« Quay lại

Chuyên san KHXH&NV số 5/2019

Trương Công Anh

Đến tháng 9/2019 sẽ kỉ niệm tròn 50 năm, toàn Đảng và toàn dân ta thực hiện Di chúc lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là dịp tròn 50 năm chúng ta thực hiện năm lời thề trong giờ phút vĩnh biệt Người.

Đây là dịp để mỗi Đảng viên, mỗi tổ chức của Đảng, mỗi cấp ủy Đảng từ cơ sở đến Trung ương, tự xem xét lại rằng: Chúng ta đã thực hiện được những gì, đến đâu những lời căn dặn cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bác Hồ kính yêu căn dặn những gì, điều này chắc ai cũng nhớ. Mà, nếu có ai, lúc nào đó không nhớ điều này hay điều khác thì đọc lại Di chúc lịch sử của Người sẽ nhớ ngay thôi.

Tuy vậy, để hiểu đến nơi đến chốn vì sao Bác Hồ lại căn dặn mấy điều như thế, chắc là không thể đơn giản nếu như không thấy, không rõ được những gì ẩn chứa bên trong những điều, những câu, những chữ mà Người đã viết từ bản thảo đầu tiên tháng 5/1965 đến bản bổ sung, sửa chữa cuối cùng tháng 5/1969.

Đặt vấn đề như vậy, là bởi trong thực tế bất cứ điều gì, thuộc bất cứ phạm vi nào, lĩnh vực nào,... nếu hiểu đến nơi đến chốn, hiểu thấu đáo thì ta sẽ thực hiện có hiệu quả cao hơn, nhiều hơn, ít thiếu sót hơn. Còn nếu hiểu không thấu đáo thì kết quả sẽ ngược lại.

Do đó, thường nghĩ cùng với việc tự xem xét lại những gì đã thực hiện, hoặc cũng rất cần được xem xét lại xem liệu mỗi đảng viên và toàn Đảng đã thấu hiểu đến mức cần thiết những điều Bác Hồ căn dặn lại. Cả hai cái "sự" xem xét này quan hệ mật thiết với nhau: nhận biết chỉ đạo hành động (thực hiện). Kết quả hành động là thước đo độ nhận biết.

6 năm sau ngày Người "đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê Nin",... Đảng và dân tộc ta thực hiện trọn vẹn điều Người khẳng định trong Di chúc.

"Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã phải trải qua gian khổ, hi sinh nhiều hơn nữa xong nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn" (Di chúc).

Từ sự khẳng định ấy và từ thực tế lịch sử 6 năm sau ấy chúng ta có thể hiểu rằng: Những điều Người căn dặn lại là những điều được Đảng và Nhà nước ta thực hiện sau ngày miền Nam được giải phóng, đất nước độc lập thống nhất, tức là công việc: "... Xây dựng hơn mười ngày nay" (Di chúc).

Tất cả mọi điều Bác Hồ căn dặn trong Di chúc đều cần được nhận thức thật thấu đáo, với phạm vi bài viết này chỉ xin đề cập đến điều căn dặn: "Trước hết nói về Đảng". Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng trước hết phải có Đảng cách mạng, Đảng có vững cách mạng mới thành công. Để cứu lấy giống nòi phải làm cách mạng. Làm cách mạng trước hết phải có Đảng cách mạng. Đó là tư tưởng gốc mà Người đã viết trong tác phẩm "Đường kách mệnh", xuất bản năm 1927. Gần 40 năm sau (1965), Chủ tịch Hồ Chí Minh lại tiếp tục viết hai chữ "trước hết". Đây hoàn toàn không là sự trùng hợp tình cờ.

Có Đảng cách mạng vững mới có Cách mạng tháng 8/1945, có nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mới đánh thắng hai đế quốc to, để có nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập với quốc hiệu mới: nước CHXHCN Việt Nam. Đó là những chiến công vĩ đại có ý nghĩa lịch sử của dân tộc - mang tầm vóc thời đại. Song, dù vĩ đại đến đâu thì đó cũng chỉ là thắng lợi đầu tiên. Giành được và bảo vệ được chính quyền để bước vào cuộc chiến đấu khổng lồ "chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi" (Bản thảo Di chúc viết thêm tháng 5/1968). Chiến đấu để giành và giữ chính quyền đã khó, xây dựng chế độ mới, xã hội mới còn khó hơn nhiều. Do vậy, để cách mạng tiếp tục giành thêm những thắng lợi mới "Việc cần làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng..." (Bản thảo Di chúc viết thêm tháng 5/1968).

Trước hết nói về Đảng là vì vậy.

"Về Đảng" Chủ tịch Hồ Chí Minh nói những gì? Dặn những gì? Đọc bản thảo Di chúc chính thức được công bố năm 1969 hơn tất cả mọi người đều rõ. Cũng xin lưu ý rằng: vào các năm 1968, 1969 "khi xem lại thư này" (tức là xem lại bản viết năm 1965, phần "Trước hết nói về Đảng hoàn toàn không có bất cứ một câu, chữ, ý tứ nào Bác Hồ chữa hoặc thêm bớt. Lưu ý như vậy để nhận thức một cách sâu sắc rằng Bác Hồ đã suy ngẫm thấu đáo trên mọi phương diện về Đảng kể từ ngày thành lập cho đến sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi" (Bản thảo Di chúc viết thêm tháng 5/1968). Từ đó, mỗi ý, mỗi câu, mỗi chữ Người đã viết cần được hiểu thấu đáo để thực hiện có kết quả.

Sau đây xin đơn cử một số ý, câu, chữ cần lưu tâm "Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi... Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau" (Di chúc). Bác Hồ dặn lại thế là thế nào?

Chúng ta đều biết tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng ta. Vì sao Bác lại dặn thực hiện dân chủ rộng rãi mà không nói đến hai chữ tập trung? Chúng ta cần và phải hiểu điều này thế nào đây?

Chúng ta cũng đều ghi nhớ biết bao tấm gương của những người cộng sản trong ngục tù thực dân, đế quốc trên mọi chiến trường đánh Pháp, đánh Mỹ đã sống, chiến đấu với tình đồng chí cao đẹp như thế nào. Giữa những người cộng sản tình đồng chí thương yêu lẫn nhau thiêng liêng biết nhường nào. Thế mà Bác Hồ vẫn dặn lại: "Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau" là vì sao?

Để hiểu thấu hai điều ở trên, hẳn chúng ta phải suy ngẫm sâu sắc điều Bác Hồ nói tiếp ngay sau đó: "Đảng ta là một Đảng cầm quyền". Bác Hồ đã nhiều lần nói ta đã có chính quyền, ta đã cầm quyền. Nhưng nói (viết) Đảng ta là một Đảng cầm quyền thì đây là lần đầu tiên, lần duy nhất.

Đảng ta đã có chính quyền từ tháng 9/1945. Nhưng cho đến trước ngày toàn thắng (30/4/1975), nghĩa có chính quyền chưa trọn vẹn. Bởi hai lẽ: Chính quyền mới phải tiếp tục chiến đấu để bảo vệ chính mình trước hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trên toàn lãnh thổ Việt Nam vẫn còn những vùng lãnh thổ thuộc quyền kiểm soát của chính quyền bù nhìn. Chỉ đến sau 30/4/1975, Đảng ta mới là Đảng cầm quyền trọn vẹn: cầm quyền trên toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; cầm quyền để xây dựng và bảo vệ chế độ mới, xã hội mới.

Phải đến lúc viết Di chúc với điều khẳng định chắc chắn, cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta... nhất định thắng lợi hoàn toàn thì Chủ tịch Hồ Chí Minh mới viết để dặn lại Đảng ta rằng: "Đảng ta là một Đảng cầm quyền".

Là Đảng cầm quyền "thực hành dân chủ rộng rãi" mới ngăn ngừa được các căn bệnh quyền lực vốn có từ các xã hội trước đó. Là "Đảng cầm quyền" thì tình đồng chí thương yêu lẫn nhau vốn là phẩm chất cao đẹp của người cộng sản trước đây dễ bị méo mó. Hai tiếng đồng chí rất thiêng liêng trước đây nay dễ bị mai một đi.

Thực tế của những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ đảng viên, cán bộ, kể cả cán bộ cao cấp của Đảng ta thời gian qua, những khuyết điểm có mức nghiêm trọng của công tác cán bộ của Đảng ta,... Buộc chúng ta phải nghiêm túc xem xét lại rằng chúng ta đã hiểu đến nơi đến chốn mọi điều chỉ ở mấy chữ "Đảng ta là một Đảng cầm quyền" mà Bác Hồ đã dặn lại.

Giữa Đảng Cộng sản khi chưa có chính quyền với Đảng Cộng sản khi đã có chính quyền (cầm quyền) có hoàn toàn giống như nhau không? Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền là "cầm" cái gì? Những gì? Và "cầm" cái đó, những cái đó như thế nào? Đảng Cộng sản Việt Nam giỏi lãnh đạo nên đã giành được chính quyền, đã đánh thắng hai đế quốc to để giữ chính quyền, nhưng liệu Đảng đã biết cầm quyền? Cũng là xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, về tổ chức nhưng khi đã là Đảng cầm quyền thì trên cả ba phương diện ấy có gì mới, có gì khác? Và, thêm nữa cần có thêm phương diện nào nữa không hay chỉ cần 3 phương diện ấy? Vẫn lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, nhưng nguyên tắc ấy có cần được hiểu, được cụ thể hóa cho phù hợp với địa vị Đảng cầm quyền? "... Và một điều rất hệ trọng là liệu chúng ta đã hiểu thấu đáo những điều mà Lê Nin đã cảnh báo đối với Đảng và những người Cộng sản Nga sau Cách mạng tháng 10 Nga thắng lợi?". Liệu chúng ta có nhớ để thực hiện những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở đảng viên, cán bộ của Đảng ta, những điều Người đòi hỏi với Đảng ta ngay sau ngày 2/9/1945 cho đến sát tận ngày Bác đi xa?

Cuối cùng là một câu hỏi mang tính tổng quát rằng: Liệu nhiệm vụ then chốt, xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Đảng ta với tư cách là Đảng cầm quyền đã có nền tảng lý luận khoa học và cách mạng?

Từ những gì Đảng ta mà trực tiếp là Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Bí thư, Bộ Chính trị đã làm, đã chỉ đạo,... từ Đại hội Toàn quốc lần thứ 4 đến nay, và từ các văn kiện chính thức của Đảng như: Điều lệ Đảng, Nghị quyết các kỳ đại hội, các nghị quyết, chỉ thị, nghị định,... của Trung ương các khóa cho ta một sự nhìn nhận rằng: Những câu hỏi nói trên chưa có sự trả lời thỏa đáng và cần thiết.

Tại Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ 6, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật,... Đảng ta đã tự thừa nhận rằng: Sự lạc hậu về mặt lý luận: lý luận về cách mạng xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về kinh tế,... là một trong những căn nguyên dẫn đến những sai lầm, khuyết điểm của Đảng để đất nước từ đỉnh cao của chiến thắng rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội.

Cũng với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật... hẳn Đảng ta đã đến lúc phải thừa nhận rằng: chúng ta đang lạc hậu về lý luận để xây dựng Đảng cầm quyền.

Lịch sử cách mạng Việt Nam khẳng định Đảng ta là một Đảng lãnh đạo giỏi, một Đảng lãnh đạo đầy đủ uy tín. Mong rằng Đảng ta sẽ là một Đảng cầm quyền giỏi, cầm quyền có uy tín trước đất nước và dân tộc.

 

Trần Minh Siêu

Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Thị Loan có ba người con là Nguyễn Thị Thanh (Bạch Liên nữ sĩ), Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Cung lớn lên biết tiếp thu sâu sắc sự giáo dục của gia đình nên đều thành những người yêu nước nồng nàn, hăng hái hoạt động để cứu nước, cứu dân, có đầy đủ nhân cách Nghệ An, riêng Nguyễn Sinh Cung đạt cấp độ cao hơn "Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất".

Trong ca khúc "Ai vô xứ Nghệ" nhạc của Phạm Tuyên, lời thơ Cù Huy Cận, được ca sĩ Anh Thơ thể hiện, thường phát trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam, phần cuối ca khúc có lời như sau:

"Ôi tâm hồn xứ Nghệ

Trong hồn Việt Nam ta

Có từ thuở ông cha,

Rất xưa và rất trẻ,

Giống như Bác Hồ ta

Một con người xứ Nghệ

Giống như Bác Hồ ta,

Một con người xứ Nghệ".

Như vậy, Bác Hồ là hình mẫu trọn vẹn nhân cách con người xứ Nghệ. Nói theo duyên cách địa lý năm 1831 dưới triều vua Minh Mạng chia xứ Nghệ thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, thì gọi là nhân cách người Nghệ An.

Thuở thiếu thời, khi còn sống ở làng Hoàng Trù, xã Chung Cự (nay là xã Kim Liên), Nguyễn Sinh Cung thường theo ông bà ngoại và cha mẹ, có khi theo bạn bè cùng trang lứa đến chơi các gia đình láng giềng, được tiếp xúc với tầng lớp nhân dân, trong đó có những người tri thức nông thôn là các nhà Nho đậu đạt, nhưng không muốn làm quan, hoặc nỗ lực dùi mài kinh sử, chờ ngày để đấu trí thi tài ở trường thi. Tiêu biểu cho tầng lớp trí thức nông thôn ở làng Hoàng Trù thời đó có nhà Nho Vương Thúc Độ và Cử nhân Hoàng Phan Quỳnh.

Có một hôm Nguyễn Sinh Cung đến chơi nhà Vương Thúc Độ thấy trên xà nhà có viết câu chữ Hán: "Thao tâm cần khổ, hảo ái nhân quần". Với trí tò mò của đứa trẻ ham hiểu biết, Nguyễn Sinh Cung hỏi Vương Thúc Độ câu chữ Hán viết trên xà nhà có ý nghĩa gì? Vương Thúc Độ vui vẻ giải thích ngắn gọn: "thao tâm" là kiên trì về tâm trí, "cần khổ" là siêng năng, chịu khổ trong cuộc sống, "hảo ái nhân quần" là có lòng tốt thương yêu nhân dân. Ở đời, con người có làm được như thế mới mong lập được sự nghiệp lớn.

Vương Thúc Độ ghi câu này lên xà nhà là để nhắc mình hàng ngày phải kiên trì phấn đấu trong học tập, nhẫn nại trong cuộc sống để gặt hái được kết quả tốt đẹp hơn.

Như thế, hàng chữ Hán ghi trên xà nhà rất súc tích, được chủ nhà giải thích dễ hiểu, đã gợi ý nhẹ nhàng cho Nguyễn Sinh Cung sớm có ý thức biết kiên trì trong học tập, chịu khổ nhẫn nại, siêng năng trong cuộc sống về sau sẽ trở thành người hữu ích cho xã hội.

Khi được gia đình gửi đến học với Cử nhân Hoàng Phan Quỳnh, Nguyễn Sinh Cung thấy trên bức tường phía cuối lớp học có hàng chữ: "Tiên học lễ, hậu học văn", Nguyễn Sinh Cung mạnh dạn hỏi thầy:

- Dạ thưa thầy, "lễ" quan trọng như thế nào mà phải học trước "văn"?

Thầy vui vẻ trả lời: Học "văn" là để bồi bổ kiến thức nhưng để kiềm chế được dục vọng tầm thường của bản thân mình thì phải học "lễ". Ai muốn nên thân người thì phải có "lễ" để rèn luyện bản thân, kiềm chế được dục vọng tầm thường, để vươn lên trong cuộc sống. Nếu ai đó có được chút nhân đức là do họ có "lễ nghĩa" vậy. Nghe thầy giải thích ngắn gọn, súc tích như vậy, Nguyễn Sinh Cung bắt đầu ý thức được học trò đến thị giáo thầy, trước tiên là phải "lễ" tức là học cách làm người.

Những giáo lý lễ nghĩa đó kết hợp với thân giáo hằng ngày của người cha là Nguyễn Sinh Sắc, đặc biệt là người mẹ Hoàng Thị Loan đã thấm dần vào ký ức tuổi xanh của Nguyễn Sinh Cung, rồi được hoàn thiện dần theo sự tăng trưởng của tuổi đời đã thiết thực làm cho nhân cách người Nghệ An trong Nguyễn Sinh Cung từng bước được nâng cao.

Sau khi đậu Phó bảng (1901), Nguyễn Sinh Sắc cùng các con chuyển về quê nội làng Sen sinh sống. Sau đó, Nguyễn Sinh Sắc được triều đình Huế vời ra làm quan, nhưng bản tính ông không muốn ra làm quan, nên đã cáo quan ở nhà, sống thanh bần và thân thiện với bà con họ hàng, làng xóm. Do có lòng thương dân và sống hòa hợp với nhân dân nên được mọi người ngưỡng mộ, tôn kính gọi là quan Phó bảng.

Để răn dạy con cháu sống theo nếp thanh bạch, hiếu dân của mình, Nguyễn Sinh Sắc đã viết lên xà nhà câu: "Vật dĩ quan gia, vi ngô phong dạng" (nghĩa là "đừng lấy phong cách nhà quan, làm phong cách nhà mình"). Giáo lý gia phong đó của người cha kính yêu đã thấm đẫm vào đầu óc non trẻ của Nguyễn Sinh Cung, trở thành nếp sống thường ngày, đồng hành suốt các nẻo đường cứu nước, cứu dân, được nâng lên mẫu mực, trở thành đạo đức Hồ Chí Minh.

Nhà của Nguyễn Sinh Sắc ở làng Sen lúc này trở thành nơi hội tụ của những người có tâm hồn văn hóa và tư tưởng yêu nước trong vùng như: Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Trần Văn Lương, Nguyễn Quý Song, Đặng Nguyên Cẩn,...

Một đêm, Phan Bội Châu đến chơi nhà Nguyễn Sinh Sắc, hai người ngồi giữa sân uống rượu, ngâm thơ, đàm luận thời cuộc, có Nguyễn Sinh Cung đứng bên cạnh giúp cha tiếp khách. Nhân thấy trăng lên sáng đẹp, Phan Bội Châu liền ra cho Nguyễn Sinh Sắc một vế đối: "Nguyệt thương bạch" (nghĩa là "Mặt trăng lên sáng đẹp").

Nguyễn Sinh Cung lễ phép ứng khẩu đối lại: "Nhật xuất hồng" (nghĩa là "Mặt trời mọc đỏ rực"). Phan Bội Châu nghe xong tấm tắc khen ngợi và nói rằng: "Nếu cháu biết rèn luyện bản thân, thì sau này sẽ làm nên đại sự cho đất nước". Từ đó, Phan Bội Châu đã chú ý bồi dưỡng lòng yêu nước và những hiểu biết cần thiết khác cho Nguyễn Sinh Cung, nhất là khi Nguyễn Sinh Cung cảm thụ được hai câu thơ của Tùy Viên mà Phan Bội Châu thường ngâm:

Túc dạ bất vong duy trúc bạch,

Lập thân tối hạ thị văn chương.

Dịch nghĩa:

Khuya sớm những mong ghi sử sách

Lập thân hèn nhát ấy văn chương(1).

Từ quan hệ thân thiết chặt chẽ giữa Nguyễn Sinh Sắc và Phan Bội Châu nên tư tưởng yêu nước và nhân cách cao thượng của ông đã ảnh hưởng sâu sắc tới Nguyễn Sinh Cung. Về sau, trên con đường hoạt động cứu nước, Người đã có lần tỏ lòng ngưỡng mộ, biết ơn Phan Bội Châu là: "Bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng"(2).

Thuở ấy, trước nhà Phó bảng có lò rèn Cố Điền. Cố Điền là người thợ rèn cần mẫn, thật thà, được nhân dân trong vùng yêu mến.

Được ông Nguyễn Sinh Sắc cho phép, Nguyễn Sinh Cung những lúc rảnh rỗi thường ra lò rèn giúp Cố Điền thụt bễ để rèn các dụng cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp mà nhân dân trong vùng đang có nhu cầu sử dụng, Nguyễn Sinh Cung rất quý trọng Cố Điền và Cố Điền cũng rất mực yêu mến Nguyễn Sinh Cung.

Trong bối cảnh xã hội Việt Nam lúc này, nhất là ở vùng Nam Đàn xứ Nghệ An, ở đâu nhân dân cũng đang bàn tán sôi nổi về nhục mất nước, về sự bóc lột tàn ác và đàn áp dã man của bọn phong kiến Nam triều, của thực dân Pháp xâm lược, cũng bàn về phong trào đấu tranh để giải phóng đất nước của nhân dân ta, sôi nổi nhất, nóng bỏng nhất là các phong trào cứu nước đang diễn ra trên quê hương xứ Nghệ, tiêu biểu có cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Phan Đình Phùng ở Hương Khê, Hà Tĩnh, của Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã ở Diễn Châu, Yên Thành, đặc biệt là những câu chuyện mang tính giai thoại về Giải San (Phan Bội Châu) đang ấp ủ, hứa hẹn một vị thánh Nam Đàn xuất hiện để đáp ứng trông đợi, kỳ vọng của nhân dân.

Lò rèn Cố Điền là một câu lạc bộ dân gian, đậm đà tính dân chủ, không sợ sự ràng buộc của bọn thống trị đương thời, cho nên mọi người được nói chuyện thoải mái, tự do. Tất cả những câu chuyện đưa ra bàn luận tại lò rèn Cố Điền đều là những vấn đề nóng bỏng đang diễn ra trong làng, xã. Khi bàn luận có biểu dương cái tốt, cái đẹp, cái mới mẻ tiến bộ, có phê phán cái xấu, cái ác, cái lạc hậu lỗi thời,...

Lò rèn Cố Điền là một môi trường sinh hoạt dân gian lành mạnh giúp cho Nguyễn Sinh Cung bắt đầu làm quen với lao động chân tay, làm thủ công nghiệp thô sơ. Thông qua sinh hoạt lao động mà Nguyễn Sinh Cung càng hiểu sâu sắc hơn nội dung những câu chuyện nhân dân đang đàm luận, về cội nguồn văn hóa quê hương xứ sở. Từ đó làm nẩy sinh trong con người non trẻ của Nguyễn Sinh Cung tình cảm quý trọng, yêu thương nhân dân, đặc biệt là nhân dân lao động. Cũng từ đây, chí căm thù bọn phong kiến Nam triều và thực dân Pháp xâm lược nảy nở và ngày càng sâu nặng trong con người Nguyễn Sinh Cung.

Sau hơn 50 năm, ngày 16/6/1957, lúc đó Nguyễn Sinh Cung đã trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh vô vàn kính yêu trở về thăm quê hương lần đầu, khi đi từ ngôi nhà mình ở làng Sen ra cổng, Người bồi hồi xúc động chỉ tay về phía trước hỏi bà con đi bên cạnh: "Trong này có lò rèn Cố Điền, mấy lâu nay còn tiếp tục rèn nữa không?".

Nguyễn Sinh Sắc và Hoàng Thị Loan rất quan tâm đến việc học hành của con cái. Khi về sống ở làng Sen, Nguyễn Sinh Sắc cho Nguyễn Sinh Cung tới học với Cử nhân Vương Thúc Quý là bạn chí thân của mình.

Vương Thúc Quý là con trai của Tú tài Vương Thúc Mậu, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở núi Chung năm 1885. Trong một cuộc chiến đấu ác liệt với thực dân Pháp diễn ra trên đất làng Sen, Vương Thúc Mậu đã anh dũng hi sinh.

Sau khi đậu cử nhân năm 1891, vì nặng nợ nước, thù nhà Vương Thúc Quý không đi thi Hội và cũng không chịu ra làm quan, mà ở nhà mở lớp dạy học và tham gia hoạt động cứu nước.

Vương Thúc Quý dạy học trò không nặng về tầm chương trích cú một cách giáo điều, mà dùng sách vở của thánh hiền để giảng dạy cho học trò hiểu về đạo lý làm người, phải biết yêu thương nhân dân, không ham tiền tài danh vọng, biết hy sinh để cứu nước, để làm nghĩa vụ cao cả của người dân.

Nguyễn Sinh Cung là người học trò được Vương Thúc Quý chọn để bồi dưỡng thêm lòng yêu nước và nhân cách người Nghệ An.

Ít lâu sau, Vương Thúc Quý lên đường qua Nhật theo tiếng gọi Đông du của Phan Bội Châu, nhưng trên đường sang Nhật Bản, vừa tới Nam Định thì bị ốm nặng, phải quay trở lại quê nhà. Ngày 19/7/1907, thầy qua đời. Trước khi mất, Vương Thúc Quý cố ngồi dậy, bảo người ngồi bên cạnh đưa giấy bút viết tám chữ "Phục thù vi báo, thử sinh đồ hư" (nghĩa là "thù cha chưa trả được, đời này thật uổng) rồi trút hơi thở cuối cùng.

Niềm ưu tư thù nhà, nợ nước của Vương Thúc Quý đã truyền cảm hứng mãnh liệt sang Nguyễn Sinh Cung, làm cho tư tưởng yêu nước và nhân cách người Nghệ phát triển cao hơn.

Trong cả hai lần về thăm quê hương Kim Liên (1957 và 1961) Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tôn kính nhắc tới Cử nhân Vương Thúc Quý, Người ân cần nói: "Thầy Cử Vương là thầy học của Bác thời niên thiếu".

Ở làng Sen, tuy có được cuộc sống an bần trong tình thương yêu quý trọng của bà con họ hàng, làng xóm, nhưng sự ưu tư đối với dân, với nước đang thôi thúc Nguyễn Sinh Sắc làm thế nào để cứu dân, cứu nước thắng lợi. Vì thế, Nguyễn Sinh Sắc cùng con trai là Nguyễn Sinh Cung quyết định thực hiện một lộ trình để đàm đạo với các sỹ phu yêu nước ở Nghệ Tĩnh.

Mở đầu lộ trình, năm 1903 Nguyễn Sinh Sắc đưa Nguyễn Sinh Cung lên xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương nhân dịp nhân dân ở đây thỉnh cầu ông lên dạy cho con em họ học tập. Làng Võ Liệt và làng Nguyệt Bổng thuộc huyện Thanh Chương tọa lạc bên bờ sông Lam, đối diện nhau qua bến Đồ Rộ, đều là mảnh đất có bề dày truyền thống văn hóa và yêu nước. Đây là quê hương của Phan Đà, một tướng trẻ, tài ba của Lê Lợi trong phong trào đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh và nhiều anh hùng nghĩa khí khác.

Hoạt động ở đây một năm, Nguyễn Sinh Sắc đưa Nguyễn Sinh Cung về làng Trung Cần trên hữu ngạn sông Lam thuộc huyện Nam Đàn là quê hương của Thám hoa Nguyễn Đức Giao và nhiều tri thức Hán học nổi tiếng khác. Có khi lên thăm di tích lịch sử Lục Liên Thành, do nghĩa quân Lê Lợi xây dựng trên ngọn Hoàng Tâm, thuộc dãy Thiên Nhẫn; lên đỉnh Bùi Phong viếng miếu La sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, một quân sư lừng danh thời Tây Sơn. Sau đó chuyển sang làng Du Đồng, thuộc vùng Hạ Bồng, huyện Đức Thọ, vốn nằm trong vùng căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa Hương Khê; ông đến tận làng Công Thái, quê hương của Đình nguyên Phan Đình Phùng, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa chống Pháp thời Văn Thân. Sau đó cha con Nguyễn Sinh Sắc ra tận huyện Diễn Châu đàm đạo với Võ Tất Đắc, một tri huyện ở Thanh Hóa đã cáo quan về làng Vạn Phần; thăm ông Võ Khang Tế ở làng Hậu Luật (nay là xã Diễn Bình), từng làm Tương tán quân vũ trong cuộc khởi nghĩa chống Pháp của cụ Nghè Nguyễn Xuân Ôn; lên xã Tràng Sơn, huyện Yên Thành, quê hương của Phó bảng Lê Doãn Nhạ, một lãnh tụ chống Pháp; ra làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, một làng văn vật, khoa bảng nổi tiếng cả nước, có nhiều chí sĩ yêu nước; có lúc ra đến huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, quê hương của lãnh tụ chống Pháp Nguyễn Quang Bích,...

Những địa phương cha con Nguyễn Sinh Sắc đến đều có phong trào đấu tranh chống Pháp sôi nổi và anh dũng, những người ông kết giao, đàm đạo thời cuộc đều là những người có lòng yêu nước, có chí cứu nước.

Trong lúc đàm đạo thời cuộc với các nhà Nho yêu nước, Nguyễn Sinh Sắc thường phê phán lối học của các cụ đương thời là "chi diệp, chi văn" (nghĩa là lối văn trên cành, trên lá) là không thiết thực, không phù hợp với thực trạng đang diễn ra trong xã hội. Đặc biệt, Nguyễn Sinh Sắc cùng các sỹ phu yêu nước đang lao tâm, khổ tứ để mong giải đáp câu hỏi lớn: Tại sao cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhạ,... trên quê hương Nghệ An, kể cả các cuộc khởi nghĩa ở đất Bắc như Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Quang Bích, Hoàng Hoa Thám,... rất sôi động và oanh liệt, nhưng kết cục đều không thắng lợi được. Nỗi ưu tư vận mệnh đất nước càng dày vò, nung nấu tâm can các cụ.

Nội dung các cuộc đàm luận này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình phát triển yêu nước của Nguyễn Sinh Cung, góp phần quan trọng để Người chọn lựa con đường sẽ đi sau này.

Nhắc đến thực trạng sôi động và tình thế gay cấn này, về sau khi trả lời phỏng vấn Nhà báo Mỹ Anna Lui Xtơrong, Người đã nói rằng: "Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi lúc này thường hỏi nhau rằng: Ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nói là Nhật, người khác nói là Anh, có người khác nữa nói là Mỹ. Tôi thì thấy phải đi ra nước ngoài để xem cho rõ"(3).

Tư duy độc đáo của Nguyễn Sinh Cung lúc này là muốn ra nước ngoài để học tập, để giúp đồng bào. Có thể nói ở Việt Nam, trước Nguyễn Sinh Cung chưa có ai có tư duy này. Nhưng đi sang phương Đông hay phương Tây thì lúc này chưa thấy Nguyễn Sinh Cung nói cụ thể.

Năm 1905, Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh được mở. Theo ý kiến của cụ Nghè Nguyễn Quý Song, muốn hiểu Pháp thì phải học chữ Pháp, muốn đánh thắng Pháp thì phải học văn minh Pháp. Nguyễn Sinh Sắc quyết định cho Nguyễn Sinh Cung vào học Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh, cách quê nhà Kim Liên 15km, ở các lớp học Pháp - Việt, phía trên bảng đen có 3 chữ Pháp "Liberté, Égalite,    Fraternité" (nghĩa là Tự do - Bình đẳng - Bác ái). Lý tưởng được trưng lên ở vị trí trang trọng trong lớp học thì cao đẹp như vậy, nhưng thái độ các thầy giáo người Pháp đối với học sinh và nhất là thực tế xã hội đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ ở khắp mọi nơi, Nguyễn Sinh Cung thấy hoàn toàn trái ngược hẳn.

Trình độ nhận thức các vấn đề xã hội đang diễn ra của Nguyễn Sinh Cung lúc này bắt đầu có quan điểm cụ thể, toàn diện, lịch sử. Do đó, Nguyễn Sinh Cung đã nảy ra ý muốn táo bạo đến tận nơi phát sinh ra ba chữ: "Tự do - Bình đẳng - Bác ái" để tìm ra bản chất vốn có của nó.

Về sau, trên con đường hoạt động cứu nước, khi trả lời phỏng vấn của Nhà báo Xô viết Oxíp Mandexn Tam, Người nói: "Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe 3 chữ: Tự do - Bình đẳng - Bác ái,... và tự thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn sau những từ ấy"(4).

Như vậy, hoài bão của Nguyễn Sinh Cung muốn sang tận nước Pháp, đất nước đã khởi xướng ra ba chữ: "Tự do - Bình đẳng - Bác ái" để xem xét, để học tập đã chớm nở từ trong gia đình của Nguyễn Sinh Sắc trên quê hương Nghệ An.

Đầu năm Ất Tỵ (1905), Phan Bội Châu xuất dương sang Nhật Bản, phát động phong trào Đông du sôi nổi khắp cả nước. Thượng tuần tháng 7 năm ấy, Phan Bội Châu bí mật về nước, rồi về quê hương Nghệ An họp các đảng viên chủ chốt trong chiếc thuyền đậu trên sông Lam, bàn kế hoạch tuyển lựa học sinh xuất dương. Phan Bội Châu thấy Nguyễn Sinh Cung là một thiếu niên thông minh, có chí khí, cụ dự định đưa sang Nhật Bản. Theo Trần Dân Tiên kể lại trong tác phẩm "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch" thì "Cụ Phan Bội Châu muốn Anh đưa một số thanh niên sang Nhật. Nhưng Anh không đi"(5).

Từ chối đường Đông du của Phan Bội Châu, Nguyễn Sinh Cung ở lại với cha trên quê hương Nghệ An tiếp tục học tập và bắt đầu có những hoạt động cứu nước. Về sau, khi có dịp thuận tiện, Người đã vui vẻ kể lại những việc làm cứu nước trong thời gian này như sau:

Ngày 27/10/1946, Nguyễn Thị Thanh (Bạch Liên) ra Hà Nội gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng đi có hai người cháu là Nguyễn Sinh Thọ (Nguyễn Tự Cường) và Nguyễn Văn Danh (Hồ Quang Chính), trong lúc nói chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi Nguyễn Văn Danh: "Quê cháu ở làng nào?". Nguyễn Văn Danh trả lời: "Thưa ông, quê cháu ở làng Thọ Toán, cuối huyện Nam Đàn, gần sông Lam. Gần cầu sắt Yên Xuân". Đến đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Ờ, ờ, ông nhớ ra rồi, vùng đó có bãi giữa khá to của sông Lam, có lần ông đã đi đò dọc qua đó để đưa thư cho các cụ hoạt động chống đế quốc Pháp"(6).

Trong tác phẩm "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch" Trần Dân Tiên cũng viết: "Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người thiếu niên 15 tuổi. Người thiếu niên đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ, Anh đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh đã tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc"(7).

Như vậy, trong quá trình hình thành nhân cách Nghệ An trong con người Nguyễn Sinh Cung, tư tưởng yêu nước đã phát triển mạnh, đã có những hoạt động cứu nước cụ thể khi đang sống với cha là Nguyễn Sinh Sắc trong gia đình mình ở làng Sen, trên quê hương mến yêu Nghệ An.

Tiếp đó, hoài bão lớn lao và táo bạo đi sang tận nước Pháp ở trời Âu để học tập, để xem xét, chọn lọc hướng đi mới, rồi trở về nước lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh giành lại độc lập cho tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân cũng nảy nở trong gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc, trên quê hương Nghệ An.

Đúng là từ chất lượng của sự giáo dục, đạo đức, lối sống trong gia đình Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Thị Loan là lò đúc tạo dựng được nhân cách Nghệ An trong người Nguyễn Sinh Cung, một cách trọn vẹn, hoàn mỹ.

 

Chú thích

1. Phan Bội Châu niên biểu, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957, tr.30.

2. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2 (1/1925 - 2/1930), Nxb. Sự thật, Hà Nội 1998, tr.18.

3. Báo Nhân dân số ra ngày 18/5/1965, trong bài "Ba lần nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh" của Nhà báo Mỹ Anna Lui Xtơrong.

4. Trong bài "Đến thăm một chiến sỹ Cộng sản Quốc tế - Nguyễn Ái Quốc" của Oxíp Manđenx Tam, đăng trên Tạp chí "Tia lửa nhỏ", số 39, ngày 23/12/1923.

5. Trần dân Tiên, "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch", Nxb Văn học, Hà Nội, 1969, tr.10-11.

6. Bác Hồ gặp chị và anh ruột của Hồ Quang Chính, Nxb. Nghệ An, 1997, tr.17.

7. Trần Dân Tiên, "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch", Nxb. Văn học, Hà Nội, 1969, tr.10.

 

 

Phạm Xuân Cần

Biên niên tiểu sử, cũng như những nghiên cứu gần đây về Chủ tịch Hồ Chí Minh đều khẳng định Nguyễn Tất Thành và anh trai là Nguyễn Tất Đạt đã theo học tại Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Vinh từ khoảng tháng 9 năm 1905 đến tháng 5 năm 1906. Năm đó Nguyễn Tất Thành 15 tuổi, do đó thời gian theo học tại trường này có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc hình thành tri thức và nhân cách của anh. Tại Trường Tiểu học Pháp - Việt, lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành nhìn thấy dòng chữ "LIBERTÉ, ÉGALITÉ, FRATERNITÉ" (Tự do - Bình đẳng - Bác ái). Nguyễn Tất Thành tìm hiểu và biết đó là khẩu hiệu nổi tiếng của đại Cách mạng Pháp năm 1789. Đối với Nguyễn Tất Thành, đó là những điều hoàn toàn mới lạ, vì vậy, rất tự nhiên, anh nảy ra ý muốn "tìm hiểu những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy".

Chính vì vậy việc tìm hiểu về ngôi trường này là điều rất cần thiết và có nhiều ý nghĩa đối với chúng ta hiện nay. Vậy thì Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Vinh là ngôi trường nào, được thành lập bao giờ, vị trí của trường ở đâu? Đó là những câu hỏi rất cần phải được nghiên cứu và trả lời.

1. Sau khi cơ bản hoàn thành việc xâm chiếm nước ta, thực dân Pháp đã nhanh chóng xây dựng, hình thành một nền giáo dục mới thay thế cho nền giáo dục khoa cử cũ. Trước khi có cải cách giáo dục lần thứ nhất vào năm 1905, hệ thống giáo dục ở Việt Nam tồn tại dưới 3 hình thức khác nhau. Ở Nam kỳ đa số các tổng xã đều có Trường Tiểu học Pháp - Việt dạy chữ Pháp và Quốc ngữ, chữ Hán hầu như bãi bỏ hoàn toàn hoặc chỉ là môn phụ. Ở Bắc và Trung kỳ số trường dạy chữ Pháp và chữ Quốc ngữ còn rất ít. Ngày 14 tháng 11 năm 1905 thực dân Pháp lập Nha học chính Đông Dương tại Hà Nội, đồng thời thực hiện cải cách giáo dục lần thứ nhất. Theo chính sách giáo dục thời kỳ đó, tại mỗi tỉnh lỵ, chính quyền Bảo hộ sẽ chu cấp toàn bộ kinh phí để duy trì hoạt động của trường tiểu học Pháp - Bản xứ (École franco-indigène). Chương trình giảng dạy gồm: Giáo dục đạo đức, tập đọc, tập viết, số học, khái niệm về hình học thực hành và đo đạc, kế toán, tiếng Pháp, chữ Quốc ngữ, khái luận về lịch sử, địa lý Đông Dương, khái niệm về địa lý, khái luận về hình hoạ, khái niệm về khoa học vật lý và khoa học tự nhiên, ứng dụng khoa học trong nông nghiệp, vệ sinh, mỹ nghệ, và một số tiết chữ Hán. Trường Tiểu học Pháp - Việt gồm 4 lớp: lớp dự bị (lớp tư), lớp sơ đẳng (lớp ba), lớp nhì, lớp nhất.

2. Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Vinh được thành lập như thế nào?

Theo tài liệu mà chúng tôi có hiện nay, thì sự ra đời của ngôi Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Vinh gắn với tên tuổi của một danh nhân nổi tiếng, đó là họa sỹ, nhà giáo Lê Huy Miến. Theo Tiểu sử họa sỹ Lê Huy Miến(1): Sau 7 năm du học ở Pháp, năm 1898, Lê Huy Miến về nước. Vào năm 1899, ông phụ trách một công việc khiêm tốn, vẽ minh họa cho nhà in Schneider, nhà in đầu tiên tại Hà Nội. Ông làm việc tại đây khoảng trên dưới một năm, cùng với một đồng nghiệp tên Bùi Huy Tín.

Tiếp theo đó, vào những năm đầu của thế kỷ thứ 20, do mối liên hệ mật thiết giữa hai họ Lê - Đào, Tổng đốc An Tĩnh Đào Tấn đã mời Lê Huy Miến về Vinh làm việc với mình. Năm 1902, vua Thành Thái triệu Đào Tấn về kinh nhậm chức Thượng thư bộ Công, Lê Huy Miến đã cùng theo, giữ chức vụ Hành tẩu bộ Công dưới quyền Đào Tấn, phụ trách công việc vẽ bản đồ và kiến trúc cho cung đình Huế. Công việc này đã đưa đẩy ông nhiều dịp gặp vua Thành Thái, cùng chí hướng chống Pháp, được vua tin dùng, bí mật giao cho ông nhiệm vụ vẽ mẫu súng bộ binh của phương Tây để đem thuê đúc, hòng trang bị cho đội nữ binh của vua trong nội phủ.

Sự thân cận của những người có đầu óc chống thực dân bị chính quyền bảo hộ Pháp nghi ngờ. Khi các bản vẽ vũ khí của Thành Thái bị phát hiện, vua giả điên, cào cấu các bà cung phi và xé nát các bản vẽ. Lợi dụng cơ hội này, Khâm sứ Pháp là Lévêque và Hội đồng Thượng thư vu cho ông bị điên, ép ông thoái vị, hạ lệnh cho đại thần Nguyễn Thân bức Thượng thư Đào Tấn về hưu và đẩy Hành tẩu Lê Huy Miến về Nghệ An mở trường dạy học, đó là Trường Pháp - Việt đầu tiên tại Vinh.

Tại Vinh, hưởng ứng các cuộc vận động văn hóa chống thực dân Pháp, Lê Huy Miến tham gia tổ chức Hoan học hội của vùng Nghệ An, dùng văn hóa tuyên truyền tư tưởng yêu nước trong toàn thể dân chúng.

Tại Nghệ An lúc ấy có quan Công sứ người Pháp tên là Sestier, đồng môn với Lê Huy Miến tại Pháp, vẫn có lòng mến mộ tài năng và tư cách của người bạn xứ An Nam. Biết trước là không thể tránh được cuộc đàn áp đẫm máu giữa mật vụ Pháp và các phong trào yêu nước, năm 1907, Sestier đã dùng tình bạn mời ông đến tòa Công sứ, đề nghị ông vào Huế nhậm chức giáo sư hội họa và Pháp văn tại Trường Quốc học, để tránh nạn gia đình bị tàn sát.

Như vậy, nhiều khả năng Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Vinh được thành lập trong khoảng năm 1905 và, khóa học đầu tiên của Trường chính là khóa mà anh em Nguyễn Tất Đạt và Nguyễn Tất Thành theo học. Điều thú vị là nếu đúng như thế, thì chính Nguyễn Tất Thành được hai lần thọ giáo người thầy đáng kính Lê Huy Miến: Năm học 1905 - 1906 tại Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh và năm học 1908 - 1909 tại Trường Quốc học Huế.

Thế nhưng, từ trước đến nay Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Vinh đều được gọi là Trường Tiểu học Pháp - Việt Cao Xuân Dục, hoặc gọn hơn là "Trường Tiểu học Cao Xuân Dục". Theo Trương Quế Phương, trong báo cáo khoa học "Những hoạt động yêu nước và cách mạng của thầy và trò Trường Cao Xuân Dục từ những năm đầu thế kỷ 20"(2), thì Trường Tiểu học Cao Xuân Dục về danh nghĩa là trường công, nhưng do danh sỹ Cao Xuân Dục bỏ tiền xây dựng và tài trợ cho hoạt động dạy học. Trường được thành lập năm 1905. Theo bà Trương Quế Phương, Trường Tiểu học Pháp - Việt cũng chính là Trường Tiểu học Pháp - Việt Cao Xuân Dục. Điều này là hợp lý, vì tại thời điểm đó ở Vinh mới có duy nhất một Trường Tiểu học Pháp - Việt. Ngoài ra mãi đến năm 1919,  tỉnh Nghệ An cũng chỉ có 6 trường tiểu học cho 12 phủ và huyện(3).

Như vậy, từ những tư liệu trên đây có thể nhận định: Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Vinh ra đời năm 1905, do danh nhân, họa sỹ, nhà giáo Lê Huy Miến sáng lập và là Đốc học đầu tiên, danh sỹ Cao Xuân Dục là người bảo trợ và tài trợ. Hai anh em Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tất Thành thuộc khóa học sinh đầu tiên của trường. Tuy nhiên, điều này cần phải được nghiên cứu thêm trước khi đưa ra kết luận chính thức. 

3. Về vị trí của Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Vinh

Biên niên tiểu sử Hồ Chí Minh ghi: Khoảng tháng 9 (1905), Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt được ông Nguyễn Sinh Huy xin cho theo học lớp dự bị (préparatoire) Trường Tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh, cách Kim Liên khoảng 14km. Hai anh em trọ ở một gia đình nghèo mạn Cầu Rầm (Vinh) và chiều thứ bảy thường đi bộ về thăm nhà, sáng thứ hai lại xuống Vinh. Tài liệu này cũng cho biết, ngoài hai anh em Tất Thành, Tất Đạt, trong xã Kim Liên còn có một người nữa cũng được nhập học trong dịp này, đó là Chu Văn Phi(4).

Thế nhưng, tài liệu này cũng không cho biết cụ thể vị trí Trường Tiểu học Pháp - Việt đóng ở đâu. Trong hồi ký của mình(5), Giáo sư Nguyễn Xiển, một cựu học sinh Trường Tiểu học Pháp - Việt (1917 - 1921) cũng chỉ cho biết trường ở gần nhà mình, mà nhà ông lại ở bên cạnh chợ Vinh. Như vậy, vị trí của trường ở gần chợ Vinh và cũng không cách xa Cầu Rầm là mấy.

Tra cứu bản đồ Vinh - Bến Thủy năm 1925 (trên bản đồ này khi đó chưa có chú thích tên đường) chúng tôi thấy, vị trí kí hiệu "C" được chú thích là "École F - A" (Trường Tiểu học F - A). Thiết nghĩ trong ngữ cảnh này chỉ có thể nghĩ đó là Trường tiểu học Pháp - Việt (École Franco - Annamien). Cũng cần nói thêm rằng trên bản đồ này, chỉ có hai ngôi trường được định vị, đó là Tiểu học Pháp - Việt (vị trí C) và Quốc học Vinh (vị trí R). Vị trí được kí hiệu "C" nằm trên trục đường chạy qua trước cổng Cửa Tiền thành Nghệ An, cách cổng thành chừng 200 mét.

Trên một bản đồ Vinh - Bến Thủy năm 1936, vị trí có kí hiệu "C" trước đây được đánh số 21 và được chú thích là "École". Khi đó con đường này đã được đặt tên là đường Gia Long (nay là đường Đặng Thái Thân). Cũng theo bản đồ này, trường được xây dựng cả ở hai bên đường Gia Long. Cụ thể được giới hạn bởi: Phía Bắc là đường Jean Dupuis (nay là đường Nguyễn Nghiễm); phía Đông là đường Paul Bert (nay là đường Nguyễn Cảnh Chân, phía Nam là đường Đồng Khánh (nay không còn); phía Tây là đường Clemenceav (nay là đường Nguyễn Công Trứ), còn đường Gia Long chạy xuyên qua giữa.

Theo tính toán sơ bộ trên bản đồ và ước lượng trên thực tế, toàn bộ khu trường có hình chữ nhật, chiều rộng theo đường Gia Long khoảng 100 mét, chiều dài khoảng 150 mét. Như vậy diện tích toàn trường khoảng 15.000 m2. Theo chúng tôi diện tích này cũng hợp lý, vì theo kí hiệu trên bản đồ, phía phải đường Gia Long (theo chiều Đông - Tây), có 4 khối nhà to và 3 khối nhà nhỏ; phía trái đường Gia Long có ba khối nhà đặt song song. Theo hồi kí của GS. Nguyễn Xiển đã nói ở trên, những năm đầu mới thành lập (1920, 1921), Trường Quốc học Vinh (ở khu vực bến xe Vinh) còn học nhờ ở Trường Tiểu học Pháp - Việt. Điều này chứng tỏ trường khá là rộng rãi, có nhiều phòng học.

Tuy nhiên, những năm sau (chưa rõ bắt đầu từ năm nào) diện tích của trường không còn nguyên vẹn như trước. Một phần đất phía Bắc, giáp với đường Jean Dupuis (nay là đường Nguyễn Nghiễm) đã nhường chỗ cho Trường Nữ sinh Nguyễn Trường Tộ. Hồi ký của một số cựu học sinh trường Nguyễn Trường Tộ những năm 1940 đều xác định trường này có chung tường với Trường Tiểu học Pháp - Việt Cao Xuân Dục.

4. Hình ảnh ngôi trường

 Chúng tôi đã sưu tầm được một bức ảnh được lưu trữ tại Bảo tàng Quai Branly (37, Quai Branly, 75007 Paris), bức ảnh mang số hiệu quản lý: PV0019728. Bức ảnh được chú thích là (Trường Tiểu học, kèm theo các thông tin: Địa điểm: Châu Á/ Đông Nam Á/ Việt Nam/ Nghệ Tĩnh/ Vinh; Nhiếp ảnh gia: ẩn danh; Thời gian chụp trong khoảng từ năm 1920 đến 1929; Kích thước 18 x 24 cm. Mặc dù chỉ chú thích đơn giản là "École", nhưng trên ảnh có tấm biển đề dòng chữ "École Franco - Annamien". Bức ảnh chụp ngôi nhà một tầng, bốn gian. Một phía đầu hồi nhà có cửa ra một nhà cầu thấp hơn, chắc là dẫn sang một ngôi nhà khác. Ngôi nhà cao ráo, bề thế, có nhiều cửa sổ, có hai hành lang trước và sau. Dáng dấp kiến trúc và hoa văn trang trí tương tự như những ngôi nhà do người Pháp xây đầu thế kỷ XX ở Vinh (Dinh công sứ, tòa án, bưu điện, ga Vinh, bệnh viện…).

5. Đôi điều kiến nghị

Về Trường Tiểu học Pháp - Việt, hay Trường Tiểu học Pháp - Việt Cao Xuân Dục ở thành phố Vinh thời thuộc Pháp vẫn còn rất nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu và trao đổi. Những nội dung mà chúng tôi trình bày trong bài báo này mới chỉ là những phát hiện bước đầu, rất cần phải tiếp tục xác minh.

Thế nhưng, bước đầu đã có những căn cứ để nhận định: Trường Tiểu học Pháp - Việt là một cơ sở giáo dục đầu tiên theo tân học ở Nghệ Tĩnh, ra đời cách nay đã 114 năm. Cùng với Trường Quốc học Vinh (Collège de Vinh) được thành lập năm 1920, và hàng loạt các trường tư thục sau này, Trường Tiểu học Pháp - Việt đã góp phần làm cho Vinh trở thành một trong những trung tâm giáo dục quan trọng nhất của khu vực Thanh Nghệ Tĩnh và Trung kỳ thời thuộc Pháp. Nơi đây, Nguyễn Tất Thành đã theo học suốt gần một năm học, trong giai đoạn hết sức quan trọng của việc hình thành tri thức, nhân cách và chí hướng của cuộc đời một con người. Ngoài ra, Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh cũng là nơi mà nhiều nhà cách mạng và nhân sĩ, trí thức tài danh của nước ta đã từng giảng dạy hoặc học tập. Trước hết, có hai cố tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng giảng dạy tại đây, là Trần Phú và Hà Huy Tập, cùng với những người thầy khác cũng là những nhà cách mạng tên tuổi, như Trần Mộng Bạch, Trần Văn Tăng, Bùi Văn Bình... Bên cạnh đó hàng chục nhà cách mạng, nhà khoa học, nhân sỹ tên tuổi cũng đã từng học tập dưới mái trường này, như Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai, Siêu Hải, Nguyễn Ngọc Ba, Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Thị Xuyến, Nguyễn Thị Nhuận, Trần Thị Liên, Nguyễn Tiềm, Chu Văn Biên, Hồ Mỹ Xuyên, Nguyễn Đức Dương, Phạm Khắc Hòe, Nguyễn Xiển, Hoàng Xuân Hãn, Đặng Thai Mai… Đó cũng là nơi ghi dấu ấn của danh sỹ Cao Xuân Dục và danh họa, nhà giáo Lê Huy Miến.

Chính vì tầm vóc lịch sử của ngôi trường như vậy, chúng tôi đề xuất:

- Cần tổ chức một cuộc tọa đàm, hoặc hội thảo khoa học, để nghiên cứu, xác minh và trao đổi thông tin về ngôi trường này. Làm rõ để có cơ sở khoa học kết luận những nhận định bước đầu của chúng tôi trên đây, cũng như bổ sung những thông tin và luận điểm khoa học mới về ngôi trường này.

- Nếu những nhận định nêu trong bài báo này cơ bản là đúng, rất cần có một hình thức kỷ niệm về Trường Tiểu học Pháp - Việt ở thành phố Vinh. Hiện nay khu vực này đã là khu dân cư và cơ sở dịch vụ của doanh nghiệp thuộc phường Quang Trung. Mặc dù khó, nhưng vẫn có thể xây dựng ở đây một công trình tưởng niệm, chí ít là một bia dẫn tích. Điều này cần phải được khảo sát, nghiên cứu kĩ và sự vào cuộc của chính quyền và các cơ quan chức năng.

Hy vọng tầm vóc lịch sử của ngôi Trường Tiểu học Pháp - Việt ở thành phố Vinh, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng theo học sẽ được tái định vị!

 

Chú thích

1. https://hoasivietnam.wordpress.com/thamkh%E1%BA%A3o/le-van-mien/tieu-su-le-van-mien-le-huy-mien/.

2. Kỷ yếu hội thảo khoa học "Danh nhân văn hóa Đông các đại học sĩ Cao Xuân Dục", Vinh, 6/12/2012.

3. Theo cuốn  "L'ANNAM SCOLAIREde l'enseignement traditionnel annamite à l'enseignement moderne franco-indigène HANOI IMPRIMERIE D'EXTRÊME-ORIENT 1931",

4.http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/ho-so-su-kien/books-191820154294556/index-0918201542716563.html.

5. GS. Nguyễn Xiển - Cuộc đời và Sự nghiệp, Nxb. Hội Nhà văn, 2007.

 

Nguyễn Thị Minh Tú

Việt Nam đang ở những năm cuối cùng thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011- 2020 và chuẩn bị xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021- 2030. Để thực hiện các mục tiêu phát triển và tạo động lực mới thúc đẩy tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam cần phải bứt phá, phát triển khoa học công nghệ, tinh thần doanh nhân, cải cách thể chế. Đối với các quốc gia đã thoát khỏi bẫy thu nhập thấp và thu nhập trung bình nhờ dựa vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, những quốc gia này phải chuyển đổi từ quá trình phát triển kinh tế dựa trên lao động giá rẻ, dựa trên nguồn tài nguyên thiên nhiên dần cạn kiệt chuyển sang phát triển dựa trên hấp thụ công nghệ và tiếp đến là phát triển dựa trên sáng tạo công nghệ tạo ra tài sản trí tuệ, tạo thành nguồn nhiên liệu mới giúp cho phát triển kinh tế - xã hội. Hơn nữa, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đòi hỏi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải trở thành nền tảng cốt lõi của phát triển, Việt Nam tiếp tục lựa chọn khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là một trong những trụ cột để phát triển.

Đổi mới sáng tạo có nhiều khái niệm, theo từ điển Dictionary, đổi mới sáng tạo được coi là việc đưa ra được một thứ mới hoặc khác biệt. Các nhà kinh tế thường nói đổi mới sáng tạo là sự sáng tạo mới có ý nghĩa kinh tế và thông thường được thực hiện ở tại doanh nghiệp hoặc đổi mới sáng tạo là nỗ lực đầu tiên để đưa ra sáng chế vào cuộc sống. Theo định nghĩa của OECD, đổi mới sáng tạo là "thực hiện một sản phẩm mới hay một sự cải tiến đáng kể (đối với một loại hàng hóa hay dịch vụ cụ thể), một quy trình, phương pháp marketing mới, hay một phương pháp tổ chức mới trong thực tiễn kinh doanh, tổ chức nơi làm việc, hay các mối quan hệ đối ngoại". Ngoài ra còn có một số cách diễn đạt khác nhau đổi mới sáng tạo như: Luôn đi cùng các ý tưởng và đưa ý tưởng vào cuộc sống (Robert B.Tucker); Những thay đổi để tạo ra định hướng thực hiện mới (Peter Drucker); Sáng tạo, phát triển và tạo ra một sản phẩm, quy trình và dịch vụ mới nhằm mục đích tăng hiệu qủa và lợi thế cạnh tranh (Chính phủ Niu-Di-lân)…

Hoạt động đổi mới sáng tạo được tiến hành thông qua nhiều hình thức, đó là các sản phẩm, dịch vụ, các quy trình sản xuất hay kinh doanh (đối với hàng hóa hay dịch vụ), các mô hình tổ chức, mô hình kinh doanh, và đổi mới xã hội (đổi mới được định hướng trực tiếp vào những lợi ích xã hội cụ thể). Bên trong những khía cạnh này, đổi mới có thể xuất hiện tại các điểm khác nhau trong quá trình, bao gồm các giai đoạn như khái niệm, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao (sự chuyển hướng của công nghệ đến tổ chức sản xuất), sản xuất và triển khai, hay sử dụng thị trường.

Có nhiều loại đổi mới sáng tạo: Đổi mới liên tục giúp cho sản phẩm đó tốt hơn những sản phẩm cạnh tranh hoặc tạo ra sự khác biệt cơ bản để thu hút nhiều khách hàng hơn. Đổi mới liên tục còn được gọi đổi mới tích lũy hay đổi mới gia tăng. Đổi mới không liên tục hay gián đoạn là đổi mới có tính chất triệt để vì chúng tác động sâu sắc tới xã hội và có thể thay đổi hoàn toàn phong cách sống và hình thức mua sắm. Loại đổi mới này có thể làm chúng ta quên hoàn toàn thị trường đang có. Đổi mới không liên tục còn được gọi là đổi mới căn bản hay đổi mới triệt để. Đổi mới kinh doanh là việc cải tiến cách hoạt động và kinh doanh bên trong doanh nghiệp. Đó là việc đổi mới cơ cấu nội bộ, các chiến dịch tiếp thị, nhận diện thương hiệu và sứ mệnh then chốt của mình.

Nhiều nhà kinh tế học đi đến kết luận rằng không hẳn là sự tích lũy vốn, mà là đổi mới sẽ chi phối tăng trưởng kinh tế dài hạn của các nước, mang lại những lợi ích đáng kể về mặt xã hội, ngoài những ích lợi mà nhà đổi mới gặt hái được và cuối cùng, đổi mới đóng một vai trò trung tâm trong việc cải thiện chất lượng sống của các công dân.

Ở nước ta, Đảng và nhà nước xác định khoa học và công nghệ có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thời gian vừa qua chính sách về khoa học và công nghệ đã được tập trung hoàn thiện với nhiều quy định tiến bộ và đổi mới. Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia được hình thành và chuyển dịch theo hướng đưa doanh nghiệp trở thành trung tâm để đưa các kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, hàng hóa. Phong trào khởi nghiệp sáng tạo đã lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội; tiềm lực khoa học và công nghệ được củng cố; thị trường khoa học và công nghệ bước đầu gắn kết hoạt động khoa học và công nghệ với sản xuất, kinh doanh. Hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ dần đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế. Sự đóng góp của khoa học công nghệ thể hiện trong nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp, y tế, CNTT... Theo đánh giá của tổ chức sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), Việt Nam luôn tăng hạng trong xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu, dẫn đầu nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp (năm 2017 tăng 12 bậc, năm 2018 tăng tiếp 2 bậc, xếp thứ 45/126 quốc gia, trong đó, nhóm chỉ số về tri thức - công nghệ của Việt Nam có thứ hạng rất cao, xếp thứ 28). Các lĩnh vực khoa học tự nhiên Việt Nam có thế mạnh như Toán học, Vật lý, Hóa học luôn đạt vị trí tốp đầu ASEAN.

Theo báo cáo nghiên cứu chung giữa Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã phân tích SWOT về hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam với những điểm mạnh: Nằm trong khu vực địa lý năng động nhất thế giới; Lực lượng lao động lớn, cơ cấu dân số thuận lợi; Điểm đầu tư hấp dẫn đối với các tập đoàn đa quốc gia; Năng lực xuất khấu của một số ngành tốt; Có uy tín trong một số lĩnh vực như toán, nghiên cứu nông nghiệp và sinh học; Có tiến bộ trong việc hình thành và duy trì các cơ quan và thể chế hỗ trợ đổi mới sáng tạo; Các sáng kiến khu vực có lợi cho Việt Nam. Điểm yếu: Năng suất lao động và mức thu nhập thấp; Thiếu khuôn khổ pháp lý khuyến khích đổi mới sáng tạo; Doanh nghiệp khó tiếp cận vốn; Cơ sở hạ tầng yếu kém; Mức độ phức tạp trong sản xuất và xuất khẩu còn thấp; Doanh nghiệp ít sáng tạo, và thậm chí thiếu năng lực nghiên cứu và phát triển; Năng lực nghiên cứu của các tổ chức nghiên cứu nhà nước còn yếu; Hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn yếu kém do thiếu các phòng thí nghiệm và thiết bị nghiên cứu; Cơ sở thông tin phục vụ việc xây dựng chính sách đổi mới sáng tạo còn yếu kém; Quản lý nhà nước và thực hiện chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn yếu kém. Những cơ hội: Phát triển nguồn vốn con người và kỹ năng dựa trên cộng đồng người Việt khá lớn; Tạo lập khu vực doanh nghiệp năng động và có năng lực đổi mới sáng tạo; Đa dạng hoá và thúc đẩy nền kinh tế; Nâng cao hiệu lực của hệ thống đổi mới sáng tạo về tác động kinh tế - xã hội. Những thách thức: Môi trường kinh tế vĩ mô không thuận lợi, kinh tế tăng trưởng chậm; Chảy máu chất xám gia tăng; Nguy cơ bẫy thu nhập trung bình đang hiển hiện.

Với những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trên và trong bối cảnh mới, khoa học và công nghệ được xem là đòn bẩy của công cuộc tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, tăng năng suất lao động, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế; đổi mới sáng tạo trở thành một trong các động lực tăng trưởng mới, vì vậy chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải kịp thời đổi mới, chuyển hướng để thích ứng và đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới. Để thực hiện được định hướng đó cần thực hiện đồng bộ các nội dung và giải pháp, bài viết xin được trích lại 6 điểm chú trọng của đồng chí Chu Ngọc Anh - Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, đó là:

Thứ nhất, xây dựng phương án cơ cấu lại các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia theo hướng lấy doanh nghiệp thực sự là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Chuyển dịch trọng tâm chính sách khoa học và công nghệ, từ chỗ đầu tư cho hoạt động nghiên cứu - triển khai (R&D) là chủ yếu sang chú trọng đầu tư cho thương mại hóa kết quả R&D.

Vai trò đầu tư của doanh nghiệp và xã hội trong chuỗi hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo vô cùng quan trọng. Nhà nước có thể đầu tư cơ bản đến cơ bản định hướng ứng dụng và một phần của hoạt động nghiên cứu ứng dụng. Tuy nhiên, để đưa các kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường, ứng dụng được trong hoạt động sản xuất, kinh doanh để tạo thành sản phẩm, dịch vụ mới và giá trị gia tăng cho xã hội, cần sự đầu tư có trách nhiệm của các lực lượng xã hội, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng nhất. Phát huy vai trò của khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo trong quá trình tái cơ cấu, nâng cao chất lượng tăng trưởng của các ngành, lĩnh vực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.

Thứ hai: Phát triển hệ thống sáng tạo quốc gia lấy doanh nghiệp làm trung tâm và trường đại học là chủ thể nghiên cứu mạnh. Nâng cao tiềm lực và trình độ khoa học và công nghệ trong nước để có thể triển khai các hướng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ liên ngành và xuyên ngành ở trình độ quốc tế về công nghệ thông tin, vật lý, sinh học, trí tuệ nhân tạo. Phát triển và khai thác tài sản trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia để phục vụ hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Thứ ba: Tiếp tục khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mạnh cho hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo. Phát huy Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ tại các doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty. Phát triển thị trường khoa học công nghệ gắn với hoạt động đổi mới sáng tạo. Đổi mới cơ chế hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp; sử dụng ngân sách nhà nước như nguồn vốn mồi nhằm thu hút sự tham gia đầu tư của doanh nghiệp cho hoạt động khoa học và công nghệ. Triển khai thực hiện các giải pháp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thủ tục, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Tập trung nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp; dành kinh phí thỏa đáng cho nhập khẩu và làm chủ công nghệ tiên tiến của thế giới. 

Thứ tư: Chủ động triển khai các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể tăng cường năng lực tiếp cận, tiếp thu và làm chủ các công nghệ cốt lõi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Triển khai hiệu quả Chương trình KH&CN trọng điểm cấp quốc gia về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư giai đoạn đến năm 2025. Hình thành một số phòng thử nghiệm công nghệ (testlab), phát triển các công nghệ nền tảng của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo để tạo ra các sản phẩm quốc gia có lợi thế; khuyến khích các doanh nghiệp khởi nghiệp trên nền tảng công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Triển khai toàn diện Đề án "Phát triển Hệ tri thức Việt số hóa" để thiết lập hạ tầng nền tảng, dữ liệu lớn, chia sẻ dữ liệu để khai thác, làm giàu hệ tri thức của người Việt, phục vụ chuyển đổi số, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Thứ năm: Tiếp tục phát triển mạnh hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia kết nối với các hệ sinh thái khu vực và toàn cầu. Khuyến khích các quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần, doanh nghiệp lớn đầu tư cho khởi nghiệp. Nhà nước không trực tiếp đầu tư mạo hiểm 100% cho khởi nghiệp, chỉ nên cung cấp vốn mồi trong giai đoạn tiền khởi nghiệp, vốn tăng tốc trong giai đoạn khởi nghiệp và cả hai giai đoạn đều cần hợp tác công - tư. Quan tâm phát triển hạ tầng, dịch vụ hỗ trợ và thị trường ban đầu cho khởi nghiệp; kết nối với các viện nghiên cứu, trường đại học và các doanh nghiệp lớn để doanh nghiệp khởi nghiệp có thể tham gia sân chơi chung và tiếp cận các chuỗi giá trị toàn cầu. Khuyến khích các trường đại học, đặc biệt là các trường khối kỹ thuật và công nghệ, dành không gian thích đáng cho hoạt động ươm tạo công nghệ, xưởng thiết kế chế tạo của sinh viên; hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên năm cuối và cựu sinh viên thông qua các không gian sáng tạo chung hoặc các chương trình, dự án hỗ trợ khởi nghiệp. 

Thứ sáu: Về hợp tác và hội nhập quốc tế, thúc đẩy hợp tác nghiên cứu chung để tranh thủ nguồn lực và tri thức của các quốc gia tiên tiến, từng bước nâng tầm năng lực và trình độ nghiên cứu trong nước để có thể tham gia hợp tác đối tác bình đẳng và cùng có lợi trong dài hạn. Chủ động nghiên cứu, cập nhật các xu hướng phát triển của thế giới, đồng thời thúc đẩy hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế và các tập đoàn đa quốc gia trong trao đổi, chia sẻ các mô hình, kinh nghiệm, bài học thực tiễn về khai thác cơ hội và vượt qua thách thức của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để vận dụng phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam; thu hút sự tham gia đóng góp của cộng đồng khoa học và công nghệ người Việt Nam ở nước ngoài.

Việt Nam đang xây dựng dự thảo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030, trong đó khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định nền tảng để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Tại Hội nghị Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo - Một trụ cột cho phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã đặt hàng năm vấn đề lớn cho Bộ Khoa học và Công nghệ gồm: Một là, đề xuất chính sách khuyến khích và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong khu vực doanh nghiệp. Đồng thời cần coi doanh nghiệp là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo, phát triển mạnh hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp. Hai là, phát huy vai trò của các trường đại học, viện nghiên cứu trong việc tăng cường nền tảng vốn con người cho đổi mới sáng tạo. Cần nhất là gắn liền các hoạt động nghiên cứu ứng dụng với nhu cầu doanh nghiệp, nhu cầu của nền kinh tế. Ba là, thúc đẩy liên kết các mạng lưới đổi mới sáng tạo trong và ngoài nước. Ở nước ngoài các trung tâm kết nối trí tuệ đóng vai trò lõi ở các thành phố thông minh và bền vững. Vậy ở Việt Nam phải làm như thế nào? Bốn là, xây dựng năng lực quản trị nhà nước đối với hệ thống đổi mới sáng tạo và hoàn thiện thể chế cho các hoạt động đổi mới sáng tạo. Năm là, tập trung phát triển sản phẩm quốc gia dựa vào công nghệ mới, công nghệ cao để hình thành các ngành nghề mới và các sản phẩm mới, giá trị gia tăng cao, nhất là lĩnh vực mà Việt Nam có thế mạnh như nông nghiệp, công nghiệp chế biến chế tạo, công nghệ thông tin, dịch vụ...

Để triển khai 5 vấn đề lớn trên cần có các giải pháp đúng hướng, khả thi và các giải pháp thúc đẩy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo cần tập trung giải quyết hai yếu tố chính là con người và công nghệ. Đúng như khẳng định của Thủ tướng Chính phủ: "Nhân loại ngày càng khan hiếm tài nguyên tự nhiên để khai thác và Việt Nam cũng vậy, nhưng chúng ta lại có thứ tài nguyên vô tận, đó là chất xám, là sự sáng tạo của con người. Nếu tài nguyên tự nhiên càng khai thác càng cạn kiệt thì tài nguyên sáng tạo của con người càng khai thác sẽ càng sinh sôi nảy nở".


Tài liệu tham khảo

1. Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN (2016), Đổi mới sáng tạo câu chuyện ở Việt Nam, Nxb. Khoa học Kỹ thuật.

2. Tài liệu Hội nghị về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - Một trụ cột cho phát triển kinh tế xã hội Việt Nam.

3.  Báo cáo nghiên cứu chung giữa Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) về hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam.

4. Website Bộ khoa học và Công nghệ.

 

 

Lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo

 

LTS: Khi làn sóng Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tác động mạnh mẽ tới nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, vai trò của khoa học công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo ngày càng quan trọng trong việc thúc đẩy năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Thực tế đã chứng minh, việc đầu tư vào đổi mới công nghệ sẽ đem lại những giá trị gia tăng cho sản phẩm cũng như hiệu quả xã hội to lớn. Và nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo được xem như là phương thức để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trên thị trường hiện nay.

Nhằm đánh giá và nêu bật vai trò, những đóng góp của KHCN và đổi mới sáng tạo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển của doanh nghiệp nói riêng, Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn có cuộc trò chuyện với ông Trần Quốc Thành - Giám đốc Sở Khoa học & Công nghệ Nghệ An.

*    *

*

 

PV: Ngày KHCN Việt Nam năm nay lấy chủ đề "Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo kiến tạo tương lai", ông có thể giải thích rõ hơn về chủ đề này? Đổi mới sáng tạo tại sao lại được lựa chọn song hành cùng với KHCN?

Ông Trần Quốc Thành:

Năm nay, Bộ Khoa học và Công nghệ lấy chủ đề là "Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo kiến tạo tương lai" làm tinh thần cho hoạt động KHCN. Điều này, một lần nữa Chính phủ khẳng định vai trò to lớn của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo như một trụ cột phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Theo đó, nghiên cứu KHCN phải gắn với đổi mới sáng tạo, hướng đến tạo ra các sản phẩm sáng tạo với năng suất cao, chất lượng cao, sức cạnh tranh lớn, có tầm ảnh hưởng quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Cả hai phạm trù KHCN và đổi mới sáng tạo luôn song hành. Nhưng đổi mới sáng tạo của xã hội, nhất là cộng đồng doanh nghiệp là đích đến, đồng thời bản thân nó có tác động nâng cao trình độ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

PV: Vậy hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo có vai trò như thế nào đối với sự phát triển các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường với xu thế hiện nay, thưa ông?

Ông Trần Quốc Thành:

Từ trước đến nay, từ nghiên cứu đến ứng dụng KHCN luôn có "độ trễ". Độ trễ ở đây là khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng. Là sự gặp nhau giữa cung và cầu công nghệ.

Ở khoảng giữa đó, vai trò của doanh nghiệp là rất quan trọng, quyết định đến thành công của việc ứng dụng kết quả nghiên cứu, góp phần thương mại hóa các kết quả nghiên cứu. Tuy nhiên, lâu nay việc gắn kết giữa doanh nghiệp và nhà khoa học đang còn nhiều bất cập.

Trong khi đó, dư địa của các yếu tố tác động đến sự phát triển trong thời gian qua của nền kinh tế Việt Nam ngày càng hạn hẹp và mất dần lợi thế. Do vậy, trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ tư đang diễn ra nhanh chóng, KHCN gắn liền với đổi mới sáng tạo là rất cần thiết, nếu không chúng ta sẽ mất cơ hội, tụt hậu và sa vào "bẫy trung bình".

PV: Ông có nói đến sự cần thiết phải đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp, vậy theo ông, các doanh nghiệp có nên đặt việc nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo như một chiến lược phát triển?

Ông Trần Quốc Thành: Đúng như vậy, doanh nghiệp đặt việc nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo như một chiến lược phát triển là việc làm hoàn toàn đúng, nên làm với mỗi doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp khởi nghiệp.

Với tốc độ phát triển KHCN như hiện nay, một doanh nghiệp dù là lâu năm hay non trẻ nếu không có sự chuẩn bị thích ứng cho việc này thì sẽ nhanh chóng bị tụt hậu và không thể cạnh tranh được. Do đó, việc nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, sẵn sàng bứt tốc, nắm bắt thời cơ kinh doanh là bắt buộc với mọi doanh nghiệp hiện nay. Từ đó chuẩn bị nguồn lực, trong đó, nguồn lực con người là quan trọng nhất!

Doanh nghiệp phải kết nối chặt chẽ với các nhà khoa học, các viện, trường đại học để đặt hàng nghiên cứu, để nhận sự tư vấn, để hợp tác nghiên cứu - phát triển và đầu tư. Đổi mới sáng tạo không chỉ dừng lại ở sản xuất sản phẩm với năng suất, chất lượng cao, khác biệt, mà cả mô hình kinh doanh, quản trị doanh nghiệp,… Đặc biệt là dựa trên nền tảng công nghệ số!

PV: Doanh nghiệp đổi mới là cần thiết, vậy cơ chế, chính sách hiện nay đã thực sự thu hút và hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo thưa ông?

Ông Trần Quốc Thành: Theo tôi, với việc vào cuộc quyết liệt của Chính phủ và các bộ ngành, cơ chế, chính sách trong KHCN nước ta đã bước đầu đã hình thành và hướng tới doanh nghiệp.

Vấn đề đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp đã được Bộ KH&CN tham mưu cho Chính phủ từ khá lâu, nhưng đến năm nay là năm nhấn mạnh và chú trọng. Thực ra, bản thân các doanh nghiệp muốn đổi mới sáng tạo, hay khởi nghiệp đổi mới sáng tạo không thể tự phát triển nếu thiếu một hệ sinh thái thuận lợi. Bên cạnh việc nâng cao năng lực tự thân của doanh nghiệp, rất cần sự hỗ trợ của Chính phủ và chính quyền địa phương. Đó là phải có Chính phủ năng động kiến tạo, thể chế và cơ chế thuận lợi, hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Các viện, trường nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ hướng tới doanh nghiệp, gắn với doanh nghiệp. Bên cạnh đó rất cần sự đổi mới trong giáo dục đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (đào tạo gắn với nghiên cứu, giáo dục STEM, định hướng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ngay từ trong trường học,…). Với sự vào cuộc của Chính phủ, tôi tin những cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ và tạo điều kiện doanh nghiệp đổi mới sáng tạo sẽ được ngày một hoàn thiện.

Trong năm năm qua, Nghệ An đã thực hiện việc chuyển hướng hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ, trong đó: hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp bảo hộ sở hữu trí tuệ, định hướng doanh nghiệp tham gia chủ trì thực hiện các dự án khoa học công nghệ; ưu tiên xét duyệt các nhiệm vụ, ý tưởng đề xuất của doanh nghiệp... Những nhiệm vụ khoa học nào khi triển khai mà thiếu doanh nghiệp sẽ dừng, tạm thời chưa triển khai, có những dự án chờ đến 2 - 3 năm mới triển khai vì chưa có sự tham gia của doanh nghiệp; Chương trình 100 sản phẩm của Sở KH&CN đề xuất với các sản phẩm cụ thể, giúp doanh nghiệp có thể xác định được sản phẩm phù hợp để tham gia; Hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, đổi mới công nghệ thông qua việc hỗ trợ doanh nghiệp tham gia trực tiếp triển khai các nhiệm vụ KH&CN tại các Chương trình KH&CN quốc gia để nhập khẩu công nghệ, nâng cao trình độ công nghệ của doanh nghiệp…

PV: Với những chính sách và sự hỗ trợ như ông đã nói trên, hiện nay các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã tham gia vào hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo như thế nào, thưa ông?

Ông Trần Quốc Thành: Không ai hiểu hết và hiểu rõ những vấn đề tồn tại của doanh nghiệp bằng chính chủ doanh nghiệp, do đó sự chủ động của doanh nghiệp trong đổi mới sáng tạo là hết sức cần thiết. Vai trò của người đứng đầu doanh nghiệp trong vấn đề này là hết sức quan trọng. Doanh nghiệp cần có kế hoạch và lộ trình đầu tư cho nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ, nguồn lực tài chính chuẩn bị cho sự phát triển.

Những năm qua, hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo Nghệ An để lại nhiều dấu ấn. Các thủ tục hành chính được tháo gỡ, nhiều chính sách, cơ chế được ban hành tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích các nhà khoa học, tổ chức cá nhân và doanh nghiệp tham gia nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, nhằm đưa doanh nghiệp trở thành trung tâm hệ thống sáng tạo quốc gia.

Với những điều kiện đó, doanh nghiệp Nghệ An đã quan tâm nhiều hơn đến đầu tư cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nhiều doanh nghiệp thành lập các trung tâm nghiên cứu như: Công ty Cổ phần Nafoods Group thành lập trung tâm nghiên cứu chanh leo tại huyện Quế Phong; Công ty TNHH Mía đường Nghệ An thành lập trung tâm nghiên cứu mía đường,... Hoặc một số công ty thực hiện việc trích 10% lợi nhuận trước thuế để đầu tư quỹ khoa học công nghệ như: Tập đoàn TH, Tổng công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Nghệ An,... Nhiều mô hình kinh tế trang trại được phát triển có hiệu quả (HTX nông nghiệp 19/5 Nghĩa Đàn, mô hình trồng và chế biến dược liệu của Công ty CP Dược liệu Pù Mát, Công ty cổ phần dược liệu Mường Lống…). Đã hình thành mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Nhiều sản phẩm sáng tạo được ra đời từ kết quả nghiên cứu ứng dựng khoa học công nghệ tại các doanh nghiệp có năng suất và chất lượng cao…Với sự tham gia của doanh nghiệp, hoạt động khoa học công nghệ ở Nghệ An những năm gần đây trở nên sôi nổi hơn, khiến "độ trễ" và khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng đã được rút ngắn và bước đầu hình thành thị trường khoa học công nghệ.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất của Nghệ An đó chính là doanh nghiệp quy mô nhỏ, nguồn lực yếu, còn nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đến đổi mới sáng tạo và đang thiếu  những doanh nghiệp lớn đóng vai trò dẫn dắt. Và vẫn còn khá nhiều cơ chế chưa được tháo gỡ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, kể cả doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.q

HỒ THỦY (Thực hiện)

 

Hoàng Anh

Tubudd là một nền tảng công nghệ, nền tảng số (bao gồm website và ứng dụng trên điện thoại thông minh), nhằm kết nối du khách và bạn bè địa phương trên toàn thế giới thông qua những người bạn bản địa (buddy) biết ngoại ngữ. Qua đó, giúp du khách tránh khỏi những bỡ ngỡ và rào cản về ngôn ngữ khi lần đầu bước chân đến một vùng đất mới.

Tubudd là dự án xuất phát từ đam mê du lịch tự do với những trải nghiệm cá nhân của nhóm du học sinh gốc Việt.

Thành lập từ tháng 7/2017, tại Manchester (Anh). Đồng sáng lập Tubudd là CEO Vũ Thị Thái An (Annie Vũ) - một người con xứ Nghệ với 6 năm kinh nghiệm về ngành PR, Marketing và Sự kiện ở cả Anh và Việt Nam. Annie Vũ không chỉ là người vận hành cỗ máy của Công ty, mà còn là bộ mặt chính đảm nhiệm vai trò kết nối với các đối tác và gọi vốn; Thành viên thứ 2 là COO Anthony Cruickshank - 6 năm kinh nghiệm về du lịch, customer service (phục vụ khách hàng) và sales ở Anh. Hiện tại Anthony đang phụ trách mảng policy (chính sách), sales và customer   service; Và CTO Ethan Đặng - 8 năm kinh nghiệm về nền tảng thương mại điện tử ở Hàn, Singapore và Việt Nam. Hiện tại, Ethan Đặng là nhà phát triển công nghệ chính của công ty.

Xuất phát từ thực tiễn bất cập trong việc đi du lịch tour như chi phí cao, bị gò bó về hành trình, không thỏa mãn được sở thích khám phá của cá nhân, tập thể; Tubudd ra đời với mong muốn xây dựng một nền tảng du lịch kết nối khách hàng với hướng dẫn viên bản địa, giúp cá nhân hóa chuyến đi theo nhu cầu và đem đến những trải nghiệm đậm chất địa phương.

Được thành lập tại Anh, sau một thời gian nghiên cứu thị trường trong nước, 6 tháng sau Tubudd chuyển về Việt Nam hoạt động. Khi về Việt Nam, Tubudd đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm sự giúp đỡ về pháp luật, tài chính, nhân sự và gọi vốn... Tuy nhiên, bằng sự nỗ lực của đội ngũ đồng sáng lập, đặc biệt CEO Annie Vũ, Tubudd  bằng những kết nối từ bạn bè, tìm đến các tổ chức giúp đỡ start up, đồng thời tham gia vào rất nhiều cuộc thi và dần phát triển đội ngũ làm việc, đứng vững trên thị trường.

Theo Annie Vũ: khởi nghiệp trong lĩnh vực du lịch đang là một cơ hội lớn, khi nhu cầu của người dân ngày càng lớn, tuy nhiên cũng đặt ra thách thức khi sự cạnh tranh lớn, công nghệ phát triển không ngừng, cần phải truyền thông tốt hơn để sản phẩm của mình được nhiều người nước ngoài biết đến. Vì là công ty start up, lợi nhuận chưa quá lớn nhưng có nhiều việc phải làm, một người trong nhóm có khi phải đảm trách nhiều công việc.

Nền tảng Tubudd được vận hành rất đơn giản. Du khách chỉ cần truy cập website www.tubudd.com hoặc tải ứng dụng Tubudd trên App Store và Play Store - điện thoại thông minh và lựa chọn điểm đến, những hướng dẫn viên bản địa với đầy đủ thông tin cá nhân đã ở sẵn trên đó để du khách lựa chọn. "Đặt hàng" một buddy, du khách sẽ có một người bạn đồng hành am hiểu nơi mình sẽ đến trong suốt chuyến đi. Khách hàng cũng có thể liên hệ với hệ thống để được tư vấn trực tiếp. Và bất kể là 1 hay 2 tháng sau, hay ngay lập tức hôm sau lên đường, ở sân bay đã có sẵn một người bạn bản xứ đón tiếp, cùng họ bắt đầu hành trình khám phá của mình. Nền tảng công nghệ du lịch này mang đến cho du khách những trải nghiệm với góc nhìn của người địa phương và có thể đến gần hơn với văn hóa bản địa.

Điểm khác biệt làm nên thương hiệu, chỗ đứng của Tubudd so với các công ty du lịch khác trên toàn thế giới ngoài đội ngũ CEO thông minh, năng động với chiến lược phát triển cụ thể, rõ ràng trên nền tảng công nghệ thì một trong những yếu tố tiên quyết đó là mạng lưới buddy - hướng dẫn viên bản địa thông thạo các ngoại ngữ như Anh, Hàn, Nga, Nhật... Riêng Việt Nam, Tubudd "phủ sóng" 30 tỉnh, thành phố, với gần 300 buddy bản địa. Ngoài ra, Tubudd đã có mặt ở 31 thành phố tại 18 quốc gia trên thế giới. Với gần 500 hướng dẫn viên bản địa (buddy) trên toàn hệ thống. Hiện tại, Tubudd sẽ tập trung phát triển mạng lưới Local buddy đảm bảo khả năng ngôn ngữ và am hiểu văn hóa, lịch sử địa phương. Các Local buddies phải trải qua các vòng tuyển chọn khắt khe, như nhận diện khuôn mặt, kiểm tra ID, thư giới thiệu, trình độ ngoại ngữ, đặc biệt là sự am hiểu về địa phương. Các thông tin này đều được công khai trên website để khách du lịch tìm được người bạn đồng hành phù hợp. Bên cạnh đó, Tubudd tiếp tục quảng bá sản phẩm rộng rãi qua các kênh Facebook, Google, Youtube… Với Tubudd khách du lịch không cần phải đi theo tour đã được lên lịch sẵn cùng với những người khác. Mà hướng dẫn viên bản địa sẽ giúp khách lên kế hoạch cho hành trình hoặc đi theo hành trình, đến những nơi mà khách muốn. Ngoài ra, hướng dẫn viên bản địa còn là người bạn thân thiện với những nhóm khách du lịch đi theo gia đình, là phiên dịch viên cho các sự kiện, hội nghị của các công ty, v.v...

Nhờ những nỗ lực không ngừng, Tubudd hiện tại đang có 2 nhà đầu tư lớn là Vietnam  Silicon Valley ($20,000,00) và nhà đầu tư thiên thần Vũ Tiến Lộc ($15,000,00). Số lượt like trên Fanpage Facebook là hơn 2,6 nghìn người,     Instagram là 1.007 lượt theo dõi. Tại Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia Techfest 2018 diễn ra ở Đà Nẵng - Việt Nam, Tubudd nhận được cùng lúc 3 giải thưởng: Start up được bình chọn nhiều nhất; Top 10 sáng tạo vì cộng đồng; Top 3 giải thưởng Doanh nhân cộng đồng. Sau gần 1 năm hoạt động tại Việt Nam, hiện mỗi tháng, Tubudd đã có hơn 150 lượt booking, chủ yếu từ khách du lịch nước ngoài. Tubudd cũng giành được một số giải thưởng trong nước và quốc tế như top 10 Chương trình hỗ trợ và thúc đẩy các công ty khởi nghiệp Pitch@Palace, top 10 Techfest 2018, Top 30 Pitch@RISE Hong Kong 2018… Dự kiến trong năm 2019-2020, công ty sẽ có sự kiện ra mắt chính thức với sản phẩm (web/app) đầy đủ hơn tiện ích hơn và mở rộng sang các thị trường Hàn Quốc, Nga và Australia…

Theo nhận định của CEO Annie Vũ: Nghệ An có một vị trí địa lý vô cùng thuận lợi khi nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung bộ của Việt Nam và trên tuyến giao thông đường sắt, đường bộ xuyên Việt, có quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh đi qua, có sân bay, cảng biển. Đặc biệt là vùng đất có nguồn tài nguyên tự nhiên phong phú đa dạng bao gồm biển, hải đảo, sông ngòi, rừng, núi, hang động thác nước và nhiều cảnh quan, danh thắng còn giữ được vẻ hoang sơ. Đây chính là những tiềm năng rất lớn cho du lịch để phát triển thành những nơi tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, tắm biển, thể thao, leo núi… Không những thế, người dân Nghệ An rất hiếu khách, thân thiện sẽ là một trong những thế mạnh để thu hút lượng khách du lịch.

Tuy nhiên do chưa biết cách khai thác và tiếp thị đúng cách nên du lịch Nghệ An vẫn còn nhiều hạn chế. Chính vì thế Tubudd cũng đang có kế hoạch nhắm tới thị trường Nghệ An với loại hình du lịch tự túc cho khách du lịch, đặc biệt là người nước ngoài vào Việt Nam. Bằng những thế mạnh của mình là đội ngũ buddy đông đảo thông thạo ngoại ngữ, am hiểu văn hóa bản địa. Trong tương lai, Tubudd sẽ tiếp tục tập trung tuyển dụng thêm nhiều buddy ở khu vực Nghệ An, để thu hút cũng như có thêm nhiều lựa chọn cho khách du lịch. Đồng thời sẽ khám phá thực địa tại những địa điểm hoang sơ ở Nghệ An, sau đó sử dụng các kênh truyền thông của công ty để tiếp cận, thu hút khách du lịch.

Hiện tại, Tubudd đã áp dụng mô hình du lịch kết hợp công nghệ của mình vào những thị trường như Hàn Quốc, Nhật Bản,… và đã đạt được những thành tựu nhất định. Điển hình là tháng 2/2019 vừa qua, Công ty đã được nhà đầu tư Lotte cung cấp 2 văn phòng tại thủ đô Seoul và thành phố Busan. Bằng những tiềm năng, thế mạnh của mình, Tubudd tin rằng mình sẽ thành công và thu hút thêm được nhiều nhà đầu tư nữa cho du lịch Nghệ An, để biến vùng đất tiềm năng này trở thành điểm du lịch hấp dẫn thu hút khách du lịch nước ngoài thực sự chứ không còn chỉ là trên lý thuyết nữa.

 

Nguyễn Quốc Hồng

Nghệ An là vùng đất văn hiến, có lịch sử và truyền thống nhân văn phong phú, sâu sắc với bản sắc riêng. Từ thời phong kiến đến thời hiện đại, Nghệ An là nơi sinh ra và nuôi dưỡng những nhà khoa học, những trí thức uyên bác, họ đã có nhiều đóng góp to lớn trong tiến trình phát triển quê hương, đất nước.

Thực tiễn công cuộc hội nhập phát triển của đất nước ngày càng khẳng định vai trò và tầm quan trọng của đội ngũ trí thức đối với sự phát triển của dân tộc. Nhận thức thấu đáo về vai trò quan trọng của trí thức, Đảng ta đã khẳng định "Trong mọi thời đại, trí thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức. Ngày nay cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mọi quốc gia trong chiến lược phát triển"(1).

Trí thức khoa học xã hội và nhân văn nằm trong cơ cấu của đội ngũ trí thức Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Phát huy truyền thống lịch sử, nhân văn của quê hương, đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn tỉnh nhà đã thể hiện vai trò và những đóng góp to lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhất là trong thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển. Những đóng góp đó tập trung vào các lĩnh vực sau:

Tham gia nghiên cứu, tổ chức thực hiện các chương trình đề án, đề tài khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, góp phần quan trọng cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn cho lãnh đạo tỉnh hoạch định chủ trương chính sách phát triển kinh tế, xã hội các thời kỳ.

Thực hiện sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, đội ngũ trí thức Nghệ An đã cùng với các chuyên gia thuộc các viện, trường Trung ương tập trung vào các chương trình nghiên cứu về lĩnh vực khoa học xã hội nhằm từng bước lý giải, trả lời khách quan, khoa học những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra đối với tỉnh nhà, đó là:

Tiềm năng, thế mạnh thực sự của Nghệ An là gì? Tại sao một tỉnh giàu tiềm năng, nhiều người tài nhưng vẫn mãi là một tỉnh nghèo? Người tài của Nghệ An chỉ thành đạt ở những nơi khác, tỉnh khác mà ít thành đạt trên chính nơi sinh ra và nuôi dưỡng họ? Tại sao Nghệ An là một trong những tỉnh thu hút đầu tư kém, trong khi là tỉnh giàu tiềm năng… Và hàng loạt vấn đề cụ thể khác mà thực tiễn đang đặt ra đối với Đảng bộ và nhân dân Nghệ An.

Bằng các chương trình khoa học xã hội và nhân văn, cụ thể như:  "Kinh tế - xã hội - văn hóa Nghệ An trong tiến trình đổi mới" do Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Duy Quý - Giám đốc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia chủ trì cùng với sự tham gia của 20 nhà quản lý, chuyên gia về kinh tế - xã hội - văn hóa của tỉnh và của Trung tâm thực hiện từ tháng 3 đến tháng 11 năm 1993. Chương trình kết thúc bằng Hội thảo khoa học: Kinh tế - xã hội - văn hóa tỉnh Nghệ An trong tiến trình đổi mới.

Chương trình khoa học kinh tế - xã hội - văn hóa Nghệ An trong tiến trình đổi mới có ý nghĩa to lớn giúp lãnh đạo tỉnh nhận diện một cách khoa học về thực trạng kinh tế, xã hội, văn hóa Nghệ An trong những năm đầu thời kỳ đổi mới, từ đó tìm ra những quy luật nội tại của sự vận động và phát triển của Nghệ An trong kinh tế, xã hội, văn hóa. Đồng thời tìm kiếm giải pháp để đưa Nghệ An thoát ra khỏi tình trạng nghèo và chậm phát triển.

"Chương trình con người Nghệ An trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa" do Giáo sư Lê Bá Hán chủ trì cùng với trên 20 nhà khoa học, nhà quản lý của trường Đại học Vinh và tỉnh Nghệ An thực hiện từ năm 1996 đến năm 2000 bao gồm 6 đề tài. Chương trình đã đánh giá một cách khách quan thực trạng con người Nghệ An qua những năm đổi mới, chỉ ra những truyền thống tốt đẹp cần phải phát huy, những mặt yếu cần khắc phục, những mặt thiếu cần bồi đắp. Từ đó cung cấp luận cứ khoa học, đề xuất kiến nghị, giải pháp để lãnh đạo tỉnh xây dựng chính sách nhằm phát huy tiềm năng vô giá con người Nghệ An trong sự nghiệp phát triển, đồng thời xây dựng một môi trường xã hội, nhân văn lành mạnh, đảm bảo đồng thời tăng trưởng kinh tế lẫn tiến bộ xã hội.

Đề án nghiên cứu khoa học xã hội, tổng kết thực tiễn, xây dựng luận cứ khoa học cho các chủ trương chính sách của cấp ủy và chính quyền nhằm đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Nghệ An giai đoạn 2008 - 2010 và đến năm 2020 triển khai với hai đề tài khoa học lớn: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 do Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng - Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam chủ trì với sự tham gia thực hiện của 15 nhà khoa học, chuyên gia của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và tỉnh Nghệ An. Đề tài đã đi sâu vào tổng kết thực tiễn, làm rõ thực trạng phát triển kinh tế, xã hội của Nghệ An trong gần 30 năm đổi mới. Phân tích nhận diện bối cảnh và điều kiện phát triển của Nghệ An trong giai đoạn tới, từ đó cung cấp luận cứ khoa học để làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế xã hội mang tính đột phá giai đoạn 2015 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

Dự án "Nghệ An toàn chí" do cố Phó giáo sư Ninh Viết Giao chủ trì và 12 nhà khoa học, chuyên gia trong tỉnh tham gia thực hiện. Đây là công trình biên khảo tổng thể, toàn diện về Nghệ An lớn nhất từ trước đến nay, công trình đã hệ thống hóa những trí thức cơ bản về địa lý, lịch sử, văn hóa, con người, phong tục tập quán…. của Nghệ An trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Kết quả từ công trình đã đề xuất chính sách bảo tồn và phát huy những giá trị lịch sử, văn hóa của Nghệ An trong thời kỳ hội nhập và phát triển.

Ngoài các chương trình, đề án và các đề tài khoa học lớn nêu trên, đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn đã và đang triển khai thực hiện nhiều đề tài, dự án khác nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra như: thu hút nguồn nhân lực người Nghệ xây dựng quê hương; chính sách thu hút đầu tư; chiến lược sản phẩm chủ lực trong phát triển kinh tế….

Kết quả nghiên cứu các chương trình, đề án, đề tài khoa học xã hội và nhân văn của đội ngũ trí thức Nghệ An đã cung cấp những luận cứ khoa học, kinh nghiệm thực tiễn cho cấp ủy, chính quyền tỉnh xây dựng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội. Đổi mới tầm nhìn, phương pháp đánh giá khoa học về thực trạng tài nguyên, về điểm xuất phát của tỉnh trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế. Mặt khác trong quá trình nghiên cứu đội ngũ trí thức khoa học xã hội nhân văn tỉnh nhà đã thu hút, quy tụ các trí thức đầu ngành là con em xứ Nghệ và trí thức trong nước nghiên cứu về Nghệ An để cùng giải quyết những nhiệm vụ khoa học và thực tiễn đang đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà.

Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, trí thức khoa học xã hội và nhân văn là lực lượng có nhiệm vụ to lớn trong việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài. Trong mười năm qua Nghệ An luôn đứng trong tốp đầu của cả nước về học sinh giỏi quốc gia, khu vực và quốc tế. Năm học 2014 - 2015 Nghệ An có tới 200 em đạt học sinh giỏi quốc tế, khu vực, quốc gia và đạt điểm cao vào các trường đại học; Năm học 2016 - 2017 có 8 lượt học sinh đạt giải quốc tế, khu vực, 88 em đạt học sinh giỏi quốc gia; Năm học 2017 - 2018 có 110 em đạt học sinh giỏi quốc tế, khu vực và quốc gia.

Kết quả đạt được trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học của xứ Nghệ, đồng thời đặt nền móng cho việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để Nghệ An cùng với cả nước bước vào cuộc cách mạng 4.0.

Trong lĩnh vực tư vấn, phản biện, dự báo khả năng phát triển để xây dựng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. Với tư cách là các chuyên gia, đội ngũ trí thức tỉnh nhà đã có những đóng góp thiết thực giúp lãnh đạo tỉnh hoạch định một số chính sách phù hợp với thực tiễn, khả thi cao.

Tham gia góp ý vào dự thảo văn kiện các kỳ đại hội tỉnh Đảng bộ; Tổ chức các cuộc hội thảo góp ý vào các văn kiện chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế; Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị tỉnh Nghệ An đến năm 2020. Quy hoạch tổng thể phát triển nông lâm, thủy sản Nghệ An, quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Nghệ An đến năm 2020; Đề án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Nghệ An đến năm 2020; Đề án quy hoạch hệ thống di tích trên địa bàn tỉnh Nghệ An, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Góp ý, phản biện tiêu chí cuốn sách "Nghệ An - những con người tiêu biểu"; Dự án phim lịch sử, văn hóa "Đại Huệ nơi địa linh nhân kiệt"... và nhiều đề án quy hoạch khác.

Những kết quả nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn đã góp phần quan trọng trong nhận thức về thực trạng phát triển của tỉnh nhà; định hướng về tầm nhìn chiến lược phát triển trong thời kỳ hội nhập cách mạng công nghiệp 4.0; đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế, xã hội của tỉnh, nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức kinh tế, quản lý xã hội; cung cấp luận cứ khoa học, thực tiễn cho cấp ủy và chính quyền xây dựng chính sách, đề án phát triển kinh tế, xã hội. Những kết quả nghiên cứu phản biện khoa học đã tạo sự kết nối cộng đồng trí thức khoa học xã hội và nhân văn về với Nghệ An, nghiên cứu về Nghệ An và lan tỏa những kết quả ấy trên các vùng miền của đất nước.

Nghệ An đang cùng với cả nước bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, cuộc cách mạng đang phát triển với tốc độ rất nhanh và tác động mạnh mẽ tới mọi lĩnh vực khoa học. Trong sự phát triển ấy khoa học xã hội và nhân văn không thể thiếu được vai trò của mình. Sự phát triển của khoa học công nghệ chắc chắn sẽ nảy sinh nhiều vấn đề xã hội, do vậy khoa học xã hội và nhân văn phải có mặt để cùng xử lý nhằm đạt đến mục đích cuối cùng của mọi cuộc cách mạng khoa học là phục vụ con người. Tuy nhiên để tiếp tục thực hiện tốt chức năng và có những cống hiến cho sự nghiệp phát triển đất nước nói chung, Nghệ An nói riêng đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn cần phải đổi mới mạnh mẽ cả về lựa chọn đề tài và phương pháp tiếp cận mới có thể đứng vững và phát triển trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0. Đây là vấn đề lớn, khó xin được bàn tiếp trong bài viết tiếp theo.

 

Chú thích

(1). BCH Trung ương: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 - BCH TW khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

Hà Thị Vinh Tâm

Dạy học tích hợp là một trong những hoạt động đổi mới giáo dục được Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai trong những năm qua. Trong quá trình dạy học, chúng tôi đã có nhiều tìm tòi, trăn trở và đã thực hiện có hiệu quả ở một số bài học. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin trao đổi cùng đồng nghiệp "Một vài giải pháp dạy học tích hợp văn bản Tựa Trích diễm thi tập gắn liền với việc giáo dục ý thức bảo tồn, phát huy di sản văn hoá địa phương".

Thứ nhất, chúng tôi tích hợp bài Tựa "Trích diễm thi tập" với đơn vị kiến thức Ngữ văn và các môn học liên quan Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân,… Đồng thời, chúng tôi kết hợp dạy văn bản này với nội dung giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy di sản văn hoá địa phương trong phạm vi cụ thể là gắn với loại di sản văn hóa vật thể ở xã Lĩnh Sơn, huyện Anh Sơn (hiệu Yên Xuân) và trong phạm vi rộng hơn của tỉnh Nghệ An với loại di sản văn hóa phi vật thể (dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh). Hơn nữa, các em sẽ có thêm cơ sở để hiểu rõ quy luật phát triển của văn học, củng cố các phương pháp nghiên cứu văn học và cách thức giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn liên quan đến văn hoá tại địa phương.

Thứ hai, dạy tích hợp bài học Tựa "Trích diễm thi tập", chúng tôi tổ chức cho học sinh nhiều hoạt động trải nghiệm thú vị về phương pháp học tập, về phương pháp tìm kiếm, chắt lọc thông tin, trình bày hiểu biết trước giáo viên và tập thể lớp. Các em phải biết vận dụng kiến thức và kỹ năng của môn Tin học, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân,… và trong môn Ngữ văn để tiến hành khám phá, tìm hiểu, soi chiếu những giá trị đặc sắc của văn bản. Ngược lại, thông qua việc tìm hiểu văn bản, các em sẽ hiểu biết và sáng rõ thêm những kiến thức Làm văn, Tiếng Việt và kiến thức các môn học, các chuyên ngành, lĩnh vực khác liên quan. Việc làm này vừa cung cấp cho học sinh nhiều đơn vị kiến thức và rèn luyện được nhiều kỹ năng trong tiết học vừa tạo hứng thú học tập tích cực, tự giác, sáng tạo, chủ động ở các em. Điều ấy cũng đồng nghĩa với việc góp phần nâng cao chất lượng dạy học của giáo viên. Chúng tôi đã yêu cầu các em: đọc sáng tạo văn bản, thảo luận, tìm ra các dự án, hoạt động nhóm trong một tuần để thu thập, chọn lọc, xử lý thông tin và trình bày, thiết kế sản phẩm bằng powerpoint hoặc sơ đồ tư duy trên giấy A0. Sau đó, giáo viên yêu cầu các em thuyết trình trước lớp đồng thời phải biết bảo vệ quan điểm, chính kiến của mình qua phần chất vấn; yêu cầu các em biết tự đánh giá mình, đánh giá các bạn trong nhóm, đánh giá các nhóm khác,… Sau dự án, giáo viên còn yêu cầu học sinh vẽ tranh về di tích lịch sử, hát dân ca, tuyên truyền bằng thơ, văn xuôi, phóng sự, phỏng vấn,…; biên soạn sách giới thiệu về các di sản văn hoá ở địa phương theo năng khiếu, ý tưởng, sở thích của bản thân.

Thứ ba, chúng tôi đã giao sáu dự án với những nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm để định hướng hoạt động cho các em trong thời lượng năm tiết học, đảm bảo dung lượng thời gian mà kế hoạch dạy học nhà trường xây dựng khi dạy riêng lẻ từng bài: Tựa "Trích diễm thi tập" và hệ thống bài Văn nghị luận (bao gồm: Lập dàn ý bài văn nghị luận; Lập luận trong văn nghị luận; Các thao tác nghị luận; Luyện tập viết đoạn văn nghị luận). Nghĩa là khi gộp lại dạy xâu chuỗi theo chủ đề thì chúng tôi vẫn giữ đúng thời lượng như kế hoạch đầu năm nhà trường đã xây dựng.

Thứ tư, về mặt nội dung, trên cơ sở giới thiệu đề tài, định hướng những vấn đề cơ bản cần giải quyết khi thực hiện chủ đề: Dạy học tích hợp văn bản Tựa "Trích diễm thi tập" của Hoàng Đức Lương gắn liền với việc giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy di sản văn hoá địa phương, chúng tôi đã tổ chức cho học sinh thảo luận tìm ra được sáu dự án: Dự án 1: Đọc - hiểu phần Tiểu dẫn của văn bản; Dự án 2: Đọc - hiểu phần giá trị nội dung của văn bản; Dự án 3: Tìm hiểu hệ thống lập luận của văn bản (tích hợp với bài Lập luận trong Văn nghị luận); Dự án 4: Tìm hiểu các thao tác nghị luận của văn bản (tích hợp với bài Các thao tác nghị luận); Dự án 5: Suy nghĩ của anh/chị về trách nhiệm của giới trẻ đối với việc bảo tồn và phát triển dân ca xứ Nghệ (tích hợp với bài Lập dàn ý bài văn nghị luận, với văn hoá, lịch sử, địa lý địa phương và môn Giáo dục công dân); Dự án 6: Suy nghĩ của anh/chị đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử hiệu Yên Xuân - ở xã Lĩnh Sơn - huyện Anh Sơn - tỉnh Nghệ An? (tích hợp với bài Luyện tập viết đoạn văn nghị luận, với văn hoá, lịch sử, địa lý địa phương và môn Giáo dục công dân).

Thứ năm, căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh, tình hình thực tế ở địa phương, trường học, lớp học cụ thể, chúng tôi mạnh dạn đưa ra cách dạy học tích hợp bài học này ở hai đối tượng học sinh khác nhau. Ở lớp 10A1 do có điều kiện về cơ sở vật chất (ở gia đình đều có máy tính và nối mạng internet), giỏi môn Tin học nên hầu hết các giờ dạy sẽ tiến hành ở phòng máy, sản phẩm của học sinh sẽ chủ yếu trình bày trên powerpoint còn ở lớp 10D do hoàn cảnh gia đình các em học sinh còn khó khăn (hầu như gia đình không có máy tính và không nối mạng), kỹ năng Tin học hạn chế hơn, các tiết học chủ yếu diễn ra trên lớp học bình thường, sản phẩm thảo luận nhóm chủ yếu trình bày trên giấy A0. Ở đây, tôi lần lượt tiến hành 5 tiết dạy cụ thể như sau:

Tuần 1 - Tiết 1: Giới thiệu chủ đề - giao dự án. Tiết học này tiến hành 05 bước: Bước 1: Khởi động; Bước 2: Giáo viên cho học sinh cùng thảo luận để xác định các dự án; Bước 3: Thành lập nhóm giao nhiệm vụ cho từng nhóm; Bước 4: Giáo viên chiếu Powerpoint (ở lớp 10 A1) hoặc phát phiếu học tập (ở lớp 10D) để giao nhiệm vụ cho từng nhóm; Bước 5: Giáo viên gợi ý cho học sinh các nguồn tài liệu tham khảo để hoàn thành nhiệm vụ học tập, giải đáp những phân vân, thắc mắc ban đầu của học sinh. Qua tiết học này bước đầu, các lớp đã xây dựng được kế hoạch và phân công nhiệm vụ cụ thể, phù hợp. Sau tiết học, các nhóm học sinh làm việc ở nhà trong khoảng thời gian từ tuần 1 đến tuần 2 trước khi tổ chức báo cáo ở lớp. Khi đã hoàn thành sản phẩm của nhóm mình, các nhóm chuyển đến giáo viên và toàn bộ thành viên trong lớp xem trước để chuẩn bị các vấn đề cần trao đổi qua email cá nhân hoặc trực tiếp trên lớp.

Tuần 2: Tiết thứ 2, 3, 4 - Báo cáo sản phẩm và tiết thứ 5 - Đánh giá sản phẩm, nộp bài thu hoạch và rút kinh nghiệm. Ở tiết 2,3,4: Giáo viên giới thiệu đại diện các nhóm học sinh tiến hành báo cáo sản phẩm của nhóm. Tiếp đó, các nhóm nhận xét đánh giá, bổ sung lẫn nhau, giáo viên giúp học sinh hoàn thiện đơn vị kiến thức cần đạt của mỗi tiết học. Ở tiết 5, học sinh và giáo viên nhận xét, đánh giá cho điểm sản phẩm các nhóm và kết luận chung về ưu điểm, hạn chế của các vấn đề đã được trình bày, thảo luận.

Sau 05 tiết học này, giáo viên không chỉ giúp học sinh nắm vững bài học mà còn góp phần thay đổi về mặt nhận thức, bồi dưỡng lòng yêu nước, ý thức tự cường tự tôn dân tộc để từ đó biến thành hành động cụ thể và hữu ích đóng góp cho quê hương, đất nước. Đặc biệt, giải pháp này góp phần tiết kiệm thời gian, rèn luyện được tư duy khái quát, tổng hợp, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực trình bày, tạo được không khí nhẹ nhàng, sôi nổi, gây được hứng thú cho học sinh trong giờ học. Không chỉ thế, học sinh còn rút ra được cách tự học dựa trên tư duy liên hệ đa chiều các đơn vị kiến thức trong môn Ngữ văn (cụ thể ở đây là văn bản văn học và văn Nghị luận), giữa môn Ngữ văn với tất cả các môn học khác, giữa những kiến thức lý thuyết hàn lâm với thực tiễn đời sống văn hoá, xã hội địa phương, có sự kết hợp giữa việc nâng cao kiến thức với rèn luyện kỹ năng, bồi dưỡng tâm hồn, nâng cao ý thức trách nhiệm với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá của quê hương, đất nước. Học sinh phát triển và hoàn thiện được các năng lực sau: Phát triển năng lực tự học, hợp tác, sử dụng ngôn ngữ, năng lực đánh giá, trải nghiệm hoạt động sáng tạo. Qua dạy học tích hợp văn bản Tựa "Trích diễm thi tập", học sinh phát triển các kĩ năng tự nhận thức bản thân, giao tiếp, hợp tác,... Đề tài đã được triển khai, kiểm nghiệm trong năm học 2015 - 2016 và 2016 - 2017 cho học sinh lớp 10 tại trường THPT Anh Sơn 2. Đề tài này còn có khả năng áp dụng trong phạm vi rộng và dễ thực thi cho các nhà trường THPT trên địa bàn huyện Anh Sơn và nhiều trường phổ thông khác nói chung. Khi đề tài này được triển khai sâu rộng, được áp dụng vào thực tiễn, nó sẽ tạo nên nhiều hiệu ứng tốt đẹp trong việc quảng bá về di sản văn hoá cũng như góp phần khai thác tiềm năng du lịch của mỗi địa phương nói riêng và của cả đất nước nói chung.

Tóm lại, thành công bước đầu trên là cơ sở để chúng ta mạnh dạn tiến hành phương pháp dạy học này trong nhiều bài học, nhiều nội dung dạy học bộ môn. Điều này hoàn toàn đúng với tinh thần của Nghị quyết số 29 của BCHTW Đảng khóa XI về "đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo": "Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học (…). Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại…".

 

Lê Thị Hiếu

Nghiên cứu về biến đổi văn hóa, nhân tố mà chúng tôi xác định có vai trò quan trọng nhất chính là quá trình hiện đại hóa. Trong lý thuyết hiện đại hóa và hậu hiện đại hóa do Ronald Inglehart đề xướng năm 2004[5], ông đưa ra các số liệu có được bởi hai cuộc điều tra giá trị (năm 1981 và 1990) được tiến hành tại 43 nước trên thế giới. Từ các số liệu của các quốc gia đã phát triển, đang phát triển và các quốc gia đang có mô hình kinh tế chuyển đổi, R.Inglehart đã chỉ ra xu hướng biến đổi tất yếu từ giai đoạn hiện đại tới hậu hiện đại; sự biến đổi chính trị, kinh tế, văn hóa; sự biến đổi các giá trị xã hội trong quá trình hiện đại hóa; tác động của biến đổi kinh tế tới biến đổi chính trị, xã hội văn hóa và tác động của văn hóa tới các chiều kích biến đổi.

Không nằm ngoài quy luật đó, Cửa Lò là một trường hợp điển hình của đô thị ven biển đang trong quá trình phát triển. Dưới tác động của nền kinh tế thị trường, quá trình chuyển đổi nghề nghiệp đã làm xuất hiện những biến đổi trong văn hóa gia đình.

1. Nghề nghiệp truyền thống và văn hóa gia đình qua đặc điểm nghề nghiệp

1.1. Ngư nghiệp truyền thống của cư dân vùng biển Cửa Lò

Cư dân sinh sống trên địa bàn thị xã vốn xuất phát từ các làng chài nhỏ ven biển như: làng Vạn Lộc (Nghi Tân), làng Mai Bảng, Yên Lương (Nghi Thủy), làng Hiếu (Nghi Hải). Ở các làng chài đại bộ phận đàn ông làm nghề đánh cá biển, phụ nữ lấy việc buôn thúng, bán mẹt  làm sinh kế.

Những hoạt động mưu sinh truyền thống trước đây của cư dân Cửa Lò được phản ánh qua hoạt động buôn bán tại chợ Lò. Chợ Lò có lịch sử lâu đời, xưa kia được đặt ở sân đình Vạn Lộc, có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt, sản xuất của cư dân vùng Cửa Lò. Theo sách Đại Nam nhất thống chí thì đến đầu thế kỷ XIX, chợ Lò thuộc một trong 58 chợ phát triển của Nghệ An. Hoạt động của chợ Lò lúc bấy giờ mang tính tự cung, tự cấp, những cư dân trong vùng đi chợ để bán những thứ do mình làm ra và mua những sản phẩm thiết yếu cho cuộc sống hàng ngày. Chợ Lò đa dạng các mặt hàng thủy, hải sản, nông sản, vật dụng phục vụ nghề đi biển. Mặt hàng nhiều nhất là: Cá, tôm, cua, mực, ghẹ, ruốc, nước, mắm... từ cư dân địa phương đánh bắt ngoài biển đem về bán. Theo các cụ cao niên cho biết: Ngày trước chợ Lò rất sầm uất, cư dân trong vùng tập trung đông về đây buôn bán trao đổi sản phẩm đánh bắt được từ biển. Cá bày bán đa dạng với đủ loại nhỏ to từ những mớ bâu, rẹt rẹt, đến những loại cá to như: Nhám, chim, thu, bạc má, nục... Như vậy, bên cạnh nghề đi biển, cư dân Cửa Lò xưa còn tham gia hoạt động buôn bán, trao đổi sản phẩm từ biển.

1.2. Văn hóa gia đình truyền thống qua đặc điểm nghề nghiệp

Truyền thống cha truyền con nối là một nét đặc trưng trong văn hóa nghề nghiệp của cư dân vùng biển. Nghề đi biển đòi hỏi sức khỏe, sự kiên cường và cả lòng dũng cảm để chống chọi trước thiên nhiên khắc nghiệt, vì vậy nó phù hợp với nam giới hơn phụ nữ. Từ khi còn nhỏ, những người con trai trong gia đình đã được người bố truyền kinh nghiệm đánh cá trên biển. Nghề duy nhất mà họ chọn đó là đi biển và từ nhỏ đến lớn họ đều xác định rằng, đi biển là nghề chính để mang thu nhập và nuôi sống cho gia đình. Điều đó trở thành nguyên tắc bắt buộc trong mỗi gia đình cư dân vùng biển.

Đặc điểm nghề nghiệp truyền thống đã chi phối đến mối quan hệ trong gia đình cư dân vùng biển. Vai trò của người bố trong gia đình luôn được xem trọng, họ vừa là người trụ cột trong gia đình, vừa là người thầy truyền ngọn lửa đam mê nghề nghiệp cho con. Con cái luôn phải phục tùng và răm rắp nghe lời bố, bố định hướng như thế nào thì theo như thế và hầu như không có thêm sự lựa chọn nào khác. Vị trí người bố trong gia đình giữ vai trò số một, quyết định tương lai con cái.

Việc phân công lao động trong các gia đình cư dân hoàn toàn mang tính tự nhiên, gắn với đặc thù công việc. Công việc chính hàng ngày của người đàn ông trong gia đình là đi biển. Phụ nữ ở nhà lo cơm nước, làm thêm nghề phụ như chế biến và tiêu thụ những sản phẩm đánh bắt được tại các chợ quê.

2. Biến đổi văn hóa trong gia đình từ tác động của chuyển đổi nghề nghiệp

2.1. Chuyển đổi nghề nghiệp của cư dân vùng biển Cửa Lò

Trước bối cảnh phát triển của nền kinh tế xuất hiện nhiều ngành nghề phù hợp với năng lực của cư dân vùng biển và đem lại thu nhập tốt hơn nghề truyền thống. Xu hướng chuyển đổi nghề nghiệp được các thành viên trong gia đình quan tâm nhiều hơn.

Qua khảo sát 70 hộ dân phường Nghi Thủy, Nghi Tân, Nghi Hải về việc định hướng của bố mẹ cho con theo nghề truyền thống, có 58/70 ý kiến trả lời là không. Đa số ý kiến cho rằng: Đi biển là nghề truyền thống nhưng nghề này vất vả, thường xuyên phải đối diện với nguy hiểm, mặt khác đây là nghề thu nhập không cao nên cũng không muốn cho con theo.

Xuất phát từ thực tiễn đó, nhiều gia đình chuyển hướng sang kinh doanh dịch vụ, dịch vụ du lịch và cho con đi xuất khẩu lao động, bởi những nghề này đem lại thu nhập tốt hơn, phù hợp với nhu cầu phát triển của địa phương.

Qua khảo sát tại ba phường Nghi Tân, Nghi Thủy, Nghi Hải cho thấy kinh tế biển truyền thống đang có xu hướng giảm dần thay vào đó là một số ngành khác. Sự chênh lệch trong cơ cấu lao động một phần nguyên nhân là do sự đa dạng về ngành nghề tại Cửa Lò hiện nay.

Bảng 1. Thống kê nghề nghiệp của thanh niên tại phường Nghi Tân, Nghi Thủy, Nghi Hải thị xã Cửa Lò

 

Phường

Đi biển

Dịch vụ
du lịch

Xuất khẩu lao động

Nghề khác

Nghi Tân

15%

45%

25%

15%

Nghi Thủy

25%

44, 4%

25,6%

5%

Nghi Hải

20%

42%

26%

12%

(Nguồn: Khảo sát 5/2016)

Những người theo nghề dịch vụ du lịch đa phần có vốn ổn định, sẵn sàng đầu tư hàng trăm triệu để có thu nhập cao. Theo những người dân trên địa bàn cho biết nghề này làm một vụ có thể trang trải cho cả năm. Bộ phận này đầu tư mua sắm xe mô tô điện, mở ốt kinh doanh. Số khác theo hướng xuất khẩu lao động, xu hướng này được người dân lựa chọn nhiều, đặc biệt là từ khi có các công ty xuất khẩu lao động sang Nhật, sang Hàn và các nước châu Âu về tư vấn tuyển lao động đi nước ngoài.

Thực tiễn đó đã tạo điều kiện để những người con trong gia đình có thêm cơ hội để lựa chọn nghề nghiệp. Từ đó kéo theo những thay đổi về nguyên tắc trong định hướng nghề nghiệp do gia đình đặt ra. Bố mẹ sẽ không phải là người quyết định nghề nghiệp và môi trường làm việc cho con, mà con cái tự tìm cho mình hướng đi riêng phù hợp với xu thế thời đại và năng lực bản thân.

Bàn về vấn đề này trong bài viết "Lý thuyết về phân hóa xã hội: Từ Emile Durkheim đến Peter Blau", Lê Ngọc Hùng đã dẫn ý của Homans nói về hiện tượng biến đổi nghề nghiệp truyền thống như sau: Hành vi lựa chọn nghề nghiệp của con người đều có tính quy luật, tức là chịu sự chi phối có tính tất yếu bên trong của mỗi thành phần và mỗi kiểu loại nghề nghiệp khác nhau. Tuy nhiên, với sự tương tác của con người trong các quan hệ xã hội, nếu hoạt động nghề nghiệp bị suy giảm giá trị, gây thiệt thòi cho người lao động và không đem lại lợi ích tối ưu cho họ thì chủ thể có xu hướng thay đổi nghề nghiệp. Đây là một hành vi lựa chọn hiện thực trên thực tế chứ không phải trên ý niệm, vì bản chất của con người luôn có xu hướng nhân bội giá trị kết quả hành động của mình thông qua hoạt động nghề nghiệp[4].

Như vậy, việc lựa chọn nghề nghiệp của những người con trong gia đình cư dân vùng biển Cửa Lò phù hợp với quy luật phát triển và nhu cầu thực tiễn của mỗi cá nhân.

2.2. Biến đổi văn hóa trong gia đình hiện đại qua tác động nghề nghiệp

Nghề nghiệp thay đổi, dẫn đến những thay đổi về trao đổi thông tin giữa các thành viên trong gia đình. Việc truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm nghề nghiệp không chỉ dừng lại một chiều như trước mà có sự trao đổi theo hai chiều: từ bố mẹ đến con cái và từ con cái đến bố mẹ.

Con cái có cơ hội để tiếp xúc với nhiều loại thông tin, sách báo, mạng internet, được tiếp nhận được nhiều kiến thức mới, đặc biệt là về kỹ thuật sản xuất hiện đại làm thay đổi tư duy truyền thống. Giờ đây không chỉ con cái học hỏi bố mẹ mà bố mẹ phải học hỏi ở con cái mình những điều tiên tiến nhất. Chị Hào (56 tuổi, phường Nghi Hải) chia sẻ: Mô hình kinh doanh hải sản của gia đình chúng tôi chủ yếu do con trai đầu thiết kế và thực hiện. Phương pháp tiếp cận thị trường và phân bổ sản phẩm của con trai rất tốt, đem lại hiệu quả cho kinh doanh. Bố, mẹ khi tham gia cùng đều phải học hỏi rất nhiều từ con, vì cách làm kinh tế hiện nay khác với kinh tế truyền thống. Nếu bố,mẹ không học hỏi thì không thể làm được (Tư liệu khảo sát tháng 5/2016). Điều đó tạo sự bình đẳng và hài hòa trong mối quan hệ gia đình hiện đại.

Một số nguyên tắc trong gia đình truyền thống biến đổi theo nhu cầu phát triển, song những kiến thức truyền dạy con cái trong gia đình truyền thống vẫn luôn được sử dụng trong cuộc sống thường ngày. Trong môi trường mới, bố, mẹ là người trực tiếp trao truyền cho con cái những giá trị về phẩm chất nghề nghiệp. Đó là phẩm chất yêu lao động, cần cù sáng tạo, không ngại khổ, ngại khó thức khuya dậy sớm, kiên cường vượt qua mọi khó khăn, trong cuộc sống hằng ngày. Đức tính này, được kết hợp với sự năng động sáng tạo trong kinh doanh, đã đem đến cho những người con có được thành công trong cuộc sống. Từ những kiến thức đó, giá trị cuộc sống được nâng lên và tình cảm trong mỗi thành viên gia đình trở nên bền vững hơn. Anh Bình (35 tuổi, phường Nghi Tân) chia sẻ: Anh, em tôi được bố rèn luyện cho tính siêng năng cần cù. Khi còn nhỏ chúng tôi vừa phải đi học vừa phải phụ giúp bố mẹ làm kinh tế, để có thêm nguồn thu nhập cho gia đình. Hằng ngày vào mỗi buổi sáng tinh mơ đã phải ra biển chở cá về chế biến nước mắm và phân phối cho khách ở các chợ quê. Những công việc đó đòi hỏi sự cần mẫn, chịu thương, chịu khó và sự khéo léo khi tiếp xúc với khách hàng. Đức tính đó chúng tôi được bố,mẹ truyền dạy hàng ngày thông qua hoạt động kinh tế gia đình. Và nay khi đã trưởng thành có sự nghiệp riêng thì những đức tính đó vẫn là chìa khóa quan trọng giúp tôi vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Năm 2010, tôi mở cửa hàng kinh doanh gặp rất nhiều khó khăn: khó khăn về vốn, thị trường tiêu thụ gần như không có lối ra. Nhưng với bản tính kiên trì, lòng quyết tâm được bố, mẹ tôi luyện từ nhỏ, tôi đã tự mày mò tìm cho mình những hướng đi thích hợp từng bước khắc phục khó khăn. Đến hôm nay tôi đã mở được 2 cửa hàng kinh doanh hải sản phục vụ cho khách du lịch và các vùng lân cận, bình quân thu nhập của gia đình từ 70 - 80 triệu đồng/tháng (Tác giả phỏng vấn 4/2016).

Chia sẻ đó của anh Bình cũng chứng minh một thực tế rằng dù thời đại nào bố, mẹ vẫn luôn là người truyền tải kinh nghiệm, những giá trị văn hóa nghề nghiệp cho con cái. Chất lượng công việc ngoài cần đến kỹ năng, trình độ tay nghề, còn phải có nhận thức chuẩn về giá trị lao động và lòng yêu nghề. Như vậy, gia đình còn là môi trường đào tạo nên nhận thức và hành vi nghề nghiệp có văn hóa cho các thành viên gia đình.

Khi nghề nghiệp của các thành viên gia đình thay đổi theo hướng mở được tự do lựa chọn, song các giá trị trong văn hóa gia đình truyền thống không thay đổi. Cụ thể thái độ ứng xử giữa con cái với bố mẹ vẫn là thái độ tôn trọng biết nhường nhịn, trên dưới rõ ràng. Người bố, người mẹ trong gia đình vẫn luôn làm tròn trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục con cái trưởng thành. Ngược lại con cái không thể quên công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Chữ hiếu luôn được đề cao trong quan hệ ứng xử của mỗi gia đình, dù ở đâu làm gì con cái phải luôn có hiếu với cha mẹ, chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ lúc về già, lúc ốm đau bệnh tật… Điều đó trở thành nguyên tắc bền vững trong ứng xử văn hóa của cư dân vùng biển Cửa Lò. Đó chính là những giá trị văn hóa truyền thống hoàn toàn không mất đi trong bối cảnh kinh tế, xã hội có nhiều đổi thay.

3. Kết luận

Như vậy, từ nghiên cứu về biến đổi văn hóa trong gia đình của cư dân vùng biển Cửa Lò dưới tác động của nghề nghiệp có thể thấy: Những thay đổi trong các mối quan hệ gia đình chịu sự chi phối của quá trình phát triển kinh tế và thuận theo quy luật phát triển. Những giá trị trong gia đình truyền thống vẫn là yếu tố quan trọng để nuôi dưỡng văn hóa gia đình hiện đại. Giữa lúc kinh tế có nhiều thay đổi thì mối quan hệ gia đình vẫn bền chặt và đó là một trong những biểu hiện của biến đổi văn hóa của cư dân vùng biển Cửa Lò. Văn hóa biến đổi theo hình thức bên ngoài còn cấu trúc bên trong thì nó vẫn chưa có sự thay đổi. Đây là nhân tố quan trọng đảm bảo việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa của cư dân vùng biển Cửa Lò nói riêng và cư dân vùng biển xứ Nghệ nói chung.

 

Tài liệu tham khảo

(1). Nguyễn Nhã Bản (1999), Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh, NXB Nghệ An.

(2). Mai Ngọc Chừ (2008), "Văn hóa biển miền Trung trong mối quan hệ với văn hóa biển Đông Nam Á", in trong Văn hóa biển miền Trung và Văn hóa biển Tây Nam bộ, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội.

(3). Lê Hải Đăng, "Quan hệ gia đình, dòng họ và hoạt động đi biển của cư dân thủy điện ở Quảng Ninh", Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội số 8 (93) năm 2015.

(4). Đỗ Huy (2013), Văn hoá Việt Nam trên con đường giải phóng đổi mới, hội nhập và phát triển, Nxb. Thông tin Truyền thông, Hà Nội.

(5). Ronald Inglehart, Hiện đại hóa và Hậu hiện đại hóa, Nguyễn Thị Phương Mai, Nguyễn Chí Tình, Nguyễn Mạnh Trường, Vũ Thị Minh Chi dịch, NXB Chính trị Quốc gia, 2008, Hà Nội.

 

Hồ Thị Hiền - Nguyễn Thị Lan Anh

1. Đặt vấn đề

Nghệ An có đường bờ biển kéo dài 82 km với nhiều bãi tắm đẹp phục vụ cho phát triển du lịch, trong đó Cửa Lò là một trong những bãi biển đẹp nhất trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung. Tuy nhiên, du lịch biển thị Cửa Lò chưa thực sự khai thác hết tiềm năng của mình, đồng thời cùng với sự phát triển "nóng" về du lịch của vùng ven biển Cửa cũng đang đứng trước những thách thức không bền vững như: vùng ven bờ biển đang bị báo động về mức độ ô nhiễm nguồn nước, hay nguy suy kiệt nguồn tài nguyên nước ngọt,... nếu không được kiểm soát. Trước những vấn đề đó, thị xã Cửa Lò phải có định hướng phát triển du lịch biển theo hướng bền vững.

2. Thực trạng phát triển du lịch biển tại thị xã Cửa Lò

2.1. Thực trạng phát triển du lịch biển thị xã Cửa Lò

2.1.1. Công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch 

Công tác quy hoạch phát triển du lịch biển tại thị xã Cửa Lò nói riêng, quy hoạch tỉnh Nghệ An nói chung hiện đang rất được quan tâm. Ngay từ năm 2009, UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định số 2737/QĐ-UBND về quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Nghệ An đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Trên quy hoạch của tỉnh Nghệ An, quy hoạch phát triển du lịch thị xã Cửa Lò đang được UBND tỉnh Nghệ An xem xét phê duyệt.

Theo quy hoạch này du lịch biển tại thị xã Cửa Lò hiện đang tập trung xây dựng đại lộ Vinh - Cửa Lò, khu vui chơi giải trí ven biển tại Cửa Hội - Song Ngư Sơn và xây dựng cụm cảng quốc tế Cửa Lò có đủ khả năng đón các tàu du lịch quốc tế tải trọng lớn, tiếp nhận thêm khách du lịch ngoại quốc về với Cửa Lò, đưa số lượng khách lưu trú tại đây tăng mạnh. Cùng với đó, các dịch vụ du lịch biển Cửa Lò và các hình thức kinh doanh phục vụ nghỉ dưỡng như biệt thự, sân golf, công viên giải trí,… có nhiều cơ hội tiếp cận khách hàng cao cấp, mang lại nguồn doanh thu lớn.

Để thực hiện các quy hoạch và thu hút các nhà đầu tư, tỉnh Nghệ An đã ban nhiều chính sách ưu đãi như: Chính sách về đất đai, chính sách thuế… và đơn giản hóa các thủ tục hành chính tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư...

2.1.2. Công tác xúc tiến quảng bá phát triển du lịch

Trong thời gian qua tỉnh Nghệ An và thị xã Cửa Lò đã quan tâm đến việc xúc tiến, quảng bá đưa du lịch biển Cửa Lò đến với du khách trong và ngoài nước. Công tác tuyên truyền, quảng bá được tổ chức tốt cả chiều rộng và chiều sâu; thu hút được sự quan tâm của các cơ quan thông tấn báo chí; ký hợp đồng quảng bá với nhiều báo đài lớn như: VTV1, VOV,... Đến nay có 150 bài viết chất lượng quảng bá Cửa Lò; tổ chức gặp mặt 500 nhà báo toàn quốc và ký kết phát triển du lịch với các lữ hành chọn Cửa Lò là điểm đến. Tuy nhiên công tác tuyên truyền, quảng bá hoạt động du lịch trên các đài trung ương, các tỉnh bạn thời lượng chưa nhiều, nội dung cần tập trung quảng bá chất lượng chưa cao, chưa có nhiều sự kiện lớn, có sức lan tỏa để thu hút khách du lịch.

Tổ chức sôi động các hoạt động phục vụ du lịch: Chương trình Lễ hội khai mạc năm du lịch với màn pháo hoa được nhân dân và du khách đánh giá cao; Hội chợ du lịch thương mại; Hội thi Tiếng hát làng Sen - dân ca,… và nhiều chương trình để lại ấn tượng tốt trong lòng nhân dân và du khách.

2.1.3. Công tác phát triển hạ tầng dịch vụ du lịch và nguồn lực

* Cơ sở hạ tầng

Bảng 1. Hiện trạng cơ sở lưu trú của thị xã Cửa Lò giai đoạn 2014 - 2018

 

Hạng mục

2014

2015

2016

2017

2018

Số CSLT

265

273

275

293

296

Số phòng

7496

7974

7988

8954

9354

 

(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo hoạt động du lịch thị xã Cửa Lò)

Bảng 1 cho thấy những năm gần đây số lượng khách sạn và nhà nghỉ tăng nhanh về số lượng và chất lượng, quy mô và phương thức hoạt động. Đến cuối năm 2018, thị xã đã có 296 cơ sở lưu trú phục vụ kinh doanh du lịch với 9.354 phòng và có khả năng phục vụ  24.000  lượt khách lưu trú/ ngày đêm. Về chất lượng cơ sở lưu trú, thị xã có 53 cơ sở lưu trú 1 - 5 sao đáp ứng hoạt động và tổ chức được các sự kiện mang tầm quốc tế.

Hoạt động lữ hành và vận chuyển khách du lịch được liên kết chặt chẽ. Năm 2018 phối hợp Trung tâm XTDL tỉnh, các đơn vị lữ hành để kết nối, tiếp cận thị trường tiềm năng khách Trung Quốc; có 52 đơn vị lữ hành kết nối 1.300 đoàn khách về lưu trú tại Cửa Lò. Ngoài việc kết nối với hệ thống trung chuyển của sân bay, bến xe, nhà ga, trên địa bàn có 9 công ty tham gia vận chuyển phục vụ thường xuyên, an toàn, đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân và du khách, tiêu biểu như: Công ty Du lịch Văn Minh, Phúc Lợi, ...; 120 khách sạn có dịch vụ xe phục vụ đón, đưa du khách tham quan; 6 hãng taxi với 300 xe đáp ứng nhu cầu vận chuyển du khách.

* Nguồn nhân lực

Bảng 2. Số lao động trong ngành du lịch tại thị xã Cửa Lò.  

Đơn vị: Người

 

Năm

2014

2015

2016

2017

2018

Số lao động

7.300

8.200

8.800

10.000

10.350

 

(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo hoạt động du lịch thị xã Cửa Lò)

Số liệu thống kê (2014 - 2018) cho thấy người lao động trong ngành du lịch Cửa Lò tăng đều qua các năm. Năm 2014 là 7.300 người, sau bốn năm tăng lên 10.350 người. Nguồn nhân lực du lịch trên địa bàn trẻ, năng động trong đó 95% được tập huấn văn hóa giao tiếp ứng xử phục vụ du lịch. Dù đã được tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhưng nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch còn hạn chế, thiếu đội ngũ lao động tay nghề cao, chất lượng phục vụ chưa đồng đều và tính chuyên nghiệp chưa cao.

2.2. Các kết quả phát triển du lịch biển thị xã Cửa Lò

2.2.1. Lượng khách du lịch đến thị xã Cửa Lò

Bảng 3Lượng khách du lịch đến thị xã Cửa Lò giai đoạn 2014 - 2018                                                                               

Đơn vị tính: lượt người

 

Năm

Tổng số khách du lịch

Khách quốc tế

Khách nội địa

Lượt khách

Tốc độ tăng trưởng (%)

Lượt khách

Tốc độ tăng trưởng (%)

Lượt khách

Tốc độ tăng trưởng (%)

2014

2.250.000

6,13

5.500

1,85

2.244.500

6,14

2015

2.452.000

8,98

5.700

3,63

2.446.300

8,9

2016

1.652.000

-32,63

5.000

-12,2

1.647.000

-32,7

2017

2.470.000

49,52

5.500

10

2.464.500

49,63

2018

2.798.000

13,23

6.953

29,06

2.791.047

13,25

(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo hoạt động du lịch thị xã Cửa Lò)

Lượng khách du lịch đến thị xã Cửa Lò tăng (cả nội địa và quốc tế) trong giai đoạn  năm 2014 - 2018, tốc độ tăng trưởng trung bình 9,05%. Cá biệt năm 2016 do sự cố môi trường biển Hà Tĩnh đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động du lịch của thị xã, lượng khách du lịch giảm 32,63%. Tuy nhiên nhờ có sự chỉ đạo kịp thời của UBND thị xã Cửa Lò về việc đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, quảng bá, đẩy mạnh công tác quy hoạch và chỉnh trang đô thị, thu hút được một số dự án lớn đầu tư vào địa bàn. Đồng thời thị xã đã tập trung xử lý kịp thời sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung trên địa bàn, tạo được niềm tin cho du khách nên lượng khách du lịch đã tăng nhanh trong năm 2017 là 49,52%.

Khách du lịch quốc tế đến thị xã Cửa Lò chưa đáng kể, bình quân mỗi năm Cửa Lò đón từ 5.000 - 6.000 lượt khách nước ngoài, trong đó chủ yếu là khách Lào, Thái Lan và bắt đầu xuất hiện một số đoàn khách du lịch từ Trung Quốc. Năm 2018 Cửa Lò đã triển khai nhiều giải pháp để duy trì và tiếp tục gia tăng lượng khách quốc tế này như tham gia các hoạt động xúc tiến tại 4 thành phố lớn ở Trung Quốc, làm việc và mời các doanh nghiệp đối tác và tập đoàn lớn đến khảo sát, xây dựng thêm nhiều cơ sở lưu trú để tăng lượng phòng cho mùa du lịch.

2.2.2. Doanh thu từ hoạt động du lịch tại thị xã Cửa Lò

Bảng 4. Doanh thu từ hoạt động du lịch tại thị xã Cửa Lò

Đơn vị: Tỷ đồng

 

Năm

2014

2015

2016

2017

2018

Tổng doanh thu

1.730

2.260

1.420

2.280

2.851

 

 

(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo hoạt động du lịch thị xã Cửa Lò)

Số lượng khách du lịch ngày càng tăng đã tạo điều kiện cho các tác nhân tham gia kinh doanh dịch vụ du lịch nâng cao kết quả kinh doanh của mình. Do vậy mà doanh thu từ hoạt động du lịch cũng tăng qua các năm, chỉ có năm 2016 doanh thu bị giảm do tác động của sự cố môi trường biển miền Trung.

2.3. Đánh giá tính bền vững phát triển du lịch biển tại thị xã Cửa Lò

2.3.1. Bền vững về mặt môi trường

Ô nhiễm đang là vấn đề đáng lo ngại ở vùng biển Cửa Lò

Môi trường của vùng ven biển Cửa Lò đang có những báo động về ô nhiễm. Việc tăng áp lực về chất thải sinh hoạt, đặc biệt ở các bãi tắm, điểm du lịch, đã góp phần làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường tại Cửa Lò. Lượng chất thải rắn do các đơn vị kinh doanh du lịch, các tàu thuyền, dân cư ven biển và khách du lịch chưa thực sự có ý thức trong việc xử lý chất thải đã để lại tại các bãi tắm Nghi Hương, Lan Châu và các điểm du lịch: chùa Song Ngư, đền Vạn Lộc, hay cảnh rác "tấn công" trên các con đường như Mai Thúc Loan, Nguyễn Sinh Cung, Bình Minh…

Mặt khác, tại biển Cửa Lò còn có hiện tượng chất thải lỏng từ các hoạt động du lịch, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và nước thải sinh hoạt của người dân địa phương không được thu gom và xử lý, mà thường bị đổ thẳng ra biển ven bờ dẫn đến việc ô nhiễm môi trường. Như vậy, cùng với sự gia tăng khách du lịch, áp lực về lượng chất thải từ hoạt động du lịch ngày một tăng nhanh, đặc biệt vào mùa du lịch, hoặc thời điểm tổ chức lễ hội. Đây được xem là nguyên nhân gây ô nhiễm quan trọng từ hoạt động du lịch đến môi trường.

Nguy cơ suy kiệt và ô nhiễm tài nguyên nước ngọt

Tại Cửa Lò, cùng với nhu cầu phát triển kinh tế nhanh đã làm cho môi trường nước ngọt đang bị ô nhiễm ngày càng trầm trọng hơn, mà các nguyên nhân chính được xác định như: áp lực của sự gia tăng dân số quá nhanh, nhu cầu nước cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp và các dịch vụ phục vụ du lịch tăng nhanh.

Cùng với việc tăng số lượng khách, nhu cầu nước cho sinh hoạt của khách du lịch tăng nhanh. Điều này sẽ góp phần làm suy giảm trữ lượng và tăng khả năng ô nhiễm các nguồn nước ngầm, đặc biệt ở khu vực ven biển Cửa Lò do phải tăng công suất khai thác để đáp ứng nhu cầu khách du lịch. Vấn đề này sẽ càng trở nên nghiêm trọng đặc biệt vào mùa du lịch là khoảng thời gian nóng nhất trong năm.

Việc khai thác nước ngầm trữ lượng nước ngọt tại Cửa Lò cũng đang bị lạm dụng đến mức tài nguyên nước ngọt đang dần bị cạn kiệt, đặc biệt là việc sử dụng lãng phí nguồn nước của các khu công nghiệp, nhà hàng, khách sạn. Trong khi, lượng nước mưa bổ sung lại không kịp bù đắp trữ lượng đã khai thác, dẫn đến hiện tượng nước mặn bắt đầu thẩm thấu sâu vào trong đất liền và dần dần muối hóa các mạch nước ngầm trong đất liền.

Như vậy, với sự phát triển nhanh chóng của lượng khách du lịch hàng năm, đã làm cho môi trường biển đang có nguy cơ phải đối mặt với sự phát triển thiếu tính bền vững dưới góc độ môi trường.

2.3.2. Bền vững về mặt xã hội

Trong những năm phát triển vừa qua, du lịch biển đã có những tác động đáng kể lên phân hệ xã hội - nhân văn. Đặc biệt là đạt được một số kết quả khá quan trọng nhằm phát triển bền vững về mặt văn hóa tại địa phương, cụ thể:

Bảo tồn và phát huy các hoạt động văn hóa địa phương

Vùng ven biển Cửa Lò vẫn giữ được lối sống truyền thống, các lễ hội, phong tục tập quán và ngày càng được phát triển. Các giá trị văn hóa biển truyền thống như lễ hội sông nước đua thuyền và các trò chơi truyền thống như: chọi gà, đánh cờ người, cờ thẻ, đu tiêu, đấu vật, kéo co... được phát huy, song song cùng các di tích văn hóa, lịch sử nổi tiếng ven biển như đền Vạn Lộc, chùa Lô Sơn, chùa Song Ngư, đền Nguyễn Xí đã mang sắc thái biển rất riêng biệt của Cửa Lò, hay các kiểu văn hóa làng chài, các thành tựu kinh tế qua các hội chợ triển lãm ở các thành phố ven biển… đã được địa phương chú ý, vì nó là một trong những điều kiện hấp dẫn khách du lịch đến với biển Cửa Lò trong những năm gần đây.

Giáo dục, y tế và quốc phòng an ninh

Công tác giáo dục đào tạo luôn được quan tâm, tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các cuộc vận động nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục. Tất cả các trường học trên địa bàn hoàn thành chương trình học giai đoạn 2014 - 2018 đạt kết quả cao. Về công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân luôn được quan tâm, thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh phục vụ nhân dân. Bố trí đầy đủ các kíp trực tại trung tâm y tế, trực cứu hộ và các trạm y tế. Tuy nhiên, ở Cửa Lò một số tệ nạn xã hội liên quan đến du lịch như mại dâm, ma tuý, móc túi... còn tồn tại nhưng những năm qua, công tác quốc phòng an ninh vẫn được đảm bảo. Trật tự xã hội có nhiều biến chuyển tốt hơn so với các năm trước, an ninh du lịch được tăng cường và phục vụ du khách tốt hơn.

2.3.3. Bền vững về mặt kinh tế

Hoạt động du lịch ven biển Cửa Lò thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tốt và đã có nhiều đóng góp cho nền kinh tế của địa phương, thể hiện qua:

Ngành du lịch ngày càng đóng góp đáng kể vào ngân sách địa phương

Hiện nay, nguồn lợi nhuận do hoạt động du lịch mang lại đã được các đơn vị trong ngành trích một phần để ngoài phần đóng góp đối với thuế - ngân sách nhà nước theo đúng nghĩa vụ với nhà nước, thì nguồn vốn từ ngành du lịch còn đóng góp vào một số quỹ như: Quỹ môi trường, Quỹ phòng chống thiên tai,…

Lao động và cơ sở vật chất ngày càng tạo ra giá trị doanh thu cao hơn

Du lịch đã góp phần giải quyết việc làm cho dân cư địa phương với hơn 10.350 lao động vào năm 2018 trong các lĩnh vực khách sạn, nhà hàng, vận chuyển, thợ nhiếp ảnh, lữ hành, bán hàng... và quan trọng là du lịch đã nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, giúp xoá đói giảm  nghèo. Thu nhập người dân địa phương nhờ đó cũng được cải thiện.

Những kết quả về mặt kinh tế ở trên cho thấy, tại Cửa Lò thì ngành du lịch biển được xác định là ngành kinh tế quan trọng nhất của địa phương, vì vậy Đảng bộ, Chính quyền và ngành du lịch thị xã Cửa Lò và tỉnh Nghệ An đã xây dựng được kế hoạch, định hướng để du lịch biển Cửa Lò phát triển theo hướng bền vững trong thời gian tới.

3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần phát triển du lịch biển theo hướng bền vững tại thị xã Cửa Lò

3.1. Giải pháp đẩy mạnh công tác xúc tiến quảng bá du lịch

Đổi mới phương thức quảng bá xúc tiến du lịch thông qua các phương tiện truyền thông điện tử như truyền hình, internet, mạng xã hội, điện ảnh; phát hành rộng rãi các ấn phẩm giới thiệu về con người, lịch sử văn hóa, cảnh quan và sản phẩm du lịch Cửa Lò trong và ngoài nước; đổi mới và hoàn thiện nội dung, kết cấu website về du lịch Cửa Lò.

Bên cạnh việc đẩy mạnh quảng bá thu hút khách quốc tế, đặc biệt là khách du lịch từ các nước ASEAN, cần tập trung ưu tiên đẩy mạnh quảng bá thu hút khách du lịch nội địa; tranh thủ kinh nghiệm của các chuyên gia tư vấn về du lịch để định hướng thị trường và phát triển sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách du lịch.

3.2. Đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất, bổ sung hoàn chỉnh quy hoạch phát triển du lịch, chỉnh trang đô thị, mở rộng không gian du lịch cho phù hợp lợi thế và tiềm năng

Tăng cường công tác quy hoạch và quản lý thực hiện quy hoạch phát triển du lịch, đảm bảo tập trung khai thác tối ưu và có hiệu quả thế mạnh tài nguyên du lịch của thị xã, trong đó ưu tiên cho phát triển các sản phẩm đặc thù, có giá trị nổi bật như: Khu du lịch Cửa Hội, đảo Ngư, du thuyền, đảo Lan Châu,... thành các sản phẩm mang thương hiệu Du lịch Cửa Lò.

Tiếp tục đẩy mạnh đầu tư phát triển hạ tầng du lịch để tạo động lực mạnh mẽ cho thu hút đầu tư phát triển du lịch; tập trung huy động nhiều nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng trên cơ sở quy hoạch.

3.3. Phát triển nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên du lịch có kiến thức, trình độ

Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao; có chính sách thu hút đầu tư, hợp tác liên kết nâng cao năng lực các cơ sở đào tạo du lịch đáp ứng mục tiêu phát triển du lịch chuyên nghiệp; xây dựng mô hình liên kết giữa cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp du lịch; đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch trên địa bàn; tăng cường tổ chức tập huấn về du lịch cho cộng đồng dân cư tại các điểm du lịch.

3.4. Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, ưu tiên triển khai các loại hình du lịch mới, chất lượng, đa dạng phục vụ du khách

Tập trung xây dựng một số sản phẩm du lịch độc đáo, khác biệt, hấp dẫn, có khả năng cạnh tranh cao dựa trên những thế mạnh về tài nguyên và vị trí, từng bước khẳng định thương hiệu du lịch trên bản đồ du lịch cả nước và khu vực; thúc đẩy phát triển loại hình du lịch MICE (sự kiện, hội nghị, hội thảo, khuyến thưởng, triển lãm), du lịch mua sắm kết hợp với du lịch nghỉ dưỡng biển, đồng thời đảm đương tốt vai trò là trung tâm điều phối du lịch của tỉnh; lựa chọn khôi phục và tôn tạo một số khu di tích lịch sử để xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù, đầu tư kết cấu hạ tầng và hạ tầng du lịch bên bờ sông Lam, ẩm thực Nghi Thủy, Nghi Hòa, Nghi Thu, Nghi Hương, Thu Thủy… trên cơ sở có sự phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp lữ hành khai thác tốt lễ hội để xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng nhằm thu hút khách du lịch.

Gắn kết chặt chẽ việc phát triển du lịch với bảo tồn, nhất là bảo tồn và phát huy các giá trị tài nguyên thiên nhiên, di sản văn hóa, lịch sử, truyền thống và bản sắc văn hóa. Tăng cường hợp tác liên kết với các tỉnh, thành phố có trọng điểm về du lịch; các doanh nghiệp lữ hành.

3.5. Giải pháp về môi trường du lịch

Thực hiện nghiêm luật bảo vệ môi trường gắn với công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân. Kiểm soát chặt chẽ tình trạng rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp ảnh hưởng đến môi trường. Xử lý triệt để các khách sạn, nhà hàng thải rác, nước thải ra biển, khu lâm viên bãi tắm, khoan và sử dụng nước ngầm không có giấy phép của Sở Tài nguyên và Môi trường để kinh doanh du lịch. Đồng thời, xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường du lịch biển và kế hoạch hành động cụ thể, tiếp thu các công nghệ mới về quản lý và bảo vệ môi trường du lịch, nhanh chóng áp dụng vào thực tế.

Xây dựng hệ thống quản lý tài nguyên du lịch, quản lý môi trường, xử lý chất thải một cách có hiệu quả tại địa điểm du lịch. Bảo vệ chất lượng nước ngọt, xác định mức khai thác cho phép trên tài nguyên nước ngọt sẵn có, tìm các giải pháp cấp nước ngọt dự phòng từ nhiều nguồn khác.

4. Kết luận

Du lịch biển tại thị xã Cửa Lò hiện nay đang phát triển khá thuận lợi với sự tăng trưởng lượng khách du lịch và được khách du lịch đánh giá cao về giá trị cảnh quan biển đảo. Du lịch ở đây được đánh giá phát triển bền vững về mặt kinh tế. Song du lịch biển ở thị xã Cửa Lò đang đối mặt với nguy cơ ô nhiễm môi trường biển đảo, sự mất trật tự của an ninh địa bàn. Do vậy trong thời gian tới để du lịch biển thị xã Cửa Lò được phát triển một cách bền vững rất cần các chính sách, giải pháp đồng bộ và sự hỗ trợ và phối hợp tích cực của nhà nước, chính quyền địa phương và cộng đồng.

 

Tài liệu tham khảo

1. Chi cục thống kê tỉnh Nghệ An (2015, 2016, 2017), Niên giám thống kê tỉnh Nghệ An năm 2015, 2016, 2017.

2. Chương trình hành động số 55-CTr/TU về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017 - 2030

3. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020.

4. https://baonghean.vn

5. https://www.nghean.gov.vn

6. https://www.ngheantourism.gov.vn

 

Chu Trọng Huyến

Ông ấy yêu nước theo cách của ông ấy". Đó là câu Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời vị Đại sứ Ba Lan trong Ủy ban Quốc tế giám sát Hiệp nghị Giơnevơ (Genève) về thực hiện đình chiến ở Đông Dương (1954) khi đến chào Người để đi vào thực hiện phận sự của mình ở Sài Gòn và nhân đó, vị Đại sứ này hỏi Người về Ngô Đình Diệm.

Ta biết, Ngô Đình Diệm vốn là vị quan to của triều Nguyễn. Đến tháng 7-1933 ông xin từ chức Thượng thư Bộ lại rồi có những hoạt động chống Pháp theo cách của riêng mình. Đến tháng 1-1946, Ngô Đình Diệm được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội…

Ngô Đình Diệm sinh năm 1901 ở làng Đại Phong, xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, trong một gia đình công giáo có đông anh em. Cha của ông: Ngô Đình Khả, từng là Thượng thư. Năm 1907, Pháp đày vua Thành Thái sang châu Phi, ông Khả chống lại bằng cách từ quan, về nhà làm ruộng. Ông Diệm có anh cả là Ngô Đình Khôi, Tổng đốc Quảng Nam (lấy con gái Thượng thư Nguyễn Hữu Bài, người mà năm 1908 đã phản đối việc Khâm sứ Ma-hê định đào mả (mộ) vua Tự Đức để lấy vàng. Về sau, ông Nguyễn Hữu Bài vẫn được thăng Thái phó, Võ hiển Điện đại học sĩ) rồi đến Ngô Đình Thục (một thời là Giám mục đạo thiên chúa) và 5 người em: Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Luyện, Ngô Đình Thị Giáo và Ngô Đình Thị Hiệp (mẹ của Hồng y Nguyễn Văn Thuận). Năm 15 tuổi Ngô Đình Diệm vào học trường Dòng. Vì thấy tại đó khắt khe quá, ông sang học trường Phổ thông Pen lơ ranh (Pellerin) Huế. Ở bậc Tú tài, Ngô Đình Diệm học rất giỏi được cấp bổng để sang      Pa-ri học nhưng rồi ông đã vào Trường Hành chính tại Hà Nội và năm 1921 thì tốt nghiệp, rồi ra làm Tri huyện, từ đó nhanh chóng lên đến chức Tuần vũ và năm 1933 là Thượng thư Bộ lại (chức quan đầu triều). Khi được Bảo Đại cử làm Tổng thư ký Ủy ban cải cách hành chính, Ngô Đình Diệm có đề xuất một số ý kiến nhằm hạn chế sự ràng buộc của phủ Toàn quyền đối với triều đình Huế nhưng không được số đông trong Nội các ủng hộ, ông từ quan (tháng 7-1933) rồi vào Sài Gòn và đến một số nơi khác, hoạt động chống lại sự cai trị của người Pháp theo cách của riêng mình, có khi là dựa vào người Nhật, muốn đưa Cường Để về làm vua. Nhưng bấy giờ người Nhật không dùng Cường Để mà ủng hộ Bảo Đại, cho lập Nội các do Trần Trọng Kim đứng đầu (3/1945).

Khi chưa diễn ra buổi gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ý định là muốn mời Ngô Đình Diệm tham gia vào Chính phủ Liên hiệp, vì Người cũng trọng cái tài của ông ấy, lúc mà hơn bao giờ hết, sự đoàn kết để gìn giữ nền độc lập thống nhất của đất nước càng là yêu cầu tối thượng. Nhưng trong buổi tiếp xúc, Ngô Đình Diệm cứ một mực là "sẽ vẫn tiếp tục chống Pháp nhưng không thể đi với Việt Minh". Một số người lúc bấy giờ lo ngại rằng ông Diệm là người thân Nhật, rất nguy hiểm. Hồ Chủ tịch nói: "Nếu ông ta thân Nhật thì Nhật đã thất bại (trong Chiến tranh thế giới lần thứ II) và phải rút về nước. Còn ông ta nói vẫn còn chống Pháp nhưng không đi với Việt Minh thì cứ để ông ấy chống Pháp theo kiểu của ông ấy".

Rồi vì phía thực dân Pháp muốn tái chiếm để thống trị Việt Nam một lần nữa nên toàn dân ta phải đứng lên làm một cuộc kháng chiến trường kỳ toàn dân, toàn diện để giữ vững quyền độc lập, tự do. Khi Pháp càng đánh càng thua đau thì Mỹ lợi dụng tình thế mà can thiệp vào cuộc chiến, nhằm rồi sẽ thay thế Pháp, thống trị nhân dân ta theo lối thực dân kiểu mới. Cũng để thực hiện mưu đồ đó, Mỹ đã chuẩn bị sẵn con bài là nuôi nấng Ngô Đình Diệm để rồi đưa về thay Bảo Đại lập chính quyền tay sai thân Hoa Kỳ. Nhưng rồi thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đã thua hết từ chiến trường này đến chiến trường nọ mà thất bại nặng nề, đau đớn nhất của họ là tại Mặt trận Điện Biên Phủ, kết thúc ngày 7/5/1954 với sự toàn thắng của quân ta. Từ đó, trên mọi nẻo chiến trường, ta đang từng giờ, từng phút giành thế chủ động, buộc họ phải ngồi đàm phán với ta tại Hội nghị Giơ-ne-vơ (Genève - Thụy Sĩ) để bàn việc lập lại hòa bình ở Đông Dương (họp từ 8/5/1954 đến 21/7/1954).

Hội nghị Giơ-ne-vơ có đại biểu của 9 bên tham dự. Ngoài Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc gia Việt Nam (tức ngụy quyền), Vương quốc Lào, Vương quốc Căm-pu-chia, là các nước "lớn": Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc. Tại bàn Hội nghị, Đoàn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu.

Mỹ đến với Hội nghị Giơnevơ (1954) với mưu toan gì. Các nước lớn tham dự hội nghị ấy ngay cả Trung Quốc toan tính những gì. Ta đã chiến thắng một cách lừng lẫy nhưng vì cục diện thế giới lúc đó, người ta đã ép Việt Nam ra sao. Như Trung Quốc, trước hết, họ muốn có một khoảng trống hòa bình ở phía Nam biên thùy của mình để bình thường hóa quan hệ với các nước Tây Âu, trước hết là về thương mại, ngoại giao và nhằm được phá đi bao vây cấm vận của Mỹ, cũng như để được vào Liên hiệp quốc và giải quyết vấn đề Đài Loan! Bởi thế, trong đàm phán, ta đòi vĩ tuyến quân sự tạm thời là 13 ép nhất là 16, sau ta định lại là vĩ tuyến 14; thời gian chờ đợi hiệp thương để Tổng tuyển cử thực hiện thống nhất đất nước là 6 tháng. Nhưng vì lợi ích của nước "lớn" này, nước "lớn" nọ nên ta phải chịu khác đi. Ví như lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời với khu phi quân sự là sông Bến Hải là ý của đoàn Trung Quốc (do Ngoại trưởng Chu Ân Lai cầm đầu). Thời gian chờ đợi để thực hành tự do tổng tuyển cử phải đến 2 năm cũng là ý của đại biểu các nước "lớn"! Bởi mỗi nước "lớn" cử đại biểu đến hội nghị này đều có toan tính vì lợi ích riêng của họ. Cho nên sau khi Thứ trưởng Quốc phòng của ta là Tạ Quang Bửu phải đặt bút ký vào Hiệp định thì Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng hướng về phương Nam, nói đầy xúc động: "Đoàn ta đã cố gắng hết sức mình nhưng mới chỉ giành lại một nửa nước ở phía Bắc sông Bến Hải. Cuộc chiến đấu của dân tộc ta còn phải tiếp tục lâu dài"(1).

Và như lịch sử đã diễn ra, Ngô Đình Diệm từng "chống Pháp" và làm theo lệnh của Mỹ như thế nào. Ngô Đình Diệm không đi theo con đường cứu nước và giữ nước do Đảng, Hồ Chủ tịch và nhân dân ta đã chọn mà ngược lại, đã làm theo lệnh Mỹ. Tuy nhiên, tấm lòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn rất rộng mở. Nhớ là vào cuối năm 1954, khi đó Ngô Đình Diệm đã được Mỹ đưa về Sài Gòn để thực hiện âm mưu chia cắt đất nước ta, âm mưu thống trị miền Nam một cách lâu dài! Thì vào một ngày sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký, vẫn tại chiến khu Việt Bắc, trong phần liên hoan văn nghệ đón đoàn Đại biểu miền Nam do Luật sư Phạm Văn Bạch dẫn đầu ra thăm, Luật sư Phan Anh, một đại biểu từ Giơ-ne-vơ mới trở về có ứng khẩu: "Tiệc vui Nam Bắc một nhà/ Quân dân lương, giáo bên Cha vui vầy/ Chén mừng nhớ buổi hôm nay/ Chén vui thống nhất ngày này hai năm". Cử tọa vỗ tay nhiệt liệt, Cụ Hồ cũng vỗ tay, nhưng đợi lúc ra về, Người vỗ vai ông Phan Anh, nói nhỏ: "Thơ "thầy cãi" khi nãy, tứ hay nhưng có một ý mình chưa tiện bình. Lạc quan tếu đấy. Lúc này nói ra rộng rãi là chưa có lợi. Với riêng tác giả, mình bình thế này: Đấu tranh thống nhất ắt dài/ Hy sinh gian khổ chẳng vài năm đâu!/ Hai mươi năm nữa là mau!".

Và những ý tưởng lớn thường gặp nhau. Lúc ấy, các vị lãnh đạo của ta đã biết rõ những ý đồ của bè lũ Mỹ - Diệm là sẽ phá hoại Hiệp định Giơnevơ, chối bỏ hiệp thương, không thực hiện tổng tuyển cử, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành một thuộc địa kiểu mới của Hoa Kỳ!

Còn ta, ta nghiêm chỉnh thực hiện đúng mọi điều khoản của Hiệp định. Trước hết là tập kết đúng thành phần. Bấy giờ, người đứng đầu Trung ương cục miền Nam là ông Lê Duẩn. Khi nhìn thấy hình ảnh những người tập kết ra Bắc hân hoan giơ hai ngón tay làm dấu, hẹn hai năm nữa, Tổng tuyển cử thống nhất đất nước thì sẽ về, ông đã khóc! Và chiều ấy, Lê Duẩn vẫn lên con tàu do nước Ba Lan giúp, chở người tập kết trước sự chứng kiến của đông đảo báo chí. Nhưng đến đêm, ông đã lặng lẽ bí mật xuống một chiếc canô mà trở lại bưng biền. Trước lúc lại chia tay, ông ôm hôn Lê Đức Thọ và bảo: "Anh ra ngoài ấy, thưa với Bác, hai mươi năm nữa mới gặp nhau!"(2).

Rồi Trung ương Đảng và Chính phủ về lại Thủ đô. Đến một ngày, vị Đại sứ Ba Lan trong Ủy ban Quốc tế giám sát Hiệp định Giơnevơ về đình chiến ở Đông Dương từ Hà Nội sẽ đi vào Sài Gòn đến chào Hồ Chủ tịch, Người nói với vị Đại sứ: "Nhờ Đại sứ chuyển lời thăm hỏi của tôi tới ông Ngô Đình Diệm". Thấy vị đại sứ có vẻ ngạc nhiên, Hồ Chủ tịch nói tiếp: "Ông Diệm là người Việt Nam. Là người Việt Nam, ai cũng có lòng yêu nước. Ông ấy yêu nước theo cách của ông ấy (à sa manière)".

"Cách của ông ấy" làm là điều mà bấy giờ ta cũng chưa đủ sức ngăn cản! Ông ấy đã rước Mỹ vào miền Nam, giết hại những người kháng chiến và đồng bào, phá hoại Hiệp nghị Giơnevơ bằng cách không chịu hiệp thương tổng tuyển cử để cho Mỹ thực hiện việc chia cắt lâu dài đất nước ta, lập lên cái gọi là Việt Nam Cộng hòa do ông ta làm Tổng thống, mong biến phần đất của Tổ quốc ta từ vĩ tuyến 17 trở vào thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ!

Có những con người làm nên lịch sử nhưng cũng có những kẻ phản lại sự tiến hóa của cả một dân tộc!

Ngô Đình Diệm, kể từ khi ông ấy được nuôi dưỡng trong ống tay áo của một giáo chủ Hoa Kỳ theo lệnh Nhà trắng rồi về nước làm Tổng thống cái gọi là Chính phủ Việt Nam cộng hòa cho đến lúc bị giết theo lệnh của người Mỹ, ngót 10 năm (1954-1963), đất nước ta bị chia cắt, đồng bào miền Nam của ta, từ vĩ tuyến 17 trở vào đã bị điêu linh, khốn khổ và chết chóc như thế nào. Bấy giờ, một nhà báo phương Tây hỏi Hồ Chủ tịch về kết cục là cái chết của Tổng thống Ngô, Người trả lời: "Ông Diệm cũng là một người yêu nước nhưng cách làm của ông ấy sai". Khi trả lời như vậy, Người vẫn biết, đấy chỉ là việc "Mỹ thay ngựa giữa dòng"! Đúng như thế, tình cảnh ở miền Nam không dừng lại đó, những kẻ kế nhiệm Ngô Đình Diệm vì càng ngày càng lâm vào bế tắc nên cứ hung hãn thêm. Và để cứu vãn tình thế, đế quốc Mỹ đã tiến hành ném bom miền Bắc (1964-1972) rồi thất bại khi dùng các pháo đài bay B52 đánh vào Hà Nội! Mỹ - Ngụy càng chuốc thêm lỗi lầm và gây tội ác diệt chủng. Phải đến khi đồng bào miền Nam cùng quân đội nhân dân cả nước thực hiện cuộc Tổng tiến công nổi dậy kết thúc thắng lợi vào ngày 30/4/1975, là hơn hai mươi năm, đất nước ta mới thực sự được hoàn toàn giải phóng, độc lập và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ.

Nỗi đau buồn vì Tổ quốc bị chia cắt do Ngô Đình Diệm từ chối Tổng tuyển cử thống nhất đất nước (đáng ra sẽ được tổ chức vào năm 1956), rước người Mỹ vào để bằng khủng bố mà biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của họ đã dẫn đến hậu quả là như thế nào, lịch sử luôn luôn phải nhắc đến. Riêng ở bài viết này, với chủ đề đã chọn, cũng cần nhắc lại lời của nhà tình báo Vũ Ngọc Nhạ khi ông tiếp xúc với Tổng thống Diệm ở Dinh Gia Long để ghi rõ lời nhận xét này, rằng, đối với Hồ Chủ tịch, "Ông Diệm vẫn nhớ lại hình ảnh mảnh dẻ, giản dị, phong sương của Người trong buổi tiếp. Cụ mặc quần soóc (short), chân đi dép cao su trắng với điếu thuốc lá trên môi, lời nói và cử chỉ rất mực lịch thiệp". Vẫn lời Vũ Ngọc Nhạ ghi lại câu của Ngô Tổng thống thốt ra lúc ở Dinh Gia Long: "Cụ Hồ là bậc đại nghĩa; còn qua là người tiểu khí!".

 

Chú thích

(1), (2). Theo "Nhà thơ Việt Phương ở Giơnevơ" trên Báo Tiền phong điện tử 18/7/2014. Tại Giơnevơ dịp ấy, Việt Phương là Thư ký riêng của Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

 

Phan Bá Hàm

Phan Thúc Trực vốn tên là Phan Dưỡng Hạo, biệt hiệu là Cẩm Đình, sinh năm 1808 tại làng Phú Ninh, xã Vân Tụ, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An (nay là xã Khánh Thành, hyện Yên Thành). Năm 1847 đậu Thám hoa, được vua Tự Đức bổ vào tòa Nội các (tòa văn thư của nhà vua), sung chức Kinh diên khởi cư trú là chức quan luôn bên cạnh nhà vua. Năm 1851, được vua giao đi ra Bắc Hà tìm sách vở cũ còn sót lại trong các tư gia. Năm 1852, trên đường về kinh đô Huế thì bị bệnh, mất đột ngột tại Thanh Hóa. Vua Tự Đức rất thương tiếc điếu bốn chữ "Học cao hạnh thuần" (tức học vấn cao, đức hạnh thuần hậu).

Ông để lại nhiều tác phẩm như: Quốc sử di biên, Đông Thành huyện thông chí, Diễn Châu phủ chí; Cẩm Đình thi tập, Cẩm Đình văn tập, Trần Lê ngoại truyện

Phan Thúc Trực là người có tình sâu, nghĩa nặng với quê hương. Bàn chân ông đã in dấu trên nhiều miền xứ sở và đến đâu cũng có thơ văn ghi lại xúc cảm của mình. Ông say sưa ca ngợi các danh lam thắng tích. Vùng Vân Tụ có núi Bồ Lĩnh và sông Cẩm Giang (tức Vũ Giang) là hai cảnh đẹp. Họ Phạm có câu đối về cảnh sơn thủy này như sau:

Bồ Lĩnh cổ lai chung tú khí,

Cẩm Giang kim cảnh nhuận văn lang (chàng văn nhân)

Dịch: Bồ Lĩnh xưa còn ụn khí tốt,

Cẩm Giang nay vẫn lắm văn nhân.

Như vậy đây là chốn địa linh nhân kiệt, và bản thân tác giả cũng là một "nhân kiệt", một "văn lang". Ông còn làm nhiều câu đối ở các đình, đền, miếu mạo như câu đối ở đình Đông, ở đền Hạ, ở đền Đức Hoàng…

Núi Thung ở làng Mậu Long bên cạnh, đầm sen ở làng Liên Trì cũng là những cảnh sơn thủy hữu tình. Tác giả đã thiêng liêng hóa Lý Nhật Quang, người từng có công lao lớn đối với vùng đất Hoan Châu. Vùng Diễn Châu có lèn Hai Vai đã nổi tiếng khắp cả nước. Vua Lê Thánh Tông đặt tên là Kê Sơn (núi búi tóc). Chúa Trịnh Sâm đặt tên là Di Lặc sơn (núi Di Lặc). Trong bài "Quang Trung Di Lặc sơn Phú" ông viết:

Giải Bàn long uốn éo quanh mình, tỏ từ Bắc suốt sang Nam, giữa mặt đất xây mấy tầng bích thạch, Dấu tẩu mã lăm chăm rong ruổi, khắp trên cao dưới thấp, giữa dòng không chồng một ngọn thanh phong/ Rán xương vai đỡ lấy càn khôn, giữa lòng lá rụng hoa rơi, chí quảng đại dung hết loài thảo mộc/ Khép tay áo ngồi nghe tạo hóa, mặc sức chìm nương, thú ẩn lượng từ bi dung hết lũ côn trùng.

"Giải Bàn long" là tả dòng nước kia chảy quanh lèn như rồng uốn lượn. Núi có thể "tẩu mã", thế ngựa phi trông thật oai phong. Núi còn giống như đức Phật mở lượng từ bi che chở cho muôn loài sinh sống. Rất tiếc gần đây núi Hai Vai đã bị tàn phá một phần để lấy đá, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến một thắng tích nổi tiếng. Ông còn làm thơ ca ngợi núi Hồng, sông Lam.v.v.

Yêu thiên nhiên quê hương bao nhiêu, Phan Thúc Trực yêu con người quê hương bấy nhiêu. Từng là một thư sinh nghèo khó, họ Phan rất thông cảm với những người nông dân chân lấm tay bùn ở làng Phú Ninh. Đây là điều rất đáng quý ở người trí thức trong xã hội phong kiến, khi mà có không ít người quan niệm:

Vạn ban giai hạ phẩm/ Duy hữu độc thư cao.

(Vạn thứ đều chỉ là tầm thường, chỉ có đọc sách là cao quý).

Trong bài "Ngày xuân dạy trồng bông, trồng khoai", ông có những lời thơ thật cảm động:

Ta vốn không học nghề làm ruộng

Cũng phải biết công việc vất vả gian nan.

… Nhắn gửi các chàng quân tử quần là áo lượt

Chớ chỉ tháng ngày vui chơi.

Họ Phan đã khuyên những người ở tầng lớp trên hãy đến với người lao động để hiểu cái giá trị của sự sung sướng mà họ đang hưởng là thế nào.

Ông buồn với nỗi buồn của bà con khi gặp mưa lũ:

Tiết hè mưa đổ tựa thu

Tường xiêu dậu đổ vù vù từng cơn

Tràn bờ lúa má cuốn phăng

Bên sông nước ngập mênh mang khắp thành

(Nguyễn Thị Oanh dịch)

Ông vui với niềm vui của bà con khi gặp thời tiết tốt lành:

Cả bầu trời đã hết mưa gió

Gặt lúa đốc thúc gia nhân trong nhà

Không sợ thửa ruộng trũng thấp

Trái lại mưng sắc trời đã hửng.

Ông còn cho rằng làm chính sự phải lo cho dân được yên ổn (Tặng tân huyện doãn Hương Sơn).

Có lẽ Phan Thúc Trực là một nhà thơ am hiểu người lao động nhất trong văn học trung đại Việt Nam. Là người nho sĩ, họ Phan rất trân trọng những danh nhân lịch sử văn hóa. Trong cuốn "Đông Thành huyện thông chí", ông ca ngợi Phan Công Tích ở thôn Hào Kiệt có công phù Lê, diệt Mạc; ông Lê Kính ở trại Tràng Sơn đỗ tiến sĩ, khi đi sứ sang Trung Hoa phụng mệnh làm bài ký Yên Kinh, được vua nhà Minh phong là Lưỡng quốc tể tướng. Khi chưa trúng bảng vàng, nghe tin Văn Đức Giai đỗ Tiến sĩ, ông vẫn đến làng Quỳnh Đôi chúc mừng:

Họ Văn thi đỗ hiển vinh

Giao du riêng với một mình Hồng Lô (bạn thân của họ Văn)

Hạo nhiêu mừng chúc bài thơ

Quỳnh Lưu Tiến sĩ ngọn cờ các châu

(Nguyễn Thị Oanh dịch)

Mừng Văn Đức Giai cũng là mừng cho Nghệ An có thêm một nhân tài. Nhiều nhà khoa bảng ở trong tỉnh cũng được Phan Thúc Trực tặng thơ văn chúc mừng, như Phó bảng Cao Xuân Tiếu, Cử nhân Trọng Dĩnh.

Một lần qua thành Lục Niên, họ Phan có bài tứ tuyệt:

Lạp Phong di tích Lục Niên thành

Hà trọng, lam thâm, thảo mộc bình

Thiết mã, kim qua không thử địa

Thiên thu cao ẩn độc lưu danh.

Thành Lục Niên ở phía Tây Nam huyện Thanh Chương, trên ngọn Lạp Phong, trong dãy Thiên Nhẫn, do vua Lê Thái Tổ đắp. Ngài cho đóng quân ở đó sáu năm để chống lại tướng Minh là Phương Chính nên gọi là thành Lục Niên. Cuối đời Lê, Nguyễn Thiếp tức La Sơn Phu tử đến ở ẩn tại đây. Ông thi đỗ Hương cống thời Lê, từng làm huấn đạo và tri huyện Thanh Chương. Sau thời thế loạn lạc, bỏ quan về nhà ở ẩn. Khi Tây Sơn thống nhất đất nước, vua Quang Trung vời ông ra làm quan, lúc đầu từ chối, sau vì nể tình cảm của vua ông bèn ra giúp nhà Tây Sơn.

*   *   *

Nhân dân xứ Nghệ cũng rất tự hào có một nhà khoa bảng như Phan Thúc Trực. Khi ông vinh quy bái tổ, một vị túc nho ở Yên Thành đã mừng ông bài thơ, trong đó có hai câu thường được nhắc nhở:

Văn vật danh truyền Vân Tụ xã

Khôi khoa đình chiến Thám hoa quan

Ý nói xã Vân Tụ trở thành đất văn vật danh tiếng là nhờ có Phan Thúc Trực thi đình đỗ Thám hoa. Khi ông mất một cách đột ngột lúc mới 44 tuổi, một vị túc nho khác đã làm câu đối điếu ông:

Bảng vàng bia đá nghìn thu, thương tiếc thay Người ấy

Đầu bạc răng long trăm nỗi, đau xót lắm trời ơi!

Nhân dân làng Phú Ninh tôn ông là phúc thần và lập đền nhà Quan bên sông Vụ Giang để thờ phụng. Tại thành phố Vinh ngày nay có con đường mang tên Phan Thúc Trực. Phía Nam huyện Yên Thành có một trường trung học phổ thông được vinh dự mang tên ông.

Cuộc đời Thám hoa Phan Thúc Trực đã để lại nhiều bài học sâu sắc cho hậu thế. Một trong những bài học đó là tình yêu, là trách nhiệm đối với quê hương xứ sở. Đúng như nhà thơ Huy Cận đã viết:

Có gì tự ông cha

Rất xưa mà rất trẻ

(Gửi bạn người Nghệ Tĩnh).

 

THÁI HUY BÍCH

Họ Hoàng Đăng là một trong số các họ lớn ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Thủy tổ họ Hoàng Đăng là ông Hoàng Đăng Quỹ, một quan chức triều Lê Trung Hưng, quê ở xã Kinh Môn, châu Minh Linh, nay thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, ra Nghệ An làm quan rồi định cư ở Hưng Nguyên vào đầu thế kỷ XVII. Nhà thờ Đại tôn họ Hoàng Đăng ở làng Châu Sơn, xã Hưng Châu. Mộ tổ họ Hoàng Đăng có hai ngôi ở lưng chừng núi Nhón, trước đây đắp bằng đất, gần đây đã xây dựng tôn nghiêm. Nhà thờ còn lưu giữ 14 sắc phong chức tước cho 5 người thuộc 4 thế hệ nối tiếp nhau. Sắc phong có niên đại sớm nhất cho Thủy tổ Hoàng Đăng Quỹ vào năm Hoằng Định thứ 2 (1601), cách nay 418 năm. Sắc phong cho ông Hoàng Lưu, thế hệ thứ 4, vào năm Cảnh Trị thứ 3 (1665). Ông Hoàng Đăng Bạt, con trai thứ của Thủy tổ Hoàng Đăng Quỹ, ngoài sắc phong chức vào thời Lê, còn có 2 sắc phong thần vào cuối thời Nguyễn, ở nhà thờ chi họ Hoàng tại xóm 10 (làng Đông), xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên.

Nội dung sắc phong là những tư liệu lịch sử chân xác và vô cùng quý giá. Tổ tiên họ Hoàng Đăng là những công thần thời Lê Trung Hưng. Thủy tổ Hoàng Đăng Quỹ được thăng chức Lang trung hàm quan văn Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu. Con trai cả là Hoàng Thanh Mai làm đến chức Chỉ huy đồng tri, hàm quan võ Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân. Cháu nội là Hoàng Đăng Tướng làm đến chức Tri châu châu Bố Chánh.

Nhà thờ và Mộ tổ họ Hoàng Đăng thuộc xã Hưng Châu, huyện Hưng Nguyên đã được công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh(1).

Sau đây là một số sắc phong chức tiêu biểu.

Sắc thứ 1

In sao chữ Hán

敕敦厚功臣光進慎祿大夫真愊縣縣丞沛溪男佐治卿下階黃登揆 為任職

滿考應陞職可為敦厚功臣光進慎祿大夫鴻臚寺寺丞沛溪佐治卿下階故敕  弘定二年十一月十

Phiên âm

Sắc Đôn hậu Công thần, Quang tiến thận lộc đại phu Chân Phúc huyện Huyện thừa, Bái Khê nam, Tá trị khanh, Hạ giai, Hoàng Đăng Quỹ, vi nhậm chức mãn khảo, ưng thăng chức. Khả vi Đôn hậu công thần, Quang tiến thận lộc đại phu, Hồng Lô tự Tự thừa, Bái Khê nam, Tá trị khanh, Hạ giai. Cố sắc.

Hoằng Định nhị niên, thập nhất nguyệt, thập thất nhật.

Dịch nghĩa                      

Sắc phong Đôn hậu công thần, Quang tiến thận lộc đại phu, Huyện thừa huyện Chân Phúc, Bái Khê nam, Tá trị khanh, Hạ giai, Hoàng Đăng Quỹ(2), do đã mãn hạn giữ chức vụ cũ, nay thăng chức Tự thừa tự Hồng Lô. Danh xưng mới là Đôn hậu Công thần, Quang tiến thận lộc đại phu, Tự thừa tự Hồng Lô, Bái Khê nam, Tá trị khanh, Hạ giai. Nay ban sắc.

Ngày 17 tháng 11 năm Hoằng Định thứ hai (1601)

Sắc thứ 2                 

In sao chữ  Hán

    敦厚贊治功臣特進金紫榮祿大夫德光府同知府沛溪子佐治卿中

黃登揆為部內有啟保奉付論應陞郎中職可為敦厚贊治功臣特進金

紫榮祿大夫兵部武庫清吏司郎中沛溪子佐治卿中階    故敕                                           

          永祚四年十月二十五日                                                                                              

Phiên âm

Sắc Đôn hậu Tán trị, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Đức Quang phủ Đồng tri phủ, Bái Khê tử, Tá trị khanh, Trung giai, Hoàng Đăng Quỹ, vi bộ nội hữu khải bảo phụng phó luận ưng thăng Lang trung chức. Khả vi Đôn hậu Tán trị công thần, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Binh bộ Võ khố Thanh Lại ty Lang trung, Bái Khê tử, Tá trị khanh, Trung giai. Cố sắc.

Vĩnh Tộ tứ niên, thập nguyệt, nhị thập ngũ nhật.

Dịch nghĩa

Sắc phong Đôn hậu Tán trị Công thần, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Đồng tri phủ phủ Đức Quang, Bái Khê tử, Tá trị khanh, Trung giai, Hoàng Đăng Quỹ, do được triều thần tín nhiệm và trình tấu, nay thăng chức Lang trung ty Thanh lại, kho Vũ khí bộ Binh. Danh xưng mới là Đôn hậu Tán trị Công thần, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Lang trung ty Thanh Lại, kho vũ khí bộ Binh, Bái Khê tử, Tá trị khanh, Trung giai. Nay ban sắc.              

Ngày 25 tháng 10 năm Vĩnh Tộ thứ tư (1622).

Sắc thứ 3

In sao chữ Hán

     敕贊治功臣特進輔國上將軍錦衣衛指揮使司指揮僉事美祿伯上護軍下秩

青梅為元帥統國政清都王類堅義有功於癸亥年能隨軍扶駕進發討賊各處全攻有朝臣薟議應併功陛職可為贊治功臣特進輔國上將軍錦衣衛指揮使司指揮

同知美祿伯上護軍下秩  故敕

永祚八年十月二十四日                                                                                                          

Phiên âm

Sắc Tán trị Công thần, Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, Cẩm Y vệ, Chỉ huy sứ ty Chỉ huy thiêm sự, Mỹ Lộc bá, Thượng hộ quân, Hạ trật, Hoàng Thanh Mai, vị Nguyên súy Thống Quốc Chính Thanh Đô Vương loại, kiên nghĩa hữu công, ư Quý Hợi niên, năng tùy quân phù giá tiến phát thảo tặc các xứ, toàn công, hữu triều thần thiêm nghị, ưng tính công bệ chức. Khả vi Tán trị Công thần, Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, Cẩm Y vệ, Chỉ huy sứ ty Chỉ huy đồng tri, Mỹ Lộc bá, Thượng hộ quân, Hạ trật. Cố sắc.

Vĩnh Tộ bát niên, thập nguyệt nhị thập tứ nhật.  

Dịch nghĩa                                       

Sắc phong cho Tán trị Công thần, Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, Chỉ huy thiêm sự ty Chỉ huy sứ, vệ Cẩm Y, tước Mỹ Lộc bá, Thượng hộ quân, Hạ trật, Hoàng Thanh Mai, do có công lao và nghĩa khí kiên cường trong khi tháp tùng Nguyên soái Thống Quốc Chính Thanh Đô Vương (tức Trịnh Tráng - ND), năm Quý Hợi (1623) đi đánh giặc các nơi lập nhiều chiến công. Được các quan trong triều đề nghị, nay thăng chức Chỉ huy đồng tri. Danh xưng mới là Tán trị công thần, Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, Chỉ huy đồng tri ty Chỉ huy sứ, vệ Cẩm Y, Mỹ Lộc bá, Thượng hộ quân, Hạ trật. Nay ban sắc.

Ngày 24 tháng 10 năm Vĩnh Tộ thứ tám (1626)

Sắc thứ 4        

In sao chữ Hán

    贊治功臣光進慎祿大夫美溪男佐治卿下階黃登拔為大元帥統國政

師父清王類左捷軍營文職於癸亥年能隨軍扶駕進發往高平諒山等處擒

得偽莫妻子全功有朝臣簽議應併功除任可為贊治功臣光進慎祿大夫錦

衣衛指揮使司指揮僉事美溪男佐治卿下階  故敕

德隆三年十月二十四日

Phiên âm

Sắc Tán trị Công thần, Quang tiến thận lộc đại phu, Mỹ Khê nam, Tá trị khanh, Hạ giai, Hoàng Đăng Bạt, vi Đại Nguyên Soái Thống Quốc Chính Sư Phụ Thanh Vương loại, Tả tiệp quân doanh văn chức, ư Quý Hợi niên năng tùy quân phù giá tiến phát vãng Cao Bằng, Lạng Sơn đẳng xứ, cầm đắc ngụy Mạc thê tử, toàn công, hữu triều thần thiêm nghị, ưng tính công trừ nhiệm. Khả vi Tán trị Công thần, Quang tiến thận lộc đại phu, Cẩm Y vệ, Chỉ huy sứ ty Chỉ huy thiêm sự, Mỹ Khê nam, Tá trị khanh, Hạ giai. Cố sắc.

Đức Long tam niên, thập nguyệt, nhị thập tứ nhật.

Dịch nghĩa                    

Sắc phong Tán trị Công thần, Quang tiến thận lộc đại phu, Mỹ Khê nam, Tá trị khanh, Hạ giai, Hoàng Đăng Bạt, đảm nhiệm văn chức quân doanh cánh Tả, tháp tùng Đại Nguyên soái Thống Quốc Chính Sư Phụ Thanh Vương, năm Quý Hợi (1623) tham gia đánh giặc ở Cao Bằng, Lạng Sơn, có công bắt sống vợ và con vua Mạc, được các quan trong triều đề nghị, nay thăng chức Chỉ huy thiêm sự. Danh xưng mới là Tán trị Công thần, Quang tiến thận lộc đại phu, Cẩm Y vệ, Chỉ huy thiêm sự ty Chỉ huy sứ, Mỹ Khê nam, Tá trị khanh, Hạ giai. Nay ban sắc.           

Ngày 24 tháng 10 năm Đức Long thứ ba (1631).                                                                     

Sắc thứ 5                

 In sao chữ Hán

   將仕郎演州府儒學訓導下選黃登相 為忠義為臣有功任 職奉調 已經

 旨准 應陞任知州職可為謹事佐郎布政州知州下班     故敕

永治 元年十二月二十三日

Phiên âm

Sắc Tương sỹ lang, Diễn Châu phủ Nho học Huấn đạo, Hạ tuyển, Hoàng Đăng Tướng, vi trung nghĩa vi thần hữu công, nhậm chức phụng điều, dĩ kinh chỉ chuẩn ưng thăng nhậm Tri châu chức. Khả vi Cẩn sự tá lang Bố Chánh châu Tri châu, Hạ ban. Cố sắc.

Vĩnh Trị nguyên niên, thập nhị nguyệt, nhị thập tam nhật.

 Dịch nghĩa                                 

Sắc phong cho Tương sỹ lang, Huấn đạo Nho học phủ Diễn Châu, Hạ tuyển, Hoàng Đăng Tướng, do có nhiều công lao trong thời gian tại chức, là người trung nghĩa, nay sắc chỉ thăng chức Tri châu. Danh xưng mới là Cẩn sự tá lang, Tri châu châu Bố Chánh, Hạ ban. Nay ban sắc.                   

Ngày 23 tháng 12 năm Vĩnh Trị thứ nhất (1676)

 Sắc thứ 6            

In sao chữ Hán

敕明靈州經門社官員子黃留為欽差節制各處水步諸營兼總政柄太尉  宜國公鄭根奉大元帥掌國政尚師西王旨准類順化處能累代忠義為臣有功有朝臣簽議應 加陞一次知事職可為將仕郎西京殿藍山陵知事下   故敕

景治三年十二月初六日

 Phiên âm

Sắc Minh Linh châu, Kinh Môn xã, Quan viên tử Hoàng Lưu, vị Khâm Sai Tiết Chế các xứ Thủy Bộ chư doanh, kiêm Tổng chính bính, Thái úy, Nghi Quốc công, Trịnh Căn phụng, Đại Nguyên soái Chưởng Quốc Chính Thượng Sư Tây Vương chỉ chuẩn loại Thuận Hóa xứ, năng lũy đại trung nghĩa vi thần,  hữu công  hữu  triều thần thiêm nghị, ưng gia thăng nhất  thứ  Tri sự  chức. Khả vi  Tương sỹ lang, Tây Kinh điện Lam Sơn lăng Tri sự, Hạ tự. Cố sắc.

Cảnh Trị tam niên, thập nhị nguyệt sơ lục nhật.

Dịch nghĩa

Sắc phong cho Hoàng Lưu quê xã Kinh Môn, châu Minh Linh là dòng dõi quan lại của Triều đình, được tháp tùng Khâm Sai Tiết Chế các quân doanh Thủy bộ các xứ, kiêm Tổng chính bính, Thái úy Nghi Quốc công Trịnh Căn, theo lệnh của Đại Nguyên soái Chưởng Quốc Chính Thượng Sư Tây Vương (Chúa Trịnh Tạc), hành quân vào xứ Thuận Hóa, đã tỏ ra bề tôi trung nghĩa, lập nhiều chiến công, được các quan trong triều bình chọn và đề nghị, nay thăng chức Tri sự. Danh xưng mới là Tương sĩ lang, Tri sự lăng Lam Sơn, điện Tây Kinh, Hạ tự. Nay ban sắc.                                           

Ngày 6 tháng 12 năm Cảnh Trị thứ ba (1665).

Chú thích

(1). QĐ số 5658/ QĐ-UBND ngày 02/12/2015.

(2). Bốn thế hệ họ Hoàng Đăng có sắc phong gồm: Thủy tổ Hoàng Đăng Quỹ sinh Hoàng Thanh Mai (trưởng) và Hoàng Đăng Bạt (thứ); Hoàng Thanh Mai sinh Hoàng Đăng Tướng; Hoàng Đăng Tướng sinh Hoàng Lưu. 

 

Hồng Bắc

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tích ấn tượng về phát triển kinh tế và xã hội. Thành tích đó đã giúp nâng cao thu nhập, giảm nghèo và mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhiều người dân. Tuy nhiên hiện nay, Việt Nam đang đứng trước những ngã rẽ rất quan trọng. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Việt Nam sẽ phải dựa nhiều hơn vào việc tăng năng suất lao động thông qua phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Bởi vì, lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chính là giải pháp tạo ra những hoạt động có tính quyết liệt và đồng bộ các đột phá chiến lược cơ cấu nền kinh tế. Như vậy, vai trò của KHCN đã trở thành một động lực quan trọng trong cơ cấu lại nền kinh tế. Với cách xác định đó, KHCN sẽ là lực lượng sản xuất trực tiếp tham gia vào trong quá trình tạo ra sản phẩm dịch vụ và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, một nền kinh tế mà vai trò dẫn dắt dựa trên đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp là xu hướng của nhiều quốc gia trên thế giới. Đối với Việt Nam, thành tích tăng trưởng kinh tế ấn tượng của Việt Nam chủ yếu dựa trên vốn đầu tư và lao động giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên đã không còn thích hợp. Trong thời gian tới, tăng trưởng kinh tế sẽ phải dựa ngày càng nhiều vào tăng năng suất lao động. Động lực tăng năng suất quan trọng nhất chính là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó đổi mới sáng tạo được dẫn dắt bởi công nghệ và nhân lực chất lượng cao.

Trong điều kiện một nước phát triển với nguồn lực có hạn, quy mô và tiềm lực của nền kinh tế còn thấp nhưng Việt Nam đã có những tiến bộ đáng khích lệ so với các quốc gia thu nhập trung bình về xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo và một số lĩnh vực nghiên cứu KH&CN có thế mạnh... Năm 2018 vừa qua, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đã để lại nhiều dấu ấn: Chỉ số đổi mới sáng tạo liên tục tăng vượt bậc, dẫn đầu nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp (năm 2017 tăng 12 bậc, năm 2018 tăng tiếp 2 bậc, xếp thứ 45/126 quốc gia, trong đó, nhóm chỉ số về tri thức - công nghệ của Việt Nam có thứ hạng rất cao, xếp thứ 28). Tuy nhiên, nếu so sánh với các nước tiên tiến có nền khoa học công nghệ phát triển cao như Nhật Bản, Hoa Kỳ và các nước châu Âu như Đức, Hà Lan, Phần Lan,... thì chúng ta còn một khoảng cách rất xa, và có lẽ xa hàng thập kỷ  phát triển, cần rất nhiều nỗ lực, quyết tâm để thu hẹp khoảng cách. Bài viết lựa chọn giới thiệu về đất nước Phần Lan, một quốc gia nhỏ bé xinh đẹp đã có sự bứt phá mạnh mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội thế kỷ XX dựa trên sự phát triển của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thành công của đất nước chỉ có hơn 5 triệu dân là bài học rất hữu ích để chúng ta tham khảo, học tập.

Phần Lan là một quốc gia Bắc Âu có diện tích tương đương Việt Nam, nhưng quy mô dân số nhỏ hơn 16 lần (5,5 triệu người), thu nhập bình quân đầu người cao hơn 21 lần (47.129 USD).  Phần Lan được mệnh danh là đất nước của đổi mới sáng tạo. Trong những năm gần đây, Phần Lan luôn ở top 10 quốc gia hàng đầu thế giới về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) và Chỉ số cạnh tranh toàn cầu (GIC). Các chỉ số về hiệu quả của các tổ chức công, hệ thống giáo dục đại học, mức độ đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, công bố và trích dẫn quốc tế, hợp tác công - tư của Phần Lan cũng luôn đứng hàng đầu thế giới.

Về kinh nghiệm đổi mới sáng tạo của Phần Lan được thể hiện ở các yếu tố:

Xác định khoa học công nghệ là nền tảng cho Đổi mới sáng tạo

Để hoạt động ĐMST thành công trước hết phải dựa vào KH&CN - đây là nền tảng cơ bản của hoạt động ĐMST. Tùy từng giai đoạn phát triển khác nhau của mỗi đất nước mà xác định phát triển theo chiều ngang hay chiều dọc, nhưng căn bản cốt lõi vẫn phải dựa trên KH&CN.

Phát triển theo chiều dọc có nghĩa là phấn đấu đứng đầu thế giới về khoa học công nghệ. Tuy nhiên, chiều hướng này phù hợp hơn với các quốc gia mạnh về nguồn lực vì họ có đủ năng lực để dẫn đầu trong nhiều lĩnh vực, tiêu biểu như nước Mỹ. Mỹ đầu tư rất mạnh theo chiều dọc. Nếu nhìn vào số lượng những người đạt giải Nobel phần lớn trong số đó đều là người Mỹ. Điều này không phải ngẫu nhiên mà do các học viện và cơ sở đào tạo kỹ thuật của Mỹ có nguồn lực lớn về khoa học công nghệ, dẫn đầu trong một số lĩnh vực chuyên ngành nhất định.

Tuy nhiên, hướng đi này không khả thi với quốc gia nhỏ, nguồn lực còn hạn chế như Phần Lan hay Việt Nam. Các nước nhỏ phát triển theo chiều ngang sẽ hiệu quả hơn, đó là áp dụng công nghệ một cách hiệu quả nhất, tăng cường nắm bắt nhiều công nghệ khác nhau và áp dụng hiệu quả những công nghệ đó vào hệ thống kinh doanh, sản xuất, dịch vụ công, dịch vụ tài chính hiện có. Nghĩa là cách chúng ta sử dụng công nghệ hiện đại để cải thiện những hệ thống này.

 Cũng có nhiều quốc gia đã cố gắng trong hoạt động ĐMST nhưng họ không thành công như mong đợi vì có sự khác nhau về nền tảng KH&CN và đầu tư cho KH&CN. Thực tế đã chứng minh, nước nào đầu tư cho khoa học công nghệ đúng hướng, thỏa đáng thì đất nước đó thành công như trường hợp ở Hàn Quốc, Singapore,... Còn nhắc đến sự thành công trong đổi mới sáng tạo có các nước Bắc Âu, trong đó có Phần Lan.

Xây dựng hệ thống giáo dục chất lượng cao

Một trong những yếu tố thành công của Phần Lan đó là Chính phủ luôn đầu tư cho giáo dục ngay từ sớm. Khác với một số nước ở châu Âu hay Hoa Kỳ, Phần Lan đầu tư cho giáo dục ngay từ bậc tiểu học. Ở bậc tiểu học, học sinh được học những thầy giỏi nhất, với những kiến thức đầy đủ nhất và không có sự phân biệt, khoảng cách giữa học sinh thành phố hay nông thôn, hay khoảng cách giàu nghèo trong xã hội. Mọi cấp học, giáo viên phải có bằng đại học và thạc sĩ đáp ứng yêu cầu.

 Ngoài ra, mỗi địa phương sẽ có những đặc điểm riêng và các trường có thể tự chủ xây dựng chương trình riêng dựa trên chương trình giáo dục cốt lõi của quốc gia. Hệ thống giáo dục cũng luôn được cập nhật. Từ năm 2016, giáo dục Phần Lan áp dụng quan điểm giáo dục nhấn mạnh 4 nội dung: Phát huy vai trò tự học của học sinh; Tăng cường kết nối trong trường học và môi trường trường học với xã hội; Trường học là cộng đồng học tập; Tập trung phát triển sức khỏe tinh thần thể chất của học sinh. Sau 9 năm giáo dục cơ bản, khi học sinh đến 15 tuổi sẽ được lựa chọn chương trình học phù hợp với mình theo hướng hàn lâm hoặc trung học dạy nghề.

Tinh thần khởi nghiệp cũng được đưa vào giáo dục từ sớm cho các em. Các em được tìm hiểu về kinh tế, về các nền văn hóa khác và được tiếp xúc với các doanh nghiệp. Phần Lan đã triển khai các chương trình Me&My City, Me&My Globe, Me&My Business. Trong đó, các em học sinh từ 12 - 13 tuổi được tham gia trực tiếp như người đi làm trong môi trường giả lập thu nhỏ của một thành phố, một doanh nghiệp.

Phần Lan có tới 20 trường đại học hàng đầu, gần 30 trường polytechnics (còn được gọi là trường đại học khoa học ứng dụng), nhiều trường kỹ nghệ tiên tiến, và rất nhiều tổ chức nghiên cứu nổi tiếng thế giới, cung cấp một trong những lực lượng lao động được đào tạo tốt nhất thế giới.

Kết hợp giữa khu vực công (Nhà nước) và tư (doanh nghiệp) rất tốt

Doanh nghiệp là xương sống của bất kỳ nền kinh tế nào, chính vì vậy hỗ trợ doanh nghiệp phát triển là sứ mạng của mọi chính phủ. Chính phủ cần tránh lựa chọn các giải pháp công nghệ để đảm bảo cơ hội tiếp cận các giải pháp và ý tưởng tốt hơn cho thị trường. Chính phủ cấp vốn, hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng. Doanh nghiệp đưa ra những quyết định quan trọng và chấp nhận rủi ro trong khi khối nghiên cứu học thuật phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp. Có thể nói, chỉ khi nào hai khối công - tư có thể tận dụng các điểm mạnh của mỗi bên để phối hợp đạt hiệu quả tốt thì khi đó mọi đường hướng sẽ thành công. Và Phần Lan đã làm rất tốt điều này, trở thành hình mẫu cho nhiều nước học tập. Ở Phần Lan, Hội đồng chính sách khoa học và công nghệ do Thủ tướng đứng đầu, chịu trách nhiệm về việc hoạch định chính sách khoa học, công nghệ và sáng chế quốc gia. Thành viên của Hội đồng này được chọn từ cả hai khối: nhà nước và tư nhân. Trong khu vực nhà nước, các bộ của chính phủ chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách, và tương tự như vậy, các công ty đóng vai trò tích cực trong khối tư nhân. Ngoài ra, còn có một số tổ chức giúp việc cố vấn, hỗ trợ và tài chính, hợp tác và giúp đỡ quá trình thực hiện chính sách và trong các công việc phát triển sáng chế cụ thể. Và Phần Lan đã làm rất tốt điều này, trở thành hình mẫu cho nhiều nước học tập.

Trên thực tế, tài sản, kỹ năng và năng lực của khối tư nhân cần được khối nhà nước phát huy tối đa. Khối nhà nước sẽ không thể trụ vững trong tương lai nếu thiếu đi những kỹ năng, nhân tài và năng lực sẵn có này. Tương tự, khối tư nhân cũng không thể thành công nếu Chính phủ không tạo ra môi trường hỗ trợ cho sự phát triển của khối tư nhân. Tính chất phụ thuộc lẫn nhau này tồn tại ở khắp nơi, bất kể quy mô của các nước dù nước nhỏ hay nước lớn. Đây là nội dung quan trọng khi ta nghĩ tới tương lai của hệ thống đổi mới sáng tạo. Ta cần gây dựng mối quan hệ hợp tác đó và phải hiểu rằng cả nhà nước và tư nhân đều có lợi nếu làm đúng cách.

Nghiên cứu phải gắn liền với sản xuất

Sự phối hợp chặt chẽ giữa khối nghiên cứu (các trường đại học, viện nghiên cứu) với khối sản xuất (doanh nghiệp) để đưa ra sản phẩm theo đúng yêu cầu của xã hội là một triết lý mà Phần Lan đã làm trong nhiều thập niên qua. Các nhà nghiên cứu Phần Lan đang đi đầu trong một số lĩnh vực như làm vật liệu mới, môi trường, hệ thần kinh, vật lý học nhiệt độ thấp, nghiên cứu trí tuệ, công nghệ sinh học, công nghệ gen/di truyền và đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin. Những thành tựu của họ đã nói lên tất cả về họ. Những đánh giá quốc tế về sáng chế, nghiên cứu và phát triển, công nghệ và năng lực cạnh tranh đã công nhận Phần Lan thuộc các các nước đi đầu trong các lĩnh vực này.

Sự phối hợp hiệu quả này còn thể hiện ở chỗ, các sinh viên dành phần lớn thời gian của mình trải nghiệm thực tế tại các doanh nghiệp, đây là những học phần bắt buộc để họ có thể cọ sát với thực tế trước khi tốt nghiệp. Điều này giúp cả hai khối luôn có sự gắn bó chặt chẽ, sản phẩm được tạo ra luôn đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng. Theo Luật Đại học ở Phần Lan, các trường đại học trở thành pháp nhân độc lập và tự chủ tài chính. Trách nhiệm bố trí ngân sách cho các trường thuộc về Chính phủ thay vì các chính quyền địa phương. Bộ Giáo dục và Văn hóa giám sát chất lượng và hiệu quả hoạt động của các trường đại học thông qua công cụ đánh giá độc lập và công khai kết quả đánh giá. Trong hoạt động nghiên cứu, nếu trường đại học thu hút được 1 Euro đầu tư từ khu vực tư nhân thì sẽ được nhà nước hỗ trợ thêm 3 Euro.

Bên cạnh các trường đại học, ở Phần Lan còn có các Viện nghiên cứu công lập hoạt động theo 5 nguyên tắc: cải thiện hạ tầng nghiên cứu; thúc đẩy khoa học mở (open science); mở rộng mạng lưới nghiên cứu quốc tế; hợp tác nghiên cứu chung giữa các viện; tiếp cận mở đối với các nguồn lực. Viện Hàn lâm Phần Lan là một quỹ công lập thực hiện chức năng nghiên cứu, cung cấp các tài trợ cho nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ nghiên cứu và cải thiện tiềm lực nghiên cứu.

Rõ ràng, liên kết và hợp tác trong cả xã hội và kinh doanh và đặc biệt là giữa các ngành với các trường đại học, đẩy mạnh kết hợp đầu tư công - tư trong nghiên cứu và phát triển đã góp phần rất lớn cho sự phát triển của đất nước Phần Lan hiện nay.

Không ngừng thay đổi để nắm bắt tương lai

Đổi mới sáng tạo là chúng ta chấp nhận cái mới cùng sự rủi ro, bởi vì nếu không chấp nhận cái mới và không chấp nhận rủi ro thì không thể có đổi mới sáng tạo. Chính vì vậy, ở một thời điểm nhất định, khi phải đứng trước những lựa chọn sinh tử, tổ chức, cá nhân cần phải biết thay đổi khái niệm đúng lúc, chấp nhận rủi ro để đạt được thành công.

Chính tâm thế sẵn sàng đón nhận cái mới và chấp nhận rủi ro đã mở đường cho việc liên tục thay đổi tư duy và khái niệm để có đổi mới sáng tạo ở Phần Lan. Tại Phần Lan, việc hoạch định chính sách dựa trên tư duy thay đổi khái niệm ngay từ khi khái niệm đó còn chưa đến điểm khủng hoảng nhằm đón trước được tương lai. Đây cũng chính là một trong những nhân tố cơ bản giúp Phần Lan thành công trong việc tăng trưởng kinh tế nhờ đổi mới sáng tạo. Ngoài ra, các nhân tố khác giúp Phần Lan có được sự tăng trưởng như ngày nay là việc nước này chú trọng đầu tư vào công nghệ cao để tiến xa hơn và việc chính phủ luôn nỗ lực hỗ trợ và đầu tư để tạo ra các thể chế thúc đẩy hợp tác công tư, qua đó tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo.

Cụ thể, Chính phủ Phần Lan tiến hành thực hiện giảm dần các ngành công nghiệp khai khoáng, hóa chất, khai thác rừng… đã làm ô nhiễm môi trường để chuyển dần sang các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao, đảm bảo xanh, sạch, có hàm lượng tri thức cao; Tiến hành cải cách mạnh mẽ, sử dụng phổ biến thương mại điện tử trong kinh doanh, dùng máy móc thay thế cho con người trong các dịch vụ ở sân bay và các cơ sở dịch vụ công cộng khác. Phần Lan cũng đang mở rộng xây dựng trụ sở các công ty đa quốc gia của thế giới trên đất nước mình. Đồng thời tiếp tục hỗ trợ và đẩy mạnh phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ của đất nước.

Phần Lan đang xây dựng mô hình kinh tế dựa trên sự đồng thuận cao và nhất quán trong dài hạn giữa chính trị gia, giới doanh nghiệp với công đoàn, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Trong đó, các doanh nghiệp làm việc với công đoàn để cân bằng lương bổng, đảm bảo việc làm cho người lao động. Còn chính phủ thực thi các chính sách trợ cấp xã hội hợp lý, kết hợp giữa phúc lợi xã hội hợp lý với quản lý, quản trị chặt chẽ. Trước đây, Phần Lan tập trung củng cố nền tài chính công vững mạnh, nhưng hiện nay họ thực hiện các gói kích thích kinh tế, nới lỏng định lượng (QE), dựa trên sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước. Và Nokia chính là bài học điển hình của đất nước Phần Lan. Từ một doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất giấy và bột giấy, Nokia đã biết thay đổi khái niệm đúng lúc, nắm bắt đúng hướng công nghệ của tương lai và trở thành một trong những đế chế về điện thoại di động và dịch vụ viễn thông lớn mạnh nhất trên toàn cầu. Tuy rằng cho đến nay, Nokia đã bị một số "ông lớn" vượt qua, nhưng khi nhắc đến Nokia người ta vẫn nhớ đến một thương hiệu toàn cầu với bài học thành công về sự đổi mới sáng tạo mà không phải doanh nghiệp nào cũng làm được.

 Những bài học hay trên con đường của Phần Lan vươn mình trở thành nền kinh tế sáng tạo thứ 4 thế giới, trung tâm khởi nghiệp của châu Âu để lại nhiều bài học quý giá cho những quốc gia đang muốn nâng cao năng lực của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp lành mạnh, phát triển các doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững dựa trên đổi mới sáng tạo như Việt Nam.

 

* Hội nghị Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo - Một trụ cột cho phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam

Sáng 15/5, tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Hà Nội, Bộ Khoa học và Công nghệ, Đại sứ quán Australia tại Việt Nam và Liên minh Đổi mới Phát triển Quốc tế (IDIA) phối hợp tổ chức Hội nghị "Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo - Một trụ cột cho phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam".

Tham dự có Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng với các nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng, Chính phủ, bộ, ngành; đại diện bộ, ban, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp. Về phía đối tác quốc tế, có hơn 50 đại biểu là đại diện cấp cao của các thành viên IDIA; đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam, một số tổ chức và doanh nghiệp nước ngoài, Đại sứ quán và các cơ quan liên quan của Australia và một số nước khác.

Tại Hội nghị, các bộ, ngành, địa phương của Việt Nam và các đối tác quốc tế đã trao đổi về cách thức mà khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng góp cho tăng trưởng kinh tế - xã hội ở Việt Nam; cách thức hoạch định các cơ chế chính sách về phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; tăng cường liên kết với mạng lưới Liên minh Đổi mới Phát triển Quốc tế lần đầu tiên nhóm tập hợp tại Việt Nam - gồm các tổ chức thành viên từ các chính phủ, tổ chức quốc tế, các quỹ hàng đầu thế giới về đổi mới sáng tạo (từ các nhà tài trợ đa phương (WB, UNDP) đến các nhà tài trợ song phương quan trọng (như Tổ chức viện trợ Australia, USAID, Tổ chức viện trợ Vương quốc Anh...) cũng như các tổ chức tư nhân lớn (như Quỹ Rockefeller và Quỹ Bill & Melinda Gates)). Tại đây, các chuyên gia của Ngân hàng thế giới, Data61 và Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc - UNDP cũng đã đưa ra những tham luận chia sẻ về vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với sự phát triển kinh tế - xã hội thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, và khuyến nghị giúp Việt Nam tận dụng cơ hội cuộc cách mạng 4.0;...

Phát biểu tại Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh đến việc sử dụng công nghệ nhân loại để giải quyết vấn đề Việt Nam, bài toán Việt Nam, từ đó vươn ra giải quyết bài toán toàn cầu. Theo Thủ tướng, cách mạng 4.0 là cơ hội cho những ý tưởng, sáng tạo mới thay đổi nền kinh doanh. Cơ hội đến từ chính sự nỗ lực trong thách thức đó, phát huy lợi thế trong thời đại số. Việt Nam cần chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu nền kinh tế, chủ yếu dựa vào nhân lực công nghệ chất lượng cao,...

Hồ Thủy

* Nhiều hoạt động kỷ niệm Ngày Khoa học công nghệ Việt Nam 18/5             

Nhân Ngày Khoa học công nghệ Việt Nam với chủ đề "Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo kiến tạo tương lai", Sở Khoa học và Công nghệ đã tổ chức nhiều hoạt động chào mừng: Tuyên truyền, phổ biến pháp luật khoa học và công nghệ, vai trò của khoa học và công nghệ, các hoạt động khoa học và công nghệ; Các cơ quan đơn vị và các huyện thành thị treo băng rôn, khẩu hiệu chào mừng ngày KHCN; Tọa đàm kỹ năng viết thuyết minh tham gia cuộc thi "Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Nghệ An năm 2019" tại Trường CĐ nghề Việt - Đức; Tổ chức tập huấn về đăng ký bảo hộ, khai thác, sử dụng và bảo vệ Nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp tại Tòa nhà Thiên Minh Đức; Giao lưu thể thao bóng chuyền với Sở Công thương, Sở Tư pháp và liên quân phòng KTHT các huyện, thành, thị; Giao lưu bóng đá giữa các đơn vị trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ;...

Hồng Bắc

* Nghệ An: 68 sản phẩm, mô hình lọt vào chung kết cuộc thi "Sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng năm 2019"              

Vừa qua, Liên hiệp Hội KH&KT phối hợp với Sở KH&CN, Sở GD&ĐT, Tỉnh đoàn tổ chức Lễ "Khai mạc chung kết và trao giải cuộc thi sáng tạo khoa học thanh thiếu niên - nhi đồng tỉnh Nghệ An năm 2019".

Cuộc thi sáng tạo thanh thiếu niên - nhi đồng là cuộc thi quốc gia được tổ chức hàng năm trên phạm vi toàn quốc nhằm khơi dậy tiềm năng, phát huy tinh thần tư duy sáng tạo của thanh thiếu niên - nhi đồng, hướng cho các em vào các hoạt động trí tuệ và nghiên cứu, nâng cao chất lượng học tập hoạt động thực tiễn, làm ra được các sản phẩm hữu ích nhằm phục vụ cho đời sống.

Sau 1 năm phát động, ở Nghệ An đã có 103 hồ sơ đăng ký dự thi. Sau vòng sơ khảo, Ban tổ chức đã tuyển chọn được 68 sản phẩm và mô hình vào vòng thi chung kết. Theo đánh giá của Ban tổ chức, các sản phẩm, sáng chế năm nay của các em  đều có tính sáng tạo, nhiều sản phẩm được ứng dụng từ thiên nhiên, gần gũi với con người, đặc biệt là có thể áp dụng vào thực tiễn của cuộc sống.

Linh Nhi

* Hội thảo khoa học "Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản tỉnh Nghệ An"

Ngày 8/5, tỉnh Nghệ An tổ chức Hội thảo khoa học "Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản". Tham dự có ông Trương Đình Tuyển - nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, Tổ trưởng tổ Tư vấn KT-XH của tỉnh; PGS.TS Trần Đình Thiên - nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam; PGS.TS Đặng Văn Bài - Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia; lãnh đạo Cục Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch; các nhà khoa học đầu ngành trong nước.

Hội thảo nhằm mục tiêu đánh giá lại đúng giá trị, tiềm năng của hệ thống các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh. Làm rõ những vấn đề xung quanh mối quan hệ giữa việc bảo tồn và phát triển di sản. Đề xuất các giải pháp phù hợp để khai thác, phát huy giá trị di sản nhằm hiện thực hóa nguồn tài nguyên này cho sự phát triển du lịch, tạo động lực mới cho sự phát triển văn hóa, xã hội và các ngành kinh tế khác.

37 tham luận tại Hội thảo đã tập trung làm rõ 3 nội dung chính gồm: Giá trị, tiềm năng của hệ thống di sản văn hóa tỉnh Nghệ An; Kinh tế di sản - động lực mới cho phát triển; Một số định hướng bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản tỉnh Nghệ An.

Tại Hội thảo, các chuyên gia, các nhà khoa học đã trình bày quan điểm tiếp cận mới trong công tác quản lý di sản như: Phát triển kinh tế di sản nhìn từ góc độ di tích danh thắng ở nhiều địa phương trong cả nước; Thực trạng văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh; Quản lý, bảo tồn và phát huy di tích khảo cổ học, hiện trạng và giải pháp; Bảo tồn, phát huy không gian và hình thức trình diễn dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh trong thời kỳ cách mạng 4.0…

Phát biểu kết luận Hội thảo, PGS.TS Đặng Văn Bài cho rằng các ý kiến, các bài tham luận tại Hội thảo đều là những ý tưởng mới; các giải pháp đề ra đều thiết thực, các cơ quan liên ngành tỉnh Nghệ An nên hiện thực hoá để bảo tồn bền vững và phát huy giá trị cũng như phát triển kinh tế di sản Nghệ An trong thời gian tới.

Hồng Bắc

* Hội đồng tuyển chọn Đề tài khoa học "Nghiên cứu nguồn gốc ra đời và giải pháp phát huy Lễ hội Bươn Xao trong phát triển du lịch cộng đồng tại xã Tiên Kỳ, huyện Tân Kỳ"

Sáng ngày 3/5/2019, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An tổ chức Hội đồng tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện Đề tài khoa học "Nghiên cứu nguồn gốc ra đời và giải pháp phát huy lễ hội Bươn Xao trong phát triển du lịch cộng đồng tại xã Tiên Kỳ, huyện Tân Kỳ". Ông Hoàng Nghĩa Nhạc - Phó Giám đốc Sở KH&CN - Chủ tịch Hội đồng.

Đề tài được xây dựng với mục tiêu xác lập cơ sở khoa học về nguồn gốc ra đời và quá trình phát triển của Lễ hội Bươn Xao và đề xuất giải pháp đưa Lễ hội Bươn Xao vào phát triển du lịch cộng đồng cho huyện Tân Kỳ.

Các thành viên tham gia đã có những đánh giá, nhận xét và góp ý bổ sung cho thuyết minh của đề tài về nội dung triển khai, phương pháp và cách tiếp cận. Các thành viên hội đồng đã chấm điểm và thông qua. Đề tài được triển khai trong vòng 20 tháng, chủ nhiệm đề tài Ths. Phan Hồng Hải và đơn vị chủ trì là Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An.

Hoàng Anh

* Họ Trần xã Diễn Phúc, Diễn Châu đón nhận Bằng Di tích lịch sử cấp tỉnh

Vừa qua, tại thôn Yên Xuân, xã Diễn Phúc, huyện Diễn Châu, Nghệ An, Sở Văn hóa và Thể thao đã trao Bằng xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh Nhà thờ họ Trần và mộ Quản Giáp ca trù Trần Đức Lương.

Nhà thờ họ Trần ở Yên Xuân, xã Diễn Phúc là một trong những cơ sở chính của giáo phường đào tạo ca trù. Nhà thờ được xây dựng từ thời Lê Trung hưng, là dòng họ có truyền thống quản giáp, ca trù, nghiệp binh trong triều đại các đời vua chúa Trịnh. Trong đó, có nhiều người nổi tiếng được phong tước như: cha con ông Trần Đức Chinh, Trần Đức Lương,...

Nhà thờ họ Trần và mộ Quản Giáp ca trù Trần Đức Lương được công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh không chỉ là niềm vinh dự, tự hào của con cháu trong dòng họ mà còn là trách nhiệm lớn lao của con cháu dòng họ trong việc giữ gìn, bảo tồn phát huy giá trị của di tích trong thời gian tiếp theo.

H.T

* Giới thiệu sách: Sử thi Thái - Nghệ An

"Sử thi Thái - Nghệ An" là cuốn sách do tác giả Quán Vi Miên sưu tầm và biên soạn, in và nộp lưu chiểu quý 4 năm 2018.

"Sử thi Thái - Nghệ An" là tên gọi chung của tập sách gồm ba sử thi: Lai lông mương, Lai mổng mương, Lai Khủn Chưởng. Ba sử thi này đều ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên, làng bản, đồng thời thể hiện khát vọng của con người trong đấu tranh chinh phục thiên nhiên và các tộc người để xây dựng, mở mang làng bản, bờ cõi.

Lai lông mương (Xuống mường) nói về sự xuất hiện vũ trụ, sự sống được sinh ra từ đất và trời. Lai mổng mương (Trông mường) ca ngợi cảnh đẹp của bản mường, thiên nhiên, con người, phong tục tập quán của người Thái miền Tây Nghệ An. Lai Khủn Chưởng (Khun Chương) là nhân vật anh hùng trong sử thi của người Thái với ba nhiệm vụ: lấy vợ, làm lụng và đánh giặc, xây dựng bản mường ngày giàu đẹp. Ba Sử thi đều có phần giới thiệu, phiên âm tiếng Thái, dịch ra tiếng Việt và Phụ lục.

"Sử thi Thái - Nghệ An" ra đời với mục đích gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Hoàng Anh

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.