« Quay lại

Chuyên san KHXH&NV số 4/2019

Nguyễn Thanh Điệp

Gần đến Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975), ký ức về những trận chiến trên biển không thể nào quên lại tràn về với cựu chiến binh Trần Ngọc Tuấn - người chính trị viên của Đoàn tàu Không Số năm xưa…

Nha Trang thời tiết chuyển sang hè, trời nóng bức, ngồi tâm sự cùng bác Tuấn tại ngôi nhà nhỏ số 62/33/8, phố Đặng Tất mà mồ hôi nhễ nhại nhưng bác vẫn say sưa kể về những kỷ niệm một thời cùng đồng đội vượt biển chở vũ khí, lương thực chi viện chiến trường miền Nam, trong đó có nhiều trận chiến không cân sức khi tàu của ta giáp mặt kẻ thù. Đang say sưa kể, giọng bác bỗng chùng xuống và xúc động khi nhắc tới các đồng đội hy sinh trên biển, hòa mình vào biển cả mãi không ngày trở về…

Những trận chiến không thể nào quên

Năm 1964, sau khi tập kết ra Bắc, bác Tuấn được cấp trên điều về công tác tại "Đoàn tàu Không Số" với nhiệm vụ là chính trị viên các tàu 43, 55 và 56. Những tháng ngày chiến tranh ác liệt, bác cùng đồng đội tổ chức 9 chuyến vận chuyển vũ khí vào các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trà Vinh, Quảng Ngãi; trong đó có 2 chuyến đặc biệt phục vụ Chiến dịch Bình Giã và Chiến dịch Mậu Thân 1968. Trong các lần vượt biển thì 2 lần bị địch bủa vây nhưng bác và đồng đội vẫn mưu trí thoát khỏi vòng vây địch. Bác cùng đồng đội đã trải qua nhiều thời khắc khi cái chết và sự sống chỉ trong gang tấc.

Nhấp một chén trà đặc, bác say sưa kể, trong số các chuyến đi vượt biển thì bác nhớ nhất là chuyến vượt biển chở 37 tấn vũ khí vào Đức Phổ, Quảng Ngãi. Theo kế hoạch tối ngày 27/2/1968, tàu 43 do thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng và bác là chính trị viên được lệnh xuất bến. Đến 0h50phút ngày 1/3/1968 khi tàu còn cách bờ khoảng mười lăm hải lý thì có 4 tàu địch rất to bí mật vây chặn phía sau. Lúc này thuyền trưởng đứng trên đài chỉ huy quan sát sẵn sàng phát lệnh nổ súng, còn Chính trị viên Tuấn lao đến từng vị trí kiểm tra và động viên anh em chiến đấu. Sau khi địch bắn pháo sáng thì đạn pháo từ 4 chiến hạm phía sau bắn cấp tập vào tàu. Khi pháo địch vừa dứt, lập tức từ mạn phải xuất hiện 10 tàu cao tốc, mỗi đợt 2 chiếc lao vào tấn công, ta bình tĩnh cơ động tàu, bí mật chờ tàu địch vào 200m rồi 150m thì thuyền trưởng ra lệnh bắn. Lập tức các loại súng của ta nhả đạn chính xác diệt một tàu địch ngay loạt đạn đầu và bắn bị thương 2 chiếc khác trong đợt tấn công sau. Tiếp theo có 3 máy bay trực thăng HU1A đến bắn súng máy cực nhanh, đạn trút như mưa, chỉ huy ra lệnh súng 12,7 ly bắn trả chính xác trúng 1 chiếc đâm đầu xuống biển, bắn rơi 2 chiếc khác trong đợt tấn công sau của địch. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt trong 3 giờ liền, tàu ta bị trúng đạn nặng, 3 đồng chí hy sinh, nhiều đồng chí bị thương. Tình thế mỗi lúc thêm bất lợi, nếu tiếp tục chiến đấu, trời sẽ sáng và nhất định địch sẽ tăng cường lực lượng vây tàu. Vì vậy cấp ủy và chỉ huy tàu quyết định hủy tàu để không lọt vào tay địch. Khi tiếng nổ ầm ầm vang dậy cả một vùng biển cũng là lúc bác và đồng đội đã bơi 200m vào bờ và bắt được liên lạc với địa phương, được nhân dân đưa xuống hầm bí mật để tránh cuộc càn quét của 1 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ đóng trên núi Vàng liên tục 10 ngày liền. Sau khi bác và các đồng đội được du kích thôn Quy Thiện, xã Phổ Hiệp tìm đường đến lần thứ hai mới vượt qua được ấp chiến lược để lên Phổ Cường và đến bệnh xá của bác sĩ Đặng Thùy Trâm chữa trị vết thương hơn 1 tháng, rồi từ đây đơn vị tiếp tục hành quân bộ vượt Trường Sơn ra Bắc.

Nhớ mãi bác sĩ Đặng Thùy Trâm

Bác trầm ngâm một lát như hồi tưởng lại cuộc chiến ngày trước rồi chậm rãi kể tiếp, "Bác có rất nhiều kỷ niệm về thời ở Đoàn tàu Không Số, nhưng một trong các kỷ niệm khó phai là những tháng ngày nằm điều trị vết thương ở bệnh xá của bác sĩ Đặng Thùy Trâm ở Đức Phổ". Bác vừa nói vừa trao cho tôi cuốn "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" và nói tiếp, trong cuốn này Thùy Trâm đã viết về bác và các đồng đội của bác đấy. Quả thực tôi cũng đã đọc cuốn "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" nhưng không thể nghĩ rằng người có tên "anh Tuấn" trong cuốn nhật ký này chính là bác Tuấn: "Vậy là chiều nay các anh lên đường, để lại cho mỗi người một nỗi nhớ mênh mông giữa khu rừng vắng vẻ. Các anh đi rồi nhưng tất cả ở nơi đây còn ghi lại bóng dáng các anh: những con đường đi, những chiếc ghế ngồi chơi xinh đẹp, những câu thơ thắm thiết yêu thương. Nghe anh Tuấn ra lệnh:"Tất cả ba lô lên đường!". Những chiếc ba lô vụng về may bằng những tấm bao Mỹ đã gọn gàng trên vai, mọi người còn nấn ná đứng lại trước mình bắt tay chào mừng một lần cuối...".

Dừng một lát, bác nói tiếp, bác sống được là nhờ bác sĩ Đặng Thùy Trâm ở Bệnh xá dân y Đức Phổ. Mười ngày đêm nằm hầm trong tình trạng thương vong, nếu không có sự đùm bọc, tận tình chăm sóc của nhân dân thì bác và đồng đội đã bị địch bắt. Nếu ở lâu dưới hầm bí mật nguy cơ sẽ bị lộ, nên bác và đồng đội được du kích cáng lên bệnh xá của bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Hai lần đi đều gặp địch buộc phải quay lại và đến đêm thứ ba mới về tới trạm xá. Trong thời gian điều trị, bác và đồng đội được bác sĩ Thùy Trâm chăm sóc tận tình, chu đáo. Hình ảnh cô gái thủ đô động viên, canh giữ suốt đêm nhưng rất lạc quan thôi thúc bác cố gắng lành bệnh để trở về đơn vị. Bác không bao giờ quên được giây phút chia tay trước khi vượt Trường Sơn trở lại đơn vị, bác có nói: "chúc Trâm ở lại mạnh giỏi, hẹn gặp lại trong ngày hội thống nhất Trâm nhé", Thùy Trâm mắt đẫm lệ, nắm chặt tay bác nói: "Thôi! Các anh đi mạnh giỏi, bình yên, hẹn một ngày gặp lại trên miền Bắc thân yêu". Lúc đó, Thùy Trâm bật khóc khiến bác và đồng đội không kìm được lòng mình… Và không ngờ lần chia tay ấy, vĩnh viễn bác chẳng bao giờ được gặp lại Thùy Trâm nữa!

Giữ mãi tình đồng đội và cuộc sống bình dị giữa đời thường

Qua tâm sự được biết, bác vui sướng nhất là cả 3 con tàu huyền thoại 56, 55 và 43 một thời bác làm Chính trị viên đều được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, riêng tàu 43 có thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng và thuyền phó Sáu Đức cũng đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Bác cho biết thêm, năm 2016 niềm vui đến với bác như được nhân đôi, đó là tỉnh Quảng Ngãi đã quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh đối với Di tích lịch sử: Điểm cập bến Tàu Không Số 43, tại bãi biển Quy Thiện, xã Phổ Khánh, huyện Đức Phổ. Với di tích lịch sử này, người dân cả nước có điều kiện đến thăm lại chiến trường xưa, nơi mà 17 cán bộ, chiến sĩ trên Tàu Không Số 43 chiến đấu anh dũng và thắp nén hương tưởng nhớ đến những đồng đội của bác đã anh dũng hy sinh tại nơi đây.

Anh dũng, kiên trung trong đấu tranh, trở về với đời thường, người cựu chiến binh Đoàn tàu Không Số năm xưa Trần Ngọc Tuấn vẫn luôn giữ vững phẩm chất của một người lính Cụ Hồ. Sau ngày đất nước thống nhất, bác Tuấn vào định cư ở thành phố biển Nha Trang, tiếp tục tham gia công tác xã hội và qua nhiều chức vụ khác nhau. Những cống hiến không mệt mỏi của bác đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng… Ở khu phố bác tham gia hội cựu chiến binh và vận động con cháu lên đường nhập ngũ. Bằng tấm gương mẫu mực của mình bác luôn vận động, thuyết phục thanh niên hư hỏng tiến bộ. Thỉnh thoảng bác lại thăm hỏi, gặp gỡ những đồng đội ở Đoàn tàu Không Số năm xưa.

Kỷ niệm 44 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Đất nước (30/4/1975-30/4/2019), chúng ta - những người được sống trong thời đại hòa bình phải luôn khắc ghi những chiến công của các thế hệ đi trước, trong đó có bác Tuấn và những người đồng đội của bác. Hình ảnh những con tàu và các anh vẫn còn sống mãi! Đó là bản hùng ca trên biển! Những tháng năm không thể nào quên với những người lính của Đoàn tàu Không Số, các anh và những con tàu huyền thoại là những cánh chim báo mùa Xuân và sự trường tồn của Đất nước.

 

Nguyễn Quốc Hồng

 

Sau khi tiếng súng của phong trào Cần Vương ở vùng rừng núi Vũ Quang (Hà Tĩnh) chấm dứt (năm 1869), thực dân Pháp mới ổn định được bộ máy cai trị và tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa vùng Bắc Trung kỳ.

Với vị trí chiến lược lại nằm trên trục đường giao thông Bắc - Nam, thành phố Vinh - Bến Thủy được người Pháp xem như   "Mông-tơ-vi-đi-ô của Việt Nam" là "Cửa ngõ của Lào"(1). Sau gần 20 năm, người Pháp đã đầu tư xây dựng ở Vinh - Bến Thủy nhiều nhà máy như: Nhà máy Sửa chữa xe lửa Trường Thi, Nhà máy Diêm, Nhà máy Điện, Nhà máy   Cưa-xi-ri, cảng Bến Thủy, biến Vinh - Bến Thủy thành trung tâm công nghiệp Bắc Trung kỳ. Cùng với quá trình hình thành trung tâm công nghiệp là sự ra đời đội ngũ công nhân Vinh - Bến Thủy và phát triển không ngừng cả số lượng và chất lượng. Giai cấp công nhân ra đời thì ngay lập tức phong trào đấu tranh của công nhân xuất hiện và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Dấu ấn đầu tiên của phong trào đấu tranh của công nhân Bến Thủy là cuộc biểu tình ngày 1/5/1930, diễn ra tại ngã ba Bến Thủy của hàng ngàn nông dân các huyện Hưng Nguyên, Nghi Lộc và công nhân các nhà máy ở Bến Thủy. Tại cuộc biểu tình này, kẻ thù đã chứng kiến người công nhân dũng cảm Trần Cảnh Bình trèo lên cột đèn ở giữa ngã ba Bến Thủy treo lá cờ Đảng, vừa treo xong anh đã bị kẻ thù bắn chết. Đây là sự kiện lịch sử mở đầu cho Cao trào cách mạng 1930-1931, với đỉnh Cao là Xô viết Nghệ Tĩnh, "Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng nước ta công - nông - binh bắt tay nhau giữa trận tiền"(2). Nếu như những năm đầu thế kỷ XX, các nhà tư bản Pháp đánh giá Vinh - Bến Thủy là "Mông-đê-vi-đe-ơ của Việt Nam", là "cửa ngõ của Lào", thì trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Bến Thủy được coi là huyết mạch giao thông, là điểm thắt cổ chai, là một trọng điểm chiến lược chia cắt Bắc - Nam của kẻ thù nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam, là một thách thức lớn nhất trong cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Do vậy trong cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, địa danh Bến Thủy đã diễn ra nhiều trận ném bom hủy diệt của kẻ thù hòng cắt đứt mạch máu giao thông, đồng thời cũng diễn ra những gương chiến đấu kiên cường của quân và dân trên địa bàn Bến Thủy. Ngày 5/8/1964, sau khi dựng nên "sự kiện Vịnh Bắc bộ", đế quốc Mỹ đã cho nhiều tốp máy bay đồng loạt đánh phá các vùng trọng điểm: Đồng Hới (Quảng Bình), Vinh - Bến Thủy (Nghệ An), Lạch Trường (Thanh Hóa) và Hòn Gai (Quảng Ninh). Đúng 12h25 phút, 4 chiếc phản lực A4D của không quân Mỹ đã bay thẳng vào thành phố Vinh mở đầu cho cuộc đánh phá miền Bắc nước ta. Chỉ sau 5 phút nổ súng, các đơn vị cao xạ thuộc Trung đoàn 280 và súng bộ binh của dân quân tự vệ phà Bến Thủy, xã Hưng Thủy một chiếc A4D trúng đạn. Đây là chiếc máy bay đầu tiên bị bắn rơi trên miền Bắc. Sau sự kiện ngày 5/8/1964 quân và dân thành phố Vinh nói chung, Bến Thủy nói riêng đối mặt với cuộc chiến tranh hủy diệt bằng không quân và hải quân Mỹ vô cùng ác liệt. Là nút thắt trên đường chiến lược Bắc - Nam, khu vực Bến Thủy chưa đầy 3 km2 phải chịu nhiều đợt không kích của không quân Mỹ. Có tháng máy bay Mỹ ném bom 28 ngày, có ngày chúng đánh 15 trận. Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và lần thứ hai, không quân Mỹ đã đánh xuống khu vực Bến Thủy 2.912 trận, bình quân mỗi người dân ở đây phải chịu 3.422 quả bom, đạn(3). Nhưng với tinh thần yêu nước cao độ và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, công nhân viên chức Nhà máy Điện, Nhà máy Gỗ, cảng Bến Thủy… đã quyết tâm "thà quyết tử cho tổ quốc quyết sinh". Phà Bến Thủy quyết tâm "thà tim ngừng đập chứ không để phà tắc", Nhà máy Điện quyết tâm cho "dòng điện không bao giờ tắt"(4). Hiếm có trọng điểm nào ác liệt, dai dẳng như ở ngã ba Bến Thủy lại tỏa sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng như nơi đây. Ra khỏi 2 cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ, tọa độ lửa Bến Thủy trở thành nơi ghi dấu những sự kiện lịch sử hào hùng của những người con Xô viết, là nơi khẳng định lòng yêu nước, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của dân tộc Việt Nam.

Kết thúc 2 cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ trên vùng đất Bến Thủy, Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang cho các tập thể cán bộ, công nhân viên phà Bến Thủy (hai lần); Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Hưng Thủy (Bến Thủy); Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân khu phố 5 (Trung Đô); Lực lượng tự vệ cảng Bến Thủy. Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động: Tập thể Nhà máy Điện Vinh; tập thể Nhà máy Gỗ Bến Thủy(5). Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho các cá nhân: Huỳnh Ngọc Đủ: Tổ trưởng tổ vận hành tuốc pin Nhà máy Điện Vinh; Trương Quang Thâm: Tổ trưởng tổ sửa chữa Nhà máy Điện Vinh; Nguyễn Hữu Tùng: Tổ trưởng lái ca nô phà Bến Thủy; Nguyễn Trọng Tường: lái ca nô phà Bến Thủy; Hoàng Thị Liên: phụ trách cửa hàng ăn uống Bến Thủy. Phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang: Nguyễn Đăng Chế: Trưởng phà kiêm tự vệ trưởng phà Bến Thủy, đó là chưa kể những tập thể, cá nhân thuộc các đơn vị bộ đội đóng trên địa bàn(6). Cũng trong cuộc chiến đấu quyết liệt trên tọa độ lửa Bến Thủy đã có nhiều gương hi sinh dũng cảm được nhà nước công nhận liệt sĩ chống Mỹ cứu nước: Phà Bến Thủy 23 liệt sĩ, Nhà máy Gỗ Vinh (Bến Thủy) 16 liệt sĩ, Nhà máy Điện Vinh 13 liệt sĩ và các liệt sĩ khác là bộ đội, công nhân giao thông, nhân viên các cơ quan khác và quân dân khu phố.

Bến Thủy một địa danh anh hùng ghi đậm dấu tích lịch sử hào hùng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Đó thực sự là một địa danh quý hiếm trên đất thành phố Vinh, trên đất Nghệ An và cả nước. Địa danh ấy cần được tôn vinh một cách xứng đáng.

Sau ngày thống nhất đất nước, Nghệ An cùng cả nước tập trung xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội. Với sự nỗ lực của ngành văn hóa và các ngành liên quan đã tiến hành kiểm kê, đánh giá và xếp hạng các di tích lịch sử trên địa bàn phường Bến Thủy và Trung Đô ngày nay.

Hiện nay, trên vùng đất Bến Thủy có 4 di tích lịch sử cấp quốc gia: Ngã ba Bến Thủy (đã xây dựng tượng đài Trường Thi - Bến Thủy 1930-1931); địa điểm Cồn Mô; Nhà máy Điện Vinh (hiện nay tại di tích ngoài ống khói của nhà máy đã xây dựng nhà truyền thống và đài tưởng niệm các liệt sỹ hi sinh cho "dòng điện không bao giờ tắt"); núi Dũng Quyết và Phượng Hoàng Trung Đô và 1 di tích lịch sử cấp tỉnh: Nhà thờ đại tôn và khu mộ tổ họ Lê Viết. Còn lại 9 di tích đã được kiểm kê nhưng chưa xếp hạng: Địa điểm cảng Bến Thủy; đền Đức thánh Đô; lăng mộ Đậu Yên, cột mốc Cầu Phao.v.v... Để bảo tồn và phát huy hiệu quả các di tích trên địa bàn Bến Thủy, ngày 18 tháng 12 năm 2017, UBND tỉnh đã ra Quyết định 6103/QĐ-UBND về việc phê duyệt "Quy hoạch hệ thống di tích trên địa bàn tỉnh Nghệ An định hướng đến năm 2030, tầm nhìn 2050", trong đó vùng 2 cụm di tích Đông Bắc Vinh gồm 4 di tích: Ngã ba Bến Thủy, địa điểm Cồn Mô, Nhà máy Điện Vinh, Nhà thờ họ Lê Viết, với diện tích quy hoạch là 92 ha. Đó là những việc hết sức có ý nghĩa trong công tác bảo tồn các di tích trên địa bàn Bến Thủy.

Tuy nhiên cho đến nay các cơ quan quản lý văn hóa mới làm được việc kiểm kê, xếp hạng di tích. Việc tôn vinh, phát huy các di tích trên vùng đất anh hùng này còn nhiều bất cập.

Để Bến Thủy thực sự trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ thanh niên, là điểm đến cho du khách khi về Nghệ An, tìm hiểu, nghiên cứu vùng đất này, chúng tôi xin đề xuất một số nội dung:

Thứ nhất: cơ quan quản lý các di tích lịch sử - văn hóa đánh giá lại việc bảo tồn, nhất là phát huy các di tích, danh thắng trên vùng đất Bến Thủy. Từ đó đề xuất giải pháp để phát huy trong việc giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ thanh niên, học sinh, sinh viên trên địa bàn. Kết nối các di tích lịch sử - văn hóa tạo thành sản phẩm du lịch điểm đến của du khách khi về tham quan tại Nghệ An.

Thứ hai: Ủy ban nhân dân tổ chức cuộc hội thảo khoa học cấp tỉnh để các chuyên gia, nhà khoa học, nhân chứng lịch sử thảo luận, đánh giá giá trị của các di tích trên vùng đất Bến Thủy, đề xuất chiến lược, giải pháp bảo tồn và phát huy di tích.

Thứ ba: Ngày 5/8/1964 là ngày Trung đoàn 280 và dân quân, tự vệ phà Bến Thủy bắn rơi chiếc máy bay đầu tiên của không quân Mỹ trên miền Bắc, để có ngày kỷ niệm về cuộc chiến đấu anh dũng và hi sinh to lớn của quân và dân tỉnh nhà nói chung, của các đơn vị trên địa bàn Bến Thủy nói riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, xin đề nghị chọn ngày 5/8/1964 làm ngày Kỷ niệm chiến thắng quân và dân Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Thứ tư: Xây dựng kế hoạch dài hạn sưu tầm các tư liệu, hiện vật, di vật về những sự kiện, những chiến công và cả sự hi sinh mất mát trên địa bàn Bến Thủy làm cơ sở xây dựng một bảo tàng chứng tích chiến tranh trong lộ trình triển khai Quy hoạch 1063 ngày 18/12/2017 của tỉnh.

Việc bảo tồn, tôn vinh và phát huy địa bàn Bến Thủy cần có sự vào cuộc của các ngành chức năng, nhất là các chuyên gia, nhà khoa học và nhân chứng lịch sử để xứng đáng với tầm vóc địa danh anh hùng.

 

Chú thích

1. Mông-tơ-vi-di-ô là thủ đô của Urugoay, cửa ngõ của cao nguyên Manta, Nam Mỹ, chuyên xuất khẩu thịt, len, dạ (tác giả).

2. Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn Nghệ Tĩnh - NXB Lao động, Hà Nội, 1986, tr 61.

3. Thế giới di sản số 9, 2013, tr 24.

4. Nguyễn Quốc Hồng (chủ biên), Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn thành phố Vinh - NXB Nghệ An, 2004, trang 159.

5. BCH Đảng bộ-HĐND-UBND thành phố Vinh: Lịch sử thành phố Vinh, tập II (1945-1975), NXB Nghệ An, 2003, tr 241.

6. HĐTĐ khen thưởng TW - Ban VHTTTW: Chân dung anh hùng thời đại Hồ Chí Minh, tập 1, NXB Lao động, NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2000, tr 314, 999,1184,1215…

 

Nguyễn Khắc Thuần

Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tại Chiến dịch Tây Nguyên, Sư đoàn 320 (Đại đoàn Đồng Bằng) hành quân thần tốc vào Đông Nam bộ tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. 20h ngày 24/4/1975 toàn bộ Sư đoàn đã tập kết tại Hố Bò.

Bước sang ngày thứ 2 của Chiến dịch Hồ Chí Minh, 5 cánh quân đã bao vây Sài Gòn. Đêm 28/4/1975, Bộ tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh ra lệnh cho các cánh quân đồng loạt tiến công. Sư đoàn 320 được giao nhiệm vụ đảm nhiệm tấn công hướng Tây Bắc Sài Gòn mở đầu cho Chiến dịch Hồ Chí Minh của Quân đoàn với mục tiêu then chốt là đập nát tuyến phòng thủ Đồng Dù Củ Chi mở đường cho đại quân tiến vào giải phóng Thành Đô.

  Ký ức thiêng

Đồng Dù là một căn cứ hỗn hợp quy mô lớn của Ngụy, án ngữ Tây Bắc Sài Gòn, cách trung tâm thành phố 30km. Vốn là hang ổ của Sư đoàn 25 Mỹ (Tia chống nhiệt đới) nên được xây dựng rất kiên cố, có hệ thống phòng ngự vững chắc, phức tạp, diện tích rộng 8km2. Xung quanh là vùng trắng, trống trải. Mỹ cút về nước, Sư đoàn 25 Ngụy thay chân. Đây là một Sư đoàn được cho là thiện chiến nên chúng dương dương tự đắc là "Sấm sét miền Đông" của ngụy quân Sài Gòn. Trong căn cứ này chúng bố trí: Bộ tư lệnh Sư đoàn 25 Ngụy, Ban chỉ huy Trung đoàn 50, Tiểu đoàn 2 bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo hỗn hợp, 1 chi đoàn xe tăng và hậu cứ Trung đoàn 10, và 10 tiểu đoàn phục vụ. Tổng quân số trên 3.000 tên với 34 xe tăng, 5.000 khẩu súng các loại trong đó có nhiều pháo lớn. Bên ngoài là nhiều lớp kẽm gai cùng hệ thống lô cốt, bãi mìn dày đặc. Chỉ huy là chuẩn tướng Lý Tòng Bá - một tướng khét tiếng gian manh của Ngụy quân Sài Gòn đã từng chạm trán với Sư đoàn Đồng Bằng ở Kon Tum.

Lực lượng tham gia tiến công căn cứ Đồng Dù của ta gồm Sư đoàn 320 (thiếu), 1 tiểu đoàn pháo 155mm (thiếu), Trung đoàn phòng không 593 (thiếu) do Sư đoàn trưởng Bùi Đình Hòe và Chính ủy Bùi Huy Bổng chỉ huy, bí mật, luồn sâu triển khai trận địa tiến công. Mặc dầu vừa trinh sát vừa tác chiến nhưng Bộ tư lệnh Sư đoàn quyết định nhanh và chính xác: chia lực lượng làm 2 hướng tiến công: Hướng chủ yếu từ Tây Bắc do Trung đoàn trưởng Lê Quang Bình và Chính ủy Đinh Hữu Tấn chỉ huy, hướng thứ yếu Tây Nam do Trung đoàn 9 đảm nhiệm, Trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Ân chỉ huy.

5h30 ngày 29/4, pháo binh của Sư đoàn được lệnh nổ súng. Suốt 2h một màn lửa chính xác bao trùm căn cứ địch. Cùng lúc đó bộ binh các hướng nổ mìn định hướng, đánh bộc phá liên tục mở bung nhiều lớp kẽm gai địch. Lý Tòng Bá điều động xe tăng, bộ binh ra bịt cửa mở, khai thác thế mạnh hệ thống công sự vững chắc để phản tiến công quyết liệt, đồng thời huy động cả máy bay pháo cối có đạn hóa học đánh dữ dội vào đội hình các mũi tiến công của Sư đoàn. Trận đánh ác liệt ngay từ đầu, ý chí thép gang của Sư đoàn 320 đang đọ với quyết tâm tử thù của kẻ địch. Người trước ngã, người sau xông lên. Dẫu thương vong lớn nhưng 7h30 phút ta mở thông cửa số 1 như kế hoạch. Địch dựa vào công sự vững chắc, kiên cố quyết liệt chống trả hung hãn. Thương vong ngày càng nhiều nhưng không ai nao núng. 8h, Trung đội trưởng Vũ Văn Sơn tiêu diệt được cụm xe tăng ở khu vực đầu cầu để bộ binh ta chớp thời cơ vượt cửa mở đánh vào các mục tiêu bên trong cứ điểm. Ta và địch giành nhau từng tấc đất. Nhận tin anh em hy sinh quá nhiều, Chính ủy Bùi Huy Bổng cắn chặt đôi môi đến tóe máu. Đến 9h, qua trinh sát kỹ thuật ta biết Lý Tòng Bá đã ra lệnh cho Trung đoàn ngụy 46 ở Trảng Bàng, Trung đoàn 50 ở xóm Mới và 1 chi đội xe tăng đi tiếp ứng Đồng Dù. Đó chính là dấu hiệu sức đề kháng tại chỗ đã dần tê liệt. Bộ tư lệnh Sư đoàn Đồng Bằng quyết định tập trung lực lượng trên hướng chính, kiên quyết tổ chức vừa thọc sâu vừa ngăn chặn đánh tan bọn tiếp ứng. Thế trận ngày càng quyết liệt, thương vong của ta ngày càng gia tăng nhưng ý chí thép gang của Sư đoàn anh hùng đã làm nên chiến thắng, 11h30 phút lá cờ truyền thống của Sư đoàn Đồng Bằng "Đoàn kết, nghiêm túc, dũng cảm, chiến thắng" đã tung bay trên nóc hầm Sở Chỉ huy Sư đoàn 25 Ngụy. Lý Tòng Bá phải mở đường máu bỏ chạy. Cánh cửa Tây Bắc Sài Gòn đã được mở tung cho đại quân binh chủng hợp thành tiến về Sài Gòn.

Trận quyết chiến Đồng Dù đã trở thành ký ức thiêng trong lịch sử Sư đoàn Đồng Bằng anh hùng.

Khắc bia đá ghi tên chiến công

Một lần viếng nghĩa trang liệt sỹ Bến Dược, những câu văn bia trong nhà bia đã làm cựu chiến binh Lê Mạnh Hải bàng hoàng, xúc động: "… Người đang sống nhớ thương người đã khuất/ Khắc đá dựng bia ở giữa đất trời/ Những anh liệt như ngàn sao tỏa sáng/ Đời đời sau chiếu mãi giữa tim người". Anh nung nấu trong tim mình ý tưởng: Phải dựng nhà bia chiến tích, vinh danh đồng đội đã hy sinh ở Đồng Dù. Ý tưởng đó của anh đã được Trung tướng Khuất Duy Tiến (Trưởng ban liên lạc truyền thống Đại đoàn Đồng Bằng toàn quốc), Phó ban Đại tá Nguyễn Thế Tân và Ban liên lạc truyền thống Sư đoàn Đồng Bằng Nghệ An, Hà Tĩnh và cả nước đồng tình, ủng hộ, khuyến khích. Mọi người đều chung một ý nghĩ: Đây là dịp để đền ơn đáp nghĩa với bao đồng đội đã hy sinh ở Đồng Dù và để góp với chiến sỹ đồng bào Củ Chi anh hùng một địa chỉ văn hóa tâm linh, giáo dục truyền thống cách mạng.

Thủ tục quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa chặt chẽ, đòi hỏi từ ý tưởng đến di tích phải nhiều công đoạn. Ấy vậy nhưng quá trình hoàn thiện hồ sơ xây dựng di tích ở đâu Ban liên lạc truyền thống Sư đoàn Đồng Bằng và Lê Mạnh Hải đều thuận chèo, mát mái. Không những thế mà các cơ quan liên quan còn truyền thêm cảm hứng niềm tin, sức mạnh để các anh hồ hởi, phấn khởi, bắt tay vào xây dựng công trình.

Vị trí được chọn đặt nhà bia là điểm xuất phát hướng tiến công chủ yếu của Sư đoàn 320 vào Đồng Dù nay là xã Phước Vĩnh An cạnh đường xuyên Á rất thuận lợi cho việc thăm viếng, tham quan. Một nhóm kỹ sư của Công ty Phú Nguyên Hải khẩn trương bắt tay vào thiết kế công trình với tâm niệm: nhanh nhất, đẹp nhất, vĩnh cửu.

Ngày 06 tháng 1 năm 2019, công trình được khởi công xây dựng gồm 3 hạng mục chính: nhà bia, bia đá và khuôn viên với diện tích 500m2. Mười một cựu chiến binh là những đồng đội đã từng chiến đấu ở Đồng Dù ngày bão lửa đã đi từ Nghệ An, Hà Tĩnh vào Củ Chi để trực tiếp thi công với sự hỗ trợ của Sư đoàn 9, Quân đoàn 4 đóng quân trên địa bàn. Lễ động thổ trang nghiêm, cảm động. Sự có mặt của đoàn đại biểu địa phương, Mẹ Việt Nam anh hùng Vũ Thị An, chị Nguyễn Thị Sương - nguyên Chính trị viên du kích Củ Chi năm 1975 đã làm trong ký ức thiêng của những người lính trận Sư đoàn Đồng Bằng càng thêm nhớ về những ngày gian lao, hào hùng, nhớ về những đồng đội đã ngã xuống trước ngày toàn thắng trên đất thép Củ Chi.

Ngày 25/1/2019, giai đoạn 1 thi công kết thúc, các hạng mục kế hoạch đều hoàn thành mỹ mãn. Sau nghỉ Tết Nguyên Đán, ngày 24/2/2019 (ngày mồng 10 tháng Giêng) công trình bước vào thi công giai đoạn 2. Công trường nhỏ nhận được sự quan tâm lớn của các ngành, các cấp địa phương, tướng lĩnh, cựu chiến binh Sư đoàn Đồng Bằng cả nước.

Điều trăn trở nhất trong Đại tá Nguyễn Thế Tân và Lê Mạnh Hải đó là bia đá vì đó sẽ là điểm nhấn của công trình. Ban liên lạc đã chọn đá xanh nguyên khối ở Yên Định, Thanh Hóa (gần Lam Kinh nơi còn mãi vọng vang bài cáo Bình Ngô) rồi chuyển ra Hoa Lư, Ninh Bình (nơi mãi âm vang bài ca Độc lập) để chạm khắc thẩm mỹ.

Bệ bia dài 2,37m, cao 0,86m, dày 0,97m, trọng lượng 6,5 tấn. Bia cao 3,3m, rộng 1,6 m, dày 0,4m, trọng lượng 6 tấn. Sau khi nhận linh khí vua Lê, vua Đinh, bia được chuyển về dưới chân núi Dũng Quyết bên dòng sông Lam thành phố Vinh để chạm khắc chữ và cũng để "nhập thần" Quang Trung, Bác Hồ, đón nhận linh khí xứ Nghệ. Mặt trước tấm bia là tóm tắt chiến công Đồng Dù. Mặt sau ở giữa tấm bia là dòng chữ "Đời đời nhớ ơn các Anh hùng, Liệt sỹ đã chiến đấu kiên cường, anh dũng hy sinh vì non sông Tổ quốc" và đôi câu đối: "Hiến thân cho nước sống đã vinh mà thác cũng vinh/ Hết dạ vì dân mệnh chẳng thọ mà danh lại thọ" phần lạc khoản ghi: "Ban liên lạc truyền thống Đại đoàn Đồng Bằng - Sư đoàn 320 phụng lập. Tháng 2 năm Kỷ Hợi 2019 - Người thực hiện: Chiến binh Nguyễn Thế Tân, Lê Mạnh Hải".

Ngày 11/3/2019 lễ Di bia từ Dũng Quyết thành phố Vinh quê hương Bác Hồ vào Củ Chi đất thép được tiến hành trọng thể, linh thiêng. Đó là một ngày hội quân của tướng lĩnh, cựu chiến binh Đại đoàn Đồng Bằng Nghệ An, Hà Tĩnh và cả nước. Chỉ sau 48h hành quân, bia chiến công lưu danh Anh hùng Liệt sỹ trận Đồng Dù lịch sử đã về với đất thép Củ Chi.

Ngày 30/4/2019 là ngày vui của chiến sỹ đồng bào Củ Chi, Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, Cựu chiến binh Sư đoàn 320 trong cả nước.

Trong ngào ngạt khói hương trước bia chiến tích Đồng Dù, ai cũng như thấy linh khí, hồn thiêng xứ Nghệ quê hương trăm quý ngàn yêu của Bác Hồ đang tỏa ấm đất Củ Chi, ru giấc ngàn thu những người con yêu quý đã ngã xuống tại Đồng Dù trước ngày toàn thắng.

 

Tài liệu tham khảo

1. Ban liên lạc truyền thống Sư đoàn Đồng Bằng.

2. Lịch sử Sư đoàn Đồng Bằng.

 

Ngô Trí Sinh

Dẫn luận

Nhà Nguyễn là triều đại phong kiến quân chủ chuyên chế cuối cùng ở Việt Nam được thiết lập. Trong vòng 143 năm (1802-1945) có thể chia làm 2 giai đoạn: Thời kỳ từ năm 1802-1858 là thời kỳ nhà Nguyễn còn giữ vai trò của một chính quyền dân tộc độc lập. Kể từ năm 1858 triều Nguyễn từng bước đầu hàng và cuối cùng mất nước tự tước bỏ quyền chủ nhân của mình, phản bội lợi ích dân tộc, trở thành tay sai, bù nhìn cho thực dân Pháp (viết tắt TDP). 

Tuy chia thành 2 thời kỳ nhưng xét về mặt tổ chức những đơn vị hành chính các cấp được cải tổ và hoàn chỉnh vào thời vua Minh Mạng (1820-1840) về cơ bản hầu như không thay đổi cho mãi đến sau này. Bởi vì: Tuy toàn bộ đất nước Việt Nam trong thực tế đã là thuộc địa của TDP (kể từ 6/6/1884 bằng Hiệp ước Patenotre) nhưng với âm mưu "chia để trị" chúng đã duy trì ở 3 kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) 3 chế độ cai trị khác nhau. Ngay ở xứ Nam kỳ thuộc địa thuộc Pháp thì Tổ chức bộ máy chính quyền của TDP đến cuối thế kỷ XIX vẫn chưa đủ khả năng để can thiệp đến chính quyền cấp làng xã. Mãi đến sau này khi hoàn thiện bộ máy cai trị của mình - TDP từng bước với tay xuống làng xã nhưng cũng chỉ ở mức lỏng lẻo, hình thức là thông qua các văn bản pháp lý trước khi tiến hành "cải cách hương chính" ở Bắc và Trung kỳ. Còn ở Trung kỳ và Bắc kỳ dưới chế độ bảo hộ và nửa bảo hộ thì tổ chức bộ máy chính quyền của TDP chỉ thiết lập đến cấp tỉnh do Công sứ người Pháp đứng đầu. Từ cấp phủ, huyện trở xuống Triều đình Huế trực tiếp quản lý (tất nhiên là trên danh nghĩa vì khi Nước đã mất thì Làng cũng tan)!

Vua Minh Mạng bãi bỏ đơn vị hành chính tổng trấn, đổi các dinh, trấn thành tỉnh. Đến năm 1834 thiết lập 30 tỉnh trong cả nước. Với cuộc cải cách hành chính này (1831-1832) ông đã kiện toàn khá hoàn chỉnh cơ cấu hành chính  và bộ máy chính quyền từ triều đình đến địa phương tạo nên sự đồng bộ và liên kết trong bộ máy chính quyền từ Trung ương đến tận cơ sở, từ hoàng đế đến các đình thần, từ các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp đến giám sát.

Cấp hành chính dưới triều Nguyễn từ cấp tỉnh trở xuống, gồm: Dưới tỉnh là phủ, huyện, tổng (ở miền núi gọi là châu), làng (xã). Đứng đầu cấp tỉnh là Tổng đốc (phẩm trật ngang với Thượng thư - Bộ trưởng). Thông thường Tổng đốc là người phụ trách 2 tỉnh, trực tiếp cai trị 1 tỉnh. Tỉnh loại vừa và nhỏ chỉ có 1 Tuần vũ. Tiếp theo là Tri phủ, Tri huyện, Chánh tổng (ở miền núi gọi là Tri châu), Lí trưởng. Mỗi phủ, huyện thường có trên dưới 10 Tổng, mỗi Tổng quản lý trên dưới 10 làng xã...

Trong phạm vi bài viết này tác giả chỉ đề cập đến tổ chức bộ máy chính quyền làng xã.

Bộ máy tổ chức chính quyền làng xã triều Nguyễn

Khái niệm Làng Xã (lẽ ra phải nói là Xã Làng) được chỉ là đơn vị hành chính cơ sở  trong hệ thống hành chính quốc gia. Có xã bao gồm nhiều Làng (nhiều làng này sau khi thiết lập chính quyền cơ sở chỉ là đơn vị dưới cấp cơ sở ); nhưng có Xã lại đồng nghĩa với Làng (Xã chỉ có duy nhất 1 làng) nên xưa nay ta thường gọi chung là làng xã bao gồm ý nghĩa đó.

Trước triều Nguyễn việc tổ chức bộ máy quản lý làng xã  dựa trên 2 tập quán khác nhau. Tập quán thứ nhất: trao quyền cho những người cao tuổi nhất gọi là Thiên tước (chức tước Trời ban). Tập quán thứ 2: Trao quyền quản lý làng xã cho những người có chức tước Vua ban (gọi là Vương tước). Dĩ nhiên tập quán theo Thiên tước thuộc về 1 xã hội cổ xưa. Còn tập quán theo Vương tước chỉ xuất hiện khi đã có vua dưới chế độ phong kiến. Chế độ phong kiến càng phát triển thì tập quán Thiên tước bị thu hẹp dần. Tuy vậy, tập quán Thiên tước không bị loại bỏ hoàn toàn mà nó vẫn tồn tại dưới nhiều hình thức để len lỏi vào cơ cấu, tổ chức trong tập quán Vương tước.

Qua tập hợp nghiên cứu, tìm hiểu nhiều tài liệu, ấn phẩm, sách báo, công trình nghiên cứu khoa học lịch sử từ trước tới nay tuy ở mỗi nơi, mỗi lúc có sự khác nhau về chi tiết (nhất là về tên gọi) nhưng về cơ bản bộ máy chính quyền tổ chức Làng Xã (hạng quan viên) ở triều Nguyễn bao gồm mấy thành phần sau đây:

2.1. Tiên chỉ và Thứ chỉ (Viên mục, chức sắc): Là người có phẩm tước, danh vọng, địa vị cao nhất và tuổi tác cũng phải cao nhất (dấu ấn Thiên tước) và sinh trưởng tại Làng Xã. Đây là lớp người đứng đầu có toàn quyền quyết định mọi việc lớn nhỏ trong làng. Do đó, họ là lớp người có quyền thế nhất. Vì thế trong các văn bản, giấy tờ chính thức của làng ông ta là người đầu tiên ký tên vào phía dưới. Tên gọi Tiên chỉ xuất phát từ đó.

Còn Thứ chỉ là người thứ 2 theo các điều kiện kể trên để giúp việc cho Tiên chỉ.

Làng chỉ thừa nhận địa vị của họ khi họ có đủ các văn bằng, sắc phong… và hơn nữa khi đã có lễ khao vọng cúng Thần hoàng và đãi làng. Do địa vị tột bậc đó theo lệ hương ẩm mỗi lần có đình đám, lễ tế, mâm cỗ Tiên chỉ bao giờ cũng được chia phần cái thủ lợn.

2. 2. Các bô lão và kỳ mục: Đây là 1 tổ chức tập thể gồm nhiều người (gọi là Hội đồng) gồm:

- Tất cả các cụ già từ 60 tuổi trở lên (một minh chứng nữa về dấu ấn Thiên tước). Muốn được dự hàng các hương lão này, các cụ đều phải có cỗ khao vọng. Các cụ có quyền tham gia hội họp, bàn bạc, tranh luận nhưng chỉ mang tính chất danh dự vì không được tham gia chính sự. 

- Kỳ mục: để chỉ các quan lại văn võ (từ Cửu phẩm hoặc suất Đội binh) trở lên còn tại chức (nhưng không phải làm việc tại làng xã) hoặc đã về hưu; những sĩ tử có bằng cấp: Tú tài, cử nhân, tiến sĩ; các cựu chánh, phó tổng hay chánh, phó tổng đang tại chức; các hương trưởng, hào trưởng; các cựu lý trưởng, phó lý hoặc các xã nhiêu mua, chánh, phó tổng mua; các viên tử (con quan) nhưng phải từ tam phẩm trở lên. Những người này cũng chính thức hóa  địa vị của họ bằng 1 buỗi lễ khao vọng.

2.3. Lý dịch (hay chức dịch, viên chức) đương chức.

 Đây là những người đang làm việc, bao gồm: Lý trưởng, phó lý (trưởng), hương trưởng (có nơi hương trưởng kiêm luôn trưởng thôn, trưởng xóm là cấp chính quyền dưới cơ sở), hương kiểm.

Lý trưởng là người được ủy quyền thay mặt cho 2 thành phần nói trên giao thiệp với chính quyền cấp Tổng. Chủ yếu là các vấn đề: Thuế má, sưu, dịch, binh dịch và các mặt liên quan khác về hành chính. Đồng thời cũng là người được ủy nhiệm thực hiện mọi quyết định của hội đồng các tiên chỉ, bô lão, kỳ mục.

Lý trưởng do 2 nhóm người trên nhất trí cử lên, sau đó phải ra công khai để được sự tán thành của dân làng trước khi báo cáo chánh tổng để chánh tổng trình lên chính quyền cấp huyện ra quyết định và cấp mộc triện - con dấu (cấp tổng không được quyền quyết định).

Phó lý và Hương trưởng đều là người giúp việc cho Lý trưởng và trình tự bổ nhiệm cũng như Lý trưởng. Còn Hương kiểm (từng thời kỳ có tên gọi khác nhau: Câu đương, khán thủ, xã tuần, trương tuần, tổng đoàn, đoàn phu...) do tiên chỉ và hội đồng bô lão, kỳ mục chọn không phải trình lên chính quyền cấp trên. Chức dịch này đặc trách công tác giữ gìn, bảo vệ an ninh trật tự, hoa màu, tài sản công cộng trong làng.

2.4. Dịch mục (Hương chức, tư văn, khóa sinh...) gồm những người biết chữ và có học để trực tiếp làm một số việc:

- Soạn thảo các văn bản cho làng gọi là thầy từ.

- Giải thích, truyền đạt nội dung các loại văn bản từ cấp trên gửi xuống gọi là thầy thông giảng.

- Theo dõi, chỉnh lý và lưu giữ sổ đinh, sổ điền gọi là thủ bản hay thủ bộ.

- Lưu giữ các giấy tờ, văn khế, cầm đỡ... gọi là lang cai.

- Tổ chức và theo dõi về nghi lễ, phong tục… gọi là  thầy cúng, thầy lễ...

Mỗi một chức danh chỉ có 1 người và đều do các tiên, thứ chỉ và hội đồng bô lão, kỳ mục cùng lý dịch thường xuyên lựa chọn và cắt cử.

Ngoài 4 thành phần trên đây, còn có 1 số người khác tuy đều nhận 1 nhiệm vụ cụ thể của làng như thầy chùa, trưởng chợ (bảo vệ, dọn dẹp vệ sinh, thu phí…), mõ... nhưng không thể xếp họ vào bộ phận cai quản làng xã được. Thậm chí họ còn bị miệt thị, khinh rẻ nhất và ở hạng thấp nhất trong các hạng dân đinh.

Về quy trình bổ nhiệm chức dịch (Lý dịch đương chức): Từ đầu thế kỷ thứ IX (907) đời Khúc Thừa Hạo lần đầu tiên các Làng Xã đã trở thành đơn vị hành chính cấp cơ sở và các quan chức cấp xã do nhà nước tiến cử với tên gọi là lệnh trưởng gồm 2 người Chính và Tá. Đây là cơ sở cho tổ chức hành chính cấp Làng Xã của các triều đại tự chủ sau này. Việc các xã quan do nhà nước cắt cử được duy trì liên tục hơn… 900 năm! Mãi đến năm 1732 đời vua Long Đức về sau này việc đặt xã quan đều do dân (thông qua tiên chỉ và hội đồng bô lão, kỳ mục đề cử) nhưng phải có sự giám sát của Chánh tổng mới trình lên Tri huyện công nhận để bổ nhiệm và cấp mộc triện.

Về chức năng nhiệm vụ của các thành phần trên ta thấy:

- Tiên chỉ - bô lão, kỳ mục (nhóm I, II) đóng vai trò như HĐND hiện nay của làng xã mà Tiên chỉ là… Chủ tịch HĐND!

- Lí dịch đương chức (nhóm III): Đóng vai trò như UBND hiện nay của làng xã trong đó lý trưởng là… Chủ tịch UBND!

- Dịch mục (nhóm IV): Bộ phận giúp việc cho lí dịch theo từng phần việc cụ thể (đội ngũ công chức cấp xã hiện nay).

3. Đánh giá nhận xét chung

Thông qua các nội dung đã đề cập ở trên xin rút ra một số kết luận sau:

3.1. Đặc điểm của bộ máy quản lý làng xã gồm:

- Tính chất lão quyền: Đây là sự tiếp nối truyền thống tập quán thiên tước tồn tại hàng ngàn năm trong lịch sử dân tộc. Tôn trọng người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) đã là 1 phạm trù đạo đức, một yếu tố tự thân tạo thành 1 truyền thống tốt đẹp, nhân văn bất biến trong tâm khảm và mọi hoạt động của người Việt Nam tồn tại mãi cho đến ngày nay. Dưới triều Nguyễn thông lệ này không chỉ là nhu cầu về mặt đạo lý mà còn có sự ràng buộc về mặt pháp lý (nếu vi phạm sẽ bị… truy cứu trách nhiệm hình sự, theo cách nói của chúng ta ngày nay). Một lệ định ban hành từ năm Tự Đức thứ 14 (1861) ghi rõ: "… Phẩm trật đồng hàng ai hơn tuổi ngồi trên, đó là: Đối với tất cả các hạng, còn trong nội đàm lý trưởng, hương chức cũng lấy tuổi làm thứ tự không kể chức nào…" (Dẫn theo Nguyễn Văn Huyên và Nguyễn Tường Phượng, "Từ xã thôn đến Quốc gia" - Văn hóa Nguyệt san, số 11-12 tháng 3-4/1953).

- Tiêu chuẩn về đạo đức và khao vọng: điều kiện về đạo đức là một điều kiện có tính lịch sử. Mỗi xã hội, mỗi giai cấp đều có một mẫu đạo đức riêng. Dĩ nhiên vẫn có những quy phạm chung cho đời sống cộng đồng do kế thừa và phát triển. Điều kiện Khao vọng (chỉ với nhóm I đến nhóm III) như là 1 giấy thông hành, 1 cửa ải cần phải vượt qua. Việc cúng thần và đãi làng vừa mang tính chất một lễ nghi tôn giáo vừa mang yếu tố chính trị: chính thức hóa, minh bạch hóa địa vị người có chân trong bộ máy quản lý làng xã trước thần dân thiên hạ (tập tục này được biến tướng, nhân rộng cho đến nay khi cá nhân nào đó đạt được một vị trí trong xã hội, học hàm, học vị, thậm chí có "lộc" mọi người đều "bắt"... khao!).

- Ngoài những điều kiện tất yếu trên đây còn 1 điều kiện nữa là thể hiện qua việc mua bán quan tước, nhiêu, xã. Những viên quan tước mua đều được tham dự bộ máy quản lý làng xã dù không đỗ đạt, chưa hề làm quan 1 ngày nên tiền của đã trở thành 1 điều kiện. Tuy nhiên điều kiện này chỉ là gián tiếp chứ không phải trực tiếp bởi họ tham gia bộ máy Quản lý làng xã là do họ có quan tước chứ không phải do tiền của. Điều kiện này phản ánh tính chất phong kiến một cách rõ rệt  trong việc thiết lập bộ máy quản lý làng xã…

3.2. Về tổ chức, biên chế quan chức cấp cơ sở (làng xã) triều Nguyễn nói riêng và chế độ phong kiến nói chung nhiều người cho rằng: Trước đây dưới chế độ phong kiến bộ máy quản lý làng xã rất đơn giản, gọn nhẹ chỉ 1 Lý trưởng, 1 Phó lý, 1 Hương kiểm mà quản lý về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh trật tự… của làng xã đâu vào đấy. Còn hiện nay?

Nhìn vào  cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý chính quyền làng xã như đã trình bày ta thấy bộ phận trực tiếp điều hành công việc ở làng xã quả là gọn nhẹ (nhóm III) chỉ 3-4 người! So với hiện nay số lượng ấy quả là ít nếu không nói là rất ít. Nhưng căn cứ vào điều kiện lịch sử, cơ cấu, thành phần về kinh tế, xã hội, dân số… của 1 đơn vị Làng Xã thời bấy giờ thì với số lượng Lý dịch (nhóm III) như thế là phù hợp. Vả lại, bên trên lý dịch còn có cả 1 hội đồng tham mưu, tư vấn đông đảo dày dạn về kinh nghiệm, năng lực là tiên chỉ và hội đồng bô lão, kỳ mục thường xuyên giám sát, hướng dẫn, chỉ bảo, nhắc nhở. Bên dưới là đội ngũ dịch mục (nhóm IX) mẫn cán có văn hóa, có học tận tâm phục vụ. Bởi vậy nếu bảo: Quản lý chính quyền trong làng xã chỉ bao gồm mấy ông ấy là rất không công bằng. Mặc dù, vẫn phải thừa nhận là cơ cấu tổ chức quản lý của chính quyền làng xã (bộ phận lí dịch) ở triều Nguyễn là gọn, nhẹ và hiệu quả!

3.3. Về chế độ lương bổng, trợ cấp cho các quan chức cấp làng xã:

- Ở nhóm I và nhóm II là các vị quan lại đương chức và hưu quan thì nhà nước đã có lệ cấp lương bổng quy định rõ từng phẩm hàm (bao gồm tiền lương, gạo, tiền may lễ phục) được ban hành từ năm 1818, 1839 và được điều chỉnh nhiều lần về sau này. Với các cụ bô lão không có phẩm hàm thì hưởng lộc làng (ngồi chiếu trên khi có lễ làng, mâm cỗ, biếu xén quả thực…).

- Nhóm III và IX: Nhà nước hoàn toàn không cấp lương mà do dân nuôi - Làng xã tự cấp tùy theo khả năng kinh tế và theo lệ làng - hương ước (cấp ruộng hoặc lúa) không có định mức nhưng ít nhất vẫn phải đủ cho cuộc sống của gia đình họ.

Tuy nhiên đó là trên danh nghĩa còn trong thực tế thì bổng lộc của lớp quan chức làng xã còn lớn hơn thế, nhiều hơn thế. Họ là đẳng cấp có thế lực và quyền hành có đặc quyền ưu đãi trong làng xã (nhất là việc phân chia ruộng công, thu các nguồn lợi trong làng). Được miễn các nghĩa vụ đối với nhà nước (thuế đinh, thuế ruộng, phu phen, tạp dịch, binh dịch… các khoản này chiếm rất nhiều tiền của và công sức). Được quyền ưu tiên trong các sinh hoạt và lao động tập thể. Trong đám quan viên thì đám Lý dịch đương chức (lý trưởng, phó lý, hương trưởng, trương tuần) tuy kém nhóm I, II về thế lực và địa vị nhưng lại có quyền trực tiếp đối với dân làng và chịu trách nhiệm với chính quyền cấp trên. Trong đó Lý trưởng có vị trí đặc biệt tuy là phận tôi tớ, công cụ sai khiến cho tiên chỉ và hội đồng kỳ mục nhưng là kẻ có điều kiện hống hách, bóp nặn nhiều nhất đối với dân làng. Ngoài ra nếu hoàn thành các nghĩa vụ về các loại thuế, lao dịch… chúng còn được quan trên ban thưởng bằng tiền và vật chất rất lớn (mức thưởng có khi còn cao hơn cả lương bổng lớp quan viên). Những người được lựa chọn vào đám lý dịch này? Đó là bọn địa chủ dư dật, linh lợi và giảo hoạt; đó là những người có học thức. Nghĩa là phải có 2 tiêu chuẩn: Giàu có và Danh vọng. Tuy nhiên phải là người trên 21 tuổi và là dân nội tịch (bản địa).

Tóm lại, bộ máy hành chính làng xã triều Nguyễn đều hoạt động theo cơ chế tự quản, tự trị là chính. Song vẫn bị nhà nước chi phối điều khiển. Bộ máy chức dịch làng xã hoạt động về cơ bản là hiệu quả. Đảm bảo trước hết những nghĩa vụ công ích của dân làng đối với nhà nước; giữ cho làng xã có dáng vẻ bình yên bên trong sự trùng điệp của những lũy tre làng khép kín. Tuy nhiên, để thực hiện được những nhiệm vụ sống còn đó, bộ máy hành chính làng xã không thể không dựa vào các tổ chức xã hội làng xã cùng với ý thức trách nhiệm công dân của dân làng bằng lối ứng xử của bạo quyền "cái gông và roi mây" và sự ràng buộc nghiệt ngã đến ngọt ngào của Lệ làng, phép nước!

 

LTS: Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 24/12/2018 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã với mục tiêu đến năm 2021 sẽ cơ bản hoàn thành sáp nhập các quận, huyện, phường xã chưa đạt 50% tiêu chuẩn diện tích tự nhiên và quy mô dân số. Theo kết quả rà soát, toàn tỉnh Nghệ An có 430/480 đơn vị chưa đạt tiêu chuẩn về quy mô dân số hoặc diện tích, trong đó có 22 đơn vị cấp xã dưới 50% của cả tiêu chuẩn về diện tích và dân số.

Thực hiện sáp nhập sẽ tinh giản hàng nghìn cán bộ, công chức xã và hàng chục nghìn người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn, cấp thôn, tổ dân phố. Tuy nhiên, đây là công việc khó, "đụng chạm" và ảnh hưởng trực tiếp tới công tác cán bộ, đảng viên, do đó cần có một đề án cụ thể để giải quyết bài toán cán bộ dôi dư sau sáp nhập cũng như xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh.

Xung quanh chủ trương này, Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn có cuộc phỏng vấn với ông Nguyễn Thăng Long, Trưởng phòng Xây dựng chính quyền và Công tác thanh niên, Sở Nội vụ.

 

*    *

*

PV: Thưa ông, Bộ Nội vụ đang hoàn thiện Đề án sắp xếp lại các đơn vị hành chính theo tinh thần của Nghị quyết 18 đưa ra tại Hội nghị Trung ương 6 và Nghị quyết 1211 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để trình Chính phủ, Nghệ An đã triển khai chủ trương này như thế nào, thưa ông?

Ông Nguyễn Thăng Long: Thời gian qua, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Nghệ An đã có nhiều đổi mới và chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, thực trạng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị hiện nay vẫn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối, hiệu quả, hiệu lực hoạt động chưa đáp ứng được yêu cầu tình hình mới; chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo, trùng lặp; biên chế ngày càng tăng. 

Khắc phục tình trạng trên, Nghệ An đang triển khai các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh, trong đó có việc chú trọng tuyên truyền kết quả thực hiện tại các đơn vị, địa phương tổ chức làm điểm để sơ kết, rút kinh nghiệm, chỉ ra những hạn chế, bất cập cần khắc phục, đánh giá những mô hình mới, cách làm hay, hiệu quả để phổ biến, nhân rộng. Liên quan đến cấp trưởng ở các đơn vị trước khi sáp nhập, tỉnh chủ trương thực hiện một cách dân chủ, công khai, theo nguyên tắc người nào có tiêu chuẩn cao hơn thì bố trí là cấp trưởng, đối với cấp phó sẽ giảm dần cho đến Đại hội Đảng nhiệm kỳ 2020 - 2025 sẽ sắp xếp lại theo đúng quy định. 

Hiện nay, các địa phương khác trong tỉnh cũng đang tiếp tục rà soát lại quy mô số hộ ở các xóm sau khi Thông tư số 14/2018/TT-BNV của Bộ Nội vụ ban hành để xây dựng phương án sắp xếp, sáp nhập khối, xóm, thôn, bản. Việc triển khai sáp nhập khối, xóm ở các địa phương cơ bản thuận lợi, được cán bộ, đảng viên và người dân đồng thuận cao; bởi thực tiễn hiện nay có nhiều khối, xóm, bản có quy mô quá nhỏ, chỉ có trên dưới 100 hộ dân, thậm chí dưới 50 hộ dân; trong khi đó vẫn hình thành bộ khung những người hoạt động không chuyên trách với 9 - 11 chức danh, tạo gánh nặng ngân sách trong việc chi trả phụ cấp; chi hoạt động cho bộ máy và kể cả chi đầu tư xây dựng các thiết chế sinh hoạt cộng đồng nhỏ lẻ.

Liên quan đến sáp nhập xã, phường, theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, lộ trình thực hiện việc sáp nhập đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã từ nay đến năm 2021 cơ bản sắp xếp các đơn vị hành chính chưa đạt 50% cả 2 tiêu chuẩn theo quy định về diện tích và quy mô dân số, thì toàn tỉnh có 22 xã thuộc 10 huyện, thị xã của Nghệ An phải tiến hành sáp nhập.

Tuy nhiên, cho đến nay, Chính phủ chưa có phương án và chính sách giải quyết số cán bộ, công chức dôi dư sau sáp nhập. Điều này đang chi phối đến tinh thần làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở; đồng thời có tâm lý chờ đợi, nghe ngóng, chưa thật sự chủ động và tích cực xúc tiến triển khai quy trình các bước để sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã ở các địa phương. 

PV: Như ông nói, việc sáp nhập chi phối đến tinh thần làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở, vậy, Nghệ An đã có phương án, chính sách gì để giải quyết số cán bộ, công chức dôi dư sau sáp nhập, thưa ông?

Ông Nguyễn Thăng Long: Hiện tại, Bộ Nội vụ đang trình Chính phủ để sửa đổi Nghị định 92 về quy định số lượng cán bộ công chức cấp xã; hai nữa là kế hoạch triển khai sáp nhập các đơn vị hành chính. Trong quy định nêu rõ khi sáp nhập các phường, xã thì sẽ giữ nguyên bộ máy đó trong vòng 5 năm, và trong 5 năm đó các xã bị sát nhập có trách nhiệm sắp xếp bố trí lại để đảm bảo vị trí việc làm cho đội ngũ cán bộ, công chức.

Cụ thể: Thứ nhất, đối với đội ngũ cán bộ, thì các xã sáp nhập trong năm 2019, đến năm 2021 sẽ diễn ra bầu cử Hội đồng nhân dân. Khi đó số cán bộ sẽ được sắp xếp lại và tiến hành sàng lọc chọn lựa; Thứ hai, nếu như là 3 xã nhập lại chỉ còn một chủ tịch, còn 2 đồng chí nữa nếu đủ điều kiện thì về hưu, không nữa thì nộp bảo hiểm tự nguyện hoặc là nghỉ theo chế độ 1 lần. Cán bộ thì bầu cử theo nhiệm kỳ, nếu tín nhiệm thì sẽ được bầu tiếp, còn không thì thôi.

Còn đối với đội ngũ công chức thì khác: công chức cấp xã khi tuyển dụng đã theo 7 chức danh và số lượng được phân bổ theo xã, xã loại 1 thì 25, loại 2 thì 23 và loại 3 thì 21 và khi được tuyển dụng rồi thì sẽ làm theo luật lao động. Thuộc đối tượng nào thì sẽ có cơ chế cho từng đối tượng đó.

Trong quá trình sáp nhập các phường, xã, Nghệ An cũng sẽ tổ chức, sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo giải pháp trên.

PV: Thưa ông, sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đã khó, việc lựa chọn người đứng đầu càng khó hơn, tuy nhiên lựa chọn cán bộ đứng đầu sau khi sắp xếp là công việc phải làm, nhưng làm thế nào để lựa chọn đúng người, đúng việc và tránh được việc "đụng chạm"?

Ông Nguyễn Thăng Long: Tất cả các yếu tố liên quan đến con người phải tính toán, quan tâm, động viên. Nhiều người sau sáp nhập tự nguyện nghỉ, nhưng có những người không tự nguyện. Có khi, người cần phải cho về thì không về, người tự nguyện về lại là những người có năng lực. Do đó, trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức phải đánh giá, xem xét cho chuẩn, ai đáng về phải chỉ cho rõ, chứ không phải là chờ tự nguyện. Tự nguyện bao giờ cũng có 2 mặt, những người năng lực yếu không ai tự nguyện, trong khi những người có năng lực, họ có nhiều cơ hội làm việc khác, họ tranh thủ hỗ trợ sau khi sáp nhập để ra ngoài làm...

Việc lựa chọn người đứng đầu phường, xã khi sáp nhập sẽ giao cho ban tổ chức huyện ủy địa phương đó quyết định, tuy nhiên phải dựa vào một số tiêu chí nhất định như: quy định trình độ chuyên môn, tiêu chuẩn chính trị, hiểu biết thực tế tại địa phương, phẩm chất đạo đức,…

PV: Thưa ông, hình ảnh người cán bộ, công chức xã, phường sẽ gần như là hiện thân của người cán bộ công quyền nói chung trong mắt người dân. Người dân tiếp xúc với chính quyền đầu tiên và trực tiếp nhất là tiếp xúc với công chức xã, phường. Công việc của công chức xã, phường rất phức tạp, phải trực tiếp nghe và giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến cuộc sống thường nhật của người dân thuộc các lĩnh vực khác nhau. Vậy trong thời gian tới, để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới, Nghệ An đã có giải pháp gì để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức phường, xã, thưa ông?

Ông Nguyễn Thăng Long: Thực ra chất lượng công chức cấp xã ở Nghệ An trong mặt bằng chung cả nước khá cao. Ở Nghệ An thì đội ngũ công chức phường, xã có trình độ cao đẳng, đại học là chủ yếu. Trong Quyết định 04/2004 của Bộ Nội vụ thì công chức miền núi chỉ cần tốt nghiệp cấp 3, nhưng ở Nghệ An, công chức miền núi phần lớn trung cấp, cao đẳng và đại học, đặc biệt là sau chủ trương đưa sinh viên đại học về làm phó chủ tịch phường, xã từ năm 2003-2004, đã nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức phường, xã ở Nghệ An.

Tuy nhiên, tỉnh Nghệ An cũng vẫn tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức phường xã đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới, đặc biệt là sau sáp nhập. Theo đó, tiêu chuẩn của cán bộ, công chức cấp xã phải đáp ứng các quy định của Đảng và Nhà nước. Cụ thể, tiêu chuẩn chung đối với cán bộ, công chức cấp xã, phường là phải có tinh thần yêu nước, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước ở địa phương. Phải cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân; không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng; có ý thức kỷ luật trong công tác. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với dân, được nhân dân tín nhiệm.

Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hàng năm tỉnh có những chương trình đào tạo bồi dưỡng, trong đó giao cho các đơn vị liên quan đào tạo, tập huấn chuyên môn từng lĩnh vực như: Ngành tư pháp chịu trách nhiệm bồi dưỡng cho bộ phận công chức tư pháp hộ tịch để cập nhật các văn bản mới, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ; Sở Tài chính bồi dưỡng cho hệ thống công chức kế toán tài chính để cập nhật kiến thức; Sở Thông tin Truyền thông tập huấn, xây dựng hệ thống công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ cấp xã;...

PV: Cán bộ không chuyên trách ở các địa phương phường, xã chiếm số lượng khá lớn, ông có thể cho biết việc giảm tải số lượng cán bộ không chuyên trách trong quá trình sáp nhập như thế nào?

Ông Nguyễn Thăng Long: Trên thực tế, nguyên nhân khiến bộ máy chính quyền địa phương cồng kềnh chính là do số lượng cán bộ hoạt động không chuyên trách khá lớn. Ở Nghệ An, người hoạt động không chuyên trách gần 70 nghìn người ở xã, khối, xóm.

Việc sắp xếp lại đội ngũ cán bộ không chuyên trách theo hướng không giảm các đầu mối công việc nhưng giảm số lượng người, đòi hỏi có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của cấp ủy, chính quyền các cấp và sự quyết tâm cao của hệ thống chính trị ở cơ sở. Có như vậy mới góp phần tinh gọn bộ máy, tăng thêm thu nhập cho cán bộ không chuyên trách, giúp họ an tâm gắn bó với công việc.

Theo đó, Tỉnh bố trí kiêm nhiệm các chức danh cán bộ chuyên trách và người hoạt động không chuyên trách cấp xã theo hướng bí thư đảng ủy đồng thời là chủ tịch HĐND; trường hợp bí thư đảng ủy đồng thời là chủ tịch UBND thì phó bí thư đảng ủy đồng thời là chủ tịch HĐND; tiếp tục thực hiện chủ trương bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch UBND cấp xã ở những nơi có điều kiện. Các chức danh phó chủ tịch ủy ban MTTQ và phó các đoàn thể chính trị - xã hội phải kiêm nhiệm tối thiểu một chức danh không chuyên trách khác, nhưng tối đa không quá hai chức danh. Thực hiện kiêm nhiệm chức danh phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra đảng ủy; không bố trí chức danh nội vụ, thi đua, tôn giáo, dân tộc và chức danh bảo vệ thực vật, thú y. Các chức danh quản lý nhà văn hóa, đài truyền thanh chuyển cho công chức văn hóa - xã hội thực hiện. Tỉnh cũng khuyến khích việc bố trí bí thư chi bộ đồng thời làm khối, xóm trưởng, trưởng thôn, bản. 

Ngoài ra, tỉnh sẽ thực hiện cơ chế Khoán, xã loại 1 tối đa không quá 16 người, xóm 3 người; chức danh cụ thể như thế nào, mức kinh phí bao nhiêu là do ở xã quyết.

Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

Hồ Thủy - Hoàng Anh (t

Nguyễn Khắc An - Nguyễn Ánh Dương

 

Người ta từng ví von rằng, bộ máy hình chính Nhà nước của chúng ta tựa như một chiếc đồng hồ. Nếu cấp Trung ương là kim giờ, cấp tỉnh cấp huyện là kim phút thì cấp xã là kim giây. Chỉ cần kim giờ nhích một chút thôi thì kim phút đã quay mấy vòng, và chỉ cần kim phút quay một vòng thôi thì kim giây phải chạy đến những 60 vòng. Có thể nói hoạt động của kim giây là chỉ báo nhanh nhất để nhận biết một chiếc đồng hồ đang "sống" hay đã "chết". Nhưng rất tiếc khi cần biết thời gian thì người ta thường chỉ hỏi mấy giờ mấy phút chứ ít ai quan tâm đến bao nhiêu giây.

Đấy chỉ là một so sánh ví von nhiều cảm tính và cũng có phần giải trí, tuy nhiên mối quan hệ giữa khối lượng công việc khổng lồ với năng lực thực thi hạn chế, giữa đòi hỏi cống hiến bất tận và chế độ đãi ngộ "khiêm tốn" là những mâu thuẫn "thâm niên" còn tồn tại và điều ấy cũng không phải là đặc thù riêng của địa phương nào. Tình trạng bộ máy thừa vẫn thừa mà thiếu thì cứ vẫn thiếu là trăn trở chung và tất nhiên Nghệ An cũng không ngoại lệ.

Là địa phương có dân số trên 3 triệu người, diện tích lớn nhất cả nước, toàn tỉnh có đến 480 đơn vị hành chính cấp xã trong đó có 431 xã, 32 phường và 17 thị trấn. Chức năng, nhiệm vụ, bộ máy và hoạt động của chính quyền cấp xã trên địa bàn tỉnh không quá nhiều khác biệt so với cả nước. Trong khuôn khổ của bài viết, tác giả xin phép đề cập đến một số vấn đề xung quanh chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã trên địa bàn trong những năm gần đây.

Như chúng ta đã biết chính quyền cấp xã có 5 nhiệm vụ chính đó là: Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn xã; Quyết định những vấn đề của xã trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền; Chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương cấp huyện về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở xã; Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn xã.

Chính quyền cấp xã bao gồm Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND). Trước hết, nhìn lại quá trình hoạt động chúng ta có thể nhận ra HĐND cấp xã trên địa bàn tỉnh cơ bản đã phát huy tốt hiệu quả. Thể hiện rõ trong việc quyết định những nội dung quan trọng về kinh tế - xã hội, công tác tổ chức, nhân sự của HĐND, UBND cũng như hoạt động giám sát tại cơ sở. Hầu hết HĐND các xã phường, thị trấn trên địa bàn đều thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân; đáp ứng được yêu cầu QLNN, góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của từng đơn vị.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm rất đáng khích lệ vừa nêu thì hoạt động của HĐND cấp xã nói chung và hoạt động của HĐND cấp xã trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói riêng đã bộc lộ không ít hạn chế. Số lượng nghị quyết, chuyên đề để xử lý các vấn đề bức xúc của địa phương vẫn còn ít; Chất lượng nghị quyết không cao; Hoạt động giám sát ở một số đơn vị còn hình thức, thậm chí có đơn vị gần như bỏ ngỏ. Thường trực HĐND nhiều cơ sở không thể phát huy hết chức năng, vai trò, nhiệm vụ bởi hạn chế về trình độ. Hiện tượng Thường trực HĐND tồn tại hình thức, thậm chí có lúc bị "qua mặt" tại cơ sở là những biểu hiện có thể nhận thấy được.

Về UBND cấp xã, trên cơ sở hoạt động với 2 chức năng chủ yếu là cơ quan chấp hành của HĐND và cơ quan hành chính nhà nước ở cơ sở. Nhìn chung với thẩm quyền và trách nhiệm, UBND cấp xã đã thể hiện được vai trò quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các mặt, các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội ở địa phương; đồng thời cũng là cơ quan quản lý việc chấp hành, điều hành các quyết định, chỉ thị của UBND cấp huyện cũng như các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng và môi trường xã hội trên địa bàn.

Cùng như toàn quốc, UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh hiện nay đều được tổ chức và hoạt động trên nguyên tắc tập trung dân chủ, lãnh đạo UBND các xã chủ động giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh và có khả năng trong tổ chức thực hiện. Chế độ trách nhiệm đã được xây dựng, cán bộ, công chức cấp cơ sở có năng lực hơn, trẻ hơn, năng động hơn, biết cách tổ chức quản lý, xử lý tốt và kịp thời các tình huống phát sinh trong công việc trên cơ sở pháp luật. Đặc biệt sau khi thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, Nghị định số 29/2013/NĐ-CP hầu hết các xã đã khắc phục và giải quyết cơ bản những bất cập trong công tác quản lý và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã theo quy định của pháp luật.

Hiệu quả kinh tế xã hội là rất rõ rệt. Đến nay phần lớn cấp xã đã có đường ô tô đến được trung tâm; cơ sở vật chất phục vụ sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa được quan tâm đầu tư; tỷ lệ hộ nghèo đã giảm hàng năm; đời sống vật chất tinh thần của người dân được nâng lên rõ rệt; quốc phòng, an ninh được củng cố và giữ vững; các hoạt động tư pháp được thực hiện khá tốt; cải cách thủ tục hành chính đã có bước chuyển biến rõ rệt. Qua cơ chế một cửa, một cửa liên thông, các quy định về thủ tục hành chính được công khai, minh bạch, giảm phiền hà, giảm đáng kể thời gian chờ đợi cho người dân; trách nhiệm của cán bộ, công chức được nâng cao; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan hành chính trong giải quyết công việc của tổ chức, công dân; góp phần đổi mới cơ bản mối quan hệ giữa cơ quan hành chính và người dân theo hướng phục vụ dân. Nhiều quy trình, thủ tục hành chính đã được rà soát, đơn giản và công khai hóa, rút ngắn thời gian giải quyết công việc, hạn chế phiền hà, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong việc giao dịch hành chính đối với các cơ quan nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm vừa nêu, hoạt động quản lý hành chính của UBND một số xã, phường, thị trấn còn yếu kém tuỳ tiện; cá biệt ở một số nơi còn có biểu hiện chưa tổ chức hoạt động dựa trên những quy định của pháp luật mà còn nặng về tập quán, thói quen, tình cảm... Việc ban hành các quyết định, văn bản quản lý, áp dụng pháp lụât còn nhiều sai sót, không đúng thẩm quyền, thể thức. Giải quyết một số vụ việc sai luật nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai, tài chính, xử lý vi phạm... Việc tổ chức điều hành thực hiện các nhiệm vụ còn lúng túng. Tính chủ động chưa cao, chưa thực hiện tốt chức năng là cơ quan chấp hành của HĐND. Một số nơi UBND có xu hướng đẩy việc xuống cho thôn, tổ dân phố, tự biến thôn, tổ dân phố thành cấp trung gian, làm cho các trưởng thôn, tổ trưởng phải làm những việc vốn là của UBND xã, phường. Công tác vận động quần chúng của nhiều xã, phường còn nhiều yếu kém. Quy trình, thủ tục hành chính rườm rà, sự phối hợp thiếu chặt chẽ, đồng bộ, cơ chế một cửa liên thông chưa nhiều. Một số cán bộ, công chức tha hoá, tiêu cực, thậm chí vi phạm pháp luật. Những vụ việc 3 cán bộ xã Nghĩa Thái (Tân Kỳ) ra tòa vì bán đất trái thẩm quyền, hay hiện tượng như một số cán bộ xã Quỳnh Hồng (Quỳnh Lưu) bỏ công sở đi nhậu nhẹt, rồi ăn chặn gạo cứu đói ở xã Thanh Xuân (Thanh Chương), vụ xã Phúc Thành (Yên Thành) tự ý bán hàng trăm lô đất hoặc vụ cát tặc lộng hành ở xã Châu Thắng (Quỳ Châu)… là những ví dụ cho hiện tượng buông lỏng dẫn đến sai phạm và trục lợi đã xảy ra ở một số đơn vị chính quyền cấp xã.

Mặc dù có những tiến bộ nhất định nhưng nhìn chung UBND cấp xã vẫn đang được tổ chức theo mô hình của nền hành chính công truyền thống, biểu hiện tính thứ bậc, mệnh lệnh hành chính từ cấp trên, tạo ra tính thụ động. Việc phân cấp thẩm quyền và trách nhiệm giữa các cấp chính quyền còn chậm, hiệu quả thấp, thiếu rõ ràng và chưa hợp lý. Tổ chức bộ máy hành chính nói chung vẫn còn nhiều đầu mối, nhiều tầng nấc, thiếu tính thống nhất cần thiết của hệ thống hành chính và chưa hợp lý theo chiều dọc và chiều ngang. Điều này ảnh hưởng đến sự chỉ đạo, điều hành thống nhất nhanh chóng, chưa theo kịp với yêu cầu mới của nền hành chính hiện đại.

Một vấn đề đang làm giảm sức mạnh trong hoạt động điều hành của UBND cấp xã đó là tình trạng không phân biệt được khi nào là ý kiến của cá nhân Chủ tịch UBND, khi nào là ý kiến của thành viên UBND và ý kiến của tập thể UBND nên gây nhiều khó khăn, trở ngại khi thực hiện, đặc biệt là khi xảy ra sai phạm. Mặt khác, cũng do sự chưa phân định rõ chức năng, thẩm quyền nên có nơi, cán bộ, công chức của UBND cấp xã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân. Do năng lực quản lý, điều hành yếu kém nên một số nơi UBND cấp xã chưa kiểm soát tốt tình hình, để mặc cho thôn xóm đặt ra "lệ làng". Thậm chí trên địa bàn tỉnh có nơi xã buông lỏng quản lý, dẫn đến thôn, xóm tự ý bán đất trái thẩm quyền, vi phạm pháp luật. Vụ việc 17/21 thôn ở xã Quỳnh Vinh (Hoàng Mai) tự ý bán đất nông nghiệp mấy năm trước là một ví dụ.

Nhìn chung bức tranh chính quyền cấp xã trên địa bàn Nghệ An cũng như cả nước đang gợi mở rất nhiều điểm sáng. Mọi thứ đang dần đi vào quy cũ và nề nếp hơn. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển thì số lượng đơn vị hành chính cấp xã còn khá cồng kềnh; tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của chính quyền cấp xã còn bộc lộ nhiều hạn chế, chậm được đổi mới, yếu kém về hiệu lực, hiệu quả quản lý, về năng lực tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân; năng lực của đội ngũ cán bộ có mặt chưa tương xứng với mức độ phân cấp thậm chí có một số cán bộ, công chức tha hoá về đạo đức lối sống dẫn đến những quyết định hành chính hoặc hành vi gây ảnh hướng xấu đến hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương; Việc đổi mới tổ chức bộ máy chưa gắn với việc tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Trong khi đó, "xã" là cấp chính quyền "gần dân" nhất, hoạt động hàng ngày mang tính sự vụ tức thời và yêu cầu phải giải quyết ngay nên cấp chính quyền này cần được tập trung quan tâm kiện toàn và đổi mới để ngày một năng động, hoạt động với hiệu quả cao hơn. Tinh thần chính quyền phục vụ nhân dân chưa được phổ biến rộng khắp, tư tưởng bề trên thái độ lộng quyền hạch sách khi tiếp dân vẫn còn diễn ra đâu đó.

Xây dựng chính quyền cấp xã là một trong những nhiệm vụ chính trị cực kỳ quan trọng. Trong thời gian tới cần tiếp tục thực hiện các chủ trương của Đảng về đổi mới tổ chức chính quyền cấp xã, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội XII của Đảng cũng như Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị Trung ương 7 Khóa XI về "Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở", Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị "Về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức".

Cần tiếp tục nghiên cứu và có giải pháp phù hợp với sự khác biệt mang tính đặc thù về chức năng, nhiệm vụ của chính quyền đô thị với chính quyền nông thôn. Đổi mới một số vấn đề về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy đơn vị hành chính cấp xã; tiếp tục đổi mới cơ chế, chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với cấp cơ sở trong điều kiện hiện nay.

Trở lại với câu chuyện chiếc đồng hồ đầu bài viết. Những "chiếc kim giây" vẫn miệt mài làm việc nhưng để nó hoạt động tốt đòi hỏi cả bộ máy phải vận hành trơn tru, mà để bộ máy hoạt động nhịp nhàng trơn tru thì không thể coi thường việc kiểm tra, bảo dưỡng thậm chí khi cần thiêt là sửa chữa và nâng cấp bộ máy ấy.

 

BÙI VIỆT THẮNG

Đặt vấn đề nghiên cứu

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng kêu gọi: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công". Thiết nghĩ, hòa giải/ hòa hợp dân tộc cũng chính là xây dựng trên tinh thần đoàn kết của nghĩa "đồng bào", của tương thân, tương ái cùng con Rồng cháu Tiên có từ ngàn đời nay của người Việt Nam. Nhà văn hóa Nguyễn Trãi trong Bình ngô đại cáo từng nhấn mạnh truyền thống "lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo" của dân tộc Việt Nam vốn nhiều đời "xưng nền văn hiến" và "hùng cứ một phương".

Trong giáo lý của đạo Phật có "Thuyết Tứ đế" (hiểu là luân lý quan xã hội của Phật). Tứ đế là "Bốn chân lý khổ, tập, diệt, đạo. Khổ đế là nói ở trong cuộc sống hiện thực đầy rẫy các hiện tượng đau khổ. Người đem khổ chia thành tám loại, tức là: sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, oán hận hội khổ (tập hợp nỗi khổ đối với những sự vật hoặc những con người mà mình không yêu), nỗi đau khổ của sự ly biệt với những sự vật hoặc những con người mà mình yêu, cầu không được khổ và ngũ thủ uẩn khổ (mọi nỗi đau khổ của thân và tâm)" (Mười tôn giáo lớn trên thế giới, Nxb. Chính trị Quốc gia, 1999, tr. 298-299). Trong tiến trình văn hóa Việt Nam, có thể nói, giáo lý Phật đã có ảnh hưởng sâu rộng. Theo đó chúng ta thấy một trong tám nỗi khổ của con người trên thế gian này chính là "oán hận hội khổ". Oán thù sinh ra căm thù. Oán thù triệt tiêu tình yêu thương. Làm sao để được như nhà thơ Xuân Diệu viết: "Yêu và căm hai đợt sóng ào ào/ Vỗ trong lòng dội mãi tới trăng sao". Huy Cận viết "Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa". Chế Lan Viên viết "Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc/ Nguyễn Du viết Kiều và đất nước hóa thành văn". Trong chiến tranh chúng ta dạy bài học về lòng căm thù - căm thù bọn cướp nước và bán nước gây tội ác dã man với đồng bào, đồng chí. Tất nhiên. Nhưng xét cho cùng, dạy lòng yêu thương, vị tha, giác ngộ con người mới cần thiết nhưng khó khăn, lâu dài. Đây có thể coi là nhiệm vụ chiến lược, có tính bền lâu tạo nên sự phát triển bền vững của xã hội xét từ nhiệm vụ xây dựng văn hóa. Sứ mệnh này được trao cho văn chương.

Hiện nay có 4,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống ở các nước và vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới. Đó là một "thực thể Việt" to lớn và phức tạp về tư tưởng, tình cảm và quan hệ xã hội. Tuy nhiên, phải nói thẳng thắn rằng, không phải đã có một cái nhìn xuyên suốt, nhất quán và thiện chí hoàn toàn về đất nước, dân tộc, chế độ. Hãy còn rất nhiều khúc mắc, đôi khi bằng mặt mà không bằng lòng. Đôi khi vô tình hay hữu ý chưa thấu hiểu, thấu cảm nhau. Còn nhiều hố ngăn cách vô hình. Trong bối cảnh đó, văn hóa, đặc biệt văn chương, là một "kênh" thông tin thẩm mỹ quan trọng. Xin nhắc lại truyện ngắn Thương nhớ đồng quê của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp để thấy câu chuyện "trong - ngoài", "đi - ở", "đúng - sai", đã nhờ con đường của văn chương mà được hóa giải theo thời gian. Một cô gái (tên Quyên) đến Mỹ từ nhỏ nhưng khi về thăm quê thì câu hỏi đầu tiên với người (tên Nhâm) đi đón mình ở sân ga là: "Nhà anh cấy bao nhiêu sào? Mỗi sào bao nhiêu thóc?". Tôi bảo: "Mỗi sào được hơn ba nồi, khoảng gần tạ, mỗi cân thóc một nghìn tư". Quyên nhẩm: "Hai mươi triệu tấn thóc cho sáu mươi triệu người" (Nguyễn Huy Thiệp - Như những ngọn gió, Nxb. Văn học, 1995, tr.386). Không phải người Việt Nam nào ở nước ngoài về thăm quê hương cũng có cái tâm và cái tầm như cô gái tên Quyên trong câu chuyện đặc sắc này. Có lẽ, thế hệ như cô gái tên Quyên này được sinh ra ở nước ngoài trong bối cảnh mới, có thể cô không dính dáng gì đến quá khứ (không bị "bóng đè"). Hoặc giả bố mẹ cô tuy đã trải qua ba chìm bảy nổi nhưng đã thoát ra khỏi cái bóng của quá khứ và tuyệt nhiên không hoài cổ, hay định kiến/ mặc cảm.

Trong bài viết Chuyện cũ nói lại, nhà văn Nguyễn Khải có kể một câu chuyện đáng suy ngẫm: "Năm 1975, trước khi đi vào thành phố Sài Gòn mới được giải phóng, một đồng chí cấp trên dặn tôi: "Gặp ai cũng được nhưng gặp văn nghệ sỹ là phải cảnh giác. Họ kiên trì tư tưởng chống Cộng lắm đây!". Lát sau lại dặn thêm: "Các cậu phải chú ý giúp đỡ lẫn nhau. Đừng có thấy cảnh phồn vinh bề ngoài dưới thời Mỹ ngụy mà dao động!". Tôi nghe rất có lý. Anh em văn nghệ sỹ trong đó dứt khoát là chống Cộng rồi. Còn anh em tôi nhất định là phải đề phòng sự thâm nhập của tư tưởng tư sản và các bả độc của chủ nghĩa thực dân mới. Nhưng sau này nghĩ lại lời dặn của cấp trên và sự đồng tình quá lanh lẹn của mình cũng phải bật cười. Vì nó rất vô lý […]. Rồi lại nghĩ, người ta nói sai đến thế mà mình không biết cãi lại thì sao nhỉ? Nghĩ thế lại không muốn cười nữa" (Nguyễn Khải - Chuyện nghề, Nxb. Hội Nhà văn, 1999, tr.104).

Ngay trong quan hệ với Hoa kỳ, trước đây là kẻ thù xâm lược, thì nay chúng ta cũng theo phương châm khép lại quá khứ, hướng tới tương lai. Chuyến thăm Việt Nam của cựu Tổng thống B. Clinton cách nay đã lâu chứng tỏ điều ấy khi ông đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du (lời Kim Trọng với Thúy Kiều: "Hoa tàn mà lại thêm tươi/ Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa" - câu 3123, 3124).

Người tiên phong mở đường

Đọc Di cảo Nguyễn Minh Châu (Nxb. Hà Nội, 2009) chúng tôi chú ý đến một câu chuyện nhà văn ghi chép tháng 5 - 1962, tại Thái Nguyên (được ghi chú là "Nhật ký kháng chiến chống Pháp"). Mẩu chuyện này có nhan đề giản dị Anh Yên và chị Chiều: "Yên và Chiều là hai chiến sỹ du kích. Yên bị bắt. Anh vận động chuẩn bị vượt trại giam trốn thoát nhưng không thành. Chúng nó bức anh đi lính. Anh nảy ra một kế: Đi lính rồi tìm cách trốn sang hàng ngũ ta. Anh vào lính đã có thời cơ trốn nhưng rùng rình muốn lôi kéo thêm được một số thì mới ra. Trong một trận phục kích, bất ngờ anh bị bắt. Yên trở thành tù binh. Yên rất khó xử. Ai hiểu cho hoàn cảnh của Yên? Anh muốn xung phong vào bộ đội, giết giặc lập công để tỏ rõ tấm lòng của mình, nhưng chính sách của ta chỉ nhận cho vào bộ đội những hàng binh mà không nhận tù binh. Qua một thời gian học tập chính sách khoan hồng của Chính phủ ở trại tù binh, anh được phóng thích trở về làng. Lúc này vợ anh đang làm xã đội phó. Vợ anh khinh anh ra mặt, tuy ít nhiều vẫn còn tình yêu chồng. Mẹ anh thì vẫn yêu thương, nhưng có cái gì khác trước. Trong con mắt mẹ vẫn nhìn anh bằng cái nhìn những kẻ lầm lạc. Gia đình xóm làng cư xử với anh đúng như một tên ngụy binh. Họ không chửi mắng gì nhưng họ e dè, đối xử theo đúng chính sách. Anh sống trong cô quạnh, như một kẻ bị cuộc đời bỏ rơi. Một ý nghĩ táo bạo và nguy hiểm đến: ta sẽ vào lính Commanđô và từ trong lòng quân đội địch đầy tội ác ấy ta sẽ làm lại cuộc đời, để cho mọi người biết. Thế là anh đăng lính Commanđô. Ở tỉnh, tụi địch nhận anh một cách tín nhiệm. Ba tháng sau anh đã gây được một tổ phản chiến tiến tới nhiều tổ. Và một đêm Yên lãnh đạo số binh lính giết chết tên chỉ huy cùng mười anh em vác súng trở về. Bên ta đón anh trở về như một người có công lớn. Đơn vị nhận anh vào bộ đội cùng số anh em anh vận động được. Trước khi gia nhập bộ đội anh được về thăm làng. Lúc trở về, mẹ anh đã chết. Trước lúc chết mẹ anh nguyền rủa anh ghê gớm và vợ anh đã bỏ đi, không ai biết là chị đi dâu. Có người nói chị đã thoát li để khỏi mang tiếng xấu với làng nước và đã lấy chồng khác. Thế là tan nát hết. Anh trở về gia nhập bộ đội và chiến đấu rất hăng với một động cơ điên rồ: để chết. Nhưng qua bao nhiêu trận đánh anh vẫn sống. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, trên đường hành quân đơn vị Yên bị máy bay bắn dữ, anh bị thương và được đưa vào quân y. Trong quân y viện anh gặp một người cán bộ phụ nữ dân công bị bom bị thương cụt cả hai chân và một mảnh đạn vào ngực, không ngờ người đó là Chiều, người vợ mà anh vẫn yêu và đi tìm. Người vợ cũng nhận ra anh. Anh đến ôm lấy Chiều. Nhưng chị vụt nhớ ra, chị ngồi nhổm dậy chỉ vào mặt anh và thét to cho mọi người biết: "Nó là thằng gián điệp chui vào bộ đội, không dè nó báo cho máy bay đấy, bắt lấy nó!". Chị tắt thở. Yên lặng đi bên xác vợ, anh bước từng bước như người mất hồn ra ngoài khu rừng. Bên ngoài súng vẫn nổ giòn giã" (sđd, tr. 27-28). Thiết nghĩ, ghi chép này đã như một tác phẩm trọn vẹn, trong đó nhà văn muốn bằng văn chương "san lấp" cái hố ngăn cách lòng cựu thù gây nên bởi hoàn cảnh chiến tranh, muốn đặt một vấn đề về hòa giải hòa hợp xuất phát từ nhân tâm, từ truyền thống "lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo".

Mười một năm sau, trong nhật ký (13-5-1973), nhà văn Nguyễn Minh Châu vẫn đau đáu viết về chủ đề này: "Cái khổ cái chết giăng bẫy khắp mặt đất, khắp mặt trái đất này, không, nơi khác, người ta không sống thế. Hình như chiến tranh vẫn chưa kết thúc. Tối qua một cậu bị bò cạp cắn phải cõng tới 52, 6 cậu ở Ái Tử bị một vụ nổ bom bi dứa, 1 cậu 19 tuổi sáng nay phải múc mắt. Sau chiến tranh mà người bị thương vẫn nằm la liệt trong các lán bệnh viện, nhưng xét cho cùng, cái chết chóc thương tật cũng không tác hại người ta ghê gớm bằng cái khổ sở, cái thiếu thốn, cái bệnh tật, cái nhếch nhác, cái buồn tủi, cái chia ly, cái chia lìa mẹ con, vợ chồng, cái mồ hôi và nước mắt vẫn chảy thành đại dương và cái máu chỉ là con sông. Hai bên, ai sẽ dám đứng ra thách thức đối phương một thái độ này: tất cả mọi công việc của mình làm để hướng về việc cho người dân bình thường đỡ bớt đi phần đau khổ. Ai sẽ nghĩ đến con người hơn một chút?" (chúng tôi nhấn mạnh, BVT, sđd, tr.295). Ngay trong chiến tranh nhà văn Nguyễn Minh Châu đã nghĩ rất xa, đón đầu vấn đề hòa giải hòa hợp dân tộc khi đặt câu hỏi: "Hai bên, ai sẽ dám đứng ra thách thức đối phương một thái độ này…". Câu hỏi nhức nhối ấy được các nhà văn tiếp tục trả lời trong sáng tác sau 1975.

Hai năm sau ngày hòa bình (30-4-1975), nhà văn Nguyễn Minh Châu ra mắt tiểu thuyết Miền cháy (Nxb. Quân đội Nhân dân, 1977). Có thể nói, đây là tác phẩm văn chương đầu tiên sau 1975 viết về tinh thần hòa giải, hòa hợp dân tộc bằng ngôn ngữ văn chương/tiểu thuyết. Chủ đề của tác phẩm sáng rõ: Bước ra khỏi chiến tranh cũng khó khăn và đòi hỏi chúng ta phải có bản lĩnh như khi bắt đầu bước vào cuộc chiến. Vẫn cần ở mỗi người tinh thần cách mạng triệt để, đồng thời cũng cần ở mỗi người một tinh thần nhân đạo cao cả trong việc giải quyết những vấn đề của đời sống thời hậu chiến. Tư tưởng này được hòa quyện trong một câu chuyện thấm đẫm tinh thần của cái bi kịch (được hiểu như là một phạm trù mỹ học cơ bản). Đại đội trưởng Nghĩa hy sinh vào giờ phút chót của chiến tranh. Đó là những giờ phút tháo chạy của tàn quân địch. Vợ chồng Phu La (là trung tá biệt động) đã thoát chết nhờ cõng theo đứa con nhỏ trên lưng (chính đại đội trưởng Nghĩa tử trận vì viên đạn bắn lén của Phu La). Vợ chồng Phu La đã bỏ lại đứa con để dễ bề tháo chạy sau cú vấp ngã trên đường đào tẩu. Trèo lên được một chiếc tàu chở người di tản, chính vợ của Phu La bị tàn quân ngụy bao vây hãm hiếp, còn Phu La thì bị ném lên bờ. Sau nhiều ngày lẩn trốn Phu La buộc phải ra trình diện trước Ủy ban Quân quản dưới một cái tên khác. Bé Sinh - con trai Phu La - được các chiến sỹ đại đội nuôi nấng, dĩ nhiên đã làm xáo trộn sinh hoạt và công tác của đơn vị. Người vợ cả của Phu La biết chuyện xin đem Sinh về nuôi nhưng bị đơn vị từ chối. Bà Êm, mẹ đẻ của Nghĩa ở Triệu Phú, Quảng Trị lại chính là người sau đó đơn vị gửi gắm nuôi dưỡng bé Sinh. Ban đầu đơn vị chỉ thông báo với mẹ Êm rằng Sinh là đứa trẻ bị lạc cha mẹ trong chiến tranh. Lúc này bà mẹ Êm vẫn chưa biết Nghĩa - đứa con trai cuối cùng đã hi sinh (chồng mẹ và 5 đứa con của mẹ lần lượt hi sinh). Sau này khi biết bé Sinh chính là con trai của kẻ đã ra tay bắn chết Nghĩa thì lòng bà mẹ tan nát. Mặc dù dằn vặt, đau khổ nhưng khi đơn vị ngỏ ý mang Sinh đi theo thì mẹ Êm vẫn một mực giữ bé Sinh lại nuôi nấng. Phu La sau khi trình diện đã được đưa vào trại cải tạo, sau đó trốn trại, bị bắt lại. Đầu óc Phu La sau những ngày cải tạo dần sáng ra. Hắn được điều động về vùng Chân Mây san lấp hố bom. Tại đây đã diễn ra cuộc "gặp mặt lịch sử" giữa mẹ Êm và cha con Phu La.

Một cái kết "có hậu" theo truyền thống tâm lý dân tộc "đánh kẻ chạy đi không đánh người chạy lại". Mẹ Êm là một nhân cách lớn, một giá trị văn hóa của người Việt Nam thời đại cách mạng và chiến tranh. Với mẹ, hy sinh lớn cũng là một hạnh phúc. Mẹ đích thực là một nhịp cầu hòa giải, hòa hợp dân tộc.

Có thể nói, Miền cháy là tác phẩm văn chương đầu tiên sau 1975 viết về cuộc đấu tranh tinh thần khó khăn ngay trong nội bộ những người chiến thắng để giải quyết mối quan hệ phức tạp và tinh tế với những người vốn là thù địch trong bối cảnh chồng chất khó khăn của thời hậu chiến. Tác phẩm gửi một thông điệp nghệ thuật đến bạn đọc: Trong tình hình mới chúng ta vẫn cần một tinh thần ý chí cách mạng triệt để, nhưng cần hơn là phẩm chất nhân văn của người cách mạng/ người chiến thắng. Đó chính là nguồn lực tinh thần quan trọng trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục đời sống trong hòa bình, xây dựng lòng hữu ái giữa người với người.

Một lần trả lời phỏng vấn, được hỏi "Nhà văn Việt Nam nào, theo ông, cuối thế kỷ XX có thể chuyển giao sang thế kỷ XXI cho bạn đọc các thế hệ không biết gì về chiến tranh?", tôi đã không ngần ngại trả lời "Nguyễn Minh Châu!". Vì sao? Vì tinh thần rộng lượng, hòa hiếu, khoan dung, vị tha của người Việt Nam thể hiện sâu sắc trong những tác phẩm của nhà văn tài năng.

 

PHẠM QUANG ÁI

1. Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác là một trong tứ trụ danh nhân văn hóa (Lê Hữu Trác, Nguyễn Du, Nguyễn Thiếp và Nguyễn Công Trứ) không chỉ của xứ Nghệ mà còn là của cả nước trong giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX. Cuộc đời, sự nghiệp y học và sự nghiệp trước tác của ông đã để lại cho hậu thế một di sản đồ sộ mang tầm quốc tế. Chúng ta đã và đang ra sức khảo cứu, kế thừa và phát huy những di sản quý báu của ông để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam cường thịnh, văn minh sánh tầm với các cường quốc năm châu. Tuy nhiên, do những khó khăn khách quan và chủ quan, xung quanh những gì liên quan đến thân thế, sự nghiệp và trước tác của Đại danh y còn nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ. Một trong những vấn đề đó là việc xác định năm sinh và năm mất của ông, hiện nay, đang làm cho các nhà nghiên cứu và bạn đọc bối rối.

2. Từ các công cụ tra cứu trên mạng internet, chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều tài liệu có chứa đựng thông tin về năm sinh của ông nhưng không có sự đồng nhất. Hiện nay, phần lớn tài liệu đều ghi năm sinh của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác là 1720 và năm mất là 1791. Đó cũng là tư liệu chính thức được Lương y Lê Trần Đức và những người có trách nhiệm ở Bộ Y tế dùng trong lần kỷ niệm 250 năm sinh Đại danh y vào năm 1970(1). Từ đó đến nay, tất cả các lần tổ chức kỷ niệm ngày sinh của Đại danh y ở tầm địa phương hoặc tầm quốc gia đều lấy năm 1720 làm năm sinh của ông và trong hầu hết các tài liệu chính thống viết về Lê Hữu Trác cũng như sự ghi chép ở các tấm bia, tượng đài, tượng thờ, tranh ảnh của ông đều thống nhất ghi năm sinh như trên. Trong khi đó, ở một số tài liệu khác lại đưa ra những thông tin khác nhau về năm sinh, năm mất của ông, tuy không phổ biến.                                                                                              

Trước hết phải kể đến thông tin của dịch giả, nhà văn Nguyễn Trọng Thuật (1883 - 1940) trong bài Một nhà danh nho và danh y của nước ta ngày xưa cụ Lãn ông, viết về Hải Thượng Lãn Ông, đăng liên tục trong hai số Tạp chí Nam Phong 69 & 70 năm 1923 [và sau đó, trong các số 77, 78, 79, 80, 82, 85 và 87 (1923-1924) của Tạp chí Nam Phong, Nguyễn Trọng Thuật đã công bố trọn vẹn bản dịch Việt ngữ tác phẩm Thượng kinh ký sự]. Trong bài viết trên, Nguyễn Trọng Thuật cho biết: "Cụ là con thứ bảy quan Thượng thư họ Lê, làng Liêu Xá , huyện Đường Hào 唐豪, tỉnh Hải Dương (bây giờ thuộc về huyện Yên Mĩ, Hưng Yên), tục gọi cậu "Chiêu Bảy", sinh ở đời vua Dụ Tôn nhà Hậu Lê, ngang lịch Tây năm 1721, thọ ngoài 70 tuổi, chưa tường mất năm nào"(2). 50 năm sau, năm 1974, Ứng Nhạc Vũ Văn Đình cho ra mắt bản dịch thứ hai in trong Tập san Sử Địa (số 26, 27 & 28) ở Sài Gòn. Năm 1989, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin cho in Thượng kinh ký sự do Phan Võ dịch, Bùi Kỷ duyệt lại. Trong Lời giới thiệu của dịch giả, Vũ Văn Đình có nêu tóm tắt tiểu sử Lãn Ông nhưng không có thông tin về năm sinh và năm mất; còn trong Lời tựa của dịch giả Phan Võ thì ghi rõ năm sinh của Lãn Ông là 1720 nhưng không ghi năm mất mà chỉ ghi là "Ông mất thọ 70 tuổi". Dịch giả Phan Võ ghi như vậy, nếu tính tuổi âm lịch thì năm mất của Lãn Ông là 1789, còn tính theo tuổi dương lịch là 1790. Cũng như Nguyễn Trọng Thuật, khi đưa ra thông tin về năm sinh và tuổi thọ của Lê Hữu Trác, Phan Võ không cho biết là căn cứ từ đâu.

Nhưng cũng từ năm 1971, trong sách Tìm hiểu kho sách Hán Nôm -  nguồn tư liệu văn học và sử học Việt Nam, tập 1 của học giả, nhà thư tịch học Trần Văn Giáp, Thư viện Quốc gia xuất bản (Hà Nội, năm 1971), sau đó, Nxb. Văn hoá tái bản (Hà Nội, 1984), ở mục số 211, khi khảo về bộ Tân thuyên Hải Thượng Lãn Ông Y tông tâm lĩnh toàn trật, Trần Văn Giáp cho biết: Lê Hữu Trác "… sinh năm Giáp Thìn đời Lê Dụ Tông niên hiệu Bảo Thái thứ 5, ngày 12 tháng 11 tức là ngày (27/12/1724), tại quê mẹ và mất ngày 15 tháng Giêng, năm thứ 4 niên hiệu Quang Trung (17/2/1791), thọ 67 tuổi"(3). Thông tin về ngày tháng năm sinh và ngày tháng năm mất mà Trần Văn Giáp đưa ra trong tài liệu kể trên là căn cứ vào sách Văn Xá Lê tộc gia phả (Trần Văn Giáp, sách đã dẫn, mục 147, tr. 314-316) và về cơ bản là giống với thông tin trong các bộ gia phả họ Lê bằng Quốc ngữ ở Liêu Xá (Hải Dương).                                            

Như vậy, thông tin về năm sinh của Hải Thượng Lãn Ông hiện tại có những số liệu như sau: 1720, 1721 và 1724 và năm mất là: 1789, 1790 và 1791. Điều đáng nói là trừ học giả Trần Văn Giáp (tuy ông không dẫn chứng một cách tường minh), còn các tài liệu khác đều đưa thông tin một cách mặc định, không nêu căn cứ cũng như sự khảo đính.     

3. Trước tình trạng như vậy, chúng tôi thấy rằng cần phải tìm cho được những tư liệu, bằng chứng có giá trị để hiệu khảo, đính chính về năm sinh và năm mất của Đại danh y.

Trước hết, chúng tôi tự xác định rằng: nếu tìm được những thông tin do chính Hải Thượng Lãn Ông tiết lộ trong các trước tác của ông thì đó sẽ là những chứng cứ đích đáng nhất. Thậm chí, trong những trường hợp, cảnh huống đặc định, những thông tin do chính tác giả bộc lộ sẽ có giá trị cao hơn, đáng tin cậy hơn là thông tin trong gia phả. Vì ngày xưa, phần lớn gia phả được chép bởi những người thuộc các thế hệ sau trong gia tộc nên khó mà biết được một cách chính xác những thông tin như ngày tháng năm sinh hoặc ngày tháng năm mất. Đành rằng, ngày xưa, con cháu của những gia đình quý tộc thường có lệ là lúc sinh ra được lập lá số tử vi - trong đó có chứa đựng thông tin chính xác về giờ, ngày, tháng và năm sinh - và được lưu trữ cẩn thận như là một thứ cẩm nang trong đời của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, hoàn cảnh sống của Lãn Ông từ bé đã gặp nhiều gian khổ, biến động. Không rõ vì lý do gì mà bà cụ thân sinh của ông lại về sống ở quê ngoại Hương Sơn và sinh ra ông ở đây; lớn lên, ông lại trở ra Bắc sống với gia đình bên nội rồi đến tuổi trưởng thành lại về sống hẳn ở quê mẹ và lập gia đình sinh con đẻ cháu ở đây. Với sự xa cách, trắc trở lâu dài giữa bản thân ông với gia tộc bên nội như vậy, hẳn là những thông tin về bản thân ông cũng như gia đình ông sẽ không được con cháu trong gia tộc Lê Hữu ở Hải Dương tiếp nhận một cách đầy đủ, chân xác. Trong khi đó, cho đến hiện nay, con cháu ông ở Hương Sơn (Hà Tĩnh) không còn giữ được gia phả gốc.          

Từ sự định hướng nói trên, chúng tôi đã đọc kỹ bộ Hải Thượng Lãn Ông Y tông tâm lĩnh qua bản dịch của Đình Thụ Hoàng Văn Hòe (xuất bản ở Sài Gòn năm 1972) và bản dịch của tập thể dịch giả miền Bắc trước năm 1975 (do NXB Y học xuất bản năm 2005). Đặc biệt, chúng tôi đã chú trọng tiến hành rà soát một cách tỉ mỉ thiên tùy bút - tự truyện Thượng kinh ký sự. Trong quá trình tìm tòi tỉ mẫn đó, chúng tôi đã phát hiện được hai chi tiết đắt giá. Chi tiết thứ nhất được tiết lộ trong đoạn Lê Hữu Trác thuật chuyện sau khi vào Trịnh phủ, thăm mạch, kê đơn cho Trịnh Cán lần thứ nhất, ông tìm cách khước từ mọi chức tước, bổng lộc để về quê. Không gặp được Huy Quận công Hoàng Tố Lý, là người đã bố trí cho ông vào chữa bệnh cho chúa, ông tìm cách gặp viên Quận hầu là con trai Quận Huy để thăm dò tình hình và trình bày nguyện vọng. Lãn Ông đã nói với viên Quận hầu như sau: "Tôi vốn có chí hồng nghê từ thủa nhỏ mà không gặp thời, phải về nương náu chỗ sơn cùng thủy tận cho được dưỡng nhàn. Nay tuổi đã sáu mươi rồi, mắt hoa tai điếc, còn làm gì được mà cầu tiến nữa..."(4). Cũng theo tác giả cho biết ở phần mở đầu thiên tùy bút thì ông được điều động về kinh đô để chữa bệnh cho chúa là vào "Năm Nhâm Dần, niên hiệu Cảnh Hưng 景興 thứ 43 (1782), tháng Mạnh Xuân (tháng Giêng)"(5). Và sau gần một năm ở kinh đô Thăng Long, ông được trở về nhà vào ngày 02 tháng 11 cùng năm (1782). Ở thời điểm nói trên, ông nói mình đã 60 tuổi là theo cách tính tuổi âm lịch chứ tuổi dương lịch thì ông mới 59 tuổi; như vậy, năm sinh của ông sẽ là: (1782 - 59) + 1 = 1724.     

Từ một tài liệu khác do chính Lãn Ông viết, cũng cho chúng ta dữ liệu để tính ra năm sinh của ông. Đó là trong lời tựa của chính Lãn Ông viết ở đầu quyển thủ của bộ Tân thuyên Hải Thượng Lãn Ông Y tông tâm lĩnh toàn trật, ông cho biết "Tôi lúc mười lăm tuổi, tiên nghiêm (tức là cụ thân sinh, Tiến sỹ Lê Hữu Mưu) tạ thế…"(5). Theo sách Gia phả họ Lê, bản sưu tầm và biên dịch của ông Lê Tràng Thành năm 1959, cũng như các bản gia phả khác, thì cụ thân sinh Lê Hữu Trác là Tiến sỹ Lê Hữu Mưu sinh năm 1685 và mất năm 1739. Vậy từ năm mất của cụ Lê Hữu Mưu, sẽ tính ra năm sinh của Lê Hữu Trác là 1724.

Cũng trong Gia phả họ Lê (do Lê Tràng Thành sưu tầm, biên dịch 1959), có một bằng chứng khác sẽ giúp ta dễ dàng bác bỏ cái thuyết Lê Hữu Trác sinh năm 1720 hoặc 1721 là cụ bà Bùi Thị Thưởng, thứ thất cụ Lê Hữu Mưu, sinh được 6 người con là: Châu, Tựu, Chuân, Ngoạn, Trác, Tố. Gia phả cho biết cụ thể: "Lê Hữu Tán, húy Tựu sau đổi là Đình Ngạc, làm Lễ Bộ Tư Vụ, rồi làm Tri phủ Anh Đô, hiệu là Thạch Trai, sinh năm Canh Tý 1720, mất năm Bính Ngọ 1786, thọ 67 tuổi, húy ngày 12 tháng 2, Ngài vào ở quê mẹ làng Phúc Tuy, xã Tình Diễm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh". Như vậy người con thứ hai của bà Thưởng là ông Tựu sinh năm 1720, sau ông Tựu còn những hai người anh, chị nữa rồi mới đến Lê Hữu Trác. Rõ ràng, Lê Hữu Trác không thể sinh vào các năm 1720 hoặc 1721. Sở dĩ có sự nhầm lẫn giữa năm sinh của ông anh Lê Hữu Tán (tức Tựu) với năm sinh của Lê Hữu Trác là vì Gia phả cũng như một số tài liệu địa phương chí Hán Nôm ở Hải Dương chép Lê Hữu Trác lúc trẻ có tên gọi thân mật là cậu Chiêu Bảy (ông là con trai thứ 7 trong số 8 người con trai trong gia đình) nhưng xét theo thứ tự năm sinh của 12 người con trai và gái của cụ Lê Hữu Mưu thì ông anh Lê Hữu Tán lại đứng thứ 7 và Lê Hữu Trác đứng thứ 11.                                                         

Về năm mất của Hải Thượng Lãn Ông, ngoài việc nhà văn Nguyễn Trọng Thuật đã nói rõ là "… thọ ngoài 70, chưa tường mất năm nào" và dịch giả Phan Võ cho biết rằng "Ông mất thọ 70 tuổi" (vì thế khó xác định được là mất năm 1789 hay năm 1790), còn hầu hết các bộ Gia phả của dòng họ và các tài liệu hiện hành đều thống nhất ghi là năm 1791. Về ngày tháng sinh và ngày tháng mất của Lãn Ông, các bộ Gia phả đều chép giống như trong tài liệu của học giả Trần Văn Giáp mà chúng tôi đã dẫn ở trên.

4. Từ các căn cứ đã được phân tích, đối chiếu nói trên, chúng ta có thể đi đến kết luận: Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác sinh ngày 12 tháng 11 năm Giáp Thìn (27 - 12 - 1724) và mất ngày 15 tháng Giêng, năm Tân Hợi (17 - 2 - 1791), thọ 67 tuổi. Việc xác định đúng năm sinh của Lê Hữu Trác không chỉ góp phần đính chính một sự kiện trong tiểu sử của ông, quan trọng hơn, sẽ góp phần trong việc nghiên cứu thân thế, tư tưởng và sự nghiệp của Đại danh y. Hơn thế, đây cũng là căn cứ quan trọng để chúng ta đề xuất với các cơ quan chức năng trong nước và các tổ chức quốc tế để lập hồ sơ trình UNESCO vinh danh Hải Thượng Lãn Ông nhân kỷ niệm 300 năm sinh của ông vào năm 2024.

Chú thích

1. Năm 1970, nhân kỷ niệm 250 năm ngày sinh Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1970). Nhà Nước giao cho Bộ Y tế chủ trì các công tác kỷ niệm ngày Đại lễ này. Xem Kỷ niệm lần thứ 250 ngày sinh của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, NXB Y học, Hà Nội, 1970.

2. Nguyễn Trọng Thuật, Một nhà danh y và danh nho của nước ta ngày xưa - cụ Lãn Ông, Nam Phong tạp chí số 69 năm 1923, trang 193.

3. Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - nguồn tư liệu văn học và sử học Việt Nam, tập 1, bản in lần thứ 2, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1984, tr.428.

4. Lê Hữu Trác, Thượng kinh ký sự, bản dịch của Nguyễn Trọng Thuật, Nam Phong tạp chí, số 77 năm 1923, trang 463. Xem thêm bản dịch Thượng kinh ký sự của Vũ Văn Đình, Tập san Sử - Địa số 26, Nhà in Khai Trí, Sài Gòn; tr.226 và bản dịch Thượng kinh ký sự của Phan Võ in trong Hải thượng Lãn ông Y tông tâm lĩnh, tập 2, NXB Y học, Hà Nội, 2005; tr.558.

5. Lê Hữu Trác, Thượng kinh ký sự, bản dịch của Nguyễn Trọng Thuật, Nam Phong tạp chí, số 77 năm 1923, trang 372. Xem thêm bản dịch Thượng kinh ký sự của Vũ Văn Đình, Tập san Sử - Địa số 26, Nhà in Khai Trí, Sài Gòn; tr.199 và bản dịch Thượng kinh ký sự của Phan Võ in trong Hải Thượng Lãn Ông Y tông tâm lĩnh, tập 2, NXB Y học, Hà Nội, 2005; tr.539.

6. Lê Hữu Trác, Hải thượng Y tôn tâm lĩnh, quyển nhất, Đình Thụ Hoàng Văn Hòe dịch, Nhà sách Khai Trí xuất bản, Sài Gòn, 1972; tr.32.

 

PHẠM KHẮC LANH[1]

 

1. Hà Tĩnh vốn là một tỉnh không có các dân tộc thiểu số. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân đã có 4 dân tộc thiểu số cùng chung sống với dân tộc Kinh, trong đó có dân tộc Chứt (nhóm Mã Liềng) với dân số 42 hộ, 146 nhân khẩu, chính thức định cư từ năm 1976 tại bản Rào Tre, xã Hương Liên, huyện Hương Khê. Nhóm Mã Liềng ở Hà Tĩnh là một trong những nhóm tộc người có đời sống kinh tế, xã hội khó khăn nhất ở nước ta, quy mô dân số ít, chất lượng con người thấp, từng được xem là "người rừng", "người nguyên thủy", là "một trong ba tộc người đang có nguy cơ bị biến mất" [1] nhưng lại là nhóm còn bảo lưu được nhiều nét văn hóa mang đậm bản sắc như ngôn ngữ, phong tục tập quán.

Trong những năm gần đây, người Mã Liềng ở Hà Tĩnh được dư luận quan tâm, trong đó, vấn đề hôn nhân cận huyết là đề tài nóng hổi nhất, được bàn luận nhiều nhất không chỉ trên nhiều báo, đài mà còn thể hiện trong các đề tài, đề án khoa học lớn từ Trung ương đến địa phương, có thể kể đến như: Đề án Phát triển đồng bào dân tộc Chứt tại bản Rào Tre, xã Hương Liên, huyện Hương Khê đến năm 2020 được UBND tỉnh Hà Tĩnh phê duyệt tại Quyết định số 2571/QĐ-UBND ngày 03/9/2014. Đề án nhận định: "Hôn nhân cận huyết đang là một trong những vấn đề "nhức nhối" nhất của đồng bào dân tộc Chứt. Người trong bản dù gần, dù xa cũng đều có huyết thống với nhau nên việc lập gia đình đối với thanh niên ở đây không thể tránh khỏi việc lấy người cùng dòng máu với mình và có rất nhiều trường hợp lấy nhau cùng huyết thống không quá ba đời. Bản cũng đã xuất hiện những đứa trẻ không bình thường do hậu quả của hôn nhân cận huyết. Người dân nơi đây đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm sức khỏe, bệnh tật, suy thoái giống nòi"[3]. Đề án Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2025 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 14/4/2015, cho rằng "Hôn nhân cận huyết thống là một vấn đề xã hội rất phức tạp và hết sức nan giải, phổ biến là kết hôn giữa con cô với con cậu, con dì, con chú với con bác. Theo thống kê của Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế), các dân tộc Lô Lô, Hà Nhì, Phù Lá, Chứt, Ê Đê, Chu Ru, Si La, Pu Péo, Mông, Rơ Măm, Brâu… có tỷ lệ hôn nhân cận huyết thống lên đến 10%". Đề án nhấn mạnh "đặc biệt tình trạng hôn nhân cận huyết thống diễn ra khá phổ biến giữa thanh niên dân tộc Chứt tại bản Rào Tre (bản có 35 hộ với 137 nhân khẩu và 100% là dân tộc Chứt), xã Hương Liên, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh"[2].

Trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong khoảng 10 năm trở lại đây có rất nhiều bài báo, phóng sự đăng tải vấn đề hôn nhân cận huyết của người Mã Liềng ở Hà Tĩnh. Tìm kiếm với cụm từ "hôn nhân cận huyết người Chứt Hà Tĩnh" trên trang Google đã cho ra 517.000 kết quả liên quan trong vòng 0,42 giây. Trong đó, hàng chục bài báo có tiêu đề chính là hôn nhân cận huyết đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng như: Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Dân trí, Vietnamnet, Báo Hà Tĩnh,... có thể thể kể đến như: Hôn nhân cận huyết - Chuyện buồn ở bản Rào Tre, Hà Tĩnh của Quang Linh, Tuấn Anh (2014); Ước mơ "lập chợ tình", giải cứu hôn nhân cận huyết của Hoàng Sang - Duy Tuấn (2015); Ác mộng của người Mã Liềng (Hương Khê) của Lê Tuấn Phong (2015); Rào Tre, người Chứt và hôn nhân cận huyết của Trần Tuấn (2018); Nguy cơ suy thoái tộc người Chứt vì hôn nhân cận huyết của Đức Hùng (2014);... Từ các đề án, bài báo trên có thể rút ra được hai vấn đề:

Thứ nhất, xem hôn nhân cận huyết thống của người Mã Liềng ở Hà Tĩnh là "ác mộng", "nhức nhối", "phổ biến", "rất nhiều" để lại nhiều hậu quả. Tuy nhiên, các đề án, bài báo, phóng sự trên lại không đưa số liệu cụ thể để chứng minh, một số bài báo có đưa ra một số trường hợp dị tật để minh chứng nhưng không chính xác.

Thứ hai, xem hôn nhân cận huyết thống là một phong tục, tập tục lạc hậu của người Mã Liềng.

Vậy, thực trạng hôn nhân cận huyết có phải "phổ biến", "nhức nhối", là một tập tục lạc hậu trong hôn nhân của người Mã Liềng hay không?

2. Trên cơ sở phân tích sơ đồ tộc hệ và quan hệ hôn nhân của người Mã Liềng cho thấy: từ năm 1976 - 2018, ở bản Rào Tre đã có tổng số 57 lượt kết hôn, trong đó có 6 trường hợp kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ từ đời thứ ba đến đời thứ tư và những người có họ trong phạm vi ba đời. Theo Khoản 17, 18, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, những người có cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau. Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba[4].

Trong 6 trường hợp kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ chỉ có 1 trường hợp kết hôn trong phạm vi ba đời (con gì con già lấy nhau); 4 trường hợp đời thứ ba kết hôn với đời thứ 4 (1 trường hợp cậu lấy cháu họ, 1 trường hợp chú lấy cháu họ, 2 trường hợp cô lấy cháu họ); 1 trường hợp đời thứ tư kết hôn với nhau (chị em họ kết hôn với nhau).

Sơ đồ 1: Trường hợp con gì con già lấy nhau (đời thứ 3)

 

 

 

 

 

(1)

 

 

 

[1]

[2]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(2)

 

[6]

[3]

[7]

[4]

[8]

[5]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(3)

 

 

 

[9]

[10]

 

(1) Ông Hồ Hoát [1] lấy bà Hồ Thị Loan [2] sinh ra 3 người con gái: Hồ Thị Hoát [3], Hồ Thị Nhoong [4], Hồ Thị Poong [5];

(2) Bà Hồ Thị Nhoong [4] lấy ông Hồ Đại [7] sinh ra Hồ Thị Loong [9]; Bà Hồ Thị Poong [5] lấy ông Hồ Chỉ [8] sinh ra ông Hồ Vẹt [10];

(3) Bà Hồ Thị Loong [9] lấy ông Hồ Vẹt [10];

Sơ đồ 2: Trường hợp cậu lấy cháu họ (đời thứ 3 và thứ 4)

 

 

 

 

 

(1)

 

 

[1]

[2]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(2)

 

[6]

[3]

[7]

[4]

[8]

[5]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(3)

            [11]            [9]

[10]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(4)

 

[12]

 

 

 

 

(1) Ông Hồ Hoát [1] lấy bà Hồ Thị Loan [2] sinh ra 3 người con gái: Hồ Thị Hoát [3], Hồ Thị Nhoong [4], Hồ Thị Poong [5];

(2) Bà Hồ Thị Hoát [3] lấy ông Hồ Nơ [6] sinh ra bà Hồ Thị Xinh [9]; Bà Hồ Thị Poong [5] lấy ông Hồ Chỉ [8] sinh ra ông Hồ Nề [10];

(3) Bà Hồ Thị Xinh [9] lấy ông Hồ Cà Venh [11] sinh ra bà Hồ Thị Đỉnh [12]

(4) Ông Hồ Nề [10] lấy bà Hồ Thị Đỉnh [12]

 

Sơ đồ 3: Trường hợp chú lấy cháu họ (đời thứ ba và thứ 4)

 

 

 

 

(1)

 

 

 

[1]

[2]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(2)

 

 

 

[3]

[5]

[4]

[6]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(3)

 

 

 

             [7]             [9]               [8]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(4)

 

 

 

 

[10]

 

 

 

 

(1) Ông Hồ Bi [1] lấy bà Hồ Thị Bi [2] sinh ra ông Hồ Chỉ [3] và ông Hồ Mỗi [4];

(2) Ông Hồ Chỉ [3] lấy bà Hồ Thị Poong [5] sinh ra ông Hồ Nề [7]; Ông Hồ Mỗi [4] lấy bà Nguyễn Thị Vinh [6] sinh ra Hồ Bốn [8];

(3) Ông Hồ Nề [7] lấy bà Hồ Thị Đỉnh [9] sinh ra Hồ Thị Bình [10]

(4) Hồ Bốn [8] lấy Hồ Thị Bình [10].

Sơ đồ 4: Trường hợp cô lấy cháu họ (đời thứ ba và thứ tư)

 

 

 

(1)

 

 

[2]

[1]

[3]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(2)

 

             [6]             [4]             [5]            [7]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(3)

 

 

[8]

[10]

[9]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(4)

 

 

[11]

 

 

 

(1) Ông Hồ Bi [1] lấy bà Hồ Thị Bi [2] sinh ra ông Hồ Chỉ [4]; bà Hồ Thị Bi chết, ông Hồ Bi lấy bà Hồ Thị Tụng [3] sinh ra bà Hồ Thị Hoa [5];

(2) Ông Hồ Chỉ [4] lấy bà Hồ Thị Poong [6] sinh ra ông Hồ Kính [8]; Bà Hồ Thị Hoa [5] lấy ông Hồ Do [7] sinh ra Hồ Thị Kiên [9];

(3) Ông Hồ Kính [8] lấy bà Hồ Thị Lý [10] sinh ra Hồ Tình [11];

(4) Hồ Thị Kiên [9] lấy Hồ Tình [11].

Sơ đồ 5: Trường hợp cô lấy cháu họ (đời thứ ba và thứ tư)

 

 

(1)

 

[2]

[1]

[3]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(2)

[6]              [4]             [5]             [7]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(3)

 

[8]

[10]

[9]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(4)

 

[11]

 

 

 

(1) Ông Hồ Bi [1] lấy bà Hồ Thị Bi [2] sinh ra ông Hồ Chỉ [4]; bà Hồ Thị Bi chết, ông Hồ Bi lấy bà Hồ Thị Tụng [3] sinh ra ông Hồ Tẻo [5];

(2) Ông Hồ Chỉ [4] lấy bà Hồ Thị Poong [6] sinh ra Hồ Thị Hường [8]; Ông Hồ Tẻo [5] lấy bà Hồ Thị Thanh [7] sinh ra Hồ Thị Bưởi [9];

(3) Bà Hồ Thị Hường [8] lấy ông Hồ Sỹ [10] sinh ra Hồ Tý [11];

(4) Hồ Thị Bưởi [9] lấy Hồ Tý [11].

Sơ đồ 6: Trường hợp chị em họ lấy nhau (đời thứ 4)

 

 

 

 

 

(1)

 

 

[1]

[2]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(2)

 

[6]

[3]

[7]

[4]

[8]

[5]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(3)

            [12]             [9]                              [10]

[11]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(4)

 

[13]

 

[14]

 

(1) Ông Hồ Hoát [1] lấy bà Hồ Thị Loan [2] sinh ra 3 người con gái: Hồ Thị Hoát [3], Hồ Thị Nhoong [4], Hồ Thị Poong [5];

(2) Bà Hồ Thị Hoát [3] lấy ông Hồ Nơ [6] sinh ra bà Hồ Thị Xinh [9]; Bà Hồ Thị Nhoong [4] lấy ông Hồ Đại [7] sinh ra bà Hồ Thị Loong [10]; Bà Hồ Thị Poong [5] lấy ông Hồ Chỉ [8] sinh ra ông Hồ Vẹt [11];

(3) Bà Hồ Thị Xinh [9] lấy ông Hồ Cà Venh [12] sinh ra Hồ Thị Nga [13]; Bà Hồ Thị Loong [10] lấy ông Hồ Vẹt [11] sinh ra Hồ Lương [14];

(4) Hồ Thị Nga [13] lấy Hồ Lương [14].

Đối chiếu theo Điểm d, Khoản 2, Điều 5, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc cấm kết hôn giữa những người có cùng dòng máu trực hệ trong phạm vi 3 đời thì ở bản Rào Tre từ năm 1976 đến nay chỉ có 1 trường hợp, chiếm tỷ lệ 1,75%. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều mức bình quân do Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế) thống kê năm 2014 là 10% được đề cập đến trong Đề án Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2025.

Về một số trường hợp báo chí dẫn ra để chứng minh cho hôn nhân cận huyết của người Mã Liềng ở Hà Tĩnh như trường hợp của gia đình Hồ Hà - Hồ Thị Sâm có con gái là Hồ Thị Trang bị dị tật bàn chân và trường hợp của gia đình Hồ Hóa - Hồ Thị Thiên có con trai bị tim bẩm sinh,... Tuy nhiên đối chiếu với sơ đồ tộc hệ mà chúng tôi đã nghiên cứu cùng với sự xác minh của các nhân chứng thì giữa các cặp vợ chồng này đều không có mối quan hệ  huyết thống.

Như vậy, có thể khẳng định, từ trước đến nay đối với người Mã Liềng ở Hà Tĩnh, hôn nhân cận huyết chưa phải là "ác mộng", "nhức nhối", "phổ biến", "rất nhiều" như các đề án của Nhà nước, tỉnh Hà Tĩnh và các phương tiện thông tin đại chúng đã nêu.

Hôn nhân cận huyết thống cũng không phải là một tập tục hay phong tục của người Mã Liềng như một số bài báo đã nhận định. Người Mã Liềng có nguyên tắc ngoại hôn dòng họ, chỉ những người khác dòng họ mới được kết hôn với nhau, kết hôn trong dòng họ bị cấm, những trường hợp vi phạm sẽ bị cộng đồng lên án và xử phạt rất nặng. Nghiên cứu luật tục của người Mã Liềng không thấy họ quy định người cùng họ phải trải qua bao nhiêu đời mới được lấy nhau nhưng thường được áp dụng chặt chẽ trong vòng ba đến bốn đời.

Do nguyên tắc kết hôn đồng tộc người, quan niệm thanh niên khi đến tuổi trưởng thành được tự do tìm hiểu yêu đương, cùng với dân số ít nên trong những năm gần đây việc quan hệ tình ái giữa thanh niên Mã Liềng ở Hà Tĩnh ngày càng tự do hơn, dẫn đến có một thực trạng thanh niên quan hệ bừa bãi, trong đó có nhiều trường hợp anh em họ hàng với nhau. Đây có lẽ là lý do để các đề án, báo chí cho rằng người Mã Liềng có tình trạng hôn nhân cận huyết rất nhức nhối và phổ biến. Trong thực tế có một số trường hợp quan hệ cận huyết nhưng xảy ra lén lút, trong tâm thức của người Mã Liềng vẫn rất sợ kết hôn cận huyết thống, họ sợ cha mẹ không cho phép, dòng họ lên án, đặc biệt họ sợ các loài ma trách phạt làm cho ốm đau, gặp nhiều xui xẻo trong cuộc sống. Vì vậy, việc kết hôn giữa những người có cùng dòng họ trong phạm vi ba đời rất ít xảy ra. Nếu đây là một tập tục diễn ra phổ biến với những hậu quả nặng nề thì với dân số chỉ vài trăm người, người Mã Liềng khó có thể tồn tại qua hàng ngàn năm lịch sử.

Trong thời gian tới, xu hướng hôn nhân cận huyết của người Mã Liềng ở Hà Tĩnh mới là điều "nhức nhối", "phổ biến" nếu không có những giải pháp phù hợp. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, hiện nay, trong tổng số 74 nam có tới 39 nam chưa lập gia đình, trong đó, từ 17 tuổi trở lên (độ tuổi theo quan niệm của người Mã Liềng có thể lập gia đình) có 16 người, từ 20 tuổi trở lên (đủ tuổi kết hôn theo quy định của Nhà nước) có 9 người. Trong tổng số 72 nữ có 30 nữ chưa lập gia đình, trong đó, từ 15 tuổi trở lên (độ tuổi theo quan niệm của người Mã Liềng có thể lập gia đình) có 7 người, từ 18 tuổi trở lên (đủ tuổi kết hôn theo quy định của Nhà nước) có 2 người. Điều này cho thấy mức độ chênh lệch về giới ở người Mã Liềng hiện nay rất lớn: 2,3 lần trong độ tuổi kết hôn truyền thống (2,3 nam/ 1 nữ) và 4,5 lần trong độ tuổi kết hôn theo quy định của Nhà nước (4,5 nam/ 1 nữ). Tuy nhiên về quan hệ huyết thống, tỷ lệ không thể kết hôn còn cao hơn nhiều: trong số 16 nam trên 17 tuổi, có 3 nam có quan hệ dòng họ với 6 nữ (từ đời thứ 2 đến đời thứ 5), chỉ có thể kết hôn với 1 nữ; 8 nam có quan hệ dòng họ với 5 nữ, chỉ có thể kết hôn với 2 nữ; 3 nam có quan hệ dòng họ với 4 nữ, chỉ có thể kết hôn với 3 nữ; 2 nam có quan hệ dòng họ với 1 nữ, có thể kết hôn với 6 nữ.

Trong số 7 nữ trên 15 tuổi chỉ có 1 nữ có thể lấy tất cả các nam (do người này có bố và mẹ là người Kinh, bố mất, mẹ kết hôn với người Mã Liềng và theo mẹ đến bản Rào Tre sinh sống); 4 nữ có quan hệ dòng họ với 14 nam (từ đời thứ 2 đến đời thứ 5), chỉ có thể kết hôn với 2 nam; 2 nữ có quan hệ dòng họ với 8 nam, có thể kết hôn với 8 nam.

Như vậy, hôn nhân cận huyết là vấn đề đặt ra cần phải giải quyết nhằm giúp người Mã Liềng tránh khỏi vòng luẩn quẩn: nghèo đói - thất học - kết hôn cận huyết thống.

3. Trong thời gian tới để hạn chế hôn nhân cận huyết tại bản Rào Tre cần phải đưa sơ đồ tộc hệ để tuyên truyền cho người Mã Liềng hiểu biết về nguồn gốc của dòng họ mình, biết mối quan hệ của bản thân với những người xung quanh. Sự cần thiết của việc xây dựng sơ đồ tộc hệ để giảm thiểu tình trạng hôn nhân cận huyết đã được chính quyền tỉnh Hà Tĩnh đề cập từ những năm trước "Kiểm soát tốt tình trạng hôn nhân cận huyết trong bản, đặc biệt cần xây dựng sơ đồ tộc hệ để quản lý tốt hơn vấn đề này"[3]. Tuy nhiên, cho đến nay ngoài sơ đồ tộc hệ của tác giả chưa có bất cứ ai tiến hành nghiên cứu vấn đề này. Trên cơ sở sơ đồ tộc hệ kết hợp tuyên truyền đưa ra dẫn chứng ngay trong bản để chứng minh hậu quả của hôn nhân cận huyết. Giải thích cho đồng bào hiểu rõ việc kết hôn cận huyết trong phạm vi ba đời vừa trái với luật tục, đạo đức vừa vi phạm pháp luật của Nhà nước theo Luật Hôn nhân và gia đình. Việc tuyên truyền giải thích về hậu quả của hôn nhân cận huyết đối với đồng bào, nhất là đối với thế hệ thanh niên rất quan trọng, bởi qua nghiên cứu được biết một số thanh niên nam nữ trong bản hiện nay đang tìm hiểu nhau, trong đó có nhiều trường hợp có mối quan hệ huyết thống từ ba đến bốn đời.

Đồng thời với việc tuyên truyền sơ đồ tộc hệ, chính quyền địa phương cũng như bộ đội biên phòng cần giúp đỡ người Mã Liềng giải quyết dứt điểm tình trạng mâu thuẫn xung đột giữa thanh niên Mã Liềng ở bản Rào Tre và thanh niên các bản đồng tộc ở Quảng Bình. Sự xung đột giữa thanh niên các bản này với nhau không phải là truyền thống "trai bản giữ gái bản" như một số báo đã nêu mà mâu thuẫn này mới chỉ xảy ra trong khoảng 10 năm trở lại đây. Nguyên nhân do một số thanh niên đi tìm hiểu bạn đời ở bản khác uống rượu say, quậy phá dẫn đến đánh nhau, công an địa phương đã xử lý nhiều vụ việc. Song song với việc giải quyết xung đột, cần có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích đồng bào Mã Liềng hai tỉnh thường xuyên gặp gỡ, giao lưu, trong đó vai trò chính là của Đoàn Thanh niên ở hai địa phương đứng ra tạo cầu nối qua các cuộc giao lưu liên hoan văn nghệ, thể dục thể thao vào các ngày lễ tết trong năm. Đồng thời tăng cường giao lưu với các dân tộc khác ở lân cận và trong cả nước.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền Luật Hôn nhân và gia đình nhằm giúp đồng bào nhận thức được hôn nhân không chỉ là một phong tục mà còn phải gắn với luật pháp để đồng bào chủ động trong việc đăng ký kết hôn tại chính quyền địa phương, nhận thức được độ tuổi kết hôn phù hợp, dần hình thành ý thức tự giác chấp hành pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Tài liệu tham khảo:

1. Trần Trí Dõi (1995), Thực trạng kinh tế và văn hóa của ba nhóm tộc người đang có nguy cơ bị biến mất, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

2. Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 14 tháng 4 năm 2015 về việc Phê duyệt Đề án "Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2025".

3. UBND tỉnh Hà Tĩnh (2014), Quyết định số 2571/QĐ-UBND ngày 3 tháng 9 năm 2014 V/v phê duyệt Đề án phát triển đồng bào dân tộc Chứt, bản Rào Tre xã Hương Liên, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020, Trung tâm Công báo Hà Tĩnh.

4. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (sửa đổi), http:// moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php%20lut/view_detail.aspx?itemid=29058.

5. Phạm Khắc Lanh (2018), Biến đổi hôn nhân của người Mã Liềng ở bản Rào Tre, xã Hương Liên, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, Tạp chí Dân tộc học, số 3.

Chú thích hình vẽ

NCS Phạm Khắc Lanh - tp Vinh - Nghệ An

 

Huy Huyền - Mai Phương Ngọc

"Ảnh hưởng của Phật giáo đối với giới trí thức phong kiến Đại Việt là một đề tài lớn và phức tạp, nhưng rất cần thiết trong bối cảnh Phật giáo đang được chấn hưng ở nước ta hiện nay. Năm 1993 chúng tôi đã bước đầu đề cập vấn đề này trong Thông báo khoa học của trường Đại học Sư phạm Vinh (Đặc san kỷ niệm 43 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Ấn Độ). Bài viết đã dược bạn đọc đưa lên nhiều trang mạng từ tháng 3/2008. Trong bài này chúng tôi sẽ  tiếp tục cập nhật bổ sung vấn đề ở một số nét nổi bật đã tương đối rõ ràng nhưng rất đáng tiếc xưa nay chưa được trình bày một cách có hệ thống.

Phật giáo du nhập nước ta vào khoảng đầu Công nguyên, là thành tố xuất hiện sớm nhất trong các thành tố ngoại nhập của văn hóa Việt Nam. Phật giáo Tiểu thừa theo đường thủy vào nước ta từ phía Nam (bấy giờ còn là lãnh thổ của Phù Nam (sau đó là Chân Lạp) và Chiêm Thành. Phật giáo Đại thừa theo đường bộ từ phương Bắc xuống. Đại thừa có 8 tông phái lớn, nhưng chỉ có 3 tông phái đến nước ta: Mật tông (cũng tức là Chân ngôn tông), Tịnh độ tông và Thiền tông; trong đó Thiền tông đến sớm nhất và mạnh nhất.

Cho đến giữa thế kỷ XIX, Thiền tông ở nước ta gồm các dòng sau:

Dòng Tìniđalưuchi (Vinitaruxi) do Tìniđalưuchi sáng lập. Ông người Thiên Trúc (Ấn Độ) bắt đầu trụ trì tại chùa Pháp Vân (chùa Dâu) khoảng năm 580.

Dòng Vô Ngôn Thông do Vô Ngôn Thông sáng lập. Ông người Hoa, đến nước ta vào năm 820, ngụ tại chùa Kiến Sơ (nay thuộc xã Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội).

Dòng Thảo Đường do Thảo Đường sáng lập. Ông người Hoa, vốn là tù binh bị bắt tại Chiêm Thành, được vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072) cho lập đạo tràng tại chùa Khai Quốc ở Thăng Long từ năm 1069.

Dòng Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông (11278 - 1293) sáng lập, hợp nhất được tất cả các dòng Thiền tông có mặt ở nước ta lúc đó

Ngoài 4 dòng trên, còn có dòng Tào Động thời Trịnh Nguyễn, dòng Lâm Tế xuất hiện ở miền Trung vào thời Nguyễn, dòng Liêu Quán ở miền Trung vào thế kỷ XVIII, dòng Liên Tôn khoảng thế kỷ XVI  -  XIX, trụ sở ở chùa Bà Đá và chùa Liên Phái(1). Khi bàn đến ảnh hưởng của Phật giáo đối với trí thức Đại Việt thì chính là bàn đến Phật giáo Thiền tông, chủ yếu là dòng Thiền Trúc Lâm.

Trí thức nước ta thường xuất hiện trong lịch sử như là người đại diện chân chính cho tinh hoa và khí phách của dân tộc. Từ buổi đầu dựng nước và giữ nước, xây dựng nền văn minh đầu tiên của người Việt: Văn minh sông Hồng, những người trí thức vô danh đã hòa vào tập thể quần chúng nhân dân để lao động và sáng tạo.

Bước vào thời kỳ đấu tranh lâu dài hơn 1000 năm để giành lại độc lập, những người uyên bác nhất trong nhân dân là những nhà sư. Sách Di sản Hán Nôm Việt Nam, thư mục đề yếu của Gs. Trần Nghĩa có nói đến một số trí thức - nhà sư như Đạo Cao và Pháp Minh thế kỷ V, Đại Thừa Đăng thế kỷ VI, Thanh Biện thế kỷ VII… Nhân dân học chữ Hán trong các lớp học của người Hán mà người được tôn là Nam giao học tổ là Sĩ Nhiếp Thái thú quận Giao Chỉ từ năm 187 và học trong các nhà chùa. Một số học giỏi, từng sang Trung Quốc dự thi. Số này tên tuổi lưu lại rất ít ỏi, có thể đếm được trên đầu ngón tay: Trương Trọng, Lý Cầm, Lý Tiến, Khương Công Phụ, Khương Công Phục... Đặc biệt, có các trí thức giỏi cả văn lẫn võ như Lý Bí, Tinh Thiều… đã từng dựng nên nhà nước Vạn Xuân độc lập (544 - 602).

    Chỉ đến chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại năm 938, đội ngũ trí thức nước ta mới thật sự hình thành và phát triển. Lúc bấy giờ trí thức Đại Việt đứng trước hai khả năng:

1. Tự tạo cho mình một hệ tư tưởng riêng như trí thức Trung Hoa, Ấn Độ.

2. Tiếp thu một hệ tư tưởng nước ngoài làm hệ tư tưởng của mình.

Muốn thực hiện khả năng thứ nhất thì điều kiện tiên quyết là trong xã hội phải có một tầng lớp trí thức sống độc lập bằng hoạt động trí tuệ. Ở Trung Hoa đạo Nho tồn tại hơn 500 năm mới bước vào chính quyền. Trước Khổng Tử (551 - 479 tr.CN) đã có những trí thức sống độc lập bằng hoạt động trí tuệ.

Từ buổi đầu độc lập cho đến giữa thế kỷ XIX nước ta chưa hề có một đội ngũ trí thức đông đảo sống độc lập như vậy! Giai cấp thống trị Đại Việt chỉ có khả năng nuôi dưỡng tầng lớp trí thức quan lại chứ không đủ khả năng nuôi dưỡng tầng lớp trí thức sáng tạo học thuật, tư tưởng. Vì vậy, trí thức Đại Việt chỉ còn khả năng thứ hai.

Do hoàn cảnh lịch sử, trí thức các nước Đông Nam Á quanh ta cũng không có hệ tư tưởng độc lập, và họ đã chọn Phật giáo hoặc Hồi giáo…làm hệ tư tưởng của mình; còn trí thức nước ta buổi đầu chọn Phật giáo, sau đó thì chính thức chọn  Nho giáo, nhưng vẫn  chịu ảnh hưởng Phật giáo khá sâu sắc, tuy ở mỗi thời kỳ lịch sử và ở mỗi cá nhân cụ thể thì có khác nhau.

Buổi đầu độc lập

Đã giành được độc lập thì phải có nhà nước và do đó phải có trí thức. Từ đó các trí thức - nhà sư, các nhà sư - trí thức tham gia chính sự tùy khả năng của mình và cũng tùy theo yêu cầu của vua chúa. Đỗ Thuận (915 - 990) theo dòng Thiền phương Nam, giỏi văn học, làm pháp sư dưới triều Lê Đại Hành. Trong bài kệ nhằm trả lời vua Lê về đạo trị nước, ông viết:

Quốc tộ như đằng lạc/ Nam thiên lý thái bình/ Vô vi cư điện các/ Xứ xứ tức đao binh 國祚如藤絡,南天裏太平。無為居殿閣,處處息刀兵 (Phúc nước cây leo quấn quýt/ Trời Nam  mở thái bình/ Vô vi trên điện các/  Chốn chốn dứt đao binh)(2).

Đỗ Thuận đã dựa vào cái lẽ vô thường của đạo Phật để khẳng định "phúc nước cây leo quấn quýt" và nguyên tắc trị nước mà ông nêu "vô vi cư điện các" vừa là nguyên tắc "vô vi nhi trị" của Đạo gia lại vừa là thái độ của tín đồ Thiền tông trên con đường đi đến ngộ đạo. Vô vi ở đây không phải là không làm gì, mà trái lại là làm bất cứ việc gì thuận theo lẽ tự nhiên.

Ngô Chân Lưu (933 - 1011) lúc nhỏ theo học Nho, lớn lên đi tu theo dòng Thiền Quan Bích ở chùa Khai Quốc. Ông được Đinh Tiên Hoàng mời tham chính, giữ chức Tăng Thống đứng đầu Tăng quan, hiệu là Khuông Việt đại sư  (匡越大師). Giặc Tống xâm lược nước ta, ông đã góp nhiều ý kiến thiết thực giúp Lê Hoàn tổ chức kháng chiến. Sau ngày chiến thắng, vua Lê đã phong ông làm Quốc sư. Ông thật sự xứng đáng là vị quân sư cho triều Đinh và triều Tiền Lê.

Thiền sư Nguyễn Vạn Hạnh (929 - 1018) lúc nhỏ tinh thông cả ba đạo Nho, Phật, Lão. Năm 21 tuổi xuất gia đầu Phật, tu ở chùa Lục Tổ. Ông có công lớn giúp cho Lê Đại Hành, sau lại giúp cho Lý Thái Tổ trong việc chính trị, ngoại giao.    

Sự tham chính của các Thiền sư tên tuổi như Đỗ Thuận, Ngô Chân Lưu, Nguyễn Vạn Hạnh… chứng tỏ ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo đối với sự phát triển tư tưởng chính trị.

Thời Lý - Trần

Thời Lý - Trần Phật giáo thịnh hành. Buổi đầu triều Lý, các Thiền sư vẫn tiếp tục tham chính (Vạn Hạnh, Viên Thông, Nguyễn Thường…)  và họ trình bày các kiến giải về đạo trị nước lại rất ít dấu vết triết lý Phật giáo. Là nhà sư nhưng họ lại dựa vào các nguyên tắc tiến cử người hiền, tu kỷ trị nhân,  dùng người quân tử hay coi việc yên dân và một nền chính trị tốt đẹp là gốc cho âm nhạc là những nguyên lý Nho gia. Triết lý của các nhà sư hầu như không bắt nguồn từ bản chất tôn giáo và triết lý của đạo Phật. Ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo đối với chính kiến họ tuy có nhưng không sâu sắc gì và không có ý nghĩa quyết định. Khi phát biểu những chính kiến đó họ đã đi dần vào quỹ đạo nhập thế của Nho giáo.

Điều cần chú ý là trước sức đề kháng của một dân tộc có truyền thống chống ngoại xâm rất vẻ vang, Phật giáo vào nước ta đã không còn nguyên vẹn là Phật giáo Ấn Độ, Trung Hoa. Người Việt chỉ tiếp nhận các nhân tố tư tưởng bên ngoài thông qua tinh thần tự chủ của mình. Phật giáo vào nước ta đã được điều chỉnh, phù hợp với đầu óc thực tiễn từ ngàn xưa để lại. Những gì quá siêu hình, trừu tượng người Việt hầu như không hề quan tâm. Được rọi sáng bởi chủ nghĩa yêu nước, ngay các nhà sư cũng có tinh thần độc lập rất cao. Họ hoàn toàn tự tin ở sức mình, vượt ra ngoài sự ràng buộc của giáo lý, chẳng hạn như Thiền sư Nguyễn Quảng Nghiêm (1121 - 1190):

Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ,

Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh.

Nam nhi tự hữu xung thiên chí

 Hưu hướng Như Lai hành xứ hành.

(離寂方言寂滅去,生無生后說無生。男兒自有衝天志,休向如來行處行)  (Lìa được cõi tịch diệt mới có thể nói chuyện tịch diệt/ Sinh ở cõi vô sinh mới có thể nói về việc vô sinh/ Kẻ nam nhi phải tự mình có cái chí xông lên trời/ Cần gì đi vào con đường mà Như Lai đã đi)(3).

Tiến thêm một bước nữa, trên cơ sở độc lập về chính trị, quân sự, kinh tế, người Việt còn muốn độc lập về ý thức hệ. Người đầu tiên muốn thực hiện ý định đó là Lý Thánh Tông (1023 - 1072), đệ tử đầu tiên của Thiền Phái Thảo Đường. Nhưng phải đến Thiền Phái Trúc Lâm thời Trần với hai người đặt nền móng là Trần Thái Tông (1218 - 1277), Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230 -1291) và ba vị tổ Trần Nhân Tông (1258 - 1308), Pháp Loa (1284 - 1330), Huyền Quang (1254 - 1334) ý định đó mới được thực hiện hoàn chỉnh. Phái Trúc Lâm đã tạo ra một ý thức hệ thống nhất trên cơ sở những tiền đề ý thức hệ đã có sẵn. Tuy rằng thực tế chỉ là một tông phái, nhưng Trúc Lâm đã tự khoác cho mình một tôn giáo mới khi thay đổi một phần nội dung tiêu cực, duy tâm, tự mình phân biệt với Thiền Tông Trung Hoa để thoát khỏi sự lệ thuộc với nước ngoài, làm cơ sở để thống nhất ý thức dân tộc; làm công cụ thống nhất quyền lực vào chính quyền Trung ương; làm phương tiện để giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thống trị và mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Trúc Lâm đã sáng tạo hệ thống "tam vị nhất thể": Phật = Vua = Cha. Trần Nhân Tông là vị vua - giáo chủ, điều chưa từng có trong Phật giáo Ấn Độ!

Một điểm lý luận độc đáo của Trúc Lâm là con đường đi đến giác ngộ bằng hành động thực tiễn hàng ngày. Niết Bàn nằm trong thế giới trần tục, con người tốt nhất nên đến bằng con đường trần tục như bổ củi, gánh nước, giã gạo… Trong cuộc sống, ai hướng thiện, hướng đến cái tâm bao la bát ngát như đại dương thì người đó tiến dần đến giải thoát. Tư tưởng này được vị Quốc sư Trúc Lâm làm rõ thêm khi khuyên vị vua - Phật  tử Trần Thái Tông: "Phàm đã làm vua trong thiên hạ, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, phải lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình"(4). Theo tư tưởng này, con người hướng thiện bằng việc phục vụ nhân sinh và trong quá trình đó tâm con người mở rộng dần bao chứa tâm của nhiều người… Càng trải rộng bao nhiêu càng đi gần đến giác ngộ bấy nhiêu! Như vậy con đường đi đến giác ngộ chính là con đường cứu dân độ thế. Điều này hoàn toàn không có trong Phật giáo Ấn Độ - Trung Hoa.

Lại nữa, cách "thiền" của vị tổ thứ nhất Trúc Lâm Trần Nhân Tông cũng thật thoải mái mà không hề trái đạo. Đây là 4 câu kệ kết thúc bài phú Cư trần lạc đạo:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,

Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên.

Gia trung hữu bảo, hưu tầm mịch

Đối cảnh vô tâm, mạc vấn Thiền.

居塵樂道且隨緣,饑則飧兮困則眠。家中有宝休尋覓,對境無心莫問禪 (Ở đời vui đạo cứ tùy duyên/ Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền/ Báu sẵn trong nhà đâu kiếm nữa/ Vô tâm đối cảnh hỏi chi Thiền?)(5).

Thiền tông chỉ nam tự của Trần Thái Tông (1218 - 1277) lại khẳng định: "Núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng, lòng lặng lẽ mà sáng suốt đó là Phật đấy. Nay nhà vua nếu giác ngộ về chữ "tâm" thì lập tức thành Phật, có cần gì phải đi cầu ở đâu"(6). Ý Thái Tông rút gọn lại là: Tu cốt ở tâm, tâm tức Phật, Phật tại tâm, chính được tâm là gặp Phật. Từ đó ông chủ trương nhập thế, gánh vác việc đời, hơn nữa là muốn đóng góp cho đời theo tinh thần muốn đại từ, đại bi thì phải có đại hùng, đại lực. Cho nên những người tu đạo Thiền làm việc cứu nước, cứu dân là lẽ đương nhiên, bởi vì trong lúc mọi người hăng hái chống giặc cứu nước, nếu cứ khư khư ôm lấy giáo lý nhà Phật, đóng kín cửa chùa, thì thật chẳng hợp thời chút nào! Phải theo tinh thần của vị Tuệ Trung Thượng Sĩ lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình (dĩ chúng tâm vi kỷ tâm), trộn lẫn cùng thế tục, cầm gươm lên ngựa tiêu diệt quân xâm lược, sẵn sàng vi phạm giới luật (cấm sát sinh), giết một người để cứu muôn người!

Trong sáng tác văn học, các thi sĩ Trúc Lâm thừa nhận thiên nhiên cũng như thừa nhận cuộc sống. Thơ ca phái Trúc Lâm tràn ngập thiên nhiên, nhưng họ chỉ mượn thiên nhiên làm môi trường diệt dục, chứ không giống tín đồ Lão Trang tìm thấy trong thiên nhiên tính quy luật của cuộc sống và chủ trương vô vi; họ cũng khác các nhà Nho yếm thế đời sau thường chú trọng tìm trong thiên nhiên những lạc thú thanh cao của đời sống tinh thần.

Nhìn chung, mặc dù Phật giáo thịnh hành thời Lý - Trần, nhưng ảnh hưởng của nó đối với trí thức chưa mạnh lắm. Những người cầm đầu bộ máy nhà nước khi thảo ra những văn kiện hành chính như chiếu, chế, biểu, hịch, cáo… không tìm thấy những căn cứ lý luận và căn cứ thực tiễn, kinh nghiệm quản lý nhà  nước trong giáo lý đạo Phật. Tuy vậy, về chính sách đoàn kết dân tộc, chính sách ngoại giao cũng như về mặt đạo đức, tình cảm, tinh thần từ bi đại độ của Phật giáo lại để lại những dấu ấn rõ nét. Vua Lý Thái Tông khoan hồng cho những hoàng tử có hành động cướp ngôi, vua Lý Thánh Tông thương xót tù nhân, vua Trần Thái Tông dàn hòa với anh ruột Trần Liễu, cũng như việc các vua nhà Lý tha tội và phong chức tước cho các tù trưởng miền núi là những bằng chứng rõ nét. Đặc biệt, cách ứng xử tuyệt vời của Trần Nhân Tông sau chiến thắng quân Nguyên: sai đốt hết hòm phiếu đựng các tờ biểu xin hàng giặc để yên lòng những kẻ hèn nhát; thả và cho về nước gần một vạn tù binh Nguyên; đại xá thiên hạ, khoan thư sức dân, bản thân sống cuộc đời thanh bạch "mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm" đã tỏ rõ tầm vĩ nhân của ông tổ thứ nhất dòng ThiềnTrúc Lâm - vị anh hùng dân tộc vĩ đại! 

Từ thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XIX

Đến cuối Trần và thời nhà Hồ (1400 - 1407), Phật giáo đã bị công kích nặng nề. Từ Lê sơ trở đi, Nho giáo trở thành quốc giáo. Triều đình bài xích Phật giáo nhưng nhân dân đa số vẫn đi theo Phật. Thời Lê Trung Hưng, trong thực tế cả vua Lê lẫn chúa Trịnh Đàng Ngoài và chúa Nguyễn Đàng Trong đều sùng Phật. Phật giáo bị pha trộn với Đạo giáo và Nho giáo. Những năm đầu triều Nguyễn, triều đình tìm mọi cách hạn chế Phật giáo, nhưng phép vua thua lệ làng, tín ngưỡng Phật giáo vẫn phổ biến trong nhân dân.

Trí thức nước ta giai đoạn này là trí thức Nho giáo, nhưng đều chịu ảnh hưởng của Phật giáo, thể hiện ở các lĩnh vực:

Trong sáng tác văn học.

Nhà văn và nhà tư tưởng lớn nhất thế kỷ XV là Nguyễn Trãi (1388 - 1442) nhập diệu đạo Thiền đến mức biến thành thơ. Ông tự ví cảnh làm quan của mình giống cảnh chùa và quan niệm "Vị xuất gia thì thả trú gia 未出家時且駐家" (Chưa xuất gia thì hãy ở nhà)(7). Từ sau Nguyễn Trãi, tư  tưởng Tống Nho ào ạt đi vào văn học: thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, truyện truyền kỳ Nguyễn Dữ… Có điều cần lưu ý là ở Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) thì Nho kết hợp với đạo Lão - Trang, ở Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI) thì Nho kết hợp với Đạo giáo, còn ở Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613) thì là Tống Nho tương đối thuần túy. Đến thế kỷ XVII, XVIII thì những khái niệm Phật giáo lại biến thành cảm xúc, cảm giác của các nhà văn, nhà thơ. Một tác gia tiêu biểu là Nguyễn Gia Thiều (1741 - 1798). Trong Cung oán ngâm khúc ta bắt gặp thường xuyên những khái niệm Phật giáo: ảo hóa, hư ảo, kiếp phù sinh, duyên nghiệp, bể khổ, bến mê, hoa đàm đuốc tuệ… Trong Đoạn trường tân thanh  斷腸新聲(Truyện Kiều), tư tưởng Phật giáo gắn bó hữu cơ với tác phẩm. Nguyễn Du (1765 - 1820)  đi từ tài mệnh tương đố đến nghiệp báo luân hồi; từ hiếu nghĩa để vào từ bi; từ đầu chí cuối hy vọng cứ nhen lên rồi lại tắt, lại nhen và không khí yếm thế bi quan cơ hồ không dứt ra được. Ông lý giải cuộc đời chìm nổi của Kiều là do nghiệp chướng. Tất nhiên ý nghĩa khách quan của hình tượng thì lại là chuyện khác!

Trong đời sống đạo đức, tình cảm.

Phật giáo không phải là phương thuốc hiệu nghiệm hồi sinh cuộc đời.

Trí thức Đại Việt tìm đến đức Phật từ bi, cứu khổ, cứu nạn thường là để tìm thứ thuốc an thần tạm thời (trong khi xã hội đầy biến động, các trí thức có lương tâm luôn luôn phải dằn vặt quá nhiều về ý nghĩa cuộc đời). Nguyễn Trãi, Nguyễn Gia Thiều, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du v.v…  đều có chỗ gặp nhau ở đó.

Trong đời sống chính trị, tư tưởng, học thuật.

   Đạo Phật sâu rộng vô biên, người Việt hầu như chỉ chú ý đến yếu tố từ bi, cứu khổ, cứu nạn. Trí thức Đại Việt tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm cũng rất chú ý tiếp nhận yếu tố này của Phật giáo, làm phong phú thêm chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam, tỏ rõ thái độ khoan hồng độ lượng của người Việt (thể hiện trong các tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Dụ cựu triều văn võ chiếuDụ Ô tào chiếu của Ngô Thì Nhậm (viết thay vua)). Chính sách khoan hồng đối với tù binh của Lê Lợi - Nguyễn Trãi: "Để hả mối giận một sớm mà mang tiếng giết hàng muôn đời, thì sao bằng để sống ức vạn người mà hết mối chiến tranh cho hậu thế, khiến sử xanh ghi chép, nghìn thuở lưu thơm" (Lam Sơn thực lục). "Đến như thần vũ không giết/ Đức lớn hiếu sinh/ Nghĩ về kế lâu dài của nhà nước/ Tha kẻ hàng 10 vạn sĩ binh/ Sửa hòa hiếu cho hai nước/ Tắt muôn đời chiến tranh" (Phú núi Chí Linh) chính là tiếp tục cách ứng xử tuyệt vời của vị tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông thời Trần đã nói ở trên!

Trí thức Đại Việt không có điều kiện thuận lợi đi sâu vào giáo lý đạo Phật. Nguyễn Du từng thừa nhận: "Ngã độc Kim cương thiên biến linh/ Kỳ trung áo chỉ đa bất minh我讀金剛千遍零其中奧旨多不明"(Ta đọc kinh Kim cương hàng nghìn lượt/ Nhưng những ý nghĩa sâu xa trong đó phần nhiều không rõ ràng) (Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài 梁昭明太子分經石臺)(8).

Tìm đến Phật giáo, Lê Quý Đôn (1726 - 1783) nhằm mục đích mở rộng kiến văn của mình. Nhà bác học này đã chú ý ghi chép, nhận xét về các nhà sư nước ta từ thời Bắc thuộc đến Hậu Lê thành một thiên sách Thiền dật 禪佚 trong bộ Kiến văn tiểu lục  见闻小录.

Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) viết Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh 竹林宗旨源清 vào cuối đời, ý muốn kế tục phái Trúc lâm thời Trần, xây dựng thành một thứ kinh để thuyết pháp, kết hợp khéo léo Nho với Phật. Tập sách được các nhà nghiên cứu hiện đại đánh giá cao, cho rằng nó đã tập hợp được những kiến thức rất uyên bác, lý lẽ chặt chẽ, nhưng tác phẩm cũng chỉ thể hiện sự bế tắc của tác giả với những suy nghĩ tư biện mang đầy màu sắc duy tâm, mê tín(9). Điều mà Ngô Thì Nhậm tâm đắc nhất vẫn là tư tưởng nhập thế tích cực của phái Thiền tông Trúc Lâm, chứ không phải là một tư tưởng sâu xa nào khác của Phật giáo.

Tóm lại, trí thức Đại Việt từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX (kể cả các nhà sư, các vị tổ phái Trúc Lâm) tuy mức độ đậm nhạt khác nhau nhưng không mấy ai đi sâu vào giáo lý nguyên thủy của Phật giáo.

Từ cuối Trần trở đi, trí thức Đại Việt là trí thức Nho giáo nhưng vẫn không tránh khỏi ảnh hưởng Phật giáo trong sáng tác văn học; trong đời sống đạo đức, tình cảm; trong đời sống chính trị, tư tưởng, học thuật… Thông qua nhân dân lao động mà đại biểu là những trí thức lỗi lạc, Phật giáo được bản địa hóa, dân gian hóa, góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo, truyền thống giáo dục khoa cử nói riêng và truyền thống văn hóa nói chung. Các danh nhân văn hóa tiêu biểu thời Lý Trần cho đến Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du v.v… đều tôn trọng Phật giáo ở những khía cạnh tiến bộ, nhân bản của tôn giáo này.

Vào thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã  khai thác những hạt nhân tích cực của Phật giáo để phục vụ cách mạng. Đến với Phật giáo, Hồ Chí Minh đến với tư tưởng vị tha, cứu khổ, cứu nạn, mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh: "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" chính là lấy nguyện vọng, ham muốn của dân làm ham muốn của mình, lấy cái tâm của dân làm cái tâm của mình hết sức gần gũi với tư tưởng Tuệ Trung Thượng sĩ "dĩ chúng tâm vi kỷ tâm"!(10)

 

 

Chú thích

(1). Tham khảo: Nguyễn Tài Thư (cb), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb. KHXH.H.1988. Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb Văn hóa. 1992 ; Đoàn Trung Còn: Lịch sử nhà Phật, Nxb. Tôn giáo. 2007; Nguyễn Khắc Thuần: Tiến trình văn hóa Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ XIX, Nxb. Giáo dục. 2007 v.v…

(2), (3). Hai bài trên đều rút từ Thơ văn Lý - Trần  tập I, Nxb. Khoa học Xã hội, H.1977.

(4), (6) . Thiền tông chỉ nam tự trong Khóa hư lục Bản dịch của Đào Duy Anh. H.1974

(5). Thơ văn Lý - Trần Tập II. Quyển thượng. Nxb Khoa học Xã hội..H 1989.

   (7). Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa học Xã hội. H.1969.

  (8). Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nxb Văn học. H.1978.

   (9) Xin xem: Vũ Khiêu: Lời giới thiệu tác phẩm Thơ Ngô Thì Nhậm, Nxb Văn học.H.1988,

(10) Xin xem: Hồ Sĩ Hùy: Tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, Thông tin Khoa hoc & Công nghệ Nghệ An số1+2/2012. Đăng lại trong Đặc san Khoa học và Công nghệ Quảng Trị số 1/2014, Tạp chí Xưa & Nay số 454 tháng 12/2014….

 

 

QUẢNG PHƯỚC

Ca trù hay còn được gọi là Hát nói, Hát cô đầu, Hát ả đào, Hát nhà trò, Hát nhà tơ... là loại hình diễn xướng bằng âm giai nhạc thính phòng. Đây là một bộ môn nghệ thuật đặc sắc của dân tộc thịnh hành từ thế kỷ XVI, được giới quý tộc, tri thức yêu thích. Ca trù là sự kết hợp nhuần nhuyễn và đỉnh cao giữa thi ca và âm nhạc. Trong các di sản phi vật thể của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể của nhân loại thì Ca trù là loại hình có diện phân bố rộng rãi nhất (Quan họ phân bố chủ yếu ở Kinh Bắc, hát Xoan chủ yếu ở Phú Thọ, Ví Giặm chủ yếu ở Nghệ Tĩnh, Đờn ca tài tử chủ yếu ở Nam bộ...). Ca trù được phân bố rộng khắp các tỉnh Bắc bộ, Bắc Trung bộ, thậm chí lan vào cả phía Nam. Và đây cũng là loại hình âm nhạc được đưa vào cung đình từ rất sớm. Tuy nhiên khi nói đến cái nôi Ca trù thì hầu như người ta nghĩ ngay đến các tỉnh phía Bắc, còn ở miền Trung thì nghĩ ngay đến Cổ Đạm (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) mà ít ai biết rằng ở Nghệ An cũng một thời Ca trù "nức tiếng lừng danh". Ca trù Nghệ An không chỉ nức tiếng chốn kinh kỳ mà còn hình thành nên các giáo phường đại hàng(1) như Giáo phường đại hàng Đông Thành, giáo phường đại hàng Kẻ Gám, giáo phường đại hàng Cát Ngạn và hàng trăm giáo phường tiểu hàng(2) khác. Tiêu biểu trong số đó là giáo phường đại hàng Đông Thành với dòng họ Trần làng Yên Xuân, xã Diễn Phúc, huyện Diễn Châu có lịch sử hơn 500 năm hành nghề Ca trù.  

Theo gia phả dòng họ và các tài liệu khác như sắc phong, văn tế, thần tích... còn lưu tại di tích cho biết họ Trần ở đây có lịch sử gần 500 năm, trải qua trên 22 đời. Thủy tổ của dòng họ là ông Trần Đức Chính (tên húy là Mập) làm chức Giáo phường Ty chính trong phủ chúa Trịnh Tùng (1570 - 1623). Ông kết duyên cùng bà Nguyễn Thị Quế - cũng là một ca nương - người huyện Đông Thành (nay là làng Yên Xuân, xã Diễn Phúc, huyện Diễn Châu). Sau khi về hưu, ông bà đã chuyển về ở quê vợ và chọn đây làm nơi sinh cơ lập nghiệp cho con cháu muôn đời. Từ đây đã nảy sinh một dòng họ giáo phường lừng lẫy gần năm thế kỷ(3). Ông Trần Đức Chính không chỉ là thủy tổ của dòng họ mà đồng thời cũng chính là tổ sư của Tộc giáo phường đại hàng ở huyện Đông Thành. 

Quá trình phát triển của dòng họ gắn bó chặt chẽ với sự hình thành và phát triển của giáo phường. Vì vậy, lịch sử dòng họ cũng chính là lịch sử của giáo phường. Các thế hệ đầu của dòng họ (từ thế hệ thứ nhất đến thế hệ thứ 4) chủ yếu hoạt động ca trù ở kinh thành Thăng Long. Lúc này nhà Lê trung hưng đang thịnh vượng, ca trù đang được các bậc vua chúa và quan lại yêu chuộng, trở thành một bộ phận của nhã nhạc cung đình nên hầu hết các ca nương, kép đàn của dòng họ hoạt động ca trù ở trong cung vua phủ chúa là chính. Phần lớn đàn ông thì được phong quan tước, đàn bà thì làm cung tần mỹ nữ trong cung vua phủ chúa hoặc phu nhân, mệnh phụ của các quan đại thần triều đình. Tiêu biểu như sau:

Thủy tổ Trần Đức Chính làm Giáo phường Ty chính của triều đình "ngôi đầu lạc tịch, hàng trước lệnh quan sang, chầu đức nhạc công lừng danh quản giáp, ngự chiếu Giáo phường Ty chính, đeo vẽ ngọc tía dưới sân".   

Đời thứ hai:

+ Ông Trần Đức Tài "nối nghiệp huân từ" làm chức Giáo phường Ty chính.

+ Ông Trần Đức Lương "nghề quản huyền tài cổ vũ phảng phất nghiệp tiên nhân, trường lễ nhạc tiệc yến chỉnh chện ngôi toán trưởng" làm Quản giáp được phong Tham đốc, Kim Vinh hầu. Vợ là Phan Thị Vệ được vinh phong Tự phu nhân.

Đời thứ ba:

+ Bà Trần Thị Nghiêm (con ông Trần Đức Lương) sinh năm Mậu Dần là đào nương có vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành, được quan Thượng thư Nghĩa Quận công nâng đỡ, bà làm cung tần của chúa Trịnh Tạc. Gia phả còn ghi: "hình dung nhiều vóc nguyệt vẻ sao, miệng cười đào hoa nở nụ. Hoa vườn xuân vừa bén nhụy đã đứng vào tiền thế cấm cung. Phúc nhà lộc nước đã đành, lại nương đến đại thần thích phủ, ở khuê phòng quan Thượng thư Nghĩa quận. Hằng chầu ngọc yến đức Hoằng tổ Dương Vương (Trịnh Tạc)... ngôi năm phủ cao hơn thiên hạ, phúc chín trù nhuận khắp tôn thân".

+ Ông Trần Đức Toàn (con ông Trần Đức Lương) sinh năm Tân Tỵ, là một quản giáp tài năng "Thân trước Đông Phương Sóc, chí cả khôn bì", được phong Bắc quân Đô đốc phủ Đô đốc Thiêm sự, Hải Triều hầu. Ông có ba bà vợ đều là ca nương.

+ Bà Trần Thị Tề (con ông Trần Đức Lương) sinh năm Quý Mùi, là ca nương "vin hải đường sênh phách, được chầu yến múa oanh ca, đủ trăm vẻ nghi dung, có vóc nhạn sa cá nhảy". Bà lấy chồng là Khánh Trung hầu người xã Đức Hiệp, huyện Siêu Loại.

+ Bà Trần Thị Tương (con ông Trần Đức Lương) sinh năm Ất Dậu là ca nương có nhan sắc mỹ miều, đàn hay hát giỏi "tóc lườn lượt dường mây non Sở, quần mê mê tựa sóng sông Tương; bước chân đi rạng ngời vóc ngõ, đường tơ phím trúc, khúc hát cao sơn". Bà lấy chồng dòng dõi vương thất ở Biện Thượng (Thanh Hóa).

+ Bà Trần Thị Tửu (con ông Trần Đức Lương) sinh năm Đinh Hợi. Bà lấy chồng họ Nguyễn là Thiêm Tổng tri, Bảo Lâm hầu người xã Áng Độ, huyện Chân Phúc (nay là huyện Nghi Lộc, Nghệ An). Bà là một ca nương rất hiếu thảo với cha mẹ chồng "thờ cha mẹ nẻo thuở đương thời, mùi cam khổ một chút chẳng rời, cha mẹ qua đời, lễ an táng khôn bề chê trách".

+ Ông Trần Quang Vị (còn gọi là Trần Minh Lỵ, con ông Trần Đức Lương), sinh năm Canh Dần là một quản giáp "ăn ở có tấm nhân tấm nghĩa, vẹn hơn ngọc làu làu sáng hơn gương". Ông được phong chức Cai hợp, Tĩnh Yên nam. Ông có bốn bà vợ cũng đều là những ca nương danh tiếng "giáo phường ty vốn dòng tơ trúc".

+ Bà Trần Thị Sắc (con ông Trần Đức Lương) sinh năm Nhâm Thìn, lấy chồng là Chánh Đội trưởng Nghiên Lộc hầu ở xã Cam Tuyền, huyện Thanh Oai (nay thuộc thành phố Hà Nội).

+ Bà Trần Thị Khoan (con ông Trần Đức Lương) sinh năm Ất Mùi, là một ca nương xuất sắc, tài đức vẹn toàn "Mười lăm dây phím khúc ngọc tranh, lò bốn biển giá nên bậc nhất... đóa hải đường càng ngắm lại càng tươi, được thêm vẻ hương trời sắc nước". Bà được tuyển vào làm cung phi của chúa Trịnh Tạc khi mới mười ba tuổi "mười ba tuổi bén duyên kim ốc, khắp sáu cung ngôi ở thứ tư".

+ Bà Trần Thị Thai (con ông Trần Đức Lương) sinh năm Quý Hợi là một đào nương xinh đẹp, có tài, trước làm chức nội cung trong phủ chúa, sau làm vợ thứ của quan Tả Thị lang bộ Hộ"khoe chiều miệng ngọc mày ngài, thông làu mấy đoạn cung loan khúc hạc. Trước tiên triều chính vương phủ giữ chức nội cung, nay Hộ bộ Tả Thị lang ở ngôi á thất".  

Đời thứ tư:

+ Bà Trần Thị Ban (con gái ông Trần Đức Toàn) "thanh sắc xếp vào bậc nhất, giá ngọc lành phưng phức hương sen, tuổi xuân vừa mới mười ba, ngôi sao bé đã vào chầu tía phủ". Nghĩa là mười ba tuổi bà được triệu vào chầu cung vua phủ chúa. 

+ Bà Trần Thị Nhuyến (con ông Trần Đức Toàn) "tiếng ca có giọng oanh vàng, tuổi xuân mười sáu đã bén duyên nơi cửa ngọc".

+ Ông Trần Quang Bính (con ông Trần Đức Toàn) "nối nghiệp sênh ca, có vẻ tần thanh" cũng là một kép đàn, quản giáp tài hoa.

+ Ông Trần Quang Thiện (con ông Trần Đức Toàn) "chí công danh đao bút khởi dòng Tiêu Tương". Ông được cô Trần Thị Khoan - cung phi của chúa Trịnh - nuôi làm dưỡng tử. Sau cũng trở thành quản giáp có tài.

+ Bà Trần Thị Thịnh (con ông Trần Đức Toàn) là đào nương được dự vào ngôi chính tần trong phủ chúa "phím khúc ngân tranh, dự ngự chính tần vương phủ".

+ Bà Trần Thị Quận (con ông Trần Đức Toàn) là người "xang cung ngọc lựu, làm sủng thiếp hậu quân lữ doanh".  

+ Bà Trần Thị Xa (con ông Trần Quang Vị) "cung xoang mấy khúc ngọc tiêu quyến rũ, phượng hoàng bay đến đỗ ơn, chín trùng kim điện vầy đàm".

 + Ông Trần Quang Ánh (con ông Trần Quang Vị) văn võ song toàn, là một quản giáp tài hoa, kinh qua nhiều chức vụ khác nhau, được phong Năng Thọ hầu.

Chỉ trong bốn đời này, dòng họ có 12 người con gái và 11 bà vợ làm ca nương, 9 người con trai làm quản giáp ca trù. Họ không chỉ là những nghệ nhân tài hoa, phong nhã mà còn là những con người có tâm có đức, biết giữ gìn lễ giáo, trung hiếu vẹn toàn, gia phả còn ghi như sau "kẻ làm con có gái có trai; da miễn tóc nhờ ơn áng nạ(4). Đấng làm tôi là thần, là thiếp; đầu lẫn cuối đội đức quân vương. Đền áng nạ kể mười phân, thờ quân vương ngay một tiết... hiếu trung trời cũng thuận, vẹn cả mọi bề". Thật đúng là những tấm gương sáng về đạo đức nghề nghiệp, đối nhân xử thế cho các thế hệ nghệ nhân đời sau noi theo.      

Sau khi nhà Lê trung hưng suy tàn, triều đại thay đổi, con cháu chuyển dần về quê sinh sống và truyền dạy nghề cho nhiều người trong họ và một số người ngoài họ cũng đến xin học ca trù và gia nhập giáo phường. Từ gốc ban đầu ở làng Yên Xuân, dòng họ đã phát triển ra nhiều chi phái tỏa đi khắp nơi, đặc biệt, tập trung ở các vùng trung tâm của phủ, huyện: một chi di cư đến làng Hướng Dương (nay là xã Diễn Phong) ở bên cạnh thành Trài(5), rồi di cư tiếp ra Kẻ Lứ, Cẩm Bào ở phía Bắc thành Trài, Đông Câu (phía Đông thành Trài); một chi ở lại làng Yên Xuân gần với thành phủ Diễn(6). Mặc dầu các chi phái sống ở những địa phương khác nhau nhưng luôn luôn giữ một mối liên hệ khăng khít và cùng dưới sự điều hành chung của ông Trùm phường (người đứng đầu giáo phường).  

Sống bằng nghệ thuật nên các thế hệ của dòng họ rất tôn trọng người tài hoa. Họ biết giữ gìn và phát triển nghề tổ bằng nhiều cách như:   

- Đào tạo các thế hệ kế tiếp từ khi còn nhỏ: những con cháu có năng khiếu về âm nhạc được các thế hệ đi trước là các bà, mẹ, chị kèm cặp, truyền dạy cho ngay từ khi đang còn nhỏ như bà Trần Thị Khoan được dì nuôi dạy "xem cháu bằng con", ông Trần Quang Thiện(7), Trần Quang Mạch, Trần Quang Tuệ(8) được cô Trần Thị Khoan nuôi, ông Trần Quang Thô(9) được bà cô Trần Thị Tề nuôi dưỡng, các ông đều trở thành những quản giáp, kép đàn xuất sắc.  

- Chú trọng cưới vợ sớm cho con trai và lấy nhiều vợ là ca nương dòng dõi: Các thế hệ đầu của dòng họ tuổi thọ rất thấp (trung bình dưới 50 tuổi), vì thế cha mẹ rất chú trọng chuyện cưới vợ sớm cho con trai để có người nối dõi. Đặc biệt lấy rất nhiều vợ là ca nương dòng dõi để các thế hệ con cháu sinh ra có ghen di truyền tốt từ cả hai bên nội ngoại. Các cụ còn căn dặn con cháu: đi đâu thấy con người đẹp có giọng hát hay, đạo đức tốt thì cưới về làm vợ. Theo thống kê trong gia phả, bốn thế hệ đầu của dòng họ gồm: Trần Đức Chính, Trần Đức Lương, Trần Đức Toàn, Trần Quang Vị, Trần Quang Ánh đã lấy 11 bà vợ là ca nương. 

- Kén chọn những đào nương, kép đàn tài hoa cho gia nhập giáo phường: Theo phong tục xưa, nghề tổ chỉ truyền cho người trong họ nên việc cho người ngoài vào giáo phường rất hạn chế và phải được tuyển chọn kỹ càng. Chỉ chọn những đào nương, kép đàn tài hoa, có tâm với nghề và phải qua được vòng sát hạch mới được gia nhập giáo phường. Nhưng khi đã được tuyển vào thì giáo phường sẽ đào tạo thật bài bản, cấp tiền cho học đàn hát đến nơi đến chốn.

- Chọn nơi trung tâm đô hội để phát triển nghiệp tổ: Thời kỳ đầu, dòng họ phát triển ở kinh thành Thăng Long, sau đó chuyển về tập trung ở khu vực thành Trài, thành phủ Diễn đều là các trung tâm lỵ sở của huyện, của phủ nằm trên đường thiên lý Bắc - Nam. Đây là một sự nhạy bén, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của giáo phường. Bởi ở vùng trung tâm dễ nắm bắt được tin tức từ các nơi đưa về, các sự kiện lớn của nhà nước, việc đi lại thuận tiện, lại có điều kiện phục vụ ca hát tại chỗ cho các công sở, dinh quan...        

Giáo phường đại hàng được tổ chức chặt chẽ, có khoán ước rõ ràng. Ai vi phạm các điều lệ của giáo phường thì bị xử phạt, nhẹ thì phạt tiền, nặng thì bị đuổi ra khỏi giáo phường.

Đứng đầu giáo phường là ông Trùm phường chịu trách nhiệm quản lý chung toàn bộ hoạt động của giáo phường. Tế bào của giáo phường là các gánh hát. Một gánh hát bao gồm vài ba kép đàn với vài ba ca nương (số lượng không cụ thể), đứng đầu gánh hát là ông Kép. Ngày thường, các gánh hát hoạt động độc lập, ở đâu mời thì đến hát và tiền thu được do gánh hát sử dụng. Đến ngày hội lớn, ông Trùm phường triệu tập các ông Kép gánh hát lại và điều hành chung, gánh nào hát ngày nào, đợt nào, hát ở đâu... đều do ông Trùm phường cắt cử.

Khi có người xin gia nhập giáo phường hoặc đào nương, kép đàn làm lễ mở xiêm áo(10) thì phải báo với ông Trùm phường. Ông Trùm phường lại thông báo đến các ông Kép và sau đó mở một cuộc sát hạch, nếu đủ tiêu chuẩn mới được chứng nhận cho gia nhập giáo phường.

Quỹ của giáo phường được lấy từ hai nguồn: Một là từ ruộng tế điền, ruộng này chia cho con cháu cày cấy rồi lấy hoa lợi phục vụ việc cúng tế; hai là trích từ tiền đi hát của các thành viên giáo phường. Mỗi thành viên trong giáo phường đều có nghĩa vụ và trách nhiệm trích một phần tiền thu được từ việc đi hát để làm công quỹ của giáo phường.   

Giáo phường được phân bố ở sáu nơi chính: Làng Yên Xuân (nay thuộc xã Diễn Phúc), làng Yên Lý Ngoại (nay thuộc xã Diễn Yên), làng Đông Câu (nay thuộc xã Diễn Hải), làng Cẩm Trường (nay thuộc xã Diễn Trường), làng Nguyễn Xá (nay thuộc xã Khánh Thành), làng Kim Lũy (nay thuộc xã Diễn Kim). Giáo phường đại hàng được độc quyền ca hát ở những nơi danh tiếng trong vùng, như đền Cờn, đền Cuông, đình Cháy... Khi nhà nước tổ chức những sự kiện lớn thì chỉ giáo phường đại hàng mới được mời đến hát. Giáo phường đại hàng có quyền điều động các giáo phường tiểu hàng (tất nhiên là có hỗ trợ về mặt kinh phí). 

Trước đây, nhà thờ họ Trần ở Yên Xuân (Diễn Phúc) là một trong những cơ sở chính của giáo phường. Nhà thờ được xây dựng thời Lê Trung hưng, đã được trùng tu nhiều lần. Nguyên xưa, nhà thờ có kiến trúc ba tòa Thượng điện, Trung điện, Hạ điện và nghi môn, voi chầu, ngựa chầu, có tường bao quanh... với khuôn viên rộng khoảng 3 mẫu(11). Hàng năm, tại nhà thờ họ Trần diễn ra nhiều kỳ lễ để tưởng nhớ và tri ân các vị tổ nghề như: Tết Nguyên Đán, lễ tế Thượng Nguyên Rằm tháng Giêng (13 - 15/1 âm lịch); lễ tế Trung Nguyên rằm tháng Bảy (13 - 15/7 âm lịch), lễ giỗ ông Trần Đức Chính (18/4 âm lịch), giỗ ông Trần Đức Lương (6/6 âm lịch), lễ Mở xiêm áo... Trong đó, đặc sắc nhất là lễ Thượng Nguyên Rằm tháng Giêng và lễ Mở xiêm áo. Việc tế tổ không chỉ có con cháu trong dòng họ tham gia mà các đào nương, kép đàn của giáo phường cũng về làm lễ tế tổ sư, ngoài ra còn có cả các quan viên chức sắc của làng, xã đến dự lễ. Trong các kỳ lễ này còn tổ chức hát ca trù vì thế thu hút đông đảo nhân dân quanh vùng đến xem hát.              

Ngoài các hoạt động văn hóa tâm linh, nhà thờ họ Trần còn là nơi tổ chức truyền dạy hát ca trù. Ông trùm phường chọn các ông kép và đào nương lớn tuổi nhiều kinh nghiệm để làm thầy truyền dạy đàn, hát ca trù cho các môn sinh của giáo phường.

Những người muốn gia nhập vào giáo phường phải có lễ trình với ông trùm phường xin nhập môn. Nếu được ông trùm phường đồng ý thì sẽ làm lễ trình tổ xin nhập môn. Sau khi đã làm lễ nhập môn, giáo phường sẽ tổ chức đào tạo các tân đào, tân kép một cách thật bài bản, đúng chuẩn mực của giáo phường. Trước tiên các tân đào, tân kép phải học về lễ nghĩa, cách ứng xử, quy tắc, những điều kiêng kỵ của giáo phường, cách giữ giọng hát… sau đó mới đến học đàn, hát (các cụ thường nói "tiên học lễ, hậu học văn" là vậy).  

Các tân đào, tân kép được các "thầy" dạy cho cách cầm đàn, cầm phách sao cho thanh tao, lịch lãm; cách so dây, vặn nhịp, các bài bản cổ, cách luyến nhịp, cách gõ phách, cách nín hơi nhả chữ sao cho hay, cho khéo… giữa tiếng đàn và tiếng hát, tiếng phách luôn luôn phải nâng đỡ nhau để khi đàn kém thì có phách nâng, ca yếu thì có đàn đỡ… Hàng ngày, tiếng trống chầu, tiếng đàn đáy, tiếng phách gỗ và những tiếng luyện thanh, luyện giọng ú, xang, xề, công, lìu(12) của các ca nương, kép đàn ngân nga vang vọng khắp cả không gian thanh u.   

Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, bối cảnh xã hội thay đổi và điều kiện đất nước chiến tranh, kinh tế khó khăn, Ca trù bị xem nhẹ đến mức coi thường nên dần bị tàn lụi và rơi vào lãng quên thì tộc giáo phường đại hàng cũng tan rã từ đó, chỉ còn "vang bóng một thời" trong ký ức của những người yêu ca trù, hầu hết các ca nương, kép đàn của giáo phường phải gác đàn, cất phách để chuyển sang nghề khác. Thậm chí nhiều ca nương, kép đàn còn e dè khi nhắc đến ca trù vì sợ bị xã hội đàm tiếu. Trải qua hơn nửa thế kỷ với bao tang thương dâu bể, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ca trù được xã hội nhìn nhận, đánh giá lại và dần dần hồi sinh, khởi sắc, trong đó có Ca trù ở Diễn Châu và Nghệ An. Đặc biệt năm 2009, Ca trù vinh dự được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp thì các thế hệ con cháu họ Trần càng tự hào hơn về công lao của tổ tiên và phấn khởi khi nghiệp tổ được phục hưng. Hiện nay, họ Trần ở Yên Xuân vẫn còn hai ca nương là bà Trần Thị Chắt 90 tuổi và bà Trần Thị Thúc 98 tuổi. Ngoài ra một số con cháu trong dòng họ cũng bắt đầu học hát ca trù với nguyện vọng để nghề tổ không bị mai một.  

Từ hàng trăm năm nay, con cháu họ Trần khắp mọi nơi và các thành viên giáo phường đại hàng đã hội tụ về đây để cúng tế, ca hát, dâng những lời ca tiếng hát, cung đàn nhịp phách lên tiên tổ, thể hiện sự tri ân các bậc tiền bối, tăng cường sự đoàn kết, xây dựng dòng họ và giáo phường ngày càng lớn mạnh, nghề tổ ngày càng hưng thịnh. Mạch nguồn truyền thống tốt đẹp đó được các thế hệ con cháu họ Trần bồi đắp thêm dày dặn. Góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đang có nguy cơ ngày càng bị mai một. Hiện nay, các hoạt động tế lễ đã và đang được tổ chức trang trọng theo truyền thống. Nhờ đó góp phần duy trì thuần phong mỹ tục của địa phương, tăng cường mối đại đoàn kết cộng đồng. Và cũng thông qua đó thể hiện tấm lòng tri ân, truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc, góp phần giáo dục nhân cách đạo đức cho thế hệ trẻ, khơi dậy lòng yêu nước, tự tôn dân tộc.   

Ngoài ra, tại di tích còn lưu giữ nhiều cổ vật quý còn nguyên vẹn như bài vị, khám thờ, hương án, bát hương, long đình... đặc biệt là các tài liệu Hán Nôm cổ như gia phả, sắc phong, lệnh chỉ, lệnh dụ, văn cúng... Đây là những tài liệu gốc có giá trị quý hiếm, bổ sung thêm nguồn tư liệu cho lịch sử địa phương cũng như chính sử của đất nước.

 

Chú thích

1. Đại hàng nghĩa là giáo phường lớn, có thế lực mạnh, phạm vi hoạt động và mức độ ảnh hưởng rộng rãi.

2. Tiểu hàng là giáo phường nhỏ, phạm vi hoạt động hạn chế, mức độ ảnh hưởng ít.

3. Tính từ thời thủy tổ Trần Đức Chính thế kỷ thứ 16 đến khi ca trù bị lụi tàn là giữa thế kỷ 20.

4. Áng nạ nghĩa là cha mẹ.

5. Huyện lỵ của huyện Đông Thành cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn.

6. Tức thành Diễn Châu, là huyện lỵ của huyện Đông Thành và phủ Diễn Châu thời Nguyễn.

7. Con của ông Trần Đức Toàn - anh trai bà Trần Thị Khoan.

8. Trần Quang Mạch và Trần Quang Tuệ là anh em song sinh, con của ông Trần Quang Vị - anh trai bà Trần Thị Khoan.  

9. Ông Trần Quang Thô là con ông Trần Quang Thiệu, cháu ông Trần Đức Toàn - anh trai bà Trần Thị Tề.

10. Lễ mở xiêm áo tức lễ vào nghề (còn gọi là lễ trình nghề).

11. Nay, nhà thờ đã bị chiến tranh tàn phá, chỉ còn lại tòa thượng điện với diện tích khuôn viên rộng 250m2 và khu mộ Quản giáp Ca trù Trần Đức Lương.

12. Ú, xang, xề, công, lìu là cách ghi âm trong âm nhạc cổ (gọi là ngũ cung), tương tự như cách ghi âm trong âm nhạc phương Tây là đồ, rê, mi, fa, son, la, si, đô.

 

Hoàng Thị Khánh

Họ Trần làng Yên Xuân, xã Diễn Phúc, huyện Diễn Châu là một dòng họ có truyền thống ca công hàng trăm năm. Dòng họ đã sản sinh ra nhiều thế hệ ca nương, kép đàn, quản giáp tài hoa. Trong đó có những người trở thành phu nhân mệnh phụ của các quan đại thần, đào ngự trong cung đình, thậm chí là cung phi của vua chúa... tiêu biểu như bà Trần Thị Khoan - đào ngự, cung phi của chúa Tây Vương Trịnh Tạc. 

Theo gia phả họ Trần(1) cho biết bà Trần Thị Khoan "sinh Ất Mùi (1655) tướng nên quý nữ"(2), là con gái thứ tám của ông Trần Đức Lương và bà Phan Thị Vệ, thuộc đời thứ ba của họ Trần làng Yên Xuân. Bà xuất thân trong một gia đình quyền quý, có truyền thống ca công: ông nội là Trần Đức Chính làm quan Giáo phường Ty chính trong phủ chúa Trịnh Tùng, cha làm Quản giáp ca công, ông ngoại là Hữu điểm, Hiệu Việt hầu Phan Tuấn Đức(3). Từ nhỏ, bà đã sống trong môi trường nghệ thuật ca trù, lại được trời phú cho năng khiếu ca hát, đồng thời được các bậc cha anh là những quản giáp ca trù, mẹ và các cô các dì là những ca nương danh tiếng, đặc biệt là sự kèm cặp của người dì ruột(4) "dạy nhủ xem cháu bằng con(5)" nên bà đã sớm bộc lộ tài năng xuất chúng "cung thương làu bậc ngũ âm". Tài năng âm nhạc của bà được đánh giá vào hàng bậc nhất"mười lăm dây phím khúc ngọc tranh, lò bốn biển giá nên bậc nhất"(6). Không chỉ thông làu âm luật, bà còn là người con gái tiết hạnh, tứ đức vẹn toàn, nhan sắc xinh đẹp khó bì "đóa hải đường càng thắm lại càng tươi, thêm được vẻ hương trời nước sắc"(7)

Thời Hậu Lê là thời thịnh hành của ca trù, từ cung vua phủ chúa đến dân gian khắp nơi yêu thích ca trù. Vì thế các nghệ nhân ca trù lại càng được xã hội trọng vọng. Tiếng tăm về ái nữ của Quản giáp ca công xinh người đẹp nết, đàn hay hát giỏi vang khắp kinh thành, người người mến mộ. Bà lại thường được cha cho theo vào hầu trong phủ chúa. Trong những lần đó bà có dịp thể hiện tài năng đàn hát tuyệt đỉnh và được chúa Trịnh yêu mến. Năm Đinh Mùi niên hiệu Cảnh Trị thứ năm (1667), vừa mười ba tuổi xuân bà được chúa Tây vương Trịnh Tạc tuyển vào phủ làm cung tần, gia phả còn ghi "mười ba tuổi bén duyên kim ốc"(8). Bà rất được chúa Trịnh Tạc sủng ái nên phong cho cấp thứ tư trong hậu cung "khắp sáu cung ngôi ở thứ tư"(9). Mỗi lần bà xuất cung thì "võng bảy đòn tạc đầu rồng vàng tương chói chói"(10), đây là một sự ân sủng đặc biệt. Không chỉ có vậy, chúa đi đâu cũng thường đưa bà đi theo hầu cận, kể cả những lúc chinh chiến nơi trận mạc "phò xe vàng hết Bắc sang Nam, tạc khoán sắt kìa sông nọ núi"(11). Không phụ sự yêu thương của chúa, trong suốt thời gian ở vương phủ, bà luôn làm tròn bổn phận của một người vợ hiền, chung sống hoà thuận với các cung phi mỹ nữ khác, giữ gìn khuôn phép chốn khuê môn. Đặc biệt, bà đã sinh cho chúa Trịnh Tạc một người con, gia phả còn ghi như sau "Thánh chúa rũ lòng yêu dấu, trao cho giọt máu cháu trời"(12)

Việc bà Trần Thị Khoan được làm ái phi của chúa Trịnh là một vinh hạnh lớn không chỉ của dòng họ Trần mà còn cả làng Yên Xuân thậm chí cả huyện. Nhờ ân sủng của nhà chúa đối với ái phi mà làng Yên Xuân được thơm lây. Người dân làng Yên Xuân đi đâu cũng tự hào là quê hương của bà. Theo quy định về thể lệ ấm phong thời Hậu Lê, cha bà là ông Trần Đức Lương được phong Tham đốc, Kim Vinh hầu "tước sang để muôn đời", mẹ bà Phan Thị Vệ được phong Tự phu nhân "thơm lừng chín suối"(13). Sắc phong cho ông Trần Đức Lương như sau:

Sắc Đông Thành huyện, Vạn Phần xã, cố Trần Đức Lương vi phụng thị Vương phủ Thị nội Cung tần Trần Thị Khoan thân sinh phụ, dự đắc phong ấm. Dĩ kinh chỉ chuẩn, ứng phong tặng Tham đốc chức, Hầu tước. Khả tặng Đặc tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân, Tham đốc, Tứ vệ quân vụ sự, Kim Vinh hầu.

Cố sắc!

Chính Hòa thập nhất niên tam nguyệt nhị thập nhật.

    (Sắc mệnh chi bảo)

Dịch nghĩa:

Sắc cho cố(14) Trần Đức Lương ở xã Vạn Phần, huyện Đông Thành vì là thân phụ của Trần Thị Khoan Cung tần trong Vương phủ, được dự vào ấm phong. Đã có chỉ chuẩn nên được phong tặng chức Tham đốc, tước Hầu. Đáng tặng là Đặc tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân, Tham đốc, Tứ vệ quân vụ sự, Kim Vinh hầu.

Cho nên ban sắc!

Ngày 20 tháng 3 năm Chính Hòa thứ 11 (1690)

(Sắc mệnh chi bảo)

Sắc cho bà Phan Thị Vệ như sau:

Sắc tặng Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân, Tham đốc Thần vụ Tứ vệ quân vụ sự, Kim Vinh hầu chính thê cố Phan Thị Vệ. Vi phụng thị vương phủ thị nội cung tần Trần Thị Khoan thân sinh mẫu, dự đắc ấm phong. Dĩ kinh chỉ chuẩn ứng phong tặng, khả tặng Tham đốc Kim Vinh hầu Tự phu nhân.

Cố sắc!

Chính Hòa thập nhất niên tam nguyệt nhị thập nhật.

(Sắc mệnh chi bảo)

Dịch nghĩa:

Sắc tặng cho vợ chính của Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân, Tham đốc Thần vụ Tứ vệ quân vụ sự, Kim Vinh hầu là Phan Thị Vệ. Vì là mẹ thân sinh của Trần Thị Khoan là cung tần trong vương phủ nên đáng được ấm phong. Đã có chỉ chuẩn nên được phong tặng, đáng được phong tặng là Tham đốc Kim Vinh hầu Tự phu nhân.

Cho nên ban sắc!

Ngày 20 tháng 3 năm Chính Hòa thứ 11 (1690)

(Sắc mệnh chi bảo)   

 Ngoài ra, bà còn được ban cấp các loại đất, ruộng thế nghiệp, bãi trồng dâu, ruộng tế tự(15). Số ruộng được ban cấp này một phần bà để cho con cháu làm ruộng hương hỏa, một phần bà chia cho dân làng cày cấy không phải đóng thuế. Bà Trần Thị Khoan đã đem lại sự vẻ vang, niềm tự hào cho gia đình, dòng họ và quê hương "mệnh vinh hoa nước suối bài, nhà vinh hiển cha phong mẹ ấm"(16).

Không chỉ đem lại vinh quang cho quê hương, bà còn có công truyền dạy nghệ thuật ca trù, đây là một truyền thống qúy báu của dòng họ Trần. Bà đem những tinh hoa của nghệ thuật ca trù để truyền dạy cho học trò là các cung nhân trong phủ chúa và con cháu trong dòng họ. Trong số những học trò của bà, nổi bật nhất là ba người vừa là học trò vừa là cháu ruột, đó là Trần Quang Thiện (con của Trần Đức Toàn - anh trai) và Trần Quang Mạch, Trần Quang Tuệ (con của Trần Quang Vị - anh trai). Nhờ có sự giáo dưỡng, kèm cặp của cô Trần Thị Khoan mà sau này cả ba ông đều trở thành những người tài năng đức độ, là quản giáp ca trù danh tiếng, đem cung đàn điệu nhạc làm đẹp cho đời: ông Trần Quan Thiện "chí công danh đao bút khởi dòng Tiêu Tương"(17), ông Trần Quang Mạch được phong tước Cẩm Thọ hầu(18), ông Trần Quang Tuệ được phong Đông cung Phó Cai hợp(19) Bức Thọ nam(20). Việc truyền dạy ca trù của bà cho học trò đã góp phần làm cho nghệ thuật ca trù được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và cho đến mãi ngày nay. 

Gia phả không ghi bà mất ngày tháng năm nào và an táng ở đâu. Bà Trần Thị Khoan là một tấm gương mẫu mực về một ca nương tài hoa, đức hạnh, một phi tần đoan trang, thục đức, một nghệ nhân lỗi lạc, góp phần cùng với thế hệ quản giáp, đào nương, kép đàn đưa nghệ thuật ca trù lên đến đỉnh cao của âm nhạc dân tộc và lưu truyền mãi cho muôn đời.     

 

 

Chú thích

1. Bản gia phả bằng chữ Nôm được lập vào ngày mồng 1 tháng 8 năm Chính Hòa thứ 11 (1690).   

2.3.5.6.7.8.10.11.16.17. Gia phả họ Trần, tlđd.

4. Em gái ruột của bà Phan Thị Vệ.

9. Gia phả họ Trần, tlđd. Theo chế độ phi tần của nhà Hậu Lê, phẩm trật của phi tần trong hậu cung được quy định theo thứ tự như sau: Hoàng Hậu, Quý Phi, Minh Phi, Kính Phi, Chiêu Nghi, Chiêu Dung, Chiêu Viên, Tu Nghi, Tu Dung, Tu Viên, Sung Nghi, Sung Dung, Sung Viên, Tiệp Dư, Dung Hoa, Tuyên Vinh, Tài Nhân, Lương Nhân, Mỹ Nhân. Trong phủ chúa Trịnh cũng tương tự như vậy.

12. Gia phả họ Trần, tlđd. Tiếc rằng gia phả không ghi rõ về người con đó.

13. Gia phả họ Trần, tlđd và các sắc phong hiện lưu ở di tích.

14. Cố tức là đã mất rồi.

15. Theo thể lệ cấp điền lộc thì bà Trần Thị Khoan được cấp thế nghiệp thổ 30 mẫu, ruộng vua ban 300 mẫu, bãi trồng dâu 60 mẫu, ruộng tế tự 150 mẫu (Khâm định Đại Việt sử thông giám cương mục, trang 549 (chính biên - quyển XXIII), bản điện tử).

18. Theo sắc phong, lệnh chỉ, gia phả lưu tại di tích.

19. Làm Phó cai hợp trong cung thái tử (Đông cung).

20. Theo sắc phong, lệnh chỉ, gia phả 

Bùi Văn Chất

I. Từ An Ấp...

 Họ Đinh An Ấp (Hương Sơn) nguyên là một cự tộc ở Gia Viễn Ái Châu, (nay là huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình), gặp thời loạn,  4 anh em dắt nhau vào Hoan Châu, tản ra các huyện sinh cơ lập ấp: 1 ở Yên Hồ, Nam Đường; 1 ở Kim Khê, Chân Phúc; 1 ở Đan Hải, Nghi Xuân và 1 ở An Ấp, Hương Sơn.

"Phổ tồn bản/ hà cảm vong/ Hoan Ái nhị châu kinh thế đại

Tộc đồng địa/ diệc phi dị/ Hồng Lam thiên cổ nhất giang sơn".

譜存本何敢忘獾愛二州經世代 /族同地亦非異鴻藍千古一江山

Có nghĩa là: Gia phả còn gốc, ai dám quên, Hoan Ái hai châu bao thế đại;

Họ hàng cùng chốn, có lạ đâu, Hồng Lam muôn thuở một giang sơn.

Câu đối của Hoàng giáp Đinh Văn Chấp (1893-?), dòng Kim Khê - Nghi Lộc, cung bái Từ đường họ Đinh Nho, An Ấp nêu trên là  một minh chứng.

 Họ Đinh An Ấp từ đời thứ 1 đến đời thứ 6, tuy có khoa hoạn song lại độc đinh:

Đời thứ 1. Cụ Phúc Diên, khai khẩn xứ Bình Hòa, về sau có công dẹp giặc được phong chức Tả hiệu điểm Công Tây hầu. Thọ 93 tuổi;

Đời thứ 2. Cụ Phúc Trường, 21 tuổi đậu loại ưu Tứ trường, 27 tuổi vào thi xạ sách đậu cao. Thọ 60 tuổi;

Đời thứ 3. Sơ tổ Phúc Bảo, 19 tuổi thi đậu Tứ trường. Thọ 72 tuổi;

Đời thứ 4. Cụ Chính Tính, 20 tuổi trúng Tứ trường. Thọ 72 tuổi.   

Đời thứ 5. Sơ tổ Phúc Khánh, 25 tuổi đậu Tứ trường. Thời ấy, gần nhà có ngôi chùa Thanh Uyên bị hoang phế, Tổ đã xuất của nhà ra tu bổ. Trước chùa có dòng trường giang, trong một trận lụt lớn, nước dâng cao chảy xiết, cuốn theo khúc gỗ lớn, như con giao long từ trên ngàn lao tới, chực chọc thẳng vào chùa. Để cứu chùa thoát khỏi nguy cơ bị phá hỏng, cụ kịp thời lên thuyền "hộ tự", đẩy khúc gỗ ra. Do gắng sức vật lộn với khúc gỗ lớn, giữa dòng nước lũ, cụ bị nhiễm lạnh, ốm nặng rồi qua đời ở tuổi 62. Kỵ:19/01.

Hấp thụ khí thiêng Thanh Uyên, về sau, họ Đinh trở thành vượng tộc. Hiện ở Đền Bạch Vân còn lưu giữ đôi câu đối cổ:

津自兌流/氣爽清淵符妙理;

山從震起/地靈安邑順神皋

"Tân tự Đoài lưu/ khí sảng Thanh Uyên phù diệu lý;

Sơn tùng Chấn khởi/ địa linh An Ấp thuận thần cao". Nghĩa là:

"Bến nước tự phía Tây chảy tới/ khí tượng sáng suốt, chùa Thanh Uyên phù hợp đạo lý mầu nhiệm;

Dãy núi từ phương Đông vươn lên/ mạch đất linh thiêng, xứ An Ấp hấp thụ tinh khí tốt tươi".

Đời thứ 6. Sơ tổ, huyện thừa, Nhân Phái nam, Nho Luân (1602-1676), 16 tuổi trúng Tứ trường. Sinh giờ Ngọ ngày 07/5 Nhâm Dần (1602). Chết giờ Tuất ngày 18/3 năm Bính Dần (1686). Thọ 85 tuổi, Kỵ: 18/3. Thời làm quan huyện thừa huyện Đông Ngạn, có tàu khách nước ngoài ngộ nạn. Sẵn mối từ tâm, cụ ra tay cứu giúp, chu cấp mọi thứ cho họ về quê. Bảy tháng sau vị khách trở lại trả ơn. Vốn là nhà phong thủy, khách ngỏ ý muốn giúp cụ tìm đất tốt, tính kế lâu dài. Lập tức cụ cáo bệnh từ quan, rước tiên sinh về nhà tìm cát địa,

Đời thứ 7. Tiến sĩ Ngự sử đài Thiêm Đô ngự sử Đinh Nho Công, húy Tung. 14 tuổi đậu Tứ trường loại ưu. 18 tuổi gặp lúc khó khăn, Tổ  trở về đi cày, vừa chăm việc nhà nông vừa chăm lo việc học. Mùa thu năm Kỷ Dậu, thi đậu Giải nguyên, mùa xuân năm sau thi trúng Tiến sĩ, khoa Canh Tuất Cảnh Trị thứ 8 (1670), năm 33 tuổi. Sinh giờ Dần ngày 09/01 năm Đinh Sửu (1637). Chết giờ Dần ngày 27/02 năm Ất Hợi (1695). Thất đại tổ tỉ Nho Công sinh hạ 6 trai:

7.1. Nho sinh trúng thí Nho Trạch, húy Thuần.

7.2. Nho Huân, tài học siêu trác, không may mất sớm.

7.3. Lễ bộ Tả thị lang Tiến sĩ Nho Hoàn, húy Toản.             

7.4. Nho Thận, (có tài liệu nhầm với TS Đinh Nhật Thận thuộc đời thứ 13).

7.5. Nho Thường, Nho sinh trúng thức, Tri huyện Tương Dương.

7.6. Nho Tôn, Tổng binh Hương Nghĩa hầu

Đời thứ 8.

 8.1. Nho Trạch sinh hạ 6 trai: Nho Thực, nho sinh trúng thức; Nho Gia, tùng hành Bắc sứ, thụ huyện thừa, không may chết sớm; Nho Liêu, chiêu văn đường nho sinh; Nho Mỵ, nho sinh trúng thức; Nho Thái, nho sinh trúng thức; Nho Hoằng, nho sinh thụ triều liệt đại phu, con nuôi Tả hầu.

8.2. Nho Thận sinh hạ 3 trai: Nho Uy; Nho Ngụ; Duy Phiên.

8.3. Nho Thường sinh hạ: Nho Mật.

8.4. Nho Tôn sinh: Tiên duệ hầu.

Đời thứ 9.

9.1. Nho Thực sinh 3 trai: Nho sinh Thái bộc Nho Tể, người có công tu tạo Văn chỉ; Nho sinh Nho Tuấn; Nho sinh trúng thức Duy Hàn; Nho Liêu sinh 4 trai: Nho sinh Nho Huệ, Quan viên tôn Nho Tuyên, Nho Dần, Nho Cự.

9.2. Nho Mỵ sinh: Nho Chiêu.

9.3. Nho Hoằng sinh: Nho Thân.

9.4. Nho Uy sinh 4 trai: Nho Đồng; Nho Cung; Văn Quán; Nho Giái.

9.5. Nho Ngụ sinh: Bị mờ, Nho Khung;  Nho Bân; Nho Nghi; Nho Thủ.

9.6. Nho Mật sinh: Bị mờ, Nho Tài; Nho Minh; Nho Bạt; Thừa tự Nho Tôn, di cư tới Thanh Liêu. Dưới thời Nguyễn Tây Sơn, nhánh Nho Bạt mang danh họ Nguyễn.

Đời thứ 10. Nho Bạt, Thanh Liêu, sinh hạ:  Nho Thành; Nho Mưu.

Đời thứ 11.

11.1. Nho Thành sinh: Nho Thanh; Nho Chương

11.2. Nho Mưu, em Nho Thành, sinh: Nho Miễn; Nho Thận, tức Viết Thận, Đinh Nhật Thận (còn 4 vị chưa thấy tên).

II. … Đến Thanh Liêu

"Họ Đinh Thanh Liêu Thanh Chương, thời Nhà Nguyễn Tây Sơn kê khai hộ tịch, lấy họ Nguyễn. Đến đầu đời Minh Mệnh (1820-1840), khi biết được dòng dõi nhà mình vốn ở Hương Sơn và sao chép được gia phả đời trước, mới đổi sang họ Đinh. Cũng từ đó mới biết cội nguồn xưa là dòng họ lớn ở Gia Viễn, Thanh Hóa, tản vào xứ Hoan Châu. Trong đó, có  dòng ở Côi Vĩ - An Ấp, đời đời khoa bảng. Ta là lớp sau.

Ôi!"Dịch thế di mưu, tam thiên viên trạch" (Mưu đồ dựng cơ nghiệp cho đời sau, ba lần dời chỗ mới yên), để lại một dòng An Ấp, Hương Sơn đời đời phát triển. Chi ta bởi có sự phân biệt, sao dám tự mang, hẵng ghi cho biết về dòng dọi công khanh, nhiều hiền tôn quý tử mà lâu nay vì không qua lại nên không được truyền.

Chỉ có chi Cao Điền, trước sau vẫn khai họ Đinh, còn chi ta, nhờ có ông Duy Thanh, đích tôn cụ Nho Bạt, thủy tổ dòng họ Đinh Thanh Liêu, người ham du ngoạn, nhân dịp về thăm tổ quán, xin sao gia phả, mới biết tích xưa, song chưa từng nhập tộc bộ. Khi Đinh Nhật Thân trúng Tiến sĩ, về nguyên quán bái tổ, nội tộc nói rõ nguyên lai, có một vài điều có thể lấy làm căn cứ, mới nộp tiền tế họ, nhập tộc bộ.

Việc bày tỏ ý kiến của mình khi chép phả truyền đời là việc làm phải hết sức cẩn trọng. Sơ qua bấy dòng để họ hàng thân thích biết, tuy nhiên trong đó không thể rành rõ, xin được thứ cho".

Trên đây là Di huấn của cụ Nho Mưu, tức Hữu Mưu, thân sinh TS. Đinh Nhật Thân, khi  biên soạn cuốn "Gia ký họ Đinh Thanh Liêu".  Trong đó ghi rõ:

1. Cụ thủy tổ họ (Đinh Thanh Liêu) ta đại danh là Bạt. Hai anh em dắt nhau tới vùng Cát Ngạn, Thanh Chương tìm nơi sinh cơ lập nghiệp. Ông anh chưa rõ tên, có con là Đinh Trọng Châu, Trọng Châu sinh Trọng Trân. Về sau chỉ độc đinh, tới ấp Cao Điền, một mình làm nông tại Thanh Liêu, lấy vợ (không rõ họ tên), sinh 6 người con gái. Lúc đầu đến xứ Cồn Vang, một vùng đất chưa ai khai khẩn, phát cỏ cây lấy gỗ làm nhà. Tới lúc tuổi đã xế chiều, nhà đã có thóc đủ ăn, có nhà cửa, sinh một trai, tương truyền tên là Viết Tài.

Nghe nói, Cụ tổ lúc ấy thường trở về quê cũ đến nhà một người con gái hình như là em của mẹ, nhưng chưa rõ. Lớn lên có lần về tỉnh nhưng không gặp được cha, nên "sự tích bất truyền". Sau những ngày ấy, cụ bà đã có một chuyến chống gậy về nơi đất khách, sớm hôm ở nơi khác làng (xa lạ). Thọ chung vào ngày 09/01, táng tại xứ An Ấp, Hương Sơn, nay không biết ở đâu. Mộ cụ ông phía sau mộ cụ bà. Kỵ: 27/5.  Ông có 2 đời vợ nhưng nay chưa biết rõ. 

Chi thứ nhất: Con trưởng là Bá Kỳ kế thừa cơ chỉ, bảo tồn gia nghiệp. Về sau đời đời độc đinh;

Chi thứ 2: Con thứ là Hữu Công, tuy quán ở Thanh Chương nhưng lại trở về phường Trung Ca, thôn Côi Vĩ, xã Yên Ấp, huyện Hương Sơn, cư ngụ.

Năm Cảnh Hưng 36 (1775), bọn người trong phường là Nguyễn Trọng Hân, Phạm Diện, Nguyễn Căng Nhượng, Nguyễn Liên, Đinh Trung Số lập giấy tờ chước miễn binh phu.

Năm Cảnh Hưng 41 (1780), cùng huynh trưởng nhập bộ tịch Thanh Liêu: Đinh Hữu Công, niên canh Canh Ngọ (1750); Vợ là Trần Thị Chung, sinh năm Giáp Tuất (1754), sinh 8 người con gái; Thiếp là Nguyễn Thị Thế, sinh 2 gái. Chăm việc nhà nông làm nên cơ nghiệp.  Ông thọ hơn 70 tuổi. Mộ ở Cồn Trường. Kỵ: 03/4;  Bà, thọ 70 tuổi. Mộ cùng một xứ, ở bên phải mộ ông.

(Về sau) chi thứ 2, tức chi ông Hữu Công, kế trưởng, sinh:

- Trưởng nam, Duy Thanh, lúc trẻ tuổi theo nghiệp học, biết văn tự, làm thủ hợp của trấn thành. Sau chuyên về phong thủy và làm thầy thuốc. Thê thiếp là người họ Phan, họ Hồ, cả thảy 4 bà toàn sinh con gái, chỉ có 1 trai, sau cũng độc đinh.

- Con trai thứ 2, Văn Sĩ, lấy vợ người La Mạc, con gái ông huyện Lễ Thủy. Gặp cơn binh lửa bị hại. Bản xã lập tế điền 1 mẫu 5 sào.

- Con trai thứ 3, Duy Chương, lúc trẻ học rộng nghề tinh, thi không đỗ, bèn trở về lo việc nhà, sinh 7 trai, chọn thầy thay mình dạy cho con học.

Khoa Canh Tý, ông con đầu trúng Tú tài; Tới khoa Đinh Mão, ông con thứ ba cũng trúng Tú tài. Ngày ấy đã không kịp nhìn con đỗ đạt.

Ông bà Duy Chương sinh hạ:

- Trưởng nam, Đinh Văn Bỉnh, tú tài khoa Canh Tý, tên tự là Tử Bưu, tự hiệu Phỏng Sơ Đường; Thứ 2, Đinh Văn Chiếu, tú tài khoa Đinh Mão, chức Hàn lâm viện cung phụng; Thứ 3, Văn Định, tự hiệu Cổ Hoan Song Thanh Vĩnh Linh Đường Đinh Chỉ Trai; Thứ 4, Văn Noãn; Thứ 5, Văn Tuấn; Thứ 6, Văn Vỹ; Thứ 7, Văn Chước.

Chi thứ 3: Ông Hữu Mưu (Nho Mưu) ở xã Đức Nhuận sinh 3 trai (Có tài liệu nói 6 trai) (Phả không ghi trưởng); Thứ: Trọng Miễn; Thứ ba, tên chữ là Viết Thận, trước bạ ở Thanh Liêu, ứng thí trúng Tiến sĩ khoa Mậu Tuất. Anh em ruột 6 người đều học giỏi (các em của Cụ Nghè chưa rõ tên. Hiện có Bà Đinh Thị Nguyệt, cháu gọi Cụ Nghè bằng bác ruột, là nữ tướng của cụ Đinh Văn Chất, thủ lĩnh nghĩa quân Cần vương, khi bà mất, dân Nguyên Khiết - Hạnh Lâm lập đền Bà Chúa Chè, thờ phụng. Đền Bà Chúa Chè - Hạnh Lâm là Di tích Lịch sử Văn hóa do Tỉnh quản lý).

Chi thứ 4: Tên là Hữu Đốn, do bà thiếp sinh tại Thanh Liêu, có 4 trai. Về sau nhà cũng giàu có thịnh vượng, thường làm lý trưởng.

- Trưởng nữ là Thị Thị, gả về họ Hồ. Con cháu ngoại nhà cũng giàu có;

- Thứ nữ Thi Ni, gả về họ Lê, dòng dõi phú hào. Có Lê Ngọc Tương, tú tài khoa Quý Mão làm thừa biện sung cửu phẩm chính ngạch thư lại.

2. Chuyện cũ lược ghi để con cháu lấy đó làm tấm gương soi mãi mãi. Lúc còn nhỏ ta được truyền rằng, thân phụ mất sớm, trước (ta) đã có một trai một gái. Ta sinh ngày 24 tháng 4 năm Đinh Mùi (1787). Gặp thời loạn lạc, mẹ cô (quả) con thơ, ở lại không an, mẹ ôm (ta) về  quán mẹ, dưỡng dục cù lao, may được an toàn. Lớn lên thành đứa trẻ, lại may có ông bác người trong tổng, ở xã Cao Điền đưa về nuôi, cùng ông anh con bác theo đòi học nghiệp. Được ba năm, nhà bác chuyển sang nghề buôn bán lên tận thượng nguồn, mỗi năm về một lần. Ông anh keo kiệt bảo, nuôi mày vô ích, thêm tốn kém, bất nhược về chăn trâu cày ruộng mà kiếm ăn. Ta đến khổ. Từ mùa hạ đến mùa đông chỉ một manh áo ngắn, cơ cực tám, chín năm trời. Tới năm 14 tuổi, đương khi chăn trâu, có một người trong xã Cao Điền  đến bảo: "Tổ tiên nhà mày ở xã An Ấp, huyện Hương Sơn, đời đời nho nghiệp, phụ tử tiến sĩ đăng khoa..." (mất 5 chữ). Ta lúc ấy nghe vậy, nước mắt lưng tròng.

Lại nghe, ở thôn Văn Chấn, tổng ta, có tiên sinh họ Nguyễn, Tuấn sĩ Tây triều mở lớp giảng võ, lập tức ta phóng trâu ra đồng, rồi trốn chạy thẳng vào giảng đường, trình bày gia cảnh, xin làm nô tùy để học lấy đạo thánh. Tiên sinh thương xót nhận vào. Được ba năm, không may tiên sinh tạ thế. Không biết làm sao, ta lại phải trở về nơi cũ theo nghiệp buôn bán. Hơn một năm, dong ruổi trên đường, nghĩ tới gia cảnh, lòng đau lệ nhỏ, cầu nguyện ngày sau, sinh  con trai, nhà cơ hàn mấy, nghiệp học (của con) cũng không bỏ. Gặp thời nhiễu loạn, bốn phương trộm cắp nổi như ong, anh em phân tán mỗi đứa một phương. Thân huynh theo cựu huyện thừa. Ông (huyện) lúc đầu được bổ tri huyện huyện Chân Định, sau khởi nghĩa soái Thăng Bình (bị giáng).

Thân huynh bẩm tính đoan phương nên ông rất mến. Tại chức huyện sở được ba năm, ông từ chức lui về bản quán. Ta nhân đó tới mừng ông. Ông hỏi: "Mày bây giờ đang làm gì?". Ta lấy sự thực thưa với ông. Ông nói: "Mày, nay theo nghề y cũng chưa muộn "Nghệ tinh khả lập thân". Mày không có vốn, ta cấp cho". Lòng ta mừng lắm, cúi lạy tạ ông rồi về. Ấy là vào tháng 11, đến tháng giêng năm sau lại lên hầu bái ông. Thời ấy có tiên sinh họ Hoàng, cựu tú tài, hiệu Long Môn Quỳ Viên, người thôn Thượng Thọ, tổng Võ Liệt, sĩ tử theo học rất đông. Lúc ấy, có ông người xã Cao Điền tới thăm tiên sinh. Ông có cô con gái thứ, bạn ta, ta muốn cầu hôn. Ông và tiên sinh là chỗ quen biết cũ, từng giao ước với nhau cùng thụ nghiệp. Nhân dịp này, ông hỏi ý tiên sinh về (chuyện) của hai đứa nên chăng. Tiên sinh bảo: "Khá, được"! Anh (học trò) người Thanh Liêu, tuy ít học nhưng ý tứ sâu sắc nhạy bén, vả lại, xét tính hạnh ngôn ngữ của anh ta, sau sẽ thành nhân. Nhớ lời tiên sinh, hai năm sau, mỗi khi ông hỏi về y lý, ta ứng đối rõ ràng rành mạch. Lòng ông mười phần mến mộ. Ông thường nói với gia nhân và các con về ý của ông để trưởng nữ cùng cả nhà đều thuận. Thấy ông nói vậy, họ cho là sự lạ, ra sức từ chối. Nghe được, ông cả giận mà rằng: "Bọn mày ngu, không biết tiên tổ anh ta mấy đời công thần, phụ tử đăng khoa, gia thanh lừng lẫy, há phải trọc phú tầm thường đâu". Được ít lâu, ông bàn việc với tiên sinh. Tiên sinh cười ha hả và rằng: "Trần trung vật sắc bất phí biện/ Luận chúng nhân hưu đắc vọng ngôn". Nghĩa là, ở đời việc của quý và sắc đẹp không nên tốn công bàn luận; Đưa ra công chúng bàn chỉ là những lời nói xằng.

Vào tuần tháng 6 năm ấy, ông ngộ trọng bệnh, mời tiên sinh đến chữa trị. Tiên sinh hỏi việc nhà ra sao, ông trao đổi mọi việc. Tiên sinh nói: "Ông với kẻ hèn này, tuy rằng khác họ, kỳ thực cũng như anh em, ý chúng ta không khác nhau, trong khi đương ốm, nhân đó cho thành. Khi bệnh ông đã đỡ, ta cũng không có nơi về, ông bảo, anh ở trong nhà được không, ta không chối từ.

Trải đã hai năm, ông tuy là  quan có lộc mà  lại ít của, nhà luôn có khách, nên luôn phải vay. Lúc ấy trộm cắp nổi lên như ong, nhà hết nguồn sống. Thế quẩn bức, ta xin ở riêng. Ông bảo, "Đừng lo"! gắng mà cùng đồng cam cộng khổ, đừng e bên ngoài bàn tán việc giàu nghèo. Nghe thấy ông nói vậy, ta không dám nài.

Khi bọn trộm cướp tạm yên, ông bèn đốc suất gia nhân lên thượng nguồn kiếm gỗ củi, lấy kế sinh nhai. Được ít lâu, ông bị ốm phải về nhà chữa trị, đã một tháng mà bệnh không thuyên giảm. Ta ngày đêm chăm sóc thuốc thang, bệnh vẫn không lui. Ông gọi gia nhân và vợ con tới bảo: "Ta tuy có con trai, song còn thơ ấu. May được anh rể hiền ngày đêm cần cù, nay còn ngôi nhà nhỏ 1 liên 3 gian để lại cho nó". Tuần tháng 7, ông về "dạ đài" (quy tiên). Sau đó, ta ở riêng mà nhà không dám lấy, việc nhà trước sau như một. Long Môn tiên sinh tới thăm, thấy hoàn cảnh ta như vậy, than rằng: "May được vậy là nhờ tiên công thấu hiểu nhà ngươi".

Thời ấy, nhà ta nghèo túng, gia quyến tám, chín người, nhiều khi đứt bữa. May biết được ít nhiều y lý, buổi đầu chưa ai biết, rồi một ngày, ta nghe nói, một người hàng xóm cùng khổ bị ốm, ta tới thăm, bốc thuốc chữa khỏi. Quanh vùng, mới đầu còn ít, độ mươi người đến, rồi ngày một thêm đông. Có người bị bệnh nặng, các thầy thuốc quanh vùng bó tay, ta chữa khỏi. Bất kể giàu nghèo, kể cả đêm hôm phải đỏ đuốc tới thăm, ta chẳng nề hà. Cứ vậy, bảy, tám năm sau, nhà tạm đủ ăn. Khi ta được hai trai, anh cả đã lên 9 tuổi, rước thầy về dạy con, ta nói riêng với vợ rằng: "Thủa bé, ta nghe, tổ tiên ta phụ tử tiến sĩ đăng khoa và cử nhân tú tài họ ta nhiều lắm. Ta không may, phụ thân mất sớm, không được học hành tới nơi, phẩn khích lắm, thường cầu khấn trời đất sao cho con cháu noi gương tiên tổ, chăm chú học hành, không cầu ruộng đất, không tham của cải, không lo sắm sanh phục sức, không sa vào cờ bạc rượu chè...; Hoặc có kẻ nói xấu, lấy điều thiện mà giải; Hoặc tranh cãi, lấy điều nghĩa mà trả; Hoặc thiếu thốn thí cấp; Hoặc gặp tai nạn thì cứu giúp"'. Nghề y (của ta)  ngày càng thêm người tin, ăn tiêu hàng ngày càng thêm đầy đủ, con cái lớn dần, biết chăm chú học hành. Vào một ngày giữa mùa hạ nóng bức, đương chính Ngọ, bỗng có người trong làng đến tận nhà, bảo: "Có cô dâu bệnh sản đã lâu, uống thuốc nam không hiệu nghiệm, mời thầy đến chẩn mạch xem sao?". Ta đáp lại rằng: "Phép bắt mạch là phải vào giờ yên tĩnh, hẵng đợi đến giờ Dậu, ta sẽ tới thăm, không phải đến mời!". Trong lúc ấy, lại có nhiều người đến bốc thuốc, vì thế ta lỡ hẹn. Sáng sớm hôm sau, gia nhân ngủ chưa dậy, một mình ta ăn bận chỉnh tề toan đi thăm, thì bỗng nghe lao xao ngoài ngõ, to tiếng chửi mắng. Ta mặc nhiên bất động, rẽ theo lối riêng đến nhà người bệnh, coi như không biết việc gì vừa xẩy ra, tận tâm cứu chữa. Ba năm sau, nhà ấy đến tạ, ta bảo: "Chuyện đã lâu rồi, hà tất phải nhắc lại.". Lại có một bà, tính gắt gỏng, có con trai bị bệnh, dùng nhiều thuốc rồi mà chưa khỏi, đến mời, ta không theo ý bà, bà lớn tiếng chử mắng. Vừa lúc quan huyện thừa tới thăm ta, nghe được, quan định hỏi tội, ta thương tình, xin tha cho bà.

Từ đó về sau, các con lần lượt đều được học, nhà luôn có khách, làng xóm biết cho... Khoa bảng nhà ta, xem như cụ Tổ đời thứ 5, gặp lúc khó khăn túng thiếu phải trở về An Ấp, Hương Sơn tìm đất canh tác nơi hoang phế, không dấu chân người, bỗng nghe tiếng người, ngoảnh lại thấy một bà bảo rằng:

"Quan Ngự sử sao chịu khổ làm mà không biết: "Độc thư thắng thiên canh vạn thực?" (Học giỏi, đậu đạt hơn lo cày nhiều ruộng lắm lúa). Nói xong, bỗng không thấy bóng bà đâu. Từ đó, thôi đi cày, trở lại học tiếp, đã đậu đạt trở thành quan Ngự Sử, rạng rỡ gia thanh. Theo gương xưa, ta thường răn bảo các con, nhà tuy nghèo khổ cha mẹ cũng gắng gỏi lo cho các con ăn học. Đó là bổn phận (của cha mẹ), đến như "học vấn bất thành" (Học hành không nên) là cái tội của các con.

Đúng đúng, sai sai ra sao đều có trong sách thánh hiền, nói hết ra đây để sau này (con cháu) đều biết.

Thời: Đầu tuần tháng Hai năm Minh Mệnh 21 (1840).

3. Tưởng niệm về thân phụ (Cụ Nghè Đinh biên soạn)

Thân phụ tự Thì Lệ, thủa nhỏ cô bần, lớn lên theo Qùy Viên tiên sinh học nghề y, tinh về chẩn mạch bốc thuốc. Việc sống chết của con người ta là không chừng nhưng việc dùng thuốc xằng đối với ông là chưa từng có. Tính ông đoan hậu hào phóng, thương cảm người nghèo đói, tận tình khi thăm nom, khi tang điếu.

Sở thích của ông là cá tươi rượu nóng và ham học. Người sinh 6 trai đều lấy sách vở làm nghiệp.  Việc đón tiếp khách nhà, tuy không hậu nhưng tận tình.

Khoa Mậu Tuất, Thận trúng tiến sĩ, vào viện Hàn lâm, ở lại kinh 2 năm.

Cha dạy dỗ các con học hành đều tiến bộ. Từ khi bị bệnh, (Người) thuật lại hành trang lý lịch thuở bình sinh, soạn thành một cuốn dặn bảo con cháu, gồm 1746 chữ. Phần đầu thuật chuyện linh tinh trong những tình huống khó khăn (thời trẻ); Thứ đến là việc lập thân, suy ngẫm từ những câu cách ngôn của thánh hiền có trong kinh truyện; Nhắc lại chuyện đã qua, khai thác hiển tích của gia tiên đến chuyện "người Thầy tôn kính" và ông con rể "ý khí tương đầu" (hợp ý nhau). Và những điều thuộc về nhân tình thế thái, ứng xử, thù tạc khi gặp người thân.

Tháng 3 năm nay, Người bị bệnh. Thận từ kinh về tỉnh. Từ đầu năm, Thận đương là Tri huyện Kinh Môn bỗng bị cách, cha vẫn thản nhiên, không lấy làm điều. Vào giờ Dần ngày 19 tháng 7 nhuần năm nay, Người thọ chung ở tuổi 57. Cầm bút viết lên giải lụa trắng, yết chính giữa từ đường, sớm chiều trông lên đó, mà đọc mà nhớ, lòng như hàng vạn mũi tên chọc vào, đau nhói.

Ô hô! Ngày 01 tháng 8 năm Qúy Mão, Thiệu Trị 3 ( 1843).

Thận con đập đầu sát đất, tuôn máu mắt, cẩn trọng bái ghi.

 

* Vietnam - Korea Demo Day 2019 in Vinh City - Ngày hội đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc 2019 tại TP Vinh         

Sáng ngày 30/3/2019, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An phối hợp với Vietnam  Silicon Valley tổ chức sự kiện Vietnam - Korea Demo Day 2019 tại TP Vinh, tỉnh Nghệ An. Đây là hoạt động về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có tính chất quốc tế lần đầu tiên tổ chức ở Nghệ An.

Tại sự kiện này có 16 Start up đến từ Hàn Quốc và Việt Nam, trong đó có 4 nhóm đến từ Nghệ An tham gia. Đặc biệt có các quỹ đầu tư mạo hiểm quốc tế tham dự để cùng đánh giá và chấm điểm cho các Starup. Thời gian mỗi startup được thuyết trình về dự án của mình là 5 phút, các đại biểu, nhà đầu tư có phiếu chấm điểm Evaluation Card theo 5 tiêu chí: Đội ngũ, sản phẩm, khách hàng, thị trường và mức độ cạnh tranh; thang điểm từ 1-5 cho từng tiêu chí. Ngoài ra, mỗi vị khách mời có 1 tờ đánh giá Feedback Card, nhóm nào là nhóm mà quý vị yêu thích nhất. Các đại biểu có các câu hỏi trao đổi với nhóm tác giả trình bày.

Sự kiện Demo Day đã thành công và có rất nhiều các đại biểu ở các lĩnh vực du lịch, công nghệ đã có những kết nối và tự tin để bước vào mùa thi khởi nghiệp đổi mới sáng tạo năm 2019 và cùng với Sở KH&CN xây dựng, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới tại Nghệ An.

Hoàng Anh

* Nghiệm thu Dự án "Xây dựng mô hình du lịch cộng đồng gắn với xóa đói giảm nghèo ở miền Tây Nghệ An"         

Sáng ngày 5/4, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An tổ chức Hội đồng khoa học cấp tỉnh nghiệm thu Dự án "Xây dựng mô hình du lịch cộng đồng gắn với xóa đói giảm nghèo ở miền Tây Nghệ An". Dự án do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn là đơn vị chủ trì và Ths. Đậu Quang Vinh làm chủ nhiệm.

Với mục tiêu "Xây dụng mô hình du lịch cộng đồng gắn với xóa đói giảm nghèo ở miền Tây Nghệ An góp phần thúc đẩy phát triển hoạt động du lịch của địa phương, tăng thu nhập cho người dân địa phương", sau 15 tháng triển khai, Dự án đã xây dựng thành công 2 mô hình Du lịch cộng đồng tại hai bản Khe Rạn, xã Bồng Khê, huyện Con Cuông và bản Na Sái, xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong. Tại mỗi điểm Dự án xây dựng 2 gói sản phẩm, tuor du lịch cộng đồng; Thành lập ban điều hành tự quản DLCĐ tại bản; Xây dựng các quy chế hoạt động của Ban tự quản, xây dựng quy chế, các nội quy du lịch cộng đồng; Hỗ trợ đào tạo phát triển nhân lực, nâng cao năng lực cho cộng đồng; Thử nghiệm thành công 4 tuor du lịch, hình thành chuỗi liên kết du lịch giữa doanh nghiệp - chính quyền địa phương - người dân.

Sau khi thảo luận và nghiệm thu, Hội đồng thống nhất xếp Dự án đạt loại Khá.

Hồ Thủy

* Công bố chỉ số PAPI: Nghệ An xếp thứ 4 toàn quốc

Ngày 2/4, Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam phối hợp với một số đơn vị đã tổ chức công bố Báo cáo Chỉ số Hiệu quả quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2018. Trong bản công bố kết quả này, Nghệ An có số điểm xếp thứ 4 toàn quốc với 46,57 điểm.

Theo Ban tổ chức, từ năm 2018, Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) bao gồm 8 chỉ số lĩnh vực nội dung, 28 chỉ số nội dung thành phần và hơn 120 chỉ tiêu cụ thể về hiệu quả quản trị và hành chính công của toàn bộ 63 tỉnh/thành phố. Chỉ số PAPI được cấu thành từ việc tính toán, tổng hợp từ hơn 6.000 biến số cấu thành các chỉ tiêu, hình thành từ hơn 550 câu hỏi trong Bộ phiếu hỏi PAPI.

Hơn 14.300 người dân được chọn ngẫu nhiên từ 63 tỉnh/thành phố đã được phỏng vấn trong nghiên cứu Chỉ số PAPI 2018 chia sẻ về trải nghiệm và cảm nhận qua nghiên cứu PAPI về hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương. Bên cạnh 6 chỉ số nội dung như những năm trước, năm 2018, PAPI có thêm 2 chỉ số là quản trị môi trường và quản trị điện tử.

Chỉ số Hiệu quả quản trị và Hành chính công cấp tỉnh của Nghệ An trong những năm qua đã có những bước cải thiện đáng kể, từ vị trí 46 năm 2013 đã từng bước vươn lên đứng thứ 21 cả nước năm 2017 và năm 2018 đã có bước tăng trưởng mạnh mẽ, xếp thứ 4/63 tỉnh, thành. Đây là kết quả nỗ lực của tỉnh trong lãnh đạo điều hành, nhất là trong công tác cải cách thủ tục hành chính.

Việc tăng thứ bậc chỉ số PAPI đã và đang góp phần tạo động lực nâng cao hiệu quả quản trị và hành chính công của địa phương. PAPI góp phần xây dựng một nền công vụ vì dân và thúc đẩy phát triển bền vững ở Nghệ An.

 Đức Chuyên (Báo Nghệ An)

* Lễ đón nhận Bằng xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh và Danh hiệu Dòng họ văn hóa Nhà thờ họ Chế

Vừa qua, Nhà thờ họ Chế, phường Nghi Thu thị xã Cửa Lò tổ chức Lễ đón nhận Bằng xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh và Danh hiệu Dòng họ văn hóa.

Họ Chế làng Thu Lũng - phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò có nguồn gốc Chiêm Thành với lịch sử hơn 600 năm, là một trong những dòng họ đầu tiên đến định cư, khai phá vùng Thu Lũng. Đến nay đã trải qua hơn 22 đời, con cháu của dòng họ Chế nơi đây đã phát triển mạnh mẽ, có nhiều đóng góp vào công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước. Tiêu biểu như được nhà Trần phong tước Hầu cho Chế Ma Nô Đà Nan tước Hiệu Chính hầu và Chế Sơn Nô tước Á hầu; nhà Nguyễn cũng có nhiều sắc phong, ban bia đá ghi công lao cho ông Chế Đình Thông cũng như nguồn gốc dòng họ. Trong thời kỳ Xô viết Nghệ Tĩnh, đầu năm 1930, Chi bộ Đảng làng Thu Lũng được thành lập gồm 5 đồng chí, trong đó có 3 đồng chí là người họ Chế. Trong kháng chiến chống Pháp, nhà thờ họ Chế được mượn làm nơi mở lớp bình dân học vụ. Trong thời Đế quốc Mỹ đánh phá miền Bắc, nhà thờ họ Chế là nơi cất giấu vũ khí của đơn vị bộ đội phòng không, góp phần cùng nhân dân Nghệ An, Cửa Lò nói chung đánh tan chiến dịch phá hoại miền Bắc.

          Hồng Bắc

 * Kỳ Sơn:  Bản Kẻo Lực 1 - xã Phà Đánh được công nhận làng nghề dệt thổ cẩm

 Huyện Kỳ Sơn vừa long trọng tổ chức Lễ đón nhận Bằng công nhận Làng nghề dệt thổ cẩm truyền thống cho Bản Kẻo Lực 1, xã Phà Đánh.

Nghề dệt thổ cẩm tại bản Kẻo Lực 1 thuộc xã Phà Đánh đã có từ lâu và được truyền nối từ đời này qua đời khác. Tuy nhiên, từ trước đến nay, dệt thổ cẩm ở bản Kẻo Lực 1 mới chỉ mang tính tự cung tự cấp, nhỏ lẻ, manh mún, do đó sản phẩm của bà con làm ra dù chất lượng nhưng chưa mang lại giá trị kinh tế cao. Thấy được tiềm năng kinh tế từ nghề truyền thống dệt thổ cẩm của bà con bản Kẻo Lực 1, năm 2010, UBND huyện Kỳ Sơn đã tổ chức thẩm định và quyết định công nhận bản Kẻo Lực 1 danh hiệu Làng có nghề. Nhờ đó, nghề dệt thổ cẩm ở Kẻo Lực 1 đã có bước phát triển mới. Các thợ dệt đã được đào tạo nâng cao tay nghề, được hỗ trợ nguyên liệu, máy móc để bảo tồn và phát triển nghề. Cả bản có 89 hộ thì có đến 82 hộ, chiến 92,2% hộ làm nghề. Các hộ gia đình có thêm công ăn, việc làm với mức thu nhập bình quân giao động từ 20-30 triệu đồng/người/năm.

Từ những kết quả đạt được, năm 2019 căn cứ vào tiêu chí đánh giá cụ thể về làng nghề truyền thống, UBND tỉnh Nghệ An đã quyết định trao Bằng công nhận làng nghề dệt thổ cẩm Bản Kẻo Lực 1, và là đơn vị thứ 8 của huyện miền núi Kỳ Sơn được UBND tỉnh công nhận làng nghề.

     P.V

* Nghệ An: Chú trọng quảng bá du lịch Cửa Lò ra nước ngoài               

Đó là trọng tâm trong kế hoạch tổ chức hoạt động du lịch Cửa Lò năm 2019 của UBND tỉnh Nghệ An vừa ban hành.

Theo đó, Nghệ An sẽ chú trọng quảng bá du lịch Cửa Lò tại các thị trường trọng điểm gắn với kế hoạch xúc tiến, quảng bá của tỉnh tại các địa phương trong nước và quốc tế, đặc biệt là tại các nước: Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Nga; trong đó ưu tiên các thị trường truyền thống như: Lào, Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản.

Song song với việc tăng cường quảng bá, Cửa Lò phải đầu tư nâng cấp, cải tạo cảnh quan, môi trường, hệ thống cơ sở vật chất, hạ tầng. Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao văn hóa ứng xử, phong cách giao tiếp. Trước mắt, chuẩn bị tốt cho chương trình, kịch bản Khai mạc Lễ hội du lịch Cửa Lò; trong suốt mùa du lịch Cửa Lò sẽ tổ chức các hoạt động, sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch, thương mại; tổ chức các hoạt động chào mừng 112 năm du lịch Cửa Lò và 25 năm thành lập thị xã; Tổ chức các hội chợ ẩm thực, hội chợ thương mại, chợ đêm.

Năm nay, Cửa Lò phấn đấu đón và phục vụ 3,15 triệu lượt khách du lịch, tăng 12,6% so với năm 2018.

P.V

* Giới thiệu sách: Nghệ An đất phát nhân tài

Cuốn sách "Nghệ An đất phát nhân tài" của tác giả Ninh Viết Giao được xuất bản lần đầu vào năm 2006, là một công trình nghiên cứu có giá trị lớn, trong đó, tác giả đã kết hợp tri thức của nhiều bộ môn khoa học và có những đánh giá mang tính tổng luận về giá trị văn hóa, lịch sử, địa lý, con người và phong tục tập quán của Nghệ An trong suốt chiều dài lịch sử. Đặc biệt, ông quân tâm nghiên cứu nhiều đến folklore (văn hóa dân gian) của xứ Nghệ, một trong những yếu tố góp phần hình thành nên những bậc tài danh, kiệt xuất cho đất nước, nhân loại.

 Nhân dịp chúc mừng công trình đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2017 của cố Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, Nhà xuất bản Nghệ An đã cho tái bản cuốn sách "Nghệ An đất phát nhân tài" để bày tỏ sự tri ân, ngưỡng mộ đối với một con người đã dành cả tâm huyết của cuộc đời mình đối với nền văn hóa dân gian xứ Nghệ, là nén tâm hương kính cẩn dâng lên linh hồn Phó Giáo sư Ninh Viết Giao.

 Ngoài Lời giới thiệu; Các công trình sách đã xuất bản của PGS. Ninh Viết Giao và Lời tác giả, cuốn sách được cấu trúc thành 8 phần như sau:

Phần thứ nhất: Khái quát về địa lý Nghệ An; Phần thứ hai: Non nước Châu Hoan đẹp tuyệt vời; Phần thứ ba: Những mẩu chuyện lịch sử; Phần thứ tư: Đất văn vật; Phần thứ năm: Kiến trúc cổ truyền; Phần thứ sáu: Nghề, làng nghề thủ công cổ truyền; Phần thứ bảy: Ẩm thực; Phần thứ tám: Lễ hội.

Không chỉ là cuốn sách hay, "Đất phát nhân tài" còn là một cuốn tài liệu tham khảo bổ ích, đặc biệt trong việc lý giải như thế nào là "địa linh" và "địa linh" sinh "nhân kiệt" hay có "nhân kiệt" rồi mới được gọi "địa linh"?

Hồng Bắc

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.