« Quay lại

Chuyên san KHXH&NV số 6/2019

Đoàn Mạnh Tiến

          Chủ tịch Hồ Chí Minh không những là vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại mà còn là một nhà báo lớn. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người thường nhắc nhở các nhà báo khi chuẩn bị viết bài báo, trước hết phải chú ý đến người đọc. "Trước khi cầm bút, các nhà báo phải tự đặt ra câu hỏi: "Mình viết cho ai đọc?". Câu trả lời rõ ràng là: Mình viết cho quần chúng nhân dân, cho người lao động đọc, phải viết cho họ như viết cho người bạn tâm tình, người đồng chí thân thiết với tất cả thái độ tôn trọng và lòng yêu mến chân thành" (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, trang 258). Như vậy, Người đã xác định rõ ràng: quần chúng nhân dân, người lao động là đối tượng mà các nhà báo phải hướng tới. Bởi vậy, Người đã nhiều lần căn dặn rằng, khi cầm bút viết, mỗi nhà báo cần phải chú ý những điều sau đây:

Một là, "phải viết cho sát đối tượng. Muốn vậy, phải viết theo cách nói của quần chúng nhân dân, phải sử dụng những từ ngữ mà họ hay dùng, những cách nói quen thuộc trong đời sống hàng ngày của họ" (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, trang 231). Về mặt này, Bác Hồ là tấm gương mẫu mực. Người viết thư cho tầng lớp nào thì Người dùng cách nói phù hợp với tầng lớp đó, làm cho họ thấy gần gũi, dễ hiểu, phù hợp với mình. Ví dụ khi viết thư gửi đồng bào đạo Phật, Người đã dùng những chữ họ vốn hay dùng, làm cho họ trở về với những điều họ đã biết, lấy những điều đã biết để hiểu cái mới mà Người muốn nói: "Đời sống của nhân dân ta dần dần được cải thiện, cũng như tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm... Cuối cùng tôi xin chúc các vị luôn mạnh khỏe, tinh tiến tu hành, phục vụ chúng sinh, phụng sự Tổ quốc, bảo vệ hòa bình". Hoặc khi viết cho nông dân về việc phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí thì Bác lại nói theo cách nói của nông dân: "Ta muốn lúa tốt thì phải nhổ cỏ cho sạch, nếu không thì dù cày bừa có kỹ, bón phân nhiều lúa vẫn xấu và lúa bị cỏ át đi. Muốn thành công trong việc tăng gia sản xuất và tiết kiệm cũng phải nhổ cỏ cho sạch, nghĩa là phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí, quan liêu" (Báo Nhân dân, 18/6/1961).

Hai là, phải viết giản dị, dễ hiểu. Bác từng căn dặn: "Nhớ là phải viết ngắn gọn, rõ ràng, nói những điều thiết thực, đi thẳng vào nội dung mình định nói, không kề cà, dài dòng" (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, trang 185). Ví dụ như khi nói về các khái niệm "dân chủ", "chuyên chính", những khái niệm rất trừu tượng, khó hiểu nhưng Bác lại dùng những chữ gần gũi, quen thuộc với quần chúng nhân dân nên họ thấy cụ thể và dễ hiểu: "Như cái hòm đựng của cải thì phải có khóa. Nhà thì phải có cửa. Khóa và cửa cốt đề phòng kẻ gian ăn trộm. Dân chủ là của cải quý báu nhất của nhân dân, chuyên chính là cái khóa, cái cửa để đề phòng kẻ phá hoại, nếu hòm không có khóa, nhà không có cửa thì sẽ mất cắp hết. Cho nên có cửa thì phải có khóa, có nhà thì phải có cửa. Thế thì dân chủ cũng cần phải có chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ" (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, trang 205). Khi quần chúng đọc những câu trên thì họ thấy cái cửa, cái hòm, cái khóa rất cụ thể, quen thuộc với họ, cho nên họ thấy các khái niệm "dân chủ", "chuyên chính" được Người giải thích rất rõ, cho nên đọc thấy dễ hiểu.

Ba là, bài báo phải có tính chiến đấu, phải đấu tranh không khoan nhượng chống kẻ thù giai cấp, chống tiêu cực, tham nhũng,... Theo Bác, "mỗi nhà báo phải luôn luôn tự xác định báo chí là một mặt trận, mỗi người là một chiến sĩ trên mặt trận ấy, phải tham gia vào cuộc đấu tranh tư tưởng, phê bình những cái sai, những thói hư tật xấu trong xã hội, xây dựng cuộc sống mới, con người mới, dám bảo vệ cái đúng, không uốn cong ngòi bút của mình" (Bài nói chuyện tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ ba - 1962). Về mặt này, Bác đã nêu gương sáng. Các bài của Bác như "Bản án chế độ thực dân Pháp", "Tội ác của giặc Mỹ trời không dung, đất không tha", "Chống tham ô, lãng phí, quan liêu", v.v... đã góp phần quan trọng vạch mặt kẻ thù, xây dựng xã hội mới.

Bốn là, phải viết cho hấp dẫn, sinh động, lôi cuốn người đọc. Muốn vậy, phải chịu khó tìm tòi những từ ngữ, hình ảnh, cách nói hay để thu hút người đọc. Như Bác từng viết: "Chủ nghĩa đế quốc như con đỉa hai vòi", "Đi theo chủ nghĩa cá nhân thì cuộc đời mình sẽ xuống dốc, mà xuống dốc thì dễ hơn lên dốc", "Có đức mà không có tài thì chỉ giống như ông bụt ngồi trên chùa, không giúp được ai", "Với niềm phấn khởi như mùa xuân, nhiệt tình như ánh nắng, chúng ta hãy bước vào công việc", v.v...

Năm là, các nhà báo phải thường xuyên rèn luyện toàn diện để đáp ứng nhu cầu của thời đại và của xã hội và của người đọc. "Trước hết, để làm tròn nhiệm vụ của mình, các nhà báo phải tự mình tu dưỡng đạo đức cách mạng trong đó có đạo đức nhà báo, thường xuyên học tập chính trị để nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động bởi vì báo chí là để phục vụ quần chúng nhân dân. Không những phải trau dồi bản lĩnh chính trị vững vàng mà còn phải tích cực học tập nghiệp vụ, văn hóa, khoa học kỹ thuật" (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, trang 215). Trong điều kiện hiện nay, những lời Bác dạy trên đây càng có ý nghĩa thời sự, tình hình chính trị, tư tưởng bên cạnh những thuận lợi, vẫn có những diễn biến phức tạp, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, v.v... đòi hỏi mỗi nhà báo phải luôn luôn tự rèn luyện mình, phải khiêm tốn học hỏi.

Sáu là, khi viết báo phải cẩn trọng, kiên trì, công phu, "khi viết xong rồi, mỗi nhà báo phải đọc đi đọc lại nhiều lần, tự xem xét có sai gì về ý, về câu, về chữ không. Nếu có sai thì phải sửa ngay. Bởi vì khi đang viết thì bài là của mình, đến khi đăng bài rồi thì cả xã hội đọc nên phải rất cẩn thận, phải dò từng ý, từng câu" (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, trang 35).

Trên đây, chúng tôi chỉ mới tóm tắt một số vấn đề chính mà Bác căn dặn các nhà báo. Có thể nói đây là một trong những di sản quý giá đối với những người cầm bút hôm nay. Chúng ta hãy cùng nhau suy ngẫm, thực hành, góp phần thắng lợi vào phong trào học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

 

Hồ Bất Khuất

Trong những năm gần đây, việc trao đổi về mối quan hệ giữa báo chí và mạng xã hội đã trở nên thường xuyên và khá nóng bỏng. Vấn đề nằm ở chỗ có khá nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí là đối lập nhau trong việc đánh giá vai trò của mạng xã hội đối với hệ thống truyền thông nói chung, báo chí nói riêng.

Sức mạnh của mạng xã hội là không phải bàn cãi!

Mạng xã hội (MXH) là một cụm từ đã trở nên quá quen thuộc đối với chúng ta. Hiện nay, hầu hết những người biết đọc, biết viết đều sử dụng MXH. MXH xuất phát từ một cụm từ tiếng Anh: Social Networking Service (dịch đầy đủ ra tiếng Việt là Dịch vụ mạng xã hội) - Là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet với nhiều mục đích khác nhau, không bị hạn chế về không gian và thời gian. Những người tham gia MXH còn được gọi là cư dân mạng.

MXH có những tính năng như chat, e-mail, voice chat, chia sẻ file, blog... MXH liên kết cư dân mạng với nhau và trở thành một phần tất yếu của cuộc sống hàng ngày của hàng tỷ người trên khắp thế giới. Hiện nay thế giới có hàng trăm dịch vụ mạng xã hội khác nhau, phổ biến như MySpace, Facebook, Google+, Zalo, Twitter, Instagram… Đặc điểm cơ bản của MXH bao gồm 2 đặc điểm cơ bản: 1. Có sự tham gia trực tuyến của các cá nhân; 2. Có các trang web mở, người tham gia tự xây dựng nội dung, các thành viên biết được các thông tin mà họ đưa lên. Như vậy, trên nền    Internet, MXH cho phép người dùng giao lưu và chia sẻ thông tin gần như không có giới hạn. Những thông tin này nhằm phục vụ những yêu cầu của cộng đồng; nâng cao vai trò của mỗi người trong việc tạo lập quan hệ và tự tổ chức xoay quanh những mối quan tâm chung trong những cộng đồng, thúc đẩy sự liên kết các tổ chức xã hội. Trong thời đại 4.0, MXH tạo ra siêu liên kết, siêu tương tác, siêu chia sẻ… Đây chính là sức mạnh vô cùng to lớn của MXH.

Đến thời điểm này, tất cả những người làm việc trong lĩnh vực truyền thông, dù muốn hay không đều phải công nhận vai trò quan trọng của MXH. Riêng các tòa soạn báo đều lặng lẽ thừa nhận sức mạnh to lớn của MXH và lên kế hoạch đối phó. Nhiều tòa soạn khôn ngoan đưa ra kế hoạch khai thác MXH trong chiến lược phát triển của mình. Rõ ràng, MXH đã trở thành một yếu tố không thể thiếu trong quy trình sản xuất các tác phẩm của các cơ quan báo chí, cũng như của từng cá nhân các nhà báo. Hầu hết các cơ quan báo chí đều quan tâm đến những gì mà MXH tạo ra, bởi chúng không chỉ giúp các tòa soạn tiếp cận nhiều bạn đọc hơn, mà còn được hỗ trợ bởi sự tham gia của cộng đồng.

Với sự hoạt động mạnh mẽ của MXH, một số khái niệm cơ bản trong lĩnh vực thông tin như "Truyền thông", "Báo chí", "Tuyên truyền" được hiểu dưới ánh sáng mới, nghĩa là chúng có thể thêm bớt nội hàm. "Truyền thông" được hiểu là sự hoạt động của hệ thống cung cấp, chia sẻ thông tin một cách khách quan. "Báo chí" là phần cốt lõi, là bộ phận tinh nhuệ nhất, chuyên nghiệp nhất của truyền thông; đang chịu áp lực lớn từ MXH. "Tuyên truyền" là hoạt động cung cấp, chia sẻ thông tin có định hướng, có mục đích rõ ràng, mang đậm tính chủ quan. Trong hoạt động của MXH, khái niệm "Tuyên truyền" hình như không được hoan nghênh, chào đón lắm. Điều này khiến các nhà báo - những người hoạt động truyền thông chuyên nghiệp - phải xem lại cách lấy tin, thẩm định tin, cung cấp tin của mình.

MXH đã khẳng định sức mạnh to lớn của nó trong hoạt động truyền thông khiến một số nhà nghiên cứu nhận định: MXH không chỉ chèn ép và "nuốt chửng" báo chí, mà nó còn "nuốt chửng" mọi thứ; nó "nuốt chửng" các chiến dịch vận động chính trị, tranh cử, bầu cử; nó "nuốt chửng" các hệ thống ngân hàng, ngành giải trí, bán lẻ; thậm chí, nó "nuốt chửng" cả nhưng hoạt động nhân đạo, nhân văn… Ở đây, chúng ta đặc biệt chú ý tới nhận định MXH đang chèn ép và có thể "nuốt chửng" báo chí.

Báo chí và MXH song hành và hợp lực

Ở Việt Nam, một số nhà lãnh đạo, chuyên gia trong lĩnh vực tuyên giáo, thông tin, tuyên truyền có ý cho rằng, MXH đang cạnh tranh với báo chí và đang có cơ hội vượt trội. Nếu các tòa soạn, các nhà báo không cảnh giác, MXH sẽ thắng trong cuộc cạnh tranh này. Đây là ý kiến đang lưu truyền trong một bộ phận không nhỏ thuộc những người làm công tác trong lĩnh vực chính trị - tư tưởng.

Ý kiến này dựa trên một thực tế là ở Việt Nam có trên 60 triệu người tham gia MXH, họ có mặt ở khắp mọi nơi nên thông tin và ý kiến của họ áp đảo khoảng 40.000 nhà báo chuyên nghiệp (mới khoảng 20.000 nhà báo được cấp Thẻ Nhà báo) làm việc trong gần 900 cơ quan báo chí. Hơn nữa, ý kiến của dân cư mạng thường tỏ ra hấp dẫn hơn vì họ nói và viết rất mạnh dạn.

Theo tôi, hiện tượng là như vậy nhưng bản chất vấn đề khác. Trên thực tế, MXH không cạnh tranh với báo chí vì đại bộ phận dân cư mạng không có ý định mưu sinh bằng việc cung cấp thông tin mang tính thời sự, chính trị (việc bán hàng online hay tạo ra các kênh giải trí là những câu chuyện khác). Hơn nữa, thông tin của MXH tuy nhanh, nhiều nhưng kém chất lượng, kém về độ tin cậy. Ý kiến trên MXH mang đậm tâm lý đám đông, lời lẽ lại gay gắt, thậm chí thô tục nên ít có sức thuyết phục. Do vậy, thông tin và ý kiến trên MXH chủ yếu chỉ có ý nghĩa tham khảo, chúng không thể trở thành cơ sở nhận thức của độc giả, thính giả, khán giả. Các cơ quan báo chí có thể hưởng lợi từ MXH nếu như các tòa soạn biết khai thác những điểm mạnh, điểm yếu của MXH.

Hoạt động của báo chí cần phải chuyên nghiệp hơn

Trên thực tế, MXH đang mang lại nhiều lợi ích cho các tòa soạn. MXH tạo ra các cuộc trao đổi, đối thoại đa chiều giữa tòa soạn, các nhà báo và độc giả. Hầu hết tòa soạn đều có Fangage để kết nối bạn đọc. Nhiều người chơi facebook thường giới thiệu những bài viết hay trên báo chí cho bạn bè bằng cách dẫn các đường link những bài báo đó. Đã xẩy ra nhiều trường hợp, khi các bình luận của dân cư mạng đã giúp các nhà báo tìm ra những góc nhìn mới, cách tiếp cận mới cho các bài viết của họ.

Một số chuyên gia trong lĩnh vực truyền thông trên thế giới cho rằng, do sự phát triển như vũ bão của MXH, các nhà báo giờ đây không cần phải là người săn tin, phát hiện ra thông tin nữa, mà họ nên đảm trách sứ mạng thẩm định thông tin và giải thích thông tin đó. Tác giả Margaret Simons đã đưa ra nhận định trên tờ The Guardian (Anh quốc): "Các nhà báo đã trở thành những người tiếp nhận thông tin chứ không phải những người tạo ra thông tin". Đúng là đã xuất hiện một xu thế làm báo kiểu mới, theo đó các nhà báo sử dụng MXH để thu thập thông tin, thẩm định thông tin và sau đó cung cấp thông tin trong các bài viết của mình. Đã có hiện tượng một số "tin nóng" xuất hiện trên MXH trước khi được đăng tải trên các phiên bản điện tử của các cơ quan báo chí. Từ đây dẫn tới việc một số tòa soạn thành lập riêng nhóm "Biên tập viên MXH" có kỹ năng chuyên biệt để xử lý, khai thác thông tin trên MXH cho các trang báo của mình.

Ở Việt Nam cũng đã manh nha có những hoạt động này. Đã xuất hiện những nhà báo trong một tháng có tới 160 tin, bài được tòa soạn sử dụng. Những nhà báo này là "siêu nhân" đi nhiều, biết nhiều, viết khỏe thế sao? Không hề, họ hầu như không đi đâu, chỉ lên mạng, "lướt nét" và tìm những thông tin đáng giá. Họ không ngờ nghệch bê ngay và bê nguyên những thông tin này vào bài viết của mình, mà họ gọi điện cho các chuyên gia nhằm thẩm định độ tin cậy của thông tin rồi mới sử dụng.

Như vậy, rõ ràng MXH đã giúp cho việc chuyển tải tin tức kịp thời và rộng rãi hơn. Nhiều thông tin trên MXH được các cơ quan báo chí sử dụng. Báo chí có giấy phép đang nỗ lực làm tất cả những gì có thể trong khả năng của mình để cung cấp thông tin cho đọc giả nhanh hơn, nhiều hơn. Kết quả là thông tin trên MXH được "chính thức hóa" nên có "đời sống đàng hoàng" và phát huy tác dụng. Tuy nhiên, điều này cũng tạo ra nguy cơ là thông tin giả, thông tin kém chất lượng được đưa đến bạn đọc. Điều này là điều mà các nhà báo không mong muốn, nó tạo nên mối hoài nghi đối với sự thật.

Nhưng đã có không ít trường hợp thông tin trên báo chí có giấy phép không hề được kiểm chứng, không đảm bảo tính công bằng, tính cân bằng - những giá trị cốt lõi của báo chí. Một số chuyên gia đã bày tỏ mối quan ngại sâu sắc là MXH, một mặt giúp nâng hiệu suất làm việc của các nhà báo, giúp các tòa soạn có nhiều thông tin hơn, nhưng mặt khác, MXH cũng đang làm xói mòn những giá trị báo chí truyền thống, khiến báo chỉ trở nên ít tin cậy và dung tục hơn. Hiện nay, bạn đọc đang tiếp nhận tin tức pha trộn với tin đồn; những câu chuyện chân thật, cảm động kèm theo những câu chuyện giật gân, những nội dung được tài trợ (trả tiền)… Những điều này diễn ra vì tác động của MXH.

Trên thực tế, hoạt động của MXH tại Việt Nam có vẻ "nóng" hơn nhiều nước trên thế giới. Nguyên nhân nằm ở chỗ nhiều loại thông tin ở Việt Nam được cho là "nhạy cảm" nên báo chí có giấy phép (báo chí chính thống) không, hoặc là chậm công bố. Đây chính là cơ hội cho dân cư mạng thỏa sức lôi kéo sự chú ý của xã hội bằng những thông tin "nửa kín, nửa hở" (chủ yếu dựa vào nguồn tin giấu mặt, tin đồn). Ác một nỗi, nhiều thông tin trong số này sau đó được báo chí có giấy phép công bố, coi như khẳng định tin trên MXH là đúng sự thật. Điều này khiến cho MXH càng ngày càng trở nên có uy tín, thu hút nhiều người hơn.

Do đó, việc cần phải làm ngay là những người có trách nhiệm phát ngôn ở các cơ quan quan trọng của Đảng, Nhà nước cần cung cấp thông tin cho báo chí có giấy phép; cho phép họ công bố những thông tin sự thật (dù đây là những thông tin được xem là nhạy cảm). Điều này khiến MXH không còn cơ hội để tung tin "nửa kín, nửa hở" với những lời bình luận vô ý thức, thậm chí là cố tình nói xấu, bôi nhọ cá nhân hay tập thể nào đó. Để làm được điều này, cần có sự tư vấn của các chuyên gia và bản lĩnh của cán bộ phụ trách.

Các nhà báo chuyên nghiệp, ngoài kỹ năng nghề nghiệp là viết bài, chụp ảnh, ghi hình, cần phải có kỹ năng điều tra để thẩm định thông tin. Đây là yêu cầu cấp thiết đối với các nhà báo trong thời đại MXH đang phát triển mạnh mẽ, chiếm lĩnh nhiều vị trí quan trọng trong hệ thống truyền thông. Ngoài ra, những kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực công nghệ thông tin như lập trình, đồ họa cũng cần thiết đối với các nhà báo vì các cơ quan báo chí đang tổ chức hoạt động của tòa soạn theo phương châm "4 trong 1", nghĩa là một tòa soạn có thể sản xuất tác phẩm báo chí có cả 4 loại hình là báo in, phát thanh, truyền hình và báo điện tử.

Hiện nay, hơn bao giờ hết, nhà báo phải nâng cao đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động nghiệp vụ của mình. Tôn trọng sự thật là yêu cầu cơ bản đối với tin, bài của nhà báo. Nhà báo cũng phải luôn luôn tuân thủ nguyên tắc không hư cấu. Tiếp theo, nhà báo phải tự đề cao trách nhiệm cá nhân của mình. Những cái "TÔI" quan trọng trong tác phẩm báo chí như "cái tôi nhân chứng", "cái tôi thẩm định", "cái tôi chính kiến"… và đặc biệt, "cái tôi chính diện" phải được vận dụng triệt để, nghĩa là người xưng "Tôi" trong các tác phẩm báo chí phải luôn luôn bảo vệ cái thiện, chống lại cái ác.

Khi các nhà báo chuyên nghiệp có được những kỹ năng và những phẩm chất như vậy, họ sẽ tự tin tác nghiệp, hoạt động hiệu quả giữa thời nở rộ của

Lê Nguyên Phương

 

Nghệ An là tỉnh đi đầu của cả nước trong thực hiện quy hoạch hệ thống di tích, là địa phương đầu tiên và duy nhất có quyết định phê duyệt quy hoạch hệ thống di tích định hướng đến năm 2030, tầm nhìn 2050, trong đó lần đầu tiên đặt ra khái niệm "kinh tế di sản" - một khái niệm mới, không chỉ ở Nghệ An, Việt Nam mà còn trên thế giới.

(Quyết định số 6103/QĐ-UBND ngày 18/12/2017 của UBND tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt "Quy hoạch hệ thống di tích trên địa bàn tỉnh Nghệ An, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn 2050")

Trong thời gian này, tỉnh Nghệ An cũng đang triển khai xây dựng Đề án Nghiên cứu các giải pháp phát triển kinh tế di sản (thí điểm ở một số bảo tàng, di tích tiêu biểu).

"Quy hoạch hệ thống di tích trên địa bàn tỉnh Nghệ An, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn 2050" và Đề án Nghiên cứu các giải pháp phát triển kinh tế di sản (thí điểm ở một số bảo tàng, di tích tiêu biểu) do Sở Văn hoá - Thể thao Nghệ An làm chủ đầu tư và đơn vị tư vấn là Liên danh MQL và Các đối tác.

*    *

*

Không thể phủ nhận, so với thời kỳ trước đổi mới (1986), Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc trong tăng trưởng, cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, cũng cần phải thừa nhận một thực tế rằng chúng ta vẫn là một nước nghèo về quy mô GDP quốc gia (2018: 241,434 tỷ USD; xếp thứ 47/190 quốc gia)(1). Việt Nam vẫn thuộc nhóm nước có thu nhập trung bình thấp, bình quân đầu người đứng 138/188 quốc gia và vùng lãnh thổ, chỉ ngang bằng GDP bình quân đầu người của Malaysia cách đây 20 năm, của Thái Lan cách đây 15 năm và Indonesia cách đây 10 năm(2).

"Vấn đề cấp bách và đáng lo ngại hiện nay là các động lực tăng trưởng hiện đã tới hạn và đang suy giảm năng lượng nội sinh. Một số khu vực tăng trưởng chạm trần và khó có khả năng tăng thêm"(3).

Và "Một câu hỏi lớn là trong khi các động lực tăng trưởng cũ như giá nhân công rẻ, dựa nhiều vào tăng tín dụng, xuất khẩu sản phẩm thô đều đã "tới hạn" thì Việt Nam sẽ dựa vào những động lực mới nào để duy trì đà chạy cho "đoàn tàu" tăng trưởng kinh tế(4).

Những trăn trở này đã đồng thời trở thành ý nguyện của Chính phủ khi trong nhiều diễn đàn Thủ tướng đã đề nghị tìm động lực tăng trưởng mới cho đất nước(5).

Thế nào là một động lực tăng trưởng mới?

Trước hết, cần nhận diện động lực tăng trưởng mới từ đâu tới và phải đáp ứng yêu cầu gì?

Trong khi các khái niệm về nền Kinh tế số; Công nghiệp 4.0; Big data; Internet vạn vật (IoT); Platform; Blockchain (dù hiểu theo nghĩa động lực hay phương tiện) cũng còn có khoảng cách rất xa (với những nền tảng nêu trên, Việt Nam có điểm yếu khi không có ưu thế là nơi khởi nguồn hay phát kiến) thì những thế mạnh sẵn có, kế bên (có thể chuyển hoá thành động lực tăng trưởng mới) chúng ta lại đang tâm bỏ phí.

Với một quốc gia như Việt Nam, động lực tăng trưởng mới trước hết phải là vấn đề của gần 100 triệu dân, không phải chỉ thuộc về một nhóm nhỏ.

Có thể khơi mào tranh luận không dứt, nhưng theo chúng tôi, cái được gọi là động lực tăng trưởng mới tối thiểu phải đáp ứng các yêu cầu sau: (1) Có nhu cầu thị trường sản phẩm; (2) Có năng lực thúc đẩy cảm hứng cộng đồng; (3) Các thành phần kinh tế đều có thể tham gia; (4) Tạo ra ưu thế cạnh tranh với nền kinh tế khác; (5) Có nguồn tài nguyên tương ứng sẵn có hoặc khả thi; (6) Có dư địa cho sáng tạo sản phẩm; (7) Tính phổ quát, đại chúng; (8) Có giải pháp thực tiễn gắn với công nghệ của thời đại mới.

Và đây chính là một đề tài của Nhóm nghiên cứu người Việt tại University of Cincinnati (tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ) thuộc Liên danh MQL và Các đối tác đang triển khai áp dụng tại Nghệ An và một số địa phương của Việt Nam và kỳ vọng tạo nên những ảnh hưởng với tư cách một phát kiến trên phạm vi toàn cầu.

Di sản là "gánh nặng" hay "động lực phát triển"?

Tính đến nay, Việt Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cảnh trong đó có hơn 3.000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 7.000 di tích được xếp hạng di tích cấp tỉnh. Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di tích của Việt Nam. Trong số di tích quốc gia có 105 di tích quốc gia đặc biệt và 8 di sản thế giới.

Riêng Nghệ An, trên toàn tỉnh hiện có 2.602 di tích - danh thắng, với 415 di tích đã được xếp hạng, trong đó có 4 di tích quốc gia đặc biệt, 135 di tích quốc gia, 276 di tích xếp hạng cấp tỉnh; trong tương lai sẽ không dừng lại ở con số này.

Thế nhưng có một điều rất khó lý giải tại Nghệ An cũng như nhiều nơi khác trên lãnh thổ Việt Nam đó là cái nghèo luôn gắn với các vùng đất giàu truyền thống. Tại sao lại như vậy?

Có nhiều lý do, song tựu trung luôn tồn tại một nghịch lý ở những địa phương này, di sản trên thực tế thay vì trở thành động lực cho phát triển lại trở thành gánh nặng của kinh tế và xã hội; Và điệp khúc kêu cứu, xin tiền đã kéo dài nhiều thập kỷ chưa biết khi nào kết thúc.

Điều này hoàn toàn trái ngược với thế giới, chính xác hơn là với các nước phát triển. Tại các quốc gia này phát triển kinh tế dựa trên "Sản nghiệp văn hóa"  hay còn gọi là "Kinh tế di sản" luôn đóng vai trò trọng yếu, làm nền tảng, tạo tiền đề, động lực thúc đẩy phát triển du lịch và các ngành kinh tế khác.

Thực tiễn đã cho thấy khi nhận thức được về những thành tựu của thế giới, sớm hay muộn Việt Nam cũng sẽ làm được.

Về những nghịch lý trong du lịch

"Đứng thứ 34 về tài nguyên thiên nhiên du lịch trong 136 nền du lịch trên thế giới được xếp hạng cạnh tranh (theo Báo cáo Chỉ số cạnh tranh du lịch năm 2017 của Diễn đàn kinh tế thế giới - WEF) nhưng ở hạng mục "Hạ tầng dịch vụ du lịch", Việt Nam tụt xuống tận vị trí 113"(6).

Bên cạnh sự thành công luôn tồn tại những nghịch lý. Bảng xếp hạng 10 quốc gia hàng đầu trong năm 2017 (Top 10) của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) về số lượng khách, doanh thu và chi tiêu/đầu khách quốc tế sẽ là minh chứng rõ nhất về những vấn đề này, về những mục tiêu mà du lịch đang hướng tới(7). Cụ thể:

Mặc dù là quốc gia thu hút số lượng khách du lịch cao nhất (86,9 triệu) nhưng doanh thu về du lịch của Pháp (60,7 tỷ USD) lại chỉ xếp thứ 3, chỉ bằng khoảng 1/3 doanh thu của Mỹ (210,7 tỷ USD) - nước chỉ đứng thứ 3 về lượng khách tới tham quan (76,9 triệu). Hay điển hình về một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á là Thái Lan, nếu xét về lượt khách tham quan (35,4 triệu), Thái Lan chỉ xếp ở vị trí số 10 nhưng về doanh thu, Thái Lan được xếp ở vị trí số 4 (57 tỷ USD), cao hơn rất nhiều so với Trung Quốc, nước có lưu lượng khách quốc tế tham quan gần gấp đôi Thái Lan (60,7 triệu) chỉ đứng ở vị trí số 8 (32,6 tỷ USD).

Câu hỏi được đặt ra là vì sao lại có nghịch lý như trên?

Du lịch văn hóa là một tác nhân dẫn đến tăng hiệu quả du lịch, điển hình tại Mỹ. Một nghiên cứu quốc gia về du lịch văn hóa và di sản tại Mỹ năm 2009 cho thấy rằng 78% các du khách của Mỹ tham gia vào các hoạt động văn hóa và/hoặc di sản khi đi du lịch, lên đến 118,3 triệu du khách người lớn mỗi năm. Du lịch văn hóa sử dụng trung bình 994 USD mỗi chuyến đi so với chỉ 611 USD cho du khách du lịch giải trí khác và đóng góp khoảng hơn 192 tỷ USD mỗi năm cho nền kinh tế Mỹ.

Di sản và những thách thức đến từ phát triển du lịch

"Theo kế hoạch dự kiến, Việt Nam sẽ thu hút 18 triệu khách du lịch quốc tế trong năm 2019, tăng 16% so với năm 2018. Trong năm 2018, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đã tăng trưởng 19%, năm 2017 tăng 29%. Các năm trước tăng trưởng khách luôn ở mức rất cao, năm 2019 tiếp tục đặt ra kế hoạch tăng cao là bài toán không hề đơn giản"(8); Hơn thế, tăng trưởng về số lượng, đối với ngành du lịch không hẳn là một tin tốt.

Không khó nhận ra du lịch tại Việt Nam đang "xài chùa" nền tảng di sản, chưa kết hợp với di sản để tạo nên sức mạnh cho nền kinh tế, dẫn đến di sản vẫn là gánh nặng còn du lịch thì du khách "một đi không trở lại". Hằng ngày, hằng tuần, hằng tháng và hằng năm, di sản luôn đứng trước những thách thức đến từ du lịch:

(1) Không thu hút được khách đến; (2) Khách đến đông nhưng hạ tầng tiếp đón không tương xứng; (3) Khách đến và không quay trở lại; (4) Khách đến nhưng không có sản phẩm để tiêu thụ; (5) Khách đến đông, thu nhập thấp không đủ cân đối đầu tư; (6) Đầu tư nhiều, chất lượng cao song vắng khách; (7) Khách chỉ đến theo mùa;  (8) Du khách đến đông nhưng chất lượng khách thấp/ Cạn kiệt tài nguyên; (9) Du lịch phát triển/ Song cộng đồng dân cư không được hưởng lợi.

Thành công từ du lịch di sản phải vượt qua 09 thách thức nêu trên, được cấu thành dưới 5 trạng thái chủ yếu, một là thu hút được nhiều khách du lịch, hai là có doanh thu về du lịch cao, ba là không thu hút quá nhiều du khách nhưng lại có doanh thu lớn, bốn là duy trì sự ổn định về tốc độ tăng trưởng và năm là du lịch bền vững tức cân bằng và tối ưu hóa các trạng thái nêu trên, biểu hiện rõ nét thông qua việc bảo tồn được tài nguyên du lịch và lượng khách quay trở lại ngày một nhiều hơn. Mà tài nguyên du lịch trước hết sẽ đến từ di sản (thiên nhiên và xã hội).

Di sản trong phát triển kinh tế

"Bảo tồn di sản đem lại nhiều giá trị: văn hóa, thẩm mỹ, giáo dục, môi trường, xã hội, lịch sử cùng nhiều giá trị khác. Và một giá trị của bảo tồn di sản được nhắc đến nhiều hơn trong thời gian gần đây là giá trị kinh tế. Trong nhiều năm, giá trị kinh tế thường được xem là quá nông cạn và thấp kém đối với ý nghĩa của tài nguyên lịch sử để có thể đem ra thảo luận nghiêm túc.

Thậm chí ngày nay vẫn còn những người làm bảo tồn di sản tuyệt đối hóa chối bỏ những tính toán và quan điểm ủng hộ bảo tồn dựa trên lý lẽ kinh tế, cho rằng chúng hạ thấp và xúc phạm tầm quan trọng và những giá trị siêu hình, không đo đếm được của di sản lịch sử nhân loại. Nếu xét trong quãng thời gian dài, những ý kiến như trên đương nhiên hợp lý. Qua thời gian, những giá trị còn lại của bảo tồn di sản trở nên quan trọng hơn giá trị kinh tế. Tuy nhiên, xét trong giai đoạn ngắn hơn, những đối tượng có sức ảnh hưởng lớn nhất đến những gì xảy ra với tài nguyên di sản của chúng ta - chủ nhân công trình, các chính trị gia, các ngân hàng và nhà đầu tư - chắc chắn có quan tâm đến khía cạnh kinh tế của những công trình di sản.

Thường thì những người ra quyết định ủng hộ bảo tồn di sản dựa trên những lý lẽ kinh tế hơn là những yếu tố còn lại, dù chúng có quan trọng hơn. Do đó, ngày càng nhiều tổ chức bảo tồn di sản chọn kinh tế làm nội dung nghiên cứu.

Europa Nostra, liên minh các nhóm bảo tồn di sản châu Âu, trong một tài liệu mang tên Cultural Heritage Counts for Europe đã ghi chú:  "Di sản văn hóa mang lại nhiều lợi ích cho châu Âu ngày nay". Nhiều lợi ích trong số đó thuộc về kinh tế.

Tại tiểu bang Virginia, một nghiên cứu đã so sánh sự tương phản trong hình thức chi tiêu giữa khách du lịch di sản với những khách không tham gia các hoạt động liên quan đến di sản. Họ nhận thấy rằng khách du lịch di sản lưu trú lâu hơn, viếng thăm các địa điểm nhiều hơn gấp hai lần, và do đó, chi tiêu nhiều hơn 2,5 lần trong một chuyến đi so với những dạng khách khác.

Edward Glaeser, một trong những nhà tư tưởng hàng đầu trong kinh tế học đô thị, đã phỏng đoán rằng giá trị của đất đô thị tăng lên cùng với "mức độ thú vị" của nơi đó" (Donovan D. Rypkema)(9).

Tại Việt Nam, vẫn còn đó tập quán coi bảo tồn di sản là trách nhiệm của nhà nước. Nguồn đầu tư cho bảo tồn vẫn trông chờ vào ngân sách. Nếu không có gì thay đổi, di sản vẫn sẽ là gánh nặng của nhà nước và cộng đồng.

Những kinh nghiệm phát triển kinh tế di sản

Những kinh nghiệm trong nước và quốc tế rất hữu ích cho địa phương. Việc phản biện cho thấy rõ các khiếm khuyết trong hệ thống cần phải hoàn thiện, những công việc cần phải triển khai và trên hết cần phải thay đổi cách nghĩ, cách làm và áp dụng phương thức quản trị mang lại hiệu quả mà không lệ thuộc vào NSNN.

Đồng thời cũng cho thấy chìa khóa thành công nằm ở hành động thực tiễn và nhấn mạnh sáng kiến cộng đồng, cùng tham gia, gắn với trách nhiệm và quyền lợi. Cụ thể:

(1) Tạo ra các tác nhân làm biến đổi vùng; (2) Cộng đồng cùng tham gia; (3) Thuyết phục các cấp chính quyền ủng hộ; (4) Triển khai dự án với sự hỗ trợ của các chuyên gia; (5) Mỗi di sản "một" quần cư, mỗi quần cư "một" sản phẩm; (6) Tích hợp chức năng, tích hợp giá trị; (7) Mỗi di sản "một" phong cách, mỗi sản phẩm "một" chuyên gia; (8) Chương trình hoạt động phải liên tục như dòng chảy; (9) Giá trị gia tăng đến từ môi trường, thẩm mỹ; (10) Thay đổi và thích ứng không ngừng (tùy duyên và bất biến); (11) Xã hội quyết định thành công; (12) Đầu tiên là văn hóa và cuối cùng là con người.

Kinh tế di sản - động lực tăng trưởng mới cho đất nước

Kinh tế di sản (heritage economy) cần được hiểu như một hình thái phát triển dựa trên nền tảng các giá trị sẵn có (tự nhiên và xã hội); cần nhắc lại là những giá trị sẵn có, điều này không hẳn là trái ngược với kinh tế sáng tạo; 2 hình thái này luôn chuyển hoá vì các cải cách hay đổi mới (renew) không phải luôn luôn mang lại giá trị và ngược lại, những cái có giá trị đã được xác định (heritage) không phải luôn đại diện cho quá khứ.

Người ta thường nhắc đến mô hình phát triển kinh tế kiểu Anh - Mỹ như một trường phái khác với châu Âu duy lý thiên về thay cũ đổi mới hoặc thủ cựu. Sự khác biệt là rất rõ, trong khi trường phái Anglo-Saxon luôn đề cao tính kế thừa và chuyển tiếp mà điển hình là hệ thống luật pháp tôn trọng tiền lệ (Thông luật được tạo ra như một loại hình di sản/ tham vấn cộng đồng/ khế ước xã hội) thì một châu Âu duy lý lại đề cao hệ thống Dân luật (được viết ra theo hướng lập luận/ tạo ra bởi một nhóm xã hội/ tính tham vấn cộng đồng thấp).

Kết quả là sự phát triển kinh tế của một số quốc gia hiện đại mới nổi kế thừa hệ thống luật pháp theo hướng Thông luật đã có những thành tựu vượt trội so với một số quốc gia khác áp dụng hệ thống luật pháp mang tính duy lý mà Singapore là một ví dụ điển hình.

Di sản theo nghĩa rộng, có trong mọi mặt của đời sống; Kinh tế số, Big data, Kinh tế sẻ chia (Uber, Grab), Internet kết nối vạn vật, sự khác biệt của sản phẩm, thương hiệu địa phương, giá trị sáng tạo, giá trị gia tăng cao cũng chính là các hình thái của kinh tế di sản. Vậy phải làm gì để kinh tế di sản chuyển hoá thành động lực tăng trưởng của một vùng, địa phương, quốc gia hay toàn cầu?

Và giải pháp cụ thể, trước mắt

Để kinh tế di sản trở thành động lực tăng trưởng mới của đất nước sẽ còn rất nhiều việc phải làm; Trước hết, cần xác lập vị thế của kinh tế di sản thuộc nhóm nền tảng, hoàn thiện khung pháp lý và thực hiện một số bước đi ban đầu gồm (09) phần việc chủ yếu theo 3 giai đoạn (tuỳ theo điều kiện mỗi địa phương để ấn định):

Giai đoạn I: (1) Hoàn thành nghiên cứu các giải pháp phát triển kinh tế di sản, áp dụng thí điểm cho một số khu vực di tích, di sản, bảo tàng tiêu biểu; (2) Triển khai áp dụng vào thực tiễn các giải pháp phát triển kinh tế di sản, thí điểm tại các khu vực thuận lợi trong xã hội hóa đầu tư; (3) Phát triển các dự án kinh tế di sản tại các phân vùng, địa phương, lựa chọn các di tích, di sản (cốt lõi) đang thu hút được khách kết hợp với các hoạt động đầu tư cho du lịch, các ngành kinh tế khác để gián tiếp đầu tư cho bảo tồn và khai thác di sản; (4) Triển khai lập các quy hoạch cho từng khu vực di sản trọng điểm để thu hút các nhà đầu tư gắn kết và đang tiến hành đầu tư tại địa điểm lựa chọn các vùng di sản trọng tâm của từng phân vùng;

Giai đoạn II: (5) Nhân rộng mô hình: "mỗi di sản một quần cư"; "mỗi quần cư một sản phẩm"; "mỗi sản phẩm một cảnh quan"; "mỗi di sản một phong cách"; "mỗi sản phẩm một chuyên gia"; Và, "mỗi di sản một doanh nghiệp"; "mỗi doanh nghiệp một cộng đồng"; (6) Tiến hành liên kết nhóm di sản tương ứng với cộng đồng doanh nghiệp và dân cư sở tại; (7) Xác lập các cơ chế, chính sách theo các nhóm và từng di sản cụ thể; (8) Bàn giao di sản cho cộng đồng có trách nhiệm quản lý, khai thác;

Giai đoạn III: (9) Từng bước thực hiện phần việc xã hội hóa hoàn toàn công cuộc bảo tồn và đưa kinh tế di sản vào chương trình phát triển mang tính phổ thông.

Trong điều kiện hiện nay, thời của kinh tế số, công nghiệp 4.0 phát triển mạnh mẽ là phương tiện thuận lợi cho việc ứng dụng, khai thác các giá trị di sản cho phát triển kinh tế. Hy vọng rằng, kinh tế di sản sẽ là động lực tăng trưởng mới, tạo ra sự đột phá cho nền kinh tế, thay đổi vị thế địa phương và quốc gia, hướng tới phát triển bền vững với yếu tố cốt lõi là sự tham gia của cộng đồng.

Các địa phương, tổ chức, doanh nghiệp và người dân tìm các giải pháp phát triển kinh tế di sản của chính mình, thúc đẩy sáng kiến cộng đồng, tập hợp thành sức mạnh chuyển hoá thành động lực phát triển kinh tế của đất nước.

Trong đó, nâng cao năng lực nhận diện di sản, bao gồm hình thái, giá trị và phức hợp, theo hướng mở rộng khái niệm và loại hình bao gồm di sản truyền thống và di sản mới. Đồng thời, bảo tồn di sản đúng cách, làm tăng giá trị di sản, biến giá trị di sản thành sản phẩm có thể thương mại hóa sẽ là những giải pháp cốt lõi.

 

Tài liệu tham khảo

1.https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%E1%BB%91c_gia_theo_GDP_(danh_ngh%C4%A9a)

2.https://tuoitre.vn/gdp-dau-nguoi-viet-nam-moi-chi-bang-malaysia-cach-day-20-nam-20190130131444297.htm

3. http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/37619102-tim-dong-luc-tang-truong-moi.html

4. https://congthuong.vn/di-tim-dong-luc-tang-truong-moi-114088.html

5 https://www.tienphong.vn/xa-hoi/thu-tuong-phai-tim-dong-luc-phat-trien-moi-1337720.tpo

6. https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/khong-de-tui-tien-du-khach-nghi-ngoi-1043175.html

7. https://www.e-unwto.org/doi/book/10.18111/9789284419876

8. https://theleader.vn/ts-ha-van-sieu-du-lich-cua-chung-ta-con-qua-don-dieu-1556421753491.htm

9. Bảo tồn di sản và phát triển kinh tế địa phương học/ Heritage Conservation and the Local Economy/ Tác giả: Donovan D. Rypkema là Chủ tịch Công ty Chiến lược Di sản Quốc tế (HIS) ở thủ đô Washington và là một thành viên trong ban giám đốc Tạp chí Global Urban Development (Phát triển Đô thị Toàn cầ

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của các tộc người thiểu số miền Tây Nghệ An trong phát triển bền vững

Vi Văn An

1. Đặt vấn đề

Với tổng diện tích 13.890 km2, chiếm 84% diện tích của tỉnh, miền Tây Nghệ An chẳng những có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh mà còn là một vùng có tầm quan trọng về an ninh, quốc phòng của đất nước. Đây là địa bàn cư trú tập trung của các tộc người thiểu số như Thái, Mông, Khơ-mú, Ơ-đu và Thổ (nhóm Đan Lai-Ly Hà và Tày Poọng), trong đó Thái là dân tộc chiếm số đông nhất (295.132 người - 2009); văn hóa Thái thường nổi trội; tiếng Thái là ngôn ngữ giao tiếp chính trong vùng.

Trong quá trình sinh tồn và phát triển, các tộc người thiểu số ở Nghệ An đã tạo dựng nên một di sản văn hóa phong phú và độc đáo (cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể). Các giá trị di sản văn hóa đó vừa mang bản sắc văn hóa riêng của mỗi tộc người, song cũng thể hiện những nét đặc trưng của văn hóa vùng miền, có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Trong thực tế, nhiều năm qua, những giá trị di sản văn hóa này tuy đã được quan tâm nghiên cứu, nhưng chưa được chú trọng khai thác, bảo tồn và phát huy tối đa vai trò của chúng, nhất là biến các giá trị di sản văn hóa này thành động lực, góp phần hiệu quả, thiết thực vào quá trình xây dựng nông thôn mới, trong bối cảnh hội nhập và phát triển bền vững.

2. Giá trị di sản văn hóa vật thể trong phát triển bền vững

Dưới góc độ Dân tộc học/Nhân học, bài viết sẽ phân tích và làm rõ vai trò của di sản văn hóa các tộc người thiểu số miền Tây Nghệ An với việc bảo tồn và phát huy giá trị của chúng trong phát triển bền vững.

2.1. Di sản văn hoá vật thể

Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Dưới góc độ Dân tộc học/Nhân học, thông thường di sản văn hóa vật thể được hiểu là các thực thể hữu hình, gồm các thành tố: Ăn, mặc, ở. Suy rộng ra thì, các di sản văn hóa vật thể của cộng đồng các tộc người thiểu số miền Tây Nghệ An bao gồm: làng bản, nhà cửa, ẩm thực, trang phục, sản phẩm của các nghề thủ công truyền thống và các di tích lịch sử - văn hóa, di chỉ khảo cổ học, danh thắng. Theo đó, nhìn chung các di sản văn hóa vật thể của các tộc người thiểu số vùng miền Tây Nghệ An nói riêng khá phong phú đa dạng cả về loại hình và thể loại, tiêu biểu gồm:

- Di chỉ Khảo cổ học Hang Thẩm Ồm (Quỳ Châu), Hang Thẩm Hoi (Con Cuông);

- Di tích Lịch sử - văn hóa Thành Trà Lân, Pù Đồn, Bia Ma Nhai, Nhà tưởng niệm Vi Văn Khang (Con Cuông), Bãi Tập (Quỳ Hợp). Một số di tích lịch sử liên quan đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của nghĩa quân Lê Lợi nằm rải rác ở một số địa phương gồm các đền, địa danh như đền Cửa Tróng, đền Chợ Bãi, đền Làng Dinh, đền Đồi Chùa, đền Bản Le (vùng đường 48) cũng như các di tích đền Toòng, đền Chín Gian, Thung Đống, Hẻm Voi chẹt (vùng đường 7). Trải qua thăng trầm của lịch sử, hiện nay hầu hết các ngôi đền này không còn; Các di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng mới bắt đầu đưa vào khai thác phục vụ du lịch trong tỉnh, nhất là đời sống tâm linh của người dân địa phương.

- Một số danh thắng gắn với du lịch sinh thái và du lịch văn hóa của các tộc người thiểu số vùng miền Tây Nghệ An như: Bảo tàng Thiên nhiên - Văn hóa mở tại Vườn Quốc gia Pù Mát, Thác Kèm, Khu Du lịch sinh thái Phà Lài, Hồ thủy điện Bản Vẽ (Tương Dương). Các điểm tham quan, du lịch hoạt động theo mùa ở huyện Quế Phong gồm: Thác Sao Va, thác Bảy Tầng, Hồ thủy điện Hủa Na, cây Di sản samu. Một số địa điểm du lịch mới được xác định như thác Bìa, thác Bản Tạt, khe Lạnh, thác Tiên - khe Lúc (Quỳ Hợp).

- Các mô hình du lịch cộng đồng, làng nghề và dệt thổ cẩm được khách biết đến như: bản Khe Rạn, bản Nưa, bản Xiềng (Con Cuông), bản Na, bản Đình Sơn, bản Loọng Dẻ (Kỳ Sơn); bản Hoa Tiến (huyện Quỳ Châu), bản cổ người Thái: Hủa Mương-Na Xai (Quế Phong).

Trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội, nhất là trong xây dựng nông thôn mới theo hướng phát triển bền vững, giá trị của các di sản văn hóa vật thể này có vai trò hết sức quan trọng. Theo đó, những di sản văn hóa vật chất chung như: di tích lịch sử - văn hóa, danh lam, thắng cảnh, đình, đền là những thực thể và tài sản chung, mà mọi công dân đều được có quyền lợi và trách nhiệm. Chúng còn là minh chứng của đạo lý uống nước, nhớ nguồn, tôn vinh và niềm tự hào đối với các thế hệ cha ông của các thế hệ đã đang sống và cả các thế hệ con cháu tương lai sau này. Việc đầu tư, tôn tạo và đưa các danh lam, thắng cảnh vào phục vụ đời sống còn là sự thích ứng, ứng xử văn hóa và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà tạo hóa ban tặng cho con người. Cũng tương tự, các di sản văn hóa vật thể của các tộc người thiểu số như: ăn, mặc, ở lại vừa phản ánh và khẳng định bản sắc văn hóa vùng miền, vừa thể hiện nét văn hóa riêng của từng tộc người. Chúng đã, đang và sẽ luôn là niềm tự hào của những người đã khuất, những người đang sống và cả những thế hệ con cháu sau này.

Trong những năm qua, một số món ăn đặc trưng của đồng bào các dân tộc cũng đã và đang bắt đầu được khách tham quan du lịch biết đến qua các tour ngắn hay dài ngày tại một số điểm du lịch như thác Kèm, bản Khe Rạn, bản Nưa, Phà Lài... (Con Cuông) hay các điểm du lịch như thác Sao Va, thủy điện Hủa Na, bản Na Sái, nhất là trong các lễ hội tâm linh tại đền Chín Gian, đền Choọng, đền Vạn..., song hình như ở đâu các món ăn cũng giống nhau và cũng chỉ có vài món được nhiều khách ưa chuộng như xôi, cơm lam, cá mát (nướng, rán, nấu canh), moọc, canh ột, canh bon với gia vị đặc trưng mác khén (hạt tiêu rừng). Thức uống chủ yếu vẫn là rượu trắng và rượu cần, nhưng chưa có xuất xứ, địa chỉ, đảm bảo vệ sinh, an toàn. Ngoài ra, còn phải xem xét đến giá cả phù hợp, cách thức chế biến, bày đặt, vị trí ngồi qua tập quán, thói quen và việc giải thích cho khách biết được cả những khía cạnh phi vật thể của các món ăn, công dụng và tập quán kiêng khem thì mới mang lại sự thoải mái, ngon miệng và hài lòng khách.

Có lẽ điểm yếu nhất trong việc khai thác di sản văn hóa tại các điểm du lịch là sự nghèo nàn của các mặt hàng lưu niệm, chất lượng kém, không phù hợp với thị hiếu. Khảo sát qua các điểm du lịch cộng đồng ở Con Cuông, Kỳ Sơn, Quỳ Châu và ngay cả trong các lễ hội thì phổ biến nhất vẫn chỉ là vài chiếc túi thổ cẩm, váy, chân váy và khăn đội đầu của người Thái. Thậm chí có một số mặt hàng gia công, nhập từ nơi khác về. Cần nhớ rằng, khách du lịch thường thích mua các đồ lưu niệm mang tính truyền thống của người dân tộc, mà phải nhỏ nhắn, xinh xắn để dễ bỏ túi mang đi, nhưng vẫn giữ được cốt cách vốn có. Theo đó, cần phải maketing, tham khảo kinh nghiệm nhiều nơi, lựa chọn các sản phẩm truyền thống được ưa chuộng, khả thi, đáp ứng được nhu cầu thị hiếu khách tham quan trong và ngoài nước.

Tóm lại, có thể nói, hiện nay, mặc dù việc khai thác các di sản văn hóa vật thể nêu trên đã và đang đem lại nguồn lợi cho một bộ phận người dân (như tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, ý thức trách nhiệm với các di sản văn hóa của dân tộc…), song hầu hết các di sản văn hóa vật thể được khai thác, phục vụ công tác du lịch vài năm gần đây tại một số địa phương chủ yếu mới chỉ gồm nhà sàn, ẩm thực và trang phục của người Thái. Giá trị của các di tích lịch sử, danh thắng (nhất là các di chỉ khảo cổ, các địa danh lịch sử) cũng như nhiều giá trị văn hóa truyền thống của các tộc người (Mông, Khơ-mú, Thổ) vẫn còn bỏ ngỏ hoặc chưa được khai thác, các dịch vụ còn đơn điệu, năng lực, trình độ ngoại ngữ hạn chế, nguồn nhân lực mỏng. Một mặt, tiềm năng này chưa được khai thác để phát huy hiệu quả, thiết thực phục vụ phát triển kinh tế-xã hội; mặt khác công tác quy hoạch vẫn thiếu đồng bộ, đầu tư chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế, để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, các di sản văn hóa vật thể phải được khai thác và phát huy giá trị của chúng một cách hiệu quả, thiết thực.

Đối với di tích lịch sử-văn hóa, danh thắng, di chỉ khảo cổ cần phải được khảo sát, kiểm kê, xây dựng kế hoạch phục hồi, đầu tư có trọng điểm, có khoa học để chúng trở thành những điểm du lịch thu hút khách thập phương.

Đối với các thành tố văn hóa vật chất như ăn, mặc, ở của các tộc người thiểu số, cần phải tăng cường khai thác các giá trị của chúng, góp phần hiệu quả, thiết thực vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, cụ thể là: xây dựng các làng văn hóa, bảo tồn nhà sàn, nâng cấp đường sá, vệ sinh, nước sạch, đồng ruộng; tích cực quảng bá, đưa các món ăn truyền thống vào phục vụ du lịch; duy trì, củng cố và phát huy nghề dệt, nghề thủ công, đan lát... trên cơ sở thế mạnh của từng tộc người, sản xuất các mặt hàng thổ cẩm với nhiều mẫu mã sản phẩm mới phù hợp với sở thích, thị hiếu của khách du lịch trong và ngoài nước. 

Bên cạnh quy hoạch tổng thể, đồng bộ, các loại hình du lịch cần phải được tổ chức, quản lý một cách khoa học, chuyên nghiệp, khai thác các giá trị của di sản văn hóa làm mục tiêu thu hút và phục vụ khách tốt nhất. Vừa quản lý theo chiều dọc, ở tầm vĩ mô, nhưng phải tạo điều kiện để các điểm du lịch phát huy tính chủ động trong kinh doanh du lịch và dịch vụ theo mô hình cộng đồng.

Việc khai thác các giá trị của di sản văn hóa vật thể cần phải đi đôi với bảo tồn văn hóa truyền thống (ăn, ở, mặc...), kết hợp với bảo vệ môi trường. Chú trọng giáo dục cho người dân và khách du lịch ý thức bảo vệ cảnh quan, môi trường.

Nâng cao năng lực cho cộng đồng. Đẩy mạnh đào tạo kỹ năng đón tiếp và phục vụ khách du lịch. Tăng cường phối hợp, liên kết trong hoạt động, có cơ chế phân chia lợi ích phù hợp, đảm bảo công bằng giữa các bên. Xây dựng và phổ biến nội dung liên quan tới các quy định về hoạt động lưu trú của du khách (thủ tục đăng ký, kiểm tra, PCCC, an ninh trật tự…), tạo điều kiện cho người dân nắm và thực hiện tốt các quy định theo pháp luật.

2.2. Di sản văn hóa phi vật thể

Trong Luật Di sản văn hóa có viết: "Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc các nhân, vật thể và không gian văn hóa có không gian; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác".

 Các tộc người thiểu số ở miền Tây Nghệ An vốn sở hữu kho tàng di sản văn hóa phi vật thể phong phú, đa dạng. Đó là các loại hình và làn điệu dân ca (khắp, nhuôn, xuôi của người Thái; các điệu Tơm của người Khơ-mú; hát của người Mông), dân vũ (múa Thái, múa khèn Mông, giỗ ống Khơ-mú) và nhạc cụ (pí, khèn bè, nhị hai dây, chiêng trống của người Thái); nhị hai dây (của người Thổ); sáo dọc, sáo ngang, pí tơm, pí tót, đàn môi, thằm đao đao (của người Khơ-mú), khèn (Mông). Di sản văn hóa phi vật thể của các tộc người thiểu số ở miền Tây Nghệ An còn bao gồm: các thành tố của văn học dân gian gồm: truyền thuyết, truyện kể, sử thi, tục ngữ, ca dao, đồng dao, câu đố vốn khá phong phú của người Thái, Mông, Khơ-mú, Thổ và Ơ-đu, đặc biệt là chữ viết của người Thái. Đó còn là kho tàng tri thức dân gian/tri thức địa phương về khai thác và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất, rừng, nước) thể hiện ở phân loại đất, kinh nghiệm sản xuất, chăn nuôi, thủy lợi, giống cây con, kỹ thuật canh tác ruộng, nương, đất khô, kinh nghiệm luân canh; tri thức quản lý xã hội; tri thức về y học dân gian liên quan đến chăm sóc sức khỏe, sinh sản, bệnh tật, các bài thuốc chữa bệnh; tri thức giáo dục nuôi dậy con cái, răn dạy nên người. Đặc biệt, Luật tục của người Thái hay Quy ước của người Mông, Khơ-mú, Thổ cũng là kho tàng tri thức quý báu, có giá trị trong xây dựng nông thôn mới và mục tiêu phát triển bền vững.

Di sản văn hóa phi vật thể của các tộc người thiểu số ở Nghệ An còn phải kể đến tín ngưỡng phong tục, tập quán ở phạm vi gia đình (lễ cúng ma nhà/xơ phi hươn, lễ cúng vía, lễ lên nhà mới, lễ đặt tên cho trẻ, lễ cơm mới), phạm vi bản làng (lễ cúng bản/xên bản, lễ xăng khan/ki xà, lễ cầu mùa, cầu mưa, hay các nghi lễ nông nghiệp khác) và phạm vi mường thể hiện ở lễ cúng mường (xên mương) như đền Chín Gian, đền Choọng, đền Vạn, đền Pu Nhạ Thàu, hang Bua nêu trên.

Trong phát triển bền vững có 3 lĩnh vực: kinh tế, xã hội và môi trường, phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau. Muốn đạt được 3 mục tiêu này, đòi hỏi phải có sự chủ động phối kết hợp ở tất cả các lĩnh vực. Di sản văn hóa phi vật thể có thể đóng góp một cách hiệu quả vào phát triển bền vững theo từng vấn đề, nếu biết khai thác và phát huy vai trò cũng như giá trị của chúng một cách khoa học, hiệu quả. Do di sản văn hóa phi vật thể khá phong phú, đa dạng, không thể trình bày và phân tích tất thảy, mà chỉ xin đề cập tới một số yếu tố mà thôi. Theo đó, vai trò, giá trị và đóng góp của di sản văn hóa phi vật thể vào phát triển bền vững thể hiện ở các khía cạnh dưới đây:

- Tri thức dân gian của các tộc người thiểu số ở miền Tây Nghệ An có thể góp phần rất lớn cho an ninh lương thực và dinh dưỡng; góp phần vào bảo vệ môi trường.

- Việc chữa bệnh bằng cách sử dụng biện pháp tâm linh (xem bói để cúng vía, gọi hồn, cúng trừ tà...) phần nào đó cũng là liệu pháp chữa bệnh tâm lý, đôi khi khá hiệu nghiệm. Với việc sử dụng các bài thuốc dân gian gồm cỏ, cây, rễ, lá bằng nguồn nguyên liệu tự nhiên và kết hợp chữa bệnh bằng các loại thuốc tân dược, sử dụng các thiết bị y tế hiện đại trong bệnh viện hiện nay cũng góp phần tăng cường sức khỏe cho người dân tốt hơn. 

    - Cùng với tài nguyên rừng, nguồn tài nguyên nước được các tộc người thiểu số Tây Nghệ An xem là tài sản chung và thuộc sở hữu công cộng. Chính các thực hành truyền thống liên quan đến quản lý nguồn nước sẽ góp phần sử dụng nguồn nước sạch công bằng và sử dụng nguồn nước bền vững, đặc biệt là trong nông nghiệp và nhu cầu nước sinh hoạt. Đây là tập quán cần tiếp tục vận dụng để duy trì, phổ biến trong phát triển bền vững và truyền lại cho các thế hệ con cháu mai sau; đồng thời là giải pháp nhằm góp phần giải quyết những thách thức trong phát triển và môi trường liên quan đến nguồn nước.

Một trong những giá trị của luật tục (hịt khoong) Thái cũng như quy ước của tộc thiểu số khác là việc chứa đựng kho tàng tri thức dân gian quý giá. Luật tục, quy ước được xem như là ý thức hệ của tư duy và lối sống, điều tiết và phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người, thông qua tấm gương, hệ quy chiếu của môi trường thiên nhiên; phản ánh cách ứng xử của họ đối với môi trường thiên nhiên. Với tư cách là luật tục, quy ước của cộng đồng, chúng là công cụ điều hành các quan hệ xã hội, là sự tổng hợp cô đọng nhất tri thức về quản lý cộng đồng.

- Di sản văn hóa phi vật thể của các tộc người thiểu số miền Tây Nghệ An nếu được khai thác, sử dụng trên cơ sở có chọn lọc thì chúng sẽ phát huy được mặt tích cực, góp phần vào gìn giữ sự bền vững môi trường.

- Di sản văn hóa phi vật thể là động lực quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế toàn diện, thông qua các chỉ số tạo thêm làm, xóa đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế, đảm bảo phúc lợi xã hội. Nếu được khuyến khích, hỗ trợ và đầu tư đúng hướng thì một số nghề thủ công truyền thống (dệt, đan lát...) sẽ là trở thành nguồn thu nhập và là hàng hóa trao đổi chính của các cộng đồng, hộ gia đình và cá nhân; vừa  tôn vinh nghề, ý thức và niềm tự hào về bản sắc văn hóa của cộng đồng, góp phần hiệu quả vào xóa đói giảm nghèo ở nông thôn.

- Trong xã hội truyền thống của các tộc người thiểu số ở miền Tây Nghệ An, việc điều hành, quản lý xã hội dựa trên luật tục và tập quán pháp. Việc quản lý thường gắn với vai trò, trách nhiệm của người trưởng bản (và Ban quản lý bản), việc huy động đóng góp theo lệ bổ đầu nóc nhà trong bản, nên tính dân chủ được phát huy rộng rãi, tính công khai, minh bạch, bình đẳng được đề cao... sẽ là những yếu tố thuận lợi trở thành đòn bẩy thúc đẩy và phát huy sức mạnh nội lực tại chỗ, góp

- Việc thực hành các hoạt động trình diễn và tổ chức lễ hội với sự tham gia cũng như các thực hành khác của di sản văn hóa phi vật thể, với sự tham gia các thành viên trong cộng đồng, bao gồm cả phụ nữ và người trẻ tuổi, cũng sẽ là những đóng góp hiệu quả thiết thực vào phát triển kinh tế. Mô hình du lịch cộng đồng cũng sẽ giúp cho người dân được hưởng lợi từ việc phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thể. Từ chỗ góp phần tôn vinh, nuôi dưỡng lòng tự hào về di sản văn hóa tộc người trong cộng đồng, các hoạt động du lịch có thể tạo ra thu nhập và khuyến khích tạo công ăn việc làm, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc đạo đức và trách nhiệm đối với di sản văn hóa của tộc người.

3. Đôi điều kết luận

Trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững, bảo tồn đi đôi với phát huy giá trị di sản văn hóa (gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể) nói chung, di sản văn hóa của các tộc người thiểu số ở miền Tây Nghệ An nói riêng là nhiệm vụ hết sức quan trọng, nhưng cũng rất nặng nề. Bên cạnh những thuận lợi nhất định, việc triển khai thực hiện sẽ gặp phải nhiều khó khăn, thách thức. Vì thế đòi hỏi có sự vào cuộc của nhiều ngành, nhiều cấp ở trung ương và địa phương, trong đó các cơ quan văn hóa, các cơ quan nghiên cứu và cơ quan quản lý có vai trò hết sức quan trọng.

Dựa vào các văn bản pháp quy về bảo tồn văn hóa, đồng thời theo quan điểm bảo tồn văn hóa, trước hết phải tiến hành khảo sát, xây dựng kế hoạch tổng thể theo từng lĩnh vực: văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể một cách chi tiết; tiến hành tổ chức các cuộc hội thảo theo từng cấp để đi đến thống nhất. Đặc biệt, triển khai thực hiện phải mang tính đồng bộ, phải xây dựng lộ trình, nhân lực trên cơ sở chọn lọc để đề xuất các giải pháp khả thi và phù hợp với đặc trưng văn hóa tộc người.

Một trong những điểm mấu chốt là trong quá trình xây dựng và triển khai, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cần có sự tham gia của các chủ thể văn hóa. Có như thế, việc bảo tồn này mới theo đúng chủ đường, đường lối của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về chính sách dân tộc, vừa đảm bảo sự bình đẳng, công bằng và phù hợp với tình hình thực tiễn của các tộc người ở địa phương.q

 

Tài liệu tham khảo

1. Vi văn An, Tri thức dân gian của người Thái trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước. TC Dân tộc học, số 1/2008.

2. Vi Văn An, Nguyễn Thiên Tạo, Nguyễn Thanh Tuấn, Ứng xử với tài nguyên thiên nhiên của các tộc người thiểu số Nghệ An & ý tưởng thể hiện tại Bảo tàng Thiên nhiên - Văn hóa ở Pù Mát, Văn hóa Nghệ An số 352, tháng 10-11/2017.

3. Vi Văn An, Cần chú trọng khai thác giá trị của tri thức địa phương và luật tục trong xây dựng nông thôn mới ở vùng người Thái. Hội nghị Thông báo Dân tộc học năm 2018.

4. Luật Di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành, NXB Chính trị Quốc gia, Sự thật, H, 2005.

5. Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng, Luật tục Thái ở Việt Nam, Nxb VHDT, H, 2003.

6. Trần Thị Thủy, Phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững ở người Thái, huyện Con Cuông, Nghệ An, trong: Phát huy vai trò, bản sắc cộng đồng các dân tộc Thái-Cadai trong hội nhập và phát triển bền vững, Nxb. TG, H, 2017.

 

TRẦN THỊ BÌNH

1.  Khái niệm và hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và lập nên nhiều kỳ tích. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam chính là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội X tiếp tục khẳng định vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh: "Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh".

Vậy tư tưởng Hồ Chí Minh là gì? Văn kiện Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) đã nêu lên những nội dung cơ bản nhất về khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh: "Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, và trong thực tế, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc".

Tư tưởng Hồ Chí Minh được tiếp tục cụ thể hóa trong Đại hội IX của Đảng, là định hướng để giới nghiên cứu khoa học cùng trao đổi, nhằm đi tới có một khái niệm chung về tư tưởng Hồ Chí Minh như sau:

"Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời các nhà nghiên cứu cũng xác định rõ: tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống toàn diện, bao gồm một số nội dung chủ yếu như: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam; Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc; Tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự; Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh; Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh; Tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh...Tùy từng đối tượng, từng lĩnh vực, các nhà khoa học có thể nghiên cứu, khái quát và bổ sung các nội dung phù hợp với yêu cầu của mình vào hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng thành một hệ thống hoàn chỉnh, khoa học...

Khi vận dụng vào giảng dạy tránh kiểu tuyên truyền, hình thức, phải vận dụng phù hợp từng nội dung với tinh thần thắp sáng niềm tin cho sinh viên, củng cố trong sinh viên lòng tin và ngưỡng mộ sự nhân ái, nhạy cảm, ý chí, tinh thần, tài năng, linh hoạt của Hồ Chí Minh trong đối nhân xử thế, trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam ở từng giai đoạn lịch sử.

2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giảng dạy triết học Mác-Lênin (học phần những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác - Lênin, phần I)

2.1. Chương mở đầu, nội dung 1: Chủ nghĩa Mác - Lênin và ba bộ phận cấu thành.

Khi giới thiệu về tiểu sử của C.Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin đồng thời giới thiệu về HCM (thông qua phát vấn sinh viên, đặc biệt nhấn mạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bắt gặp và vận dụng, truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin và cách mạng Việt Nam như thế nào và cung cấp cho sinh viên một số tư liệu vắn tắt về Người).

2.2. Chương I: Chủ nghĩa duy vật biện chứng. Mục 3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Ở mục b.Vai trò của ý thức đối với vật chất.

Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu cực. Nếu con người có nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách mạng, có nghị lực, có ý chí thì hành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan, con người có năng lực vượt qua những thử thách  trong quá trình thực hiện mục đích của mình.

Giảng viên phát vấn, gợi ý về câu chuyện những ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước của anh Lê và Bác Hồ (lúc đó có tên gọi là Văn Ba): Bác nói với anh Lê: "Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không?".

Anh Lê đáp lại: "Nhưng bạn ơi, chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi?".

"Đây, tiền đây" - Anh bạn của tôi vừa nói vừa giơ hai bàn tay - "Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi. Thế thì anh cùng đi với tôi chứ?".

Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, với tên mới là Văn Ba đã rời Sài Gòn lên con tàu đô đốc Latútsơ Tơrêvin với một hoài bão lớn, nung nấu một quyết tâm cháy bỏng đó là giành "tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, những điều tôi hiểu". Với công việc phụ bếp trên tàu, mỗi ngày Bác phải làm việc từ bốn giờ sáng, quét dọn sạch sẽ nhà bếp lớn trên tàu, tối đốt lửa trong các lò. Sau đó đi khuân than, rồi xuống hầm lấy rau, thịt cá, nước đá,.... Công việc khá nặng nhọc vì dưới bếp rất nóng và trong hầm rất rét. Nhất là khi vừa phải vác một bao nặng vừa leo lên những bậc thang trong khi tàu rất chênh vênh.

Xong công việc ấy, phải dọn cho bọn chủ bếp Pháp ăn. Sau đấy, nhặt rau, rửa chảo nồi và đun lò lại. Công việc kéo dài suốt ngày.

Thông qua câu chuyện này để sinh viên khâm phục, ngưỡng mộ ý chí của Bác Hồ, từ đó tác động đến ý chí của sinh viên trong quá trình vượt khó khăn.

2.3. Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật. Đối với nguyên lý về sự phát triển.

Ở phần ý nghĩa phương pháp luận: Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển.

Theo quan điểm phát triển, để nhận thức và giải quyết bất cứ vấn đề gì trong thực tiễn, một mặt, cần phải đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên của nó; mặt khác, con đường của sự vật phát triển lại là một quá trình biện chứng bao hàm tính thuận nghịch, đầy mâu thuẫn, vì vậy, đòi hỏi phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển của nó, tức là cần phải có quan điểm lịch sử - cụ thể trong nhận thức và giải quyết các vấn đề của thực tiễn, phù hợp với tính chất phong phú, đa dạng, phức tạp của nó.

Phần này giảng viên đề cập đến việc Hồ Chí Minh: Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông, chính là xem xét chủ nghĩa Mác trên nguyên tắc "lịch sử - cụ thể", hoàn toàn không phải là "xét lại chủ nghĩa Mác". Tiếp tục cái nhìn "lịch sử - cụ thể", Hồ Chí Minh dự báo: Mai đây khi chủ nghĩa tư bản phương Tây làm đổi thay phương Đông thì đấu tranh giai cấp có trở nên quyết liệt không? Đại thể là có, nếu xét gương của Nhật Bản.

Về giai cấp, theo Hồ Chí Minh cấu trúc giai cấp ở phương Đông cũng khác phương Tây; do khác nhau về cấu trúc kinh tế nên cũng khác nhau về đấu tranh giai cấp. Đề cập vấn đề này, Hồ Chí Minh viết: Ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế không giống các xã hội Phương Tây thời trung cổ, cũng như thời cận đại và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây. Còn đối với người An Nam, tình hình cũng tương tự. Người lao động khi đó chưa giác ngộ giai cấp, "nhẫn nhục và vô tổ chức"; địa chủ thì nhỏ bé, tư sản thì bị chèn ép; công nhân thì không có công đoàn... Cuộc đấu tranh giai cấp cụ thể ở Việt Nam là "giảm thiểu" và không giống ở phương Tây.

Tầm nhìn "lịch sử - cụ thể" như vậy chính là khởi nguyên của những tư tưởng đúng đắn để xây dựng con đường cho cách mạng Việt Nam, xây dựng mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa cách mạng dân tộc và cách mạng chủ nghĩa xã hội.

Trước tiên, hãy đặt câu hỏi: chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là giai đoạn phát triển cao của xã hội loài người; vậy Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu thì chủ nghĩa cộng sản có thâm nhập vào và trở thành hiện thực được không?

2.4. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.

Ở nội dung nhân tố tạo thành mâu thuẫn là mặt đối lập. Khái niệm mặt đối lập dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng vận động trái ngược nhau nhưng đồng thời lại là điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau.  Giảng viên liên hệ, truyền thống yêu thương, đùm bọc, "Lá lành đùm lá rách", "Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng" dẫn đến tư tưởng đoàn kết: Đồng lòng, đồng sức, đồng tâm.

Đoàn kết là tư tưởng lớn của dân tộc và cũng là quan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh. Một đất nước có nhiều dân tộc, nhiều giai cấp, nhiều tôn giáo, nhiều thành phần... tất nhiên có "khác biệt", có "đối lập" dẫn đến "đấu tranh". Nhưng đấu tranh và đoàn kết là "thống nhất biện chứng". Đoàn kết trong "đấu tranh" và "đấu tranh" trong "thống nhất", đấu tranh trong nội bộ nhân dân khác với đấu tranh chống kẻ thù xâm lược.

2.5. Quy luật phủ định của phủ định, với nội dung

2.5.1. Phủ định biện chứng có tính kế thừa: kế thừa những nhân tố hợp quy luật và loại bỏ nhân tố trái quy luật. Phủ định biện chứng không phải là sự phủ định sạch trơn cái cũ, mà trái lại trên cơ sở những hạt nhân hợp lý của cái cũ để phát triển thành cái mới, tạo nên tính liên tục của sự phát triển. Phần này giảng viên liên hệ đối với Người không chỉ là tiếp nhận cái lịch sử mà phải biết phê phán, phủ định - kế thừa và ứng dụng cho mục tiêu cách mạng, cụ thể phải làm gì với các hệ tư tưởng đó?

Trước tiên, Người làm một sự so sánh thú vị: Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của chúa Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những tư tưởng chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội...

Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy.

Như vậy là, cho dù các thời đại khác nhau, cách nhau hàng nghìn năm, xa nhau hàng vạn dặm, vẫn có những con người với những ý tưởng giống nhau là mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại.

Hồ Chí Minh đã thấy được cái tốt đẹp mang tính phổ biến ấy, khai thác và sử dụng cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, nhưng từng hệ tư tưởng thì đúng, sai, hay, dở thế nào, cần phải xem xét cụ thể.

Thứ nhất, xem xét lại vai trò lịch sử của tư tưởng Khổng giáo và thấy rằng nó hoàn hảo lúc bấy giờ, nhưng đến khi cách mạng tư sản đã nổ ra thì không phải tất cả đều còn đúng. Hồ Chí Minh viết: Cách đây hai mươi thế kỷ chưa có chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc và các dân tộc chưa bị áp bức như chúng ta ngày nay, cho nên bộ óc Khổng Tử không bao giờ bị khuấy động vì các học thuyết cách mạng. Đạo đức của ông hoàn hảo, nhưng nó không thể dung hợp được với các trào lưu tư tưởng hiện đại, giống như một cái nắp tròn làm thế nào để có thể đậy kín được cái hộp vuông?

Những ông vua tôn sùng Khổng Tử không phải chỉ vì ông không phải là người cách mạng, mà còn là vì ông tiến hành một cuộc tuyên truyền mạnh mẽ có lợi cho họ. Họ khai thác Khổng giáo như bọn đế quốc khai thác Kitô giáo.

Còn đây là ý kiến của Hồ Chí Minh khi được tin "Chính phủ Trung Hoa dân quốc" xóa bỏ nghi lễ tưởng niệm Khổng Tử, phá bỏ các đền thờ Khổng Tử ở Trung Quốc: Thế mà Chính phủ Trung Hoa vừa mới quyết định từ nay về sau không còn sự tôn thờ chính thức nào nữa đối với Khổng Tử. Xem đó có phải là hành vi thực sự cách mạng không?

Để chứng minh cho ý kiến của mình, Hồ Chí Minh đã đem Khổng Tử đặt vào thời đại lịch sử khác - thời đại cách mạng vô sản: Nếu Khổng Tử sống ở thời đại chúng ta và nếu ông khăng khăng giữ những quan điểm ấy thi ông sẽ trở thành phần tử phản cách mạng. Cũng có khả năng là siêu nhân này chịu thích ứng với hoàn cảnh và nhanh chóng trở thành người kế tục trung thành của Lênin. Tóm lại, không khuôn sáo, gò ép, lệ thuộc vào những nền nếp cũ, mà Hồ Chí Minh luôn Phủ định - Kế thừa - Phát triển đạo đức học truyền thống của dân tộc và của phương Đông để áp dụng vào từng hoàn cảnh cụ thể, đối tượng cụ thể, thời gian cụ thể.

2.5.2. Phần ý nghĩa phương pháp luận. Cần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, giáo điều, kìm hãm sự phát triển của cái mới, làm trái với quy luật phủ định của phủ định.

Giảng viên liên hệ: Chống bệnh giáo điều có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cách mạng Việt Nam; bởi vì, sau nhiều năm (từ nửa sau thế kỷ XIX đến trước năm 1930), cách mạng Việt Nam bế tắc về đường lối, nên khi tìm được chủ nghĩa Mác - Lênin "đúng đắn nhất", "khoa học nhất" là "chiếc cẩm nang thần kỳ", thì có người tưởng rằng chỉ cần giở sách Mác - Lênin ra là tìm thấy mọi lời giải cho hiện thực. Bởi vậy, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở cán bộ: "Việc học tập lý luận của các đồng chí không phải nhằm biến các đồng chí thành những người lý luận suông, mà nhằm làm thế nào cho công tác của các đồng chí tốt hơn, nghĩa là các đồng chí phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt nhũng vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta. Như thế chúng ta học tập lý luận là cốt để áp dụng vào thực tế".

Người nhiều lần lưu ý rằng: những người cộng sản các nước phải cụ thể hóa chủ nghĩa Mác - Lênin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc, và từng nơi.

2.6. Phần lý luận nhận thức duy vật biện chứng

Ở nội dung vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, phải coi trọng công tác tổng kết thực tiễn. Việc nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành; lý luận mà không có thực tiễn làm cơ sở và tiêu chuẩn để xác định tính chân lý của nó thì đó chỉ là lý luận suông. Ngược lại, thực tiễn mà không có lý luận khoa học, cách mạng soi sáng thì nhất định sẽ biến thành thực tiễn mù quáng. Giảng viên cung cấp thông tin, trong 15 năm từ 1955 đến 1969 lãnh đạo Đảng, lãnh đạo Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có 923 lần đi thực tế cơ sở. Người đến các địa phương, các công trường, nhà máy, xí nghiệp, các đơn vị bộ đội, công an, trường học và các cơ quan… Một con số biết nói gắn liền với hình ảnh một vị Chủ tịch tuy tuổi đã cao nhưng vẫn xắn quần lội ruộng, cùng tát nước, cùng cấy lúa với nông dân, trao đổi về mùa vụ với ngư dân ngay tại bãi biển, kiểm tra tình hình sản xuất trong xưởng máy, động viên bộ đội tại thao trường, đến thăm học sinh, sinh viên tại giảng đường, thăm hỏi bệnh nhân trên giường bệnh,… lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của từng người dân bình thường nhất, động viên kịp thời từng gương tốt, phê bình góp ý cho cán bộ, lãnh đạo ngay tại địa bàn… Điều này cho thấy Hồ Chí Minh gắn bó với quần chúng, sâu sát với cơ sở, thực tế như thế nào.

Đối với việc vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, Người nhiều lần lưu ý rằng: những người cộng sản các nước phải cụ thể hóa chủ nghĩa Mác - Lênin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc, và từng nơi.

3. Kết luận

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào giảng dạy các môn lý luận chính trị nói chung và môn những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác - Lênin (phần 1) nói riêng là một điều thú vị và có tính giáo dục lớn đối với thế hệ trẻ,  tuy nhiên vận dụng như thế nào để đảm bảo sự hợp lý, khoa học, đúng với nội dung của bài giảng mà vẫn tôn vinh được phẩm chất, nhân cách, tài năng, đức độ, phương pháp tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh. Qua đó giúp sinh viên có được hiểu biết sâu sắc về phương pháp tư duy biện chứng của Người, góp phần làm cho bài giảng vốn được xem là khô khan, trừu tượng, sức nặng lý thuyết lớn trở nên hấp dẫn, sinh động, tạo hứng thú học tập cho sinh viên. Để có được điều này đòi hỏi mỗi giảng viên phải luôn trăn trở, tìm tòi, đam mê, tâm huyết trong sự nghiệp giảng dạy của mình, tuy nhiên tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống mở nên việc vận dụng vào bài giảng là vô cùng phong phú, đa dạng và đạt đến mức độ nào là phụ thuộc vào năng lực hiểu biết và phương pháp sư phạm của mỗi giảng viên.

 

Tài liệu tham khảo

1. Hồ Chí Minh (2012), Hành trình 79 mùa xuân (1890 - 1969). Nxb Hồng Bàng, Hà Nội

2. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

3. Nguyễn Đức Đạt (2007), Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

4. Phạm Ngọc Anh (2008), Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận 

Trần Văn Dũng

 

1. Đặt vấn đề

Chế độ một vợ một chồng ra đời đánh dấu một bước phát triển văn minh của xã hội loài người. Từ bao đời nay ở nước ta, lễ tục cưới hỏi đã trở thành nét văn hóa truyền thống của dân tộc được thể hiện cụ thể sinh động mang sắc thái đặc trưng của từng tộc người, từng địa phương, và cho dù có sự biểu hiện đôi nét khác biệt thì ngày cưới, lễ cưới vẫn là thời khắc hạnh phúc nhất của đôi uyên ương. Điều mà mỗi người chúng ta có lẽ có cùng suy nghĩ là những nét văn hóa truyền thống cổ xưa của dân tộc sẽ được bảo tồn, phát huy như thế nào trong bối cảnh mọi lĩnh vực của nền văn minh hiện đại đang lan tỏa đến mọi miền đất nước và tác động mạnh mẽ đến các lĩnh vực, mỗi thành viên xã hội? Văn hóa truyền thống là kho báu của dân tộc cần được bảo tồn, phát huy; tiếp nhận và tạo cơ hội để phát triển văn minh là một tất yếu cho sự phát triển xã hội. Vấn đề là làm thế nào để văn hóa truyền thống không cản trở sự phát triển văn minh, và ngược lại sự phát triển văn minh không làm mai một những nét đẹp của văn hóa truyền thống. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến một vài khía cạnh về mối quan hệ nói trên trong khuôn khổ những nét chính của vấn đề lễ tục cưới hỏi hiện nay của người Việt (người Kinh). Các liên hệ thực tế, chủ yếu trên địa bàn Nghệ An.

 2.Vài nét xung quanh khái niệm văn hóa và văn minh

Văn hóa là sản phẩm được con người sáng tạo ra từ buổi bình minh của xã hội loài người. Tuy vậy, khái niệm văn hóa đang được hiểu và sử dụng theo nhiều góc độ, với nhiều  nghĩa khác nhau.      

Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất khi cùng xem văn hóa là một phức thể tổng hợp gồm cả sản phẩm vật chất và tinh thần trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, chủ yếu do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn.

Chúng tôi cho rằng: Văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra phù hợp với nhận thức và tiêu chuẩn thẩm mĩ chung, mang đặc trưng của một cộng đồng nhất định và tích lũy qua quá trình thực tiễn, được lưu truyền qua thời gian.

Trong nội hàm của văn hóa mà các định nghĩa đã đi đến sự thống nhất như trên, có các yếu tố liên quan đến lễ tục cưới hỏi mà chúng tôi muốn đề cập.

Văn minh là một từ gốc Hán. Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh thì văn có nghĩa là dáng dấp bề ngoài và thường được hiểu là đẹp đẽ, tốt lành, trái với nghĩa mộc mạc, thô kệch; minh là sáng sủa, rõ ràng; văn minh là cái tia đạo đức phát hiện ra ở trong chính trị, pháp luật, học thuật, điển chương. Hán Việt từ điển của Thiều Chửu cũng cho rằng văn minh là cái dấu vết do đạo đức, lễ nhạc, giáo hóa mà có vẻ đẹp rõ rệt, trái với dã man. Tuy nhiên văn minh là từ vốn được dịch từ ngôn ngữ phương Tây. Từ văn minh trong các ngôn ngữ phương Tây (civilisation, civilization, tsivilizatsia,…) đều có nguồn gốc tiếng Latin là ciuitus, nghĩa là trạng thái đã được khai hóa, không còn ở trạng thái sơ khai của xã hội loài người (thời kì cổ xưa, nguyên thủy) mà đã trở thành những cộng đồng nhất định. Ciuitus cũng có nghĩa là tình trạng đã có quốc gia, chính quyền, luật pháp. Từ văn minh được dùng rộng rãi ở phương Tây vào thế kỉ 18 (Thế kỉ Ánh Sáng). Nội hàm của khái niệm văn minh đã được F. Engels đề cập trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước. Một số các thành tố của văn minh lúc bấy giờ (như sự sáng tạo chữ viết, sự ra đời và phát triển công nghiệp, của nghệ thuật; chế độ một vợ một chồng; sự phân chia giai cấp,…) cũng chỉ mới được minh chứng qua một số nền văn minh như Ai Cập, Hy Lạp, La Mã. Cũng từ đây, nội hàm của khái niệm văn minh dần dần được bổ sung và thay đổi. Ngày nay, nhiều nhà nhân loại học cho rằng, không có một tiêu chuẩn hoặc một số các tiêu chuẩn cụ thể nhất định để định nghĩa văn minh. Có thể nói, văn minh là một phạm trù lịch sử; khái niệm văn minh là chỉ sự tiến bộ xã hội, sự vươn tới một trình độ cao hơn về vật chất và tinh thần, một trật tự xã hội hợp lí cho phép con người vươn tới những đỉnh cao của khát vọng có tính cộng đồng. 

Như vậy, văn hóavăn minh đều chỉ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử. Chính vì thế, chúng ta thường hay sử dụng đồng nhất hai khái niệm này.

 3. Biểu hiện của văn hóa và văn minh-nhìn từ một vài khía cạnh của vấn đề cưới hỏi

Chúng tôi không có ý định và cũng không có khả năng đi sâu bàn về các hình thức biểu hiện trong các nghi lễ của hôn nhân mà chỉ hướng tới việc phân tích một số cách thức ứng xử của cộng đồng đối với các nghi lễ đó.

Thời xa xưa (trước thế kỷ 20), hôn lễ ở Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi Chu Công lục lễ. Về sau, người Việt chỉ còn 5 lễ và có sự biến cải theo cách riêng của mình (lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ rước dâu, lễ hợp cẩn, lễ lại mặt). Trong giới hạn bài viết này, chúng tôi xin đề cập một số biểu hiện về sự ứng xử của cộng đồng hiện nay trong vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn những đặc trưng văn hóa truyền thống và sự tiếp nhận những thành tựu của phát triển văn minh xung quanh các lễ tục trên. 

Nói chung, trước đây hôn nhân thường diễn ra trong không gian chật hẹp của làng, xã. Nó chật hẹp đến mức làm cho hôn nhân diễn ra một cách chồng chéo. Không ít trường hợp sau ba bốn thế hệ, rất khó có thể xưng hô với nhau một cách phù hợp. Chẳng hạn, ở tư cách bên nội có thể anh (chị) A gọi anh (chị) B là anh (chị) nhưng về bên ngoại có thể phải gọi là bác, thậm chí là ông (bà). Cùng cư trú trong không gian ấy nên có chung một nếp sống văn hóa, cùng hiểu rõ về hoàn cảnh của nhau; việc đi lại không có gì cách trở, vì vậy các lễ tục thường được thực hiện một cách đầy đủ, theo đúng quy thức, phù hợp với điều kiện chung của địa phương, và cũng vì thế ít xẩy ra các xung đột phức tạp. Ngày nay, không gian hôn nhân mở rộng, không những trong lãnh thổ quốc gia mà còn được mở rộng bởi không gian quốc tế. Văn hóa hôn nhân cũng vì vậy có sự tiếp xúc và biến đổi theo những chiều hướng khác nhau. Nhiều nhà nghiên cứu gần đây đều có sự nhìn nhận khá thống nhất về các khuynh hướng biến đổi văn hóa hiện nay của các dân tộc, đó là khuynh hướng giao lưu và tiếp xúc văn hóa; khuynh hướng đồng hóa tự nhiên khuynh hướng phục hồi văn hóa truyền thống.

Chúng ta đều hiểu rằng, giao lưu và tiếp xúc văn hóa là một trong những khuynh hướng chung và là tác nhân quan trọng đối với sự biến đổi văn hóa của các tộc người. Sự giao lưu, ảnh hưởng diễn ra giữa các tộc người trong một vùng; giữa người Kinh và các tộc người thiểu số trong cả nước và cả những tác động mang tính quốc tế. Sự giao lưu ảnh hưởng văn hoá giữa các tộc người đã góp phần đẩy nhanh quá trình biến đổi văn hóa truyền thống các dân tộc, khiến cho nhiều giá trị văn hóa mới thâm nhập và phát huy ảnh hưởng qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội. Mặt tích cực là đã góp phần tạo nên sự đa dạng về văn hóa trong khu vực. Bên cạnh đó, nó cũng có thể gây nên những tác động tiêu cực, đó là sự xô bồ, lai căng, thậm chí chủ nhân văn hóa còn quay lưng lại với văn hóa truyền thống nếu chủ thể tiếp nhận chưa có được sự chuẩn bị đầy đủ khả năng lựa chọn.

Khuynh hướng đồng hóa tự nhiên gần đây được các nhà nghiên cứu xác định là một trong những khuynh hướng biến đổi văn hóa truyền thống đáng lưu ý. Khuynh hướng này được quan niệm đồng nhất với xu hướng hiện đại hóa văn hóa của nhiều tộc người. Nó diễn ra khá mạnh mẽ và trên nhiều lĩnh vực và không hề có một sự tác động mang tính áp đặt, cưỡng bức mà sự đồng hóa diễn ra hoàn toàn tự nhiên. Tuy vậy, đây cũng là một khuynh hướng không thực sự tích cực, bởi sự tiếp nhận văn hóa từ các nền văn hóa khác không được dựa trên cơ sở truyền thống của mình mà có tính tiếp biến, vay mượn.

Phục hồi văn hóa truyền thống cũng là một trong những khuynh hướng thể hiện nhiều yếu tố tích cực, đặc biệt từ khi có Nghị quyết hội nghị Trung ương 5 Khóa VIII và hàng loạt các cuộc vận động, các dự án ra đời. Khuynh hướng này trong thời gian qua cũng bộc lộ một số vấn đề cần phải đầu tư nghiên cứu kỹ lưỡng. Những thành tựu nổi bật và những tồn tại đã được thể hiện cụ thể trong Báo cáo Hội nghị Tổng kết 15 năm Nghị quyết Trung ương 5 Khóa VIII, ngày 15 - 01- 2014 do Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức.

Những khuynh hướng biến đổi văn hóa trên đây cùng sự phát triển văn minh đã tác động mạnh mẽ đến sự biến đổi của văn hóa hôn nhân, trong đó có các lễ tục cưới hỏi. Có thể nhận thấy một số biểu hiện sau:

Lễ chạm ngõ theo truyền thống xa xưa, ngoài chú rể, bên nhà trai chủ yếu là các bà (bà mẹ, bà dì, bà cô của chú rể) đại diện cùng một số cô gái chưa chồng, chàng trai chưa vợ làm nghi lễ và "đội" các phẩm vật nhà trai mang theo. Ngày nay, hầu hết là có cả cha chú rể cùng các vị quan khách, những người có vai vế trong gia tộc, có khi của dòng họ nữa. Không ít trường hợp, còn có cả bạn bè của chú rể và cô dâu tương lai tham gia một cách không chủ định, dẫn đến sự bị động cho gia đình nhà gái trong khâu đón tiếp, và gây khó khăn cho đôi bên trong việc trao đổi chuyện nội bộ. Ý nghĩa của lễ này xưa nay vẫn thế, nhưng cách thể hiện thì ngày nay đã phá cách rất nhiều. Các lễ chạm ngõ thường mang tính "ước lệ" nhiều hơn là thực hiện một nghi lễ. Vì vậy hầu như không mấy ai bày lễ vật lên bàn thờ gia tiên nhà gái mà chủ yếu là tiếp xúc để hiểu nhau thêm, khẳng định vấn đề hôn ước và thống nhất các nghi lễ tiếp theo, mà chủ yếu là lễ cưới hỏi.

Cách thức tổ chức cưới hỏi là vấn đề được mọi người có những quan điểm và cách nhìn nhận khá khác nhau. Nếu như văn hóa truyền thống coi trọng sự tương tác thông qua giao tiếp thì giới trẻ hiện nay có xu hướng đổi khác. Nếu trước đây, gia chủ (hoặc người đại diện) trực tiếp đến từng nhà mang theo cơi trầu thưa chuyện và mời quý khách đến dự lễ cưới thì ngày nay việc gửi thiệp mời thường giao cho một số người nào đó đưa đến (hoặc gọi điện thoại) cho từng người, thậm chí không ít trường hợp mượn sổ lương của cơ quan, đơn vị để dựa vào danh sách mà viết và gửi thiệp mời. Có trường hợp do cơ quan đông, người mời cũng như người được mời cũng không biết nhau một cách rõ ràng. Một số trường hợp xa quê, đám cưới thường quan tâm đến mối quan hệ đồng hương thông qua ban liên lạc. Vì vậy, có trường hợp đến dự đám cưới mà cả nhà trai và nhà gái đều không biết khách của ai. Có người cảm thấy vui vui vì đã được chủ thể quên. Và không biết tự lúc nào hình thành câu cửa miệng nhắc với người quen là "khi nào cưới con cưới cháu nhớ cho mình biết". Như vậy, đám cưới ngày nay hình như đã đảo ngược mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể. Nếu như vì thân tình mời nhau đến chia vui thì việc mời ai là tùy thuộc vào các mối quan hệ tình cảm đó. Ở đây, khách thể đã gửi đến chủ thể tương lai một thông điệp là "tôi sẽ ủng hộ anh (chị)". Về một phương diện nào đó có thể thấy, có nhiều khách đến dự thể hiện được sự quan tâm chia sẻ niềm vui của nhiều người. Chủ thể cũng cảm thấy lòng mình được ấm áp hơn. Tiếc rằng, thực chất của vấn đề lại không nằm ở chỗ đó. Nếu như văn hóa truyền thống coi trọng lễ nghi thì giới trẻ hiện nay coi trọng sự "hoành tráng", hiện đại và thể hiện đẳng cấp. Đám cưới là dịp để phô trương sự hơn người, vì vậy, phải đông khách, phải tổ chức ở nơi sang trọng, rước dâu là phải thật nhiều xe và xe sang. Nhiều cô dâu chú rể cảm thấy hào hứng khi thấy khách bộ hành phải khổ sở, chen chúc nhau vì tắc đường do đám cưới gây ra. Sự phô trương trong nhiều trường hợp đã làm tổn thương không ít người liên quan. Chẳng hạn, có người đã cảm thấy khổ sở khi nhận được thiệp của một người chỉ quen biết ở mức độ rất "xã giao" mời đến dự lễ cưới ở một nơi quá sang trọng. Trong hoàn cảnh đó họ chỉ gửi đến gia chủ đôi uyên ương một món quà phù hợp với điều kiện thực tế mà không dám đến dự lễ cưới bởi khả năng tài chính không cho phép. Họ nghĩ rằng đến dự là phải có một quà mừng với giá trị tương xứng với "đẳng cấp" của đám cưới. Không ít trường hợp sự phô trương đã trở nên "hợm hĩnh", lố bịch. Chẳng hạn, hai bên thông gia quá chênh lệch nhau về địa vị xã hội và điều kiện kinh tế, dẫn tới việc một bên tách ra tổ chức riêng để có dịp thể hiện khả năng tài chính và vị thế của mình. Việc làm này vô tình đã làm tổn thương tình cảm của đôi vợ chồng trẻ, hơn thế nữa đã đặt mối quan hệ thông gia giữa hai nhà trước bờ vực khó được san lấp.

Trước đây, theo truyền thống, ngày về nhà chồng, cô dâu thường mặc bộ áo cưới là món quà mà nhà trai tặng trong lễ ăn hỏi. Chú rể và cô dâu đều mang y phục truyền thống thì ngày nay hầu như đều được Tây hóa. Chú rể thì veston, cô dâu thì váy dài theo kiểu châu Âu. Hình thức này mặc nhiên trở thành trang phục truyền thống của đám cưới ngày nay. Đã đi dự đám cưới thì hầu như ai cũng quan tâm đến áo quần, trang điểm. Tuy nhiên nhiều người lại không ý thức được mối quan hệ giữa cái đẹp và cái phù hợp của trang phục trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau. Chẳng hạn đến dự tiệc cưới mà trang phục toàn màu đen và đi dự đám tang thì rực rỡ một gam màu đỏ.

Gần đây, việc tổ chức lễ cưới diễn ra khá đa dạng về hình thức, về quy mô tùy thuộc khả năng tài chính và phần nào là hoàn cảnh về thời gian và sở thích của chủ thể. Chúng tôi không bàn luận về những khía cạnh đó. Điều chúng tôi muốn nói ở đây cũng là thực tế khá phổ biến ở đại bộ phận các đám cưới (có quy mô, mức độ tài chính và thứ hạng nhà hàng, khách sạn khác nhau) là thái độ ứng xử với chính đám cưới. Nhiều người đến dự đám cưới không có cơ hội để tham gia buổi lễ và giao tiếp với chủ thể (tức cô dâu chú rể và gia đình hai bên). Nếu đến sớm hơn giờ mở cửa phòng cưới thì quý khách "tùy cơ ứng biến" tìm chỗ đứng chỗ ngồi trong khi ghế ở hành lang có hạn. Đến lúc phòng cưới mở ra thì "chen chân nhau" vào và thế là ghép cho đủ người rồi tự mời nhau ăn uống. Nhiều người không biết trên "sân khấu" người ta đang làm gì vì sự ồn ào bởi tiếng nhạc, tiếng người gọi nhau ghép chỗ trong hoàn cảnh người đến trước người đến sau. Không ít trường hợp vì đến muộn phải ngồi bàn kê thêm ở hành lang ăn cho xong bữa, và có cảm giác mình đang đi ăn nhà hàng một cách bất đắc dĩ. Đám cưới đông, đi lại trong phòng cưới khó khăn, làm xong thủ tục, cô dâu chú rể và hai họ chưa kịp xuống chào thì không ít người đã về tự lúc nào. Nhiều lúc có cảm giác như mọi người đến chỉ để gửi chút quà tặng vào nơi quy ước, ăn bữa cơm của lễ cưới rồi về theo kiểu "trả lễ"mà không có được cảm nhận được đến chung vui với cô dâu, chú rể và gia đình hai bên. Chúng tôi thấy, có những đám cưới khách rất đông, mâm cỗ rất xôm nhưng thực sự không vui, có lẽ chỉ là làm xong một thủ tục. Thiết nghĩ, sự trang trọng, vui vẻ, ấm cúng là những tiêu chí cần thiết cho một đám cưới của mọi thời đại.

Chúng tôi có dịp dự lễ cưới ở một số thành phố phía Nam. Khi khách đến đều được mời vào bàn trong phòng cưới, nói chuyện, uống nước và cùng xem các hình ảnh cô dâu chú rể được trích chiếu từ album và các hình ảnh cô dâu chú rể trên đường từ nhà cô dâu đến phòng cưới qua wifi. Cô dâu và chú rể được đón dẫn vào phòng cưới một cách trang trọng. Tất cả mọi người cùng tham gia vào buổi lễ, được chia sẻ niềm vui hạnh phúc với cô dâu chú rể cùng gia đình hai bên thông qua các thủ tục cần thiết. Xong phần lễ mới vào tiệc với hình thức người phục vụ chạy từng món lên bàn theo thứ tự thực đơn, mà ai cũng có cơ hội thưởng thức, chứ không phải "xoay bàn" một cách bất đắc dĩ như ở phòng cưới chúng ta. Như vậy, lễ cưới được chủ thể và khách thể tham gia từ đầu đến cuối, được cùng giao lưu, chia sẻ. Ở thành phố, thị xã chúng ta hiện nay, theo chúng tôi nghĩ, các khách sạn không thiếu khả năng làm được tốt hơn vậy. 

Khi viết những dòng này, chúng tôi không có ý định muốn can thiệp vào đời sống riêng tư của mỗi người. Hơn nữa, có thể nói, một số yếu tố của văn hóa cổ truyền cũng đã và đang bộc lộ những chỗ không còn phù hợp với điều kiện sinh hoạt và hoàn cảnh xã hội hiện nay. Chúng ta cũng không hoàn toàn câu nệ các thủ tục một cách máy móc trong điều kiện không cho phép. Chúng ta từng chứng kiến các nam nữ thanh niên xây dựng tổ ấm gia đình trong hoàn cảnh xa quê hương, chưa hề gặp mặt cha mẹ hai bên; phải bỏ qua một số thủ tục lễ nghi thông thường, mà chỉ còn một lễ cưới đơn giản. Thậm chí, một số nơi đã tổ chức những đám cưới tập thể cho hàng chục cặp uyên ương xuất phát từ những hoàn cảnh cụ thể của họ. Song, hình như không ai thấy đó là sự "khác thường", sự "vi phạm" lễ nghi truyền thống mà đều cảm thấy trang trọng, lịch sự, vui vẻ, ấm cúng, phù hợp, dễ được sẻ chia. Tin chắc những người trong cuộc họ cũng đều cảm thấy mãn nguyện.

Việc tiếp nhận và phát huy những thành quả của văn minh trong môi trường giao lưu và tiếp xúc văn hóa là điều dễ hiểu và ở mức độ nhất định nó đã trở nên phù hợp. Nhiều sự đổi mới là cần thiết; văn minh hiện đại là cần hướng đến. Tuy nhiên, điều muốn nói ở đây là chúng ta đã có lúc ứng xử quá dễ dãi với những gì chúng ta tiếp nhận. Nhiều người đã chạy theo thời cuộc một cách thiếu cân nhắc giữa cái cần giữ và cái cần thay đổi. Nói cách khác là đã không hiểu một cách đầy đủ về giá trị văn hóa truyền thống với việc tiếp nhận thành quả của nền văn minh. Văn hóa mang tính dân tộc; văn minh mang tính thời đại. Vì vậy, sự tiếp nhận cần một sự lựa chọn (cách thức và mức độ) tùy thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể. Thiết nghĩ, điều mà văn hóa truyền thống và văn minh hiện đại đều hướng tới, đó là "tính văn hóa", "tính hiệu quả" và "sự tiết kiệm". Văn minh và văn hóa cổ truyền sẽ không bao giờ xẩy ra xung đột nếu chúng ta xử lí tốt những mối quan hệ đó. Một câu nói làm chúng tôi phải suy ngẫm "Đám cưới bây giờ thừa hưởng được nhiều thành quả của văn minh nhưng chưa thật văn hóa".                                

Nguyên nhân của vấn đề thì có nhiều, bao gồm cả khách quan và chủ quan. Theo nhận thức của chúng tôi, bản chất của vấn đề là ở chỗ, chúng ta chưa thực sự chủ động nên chưa có khả năng đứng vững trước làn sóng ồ ạt của giao lưu hội nhập. Vì thế, trong quá trình vận động và phát triển đã không khỏi rơi vào một vài nhận thức và hành vi không phù hợp, thậm chí tạo nên cả tập tục lạc hậu, và là sự cản trở cho phát triển hiện đại. Cùng với sự phát triển chung, cuộc sống và văn minh hiện đại trong thời gian gần đây đang lan tỏa đến mọi miền của Tổ quốc. Trong môi trường tương tác với nền văn minh hiện đại, văn hóa truyền thống có thể bị chèn ép, thậm chí bị phủ định bởi những thành tựu của chính nền văn minh. Và, trong nhiều trường hợp văn hóa đã phản ứng lại, và sự phản ứng này đôi lúc có thể cản trở những bước tiến của xã hội. Tác giả Hồ Sĩ Quý đã dẫn một số trường hợp tiêu biểu sau đây: "Văn hóa Nho giáo ở các nước NIC với nền văn minh châu Âu; văn hóa Nhật Bản với nền văn minh phương Tây; cộng đồng người Việt ở các nước phương Tây; hiện tượng sextourisin của Thái Lan… xem như sự trả thù của văn hóa". Vì thế chúng ta cần tìm những giải pháp tối ưu cho sự phát triển văn hóa trong điều kiện tiếp nhận những thành tựu của văn minh. Nghĩa là không để cho văn hóa truyền thống cản trở sự phát triển văn minh và ngược lại không để sự phát triển văn minh làm mất đi những nét đẹp truyền thống của văn hóa dân tộc, mà lễ tục cưới hỏi của chúng ta là một ví dụ.

4. Kết luận

Lễ tục cưới hỏi là bộ phận văn hóa xã hội của từng dân tộc, được áp dụng cho các thành viên của cộng đồng, được tiếp cận với tư cách là một dạng chuẩn mực xã hội. Vì vậy, có thể nói, nó đã quy tụ nhiều giá trị văn hóa truyền thống của mỗi tộc người. Trong nhiều phương diện của đời sống văn hóa được biểu hiện trong lễ tục cưới hỏi, có thể thấy những nét đẹp trong lễ tục phản ánh quan niệm về hệ giá trị xã hội của dân tộc được biểu hiện cụ thể phù hợp với những hoàn cảnh khác nhau. Thiết nghĩ, giá trị là quan niệm và điều mong muốn đặc trưng cho một cá nhân hay một nhóm, một cộng đồng và ảnh hưởng tới việc lựa chọn các phương thức, phương tiện hoặc mục tiêu của hành động. Với tư cách là sản phẩm của tập thể và là bộ phận quan trọng hợp thành của một nền văn hóa, các giá trị được biểu hiện thông qua những chuẩn mực là những qui tắc sống và ứng xử. Và vì vậy, nó phải được trân trọng, được giữ gìn và bổ sung.

Theo chúng tôi, bằng con đường nâng cao năng lực nhận thức, tạo điều kiện để đón nhận những yếu tố mới tác động trực tiếp đến văn hóa, và góp phần thúc đẩy văn hóa phát triển; phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc và từng tộc người, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để các phương tiện văn minh góp phần kiến tạo những nét văn hóa mới, đáp ứng một cách thiết thực có hiệu quả ước vọng của chúng ta là có được một nền văn hóa-văn minh truyền thống và hiện đại. Thiết nghĩ, vấn đề chỉ có thể thực hiện được bởi "văn hóa của tư duy và hành động" chứ không thể là một sự áp đặt, khiên cưỡng. 

 

Hồ Thủy

Mường Chiêng Ngam thuộc xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu có từ hàng trăm năm trước. Cho đến nay, dù đã nhiều thay đổi so với trước kia nhưng ngôi làng này vẫn giữ được những nét đặc trưng của người Thái cổ.

*   *   *

Vẻ đẹp Mường Ngam

Mương Chiêng Ngam ky pá xám nặm

Nặm Hạt hanh nặm Việc ma thứng.

Nặm Giải hanh, nặm Quang tăng tiện

(Mường Chiêng Ngam ăn cá ba nguồn nước.

Nước sông Hạt cạn thì sông Việc đầy.

Nước sông Giải khô thì sông Quàng vẫn chảy)

Mường Chiêng Ngam có nghĩa là mường đẹp, là nơi hợp lưu của ba dòng sông Quàng, sông Hạt, sông Việc, với lượng phù sa bồi đắp hàng năm, vùng đất Mường Chiêng Ngam luôn màu mỡ, phì nhiêu và là vùng đất bằng phẳng thuận lợi bậc nhất cho phát triển nông nghiệp. 100% người dân Mường Chiêng Ngam là dân tộc Thái, chủ yếu sinh sống bằng nghề chăn nuôi, làm nương rẫy và dệt, thêu thổ cẩm truyền thống. Bao nhiêu thế hệ người dân Mường Chiêng Ngam đã uống nước sông, tưới tắm mùa màng của mình bằng nước sông và mùa no ấm đến từ nước sông. Từ ngôi làng nhỏ bên bến sông xưa, đất và người Mường Chiêng Ngam căng tràn sức sống như một thiếu nữ miền cao nguyên trù phú. Vẻ đẹp đó được bồi đắp từ chiều sâu văn hóa, lịch sử và cả khát vọng hôm nay... Trước đây Mường Chiêng Ngam có 4 bản là bản Bua, bản Ban, bản San, bản Tàu. Sau này các bản này tách ra thành các bản riêng biệt gồm: Hoa Tiến 1, Hoa Tiến 2, Hồng Tiến 1, Hồng Tiến 2, Bua Lầu, Minh Tiến, Hợp Tiến. Điểm chính Mường Chiêng Ngam nằm ở hai bản Hoa Tiến 1 và Hoa Tiến 2. Dọc theo hai bên bờ các con sông là hàng trăm guồng nước ngày đêm không nghỉ đưa nước lên làm mát cho các cánh đồng. Những guồng nước tô đẹp cho bức tranh Mường Chiêng Ngam của Quỳ Châu thêm thanh bình.

Bao bọc lấy Mường Chiêng Ngam là các dãy núi Phá Èn, Phá Hủng, Phá Coóng tạo nên một quần thể hang động đẹp mang nhiều dấu tích lịch sử và truyền thuyết của cơn đại hồng thuỷ cách chúng ta hàng vạn năm. Theo lời bài hát nhuôn thì những ngày mưa lũ củi trôi về tận cầu thang, cá chui vào chuồng gà, chuồng vịt.

"Mương Chiêng Ngam a phưn, a lố bò họn há pà.

Cọp mừa nặm thùm thuôm láy quàng phưn ma.

Moi hến pá He hau lộc pết, pá Tết hau lộc cày ".

(Mường Chiêng Ngam lấy củi không cần lên rừng.

Đợi mùa mưa, nước đưa củi về tận nhà.

Trông thấy các Ghé (cá Chiên) vào mắc trong chuồng vịt,

Cá Lấu vào kẹt trong chuồng gà).

Trên ngọn đồi Tèn Bọ thuộc dãy núi Phá Èn ở bản Hồng Tiến 2, đền Chiềng Ngam được xây dựng ở thế "Tọa sơn vọng thủy". Đền ngoảnh mặt về hướng Tây Nam, xa về phía trước có dòng sông Nậm Hạt hiền hòa làm minh đường. Phía sau có dãy núi Phà Èn hùng vĩ làm hậu chẩm. Đền Chiêng Ngam được lập nên để thờ 3 vị thành hoàng là Xiêu Bọ, Xiêu Ké và Xiêu Luông là những người có công khai bản, lập mường và phối thờ Sơn thần, Thủy thần. Đền Chiêng Ngam là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh tín ngưỡng, là trái tim, tâm hồn, nơi hướng tới, chốn mong về của nhân dân huyện Quỳ Châu và vùng phụ cận. Cùng với Lễ hội hang Bua - Đền Chiềng Ngam đã trở thành một khu di tích hoàn chỉnh, phục vụ nhu cầu sinh hoạt tâm linh và văn hóa của đồng bào các dân tộc miền Tây Nghệ An và du khách muôn phương.

Sắc màu thổ cẩm

 Bản làng Mường Chiêng Ngam bằng phẳng, sầm uất, đồng ruộng phì nhiêu màu mỡ. Nơi đây trở thành nơi ở của tầng lớp quan lại, địa chủ phong kiến trước đây. Bao nhiêu cô gái đẹp, giỏi thêu dệt ở khắp các bản trên mường dưới phải về làm dâu ở mường này. Cũng chính vì thế mà con gái mường Chiêng Ngam từ trước tới nay ai cũng có đôi bàn tay giỏi thêu thùa, dệt thổ cẩm. Sản phẩm dệt thổ cẩm của họ hội tụ bởi nhiều nét tinh hoa văn hoá của nhiều vùng miền tạo nên một phong cách riêng trong trang phục của người Thái Mường Chiêng Ngam. Có câu ca rằng:

"Mương Chiêng Ngam côn đí chàng phai.

Là có mon Chiêng Ngam đay là hăm đai

Là có đai túng Lạn đay hục xao va".

(Mường Chiêng Ngam con gái đẹp lại khéo tay

Một cây dâu Chiêng Ngam làm nên một cuộn tơ.

Một cây bông dệt được hai mươi sải vải).

Trước đây, gia đình người Thái ở Mường Chiêng Ngam thường tự cung tự cấp về lương thực, thực phẩm. Ngoài lao động sản xuất lương thực, thực phẩm, người phụ nữ còn có bổn phận quan trọng là chịu trách nhiệm về cái mặc, cái nằm và trang trí cho cả gia đình. Chính vì vậy, bất kỳ người phụ nữ nào cũng phải biết tự tay trồng bông, dệt vải, nhuộm màu, may vá,... Người phụ nữ Mường Chiêng Ngam còn biết trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ dệt thành các loại thổ cẩm hoa văn rực rỡ để làm mặt chăn, mép đệm, mép màn, làm diềm,... Ngoài ra họ còn cần phải giỏi thuê thùa, nhất là thuê khăn piêu, chân váy, mặt gối,... Vì thế, thổ cẩm của con gái Mường Chiêng Ngam nổi tiếng tinh xảo lâu nay, nức tiếng trong vùng.

Hiện nay, Mường Chiêng Ngam và mường Miếng là hai nơi được huyện Quỳ Châu chọn xây dựng hai làng nghề truyền thống dệt thổ cẩm để vừa tăng thêm thu nhập cho bà con vừa bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc Thái. Bản Hoa Tiến có 250 hộ đến nay đã có 200 khung dệt, nhiều chị thêu dệt giỏi và có thu nhập cao từ 30-40 triệu đồng/ năm. Không chỉ các mẹ các chị, lớp trẻ cũng đã xuất hiện nhiều người dệt giỏi, năng động trong tìm kiếm thị trường tiêu thụ, tăng nguồn thu cho các hộ gia đình.

Nhà sàn cổ xưa

Mường Chiêng Ngam hiện nay đang xây dựng làng Thái gốc, với các mục tiêu như 100% nhà ở là nhà sàn. Ở đây có hơn 300 ngôi nhà sàn cổ xưa dựng lên san sát nhau với những nét đặc trưng mà hiếm có nơi nào lưu giữ được. Trước đây làng còn nghèo nhưng đồng bào rất có tinh thần đoàn kết. Gia đình nào có nhu cầu làm nhà là dân bản, anh em họ hàng tập trung lại để vào rừng đốn cây kéo về lấy gỗ và dựng nhà giúp, cả làng tập trung sức lực, làm việc cật lực trên dưới tháng trời là ngôi nhà sàn cổ đã hình thành.

Người Thái có câu thành ngữ: "Hươn mi hạn, quản mí xau", nghĩa là "Nhà có gác, sàn có cột". Bất kỳ người Thái nào cũng luôn mơ ước trong cuộc đời mình làm được ngôi nhà sàn, bởi theo quan niệm của họ, nhà sàn không chỉ là nơi cư trú mà còn là nơi để con người gửi gắm niềm tin với các thần linh, lưu giữ những giá trị tinh thần. Để có được ngôi nhà sàn vừa ý, người Thái phải chọn những loại gỗ tốt như: săng lẻ, lim, chò chỉ… và tùy vào hoàn cảnh kinh tế của từng gia đình mà lợp tranh hay ngói, gỗ xẻ hay gỗ tròn.

Nhà sàn thường được dựng trên một khoảng đất rộng, bằng phẳng, hướng về dòng suối hoặc dòng sông và được bao quanh bởi vườn cây ăn quả. Nhà gồm hai tầng: Tầng trên được thiết kế từ 3 đến 5 gian, trong đó gian ngoài cùng nằm sát cầu thang chính dùng để tiếp khách, uống rượu cần; các gian bên trong là nơi sinh hoạt của gia đình chủ nhà. Tầng dưới là nơi để các nông cụ sản xuất, gỗ, củi…

Nhà sàn cổ của người Thái ở Mường Chiêng Ngam có thể lớn, nhỏ khác nhau nhưng kết cấu một số chi tiết phải đảm bảo thống nhất như: khung nhà phải được làm bằng các loại gỗ quý như: săng lẻ, lim, chò chỉ…; nóc nhà có 4 mái, bao gồm 2 mái chính, 2 mái phụ ở đầu hồi và được lợp bằng lá cọ hoặc ngói; sàn nhà làm bằng tre, mét hoặc luồng; mặt tiền của tầng trên phải có hàng lan can bằng gỗ bao phía ngoài, kế tiếp là khoảng hiên nhỏ rồi mới đến các gian nhà; cầu thang có 9 bậc tượng trưng cho 9 tầng trời xanh, 9 tầng đất, sợi dây nối sự sống và cái chết của con người và gồm hai chiếc, một cầu thang chính dẫn lên cửa lớn để vào gian thờ tổ tiên thường dành cho đàn ông và những người khách quý của gia đình, một cầu thang phụ thường dành cho người phụ nữ đi làm về lên sân phơi nơi đặt chum đựng nước để rửa chân, hay khi đi lại lo liệu việc gia đình…. Vị trí cầu thang có thể ở bên phải hoặc bên trái ngôi nhà tùy theo địa thế, số lượng bậc thang có thể khác nhau nhưng nhất định phải là số lẻ.

Một đặc điểm nữa của nhà sàn người Thái là rất nhiều cửa sổ, dãy cửa sổ nối tiếp nhau chạy bao quanh ngôi nhà để đón gió và ánh sáng. Trước kia các cửa sổ thường làm bằng phên liếp tre, nứa, còn ngày nay khi điều kiện vật chất đã khá hơn thì được thay bằng khung gỗ. Hệ thống cửa sổ này cùng với các chấn song tạo thành bức vách nên trong nhà rất thoáng mát và gần gũi với thiên nhiên…

* * *

Những năm qua, chính quyền địa phương luôn nỗ lực bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái tại Mường Chiêng Ngam; xây dựng, phát triển các giá trị mới về văn hóa, kết hợp hài hòa giữa truyền thống với hiện đại, mang nét đặc trưng văn hóa cộng đồng. Người dân trong mường cũng luôn gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Thái với những nếp nhà sàn truyền thống, trang phục, điệu dân ca, dân vũ, món ăn đặc trưng, trò chơi dân gian. Để phát huy tiềm năng du lịch ở Mường Chiêng Ngam, bảo tồn giá trị văn hóa của cộng đồng dân tộc Thái, chính quyền địa phương nói riêng, huyện Quỳ Châu nói chung đang nỗ lực xây dựng Mường Chiêng Ngam trở thành bản kiểu mẫu trong phát triển du lịch cộng đồng.

 

 HOÀNG ANH

          Nhà sàn được coi là biểu tượng văn hóa của nhiều dân tộc thiểu số, là hình ảnh mang tính chủ đạo nổi bật trong không gian cư trú của mỗi tộc người. Sống giữa miền núi cao, từ xa xưa, người Thái đã sáng tạo kiểu kiến trúc nhà sàn vừa thoáng mát vừa chịu được những điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, thú dữ. Dù nhà sàn được làm từ nguyên liệu nào hay được bố trí có sự khác nhau ra sao thì tựu chung đó cũng là giá trị văn hoá từ xa xưa để lại; gắn bó với đời sống đồng bào hàng nghìn năm, giúp họ trường tồn, phát triển.

Người Thái xây dựng nhà sàn không chỉ là nơi cư trú, gắn với cuộc đời mỗi con người, từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi người con trai lớn đi làm nương rẫy, người con gái học những bài học đầu tiên về xe tơ, dệt vải, thêu thùa; dựng vợ gả chồng… mà nhà còn là nơi để con người gửi gắm niềm tin với các vị thần linh: Then luông - đấng tối cao cai quản trời đất, loài người và vạn vật; các ma (phi) cai quản như ma ruộng, ma nương, ma rừng, ma suối, ma nhà (phi hươn), ma họ (phi đẳm), những ông, bà, cụ, kỵ đã khuất (pú pầu) là những lực lượng phù hộ, bảo vệ con người…

Ngôi nhà người Thái thường xây dựng theo 4 kiểu nhà:

Thứ nhất, nhà sàn có đà (hườn khang): Đây là kiểu nhà sàn truyền thống phổ biến của người Thái và là loại nhà đơn giản nhất trong 4 kiểu nhà sàn. Cột nhà được chôn để tạo thế vững chắc cho ngôi nhà, có ngoãm tự nhiên hoặc do thợ làm nhà đục đẽo nên. Các ngoãm này dùng để luồn chốt làm pinh gác đà dưới. Hàng cột giữa của ngôi nhà chỉ cao đến gầm sàn, có tác dụng nâng đỡ phần giữa nhà sàn. Các đỉnh đầu của cột thường có ngoãm tự nhiên hoặc ngoãm nhân tạo để đặt đà trên, quá giang có thể xê dịch được, các khớp nối dùng ngoãm tự nhiên hoặc tự tạo, và dùng lạt buộc. Phần kèo của ngôi nhà được gắn thêm một thanh gỗ (kim may) để ngoắc vào đà trên.

Thứ hai là nhà sàn quá giang cột chôn (hườn khứ, xau phăng): Kiểu nhà sàn này gần giống với kiểu nhà sàn có đà (hườn khang), cũng có cột chôn, tuy nhiên lại không có ngoãm, đà trên và đà dưới không còn. Ở đỉnh đầu cột không để ngoãm mà để thành cái cọc gọi là đuốt đặt quá giang, quá giang ở đây không còn xê xịch được mà được đục lỗ đặt cố định vào đuốt cột. Để lắp gá kèo vào cột vì không có ngoãm nên phải đục mộng. Kiểu nhà sàn này có 2 loại là nhà sàn hươn khứ và nhà sàn xau phăng, tùy thuộc vào địa hình, tập quán địa phương mà người Thái làm nhà theo kiểu nào cho phù hợp.

Thứ ba là nhà sàn kê hai hàng cột có quá giang (hườn kê khứ): Đây là kiểu nhà được làm phổ biến vào những năm 50 của người Thái. Nó có cấu trúc, hình dạng gần giống một trong hai kiểu nhà của nhà sàn quá giang cột chôn. Tuy nhiên, cột nhà không được chôn mà kê trên đá, có thêm đà dưới và đà trên, có một vì kèo con ở trên quá giang gồm trụ, đấu và con cung. Dạng này hoàn toàn không có ngoãm mà phải đục lắp mộng giữa các khớp nối, ngoài ra còn dùng dây giang để buộc.

Và cuối cùng là kiểu nhà sàn kê hạ (hươn kê hạ): Kiểu nhà sàn này mới được du nhập những năm gần đây, vì những tiện ích của nó trong xây dựng và sử dụng nên hiện nay kiểu nhà này được sử dụng phổ biến nhất. Kiểu nhà kê hạ có bốn hàng cột, khi làm phải cưa, đẽo, đục làm mộng.

Về cấu tạo, 4 kiểu nhà sàn trên của người Thái ngoài những điểm tương đồng thì có nhiều điểm khác nhau, tuy nhiên, về phần kết cấu mái nhà thì lại gần như giống nhau hoàn toàn. Người Thái thường dùng tre, luồng để làm đòn tay (pe), còn rui (con) thì làm bằng nứa. Trên đòn tay (pe) có lớp rui (con). Đòn tay nằm song song với đòn nóc, còn lớp rui lại nằm song song với vì kèo. Khi làm xong khung xương của mái, thông thường người Thái dùng cỏ tranh hoặc lá cọ để lợp. Xưa kia, người Thái còn chưa biết làm nhà, một hôm mơ thấy có con rùa về báo mộng và bảo rằng: "nhìn vào hình dáng của tôi mà làm". Thế là kiểu nhà người Thái hình thành với 4 chân là 4 cột trụ, hình dáng như chiếc mai rùa. Nhà thường nằm trên mặt bằng, hình chữ nhật, có lan can chạy trước hoặc xung quanh nhà với 4 mái vươn cao đều đặn.

Nhà sàn truyền thống của người Thái to hay nhỏ tùy thuộc vào điều kiện từng gia đình, nhưng cơ bản nhà được chia làm 2 phần. Phần trong ngôi nhà được bố trí thành các gian nhưng thường theo gian lẻ: 3 gian, 5 gian hoặc 7 gian, giữa các gian có vách ngăn bằng gỗ hoặc phên; Tuy nhiên, cũng do nhu cầu của gia đình mà nhà có thể bố trí số gian phù hợp. Ví dụ nhà có bố mẹ, 01 con trai đã có vợ và 01 con gái lớn chưa lấy chồng thì làm 4 gian, hòng nọoc (con dâu không được vào, trừ ngày Tết hoặc bố mẹ mất); hòng cuống (con dâu không được vào trừ khi lúc bố mẹ mất); hòng lực pợ (gian của con dâu - bố chồng không được vào) và hòng lực sáo (dành cho con gái)… Gian đầu hồi, gần với cầu thang gọi là hoọng noọc được làm gian thờ cúng tổ tiên, thờ ma nhà và tiếp khách quý. Gian giữa là nơi dùng cho sinh hoạt gia đình, gian này thường rộng hơn những gian khác và là nơi đặt buồng ngủ của vợ chồng và các thành viên khác trong gia đình. Gian này gọi là hoọng cuông. Gian cuối cùng gọi là hoọng chạn. Gian này là nơi dành cho sinh hoạt của người phụ nữ và là nơi cất đặt những đồ gia dụng, bếp, khung cửi, chạn bát,… Bao quanh ngôi nhà có lan can tạo ra một ban công khá rộng rãi vừa để tiếp khách, vui chơi, vừa để các đồ dùng, vật dụng cho ngôi nhà một cách tiện lợi.

Sàn nhà thường được làm bằng luồng, tre, nứa đập dập đan kết lại, những gia đình nào có điều kiện hơn thì làm bằng ván, gỗ. Xưa kia, dưới sàn nhà, người Thái thường chăn nuôi gia súc, gia cầm như: lợn, gà, vịt,… Ngày nay, công tác tuyên truyền vệ sinh môi trường được phổ biến và nhận thức được những ảnh hưởng, tác hại của việc chăn nuôi gia súc gia cầm dưới sàn nhà nên đa phần người Thái chuyển gia súc, gia cầm sang chăn nuôi khu vực riêng xa nhà ở. Tầng trên và tầng dưới của nhà sàn được nối với nhau bằng cầu thang, cầu thang chính được đặt phía trước ngôi nhà, cầu thang phụ được đặt phía nhà bếp phục vụ cho việc nấu nướng, sinh hoạt của chị em phụ nữ. Cầu thang được làm bằng gỗ, hoặc bằng tre, nứa, có bậc lẻ, thường là chín bậc, theo cách tính dân gian thì đó là "sinh, lão, bệnh, tử". Bậc thứ 9 trùng với chữ "sinh" mới mang lại may mắn, phồn thịnh cho gia chủ.

Đối với người Thái, dựng nhà là một trong những công việc hệ trọng của đời người, bên cạnh việc chuẩn bị nguyên vật liệu để dựng nhà từ những năm trước, thì người Thái cũng rất chú trọng đến yếu tố tâm linh nhằm mong muốn sự bình yên, no đủ và mạnh khỏe cho những người trong gia đình. Vì thế, xung quanh việc làm nhà, người Thái có rất nhiều tập quán, phong tục như: chọn đất, chọn hướng nhà, chọn ngày tháng, làm nhà; lễ dựng nhà, lễ trả công; lễ vào nhà mới.v.v..

Lễ chọn đất ở: Theo truyền thống, trước tiên người Thái sắm lễ vật và mời thầy mo đến làm lễ. Lễ vật bao gồm: trầu cau, rượu và hai súc vải trắng. Sau khi thắp hương khấn xin các đấng thần linh, đặc biệt là thần đất (thổ công), thầy mo cho người đào một cái hố nhỏ. Sau khi đào xong bỏ vào đó ba hạt thóc chụm đầu lại với nhau, rồi đậy bằng một chiếc bát. Sáng hôm sau, thầy mo và chủ nhà ra kiểm tra, đào hố lên và mở bát ra, nếu thấy ba hạt thóc vẫn còn chụm lại với nhau thì có thể tiến hành làm nhà ngay trên mảnh đất đó. Ngược lại thì phải tiếp tục làm lễ chọn mảnh đất khác. Cách thứ hai là thầy mo và chủ nhà lấy một nắm dây lạt vắn lại với nhau, sau đó đặt xuống đất dùng chân đạp và khấn. Nếu dây lạt nối liền nhau, không bị rối thì có thể làm nhà được, ngược lại thì phải tìm mảnh đất khác. Sau khi chọn được đất, chủ nhà tiếp tục làm lễ chọn hướng nhà. Hướng nhà thường được lựa chọn theo hướng Đông - Tây, hoặc chọn những hướng quay mặt ra con suối, cánh đồng, những nơi thoáng đãng để dựng nhà. Họ đặc biệt kiêng dựng nhà quay mặt vào núi, hoặc đối diện với ngọn núi, nóc nhà này không được thẳng hàng với nóc nhà kia. Người Thái thường làm nhà vào mùa xuân hoặc mùa thu, thời tiết mát mẻ, muôn vật sinh sôi và đây cũng là thời gian nông nhàn, không chỉ gia chủ có thời gian để tập trung vào việc xây nhà mà họ còn có thể huy động, nhờ người thân, anh em, hàng xóm trong bản, làng đến giúp. Theo quan niệm của người Thái thì thường vào các ngày chẵn trong tháng âm lịch là ngày tốt, còn giờ thì được chọn theo bảng lịch của người Thái gọi là Lai cưn, hoặc bằng cách bấm đốt ngón tay. Người Thái có bài ca dao viết về lễ chọn ngày tháng làm nhà, theo đó, ngày lành tháng tốt để có thể dựng nhà là các ngày 2, 3, 14, 15, 26, 27 âm lịch trong tháng. Ngày nay để dựng nhà của người Thái có chu kỳ 8 ngày, và ngày tốt tuỳ theo từng tháng.v.v.

Theo phong tục thì người Thái dựng nhà đầu tiên thường tiến hành dựng cột ma nhà (xau phí hươn), đến cột hồn (xau văn) rồi đến cột bếp (xau tau phi). Các cột còn lại thì tiến hành dựng bình thường không theo thứ tự. Để tiến hành lễ này, gia chủ thường làm mâm cỗ đạm bạc, mời thầy mo về cúng ma nhà, sau đó thiết đãi những người đã đến giúp đỡ mình. Ngoài ra, sau khi hoàn thành việc dựng nhà mới, gia chủ thường làm lễ trả ơn những người đã giúp đỡ mình hái tranh, lợp mái. Lễ trả ơn không đòi hỏi sự cầu kì nhưng tổ chức khá linh đình. Tùy vào điều kiện, gia chủ có thể mổ trâu, bò hoặc lợn, hông dăm mâm xôi, trước để cúng ma nhà, sau đó thì làm mâm thiết đãi anh em, hàng xóm, những người đã giúp đỡ mình. Nếu mâm cỗ ăn không hết, gia chủ sẽ dồn thức ăn lại sau đó phân chia đều cho những người đóng phần tranh, phần nứa tùy thuộc vào số lượng tranh nứa họ đã đóng góp, trong đó chủ nhà cũng có phần như những người khác. Cuối bữa ăn, bao giờ gia chủ cũng mang rượu cần ra để đãi khách, cùng với hát nhuôn, hát suối,… lễ trả công có thể kéo dài suốt đêm. Tiếp đến là lễ lên nhà mới, theo quy định của hương ước, tập tục từng vùng, người lên nhà đầu tiên là người đàn ông lớn tuổi nhất của gia đình, cầm theo túi đựng đồ bàn thờ gia đình, tay xách cái chài, đeo súng (nếu có) lên nhà mới, việc đầu tiên là treo túi đựng đồ bàn thờ lên "xáu họng" sau đó treo chài lên hoặc đặt ở dưới túi đựng đồ bàn thờ, treo súng lên… Người phụ nữ lên sau mang theo kiềng, nồi hông, lên nhóm bếp… Sau đó mới tiến hành làm mâm cơm mời anh em, bà con, họ hàng. Gia chủ sẽ mổ lợn, gà, hông xôi,… làm 3 mâm cơm để cúng, một mâm cúng ma nhà, một mâm cúng thổ công và mâm còn lại cúng long mạch để cầu cho cả nhà được bình yên, mạnh khỏe, làm ăn phát đạt. Sau khi làm lễ, chủ nhà dọn mâm thiết đãi anh em, hàng xóm, những người đã giúp đỡ mình trong quá trình dựng nhà, trong lễ mừng bao giờ cũng có uống rượu cần và hát nhuôn, suối.

Ngày nay, do sự mở rộng giao lưu, cùng với sự tiện lợi, và nguyên liệu làm nhà truyền thống ngày càng khan hiếm nên nhà ở của người Thái cũng có nhiều thay đổi. Xuất hiện nhiều ngôi nhà đất bằng gỗ hoặc xây gạch của người Kinh, nhà sàn nhưng được làm nhỏ hơn trước, hay lợp ngói thay cho mái tranh cọ như trước đây. Cấu trúc của ngôi nhà của Thái cũng thay đổi theo các kiểu nhà, đơn giản hơn và phù hợp với đời sống mới, trong nhà vẫn ưu tiên nơi đặt bàn thờ tổ tiên, đến nơi đặt giường chiếu để ngủ, đến buồng ngủ cho con cái, cầu thang và chỗ ra vào. Khác nữa đó là trước đây lợp mái nhà bằng tranh, cọ thì bây giờ rất nhiều gia đình người Thái sử dụng mái ngói, hoặc lợp Fibro xi măng; cột trước đây là cột chôn thì nay là cột kê cao từ 4-5 m, các mối liên kết chủ yếu dựa vào các mộc nhân tạo. Trước đây, nhà chủ yếu là nửa kèo nửa cột thì ngày nay giữa kèo và cột đã có sự tách rời riêng biệt. Tầng trên và tầng dưới của nhà sàn truyền thống thường cách nhau từ 1-1,5m, nay cách khoảng 3-4m. Trước đây, người Thái có thói quen buộc, thả gia súc, gia cầm dưới tầng một của nhà sàn, nhưng nay, do sự tiến bộ trong cách nghĩ, và do được tuyên truyền rộng rãi nên hầu hết các gia đình đã bỏ thói quen chăn nuôi đó và tầng một của ngôi nhà sàn hiện hầu hết là nơi cất, đựng các loại đồ dùng, công cụ lao động hoặc khung dệt vải, nông sản,…

"Khi nói đến văn hóa Thái, người ta nói đến nét văn hóa đặc trưng nhà sàn Thái. Ngôi nhà sàn là một trong những biểu tượng của văn hóa Thái. Nhà sàn chính là không gian văn hóa tộc người thu nhỏ. Toàn bộ không gian đó chứa đựng nếp sống văn hóa tộc người. Con người ta sinh ra trong mái ấy, lớn lên rồi chết đi, ra đi từ mái nhà ấy. Và vì thế toàn bộ phong tục văn hóa, phong tục truyền thống của người Thái diễn ra trong ngôi nhà đó với những nét văn hóa ứng xử của đặc trưng của người Thái" (Lâm Bá Nam - Nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc). Những ngôi nhà sàn của người Thái trải qua bao thời gian đã hun đúc tinh thần, nơi chứng kiến bao buồn vui của đời người. Ai đã một lần lên miền núi, đến với các bản làng của đồng bào người Thái, hẳn sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp sơn thủy hữu tình, bình dị ấm cúng, của miền núi Tây Bắc xứ Nghệ.

 

Hồng Bắc

 Trang phục truyền thống của các dân tộc không chỉ là đặc trưng để dễ dàng phân biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác thông qua hình thức bên ngoài, mà nó còn là biểu hiện khát vọng sinh tồn của dân tộc, ý thức đề cao của dân tộc đó.

 gười Thái có mặt ở Quỳ Châu vào khoảng thế kỷ XIII - XV với ba nhóm chính là Tày Mường, Tày Thanh, Tày Mười. Tuy thời gian di cư đến đây và nguồn gốc các nhóm địa phương khác nhau nhưng họ rất tự hào về những giá trị văn hóa truyền thống của tộc người mình, trong đó có nghề dệt thổ cẩm có từ lâu đời và được các bà, các mẹ truyền lại cho con gái từ thế hệ này đến thế hệ khác.

Có thể nói, nghề dệt thổ cẩm là một trong những nghề thủ công truyền thống có vị trí hàng đầu của dân tộc Thái ở Quỳ Châu, Nghệ An. Nghề dệt thổ cẩm trước tiên đáp ứng nhu cầu nhiều mặt trong cuộc sống của đồng bào Thái: các sản phẩm sinh hoạt hàng ngày như quần áo, khăn, màn, váy, nệm, chăn, gối, túi,.. và những sản phẩm dùng trong cưới hỏi, ma chay, nghi lễ tôn giáo. Bên cạnh đó, sản phẩm thổ cẩm cũng được dùng để trao đổi mua bán góp phần tăng thêm thu nhập cho đồng bào Thái ở đây.

Người phụ nữ Thái trước đây ngoài chăm chỉ làm nương rẫy, chăn nuôi sản xuất thì họ còn biết quay tơ, kéo sợi dệt vải tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ cho gia đình và bạn bè. Người con gái Thái từ xa xưa đã biết trồng dâu nuôi tằm, trồng cây bông để cung cấp sợi cho nghề dệt. Điều này cũng cho chúng ta thấy việc biết dệt thổ cẩm đối với phụ nữ Thái là tiêu chí đánh giá phẩm chất của người phụ nữ Thái trong xã hội truyền thống từ xưa đến nay. Chính vì vậy con gái Thái ngay lúc còn bé đã được các mẹ cõng trên lưng để làm các công việc như nuôi tằm, ngồi dệt vải; Lên 7 đến 8 tuổi phải làm quen với bông, sợi, dệt vải và đã bắt đầu cho tập dệt, tập kéo chỉ xoay tơ đến 14,15 tuổi đã quen với việc thêu thùa, dệt vải. Cho đến khi lập gia đình, các cô gái Thái đã thành thạo nghề canh cửi và có một kiến thức nhất định về các loại sản phẩm thổ cẩm truyền thống, giúp cho họ dệt nên những vật dụng thiết yếu cho mình và gia đình khi tạo dựng cuộc sống mới.  Đó là vật hồi môn không gì thay thế được của các cô gái Thái khi về nhà chồng.

Đối với người Thái, nghề dệt thổ cẩm không chỉ phục vụ nhu cầu cuộc sống sinh hoạt, đem lại giá trị kinh tế mà điều quan trọng nhất là nghề dệt còn chứa đựng giá trị tinh thần lớn lao, thể hiện quan niệm triết lý của cộng đồng, vì vậy dù đã trải qua lịch sử hàng trăm, hàng ngàn năm nó vẫn được cộng đồng dân tộc Thái huyện Quỳ Châu trân trọng, giữ gìn và phát triển cho mãi đến bây giờ.

Để dệt được một tấm thổ cẩm đẹp đòi hỏi người dệt phải trải qua nhiều công đoạn vì chỉ dùng tay và chân là chính. Người dệt phải dùng những nguyên liệu tự mình tạo nên từ trồng dâu, nuôi tằm và trồng cây bông. Bông sau khi được thu từ nương về để cho thành sợi, phải trải qua rất nhiều công đoạn sơ chế như ỉn phai (cán bông), pựt phai (bật bông), lọ phai (quấn bông), pằn phai (se sợi), hà phai (hồ sợi), sáo lọc (rút sợi), pía đai (cuốn sợi thành con), lăng đai (se sợi đơn thành sợi đôi), phoọc đai (xử lý cho sợi tơ mềm) mới có thể dùng để dệt.

Khi bông được se thành sợi, tùy vào mẫu hoa văn trên tấm thổ cẩm mà người dệt sử dụng lá, quả, cây, củ các loại khác nhau để nhuộm sợi bông, sợi tơ tằm nhằm tạo ra những gam màu đẹp, độc đáo và bền. Thông thường, sợi bông chỉ nhuộm chàm hoặc để màu trắng tự nhiên. Các màu khác để phối màu, khi trang trí thường dùng bằng sợi tơ tằm. Sau khi bông đã được nhuộm, bà con đem vào dệt trên những khung cửi bằng tre hoặc bằng gỗ. Những tấm vải khi dệt lên có thể tạo thành váy, áo, khăn Piêu, thắt lưng hoa (xái hượt boọc), những tấm "Phà", những tấm vải để may thành chăn, thành nệm, mặt gối, viền màn,...

Ngoài lấy sợi từ trồng bông ra thì bà con dân tộc Thái còn nuôi tằm để kéo kén lấy tơ. Khi kéo tơ, bà con đun một nồi nước to và luôn để trên bếp, giữ ở tình trạng sôi lăn tăn, thả từng nắm kén vào nồi, xâu sợi tơ qua lồng quay tơ, quấn vào khung để tạo thành bó tơ. Tơ tằm là rất dai, bóng và đẹp vì thế, vải tơ tằm thường được dùng trong nghi lễ của người Thái hoặc làm quà biếu, tặng có giá trị cả về vật chất lẫn tinh thần.

Sản phẩm dệt thổ cẩm của người Thái rất đa dạng, phong phú, bao gồm: trang phục, vải (vải màu đen, trắng, sọc), chăn hoa (pha bọc), váy thêu (xìn xẻo), khăn thêu (khắn piêu), dải thắt lưng hoa (xái hượt bọc), nệm (xửa), gối (món tậu), màn hoa (xút co khúy), túi mang, túi trầu (thống báng, tịp pu)... Trong các sản phẩm dệt đó thì trang phục trở thành yếu tố quan trọng nhất đối với đời sống của đồng bào Quỳ Châu, đặc biệt là trang phục của phụ nữ, cái mà ở đó bản sắc dân tộc biểu hiện rõ rệt, thường xuyên và lâu bền nhất và là một trong những thành tố cấu thành nét văn hóa truyền thống độc đáo của tộc người nơi đây.

Một bộ trang phục truyền thống đầy đủ của người phụ nữ Thái bao gồm: Áo, váy, khăn đội đầu, dây lưng và đồ trang sức đi kèm.

Áo (xưa):  Về cơ bản, áo của phụ nữ Thái Quỳ Châu không có gì khác so với áo của vùng Tây Bắc, cả về màu sắc và kiểu dáng. Điểm khác ở đây là ở cách trang trí hàng cúc và khổ áo: khổ áo của phụ nữ Thái Quỳ Châu rộng và dài hơn so với áo phụ nữ Tây Bắc và khác ở chỗ trang trí hàng cúc(1).

Áo của người phụ nữ Thái cũng có nhiều loại khác nhau, tùy vào từng công năng mà có tên gọi và cấu tạo.

"Xưa" là loại áo mặc thông dụng hàng ngày của phụ nữ Thái. Áo khi còn mới, đẹp thì được mặc trong các ngày lễ, ngày hội, ngày cưới; khi áo đã cũ thì mặc trong lao động sinh hoạt hàng ngày, khi lên nương rẫy. Áo cấu tạo kiểu xẻ ngực, có ống tay dài, thường trang trí hai dải vải màu đối lập thành nẹp ở tà và cổ áo, nhưng phổ  biến nhất là áo nền trắng - đen. Áo của phụ nữ Thái Quỳ Châu được trang trí bởi hàng cúc bằng nhiều chất liệu như bạc, đồng, xương,... nhưng đặc biệt nhất là hàng cúc bằng sợi chỉ do tự tay người phụ nữ tết thành, mang hình dáng cánh hoa, lá cây,.... Khi mặc áo, hàng cúc cài vào nhau thành những bông hoa, chiếc lá, tạo nên nét nổi bật, nét đặc trưng của từng địa phương.

"Xưa lồm" là loại áo chỉ được dùng vào dịp cầu phúc trong tang lễ. Bất kì cô gái Thái nào khi về nhà chồng đều tự sắm cho mình chiếc áo này. Áo có màu đỏ, được may rộng phủ quá đầu gối, kiểu chui đầu. Loại áo này mặc trong đám tang của bố mẹ hoặc của người thân trong gia đình khi qua đời(2).

Váy: Đi liền với áo (xưa), váy cũng là trang phục truyền thống đặc trưng của người phụ nữ Thái Quỳ Châu không giống các vùng khác, đó là việc trang trí ở chân váy với những đồ án hoa văn rất công phu. Váy được tạo thành bởi hai mảnh vải thổ cẩm ghép thành hai phần gồm thân váy và chân váy. Tuy nhiên, mỗi nhóm người Thái (nhóm Tày Mường và nhóm Tày Thanh) lại có những kiểu váy khác nhau. Váy của phụ nữ Thái đầy đủ gồm 2 lớp: lớp bên ngoài có thân màu chàm đen, lớp bên trong gọi là "xỉn hỏi" dệt bằng sợi vải bông có màu trắng và sọc đen xen kẽ nhau,... Khi người phụ nữ chết thì chiếc "xỉn hỏi" này phải được lấy từ 3 cuộn vải từ 3 lần dệt khác nhau gọi là "xin hỏi xám chưa", nghĩa là váy được may 3 lần làm dệt vải khác nhau.

Váy của phụ nữ nhóm Tày Mường có đặc trưng nổi bật ở phần tạo màu của chân váy. Chân váy nhóm Tày Mường thường được trang trí hoa văn chính là hình rồng, rắn, mặt trời, thể hiện khát vọng mong mưa thuận gió hòa của cơ dân nông nghiệp trồng trọt; còn nhóm Tày Thanh thường được trang trí các hoa văn hình học như hình thoi, hình quả trám và các hoa văn phụ họa đủ màu sắc hài hòa nhưng cũng rất sặc sỡ. Việc trang trí các mẫu hoa văn khác biệt đó tạo nên giá trị thẩm mỹ, tâm lý và thị hiếu cũng như quan niệm sống của hai nhóm Thái này. Các mẫu hoa văn này được thêu chạy thành từng đường viền quanh gấu bao gồm 3 mảnh hợp lại, trong đó, mảng chạy theo kiểu hoa văn viền là chỗ tạo nên sự khác biệt giữa váy của nhóm Tày Mường với nhóm Tày Thanh. Tiếp nối là mẫu hoa văn chính của váy với các loại hình hoa văn hình kỷ hà mẫu nhiều màu sắc. Mảng cuối cùng lại tiếp tục thêu kiểu hoa văn viền. Váy của phụ nữ Tày Mường bao giờ cũng dệt hoa văn viền xếp thành từng đường chạy theo chiều ngang(3) điều đó tạo nên sự khác biệt giữa váy của phụ nữ nhóm Tày Mường với nhóm Tày Thanh.

Trong nếp sống truyền thống, phụ nữ Thái mặc váy chấm gót chân. Lối mặc váy này chỉ thấy ở nhóm Tày Mường, còn nhóm Tày Thanh lại mặc cao hơn, ngắn và gọn hơn. Rồi cũng tùy vào từng công việc mà họ lại có những cách mặc khác nhau: khi làm việc nhà họ mặc váy dài đến mắt cá chân, khi lao động ngoài ruộng nương thì họ lại mặc theo lối quấn váy lên cao cho gọn gàng để không bị bẩn và để thuận tiện làm việc. Vào dịp lễ tết, hội hè thì phụ nữ Thái lại có trang phục riêng. Trái với ngày thường, vào dịp lễ tết, hội hè, phụ nữ Thái mặc váy chùng xuống tận gót chân, để có dáng đi thướt tha, uyển chuyển cùng đồ trang sức bằng bạc lấp lánh. Điều này để thể hiện nếp sống văn hóa của người Thái và cũng thấy rõ mối quan hệ bền chặt giữa trang phục với cuộc sống cộng đồng. Người Thái quan niệm, mặc đẹp không phải chỉ cho mình mà còn để đẹp cả cộng đồng - văn hóa tộc người.

Khăn đội đầu: Khăn của phụ nữ Thái Quỳ Châu rất được chú trọng trang trí và có nét đặc trưng riêng. Khăn được chia làm các loại khác nhau như khăn dùng trong lao động sản xuất hàng ngày và khăn trong các dịp lễ tết, hội hè.

Khăn dùng trong ngày thường thì thường đơn giản, được gọi là khăn đắm. Khăn chỉ là một dải vải màu trắng hoặc nhuộm chàm, không trang trí hoa văn, dùng để quấn che đầu khi ở nhà hay đi làm, ai cũng có thể đội và đội bất cứ lúc nào. Khăn này rộng khoảng 40-50cm, dài từ 150-200cm. Nếu khăn nhuộm màu đen thì dành cho phụ nữ, gọi là "khắn bọc", có nghĩa là khăn hoa. Hoa ở đây không phải do thêu, dệt thành mà là do khi nhuộm, người ta cột vải lại vào chỗ ở 2 đầu khăn làm sao nhuộm những chỗ này không thấm màu, nhuộm xong mở ra thì có vài chỗ vải trắng như hoa.

Khăn dùng trong các dịp lễ hội, lễ tết thì phụ nữ Thái phải đội khăn Piêu, tức là khăn được làm cầu kỳ và trang trí đẹp hơn. Kích thước của khăn thì cũng tương tự như khăn đắm, được dệt bằng vải tơ hoặc vài bông, nhưng được nhuộm nền chàm. Trên nền đó, người phụ nữ Thái sẽ thêu, dệt các hoa văn bằng các loại chỉ màu khác nhau ở hai đầu khăn, các góc tết thành "sừng" (cút piêu), thành "tai" (hú piêu), tết càng dài càng đẹp vì nó buông xuống như sợi tua xanh, đỏ, tím, vàng,... nhìn vô cùng sặc sỡ, bắt mắt. Khăn Piêu có 2 mặt, mặt dưới/ trong và mặt trên/ ngoài (nà piêu) để phô ra, cần phải dày công thêu thùa nhất. Hoa văn trên mặt Piêu thường là những ô vuông, quả trám đặt chếch nhau, hình hoa lá, con vật như khỉ, ngựa, hình đường viền song song, hình răng cưa, móc câu, tam giác đối đỉnh nối tiếp nhau, lặp đi lặp lại. Phần tâm khăn Piêu (giữa đỉnh đầu) được thêu hoa 8 cánh để làm nổi bật. Phụ nữ Thái ở Quỳ Châu, trước khi quấn khăn thường búi tóc lên đỉnh đầu rồi cài trâm. Riêng nhóm Tày Mường, khi có chồng, con gái phải búi tóc ngược cẩu phổm hay gọi là tằng cẩu giống người Thái Đen ở Tây Bắc. Khăn được người ta xếp thành hình trái tim hoặc hình mái nhà khi đội lên đầu.

Trong tổng thể trang phục phụ nữ Thái, nghệ thuật trang trí trên khăn Piêu chiếm một vị trí rất quan trọng. Đây là sản phẩm văn hóa đặc sắc, thể hiện vẻ đẹp tâm hồn và phẩm chất người phụ nữ Thái, là "biểu hiện của tư duy thẩm mỹ dân gian được tiếp nối qua nhiều thế hệ"(4).

Dây lưng (xái hượt): Đây cũng là một bộ phận không thể thiếu trong bộ nữ phục của phụ nữ Thái, góp phần làm phong phú và tăng thêm vẻ đẹp cho phụ nữ Thái. Người Tày Thanh gọi là "xái éo".

Dây lưng của hai nhóm Thái Quỳ Châu cũng có nhiều điểm khác nhau. Nhóm Tày Thanh được làm bằng sợi bông, thường được để trắng tự nhiên hoặc nhuộm màu nâu nhạt. Mỗi một dây lưng gồm 2-3 con sợi. Kích thước thắt lưng dài khoảng 2,5-3m, rộng khoảng 18-20cm. Khi quấn nhóm Tày Thanh thường lấy đầu tay trái luồn vào đầu tay phải rồi kéo về phía tay trái sau đó dắt vào trong.

Dây lưng nhóm Tày Mường được dệt bằng tơ, sau đó nhuộm nhiều màu. Có hai loại dây lưng, một loại gọi là dây lưng dải được khâu vắt hai đầu và nhuộm màu xanh phổ biến. Loại nữa là dây lưng ống, nhuộm màu đỏ và thêu hai đầu, sau đó gập vuông góc và khâu nối chiều dài của vải lại thành hình ống. Khi buộc, nhóm Tày Mường thường thắt nút và buông thõng hai đầu khăn phía trước như một cách trang trí.

Ngoài ra, đi kèm trong trang phục của phụ nữ Thái còn có các đồ trang sức khác như: trâm cài, vòng cổ, hoa tai, vòng tai, vòng tay, xà tích,... thường được tạo hình từ chất liệu kim loại như bạc, nhôm,... Việc tạo hình được dựa trên hình dáng bộ phận cơ thể (cổ, cổ tay) hay từ chức năng của nó trong mối quan hệ với các bộ phận cơ thể con người (trâm, hoa tai,...) nhằm tăng thêm vẻ đẹp của người phụ nữ Thái nơi đây.

Các sản phẩm từ dệt thổ cẩm, đặc biệt là trang phục của phụ nữ Thái thể hiện đặc điểm của cư dân nông nghiệp trồng trọt, biết tìm tòi các nguyên liệu trong tự nhiên để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. Bên cạnh đó, nó còn thể hiện lối sống, quan niệm thẩm mỹ, tư tưởng xã hội, tín ngưỡng,... là biểu trưng cho nét đẹp văn hóa truyền thống của tộc người nơi đây.

Ngày nay, hàng thổ cẩm Thái ngày càng được phát triển, các sản phẩm dệt ngày càng đa dạng, phong phú hơn, đáp ứng nhu cầu không chỉ đối với của cuộc sống hàng ngày mà đáp ứng được nhu cầu trong phát triển hàng hóa với nhiều sản phẩm mới như: túi xách, bóp đựng tiền, áo đàn ông cách điệu, váy áo đóng cả bộ, khăn, địu... được bán trong các dịp lễ hội hang Bua (Quỳ Châu), mường Ham (Quỳ Hợp), các tuyến du lịch như thác Xao Va (Quế Phong), Pù Mát (Con Cuông)…

Có thể nói hàng dệt thổ cẩm của người Thái ở Quỳ Châu với những họa tiết sinh động, phong phú, nhã nhặn đã thực sự trở thành một món hàng hóa được nhiều người biết đến, chiếm được tình cảm của nhiều khách hàng trong và ngoài nước. Đặc biệt là nghệ thuật nhuộm màu sử dụng các loại chất liệu tự nhiên của người Thái nơi đây là một nét đặc sắc riêng có đã nâng cao giá trị hàng dệt Quỳ Châu lên thành một sản phẩm thời trang cao cấp. Hiện chính quyền địa phương huyện Quỳ Châu luôn quan tâm để tuyên truyền và vận động bà con giữ gìn và phát huy hơn nữa giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình.

Làng Thái cổ Hoa Tiến, xã Châu Tiến hiện là một trong những nơi được huyện Quỳ Châu chọn làm điểm xây dựng du lịch cộng đồng. Du khách đến đây sẽ được tự mình trải nghiệm cách dệt vải thổ cẩm trên khung cửi, qua sự hướng dẫn của các mẹ, các chị, các bà. Du khách cũng có thể tham gia nhiều hoạt động gắn với cuộc sống hàng ngày của cư dân nơi đây như giã gạo bằng tay, vào bếp để tự chế biến các món ăn dân dã của đồng bào Thái. Về đêm sẽ được hòa mình vào điệu nhảy sạp, khắc luống và ngất ngay trong men rượu cần dưới ánh lửa bập bùng. Tất cả là nét đẹp văn hóa truyền thống của tộc người, của vùng đất được coi là cái nôi của vùng văn hóa của người Thái cổ.

 

Chú thích

(1), (2), (4). Trần Văn Thức (chủ biên), Địa chí văn hóa huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, 2011, trang 535-537.

(3) Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Kỳ Sơn, Đặc trưng văn hóa và truyền thống cách mạng các dân tộc ở Kỳ Sơn Nghệ An, Nhà xuất bản CTQG.

 

LÊ THỊ THU HƯƠNG

Học điền là loại ruộng dành riêng để trồng cấy lấy hoa lợi chi phí cho việc học. Học điền ở Việt Nam bắt đầu hình thành từ thời vua Trần Thuận Tông (1388 - 1398) và tồn tại đến triều Nguyễn, khi nền giáo dục khoa cử Nho học kết thúc (1919). Học điền được đặt ra bởi nhiều cấp độ: nhà nước, phủ lộ, hàng tổng, làng xã, dòng họ và cá nhân. Tại Nghệ An, việc đặt học điền được chép trong 32 bản tục lệ và 2 văn bia Hán Nôm của 8/10 huyện, trong đó Hưng Nguyên là huyện có nhiều thôn xã đặt học điền nhất (21 thôn, xã). Tư liệu Hán Nôm ghi về học điền đều có niên đại triều Nguyễn. Nội dung của việc đặt học điền: dùng thưởng cho người đỗ đạt khoa trường, cấp học bổng cho người đi học, trả lương thầy, mua giấy bút, thờ cúng tiên hiền, tiên nho… Đó là biện pháp khuyến học hữu hiệu đem lại hiệu quả cho nền giáo dục khoa bảng của Nghệ An.

1. Tư liệu Hán Nôm về học điền của Nghệ An

Nghệ An là tỉnh có truyền thống hiếu học và khoa bảng hàng đầu cả nước. Tổng số người đỗ đại khoa của Nghệ An là 145 người, thấp hơn nhiều so với Hà Nội (666 người), Bắc Ninh (394 người) và Hưng Yên (205 người), tuy nhiên chỉ tính riêng thời Nguyễn Nghệ An đứng đầu cả nước về số người đỗ đại khoa (91/558 người), chiếm 16.31%(1). Để đạt được những thành tựu đó, không thể không kể đến những tác động của khuyến học đối với khoa cử nơi đây, trong đó có việc đặt học điền.

Tục lệ và văn bia Hán Nôm phản ánh khá rõ nét, sinh động về việc đặt học điền, một hình thức khuyến học có ý nghĩa về mặt vật chất, đem lại nhiều lợi ích cho người cả thầy và trò.

 Theo thống kê của chúng tôi, học điền ở Nghệ An được ghi chép chủ yếu trong tư liệu tục lệ và văn bia, hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Khoa học xã hội Việt Nam. Cụ thể:

Bảng thống kê số xã đặt học điền ở Nghệ An qua tư liệu tục lệ và văn bia Hán Nôm

 

Tt

Thôn, xã 

Kí hiệu 

Diện tích   

Năm lập

  1.  

Thôn Hạ xã Yên Dũng huyện Hưng Nguyên

AF.b1/5

20 trượng

Tự Đức 9 (1856)

  1.  

Thôn Chính Đích huyện Hưng Nguyên

AF.b1/5

1 mẫu

Gia Long 12 (1811)

  1.  

Thôn Khoa Đà huyện  Hưng Nguyên

AF.b1/7

2 sào 5 thước 3 tấc

Minh Mệnh 11 (1830)

  1.  

Thôn Lỗ Điền huyện Hưng Nguyên

AF.b1/8

10 mẫu

Minh Mệnh 12 (1831)

  1.  

Thôn Hạ Khê huyện Hưng Nguyên

AF.b1/7

2 mẫu 6 sào 7 thước 6 tấc

Gia Long 6 (1805)

  1.  

Thôn Trường Lãng huyện Hưng Nguyên

AF.b1/8

 

7 mẫu 8 sào

Minh Mệnh 10 (1829)

  1.  

Thôn Xuân Kiều huyện Hưng Nguyên

AF.b1/10

1 mẫu 2 sào

Thiệu Trị 3 (1843)

  1.  

Xã Nguyệt Tỉnh huyện Hưng Nguyên

AF.b1/10

9 mẫu 2 sào

Thiệu Trị 2 (1842)

  1.  

Thôn Bùi xã Bùi Khổng huyện  Hưng Nguyên

AF.b1/11

5 sào

Tự Đức 13 (1860)

  1.  

Thôn Thanh Phong huyện Hưng Nguyên

AF.b1/11

19 mẫu 5 sào

Tự Đức 12 (1859)

  1.  

Thôn Đông xã Bùi Ngõa huyện Hưng Nguyên

AF.b1/11

4 mẫu 5 sào

Minh Mệnh 3 (1822)

  1.  

Thôn Bùi Châu xã Bùi Ngõa huyện Hưng Nguyên

AF.b1/12

3 mẫu

Minh Mệnh 2 (1821)

  1.  

Thôn Lê Xá, huyện Hưng Nguyên

AF.b1/13

3 mẫu 3 sào

Minh Mệnh 11(1830)

  1.  

Thôn Yên Cư huyện Hưng Nguyên

AF.b1/16

5 mẫu 5 sào

Thiệu Trị 6 (1846),

  1.  

Xã Ước Lễ huyện Hưng Nguyên

AF.b1/17

2 mẫu 2 sào

Thiệu Trị 4 (1844)

  1.  

Thôn Ngọc Điền xã Do Lễ huyện Hưng Nguyên

AF. b1/17

4 mẫu 5 sào

Tự Đức 31 (1878)

  1.  

Thôn Yên Nậu xã Do Lễ huyện Hưng Nguyên

AF.b1/18

2 mẫu 5 sào

Minh Mệnh 21 (1821)

  1.  

Xã Khánh Sơn huyện Hưng Nguyên

AF.b1/20

1 sào

Không ghi niên đại

  1.  

Xã Lộc Điền huyện Hưng Nguyên

AF. b1/21

 

 

1 sào

Không ghi niên đại

  1.  

Thôn Phúc Giang  huyện Hưng Nguyên

 

AF.b1/22

1 mẫu 9 sào

Thiệu Trị 1 (1841)

  1.  

Thôn Trường Sơn xã Quan Trung huyện Đông Thành

VHv.2678

1 mẫu 8 sào

Minh Mệnh 15 (1834)

  1.  

Xã Mi Sơn huyện Thanh Chương

VHv.2677

 

2 mẫu 3 sào

Duy Tân 2 (1908)

  1.  

Xã Thanh Quả huyện Thanh Chương

VHv.2677

3 mẫu 4 sào

Duy Tân 5 (1911)

  1.  

Thôn Bão Đức huyện Thanh Chương

VHv.2677

 

8 sào

Duy Tân 5 (1911)

  1.  

Thôn Ngọc Lâm huyện Thanh Chương

VHv.2677

 

1 mẫu 2sào

 

Duy Tân 5 (1911)

  1.  

Xã Yên Lưu huyện Chân Lộc

HƯN.813

1 mẫu

Sao Bảo Đại 17 (1941)

  1.  

Thôn Long Sơn xã Đặng Sơn huyện Quỳnh Lưu

VHv.1825

4 sào

Sao năm Duy Tân 11 (1917)

  1.  

Thôn Đặng Thượng huyện Quỳnh Lưu

VHv.1825

5 mẫu

 

Sao năm Duy Tân 11(1917)

  1.  

Xã Lãng Điền huyện Lương Sơn

VHv.2654

5 mẫu 5 sào

 

Thành Thái 16 (1904)

  1.  

Thôn Xuân Sơn xã Thọ Sơn huyện Yên Thành

VHv.1216

8 mẫu 5 sào

Tự Đức 22 (1869)

  1.  

Làng Phú Văn huyện Yên Thành

HƯN.807

3 sào

Không ghi niên đại

  1.  

Xã Lãng Khê huyện Nam Đàn

VHv.1210

5 sào

Chép lại năm Duy Tân

  1.  

 Xã Quỳnh Đôi  huyện Quỳnh Lưu

N02826- 27

Không ghi rõ(2)

Cảnh Hưng 9 / Ước đoán Tự Đức 9 (1856)

  1.  

Xã Quỳnh Đôi  huyện Quỳnh Lưu

 

N02818-21

10 mẫu

Cảnh Hưng 7 /Ước đoán Tự Đức 7 (1854)

 

 Qua khảo sát, thu được 34 tư liệu gồm 32 tục lệ và 2 văn bia ghi chép về học điền của 33 thôn xã, 1 dòng họ của Nghệ An. Học điền được đặt ra ở 8/10 huyện trong tỉnh: huyện Hưng Nguyên, Đông Thành, Thanh Chương, Chân Lộc, Lương Sơn, Yên Thành, Nam Đàn, Quỳnh Lưu; huyện Hưng Nguyên có nhiều thôn xã đặt học điền nhất với 21 thôn xã.

Về niên đại(3): ngoài tục lệ của 3 thôn xã (xã Khánh Sơn, xã Lộc Điền huyện Hưng Nguyên, thôn Phú Văn huyện Yên Thành) không ghi niên đại, còn lại đều ghi niên đại triều Nguyễn. Tục lệ thôn Hạ Khê, huyện Hưng Nguyên có niên đại sớm nhất, lập vào năm Gia Long thứ 6 (1805).

Hai văn bia có thông tin về học điền là    按察胡仲濬碑記/先慈笵恭人誄文  Án sát Hồ Trọng Tuấn bi kí/ Tiên từ Phạm cung nhân lũy văn và 尚書少保裔郡公胡相公祠堂碑記 Thượng thư Thiếu bảo Duệ Quận công Hồ Tướng công từ đường bi kí có niên đại khắc trên bia là Cảnh Hưng 7 và Cảnh Hưng 9. Đây là 2 văn bia được Viện Viễn đông bác cổ Pháp (EFEO) sưu tầm, có hiện tượng ngụy tạo niên đại. Việc ngụy tạo ở đây nhằm mục đích chứng tỏ niên đại triều Lê và che dấu những thông tin liên quan đến triều Nguyễn, nhằm nâng cao giá trị của văn bia. Dựa trên kết quả nghiên cứu của cuốn Thư mục thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam tập 2, hai văn bia này có niên đại ước đoán là Tự Đức 7 (1854) và Tự Đức 9 (1856).

Như vậy, các văn bản có thông tin học điền của Nghệ An hoàn toàn được lập dưới triều Nguyễn, triều đại mà khoa cử Nho học nơi đây đạt đến đỉnh cao trong lịch sử khoa cử và là tỉnh đứng đầu cả nước về số người đỗ đại khoa.

2. Nội dung học điền trong tư liệu Hán Nôm

Học điền với mục đích chung là để khuyến khích việc dạy và học. Ở Nghệ An, mỗi thôn xã khác nhau có những quy định khác nhau trong việc sử dụng loại ruộng đó, như: dùng thưởng cho người đỗ đạt khoa trường, chi tiền giấy bút, dùng để cấp học bổng, trả lương thầy, lấy hoa lợi kính tế tiên thánh, tiên hiền thể hiện sự trọng đạo….

2.1. Thưởng cho người đỗ đạt khoa trường: Đăng khoa không chỉ là vinh dự cho bản thân sĩ tử, họ hàng dòng tộc mà còn là niềm tự hào của cả thôn xã. Ngoài các biện pháp khuyến học dành cho những người đỗ đạt khoa trường như: lễ vinh quy bái tổ, mừng tiền, câu đối, chỗ ngồi trang trọng nơi đình trung, biếu phần sau các kì tế lễ… các thôn xã của Nghệ An còn trích ra một số ruộng nhất định để thưởng cho người đỗ đạt. Theo thống kê của chúng tôi, có 25/33 thôn xã (chiếm 75.7%) đặt học điền với mục đích thưởng, biếu những người đỗ đạt khoa trường, thể hiện tinh thần trọng khoa, tôn sùng văn học. Thôn Phú Văn xã Tiên Thành tổng Quan Trung, thôn Trường Lãng huyện Hưng Nguyên cấp học điền cho từ người dự thi đến người đậu Tiến sĩ "Đều cấp học điền 8 sào, người nào đã dự thi mới được cấp. Đều cấp học điền (cho người) trúng Tú tài là 1 mẫu 2 sào. Cấp học điền (cho người) trúng Cử nhân 1 mẫu 5 sào. Cấp học điền (cho người) trúng Phó bảng 1 mẫu 8 sào. Cấp học điền (cho người) trúng Tiến sĩ là 2 mẫu 5 sào"(4). Thôn Lê Xá tổng Phù Long huyện Hưng Nguyên quy định cấp học điền cho thí sinh trúng nhất nhị trường cho đến đỗ Tiến sĩ "Thi Hội trúng giáp, ất bảng định cấp học điền 1 mẫu 2 sào, thi Hương trúng Cử nhân định cấp 1 mẫu, trúng Tú tài định cấp 8 sào, thi trúng nhất nhị trường cũng cấp học điền 3 sào"(5). Tùy quỹ đất của từng địa phương mà mức cấp, thưởng học điền có khác nhau. Thôn Trường Sơn xã Quan Trung huyện Đông Thành đặt số ruộng học điền rất lớn để biếu các vị đỗ đạt khoa trường "Biếu riêng đại khoa 3 mẫu, Phó bảng 2 mẫu 5 sào, Cử nhân 2 mẫu, Giám sinh 1 mẫu 5 sào, Tú tài 1 mẫu"(6); xã Thanh Phong trọng thưởng đối với người đỗ đại khoa "Trong xã người nào thi trúng đại khoa, hễ đến ngày cấp ruộng, toàn dân trích biếu như sau: Bảng nhãn biếu ruộng 6 mẫu, Thám hoa biếu ruộng 5 mẫu, Hoàng giáp biếu ruộng 4 mẫu, Đồng Tiến sĩ biếu ruộng 3 mẫu, để hưởng suốt đời, thuế (các ruộng đó) theo lệ toàn dân chia đều"(7).

Học điền không chỉ dành cho những người đỗ đạt ngạch văn mà người đỗ ngạch võ cũng có những quy định rõ ràng: "Trong xã người nào trúng Võ cử bản thôn biếu người đó 5 sào ruộng, người đó nhận canh tác, tô thuế bản xã đều chịu. Người nào thi trúng võ Phó bảng biếu người đó 7 sào 6 khẩu ruộng. Người nào trúng võ Tạo sĩ bản xã kính biếu người đó 2 mẫu 5 sào, giao cho người đó nhận canh tác, tô thuế bản xã đều chịu"(8). Thôn Ngọc Điền xã Do Lễ tổng Thông Lãng, thôn Đông xã Bùi Ngõa tổng Hải Đô đều biếu 2 mẫu ruộng công cho người đỗ Tạo sĩ để họ hưởng đến cuối đời mà không tính thuế(9). Thông thường người đỗ ngạch võ được thưởng ít hơn ngạch văn, người nào thi võ trúng Phó bảng lệ cấp ruộng giống như Cử nhân ngạch văn. Người nào trúng Cử nhân lệ cấp ruộng giống như Tú tài ngạch văn(10); "Trong xã người nào thi võ trúng Phó bảng cấp ruộng giống như đỗ Cử nhân ngạch văn"(11); "Lệ trong thôn người nào thi võ trúng Võ cử, cấp biếu ruộng công giống như (người) trúng Tú tài văn khoa. Người nào thi võ trúng Tạo sĩ (…) đến khi cấp ruộng, toàn dân trích biếu ruộng 3 mẫu ruộng công để hưởng suốt đời, thuế má toàn dân đều chịu. Người nào thi võ trúng Phó bảng, cấp ruộng giống như đỗ Cử nhân văn khoa"(12).

Người được thưởng, biếu học điền, canh tác không thu thuế má, thôn Ngọc Điền xã Do Lễ tổng Thông Lãng xã Thanh Phong tổng Hải Đô quy định "Trong xã người nào trúng Tú tài (…) đến ngày cấp ruộng toàn dân trích biếu 5 sào ruộng công để người đó hưởng suốt đời, thuế má toàn dân đều chịu. Trong xã người nào trúng Cử nhân (…) ngày cấp ruộng toàn dân trích biếu 1 mẫu ruộng công để người đó hưởng suốt đời, thuế má toàn dân không thu. Trong xã người nào trúng đại khoa (…) đến ngày cấp ruộng toàn dân trích biếu như: Bảng nhãn biếu ruộng 6 mẫu, Thám hoa biếu ruộng 5 mẫu, Hoàng giáp biếu ruộng 4 mẫu, Đồng Tiến sĩ biếu ruộng 3 mẫu để hưởng suốt đời, thuế má không thu"(13).

Tùy theo mức độ đỗ đạt mà người hưởng học điền được canh tác đến hết đời hoặc hai đời rồi trả lại cho dân xã "Lệ trong thôn người nào thi trúng Cử nhân, dân thôn biếu người đó khoa điền 5 sào. Ruộng này người đó được canh tác đến hết đời. Nếu sau con hoặc cháu muốn canh tác, cho phép đến khi mãn tang rồi trả lại cho dân. Lệ dân thôn vốn đặt ruộng đại khoa 1 mẫu 5 sào. Trong thôn người nào có phúc trúng đại khoa, ruộng đó sẽ giao cho canh tác hết 2 đời rồi trả lại dân"(14).

Các dòng họ, đặc biệt là dòng họ khoa bảng đặt học điền cho bản thôn. Tiêu biểu như họ Hồ ở Quỳnh Đôi huyện Quỳnh Lưu "Trước đây đặt cúng bản thôn ruộng kị điền 4 mẫu 1 sào 5 khẩu. Nay tiếp tục đặt tự điền, ruộng hương đăng, ruộng khuyến học tổng cộng 39 mẫu 2 sào 3 khẩu, ứng khắc vào đá để rõ đến mai sau. Trừ ruộng 4 mẫu chia cho 4 giáp, hàng năm làm 2 giỗ khảo, tỉ ra, ruộng hương đăng giao cho tộc trưởng; ruộng khuyến học trong họ đều thưởng cho người đỗ đạt khoa trường(15).

Quan Thiếu bảo triều Lê là Hồ Sĩ Dương (1622-1681) người thôn Hoàn Hậu xã Quỳnh Đôi, đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn niên hiệu Khánh Đức 4 (1652) làm quan Tham tụng, Hình bộ Thượng thư, tước Quận công, từng đi sứ Bắc quốc, sau khi mất được thăng hàm Thiếu bảo "Ông từng đặt ruộng học (ruộng tại địa phận Đồng Trước bản thôn tục gọi là xứ Cửa Chợ hơn hai mẫu, xứ Tra Bút hơn bảy mẫu, cả hai xứ mười mẫu, khuyến khích cho con cháu có thể đọc sách để thi đỗ"(16)

2.2. Cấp học bổng, chi tiền giấy bút, sách vở: Học bổng là một phần thưởng xứng đáng dành cho những người tài giỏi, có thành tích tốt và những người có hoàn cảnh đặc biệt nhưng có nỗ lực cao trong học tập. Học bổng vừa có thể hỗ trợ về mặt tài chính để người học có điều kiện phát triển con đường học vấn vừa tạo ra tâm lý tốt để họ phấn đấu, nỗ lực hơn nữa trong học tập.

Tại Nghệ An, một số thôn xã đặt học điền với mục đích cấp học bổng cho người đi học. Như thôn Lỗ Điền tổng Hải Đô huyện Hưng Nguyên "Đặt 1 thửa học điền rộng 10 mẫu toàn dân chiếu theo lần lượt canh tác để cung cấp học bổng. Nếu người nào nhận cày cấy thì đến trường trình thầy giáo giao cho bút tích hoặc xin nộp thời vụ đều nên gắng sức làm. Nếu ruộng học điền ngày càng cằn cỗi phạt người nhận canh tác 30 quan để mua phân bón ruộng rồi mới cho phép nhận canh tác tiếp"(17). Đây cũng là địa phương có số học điền lớn nhất trong tỉnh, vượt xa so với xã Yên Mô huyện Yên Mô, địa phương đặt học điền nhiều nhất của tỉnh Ninh Bình với 6 mẫu học điền(18)

Giấy, bútmực là những vật dụng không thể thiếu đối với sĩ tử. Thời xưa, có đầy đủ giấy, bút, mực cho con em đi học là điều vô cùng khó khăn, đặc biệt đối với những gia đình nông dân nghèo khó. Nhằm tạo điều kiện về vật chất cho người đi học, đi thi các thôn xã đặt học điền canh tác để chi tiêu vào việc công và tiền giấy bút cả năm như trường hợp xã Khánh Sơn tổng Văn Viên đề ra quy định "Bản xã có đất công 1 sào đặt làm học điền. Hễ có người nào đỗ đạt chiếu theo nhận canh tác. Nếu chưa có người khoa trường thì thí khóa sinh nhận canh tác, chưa có thí khóa sinh (thì) giao cho Lý trưởng canh tác để chi tiêu vào việc công và tiền bút giấy cả năm"(19). Thôn Hạ xã Yên Dũng "Đặt 1 đoạn nam bắc đều 20 trượng làm ruộng khoa trường, dùng cho các người khoa trường trong bản hội canh tác, hễ đến kì khoa ứng nhận tạo quyển"(20).

2.3. Trả lương cho thầy: Nếu như thầy dạy tại các trường học ở kinh đô, phủ lộ được nhà nước trả lương, thì tại các ngôi trường ở thôn xã người dân trả lương thầy bằng nhiều nguồn: trích từ tiền công của thôn xã, thu của sĩ tử mới nhập học, bán thóc lúa dự trữ, trích thuế ruộng, bằng hoa lợi thu được từ học điền. Thôn Bùi Châu xã Bùi Ngõa "Toàn dân đặt 3 mẫu học điền để trả lương cho thầy dạy. Thầy dạy có thể là người trong xã hoặc xã khác tất do quan viên, lý dịch, kỳ mục toàn dân chọn mời. Hoặc Cử nhân, Tú tài hoặc người đỗ nhất nhị trường cần phải kiểm tra học thức. Trường học lấy văn từ bản xã. Người nào có con em theo học tùy tâm có chút lễ. Toàn dân chọn giao cho 1 đinh nam gánh nước để cung cấp cho thầy giáo. Hoặc giao cho thầy canh tác để lấy hoa lợi"(21). Thôn Hạ Khê tổng Hải Đô huyện Hưng Nguyên "Gia đình nào có con (đi học) nên đem đến trường trình thầy xin học, không mất 1 hào phí tổn, đã có học điền, thu hạ hai vụ được 2 mẫu 6 sào 7 thước 6 tấc cấp cho thầy chi biện cả năm"(22). Thôn Phú Văn tổng Quan Trung huyện Yên Thành giành 3 sào ruộng công để chi phí cho việc dạy và học của thầy trò bản thôn "Trong thôn ai đang theo học mời Cử nhân, Tú tài về dạy. Học trò cùng thầy dạy của bản thôn được cấp 3 sào ruộng công hỗ trợ chi phí, biểu thị sự khuyến khích"(23).

Tại những ngôi trường quy mô vừa và nhỏ người thầy được quan tâm, trả lương xứng đáng, các thầy yên tâm, dồn tâm dồn trí dạy bảo các học trò. Có trường, có lớp có thầy, đã trở thành nơi học tập chung cho cả làng, cả xã, thậm chí nhiều xã lân cận trong vùng, góp phần vào việc dạy dỗ các lớp học trò, mở rộng môi trường học tập, đưa trường học đến gần hơn với người dân, đến với con em nhà nghèo.

2.4. Kính tế tiên hiền, tiên nho: Tại Nghệ An, học điền ngoài việc cấp thưởng cho người đỗ đạt, trả lương cho thầy, chi tiền giấy bút, học điền còn được đặt mới mục đích lấy hoa lợi để sắm sửa lễ vật kính tế tiên hiền. Thôn Bùi xã Bùi Khổng tổng Hải Đô phủ Hưng Nguyên "Bản thôn có 5 sào ruộng công ở xứ Bến Suối thượng đặt làm học điền. Hàng năm xuân thu nhị kỳ trích lấy hoa lợi ở ruộng này để kính tế tiên thánh, tiên hiền thể hiện sự trọng đạo"(24).

Thông thường, mục đích đặt học điền để thưởng người khoa trường được ưu tiên hàng đầu, nhưng khi khoa mục chưa kế tiếp, thôn xã chưa có người đỗ đạt thì học điền giao người canh tác, trích một phần hoa lợi biện lễ phụ thờ ở văn chỉ: "Bản xã đặt học điền tại xứ Cấp Tứ 1 mẫu, hễ thi văn trúng khoa trường đều nhận canh tác để khuyến khích hậu học. Nếu khoa mục chưa có người kế tục, có thí sinh nhất nhị trường cho quyền nhận canh tác (Hàng năm xuất tiền 16 quan, nhận biện lễ lợn, xôi, thứ phẩm phụ nhập văn chỉ làm lễ Nguyên đán, đợi khi có khoa bảng chiếu theo lệ cũ nhận canh tác"(25) như quy định trong khoán lệ xã Yên Lưu tổng Yên Trường huyện Chân Lộc.

3. Kết luận: Nghệ An với nền kinh tế lấy nông nghiệp là cơ bản, ruộng đất chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống người dân. Học điền là nguồn động lực lớn, giúp người dân nơi đây vượt khó vươn lên để giành thành tích cao trong học tập. Tư liệu tục lệ và văn bia chữ Hán hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Khoa học xã hội ghi chép về học điền của 32 thôn xã, 1 dòng họ, 1 cá nhân thuộc 8 huyện ở Nghệ An, trong đó huyện Hưng Nguyên có nhiều thôn xã đặt học điền nhất (21 thôn, xã). Các văn bản có thông tin học điền của Nghệ An hoàn toàn được lập, soạn dưới triều Nguyễn, giai đoạn khoa bảng Nghệ An đạt được những thành tựu rực rỡ, đứng đầu cả nước về số người đỗ đại khoa. Các thôn xã đặt học điền với những mục đích khuyến học rõ ràng: thưởng cho người đỗ đạt khoa trường, đỗ càng cao thưởng càng nhiều; cấp học bổng, giấy bút, sách cho người đi học; trả lương cho thầy; kính lễ tiên hiền, tiên nho… Cùng với những biện pháp khuyến học khác như: xây dựng trường lớp, mời thầy dạy, biếu phần, chế độ thưởng, vinh quy bái tổ, miễn sưu sai tạp dịch… học điền góp phần không nhỏ tác động, thúc đẩy học tập, khoa cử ở Nghệ An, khiến nơi đây trở thành địa phương có truyền thống hiếu học và khoa bảng hàng đầu cả nước.

 

Chú thích

1. Phan Đại Doãn (1998), Một số vấn đề về quan chế triều Nguyễn, Nxb.Thuận Hóa.

 2. Văn bia 按察胡仲濬碑記/先慈笵恭人誄文, kí hiệu N0 2826-27 không ghi rõ số học điền "兹又置祀田香燈勸學等田該三十九畝貳高三口/ Nay đặt tự điền, ruộng hương đăng, ruộng khuyến học tổng cộng 39 mẫu 2 sào 3 khẩu".

3. Có văn bản ghi rõ năm lập học điền, có văn bản không có, chúng tôi căn cứ vào niên đại lập, sao các bản tục lệ, niên đại dựng văn bia làm đối tượng khảo cứu.

4. Nguyên văn chữ Hán: "一均給學田八高, 何人已有應試方給. 一均給學田中秀才一畝二高. 一給學田中舉人一畝五高. 一給學田中副榜一畝八高. 一給學田中進士二畝五高" 乂安省興元府海都長朗村俗例, AF.b1/8, t.11b.

5. Nguyên văn chữ Hán:  "一會試中甲乙榜定給學田一畝二高, 一鄉試中舉人定給一畝中秀才定給八高, 一議定試中一二場亦給學田三高" 乂安省興元府扶龍總黎舍 村俗例, AF.b1/13, tờ 14a,b.

6. Nguyên văn chữ Hán: "別俵大科叁畝, 副榜貳畝五高, 舉人貳畝, 監生壹畝五高, 秀才壹畝" 長山村鄉例, VHv.2678, t.7a.

7. Nguyên văn chữ Hán: "一例社內何員試中大科者, 係至给田日, 全民摘俵如: 榜眼員俵田陸畝, 探花員俵田五畝, 黃甲俵田肆畝, 同進士員俵田叁畝, 以享終身, 其税例全民均刊, 乂安省興元府海都總清風社俗例, AF.b1/11, t.36b, 37b.

8. Nguyên văn chữ Hán:"一约社內何人蒙試中武舉者俵伊員田五高交伊員認耕其租稅本社一皆刊受. 一约何人中武副榜者本社敬俵伊員田七高六口. 一约何人蒙試中武造士者本社敬俵伊員田二畝五高交伊員認耕其如租税本社一皆刊受" 乂安省興元府海都總月井社俗例, AFb1/10, tờ 26a,b.

9. 乂安省興元府通浪總猶禮社玉田村俗例, AF.b1/17.

10. 乂安省興元府海都總裴𤬪社俗例, AF.b1/11, tờ.47a.

11.乂安省興元府海都總清風社俗例, AF.b1/11, tờ.39a.

  12.乂安省興元府海都總清風社俗例, AF.b1/11, tờ 38a.

  13. Nguyên văn chữ Hán: "一例社內何員試中秀才者 (…)至给田日全民摘俵公田五高以享終身、其税例全民均刊。一例社內何員試中舉人者(…)至给田日全民摘俵公田壹畝以享終身、其税例全民均刊 . 一例社內何員試中大科者(…)係至给田日, 全民摘俵如: 榜眼員俵田陸畝, 探花員俵田五畝, 黃甲俵田肆畝、同進士員俵田叁畝以享終身,其税例全民均刊 "乂安省興元府海都總清風社俗例/ AFb1/11, t.35a-37b.

14.  Nguyên văn chữ Hán: "一券例村內何人試中舉人者民村定俵伊員科田五高。其這田伊員耕徵滿代。若後其子或孫亦許耕徵滿喪這田還民均給. 一券例民村原置大科田一畝五高. 如村內何人有福而舉大科者, 其這田交耕徵二代滿者还民"乂安省興元府通朗總約礼社 俗例, AF b1/17, t.40a,b.

 15.  Nguyên văn chữ Hán: "前置供本村忌田四畝一高五口 . 兹又置祀田香燈勸學等田該三十九畝貳高三口, 應刻于石乘示将來除田四畝分歸四甲. 遞年考妣二忌外除 , 香燈田長族照認 , 勸學田族內均利預中科場者"按察胡仲濬碑記/先慈笵恭人誄文, N0 2826-27.

16. Nguyên văn chữ Hán: "又嘗置學田 (田在本村同𨎟地分俗号𨷶𢄂處貳畝餘 , 筆處柒畝餘 , 貳處該拾畝 ) 為世世子孫能讀書取科第者", 尚書少保裔郡公胡相公祠堂碑記, N0 02818-2821.

17. Nguyên văn chữ Hán "一學田一所拾畝全民炤次輪流以供學俸。如何人認耕干宜就學校呈教師付許筆跡或乞納辰務各宜尽力。若這學田日以瘦損定罰领耕人三十貫糞以糞其田再許認管" , AFb1/8.

18. Nguyễn Hữu Mùi (2015) "Tìm hiểu hoạt động khuyến học trong nền giáo dục khoa cử nho học ở Ninh Bình qua nguồn tài liệu tục lệ" Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 10 (474), tr. 3- 9.

19. Nguyên văn chữ Hán: "本社有公土一高置為學田 . 係有何人登第者炤認耕作. 未有科場者試課生炤認耕作, 未有試課生交里長耕作以為公消並全年筆紙之需", 乂安省興元府文園總慶山社俗例, AF.b1/20,  t.16a.

20. Nguyên văn chữ Hán: "一段南北各二十丈置為科場田用在本會科場員耕作 . 係至科期應受造卷, 乂安省興元府安場總安勇社下村俗例/ AFb1/2, t.7b.

21.  Nguyên văn chữ Hán:"一例全民置學田三畝為熟師歲俸。其熟師或社內人或別社人必由官員里役耆目全民選請; 或舉人、秀才,一二場、必須學識行檢可為人之師範。其學长以本社文祠為所。社內何人有子孫就學者只有辰節之禮、多少隨心。全民擇委丁男一名抬水以供熟師或熟師不期有所役使亦置田二高許伊耕作取其花利"乂安省興元府海都總裴𤬪社裴洲村俗例, AF.b1/12, t.38b.

22. Nguyên văn chữ Hán: "何家有子宜將至場呈師受教, 無費損一毛,已有學田, 秋夏二務得二畝六高七尺六寸, 㨿全年給與教師支辨 ", 乂安省興元府海都賀溪村俗例, AF.b1/7, t.9a.

23. Nguyên văn chữ Hán:一鄉內從學某有迎接舉人秀才歸業.本村士人同受業者應給公田三高助費以示勸激, 安城縣關中總富文鄉約, HUN. 807, tr.12.

24. Nguyên văn chữ Hán: "一條本村所有公田五高上𤅶𤂬處置為學田. 遞年春秋二丁摘取這田花利敬祭先聖先賢以重斯道", 乂安省興元府海都總裴孔社裴村俗例,  AF.b1/11, t.2a.

25. Nguyên văn chữ Hán:"本社例置學田在給賜處五度次貳壹畝何係文中科場均認耕作以勸後學。如科目未繼間有一二場試生聽權認耕作(遞年出錢拾陆貫認辨猪炊庶品附入文址正旦禮, 俟有科榜卽照舊認耕"祿縣安陽總安留社券例, HƯN.813/, tr.16.

 

 Nguyễn Trọng Cường

Ngày 4/1/2019, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 17/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Đề án thí điểm " Xây dựng huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trở thành huyện nông thôn mới kiểu mẫu theo hướng phát triển văn hóa gắn với du lịch, giai đoạn 2018 - 2025". Kèm theo Quyết định là danh mục các chương trình/ dự án trọng điểm ưu tiên đầu tiên trong giai đoạn 2018 - 2020. Trong đó xây dựng các mô hình du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm,…gắn với du lịch cộng đồng thuộc danh mục trọng điểm ưu tiên đầu tiên. Để tạo nên sự khác biệt riêng có của huyện Nam Đàn cần phải dựa trên cơ sở bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống và làng cổ Khánh Sơn là một di sản còn tồn tại, bảo tồn làng cổ Khánh Sơn gắn với xây dựng đời sống văn hóa và phát triển du lịch cộng đồng là việc làm cần thiết.

Từ xa xưa, làng Khánh Sơn có một tên gọi khác là làng Hoành Sơn, không chỉ với bề dày lịch sử hàng trăm năm và quá trình  phát triển liên tục, làng  Khánh Sơn còn được biết đến là vùng đất khoa bảng, sỹ tử làng Hoành Sơn đã đóng góp vào sự nghiệp khoa bảng xứ Nghệ với hàng chục vị Tú tài, Cử nhân, Phó bảng, Song nguyên Hoàng giáp, Thám hoa... cùng với 12 dòng họ, trong đó họ Nguyễn và họ Đặng là những dòng họ đã góp công lớn trong công cuộc mở mang làng Khánh Sơn.

Làng Khánh Sơn được bao quanh bởi dòng sông Lam uốn khúc quanh co từ phía Tây sang Đông. Sông Lam uốn khúc lượn lờ bồi đắp nên vùng đất rộng lớn hai bên bờ sông. Dọc theo hai bờ Nam Bắc của dòng sông Lam chảy gần Khánh Sơn có những bờ đê, những con đường và có rất nhiều ngôi làng được hình thành hai bên những con đường đó. Làng Khánh Sơn thuộc địa phận huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, có tổng diện tích tự nhiện 3.066 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm khoảng 596 ha, diện tích ao hồ khoảng 10,3 ha và đất thổ nhưỡng 95,9 ha. Hiện nay làng Khánh Sơn chia ra Khánh Sơn 1 gồm 12 xóm và Khánh Sơn 2 gồm 17 xóm. Khánh Sơn cách trung tâm  thành phố Vinh 18 km về phía Tây Nam, cách Di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Kim Liên (nơi hàng năm đón 1,8 đến 2 triệu lượt khách tham quan) 15km về phía Nam, có làng nghề truyền thống như nghề mộc, trồng dâu nuôi tằm, các câu lạc bộ dân ca ví giặm… Ngoài trục đường chính nằm bên ven sông Lam và nhiều nhánh nhỏ rẽ vào các hướng gọi là thôn, xóm cùng với hệ thống di tích đình, đền, chùa, văn chỉ có niên đại xây dựng hàng trăm năm rất đỗi thân thương, làng Khánh Sơn còn hội đủ các loại hình di tích được xếp hạng như Lịch sử kiến trúc nghệ thuât (Di tích cấp Quốc gia đặc biệt đình Hoành Sơn); lịch sử - văn hóa (Nhà thờ họ Nguyễn Thiện và Mộ Tiến sỹ Nguyễn Thiện Chương; Nhà thờ Tiến sỹ Nguyễn Đức Đạt; Văn chỉ Hoành Sơn…).

Từ những đặc điểm nêu trên đã hội tụ nhiều yếu tố để Khánh Sơn phát triển du lịch cộng đồng với thế mạnh riêng có. Năm 2016 làng Khánh Sơn được chọn là 1 trong 6 địa điểm để bảo tồn ở Việt Nam do  Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) và Viện nghiên cứu Văn hóa Quốc tế Nhật Bản thuộc Trường Đại học Nữ Chiêu Hòa (SHOWA) thực hiện. Thời gian qua, Viện nghiên cứu Văn hóa Quốc tế Nhật Bản (Tổ chức này đã thành công trong việc nghiên cứu bảo tồn di sản đô thị cổ, làng cổ gắn với phát triển du lịch cộng đồng, nông thôn tại làng cổ Đường Lâm, phố cổ Hội An, làng cổ Phước Tích, làng cổ Cái Bè) đã phối hợp với các cơ quan ban, ngành tỉnh Nghệ An và chính quyền huyện Nam Đàn, đồng thời cử nhiều chuyên gia, tình nguyện viên đến làng Khánh Sơn để điều tra tổng thể, khảo sát riêng từng ngôi nhà, tìm hiểu về tình trạng sử dụng, ý thức sinh hoạt; khảo sát cảnh quan môi trường, đo vẽ, chụp hình, xuất bản ấn phẩm, điều tra tiềm năng phát triển du lịch. Trực tiếp đưa người dân và lãnh đạo chính quyền địa phương đi khảo sát thực tế tại làng cổ Phước Tích (Thừa Thiên Huế), làng cổ Cái Bè (Tiền Giang). Trong năm 2018, nhân dịp kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ hữu nghị Việt Nam - Nhật Bản, những ngày văn hóa Nhật Bản tại Quảng Nam và Giao lưu văn hóa Hội An - Nhật Bản lần thứ 16, lãnh đạo chính quyền xã Khánh Sơn đã tham dự buổi tọa đàm "Những vấn đề đặt ra trong công tác bảo tồn di sản: Đô thị cổ - Làng cổ Việt Nam" do Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) và Viện nghiên cứu Văn hóa Quốc tế Nhật Bản tổ chức.

Kết quả bước đầu nghiên cứu cho thấy, trong phạm vi thực hiện điều tra xóm 2,3,4 của Khánh Sơn 2, trên địa bàn có tất cả 190 ngôi nhà, số ngôi nhà cổ có tuổi đời trên 100 năm tương đối nhiều, lưu giữ được những đặc trưng  riêng của hình thái làng xã nông thôn. Dù trải qua thời gian tồn tại với những biến cố của lịch sử và thiên tai khắc nghiệt nhưng các ngôi nhà tại đây vẫn giữ được nhiều giá trị kiến trúc cổ xưa truyền thống của người Việt, mang sắc thái làng quê Bắc bộ. Phần lớn các ngôi nhà ở đây được xây trên mảnh đất hình vuông, về cơ bản bên trong khuôn viên được thiết kế như sau; Nhà chính nằm ở phần trung tâm hoặc ở góc vườn, ngoài nhà chính còn có các công trình phụ trợ  như nhà bếp, nhà kho, nhà vệ sinh…Trước ngôi nhà chính là khoảng sân rộng và nhà phụ có kết cấu hình chữ (L), những công trình phụ trợ khác thường được thiết kế sao cho ôm trọn khoảng sân.

Tuy nhiên, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản làng cổ Khánh Sơn đối mặt với không ít khó khăn do tác động của yếu tố tự nhiên và xã hội, các ngôi nhà được sử dụng bằng vật liệu gỗ, khí hậu nhiệt đới, mối mọt ẩm mốc, lũ lụt, vấn đề biến đổi khí hậu, các ngôi nhà biến đổi chức năng, thay đổi chủ sở hữu, nhu cầu cải tạo không gian, áp lực gia tăng mật độ dân số, ý thức của cộng đồng trong việc tham gia bảo tồn "di sản sống" làng cổ Khánh Sơn… đặc biệt là Dự án Đa dạng hóa sinh kế dựa vào du lịch di sản ở các bản làng nông, ngư nghiệp kết thúc. Vì vậy công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản trên địa bàn làng cổ Khánh Sơn đặt ra nhiều thách thức, cần phải giải quyết bài toán mâu thuẫn làm thế nào để cân bằng giữa bảo tồn và phát triển khi hệ thống văn bản pháp quy, cơ chế chính sách còn nhiều tồn tại và chưa phù hợp với thực tiễn.

Để bảo tồn làng cổ Khánh Sơn, gắn với phát triển du lịch cộng đồng cần sự quan tâm và ủng hộ của chính quyền địa phương, người dân sở tại, sự giúp đỡ của các chuyên gia trong và ngoài nước mới có thể phục vụ cho công tác quản lý, bảo tồn và phát huy di sản trên địa bàn. Trước mắt, trong phạm vi thực hiện điều tra có tất cả 190 ngôi nhà, chúng ta cần đánh giá, phân loại có thể nhà loại 1, loại 2 từ đó  xác định hướng ưu tiên bảo tồn, đồng thời khoanh vùng khu vực bảo tồn để có các chính sách, biện pháp đầu tư theo từng giai đoạn và hướng đến việc lập hồ sơ xếp hạng làng cổ Khánh Sơn là di tích. Muốn thực hiện điều đó các cấp chính quyền địa phương cần chủ động với các ngành chức năng và sự ủng hộ, đồng thuận của người dân nên ban hành quy chế dựa trên những quy ước, hương ước cộng đồng công khai  để người dân cùng tham gia về sáng tạo, thiết lập sản phẩm, tham gia về đầu tư, tài trợ, quảng bá làm phong phú thêm chất lượng hoạt động, phòng chống rủi ro theo nhiều hướng, gia tăng tính minh bạch và làm cơ sở để thực hiện. Đồng thời cần phân cấp quản lý cụ thể, đảm bảo quan điểm nguyên tắc và  hài hòa phù hợp với điều kiện thực tế, bởi tính chất của "di sản sống" khác với công trình tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, trong công tác phân cấp không thể tách rời với vai trò của chính quyền địa phương, chính quyền địa phương như một người "nhạc trưởng" cùng tham gia, khởi xướng, kiến tạo để thúc đẩy việc bảo tồn và phát triển như một cứu cách cho chính mình, thời gian qua tại Khánh Sơn đã làm tương đối tốt điều này. Tất cả các hoạt động của việc bảo tồn làng cổ thường thành công khi có các chuyên gia lành nghề tác động, dù bất cứ nơi nào trên thế giới, vai trò của các chuyên gia đều mang tính chất quyết định, sự tham gia của các chuyên gia là một yếu tố tiên quyết, bắt buộc để đảm bảo cho dự án thành công. Tại làng cổ Khánh Sơn, với sự hỗ trợ của các chuyên gia Nhật Bản, trực tiếp là Giáo sư Hiromichi Tomoda - Giám đốc Viện nghiên cứu Văn hóa quốc tế (Trường Đại học SHOWA) đã "thổi hồn" để bước đầu thay đổi về thói quen, nhận thức của người dân nơi đây trong việc bảo tồn ngôi nhà của chính mình, cần chuyên hóa niềm tin của các chuyên gia với phương thức bảo tồn tích cực, và trên hết để niềm tin này trở thành một khối thống nhất, trở thành một động lực để thúc đẩy phát triển. Đồng thời chia sẻ lợi ích của người dân về mặt tinh thần và vật chất, hay nói chính xác hơn là cơ chế hỗ trợ để tạo ra không gian làng cổ Khánh Sơn với các hình thức sở hữu nhà nước, tập thể và tư nhân đan xen để tồn tại hướng đến mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển du lịch cộng đồng.

Tháng 8/2018, đoàn sinh viên Trường Đại học Việt - Nhật lần đầu tiên đến Khánh Sơn: các vị khách du lịch cho biết ý kiến và cảm nhận về hoạt động du lịch tại làng Khánh Sơn như nơi đây vẫn lưu giữ nét truyền thống của làng nông nghiệp Việt Nam, nhiều giá trị truyền thống đặc sắc nhà cổ, khối kiến trúc đình, đền, chùa, văn miếu, hệ thống từ đường với giá trị tinh thần lễ hội, nghề thủ công truyền thống, người dân tích cực tiếp xúc và hướng dẫn khách du lịch. Bên cạnh đó còn một số hạn chế như vệ sinh môi trường, hạ tầng cơ sở và nguồn nhân lực phát triển du lịch cộng đồng. Từ các ý kiến của đoàn sinh viên điều tra việc bảo tồn các giá trị truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng tại làng cổ Khánh Sơn là cần thiết. Như một lời chia sẻ đầy tâm huyết của Giáo sư Hiromichi Tomoda - Giám đốc Viện nghiên cứu Văn hóa Quốc tế Nhật Bản - người đã thời gian hơn 4 năm và các cộng sự đến nghiên cứu, khảo sát tại làng cổ Khánh Sơn: "Hiện nay có 4 đô thị cổ, làng cổ được công nhận đó là Cái Bè, Hội An, Phước Tích, Đường Lâm và đang bảo tồn phát huy có hiệu quả vì vậy Khánh Sơn cần phải nỗ lực hơn nữa giống như trên một bàn tay có 5 ngón".

 

 

 

DƯƠNG VĂN SÁU

Là một quốc gia với bề dày lịch sử và chiều sâu văn hiến, Việt Nam có kho tàng di sản văn hóa cực kỳ phong phú và độc đáo, trở thành tài sản vô giá của dân tộc. Trong quá trình CNH-HĐH đất nước hiện nay, nguồn tài sản này đang đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn đem đến từ tiến trình hội nhập khi trở thành tài nguyên cho kinh tế du lịch. Do vậy, việc bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc qua con đường du lịch đã và đang là hướng đi đúng đắn và cần thiết hiện nay. Điều đó đặt ra vấn đề quản lý việc bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc là nhiệm vụ cần thiết, cấp bách có vai trò đặc biệt quan trọng hiện nay. Những quan điểm tiếp cận mới về công tác quản lý việc bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị của di sản văn hóa mà vẫn bảo tồn được các nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng các giá trị đặc sắc của văn hóa bản địa theo tinh thần của Nghị quyết 08-NQ/TW; đó là nội dung của bài viết này.

Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đã đề ra 8 nhiệm vụ, giải pháp trọng yếu trong phát triển du lịch. Ngay trong nhiệm vụ thứ nhất, Bộ Chính trị đã đề ra việc cần "Đổi mới nhận thức, tư duy về phát triển du lịch". Trên cơ sở đó, xuất phát từ thực tế hoạt động du lịch ở Việt Nam trong thời gian vừa qua, di sản văn hóa Việt Nam đã thực sự phát huy vai trò to lớn của nó với tư cách là "tài nguyên văn hóa" - một trong những tài nguyên đặc biệt quan trọng của du lịch Việt Nam. Tuy nhiên, để khai thác, phát huy có hiệu quả nguồn tài nguyên, nguồn lực đó cần phải thay đổi nhận thức quan điểm về nó thì mới tạo ra sự thay đổi trong hành động. Từ đó mới đạt được mục tiêu phát triển du lịch bền vững và vẫn bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng các giá trị văn hóa bản địa; xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng tầm cho văn hóa Việt Nam trong tiến trình hội nhập.

Để phát huy mạnh mẽ hơn nữa giá trị của kho tàng di sản văn hóa dân tộc trong quá trình CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, chúng tôi mạnh dạn thay đổi tư duy và hành động; thay đổi cách tiếp cận mới trong quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch bằng việc đưa ra quan điểm về "Lục biến" trong hoạt động kinh doanh du lịch trên nền tảng dựa vào kho tàng di sản văn hóa

1. Biến di sản thành tài sản

Di sản ở đây là di sản văn hóa; là một trong những tài nguyên, nguồn lực lớn nhất, quan trọng nhất của du lịch Việt Nam. Di sản văn hóa là thành quả kiến tạo quên mình của biết bao thế hệ người Việt Nam trong tiến trình lịch sử dựng và giữ nước mấy ngàn năm. Trong khi đó, tài sản là tiền, là hiện vật chứa đựng những giá trị khác khi đưa vào sản xuất kinh doanh để tạo ra tiền. Di sản văn hóa đương nhiên là tài sản vô giá nhưng điều mà chúng tôi muốn đề cập là tài sản vô giá này phải được tổ chức khai thác, phát huy có hiệu quả tác dụng của nó với tư cách một nguồn lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế thông qua con đường du lịch.

Thực tế hoạt động du lịch ở Việt Nam trong thời gian qua luôn đặt ra những vấn đề, như: Làm thế nào để khai thác, phát huy một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch phong phú của đất nước mà vẫn góp phần bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng các giá trị của văn hóa bản địa? Cần phải làm gì để nâng cao giá trị văn hóa trong hoạt động du lịch, tạo sự phát triển du lịch bền vững? Làm thế nào để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn góp phần quan trọng thúc đẩy nền kinh tế đất nước vừa góp phần tích cực vào việc bảo tồn và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc?... Đó thực sự là những câu hỏi lớn giữ vai trò quyết định sự phát triển bền vững của du lịch Việt Nam trong quá trình CNH-HĐH đất nước; cũng là những yêu cầu cơ bản của quá trình xây dựng và phát triển Văn hóa Du lịch ở Việt Nam hiện nay.

2. Biến văn hóa thành hàng hóa

Muốn biến văn hóa thành hàng hóa trong kinh tế du lịch, cần đánh giá "giá trị du lịch" của các tài nguyên văn hóa hiện hữu và tiềm ẩn; từ đó xác định nội dung, qui trình đầu tư, xây dựng để chuyển đổi, biến đổi các giá trị của văn hóa trở thành hàng hóa. Phải xuất phát từ các quan điểm về bảo tồn và khai thác di sản văn hóa khách quan khoa học mới thay đổi được phương cách tổ chức khai thác các di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch. Các cơ quan chức năng phải tư vấn cho các cấp chính quyền và người dân ở các địa phương, chỉ ra những "giá trị du lịch" của hệ thống tài nguyên của địa phương; trong đó cần phải xác định văn hóa là một dạng tài nguyên lớn của du lịch. Do vậy, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị của văn hóa cần phải cụ thể hóa trước hết ở nhận thức.

Điều quan trọng hơn cả là hàng hóa đó phải đưa vào cuộc sống xã hội thông qua hệ thống dịch vụ tương thích. Không có dịch vụ, không thể hình thành nền kinh tế hàng hóa. Trong nhận thức của người tổ chức quản lý và người khai thác các giá trị của tài nguyên văn hóa để phát triển Du lịch, trước hết cần phải coi những giá trị văn hóa là một tài nguyên du lịch đặc sắc, sáng giá của các địa phương. Nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá xem những tài nguyên văn hóa nào của địa phương mình có thể trở thành tài nguyên, nguồn lực cho du lịch? Trên cơ sở đánh giá tài nguyên, nguồn lực du lịch cần xác định rõ kinh tế du lịch có vai trò và vị trí như thế nào trong tổng thể kinh tế - xã hội của địa phương tương ứng với từng giai đoạn? Việc xác định du lịch là ngành kinh tế trọng điểm hay du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương có vai trò quan trọng đến quy hoạch, đầu tư, xúc tiến du lịch, tái cơ cấu lao động xã hội; thay đổi nội dung và phương thức đầu tư; liên minh, liên kết giữa các địa phương trong vùng và cả nước.

Dưới góc độ kinh tế du lịch, chúng ta phải coi việc "biến" những giá trị của văn hóa thành hàng hóa, thành những hàng hóa đặc hữu là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Phải xây dựng các chương trình du lịch "Về làng Sen quê Bác" trở thành một sản phẩm văn hóa du lịch đặc hữu của Du lịch Nghệ An. Khi xây dựng các sản phẩm du lịch đó, hàm lượng văn hóa trong chương trình du lịch này thể hiện qua các mặt sau đây: tài nguyên sinh thái nhân văn của làng quê đó độc đáo, đặc sắc thế nào? Khả năng, trình độ, cách thức tổ chức khai thác các tài nguyên sinh thái nhân văn đó của các cá nhân và tổ chức kinh doanh các dịch vụ du lịch ra sao? Thái độ, tình cảm, ý thức, cách thức thể hiện, biểu đạt những ứng xử văn hóa của cư dân bản địa đối với du khách như thế nào? Tất cả các hoạt động diễn ra trong chương trình tham quan du lịch đó chính là những biểu hiện cụ thể của Văn hóa Du lịch như đã trình bày ở trên. Trong hoạt động này, các thành tố của Văn hóa đã được khai thác thông qua qui trình tổ chức đặc thù để trở thành hàng hóa văn hóa, sản phẩm văn hoá/sản phẩm du lịch đặc hữu, phục vụ phát triển du lịch bền vững.

3. Biến tài nguyên thành tài chính

Trong nền kinh tế thị trường của đất nước, nguồn tài nguyên đa dạng về mọi mặt đã và luôn đang trở thành tài chính thông qua việc khai thác, xuất khẩu, chế biến tài nguyên tạo ra các sản phẩm hàng hóa đưa vào tiêu dùng, phân phối, lưu thông… ở thị trường trong nước và quốc tế. Tất cả đều tạo ra tài chính cho nền kinh tế hàng hóa của quốc gia. Nhiệm vụ của Văn hóa Du lịch là biến tài nguyên thành tài chính. Tài nguyên nói đến ở đây là "tài nguyên văn hóa"; tức là thông qua hoạt động du lịch, tổ chức khai thác, phát huy giá trị tất cả các dạng vật chất, tri thức có thể để tạo ra các sản phẩm hàng hóa đặc hữu; bán các sản phẩm hàng hóa đó với tư cách các sản phẩm du lịch cho các đối tượng du khách khác nhau thông qua những phương thức riêng biệt để đem lại nguồn thu tài chính từ các hoạt động du lịch đặc thù này. Đây chính là những biểu hiện cụ thể của quá trình "kinh tế hóa văn hóa" trong hoạt động du lịch. Để làm tốt điều này cần đẩy mạnh nghiên cứu văn hóa theo hướng ứng dụng: biến những giá trị của văn hóa thành hàng hóa, đem lại các lợi ích kinh tế trong du lịch. Khai thác, phát huy giá trị các tài nguyên sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn qua con đường du lịch, đem lại hiệu quả kinh tế chính là những động thái cụ thể để biến tài nguyên thành tài chính.

4. Biến môi trường thành thị trường

Xét về hoạt động, du lịch là hoạt động của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình để khám phá, thẩm nhận và trải nghiệm các giá trị của cuộc sống. Trong quá trình du lịch, con người luôn gắn bó mật thiết, không thể tách rời với môi trường sống của mình trong thời gian đi và ở nơi họ đến; sự gắn bó đó sẽ tác động đến môi trường theo hai hướng: tích cực và tiêu cực. Trong nội dung này chúng tôi không đè cập đến những tác động tích cực hay tiêu cực đến môi trường mà chúng tôi muốn đề cập đến việc khi tổ chức hoạt động du lịch trong những không gian và thời gian nhất định ở môi trường nào đó; lập tức khi đó môi trường trở thành thị trường dành cho những kẻ bán - người mua trong các dịch vụ du lịch. Kinh tế du lịch là kinh tế dịch vụ - một phần của nền kinh tế hàng hóa mà kinh tế hàng hóa là kinh tế thị trường. Do vậy, khi khai thác các tài nguyên để phục vụ phát triển du lịch là chúng ta đã biến môi trường ở đó thành thị trường của kinh tế dịch vụ. Phát triển loại hình du lịch văn hóa chính là những động thái để biến môi trường ở các di sản văn hóa trở thành thị trường. Vì vậy, cần phát triển thị trường đặc biệt này, tức là phát triển không gian và thời gian diễn ra hoạt động du lịch. Ở đâu có hoạt động du lịch, ở đó trở thành thị trường du lịch. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển thị trường cần phải đặc biệt chú ý bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn để tạo nên du lịch xanh, du lịch bền vững. Điều đó trở thành tiền đề căn bản, yếu tố quyết định của sự phát triển bền vững của kinh tế - xã hội nói chung trong đó có kinh tế du lịch.

5. Biến nguồn lực thành động lực 

Các văn kiện Đảng đã luôn xác định: Văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước. Trong phát triển kinh tế du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, cần đẩy mạnh khoa học Văn hóa Du lịch. Đó chính là việc nghiên cứu mối liên hệ phổ biến giữa những đối tượng, thành phần tham gia hoạt động du lịch; bao gồm 3 thành tố chính: con người - phương tiện - cơ chế điều tiết, kiểm soát hoạt động của con người trong du lịch. Trong các mối quan hệ này, con người giữ vai trò quyết định; tuy nhiên, phương tiện và cơ chế điều tiết, kiểm soát hoạt động cũng sẽ góp phần quyết định hành vi của con người.

Trong bất cứ một xã hội nào, nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội cũng giữ vai trò quyết định sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế đó. Nguồn lực để tăng trưởng, phát triển đất nước hôm nay bao gồm: nguồn lực về cơ chế chính sách, nguồn lực con người, nguồn lực khoa học - công nghệ, nguồn lực tài chính… Các nguồn lực này được khai thác, phát huy đúng sẽ tạo nên động lực của sự phát triển. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm được ghi rõ trong Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 16/01/2017: "Phát triển du lịch là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, của toàn xã hội, có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp uỷ đảng, phát huy mạnh mẽ vai trò động lực của doanh nghiệp và cộng đồng cư dân, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, tập trung nguồn lực quốc gia cho phát triển du lịch"!

Khi du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch sẽ trở thành sức hút để lôi kéo, động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác bởi du lịch là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, liên quan, chi phối đến nhiều ngành kinh tế khác của đất nước. Suy cho đến cùng thì tất cả mọi ngành kinh tế đều hướng tới để đạt được các lợi ích cung - cầu ngày càng tăng. Tuy nhiên, cung - cầu trong kinh tế du lịch là cung cầu văn hóa bởi vì bản chất và nội hàm của du lịch là văn hóa. Dưới góc độ này, muốn cho du lịch phát triển bền vững thì phải nghiên cứu mối liên hệ phổ biến giữa các tiềm năng, nguồn lực Du lịch của một địa phương, đất nước với bộ máy tổ chức quản lý các hoạt động du lịch trên địa bàn đó để đưa ra những cách thức và biện pháp khai thác có hiệu quả những tài nguyên và nguồn lực du lịch. Đồng thời với đó là việc nâng cao hàm lượng văn hóa trong hoạt động kinh doanh, "văn hóa hóa" các mối quan hệ cung - cầu trong du lịch. Thông qua mối liên hệ phổ biến này, đánh giá tác động tương hỗ của hoạt động du lịch đến mọi mặt của đời sống xã hội; chỉ ra cách thức, biện pháp để khai thác, phát triển du lịch bền vững. Hai quá trình kinh tế hóa văn hóavăn hóa hóa kinh tế diễn ra đồng thời trong hoạt động du lịch cũng chính là quá trình biến nguồn lực trở thành động lực trong kinh tế du lịch.

6. Biến giá trị thành giá cả

Nền kinh tế thị trường chính là nền kinh tế hàng hóa; nền kinh tế của sự trao đổi, mua - bán các sản phẩm hàng hóa. Suy cho đến cùng, mọi người, mọi vật tồn tại đều phải trả lời hai câu hỏi lớn liên quan tới chính mình: giá trị (của bạn) là gì?giá cả là bao nhiêu? Tuy nhiên, với tư cách một hàng hóa cái gì sẽ quyết định giá cả? Câu trả lời là: giá trị của sản phẩm và cách thức cung cấp/chuyển giao giá trị sản phẩm! Người ta thường nói: văn hóa không có giá, văn hóa không đo được bằng tiền, giá cả của văn hóa không xác định được.v.v... Điều này có nghĩa là: "Văn hóa là vô giá!"; giá cả của Văn hóa khó mà đo đếm chung chung được, muốn xác định giá cả của văn hóa phải thông qua những hoạt động cụ thể. Như vậy, Du lịch ngành kinh tế mà nội dung văn hóa của nó sẽ đem lại những giá trị cho kinh tế du lịch; giá trị đó được tính bằng tiền, mà tiền chính là giá cả. Từ logic trên cho thấy một trong những nhiệm vụ của Văn hóa Du lịch là "Biến giá trị thành giá cả". Biến văn hóa thành tiền; đo giá trị của văn hóa thông qua một công cụ đặc hữu là tiền. Bởi thông qua hoạt động du lịch, các thành tố của văn hóa sẽ trở thành một hàng hóa đặc biệt: hàng hóa văn hóa. Như vậy, muốn du lịch phát triển và cao hơn nữa, muốn Văn hóa phát triển cần phải biến giá trị (của văn hóa) thành giá cả thông qua hoạt động du lịch. Đó cũng chính là những nhiệm vụ căn bản của quá trình "kinh tế hóa văn hóa" qua con đường du lịch!  

7. Xây dựng một làng quê xứ Nghệ thuần chất Nghệ

Một loại hình di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc của Nghệ An có thể khai thác để phát triển du lịch chính là lối sống, nếp sống truyền thống của người dân trên mảnh đất này. Từ thực tế đã và đang diễn ra hôm nay, chúng tôi muốn đưa ra ý tưởng về việc "Xây dựng một làng quê xứ Nghệ thuần chất Nghệ!?" để đón khách du lịch trong chương trình du lịch mang những tên gọi đại loại như: "Về làng Sen quê Bác", "Một ngày về quê Bác", "Một ngày làm dân xứ Nghệ", "Quê choa như rứa"… Làng quê mà chúng tôi lựa chọn chính là làng Sen và làng Hoàng Trù quê Bác. Muốn xây dựng lại hai làng quê thuần chất Nghệ cần phải có quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, phác dựng lại nét sinh hoạt truyền thống của một làng quê thuần Nghệ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX với những nét đặc trưng riêng có. Những nét đặc trưng đó là gì? Câu trả lời sẽ có trong các chương trình nghiên cứu cụ thể, qua ý kiến của người dân địa phương, đặc biệt là những người lớn tuổi, các nhà nghiên cứu văn hóa… Không xây dựng hệ thống giao thông hiện đại, đường cao tốc vào tận Làng Sen. Khi đến cách làng Sen "thuần Nghệ" một khoảng cách không xa, các xe du lịch sẽ vào bãi đỗ để du khách xuống xe đi bộ tham quan. Nên xây dựng lộ trình cho khách đi bộ, giữ nguyên không gian, môi cảnh của một làng quê "thuần Nghệ". Trên con đường làng ấy, du khách rẽ vào thăm nhà Bác, thăm những nhà hàng xóm với những khung cửi thoi đưa trong căn nhà tranh tối tranh sáng, uống bát chè xanh xứ Nghệ, ăn củ khoai lang luộc thật bùi được vun trồng từ trong lòng đất khô cằn của đồng quê xứ Nghệ.

Cũng trong làng quê thuần Nghệ ấy, sẽ tổ chức những lớp học trong căn nhà dạy học của "Ông đồ xứ Nghệ" tinh thông nho - y - lý - số với vài ba học trò để chỏm trái đào đang học những chữ Hán cơ bản: "人之初性本善: nhân chi sơ, tính bản thiện…". Bên cạnh đó, khôi phục các nghề thủ công truyền thống như dệt vải, nghề rèn, nghề thêu… Du khách được tham quan, tìm hiểu kỹ thuật sản xuất, chế tác thủ công. Họ có thể được nghe hướng dẫn và tham dự những trao đổi trực tiếp với các nghệ nhân dân gian ngay tại nơi sản xuất. Du khách có thể mua những món đồ được chế tác thủ công truyền thống ngay tại các xưởng nghề trong làng. Cuối chương trình tham quan, du khách sẽ được ăn bữa cơm quê với những món ăn truyền thống. Bên cạnh những đặc sản của địa phương với cách chế biến truyền thống, du khách sẽ được thưởng thức những món ăn dân dã, như "nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn" được chế biến theo phương pháp cổ truyền, làm sống lại "hương quê" ngày nào. Trong chương trình du lịch làng quê thuần Nghệ ấy, du khách sẽ được tham quan, nghe hát dân ca xứ Nghệ như ví, giặm, câu hát phường vải… Tất cả những điều đó cộng với những hình ảnh, hiện vật và bài thuyết minh của các hướng dẫn viên bằng chất giọng xứ Nghệ truyền cảm tại nhà Bác… sẽ tạo nên sự khác biệt, để lại ấn tượng thật khó quên đối với mỗi du khách trong và ngoài nước khi về Nghệ An, quê Bác! Đây thực sự sẽ là sản phẩm du lịch đặc trưng, đặc hữu không nơi nào có được của Du lịch Nghệ An!

Nếu xây dựng một làng quê thuần Nghệ ấy sẽ phải "sân khấu hóa" đời thường. Nguồn nhân lực ở tất cả các khâu, các bộ phận trong làng sẽ là những "diễn viên" chuyên nghiệp nằm trong biên chế của một trung tâm du lịch có địa điểm gần làng. Kinh phí lấy từ đâu để nuôi sống cư dân trong cái làng "thuần Nghệ" ấy? Một phần nguồn thu để góp phần nuôi sống "dân làng" chính là việc bán các mặt hàng truyền thống của làng như sản phẩm dệt, các món ẩm thực truyền thống: bữa cơm, bát nước chè xanh, củ khoai lang nướng, luộc.v.v… Trước mắt, giai đoạn đầu khi xây dựng lại làng quê xưa cũ cần tạm thời đầu tư mọi mặt cho làng để duy trì sức sống. Dùng tiền từ các nguồn thu khác nhau của tỉnh, kêu gọi các nguồn tài trợ để "nuôi" làng "thuần Nghệ" này; khi đã tạo ra định hình và củng cố vị thế của làng quê "thuần Nghệ" ấy thì "mỡ nó sẽ rán nó"; chắc chắn sẽ như vậy!

 

* Nghệ An: Triển khai xây dựng chương trình mỗi xã một sản phẩm

Theo Quyết định 490/QĐ.BĐHCT-PTNT ngày 06/6/2019 của Ban điều hành chương trình OCOP-NA tỉnh Nghệ An, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã xây dựng kế hoạch thực hiện Đề án "Mỗi xã một sản phẩm tỉnh Nghệ An giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2030". Trên cơ sở 182 sản phẩm đã có tính đến ngày 31/12/2018 định hướng tham gia chương trình OCOP và căn cứ tình hình thực tế tại các địa phương phấn đấu đến năm 2020 có 90 sản phẩm được tiêu chuẩn hóa.

Theo đó, kế hoạch thực hiện các chỉ tiêu cụ thể như sau: giai đoạn 2019-2020, tiêu chuẩn hóa nhóm thực phẩm 60/121 sản phẩm, nhóm đồ uống 10/18 sản phẩm, nhóm thảo dược 7/10 sản phẩm, nhóm vải và may mặc 4/11 sản phẩm, nhóm lưu niệm - nội thất - trang trí 10/16 sản phẩm, nhóm dịch vụ du lịch nông nghiệp nông thôn 3/6 sản phẩm; Phát triển làng nghề sinh thái cộng đồng kết hợp bảo tồn các giá trị văn hóa tạo ra sản phẩm dịch vụ du lịch tham gia Chương trình OCOP: có 2-3 làng du lịch sinh thái cộng đồng kết hợp bảo tồn các giá trị văn hóa (hiện trên địa bàn tỉnh có 9 làng đang hoạt động theo mô hình này); Phát triển sản phẩm đạt hạng 5 sao (có thể xuất khẩu), trong đó năm 2019 phấn đấu xây dựng 01 sản phẩm và năm 2020 có thêm 1 sản phẩm đạt hạng 5 sao; Củng cố, kiện toàn 100% doanh nghiệp, HTX tham gia chương trình OCOP; Phát triển mới ít nhất 20 tổ chức kinh tế tham gia chương trình OCOP (ưu tiên HTX, công ty cổ phần); Đào tạo tập huấn để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước trong hệ thống OCOP và lãnh đạo các doanh nghiệp, HTX, chủ hộ sản xuất có đăng ký kinh doanh tham gia chương trình OCOP.

Giai đoạn 2021-2030: Dựa trên kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2021-2025 và tình hình cụ thể, trên cơ sở mục tiêu để giao cho cơ quan thường trực chương trình OCOP tỉnh, huyện phối hợp với các ngành, các địa phương điều chỉnh kế hoạch sát với tình hình cụ thể.

Với quan điểm trên, tỉnh Nghệ An quy định đối tượng thực hiện là các sản phẩm hàng hóa có nguồn gốc từ đặc sản, sản phẩm truyền thống của địa phương. Bên cạnh đó, tỉnh xác định phát triển sản phẩm, dịch vụ OCOP theo 6 nhóm sản phẩm, bao gồm thực phẩm; đồ uống; thảo dược; vải và may mặc; lưu niệm-nội thất-trang trí, dịch vụ du lịch nông thôn, bán hàng.

 Hồng Bắc (tổng hợp)

* Kết nối hoạt động nghiên cứu khoa học với các trường đại học trên địa bàn

Chiều ngày 17/6, tại Sở Khoa học và Công nghệ đã có buổi làm việc giữa các sở, ban, ngành với các trường Đại học Vinh, Đại học Y khoa Vinh, Đại học Sư phạm kỹ thuật Vinh và Đại học công nghiệp Vinh, với mục đích tăng cường kết nối, phối hợp giữa các sở, ban, ngành với các trường đại học trên địa bàn trong công tác nghiên cứu, chuyển giao các tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An trên các lĩnh vực nông nghiệp, dược liệu và công nghiệp. 

Trao đổi tại buổi làm việc, đại diện các sở, ban, ngành và các trường đại học nêu rõ những hoạt động khoa học công nghệ đơn vị mình trong năm qua: Đối với lĩnh vực nông nghiệp, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn báo cáo một số nội dung về "Chương trình mỗi xã một sản phẩm" (OCOP), theo đó, chương trình OCOP được xác định và phát triển theo 6 nhóm bao gồm: Thực phẩm, Đồ uống, Thảo dược, Vải và may mặc, Lưu niệm-nội thất-trang trí, Dịch vụ du lịch nông thôn, bán hàng. Bên cạnh đó, đề nghị quan tâm công tác xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu cho các sản phẩm nông nghiệp; Các trường đại học giới thiệu năng lực, các kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ trong những năm qua và trao đổi về hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; chiến lược phát triển KH&CN của nhà trường, định hướng nghiên cứu, những kiến nghị đề xuất của các trường đại học trong lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng về liên kết với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh;...

Kết luận buổi làm việc, ông Trần Quốc Thành cảm ơn và ghi nhận các ý kiến thảo luận của các đại biểu. Đồng chí nhấn mạnh: Trong thời gian tới kết nối với các trường đại học tập trung cho lĩnh vực công nghiệp phụ trợ, nông nghiệp, dược liệu, vật liệu mới, năng lượng mới, chế biến và công nghệ sinh học, CNTT phục vụ QLNN, cộng đồng và doanh nghiệp, trong đó quan tâm nông thôn thông minh....

Hồng Bắc

* Hội thảo "Đánh giá tình hình thực hiện chính sách pháp luật phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào các dân tộc rất ít người. Thực trạng và giải pháp"

Ngày 24/6, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội và Ủy Ban dân tộc phối hợp với tỉnh Nghệ An tổ chức Hội thảo "Đánh giá tình hình thực hiện chính sách, pháp luật phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào các dân tộc rất ít người".

Báo cáo tại Hội thảo nêu rõ, công tác dân tộc luôn có một vị trí chiến lược rất quan trọng trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Những năm gần đây, nhằm tiếp tục thúc đẩy kinh tế - xã hội vùng dân tộc miền núi phát triển một cách toàn diện, bền vững, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chương trình, mục tiêu, chính sách hỗ trợ ưu tiên phù hợp, triển khai có hiệu quả. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, đến nay kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số vẫn còn rất nhiều hạn chế, yếu kém, chưa đáp ứng được với mong muốn của đồng bào cũng như yêu cầu phát triển chung của đất nước.

Tại Hội thảo, các đại biểu đã trao đổi và có những kiến nghị, đề xuất, tập trung vào các giải pháp về phát triển kinh tế ổn định sản xuất, nâng cao thu nhập, giảm nghèo; hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng; nâng cao dân trí, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống. Các đại biểu đều cho rằng, những khó khăn của đồng bào dân tộc thiểu số đặt ra cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định chính sách phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng dân tộc, trong đó có vùng các dân tộc thiểu số rất ít người, rất nặng nề; đặc biệt vai trò, trách nhiệm của các cơ quan tham mưu ở Trung ương, các địa phương có đồng bào dân tộc là hết sức quan trọng,...

Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng đề nghị, thời gian tới cần lo đất ở, nhà ở cho số đồng bào các dân tộc còn rất ít người gắn với việc xây dựng, hoàn thiện hạ tầng từ thôn, bản, bổ sung quy hoạch theo định hướng tiêu chí nông thôn mới. Quan tâm đến việc phát triển sản xuất, tạo kế sinh nhai thì phải có đất sản xuất gắn với đầu tư giữ nguồn nước, nguồn sinh thủy để có nước sản xuất, nước sinh hoạt, trước mắt cần có nước sinh hoạt hợp vệ sinh.

Đặc biệt, cần có chính sách rất đặc biệt về vốn đầu tư, vốn vay, chi phí hướng dẫn sản xuất, tổ chức cuộc sống để bà con tưng bước tiếp cận, có sản phẩm, ổn định cuộc sống, từng bướcc sản xuất hàng hóa. Đồng thời, cần quan tâm đến việc sưu tầm, kiểm kê, bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của 16 dân tộc thiểu số rất ít người, kể cả văn hóa ăn, văn hóa ở, văn hóa mặc, tiếng nói, chữ viết, văn hóa tín ngưỡng gắn với xây dựng nếp sống mới, xóa các hủ tục lạc hậu…

Gia Hưng

* Nghệ An: 3 doanh nghiệp đạt Giải thưởng Chất lượng Quốc gia

Thủ tướng Chính phủ vừa có Quyết định số 543/QĐ-TTg ngày 10/5/2019 về việc Tặng giải Vàng Chất lượng Quốc gia năm 2018 cho 22 doanh nghiệp và Giải thưởng Chất lượng Quốc gia năm 2018 cho 53 doanh nghiệp. Trong đó tỉnh Nghệ An có 3 doanh nghiệp là: Công ty TNHH MTV Hoa Sen Việt Nam, Công ty CP Conheovang Feed-Uk; Công ty CP Gạch ngói và Xây lắp Hưng Nguyên.

Giải thưởng Chất lượng Quốc gia là một hình thức tôn vinh, khen thưởng hằng năm ở cấp quốc gia của Thủ tướng Chính phủ cho các tổ chức, doanh nghiệp đạt thành tích xuất sắc về chất lượng trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ; nâng cao vị thế các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam, tăng cường năng lực, khả năng cạnh tranh và hội nhập trên thị trường trong nước và quốc tế; xây dựng văn hóa, phong trào năng suất, chất lượng trong tổ chức, doanh nghiệp nhằm đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế-xã hội của đất nước.

H.B

* Hội thảo góp ý bản thảo công trình "Lịch sử ngành Khoa học và Công nghệ Nghệ An (1959-2019)"

Sáng ngày 20/6, Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội thảo góp ý bản thảo công trình "Lịch sử ngành Khoa học và Công nghệ Nghệ An (1959-2019)". Đồng chí Trần Quốc Thành - Giám đốc Sở chủ trì Hội thảo. 

Tại Hội thảo, các ý kiến phát biểu của các đại biểu tham dự đồng tình với kết cấu, bố cục của bản thảo khá mạch lạc, đã có sự phân khúc trình bày theo thời gian; Ban biên soạn làm việc công phu, nghiêm túc, chất lượng. Bên cạnh đó, đề nghị bổ sung bản thảo: Rà soát lại các thông tin danh sách của lãnh đạo qua các thời kỳ đảm bảo chính xác trong từng giai đoạn; nêu bật thêm vấn đề tài chính và cơ chế tài chính trong hoạt động KHCN trong từng giai đoạn; Vấn đề thu hút, phát triển nguồn nhân lực cho phát triển KH&CN qua các thời kỳ cũng cần được nêu rõ hơn, cụ thể hơn…

Kết luận Hội thảo, đồng chí Trần Quốc Thành yêu cầu Ban biên soạn tiếp thu, chỉnh sửa, hoàn thiện và làm rõ: Nêu bật sự chuyển hướng trong từng giai đoạn; Những giai đoạn có số liệu cụ thể thì bổ sung tác động, đóng góp của KHCN đối với sự phát triển của tỉnh (chỉ số TFP); Nhấn mạnh vào các hoạt động KHCN của các ngành, địa phương, viện trường trên địa bàn và quần chúng nhân dân; Hoạt động kết nối, hợp tác với các tổ chức KHCN trong và ngoài tỉnh (với Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, Đại học quốc gia,...).

Hồng Bắc

* Giới thiệu sách mới: "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An (1930 - 1954)", tập 1

Nhằm góp phần truyền bá tri thức lịch sử đảng bộ địa phương tới đông đảo bạn đọc, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Nghệ An phối hợp với Nhà xuất bản Nghệ An đã tái bản có chỉnh lý, bổ sung cuốn sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An (1930 - 1954), tập 1 và cho ra mắt bạn đọc vào đầu năm 2019.

Đây là một công trình nghiên cứu lịch sử thực sự có giá trị cao về lý luận và thực tiễn, được trình bày đầy đủ, tương đối toàn diện và có hệ thống về mảnh đất, con người, truyền thống và quá trình hình thành phát triển của Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong những năm 1930 - 1954; đặc biệt là trong các giai đoạn đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược đi liền với công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội trên quê hương Nghệ An.

Cuốn sách Lịch sử Đảng bộ Nghệ An (1930 - 1954), tập 1 đã được ra mắt bạn đọc vào năm 1998 và được tái bản năm 2019 trên cơ sở giữ nguyên nguồn tư liệu đã có, chỉ cập nhật, bổ sung và điều chỉnh thêm những tư liệu mới đã làm cho cuốn sách đảm bảo tính khách quan, chính xác và toàn diện.

Sách dày 320 trang, khổ 16x24cm, được in ấn đẹp, sang trọng; là cuốn tư liệu quan trọng, có giá trị đối với cán bộ, đảng viên và Nhân dân tỉnh Nghệ An, đặc biệt là những người muốn tìm hiểu, nghiên cứu về mảnh đất Xô viết đã gắn liền với truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc.

 Nguyễn Ngọc

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.