương Thế Vinh. Các em gấp hàng ngàn con hạc giấy, như hàng ngàn lời chúc, mong thầy chóng khỏi bệnh. 

          Nhiều địa phương ở Nghệ An những năm gần đây có nhiều hội tự phát, tổ chức những cuộc gặp mặt đồng khóa, đồng môn, đồng trường để giao lưu bạn bè và tri ân thầy giáo cũ, nhất là dịp kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 hàng năm.

          Học sinh ngày nay cũng phân hóa rõ rệt. Đa số các em "tôn sư trọng đạo". Ngày Tết, ngày lễ, nhất là Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11, các em đến chúc mừng thầy cô một cách thành tâm và trân trọng. Chính điều này góp phần động viên các nhà giáo tâm huyết với nghề ra sức khắc phục khó khăn để làm tròn sứ mệnh cao cả "trồng người" cho xã hội.

          Song song với những nét đẹp truyền thống nói trên, không hiếm gặp những trường hợp học sinh bất kính với thầy giáo, ngay cả trong lớp học. Không ít học sinh lười học, được nuông chiều, sống trong nhung lụa, nếu điểm tổng kết thấp hoặc thi trượt đã có người "chạy". Họ đối xử với thầy giáo theo kiểu "cá đối bằng đầu". Cá biệt có em khi bạn rủ đi chúc mừng thầy giáo nhân ngày 20/11 đã trâng tráo nói: "Lão ấy, cha tao đã lo trọn gói rồi!".

Nhiều người băn khoăn "Truyền thống tôn sư trọng đạo có còn không?".

Chúng ta thử tìm câu trả lời nguyên nhân sự xuống cấp đó:

          Trước hết nói về người thầy. Về kiến thức nói chung ngày xưa thầy hơn hẳn học trò về mọi mặt. Về luân lý cũng có sự quy định nghiêm ngặt để tạo khoảng cách an toàn cho thầy. Thầy đánh đau, trò cắn răng mà chịu. Thầy mắng chửi, trò cũng không dám kêu ca. Người thầy sống đạm bạc thanh cao, không màng danh lợi, chuyên tâm đọc sách Thánh hiền để dạy học trò, không làm nghề gì khác.

          Ngày nay, nhất là khi bước vào kinh tế thị trường, những nhà giáo cam chịu sống thanh đạm bằng đồng lương nhà nước để chuyên tâm rèn dũa học sinh, được học sinh hết mực thương yêu kính trọng, không nhiều lắm. Phần đông nhà giáo hòa mình vào sự sôi động của kinh tế thị trường. Họ cũng phải lo cho gia đình: lo chữa bệnh cho cha, mẹ, cũng phải lo việc học hành cho con rất tốn kém. Khi đồng lương không đủ trang trải họ phải làm thêm để có thu nhập. Sự làm thêm này đã khiến một số thầy giáo coi nghề dạy học là nghề phụ. Sự làm thêm muôn hình muôn vẻ này giúp cho nhiều thầy giáo có đời sống sung túc.

          Có một điều đau lòng là nhiều sinh viên Sư phạm mới ra trường muốn được đi dạy phải "chạy việc" khá tốn kém. Khi có việc rồi phải tìm cách làm thêm để trang trải kinh phí đã vay khi "chạy". Khẩu hiệu "tất cả vì học sinh thân yêu" trở nên xa lạ.

          Cơ chế quản lý giáo viên của ta không còn phù hợp. Bất cứ ai đã lọt được vào trường công để dạy học thì khó mà mất việc. Nghề thợ xây nếu làm không tốt, lần sau chủ thầu không thuê nữa, sẽ mất nghề. Vậy mà có giáo viên yếu kém, phụ huynh chê, học sinh chán vẫn dạy học cho đến tuổi nghỉ hưu. Hiệu trưởng trường THPT Dân lập Lương Thế Vinh thì khác. Giáo viên vào trường này không phải "chạy".  Thầy Văn Như Cương kiểm tra tay nghề giáo viên khi xin vào dạy tại trường. Dạy yếu thì dù con lãnh đạo hay con bạn thân cũng không nhận. Vì vậy mà chất lượng dạy và học của nhà trường luôn luôn cao.

          Phương pháp dạy học, chương trình, sách giáo khoa cũng là nguyên nhân làm giảm uy tín người thầy. Phương pháp "thầy đọc trò chép" vẫn còn khá phổ biến. Kiến thức giáo khoa chưa thiết thực. Nhiều môn học không được đưa vào nội dung thi cử, khiến học sinh không thích học. Những thầy dạy môn "phụ" chán nản. Học sinh chán môn học, chán cả thầy. Đã có người so sánh "Nghề giáo ngày nay không được dân kính trọng bằng nghề thầy cúng"(!).

          Thời đại văn minh, học sinh được dạy phát huy dân chủ, sáng tạo. Quan hệ thầy trò vừa tôn kính vừa bình đẳng. Học sinh được quyền góp ý, phê bình nếu thầy làm sai. Điều này là sự tiến bộ xã hội, nhưng nếu phương pháp sư phạm sai thì dễ bị học sinh lợi dụng để xúc phạm thầy giáo.

III. Phát huy truyền thống "tôn sư trọng đạo" trong thời đại 4.0

          Ngành giáo dục nước ta đang thực hiện đổi mới toàn diện, cả chương trình, sách giáo khoa, đào tạo giáo viên và quản lý giáo dục. Một chương trình đào tạo lại "Phương pháp dạy học" cho giáo viên cả nước do Bộ Giáo dục & Đào tạo và Đài truyền hình Việt Nam (THVN) phối hợp đã khởi động hơn một năm nay. Đài THVN đã và đang phát sóng chương trình "Thầy cô chúng ta đã thay đổi" trên kênh VTV7, rất được khán giả hoan nghênh. Mục đích của Chương trình: Phải làm cho các thầy giáo cảm thấy hạnh phúc trong từng giờ lên lớp. Học sinh cảm thấy hạnh phúc trong từng giờ học. Thầy trò gặp nhau là tươi cười. Lớp học trò thành không gian ấm cúng tràn trề năng lượng. Đó là môi trường lý tưởng để thầy hướng dẫn trò sáng tạo, khám phá và tiếp nhận tri thức mới. Người thầy "đã thay đổi", chương trình và sách giáo khoa đã thay đổi. Đường lối của Đảng coi "Giáo dục & Đào tạo" là quốc sách hàng đầu đang thực sự đi vào cuộc sống để đáp ứng nhu cầu cuộc Cách mạng 4.0.

          Cả xã hội chăm lo cho người thầy, từ lương thưởng, bố trí công việc, tôn vinh người giỏi, thay thế người không xứng đáng. Chắc chắn không lâu nữa nước ta nằm trong tốp những nước phát triển giáo dục hàng đầu, nhiều học sinh giỏi chọn ngành Sư phạm. Khi đó truyền thống "tôn sư trọng đạo" sẽ được phát huy, không chỉ bằng mà còn mạnh mẽ hơn cả cha ông ta ngày xưa.

Chú thích

(1) Trích "Câu đối xứ Nghệ", Hội VNDGNA, NXB NA, 2005, tr 18.

(2) Đất phát nhân tài, Ninh Viết Giao, NXB Trẻ, 2006.

(3) Sđd, trang 268,269.

 

Nguyễn Công Lý

          1. Nguyễn Công Trứ (1778-1858), tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, sinh ngày mùng 1 tháng 11 năm Mậu Tuất (tức ngày 19-12-1778) tại quê mẹ ở huyện Quỳnh Côi, Thái Bình và mất ngày 14 tháng 11 năm Mậu Ngọ (tức ngày 07-12-1858) tại quê nhà làng Uy Viễn, nay là xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Thân phụ là Nguyễn Công Tấn, từng làm Tri phủ Tiên Hưng, Thái Bình, được vua Lê chúa Trịnh phong tước Đức Ngạn hầu. Thân mẫu là Nguyễn Thị Phan, con gái quan Quản Nội thị Cảnh Nhạc bá. Thuở nhỏ, ông nổi tiếng hay chữ, giỏi thơ văn, tính tình phóng khoáng, ít chịu ràng buộc trong khuôn phép. Ông sinh ra và lớn lên lúc nhà Lê - Trịnh đến hồi suy vong rồi sụp đổ, tiếp theo nhà Tây Sơn thay thế với ánh hào quang rực rỡ nhưng chóng tàn, rồi nhà Nguyễn thống nhất giang sơn, cũng như nhiều kẻ sĩ khác, Nguyễn Công Trứ lo dùi mài kinh sử và lều chõng đi thi, nhưng khoa cử lận đận. Dưới triều Gia Long, khoa thi Hương năm Quý Dậu (1813), ông chỉ đỗ Sinh đồ. Đến năm Kỷ Mão (1819) khi ở tuổi 42, ông mới đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương tại trường Nghệ(1). Năm 1820, Minh Mệnh nguyên niên, ông mới bắt đầu xuất chính với chức vụ Hành tẩu ở Sử quán(2). Ông làm quan trải qua ba đời vua: Minh Mệnh (1820-1841), Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1847-1883). Trong lịch sử quan chế Việt Nam dưới triều nhà Nguyễn, có thể thấy hoạn lộ của Nguyễn Công Trứ lắm truân chuyên, thăng trầm, lên voi xuống chó, mà hiếm có vị quan nào gặp phải như ông: Từ một viên Hành tẩu Quốc sử quán (1820), ông được triều đình bổ các chức vụ như sau: Biên tu Sử quán (1821); Tri huyện Ðường Hào - Hải Dương (1823); Lang trung Lại bộ (1824); Thự Tư nghiệp Quốc Tử Giám (1824); Thiêm sự Hình bộ (1824)(3); Phủ Thừa phủ Thừa Thiên (1825); Tham hiệp Thanh Hoa (1825). Sau khi hết hạn nghỉ cư tang mẹ, ông trở lại triều, được gia hàm Thị lang Hình bộ (1826), quyền Hình tào Bắc thành (1826), Tham tán quân vụ (1826) hưởng bổng Tòng tam phẩm; rồi thăng Tả Thị lang Hình bộ (1826), thăng Hữu Thị lang Lễ bộ (1826) sung chức Toản tu Sử quán, biên soạn "Bách ty chức chế' (1826). Được thăng Tả Thị lang Hình bộ (1827); Thự Hữu Tham tri Hình bộ (1828), sung chức Dinh điền sứ (1828) lập huyện Tiền Hải (1828), lập huyện Kim Sơn (1829). Năm 1829 bị giáng một cấp lưu do không tra xét ra vụ người Thanh buôn gạo lậu. Năm 1830 triệu về Kinh lĩnh chức Thự Hữu Tham tri, quyền giữ ấn triện Hình bộ. Năm 1831, bị giáng làm Tri huyện Kinh vì tội lạm quyền. Viên Ngoại lang Nội Vụ phủ (1832) rồi thăng Thự Lang trung giữ ấn quan phòng Nội Vụ phủ (1832), Thự Bố chánh Hải Dương (1832), rồi Tuần phủ Hải Dương, kiêm giữ ấn quan phòng Tổng đốc Hải An (1832), cùng năm thăng Thự Tham tri Binh bộ vẫn kiêm chức cũ. Năm 1832 được khôi phục 2 cấp đã bị giáng; thăng Tham tri Binh bộ vẫn giữ ấn quan phòng Tổng đốc Hải An (1834), rồi bị giáng 3 cấp vì sai phạm việc binh nhung. Sau đó được khôi phục một cấp, lĩnh chức Tham tán đạo Thái Nguyên (1834), Tham tán quân vụ Tuyên Quang (1834). Năm 1835 được khôi phục những cấp đã bị giáng, phục hồi áo mũ và lương bổng trước dây nhờ tiêu diệt giặc Nông Văn Vân, thăng Binh bộ Thượng thư kiêm Tổng đốc Hải An, cùng năm này bị giáng 4 cấp vì để sổng tù. Các năm 1836 và 1837, ông được thăng một cấp quân công và kỷ lục nhờ đào xong sông Cửu An, hoàn thành trị thủy vùng Hưng Yên, Hải Dương. Năm 1838 bị giáng 2 cấp vì đánh dẹp ở Quảng Yên không hiệu quả. Năm 1839 bị giáng làm Hữu Tham tri bộ Binh, kiêm Tả Phó Đô Ngự sử Đô Sát viện. Năm 1840 bị giáng một cấp vì bênh vực Tuần phủ Quảng Ngãi là Vương Hữu Quang, nhưng sau đó được gia quân công 3 cấp vì lập công. Cùng năm này được điều làm Chánh Chủ khảo trường thi Hà Nội, thăng Thự Tả Ðô Ngự sử Đô sát viện, kiêm Hữu Tham tri Binh bộ, kiêm Tán lý cơ vụ đồn trấn Tây (tức đất Cao Miên do nhà Nguyễn bảo hộ, 1840). Năm Tân Sửu (1841), ông bị vua Thiệu Trị định tội "trảm giam hậu", "cách hết quan tước, lại sai ông cùng Phạm Văn Điển đi ngay quân thứ Lạc Hóa để hội đánh giặc" (các chức: Tả Ðô Ngự sử Đô sát viện, Hữu Tham tri Binh bộ), giáng làm Lang trung Binh bộ, quyền lĩnh Tuần phủ An Giang; sau nhờ dẹp được loạn Lâm Sâm ở Sâm Đô, nên ông được phục chức Thị lang Binh bộ, vẫn quyền Tuần phủ An Giang. Năm 1842 bị giáng một cấp vì việc quân, cùng năm xin nghỉ vì bệnh. Năm 1843, giữ Tham tri Binh bộ, lĩnh Tuần phủ An Giang. Năm Giáp Thìn (1844), ông bị vu cáo(4), bị triều đình phát đi làm binh biền (lính thú) ở miền ven biên giới Quảng Ngãi, lúc ấy đã 66 tuổi. Sau đó năm 1845 được xóa án, bổ làm Chủ sự Hình bộ, quyền Viên Ngoại lang Đại Lý tự (1845). Năm 1846 giữ Thự Án sát Quảng Ngãi mới hai tháng được điều về làm Phủ Thừa phủ Thừa Thiên (1846); Thự Phủ doãn phủ Thừa Thiên (1847), Chủ khảo Trường thi Nam Định (1847), trong năm này, ông xin nghỉ hưu nhưng vua Thiệu Trị không cho. Năm 1848 dưới triều Tự Đức, ông lại xin nghỉ hưu, được vua gia ân thực thụ Phủ doãn, hàm Thượng thư trí sĩ. Năm 1849 vua ban 80 quan tiền, ông về nghỉ ở chùa Cảm Sơn, Thạch Hà, Hà Tĩnh. Năm 1852, ông bị vu cáo có mưu đồ khởi loạn nhưng được giải oan. Năm 1858, Pháp tấn công Đà Nẵng, ông dâng sớ xin đi đánh giặc, nhưng vua không chuẩn y vì ông đã già yếu. Ngày 14 tháng 11 năm Mậu Ngọ (18-12-1858), ông tạ thế tại quê nhà ở Uy Viễn, Nghi Xuân, Hà Tĩnh, hưởng thọ 81 tuổi mụ. 

          Có thể thấy, trong hoạn lộ, ông được thăng thưởng nhiều lần nhờ những thành tích, chiến công trong quân sự và kinh tế, có khi lên tới chức Thượng thư, Tổng đốc; nhưng cũng nhiều lần bị giáng phạt, nhiều lần giáng liền ba bốn cấp, có khi bị cách hết, cho làm lính thú. Trong lịch sử quan chế ở nước ta, chưa có vị quan nào mà làm nhiều chức vụ ở nhiều lĩnh vực khác nhau như Nguyễn Công Trứ: quân đội, kinh tế, hành chính, giáo dục… nói chung là ông đảm nhận cả bên Văn và bên Võ, mà bên nào ông cũng hoàn thành xuất sắc công việc được giao. Trong Bài ca ngất ngưởng, ông đã tổng kết cuộc đời mình:

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Lúc bình Tây, cờ đại tướng,

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.

Trong một bài thơ khác, ông viết:

Xuống ngựa, lên xe, nọ tưởng phàm,

Lợm mùi giáng chức với thăng quan.

          Nhận xét về ông, sách Đại Nam chính biên liệt truyện, tập 3, mục viết về Truyện các quan có ghi:

          "Công Trứ là người trác lạc, có tài khí, có tài làm văn, càng giỏi về quốc âm, làm ra thi ca rất nhiều, khí hào mại, phổ đầy ở trong âm luật; đến nay hãy còn truyền tụng. Trứ làm quan thường bị bãi cách rồi được cất nhắc lên ngay; tỏ sức ở chiến trường nhiều lần lập được công chiến trận. Buổi đầu Trứ lĩnh chức doanh điền, sửa sang mới có trong một năm mà các việc đều có đầu mối, mở mang ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn. Khi tuổi già về nghỉ, tức thì bỏ qua việc đời, chơi thú sơn thuỷ, trải sơn 10 năm có cái hứng thú phớt thoảng ra ngoài sự vật. Đến người ta, phần nhiều tưởng đến phong độ khí thái của ông. Sau khi Trứ mất, các huyện ấp do ông lập ra đều đựng đền để thờ"(5).

          2. Nguyễn Công Trứ là người đa tài, văn võ song toàn. Ông không chỉ giỏi về văn chương, mà còn giỏi về quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục. Nhìn lại những chức vụ được triều đình bổ dụng và ông đã kinh qua cũng đủ để chứng minh điều này. Trong mấy mươi năm làm quan, dù ở cương vị và lĩnh vực nào, Nguyễn Công Trứ cũng đều có những đóng góp cho dân cho nước và khi hành xử công việc, ông bao giờ cũng đều có quan điểm tư tưởng riêng. Đặc biệt, ông có quan điểm rất quyết liệt về việc chống tham nhũng, chống hối lộ, chống gian lận và coi trọng việc tố giác trong dân. Qua khảo sát những tấu sớ được ông dâng lên vua Minh Mệnh và Thiệu Trị mà bộ Đại Nam thực lục chính biên của Quốc Sử quán triều Nguyễn có ghi lại, mới thấy ông là một vị quan thanh liêm và trung thực, thương dân, luôn nghĩ đến dân nghèo, chăm lo đời sống nhân dân sao cho được cơm no áo ấm, vì thế ông khuyến khích việc khai khẩn đất hoang cho dân có ruộng để cày cấy sinh sống; coi trọng việc tố giác của dân, bởi ông không chịu được những tệ nạn như tham nhũng, ức hiếp của bọn quan lại biến chất, tha hóa cùng thói hối lộ, gian lận của bọn cường hào dựa thế hợm hĩnh.

          Đại Nam thực lục chính biên là bộ biên niên sử triều Nguyễn, gồm 587 quyển, được biên soạn bởi tập thể các Sử quan trong nhiều giai đoạn của Quốc sử quán triều Nguyễn, phần chính biên ghi chép các sự kiện lịch sử từ khi Nguyễn Ánh làm chúa (1778) đến đời Đồng Khánh (1887), sau này được viết thêm (phần phụ biên) đến đời Khải Định (1925). Bản Việt dịch do Tổ phiên dịch Viện Sử học thực hiện, được công bố lần đầu từ 1962 đến 1978; Nxb Giáo dục tái bản năm 2002-2007, gồm 10 tập. Nhà nghiên cứu Đinh Văn Niêm dựa vào bộ chính sử này để khảo cứu về Nguyễn Công Trứ với thống kê gồm 261 sự kiện ghi chép có liên quan đến Nguyễn Công Trứ (so với trước đây Mai Khắc Ứng trong Tư liệu về Nguyễn Công Trứ, Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tĩnh xuất bản 2001, ghi 200 sự kiện; Trần Nho Thìn trong Nguyễn Công Trứ về tác gia tác phẩm Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003, đưa ra 40 sự kiện).

          Về tấu sớ, không kể năm 1803 khi còn là một thư sinh, ông đã dâng lên vua Gia Long bản Thái bình thập sách khi nhà vua ra Bắc(6), có nghỉ lại tại hành cung Nghệ An, thì từ năm Bính Tuất (1826), Minh Mệnh thứ bảy đến năm Quý Mão (1843), Thiệu Trị thứ ba, Nguyễn Công Trứ có 96 lần dâng tấu sớ lên nhà vua. Trong đó có 38 lần vua chuẩn y cho làm; 33 lần vua dụ cho bàn thêm, động viên khích lệ để làm; 20 lần vua giao cho các Bộ liên quan xét bàn; 05 lần vua không cho làm(7). Ở đây chỉ thuật lại và bàn những nội dung chính có liên quan đến đề tài này, cụ thể như sau: 

          - Mậu Tý (1828), Minh Mệnh năm thứ 9, tháng 3, lấy Tả Thị lang Hình bộ là Nguyễn Công Trứ lĩnh chức Dinh điền sứ. Nguyên trước đó, ông dâng sớ nói ba việc:

          1. Lập phép nghiêm cấm để trừ dứt trộm cướp:"Bắc Thành sau loạn Tây Sơn, tập tục kiêu ngoa, những bọn gian giảo, thấy lợi quên nghĩa, bắt cóc người, đào mồ mả để đòi tiền chuộc, tụ tập đổ đảng dọa nạt dân làng, tù trốn thì lấy nhà cường hào làm sào huyệt, tổng lý cũng lấy kẻ hung ác làm chân tay, để xưng hùng với nhau. Phàm gọi là làm loạn, không phải đánh thành, cướp đất mới là làm loạn; người không ở yên thuận lẽ cũng là loạn. Ngạn ngữ nói: "Loạn thì chém", không dùng phép nặng không ngăn được loạn. Xin đặt thêm Hương trưởng mỗi làng 2 người để coi sóc nhân dân, khiến họ yên nghiệp làm ăn, ai du đãng trộm cướp thì báo quan ngay, nếu dung túng chứa chấp, việc phát giác thì Tổng trưởng, Hương trưởng, Xã trưởng đều phải chém cả. Phàm cha anh không ngăn cấm được con em thì cho tự thú cáo trước, nếu giấu giếm đến lúc phát giác thì đồng tội. Như thế thì không ai dám phạm, mà trộm cướp yên tất được".

          2. Minh việc thưởng phạt để khuyến khích quan lại: "Nay lại dịch tham ô thường làm hại cho dân là bởi chưa có cách khuyên răn. Xin phàm các địa phương, nên thải bỏ những người hèn kém bớt đi một nửa, và cho thêm lương để giữ thanh liêm, định lệ 3 năm xét một lần, ai liêm cần thì được cất nhắc, ai khinh nhờn pháp luật thì không cứ việc lớn hay nhỏ, tang nhiều hay ít, đều trị tội cả, khiến ai ai cũng biết giữ mình. Như thế thì tham sẽ biến thành liêm cả". 

          3. Vỡ ruộng hoang cho dân nghèo: "Đời làm ăn xưa chia ruộng định của, dân có nghiệp thường cho nên ở yên nơi làng mạc không có gian tà. Ngày nay những dân nghèo túng, ăn dưng chơi không, khi cùng thì họp nhau trộm cướp, cái tệ không ngăn cấm được. Trước thần đến Nam Định thấy ruộng bỏ hoang ở các huyện Giao Thủy, Chân Định mênh mông bát ngát. Ngoài ra còn không biết mấy nghìn trăm mẫu, hỏi ra thì dân địa phương muốn khai khẩn, nhưng phí tổn nhiều, không đủ sức làm. Nếu cấp cho tiền công thì nhóm họp dân nghèo mà khai khẩn, nhà nước phí tổn không mấy, mà mối lợi tự nhiên sẽ đến vô cùng. Vả lại bãi Tiên Châu ở huyện Chân Định hoang rậm, bọn trộm cướp thường tụ tập ở đây làm sào huyệt, nay khai phá ra, không những có thể cho dân nghèo làm ăn, lại còn dứt được đảng ác. Xin sai trấn thần khám xét, phàm những đất hoang có thể khai khẩn được, cho những địa phương giàu có chia nhau trông coi cùng làm, mộ những dân nghèo các hạt đến khai khẩn, như mộ được 50 người thì lập một làng, cho làm Lý trưởng, mộ được 30 người thì lập một ấp, cho làm Ấp trưởng, đều tính đất chia cho. Cấp cho tiền công để làm cửa nhà, mua trâu bò nông cụ, lại lượng cấp tiền gạo lương tháng trong hạn 6 tháng, ngoài hạn ấy thì tự làm lấy mà ăn, 3 năm thành ruộng, đến chiếu lệ tư điền mà đánh thuế. Quan phủ huyện sở tại lập kho chứa thóc để phòng năm mất mùa cho dân vay. Những làng ấp mới lập ra gọi là "Quân lực bản". Phàm các hạt xét thấy những dân du đãng không bấu víu vào đâu, đều đưa cả về đây. Như thế thì đất không bỏ hoang, dân đều làm ruộng, phong tục kiêu bạc lại thành thuần hậu"(8).

          Khi đình thần nghị bàn, còn phân vân về việc thu nạp bọn du đãng, thì Nguyễn Công Trứ đã có ý kiến phân tích thêm nhằm để thuyết phục nhà vua và triều thần:

          "Binh dân Bắc Thành trước vì giặc bắt hiếp đi theo có đến hàng nghìn, sợ trốn biệt không có đường về, không khỏi đi theo những tướng giặc còn trốn. Xin phàm kẻ nào hối quá hoàn lương, thì cho đến sở Dinh điền thú tội, theo sức mà cấp ruộng cho làm. Những chỗ ruộng đất rải rác có thể lập thành làng trại, đủ cho 15 người ở trở lên thì xin lập làm một trại, 18 người trở lên thì lập làm một giáp, đều đặt tên Trại trưởng, Giáp trưởng trông coi, thế thì đất sẽ không có chỗ bỏ không". Vua đều y cho(9). 

          Sau khi đình thần nghị bàn xong, vua Minh Mệnh đã chuẩn y cho thực hiện 3 việc này và lấy Nguyễn Công Trứ kiêm lĩnh chức Dinh điền sứ.

          - Mậu Tý (1828), Minh Mệnh năm thứ 9, tháng 9, Lĩnh Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ dâng sớ xin trừ cái tệ cường hào. Lời tấu sớ như sau:

          "Từ lúc Hoàng thượng ta lên ngôi đến giờ, yên nuôi dân chúng, ơn đức khắp tràn, nhưng mà thiên hạ vẫn chưa được đội ơn thái bình hết. Từ trước đến nay, những người bàn việc đều đổ lỗi cho quan lại mà không biết phần nhiều là tại hào cường. Cái hại quan lại là một, hai phần mười; cái hại cường hào đến tám, chín phần mười, bởi vì quan lại là chẳng qua kiếm lợi nhỏ ở giấy tờ, đòi tiền ngoài lệ ở thuế khóa, cái hại gần và nhỏ, việc đã phát lộ thì giáng cách ngay, rồi cũng biết hối. Còn cái hại hào cường, nó làm con người ta thành mồ côi, vợ người ta thành góa bụa, giết cả tính mạng của người ta, hết cả gia tài của người ta, mà việc không lộ, cho nên cứ công nhiên không kiêng sợ gì. Chỗ nào chúng cũng cùng nhau anh chị, chuyên lợi làm giàu, dối cợt quan lại, để thỏa lòng riêng. Có công điền công thổ thì chúng thường bày việc thuê mướn làm béo mình, những dân nghèo cùng không kêu vào đâu được. Giáo hóa không thấm xuống dưới, đức trạch không đến khắp nơi, chưa hẳn là không bởi đó. Thậm chí còn ẩn lậu dinh điền, ruộng đến nghìn mẫu không nộp thuế, chỉ đầy túi của hào cường, đinh đến trăm suất không đăng sổ, chỉ phục dịch riêng cho hào cường. Nay xin trích lấy một vài người đưa ra pháp luật và bãi lệ thuê mướn ruộng đất công"(10).

          Vua giao sớ xuống cho đình thần nghị bàn. Các triều thần đều thống nhất rằng:

"Cái tích tệ của hào cường trăm khóe gian dối, trị tội để răn không có gì không nên. Duy ruộng đất công lệ được thuê mướn là để giúp việc khẩn cấp cho dân, mà chỉ dùng về việc công, định hạn chỉ ba năm. Lúc mới dựng nước đặt ra lệ ấy, thông biến để tiện cho dân đủ làm phép thường, mà bọn hào cường chuyên lợi riêng cho mình là tệ do người chứ không phải do pháp luật không tốt. Huống chi Bắc Thành to rộng như thế, sao lại không có một vài người bầy thiếu. Nếu cấm chỉ hẳn việc thuê mướn ruộng đất công, thì người giàu xoay xở chẳng khó gì, mà người nghèo thì chẳng khỏi lúng túng, thực sự muốn cứu tệ mà làm quá đáng. Nay xin theo lệ cũ mà làm, mà nêu rõ điều cấm để trừ cái tệ gian dối lăng nhăng thì cũng được rồi". Vua nghe theo lời bàn của triều thần. Lại vì việc dinh điền là việc mới bắt đầu làm, cho Nguyễn Công Trứ vẫn ở lại làm việc, đợi đến cuối năm về Kinh phục mệnh(11). 

          Một lời tấu trình trung thực và mang tính thân dân, thể hiện trách nhiệm của một vị quan hết lòng lo cho dân nước với quyết tâm bài trừ cái tệ nạn cường hào áp bức. Đáng tiếc là, triều thần và nhà vua chỉ đồng thuận theo một phần nội dung của bản tấu, nhưng như thế cũng đã là tốt rồi. Qua lời tấu trên, Nguyễn Công Trứ đã bắn một mũi tên mà trúng được hai đích: trọng tâm chủ yếu là bài trừ cái tệ cường hào áp bức hà hiếp dân đen; nhưng bên cạnh, đây còn là lời cảnh báo, ngăn ngừa cái nạn quan lại tham nhũng, bòn rút và ăn đút lót của dân.

          Nhân bàn về việc trừ nạn cường hào, thì cũng trong năm này, tháng 10, bắt đầu đặt huyện Tiền Hải, thuộc phủ Kiến Xương, Nam Định, với một dải Tiên Châu liên tiếp bãi biển. Vùng đất này trước kia cây cỏ rậm rạp, bọn cướp hay tụ họp. Với nhiệm vụ Dinh điền sứ, Nguyễn Công Trứ bên cạnh khẩn hoang lập ra huyện Kim Sơn, Ninh Bình, thì ông còn khẩn hoang lập ra huyện Tiền Hải cùng một số làng xã ven biển khác nữa. Riêng ở Tiền Hải, Nguyễn Công Trứ đã cho đo đạc ruộng đất hoang mới khai phá cấp cho dân nghèo, lập thành 14 lý, 27 ấp, 20 trại, 10 giáp. Số đinh được hơn 2.350 người, số ruộng được hơn 18.960 mẫu (lý 600 mẫu, ấp 400 mẫu, trại 200 mẫu, giáp 120 mẫu. Cứ 100 mẫu, trừ đình chùa, thổ trạch, đất mạ, đất già 30 mẫu, còn thành điền là 70 mẫu. Trong số 15 mẫu thì định làm nhất đẳng 01 mẫu, nhị đẳng 02 mẫu, tam đằng 12 mẫu). Trên cơ sở đó, đặt thành 7 tổng, tâu xin lập riêng một huyện, gọi là huyện Tiền Hải, xin triều đình bổ chức quan Tri huyện để trị nhậm.

          Sau đó, ông còn tâu lên vua rằng: "Dân còn hơn 1000 người xin lĩnh ruộng hoang để khai khẩn. Trộm thấy ở các huyện Yên Khánh, Yên Mô thuộc Ninh Bình, cùng chỗ đối ngạn với huyện Nam Châu thuộc Nam Định, một dãi bãi biển còn nhiếu đất hoang rậm, đất cấy lúa được chẳng kém gì Tiền Hải. Xin đến đo đạc để lập thành ấp, lý". Vua y lời tâu. Khi ông cùng với các đạo thần hội làm, ông thấy nhiều lại dịch thông đồng cùng bọn cường hào gian giấu, ông bèn tâu lên vua xin được đưa ra xử trí. Phàm ruộng đất lậu đều được đem ra đo đạc lại hết. Vua y lời tâu và dụ rằng: "Cái thói điêu gian vẫn là đáng ghét. Nhưng lập pháp nên làm thế nào để tốt về sau, không nên hà khắc tỉ mỉ. Cần xem trong đó mà châm chước, khiến kẻ điêu gian sợ phép mà đổi mới, dân nghèo được nhờ lợi, mới hợp với đại thể của triều đình"(12).   

          Bàn về việc chống tham nhũng, năm Kỷ Sửu (1829), Minh Mệnh thứ 10, tháng 4, ông dâng sớ nói về việc dân huyện Giao Thủy, Nam Định đem bạc đút lót để cầu lợi. Lời tấu sớ như sau:

          "Trước ở Nam Định lượng đo số ruộng bỏ không ở các xã huyện Giao Thủy mà chia lập làng ấp. Có dân xã Liêu Đông là Phạm Nguyên Trung đem 70 lạng bạc nhờ người theo hầu là Lê Đình Thọ kêu xin; lại có dân xã An Đạo là Ngô Huy Phác đem 90 lạng bạc đến nơi ngụ sở kêu xin, đã đem người và tang vật đến Nam Định giam giữ để đợi án"(13).  

Bản sớ được triều đình giao cho quan Bắc Thành tra bàn. Các quan cho rằng:

          "Công Trứ phụng mệnh đi dinh điền, có trách nhiệm vỗ về khuyên bảo. Nếu biết tự mình trong sạch mà giữ công bằng lấy uy tín dạy người thì ai còn dám tư túi. Bọn Phạm Nguyên Trung kia đem của đi van, ấy là dân hèn dùng kế trốn tránh; Lê Đình Thọ nhận lời người nhờ cậy, chẳng qua là một người thuộc tòng, sao nên quá trách. Về phần Công Trứ thì nên tự xét và bảo cự tuyệt đi mà răn là phải. Nay lại bắt số bạc tang mà bày tỏ ở chương sớ, làm rác tai vua, thế là tự trị không nghiêm mà lại khép người vào pháp luật để cầu mua tiếng ngay thẳng cho mình đều là những việc không nên làm của người quân tử. Xin giáng ba cấp đổi nơi khác. Còn bọn Phạm Nguyên Trung thì phạt xuy, trượng rồi tha"(14).

          Rất may là nhà vua tỉnh táo và khách quan, nên không nghe theo lời bàn của các quan ở Bắc Thành tâu trình. Lời phán bảo của nhà vua đã chứng tỏ Minh Mệnh là vị vua anh minh, suy nghĩ và giải quyết công việc thấu tình đạt lý, biết dùng người đúng chỗ. Chính vua Minh Mệnh đã bảo với bầy tôi rằng:

          "Xét án thì phải tình lý thích đáng mới có thể phục được người. Nguyễn Công Trứ trù biện việc dinh điền, quả thật giữ được trong sạch và công bằng thì cũng chỉ ở chỗ hết lòng mình thôi. Còn như Phạm Nguyên Trung và Lê Đình Thọ manh tâm trong tối, cầu cạnh, xin xỏ, thì làm sao biết được mà ngăn ngừa. Bọn Nguyên Trung là đáng tội mà lại bảo không nên quá trách, sao thấy lý mờ tối thế? Và trong án xét không có sự trạng rõ ràng sách nhiễu lấy tiền, thế là Công Trứ trị tội không phải không nghiêm. Duy nhận hối lộ có bạc tang ở đó mà người nhận, chúc thác lại là người nhà, nếu chỉ cự tuyệt và răn như lời thành thần nói, thì người nhà sách nhiễu mà bản quan tự tha, như thế có được không? Công Trứ không dám ẩn giấu, rõ ràng tâu lên, mà lại cho là làm nhàm tai là thế nào? Huống chi bọn Nguyên Trung tự phạm pháp luật chứ ai đặt vào? Công Trứ đi theo đường thẳng sao lại cho là mua tiếng ngay thẳng. Đó chẳng qua là ý kiến sai lầm cho nên bất giác đã bàn quá đáng. Vậy truyền chỉ nghiêm trách thành thần mà Công Trứ thì miễn nghị"(15).         

          Điều cần bàn ở đây là bọn quan lại có tham nhũng, có chịu nhận của đút lót thì mới có người cầu cạnh, nhờ vả và đem vàng bạc đến để đút lót, hối lộ quan lại. Bọn lại dịch dưới quyền của Nguyễn Công Trứ đã làm bậy, ông cũng không vì tình thân mà buông tha, trái lại tấu trình lên vua để trị tội cho nghiêm phép nước. Còn các quan ở Bắc Thành có lẽ vì lý do riêng nào đó, có thể là các vị ấy vốn đã không ưa tính cương trực của ông nên nhân việc này, tâu về triều để tìm cách hạ bệ ông, qua lời đề nghị "giáng ba cấp và đổi đi nơi khác". Thế mới biết chốn quan trường có nhiều hiểm hóc, và lòng người thì quanh co như ruột ốc, khúc khuỷu như trái hòe!

          - Nhâm Thìn (1832), Minh Mệnh năm thứ 13, tháng 11, với tư cách là Thự Tổng đốc Hải An, Nguyễn Công Trứ đã dâng sớ nói về thói hư lậu của giản binh Bắc Thành như sau:

          "Từ trước đến nay, nguyên toàn hạt Bắc Thành hạng giản binh quen thói hư lậu, có khi 5 năm một lần, có khi 3 năm hay 1 năm một lần đổi mà trong đó phần nhiều lại thuê mướn người thay trong vòng một năm, thay đổi chia phiên ở hàng ngũ không được mấy ngày mới thuộc hết tiết mục chiêng trống, lại đổi một lũ buôn đay, bán rau dền, động có việc điều khiển, thì những phép tiến lùi, đi đứng, đâm đánh đều lờ mờ cả, nên thường đến nỗi hỏng việc! Ngô Tử có nói: "Sở dĩ bị thua vì ở chỗ bất tiện, chính là thế". Vậy xin từ nay, phàm những người dân đi lính, nếu muốn đưa người thay thế thì chọn con nhà gia đình, giàu mạnh sức lực, tuổi đến 50 mới được thải về. Nếu còn theo thói thuê mướn như cũ, có tên không thực, hoặc làm khoán ước riêng, tự ý thay đổi cho nhau thì Lý trưởng, hương mục đương thứ đều phải tội nặng. Người lính xin vào khoán ước tự tiện bỏ về sẽ bị xử tội theo luật đào ngũ"(16).

          Lời tâu trên của Nguyễn Công Trứ rất có cơ sở khoa học và đầy kinh nghiệm thực tế về việc quân cơ. Lính tráng là phải khỏe mạnh và cần tập luyện thường xuyên để rành rọt và thông thạo các thao tác và kỹ thuật chiến đấu. Thuê người đi thay thế nhiệm vụ được giao là một tệ nạn, cần nghiêm xử phạt thật nặng. Chính vì thế mà nhà vua dụ với bộ Binh rằng "Lời tâu của Công Trứ rất phải", rồi ra lệnh "Truyền chỉ cho Tổng đốc và Tuần phủ các tỉnh ra cáo thị cho quân và dân trong hạt từ nay nên sửa bỏ nết xấu, nếu không chừa sẽ nghiêm trị"(17).     

          - Quý Tỵ (1833), Minh Mệnh năm thứ 14, tháng Giêng, Thự Tổng đốc Hải An là Nguyễn Công Trứ dâng sớ tâu về việc nên coi trọng việc tố giác trong dân như sau:

          "Kẻ đứng nguyên đơn tố giác về việc lậu đinh ít có xác thực, còn những dân bị tố có khi vì thế mà sợ hãi trốn tránh, dần dần trở thành dân xiêu dạt. Nay gần đến kỳ tuyển lính, xin thông sức khẩn các hạt: ai có muốn tố giác việc lậu đinh thì cho đưa đơn trong hạn tuyển lính tra xét; nếu tuyển xong mới tố cáo thì không xét nữa và chiếu luật trái lệnh trị tội(18).  

          Lời tâu trình của Nguyễn Công Trứ được nhà vua nghe theo. Vua giao cho bộ Hộ bàn và thi hành. Vua dụ rằng: "Cái tội lậu đinh, trong luật đã nói rõ. Trước giờ chưa từng cấm người tố giác bao giờ. Duy lũ côn đồ hư hỏng, trả thù, báo oán, thường lấy sự đó để de dọa làng xóm, cho nên ít được thực mà phần nhiều là vu. Văn án hãy còn nhan nhản ra đó. Thói ấy thật đáng ghét! Nay các tỉnh Bắc kỳ đương kỳ tuyển lính, nên truyền cho các Tổng đốc, Tuần phủ: sức khắp hạt mình, làng nào có ẩn lậu, cho cứ thực bày tỏ; rồi Tổng đốc và Tuần phủ hội đồng với các quan khám mạng tuyển lính làm việc tra xét, hễ kẻ nào tố cáo không thực thì kết tội nặng hơn. Nếu kỳ tuyển duyệt đã xong, trong số lính, số ngạch đã ổn định, nội một năm không được khiếu nại nữa, để lũ điêu ngoa không còn chỗ khua múa, mà dân ta mới được sống yên"(18).

          3. Trên đây là trình bày một số nội dung tấu sớ của Nguyễn Công Trứ về những vấn đề về chống tham nhũng, chống hối lộ, chống gian lận và coi trọng việc tố giác trong dân. Bên cạnh những vấn đề vừa nêu, trong suốt mấy mươi năm làm quan, qua nhiều bản tấu sớ, Nguyễn Công Trứ còn trình bày nhiều vấn đề khác nữa, chẳng hạn như bàn về quy ước lập trường học, đặt xã thương, siêng dạy bảo (tháng 3 năm 1829); đo đạc lại ruộng đất (tháng 5-1829); tình hình biên chế quân đội (tháng 5-1833); mộ binh khai khẩn ruộng hoang ở Minh Liên, Nghi Dương (tháng 8-1835); tình hình Nam kỳ và trấn Tây Thành (tháng 12-1840); v.v...

          Các ý kiến của Nguyễn Công Trứ được trình bày trong các tấu sớ, dù được nhà vua phê chuẩn hay không phê chuẩn nhưng tất cả đều xuất phát từ thực tế cuộc sống, chúng gắn rất chặt và rất sát với tình hình thực tế cuộc sống mà Nguyễn Công Trứ đã từng trải qua. Với những ý kiến đề nghị được nhà vua phê chuẩn cho thi hành thì ông càng có nhiều điều kiện để thực thi hơn. Chẳng hạn như việc khẩn hoang với tư cách là Dinh điền sứ, ông đã lập ra hai huyện Kim Sơn ở Ninh Bình và Tiền Hải ở Thái bình, cùng một số làng xã ven biển khác. Đây là việc làm rất có ý nghĩa và rất có giá trị nhân văn, bởi xuất phát từ tấm lòng yêu nước thương dân, lo cho dân của nhà nho hành động Nguyễn Công Trứ. Và đây cũng là một biểu hiện của sự nghiệp "lập thân kiến quốc' mà từ lúc còn hàn vi cho đến cuối đời, ông luôn tâm niệm và phấn đấu thực hiện đến cùng.

          Những vấn đề mà Nguyễn Công Trứ đã tấu trình lên nhà vua khi xưa, đến nay, chúng vẫn còn là bài học nóng hổi mang tính thời sự trong cuộc sống xã hội đương thời. Vì thế, những thông điệp mà Nguyễn Công Trứ nêu ra cách đây hơn một thế kỷ rưỡi, đến nay vẫn còn có giá trị và có ý nghĩa sâu sắc.

 

 

Chú thích

1. Năm Đinh Mão (1807), ông dự khoa thi Hương đầu tiên dưới triều Gia Long nhưng bị trượt; năm Quý Dậu (1813) đi thi Hương lần hai, đậu Sinh đồ; năm Kỷ Mão (1819) đi thi Hương lần ba đậu Giải nguyên, kỳ thi năm đó lấy đỗ 30 Hương cống; Trường Nghệ An đỗ 14 người (Đại Nam thực lục chính biên, tập 1, bd của Viện Sử học, Nxb GD tái bản, tr.985).

2. Canh Thìn (1820), Minh Mệnh năm thứ nhất, tháng 5, triệu các Hương cống khoa Kỷ Mão về kinh, phái làm Hành tẩu ở sáu bộ để học tập chính sự, cấp lương tháng cho mỗi người tiến 2 quan, gạo 2 phương (Đại Nam thực lục chính biên, tập 2, bd của Viện Sử học, Nxb GD tái bản, tr. 61).

3. Giáp Thân (1824), Minh Mệnh năm thứ 5, tháng 5 lấy Lang trung Lại bộ Nguyễn Công Trứ cùng Lang trung Lễ bộ Thân Văn Quyên làm Thự Tư nghiệp Quốc Tử Giám (Đại Nam thực lục chính biên, tập 2, bd của Viện Sử học, Nxb GD tái bản, tr.356).

4. Giáp Thân (1824), Minh Mệnh năm thứ 5, tháng 10, lấy Thự Tư nghiệp Quốc Tử Giám Nguyễn Công Trứ làm Thiêm sự Hình bộ (Đại Nam thực lục chính biên, tập 2, bd của Viện Sử học, Nxb GD tái bản, tr.383).

5. Đại Nam liệt truyện có ghi: "Năm thứ 4, Trứ bị tội, phải phát đi làm binh ở miền ven biên giới Quảng Ngãi". Tra cứu sử sách, biết rằng khi ông về kinh đô làm Tham tri bộ Binh (năm Quý Mão 1843), "nhưng bị vu cáo, cách hết chức tước, phải làm lính thú lên trấn ở biên thùy Quảng Ngãi". Xem trong Đại Nam thực lục chính biên và Đại Nam liệt truyện, thì biết rằng, người ấy là Hùng Dũng tướng Nguyễn Công Nhàn. Vì Công Nhàn không ưa Nguyễn Công Trứ, nên mới xảy ra việc Công Nhàn "vu tấu Công Trứ phái riêng người đi đặt phá mua sừng tê và đậu khấu các hạng". Bởi thế, Nguyễn Công Trứ bị triều đình nghị tội cách tuột hết chức tước. Sau đó, vua Thiệu Trị đã sai Tham tri Trần Ngọc Dao đi điều tra cho rõ ngọn ngành, thì mới phát hiện ra sự thực Nguyễn Công Nhàn vu khống, thế là "Án xử Công Nhàn phải tội phạt trượng đem đi lưu", nhưng vì Công Nhàn có công, nên chỉ cách chức, cho theo dưới trướng Tôn Thất Bật chỉ huy. Còn với Nguyễn Công Trứ thì năm sau đó, ông được khôi phục lại chức tước, xóa án vu cáo kia đi.

6. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện, tập 3, mục: Truyện các quan, bản dịch, In trong Tuyển tập Cao Xuân Dục, tập 5, Nxb văn học, Hà Nội, 2005.

7. Quý Hợi, Gia Long năm thứ hai, 1803. Tháng 3, Gia Long ra Bắc Hà nhận lễ tấn phong của nhà Thanh, ngày Bính Tuất, trú tại hành cung Nghệ An. Người ở huyện Nghi Xuân là Nguyễn Công Trứ dâng điều trần mười việc. Vua sai Lại bộ duyệt kỹ để tâu. Lúc này Nguyễn Công Trứ đã 26 tuổi (Đại Nam thực lục chính biên, tập 1, bd của Viện Sử học, Nxb GD tái bản, tr.570; Đoàn Tử Huyến chủ biên, Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử, Nxb Nghệ An và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2008, tr.306).

8. Theo thống kê trong: Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử, Đoàn Tử Huyến chủ biên, Nxb Nghệ An và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2008, tr.236.

9. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 2, bd của Viện Sử học, Nxb GD tái bản, tr.719-721. Trích in lại trong Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử, Đoàn Tử Huyến chủ biên, Nxb Nghệ An và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2008, tr.311-312.

10. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 2, bd của Viện Sử học, Nxb GD tái bản, tr.721.

 11. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 2, bd của Viện Sử học, Nxb GD tái bản, tr.766

12. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 2, bd của Viện Sử học, Nxb GD tái bản, tr.767.

13. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 2, bd của Viện Sử học, Nxb GD tái bản, tr.778-779.

14. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 2, bd của Viện Sử học, Nxb GD tái bản, tr.853.

15. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 2, bd của Viện Sử học, Nxb GD tái bản, tr.853.

16. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 2, bd của Viện Sử học, Nxb GD tái bản, tr.854.

 17. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 3, bd của Viện Sử học, Nxb GD tái bản, tr.418.

18. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 3, bd của Viện Sử học, Nxb GD tái bản, tr.418.

19. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 3, bd của Viện Sử học, Nxb GD tái bản, tr.464.

Tài liệu tham khảo

1. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 1, bd của Viện Sử học, Nxb GD, Hà Nội, tái bản, 2002.

2. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 2, bd của Viện Sử học, Nxb GD, Hà Nội, tái bản, 2002.

3. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 3, bd của Viện Sử học, Nxb GD, Hà Nội, tái bản, 2002.

4. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện, tập 3, bản dịch, In trong Tuyển tập Cao Xuân Dục, tập 5, Nxb văn học, Hà Nội, 2005.

5. Đoàn Tử Huyến (chủ biên), Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử, Nxb Nghệ An và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2008.

 

Trần Ngưỡng

          Các triều đại phong kiến nước ta từ Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn... đã kế tiếp nhau trị vì đất nước; trong đó có nhiều triều đại đã làm rạng rỡ dân tộc Nam Việt như đánh đuổi giặc ngoại xâm giành độc lập dân tộc, giữ vững biên thùy, mở mang bờ cõi, xây dựng đất nước phát triển về kinh tế xã hội, chăm lo đời sống nhân dân... Trong các triều đại đó có nhiều ông vua đã có những việc làm rất thực tiễn, độc đáo mà muôn đời sau con cháu phải ngẫm nghĩ, luận bàn.

Vua thân chinh đi cày ruộng tịch điền

          Đây là một hành động thiết thực để làm gương và động viên khích lệ muôn dân tích cực, hăng say sản xuất nông nghiệp làm ra nhiều lúa, ngô, khoai để ấm no, hạnh phúc. Khi vua Lý Nhân Tông có ý định đi cày ruộng tịch điền, các quan tả hữu can rằng: Đó là việc của nông phu, Bệ hạ cần gì phải làm thế. Vua trả lời rằng: Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lại lấy gì cho thiên hạ noi theo. Người có sáng kiến tổ chức lễ cày ruộng tịch điền là vua Lê Đại Hành. Tiếp đến triều Lý đã tổ chức long trọng như những ngày hội chính của triều vua. Đến triều Trần do gặp nạn giặc Nguyên nên việc cày ruộng tịch điền không mấy quan trọng. Tuy nhiên khi có điều kiện nhà vua vẫn đích thân đi cày. Đến nhà Nguyễn, vua Gia Long lại tổ chức lễ cày ruộng tịch điền; đặc biệt vua Minh Mạng đã khôi phục lễ cày ruộng tịch điền như một đại lễ quan trọng. Đại lễ cày ruộng tịch điền kéo dài 5 ngày vào tháng 5 Âm lịch (mùa hạ). Đến đời vua Tự Đức thì được điều chỉnh bớt cho hợp lý.

          - Ông vua mở đầu cho cày ruộng tịch điền là vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn). Vào mùa xuân năm Đinh Hợi (Thiên Phúc) năm thứ 8 (987), vua lần đầu đi cày ruộng tịch điền ở núi Đọi (làng Đọi Sơn, xã Đại Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Nam Hà). Khi vua đang cày thì được một hũ vàng. Khi cày ở vùng Bàu Hải thì được một hũ nhỏ bằng bạc. Nhân đó vua đặt tên ruộng là Kim Ngân.

          - Nhâm Thân (Thiên Thành) năm thứ 5 (1032), mùa hạ tháng 4, ngày 1, vua Lý Thái Tông ngự đến Tín Hương ở Đỗ Động giang cày ruộng tịch điền. Có một nhà nông dâng một cây lúa có 9 bông thóc. Vua xuống chiếu đổi tên ruộng gọi là Ứng Thiên. Mậu Dần (Thông Thụy) năm thứ 5 (1038), mùa xuân tháng 2, vua Lý Thái Tông ngự ra cửa Bố Hải cày ruộng tịch điền. Lần thứ 3: Nhâm Ngọ, năm thứ 4 (1042), mùa xuân tháng 3, vua Lý Thái Tông ngự ra cửa biển Kha Lãm cày ruộng tịch điền. Như vậy là cả cuộc đời ở ngôi vua 27 năm, Lý Thái Tông đã 3 lần đi cày ruộng tịch điền. Ông được Sử thần Ngô Sỹ Liên đánh giá là: Vua người nhân tính, thông tuệ, có đại lược văn võ, lục nghệ, không nghề gì không tinh tường.

          - Mậu Thìn (Đại Đinh) năm thứ 9 (1148) Đại Định, mùa xuân tháng 2, vua Lý Anh Tông ngự đến hành cung Ly Nhân cày ruộng tịch điền.

          - Qúy Tỵ, Hồng Đức, năm thứ 4 (1473), tháng Giêng vua Lê Thánh Tông thân hành cày ruộng tịch điền và đốc suất các quan cùng cày.

          - Kỷ Mùi, Cảnh Thông, năm thứ 2 (1499), mùa xuân vua Lê Hiến Tông cày ruộng tịch điền.

          - Canh Tuất, năm Tự Đức thứ 3 (1850), mùa hạ, tháng 6 ngày Bính Thìn, vua đi cày ruộng tịch điền. Ba năm sau, Qúy Sửu năm Tự Đức thứ 6 (1853), vua đi cày tịch điền. Lần thứ 3, Tân Dậu, năm Tự Đức thứ 14(1861), vua đi cày ruộng tịch điền. Tự Đức là ông vua thứ hai 3 lần thân chinh đi cày ruộng tịch điền.

          Việc vua cày ruộng tịch điền cũng có một chuyện khá hy hữu. Giáp Tuất (Hồng Thuận) năm thứ 6 (1514), mùa xuân, tháng 2 vua Lê Tương Dực đi cày ruộng tịch điền. Có phải vì không phải là ông vua  minh, nên bị quần thần chơi khăm, hay do sơ suất mà trong khi vua đang cày thì cày bị gãy.

Ngoài ra có một số ông vua đi xem nông dân cày ruộng và gặt lúa.

          - Đinh Dậu (Hội Tường Đại Khánh năm thứ 8 (1117), tháng 3, ngày Bính Thìn vua Lý Nhân Tông đến hành cung Ứng Phong, Nam Định xem cày ruộng công. Giáp Thìn (Thiên Phú Duệ Vũ) năm thứ 5 (1124), mùa xuân, tháng Giêng vua Lý Nhân Tông ngự đến hành cung Ứng Phong xem nông dân cày ruộng. Năm Ất Tỵ (Thiên Phú Duệ vũ) năm thứ 6 (1125) vua Lý Nhân Tông ngự đến hành cung Ứng Phong xem nông dân gặt lúa. Đinh Mùi (Thiên Phú Khánh Thọ) năm thứ 1 (1127), mùa hạ tháng 4, vua Lý Nhân Tông ngự đến hành cung Ứng Phong xem nông dân gặt lúa.

          - Đinh Tỵ (Thiên Chương Bảo Tự) năm thứ 5 (1137), mùa đông tháng 10, ngày Nhâm Ngọ vua Lý Thần Tông ngự đến hành cung Lý Nhân xem nông dân gặt lúa.     

          - Bính Thìn, Đại Khánh năm thứ 3 (1316), tháng 11, vua Trần Minh Tông sai tể thần, tôn thất và các quan gặt ruộng tịch đền.

Cầu người nói thẳng, cầu hiền tài

          Đây là một động thái về mặt tư tưởng, tuy không trực tiếp làm ra của cải vật chất, nhưng nó vô cùng hệ trọng. Khi chọn được người nói thẳng tức là trung thần và khi có nhiều trung thần thì triều đình sáng suốt, vững vàng. Ngược lại dùng người tham lam, xu nịnh, dối trá thì sẽ làm cho triều đình u tối, nghiêng ngả rồi sẽ dẫn đến diệt vong. Tục ngữ có câu: "Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng". Biết thế nhưng trong cuộc sống của mỗi con người mấy ai thích nghe người nói thẳng, chỉ ra những mặt kém, hạn chế của mình. Mà thích người khác khen mình giỏi giang, tốt đẹp, có nhiều công lao... Những ông vua được coi là thiên tử (con trời) trị vì thiên hạ lại càng thích bọn nịnh thần xum xoe, tâng bốc lên tận chín tầng mây. Có được những ông vua cầu người nói thẳng thì thật hồng phúc cho triều đình và muôn dân. Lịch sử cũng đã nêu những tấm gương của nhiều trung thần dũng cảm nói lên sự thật rồi cuối cùng phải liên lụy vào thân. Có người chán nản bỏ về quê như Chu Văn An, người bị đẩy đi biên cương xa xôi, người bị cách tuột chức, người thì bị tù tội, thậm chí có người bị tội chết rất thảm thương. Truyện kể rằng: Dưới triều đại vua Trần Dụ Tông, Quốc tử giám Tư nghiệp Chu Văn An, người huyện Thanh Đàm (Thanh Trì, Hà Nội ngày nay), dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần đều là những kẻ quyền thế được vua yêu. Người bấy giờ gọi là "Thất trảm sớ". Sớ dâng lên nhưng không được trả lời, ông liền treo mũ về quê. Ông thích núi Chí Linh bèn lên ở đấy và vui với nghề gõ đầu trẻ. Chu Văn An thực sự là một kẻ sỹ, một trung thần cương nghị thẳng thắn, sửa mình trong sạch, bền giữ tiết tháo, không cầu lợi lộc. Và qua đó cũng là dấu hiệu suy yếu của nhà Trần để rồi bị Hồ Quí Ly tiếm ngôi báu. Người nói thẳng, khảng khái và lẫm liệt nhất có thể là Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng. Trần Bình Trọng không phải nói thẳng với vua mà thét mặt quân giặc. Khi bị giặc Nguyên bắt, chúng dụ dỗ ông qui hàng và nói: "Có muốn làm vương đất Bắc không?". Ông thét to "Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc...", rồi bị giặc giết.

          - Bính Thìn (Thái Ninh), năm thứ 5 (1076), vua Lý Nhân Tông xuống chiếu cầu lời nói thẳng.

          - Nhâm Tuất (Quang Thái) năm thứ 5 (1392), vua Trần Thuận Tông, xuống chiếu cầu người nói thẳng.

          - Năm 1405, Khai Đại năm thứ 3, tháng 6, vua Hồ Hán Thương có lệnh cầu người nói thẳng.

          Tân Mão, năm (Vĩnh Thịnh) thứ 7 (1711), vua Lê Dụ Tông và chúa Trịnh Cương trưng cầu lời bàn nói thẳng. Lời bàn của đề hình Nguyễn Công Hãn, Biên tu Nguyễn Công Triều đều thiết thực ngay thẳng; những lời trình bày của Cấp sự Hồ Phi Tích, Thị lang Nguyễn Công Đổng có lý lẽ rành mạch, bèn thưởng bạc và vải.

          Ngoài ra vua Lê Thái tổ có ba lệnh về tuyển người tài:

          - Đầu năm Đinh Mùi (1427) hạ lệnh cho các tướng hiệu, các quan cấp lộ tìm hỏi những người có tài lược, trí dũng làm nổi các chức quan trọng như Tư Mã, Thượng tướng, mỗi viên tiến cử lấy một người. Cuối năm Đinh Mùi (1427) hạ lệnh cho các lộ tiến cử những người hiền tài, chính trực, trí dũng anh kiệt cho gọi tới trả lời câu hỏi, rồi cất nhắc sử dụng. Ai che dấu thì bị xử tội truất giáng. Năm Kỷ Dậu, Thuận Thiên, năm thứ 2 (1429), mùa đông tháng 10 ngày 1, vua hạ lệnh cho các đại thần văn võ, công hầu, đại phu từ Tam phẩm trở lên phải tiến cử người tài. Tờ chiếu viết: Trẫm nghĩ, muốn thịnh trị phải được người hiền tài, muốn được người hiền tài phải do tiến cử. Cho nên người đứng đầu thiên hạ phải lo việc ấy trước tiên. Đồng thời nêu rõ: Nếu tiến cử được người có tài bậc trung thì được tăng tước hai bậc. Nếu tiến cử được người tài đức ưu tú, vượt hẳn người thì nhất định được trọng thưởng.

          Cũng có những việc làm tương tự như trên, trong thời đại mới, ta được thấy hình ảnh thật đẹp và thân thương khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm đồng, cầm trên tay từng gié lúa để xem, rồi cùng tát nước gầu giai, gầu sòng chống hạn với nhân dân. Phát huy truyền thống tổ tiên, mùa xuân năm 2009 Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và mùa xuân năm 2000 là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã xắn quần đi cày ruộng tịch điền, để động viên toàn dân thi đua sản xuất.

          Việc sưu tầm các ông vua ngày xưa cày ruộng tịch điền và cầu người nói thẳng... có thể chưa đầy đủ được. Nhưng qua các tư liệu đã nêu thì cũng có thể nói rằng những việc làm ý nghĩa trên mãi mãi là tiếng thơm trong dòng chảy lịch sử dân tộc ta.

 

 

Thạch Quỳ

          Phong tục "câu đối đỏ" và cành đào đón tết đã có từ xa xưa, từ thời Ngũ Đại.  Ngày nay, việc đón tết mừng xuân bằng "câu đối đỏ" chừng như có vẻ đã  thưa dần nhưng cành đào thì vẫn không thể thiếu.

          Có bao giờ bạn tự hỏi: Vì sao lại cành đào? Vì sao lại "câu đối đỏ"? Mà không là một loài hoa khác, một màu sắc khác?

          Mở từ điển Wikipedia của Google ra để tìm lời giải cho câu hỏi này, ta sẽ gặp câu trả lời sau đây: "Theo quan niệm của người xưa, đào có quyền lực trừ ma quỷ và những điều xấu xa. Màu đỏ chứa đựng sinh khí mạnh. Màu đào đỏ thắm là lời cầu nguyện và chúc phúc đầu xuân. Chuyện kể rằng, ngày xưa, ở phía Đông núi Sóc Sơn, có một cây đào mọc đã lâu đời, cành lá sum suê, to lớn khác thường, bóng râm che phủ cả một vùng. Có hai vị thần tên là Trà và Uất Lũy trú ngụ ở trên cây hoa đào khổng lồ này, tỏa rộng uy quyền của mình để che chở cho dân chúng khắp vùng. Quỷ dữ hay ma quái nào bén mảng lui tới ắt khó mà tránh khỏi sự trừng phạt của hai vị thần linh. Ma quỷ rất khiếp sợ uy vũ sấm sét của hai vị thần, do đó mà cũng sợ luôn cả cây đào, hoa đào. Chỉ cần trông thấy cây đào, cành đào hay hoa đào là chúng đã cao chạy xa bay. Đến ngày cuối năm, cũng như các thần khác, hai vị thần Trà và Uất Lũy phải lên Thiên đình chầu Ngọc Hoàng.

          Trong mấy ngày tết, hai vị thần vắng mặt ở trần gian, ma quỷ hoành hành, tác oai tác quái. Để ma quỷ khỏi quấy phá, dân chúng đã đi chặt cành đào về cắm ở trong nhà, ai không tìm được cành đào thì lấy giấy hồng điều vẽ hình hai vị thần linh dán ở cột trước nhà để xua đuổi ma quỷ.

          Từ đó, hàng năm, cứ mỗi dịp tết đến, mỗi nhà đều sắm một cành đào đem về cắm ở trong nhà để trừ ma diệt quỷ và đón mừng xuân mới"!

          Câu trả lời về vấn đề này của Google đã nói đúng bản chất và mục đích của việc cắm cành đào và treo "câu đối đỏ" trong ngày tết là để diệt trừ ma quỷ. Tuy nhiên, lời giải đáp đó vẫn đang ở dạng chung chung, đại khái, chưa thật cụ thể.

          Chẳng hạn, hai vị thần Trà và Uất Lũy là hai vị thần nào? Hai vị thần đó từ đâu mà ra? Khái niệm về hai từ "ma quỷ" mà hai vị thần Trà và Uất Lũy phải tìm diệt ấy có nội dung như thế nào ? v.v…

Thật ra, việc cắm cành đào và treo "câu đối đỏ" trong ngày tết có gốc nguồn từ truyền thuyết Chung Quỳ trừ tà xuất hiện từ thời Đường và xa hơn nữa,  từ vu thuật "tiến dạ hồ" trừ tà của cư dân Bách Việt trồng lúa nước phương Nam.

          Theo sách "Mộng khê bút đàm" (khoảng 1031-1095), thời Bắc Tống, vị thần trừ tà tên là Chung Quỳ đã xuất hiện như thế này: "Vua Đường Minh Hoàng do bị bệnh Điểm (bệnh sốt rét), trong suốt cả tháng, thầy thuốc đã dùng hết khả năng vẫn không chữa được bệnh khỏi nên trong lòng nhà vua rất buồn bực. Vào một đêm trằn trọc mãi không ngủ được, vừa chợp mắt thì vua mơ thấy hai con quỷ, một con to, một con bé. Con quỷ bé mình mặc áo đỏ, một chân đi giày, một chân đi đất, tay xách một chiếc giày và một chiếc quạt bằng tre. Con quỷ to mặc áo xanh, quấn khăn, lộ một cánh tay, hai chân dậm đất. Con quỷ to đuổi bắt con quỷ nhỏ, xé xác, moi mắt con quỷ nhỏ ra để ăn thịt. Nhà vua hỏi con quỷ to: Ngươi là ai? Con quỷ đáp: Thần là Chung Quỳ, dũng sĩ vô địch. Thần xuống đây để giúp bệ hạ trừ khử bọn yêu nghiệt trong thiên hạ. Tỉnh dậy, nhà vua bèn gọi Ngô Đạo Tử vào, kể lại giấc mộng và nói: "Khanh hãy theo những đặc điểm vừa được nghe trẫm kể, vẽ lại một bức tranh xem sao". Đạo Tử phụng mệnh quay về phòng mình cầm bút vẽ ngay, chẳng mấy chốc vẽ xong, mang vào trình vua. Vua nói: "Không lẽ khanh cũng có giấc mộng giống trẫm? Sao vẽ giống y như trong mộng của trẫm vậy"? Đạo Tử đáp: "Do bệ hạ ăn không ngon, ngủ không yên, chỉ nghĩ đến việc trừ họa cho dân nên cả trong lúc ngủ cũng đang nghĩ cách, vì thế mới mộng được rõ ràng như vậy! Quả thực là phải có cảnh tượng này được bệ hạ mô tả lại thì thần mới vẽ được"! Nhà vua phá lên cười, thưởng cho Đạo Tử trăm lạng vàng, đồng thời ra lệnh từ nay về sau ai có công trừ yêu diệt quỷ sẽ được thưởng hậu và nhà vua ra lệnh, từ đây, cứ vào đêm cuối năm hàng năm phải tổ chức lễ trừ tà, xua đi tà khí yêu ma để đón mừng năm mới. Cũng từ đây, trong dân gian đã hình thành nên tục lệ treo bức tranh vẽ hình thần Chung Quỳ trừ tà của Ngô Đạo Tử vào dịp cuối năm, nhất là sau ngày 23 tháng chạp, lúc ông Công, ông Táo trở lại thiên đình.

          Tuy nhiên, các bạn sẽ hỏi, câu chuyện vị thần Chung Quỳ trừ tà vào dịp cuối năm thì liên quan gì đến việc cắm cành đào và treo câu đối đỏ?

          Theo sách "Đông sơn vân đạo trung nhân biên" thì lai lịch vị thần Chung Quỳ này như sau: "Chung Quỳ vốn là một người thông minh, tài giỏi, quê ở núi Chung Nam, vào kinh đi thi, đỗ trạng nguyên, nhưng diện mạo rất xấu xí, vua không công nhận, đuổi về. Chung Quỳ tức giận, đập đầu tự sát. Sau khi chết thì bay lên trời để tâu với Ngọc Đế về nỗi oan ức của mình. Ngọc Đế phong anh ta là Tướng quân nắm giữ quyền cai quản yêu quái ở trần gian, dùng phép "âm phù",  giúp Bao Công trừ gian, diệt quái. Từ khi Chung Quỳ thâu nhận được phép "âm phù" diệt quái của Ngọc Đế, bọn yêu quái thấy hình bóng Chung Quỳ hoặc nghe đến tên Chung Quỳ là chúng khiếp đảm không dám quấy phá trên trần gian nữa. Chung Quỳ quê ở núi Chung Nam mà núi Chung Nam thì mọc đầy những cây hoa đào cổ thụ. Chung Quỳ vẫn thường đi về qua núi Chung Nam, hình bóng Chung Quỳ luôn ẩn hiện trên những cây hoa đào cổ thụ đó. Bọn yêu quái sợ thần Chung Quỳ đến mức hễ trông thấy cây đào, cành đào, gỗ đào, dù là đào ở núi Chung Nam hay đào bất kỳ nơi đâu chúng đều run sợ và tìm cách lẩn trốn. Từ đó về sau, dân gian lấy gỗ đào để làm các loại bùa yểm quỷ".

          Sách "Tống Sư", tác giả Ngũ Thế Gia viết: "Hậu chủ nước Thục đời Ngũ Đại ra lệnh cho các học sĩ làm bùa yểm. Nguyễn Nhật làm lá bài hộ chủ, gỗ đó là chất liệu lấy từ cây đào trong núi, quỷ trông thấy phải khiếp, chính thứ này làm thành những lá bùa ngày nay, do bùa làm từ chất liệu gỗ đào nên chỉ gọi là treo bùa yểm, chứ không gọi là "dán bùa". Lá bùa gỗ này được sử dụng tận tới sau thời Ngũ Đại mới đổi thành chất liệu giấy, đây cũng chính là khởi điểm cho việc dán câu đối. Câu đối có nguồn gốc từ việc treo tranh Chung Quỳ để đuổi quỷ rồi đến việc chạm khắc bùa yểm lên gỗ đào để treo hai bên cánh cửa, sau thời Ngũ Đại thì đổi từ gỗ sang giấy".

          Như vậy, chúng ta đã biết, ma quỷ sợ gỗ đào là xuất phát từ việc thờ thần Chung Quỳ. Nguồn gốc ra đời của câu đối cũng xuất phát từ việc treo tranh Chung Quỳ trừ tà, làm bùa yểm, khắc chữ lên gỗ đào để treo cửa, sau đó mới chuyển thành việc viết chữ lên giấy.

 Còn việc ma quỷ sợ màu đỏ (câu đối đỏ) là xuất phát từ đâu?

 Đây là một quan niệm về phong tục có nguồn gốc từ Phật giáo.

           Sách "Đà la ni tập kinh" viết về cách đặt tượng Tỳ Lỗ Bác Thiên Vương như sau: "Tượng Thiên Vương quần áo xếp bồng về phía trước, tay trái hơi nhấc lên, bàn tay phải nắm lại, tay phải cầm sợi dây đỏ, bởi cầm sợi dây đỏ thì ma quỷ rất sợ". Quan niệm phong tục này xuất phát từ Phật giáo rồi ảnh hưởng vào Đông Á và Đông Nam Á. Sách "Hậu Hán thư lễ nghi chí" viết: "Lấy sợi dây đỏ bện lại với đồ cúng, bện chỉ ngũ sắc làm trang sức treo ở cửa ngõ để ngăn tà khí xấu". "Thời Đông Hán thường lấy sợi giây đỏ treo trước cửa ngõ, dây màu đỏ có tác dụng trói ma quỷ, vì vậy quỷ trông thấy mà khiếp đảm".  "Bùa yểm, nếu không yểm chu sa thì trước cửa phải treo dây đỏ, ma quỷ sợ màu đỏ, nhất là sợi dây màu đỏ". Từ đó, phong tục treo câu đối, ngoài nội dung mừng xuân đón tết thì nhất nhất câu đối phải là "câu đối đỏ" vì màu đỏ là màu có thể yểm trừ ma quỷ, theo quan niệm của Phật giáo.

          Tuy vậy, phong tục cắm cành đào, treo câu đối đỏ không phải chỉ đến từ quan niệm cung đình phong kiến vua quan, hay từ ảnh hưởng các quan niệm Phật giáo mà phong tục ấy còn xuất phát từ quan niệm dân gian, biểu hiện ở các trò chơi, các sinh hoạt văn hóa, sinh hoạt lễ hội.

          Chúng ta hãy quan sát vu thuật "Đả dã hồ" của cư dân Bách Việt trồng lúa nước - Một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng đã có từ thời xa xưa.

"Đả dã hồ" là gì?

          Chữ "Hồ" ở đây là "Hồ li tinh", tức là con cáo đã biến thành tinh. "Đả dã hồ", có nghĩa là "đánh đuổi con cáo đã biến thành tinh", một trò chơi dân gian có mục đích trừ ma, diệt quỷ.

          Hàng năm, cứ đến tháng chạp, nhất là sau 23 tháng chạp, ông Công, ông Táo đã về trời, sợ ma quỷ hoành hành gây nhiễu loạn, cư dân Bách Việt thường  tụ tập lại với nhau, đóng vai thần Chung Quỳ, vai đeo đao kiếm làm từ gỗ cây đào, tay cầm các bó chỉ ngũ sắc, đi đến từng nhà để trừ ma diệt quỷ.

          Những người làm vu thuật "đả dã hồ" cũng gắn bùa phép lên cành đào và dán câu đối đỏ lên cánh cửa hoặc lên bàn thờ của gia chủ để trừ tà.

          Ta hãy nghe bài hát chính thức mà cư dân Bách Việt thường hát trong vu thuật "Đả dã hồ":

Gió mưa không thuận hòa, ma quỷ nổi lên

Giải nghiệp còn nặng nghiệp, trừ quỷ sao cho tan

Phía Đông có một quỷ, không cho nhìn mặt trời mọc

Phía Nam có một quỷ hai mắt đỏ như lửa

Phía Tây có một quỷ làm cho mùa thu tàn

Phía Bắc có một quỷ, toàn thân đen như than

Tứ phía đều có quỷ, diệt hết không để sót

Cần treo bùa yểm, không cần đến thuốc thang

Cung đao trái phải vung lên, đuốc tung hoành rực cháy

Theo lệnh ta cùng đuổi tà, hòa với từng bản nhạc

Năm năm trừ đuổi tà, chẳng ác mộng yêu ma

Nước vạn cỗ xe, thành trì trống trải

Người vật trà trộn, quỷ thần lung tung

Là thiện là yêu, là đẹp là ác?

Cử chỉ khác biệt, dung mạo phân loạn

Kẻ tính đồ gàn, nước mắt lưng tròng

Kẻ thân nghèo hèn, bôn ba lặn lội

Những kẻ bần nông, lăn lộn xa xôi

Những kẻ gian thương mắt sáng vì tiền

Những kẻ ốm yếu, gầy xơ gầy xác

Những kẻ thợ nghề chết không nhắm mắt

Những kẻ nô tỳ chết vẫn không yên

Những kẻ tăng ni vật lộn cầu sinh

Những kẻ trộm cướp ra luồn vào lách

Những kẻ làm loạn chân có đầu không

Kẻ bị rắn cắn mồm miệng kêu than

Kẻ bị trúng tên, tinh thần suy sụp

Trăm nghìn kẻ khác, nhất hô trăm ứng…

          Bài hát trừ tà này đã nói rõ từng nỗi khổ ải do "ma quỷ" đưa lại, từ trong đời sống và cả trong tâm tư tình cảm của những người dân bị áp bức.

          Bất cứ là ai, bất cứ là gì, nếu đưa lại cho người dân những nỗi khổ mà bài hát đã kể ra đó đều bị người dân xem là tà ma yêu quái, người dân cần xúm nhau lại đê "đả dã hồ", tức là cùng xúm nhau diệt trừ yêu quái.

          Trong vu thuật dân gian múa kiếm "đả dã hồ" của cư dân Bách Việt  từ thời xa xưa đã có việc buộc chỉ ngũ sắc, dán câu đối, cắm cành đào vào tiết tháng Chạp, sau ngày ông Công ông Táo về trời để trừ tà, tống khứ các rủi ro năm cũ để đón chào một năm mới tốt đẹp hơn.

          Nói phong tục cắm cành đào, treo câu đối đỏ để đón mừng xuân Tết ở Đông Á và Đông Nam Á đã có từ thời xa xưa chính là như vậy!

 

Thanh Kim Trà

          Từ xa xưa con người đã biết hái lượm và săn bắt, rồi tiến tới biết trồng trọt và thuần hóa thú rừng để chăn nuôi. Trong những con vật ấy, phải kể đến con lợn, con gà, con chó v.v… Cho đến nay, hầu như gia đình nông dân nào cũng có nuôi một vài con lợn. Chính vì vậy lợn đã sớm đi vào ca dao, thành ngữ, tục ngữ.

          Khắp các làng quê Việt Nam hầu như nhà nào cũng nuôi lợn để bán cho thương buôn, nuôi để lấy thịt và để cúng tế. Lợn ở Việt Nam được nuôi rất nhiều loại tùy từng vùng miền khác nhau. Người miền Bắc gọi là lợn, với người Nam gọi là heo. Ngoài ra, tiếng Việt còn có nhiều từ để gọi các loại lợn (heo) khác nhau như: Heo nái (lợn cái nuôi để sản xuất lợn con); lợn sề (lợn nái già); heo nọc (heo đực dùng để truyền giống); lợn bột, heo sữa (lợn con đang bú mẹ); lợn hạch (lợn đực đã thiến); lợn ỷ (một giống lợn của Việt Nam, có mõm ngắn, lưng võng và bụng sệ với lớp da màu đen hay xám); lợn lang (lợn lông đốm đen- trắng); lợn mọi (một dạng lợn ỷ, rất chậm lớn, chủ yếu nuôi làm cảnh); lợn lòi (lợn rừng)… Ca dao đã truyền khẩu lại nhiều câu thể hiện sự gắn bó của con lợn với cuộc sống của người Việt: "Ta về ta rủ bạn ta/ Nuôi lợn nuôi gà, cày cấy ta ăn; Đàn bà thì phải nuôi heo/ Thời vận đang nghèo chẳng nuôi đặng trâu; Nhớ phiên chợ Bản anh đi/ Thiếu gì heo ỉ thiếu gì bò trâu" (chợ Bản ở Yên Định, Thanh Hóa); "Lòng thương chị bán thịt heo/ Hai vai gánh nặng còn đèo móc câu".

          Cây lúa con lợn quen biết với dân ta từ thuở bình minh dựng nước. Cây trồng và chăn nuôi trở thành nếp sống, nếp nghĩ, cách đánh giá người: "Đàn bà không biết nuôi heo, đàn bà nhác. Đàn ông không biết buộc lạt, đàn ông hư". Cũng có những câu ca dao khen tặng sự khéo léo, chăn nuôi quanh năm hay làm ăn thành công của những gia đình nông dân: "Chăn nuôi vừa khéo vừa khôn/ Quanh năm gà lợn xuất chuồng quanh năm". Hay: "Giàu lợn nái, lãi gà con".

          Nuôi lợn để đem bán là một sinh kế của giới nông dân nước ta. Lắm khi chẳng được gì nên từ đó cũng nẩy sinh ra những câu ca dao đùa cợt cảnh mấy bà gánh heo đi rồi lại gánh về: "Ba bà đi bán lợn con/ Bán đi chẳng được lon ton chạy về/ Ba bà đi bán lợn sề/ Bán đi chẳng được chạy về lon ton".

          Sẽ thật thiếu sót nếu trên mâm cỗ Tết cổ truyền thiếu đi đĩa thịt lợn ăn kèm với dưa hành hay củ kiệu muối chua: "Con gà cục tác lá chanh - Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi". "Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi"! vừa kêu gọi sự chú ý khẩu vị dân tộc, vừa nhắc nhở chúng ta rằng khẩu vị dân tộc đó hình thành từ lâu đời được thời gian thử thách và có cơ sở khoa học vững chắc.

          Ăn cỗ mà có đầu heo là coi như giàu có, ca dao miền Nam có câu: "Cồng cộc bắt cá dưới bàu/ Cha mẹ mày giàu, đám giỗ đầu heo". Mà chẳng riêng gì việc phúng viếng, cúng tế, cưới xin đến việc đãi đằng người ta cũng biếu nhau chân giò, nhất là cho sản phụ ăn để có sữa: "Ăn chân sau, cho nhau chân trước", chân trước đẹp mắt chứ không lợi thịt như chân giò sau.

          "Anh lợn" còn "làm chứng" cho những hạnh phúc lứa đôi. Nhằm trách khéo những người mẹ nghèo muốn con gái mình lấy chồng giàu nên (ngày xưa) đã ép duyên con và đưa đến những chuyện không may: "Mẹ em tham thúng xôi dền. Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng. Em đã bảo mẹ rằng đừng. Mẹ lườm mẹ nguýt mẹ bưng ngay vào. Bây giờ chồng thấp vợ cao. Như đôi đũa lệch so sao cho bằng". Hoặc là: "Mẹ tôi tham thúng bánh chưng/ Tham con lợn đẻ, em nai lưng chịu đòn". Thân phận người dâu từ đó gặp nhiều đắng cay: "Nói ra sợ chị em cười/ Năm ba trận chửi, chín mười trận đay". Để rồi cuộc đời ngày càng thêm vất vả: "Đêm thì thức đủ năm canh/ Rau heo, cháo chó, loanh quanh đủ trò".  Nấu cơm, giặt giũ, lau quét dọn nhà cửa, quán xuyến từ trong ra ngoài, và trong lúc nàng bận tíu tít, nào là con đòi bú khóc ré lên, nồi cơm trên bếp đang sôi mà lửa thì tắt và ngoài chuồng, mấy con heo la inh ỏi mà chồng "đòi tòm tem": "Đang khi lửa tắt cơm sôi/ Lợn đói, con khóc, chồng đòi tòm tem/ Bây giờ lửa đã cháy rồi/ Lợn no, con nín, tòm tem thì tòm".

          Về mặt châm biếm "chú ỉn" cũng góp  mặt trong tiếng cười trí tuệ của người dân và đã vạch mặt cả anh thầy bói nói nước đôi, nói dựa: "Số cô không giàu thì nghèo/ Ngày ba mươi tết thịt treo đầy nhà". Hay: "Bói cho một quẻ trong nhà/ Chuồng heo ở dưới, chuồng gà ở trên". Cũng có câu ca dao trách khéo sự thiên vị như: "Mèo theo thịt mỡ ồn ào/ Cọp tha con lợn thì nào thấy chi!".

          Tỏ tình là cả một nghệ thuật, thông thường mấy chàng văn hoa bóng bẩy nhưng cũng có người mượn con lợn làm phương tiện cứu cánh. Hãy nghe anh chàng ngố tìm cách làm quen, bày tỏ: "Cô kia đi chợ Hà Đông/ Để anh kết nghĩa vợ chồng cùng đi/ Anh đi chưa biết mua gì/ Hay mua con lợn phòng khi cheo làng". Ngày xưa con gái muốn lấy chồng phải nộp Cheo cho làng. Cheo là lễ vật bao gồm ít nhất là một con heo quay và một số tiền mặt do làng ước định phải nộp cho làng để làng cấp cho giấy giá thú. Lắm khi cô gái tuy đẹp nhưng lại quá nghèo. Chàng trai muốn cưới thì phải: "Giúp em một thúng xôi vò/ Một con lợn béo, một vò rượu tăm/ Giúp cho đôi chiếu em nằm/ Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo/ Giúp cho quan tám tiền cheo/ Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau". Vả lại, cha mẹ sinh con gái cũng chỉ rạng mặt nở mày khi con được nhà trai nộp cheo xin cưới theo đúng lễ nghi thủ tục: "Anh về thưa với mẹ cha, bắt lợn đi cưới, bắt gà đi cheo". Nhưng cũng có những gia đình biết phải chăng: "Người ta thách lợn, thách gà/ Nhà em thách cưới một nhà khoai lang". 

          Đôi bạn trẻ phải hiểu rằng tình yêu không thể lúc nào cũng ở vào cao điểm, có lúc xuống đáy. Những lúc tình yêu xuống đến đáy thì người ta sẽ ra sao? Đây là kinh nghiệm cay đắng của các chị: "Còn duyên anh cưới ba heo/ Hết duyên anh đánh ba hèo đuổi đi". Và lố bịch thay cái cảnh: "Trời mưa nước chảy qua đèo/ Bà già lụ khụ mua heo cưới chồng".

          Riêng với những người ham tật đèo bồng đa thê, đôi khi lại bị lâm vào cảnh trớ trêu dở khóc dở cười: "Một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ ra chuồng heo mà nằm".  Thật đúng là "tham thì thâm" nên kẻ ham đèo bòng mới phải nếm mùi "cám treo, heo đói" như thế đó.

          Trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ Việt Nam rất đa dạng về hình ảnh chú lợn, xin kể "toạc móng heo" những câu ấy.

          Đã nuôi lợn "giàu nuôi lợn nái, lụn bại nuôi bồ câu" và nhớ phải chăm sóc đừng để "lợn đói một bữa bằng người đói nửa năm". Kinh nghiệm dân gian nói về mua lợn tốt nhất là vào dịp "làm mạ, cá rươi", tức thời kỳ mua lợn tốt nhất là tháng đổ nước làm ruộng mạ, mua cá giống thì lúc có rươi - khoảng tháng Chín. Không nên mua ngoài chợ mà mua tại nhà, mua tận gốc: "Lợn nhà, gà chợ". Nếu mua lợn nái thì chọn con chõm, dải thon, loại này khoảng cách giữa các vú xa nhau, khi chửa các vú không bị xệ quét đất và nếu mua lợn đực giống thì phải là lợn phệ, cao khỏe mới "nhảy tốt", "nhảy chắc". Là thế nên có câu "đực phệ, sề chõm". Dân gian còn dặn những cách chọn lợn khác: "đực đầu đàn, cái rốt ổ", "lợn đầu, cau cuối", "lợn ăn xong, lợn nằm: lợn béo, lợn ăn xong lợn réo: lợn gầy".

          Thành ngữ nói về cái sự vô ý, vô tứ, làm ăn thiếu tính toán hay nhất là mấy câu: "lợn lành chữa làm lợn què", "lợn trong nhà thả ra mà đuổi".  Không có sự phê phán nào bình dân bình dị mà có khả năng tạo hiệu quả lớn như thế!

          Nói về văn hóa ẩm thực thịt lợn, với những người sành ăn "mua thịt thì chọn miếng mông" ngon và béo có "đầu gà, má lợn", "lợn giò, bò bắp". Thái cho ngon mắt phải "thịt nạc dao phay, thịt mỡ dao bầu". Và nhất định phải có gia vị têm vào mới ngon "thịt đầy xanh, không hành không ngon". Rồi từ  "con lợn béo cỗ lòng mới ngon", người ta còn nghĩ rộng ra "trông mặt mà bắt hình dong", hay cái gì hạng người "mắt lợn luộc". Tai heo ngâm giấm làm gỏi tai heo đèo theo nấm tuyết, chiếc mấy ngó sen, trộn chèn cà rốt, sốt chút muối đường, tiêu hành ớt tỏi nhai dòn rụm, ngon bỏ bà luôn! Tai heo rộng mắm là đặc sản của hương vị Tết cổ truyền Việt Nam, "Ngày tư, ngày Tết/ Mứt ngọt ăn ớn chết!/ Thủ cái tai heo/ Nhậu kiệu, ngon ra phết!".

          Con lợn gắn bó với con người hàng nghìn năm lịch sử. Con lợn cái tên không mấy mỹ miều, đôi khi còn được gán với những sự bẩn, ngu. Ấy vậy mà đã đi vào ca dao, tục ngữ thành ngữ khá đa dạng, làm sao kể hết.

          Tết Kỷ Hợi đã về, những người lao động còn bao nhiêu thú vui khác, không thể cà kê "chuyện con gà ra con lợn" nữa. Năm mới cầu mong cho nhân dân ta nuôi chu đáo được nhiều lợn ông - đô lợn để đem ra cúng thành hoàng làng, khao dân, khao làng xóm, vui hội, vui xuân!

 

Nguyễn Lê Thanh Phương

Nước yêu quý lợn nhất

          Papua Niu Ghinê - quốc gia ở nửa phía Đông của đảo Niu Ghinê, Tây Nam Thái Bình Dương. Với tổng diện tích đất là 452.100 km2, với dân số khoảng 8.481.976 người, đa số thổ dân ở đây đều xem lợn như một bái vật giáo. Có bộ tộc lấy mỡ lợn trộn với tro bếp xoa lên mặt để biểu thị sự dũng mãnh. Có một số tộc trưởng còn xâu lỗ trên mũi mình rồi cắm chiếc răng lợn rừng vào đấy để tượng trưng cho quyền uy.

          Một trong số những đồ vật có giá trị nhất của một người đàn ông của bộ tộc Chimbu là lợn. Một con lợn thường được làm thịt để kỷ niệm các sự kiện như đám cưới, đám ma hoặc khi một em bé chào đời. Khi cử hành hôn lễ, nhà trai phải dâng cho nhà gái mấy con lợn béo. Số lượng con lợn phụ thuộc vào giá trị người con gái. Nếu cô gái vừa đẹp lại vừa ngoan nết, thì nhà trai phải dắt tới 7-8 con lợn là ít.

          Kỳ lạ hơn nữa là người Papua Niu Ghinê  thường để lợn ở trong nhà với người như chó và mèo.

"Tết của lợn" ở nước Pháp

           "Tết của lợn" ở nước Pháp được tổ chức tại Chợ Cũ, thị trấn Trie Sur Baise vào ngày chủ nhật và thứ hai tháng 8 hàng năm. Thị trấn này là nơi có những trang trại nuôi lợn lớn nhất cả nước. Mục đích của lễ hội này nhằm tôn vinh con vật gần gũi và mang lại nhiều lợi ích cho con người. Trong dịp lễ hội, hương thịt lợn nướng của các bữa tiệc tỏa khắp thị trấn, mọi cửa hàng trang trí đầy họa tiết hình các chú lợn. Mọi người tham gia vào cuộc thi hóa trang, diễn mô phỏng vòng đời của một chú lợn. Cuộc đua lợn cũng là một hoạt động vui nhộn thu hút nhiều sự chú ý tại đây. Một trong những hoạt động vui vẻ là "nhái tiếng lợn". Người giành ngôi quán  quân được thưởng một con lợn quay to nhất. Những người đến dự hội phải cùng nhau ăn hết một lạp xưởng dài 2000m, 3000 suất thịt lợn khá dày, và 500 kg dăm bông.

Ở nước Đức lợn là con vật có thể mang lại may mắn và hạnh phúc

          Trong văn hóa nước Đức, lợn nuôi được coi là con vật có thể mang lại may mắn và hạnh phúc. Tham dự vào buổi tiệc có thịt heo vào đêm Noel ở nước Đức có ý nghĩa ngăn ngừa quỷ thần và đem lại thịnh vượng, tiền tài cho năm mới. Trong quan niệm người Đức, nếu ai sở hữu nhiều lợn thì chứng tỏ người đó giàu có về mặt vật chất và sẽ ngày càng hưng thịnh hơn ở tuổi trung niên. Chính vì vậy, thịt lợn là thực phẩm phổ biến nhất tại nước này. Trung bình mỗi công dân Đức tiêu thụ 52,1 kg thịt mỗi năm. Việc đóng vai trò quan trọng với ẩm thực trong một thời gian dài là nguyên nhân khiến thịt lợn và xúc xích ăn sâu vào tâm hồn người Đức và ngôn ngữ hằng ngày.

          Xúc xích Đức là món bạn không thể bỏ qua khi đã muốn thưởng thức ẩm thực Đức, xúc xích Đức đã cuốn hút nhiều thực khách trên thế giới và ngày ngày ta có thể tìm thấy một vài quầy hàng bán món này tại Việt Nam. Có trên 200 loại Wurst nghĩa là xúc xích bao gồm các loại được làm từ thịt bê, thịt heo, óc heo. Mỗi một vùng sẽ có cách chế biến đặc trưng và riêng biệt tạo nên các loại mùi vị khác nhau chẳng hạn xúc xích trắng của Bavaria kết hợp rau mùi tây, hành hay đến xúc xích Chipolata nướng trên than hồng đều mang lại cho bạn cảm giác "nhìn là thèm". Ngoài ra còn có xúc xích vùng Thüringen, Frankfurt, Regensburg hay xúc xích nướng Nürnberg cũng như loại xúc xích Pinkel ở miền Bắc nước Đức. Mỗi nơi là một màu sắc đặc trưng cho nước Đức rộng lớn.

Thiên đường đảo lợn Bahamas

          Quần đảo Bahamas quốc gia nói tiếng Anh tại Tây Ấn, nằm trong Đại Tây Dương ở phía đông Hoa kỳ. Phía Bắc Cuba và vùng Caribe, phía Tây lãnh thổ phụ thuộc Anh, Turks và đảo Caicos. Đảo Bahamas nổi tiếng là đảo lợn, đơn giản vì hòn đảo này rất nhiều lợn, những chú lợn ở nơi đây không chỉ bơi giỏi, thân thiện lại còn biết xin ăn các bạn ạ! Các bạn đến đây sẽ được "bơi thi" với những chú lợn, sẽ là trải nghiệm khó quên cho chuyến du lịch tới hòn đảo thiên đường này. Hiện có khoảng hơn 10 con lợn sống trên đảo. Nguồn gốc của chúng có nhiều câu chuyện khác nhau. Một số con lợn đốm biết nghe lệnh "ngồi xuống" để được thưởng đồ ăn. Chúng còn bơi ra các tàu chở khách tham quan để xin ăn...

Ireland, lợn là con vật linh thiêng và đáng được tôn thờ

          Với người Ireland, lợn là con vật linh thiêng và đáng được tôn thờ. Bên cạnh những câu chuyện về phù thủy, những truyền thuyết về lợn chiếm một phần đáng kể trong kho tàng văn học của người Ireland. Theo những câu chuyện lịch sử thì thời xưa, ở Ireland có nhiều nơi được những cái tên liên quan tới loài lợn. Một trong số đó là Mucinis, nghĩa là đảo lợn.

Lợn tượng trưng cho giông bão và gắn liền với thần Seth

          Trong lịch sử Ai Cập cổ, lợn tượng trưng cho giông bão và gắn liền với thần Seth, anh em tội lỗi của thần Osiris. Trong thời gian việc thờ cúng thần Osiris thịnh hành, chính quyền cấm người dân ăn thịt lợn. Nhưng về sau, dưới triều đại của vua Seti (được coi là con cháu của thần Seth) và Rameses, lệnh cấm được dỡ bỏ và thịt lợn lại trở thành món ăn yêu thích. Truyền thuyết Hy Lạp cổ đại kể rằng lợn là con vật yêu thích của Demeter - nữ thần cai quản mùa màng và việc đồng áng ở hạ giới. Đây là vị thần linh thiêng nhất đối với người Hy Lạp. Ngay từ thời cổ đại, người ta đã dùng lợn để hiến tế nữ thần này. Sự chuyển hóa ma thuật biến con người thành lợn xuất hiện trong nhiều câu chuyện thần thoại, chẳng hạn trong thiên sử thi Odysseus của Homer. Trong câu chuyện này, đoàn thủy thủ của con tàu anh hùng bị nữ thần Circe biến thành lợn.

Lợn là loài vật gần gũi với loài người

          Người Papua New Guine - nằm ở phía Bắc Australia - cho rằng thịt lợn là thứ giống với thịt người nhất trong tự nhiên. Đối với nhiều dân tộc ở nước này thì lợn là loài vật gần gũi với loài người vì chúng có nhiều cơ quan nội tạng giống chúng ta. Bên cạnh đó, loài vật này còn ăn được tất cả những gì mà con người dùng làm thực phẩm.

Trang điểm cho "ông lợn" trong lễ hội ở Hà Nội

          Cứ đến ngày 13 tháng Giêng hàng năm, dân làng La Phù, Hà Nội đều giữ truyền thống trang điểm cho "ông lợn" và rước vào đình làng.

          Theo truyền thống lâu đời, hội rước lợn làng La Phù, Hà Nội là dịp tưởng nhớ Tĩnh Quốc, vị anh hùng của làng dưới thời Hùng Vương. Truyền thuyết kể rằng, khi đó người dân trong vùng mang lợn đến dâng để tỏ lòng biết ơn và tôn ông là Thành hoàng.

          "Ông lợn" được chọn đẹp nhất phải hội đủ các yếu tố: trắng trẻo, sạch sẽ, không đánh lông trước khi đổ nước sôi, mắt có màu trắng, nếu mắt màu đỏ gọi là lợn điên. Cách trình bày "ông lợn" cũng phải đẹp mắt, đầu không cao quá hay thấp quá, mặt phải tươi, không ủ rũ. 17 "ông lợn" được người dân nơi đây mổ thịt, trang điểm rước quanh làng.

          Qua những câu chuyện lạ về lợn của nhiều nước trên thế giới cũng như nước ta, cho thấy  con lợn cũng có những vị trí quan trọng trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày và đã đi vào thế giới tinh thần và thẩm mỹ, lợn đã có từ lâu và giúp ích rất nhiều cho con người khắp trái đất này. Hy vọng, năm mới lợn sẽ đem may mắn, ấm no, sung túc, thịnh vượng  cho mọi người, mọi nhà.

 

Phan Hữu Thịnh

          Trên Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An, số 11/2018 đã đăng bài: "Tìm hiểu các nguyên lý bài trí thờ tự tại di tích trên bàn thờ địa bàn tỉnh Nghệ An". Bài viết ấy đã giúp bạn đọc hiểu việc thờ tự một cách sâu sắc, tôi rất hoan nghênh và không có ý kiến phản biện.

          Nhân bài đó, ở đây tôi xin giới thiệu việc thờ tự xưa và nay ở làng Quỳnh để cung cấp thêm một lượng thông tin nhằm góp phần minh họa cho bài viết của tác giả Quảng Phước và góp phần tham khảo cho một số địa phương trong tỉnh.

Trước hết xin giới thiệu khái quát bối cảnh lịch sử của làng Quỳnh.

          Làng Quỳnh tên gọi tắt của làng (xã) Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Không biết từ đâu và từ thuở nào "tiếng lành" đã đồn xa và đi vào "truyền khẩu".

"Bắc Hà: Hành Thiện, Hoan Diễn: Quỳnh Đôi".

          Làng Quỳnh thuở ban đầu là ba cái gò đất (tên chữ là Thổ Đôi): gò Dứa, gò Ngọc và gò Trài. Ba cái gò ấy tách rời nhau, giáp sông gần biển nổi lên giữa một vùng mênh mông sóng nước, hình tựa những cái nồi nên thuở đầu gọi là làng Nồi. Như chim Tinh vệ đời nối đời ngậm đá lấp biển, người làng Nồi đã dày công bồi đắp biến ba cái gò ấy thành những cánh đồng lúa khoai, thành xóm làng đông đúc. Đời sống của người dân ở vào tình trạng mà nhà thơ Hoàng Trung Thông đã phải chua xót thốt lên:

Đói nghèo xơ xác

Ôi làng Quỳnh Đôi xưa

Nhà ngói ít hơn đền chùa

Người nhiều hơn ruộng đất

          Cảnh ngộ đó buộc người làng Quỳnh phải mở ra nhiều nghề, trong đó có một nghề đặc biệt: nghề đi học để rồi: "tiến vi quan, thoái vi sư".

          Thời trước tính từ năm 1449, năm có người làng Quỳnh đi thi cho đến năm 1919, năm kết thúc khoa cử thời xưa, trong 470 năm ấy làng Quỳnh đã có:

Về thi hương có 526 tú tài, 208 cử nhân.

          Về thi hội, thi đình có 1 bảng nhãn, 1 thám hoa, 2 hoàng giáp, 6 tiến sĩ và 4 phó bảng.

          Thời nay từ tháng 8/1945 đến năm 2017 đã có hơn 900 người tốt nghiệp đại học, 39 thạc sĩ, 53 tiến sĩ (tính chưa thật đủ).

          Hầu hết những người đỗ đạt xưa và nay đều "thoát ly công tác". Họ tuy "xa xôi mặt" nhưng không "thưa thớt lòng", có thể nói họ như những con ong hút nhụy hoa bốn phương đem về làm "bách tinh hoa" (mật ong) cho làng, trong đó có việc thờ tự gia tiên và thần thánh. Đặc biệt có 2 tác phẩm nổi tiếng: "Hồ thượng thư gia lễ" của Hoàng giáp Hồ Sỹ Dương (1622-1681) và "Thọ mai gia lễ" của Tiến sĩ Hồ Sỹ Tân (1691-1760) (Thọ Mai là tên hiệu của ông).

          Nhưng thật là ngạc nhiên nếu so sánh với thể thức thờ tự của các nơi khác thì ở làng Quỳnh lại rất đơn giản, sơ sài.

          1. Việc thờ tự tổ tiên

          Theo cuốn "Thọ Mai gia lễ", đến đời thứ năm thì chôn cất bài vị (ngũ đại mai thần chủ). Do đó mới bốn đời thì làm giỗ các cụ: cao, tằng, tổ, phụ tại nhà riêng. Trên cao gọi chung là tổ thì rước vào cúng tế tại nhà thờ họ. Năm đời trở lên là có thể trở thành một dòng họ.

          Việc cúng tế tổ tiên đều chứa đựng một ý nghĩa thực tiễn: Ai sinh ra con cháu đều muốn con cháu mình nhớ đến công cha nghĩa mẹ, vậy bản thân mình có nhớ đến công sinh thành của cha mẹ mình đã khuất núi qua việc thờ cúng thành kính không? Đó là cách giáo dục bằng hành động cụ thể thiết thực chứ không chỉ bằng sách vở, bằng lời nói.

Tổ tiên là bao gồm cả nhà (gia) và họ (tộc).

          1.1. Thờ tự ở nhà

          Mọi gia đình trong làng không kể giàu nghèo, sang hèn đều lập bàn thờ gia tiên ở gian chính của nhà mình. Trên bàn thờ thuở xưa chỉ có một mục chủ, ngày nay thì có di ảnh của những người đã mất. Bàn thờ là thể hiện một không gian vũ trụ được thu hẹp. Đôi cọc nến tượng trưng cho hai vầng nhật nguyệt quang minh, cái ly hương hình tròn tượng trưng cho bầu thái cực, các nén hương là những vì sao lấp lánh với khói hương và mây trời. Bàn thờ gia tiên là nơi gắn bó cộng đồng những người đã mất với những người đang sống. Người đang sống được người đã mất đứng trong bóng tối hằng dõi theo từng hành động, từng bước đi, được sẻ chia những niềm vui, những nỗi buồn trong cuộc sống. Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn. Tâm thức của người làng Quỳnh là thế!

          Lễ cúng cũng giản đơn. Nếu cùng một bàn thờ mà thờ nhiều người thì lấy ngày mất của người ở thế thứ cao nhất làm ngày giỗ hợp kỵ có đông đảo con cháu đến cúng bái. Còn các người khác thì cúng riêng. Lễ vật cúng tế chỉ có xôi thịt, hoa quả.

          Trong buổi cúng tự tôn vào vái lạy, khấn mời các ông bà về dự lễ, sau đó các cháu con lần lượt vào thắp hương.

1.2. Thờ tự ở họ

Họ chia làm hai: họ lớn và họ nhỏ

          Họ lớn chỉ có thể tế từ đời thủy tổ cho đến đời thứ mấy là tùy theo từng họ quy định.

          Họ nhỏ là từ đời thứ năm của các gia đình rước lên cho đến đời được rước lên nhà thờ họ lớn.

          Việc cúng tế ở họ lớn và họ nhỏ đều giống nhau, họ lớn cúng trước, họ nhỏ cúng sau, bắt đầu từ ngày 10 đến 15 tháng Giêng âm lịch.

          Trên bàn thờ trên hết chỉ có một long ngai của thủy tổ. Tổ mỗi đời đều có một mâm chè, đặt chén rượu, chén chè, đôi cọc sáp và bát hương. Ở chính giữa đặt mâm xôi thịt…

          Nhà thờ thượng điện thường có ba gian, mỗi gian có một bàn thờ với cách sắp xếp tế khí đều giống nhau.

          Việc cúng tế ở đây so với từng gia đình tiến hành trang trọng và nhiều tiết mục hơn. Người đóng vai trò quan trọng nhất là chủ tế. Chủ tế là người hội tụ các tiêu chuẩn: đời cao nhất, vợ chồng đều song toàn, có con trai nối dõi, không có tang, có học vị, có chức tước, chứ không phải là tự tôn của dòng họ. Tế lễ ở họ có trống bé, trống lớn, có bù lu, xập xoái.v.v..

          Trong buổi tế tất cả con cháu đều phải đứng (trừ một số người cao tuổi, ốm yếu) thành kính hướng lên bàn thờ tiên tổ.

          Tế lễ xong, con cháu họp bàn việc họ, rồi vui vẻ hưởng lộc của tiên tổ.

2. Về thời tự thần thánh

          2.1. Làng Quỳnh có một đền làng thờ "Phục lôi linh ứng thiên thần" ở thượng điện và phối tế các vị thủy tổ các họ lớn ở hạ điện.

          Theo tâm linh thuở ấy, các cụ cho rằng tuy Thổ Đôi nổi lên giữa một vùng sông nước, nhưng không phải bốn mùa đều có đầy đủ nước. Vì vậy, thờ thần sấm sét là nhờ ngài gọi mưa về như dân ta thường cầu xin "lạy trời mưa xuống". Ngoài ra thiên thần là người đứng chủ, giữ gìn sự đoàn tụ giữa các thủy tổ và là người biểu thị sự uy nghiêm răn đe của lẽ trời, ai gian ác sẽ bị sét đánh. Thần làng Quỳnh có tiếng là linh thiêng nên hàng ngày nhất là ngày mùng một, ngày rằm, khá nhiều bà con các nơi đến cầu cúng. Với khuôn viên đền chật hẹp nên ngày mùng 8 tháng Giêng âm lịch hằng năm chỉ các vị viên chức của làng đến cúng tế. Cứ 3 năm một lần mới làm lễ tế lớn. Dân làng rước kiệu của thần và của các thủy tổ đến đình làng để làm lễ tế một cách trang trọng, đông đảo.

          Đền Thần và Đình làng đã được công nhận là Di tích Lịch sử cấp quốc gia.

          2.2. Nhà thánh ở phía Tây của đền làng, khá cao to, thờ đức Khổng Tử ở gian giữa. Ở gian trái thờ bốn vị tứ phối: Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử và ở gian bên phải thờ 72 vị đồ đệ xuất sắc của Ngài, chứ không thờ một ai khác (khác với Quốc tử giám).

          Đến tế lễ chỉ là những người đỗ từ tú tài trở lên.

          Ở Nhà thánh mỗi năm chỉ tế hai lần vào mùa xuân và mùa thu rồi đóng cửa cho nên có câu thành ngữ: "Lạnh như Nhà thánh tế rồi".

          2.3. Hiền từ ở phía Đông Nam của đền Thần. Làng Quỳnh cho rằng người hiền không phải là các vị đỗ đạt, làm quan mà là những người có đức, có công với xóm làng nên không phân biệt sang hèn, giàu nghèo, gái trai… Hai hạng người được làng xem xét nhiều nhất để đưa vào thờ là các bà "Tiết hạnh khả phong" và các ông đỗ tú tài trở lên mà không có con trai nối dõi.

          Đáng tiếc là Nhà thánh và Hiền từ đều đã bị phá hủy từ năm 1962. Đây là một việc làm "tả khuynh" của cách mạng.

          Một công trình khác là "Giếng bà cả" nằm giữa ba cái miếu trên. Giếng này do bà Hồ Thị Thai, con gái đầu của Tá khai Quốc công thần Hồ Hân (thời Lê Lợi), vợ kế của đại Tư Nông Phan Nghĩa đào từ năm 1420-1422. Giếng này có nước trong và ngọt, ít khi bị cạn kiệt.

          Làm bốn công trình trên vào một vùng, mà trung tâm là cái giếng tạo nên một quần thể tương đối hoàn chỉnh, có dáng dấp phồn thực, là một việc làm đầy suy tính sâu sắc mà thiết thực. Trước đây từ làng Quỳnh lên đường thiên lý là phải đi qua vùng này. Giếng nước là biểu thị sự ôn nhớ về cội nguồn. Đền làng biểu thị cái ăn do trời, đất và người làm nên. Nhà thánh biểu thị sự ham muốn học vấn. Hiền từ biểu thị sự tu dưỡng đạo đức. Tất cả nhằm nhắc nhở thầm lặng mà nghiêm nghị cho dân làng mỗi khi đi ra khỏi làng cũng như khi trở về làng cần phải sống sao cho đủ cái nghĩa, cái ăn, cái chữ và cái đức.

          Vào đầu năm 1903, ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc cùng hai người con đã ra thăm làng Quỳnh. Khi tham quan quần thể này và được ông cử nhân trẻ tuổi Hồ Phi Huyền nói rõ ý nghĩa của quần thể, ông Phó bảng đã thốt lên: "Quần thể này sao mà chứa dựng những sắc thái văn hóa sâu sắc đến thế. Chả trách mà nơi đây đã sản sinh ra biết bao nhiêu anh tài tuấn kiệt góp phần làm vẻ vang cho xứ Nghệ, cho đất nước".

 

 

Đào Tam Tỉnh

Phùng Phúc Kiều (1724-1792): Nguyên quê ở Tổng Phù Long, huyện Hưng Nguyên, sinh ra ở làng Lộc Kén, xã Hiếu Hạp, huyện Chân Phúc, nay là phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Ông sinh ra trong một dòng họ, gia đình là cự tộc của đất nước, là di duệ họ Phùng nguyên gốc từ ngoài Bắc vào Nghệ An và thuộc dòng Chi trưởng ở Phù Long, Hưng Nguyên và Nam Cường, Nam Đàn.

          Người họ Phùng đã có công rất lớn với đất nước từ thời dựng nước và các vương triều phong kiến độc lập tự chủ như Phùng Thanh Hòa thời Lý Bí (Lý Nam Đế), Phùng Hạp Khanh thời Mai Hắc Đế và con là Phùng Hưng được nhân dân tôn là Bố Cái Đại Vương... Đến Phùng Tá Chu vì có công phế truất nhà Lý suy vi dựng nhà Trần lên kế vị nên được nhà Trần hết sức trọng dụng. Ông được cử vào làm Tri phủ Nghệ An, được uỷ quyền thay mặt vua hành xử mọi việc, lập được nhiều công lao nên được phong tới Hưng Nhân vương, rồi Đại vương(1).

          Thí tổ Phùng Sĩ Chu là người có công lớn với nhà Trần (được thờ ở đền Nam Cường), làm quan đến chức Hành khiển, từng đi sứ nhà Nguyên. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi về Sĩ Chu như sau:

          Lấy Phùng Sĩ Chu làm Hành khiển

          … Sĩ Chu là người trung hiếu, có tài văn nghệ, làm quan đến Thiếu phó, hiệu là Tốn Trai tiên sinh(2).

          Gia phả và Thần vị Phùng Sĩ Chu tại đền ghi: 

           Ông Tổ họ Phùng, húy là Sĩ Chu, vâng lệnh triều đình đi sứ. Triều Trần làm Phụ đạo quan ở đồn Thái Nguyên, được cử làm quan trị nhậm ở Bắc, Nam. Phu nhân Tổ bà là Công chúa nhà Trần(3).

          Từ đây họ Phùng sinh ra con cháu nhiều người có công lao đóng góp công tích cho đất nước. 

          Khi Bình Định Vương Lê Lợi khởi nghĩa chống giặc Minh xâm lược nước ta, có Phùng Quang Lộc tích cực tham gia cứu quốc, có công được phong tới Khai quốc thôi trung, Dương võ minh nghĩa, Phù quốc công thần, Đặc tiến khai phá, Kiềm giao dực tướng Tứ Kim phù, thăng phong Thiếu bảo, tặng Thiếu úy, Đông các Đại học sĩ Dị Quận công. Di duệ con cháu nối tiếp là công thần triều Lê với nhiều nhân vật công, hầu kế thế có tiếng như Chiêu Dụ vương Phùng Văn Đạt; các Thượng tướng Quận công Phùng Bá Ngự, Phùng Bá Ngợi, Phùng Viết Đạm, Phùng Viết Đán... Đến thời Lê Trung Hưng, Phùng Phúc Kiều đã nổi lên là một vị tướng văn võ song toàn, có tài đức, làm quan đến Đô đốc, tước Hầu, được triều đình cho lập đền thờ ở Thu Lũng và được nhân dân tôn thờ là vị Phúc thần Thành hoàng khai canh lập ấp.

          Họ Phùng Nghi Thu vốn có truyền thống trung, nghĩa, trí, dũng, nối tiếp theo được các vị tiên tổ từ xa xưa. Tiên tổ của Phùng Phúc Kiều là Phùng Bá Nghị, một võ quan có nhiều công lao, được triều đình phong là Bình Ngô khai quốc, Tán trị công thần, Thượng tướng quân, Cẩm y vệ, Đô chỉ huy sứ, tặng phong Đề đốc, gia phong Thái bảo Đông Quận công, sắc phong Thượng đẳng phúc thần. Cố nội là Phùng Bá Đạt, tước phong Võ Thắng hầu; Cố nội là Phùng Bá Giàu, tước phong Triều Trung hầu; Ông nội là Quan viên tôn Bá Của, là người đặt nền móng khai hoang lập làng Lộc Kén; Thân sinh là Phùng Phúc Thiện, húy Cải, thường gọi là Phùng Lệnh Công cũng là một quan võ triều đình, thân mẫu là Hoàng Thị Kế. Dòng họ Phùng kế tiếp nhau thi cử đậu đạt khoa bảng, tiêu biểu như: Phùng Viết Giai, húy là Văn Trung, đậu Hương cống khoa Giáp Tuất - Cảnh Hưng thứ 15 (1754), lại dự thi Hội khoa Ất Hợi (1755) trúng Tam trường (triều Nguyễn gọi là Phó bảng), làm quan Điền viên ngoại thừa Cẩn sự lang; Phùng Thời Tá đậu Hương cống khoa Nhâm Ngọ - Cảnh Hưng 23 (1762), là Giám sinh Quốc Tử Giám, rồi đậu Tam trường thi Hội; Phùng Thời Bút, thi đậu Hương cống...

          Phùng Phúc Kiều từ nhỏ đã được đào tạo theo nề nếp gia phong nên tinh thông binh pháp, võ nghệ cao cường, lại thông cả Tứ Thư, Ngũ Kinh. Ông sớm trở thành một người có đức, có tài, được triều đình trọng dụng và nhân dân quý mến. Năm 1741, ông dự thi Hội khoa Bác cử (thi võ chọn Tiến sĩ) ở triều đình và đỗ đến Tam trường (Phó bảng về thi võ). Năm sau đó, ông tham gia đội Thủy quân ưu binh, thuộc đạo Đông Nam, với chức Đốc lệnh quan. Thời gian này, chính quyền Lê - Trịnh hết sức rối ren, các phe phái nổi lên hỗn chiến, tranh giành quyền bính ở các địa phương. Lê Duy Mật là một quý tộc tôn thất nhà Lê cùng một số quý tộc khác mưu đồ lật đổ họ Trịnh, khôi phục triều Lê (1738 - 1769). Cuộc đảo chính thất bại, Lê Duy Mật phải chạy vào Thanh Hóa, rồi đứng chân ở miền Tây Nghệ An để tổ chức lực lượng chống lại họ Trịnh. Giặc phỉ nổi lên ở khắp nơi trên đất Nghệ An, nhất là dọc theo sông Lam từ thượng nguồn cho đến vùng biển Cửa Lò. Biết được tài năng của Phùng Phúc Kiều, trấn thủ Nghệ An lúc đó là Vũ Tá Đoan đã tâu lên triều đình xin cử giao cho ông việc trấn giữ vùng biển xứ Nghệ. Năm 1753, ông được triều đình cử làm chỉ huy đạo quân thủy chiến, đã nhanh chóng luyện tập quân lính, tích góp vũ khí, lương thực, đóng thêm chiến thuyền, hoàn thành công việc trấn giữ, bảo đảm an ninh cho vùng biển xứ Nghệ. Tháng 7/1762, ông chỉ huy quân bao vây tấn công sào huyệt của giặc cả trên cạn, lẫn dưới biển, cô lập giặc ở đảo Ngư, đảo Mắt với giặc ở hạ lưu hai bờ sông Lam. Sau nhiều ngày vây hãm, tinh thần giặc đã hoang mang, rệu rã, ông mới quyết định tấn công vào sào huyệt địch làm chúng tan rã từng mảng, kẻ phải chạy lên rừng, kẻ phải trốn ra ngoài khơi. Uy tín của ông với quân đội ngày càng được nâng cao. Năm 1764, ông đã chỉ huy quân tấn công đánh bại hoàn toàn bọn cướp biển, giết chết tên tướng cướp Thục Toại tại trận. Thắng lợi đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho Đoan Quận công Bùi Thế Đạt vào năm 1765 khi được cử làm Đốc suất trấn Nghệ An, Thống lãnh hội quân tại sông Lam ở Nam Đàn đi đánh bại hoàn toàn quân giặc ở Hương Sơn và Trấn Ninh, miền Tây Nghệ An. Dinh quân thủy đội do Phùng Phúc Kiều chỉ huy ở biển Cửa Lò trở thành một trong 60 dinh cơ dưới trướng cai quản của Đoan Quận công Bùi Thế Đạt, góp công dẹp yên được Trấn Ninh (7 huyện miền Tây Nghệ Tĩnh). Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ở phần viết về Bùi Thế Đạt có đoạn:

          Năm Ất Dậu [1765], đổi làm Đốc suất Nghệ An. Năm Đinh Hợi [1767] Tĩnh Vương sắp có việc đi đánh Hưng Hóa thì giặc trấn Ninh tràn ra cướp, mới sai ông tuyển binh sĩ, chiêu dụ hào mục để thêm thế lực, gia phong cho ông tước Đoan Quận công, sai thân đem quan quân đi đánh dẹp. Tháng 6, tiến đánh Hương Sơn [nay thuộc Hà Tĩnh], nhiều lần đánh phá được quân giặc. Giặc theo núi chạy trốn, ông đuổi theo bắt được Côn Quận công ngụy, bỏ cũi đưa về Kinh sư. Khi tin thắng trận báo về, chúa sai ông rút đại quân về giữ Nghệ An... Tháng 7 [1769], ông vâng mệnh làm Thống lĩnh đạo quân Nghệ An, Thảo tặc Đại tướng quân, cai quản 60 dinh cơ cùng với đạo quân Thanh Hoa, hai đạo nhất tề tiến vào. Tháng 9 đến phía Nam sông [sông Lam] cùng với đạo quân Thanh Hoa hội lại, tìm đường tiến đến sào huyệt giặc ở Trình Quang. Bọn giặc chia các ngả chống giữ, bị quân ta đánh phải thua... Mùa xuân năm sau, sào huyệt giặc ở Trình Quang bị vỡ, giặc Mật tự đốt chết. Trấn Ninh bình  xong(4)...

          Cuộc sống của dân chúng vùng ven biển Cửa Lò và dọc sông Lam cũng từ đó được yên ổn, sản xuất được nâng cao. Đồng bào lại tích cực quyên góp ủng hộ lương thực, động viên nhiều con em tham gia vào đội quân thủy chiến của ông. Triều đình đã đánh giá công lao to lớn của ông và phong cho ông chức Thống lãnh Thủy quân ưu binh, tước Đô Trung hầu, trấn thủ vùng biển từ Thanh Hóa vào đến Hà Tĩnh. Sắc phong của triều đình ban cho ông, nguyên văn chữ Hán như sau:

敕真福縣好合社副千戶馮福喬為已後內水隊優兵隨奉差東南等道隨督令官壕忠侯討海職在扶隆地面務陣前頗有功績已旨准應千戶職可為竭忠將軍陞受督令官統嶺都忠侯號令司旗壯士雲騎尉千戶申選故敕

Phiên âm:

          Sắc Chân Phúc huyện, Hảo Hợp xã Phó thiên hộ Phùng Phúc Kiều. Vi dĩ hậu nội Thủy đội ưu binh tùy phụng sai Đông Nam đẳng đạo tùy Đốc lệnh quan Hào Trung hầu thảo hải chức tại Phù Long địa diện vụ trận tiền. Phả hữu công tích. Dĩ kinh chỉ chuẩn ứng Thiên hộ chức. Khả vi Kiệt trung Tướng quân thăng thụ Đốc lệnh quan Thống lĩnh Đô Trung hầu Hiệu lệnh tư kì bài tráng sĩ Vân kị úy Thiên hộ Thân tuyển. Cố sắc!

          Cảnh Hưng tứ thập tứ niên thập nhất nguyệt thập nhị nhật.

Tạm dịch:

          Sắc cho Phó Thiên hộ Phùng Phúc Kiều ở xã Hảo Hợp, huyện Chân Phúc. Vì đã ở hậu nội Thủy đội ưu binh được vâng sai theo các đạo Đông, Nam giữ chức Đốc lệnh quan Hào Trung hầu đánh diệt giặc tại mặt bể và mặt trận trên đất Phù Long. Thật có công lao. Đã được chỉ chuẩn cho chức Thiên hộ. Xứng đáng được gọi là Kiệt trung Tướng quân, thăng thụ Đốc lệnh quan, Thống lãnh Đô Trung hầu Hiệu lệnh tư kì bài tráng sĩ Vân kị úy Thiên hộ, Thân tuyển. Vậy ban sắc!

          Ngày 12 tháng 11 năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783).

          Không chỉ chăm lo xây dựng quân đội, giữ bình yên vùng bờ cõi, Phùng Phúc Kiều còn ý thức được muốn cho "yên dân" phải xây dựng và phát triển kinh tế, tạo điều kiện để dân mưu sinh bằng sản xuất lương thực và phát triển các ngành nghề. Ông đã kế tiếp sự nghiệp của cha ông về khai hoang lập ấp. Nguyên ông nội ông là người mở đầu, đến cha ông là Phúc Thiện đã cùng Hoàng Phúc Thạc tổ chức khai khẩn đất hình thành ra làng Lộc Kén. Ông tiếp khuyến nghị xin triều đình cho chiêu dân, khai khẩn đất hoang, lập ấp ở vùng ven biển Cửa Lò, nơi quê hương ông từ núi Kỳ Sơn (Khánh Duệ, Nghi Khánh) ra đến biển. Trước hết ông vận động bà con thân thuộc từ tổng Phù Long, Hưng Nguyên di cư đến Thu Lũng khai phá các gò đồi cát, san đắp nơi trũng, đắp bờ chắn sóng, khai thông khe nước... lập ra làng Trước, làng Sau, gia tăng làng Lộc Kén. Các làng này trở nên thịnh vượng, phát triển và tồn tại cho đến ngày nay.

          Công việc khai khẩn, xây dựng quê hương mới đang diễn ra triển vọng tốt đẹp thì ông bị căn bệnh hiểm nghèo và mất vào ngày 22/2/1792. Triều đình biết tin ông mất, rất thương xót, ban cho tiền bạc, gỗ quí để lo việc tang và ban sắc phong cho ông là Đô đốc Thượng tướng quân, Đô Trung hầu, giao cho dân bản xã làm đền thờ ông ở Thu Lũng. Để tưởng nhớ công lao to lớn của ông, dân làng Thu Lũng (phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò ngày nay) đã tôn ông làm Thành hoàng làng, quanh năm hương khói phụng thờ..

          Họ Phùng Nghi thu còn có các nhân vật, di duệ có nhiều đóng góp về văn hóa - xã hội, xây dựng, phát triển kinh tế và truyền thống hiếu học, làm cho quê hương Nghi Thu, Cửa Lò ngày càng văn minh, đất nước ngày càng giàu đẹp. Cựu Hương cống Phùng Thời Tá ở Thu Lũng cùng với Nguyễn Huy Dực có công xây dựng lại Văn Thánh huyện Chân Lộc tại làng Khánh Duệ, phía trước đền Cửa. Ông Phùng Thời Tá thi đậu Hương cống khoa Nhâm Ngọ - Cảnh Hưng 23 (1762), là Giám sinh Quốc Tử Giám, rồi lại đậu tiếp Tam trường Hội thí (triều Nguyễn gọi là Phó bảng), làm quan Huấn đạo (phụ trách giáo dục ở huyện), về quê mở trường dạy học bên đền Cửa. Ông có công lập Văn từ để thờ Khổng Tử, các tiên hiền, tiên nho nhằm phát huy truyền thống hiếu học và khoa bảng của nhân dân huyện Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò. Các vị khoa bảng của huyện thường gặp gỡ bình văn và tổ chức lễ cầu khoa hàng năm ở đây như Tiến sĩ Phạm Nguyễn Du, Tiến sĩ Đinh Văn Chất, Tiến sĩ Nguyễn Huy Nhu, Song nguyên Nguyễn Ngọc, Hoàng giáp Nguyễn Chính, Phó bảng - Đốc học Nghệ An Hoàng Văn Cư, Cử nhân Sơn phòng Chánh sứ Nguyễn Thức Tự, Cử nhân Hoàng Thúc Lang… Họ đã góp phần giáo dục đào tạo được nhiều nhà khoa bảng cuối triêu Lê và triều Nguyễn cho huyện và thị xã với nhiều đại khoa (Phó bảng, Tiến sĩ), Hương cống, Cử nhân, Sinh đồ, Tú tài khác… (theo sách Khoa bảng Nghệ An - Đào Tam Tỉnh). 

          Bia Văn từ huyện Nghi Lộc ghi:

          Huyện có hội, Hội có Từ để làm nơi thờ tự các Tiên Triết, để giữ gốc trước. Hoàng thượng ta giúp đỡ Tư văn, chăm lo giáo hóa. Từ Kinh thành đến các tỉnh gần đều có lập Văn Miếu để cúng tế, tiếng vang thiên hạ, đạo ấy rất khéo…

          Bia do Song nguyên (Hội nguyên - Đình nguyên) Hoàng giáp Nguyễn Ngọc, tự Thúc Bảo soạn. Nguyên Văn Từ, trước dựng ở Vũ Khoái, thôn Đặng Điền. Thời Cảnh Hưng, năm Canh Tý (1780), Tiến sĩ - Hoàng giáp là Phạm tiên sinh (Phạm Nguyễn Du), quê ở Thạch Động cùng với Tiến sĩ Hoàng Khê hầu Bùi Huy Bích (làm Đốc đồng Nghệ An) đem dời đến ấp Hùng Quần "quy cách hùng tráng". Gặp thời Tây Sơn thì Từ Vũ bị sụp đổ. Cựu Hương cống Nguyễn Huy Dực và Phùng Thời Tá có công xây dựng lại ở chỗ cũ(5)… 

          Văn đàn của Hội văn xã Hiếu Hạp trước cách mạng là bậc đá dưới lùm cây cổ thụ, trên có án thư. Những vị khoa bảng của 7 làng thuộc xã Hiếu Hạp được thờ ở đây. Hàng năm vào tháng giêng, những người Văn hội của làng cùng các quan chức quê Hiếu Hạp thường hội tụ về đây để đọc văn và tưởng niệm những vị khoa bảng của các làng. Có người làm chức quan nhỏ như quan Bát Tràng Phùng Bá Giai nhưng cũng về tụ hội tại Văn đàn và đãi làng với tấm lòng nhiệt tình. Vì thế dân gian có câu:

          Quan chi ông quan Bát Tràng

          Được 3 thúng thóc, cũng đãi làng bữa cơm

          Khoảng năm (1756-1769), ông Phùng Bá Giai làm quan triều Lê gọi là "Quan Bát Tràng" đã cống nhiều đất cho làng và đền. Nay còn có mộ của quan Văn giáo họ Phùng (Phùng Thời Tá) ở nghĩa địa xã, là người khoa bảng, xưa được cúng tế ở Văn đàn. Công tích của dòng họ Phùng ở Cửa Lò đã được Nhà nước và nhân dân ghi nhận vào sử sách.

          Đền thờ và mộ Đô đốc Đô Trung hầu Phùng Phúc Kiều tọa lạc tại xóm Hòa Đình, phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò, đã được Nhà nước xếp hạng và cấp bằng là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh để bảo vệ (ngày 23 tháng 4 năm 1999). Các đôi câu đối cổ còn lưu ở đền cho biết họ Phùng ở đây là chi trưởng dòng họ Phùng ở Phù Long, nay thuộc xã Hưng Long, huyện Hưng Nguyên di cư đến và có công chiêu dân khai cơ lập ấp, tiêu biểu như đôi:

                   扶龍發跡淵源遠

                   秋隴開基族性長

Phiên âm:

Phù Long phát tích uyên nguyên viễn

Thu Lũng khai cơ tộc tính trường.

Tạm dịch:

Phù Long phát tích họ nguyên gốc

Thu Lũng khai cơ tộc trường tồn.

          Hàng năm, cứ đến ngày 22 tháng 2 (âm lịch) nhân dân ở làng Thu Lũng và vùng ven biển Cửa Lò lại tổ chức lễ hội, lễ dâng hương để tưởng nhớ tới công đức của Phùng Phúc Kiều đối với quê hương, đất nước. Thần Phúc Kiều đã luôn luôn phù hộ cho dân cầu xin được mùa màng tốt tươi, sóng yên, biển lặng, đánh bắt được nhiều hải sản, cho cuộc sống ngày càng ấm no, thịnh vượng. Con cháu họ Phùng và nhân dân ở đây đến nay vẫn phát huy được truyền thống của tổ tiên từ Đô đốc Phùng Phúc Kiều khai cơ xây dựng nên. Nhiều con cháu di duệ đã có công lao trong Cách mạng tháng Tám, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, có nhiều người là cán bộ lãnh đạo các cơ quan Đảng và Nhà nước từ cấp phường xã đến cấp tỉnh; nhiều người là cán bộ trung, cao cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân. Trong đó có ông Phùng Bá Thường là Thiếu tướng quân đội nhân dân Việt Nam.

Chú thích

1, 2. Đại Việt sử ký toàn thư. bản dịch, H.,  KHXH, 1998.- T.2; trang 10, 14-15)

3. Gia phả đại tôn họ Phùng, lưu ở nhà thờ Nam Cường, Nam Đàn.

4. Phan Huy Chú. Lịch triều hiến chương loại chí. T.1.- H., Giáo dục, 2006., Tr. 429-432.

5. Hoan Châu bi ký. Bản chữ Hán, lưu Thư viện tỉnh Nghệ An.

6. Tham khảo thêm các sách: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam/ Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh.- H, Giáo dục; Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam/ Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thể.- HCM, 2006; Lịch sử Nghệ Tĩnh. T.1., 1984; Địa chí huyện Tương Dương/ Ninh Viết Giao CB.- H.,VHDT, 2012; Từ điển nhân vật xứ Nghệ/ Ninh Viết giao CB.- HCM, 2008; Khoa bảng Nghệ An (1075-1919)/ Đào Tam Tỉnh.- Nghệ An, 2005; Sắc phong Nghệ An/ Đào Tam Tỉnh CB và… Nghệ An, 2012; Câu đối xứ Nghệ. T1 - 2/ Cảnh Nguyên, Nguyễn Thanh Hải, Đào Tam Tỉnh.- Nghệ An, 2005; Văn bia Nghệ An/ Ninh Viết Giao, Thái Doãn Chất, Đặng Quang Liễn, Đào Tam Tỉnh.- Nghệ An, 2005; Địa chí huyện Nghi Lộc/ Ninh Viết Giao cb, Nguyễn Đình Chú, Đào Tam Tỉnh, Đinh Văn Niêm, Phan Đình Phương.- H., Chính trị Quốc gia, 2014; Cửa Lò linh khí một vùng sông nước/ Hoàng Anh Tài - Đào Tam Tỉnh.- Nghệ An, 2014…

Hồ Mạnh Hà

          Phát tích từ vùng đất Hạ Khê, tổng Phù Long, huyện Hưng Nguyên, nay thuộc xã Nam Cường, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, dòng họ Phùng ở phường Nghi Thu đã có mặt trên vùng đất thị xã Cửa Lò suốt hơn ba thế kỷ và đã trở thành một dòng họ nổi tiếng của vùng đất này với nhiều bậc danh tướng, lương thần có công lớn trong việc bảo vệ bờ cõi quốc gia cũng như chiêu dân lập ấp, vỗ về nhân dân để tạo ra một vùng đất trù phú đó là vùng đất Lộc Kén xưa, nay là phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò.

          Di cư về vùng đất Thu Lũng vào đầu thế kỷ XVII với địa vị của một dòng họ trâm anh thế phiệt, có nhiều bậc danh tướng thuộc hàng công hầu tiêu biểu như: Đề đốc thượng tướng quân Phùng Bá Ngự; Dĩ Quận công Phùng Quang Lộc; Đề đốc thượng tướng, Quận công, Thiếu úy, Thái bảo Phùng Bá Nghị; Lễ Quận Công Phùng Viết Đạm; Thượng tướng quận công Phùng Viết Đán, Vũ Thắng hầu Phù Bá Đạt; Triều trung hầu Phùng Bá Giàu;... Kế thừa truyền thống đó, họ Phùng làng Thu Lũng đã dần khẳng định được vai trò, vị trí của mình tại vùng đất mới thể hiện qua việc biến nơi đây từ vùng đất hoang hóa, nghèo nàn trở thành một miền quê trù phú. Đại diện cho việc khai cơ lập ấp đó chính là bốn thế hệ ông, cha, con, cháu nối tiếp nhau, khởi đầu là Triều Trung hầu Phùng Bá Giàu, tiếp nối quan viên Phùng Bá Của, Phùng Bá Cải, tức là Phùng Phúc Thiện và thế hệ cháu là Phùng Phúc Kiều. Đây cũng là một trong hai dòng họ (họ Phùng và họ Hoàng) để lại dấu ấn lớn cho vùng đất Thu Lũng ngày nay.

          Về công lao, hành trạng là như vậy, song người được xem là đặt nền móng và để lại dấu ấn cho việc hoàn thành sứ mệnh của cha ông trong việc khai cơ, lập ấp, bảo vệ vùng đất Cửa Lò chính là Phùng Phúc Kiều, một vị tướng tài, một vị quan thanh liêm mà hậu thế luôn nhắc đến. Thượng tướng Đô đốc Phùng Phúc Kiều sinh năm 1724 tại thôn Thu Lũng (Lộc Kén), xã Hiếu Hạp, huyện Chân Phúc, nay là phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An là một người tinh thông văn võ. Năm 1741 ông thi đậu loại ưu trong kỳ thi bác cử ngạch võ quan, được bổ nhiệm chỉ huy thủy đội ưu binh thuộc Đông Nam đẳng đạo. Năm 1753 được thăng Đốc lệnh quan thống lĩnh Đông Nam đẳng đạo thủy binh trấn giữ vùng sông biển từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh. Ông đã có nhiều công lao to lớn trong việc dẹp loạn đem lại yên bình cho đất nước, cho nhân dân. Trong đó nổi bật nhất là trận chiến trên sông biển và trên đất liền thuộc địa phận tổng Phù Long, Phủ Đức Quang. Ông được vua Lê Hiển Tông ban sắc phong, giao cho thẻ bài và cờ tiết việt để hiệu lệnh quân sỹ. Sắc phong có đoạn ghi: "Sắc cho Phó Thiên hộ Phùng Phúc Kiều ở xã Hảo Hợp, huyện Chân Phúc. Vì đã ở hậu nội Thủy đội ưu binh được vâng sai theo các đạo Đông, Nam giữ chức Đốc lệnh quan Hào Trung hầu đánh diệt giặc tại mặt bể và mặt trận trên đất Phù Long. Thật có công lao. Đã được chỉ chuẩn ứng Thiên hộ. Chức khả vi Kiệt trung Tướng quân, Thăng thụ Đốc lĩnh quan, Thống lĩnh Đô Trung hầu. Hiệu lệnh tư kì, bài tráng sĩ Vân kị, Thân tuyến cố sắc.

Sắc Mệnh Linh Bảo!

Sắc ban ngày 12 tháng 11 năm Cảnh Hưng 44 (1783)".

          Không những là vị tướng tài ông còn là một con người hết sức yêu thương vỗ về nhân dân, trong quá trình bảo vệ vùng biển, nhận thấy Thu Lũng là một vùng đất tốt, ông đã chiêu tập dân ly tán, vận động binh lính về khai canh khai khẩn, lập nên những xóm làng trù phú. Tại vùng đất Thu Lũng hiện nay còn có nhiều địa danh mà ông đặt ra như: "làng Trước", "làng Sau", "làng Lộc Kén", "đồng Bể",… bên cạnh đó ông còn xin triều đình miễn sưu thuế cho dân, thành lập dân binh vừa bảo vệ vùng biển vừa bảo vệ xóm làng.

          Năm 1792 sau khi tướng công Đô đốc Đô trung hầu Phùng Phúc Kiều qua đời, lăng mộ ông bà được dựng ở mé tả trước Đình làng Thu Lũng để quanh năm con cháu dòng họ và dân làng hương khói thờ phụng. Khi ông mất được triều đình hộ táng.

          Tọa lạc tại vị trí trung tâm của làng Hiếu Hạp xưa, di tích Đền thờ và mộ Phùng Phúc Kiều là một kiến trúc cổ kính linh thiêng gồm bốn hạng mục công trình chính: Cổng, nhà Bia, Đền thờ và Khu lăng mộ ông Phùng Phúc Kiều và vợ là bà Lê Thị Loan được bố trí đăng đối trên một khu đất bằng phẳng diện tích 1600m2 với nhiều cây cổ thụ bao quanh. Nguyên xưa đền thờ ông được xây dựng riêng tại vùng đất "làng Sau", thuộc xóm Đại Thống, do thiên tai, chiến tranh, đền đã bị xuống cấp con cháu dòng họ Phùng đã chuyển về bên cạnh khu lăng mộ ông Phùng Phúc Kiều để thuận lợi cho việc bảo vệ và trông nom hương khói.

Về đặc điểm kiến trúc: cơ bản kết cấu kiến trúc đền còn giữ được những nét cổ kính có niên đại cách ngày nay hơn 100 năm mặc dù vị trí đã được thay đổi, trải qua bao biến đổi của lịch sử, thiên tai khắc nghiệt, bom đạn chiến tranh nhưng di tích vẫn tồn tại với thời gian thi gan cùng tuế nguyệt, để nói rằng giá trị vững bền của một công trình kiến trúc cũng như sự vững bền, trường tồn của một dòng họ. Đền thờ có kiến trúc 3 tòa, kiến trúc theo kiểu chữ Tam () gồm hạ điện, trung điện và thượng điện. Trải qua nhiều lần tu bổ tôn tạo, mặc dù chất liệu có nhiều thay đổi song vẫn giữ được nét cổ kính của vương triều Nguyễn với hệ thống khung gỗ lim chạm trổ hoa văn tinh xảo các đề tài tứ linh, tứ quý điểm xuyết trên các cấu kiện như xà, hạ, bẩy hiên, nền lát gạch đất nung, mái lợp ngói âm dương. Hiện nay tại đền thờ còn lưu giữ được rất nhiều hiện vật, tư liệu chứa đựng nhiều giá trị như: sắc phong thời Lê Cảnh Hưng năm thứ 44 (1783) cho ông Phùng Phúc Kiều; Khám thờ chạm trổ hoa văn long, ly, quy phượng; hương án, bài vị,… đặc biệt là hệ thống hoành phi, câu đối cổ được đánh giá là vô cùng có giá trị về mặt nội dung và mỹ thuật.

          Khu lăng mộ có kiến trúc hình vuông xây bằng chất liệu đá và vữa tam hợp, chiều dài của các cạnh là 10,35m, tường bao cao 0,8m, bốn góc tường bao được xây trụ trang trí hình hoa sen, phía trước khu lăng mộ xây nhô cao tạo thành một tấm bia mộ lớn, trang trí hoa văn long phượng, hoa cúc dây, chính giữa dựng mộ chí bằng đá sa thạch, phía trong khắc nổi dòng chữ "Đệ nhị thế tổ song mộ bi chí - Tổ khảo lê triều Đô Trung hầu Phùng tướng công, tự cao ngưỡng Phủ quân; Tổ tỷ y phu chức Lê Thị - hiệu hoa âm nghi nhân" mặt ngoài trang trí hổ phù và một bức Hà đồ lạc thư. Có một điều khá lạ so với các khu lăng mộ khác, khu lăng mộ 2 vị tổ họ Phùng Nghi Thu bề ngoài xây khá kiên cố, song phần mộ chỉ là hai khoảng đất hình vuông và hình tròn đắp nổi so với mặt đất khoảng 30cm. Điều này được con cháu dòng họ Phùng lý giải theo nguyên lý âm dương "trời tròn đất vuông", tuy nhiên ẩn sâu xa trong đó là phong tục của dòng họ được truyền lại từ xưa để tưởng nhớ lại thủa hồng hoang khi dòng họ về định cư tại vùng đất Cửa Lò.

          Có thể nói di tích Đền thờ và Lăng mộ Đô trung hầu Phùng Phúc Kiều là di sản văn hóa có giá trị đang được chính quyền địa phương cùng con cháu dòng họ lưu giữ và bảo tồn khá nguyên vẹn. Từ những giá trị lịch sử, văn hóa hiện hữu tại di tích ngày 22 tháng 4 năm 1999, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định số 34/QĐ-UB xếp hạng di tích Đền thờ và Lăng mộ Phùng Phúc Kiều là Di tích Lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Trải qua hơn ba trăm năm tồn tại và phát triển trên mảnh đất Cửa Lò với 19 đời, 14 chi phái, hai mươi năm di tích được xếp hạng vinh danh các thế hệ con cháu dòng họ Phùng Nghệ An nói chung, làng Thu Lũng nói riêng luôn chăm sóc, bảo quản và phát huy giá trị để Di tích ngày càng phát triển trở thành một địa điểm thu hút du khách thập phương đến thăm quan, chiêm bái.

 Tài liệu tham khảo

1. Lý lịch Di tích Đền thờ và Lăng mộ Phùng Phúc Kiều, năm 1997, lưu tại: Sở Văn hóa và Thể thao Nghệ An.

2. Gia phả dòng họ Phùng, làng Thu Lũng (bản dịch) do ông Phùng Lê cung cấp.

3. Việt sử thông giám cương mục, Nhà xuất bản Sử học Hà Nội.

4. Nghệ An Ký, Bùi Dương Lịch, NXB Khoa học Xã hội, năm 2004.

 

Thu Vân

          Dòng họ Phùng từ xưa đã sinh ra các danh nhân, hào kiệt có công lớn với đất nước và mảnh đất phên dậu Nghệ An. Đặc biệt thời Lý - Trần có ông Phùng Tá Chu nổi tiếng là công thần, có công phù lập nhà Trần, nên được phong tới Đại vương khi còn sống. Từ nhỏ, Phùng Tá Chu đã được giáo dưỡng cẩn thận để khi trưởng thành có thể "tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Tư tưởng Nho giáo Khổng Tử được thấm nhuần trong mọi thế hệ gia tộc ông cũng như tầng lớp quan lại phong kiến đương thời (trung quân), nhưng ông lại không trung quân mù quáng (ngu quân) mà tiếp thu được nếp tân tiến của các vị tiền bối dòng họ luôn yêu nước, thương dân chống chế độ áp bức lỗi thời, tôn lập nhà nước tiến bộ. Ông có tài về thi thư và binh pháp nên tuổi trẻ đã được cất nhắc làm quan và thăng tiến nhanh chóng trong chốn quan trường triều Lý. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, dưới thời nhà Lý, ông đã từng được phong chức tới Thái phó (giữ Vệ binh, vào hàng Tam công, là trọng thần của nhà vua): "Gia phong Thái phó triều Lý là Phùng Tá Chu làm Hưng Nhân vương"(1). Khi nhà Lý suy yếu (thoái trào), ông cùng các trí thức trọng thần âm mưu phế truất nhà Lý lập nên nhà Trần. Sách Đại Việt sử ký toàn thư có ghi về Phùng Tá Chu:

          Bính Thân [Thiên ứng Chính Bình] năm thứ 5 [1236 - mùa đông tháng 10] gia phong Hưng Nhân Vương Phùng Tá Chu làm Đại Vương.

          Trước nữa Phùng Tá Chu đã được cử vào Nghệ An công cán, có năm đã được uỷ quyền thay mặt vua hành xử mọi việc. Sách cũng ghi:

          Bính Tuất, Kiến Trung năm thứ 2 [1226], mùa đông tháng 10… Sai Phụ quốc Thái phó Phùng Tá Chu quyền Tri phủ Nghệ An, cho phép ban tước từ tá chức, xá nhân trở xuống cho người khác, rồi sau về triều tâu lên…

          Quý Tỵ, Thiên ứng Chính Bình năm thứ 2 [1233], sai Phùng Tá Chu duyệt định các ấp lớn phủ Nghệ An.

          Đến triều Trần, triều Lê họ Phùng Nghệ An càng có nhiều nhân vật nổi tiếng có công lao đóng góp cho quê hương, đất nước. Tại đền thờ họ Phùng Nam Cường, Nam Đàn là nơi thờ và có gia phả nói rõ về những người họ Phùng danh gia vọng tộc. Đền thờ xưa thuộc làng Xuân Trạch, xã Hạ Khê, tổng Phù Long, huyện Hưng Nguyên, nay thuộc xã Nam Cường, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Các cụ tiên tổ họ Phùng định cư ở đây chắc là từ lâu đời và chọn vùng đất Lam Thành, nơi đóng trấn sở của Nghệ An từ xa xưa để lưu danh và phát tích. Đền thờ xưa có 3 toà, nằm ở trung tâm xóm, trước sau có tới 7 gia đình đều họ Phùng trấn giữ, sau di dời đi theo chủ trương chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp của địa phương. Nay 2 toà Thượng và Hạ điện có từ thời Lê Trung Hưng còn lại đã được trùng tu nhiều lần, đợt gần đây nhất là năm 1979 và 2008. Hai toà đền thờ các tiên tổ họ Phùng khá khang trang, đẹp đẽ. Đền thờ ở tách riêng ngoài xóm, nằm giữa đồng ruộng thoáng đãng. Cây bàng cổ thụ trước sân bái đường càng tôn thêm vẻ uy nghiêm và linh thiêng cho nơi đền thờ tọa lạc.

          Gia phả dòng họ Phùng Nam Cường được lập vào năm 1784, do Thượng tướng, Quận công Phùng Viết Đán biên soạn. Theo gia phả dòng họ để lại, ngày 12/10 năm Tân Mão (1711) đền được dựng theo sắc lệnh của vua Lê Dụ Tông (1705-1729) để thờ các nhân vật họ Phùng có công với đất nước. Ở chính điện có long ngai, bài vị thờ 3 vị Tiền thí Tổ: Hành khiển Phùng Sĩ Chu; Thiếu uý Đông các Đại học sĩ, Thượng tướng, Quận công Phùng Quang Lộc; Hoàng giáp, Thượng thư Phùng Khắc Khoan. Đền thờ cũng có các đại tự, biển, câu đối cổ ghi tích… Đại tự: Minh đức viễn hĩ (đức sáng lan xa); biển: Lê triều - Phụ quốc; đối liên:

          Phù Long sinh hào kiệt phụ quốc công cần lưu quốc sử;

          Phùng tộc hiển phúc thần độ dân ân đức thấu nhân tâm.

          Vị thí Tổ Phùng Sĩ Chu được thờ ở đền Nam Cường là người có công lớn với nhà Trần, đặc biệt làm quan đến chức Hành khiển, từng đi sứ nhà Nguyên. Sách Đại Việt sử ký toàn thư  ghi về Sĩ Chu như sau:

          Lấy Phùng Sĩ Chu làm Hành khiển

          Sĩ Chu là người [xã] Cổ Liễu, Trà Hương. Khi người Nguyên sang, vua sai Sĩ  bói. Sĩ  đoán rằng:"Thế nào cũng đại thắng".

          Vua mừng bảo: "Nếu đúng như lời đoán sẽ có trọng thưởng".

          Giặc yên, vua nói: "Thiên tử không có nói đùa". Do đấy có lệnh này. Sĩ Chu là người trung hiếu, có tài văn nghệ, làm quan đến Thiếu phó, hiệu là Tốn Trai tiên sinh.

          Gia phả và Thần vị Phùng Sĩ Chu tại đền ghi: 

          Tiên thí Tổ Bắc quốc nhân Phó sứ quan. Dã tính Phùng, huý Sĩ Chu phụng quốc mệnh sứ giao, đương Trần triều tại vị vi phụ đạo quan đồn tại Thái Nguyên, Phụ quốc Trần triều Bắc Nam phụ chính. Kỳ thí Tổ tỉ Trần công chúa quốc phu nhân…

          Ông Sĩ Chu được nhà vua gả công chúa và từ đây đã sinh ra các nam tử di duệ tuấn tú cho dòng họ Phùng ở cả nước và xứ Nghệ.

           Ông Tổ họ Phùng từ triều Lê là Phùng Quang Lộc tham gia nghĩa quân Lam Sơn, giúp nhà Lê từ ngày đầu khởi nghĩa kháng chiến chống giặc Minh đến thắng lợi. Ông lại có công trong dẹp loạn Lê Nghi Dân, phù lập vua Lê Thánh Tông, nên được phong là Khai quốc Trung hưng công thần và chức tước Thượng tướng, Quận công, Đông các Đại học sĩ, Thiếu uý. Phả ghi:

          Thái tổ Cao Hoàng đế, tức vị hiệu xưng Thuận Thiên nguyên niên, nãi hội chư tướng, định công hành đương thị công cao hạ vi phẩm trật. Dĩ Dị Quận công hữu đại công lao, phong vi Khai quốc thôi trung dương võ minh nghĩa Phụ quốc công thần Đặc tiến khai phủ kiềm giao Dực tướng Tứ kim phù, phong Thiếu bảo, tặng Thiếu uý Đông các Đại học sĩ, Dị Quận công.

Tạm dịch:

          Thái tổ Cao Hoàng đế [tức Lê Lợi] lên ngôi, xưng niên hiệu là Thuận Thiên năm thứ nhất [1428]. Vua bèn họp các chư tướng đang giữ chức văn, võ bách quan để bình xét công trạng cao, thấp để khen thưởng, ấn định cấp bậc, phẩm trật thích đáng. Dị Quận công [Phùng Quang Lộc] là người có công lớn, được nhà vua khen ngợi và phong: Khai quốc thôi trung dương võ minh nghĩa Phụ quốc công thần Đặc tiến khai phủ, kiêm giao Dực tướng Tứ kim phù, phong Thiếu bảo, tặng Thiếu uý Đông các Đại học sĩ, Dị Quận công.

           Đặc biệt trong các vị họ Phùng được thờ thì Phùng Khắc Khoan (1528-1613) là bậc danh nhân văn hoá, lịch sử của đất nước. Ông là nhà hoạt động chính trị, kinh tế, nhà thơ, tự là Hoằng Phu, hiệu Nghị Trai, sinh ra ở làng Phùng Xá (tên Nôm là làng Bùng), huyện Thạch Thất (nay thuộc Hà Nội). Ông theo học Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm. Vì là hậu duệ của các công thần khai quốc triều Lê, nên dù học rất giỏi, nhưng ông không chịu đi thi và làm quan cho nhà Mạc. Năm 1550, ông vào Thanh Hoá theo nhà Lê và đỗ Hoàng giáp tại khoa thi Tiến sĩ của nhà Lê ở Thanh Hoá. Ông được phong công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu. Năm 1597, ông làm Chánh sứ sang Trung Quốc cầu phong cho vua Lê. Về nước, được phong làm Thượng thư bộ Hộ, rồi bộ Công, tước Mai Quận công, rồi về hưu. Ông từng bị triều đình đày vào ở Thành Nam, Con Cuông, Nghệ An một thời gian rồi mới được đưa về triều làm quan và lập công to lớn cho nước nhà. Thời gian ở Nghệ An ông có sáng tác thơ chữ Nôm, như Ngư phủ nhập Đào Nguyên, Lâm truyền vãn… Ông còn có các tập thơ chữ Hán: Ngôn chí thi tập, Mai Lĩnh sứ hoa thi tập… Người đương thời tôn ông là Trạng Bùng và sau khi ông mất được dân làng Bùng thờ là Tổ sư nghề dệt lượt, xây đền thờ tưởng nhớ công ơn ông.  

          Tả hữu chính điện thờ: Đề đốc, Thượng tướng, Quận công Phùng Bá Ngự; Đề đốc, Thượng tướng, Quận công, Thiếu uý, Thái bảo Phùng Bá Nghị; Thượng tướng, Quận công Phùng Bá Ngợi; Đô đốc, Thượng tướng, Thiếu bảo Lễ Quận công Phùng Viết Đạm; Trung lang tướng, Triều Trung hầu Phùng Bá Giàu; Vĩnh An hầu Phùng Viết Tào; Trình Trường hầu Phùng Viết Nho. Các vị họ Phùng này và con cháu họ đều có công lớn trong thời Lê Trung Hưng. Lễ Quận công Phùng Viết Đạm đã từng được Lệnh chỉ của vua Bảo Thái khen tặng và giao cho con cháu và bản quán lo việc phụng thờ:

          Lệnh chỉ: Đại nguyên soái Tổng quốc chính sư thượng thượng văn uy minh nhân công,  Thánh đức An Vương lệnh chỉ: Tiền tặng Thiếu bảo Lễ Quận công; đích Phùng Tào; điệt Phùng Khanh, Phùng Nịnh, Phùng Thuỵ, Phùng Lai, Phùng Thức, Phùng Tương, Phùng Thị Trang, Phùng Thị Liệt, Phùng Thị Vũ, Phùng Thị Nhạc toàn tộc đẳng hệ nhị tổ phụng thị. Tiên triều thảo tặc hữu công ứng. Nhưng cấp bản quán Hưng Nguyên huyện, Hạ Khê xã vi tuân y cựu lệ hứa vi tạo lệ dĩ triêm ân như xã nội, dĩ biệt cấp nhược can đương phụng. Nhược sinh sự nhiễu dân hữu quốc pháp tại tư lệnh chỉ.

          Bảo Thái nguyên niên, bát nguyệt, thập lục nhật.

Tạm dịch:

          Lệnh chỉ. Đại nguyên soái Tống quốc chính sư thượng thượng văn uy minh nhân công, Thánh đức An Vương lệnh chỉ: Trước tặng Thiếu bảo Lễ Quận công [tức Phùng Viết Đạm]; con trưởng Phùng Tào; các cháu Phùng Khanh, Phùng Nịnh, Phùng Thuỵ, Phùng Lai, Phùng Thí, Phùng Tương, Phùng Thị Trang, Phùng Thị Liệt, Phùng Thị Vũ, Phùng Thị Nhạc và toàn thể dòng họ phụng thờ. Ở triều trước, ngài đánh giặc có công lao, đã lệnh cấp cho bản quán ở xã Hạ Khê, huyện Hưng Nguyên tuân theo lệ cũ làm sai dịch (phục dịch việc thờ cúng). Để thấm nhuần ơn huệ, trong xã được cấp như thế nào thì phụng thờ đúng như thế. Nếu sinh sự và nhũng nhiễu đến dân thì phải chịu tội theo phép nước như trong lệnh chỉ này.

          Ngày 16, tháng 8 năm Bảo Thái thứ nhất (triều vua Lê Dụ Tông - 1720).

          Như vậy là Thiếu bảo Lễ Quận công Phùng Viết Đạm đã được triều đình cấp ban đất hưởng hoa lợi dùng làm lễ thờ cúng và giao cho con cháu, bản xã thực hiện theo lệnh chỉ vua Lê, chúa Trịnh.

          Trải qua năm tháng, do lũ lụt thiên tai và các biến động xã hội đã làm di tích đền thờ họ Phùng ở Nam Cường bị hư hỏng, các đồ tế khí mất mát nhiều, nhưng đến nay, rất may là đền còn lưu giữ được nhiều hiện vật, đồ tế khí quí và các chứng tích của cha ông trong phong trào Cần vương, trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, như: 7 long ngai bài vị cổ; long kiệu cổ; 2 khẩu súng trong phong trào Cần vương; các câu đối, đại tự cổ; mộ của Phùng Quận công; Bằng khen của UBND tỉnh tặng cho đền thờ và dòng họ có công trong kháng chiến chống Mỹ, v.v...

          Một chi họ Phùng Phù Long di cư về Cửa Lò cũng đã sinh ra một số nhân vật nổi tiếng thời Lê Trung Hưng. Ở Nghi Thu còn có ngôi đền thờ Đô đốc Phùng Phúc Kiều, ngư­ời có công xây dùng, bảo vệ đất đai, vùng biển Cửa Lò. Năm 1753, ông đ­ược triều đình giao cho trấn giữ vùng biển với chức Khả vi Trung      tư­ớng quân, Đốc lệnh quan. Do có công trấn giữ và diệt đư­ợc nhiều giặc xâm phạm vùng sông Lam và vùng biển Cửa Lò, nên đã được phong đến chức Đô đốc, tước hầu và giao cho toàn quyền Thống lãnh thủy quân ư­u binh, trấn thủ suốt từ Thanh Hóa cho vào đến Hà Tĩnh. Đền thờ và mộ Phùng Phúc Kiều đã đ­ược xếp hạng là Di tích Lịch sử Văn hóa để bảo vệ.

          Một chi họ Phùng từ Cửa Lò di cư đi lập nghiệp ở xã Hạnh Lâm, Diễn Châu và xã Phú Phong, nay là xã Diễn Quảng, huyện Diễn Châu cũng nổi tiếng với các nhân vật có công tích với quê hương đất nươc. Ông Phùng Công Sức, tên chữ là Yên Đạo, con ông Phùng Bá Cải và bà Trần Thị Tính(2). Ông sinh vào giữa thế kỷ XVII, trong một gia đình tương đối khá giả có truyền thống làm quan tại làng Thu Lũng, nay là xã Nghi Thu, thị xã Cửa Lò. Ông nội của Phùng Công Sức là Trung lang tướng, Triều Trung hầu Phùng Bá Giàu, một vị tướng thời Lê Trung Hưng; cháu ruột là danh tướng thời hậu Lê, Phùng Phúc Kiều.

          Vào những năm 20 của thế kỷ XVIII, sau một thời gian tìm hiểu. Thấy vùng đất Đông Thành có nhiều tiềm năng phát triển mà chưa được khai phá, địa thế rộng rãi, có nhiều ưu thế để có thể sản xuất, phát triển nông nghiệp lâu dài, ông cùng với gia quyến đến vùng đất Hạnh Lâm, tổng Lý Trai, phủ Diễn Châu, huyện Đông Thành, để khai cơ, lập ấp. Một thời gian sau, khi mọi việc ở đây tương đối ổn định. Ông tiếp tục mở mang đất đai đến vùng đất Trang Đót. Công việc khai hoang của ông sớm có kết quả, diện tích đất đai canh tác ngày càng được mở rộng ra nhiều vùng lân cận, đời sống của gia đình ông và các hộ dân ở đây ngày càng ổn định. Ông rất chú trọng đến việc mở mang đường sá để tiện việc đi lại và giao lưu với các làng, xóm lân cận, xoá bỏ sự ngăn cách cố hữu vốn tồn tại lâu đời, tạo nên sự cố kết trong cộng đồng làng xã. Nhờ vậy, vùng Trang Đót ngày càng được nhiều người biết đến, các dòng họ nơi khác cũng đến đây làm ăn, sinh sống ngày càng đông, xóm làng trở nên đông vui, trù phú. Ông đặt tên cho vùng đất mới là làng Thanh Đạt(3) với ý muốn cho vùng đất này luôn thanh bình và phát triển. Sau khi mất, nhớ đến công lao của ông, nhân dân làng Thanh Đạt đã tôn ông làm Phúc thần và dựng đền Cả trên núi Mộng Sơn(4) và Đình làng Thanh Đạt để thờ phụng, đời đời tưởng nhớ. Nhà thờ họ Phùng còn lưu được 1 sắc do vua Thành Thái ban tặng, nội dung như sau: "Sắc cho thôn Thanh Đạt, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, vốn thờ phụng vị thần Phùng Công anh linh, linh ứng đã từ lâu nhưng từ trước tới nay chưa được phong tặng. Cho nên, nay trẫm được kế thừa mệnh lớn, trông lại sức che chở của thần nên tặng phong là Thần Dực bảo trung hưng linh phù, chuẩn cho thờ phụng như cũ. Thần hãy giúp đỡ, che chở cho dân của ta. Kính Thay.

  Thành Thái ngày 20 tháng 2 năm 1890".

          Phùng Công Sức có vợ là Hoàng Thị Kiều (hiệu Từ Ái), sinh được 4 người con, 3 trai, 1 gái là: Phùng Cảnh Tinh, Phùng Cảnh Tượng, Phùng Cảnh Trù, và Phùng Thị Hàng(5).

          Nhà thờ họ Phùng ở Thanh Đạt còn thờ Ông Phùng Như Bích 如碧 giữ chức Đồng Tri phủ Trà Lân, nay là 2 huyện Con Cuông và Tương Dương. Gia phả và mộc phả có ghi vị hiệu của ông như sau: "Tiền tiến công thứ lang Đồng Tri phủ phủ Trà Lân hậu thần phụ Phùng quí công tự Như Bích 如碧"(6). Ông Phùng Như Bích là một nhân vật được nhân dân tôn làm hậu thần của làng Thanh Đạt và được phối thờ tại đền Cả ở trên núi Mộng Sơn cùng với Thành hoàng Phùng Công Sức.

          Phùng Văn Thanh (đời thứ 6), húy Noãn (ông Quan Năm), sinh vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XVIII, đời vua Lê Hiển Tông (1740 -1786), trong một gia đình và dòng họ có truyền thống tại làng Thanh Đạt, tổng Quan Hóa, Huyện Đông Thành, nay là xã Phú Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ông là con trai thứ 2 của ông Phùng Bộc Trọng(7) và là cháu đời thứ 4 của ông Phùng Công Sức. Từ nhỏ, ông đã sớm được gia đình cho học hành và rèn luyện tinh thông cả văn lẫn võ. Đầu năm 1788, vua Lê Chiêu Thống đã cầu cứu nhà Thanh sang xâm chiếm Đại Việt. Trước tình hình đất nước lâm nguy, ngày 22 tháng 12 năm 1788, đại quân của Hoàng đế Quang Trung (Nguyễn Huệ) tiến quân ra Bắc đánh giặc Thanh. Vua Quang Trung đã dừng lại Nghệ An để tuyển thêm quân, chiêu hiền đại sỹ, tập trung toàn lực cho kế hoạch chống giặc ngoại xâm. Ông đã hăng hái xin đầu quân ứng nghĩa, phò vua đánh đuổi giặc ngoại xâm, thống nhất đất nước. Vua biết Phùng Văn Thanh là một người có dòng dõi, gia đình, dòng họ có nhiều tướng giỏi từng làm việc trong các triều vua trước, lại thấy rõ tài năng và tố chất chỉ huy của ông nên đã tin dùng và tiếp nhận số quân lính của Phùng Văn Thanh, cử ông giữ chức Đô chỉ huy sứ(8) lãnh đạo một nhánh quân thuộc đội trung quân.

          Chỉ huy Đô sứ Phùng Văn Thanh được giao nhiệm vụ dẫn theo một bộ phận quân lính trong đội trung quân, thuộc đạo quân chủ lực, làm nhiệm vụ tấn công chính diện, có nhiệm vụ thực hành những trận quyết chiến chiến lược, kết hợp với đội tượng binh, tiến vào kinh thành Thăng Long. Trước thế mạnh như vũ bão của đại quân Tây Sơn, 29 vạn quân Thanh và các tướng lĩnh như Tôn Sỹ Nghị, Sầm Nghi Đống,... lần lượt bị tiêu diệt, kẻ chết ở chiến trường, người hoảng loạn tháo chạy về nước. Ông Phùng Văn Thanh đã dũng cảm chiến đấu và hy sinh anh dũng trong trận đánh này. Để tưởng nhớ công lao của ông, sau khi ông Phùng Văn Thanh qua đời, vua Quang Trung đã cho quân lính đem thi hài của ông về an táng tại xứ Lũy - quê hương của ông, nay là xóm Thanh Sơn, xã Phú Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An (hiện nay, mộ ông vẫn còn và đang được con cháu họ Phùng trông nom, hương khói).

           Họ Phùng từ đại tôn ở Phù Long, Hưng Nguyên và Nam Cường, Nam Đàn đã phát tích ra các chi Cửa Lò, Diễn Châu, Yên Thành và trở thành một dòng họ lớn mạnh trên đất Nghệ An. Dòng họ đã sinh ra các danh nhân, nhân vật có công lao to lớn cho sự nghiệp trung hưng đất nước các thời Lý - Trần - Lê - Nguyễn, đã được sử sách vinh danh, lưu tiếng cho đến ngày nay. Ngày nay con cháu di duệ họ Phùng Nghệ An vẫn tiếp tục được truyền thống tổ tiên, có các thế hệ có đóng góp nhiều thành tích xuất sắc trong học hành, sản xuất, chiến đấu cho sự nghiệp bảo vệ, xây dựng đất nước ngày càng thịnh đẹp.

Chú thích

1. Đại Việt sử ký toàn thư, Bản dịch của NXB KHXH, 1998.- T.2; các trang 10, 14-15.

2. Gia phả họ Phùng làng Thanh Đạt, bản dịch: Nguyễn Thăng Long, Phân viện Nghiên cứu Nghệ thuật miền Trung, trang 5 (bản chữ Hán viết năm 1937).

3. Nay là xã Phú Thành, huyện Yên Thành.

4. Năm 1967, do chiến tranh, đền Cả và Đình làng Thanh Đạt bị bom Mỹ phá hủy.

5.6.7.8. Gia phả họ Phùng làng Thanh Đạt, tài liệu đã dẫn, tr.6.

Sách tham khảo

1. Đại Việt sử ký toàn thư. T.1., T.2.- H., KHXH, 1998.

2. Lịch sử Việt . T.1.- H., KHXH, 1978.

3. Gia phả dòng họ: Nam Cường, Nam Đàn; Nghi Thu, Cửa Lò; Phú Phong, Diễn Châu và Yên Thành. Các hồ sơ di tích xếp hạng. Đi thực tế thực địa địa phương

1. Nguyễn Hữu Đạo (1659-?)

          Ông sinh năm Kỷ Hợi - 1659, người xã Lăng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. 32 tuổi đậu Hội nguyên Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp), khoa Tân Mùi - Chính Hòa 12 (1691), đời Lê Hy Tông.

          Văn bia Văn miếu Quốc Tử Giám, bia số 52: Bài ký đề tên Tiến sĩ khoa Tân Mùi niên hiệu Chính Hòa năm thứ 12 có ghi việc tổ chức khoa thi này như sau:

          … Mùa xuân, tháng 3 năm Tân Mùi, mở khoa thi lớn, cắt đặt các chức đề điệu, tri cống cử và giám thí, cùng các quan chức khác mỗi người coi một việc. Khi ấy các cống sĩ trong thiên hạ tới dự thi có 3.000 người, chọn những người trội nhất, được 11 người.

          Sang ngày mồng 2 tháng 5, tiến vào thi Điện, ấn định trên dưới, cho bọn Ngô Vi Thực 3 người đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, bọn Đào Quốc Hiển 8 người đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Ngày mồng 6 truyền gọi xướng danh, bộ lễ rước bảng vàng ra treo ở trước nhà Quốc học, ơn ban thứ bậc…

Đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân 3 người:

- Ngô Vi Thực: Xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai.

- Nguyễn Mại: Xã Ninh Xá, huyện Chí Linh.

- Nguyễn Hữu Đạo: Xã Quỳ Lăng, huyện Đông Thành.

          Như vậy, khoa thi Tiến sĩ năm này có tới 3.000 người dự thi và chí lấy đậu 3 vị Đệ nhị giáp (Hoàng giáp) và 8 vị Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, tổng cộng chỉ có 11 vị đậu khoa này. Trong 3 Đệ nhị giáp có tên Nguyễn Hữu Đạo. Ông thật sự là người học giỏi, đậu cao, nổi tiếng cả nước. Hiện ở xã Lăng Thành có mộ táng ông tại Đồn Tả, con cháu và dân làng quen gọi là mộ Quan Hoàng.

2. Nguyễn Thái Tuân (1839-1892)

          Ông sinh năm Kỷ Hợi - 1839, hiệu là Tứ Trì, quê ở làng Yên Tứ, xã Văn Tràng, tổng Đô Lương, huyện Lương Sơn, nay thuộc xã Yên Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Ông sinh ra trong một dòng họ có truyền thống hiếu học, khoa bảng và yêu nước, là con trai thứ 2 của Tiến sĩ Nguyễn Thái Đễ (1803-1856) và là anh của Cử nhân Nguyễn Thái Thực. Cụ Thái Đễ đậu Tiến sĩ khoa Kỷ Dậu, năm Tự Đức thứ 2 (1849), làm quan tới chức Thị độc, từng mở trường dạy học ở quê nhà, học trò theo học và thành danh rất đông.

          Nguyễn Thái Tuân thi đậu Cử nhân khoa Mậu Dần - Tự Đức 31 (1878). Khoa thi Hội Canh Thìn - Tự Đức 33 (1880) thì thi đậu Phó bảng. Ông được cử làm quan Tri phủ Quỳ Châu (nay là các huyện: Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong). Ông là người cương trực, thẳng thắn có khí tiết, đã ủng hộ phong trào Cần vương chống Pháp. Vua Hàm Nghi đã phong cho ông chức Tán tương quân vụ để cùng các lãnh tụ khởi nghĩa trong hai tỉnh Nghệ Tĩnh phối hợp chống thực dân Pháp xâm lược. Phong trào Cần vương tan vỡ, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt giải về Huế. Các lãnh tụ phong trào lần lượt bị bắt, giết, ông cũng bị Pháp bắt giải đi và giam tại nhà lao Vinh. Bọn giặc dùng mọi cách để mua chuộc và dụ dỗ ông đầu hàng, nhưng ông đã giữ trọn khí tiết, cương quyết không đầu hàng giặc. Ông đã uống thuốc độc tự tử để bảo toàn danh tiết và mất tại nhà lao Vinh vào năm 1892. Giặc Pháp cấm không cho đưa thi hài ông về quê chôn cất. Ba năm sau, con cháu và nhân dân mới lén đưa được hài cốt của ông về chôn cất, thờ cúng.

          Cách mạng tháng 8/1945 thành công, Ủy ban hành chính xã Văn Tràng đã quyết định đặt tên trường tiểu học đầu tiên của xã theo tên hiệu của ông là Trường Tiểu học Nguyễn Tứ Trì. Phó bảng Nguyễn Thái Tuân là tấm gương yêu nước, hiếu học, xứng đáng được vinh danh là danh nhân quê hương, đất nước để con cháu và các thế hệ trẻ học tập và noi theo.

          Dòng họ Nguyễn Thái Văn Tràng nối đời có khoa danh, có nhiều người thi đậu tú tài, cử nhân, tiến sĩ. Ngoài Tiến sĩ Nguyễn Thái Đễ và Phó bảng Nguyễn Thái Tuân, còn có các vị đậu đạt: Nguyễn Thái Thực, đậu Cử nhân khoa Kỷ Mão - Tự Đức 32 (1879); Nguyễn Thái Du, đậu Cử nhân khoa Đinh Dậu - Thành Thái 9 (1897); Nguyễn Thái Tự, tiến sĩ Sinh học (1983), nổi tiếng với các đề tài bảo vệ môi trường sinh thái vùng rừng núi Trường Sơn và vinh dự được mang tên loài cá mới phát hiện lần đầu tiên trên thế giới; Nguyễn Thái Tuấn, tiến sĩ Thương mại; Nguyễn Thị Hiền, tiến sĩ Sinh học, bảo vệ tại Liên Xô; Cháu ngoại Bùi Hữu Phú, tiến sĩ Điện tử Viễn thông bảo vệ tại Nhật Bản; Nguyễn Hữu Thành Tâm, tiến sĩ kinh tế xã hội, bảo vệ tại Pháp khi mới 28 tuổi.

 

Sáng ngày 27/12/2018, Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội nghị Tổng kết hoạt động khoa học công nghệ năm 2018 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2019.

          Trong năm 2018, ngành KH&CN tập trung triển khai hiệu quả các chương trình phát triển KH&CN, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và triển khai các tiến bộ kỹ thuật, coi trọng phát triển doanh nghiệp KH&CN và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nhằm tạo ra các sản phẩm đột phá có giá trị kinh tế: Hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng và truyền thông KHCN, có nhiều đổi mới sáng tạo;...

          Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, đ/c Huỳnh Thanh Điền - Phó Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá cao những kết quả mà ngành KH&CN đạt được trong năm 2018. Đồng thời,  yêu cầu Sở KH&CN trong thời gian tới cần tập trung: Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TU về phát triển KH&CN; chú trọng hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ gắn với ứng dụng thực tiễn; quan tâm triển khai các đề án có ứng dụng cao trong thực tiễn, phát triển thị trường KH&CN; hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; đổi mới hoạt động KH&CN cấp tỉnh, huyện. Nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng...

          Tại Hội nghị, Sở KHCN đã tổ chức bàn giao 17 đề tài, dự án nghiên cứu KH&CN nghiệm thu trong năm 2018 cho 7 sở, ban, ngành và 3 huyện, thành, thị. 

          Dịp này, UBND tỉnh đã tặng cờ thi đua cho Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; 01 cá nhân được tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp tỉnh; 3 tập thể, 4 cá nhân có thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực KH&CN năm 2018 đã được nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh.

Hồng Bắc

* Hội đồng biên tập Chuyên san KHXH&NV họp tổng kết năm 2018, triển khai nhiệm vụ 2019

          Sáng ngày 5/1/2019, Hội đồng biên tập Chuyên san KHXH&NV Nghệ An họp tổng kết năm 2018, triển khai nhiệm vụ năm 2019.

          Năm 2018 Chuyên san đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao xuất bản đúng tiến độ 12 số, với 900 bản/số, thông tin được cập nhật nhanh chóng, chất lượng đảm bảo, phản ánh kịp thời, được độc giả quan tâm. Chủ đề của từng số được xây dựng, có tính hệ thống, tạo liên kết liền mạch, nhiều chủ đề gắn với những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội của tỉnh…

          Tại cuộc họp, ngoài việc đánh giá hoạt động năm 2018, các thành viên Hội đồng biên tập cũng đã thảo luận và thống nhất một số chuyên đề cho Chuyên san năm 2019.

          Kết luận Hội nghị, ông Trần Quốc Thành - Chủ tịch Hội đồng cảm ơn và ghi nhận những ý kiến đóng góp của các thành viên hội đồng. Đồng thời, đề nghị ban biên tập khắc phục một số hạn chế về kỹ thuật, chất lượng bài, phát triển cộng tác viên và thay đổi hình thức tổ chức bàn tròn. Về chuyên đề năm 2019, nên tập trung một số chuyên đề như: cải cách hành chính, kinh tế miền Tây, người Nghệ, các sự kiện lịch sử tiêu biểu trong năm 2019, năm chẵn ngày sinh và mất của một số nhân vật.

Hồ Thủy

* Nghệ An dự kiến sáp nhập 22 đơn vị cấp xã

          Theo Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 24/12/2018 của Bộ Chính trị về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã với mục tiêu, từ nay đến năm 2021, cơ bản hoàn thành việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã chưa đạt 50% về hai tiêu chuẩn diện tích tự nhiên.

          Từ năm 2022 đến năm 2030, trên cơ sở tổng kết việc thực hiện giai đoạn 2019-2021, xác định lộ trình thực hiện để đến năm 2030 cơ bản hoàn thành việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã phù hợp với Quy hoạch tổng thể đơn vị hành chính.

          Theo kết quả rà soát, toàn tỉnh Nghệ An hiện có 430/480 đơn vị cấp xã chưa đạt tiêu chuẩn về diện tích và quy mô dân số, trong đó có 22 đơn vị dưới 50% cả tiêu chuẩn diện tích và dân số.

          Trong quá trình thực hiện việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã đồng thời giải quyết chế độ, chính sách hợp lý cho cán bộ, công chức, viên chức có liên quan và có lộ trình bố trí, sắp xếp hợp lý để bảo đảm đúng số lượng quy định.

Bá Tài (Theo Baonghean.vn)

* Chung kết cuộc thi "Xã nông thôn mới đẹp và thôn, bản nông thôn mới đẹp năm 2018"

          Sáng 19/1, UBND tỉnh, Văn phòng Điều phối Chương trình MTQG xây dựng NTM tỉnh tổ chức chung kết cuộc thi "Xã nông thôn mới đẹp và thôn, bản NTM đẹp năm 2018".

          Căn cứ vào kết quả chấm thi xã NTM đẹp tại các địa phương, toàn tỉnh có 17 xã và 3 thôn, bản của 14 huyện, thị, thành phố chọn tham gia chung kết cuộc thi xã NTM đẹp và thôn, bản NTM đẹp tỉnh Nghệ An năm 2018.

          Sau các phần thi: Chấm điểm thực tế tại cơ sở, thuyết trình, phóng sự… xã Hưng Tân (Hưng Nguyên) đã xuất sắc giành giải Nhất cuộc thi "Xã NTM đẹp và thôn bản NTM đẹp năm 2018", giải Nhì thuộc về xã Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu), 2 xã đạt giải Ba gồm: Diễn Tháp (Diễn Châu) và Thanh Lĩnh (Thanh Chương), 5 xã đạt giải Khuyến khích; Giải Nhất thôn, bản NTM đẹp được trao cho thôn Nghĩa Chính (xã Nghĩa Lâm, huyện Nghĩa Đàn), giải Nhì thuộc về bản Lầu 2 (Xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu) và giải Ba thuộc về thôn Thuận Yên (xã Nghĩa Hoàn, huyện Tân Kỳ).

Ngoài ra, BTC cuộc thi cũng trao các giải phụ như: xã có môi trường xanh sạch đẹp, có đường bê tông đẹp; xã miền núi có cảnh quan đẹp; xã bố trí quy hoạch dân cư hợp lý…

Gia Khánh (theo Baonghean.vn)

* Tập đoàn TH: 3 lần liên tiếp đạt thương hiệu quốc gia

          Theo Quyết định số 4669/QĐ-BCT ngày 18/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Công thương - Chủ tịch Hội đồng Thương hiệu Quốc gia, Công ty Cổ phần Sữa TH đã được Hội đồng Thương hiệu Quốc gia công nhận là doanh nghiệp có thương hiệu sản phẩm đạt Thương hiệu Quốc gia năm 2018 và được mang biểu trưng của Chương trình trong hai năm từ 2018 đến 2020.

          Đây là lần thứ 3 liên tiếp TH vinh dự và tự hào được công nhận đạt "Thương hiệu quốc gia", và được vinh danh với năm nhóm sản phẩm: Sữa tươi TH True MILK, nhóm sản phẩm công thức TOPKID, Sữa tươi sạch học đường TH SCHOOL MILK; sữa chua TH true YOGURT và sữa chua uống tiệt trùng TH TOPTEEN.

          Ngoài các sản phẩm từ sữa, TH phát triển những sản phẩm mới như nước uống thảo dược TH true Herbal, sữa hạt cao cấp TH true NUT, nước uống lên men từ mầm lúa mạch TH true MALT, nước tinh khiết TH true WATER. Công ty đang tiến những bước vững chắc trong nước, mở rộng đầu tư vào các dự án chăn nuôi và chế biến bò sữa tại Thanh Hóa, Hà Giang, Phú Yên. Bên cạnh đó, doanh nghiệp xúc tiến đầu tư sang các thị trường quốc tế, nổi bật là dự án Tổ hợp chế biến sữa và chăn nuôi bò sữa công nghệ cao tại Nga với tổng vốn 2,7 tỷ USD, đặt mục tiêu sớm hiện diện tại Mỹ, Trung Quốc, khu vực ASEAN.

P.V (Theo Dân trí)

* Nghiệm thu Đề tài "Huy động nguồn lực người xứ Nghệ ở trong và ngoài nước đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2"

          Ngày 18/1/2019, tại hội trường Sở Khoa học và Công nghệ đã diễn ra buổi nghiệm thu đề tài "Huy động nguồn lực người xứ Nghệ ở trong và ngoài nước đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nghệ An" (giai đoạn 2). Đề tài do PGS.TS Trần Đình Thiên - nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam làm chủ nhiệm đề tài, Viện Kinh tế Việt Nam là đơn vị chủ trì. Đồng chí Trần Quốc Thành - GĐ Sở KH&CN làm Chủ tịch hội đồng nghiệm thu.

          Đề tài "Huy động nguồn lực người xứ Nghệ ở trong và ngoài nước đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An" (giai đoạn 1) nghiệm thu ngày 1/7/2015, đã làm rõ người Nghệ xa quê có những đóng góp nhất định vào công cuộc phát triển của tỉnh, song kết quả còn rất thấp với tiềm năng và nguồn lực của người Nghệ xa quê. Để thực hiện một số các giải pháp đề xuất của giai đoạn 1, đề tài tiếp tục triển khai giai đoạn 2 với một số nội dung chính: (1) Đề xuất với lãnh đạo Tỉnh một số cơ chế chính sách nhằm thu hút nhân tài, nguồn vốn của người Nghệ xa xứ về phát triển quê hương một cách thiết thực và hiệu quả nhất. (2) Thành lập Hội đồng tư vấn phát triển kinh tế - xã hội để tư vấn cho lãnh đạo Tỉnh những đề án lớn, kêu gọi đầu tư và xây dựng chính sách, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội trên các lĩnh vực.

          Tại buổi nghiệm thu, Hội đồng đã nghe PGS.TS Trần Đình Thiên báo cáo nội dung của đề tài giai đoạn II, bao gồm: Tham mưu thành lập tổ tư vấn phát triển kinh tế - xã hội tỉnh với 6 thành viên; Xây dựng quy chế hoạt động của tổ tư vấn cho lãnh đạo tỉnh Nghệ An và xây dựng dự thảo cơ chế chính sách để thu hút nguồn lực chất lượng cao người Nghệ trong và ngoài nước. Tổ chức một số buổi làm việc, tư vấn một số nội dung trong năm 2018 như: đánh giá thực hiện Nghị quyết 26 của BCT về phát triển tỉnh Nghệ An; Trực tiếp tư vấn một số các hội thảo lớn của tỉnh như Hội thảo phát triển thương mại, công nghiệp, KH&CN, phát triển miền Tây Nghệ An…

          Các thành viên hội đồng đã nhận xét, đánh giá phát biểu các ý kiến xoay quanh việc cần làm rõ hơn hoạt động cụ thể của tổ tư vấn, bổ sung chương trình hành động theo định hình khung, từ khâu đột phá chọn một số lĩnh vực tập trung thu hút, từ đó phân công cho các sở, ngành liên quan. Đề ra các cơ chế thu hút nguồn nhân lực và lưu ý nguồn nhân lực tại chỗ. Xây dựng khung chính sách tập trung lĩnh vực, đối tượng, cơ chế đi kèm và hình thức hỗ trợ...

          Kết quả nghiệm thu đề tài xếp loại: Khá

Nguyễn Thủy

* Giới thiệu sách: Sử thi Thái - Nghệ An

          "Sử thi Thái - Nghệ An" là cuốn sách do tác giả Quán Vi Miên sưu tầm và biên soạn, in và nộp lưu chiểu quý 4 năm 2018.

          "Sử thi Thái - Nghệ An" là tên gọi chung của tập sách gồm ba sử thi: Lai lông mương, Lai mổng mương, Lai Khủn Chưởng. Ba sử thi này đều ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên, làng bản, đồng thời thể hiện khát vọng của con người trong đấu tranh chinh phục thiên nhiên và các tộc người để xây dựng, mở mang làng bản, bờ cõi.

          Lai lông mương (Xuống mường) nói về sự xuất hiện vũ trụ, sự sống được sinh ra từ đất và trời. Lai mổng mương (Trông mường) ca ngợi cảnh đẹp của bản mường, thiên nhiên, con người, phong tục tập quán của người Thái miền Tây Nghệ An. Lai Khủn Chưởng (Khun chương) là nhân vật anh hùng trong sử thi của người Thái với ba nhiệm vụ: lấy vợ, làm lụng và đánh giặc, xây dựng bản mường ngày giàu đẹp. Ba cuốn Sử thi đều có phần giới thiệu, phiên âm tiếng Thái, dịch ra tiếng Việt và Phụ lục.

          "Sử thi Thái - Nghệ An" ra đời với mục đích gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Hoàng Anh

* Nghệ An : Con số, sự kiện nổi bật năm 2018

          1. Tốc độ tăng trưởng đạt 8,77%: Tốc độ tăng trưởng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2018 ước đạt 8,77%, cao hơn tốc độ tăng trưởng các năm gần đây. Trong đó, khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,04%; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 15,04% (riêng công nghiệp tăng 18,78%); khu vực dịch vụ tăng 6,96%...

          2. Thu ngân sách toàn tỉnh trên 13 nghìn tỷ đồng, đạt 103,6% dự toán và tăng 3,1% so với thực hiện năm 2017. GRDP bình quân đầu người ước đạt 38 triệu đồng (năm 2017 đạt 34,14 triệu đồng).

          3. Chỉ số cải cách hành chính tăng 7 bậc: Theo các bảng xếp hạng công bố trong năm 2018, chỉ số cải cách hành chính của Nghệ An xếp thứ 31/63 tỉnh, thành trong cả nước, tăng 7 bậc so với năm 2016. Chỉ số năng lực cạnh tranh xếp thứ 21, đứng đầu trong 6 tỉnh Bắc Trung bộ.

          4. Thực hiện tốt công tác sắp xếp và tinh giản biên chế theo Nghị quyết Trung ương 6 (Khóa 12) và Nghị quyết số 39 - NQ/TW của Bộ Chính trị; đã thẩm định đề án sắp xếp tổ chức bộ máy cho 33 đơn vị cấp tỉnh và 21 đơn vị cấp huyện; triển khai đề án vị trí việc làm trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức hội; tiến hành hợp nhất các ban quản lý dự án, các trung tâm,... ở các sở, các huyện, thành phố, thị xã; mỗi cơ quan, đơn vị giảm ít nhất một phòng, ban.

          5. Thêm 30 xã đạt chuẩn nông thôn mới trong năm 2018, nâng tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới của toàn tỉnh lên 211 xã, chiếm 48,96% tổng số xã; số tiêu chí bình quân các xã đạt 14,68 tiêu chí trên xã; có 3 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn và hoàn thành xây dựng nông thôn mới; 58 thôn (bản) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.

          6. Đưa vào sử dụng nhiều công trình trọng điểm như: cầu Hiếu 2 (thị xã Thái Hòa), bến xe phía Bắc thành phố Vinh, dự án nâng cấp đô thị Vinh (WB),...; Tiếp tục triển khai các dự án: Hồ chứa nước bản Mồng, các dự án đường giao thông nối Vinh - Cửa Lò (giai đoạn 1), đường Mường Xén - Ta Đo - Khe Kiền (đoạn Km 0 - Km 7), đường nối từ Quốc lộ 1A - huyện Nghĩa Đàn - thị xã Thái Hòa,...

          7. Đón trên 6 triệu lượt khách du lịch: Hoạt động du lịch Nghệ An năm 2018 có nhiều chuyển biến tích cực, ước tính toàn tỉnh đón và phục vụ trên 6 triệu lượt khách du lịch, trong đó tổng lượng khách lưu trú ước đạt trên 4,29 triệu lượt, tăng 11,5%; khách quốc tế đạt 128.700 lượt, tăng 17%; tổng thu từ khách du lịch ước đạt 7.410 tỉ đồng, tăng 21% so với năm 2017.

          8. Thực hiện tốt công tác an sinh xã hội: năm 2018 Nghệ An giải quyết việc làm mới khoảng 37.500 lao động, trong đó xuất khẩu lao động 13.594 người. Tỉ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 61%, trong đó tỉ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 55,5%; phong trào "đền ơn đáp nghĩa", chương trình vận động Quỹ vì người nghèo, Tết vì người nghèo được xã hội hóa sâu rộng,

          9. Lũ lụt ảnh hưởng lớn ở miền Tây: Do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 3 và 4, đã gây nên các trận lũ lụt lớn ở các huyện. Lũ chồng lũ khiến nhà dân bị sạt lở, hoa màu bị ngập úng, công trình giao thông, thủy lợi bị nước lũ cuốn trôi,... thiệt hại hàng trăm tỉ đồng.

          10. Bóng đá trẻ Nghệ An lên ngôi: Sau nhiều năm thăng trầm, năm 2018 đánh dấu sự "trở lại" của "lò" đào tạo Sông Lam Nghệ An với 3 chức vô địch các lứa tuổi U11, U13, U15; U17 đạt Huy chương Bạc, U19 Huy chương Đồng. Cùng với đó, tại Giải vô địch Quốc gia (V.League), Đội 1 Sông Lam Nghệ An đạt giải phong cách và xếp thứ 4 chung cuộc, đoạt Huy chương Đồng cúp Quốc gia, tại Đại hội thể dục thể thao toàn quốc, đội bóng đá nam Nghệ An đạt Huy chương Bạc. Cũng trong năm 2018, các cầu thủ người Nghệ An là: Văn Đức, Xuân Mạnh, Quế Ngọc Hải, Trọng Hoàng, Công Phượng,... đã góp công rất lớn trong thành tích chung của bóng đá Việt Nam với các danh hiệu: Á quân U23 châu Á, xếp hạng 4 ASIAD, vô định AFF cup 2018.

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.