« Quay lại

Chuyên san KHXH&NV số 7/2019

Trần Đường

 

Sinh thời, ở mọi lúc mọi nơi, mọi thời điểm, Bác Hồ luôn dành cho thương binh, liệt sĩ, gia đình liệt sĩ những tình cảm và sự quan tâm đặc biệt. Lúc nào cũng vậy, tình cảm của Người không chỉ thể hiện bằng những bức thư, những lời kêu gọi chân thành, mộc mạc, giản dị đầy xúc động lòng người mà còn thể hiện bằng những hành động cụ thể hàng ngày.

Khi Cách mạng tháng Tám vừa thành công được một thời gian ngắn thì ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng tấn công Sài Gòn với âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa. Để bảo vệ Tổ quốc nhiều thanh niên đã tham gia chiến đấu và ngã xuống ở chiến trường miền Nam. Chỉ sau đó 9 ngày, vào ngày 2/10/1945 nhằm động viên các gia đình liệt sĩ, mặc dù đang bận rộn trăm công nghìn việc để xây dựng chính quyền non trẻ, chống thù trong giặc ngoài, Bác Hồ vẫn dành thời gian đến Nhà hát lớn Hà Nội làm lễ cầu hồn cho các chiến sĩ hi sinh ở miền Nam và trong phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 20/11/1945, Người đề nghị Chính phủ ra Sắc lệnh truy tặng 5 liệt sĩ đã hi sinh cho Tổ quốc tại quận Cái Răng, tỉnh Cần Thơ ngày 12/11/1945. Ngay sau đó Bác đã gửi liên tiếp 2 lá thư cho đồng bào miền Nam: "Tôi xin nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào miền Nam đã vì Tổ quốc mà hi sinh anh dũng" (Thư ngày 31/3/1946).

Tiếp đó, nhằm chia sẻ nỗi mất mát của những thân nhân liệt sĩ mãi mãi không bao giờ gặp lại những người thân yêu, ruột thịt nhất của mình, Bác Hồ đã ra "Thông báo về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi" (ngày 7/11/1946): "Thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ, tôi xin cảm ơn những chiến sĩ đã hi sinh tính mệnh cho nền tự do, độc lập, thống nhất của nước nhà. Tôi gửi lời chào thân ái tới các gia đình liệt sĩ và tôi nhận các con liệt sĩ làm con nuôi của tôi". Lời của Bác chân thật, giản dị đã làm cho biết bao người rơi nước mắt vì xúc động! Bác luôn luôn xem nỗi đau của các gia đình liệt sĩ là nỗi đau của chính bản thân mình, xem mỗi thanh niên là con đẻ của chính mình: "Tôi không có gia đình cũng không có con cái. Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất đi một thanh niên, thêm một liệt sĩ là tôi mất đi một đoạn ruột" (Thư gửi Giám đốc y tế Bắc bộ 1/1947). Sau đó, Người đã kí liên tiếp 3 Sắc lệnh nhằm tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các chế độ, chính sách cho thương binh, liệt sĩ, gia đình liệt sĩ như: Sắc lệnh số 20 (16/2/1947) quy định chế độ thương tật, tiền tuất cho thương binh, liệt sĩ; Sắc lệnh số 58 (6/6/1947) tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập cho những người có công với nước; Sắc lệnh số 101 (3/10/1947) về việc thành lập Sở Thương binh, cựu chiến binh ở các tỉnh trong cả nước. Đồng thời Người trực tiếp đề nghị Chính phủ chọn một ngày nào đó làm "Ngày thương binh liệt sĩ"; sau đó Chính phủ đã quyết định chọn ngày 27/7 hàng năm làm "Ngày thương binh liệt sĩ". Trong ngày thương binh liệt sĩ đầu tiên của nước ta (27/7/1946), Người đã viết: "Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp. Cha mẹ, anh em, vợ con, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống quân thù? Đó chính là những chiến sĩ, những thương binh, liệt sĩ. Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn họ, phải giúp đỡ họ". Kể từ đó, mỗi năm cứ đến Ngày thương binh liệt sĩ (27/7), Bác vẫn đều đặn gửi thư cho các thương binh và các gia đình liệt sĩ với những lời lẽ chân thành, giản dị, đầy tình cảm, góp phần an ủi, động viên họ. Đọc những bức thư ấy, các thương binh, các gia đình liệt sĩ cũng cảm nhận được tấm lòng và tình cảm sâu sắc của Người dành cho họ.

Không những động viên về mặt tinh thần, tình cảm, Người còn có quà tặng cho họ. Nhân ngày 27/7/1947, Người đã gửi tặng thương binh, gia đình liệt sĩ một chiếc áo lụa, một tháng lương của Người, tiền một bữa ăn của Người và các nhân viên làm việc trong Phủ chủ tịch, tổng cộng số tiền là 1.127 đồng (tiền lúc đó). Sau đó 7 tháng, Người gửi tặng họ một tháng lương và hai phiếu công trái quốc gia trị giá 2 tấn thóc. Ngày 27/7/1954, Người gửi họ 70.600 đồng tiền tiết kiệm nhiều tháng lương của mình. Trước đó, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam tổ chức buổi lễ "Mùa đông binh sĩ" tại Hà Nội, Bác đến dự và đã tặng ngay chiếc áo rét mình đang mặc cho thương binh,... Những món quà của Bác Hồ tuy nhỏ nhưng rất quý giá, bởi vì đó là biểu hiện sự chăm sóc, quan tâm, là trái tim, tấm lòng, tình cảm của Người dành cho thương binh, liệt sĩ, gia đình liệt sĩ. Những món quà đó là nguồn động viên, cổ vũ tinh thần to lớn, làm ấm lòng các thương binh, các gia đình liệt sĩ.

Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hòa bình đã được lập lại trên miền Bắc, chiều ngày 31/12/1954, Bác dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ đến Đài liệt sĩ Hà Nội để đặt vòng hoa viếng các liệt sĩ: "Máu nóng của các liệt sĩ đã nhuộm lá Quốc kì vẻ vang càng thêm thắm đỏ. Tiếng thơm của các liệt sĩ sẽ muôn đời lưu truyền với sử xanh. Một nén hương thành. Vài lời an ủi: Anh linh các liệt sĩ bất diệt! Tổ quốc Việt Nam vĩ đại muôn năm!". Đêm giao thừa Tết Bính Thân 1956 (đêm 11/2/1956 dương lịch), Người đã đi thăm và chúc Tết các thương binh ở Trường Thương binh hỏng mắt ở phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội. Bác nói: "Tại mái trường này, các chú được học chữ, học nghề để tiếp tục phục vụ nhân dân. Như vậy, thương binh tàn nhưng không phế!". Bác là vị lãnh tụ đầu tiên khẳng định rằng "Thương binh tàn nhưng không phế!".

Không những thế, Bác còn thường xuyên nhắc nhở, kêu gọi các cấp ủy Đảng, Chính quyền, các đoàn thể, các tầng lớp nhân dân hãy thể hiện sự quan tâm đến thương binh, gia đình liệt sĩ. Bác nói: "Quan tâm giúp đỡ các thương binh, gia đình liệt sĩ không phải là làm phúc mà ở đây chính là tình cảm thương yêu, trách nhiệm, bổn phận của Đảng, Chính quyền, là sự thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" của dân tộc ta". Rồi Bác gợi ý nên có phong trào "đón thương binh về làng", các thầy thuốc nên hết lòng săn sóc thương binh, các cháu thiếu nhi nên giúp đỡ các chú thương binh và các gia đình liệt sĩ trong những việc nhỏ hàng ngày. Bác mong đó sẽ thành một phong trào rộng lớn thể hiện tấm lòng của Bác đối với thương binh, liệt sĩ, gia đình liệt sĩ; thể hiện tinh thần nhân văn cao cả, đó là sự đồng cảm của Bác đối với những thân nhân trong các gia đình có con em đã anh dũng hi sinh cho Tổ quốc. Như khi ông Vũ Đình Tụng, Bộ trưởng Bộ Thương binh có con trai là Vũ Văn Thành hi sinh ở chợ Hôm (Hà Nội), dù bận rộn việc nước, Bác vẫn viết thư thăm hỏi, chia sẻ nỗi mất mát đau thương với gia đình ông. Sau nay, bác sĩ Vũ Đình Tụng đã kể lại: "Đọc xong thư Bác, tự nhiên tôi thấy nỗi đau thương và sự mất mát của gia đình tôi trở thành nhỏ bé trong tình thương mênh mông của Bác. Tôi biết rõ mình sẽ phải làm gì để xứng đáng với sự hi sinh của con tôi và để khỏi phụ lòng của Bác". Người cũng nhắc nhở các thương binh phải yên tâm điều trị, khi sức khỏe đã trở lại bình thường thì "Cần cố gắng tăng gia sản xuất, tự lực cánh sinh, tùy theo sức khỏe mà tham gia công tác xã hội, không nên yêu cầu quá đáng, không nên ra vẻ công thần" (Thư gửi thương binh - 27/7/1952).

Hơn một năm trước khi đi xa dù đang ốm mệt, trong khi soạn thảo bản Di chúc, tháng 5/1968, Người đã bổ sung thêm một số ý: "Đối với những người đã dũng cảm hi sinh một phần xương máu của mình, Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần "tự lực cánh sinh". Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm, đối với cha mẹ, vợ con của họ, Chính quyền quyết không để họ đói rét" (Theo Thông báo của BCH TW Đảng ngày 1/9/1969, chỉ trước khi mất một ngày, Bác vẫn gửi vòng hoa của mình viếng các liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ Mai Dịch (Hà Nội)). Cả một đời vì Nước, vì Dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với thương binh, liệt sĩ, gia đình liệt sĩ. Người là tấm gương sáng trong việc thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với các thương binh, liệt sĩ, gia đình liệt sĩ.

 

Nguyễn Quốc Hồng

Sau khi cơ bản ổn định bộ máy cai trị ở vùng Bắc Trung bộ, thực dân Pháp bắt đầu công cuộc khai thác tại Nghệ An, người Pháp mở các tuyến đường bộ số 7 nối Vinh - Bến Thủy với các huyện phía Bắc Nghệ An, số 8 nối Vinh - Bến Thủy với các huyện Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương Sơn (Hà Tĩnh) sang NaPe, Xavanakhet và Viêng Chăn (Lào). Tiếp đến xây dựng tuyến đường sắt Hà Nội - Vinh, tiến hành mở rộng, nạo vét cảng Bến Thủy lần thứ nhất và lần thứ 2 và xem cảng Bến Thủy là một cảng "hoạt động sau cảng Hải Phòng và Sài Gòn và không kém cảng Văng Đô ở Pháp"(1). Sau đó Pháp còn triển khai xây dựng sân bay Vinh, thời gian sau chuyển sân bay ra Quán Bánh.

Cùng với quá trình xây dựng hệ thống giao thông, thực dân Pháp xây dựng trung tâm công nghiệp tại thành phố Vinh - Bến Thủy và khai phá vùng đất bazan Phủ Quỳ để thành lập các đồn điền.

Tại thành phố Vinh - Bến Thủy hàng loạt nhà máy ra đời: Nhà máy Sản xuất Diêm (năm 1907); Nhà máy Sửa chữa xe lửa Trường Thi (năm 1908), Nhà máy Điện (năm 1922), Đề Pô xe lửa; Nhà máy Cưa Thái Hợp... Đến cuối năm 1928 "Đội ngũ công nhân Vinh - Bến Thủy có khoảng 7.000 người bao gồm 4.000 công nhân tại các nhà máy lớn và khoảng 3.000 công nhân tại các xí nghiệp nhỏ của các hãng tư sản Pháp, Hoa kiều và Việt Nam. Dân số thành phố Vinh khoảng 18.000 thì lực lượng công nhân chiếm 38%"(2). Cùng với việc xây dựng các nhà máy công nghiệp ở thành phố Vinh - Bến Thủy, các nhà tư sản Pháp đã khai thác vùng đất Phủ Quỳ và một số huyện Thanh Chương, Anh Sơn, Quỳ Châu… thành lập các đồn điền như: Tiên Sinh, Nai Sinh, Cao Trai, Vực Rồng, Đào Nguyên… Sự hình thành các đồn điền ở Phủ Quỳ và các huyện trong tỉnh đã tạo nên một bộ phận công nhân đồn điền, những người làm thuê cho chủ người Pháp và người Việt khá đông đảo. Theo thống kê của người Pháp, không kể công nhân thời vụ và công nhân ở các huyện khác, riêng số công nhân đồn điền ở Phủ Quỳ trong các năm 1935 - 1939 ở mức từ 2900 - 3200 người(3).

Công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Nghệ An đã xuất hiện giai cấp công nhân ở Nghệ An và ngày càng phát triển không ngừng cả về số lượng và chất lượng. Giai cấp công nhân ra đời thì lập tức có phong trào đấu tranh của công nhân. Ngay từ khi mới ra đời, công nhân Vinh - Bến Thủy đã tổ chức hàng chục cuộc đấu tranh, điển hình là các cuộc biểu tình đình công của công nhân Nhà máy Diêm, Nhà máy Sửa chữa xe lửa Trường Thi, Nhà máy Gỗ, Nhà máy Cưa, Nhà máy Điện… mà đỉnh cao là cuộc biểu tình ngày 1/5/1930 của công nhân Vinh - Bến Thủy và các huyện lân cận mở đầu cho Cao trào cách mạng 1930 - 1931 ở Nghệ Tĩnh "Công nhân Vinh - Bến Thủy đã mở đường đấu tranh, cờ đỏ phấp phới khắp Nghệ An, các tỉnh khác đang sôi nổi. Thời kỳ đấu tranh kịch liệt đã đến"(4). Trước phong trào đấu tranh của công nhân cả nước ngày càng phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có một tổ chức thống nhất để tập hợp tổ chức cho công nhân đấu tranh. Thực hiện chủ trương của Đông Dương Cộng sản Đảng, ngày 28 tháng 7 năm 1929, đồng chí Nguyễn Đức Cảnh triệu tập Hội nghị Đại biểu Tổng công hội Đỏ Bắc kỳ lần thứ nhất tại số nhà 15 Hàng Nón - Hà Nội. Hội nghị đã nhất trí thông qua chương trình điều lệ, phương hướng hoạt động của Tổng công hội Đỏ Bắc kỳ và bầu Ban Chấp hành lâm thời do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh phụ trách. Đại hội quyết định xuất bản Báo Lao động làm cơ quan thông tin tuyên truyền và Tạp chí Công hội đỏ làm cơ quan truyền bá quan điểm, chủ trương của Công hội đỏ trong giai cấp công nhân. Với ý nghĩa to lớn của sự ra đời Tổng công hội Đỏ Bắc kỳ, ngày 25/8/1983 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định lấy ngày Hội nghị thành lập Công hội Đỏ Bắc kỳ (28/7/1929) làm ngày thành lập Công hội Đỏ cả nước(5).

Đại hội Đại biểu lần thứ V Công đoàn Việt Nam họp tại Hà Nội từ ngày 12 đến 18 tháng 11 năm 1983 đã thông qua Nghị quyết "lấy ngày 28/7/1929 ngày họp Đại hội thành lập Tổng công hội Đỏ miền Bắc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đông Dương Cộng sản Đảng làm ngày thành lập công đoàn Việt Nam"(6).

Thực hiện chủ trương của Đông Dương Cộng sản Đảng và Tổng công hội Đỏ miền Bắc, tháng 11 năm 1929 đồng chí Nguyễn Phong Sắc ủy viên Đông Dương Cộng sản Đảng, Bí thư Xứ ủy Trung kỳ triệu tập Hội nghị thành lập Tổng công hội Đỏ Nghệ An. Dự Hội nghị có đại biểu công nhân Vinh - Bến Thủy và đại biểu một số huyện. Hội nghị đã thông qua chương trình điều lệ và bầu Ban Chấp hành. Đồng chí Nguyễn Công Sửu (bí danh Cát Sửu), công nhân Nhà máy Sửa chữa xe lửa Trường Thi được bầu làm Bí thư.

Ngay sau khi thành lập, Tổng công hội Đỏ Nghệ An thực hiện chủ trương của Xứ bộ Trung kỳ Đông Dương Cộng sản Đảng rải truyền đơn kêu gọi thợ thuyền áo xanh, áo nâu cùng nhau vào công hội, đấu tranh đòi: tự do công hội, tự do bãi công, tự do tuần hành.

Tổng công hội Đỏ Nghệ An ra đời đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ và là dấu mốc quan trọng của phong trào đấu tranh của công nhân Nghệ An và đến năm 1930 khi Tỉnh ủy Nghệ An và Tỉnh ủy Vinh - Bến Thủy được thành lập thì phong trào đấu tranh của công nhân Nghệ An đã thực sự chuyển từ tự phát lên tự giác trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong Cao trào cách mạng năm 1930 - 1931, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng công hội Đỏ Nghệ An đã đóng vai trò nòng cốt trong việc cổ vũ, tập hợp công nhân và những người lao động Vinh - Bến Thủy kìm chân địch ở thành phố để nông dân các huyện vùng lên lập Xô viết "Công nhân Vinh - Bến Thủy mở đầu cao trào đấu tranh, nhưng nông dân Thanh Chương, Nam Đàn lập Xô viết"(7).

Trong suốt thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng công hội Đỏ Nghệ An với các tên gọi khác nhau: Hội Tương tế ái hữu, Nghiệp đoàn thợ thuyền, Công nhân cứu quốc đã tập hợp, tổ chức cho công nhân lao động đấu tranh chống lại thực dân Pháp. Trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, Hội Công nhân cứu quốc Nghệ An đã tổ chức cho công nhân lao động đi đầu trong giành chính quyền tại thành phố Vinh - Bến Thủy.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công nhân Tổng công hội Đỏ Nghệ An đã vận động, tổ chức cho công nhân lao động đi đầu trong tiêu thổ kháng chiến xây dựng các xưởng sản xuất vũ khí và lập các ATK để cung cấp vũ khí lương thực và nhân lực cho các chiến trường góp phần vào chiến thắng Điện Biên lịch sử. Trong thời kỳ khôi phục kinh tế và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, công đoàn Nghệ An đã tổ chức nhiều phong trào thi đua yêu nước trong công nhân, lao động, điển hình là chiến dịch "tiếng trống Xô Viết", phong trào 4 biến, phong trào dành ba điểm cao(8).

Các phong trào thi đua trong công nhân lao động đã làm cổ vũ tinh thần yêu nước, sức sáng tạo của giai cấp công nhân đóng góp thiết thực vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế của Nghệ An sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Nghệ An nằm ở vị trí chiến lược trên tuyến giao thông Bắc - Nam, là trọng điểm đánh phá của không quân và hải quân Mỹ; công đoàn Nghệ An đã tổ chức nhiều phong trào thi đua: vừa sản xuất vừa chiến đấu, tay búa tay súng, dòng điện không bao giờ tắt. Quyết tử để thông đường, thông xe ra tiền tuyến… đối mặt với những gian khổ hy sinh, công đoàn Nghệ An luôn bám những trọng điểm, những tọa độ lửa để động viên và cùng công nhân lao động hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ góp phần xứng đáng đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà. Hòa bình lập lại, cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, công đoàn Nghệ An đã tổ chức nhiều phong trào thi đua khôi phục kinh tế sau chiến tranh và xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Các phong trào thi đua lao động sáng tạo, lao động giỏi, luyện tay nghề, thi thợ giỏi, liên kết phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn… đã mang lại những kết quả to lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội tỉnh nhà. Tổng công hội Đỏ Vinh - Bến Thủy đến Công đoàn Nghệ An ngày nay, tổ chức công đoàn luôn tổ chức các hoạt động chăm lo, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp chính đáng của đoàn viên công đoàn và người lao động. Đồng thời tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, cùng với Công đoàn Việt Nam góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay Công đoàn Nghệ An có 145.314 đoàn viên, sinh hoạt trong 2.819 công đoàn cơ sở, đánh dấu sự lớn mạnh về số lượng và chất lượng. Kỷ niệm 90 năm thành lập tổ chức công đoàn, Công đoàn Nghệ An cùng với công đoàn cả nước đang đứng trước bước ngoặt khi mà nước ta chính thức tham gia Hiệp định đối tác chiến lược toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Công đoàn Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các tổ chức đại diện người lao động điều mà chưa từng có trong tiền lệ. Đó chính là thách thức lớn đặt ra cho tổ chức công đoàn Việt Nam trong cuộc cạnh tranh và thu hút đoàn viên công đoàn với tổ chức đại diện người lao động thành lập ở cơ sở.

Để vượt qua thử thách mà tổ chức Công đoàn sẽ đối mặt, thời gian tới công đoàn đổi mới mạnh mẽ về tổ chức và phương thức hoạt động; chăm lo lợi ích cho đoàn viên một cách hiệu quả, thật sự là tổ chức đại diện tin cậy của người lao động.

Nâng cao năng lực, tầm nhìn, kiến thức thực tiễn và khả năng chọn các khâu, nhiệm vụ đột phá để tổ chức, chỉ đạo các phong trào hoạt động. Bên cạnh đó các cấp công đoàn tổ chức, kết nối các nguồn lực để xây dựng tổ chức công đoàn đủ mạnh thực hiện tốt nhiệm vụ và chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho đoàn viên và người lao động.

Với bề dày lịch sử 90 năm ra đời và phát triển, Tổng công hội Đỏ Vinh - Bến Thủy đến Công đoàn Nghệ An ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tổ chức Công đoàn luôn năng động, nhạy bén thích ứng với điều kiện, lịch sử và nhiệm vụ từng giai đoạn của cách mạng chắc chắn sẽ vượt qua những thách thức, luôn đồng hành cùng Nhà nước và chỗ dựa vững chắc của đoàn viên và người lao động.

 

 

Chú thích

1. Tạp chí Thức tỉnh kinh tế Đông Dương số 546 ngày 27/11/1927.

2. Ngô Văn Hòa - Dương Trung Quốc: Giai cấp công nhân Việt Nam những năm trước khi thành lập Đảng, NXB Khoa học Xã hội Hà Nội 1978, trang 283.

3. Bành Thị Thúy Hà: Kinh tế đồn điền Phủ Quỳ, Luận văn tốt nghiệp cao học khóa 12, Khoa Lịch sử, Đại học Vinh.

4. Báo Người lao khổ số đặc biệt ngày 5/9/1931.

5. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam: Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn Việt Nam, tập I (cuối thế kỷ XIX - 1954), NXB Lao động, Hà Nội năm 2003 trang 96 (tập 1). 

6. Sđd, tập III (1976 - 2000), trang 208.

7. Báo Vô sản cơ quan ngôn luận của những người Cộng sản Pháp số ra tháng 10,11 năm 1930 (tài liệu lưu trữ tại tác giả).

8. 4 biến: biến không thành có, khó thành dễ, thiếu thành đủ, cũ thành mới; 3 điểm cao: năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều.

 

Hồ Xuân Hùng

          Nghệ An là quê hương của nhiều loại đặc sản đến từ các vùng quê khác nhau, được làm từ những nguyên liệu dân dã mang hương vị rất đặc trưng không giống địa phương nào. Tuy nhiên, vấn đề xây dựng và phát triển các sản phẩm đặc sản vẫn là một nhiệm vụ đang được đặt ra nhằm bảo tồn và phát huy giá trị vốn có, cũng như thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh nhà phát triển.

Trong phạm vi bài viết này, tôi xin nêu một số vấn đề sau:

- Cần thống nhất cách hiểu thế nào là đặc sản của tỉnh nhà? Từ đó, xác định đặc sản ấy hướng tới mục tiêu nào? Tiêu dùng tại chỗ (kể cả cho dân trong tỉnh và khách du lịch) hay để trở thành hàng hóa xuất ra khỏi tỉnh, hoặc là sản phẩm làm quà của khách du lịch? (đương nhiên có sản phẩm kết hợp cho cả 2 mục tiêu).

- Giải pháp nào để bảo tồn (duy trì) và phát triển nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa của tỉnh.

- Một số kiến nghị để thực hiện 2 nội dung nêu trên.

1. Cần thống nhất cách hiểu về đặc sản và đặc sản của tỉnh

1.1. Đặc sản là gì?

Nhìn chung mọi người đều thống nhất khái niệm: Đặc sản là những sản vật, sản phẩm hàng hóa mang tính đặc thù hoặc có nhiều điểm đặc biệt riêng có mà xuất xứ từ những vùng, miền, địa phương nào đó (thường là nông sản, thực phẩm).

Không chỉ Việt Nam, mà các nước trên thế giới đều có chung một quan niệm đặc sản thường là những món ăn, thức uống hay gia vị gì đó… có thể ăn uống được mang tính đặc trưng của vùng; Đã có thương hiệu tại vùng đó, mà thương hiệu ấy có thể đã được xác lập ở các địa phương, quốc gia khác (nhất là thời kỳ kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế).

1.2. Nếu hiểu theo nghĩa như trên (và cũng không thể khác được) thì đặc sản của tỉnh Nghệ An phải là những nông sản, thực phẩm đặc trưng và qua cách chế biến đặc trưng để tạo ra những món ăn, thức uống, gia vị xuất xứ từ một vùng (địa phương, thôn, xóm, xã, huyện nào đó nếu là nguyên liệu) và phải được qua một khâu chế biến đặc biệt, cũng có thể là từ một gia đình, dòng họ hoặc địa phương nào đó. Những sản phẩm đặc biệt đó thời gian đầu thường chỉ được người dân trong khu vực đó xác nhận, thụ hưởng. Cùng với sự phát triển kinh tế - văn hóa xã hội sẽ được phổ biến lan rộng từ chỗ chỉ là "quà mời"; "quà tặng" đến trở thành hàng hóa. Ngày nay, khi kinh tế thị trường phát triển và hội nhập, nhiều sản phẩm đặc biệt của một vùng đã trở thành của một huyện, một tỉnh và quốc gia. Người ta đang xác lập thương hiệu cho những sản phẩm ấy để tiêu thụ phổ biến trong nước và ra thị trường quốc tế.

Ví như có thể kể đến các món: Súp lươn (cháo lươn) Nghệ An không chỉ được thưởng thức ở Vinh, Hưng Nguyên… mà đặc biệt còn được ăn ở Hà Nội (nhiều quán), thành phố Hồ Chí Minh; Quảng Trị, Huế… Bên cạnh đó còn có: Me Nam Nghĩa, cam xã Đoài, cam Vinh…

Tóm lại, đặc sản của tỉnh xuất xứ từ một vùng miền nào đó của tỉnh (thôn, xóm, làng, xã…) thường là những món ăn, thức uống, gia vị nào đó có thể ăn uống được đã có từ nhiều năm và được người tiêu dùng xác nhận được duy trì và phát triển tiêu dùng trong địa phương, trong tỉnh, trong nước và có thể xuất khẩu.

Ở Nghệ An có thể kể đến một số đặc sản sau: Nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn, cháo lươn Vinh (súp lươn Vinh), bánh khô Đô Lương, bánh mướt Diễn Châu; cam Vinh, chè  Gay (Anh Sơn), mực nhảy Cửa Lò - Diễn Châu, giò me Nam Nghĩa - Nam Đàn, cá mát sông Giăng, nước mắm Vạn Phần,…

1.3. Trong thời đại ngày nay, duy trì, thậm chí khôi phục, phát triển đặc sản của địa phương là nhằm hướng tới đáp ứng nhu cầu thị trường. Sản phẩm đặc sản của tỉnh ta nhiều sản phẩm vừa phục vụ tại chỗ, vừa là sản phẩm hàng hóa xuất ra khỏi tỉnh và tới thị trường quốc tế… ví dụ như cam Xã Đoài, chè Anh Sơn…

2. Một số giải pháp để bảo tồn và phát triển đặc sản nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - văn hóa tỉnh nhà

2.1. Tỉnh Nghệ An đã công bố danh mục 14 sản phẩm đặc sản của tỉnh và lựa chọn 35 sản phẩm đặc trưng phục vụ cho du lịch. Trong 35 sản phẩm đặc trưng có 5 sản phẩm thủ công mỹ nghệ, 13 sản phẩm chế biến từ nông sản; 5 sản phẩm chế biến từ hải sản; 10 sản phẩm đồ uống, thảo dược và 2 sản phẩm trang sức, phục sức. Từ việc làm này sẽ giúp người tiêu dùng (khách du lịch) định hướng được sự lựa chọn của mình khi đến Nghệ An. Đặc biệt giúp người đang sản xuất và sẽ tham gia thị trường có kế hoạch dài hơi trong đầu tư phát triển. Các nhà hoạch định chính sách lựa chọn được định hướng khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia. Đây cũng là giải pháp để bảo tồn và phát triển đặc sản tỉnh nhà.

2.2. Rà soát lại danh mục 14 sản phẩm đặc sản của tỉnh đã công bố, có những sản phẩm dù là đặc sản nhưng khó phục hồi (và cũng không cần thiết) nhất là khi hướng tới phát triển kinh tế, ví dụ sản phẩm: khoai xéo, bánh ngào (bánh mật).

Bổ sung một số sản phẩm từ danh mục đặc trưng phục vụ du lịch vào danh mục sản phẩm đặc sản, như nước mắm Nghệ An, cá thu Nghệ An, chè Anh Sơn, rượu men lá…

Không nên quá nhiều sản phẩm, chỉ khoảng 15-20 sản phẩm đặc sản là hợp lý.

2.3. Ưu tiêu đặc sản có lợi thế, uy tín nhiều năm, có khả năng phát triển tốt để đầu tư. Trước mắt là xây dựng thương hiệu và tập trung quảng bá sản phẩm. Trong chương trình quảng bá trước hết là xây dựng lòng tin, hứng thú tiêu dùng của nhân dân trong tỉnh và con em Nghệ An ở mọi miền đất nước, quốc tế.

2.4. Có chính sách hỗ trợ trực tiếp những sản phẩm đặc sản theo hướng sản xuất sạch, chế biến bảo quản sạch, có ứng dụng công nghệ cao.

2.5. Có chính sách giữ giống gen một số cây con đặc sản quý hiếm để duy trì, bảo tồn, phát triển như: cam Xã Đoài; me Nam Nghĩa...

2.6. Rà soát để mở rộng diện tích nuôi, trồng một số cây con có thị trường (kể cả phương pháp quảng canh như nuôi lươn… và thâm canh như cam Vinh) vừa gia tăng năng suất, chất lượng hiệu quả, tăng quy mô sản xuất đáp ứng nhu cầu ngày một tăng.

2.7. Khuyến khích doanh nghiệp, hộ gia đình đầu tư kinh doanh vào các sản phẩm đặc sản của tỉnh. Vận động con em Nghệ An ở các tỉnh quảng bá và đầu tư kinh doanh sản phẩm đặc sản của tỉnh nhà.

Chú trọng những trung tâm kinh tế một số nước, xúc tiến, tạo điều kiện để họ có thể kinh doanh một số đặc sản Nghệ An như: Tương Nam Đàn, nước mắm Nghệ An, chè Nghệ An, súp (cháo) lươn,…

2.8. Gắn kết những nơi sản xuất sản phẩm đặc sản (có thể được) với du lịch, thư giãn và du lịch trải nghiệm; kết hợp du lịch với mua sắm hàng đặc sản; ẩm thực sản phẩm đặc sản.

2.9. Hỗ trợ người dân, doanh nghiệp đào tạo nhân lực khi chuyển giao công nghệ, khởi nghiệp nhằm vào mục tiêu kinh doanh sản phẩm đặc sản. Kể cả những trường hợp người kinh doanh cần phải mua lại thương hiệu.

3. Một số kiến nghị, đề xuất

3.1. Tỉnh cần có điều tra, đánh giá và khẳng định rõ xuất xứ, thời gian ra đời; công nghệ chế biến, bảo quản, hướng dẫn tiêu dùng, từ đó có được ấn phẩm (hoặc tờ rơi - sản phẩm đơn) trang Website không chỉ cho khách du lịch, mà ngay cả người dân trong tỉnh được biết và dễ tìm hiểu.

3.2. Cần xây dựng chuyên mục truyền hình quảng bá, định kỳ giới thiệu về sản phẩm đặc sản trong danh mục tỉnh công bố trên phương tiện truyền hình của tỉnh, huyện; lựa chọn một số sản phẩm quảng bá kênh truyền hình Trung ương. Đây là giải pháp kích cầu tốt và nhanh nhất. Vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa quảng bá văn hóa ẩm thực tỉnh nhà.

3.3. Tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm, nhất là trong điều kiện hiện nay.

3.4. Tỉnh cần xây dựng và ban hành bộ tiêu chí sản phẩm đặc sản của tỉnh. Từ đó xác định cấp độ sản phẩm và lựa chọn hướng ưu tiên hỗ trợ từ xây dựng thương hiệu, bảo hộ thương quyền và quảng bá sản phẩm.

Nếu được chúng ta cần xây dựng cả bộ tiêu chí của một quán ăn, nhà hàng kinh doanh đặc sản nổi tiếng.

 

Vi Văn Sơn

 

Trong những năm qua, được sự quan tâm hỗ trợ đầu tư của TW, tỉnh và đặc biệt là sự nỗ lực của địa phương  triển khai nhiều mô hình phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, chế biến nông sản, công nghệ mới, xây dựng, quảng bá các sản phẩm đặc trưng của địa phương, đến nay trên địa bàn huyện Con Cuông, sản phẩm gắn liền với đồng bào các dân tộc miền núi đa dạng về chủng loại, phong phú về chất liệu mẫu mã có thể kể đến như: Dệt thổ cẩm, mây tre đan, rượu men lá, rượu cần, cam quả, chè công nghiệp, các sản phẩm từ cam (mứt cam, tinh dầu cam, rượu cam, xà phòng cam….); trà dược liệu (cà gai leo, đinh lăng, giảo cổ lam, dây thìa canh...)…

1. Thực trạng của các sản phẩm đặc sản, truyền thống Con Cuông

- Cây chè công nghiệp: Là một trong những cây công nghiệp mũi nhọn của huyện, trong thời gian qua cây chè đã thực sự tham gia vào công tác xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho nhiều hộ dân. Diện tích chè hiện có là 354 ha, tập trung phát triển ở một số xã như Yên Khê (245 ha), Chi Khê (15 ha), Bồng Khê (77 ha), và rải rác ở các xã khác Lục Dạ (3,7ha), Mậu Đức (2,6ha), Thạch Ngàn (2,8 ha),... Năng suất chè búp tươi của huyện đạt 142,8 tạ/ha (cao hơn năng suất bình quân của tỉnh là 108,7 tạ/ha). Do đó sản lượng chè cũng tăng đáng kể từ 2,450 tấn năm 2010 lên 4.197 tấn năm 2015 và đạt 4.041 tấn năm 2016.

- Cây cam: Những năm gần đây, cây cam hàng hóa rất được chú trọng phát triển trên địa bàn, là hướng đi nhằm nâng cao thu nhập cho người dân. Thực tế thời gian qua cây cam đã mang lại giá trị kinh tế cao, giúp nhiều hộ dân vươn lên làm giàu. Tính đến tháng 6 năm 2018, toàn huyện có 363,51 ha; trong đó xã Bồng Khê (59,2 ha), xã Yên Khê (258,47 ha), Chi Khê (27,01 ha), Lục Dạ (14 ha), Thạch Ngàn (4,9 ha), diện tích trồng mới năm 2018 là 10 ha so với năm 2017.

Diện tích cam kinh doanh tăng dần trong các năm gần đây, năm 2015 có 182,17 ha, năm 2018 tăng lên 370,58 ha (tăng 49,2 %). Năng suất hiện tại của một số giống cam cho thấy cam Valencia đạt 11 tấn/ha, cam Mars (BH) 10 tấn/ha và cam Vân Du đạt 12 tấn/ha. Năng suất bình quân chung cam đạt 11,5 tấn/ha. So sánh cho thấy cam Xã Đoài có năng suất cao hơn cam Vân Du từ 4-5 tấn/ha, cam Valencia cao hơn cam Vân Du 3-4 tấn/ha.

- Cây dược liệu: Với quyết tâm trở thành một vùng sản xuất dược liệu của tỉnh, qua đó góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, năm 2016, huyện Con Cuông đã thực hiện đề tài KH-CN xây dựng mô hình trồng cây dược liệu tại xã Chi Khê.

Quy mô diện tích vùng dược liệu 5 ha, với các loại cây như: cà gai leo, kim ngân hoa, dây thìa canh, đinh lăng, giảo cổ lam... bước đầu tạo dựng, cánh đồng dược liệu phát triển tốt, đến thời kỳ cho thu hoạch. Hiện nay các sản phẩm trà dược liệu đang được xây dựng nhãn hiệu. Ngoài ra, với diện tích đất rừng lớn, Con Cuông rất có tiềm năng để phát triển các loại cây dược liệu dưới tán rừng với các loại như mạch môn, sa nhân, giảo cổ lam, hà thủ ô, đinh lăng, chè hoa vàng,...

- Rượu men lá Con Cuông: là một sản phẩm truyền thống, thuộc tri thức dân gian, mang đậm nét văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Thái. Bí quyết làm nên sự độc đáo về hương vị của rượu men lá trước hết là men ủ rượu. Men lá được ủ lên từ 12 loại thảo dược tự nhiên, được pha trộn theo một công thức nhất định, trong đó có những thảo dược không thể thay thế, như: Củ cao khỉ, cây thán máu, củ khúc khắc… Các thảo dược dùng để làm men đều có tác dụng thanh nhiệt, giải độc tố, phục hồi sức khỏe.

Với quy mô hiện nay trên địa bàn huyện sản xuất rượu men lá khoảng 16.000 lít đến 18.000 lít/1 năm.

- Dệt thổ cẩm: Đồng bào huyện Con Cuông có trên 75% là đồng bào các dân tộc thiểu số, do vậy dệt thổ cẩm là một trong những nghề truyền thống đặc trưng và đa dạng về mẫu mã sản phẩm.

- Các sản phẩm từ cam: Nhằm đa dạng về sản phẩm cam quả, UBND huyện đã phối hợp với tổ chức Jica của Nhật Bản hỗ trợ một số hộ dân tại bản Pha - xã Yên Khê để sản xuất một số sản phẩm từ cam như: mứt cam, tinh dầu cam, rượu cam, xà phòng cam, xiro cam… và đã được thị trường ưa chuộng; qua đó góp phần nâng cao thu nhập cho các hộ trồng cam trên địa bàn huyện.

- Rượu cần Mậu Đức: là một sản phẩm truyền thống, thuộc tri thức dân gian, mang đậm nét văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Thái. Nguyên liệu làm rượu cũng chỉ là những loại ngũ cốc thông thường... song bí quyết chính là ở chất gây men. Chất gây men được làm từ lá rừng và thường được giữ kín, không tiết lộ cho người ngoài tộc.

- Các sản phẩm mây tre đan: Nghề mây tre đan có từ lâu đời, gắn với quá trình hình thành và phát triển sản xuất của nhân dân huyện nhà và được đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện giữ gìn và phát triển. Hiện nay trên địa bàn huyện có 01 làng nghề mây tre đan bản Diềm - xã Châu Khê, được UBND tỉnh chính thức công nhận là làng nghề truyền thống. Người dân nơi đây đã làm ra những sản phẩm mỹ nghệ phong phú từ mây tre đan như: đồ vật trang trí, đĩa, khay, lọ hoa, chao đèn, rèm cửa, bàn ghế, tranh chân dung, phong cảnh, hoành phi, câu đối, nhạc cụ dân tộc… Các sản phẩm mây tre đan bản Diềm được giới thiệu, quảng bá tại các triển lãm, hội chợ trong và ngoài tỉnh, đến nay các sản phẩm được tiêu thụ trong nước và nước ngoài (Nhật, Đức).

2. Nhu cầu và khả năng trở thành hàng hoá của các sản phẩm đặc sản

Trên địa bàn huyện hiện nay có một số sản phẩm phát triển được thị trường chấp nhận và có khả năng mở rộng đó là: Cam quả, các sản phẩm từ cam (mứt cam, tinh dầu cam, rượu cam, xà phòng cam…); trà dược liệu (cà gai leo, đinh lăng, giảo cổ lam, dây thìa canh...); rượu cần… Từ thực tế đó, UBND huyện Con Cuông đã cùng với Sở Khoa học và Công nghệ xây dựng nhãn hiệu cho các sản phẩm, cụ thể:

- Năm 2017, xây dựng nhãn hiệu tập thể: "Cam Con Cuông" và được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam công nhận tại Quyết định số 81120/QĐ-SHTT ngày 12/11/2018.

- Năm 2018, xây dựng nhãn hiệu chứng nhận: "Rượu men lá Con Cuông", hiện đã được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam chấp nhận đơn.

- Sản phẩm trà dược liệu Pù Mát (cà gai leo, đinh lăng, giảo cổ lam, dây thìa canh...), được Bộ Y tế cấp giấy chứng nhận đảm bảo chất lượng và các sản phẩm trà dược liệu được tiêu thụ trên thị trường. Hiện hồ sơ đang gửi Cục Sở hữu trí tuệ xây dựng nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm trà dược liệu Pù Mát.

Ngoài ra, các hợp tác xã, doanh nghiệp và các hộ dân trên địa bàn đã mạnh dạn ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất theo tiêu chuẩn Vietgap và xây dựng tem truy xuất nguồn gốc. Mặt khác, UBND huyện thường xuyên giới thiệu, quảng bá các sản phẩm tại các hội chợ, triển lãm trong và ngoài tỉnh, qua đó tìm thị trường để phát triển sản phẩm. 

3. Một số giải pháp phát triển các đặc sản, sản phẩm truyền thống thành hàng hoá

Một là: Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, quy trình sản xuất tiên tiến và công nghệ bảo quản sau thu hoạch và áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn quản lý chất lượng như: mã số mã vạch, tem truy xuất nguồn gốc, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm.

Hai là, hỗ trợ, khuyến khích và tạo điều kiện để các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phát triển thương hiệu sản phẩm, công bố chất lượng... để có thể thâm nhập vào các kênh phân phối hiện đại.

Ba là, xây dựng chính sách khuyến khích, hỗ trợ xây dựng liên kết bốn nhà "nhà sản xuất - nhà doanh nghiệp - nhà nước - nhà khoa học", qua đó để sản xuất theo chuỗi giá trị từ nghiên cứu - ứng dụng - sản xuất - phân phối tới tiêu dùng.

Bốn là, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phát triển thị trường trong nước gắn với Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam". Tăng cường các hoạt động thông tin, hỗ trợ kết nối, tạo điều kiện thuận lợi để sản phẩm, hàng hóa địa phương tham gia vào các kênh phân phối của địa phương.

Năm là, thu hút, mời gọi doanh nghiệp, các tập đoàn lớn vào làm đầu mối thu mua để phân phối, bán lẻ các sản phẩm của địa phương tại các thị trường tiềm năng.

Sáu là, tiếp tục triển khai xây dựng thực hiện chương trình điểm trưng bày và giới thiệu sản phẩm mỗi phường xã một sản phẩm OCOP gắn với các điểm du lịch, nhằm quảng bá, giới thiệu, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm đặc trưng của Con Cuông đến với khách hàng cũng như các đơn vị phân phối trong và ngoài nước.

Các đặc sản, sản phẩm truyền thống của huyện Con Cuông đã và đang phát huy hiệu quả tốt trong phát triển kinh tế của huyện nhà. Để các sản phẩm của huyện có thể vươn xa ra khỏi huyện, huyện mong muốn nhận được sự hỗ trợ trong xây dựng nhãn hiệu như: "rượu cần Con Cuông" và "Dệt thổ cẩm Con Cuông". Hy vọng với sự hỗ trợ của các cơ quan ban ngành, trong thời gian tới, các sản phẩm đặc sản của huyện Con Cuông sẽ được bảo tồn và ngày càng phát triển với thương hiệu riêng của m

Nguyễn Đức Hiển

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, ngành sản xuất các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, tiêu dùng nội địa, xuất khẩu tại chỗ. Du lịch phát triển đồng nghĩa với sự tác động tích cực cho sự phát triển của nhiều ngành khác như: Công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, thương mại… đồng thời tạo nhiều việc làm cho xã hội, góp phần xóa đói, giảm nghèo và làm giàu cho nhiều đối tượng trong xã hội; Góp phần bảo vệ và khai thác một cách tích cực bền vững tài nguyên thiên nhiên và môi trường.

Trong những năm qua, Du lịch Nghệ An đang phát triển mạnh, năm 2018 lượng khách du lịch tại Nghệ An đạt hơn 5 triệu lượt khách, trong đó khách du lịch lưu trú nội địa là 2 triệu lượt khách, khách quốc tế lưu trú đạt 150 ngàn lượt khách. Để đáp ứng được nhu cầu tham quan nghỉ dưỡng đi lại của lượng khách du lịch lớn như vậy, vai trò của các cơ sở du lịch là vô cùng quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng và mua sắm, tiêu thụ các đặc sản, sản phẩm địa phương của du khách trong và ngoài nước.

Các cơ sở du lịch bao gồm các nhà hàng, khách sạn, cửa hàng lưu niệm mỹ nghệ, cửa hàng bán đặc sản, sản phẩm, các công ty du lịch lữ hành nội địa và quốc tế đưa đón khách tham quan, nghỉ mát, mua sắm. Các cơ sở du lịch này là nơi sản xuất cung cấp đến du khách các đặc sản và sản phẩm tại Nghệ An.

Các sản phẩm, đặc sản:

+ Sản phẩm lưu niệm mỹ nghệ: Mây tre đan (Nghi Phong), thổ cẩm dân tộc Thái (miền Tây xứ Nghệ), đồ lưu niệm mỹ nghệ biển, các sản phẩm của các làng nghề như đúc đồng (Diễn Tháp), đất nung, nồi đất (Trù Sơn)…

+ Sản phẩm văn hóa phi vật thể: Dân ca ví giặm, ca trù, văn hóa cộng đồng, các điệu múa xòe dân tộc Thái, múa Lăm Vông,…

- Đặc sản Nghệ An như: Lươn xứ Nghệ (miến lươn, cháo lươn, xúp lươn…), tương Nam Đàn, nhút Thanh Chương, cam Vinh, dê Cầu Đòn, bê Nam Nghĩa, kẹo cu đơ, bánh đa Diễn Châu. Hải sản biển Nghệ An (tôm, cá, mực Cửa Lò, Diễn Châu, Quỳnh Lưu…), nước mắm Vạn Phần. Trong đó món đặc sản lươn xứ Nghệ được xếp vào 12 món ăn đặc sản của Việt Nam thương hiệu châu Á; cam Vinh và hải sản Nghệ An nổi tiếng trong và ngoài nước bởi vị thơm ngon, hợp khẩu vị.

Như vậy phải nói các sản phẩm đặc sản Nghệ An rất đa dạng và phong phú, bước đầu đã có giá trị thương hiệu mang tầm quốc gia và khu vực. Những đặc sản, sản phẩm này thực sự có chất lượng giá trị dinh dưỡng cao, được du khách ưa thích, một số đã được xuất khẩu sang châu Âu và các nước phát triển khác. Tuy nhiên việc xây dựng thương hiệu sản phẩm và đặc sản mang tính đặc trưng văn hóa Nghệ An thì chưa đạt yêu cầu so với tiềm năng, chưa khai thác hết tiềm năng và lợi thế. Các sản phẩm đặc sản Nghệ An còn nằm trong tình trạng: quá trình xây dựng thương hiệu sản xuất, quy trình sản xuất đóng gói… và các giải pháp phát triển sản phẩm chưa đạt đến cấp độ thương hiệu vùng và khu vực. Vai trò của các cấp, các ngành chưa thực sự rõ nét và hiệu quả; vai trò của các tổ chức, cơ sở du lịch còn mang tính tự phát, thiếu chuyên nghiệp, thiếu tầm nhìn, chưa thực sự thổi "hồn" vào sản phẩm, đặc sản để kết nối và làm "đại sứ" cho những sản phẩm đặc sản của Nghệ An đến du khách trong và ngoài nước. Vì vậy để những sản phẩm, đặc sản Nghệ An thực sự mang tính thương hiệu mạnh, đảm bảo mức tiêu thụ mạnh và hiệu quả kinh tế cao, đòi hỏi sự quan tâm và vào cuộc của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, có các giải pháp tầm vĩ mô, có quy hoạch và kế hoạch mang tầm chiến lược. Thông qua việc tổ chức các cuộc thi sáng tạo sản phẩm, hội chợ thương mại và giới thiệu ở các hội chợ triển lãm tầm Quốc gia và khu vực, cũng như công tác quảng bá, xúc tiến cho các đặc sản, sản phẩm đó.

Ở Nghệ An, hiện nay có hàng trăm khách sạn từ 1 sao đến 5 sao, hàng ngàn nhà hàng, cửa hàng, trung tâm mua sắm, là nơi các du khách trực tiếp sử dụng dịch vụ và trực tiếp mua sắm các sản phẩm đặc sản xứ Nghệ. Ngoài ra tại Nghệ An có hơn 100 doanh nghiệp là lữ hành quốc tế và nội địa, chưa kể có rất nhiều công ty lữ hành trong nước trực tiếp đưa khách đến tham quan, nghỉ dưỡng tại Nghệ An nên có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình là cầu nối giới thiệu và thực sự là "sứ giả" của các đặc sản, sản phẩm và nhu cầu mua sắm tiêu thụ của du khách.

Các cơ sở sản xuất ra sản phẩm, đặc sản:

 Hiện tại các cơ sở làng nghề có quy mô sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ, manh mún, công nghệ thiết bị lạc hậu, thu nhập từ nghề còn thấp, thiếu thợ giỏi, thị trường không ổn định. Xuất khẩu thấp, sản phẩm chưa có thương hiệu mạnh. Sản phẩm lưu niệm phục vụ khách du lịch còn quá nghèo, thiếu tính đặc thù, tính độc đáo và thiếu tính cạnh tranh kể cả quy mô và chất lượng, chưa tạo được sự hấp dẫn thực sự cho du khách.

Vì vậy các cơ sở phải phối hợp cùng với các cơ quan chức năng, các đơn vị lữ hành, các chuyên gia, nhà khoa học để tiến hành rà soát thống kê, đánh giá một cách khoa học và đảm bảo tính thực tế, đánh giá đúng bản chất cấp độ nổi trội, tính đặc sản, khác biệt và độc đáo. Đánh giá đúng giá trị thực của sản phẩm, đặc sản. Đối tượng tham gia, đánh giá là các chuyên gia, các nhà quản lý, những nghệ nhân, các hãng lữ hành và một số báo và nhà báo có uy tín. Từ đó, liệt kê sản phẩm, đặc sản có tính nổi trội, đặc sắc nhất đưa vào danh mục cần tập trung đầu tư phát triển theo quy mô phù hợp với nhu cầu du khách trong và ngoài nước.

Các cơ sở sản xuất cần được sự hướng dẫn giúp đỡ của các cấp, các ngành liên quan chọn lựa sản phẩm, đặc sản để đăng kí bản quyền và sở hữu thương hiệu.

Các sản phẩm, đặc sản cần được rà soát lại chất lượng, mẫu mã, thiết kế sản phẩm (lưu niệm mỹ nghệ) phù hợp với nhu cầu sử dụng và vận chuyển mang theo của du khách như: gọn nhẹ, tránh thiết kế sản phẩm cồng kềnh, dễ vỡ, dễ gãy, dễ hư hỏng. Đặc biệt khâu bao bì, hộp đựng phải bắt mắt, túi đựng đóng gói phải chuyên nghiệp, tiện lợi, dễ gấp có thể mang đi xa được (kể cả bằng đường bộ và đường hàng không)….

Các cơ sở du lịch

Các cửa hàng, quầy hàng lưu niệm mỹ nghệ, quầy bán đặc sản nên tập trung quy hoạch ở các trung tâm du lịch, các điểm du lịch và tại các làng nghề. Người bán hàng phải có kỹ năng bán hàng, am hiểu sản phẩm, đặc sản để có thể thuyết trình, giới thiệu một cách ngắn gọn, thành thục về tác dụng, chất lượng, điểm ưu việt nổi trội của đặc sản, sản phẩm cho du khách bằng tiếng Việt và bằng tiếng Anh (đối với khách nước ngoài).

Các khách sạn, nhà hàng là nơi du khách lưu lại sử dụng dịch vụ nên du khách thường kết hợp tranh thủ mua sắm, vì vậy các cơ sở này cần liên kết chặt chẽ làm đại lý sản phẩm, đặc sản cho các cơ sở sản xuất, dành những nơi có vị trí thuận tiện, dễ thấy, trang trí trưng bày bắt mắt để du khách nghỉ tại khách sạn có thể nhìn thấy ngay. Các nhân viên khách sạn như: lễ tân, nhân viên bán hàng sản phẩm, đặc sản phải được tập huấn để có kiến thức am hiểu, có kỹ năng bán hàng chuyên nghiệp, giới thiệu lưu loát, hấp dẫn, thuyết phục khách hàng…

Ban lãnh đạo, phòng marketing khách sạn phải liên kết với các cơ sở sản xuất để có các chương trình trao thưởng cho du khách  thông qua phát hành các voucher đối với từng sản phẩm, đặc sản. Đối với các khách hàng sử dụng dịch vụ lưu trú, ẩm thực tại khách sạn, đặc biệt nghỉ dài ngày hoặc các chương trình hội nghị khách hàng lớn thì khách sạn làm việc với chủ trì hoặc ban tổ chức, hội nghị để có chính sách ưu đãi khuyến mãi cho hội nghị mua làm quà cho các đại biểu dự hội nghị hoặc tặng cho ban tổ chức, trưởng đoàn khi kết thúc hội nghị, nhất là các hội nghị du lịch MICE (tham quan kết hợp trao thưởng cho cán bộ công nhân viên).

Các khách sạn hàng năm tổ chức đi sales marketing… ở các bộ, ngành, tổng công ty lớn, các công ty du lịch, các hãng lữ hành ở các vùng, địa phương khác trong và ngoài nước thì cần thiết đưa sản phẩm, đặc sản làm quà tặng để giới thiệu quảng bá, xúc tiến.

Các công ty du lịch có vai trò rất quan trọng vì có các hướng dẫn viên du lịch là nhân tố thường xuyên tổ chức, đưa khách đi tham quan suốt tuyến du lịch trong tỉnh nên rất thuận tiện cho việc giới thiệu thuyết minh các sản phẩm, đặc sản vùng địa phương cho du khách. Hướng dẫn này phải am hiểu về các sản phẩm đặc sản: từ nguyên liệu, quy trình chế biến sản xuất, tính ưu việt nổi trội của sản phẩm để giới thiệu, làm cho khách hàng có cảm nhận tốt và hứng khởi mua sắm những sản phẩm đặc sản này. Vì đối với du khách ngoài nhu cầu tham quan nghỉ dưỡng, ăn uống thì nhu cầu mua sắm sản phẩm đặc trưng, đặc sản nơi mình đã đến  làm quà cho người thân gia đình và bạn bè là rất cao.

Các công ty du lịch phải chủ động xây dựng chương trình tour trọn gói (trong giá tour) có một số sản phẩm đặc sản làm tặng thưởng kèm theo cho du khách sau khi kết thúc tour du lịch.

Các công ty du lịch cần  phối hợp với các cơ sở sản xuất sản phẩm, đặc sản, nhận đại lí các sản phẩm để hướng dẫn viên thuyết minh, giới thiệu cho du khách trên xe du lịch trong quá trình tác nghiệp. Hướng dẫn viên cần phải dành một thời lượng để giới thiệu về sản phẩm, đặc sản địa phương mà đoàn chuẩn bị tới (hoặc dừng nghỉ chân) tham quan, lưu trú. Ngoài ra, các hướng dẫn viên cần giới thiệu các sản phẩm, đặc sản của các vùng khác trong tỉnh mà khách không có lịch trình tham quan và mua sắm ở đó, bởi vì không phải khách du lịch đến mua tất cả sản phẩm, đặc sản mà họ chỉ chọn lọc và mua một vài loại, còn các sản phẩm, đặc sản khác thì hướng dẫn viên phải giới thiệu, thuyết minh cho khách biết… đó cũng là nhu cầu tìm hiểu, khám phá văn hóa, sản phẩm vùng miền của hầu hết du khách khi tham gia tour du lịch.

Các công ty du lịch cũng cần phối hợp với các cơ sở sản xuất in ấn và phát các phiếu thăm dò về sản phẩm, đặc sản Nghệ An cho khách đánh giá, phản hồi về chất lượng sản phẩm hình thức, mẫu mã, nhu cầu và sở thích theo các mức độ: rất thích, thích, không ưa thích; hoặc chất lượng theo mức độ: tốt, khá, trung bình, kém. Từ đó tổng hợp được các thông tin cần thiết chuyển đến các cơ sở sản xuất để có phương án, kế hoạch điều chỉnh nhằm đảm bảo phù hợp với nhu cầu thị hiếu thực của du khách và hiệu quả trong kinh doanh.

Ngoài ra, các cơ sở du lịch cần phối hợp với các cơ sở sản xuất sản phẩm, đặc sản đề xuất với các cơ quan sở ngành, tổ chức hiệp hội (Hiệp hội du lịch, Hiệp hội báo, Hiệp hội doanh nghiệp khác, các sở ngành liên quan…), để tổ chức các cuộc thi sáng tác, triển lãm các sản phẩm, đặc sản, từ đó chọn lựa những sản phẩm, đặc sản được đánh giá cao nhất, nổi trội nhất để tham gia các cuộc thi, triển lãm đặc sắc nhất ở cấp quốc gia và quốc tế. Từ đó có kế hoạch sản xuất đồng loạt các sản phẩm, đặc sản để triển khai giới thiệu và bán hàng đến tận tay du khách.

Một giải pháp mang tính hiệu quả trong công tác xúc tiến, quảng bá sản phẩm và đặc sản địa phương, là các công ty du lịch bố trí cho hướng dẫn viên phối hợp với chủ cơ sở sản xuất làng nghề, tổ chức cho du khách trải nghiệm thực tế, đó là bố trí cho du khách tham gia thử nghiệm, trực tiếp sản xuất, tham gia tác nghiệp vào một số công đoạn, dây chuyền trong quá trình sản xuất chế biến, từ đó mới tạo ra được ấn tượng và cảm giác hấp dẫn, hứng khởi cho du khách. Kết thúc tour tham quan, trải nghiệm này du khách sẽ được tặng phần quà là các sản phẩm mà mình trực tiếp tham gia một công đoạn chế biến, chế tác sản phẩm.

 

Lê Văn Khánh

Nghệ An là vùng đất có lịch sử định cư lâu đời, có diện tích lớn nhất Việt Nam, đa dạng về địa hình và khí hậu nên phong phú về sinh vật và sản vật. Điều này, tạo nên cho tỉnh ta nhiều sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương có danh tiếng trong khắp cả nước. Tuy nhiên, giai đoạn trước đây, các sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương chưa được quan tâm nên chưa có nhiều sản phẩm phát triển thành hàng hóa.

Nhằm mục tiêu hướng đến sản phẩm cụ thể, dựa trên định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An, Sở Khoa học và Công nghệ đã xây dựng Chương phát triển 100 sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương giai đoạn 2015 - 2020 (Quyết định số 1408QĐ-UBND, ngày 4/4/2016 của UBND tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển KH&CN tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015-2020, tính đến 2030). Qua 4 năm triển khai thực hiện Chương trình, bước đầu đã đạt được những kết quả hết sức khả quan. Tuy nhiên, để phát triển sản phẩm truyền thống và đặc sản của địa phương thành hàng hóa có giá trị và sức cạnh tranh cao trên thị trường thì cần tiếp tục có định hướng và giải pháp phù hợp cho các giai đoạn tiếp theo.

1. Kết quả đạt được

Trong giai đoạn 2015 - 2019, Sở Khoa học và Công nghệ đã hướng dẫn các huyện, thị xã và thành phố Vinh (sau đây gọi chung là các huyện) đăng ký, đề xuất các sản phẩm. Trên cơ sở đề xuất và bổ sung hàng năm của các huyện, đến nay đã xác định trên địa bàn Nghệ An có 159 sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương có thể phát triển thành sản phẩm hàng hóa. Trong số này, có 84 sản phẩm chế biến và 75 sản phẩm cây trồng, vật nuôi.

Bên cạnh đó, Sở KH&CN cũng đã hỗ trợ thực hiện trên 10 đề tài, dự án để sản xuất (nuôi trồng), chế biến và phát triển sản phẩm (2 dự án cho quả trám đen, 2 dự án cho cây rễ hương, 1 dự án cho cây trà hoa vàng, 1 dự án cho xoài bản địa Tương Dương, 1 dự án cho hồng Nam Đàn, 1 dự án cho bưởi hồng Quang Tiến, 2 dự án phát triển gà Thanh Chương,...); 22 mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất và đời sống (thuộc Nhiệm vụ quản lý hoạt động KH&CN các huyện hàng năm) và 9 dự án KH&CN để xây dựng nhãn hiệu,  quản lý, khai thác và phát triển thương hiệu của các sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương; Tổ chức trên 50 lớp tập huấn về sở hữu trí tuệ, quản lý chất lượng sản phẩm.

Có thể nói, qua thực hiện Chương trình 100 sản phẩm, ý thức của người dân và chính quyền được đổi mới và nâng lên, đặc biệt là tư duy phát triển sản phẩm hàng hóa. Chính quyền có ý thức trong việc thành lập, hỗ trợ hoạt động của các mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh (hợp tác xã, các hội, doanh nghiệp); quan tâm nhiều đến quản lý chất lượng sản phẩm, xây dựng và phát triển nhãn hiệu; người dân có ý thức trong việc tham gia các tổ chức sản xuất kinh doanh; xây dựng bảo vệ chất lượng, thương hiệu sản phẩm; phối hợp giúp đỡ nhau để cùng sản xuất kinh doanh tốt hơn, có hiệu quả cao hơn. Trong giai đoạn này, một số huyện đã đầu tư kinh phí để phát triển sản phẩm như: huyện Anh Sơn (hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu chứng nhận chè Gay Anh Sơn), thị xã Thái Hòa (hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu tập thể tinh bột Thái Hòa, chế biến mật mía Nam Cường), huyện Tân Kỳ (hỗ trợ xây dựng và phát triển nhãn hiệu và sản phẩm dê Tân Kỳ), thị xã Hoàng Mai (hỗ trợ phát triển sản phẩm tinh bột nghệ, cá thu Hoàng Mai), huyện Con Cuông (xây dựng nhãn hiệu chứng nhận rượu men lá, nhãn hiệu tập thể cam)...

Bằng việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương, hiện toàn tỉnh Nghệ An có trên 30 mô hình tổ chức sản xuất được hình thành, trong đó hợp tác xã chiếm chủ yếu. Một số hợp tác xã hoạt động có quy củ và hiệu quả như: tinh bột Thái Hòa, gà Phủ Diễn, rượu nếp truyền thống Hưng Tân, miến gạo bánh đa Quy Chính, bưởi Hồng Quang Tiến,... Bên cạnh đó, còn hình thành các Hội (sản xuất và kinh doanh gà Thanh Chương, mực khô Quỳnh Lưu,..). Cũng trong giai đoạn này, còn có mô hình liên kết của các hộ sản xuất kinh doanh cá thể của sản phẩm cá thu nướng Cửa Lò, tôm nõn Diễn Châu; một doanh nghiệp (Công ty CP dược liệu Pù Mát) nằm trong hợp tác xã; mô hình liên kết cả nông dân, trang trại và doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh trà hoa vàng Quế Phong,..

Từ công tác đó, nhiều sản phẩm được xây dựng nhãn hiệu, cụ thể: xây dựng nhãn hiệu cho hơn 40 sản phẩm, trong đó có 22 nhãn hiệu tập thể; 9 nhãn hiệu chứng nhận, 1 chỉ dẫn địa lý (gừng Kỳ Sơn) và trên 10 nhãn hiệu hàng hóa của sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương. Chế biến được một số sản phẩm như: trà nhân trần Quang Phong (Quế Phong), quả cọ, trám đen (Thanh Chương), trà gạo thảo dược (Yên Thành), hương trầm Quỳ Châu, một số sản phẩm từ quả cam (Quỳ Hợp), sản xuất tinh dầu rễ hương, quế (Quỳ Châu), dầu lạc (Nam Đàn)... Thông qua hoạt động chế biến, nhiều sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương đã phát triển trở thành hàng hóa lưu thông trên thị trường. Ngoài ra, còn tạo ra nhiều sản phẩm có nhãn hiệu, có phân tích công bố chất lượng, có truy xuất nguồn gốc đảm bảo lưu thông có sức cạnh tranh cao trên thị trường. Điển hình như: gà Phủ Diễn, gà Thanh Chương, trà hoa vàng Quế Phong, trám đen Thanh Chương, rượu men lá Con Cuông,...

Một số sản phẩm được tác động theo chuỗi bằng các nhiệm vụ KH&CN đã tạo ra hàng hóa có quy mô lớn, đảm bảo chất lượng, có nhãn hiệu, thương hiệu được tổ chức sản xuất kinh doanh tốt có lợi nhuận lớn, đã tiêu thụ ở nhiều địa phương trong nước, điển hình như: gà Thanh Chương đã tiêu thụ trên 70.000 kg với doanh thu trên 7,5 tỷ đồng/năm, tăng lợi nhuận lên từ 15 - 20%; hương trầm Quỳ Châu đạt trên 64 triệu que với doanh thu gần 30 tỷ đồng, tăng lợi nhuận 20 - 25%; doanh thu từ các sản phẩm chế biến từ quả trám đen trong năm đầu tiên đạt gần 1,0 tỷ, năm thứ 2 trên 2,0 tỷ đồng, lợi nhuận 25 - 30%; doanh thu từ các sản phẩm của trà hoa vàng Quế Phong đạt trên 2,0 tỷ đồng/năm, lợi nhuận trên 30%.

Trong giai đoạn 2015 - 2019, KH&CN đã tác động tạo ra nhiều sản phẩm trong số 35 sản phẩm trọng điểm để phục vụ khách du lịch, cụ thể: tinh bột Nghệ (Thái Hòa, Tương Dương, Hoàng Mai), bột sắn dây (Nam Đàn), hương trầm (Quỳ Châu), nước mắm (Vạn Phần - Diễn Châu; Tân An - Hoàng Mai; Làng nghề chế biến hải sản khối 7 Nghi Thủy - thị xã Cửa Lò); mật ong Tây Hiếu; trà hoa vàng Quế Phong; rượu men lá Con Cuông, cà gai leo, dây thìa canh, giảo cổ lam (Con Cuông); dầu lạc (Nam Đàn, Hưng Nguyên), tôm nõn (Diễn Châu), mực khô (Quỳnh Lưu), cá thu nướng (Cửa Lò).

Nhìn chung, qua 4 năm thực hiện Chương trình phát triển 100 sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương, bước đầu đã định hình và lựa chọn được các sản phẩm cần tác động; có các bước đi, phương thức tác động và hỗ trợ phù hợp cho từng sản phẩm. Ý thức người dân và chính quyền được nâng lên, hình thành và củng cố nhiều mô hình tổ chức sản xuất có hiệu quả. Nhiều sản phẩm hàng hóa được hình thành, được xây dựng nhãn hiệu. Trong đó, có không ít sản phẩm được phân tích, công bố chất lượng, truy xuất được nguồn gốc. Một số sản phẩm có doanh thu và lợi nhuận lớn đã nâng tầm thương hiệu địa phương, thương hiệu Nghệ An, đóng góp vào phát triển du lịch.

2. Một số hạn chế và nguyên nhân

Trong thời gian qua, việc phát triển sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương được nâng lên ở một số bộ phận người dân và các cấp chính quyền, tuy nhiên việc lựa chọn sản phẩm, định hướng xây dựng và phát triển sản phẩm nhìn chung chưa đồng bộ. Có thể nói, hầu hết các huyện chưa đặt được mục tiêu cụ thể phát triển cho một vài sản phẩm cốt lõi, phần lớn các địa phương đều thực hiện dàn trải, phân tán. Việc đầu tư, hỗ trợ xây dựng nhiều mô hình nhưng cho nhiều sản phẩm chứ không ưu tiên thực hiện nhiều mô hình cho một sản phẩm cụ thể theo nhiều hướng khác nhau để có sự tác động đồng bộ nhằm tạo ra sản phẩm cuối cùng; một số khâu, nội dung trong xây dựng và phát triển sản phẩm được thực hiện bởi ý chí chủ quan của các cơ quan quản lý nhà nước chứ chưa xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nên dù đạt kết quả tốt nhưng không được áp dụng và nhân rộng.

Bên cạnh đó, năng lực của các tổ chức sản xuất và kinh doanh còn hạn chế. Nhiều hợp tác xã, hội và doanh nghiệp được thành lập nhưng phần lớn để hợp thức hóa các thủ tục đăng ký về sở hữu trí tuệ hoặc thủ tục sản xuất kinh doanh chứ chưa đóng vai trò thực chất nòng cốt trong tổ chức sản xuất và kinh doanh. Năng lực để tổ chức sản xuất, kết nối, phát triển thị trường còn hạn chế. Điều này cũng có nguyên nhân từ năng lực tài chính, con người, KH&CN của các tổ chức này còn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn sản xuất và kinh doanh.

Các sản phẩm tác động chưa đồng bộ đến các khâu. Vấn đề này, có nguyên nhân chính là kinh phí hạn chế, chưa có tổ chức dẫn dắt phát triển. Trong giai đoạn vừa qua, mặc dù đã có nhiều địa phương quan tâm hỗ trợ kinh phí để phát triển sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương nhưng nhìn chung nguồn lực còn chưa nhiều. Ngân sách KH&CN dành cho xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN trên địa bàn các huyện chỉ 60 - 90 triệu đồng/ mô hình, bởi vậy nhiều sản phẩm tác động đơn lẻ, từng năm một, không tác động mang tính đồng bộ để tạo ra sản phẩm cuối cùng.

Cũng trong giai đoạn này, có ít sản phẩm được chế biến, sản phẩm còn đơn điệu, chưa đa dạng và quy mô nhìn chung còn nhỏ lẻ. Một số có thể sản xuất quy mô lớn nhưng do chưa có năng lực quản lý, khai thác nhãn hiệu, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm, tạo lập thị trường nên hạn chế chưa phát triển được.

3. Định hướng và giải pháp

Trong thời gian qua, KH&CN đã có tác động cần thiết, dần lựa chọn sản phẩm, các hướng tác động phù hợp nhằm tạo ra sản phẩm có thể sản xuất và kinh doanh. Tuy nhiên, để tiếp tục duy trì, nhân rộng và phát triển thì các huyện cần đưa vào nhân rộng trong chương trình OCOP. Để thực hiện có hiệu quả cần căn cứ theo kế hoạch cũng như khả năng của địa phương xây dựng lộ trình và hướng đi phù hợp.

- Phát triển đặc sản vùng miền: Trong giai đoạn 3 - 5 năm chỉ lựa chọn, tập trung phát triển một số sản phẩm (3 - 7 sản phẩm) có thế mạnh của địa phương. Cần tập trung và kiên trì thực hiện nhiều mô hình theo chuỗi giá trị cho một số sản phẩm ưu tiên; có các chính sách cụ thể cho từng sản phẩm. Các huyện cần ưu tiên và huy động, tập trung nguồn lực hơn nữa trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu để phát triển một số sản phẩm cho "ra tấm, ra miếng" nhằm phát huy tối đa thế mạnh của địa phương.

- Các khâu tác động theo nhóm đối tượng:

+ Đối tượng chưa được biết đến: cần có tiếp tục điều tra, khảo sát nhằm phát hiện, lựa chọn thêm các sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương để nghiên cứu đánh giá đặc điểm, đặc tính; bảo tồn, khoanh nuôi bảo vệ, khai thác hợp lý. Sau đó, tiếp tục nghiên cứu các hướng tác động, hỗ trợ phù hợp để sản xuất thành hàng hóa.

+ Đối với sản phẩm đã được tác động để nuôi, trồng: tiếp tục mở rộng sản xuất đủ quy mô để chế biến, hỗ trợ trong khâu chế biến để sản phẩm trở thành hàng hóa.

+ Các sản phẩm đã được sản xuất, chế biến: hỗ trợ trong phân tích chất lượng, xây dựng nhãn hiệu. Sau đó, có các hỗ trợ để quản lý chất lượng, nhãn hiệu và phát triển thương hiệu sản phẩm.

+ Các sản phẩm có thị trường: cần ưu tiên các doanh nghiệp, hợp tác xã trong việc thực hiện các nhiệm vụ để các tổ chức cung ứng đầu vào và bao tiêu đầu ra, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm. Trong đó, ưu tiên hỗ trợ chế biến để đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng và phát triển thương hiệu sản phẩm.

- Tác động theo chuỗi: một số sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương có tiềm năng phát triển thành hàng hóa có giá trị cao thì cần tác động theo chuỗi để ra sản phẩm cuối cùng. Hướng tác động chủ yếu từ khâu nghiên cứu bảo tồn, đánh giá đặc điểm - đặc tính, hỗ trợ nhân giống, nuôi trồng, chế biến, phân tích chất lượng, xây dựng nhãn hiệu, quản lý và phát triển thương hiệu sản phẩm bằng các đề tài, dự án, mô hình để hỗ trợ xây dựng phát triển các sản phẩm. Tuy nhiên, không phải tất cả các sản phẩm đều thực hiện đầy đủ các khâu mà trong quá trình thực hiện cần căn cứ theo từng đối tượng cụ thể để tác động theo từng khâu cần thiết và còn yếu kém.

- Tăng cường công tác quảng bá sản phẩm: Tăng cường tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại; đầu tư kinh phí cho việc giới thiệu về chất lượng, tác dụng của sản phẩm; quảng bá, giới thiệu sản phẩm thông qua website, các trang mạng xã hội; làm tờ rơi, pano tấm lớn giới thiệu về các sản phẩm của hợp tác xã, doanh nghiệp, làng nghề,... Đồng thời, ứng dụng mạnh mẽ thương mại điện tử vào hoạt động sản xuất, áp dụng các phương thức kinh doanh tiên tiến,...

- Xây dựng kế hoạch, quy hoạch và chính sách: Căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, kế hoạch của chương trình OCOP, các huyện cần có kế hoạch để xây dựng và phát triển cụ thể. Bên cạnh đó, cũng cần có quy hoạch trong phát triển nguyên liệu, sản phẩm; chính sách hỗ trợ một số khâu nhất định (như giống, chế biến, xây dựng nhãn hiệu) nhằm khuyến khích tổ chức sản xuất và kinh doanh các sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương.

 

Nguyễn Đình Anh

Qua đề thi môn Ngữ văn kỳ thi THPT Quốc gia năm 2019 chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến nhận xét và đề nghị về việc ra đề, biên soạn sách giáo khoa, phương pháp dạy học môn Ngữ văn phổ thông theo chương trình giáo dục phổ thông mới và việc phát triển văn hóa đọc như sau:

Về chất lượng đề thi: Bỏ qua một ít phân vân khi ai đó có sự cảm nhận đoạn trích bài thơ "Trước biển" của nhà thơ Vũ Quần Phương có nội dung ngoài ý muốn của người ra đề thì chúng tôi vẫn cho rằng đề thi môn Ngữ văn kỳ thi THPT Quốc gia năm 2019 là một đề thi vừa sức học sinh nhưng lại có tính phân hóa cao, đáp ứng cả 2 yêu cầu để vừa công nhận tốt nghiệp vừa lấy kết quả xét tuyển vào cao đẳng, đại học. Học sinh học mức trung bình có thể làm được bài đủ điều kiện để tốt nghiệp THPT và những học sinh có năng lực cảm thụ văn học và có sự hiểu biết kỹ lưỡng những kiến thức cơ bản về tiếng Việt thì sẽ đạt điểm cao để dự tuyển vào cao đẳng, đại học.  

Vì sao chúng tôi dám đưa ra nhận định trên? Bởi đề thi THPT Quốc gia năm 2019 đã chọn một khổ thơ trích trong một bài thơ không có trong chương trình phổ thông nhưng lại là một bài thơ của nhà thơ Vũ Quần Phương, một nhà thơ khá quen thuộc của các giáo viên Ngữ văn và thế hệ trẻ trong cả nước, để thi phần đọc hiểu, đó là một đoạn trích trong bài thơ "Trước biển" của Vũ Quần Phương (Thơ Việt Nam 1945-1985, Nhà xuất bản Văn học năm 1985):

"Biết nói gì trước biển em ơi

Trước cái xa xanh thân thiết không lời

Cái hào hiệp ngang tàng của gió

Cái kiên nhẫn ngàn đời sóng vỗ

Cái nghiêm trang của đá đứng chen trời

Cái giản đơn sâu sắc như đời.

Chân trời kia biển mãi gọi người đi

Bao khát vọng nửa chừng tan giữa sóng

Vừng trán mặn giọt mồ hôi cay đắng

Bao kiếp vùi trong đáy lạnh mù tăm

Nhưng bao đời vẫn những cánh buồm căng

Bay trên biển như bồ câu trên đất

Biển dư sức và người không biết mệt

Mũi thuyền lao mặt sóng lại cày bừa

Những chân trời ta vẫn mãi tìm đi".

Phần đọc hiểu yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi sau:

1. Đoạn trích được viết theo thể thơ nào?

2. Anh/ Chị hiểu nội dung các dòng thơ sau như thế nào?

Vầng trán mặn giọt mồ hôi cay đắng

Bao kiếp vùi trong đáy lạnh mù tăm?

3. Hãy cho biết hiệu quả của phép điệp trong các dòng thơ sau:

Cái hào hiệp ngang tàng của gió

Cái kiên nhẫn ngàn đời sóng vỗ

Cái nghiêm trang của đá đứng chen trời

Cái giản đơn sâu sắc như đời.

4. Hành trình theo đuổi khát vọng của con người được thể hiện trong đoạn trích gợi cho anh chị suy nghĩ gì?

Phần làm văn có mức điểm cao yêu cầu học sinh thực hiện 2 công việc:

Câu 1: Từ nội dung phần trích ở phần đọc hiểu anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) về sức mạnh ý chí của con người trong cuộc sống.

Câu 2: "Trong những dòng sông đẹp của các nước mà tôi thường nghe nói đến hình như chỉ sông Hương thuộc về một thành phố duy nhất. Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm nó đã là một bản trường ca của rừng già rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn mãnh liệt qua những ghềnh thác cuộn xoáy như cơn lốc và đáy vực bí ẩn và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di gan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt có thể lý giải được về mặt khoa học đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở. Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng.

(Ai đã đặt tên cho dòng sông - Hoàng Phủ Ngọc Tường - Ngữ văn 12, Tập1, NXB GD Việt Nam, 2018, tr. 198)

Cảm nhận của anh/chị về hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên. Từ đó nhận xét cách nhìn mang tính phát hiện về dòng sông của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.  

Với cách ra đề môn Ngữ văn mà học liệu dành cho phần trả lời các câu hỏi ở phần đọc hiểu và phần tập làm văn đều được lấy từ văn bản nghệ thuật (tác phẩm văn học) nó đã thể hiện rõ hơn tính đặc trưng của một đề văn.

Với cách ra đề này và nên ra đề theo cấu trúc có 2 phần chính: Phần đọc hiểu và phần làm văn, cả 2 phần của đề thi đều lấy các tác phẩm văn học làm ngữ liệu chứ không đưa ngữ liệu của văn nhật dụng vào đề thi. Câu hỏi để kiểm tra kiến thức về từ ngữ, ngữ pháp thì chỉ kiểm tra những kiến thức cơ bản nhất, mang tính phổ thông nhất và hình thức ra đề này nếu được thực hiện trong một khoảng thời gian dài thì Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tạo được động lực tích cực cho học sinh trong việc học bộ môn Văn là quan tâm tới việc đọc tác phẩm văn học và tập trung ôn tập chu đáo những kiến thức cơ bản về từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt.      

Cách ra đề lấy ngữ liệu từ một văn bản văn học không có trong chương trình sách giáo khoa phổ thông và đưa trích đoạn hoặc một văn bản văn học có trong chương trình môn Ngữ văn phổ thông cho học sinh làm tập làm văn sẽ tạo nên sự tự giác của học sinh trong việc nâng cao văn hóa đọc. Ngoài việc học các tác phẩm văn học đã có trong chương trình, học sinh sẽ quan tâm tới việc đọc thêm những tác phẩm văn học có giá trị của nền văn học nước nhà. Tất nhiên việc ra đề môn Ngữ văn theo cách này phải tuân thủ nguyên tắc phần đọc hiểu (lấy ngữ liệu từ một tác phẩm ngoài chương trình phổ thông) chỉ nên có một mức điểm vừa phải (trên dưới 3 điểm) như mức tính điểm của đề thi THPT Quốc gia năm 2019 này. Số điểm còn lại cho phần Tập làm văn mà học liệu để làm căn cứ cho học sinh tập làm văn là học liệu được lấy từ một tác phẩm văn học các em đã được học trong chương trình phổ thông. Mặt khác nhà trường và các thầy cô giáo dạy bộ môn ngữ văn cần quan tâm tới việc yêu cầu học sinh dành thời gian để đọc thêm các tác phẩm văn học có giá trị của nền văn học Việt Nam và văn học nước ngoài. Với cách ra đề như đề thi môn Ngữ văn trong kỳ thi THPT Quốc gia năm nay và nhiều năm tiếp theo sẽ góp phần tạo động lực để phát triển văn hóa đọc cho học sinh. Các em không chỉ đọc, nghiên cứu các tác phẩm văn học có trong chương trình môn ngữ văn phổ thông mà còn có kế hoạch đọc thêm những tác phẩm văn học có giá trị của nước nhà, cũng như các tác phẩm là tinh hoa văn học của nhân loại.

Khi chúng ta đồng ý với nhau đề thi  môn Ngữ văn năm nay đã đạt chuẩn sư phạm về mặt cấu trúc và nó sẽ góp phần nâng chất lượng dạy học, bồi đắp thêm lòng mê say học văn cho học sinh thì chúng ta cũng cần nghiêm túc xem xét lại một số vấn đề về biên soạn sách giáo khoa, vấn đề phương pháp dạy học, vấn đề duy trì và phát triển văn hóa đọc cho học sinh phổ thông để làm cho  môn Ngữ văn trong chương trình giáo dục phổ thông mới mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang triển khai đạt hiệu quả hơn:

1. Để học sinh làm tốt đề thi môn Ngữ văn như đề thi năm nay nên chăng trong chương trình giáo dục phổ thông mới cần có nội dung giới thiệu danh mục các tác phẩm văn học tham khảo cho học sinh từng khối lớp để sau này người soạn đề thi chọn làm ngữ liệu cho loại câu hỏi ở phần đọc hiểu. Trong quá trình dạy học giáo viên phải quan tâm tới việc giới thiệu danh mục các tác phẩm văn học tham khảo mà học sinh phổ thông cần tìm đọc và phải có kế hoạch kiểm tra xem học sinh có thật sự dành thời gian cho việc đọc, nghiên cứu các tác phẩm không có trong chương trình phổ thông nhưng học sinh cần đọc tham khảo. Tất nhiên danh mục các tác phẩm giới thiệu cho học sinh đọc thêm cũng cần ở mức độ vừa phải, không đưa ra một danh mục nhiều tác phẩm quá làm các em choáng ngợp.

Khi sách giáo khoa đã có thêm phần danh mục đọc thêm thì hàng năm khi ra đề thi THPT quốc gia hoặc thi đại học người ra đề phải chọn ngữ liệu ra đề từ các tác phẩm đã được nằm trong danh mục đọc thêm để ra đề thi cho phần đọc hiểu và ngữ liệu cho phần làm văn thì phải lấy từ các tác phẩm văn học đã được đưa vào chương trình bộ môn Ngữ văn của trường phổ thông.

2. Trước thực trạng văn hóa đọc đang có nhiều thay đổi. Người đọc do những thành tựu của công nghệ thông tin đưa lại và do sự giảm sút về chất lượng dạy học môn  Ngữ văn trong nhà trường cho nên một tỷ lệ rất cao dân số Việt Nam quan tâm dành thời gian để đọc thông tin trên mạng intenet mà không quan tâm đến việc đọc văn. Vì vậy nên chăng trong  sách giáo khoa của chương trình sách giáo dục phổ thông mới cần đưa vào sách giáo khoa mới phần thư mục các tác phẩm đọc thêm và khi kiểm tra cuối năm hoặc khi thi THPT quốc gia đề thi sẽ dùng các tác phẩm đã học trong chương trình phổ thông và các tác phẩm trong danh mục đọc thêm để làm cho ngữ liệu cho đề thi. Nếu làm được như vậy thì chắc chắn sẽ góp phần nâng cao văn hóa đọc cho học sinh. Có lẽ đó là một giải pháp tối ưu nhất có khả năng kiểm soát được trách nhiệm của người dân, của học sinh trong việc thực hiện văn hóa đọc.     

3. Đề văn năm nay nếu học sinh có khả năng cảm thụ văn học thì sẽ có được bài làm đạt điểm cao. Nhưng để cho các em cảm thụ được sâu sắc văn bản đã đưa ra ở cả 2 phần Đọc hiểu và Tập làm văn như đã dẫn ở trên thì chắc chắn sẽ phải có vai trò quan trọng của người dạy. Mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo hàng chục năm nay triển khai chủ trương đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy người học làm trung tâm… Nhưng theo ý chúng tôi chỉ có giáo viên mới là trung tâm giúp các em hiểu được một cách sâu sắc đoạn trích trong tác phẩm "Ai đã đặt tên cho dòng sông" của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Không có vai trò của giáo viên thì số đông học sinh không hiểu hết những tầng vỉa ý nghĩa sâu xa của đoạn trích… Bởi vậy chúng tôi kiến nghị: Chúng ta có đổi mới phương pháp dạy học đến mức độ nào, đi theo hướng nào đi nữa thì cũng không nên bỏ phần bình giảng của người thầy trong giờ giảng văn.

 

Nguyễn Thị Minh Tú

Ngày 14/12/2016, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVIII ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TU về "Phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025", đây là lần đầu tiên ngành KH&CN có Nghị quyết riêng và toàn diện về lĩnh vực KH&CN trên địa bàn. Nghị quyết đã xác định mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp mới để phát triển KH&CN Nghệ An trong giai đoạn mới. Đây là những định hướng hết sức quan trọng cho các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH&CN, cũng như xây dựng đội ngũ nhân lực và huy động các nguồn lực cho phát triển KH&CN.

Sau hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết, đã có nhiều bước chuyển quan trọng về khoa học và công nghệ trên địa bàn. Trước hết, là nhận thức trong các cấp, các ngành, doanh nghiệp và người dân về KH&CN được nâng lên, coi KH&CN là nguồn lực thiết thực trong phát triển kinh tế - xã hội. Các sở ban, ngành, huyện, thành phố, thị xã đã ban hành các nghị quyết, chương trình hành động, đề án, kế hoạch ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ vào sản xuất, đời sống phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Tiếp đến, hoạt động nghiên cứu KH&CN gắn với ứng dụng được đẩy mạnh, lấy doanh nghiệp làm chủ thể trong hoạt động ứng dụng, chuyển hướng khắc phục dần đầu tư dàn trải thông qua xác định 6 lĩnh vực ưu tiên đầu tư. Tác động KH&CN được triển khai theo chuỗi giá trị của sản phẩm để biến các đặc sản, sản phẩm truyền thống địa phương thành hàng hóa, có sức cạnh tranh trên thị trường. Chương trình sở hữu trí tuệ được đẩy mạnh góp phần xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm hàng hóa Nghệ An. Công tác bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen quý hiếm có giá trị kinh tế ở miền Tây Nghệ An được chú trọng, đây là nền tảng triển khai chương trình phát triển dược liệu và công nghiệp dược trên cơ sở thu hút các doanh nghiệp vào đầu tư. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và phát triển thị trường KH&CN của tỉnh được quan tâm đầu tư. Hoạt động quản lý nhà nước được tăng cường và đổi mới như công tác thanh tra, tiêu chuẩn đo lường chất lượng và truyền thông KH&CN.

Để thấy rõ những đổi mới, chuyển động chúng ta điểm qua các kết quả thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TU trên những hoạt động cụ thể dưới đây.

1. Đổi mới trong công tác quản lý và nghiên cứu, ứng dụng

Thực hiện cơ chế đặt hàng để xác định rõ nguồn cung và cầu về các nhiệm vụ khoa học, gắn giải quyết các vấn đề của lĩnh vực, ngành với nhiệm vụ trọng điểm KT - XH của tỉnh. Với cơ chế này đảm bảo các nhiệm vụ triển khai có tính khoa học, chuyên sâu và ứng dụng cao trong thực tiễn. Nâng cao trách nhiệm, chất lượng của Hội đồng khoa học đảm bảo công tác thẩm định, đánh giá nghiêm túc, khách quan và có chất lượng thông qua mời các nhà khoa học là các giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ đang công tác tại các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp ở trong và ngoài tỉnh. Tổ chức bàn giao kết quả nghiên cứu cho các sở, ngành, huyện, thành, thị để nhân rộng.

Hoạt động nghiên cứu và ứng dụng hướng về cơ sở, lấy doanh nghiệp làm chủ thể chính. Ưu tiên các đề tài, dự án mang tính ứng dụng, thực tiễn, khả năng nhân rộng và sản phẩm có tính thương mại hóa cao, nhất là các dự án gắn với doanh nghiệp, hợp tác xã sẵn sàng có chiến lược kinh doanh chế biến ngay trên địa bàn và liên kết với nông dân phát triển thành sản phẩm hàng hóa. Ưu tiên các đề tài, dự án nghiên cứu phát triển các sản phẩm chủ lực, sản phẩm đặc sản, truyền thống theo chuỗi giá trị từ khâu giống, phân bón, kỹ thuật canh tác, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch, bảo quản, chế biến, xây dựng nhãn hiệu và phát triển thị trường sản phẩm.

Đổi mới trong công tác quản lý nhà nước: Phát huy vai trò là cơ quan đầu mối quản lý về chất lượng sản phẩm hàng hóa thông qua công tác thanh, kiểm tra đối với các sản phẩm thuộc sở, ngành khác quản lý khi có dư luận hoặc phát hiện có vấn đề. Bổ sung, nâng cao kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ về thanh kiểm tra tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng trên địa bàn các huyện, thành, thị. Thực hiện thanh tra đột xuất, tăng cường khảo sát bí mật trước khi tiến hành thanh tra, đã giúp cho hoạt động thanh tra được tiến hành đúng trọng tâm, trọng điểm, tạo thế chủ động, tìm ra phương thức triển khai thanh tra hiệu quả góp phần làm lành mạnh thị trường sản xuất kinh doanh, bảo vệ được quyền lợi của người tiêu dùng. Đây cũng là một hướng đi mới cho hoạt động thanh tra chuyên ngành khoa học và công nghệ.

2. Tiềm lực KH&CN được tăng cường

Trước tiên, là đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập. Tách bạch công tác quản lý nhà nước và tổ chức các hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực TC-ĐL-CL, UBND tỉnh thành lập Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, thuộc Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng. Xây dựng lộ trình chuyển đổi hình thức hoạt động của các đơn vị hướng tự chủ theo Nghị định 54/2016/NĐ-CP của Chính phủ. Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động khoa học và công nghệ các ngành, huyện, thành, thị được kiện toàn, đổi mới.

Thứ hai, phát triển các tổ chức và nguồn nhân lực khoa học và công nghệ đủ mạnh đáp ứng yêu cầu của phát triển, nhất là năng lực triển khai ứng dụng. Đến nay, toàn tỉnh có 71 đơn vị là các tổ chức KH&CN trên địa bàn có tham gia hoạt động nghiên cứu triển khai, trong đó có 6 trường đại học, 11 trường cao đẳng, trung cấp đào tạo nguồn nhân lực cung cấp cho vùng và trong cả nước, 6 đơn vị KH&CN của các Bộ đóng trên địa bàn phạm vi hoạt động mang tính vùng (Viện Khoa học - Kỹ thuật nông nghiệp vùng Bắc Trung bộ; Trung tâm Khí tượng - Thuỷ văn Bắc Trung bộ, Phân Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Bắc Trung bộ, Chi cục Thú y vùng IV, Trung tâm bảo vệ thực vật vùng, Đại học Vinh, Đại học sư phạm kỹ thuật Vinh), 4 đơn vị KH&CN tỉnh đã có liên kết hoạt động KHCN trong Vùng (Trung tâm kiểm nghiệm Mỹ phẩm - Dược phẩm Nghệ An; Trung tâm kiểm định xây dựng; Viện Quy hoạch và kiến trúc; Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thuộc Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng). Ngoài ra, Nghệ An có Trung tâm KHXH&NV; Sàn giao dịch công nghệ, Điểm kết nối cung cầu Bắc Trung bộ đi vào hoạt động bước đầu đã có tầm ảnh hưởng nhất định đối với các tỉnh trong vùng.

Hệ thống các phòng thử nghiệm được công nhận: 13 phòng thử nghiệm được công nhận Vilas (5 phòng của các đơn vị sự nghiệp và 8 phòng của các doanh nghiệp); 45 phòng Las xây dựng đang hoạt động. Trường Đại học Vinh đã tiếp nhận, chuyển giao các trang thiết bị mới cho 02 phòng thí nghiệm được đầu tư đồng bộ và hiện đại nhất trong các trường đại học trên cả nước phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học gồm: Phòng thí nghiệm công nghệ Thực phẩm (năm 2017, vốn đầu tư 48 tỷ đồng); Phòng thí nghiệm công nghệ Hóa dược (năm 2018, vốn đầu tư 40 tỷ đồng). Hình thành khu thực nghiệm và ươm tạo nông nghiệp công nghệ cao tại xã Đông Hiếu, thị xã Thái Hòa với diện tích là 200.000m2, được đầu tư xây dựng các hạng mục hiện đại như nhà điều hành, nghiên cứu ứng dụng và ươm tạo công nghệ cao; hệ thống nhà lưới ươm tạo và sản xuất giống cây dược liệu, cây ăn quả; nhà điều hành hệ thống tưới tự động; hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ.

Về nguồn nhân lực: Theo số liệu điều tra của Sở KH&CN tại 237 đơn vị là các cơ quan QLNN, viện nghiên cứu, tổ chức KH&CN, trung tâm, trạm trại, trường đại học, cao đẳng, trường trung cấp, trường PTTH và các DN KH&CN trên địa bàn: Tổng nhân lực KH&CN hiện có 63.978 người có trình độ đại học trở lên tăng 29,6% so với năm 2017. Trong đó có 4.989 thạc sỹ, 421 tiến sỹ, 83 phó giáo sư và 7 giáo sư. Nhân lực chất lượng cao tập trung chủ yếu ở các trường đại học, cao đẳng.

Ngoài ra, huy động nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động KH&CN của tỉnh được thực hiện thông qua các chương trình ký kết với các viện nghiên cứu, các tỉnh như Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Dược liệu, Viện Chăn nuôi, Viện Khoa học lâm nghiệp, Viện Cây lương thực thực phẩm, Viện thực phẩm chức năng, Viện Di truyền nông nghiệp; Sở KH&CN TP Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Đồng Nai… Hợp tác quốc tế cùng các chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài như CHLB Đức nghiên cứu tách chiết thành công Chloropyll và điều chế dẫn xuất Chlorin E6 Trimythylester và Chlorin E6 Monomethylester từ tảo Spirulina là hợp chất quan trọng, có nhiều tiềm năng ứng dụng trong y học và công nghệ. Đặc biệt, năm 2018, trên cơ sở kết quả đề tài nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn, đã đề xuất với Tỉnh ủy, UBND tỉnh thành lập tổ tư vấn kinh tế xã hội cho Chủ tịch UBND tỉnh. Ngày 13/6/2018, Chủ tịch UBND tỉnh ký Quyết định số 2385/QĐ-UBND về việc thành lập Tổ tư vấn kinh tế - xã hội để tư vấn cho Chủ tịch UBND tỉnh về các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội.

3. Đổi mới hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH&CN, hướng mạnh đến cơ sở, doanh nghiệp

Hoạt động nghiên cứu và ứng dụng đã chuyển hướng mạnh đến cơ sở, doanh nghiệp, lấy doanh nghiệp làm chủ thể trong nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới sáng tạo. Tập trung tác động KH&CN theo chuỗi giá trị các sản phẩm; giảm số lượng các đề tài, dự án, nâng cao chất lượng, tăng quy mô; sàng lọc và ưu tiên các dự án ứng dụng và có sản phẩm cụ thể. Với 87 đề tài, dự án được triển khai trong 3 năm 2017-2019, trên 6 lĩnh vực trọng điểm ưu tiên đầu tư gồm: nông nghiệp công nghệ cao; khoa học xã hội và nhân văn; y dược; KH&CN phục vụ phát triển kinh tế xã hội các huyện, thị, thành; công nghệ thông tin; môi trường, đã mang lại kết quả đáng ghi nhận.

Trong khoa học nông nghiệp: Ưu tiên ứng dụng tiến bộ KH&CN để phát triển các sản phẩm hàng hóa trên nền các đặc sản và sản phẩm truyền thống địa phương như: Cam, trà hoa vàng, chanh leo, lúa japonica, chè Nghệ An, trám đen Thanh Chương, bưởi hồng Quang Tiến, cá thu nướng Cửa Lò, nước mắm Vạn Phần, sản phẩm dược liệu, hương trầm Quỳ Châu, cây mú từn, sâm Puxailaileng, đẳng sâm, lạc, gạo Mường Nọc Quế PhongBảo tồn và phát triển một số nguồn gen quý, phục vụ phát triển kinh tế xã hội như cây mú từn, trà hoa vàng, Lan Kim tuyến, cây bảy lá một hoa, hà thủ ô đỏ, đẳng sâm, sâm Puaxailaileng, quỹ gen trâu Thanh Chương, bò vàng Nghệ An; quỹ gen Lợn đen Sao Va (Quế Phong), bò u đầu rìu, trâu Thanh Chương, lạc cúc… Song song với bảo tồn, là hướng khai thác phát triển nguồn gen có giá trị, là hướng mới trong nghiên cứu khoa học, đó là phát triển các sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế từ các động thực vật đặc sản, quý hiếm của Nghệ An. Nổi bật như: trà hòa tan và viên nang cứng từ trà hoa vàng; đồ uống chức năng dạng bột hòa tan và dạng lỏng từ cây diếp cá; trà túi lọc từ cây dược liệu cà gai leo và dây thìa canh; tỏi đen được sản xuất từ công nghệ lên men tự động; sản phẩm trám muối và trám sấy đóng lọ không sử dụng chất phụ gia thực phẩm từ quả trám đen Thanh Chương; tinh dầu chiết xuất từ dược liệu địa phương như sả, quế, màng tang, bạc hà…

Ứng dụng các kỹ thuật mới, tiên tiến như kỹ thuật tưới nhỏ giọt trên cây ăn quả và mía góp phần tiết kiệm nước, sử dụng chế phẩm sinh học; ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về quản lý dịch hại tổng hợp nhằm giảm lượng thuốc trừ sâu trong sản xuất lúa, lạc, chè, cà phê, mía, các loại cây ăn quả có múi và các loại rau quả; Nghiên cứu phân lập một số chủng vi khuẩn lam có khả năng cố định đạm để cung cấp nguyên liệu cho sản xuất phân bón sinh học; luân canh, xen canh bắt buộc với mía; sâu bệnh hại chanh leo; chế phẩm sinh học phòng trừ bệnh đốm đen hại lạc từ lá trầu và cà độc dược; thành công công tác thụ tinh nhân tạo ở trâu, để cải tạo giống trâu địa phương có chất lượng tốt; nuôi cá chép, trắm cỏ bằng công nghệ tạo giòn thịt. Chuyển giao thành công các quy trình công nghệ nuôi thương phẩm một số đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế, như: cá chình, cá chim biển vây vàng, cá bống bớp; ba ba gai; cá hồi vân, cá lăng chấm; cua lồng, phát triển mạnh nuôi các lồng bè trên các hồ, đập…

Ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ enzim, công nghệ lai ghép vào lĩnh vực chế biến nông, lâm, thủy sản; ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào sản xuất các sản phẩm chức năng (Tảo xoắn, Nattokinase, công nghệ nuôi trồng Đông trùng Hạ thảo). Ứng dụng quy trình sản xuất nông nghiệp công nghiêp cao vào sản xuất các sản phẩm nông sản như kỹ thuật tưới, sử dụng chế phẩm sinh học (Biopren - bón phân qua lá, AniSaf SH - bảo vệ thực vật, Biogreen - xử lý dư lượng thuốc BVTV trong đất).

Hỗ trợ dán tem truy xuất nguồn gốc để nâng cao thương hiệu và giá trị hàng hóa (Chỉ dẫn địa lý cam Vinh, nhãn hiệu tập thể chè Nghệ An, nhãn hiệu chứng nhận nước mắm Vạn Phần, nhãn hiệu tập thể nước mắm Hải Giang…). Trong năm 2018, dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc được mở rộng cho trên 30 sản phẩm nông nghiệp của tỉnh như: các loại rau, củ, quả của Tập đoàn TH; các sản phẩm nông sản sạch Phủ Quỳ của Hợp tác xã Việt Xanh (Nghĩa Đàn); gà Thanh Chương; nước mắm Vạn Phần; tương Sa Nam... đã góp phần tăng thêm chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp, nâng cao ý thức của nhà sản xuất về chất lượng của sản phẩm, đồng thời bảo vệ uy tín, phát triển thương hiệu nông sản Nghệ An.

Là địa phương có tiềm năng ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, đến nay, trên địa bàn tỉnh có 25 doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, trong đó tiêu biểu có 3 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao (Công ty CP sữa Vinamilk Nghệ An, Công ty CP sữa TH true milk, Công ty TNHH mía đường Nasu); có 25 hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp. Đây là những doanh nghiệp đi đầu trong ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, tạo sức lan tỏa trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của tỉnh. Các công nghệ tiên tiến được áp dụng như công nghệ giống; công nghệ nhà kính hiện đại; công nghệ thông tin điều khiển tự động về tưới tiết kiệm nước, nhiệt độ, độ ẩm, dinh dưỡng, ánh sáng. Ngoài ra, nhiều giống có năng suất cao, chất lượng tốt đã được tuyển chọn; các quy trình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như kỹ thuật tưới, chế phẩm sinh học, GloboGAP, VietGAP, IPM, SRI, cơ giới hóa… cũng được áp dụng nhanh vào sản xuất. Đã thu hút được khá nhiều doanh nghiệp đầu tư các cơ sở chế biến sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh như chè, tinh bột sắn, mía đường, cây ăn quả, sản phẩm gỗ, thủy sản… tạo sức lan tỏa lớn trong sản xuất nông nghiệp, góp phần đẩy nhanh tốc độ cơ cấu lại sản xuất của ngành nông nghiệp. Đã thu hút được những dự án có quy mô, có hàm lượng khoa học công nghệ và giá trị cao, công nghiệp sạch, tiết kiệm năng lượng. Nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp lớn được xây dựng, nâng cấp, đổi mới thiết bị để nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường và đảm bảo môi trường như nhà máy gỗ ván MDF  Nghĩa Đàn và Anh Sơn, nhà máy chế biến chăn nuôi Masan, nước hoa quả Tập đoàn TH,.…

Đặc biệt là khởi động và triển khai thực hiện tốt chương trình 100 sản phẩm là các cây con đặc sản, đặc thù, cây con chủ lực, có lợi thế cạnh tranh, các sản phẩm truyền thống có tác động KH&CN nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh trên thị trường, đến nay, đã có 46 sản phẩm được tác động KH&CN nhiều chiều, còn tác động ở một số khâu, mắt xích trong chuỗi giá trị có hơn 70 sản phẩm như: Trà hoa vàng, chè Nghệ An, trà cà gai leo, giảo cổ lam, dây thìa canh, trà gạo thảo dược, lúa Japonica, gừng Kỳ Sơn, rượu mú từn, sâm   Puxailaileng, đẳng sâm, lan kim tuyến, cây bảy lá một hoa, hà thủ ô đỏ, bò Mông, lúa AC5, tảo xoắn, rau hữu cơ,… Có 47 sản phẩm đã được cấp văn bằng bảo hộ hoặc chấp nhận đơn đăng ký và đang chờ cấp văn bằng như: Nước mắm Vạn Phần, dê Tân Kỳ, chè Nghệ An, gà Thanh Chương, hương trầm Quỳ Châu, cá thu nướng Cửa Lò, tôm nõn Diễn Châu, nước mắm Tân An, mực Quỳnh Lưu, bơ Nghĩa Đàn, cam Con Cuông, sắn dây Nam Đàn, miến Phú Thành, mật ong Tây Hiếu, gạo Mường Nọc, bò giàng Tương Dương, nước mắm Cửa Lò,... Các sản phẩm đã ra thị trường, tạo được thương hiệu của Nghệ An, nâng cao được giá trị sản phẩm, nâng cao thu nhập cho người dân và tạo niềm tin cho người tiêu dùng.

Trong khoa học y dược: Tập trung nghiên cứu, ứng dụng và phát triển một số kĩ thuật cao như kỹ thuật điều trị bệnh ưng thư phổi không mổ được bằng đốt sóng cao tần dưới hướng dẫn của robot; ứng dụng công nghệ tế bào gốc trong điều trị bệnh và thẩm mỹ; kỹ thuật phẫu thuật tán sỏi thận qua da bằng đường hầm nhỏ; kỹ thuật can thiệp lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học ở bệnh nhân nhồi máu não cấp do tắc mạch máu lớn; kỹ thuật chụp động mạch vành DSA để nghiên cứu sự liên quan giữa bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu với tổn thương động mạch vành làm cơ sở cho công tác điều trị bệnh tim mạch; mổ tim hở, ghép thận; ghép tuỷ hỗ trợ điều trị một số bệnh lý ung thư; can thiệp điều trị tim bẩm sinh; sản xuất cây dược liệu và thực phẩm chức năng; thẩm mỹ răng, nâng mũi, làm trắng da…. Ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh như: Ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử trong chẩn đoán bất thường phôi thai, bệnh di truyền, bệnh ung thư. Đặc biệt, tháng 11 năm 2017 Nghệ An triển khai thành công ca thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa, đã mở ra cơ hội có con đối với các cặp vợ chồng hiếm muộn trong tỉnh và khu vực, tạo điều kiện thuận tiện và giảm chi phí.

Ứng dụng KH&CN phát triển dược liệu được triển khai như nghiên cứu và thực nghiệm về các loài dược liệu có tiềm năng thương mại của tỉnh: Bào chế và đánh giá tác dụng bảo vệ gan của viên nang cứng NADAGA trên thực nghiệm từ một số dược liệu; Nghiên cứu tách chiết thành công Chloropyll và điều chế dẫn xuất ChlorinE6 Trimythylester và Chlorin E6 Monomethylester từ tảo Spirulina; công nghệ tách chiết lá diếp cá, đông trùng hạ thảo, tỏi đen; mô hình trồng sâm Puxailaileng, cây hà thủ ô đỏ, đẳng sâm, ba kích tím, sa nhân tím Thiên Niên Kiện, mú từn, trà hoa vàng (sản xuất trà hòa tan và viên nang từ trà hoa vàng)... phục vụ cho nghiên cứu sản xuất các sản phẩm nâng cao sức khỏe cộng đồng. 

Lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn: Tập trung cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh. Tổ chức các hội thảo chuyên đề với những quan điểm khoa học sâu sắc gợi mở, tư vấn cho tỉnh trong chỉ đạo điều hành và định hướng phát triển. Đã tư liệu hóa, văn tự hóa những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, nghiên cứu lịch sử truyền thống của địa phương, ngành. Công tác phản biện khoa học đối với các cơ chế chính sách, các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội của tỉnh bước đầu được quan tâm. Điều tra xã hội học được đẩy mạnh và cung cấp thông tin, dự luận xã hội phục vụ cho các cơ quan quản lý.

Nhóm vấn đề kinh tế, xã hội, tập trung nghiên cứu đánh giá hiện trạng, tiềm năng của Nghệ An, cung cấp những luận cứ khoa học để hoạch định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội, đóng góp tích cực trong đổi mới cơ chế quản lý, các hình thức sở hữu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, như: Chiến lược phát triển KT-XH tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015-2020 và tầm nhìn 2030; Chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu kinh tế tỉnh Nghệ An; Giải pháp thu hút sử dụng hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; Các giải pháp huy động nguồn lực người xứ Nghệ trong và ngoài nước đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh…

Triển khai nhiều đề tài nghiên cứu khoa học phục vụ thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW của BCHTW Đảng khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả để nhằm hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết trên địa bàn tỉnh: nghiên cứu về sắp xếp tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh; nghiên cứu phục vụ sắp xếp hệ thống chính trị: sắp xếp hệ thống chính trị cấp xã; ứng dụng CNTT trong xây dựng, quản lý CSDL bộ máy và biên chế của hệ thống chính trị tỉnh...

Nhóm vấn đề văn hoá lịch sử, đã tư liệu hóa, văn tự hóa những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể thuộc lĩnh vực văn hóa dân gian và văn hóa bác học, nghiên cứu lịch sử truyền thống của địa phương, ngành. Khôi phục các lễ hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và bản sắc con người xứ Nghệ và giáo dục truyền thống cho các thế hệ. Một số nghiên cứu cụ thể: xây dựng tài liệu dạy học và phầm mềm bộ gõ chữ Thái Lai - Pao; giải pháp phát triển du lịch cộng đồng gắn với xóa đói giảm nghèo ở miền Tây Nghệ An; tiếp tục áp dụng các giải pháp bảo tồn dân ca xứ Nghệ vào thực tiễn (đưa dân ca vào trường học); nghiên cứu các giải pháp bài trí thờ tự, sắp xếp đồ tế khí tại các di tích trên địa bàn tỉnh.

Trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ: Ứng dụng công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong các cấp, các ngành, doanh nghiệp và toàn xã hội góp phần quan trọng trong việc từng bước thay đổi và tạo phong cách, phương thức làm việc mới, nâng cao hiệu quả hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành của các cơ quan và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Như phần mềm VNPT-office, phần mềm quản lý khám và điều trị tại các bệnh viện, tự động hóa thiết bị theo dõi chỉ số môi trường ở Sở Tài nguyên và Môi trường. Trong lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, thông qua nguồn vốn của doanh nghiệp và quỹ hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ đã tập trung ứng dụng các công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất như Công nghệ xử lý sinh học AO đối với dự án Hệ thống xử lý nước thải tại Khu công nghiệp Đông Hồi; Công nghệ "Lọc Siphon hở OFS (Open Siphon  Filter) kết hợp tấm lọc A/W block" đối với dự án xây dựng nhà máy nước huyện Nghĩa Đàn; Dự án nhà máy sản xuất bao bì nhựa PP, PE tại CCN Nam Giang của Công ty Cổ phần Bao bì Nghệ An; Công nghệ xử lý và tái chế chất thải rắn Ecovi của Công ty CP Galax tại Nghệ An; Công nghệ sản xuất gỗ ván sợi MDF của Công ty Cổ phần gỗ MDF Nghệ An; Tổ hợp sản xuất công nghiệp công nghệ cao tại xã Nam Giang, huyện Nam Đàn; Khu công viên điện năng lượng mặt trời SUNPOWER" của Công ty Cp Điện năng lượng mặt trời Sunpower; Công nghệ xử lý rác WTE của Công ty TNHH Sa mạc Xanh…

4. Thị trường KH&CN, đổi mới sáng tạo, sở hữu trí tuệ

Phát triển thị trường KH&CN: Đã tham mưu ban hành Quyết định 5821/QĐ-UBND ngày 01/12/2017 về phê duyệt Kế hoạch phát triển thị trường khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh đến năm 2020. Triển khai kế hoạch đó, câu lạc bộ sáng chế Nghệ An chính thức được thành lập và đi vào hoạt động năm 2016. Tháng 4/2017, tổ chức khai trương Điểm kết nối cung cầu công nghệ vùng Bắc Trung bộ nhằm tổ chức các hoạt động trình diễn các mô hình công nghệ; tư vấn về công nghệ, cải tiến kỹ thuật, sở hữu trí tuệ; giới thiệu công nghệ mới với sự tham gia của các chuyên gia trong và ngoài nước; tư vấn pháp lý và hỗ trợ về khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Đến nay đã tổ chức được 18 phiên kết nối cung cầu giữa các nhà khoa học trong nước với các doanh nghiệp, địa phương và các tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu thông tin và đổi mới công nghệ của tỉnh. Thông qua các hoạt động kết nối đã ký kết được 13 hợp đồng chuyển giao công nghệ và cung ứng thiết bị cho doanh nghiệp Nghệ An với tổng trị giá trên 6,6 tỷ đồng. Ngoài ra, việc kết nối cung cầu công nghệ thông qua việc tổ chức đoàn tham gia Diễn đàn Xúc tiến chuyển giao công nghệ Việt Nam - Lào 8/2018 (TechConnect Việt Nam - Lào). Đặc biệt, tháng 10/2018, Lễ ra mắt Sàn tri thức Novelind Nghệ An. Sàn tri thức Novelind là mạng lưới các nhà khoa học khắp ba miền Bắc - Trung - Nam tham gia vào 50 lĩnh vực nghiên cứu với mục tiêu làm cầu nối giữa nhà khoa học và doanh nghiệp thông qua giải quyết các thách thức từ doanh nghiệp bằng kết quả nghiên cứu từ nhà khoa học. Đây cũng là bước đệm tạo nên hệ sinh thái khoa học công nghệ, nơi mà doanh nghiệp và nhà khoa học chia sẻ, hỗ trợ cho nhau trên 3 yếu tố của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là: nghiên cứu - đào tạo - sản xuất.

Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh chính thức được khởi động với Quyết định 2171/QĐ-UBND ngày 24/5/2017 của UBND tỉnh về việc ban hành "Kế hoạch hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2017-2020". Với sự vào cuộc của các đơn vị như Tỉnh đoàn, Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật và đặc biệt là các trường đại học như Đại học Vinh, Đại học công nghệ Việt Nam Hàn Quốc, Đại học sư phạm kỹ thuật Vinh, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi sáng tạo bước đầu có kết quả. Năm 2018 lần đầu tiên tổ chức cuộc thi Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Nghệ An, thu hút gần 100 dự án, ý tưởng tham gia, kết quả trao giải cho 10 dự án khởi nghiệp xuất sắc; các nhà đầu tư đã trao tiền hỗ trợ trực tiếp cho 2 dự án khởi nghiệp với số tiền 500 triệu đồng; có 8 dự án khởi nghiệp được các nhà đầu tư ký kết hợp tác hỗ trợ đầu tư dưới nhiều hình thức; phối hợp tổ chức Cuộc thi "Tìm kiếm tài năng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo - Techfest vùng Bắc Trung bộ" 2018, tập hợp 30 dự án khởi nghiệp đến từ các tỉnh của vùng, chọn ra 16 dự án vào vòng chung kết và có 01 giải Nhì cho dự án Nâng cao giá trị cam Vinh thông qua phát triển sản phẩm chế biến và du lịch trải nghiệm. Các dự án hầu hết đã đi vào ứng dụng thực tế, có những sản phẩm đã cho ra thị trường với tính thương mại hóa cao. Ngày 30/3/2019, phối hợp với Vietnam Silicon Valley tổ chức sự kiện Vietnam - Korea Demo Day 2019 tại TP Vinh, đây là hoạt động về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có tính chất quốc tế lần đầu tiên tổ chức ở Nghệ An, là diễn đàn để khơi dậy tinh thần khởi nghiệp ở Nghệ An. Là dịp để các Startup giao lưu học hỏi lẫn nhau cũng như học được từ các nhà tư vấn, kích hoạt các bạn trẻ sự tự tin và đặc biệt là dịp để các nhà quản lý hiểu và xây dựng hệ sinh thái cũng như đưa ra chính sách, tháo gỡ khó khăn hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Hãy coi khởi nghiệp đổi mới sáng tạo như một kênh thu hút đầu tư.

Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm chủ yếu của tỉnh đạt mức khá so với cả nước, tốc độ đổi mới công nghệ/thiết bị của Nghệ An năm 2018 đạt 15%. Số lượng doanh nghiệp KH&CN tiếp tục tăng lên. Tính đến hết năm 2018, có 08 doanh nghiệp Nghệ An được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN. Công tác đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp được quan tâm, hàng năm đã tổ chức tư vấn hướng dẫn cho hàng trăm doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ đăng ký sở hữu công nghiệp, với số lượng các đơn đăng ký trong những năm gần đây ngày một tăng. Đến hết quý 1 năm 2019 Nghệ An đã có 994 văn bằng bảo hộ (Sáng chế 12; giải pháp hữu ích: 09; kiểu dáng công nghiệp: 58; nhãn hiệu: 915).

5. Truyền thông khoa học và công nghệ có nhiều đổi mới về hình thức và phương pháp để cung cấp thông tin kịp thời, có chất lượng

Hoạt động truyền thông KH&CN được xác định là 1 trong 3 trọng tâm phát triển KH&CN địa phương, chính vì thế, nội dung, phương thức truyền thông được đổi mới, đa dạng hóa, hiện đại hóa với những hình thức phù hợp đến mọi tầng lớp trong xã hội. Thông qua các hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức, sự quan tâm, ý thức và ủng hộ chính sách phát triển KH&CN của cả xã hội ngày càng được nâng cao. Nhận thức về vai trò của KH&CN được nâng cao.

Truyền thông thực hiện thông qua các ấn phẩm báo in: Tạp chí KH&CN Nghệ An và Chuyên san KHXH&NV với số lượng 1 tháng/1 số. Qua kênh truyền hình: Tổ chức tạp chí truyền hình KH&CN trên Đài PT&TH, 12 chuyên đề/1 năm. Năm 2018 đến nay triển khai chuyên mục khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên đài truyền hình tỉnh và các chuyên đề truyền hình giới thiệu công nghệ, các mô hình có hiệu quả trên các kênh truyền hình VTV2, VTC14. Qua báo điện tử thông qua website của Sở với số lượng người truy cập trung bình hàng ngày là trên 5000 và được đánh giá là một trong những trang thông tin điện tử tốt ở tỉnh về số lượng người truy cập. Qua các sự kiện như Trao giải Sáng tạo KH&CN hàng năm; Bình chọn các sự kiện KH&CN nổi trội của tỉnh (1 lần/năm); Các buổi hội thảo khoa học, trình diễn, giới thiệu công nghệ và thiết bị mới; Tham gia Chợ CN&TB toàn quốc và vùng. Cơ sở dữ liệu thông tin KH&CN được củng cố và tăng cường.

6. Quản lý nhà nước tiêu chuẩn đo lường chất lượng; thanh, kiểm tra và hoạt động KHCN cấp huyện

Chất lượng hàng hóa sản xuất nội tỉnh đang từng bước được nâng lên, một số mặt hàng đã khẳng định được thương hiệu nên người tiêu dùng tin tưởng, sử dụng nhiều (vật liệu xây dựng, nông lâm thủy sản, bia, đường, sữa,…). Nhiều sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn quốc tế, bảo hộ về nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, có sức cạnh tranh trên thị trường. Phối hợp thanh tra, kiểm tra về đo lường, chất lượng sản phẩm hàng hóa trong sản xuất, lưu thông; Hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các hoạt động phát triển chất lượng nhằm góp phần đảm bảo, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, xây dựng và quảng bá thương hiệu.

Công tác thanh tra, kiểm tra có nhiều sáng tạo, đổi mới trong phương pháp thanh tra đã kịp thời phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về đo lường, chất lượng hàng hoá, sở hữu công nghiệp, an toàn và kiểm soát bức xạ và góp phần làm thay đổi đáng kể nhận thức của các tổ chức và cá nhân trên địa bàn tỉnh

Hoạt động KH&CN cấp huyện tiếp tục được phát triển bài bản, chuyên nghiệp từ tổ chức các hoạt động tham mưu, tư vấn của Hội đồng KH&CN cấp huyện hàng năm, đến công tác ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất; Công tác quản lý đo lường, chất lượng sản phẩm hàng hóa; Công tác thông tin KH&CN; Phong trào lao động sáng tạo KH&CN…, đã góp phần thực hiện có hiệu quả, thắng lợi các định hướng, mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ phát triển KT-XH ở các địa phương, từ năm 2017 đến nay đã chỉ đạo tổ chức 142 cuộc hội thảo tư vấn; huy động các nguồn kinh phí khác nhau xây dựng trên 230 mô hình nhỏ trên địa bàn các huyện, trong đó có 50 mô hình từ nguồn ngân sách sự nghiệp KH&CN, tổng ngân sách KH&CN hỗ trợ xây dựng mô hình là trên 3 tỷ đồng, nhiều mô hình, kết quả dự án KH&CN ở địa bàn được các huyện tiếp tục nhân rộng nhanh trong sản xuất: mô hình tinh dầu cam Quỳ Hợp; nuôi cá vược trong ao nước lợ kém hiệu quả Hoàng Mai; mô hình chế biến dầu lạc; mô hình trồng lúa Japonica tại huyện Quế Phong, Kỳ Sơn; mô hình nuôi cá rô phi đường nghiệp trong lồng chi phí thấp tại huyện Anh Sơn; mô hình trồng thanh long ruột đỏ bằng công nghệ Đài Loan.

Với những kết quả hoạt động KH&CN đạt được sau hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết đã góp phần vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh đo bằng chỉ số năng suất nhân tố tổng hợp (TFP - Total Factor Productivity) giai đoạn 2015-2018 đạt 34,9%. Tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị đạt 15%, công nghệ sản xuất các sản phẩm chủ yếu của tỉnh được đầu tư đổi mới công nghệ tiên tiến, hiện đại, công nghệ cao. Giá trị sản phẩm công nghệ cao và ứng dụng công nghệ cao đạt 20%, GRDP bình quân năm 2018 đạt 38 triệu đồng/người, tăng 1,36 lần so với năm 2015.

Bên cạnh đó, thực hiện Nghị quyết so với yêu cầu của sản xuất và đời sống đang còn những tồn tại, hạn chế: (1) Nguồn lực đầu tư cho phát triển KH&CN chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội, mới đạt khoảng 0,54%/quy định 2% chi ngân sách. Dù nguồn huy động xã hội hóa vào công tác nghiên cứu, ứng dụng KH&CN từ các đơn vị, doanh nghiệp và người dân đã tăng lên 60% và nhà nước giảm còn 40% (cao hơn bình quân chung của cả nước, nguồn xã hội hóa là 52% và nhà nước là 48%), nhưng tổng nguồn lực đầu tư mới chỉ đáp ứng được con số rất nhỏ. (2) Huy động nguồn lực xã hội vào công tác nghiên cứu, ứng dụng KHCN chưa cao. Huy động nguồn lực thực hiện đề án Nghệ An thành trung tâm KH&CN vùng Bắc Trung bộ đang gặp khó khăn. (3) Sản phẩm hình thành chuỗi giá trị để tạo ra hàng hóa thật sự, có quy mô lớn chưa được nhiều. Chương trình 100 sản phẩm có tác động KHCN mới chỉ đạt kết quả bước đầu, chưa tạo được những sản phẩm hàng hóa có sức lan tỏa và "bật" khỏi huyện, tỉnh. (4) Tốc độ đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp còn chậm. Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp chủ yếu là trung bình dẫn đến chất lượng và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước chưa cao. (5) Đội ngũ KH&CN triển khai ứng dụng chưa mạnh dạn để lặn lội cùng doanh nghiệp và nông dân. Đội ngũ trí thức KH&CN của Nghệ An thiếu cân đối, tập trung chủ yếu vào ngành giáo dục và ngành nông nghiệp, thiếu cán bộ giỏi về quản lý kinh tế, sâu về chuyên môn, am hiểu về công nghệ cao như công nghệ dược, công nghệ chế biến, công nghệ sinh học, thiếu kỹ thuật viên và công nhân kỹ thuật lành nghề. (6) Tính kết nối giữa kết quả hoạt động KHCN với các nguồn lực sự nghiệp kinh tế nhằm xây dựng mô hình ở một số ngành, huyện, thị chưa tốt và chưa tập trung.

Để phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục hạn chế, bất cập, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp sau:

1. Tiếp tục tuyên truyền, quán triệt và tổ chức thực hiện tốt, đồng bộ các nhiệm vụ của Nghị quyết 06-NQ/TU và không ngừng nâng cao hơn nữa nhận thức về vai trò của KH&CN trong thời kỳ CNH-HĐH và hội nhập quốc tế. Cấp uỷ, tổ chức đảng và chính quyền các cấp, trước hết là người đứng đầu chịu trách nhiệm thúc đẩy phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ thuộc phạm vi quản lý của ngành, lĩnh vực.

2. Tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh nghiên cứu gắn với ứng dụng KH&CN thông qua "kéo" các nhà khoa học và doanh nghiệp gần lại với nhau, nhà khoa học nghiên cứu những vấn đề mà xã hội, doanh nghiệp đang cần để cung và cầu KH&CN gặp nhau.

Hoạt động KH&CN kiên trì theo chủ đề thương mại hóa các kết quả nghiên cứu; gắn với ứng dụng thực tiễn, gắn với doanh nghiệp, tạo được một số sản phẩm hàng hóa có chất lượng tốt, khối lượng lớn và thương hiệu mạnh từ KH&CN. Lồng ghép các chương trình trên cơ sở chương trình sản phẩm chủ lực của tỉnh để tập trung tác động KH&CN, nhất là nông nghiệp, dược liệu. Dành nguồn lực để "kích hoạt" doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, qua đó tăng nguồn lực xã hội hóa đầu tư vào KH&CN.

3. Xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ đối với các lĩnh vực sản xuất sản phẩm chủ lực của tỉnh. Yêu cầu đổi mới sáng tạo bao gồm đổi mới sản phẩm, đổi mới công nghệ và tư duy kinh doanh. Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp và ươm tạo doanh nghiệp. Phát triển doanh nghiệp KH&CN. Khuyến khích khu vực tư nhân và doanh nghiệp đầu tư cho khoa học và công nghệ và khởi nghiệp sáng tạo.

4. Chú trọng phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ để có đủ năng lực tiếp thu, làm chủ công nghệ, thiết bị tiên tiến, nghiên cứu KH&CN đáp ứng yêu cầu phát triển. Ưu tiên bố trí kinh phí đầu tư phát triển KHCN cho một số dự án sớm đi vào hoạt động nâng cao tiềm lực như Dự án "Đầu tư xây dựng khu ươm tạo công nghệ cao Thái Hoà"; Dự án "Xây dựng Trung tâm Tích hợp dữ liệu về khoa học và Công nghệ giai đoạn 2016-2020"; Dự án: "Xây dựng mạng lưới thông tin KH&CN đến cơ sở xã giai đoạn 2016-2020"; Dự án đầu tư nâng cao năng lực cho trung tâm TĐC Nghệ An ngang tầm trung tâm vùng… Hỗ trợ đầu tư xây dựng một số phòng thử nghiệm được chỉ định đối với một số mặt hàng trọng điểm.

5. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả về quản lý của nhà nước đối với tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng. Đẩy mạnh công tác thanh tra chuyên ngành về tiêu chuẩn đo lường chất lượng đặc biệt là các sản phẩm xã hội đang quan tâm. Nâng cao năng lực truyền thông KH&CN nhằm giới thiệu mô hình nghiên cứu khoa học có hiệu quả để ứng dụng và nhân rộng vào sản xuất và đời sống.

6. Quan tâm thu hút đầu tư xây dựng vùng/khu nông nghiệp công nghệ cao; công viên công nghệ thông tin; phát triển công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp xanh trên địa bàn tỉnh.

7. Nghiên cứu khoa học xã hội, tổng kết thực tiễn, xây dựng luận cứ khoa học cho các chủ trương, chính sách của cấp ủy và chính quyền nhằm đẩy mạnh quá trình hội nhập ở Nghệ An giai đoạn 2020-2025 và tầm nhìn đến 2030.

8. Thúc đẩy phát triển mạnh thị trường khoa học và công nghệ và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Phát triển mạng lưới các tổ chức dịch vụ trung gian môi giới, đánh giá, chuyển giao công nghệ. Hỗ trợ phát triển các nhóm nghiên cứu trẻ tiềm năng, các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

9. Đẩy mạnh hợp tác về KH&CN trong nước và quốc tế. Hỗ trợ hoạt động giao 

 

LTS: Xây dựng nhãn hiệu và bảo vệ thương hiệu cho các sản phẩm, đặc sản truyền thống trong nước hiện đang là mối quan tâm của rất nhiều địa phương. Hiện nay, do chưa thấy được tầm quan trọng và giá trị thương hiệu của sản phẩm nên cả người dân và doanh nghiệp vẫn chưa mặn mà với việc xây dựng thương hiệu, đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý hoặc nhãn hiệu cho sản phẩm.

Bên cạnh đó, việc sản xuất sản phẩm, đặc sản truyền thống ở các địa phương hiệu nay chủ yếu theo hình thức đơn lẻ, manh mún và tự phát cho nên để người sản xuất tự đăng ký, quản lý và khai thác thương hiệu là rất khó khăn.

Là một tỉnh đã bắt đầu quan tâm đến việc đăng ký bảo hộ cho các sản phẩm nông sản từ rất sớm, Nghệ An cũng đang gặp phải những khó khăn trong việc xây dựng nhãn hiệu và bảo vệ thương hiệu cho các sản phẩm, đặc sản truyền thống của mình.

Bàn về vấn đề xây dựng nhãn hiệu và bảo hộ thương hiệu cho các sản phẩm, đặc sản truyền thống của tỉnh Nghệ An hiện nay, Toà soạn Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn có cuộc trò chuyện với ông Phạm Xuân Cần - Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn Faxuca.

 

*   *

*

PV: Chúng ta thường nói nhiều đến "nhãn hiệu", "thương hiệu" nhưng trên thực tế không phải ai cũng hiểu đúng những khái niệm đó. Là một chuyên gia trong lĩnh vực này, ông có thể nói rõ hơn về những khái niệm mang tính chuyên sâu này?

Ông Phạm Xuân Cần: Từ trước đến nay chúng ta hay nói đến "thương hiệu" và "nhãn hiệu", nhưng không mấy ai hiểu được, phân biệt được hai khái niệm này. Nói một cách dễ hiểu nhất thì "thương hiệu" là cảm nhận của khách hàng về sản phẩm, tức là những gì mà sản phẩm hàng hóa đọng lại trong đầu khách hàng. Một sản phẩm hàng hóa càng nhiều người biết, nhiều người thích thì sản phẩm hàng hóa đó càng nổi tiếng về thương hiệu. Như vậy, "thương hiệu" là cái vô hình, nói lên danh tiếng của sản phẩm hàng hóa. Còn "nhãn hiệu" là dấu hiệu hữu hình người ta gắn lên sản phẩm, hàng hóa, để phân biệt nó với sản phẩm hàng hóa khác. Về khía cạnh nào đó có thể nói "nhãn hiệu" là cái vỏ hình thức, chứa đựng nội dung bên trong đó là thương hiệu. Nói một cách đơn giản thì mối quan hệ giữa "nhãn hiệu" và "thương hiệu" chính là mối quan hệ giữa hình thức và nội dung, nhưng trên thực tế, mối quan hệ đó rất phức tạp.

Công thức chung là: Product + Trade-mark = Brand.

Theo đó, đầu tiên người ta sản xuất ra một sản phẩm (Product), sau đó gắn nhãn hiệu (Trade-mark) và bán ra thị trường. Ban đầu khách hàng chưa biết đến sản phẩm, nên có thể nói là sản phẩm khi đó chưa có thương hiệu. Sau một thời gian, nhờ chất lượng, giá cả, dịch vụ hậu mãi, cũng như các biện pháp quảng cáo, tiếp thị… sản phẩm ngày càng được nhiều người biết đến. Khi đó ta nói là sản phẩm đã có thương hiệu trên thị trường.  Ví dụ gần đây Hãng xe Vinfast là hãng xe mà thương hiệu hình thành rất nhanh, rất "thần tốc", thậm chí khi chưa có xe thương mại, thì hãng đã dùng liệu pháp "gây sốc" để quảng bá rầm rộ tạo ra danh tiếng cho sản phẩm nhằm đẩy thương hiệu này ra công chúng gần như đồng thời với sản phẩm, thậm chí đi trước sản phẩm. Đó là con đường vận hành theo chiều thuận, tức là: nhãn hiệu có trước gắn trên sản phẩm, vận hành một thời gian có danh tiếng thì mới tạo nên thương hiệu.

Tuy nhiên đối với các sản phẩm, đặc sản truyền thống tình hình hiện nay lại có vẻ đi theo hướng ngược lại. Vì là đặc sản, sản phẩm truyền thống, nên nhiều sản phẩm của chúng ta đã có danh tiếng từ hàng chục, thậm chí hàng trăm năm nay, nghĩa là đã có thương hiệu, thậm chí là thương hiệu nổi tiếng, như "Nhút Thanh Chương, Tương Nam Đàn". Nhưng, những sản phẩm rất nổi tiếng đó lại chưa có nhãn hiệu, hay nói chính xác hơn là chưa xác lập để bảo hộ nhãn hiệu. Ví dụ như thành phố Vinh có đặc sản cháo lươn nổi tiếng cả nước, bất cứ ai khi về Nghệ An đều muốn thưởng thức, tuy nhiên đến nay nhãn hiệu cháo lươn vẫn chưa được xác lập và bảo hộ. Như vậy, có thể thấy, không riêng ở Nghệ An, nhiều địa phương khác trên cả nước, đối với các sản phẩm, đặc sản truyền thống thương hiệu có trước, nhưng nhãn hiệu lại đi sau. Hầu như, người ta chỉ xác lập bảo hộ nhãn hiệu khi thấy cần có một động thái về pháp lý, để nâng cấp sản phẩm và thương hiệu lên theo hướng chuẩn tắc hơn.

PV: Vậy thì nếu không đăng ký bảo hộ cho những sản phẩm, đặc sản truyền thống thì có thể sẽ gây ra những thiệt hại như thế nào đối với những người nông dân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm cũng như các doanh nghiệp, thưa ông?

Ông Phạm Xuân Cần: Thường thì danh tiếng của các đặc sản, nhất là các sản phẩm truyền thống luôn gắn liền với một địa danh nhất định. Việc xây dựng và bảo hộ nhãn hiệu, thương hiệu dưới một hình thức pháp lý nhất định cho các đặc sản là nhằm 3 mục đích:

Thứ nhất là, Bảo vệ danh tiếng của đặc sản, tránh sự lạm dụng hoặc giả mạo; Thứ hai: Khuyến khích sản xuất phát triển; Thứ ba: Giúp người tiêu dùng nhận biết và lựa chọn đúng sản phẩm.

Ngược lại, nếu không đăng ký bảo hộ nhãn hiệu thì đương nhiên không có công cụ pháp lý để bảo vệ các đặc sản đó, dẫn đến một số hậu quả:

- Các đặc sản đó dần dần bị mai một không giữ được, hoặc bị lạm dụng danh tiếng mà phát triển một cách tràn lan hoặc giả mạo.

- Không khuyến khích được sản xuất, dẫn đến người dân bỏ nghề, bỏ làng, nông thôn bị xáo trộn, thiếu ổn định.

Ví dụ, ai cũng biết danh tiếng của tương Nam Đàn. Thế nhưng, do chính quyền và những người dân sản xuất tương Nam Đàn không quan tâm đến việc xác lập và bảo hộ nhãn hiệu, nên cách đây hơn mười năm đã có một doanh nghiệp đăng ký bảo hộ nhãn hiệu mang tên "Tương Nam Đàn". Hiện nay chính quyền và người dân muốn đăng kí bảo hộ nhãn hiệu "Tương Nam Đàn" thì không được nữa. Như vậy, do không bảo hộ nhãn hiệu tương mang địa danh "Nam Đàn", mà chính quyền và người dân Nam Đàn đã mất luôn thương hiệu "Tương Nam Đàn" nổi tiếng hàng trăm năm. Hiện nay tôi thấy có sản phẩm "Tương Sa Nam", về chất lượng đó chính là tương Nam Đàn truyền thống, nhưng về thương hiệu và danh tiếng có lẽ hàng trăm năm nữa cũng chưa nổi tiếng được như "Tương Nam Đàn".

PV: Như ông nói thì đối với các sản phẩm, đặc sản truyền thống đã có thương hiệu từ lâu, vậy tại sao việc xây dựng nhãn hiệu đến nay vẫn chưa phổ biến và chưa hiệu quả, thưa ông?

Ông Phạm Xuân Cần: Đơn giản là vì từ xưa đến giờ không có kinh tế thị trường. Vấn đề nhãn hiệu hoặc quảng bá nhãn hiệu chỉ trở thành nhu cầu thực sự khi kinh tế thị trường phát triển.

Trước khi Nhà nước có chính sách và hướng dẫn, thì người nông dân hầu như rất ít biết về nhãn hiệu, họ hầu như không có khái niệm về sở hữu trí tuệ, càng không biết cách đăng ký để bảo hộ nhãn hiệu. Chưa kể, trên thực tế với cách sản xuất và buôn bán như lâu nay, thì người nông dân có khi không cần nhãn hiệu, bởi vì họ đem sản phẩm ra chợ làng để bán. Khi đó chính người bán là nhãn hiệu, là thương hiệu rồi. Tuy nhiên, hình thức kinh doanh này chỉ phù hợp với phương thức tự cung tự cấp, với kinh tế tiểu nông, còn nếu đưa vào nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự chuẩn tắc thì nó không còn phù hợp nữa.

PV: Vậy ông có thể nói cụ thể hơn những khó khăn trong xây dựng nhãn hiệu và bảo hộ thương hiệu đối với các sản phẩm, đặc sản truyền thống của Nghệ An hiện nay?

Ông Phạm Xuân Cần:

Để biến đặc sản thành hàng hóa cần có ba yêu cầu. Đầu tiên là về khối lượng, phải đạt đến một khối lượng nhất định thì đặc sản mới thành hàng hóa. Tiếp đến là chất lượng, chất lượng không chỉ phải tốt, mà còn phải đồng đều và có thể quản lý được. Thứ ba là sự thống nhất về nhãn hiệu. Đây là ba yêu cầu để biến đặc sản thành hàng hóa, nhưng xét trên điều kiện thực tế hiện nay ở tỉnh ta thì rất khó thực hiện.

Thứ nhất, vì là đặc sản nên đó là sản phẩm khan hiếm, do đó dẫn đến mâu thuẫn: Bản thân người làm ra đặc sản họ muốn duy trì mức độ khan hiếm nhất định để đảm bảo giá cả, và có thể độc quyền, không muốn đặc sản của mình có thể phổ biến cho tất cả mọi người đều làm được. Ngược lại nhu cầu của xã hội lại muốn biến đặc sản thành hàng hóa để mang lại lợi ích cho nhiều người, người tiêu dùng có thể được sử dụng đặc sản rộng rãi hơn. Cho nên khi chúng ta làm nhãn hiệu thì chưa chắc nông dân đã đồng tình ủng hộ.

Thứ hai, đa phần các đặc sản hiện nay đang sản xuất manh mún, quy mô hộ gia đình mà mỗi gia đình lại làm theo một tiêu chuẩn riêng. Trong khi đó, khi sở hữu nhãn hiệu, thương hiệu chung để sản xuất thành hàng hóa đòi hỏi chất lượng phải đồng đều.

Vậy thì từ thuận lợi là sản phẩm đã có thương hiệu, tưởng chừng sẽ là "hữu xạ tự nhiên hương", các sản phẩm này ra thị trường sẽ "ăn ngay", tuy nhiên thực tế không phải như thế. Mà thực tế để đặc sản thành hàng hóa cần hội tụ 3 điều kiện nói trên. Điều này rất khó. Khó hơn nhiều so với một doanh nghiệp sản xuất sản phẩm để tạo thành hàng hóa trên thị trường.

PV: Với những khó khăn mà ông đã nêu trên, tỉnh Nghệ An cần có những giải pháp gì để khắc phục, thưa ông?

Ông Phạm Xuân Cần:

Đầu tiên là phải giải quyết cách tổ chức sản xuất để đảm bảo 2 yêu cầu: có nhiều hàng hóa và có chất lượng đồng đều. Muốn thực hiện phải có giải pháp về tổ chức sản xuất, như mô hình hợp tác xã có sự tham gia của doanh nghiệp, hoặc thực hiện dưới hình thức liên minh: doanh nghiệp là nòng cốt, nông dân là các vệ tinh sản xuất phục vụ doanh nghiệp; hoặc doanh nghiệp làm nòng cốt cho hợp tác xã, doanh nghiệp cũng là thành viên trong hợp tác xã, vừa tổ chức sản xuất, thu mua, vừa chế biến và bán sản phẩm đó ra thị trường.

Tiếp đó, khi đã có hàng hóa thì cần phải bám theo yêu cầu của thị trường. Đối với sản phẩm truyền thống thì yêu cầu của thị trường trước hết là đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng của sản phẩm. Đó không chỉ là yêu cầu của khách hàng, mà là bắt buộc của nhà nước, của pháp luật. Thứ hai là yêu cầu về xuất xứ của sản phẩm. Việc quản lý về truy xuất nguồn gốc là để tạo ra niềm tin cho khách hàng, không riêng gì đặc sản mà đối với bất kỳ loại hàng hóa nào. Yêu cầu thứ ba chính là sản phẩm khi ra thị trường cần có bao bì, nhãn hiệu, tên gọi.

Để cho dễ nhớ, tôi đã đề xuất công thức "Ba có" cho sản phẩm nông nghiệp khi ra thị trường. Đó là: Có nhãn hiệu; Có quản lý chất lượng, VSATTP và Có khả năng truy xuất nguồn gốc.

PV: Ông đánh giá như thế nào về việc sử dụng, quản lý và phát triển các nhãn hiệu mà chúng ta đã có hiện nay?

Ông Phạm XuânCần:

Hiện nay, nếu tính nhãn hiệu mang địa danh, từ chỉ dẫn địa lý đến nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể, thì Nghệ An đã có trên 40 nhãn hiệu. Tuy nhiên xây dựng nhiều như thế, nhưng sử dụng rất kém, đặc biệt sử dụng một cách chặt chẽ và có hiệu quả gần như chưa có cái nào. Nhãn hiệu mà không được sử dụng, sử dụng ít thì khó có thể nói là đã phát huy hiệu quả. Ví dụ đối với sản phẩm cam Vinh, một sản phẩm nổi tiếng của Nghệ An, nhưng thử hỏi hàng trăm triệu quả cam trên thị trường ta dán nhãn hiệu được bao nhiêu? Năm 2017, nhãn hiệu và tem truy xuất nguồn gốc được dán trên 240.000 quả, tương đương sản lượng của 1 hecta cam. Trong lúc đó, diện tích vùng chỉ dẫn địa lý Cam Vinh là 1.700 hecta. Tính ra chưa được 1/1000. Năm 2018 tem nhãn hiệu được dán trên 1.000.000 quả cam, tương đương 5 heta/1.700 hecta… Như vậy, chúng ta đang bán được cam nhờ "thương hiệu dân gian" là chính, chứ chưa phải bán được vì nhãn hiệu.

Một số sản phẩm nổi tiếng khác như Hương trầm Quỳ Châu, nước mắm Quỳnh Dị, bánh đa kẹo lạc Vĩnh Đức… mặc dù đã có nhãn hiệu tập thể, nhưng cũng ít được sử dụng.

Thực tế trên có thể thấy, chỉ có những sản phẩm nào gắn với doanh nghiệp hoặc gắn với cá nhân thì nhãn hiệu đó mới được sử dụng và phát huy tác dụng. Ví dụ Nước mắm Vạn Phần là nhãn hiệu chứng nhận được sử dụng và phát huy hiệu quả tốt, vì gắn với Công ty Cổ phần Thủy sản Vạn Phần.

PV: Vậy theo ông muốn phát huy tốt hiệu quả của các nhãn hiệu đã được đăng ký cần phải làm gì?

Ông Phạm Xuân Cần: Muốn phát huy hiệu quả của nhãn hiệu mang nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, hoặc chỉ dẫn địa lý thì trước hết cần kiện toàn, củng cố lại các tổ chức sở hữu, quản lý hoặc sử dụng nhãn hiệu. Còn với tình trạng "cha chung không ai khóc" như hiện nay thì chúng ta tốn tiền, tốn công đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, nhưng được xong lại để đó, không sử dụng và không phát huy được. Vì vậy, với các nhãn hiệu đã được bảo hộ, cần quan tâm đến việc hướng dẫn, hỗ trợ để đưa nhãn hiệu vào sử dụng. Đây là công việc mới nên rất cần thiết phải xây dựng một số mô hình quản lý và phát triển nhãn hiệu, để rút kinh nghiệm.

Bên cạnh đó, tiếp tục hỗ trợ việc xây dựng nhãn hiệu, vì nếu người dân không được hỗ trợ thì họ sẽ không biết cách làm và không có kinh phí để làm.

Trong những năm tiếp theo, tỉnh Nghệ An, Sở Khoa học và Công nghệ nên giảm hỗ trợ cho việc xác lập nhãn hiệu mới, mà tập trung tăng mô hình quản lý, phát triển nhãn hiệu đã có, để đưa những nhãn hiệu này vào sử dụng, vì có đưa vào sử dụng hiệu quả thì người dân mới thấy lợi ích mà sử dụng.q

Xin cảm ơn ông về những thông tin bổ ích này!

 

Ông La Văn Chánh - Phó Chủ tịch UBND huyện Kỳ Sơn:

 "Huyện Kỳ Sơn xác định dược liệu là cây trọng điểm trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện"

          Kỳ Sơn được xem là một trong những huyện có tiềm năng về phát triển cây dược liệu ở Nghệ An với diện tích tự nhiên rộng lớn (209.484 ha), được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới, có điều kiện đất đai, thổ nhưỡng và khí hậu đa dạng, thích ứng với nhiều loại cây dược liệu, trong đó có nhiều loại cây dược liệu quý hiếm ở trong tự nhiên như: Táo mèo, giảo cổ lam, hoài sơn, đương quy, tam thất, hà thủ ô, đậu trọng, ngũ gia bì, sa nhân, bảy lá 1 hoa, đặc biệt là cây sâm Puxailaileng.

          Trong những năm qua, xác định phát triển dược liệu là nhiệm vụ trọng tâm, là cây chiến lược trong xóa đói, giảm nghèo nên lãnh đạo huyện quan tâm kêu gọi, chỉ đạo, tạo điều kiện tối đa để doanh nghiệp có thể đầu tư triển khai dự án phát triển dược liệu trên địa bàn huyện. Đầu năm 2015 Tập đoàn TH đã thành lập Công ty CP Dược liệu Mường Lống trên cơ sở Trạm dược liệu Mường Lống thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Nghệ An. Công ty đã trồng khảo nghiệm được trên 12 loại cây dược liệu và xác định được một số loại dược liệu phù hợp để đầu tư tập trung như sâm Puxailaileng, tam thất bắc, đương quy Trung Quốc, đỗ trọng, bạch quả, hà thủ ô đỏ, đẳng sâm, đan sâm... có khả năng trồng nhân rộng trên địa bàn huyện. Công ty Cổ phần Dược liệu Mường Lống đã phối hợp với UBND xã Mường Lống tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, phổ cập kiến thức về phát triển dược liệu cho người dân; mở rộng mô hình trồng cây dược liệu trong các hộ gia đình, nhằm tạo ra một hướng làm ăn mới, góp phần nâng cao thu nhập, vừa phát triển kinh tế cho người dân, vừa bảo tồn nguồn gen cây dược liệu quý.

          Năm 2018, UBND tỉnh đã phê duyệt Dự án khoa học công nghệ "Ứng dụng khoa học & công nghệ xây dựng mô hình sản xuất và chế biến giảo cổ lam, hoài sơn và mướp đắng rừng theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện Kỳ Sơn" với quy mô 2 ha, hiện nay đang được triển khai thực hiện tại xã Huồi Tụ; Năm 2019 thực hiện Dự án "Ứng dụng tiến bộ KHKT xây dựng mô hình trồng cây đương quy Trung Quốc và đan sâm theo hướng GACP-WHO trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An" với diện tích 4 ha; Ngoài ra Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 4 (Quân khu 4) đã thực hiện thành công mô hình phục hồi, nhân giống cây dược liệu gồm đẳng sâm, đương quy, atiso tại xã Na Ngoi; Ban Dân tộc tỉnh đã xây dựng mô hình thí điểm và phát triển cây táo mèo ở xã Tây Sơn... Việc triển khai thành công các mô hình trồng cây dược liệu đã mở ra một hướng đi mới trong việc giúp nhân dân phát triển kinh tế, nhất là hộ đồng bào dân tộc thiểu số.

Trương Minh Châu - Trưởng phòng KHKT - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:

"Sở NN&PT NT sẵn sàng phối hợp để nhân rộng các mô hình trồng và chế biến cây dược liệu"

          Trong thời gian qua, trên địa bàn các huyện miền núi Nghệ An đã triển khai nhiều chương trình, dự án về cây dược liệu khá thành công, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của Sở Khoa học và Công nghệ. Như: nghiên cứu về cây sâm Puxailaileng, một giống cây quý được ví như sâm ngọc linh; cây đẳng sâm, tam thất bắc, đương quy Trung Quốc, đỗ trọng, bạch quả, hà thủ ô đỏ, đẳng sâm, đan sâm, v.v. Riêng sâm Puxailaileng bước đầu nhân giống thành công ở trong vườn ươm, với 16,4% cây đang mọc và trên 80% là cây sống còn gốc bên dưới.

          Đối với Sở NN&PT NT việc hỗ trợ cho các dự án, mô hình rất cần những thành công đó, đặc biệt là những mô hình đã thành công bước đầu như sâm Puxailaileng, Sở có thể phối hợp với Sở KH&CN, Công ty CP Dược liệu Mường Lống cùng nhân giống, nhân rộng mô hình.

          Riêng đối với những huyện có tiềm năng phát triển cây dược liệu như huyện Kỳ Sơn, Sở NN&PT NT đặc biệt quan tâm phát triển những giống cây dược liệu ngắn ngày. Ngoài việc nhân rộng các mô hình đã có hiệu quả bước đầu, chúng tôi còn khâu nối đầu ra sản phẩm cho các công ty, bà con. Ví dụ, vừa qua ở Diễn Kim, huyện Diễn Châu, thông qua Dự án Jica chúng tôi đã khâu nối được đầu ra cho cây dâu tằm, mang lại thu nhập cao cho bà con tham gia sản xuất.

Ông Nguyễn Minh Khởi - Viện trưởng Viện Dược liệu Việt Nam:

"Viện Dược liệu sẵn sàng hỗ trợ Nghệ An phát triển cây dược liệu thành cây chiến lược trong phát triển kinh tế "

          Ở Nghệ An, Viện Dược liệu đã cùng với Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nghệ An phối hợp xây dựng Quy hoạch phát triển dược liệu Nghệ An đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030, và đã được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt tháng 4 năm 2018. Điều đó chứng tỏ về mặt hành lang pháp lý, UBND tỉnh rất quan tâm đến vấn đề phát triển cây dược liệu.

          Nghệ An là một tỉnh có tiềm năng rất lớn trong phát triển cây dược liệu, đặc biệt trong đó có những cây dược liệu quý, hiếm, có giá trị chữa bệnh và giá trị kinh tế cao. Tôi đánh giá cao mô hình trồng cây sâm Puxailaileng tại Mường Lống, huyện Kỳ Sơn. Bước đầu làm được như vậy là rất tốt, từ cây hoang dại ở trong rừng, được bà con thu hái tự nhiên và có nguy cơ mất nguồn gen quý hiếm, thì nay đã được nhân giống thành công trong vườn ươm. Hi vọng trong thời gian tới, chúng ta có thể xây dựng mô hình, sản xuất, trồng được dưới tán rừng, trồng được trong dân.

          Bên cạnh việc bảo tồn, phát triển nguồn gen các loại cây dược liệu quý, chúng ta phải nghiên cứu, phân tích để thấy được sự khác biệt giữa các loại dược quý của Nghệ An so với các tỉnh thành khác, ví dụ như: cây sâm Nghệ An khác với sâm Lai Châu, sâm Con Tum,... như thế nào? 

          Viện Dược liệu chúng tôi với chức năng nghiên cứu, phát triển các loại dược liệu trên toàn quốc, sẵn sàng phối hợp với sở, ban, ngành Nghệ An hoàn thiện Quy hoạch phát triển dược liệu của tỉnh, đồng thời cũng mong nhận lại thông tin, chia sẻ của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu của các đơn vị nghiên cứu trên địa bàn tỉnh để cùng chung tay đưa kinh tế dược liệu của Nghệ An phát triển. Trong đó, đặc biệt cần có sự quan tâm, vào cuộc của Bộ Khoa học và Công nghệ để cho các nhà khoa học và các tỉnh như Nghệ An được hưởng lợi, phát triển nguồn gen này, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong chăm sóc sức khỏe cho người dân.

Tiến sỹ Ngô Đức Phương - Viện trưởng Viện cây thuốc nam:

"Nghệ An nên xây dựng một vườn cây thuốc mang tính bảo tồn, làm nơi lưu giữ nguồn gen và phục vụ cho việc tham quan, học tập, kết nối để phát triển du lịch"

          Ở Nghệ An từ năm 2004 - 2005, Viện Dược liệu đã phối hợp với Sở Y tế Nghệ An điều tra tổng thể cây thuốc trên toàn tỉnh đã thống kê được gần 962 loài trong đó 31 loài cây thuốc quý hiếm và 47 loài cây thuốc có giá trị sử dụng thương mại phổ biến.

          Hiện nay, nếu điều tra lại thì số lượng loài trên địa bàn Nghệ An ngày sẽ càng nhiều, đặc biệt là các dược liệu quý hiếm. Ngoài ra, ở miền Tây, với đa dạng văn hóa, tri thức bản địa, nhất là các bài thuốc dân gian, kinh nghiệm sử dụng dược liệu rất phong phú, đa dạng của bà con các dân tộc là kho báu cần phát huy và khai thác. Vì thế tôi nghĩ tỉnh Nghệ An nên xây dựng một vườn cây thuốc mang tính bảo tồn, bộ sưu tập, làm nơi lưu giữ nguồn gen và phục vụ cho việc đào tạo, tham quan, học tập, cũng có thể là nơi kết nối để phát triển du lịch. Từ vườn cây đó, người dân địa phương, du khách tham quan, học tập, nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu, khám phá nhiều loại cây thuốc trên một diện tích rất nhỏ và đó cũng là nơi lưu giữ những bài thuốc của địa phương mình. Tất nhiên là chúng ta phải lựa chọn điểm xây dựng mà hệ sinh thái, địa hình nó đa dạng để có thể trồng được nhiều loài cây.

Ông Trần Quốc Thành - GĐ Sở Khoa học và Công Nghệ:

"Nghệ An là tỉnh có tiềm năng lớn để phát triển cây dược liệu"

          Nghệ An là một tỉnh có diện tích lớn nhất nước, là nơi giao thoa giữa dải Hoàng Liên Sơn và Trường Sơn, có sự đa dang sinh học rất cao, với khu vực miền Tây được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thiên nhiên thế giới. Qua điều tra, đánh giá của các đề tài Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An triển khai trong thời gian vừa qua, các nhà khoa học đã ban đầu thống kê Nghệ An có gần 1.000 loài có giá trị dược liệu khác nhau (trong đó khu Pù Huống chưa được điều tra đồng bộ). Trong đó, có rất nhiều loài có giá trị cao như sâm   Puxailaleng, đẳng sâm, tam thất, bảy lá một hoa, lan kim tuyến, hà thủ ô đỏ, nấm linh chi đỏ, trà hoa vàng, xạ đen, giảo cổ lam, đông trùng hạ thảo, mú từn, bình vôi, đinh lăng… Đồng thời, Nghệ An cũng có 31 loài cây thuốc thuộc diện quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần bảo tồn theo Sách Đỏ Việt Nam như bảy lá một hoa, bình vôi đỏ, đỉnh tùng, hoàng tinh, ngũ gia bì gai....

          Ngoài ra, ở miền Tây, với đa dạng văn hóa, tri thức bản địa, nhất là các bài thuốc dân gian, kinh nghiệm sử dụng dược liệu rất phong phú, đa dạng của bà con các dân tộc là kho báu cần phát huy và khai thác.

          Việc phát triển nguồn dược liệu chất lượng cao góp phần bảo tồn, phát triển vốn rừng, đem lại hiệu quả kinh tế, bảo vệ và điều hòa môi trường sinh thái; tạo điều kiện cho người dân địa phương thay đổi tư duy, tập quán trong sản xuất lâm nghiệp tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo.

          Thời gian vừa qua, trên cơ sở tham mưu UBND tỉnh xây dựng và ban hành Quy hoạch phát triển cây dược liệu tỉnh Nghệ An tầm nhìn 2030, việc nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ KH&CN trong nghiên cứu, bảo tồn và phát triển một số loài cây dược liệu có giá trị đã được quan tâm triển khai. Sở Khoa học và Công nghệ đã tham mưu triển khai đồng bộ việc điều tra đánh giá đa dạng sinh học nhất là mảng dược liệu, đặc biệt là ở Pù Mát, Pù Hoạt, Puxailaileng (Pu Huống đang chuẩn bị triển khai) để xác định các loài dược liệu quý hiếm và có giá trị kinh tế và khoa học. Đồng thời Sở Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với các tổ chức khoa học, doanh nghiệp triển khai một loạt các đề tài nghiên cứu và dự án thử nghiệm trồng một số đối tượng dược liệu ở miền Tây Nghệ An, nhất là cây sâm Puxailaileng và đạt được một số kết quả bước đầu.

Ông Nguyễn Đình Hậu - Vụ trưởng Vụ KHCN các ngành kinh tế - kỹ thuật:

"Phát triển cây dược liệu ở Nghệ An cần quy tụ được nhiều nguồn lực"

          Nghệ An là một trong những tỉnh đi đầu trong quy hoạch phát triển dược liệu, vì Nghệ An hội tụ những ưu thế để phát triển thế mạnh này: 1. Có sự quan tâm của tỉnh thông qua kế hoạch phát triển; 2. Có điều kiện thời tiết, địa bàn, thậm chí Nghệ An là địa bàn có lịch sử phát triển cây dược liệu từ lâu đời; 3. Có tiềm năng, nguồn lực với các doanh nghiệp đồng hành như Tập đoàn TH, Công ty Cổ phần Vật tư nông nghiệp và rất nhiều doanh nghiệp cùng vào cuộc.

          Tuy nhiên, phát triển cây dược liệu ở Nghệ An chỉ mới bước đầu tiềm năng, kể cả chúng ta định danh các loại sâm của Nghệ An cũng chỉ là bước đầu, bởi vì bản thân dược liệu vốn dĩ của nó là từ tự nhiên, ở vùng nào có cây gì thì người dân sẽ trồng cây đó. Vấn đề là làm sao để việc trồng dược liệu không chỉ dừng lại ở một nhóm người mà thương mại hóa được nó sau khi bảo tồn phát triển nguồn gen, quỹ dược liệu của địa phương. Muốn làm được điều đó, đáp ứng sự thay đổi của địa phương thì không có cái gì khác ngoài vai trò của khoa học công nghệ.

          Tuy nhiên khoa học công nghệ Nghệ An cũng mới chỉ có những nghiên cứu bước đầu, mà muốn định danh thì chúng ta phải có những nghiên cứu sâu và rõ, sáng tỏ hơn nữa. Chẳng hạn như cây sâm Ngọc linh, nhiều tỉnh thành đã phát triển 20-30 năm nay, có những doanh nghiệp họ phát triển từ những năm 1990, nhưng Nghệ An bây giờ mới bắt đầu. Muốn giải quyết bài toán khó khăn này thì nhà khoa học phải phối hợp với các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu làm sao để tạo thành chuỗi từ khâu tạo giống đến khâu chăm sóc, bảo quản, chế biến… thì mới đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Ở đây tôi xin có một số kiến nghị như sau:

          Đối với hoạt động KHCN thì Bộ Khoa học và Công nghệ luôn dành cho Nghệ An những sự quan tâm rất đặc biệt, không chỉ có riêng cây dược liệu, mà ở nhiều đối tượng khác như cây mú từn, các loại hải sản, hồng, lạc... Vấn đề bây giờ là làm sao mình tổ chức thực hiện để triển khai, nhân rộng được kết quả này. Mục tiêu của tỉnh là nghiên cứu, bảo tồn những giống quý, sau đó nhân rộng, trong đó những đối tượng quý hiếm như cây sâm Puxalaileng tỉnh cần có đề án riêng để phát triển nó.    

          Cuối cùng, việc phát triển cây dược liệu phải quy tụ được nhiều nguồn lực, trong đó cần phải có các doanh nghiệp dẫn dắt bên cạnh hoạt động của các nhà khoa học, tỉnh tiếp tục chủ trương, chính sách để các nội dung sớm đưa vào thực tiễn. Bộ Khoa học và Công nghệ cam kết sẽ đồng hành cũng các viện, các trường, các doanh nghiệp, các ban ngành để cùng giải quyết bài toán phát triển cây dược liệu của tỉnh Nghệ An.

Ông Lê Hồng Vinh Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An:

"Đưa Nghệ An trở thành một trong những tỉnh có vùng nguyên liệu và sản xuất dược liệu lớn của cả nước"

          Kết quả nghiên cứu trong những năm qua đã cho thấy được giá trị các sản phẩm của các cây dược liệu trên địa bàn các huyện miền Tây Nghệ An là rất lớn, từ việc nghiên cứu phát triển dược liệu trên địa bàn đã tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị cao như trà hòa tan và viên nang từ trà hoa vàng, cao hà thủ ô đỏ và đẳng sâm, trà cà gai leo, các sản phẩm từ cây mú từn,… đã gợi mở hướng phát triển mới cho các huyện miền núi miền Tây Nghệ An, tạo sinh kế cho bà con trong vùng tăng thu nhập và phát triển bền vững.

          Trên cơ sở quy hoạch phát triển cây dược liệu được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 1187/QĐ-UBND ngày 03/4/2018 về phát triển cây dược liệu, từ đó tạo ra sản phẩm có giá trị, để chúng ta định hướng phát triển, xác định cách đi, cách làm từ đó triển khai nhân rộng mô hình trên toàn tỉnh.

          Thực hiện liên kết 4 nhà (nhà khoa học - nhà nước - nhà doanh nghiệp và nhà nông) để nghiên cứu triển khai, phải xác định trong bốn nhà thì nhà doanh nghiệp là quan trọng nhất, thứ hai là nhà nước, nếu nhà nước không có chính sách, không có định hướng, không có môi trường thì nhà doanh nghiệp sẽ không đầu tư.

          Phải lồng ghép các nguồn kinh phí từ các chương trình để phát triển, có cơ chế gắn phát triển dược liệu với bảo vệ rừng, nhất là rừng dưới tán rừng.

          Trên cơ sở mục tiêu đề ra, các sở, ban, ngành liên quan cần triển khai các nhiệm vụ, cụ thể:

          Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành địa phương có liên quan triển khai quy hoạch phát triển dược liệu đã được UBND tỉnh phê duyệt.

          Sở Y tế chủ trì, phối hợp với Sở Công thương, các ngành địa phương liên quan triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển công nghiệp dược, gắn với vùng nguyên liệu thành một ngành phát triển mạnh trong tương lai.

          Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành chủ động thu hút đầu tư cho chương trình phát triển cây dược liệu và công nghiệp dược, chủ động tham mưu lồng ghép các nguồn lực tài chính đầu tư phát triển dược liệu ở các địa phương miền Tây Nghệ An.

          Sở Khoa học và Công nghệ cần ưu tiên hoạt động khoa học và công nghệ phục vụ phát triển công nghiệp dược và phát triển dược liệu trên địa bàn tỉnh; đồng thời chịu trách nhiệm kết nối giới thiệu để doanh nghiệp và hợp tác với các viện, trường có thế mạnh về nghiên cứu triển khai, nghiên cứu ứng dụng để triển khai các đề tài, dự án khoa học tiếp theo như sản xuất giống, kỹ thuật canh tác, công nghệ chế biến,…

          Các huyện vùng miền Tây Nghệ An tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức, chỉ đạo lồng ghép có hiệu quả các chương trình, dự án, chính sách trong phát triển dược liệu trên địa bàn một cách hợp lý, đặc biệt là chương trình phát triển dược liệu gắn với bảo vệ rừng và xóa đói giảm nghèo (lưu ý công tác quy hoạch phát triển rừng). 

HỒ THỦY - HOÀNG ANH

 

 

Trần Văn Hữu

"Đàn" là một loại hình công trình tín ngưỡng truyền thống của người Việt, ví dụ như đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, đàn Sơn Xuyên, đàn Tiên Nông, đàn Thanh Minh, Thiện Đàn… Đàn có thể chỉ là một nền đất đắp lộ thiên hoặc có các công trình nhà cửa. Có những loại đàn chỉ mang tính chất tạm thời như đàn cầu siêu, đàn cầu an… (những đàn này chỉ lập lên khi có việc cầu cúng, xong thì triệt giải). Tuy nhiên cũng có những đàn có quy mô lớn, xây dựng kiên cố, có lịch sử hàng trăm năm như đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, đàn Sơn Xuyên và hệ thống các thiện đàn… Thiện Đàn hay Đàn Thiện là tên gọi chung của những di tích do Hội Thiện lập nên nhằm giữ gìn phong hóa, khuyến khích điều thiện, tuyên truyền các tư tưởng yêu nước thương nòi, giải phóng dân tộc, ví dụ như: Hiếu Thiện Đàn, Cư Thiện Đàn, Lạc Thiện Đàn, Giác Thiện Đàn, Công Thiện Đàn, Khuyến Thiện Đàn.v.v… Tuần Thiện Đàn tại xóm Tây Lộc, xã Diễn Ngọc, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An là một trong số các thiện đàn như vậy. Ngay trong tên gọi của di tích đã thể hiện rõ điều đó: "- Tuần" nghĩa là noi theo, tuân theo, " - Thiện" nghĩa là tốt, lành, như điều thiện, việc thiện… "Tuần thiện" nghĩa là noi theo điều thiện.         

Tuần Thiện Đàn ra đời từ một cơ duyên rất thú vị. Năm Tân Mùi niên hiệu Tự Đức (1871), ông Nguyễn Ngọc Mỹ người xóm Cổng, làng Lý Nhân là một chủ thuyền giàu có, hiền lành phúc hậu, trong một chuyến ra khơi, khi thuyền vừa chuẩn bị bỏ neo buông lưới thì ông phát hiện thấy có vật lạ đang dập dềnh trên sóng nước. Ông liền gọi các bạn thuyền và liền em trục vớt lên thì được một pho tượng Quan Thánh Đế Quân dáng người quắc thước, mặc võ phục, râu dài, mặt đỏ, nét mặt oai nghiêm. Ông thành kính để bức tượng lên trên đầu mũi thuyền rồi đốt đèn, thắp hương, khấn rằng "nếu ngài linh thiêng cho tôi kéo được mẻ cá lớn". Các bạn thuyền và liền em buông lưới xuống biển và quả nhiên được như ý. Sau đó, ông lại khấn tiếp "nếu quả thật linh thiêng thì xin ngài cho tôi thêm một mẻ cá nữa". Lần thứ hai cũng được nhiều như lần trước. Được mẻ cá lớn đầy thuyền, vừa lúc thuận Nồm(1), ông dương buồm cho thuyền về bến. Sau đó, ông chọn một khu đất cao ráo có phong cảnh đẹp rồi làm một ngôi nhà nhỏ bằng tre, lợp mái rạ, ba mặt thưng phên nứa, phía trước che mành để thờ phụng pho tượng. Từ ngày được pho tượng quý, gia đình ông làm ăn càng khấm khá lên, mọi việc được thuận lợi trôi chảy. Tiếng đồn về pho tượng Quan Thánh Đế Quân linh thiêng bay đi khắp nơi, nhiều người nghe vậy cũng đến đây lễ bái cầu khấn, trước mỗi chuyến vào lộng ra khơi hoặc gặp những chuyện khó khăn hoạn nạn đều được ngài phù hộ cho tai qua nạn khỏi.       

Mùa thu năm Giáp Tuất (1884), thuyền của cụ Quyền Định (người làng Lý Nhân) trong lúc đang đánh cá ngoài khơi thì gặp nạn. Cụ giao cho người nhà là ông Bạ Yên và ông Bách Tùng ở lại canh giữ thuyền còn mình về sửa biện lễ vật đến miếu Quan Thánh Đế Quân cầu đảo. Sau đó quả nhiên linh ứng, thuyền được lai dắt về bến an toàn. Mọi người đều rất vui mừng phấn khởi và lại càng sùng bái ngài Quan Thánh Đế Quân hơn. Năm đó lại được mùa cá, các chủ thuyền trong vùng bàn bạc nhau cùng chung tay góp sức để xây dựng lại nơi thờ Quan Thánh Đế Quân. Hàng chục thuyền chia thành các đoàn đi các vùng để mua vật liệu về xây dựng, có thuyền thì vào cung Nẻ (nay thuộc huyện Nghi Lộc) để chờ cát, đá; có thuyền thì ngược sông Bùng lên kẻ Dặm, kẻ Mốt, chợ Bộng và các vùng ngược để mua vôi, mật mía, ngói, gỗ... Chỉ trong một thời gian ngắn, điện thờ đức Quan Thánh Đế Quân đã được xây xong với bộ khung nhà bằng gỗ lim, xung quanh xây tường, mái lợp ngói âm dương (nay chính là nhà Thượng điện). Điện thờ Đức Quan Thánh được đặt tên là "Tuần Thiện đàn". Sự linh thiêng của đàn ngày càng được nhiều người biết đến, quy mô của đàn cũng được củng cố và mở rộng thêm. Năm Canh Ngọ, niên hiệu Bảo Đại thứ 5 (1930), nhân mùa giã(2) thắng lợi, các chủ thuyền cùng nhau đổ đồng(3) hai chuyến để trùng tu đàn và xây thêm nhà Bái đường (nay là nhà Trung điện). Đến năm Quý Mùi niên hiệu Bảo Đại (1943), các đàn sinh và thiện nam, tín nữ cùng chung tay góp sức xây dựng thêm nhà Hạ điện và Nghi môn.     

Quan Thánh Đế Quân hay còn được gọi là Đức Thánh Quan, Quan Công, Quan Vân Trường là một danh tướng thời Tam Quốc, được phong tước Thọ Đình hầu và xếp vào hàng ngũ hổ tướng quân. Hình ảnh Quan Công tay cầm thanh long đao, cưỡi ngựa Xích Thố oai phong lẫm liệt giữa trận tiền đã trở thành một biểu tượng bất hủ của võ tướng thời phong kiến. Quan Công không chỉ là võ tướng lừng danh mà ông còn nổi tiếng cương trực và tín nghĩa, trước sau như một. Chức tước, vàng bạc, người đẹp không thể lay chuyển được tấm lòng kiên trung của ông. Như chuyện Tào Tháo muốn thu phục Quan Công nên rất đem lòng hậu đãi, Quan Công khước từ tất cả, "treo ấn, niêm vàng" để về với Lưu Bị. Hay chuyện ở Hoa Dung mở lối trả ơn, vì ân xưa nghĩa cũ mà Quan Công đem cả tính mạng của mình để mở đường cho Tào Tháo thoát chết, người đời có thơ khen "Liều đem một chết đền tri kỷ, nên được ngàn thu nổi nghĩa danh"(4). Chính đức tính này đã đưa hình ảnh Quan Công trở thành biểu tượng cao đẹp của "trung - tín - nghĩa". Dân gian ca tụng ông "trung can huyền nhật nguyệt, nghĩa khí quán càn khôn" (trung can sánh với nhật nguyệt, nghĩa khí xuyên càn khôn). Xét về phương diện văn hóa, dân gian tôn sùng ông như một vị thần, vị thánh, vị phật, với nhiều danh hiệu như Quan Thánh Đế Quân, Quan Đế Gia, Cái Thiên Cổ Phật, Tây Sơn Phu Tử, Hiệp Thiên Đại Đế, Phục Ma Đại Đế. Tín ngưỡng thờ Quan Thánh phổ biến từ thời nhà Đường, nhưng đến đời nhà Thanh thì ông được sùng kính như vị thần hộ vệ cho hoàng tộc. Trong Phật giáo, ông được tôn kính như là vị Đại Hộ Pháp, hàng phục yêu ma, bảo hộ già lam, được thờ cùng với Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát. Đặc biệt, trong dân gian, hình tượng của ông còn được tôn sùng dưới nhiều góc độ khác nhau. Với đặc trưng tính cách tín nghĩa nên những người kinh doanh buôn bán xem Quan Công như một vị thần tài. Bởi trong công việc kinh doanh, luôn luôn phải lấy chữ "Tín" làm đầu. Chữ "Tín" quý hơn cả vàng. Chữ "Tín" là danh dự, là thương hiệu, là tài sản vô giá... Vì thế người ta thờ Quan Công với tâm niệm luôn phải giữ chữ "Tín" và mong muốn được phù hộ cho công việc kinh doanh thuận buồm xuôi gió, đắc tài đắc lộc. Hình tượng Quan Công còn được coi là một linh tượng thiêng liêng trong phong thủy. Người ta thường dùng tượng hoặc tranh vẽ Quan Công để trấn những nơi có phong thủy không tốt.

Người Việt Nam biết đến Quan Công thông qua tác phẩm "Tam quốc chí diễn nghĩa" của La Quán Trung nhiều hơn là thông qua Bắc sử (lịch sử Trung Quốc). Người ta tôn sùng Quan Công chính là tôn sùng hình ảnh nhân vật Quan Công trong tác phẩm "Tam quốc chí diễn nghĩa" được xây dựng nên với những phẩm chất tốt đẹp. Dân gian Việt Nam thờ ông chính là thờ biểu tượng của lòng trung tín nghĩa, khí tiết của người quân tử đại trượng phu. Triều Nguyễn đã ban sắc phong thần cho Quan Thánh Đế Quân(5) và cho lập Võ Miếu thờ Quan Thánh ngay bên cạnh Văn Miếu ở kinh thành Huế. Ở Nghệ An, đến nay, chưa rõ tín ngưỡng thờ Quan Thánh có từ khi nào nhưng đến thời nhà Nguyễn thì khá phổ biến. Đền thờ Quan Thánh lớn nhất của tỉnh và được nhà nước bảo trợ là Võ Miếu Nghệ An (được xây dựng từ thời Nguyễn ở phía Đông Nam tỉnh thành, nay là đền Hồng Sơn, thành phố Vinh). Ngoài ra ở một số địa phương có Võ chỉ cũng thờ Quan Thánh (như Võ chỉ xã Diên Lãm, sau này trở thành Hiếu Thiện đàn, nay thuộc xã Vân Diên, Nam Đàn). Đặc biệt nhiều nhất là hệ thống các Thiện Đàn. Hầu như các huyện ở đồng bằng và trung du Nghệ An đều có Thiện Đàn. Tại các Thiện đàn, nhân vật được thờ chính thường là Quan Thánh Đế Quân, như Giác Thiện đàn, Tuần Thiện Đàn (Diễn Châu), Khuyến Thiện Đàn (Thị trấn Yên Thành), Chỉ Thiện Đàn, Hiếu Thiện Đàn, Cư Thiện Đàn (Nam Đàn), Cổ Thiện Đàn (thành phố Vinh), Hội Thiện Đàn (Đô Lương)... Trong các tập kinh giáng bút của Thiện Đàn thường có bài giáng thơ của Quan Thánh Đế Quân mở đầu hoặc thừa lệnh khâm sai của Ngọc Đế giáng đàn truyền kinh. Thậm chí Quan Thánh Đế Quân còn có cả một tập kinh riêng, gọi là "Quan Thánh chân kinh". Điều đó chứng tỏ rằng sự ảnh hưởng của Quan Thánh Đế Quân trong hệ thống Thiện đàn là rất lớn.      

Tuần Thiện đàn gắn liền với hoạt động của Hội Thiện. Hội Thiện là hội tập hợp những người làm việc thiện, hướng thiện, có tổ chức khá chặt chẽ, có Hội chủ (đàn chủ), Hội viên (đàn sinh), thư ký, thủ quỹ... Hội tổ chức khắc in kinh sách, giảng kinh, tụng niệm, thực hành những giáo huấn của tiên thánh, hỗ trợ các đàn sinh và nhân dân trong cuộc sống hàng ngày... Thậm chí nhiều thành viên Hội là những nhà hoạt động cách mạng bí mật dưới danh nghĩa "thầy cúng" của đàn. Hoạt động của Hội Thiện và Tuần Thiện đàn không chỉ bó hẹp trong phạm vi làng Lý Nhân mà còn có sự giao lưu, liên kết với các Hội, Đàn ở các vùng miền khác. Kinh sách đọc tụng hàng ngày tại đàn, ngoài những kinh được giáng bút tại đây còn có nhiều kinh được rước, được thỉnh từ các thiện đàn khác ở Nam Đàn (Nghệ An), Hà Nội, Hà Tây, Hà Đông, Nam Định... Hội thiện và Tuần Thiện Đàn đã trở thành một trong những địa điểm hoạt động bí mật của những người yêu nước và các chiến sĩ cộng sản. Bề ngoài, Tuần Thiện Đàn vẫn hoạt động như một cơ sở tín ngưỡng tâm linh của người dân, có lễ bái, cầu cúng, xin xăm, bốc thuốc, đọc kinh, giảng kinh nhưng ẩn chứa trong những bài kinh thánh giáng bút là những tư tưởng tiến bộ, khơi dậy lòng yêu nước, tự tôn dân tộc(6). Theo sách Lịch sử Đảng bộ & nhân dân xã Diễn Ngọc và lời kể của các cụ cao niên tại địa phương(7), Tuần Thiện Đàn là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử của địa phương, tiêu biểu như:

- Giữa năm 1928, nhóm Thanh niên cách mạng đồng chí hội ở Tiên Lý đã tổ chức nhiều phường, hội cách mạng khác nhau như Hội học sinh, Hội đá ban, Hội hiếu, Phường cho vay, Phường đan lưới, chắp dây, đánh gai, vá buồm… để tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê nin, giáo dục chính trị cho nhân dân(8). Lúc này, Hội Thiện đã được hình thành từ trước đó, chuyên tương trợ cứu tế với tinh thần lá lành đùm lá rách. Mục đích hoạt động của Hội Thiện có nhiều điểm tương đồng với nội dung tuyên truyền của nhóm Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Vì thế, nhóm này đã nhân đó lồng ghép, truyền bá nhiều tư tưởng cách mạng tiến bộ trong các sinh hoạt của Hội Thiện, đặc biệt là qua những bài kinh giáng bút của các vị tiên thánh để kêu gọi nhân dân từ bỏ các hủ tục lạc hậu, rượu chè, bài bạc, trai gái…  

- Trong thời kỳ 1936 - 1939:

+ Thực hiện chỉ thị của Phủ ủy về chuyển hướng sinh hoạt bí mật sang công khai nửa bí mật, nhiều tổ chức quần chúng được sắp xếp lại. Đông đảo thanh niên và nông dân đã vào Hội Văn, Hội Võ, Hội Thiện(9)… Lúc này, số lượng hội viên của Hội Thiện và đàn sinh của Tuần Thiện đàn lại càng đông hơn trước, các kinh sách được khắc bản và in ra với số lượng lớn(10). Trong đó có nhiều tài liệu bí mật được trà trộn trong các bản kinh để phát tán đến các cơ sở khác. Tài liệu được ngụy trang dưới vỏ bọc là những quyển kinh Đàn Thiện rồi từ đó truyền đến các Thiện đàn và các cơ sở bí mật. Nội dung tuyên truyền yêu nước, chống giặc ngoại xâm được lồng ghép trong các bài giảng kinh, nhấn mạnh các khái niệm tự do, dân chủ, bác ái, bình đẳng (có các đồng chí Bá, đồng chí Nguyễn Viết Tốn, đồng chí Nguyễn Dụy, đồng chí Hiệp cùng hoạt động trong phong trào này).

+ Trong thời điểm này, phong trào học chữ Quốc ngữ lên cao, việc học chữ Quốc ngữ được sáng tạo bằng nhiều cách như lồng ghép với việc đọc báo, bình thơ(11). Tuần Thiện Đàn cũng là một trung tâm truyền bá chữ Quốc ngữ, có các thầy Trần Văn Ngọc, thầy Trung, thầy Phú là những người hoạt động rất tiêu biểu.    

Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, xã Diễn Ngọc nói riêng và huyện Diễn Châu nói chung nằm trên tuyến giao thông huyết mạch cả đường bộ và đường thủy nên bị máy bay địch bắn phá, càn quét dữ dội, các đền, chùa, miếu mạo, nhà thánh trong vùng phần thì bị bom đạn phá hủy, phần thì bị tiêu thổ kháng chiến (như đền Cả, đền Đệ Nhất, đền Đệ Nhị, đền Bản Cảnh, Chùa Tiên Sơn, chùa Quýnh, Nhà thánh Lý Nhân...), riêng Tuần Thiện đàn vẫn hiên ngang trước mưa bom bão đạn của quân thù để rồi "trơ gan" cùng tuế nguyệt. Các công trình kiến trúc gần như còn nguyên vẹn, nhân dân đã rước tượng, long ngai bài vị của các vị Phật, thánh, thần và đồ tế khí ở các di tích trong vùng về hợp tự và cất giữ tại đây. Hiện nay ngoài thờ chính là Quan Thánh Đế Quân, Tuần Thiện đàn còn là "ngôi nhà chung" của Chư Phật, Bồ Tát, Thần Tiên, Khổng Tử, các vị tiên hiền khoa bảng, Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, Tứ Vị Thánh Nương, Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn, Bản Cảnh Thành Hoàng Ông Cấu Tối Cao Linh Thần, Cá Ông... Vì vậy, đây là nơi giữ gìn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các làng cổ trong khu vực. Hàng năm tại Tuần Thiện đàn có nhiều ngày lễ để kỷ niệm, tri ân các vị tiên thánh, thần phật như: Lễ húy kỵ Sát Hải Đại vương (mồng một tết Nguyên đán), lễ Khánh đản Ngọc Hoàng Thượng Đế (9/1 âm lịch), lễ Khai Xuân (16/1 âm lịch), lễ Khánh đản Văn Xương Đế Quân (3/2 âm lịch), lễ Phật đản (Bụt Sinh, 8/4 âm lịch), lễ Khánh đản Quan Thánh Đế Quân (24/6 âm lịch), lễ thánh húy Văn Xương Đế Quân (26/7 âm lịch), lễ khánh đản Táo Quân (3/8 âm lịch), lễ Táo Vương triều thiên (Tất niên, 23/12 âm lịch). Tuy nhiên lớn nhất là lễ Phật đản (Bụt Sinh, 8/4 âm lịch) và lễ Khánh đản Quan Thánh Đế Quân (24/6 âm lịch). Mỗi năm thu hút hàng chục nghìn lượt khách về dâng hương, lễ bái. Mỗi người về đây đều mang mỗi mong ước khác nhau, nhưng đều gặp nhau ở một điểm là lòng thành kính tri ân và hướng thiện.               

Tuần Thiện Đàn là công trình kiến trúc tín ngưỡng, nơi thờ tự các vị phúc thần có công "hộ quốc tý dân" được sử sách và nhân dân ghi nhận. Tại di tích còn lưu giữ được nhiều cổ vật quý có giá trị, với tổng số 289 đơn vị hiện vật, trong đó có 232 cổ vật, 57 hiện vật mới, bao gồm các chất liệu: gỗ, sứ, đồng, giấy… tiêu biểu như hệ thống tượng Phật, tượng Bồ Tát, tượng Thánh Mẫu, tượng thần, long ngai, bài vị, hương án, khám thờ, bộ mộc bản gần 100 tấm, sách kinh bằng chữ Hán Nôm, sắc phong, hoành phi, câu đối… Các đồ tế khí được bài trí theo các nguyên tắc âm dương, ngũ hành như: đông bình tây quả, đông phù tây thủy, nam tả nữ hữu… phản ánh tư duy nông nghiệp, cầu mong sự vận động của vũ trụ và vạn vật thuận hành theo các quy luật tự nhiên để muôn vật sinh sôi, phát triển thịnh vượng, đồng thời tạo thêm sự linh thiêng cho di tích. Những cổ vật này giúp các nhà khoa học có thêm tư liệu để nghiên cứu về nghệ thuật điêu khắc dân gian, kỹ thuật sơn thếp, sự thay đổi y phục qua các thời đại và trang phục của các tầng lớp trong xã hội. Đặc biệt là hệ thống tượng cổ với những đường nét hoa văn thật mềm mại, uyển chuyển, phô diễn hết những cái tinh túy của nghệ thuật dân gian. Tất cả những tác phẩm nghệ thuật đó thể hiện sự tài hoa và sáng tạo của nghệ nhân. Mỗi pho tượng là một tác phẩm nghệ thuật không trùng lặp. Từ vóc dáng, khuôn mặt, ánh mắt, khóe môi, cử chỉ, trang phục, trang sức… trên mỗi pho tượng đều toát lên những vẻ đẹp thánh thiện rất gần gũi với tâm hồn con người Việt Nam. Trải qua sự bào mòn của tuế nguyệt và những biến cố thăng trầm của thời cuộc nhưng những nét vàng son vẫn nhuận sắc với thời gian.    

Tuần Thiện Đàn còn mang ý nghĩa chính trị sâu sắc. Đứng trước cảnh nước mất nhà tan, đại đa số nhân dân còn chìm đắm trong mê muội, các văn thân trí thức của Hội Thiện đã lập Thiện Đàn nhằm kêu gọi giữ gìn thuần phong mỹ tục, bãi bỏ những hủ tục mê tín dị đoan, hủ lậu. Đặc biệt, ẩn chứa trong các bài thơ giáng bút, những bài kinh thánh là những lời thức tỉnh nhân tâm, thức tỉnh lòng yêu nước đang âm ỷ trong trái tim mỗi người dân đất Việt, thậm chí có cả những bài tuyên truyền cách mạng, khuyến khích học tập mở mang dân trí, lợi ích dân sinh... Vì thế, Thiện Đàn nói chung và Tuần Thiện Đàn nói riêng đã đóng một vai trò quan trọng trong một giai đoạn lịch sử nhạy cảm và đầy biến động của dân tộc, góp phần cho những thắng lợi trên mặt trận đấu tranh chính trị, tuyên truyền yêu nước.    

Trải qua hơn một thế kỷ tồn tại, Tuần Thiện Đàn luôn là địa chỉ sinh hoạt văn hóa tâm linh hướng thiện của người dân Tiên Lý xưa và Diễn Ngọc nay cũng như cả vùng nói chung. Mỗi người về đây như gạt bỏ được những điều bất thiện và hướng lương tâm đến những điều thiện, điều lành. Sự thành kính đối với các bậc tiền nhân thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Những lời Thánh huấn, những bài thơ giáng bút, những bài Kinh Thánh đều hướng con người đến "chân thiện mỹ". Việc nghiên cứu các hoạt động tế lễ, hội hè và các bản kinh ở di tích còn góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể của địa phương và dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, đoàn kết xóm làng.

Hiện nay, các hoạt động tế lễ được tổ chức rất trang nghiêm, trọng đại vừa mang bản sắc cổ truyền lại vừa mang hơi thở của cuộc sống hiện đại thu hút hàng chục nghìn lượt khách về dâng hương, hành lễ mỗi năm. Đặc biệt, việc cúng tế ở Tuần Thiện đàn hầu như không sử dụng vàng mã. Đây là nét đẹp văn hóa, vừa thể hiện nếp sống văn minh, hiện đại, vừa thực hiện đúng những lời giáo huấn của các vị tiên thanh, cần tuyên truyền và nhân rộng hình mẫu cho các di tích trên địa bàn. Các hoạt động văn hóa tín ngưỡng tại di tích còn góp phần duy trì nét đẹp thuần phong mỹ tục truyền thống của địa phương, tăng cường mối đại đoàn kết cộng đồng. Cũng thông qua đó thể hiện tấm lòng tri ân, truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc, góp phần giáo dục nhân cách đạo đức cho thế hệ trẻ.

Đến với di tích là dịp để du khách được hòa mình vào không gian làng biển với bến cảng, bãi biển rì rào sóng vỗ. Phong cảnh nên thơ ấy sẽ giúp du khách giải tỏa những u sầu, buồn bực trong đời thường. Đồng thời thăm quan các di tích nổi tiếng và làng nghề trong vùng, như: đền Quan Lớn Bùng, Nhà thờ họ Trần và mộ Quản giáp Ca trù Trần Đức Lương, Lèn Hai Vai, đền Cuông, chùa Cổ Am, đền thờ Ngô Trí Hòa, làng nghề nước mắm, làng nghề làm muối…

Tuần Thiện Đàn là một công trình văn hóa tâm linh tiêu biểu của xã Diễn Ngọc nói riêng và huyện Diễn Châu nói chung. Đây là nơi ghi dấu và chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử của địa phương, đồng thời cũng là nơi sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của nhân dân trong vùng. Hiện nay, di tích vẫn còn lưu giữ được các công trình kiến trúc gốc và nhiều tài liệu, hiện vật có giá trị quý hiếm. Đây, đã và đang là một địa chỉ sinh hoạt văn hóa tâm linh thu hút đông đảo nhân dân và du khách về chiêm ngưỡng, lễ bái. Vì vậy, việc lập hồ sơ xếp hạng trình các cấp có thẩm quyền công nhận di tích lịch sử là hết sức cần thiết, nhằm tôn vinh người có công với dân với nước và tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích. 

 

Chú thích

(1). Thuận Nồm nghĩa là gió Nồm lên, thuyền đi về thuận lợi.

(2). Giã: đánh bắt gần bờ. Mùa giã: mùa đi giã đánh cá. 

(3). Đổ đồng: nghĩa là được bao nhiêu đều đổ bán chung, không phân biệt nhiều ít.

(4). Tam quốc chí diễn nghĩa, sđd, tập 1, trang 914.

(5). Ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam nhiều nơi có sắc phong thần cho Quan Thánh Đế Quân. Hiện nay, ở Nghệ An chưa phát hiện sắc phong nào cho Quan Thánh.

(6). Theo lời kể của các nhân chứng sống, những đêm rằm, mồng một các cụ vẫn đưa kinh sách ra đọc giảng nhưng sau đó là bàn bạc công việc bí mật.

(7). Theo lời cụ Lê Đức Nhân (88 tuổi), cán bộ lão thành cách mạng; cố Thành (97 tuổi) và cố Tấn (83 tuổi) là những cụ có cha ông làm thủ nhang tại đàn và bản thân các cụ cũng làm việc tại đàn lâu năm. Các cụ đều là người xã Diễn Ngọc.

8.9.11. Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Diễn Ngọc, sđd, trang 56,71,72.

10. Hiện nay, tại đàn còn lưu giữ hàng trăm trang khắc mộc bản và hàng chục sách kin

Quán Vi Miên

1. Có cả ngàn vạn người tham dự lễ hội đền Chín Gian ở Quế Phong hàng năm vào dịp đầu xuân. Trong số đó nhiều người đã đặc biệt chú ý đến hai "câu đối" bằng tiếng Thái treo ở trong đền này: "Đày ky bò lưm thủ/ Đày dủ lưm cống". Tác giả bài "Từ một câu đối ở Đền Chín Gian" đăng trên Bản tin Dân tộc tỉnh Nghệ An, số Xuân Kỷ Hợi, tr. 23-24, dịch là: "Được ăn không quên đũa/ Được ở không quên công". Đó là một bản dịch chính xác.

2. Có điều đây có phải là "câu đối" hay không thì còn phải xem xét. Như đã biết, "câu đối" thuộc thể loại văn biền ngẫu, gồm hai vế đối nhau nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội. Nên lưu ý là từ đối () ở đây có nghĩa là ngang nhau, hợp nhau thành một đôi. Câu đối là một trong những thể loại của Văn học Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản, và Hàn Quốc.

Câu đối có nguồn gốc từ Trung Quốc. Người Trung Quốc gọi câu đối là đối liên (對聯) nhưng tên gọi xưa của nó là đào phù (桃符). Câu đối được xem là tinh hoa của văn hóa chữ Hán. Người Trung Quốc quan niệm: "Nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa". Đối liên có lịch sử ra đời cách đây khoảng 3000 năm, nhưng theo Tống sử Thục thế gia (宋史蜀世家), câu đối đầu tiên được ghi lại do chính chúa nhà Hậu Thục (934-965) là Mạnh Sưởng viết trên tấm gỗ đào vào năm 959. Nguyên bản: "新年納餘慶/ 嘉節號長春"; Phiên âm: "Tân niên nạp dư khánh/ Gia tiết hiệu trường xuân"; Dịch thơ: "Năm mới thừa chuyện vui/ Tiết đẹp xuân còn mãi".

Khi viết câu đối, nếu chọn được câu chữ tuân theo nguyên tắc sau thì đôi câu đối ấy được gọi là chỉnh đối hay đối cân. (1) Đối ý và đối chữ. Đối ý: hai ý đối phải cân nhau mà đặt thành 2 câu sóng nhau. Đối chữ: phải xét 2 phương diện thanh và loại. (a) Về thanh: thanh bằng đối với thanh trắc và ngược lại. (b) Về loại: thực tự (hay chữ nặng như: trời, đất, cây...) phải đối với thực tự; hư tự (chữ nhẹ như: thì, mà, vậy, ru...) phải đối với hư tự; danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ; nếu vế đối này có đặt chữ Nho thì vế kia cũng phải đặt chữ Nho...

Một đôi câu đối gồm hai câu đi song nhau, mỗi câu là một vế. Nếu câu ấy từ một người sáng tác gọi là vế trên và vế dưới. Nếu một người nghĩ ra một vế để người khác làm vế kia thì gọi là vế ra và vế đối.

Khi một câu đối do một người làm ra cả hai vế, thì chữ cuối, vế trên, câu bên phải (khi treo) là thanh trắc; còn chữ cuối, vế dưới, câu bên trái là thanh bằng.

Số chữ trong câu đối không nhất định, theo số chữ và cách đặt câu có thể chia câu đối ra làm các thể sau: (1) Câu tiểu đối: là những câu 4 chữ trở xuống. (2) Câu đối thơ: là những câu làm theo lối đặt câu của thể thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn. (3) Câu đối phú: là những câu làm theo các lối đặt câu của thể phú, gồm có: (a) Lối câu song quan: là những câu 6 đến 9 chữ, đặt thành một đoạn liền. (b) Lối câu cách cú: là những câu mà mỗi vế chia làm 2 đoạn, một đoạn ngắn, một đoạn dài. (c) Lối câu gối hạc hay hạc tất: là những câu mỗi vế có 3 đoạn trở lên. (4) Câu tiểu đối: (a) Vế phải: trắc-trắc-trắc. (b) Vế trái: bằng-bằng-bằng. (5) Câu đối thơ: phải theo đúng luật bằng trắc của hai câu thực và câu luận trong lối thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn. (6) Câu đối phú: Chữ cuối mỗi vế và chữ cuối mỗi đoạn phải bằng đối với trắc hoặc trắc đối với bằng. Khi mỗi vế đối có từ 2 đoạn trở lên thì nếu chữ cuối vế là trắc, các chữ cuối các đoạn trên phải là bằng và ngược lại.

Người Trung Quốc phân loại câu đối theo cách dùng và đặc điểm nghệ thuật: (1) Phân loại theo cách dùng. (a) Xuân liên (春聯): Câu đối xuân, chuyên dùng vào dịp Tết, gắn ở cửa. (b) Doanh liên (楹聯): Câu đối treo ở cột trụ, dùng trong nhà, cơ quan, cung điện của vua và những nơi cổ kính. (c) Hạ liên (賀聯): Câu đối chúc mừng, thường được dùng để chúc thọ, chúc sinh nhật, hôn giá, thăng quan tiến chức, có con, khai nghiệp v.v. (d) Vãn liên (挽聯): Câu đối than vãn, dùng trong lúc ai điệu tử vong. (đ) Tặng liên (贈聯): Dùng để tán thán, đề cao hoặc khuyến khích người khác. (e) Trung đường liên (中堂聯): Câu đối dùng để treo ở những khách đường lớn, chỗ nhiều người lưu ý, và được phối hợp với bút hoạch (thư pháp). (2) Phân loại theo đặc điểm nghệ thuật: (a) Điệp tự liên (疊字聯): Một chữ xuất hiện liên tục. (b) Phức tự liên (複字聯): Hai vế có chữ giống nhau nhưng không xuất hiện một cách trùng phức liên tục. (c) Đỉnh châm liên (頂針聯): Chữ nằm phần đuôi của câu đầu lại là chữ đầu của câu sau. (d) Khảm tự liên (嵌字聯): Bao gồm số, phương vị, tiết khí, niên hiệu, họ người, nhân danh, địa danh, vật danh (ví như tên thuốc) v.v. (đ) Xích (sách) tự liên   (拆字聯): Mỗi hợp thể tự bên trong câu đối tách thành bao nhiêu chữ đơn thể, có người phân ra tinh tế hơn nữa là mở chữ ra (xích tự 拆字), hợp chữ lại (hợp tự 合字), tách chữ ra (tích tự 析字) v.v. (e) Âm vận liên (音韻聯): Bao gồm đồng âm dị tự, đồng tự dị âm cùng với điệp vận. (g) Hài thú liên (諧趣聯): Hàm dung ý nghĩa khôi hài, ẩn kín. (h) Vô tình đối  (無情對): Ý nghĩa trên dưới không tương quan một mảy may nào, có chỉnh những chữ, từ. Phần lớn Vô tình đối này ít thấy ý vị, hoàn toàn có thể quy nhập vào Hài thú liên bên trên. (i) Hồi văn liên (回文聯): Đọc xuôi (thuận độc 順讀) hay đọc ngược (đảo độc 倒讀) ý tứ hoàn toàn như nhau.

Câu đối Việt Nam được Dương Quảng Hàm phân loại theo ý nghĩa, gồm các loại sau: (1) Câu đối mừng: làm để tặng người khác trong những dịp vui mừng như: mừng thọ, mừng thi đỗ, mừng đám cưới, mừng nhà mới... (2) Câu đối phúng: làm để viếng người chết. (3) Câu đối Tết: làm để dán nhà, cửa, đền, chùa... về dịp Tết Nguyên Đán. (4) Câu đối thờ: là những câu tán tụng công đức tổ tiên hoặc thần thánh làm để dán hoặc treo những chỗ thờ. (5) Câu đối tự thuật: là những câu kể ý chí, sự nghiệp của mình và thường dán ở những chỗ ngồi chơi. (6) Câu đối đề tặng: là những câu đối làm ra để đề vào chỗ nào đó hoặc tặng cho người khác. (7) Câu đối tức cảnh: là những câu tả ngay cảnh trước mắt. (8) Câu đối chiết tự (chiết: bẻ gãy, phân tách; tự: chữ): là những câu do sự tách chữ Hán hoặc chữ Nôm ra từng nét hoặc từng phần mà đặt thành câu. (9) Câu đối tập cú: là những câu lấy chữ sẵn ở trong sách hoặc ở tục ngữ, ca dao.

(10) Câu đối thách (đối hay đố): người ta còn nghĩ ra những câu đối oái oăm, cầu kỳ rồi người ta tự đối lấy hoặc thách người khác đối. Lối đối này thường sử dụng nghệ thuật chơi chữ, đồng âm dị nghĩa... (1)

3. Như vậy, ta có thể thấy rằng, hai câu tiếng Thái ở Đền Chín Gian trên, không phải là "câu đối". Nhân tiện cũng nói thêm, lịch sử văn học Thái không có truyền thống câu đối. Những năm 60 của thế kỷ XX trở lại đây, trong nhà người Thái có treo câu đối (tiếng Việt) là để trang trí là chính. Không phải ai cũng hiểu câu đối tiếng Việt và Hán Việt. Vậy hai câu tiếng Thái trên là gì? Đó là hai câu tục ngữ. Các nhà nghiên cứu văn hóa Thái từ lâu đã xếp hai câu này vào thể loại "tục ngữ".

"Tục ngữ" là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền đạt, thường gieo vần lưng. Nội dung tục ngữ thường phản ánh những kinh nghiệm về lao động sản xuất, ghi nhận các hiện tượng lịch sử xã hội, hoặc thể hiện triết lý dân gian của dân tộc. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra từ tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài. Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý. Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ... Đa số tục ngữ đều có vần, gồm hai loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca... Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán. Các kiểu suy luận: liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả.

"Tục ngữ", khái niệm này tất nhiên là do các nhà nghiên cứu văn học đặt ra. Trong lịch sử văn học Thái không có khái niệm này. Người ta chỉ gọi những câu như vậy là "quam xón côn", tức là "lời răn người". "Đày ky bò lưm thủ/ Đày dủ lưm cống" (Được ăn không quên đũa/ Được ở không quên công) đúng là "lời răn người" không được quên ơn (những người đi trước). Một lời "khuyên răn" về đạo lý làm người, đạo lý sống như vậy, treo ở đền Chín Gian thật là có ý nghĩa! Nó răn dạy con cháu dòng họ Lo Căm (thờ tổ tiên trong đền Chín Gian) và cả ngoài dòng họ Lo Căm phải ghi nhớ công ơn cha ông đã khai bản lập mường cách đây hơn 5 thế kỷ, mới có được bản mường tươi đẹp như ngày hôm nay. 

Chú thích

(1) Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.

 

Thái Huy Bích

 

Nhiều văn bản chữ Quốc ngữ viết chưa đúng về phủ Hưng Nguyên

Phủ Hưng Nguyên tồn tại gần 50 năm, ra đời năm Thành Thái thứ 10 (1898), xóa tên sau Cách mạnh tháng Tám - 1945. Phủ Hưng Nguyên quản lý hai huyện Hưng Nguyên và Nghi Lộc. Nhưng nhiều cuốn sách gần đây viết chưa đúng về đơn vị hành chính này.

Có một bản dịch sách "Đại Nam nhất thống chí" của Quốc sử quán triều Nguyễn, xuất bản năm 1996(1), không  dịch  đoạn viết về phủ Hưng Nguyên. Các tác giả viết sách liên quan đến địa danh phủ Hưng Nguyên và huyện Nghi Lộc giai đoạn 1898 - 1945, mà tham khảo sách này đều có sai sót. Chẳng hạn sách "Địa chí văn hóa huyện Hưng Nguyên" trang 12, có đoạn: "… vào đời Khải Định năm 1919, cấp phủ là cấp hành chính trên cấp huyện bị bãi bỏ, phủ chỉ ngang huyện hay nhỉnh hơn huyện một tí chút mà thôi. Hưng Nguyên được gọi là phủ Hưng  còn lại 6 tổng "(2). "Địa chí huyện Nghi Lộc", xuất bản năm 2014 cũng không viết huyện này từng thuộc phủ Hưng Nguyên.

Bài viết bài này đính chính những sai sót do chính tôi và một số nhà nghiên cứu đã viết, khi chưa có điều kiện tra cứu tư liệu Hán Nôm.

II. Sách "Đại Nam nhất thống chí" viết về phủ Hưng Nguyên

In sao chữ Hán:

興元府  在省城西三里,東西距三十五里,南北距六十四里,東至海二十

, 西至南坛縣界九里, 南至羅山宜春二縣界十里, 北至東城縣界五十四里.

漢咸驩縣地, 黎初置縣一曰 興元一曰真福,隷英都德光二府. 本朝因之嘉隆

明命年间圴隸英山府統轄,成泰十年以興元縣為府,統宜祿.今領縣二.

興元縣府兼里,東西距十一里,南北距六十四里,東至宜祿縣界, 西至南坛

縣界, 南至羅山縣界, 北至東城縣界. 黎初置縣隷英都府.本朝嘉隆因之,改為府

兼里,十二年改府統轄, 成泰十年改曰府,今領總七,社村一百二十五.

          谨按: 成泰十年机蜜院奏凖興元改為府,又十八年乂安省咨冊,則興元縣之名

無復存者. 然一統志所載,凡他府轄均有兼理統轄之例,蓋前載府名, 乃統一

府之疆界,後載縣名,乃分一府之疆界,苟不存興元縣前名号,則疆界不明,其所領

總社之数,無所管轄, 故併著之以備稽考.

    宜祿縣 府統轄. 在府東北,西東距二十四里,南北距四十六里,東至海, 西興元縣, 南至江宜春縣界, 北至興元縣界. 古新福縣,属明改真福,黎因之一

曰宜真,隸乂安府, 伪西改曰真祿,隷德壽府. 本朝明命七年改隸英山府,成泰元年

改今名, 十年改隸本府. 今領總四,社村八十一.前有训導縣學在錦場社,今废.

Phiên âm:

Hưng Nguyên phủ, tại tỉnh thành Tây tam lý, Đông Tây cự tam thập ngũ lý, Nam Bắc cự lục thập tứ lý, Đông chí hải nhị thập lý, Tây chí Nam Đàn huyện giới cửu lý, Nam chí La Sơn, Nghi Xuân nhị huyện giới thập lý, Bắc chí Đông Thành huyện giới ngũ thập tứ lý.

Hán Hàm Hoan huyện địa. Lê sơ trí huyện, nhất viết Hưng Nguyên, nhất viết Chân Phúc, lệ Anh Đô, Đức Quang  nhị  phủ. Bản triều nhân chi, Gia Long, Minh Mạng niên gian quân lệ Anh Sơn phủ thống hạt. Thành Thái thập niên dĩ Hưng Nguyên huyện vi phủ, thống Nghi Lộc. Kim lãnh huyện nhị.

Hưng Nguyên huyện, phủ kiêm lý. Đông Tây cự thập nhất lý, Nam Bắc cự lục thập tứ lý, Đông chí Nghi Lộc huyện giới, Tây chí Nam Đàn huyện giới, Nam chí La Sơn huyện giới, Bắc chí Đông Thành huyện giới. Lê sơ trí huyện, lệ Anh Đô phủ. Bản triều Gia Long nhân chi cải vi phủ kiêm lý, thập nhị niên cải phủ thống hạt. Thành Thái thập niên cải viết phủ. Kim lãnh tổng thất, xã thôn nhất bách nhị thập ngũ.

Cẩn án: Thành Thái thập niên, Cơ Mật viện tấu chuẩn Hưng Nguyên cải vi phủ, hựu thập bát niên Nghệ An tỉnh tư sách tắc Hưng Nguyên huyện chi danh vô phục tồn giả. Nhiên Thất thống chí sở tải, phàm tha phủ hạt quân hữu kiêm lý thống hạt chi lệ, cái tiền tải phủ danh, nải thống nhất phủ chi cương giới, hậu tải huyện danh, nải phân nhất phủ chi cương giới. Cẩu bất tồn Hưng Nguyên huyện tiền danh hiệu tắc cương giới bất minh kỳ sở lãnh tổng xã chi số, vô sở quản hạt. Cố tính trước chi dĩ bị kê khảo.

Nghi Lộc huyện, phủ thống hạt. Tại phủ Đông Bắc, Tây Đông cự nhị thập tứ lý, Nam Bắc cự tứ thập lục lý, Đông chí hải, Tây chí Hưng Nguyên huyện, Nam chí giang Nghi Xuân huyện giới, Bắc chí Hưng Nguyên huyện giới. Cổ Tân Phúc huyện. Thuộc Minh cải Chân Phúc. Lê nhân chi nhất viết Nghi Chân, lệ Nghệ An phủ. Ngụy Tây cải viết Chân Lộc, lệ Đức Thọ phủ. Bản triều Minh Mệnh thất niên cải lệ Anh Sơn phủ. Thành Thái nguyên niên cải kim danh, thập niên cải lệ bản phủ. Kim lãnh tổng tứ, xã thôn bát thập nhất. Tiền hữu Huấn đạo huyện học tại Cẩm Trường xã, kim phế.

Dịch nghĩa:

Phủ Hưng Nguyên(3) nằm phía Tây thành Nghệ An, cách 3 dặm(4). Chiều Đông Tây 35 dặm, chiều Nam Bắc 64 dặm, phía Đông cách biển 20 dặm, phía Tây cách địa giới huyện Nam Đàn 9 dặm, phía Nam cách địa giới huyện La Sơn, Nghi Xuân 10 dặm, phía Bắc cách địa giới huyện Đông Thành 54 dặm.

Thời thuộc Hán đây là huyện Hàm Hoan. Triều Lê Sơ lấy một phần đặt huyện Hưng Nguyên, một phần đặt huyện Chân Phúc. Huyện Hưng Nguyên thuộc phủ Anh Đô. Huyện Chân Phúc thuộc phủ Đức Quang. Triều Nguyễn, dựa theo đó, các triều vua Gia Long, Minh Mạng đều đặt hai huyện thuộc phủ Anh Sơn. Năm Thành Thái thứ 10 (tức năm 1898), đối là Phủ Hưng Nguyên, quản lý cả huyện Nghi Lộc. Nay phủ quản lý hai huyện.

Huyện Hưng Nguyên do phủ kiêm lý. Chiều Đông Tây 11 dặm, chiều Nam Bắc 64 dặm, phía Đông giáp huyện Nghi Lộc, phía Tây giáp huyện Nam Đàn, phía Nam giáp huyện La Sơn, phía Bắc giáp huyện Đông Thành. Thời Lê sơ thuộc phủ Anh Đô. Thời Nguyễn, triều vua Gia Long, dựa theo đó, chuyển cho phủ kiêm lý, năm Gia Long thứ 12 chuyển sang chế độ phủ thống hạt. Năm Thành Thái thứ 10 đổi gọi là phủ. Nay quản lý 7 tổng 125 xã, thôn(5).

Huyện Nghi Lộc do phủ thống hạt, nằm phía Đông Bắc của phủ lỵ. Chiều Đông Tây 24 dặm, chiều Nam Bắc 46 dặm, phía Đông đến biển, phía Tây đến huyện Hưng Nguyên, phía Nam đến sông giáp giới huyện Nghi Xuân, phía Bắc giáp huyện Hưng Nguyên. Thời cổ gọi là huyện Tân Phúc. Thời Bắc thuộc, nhà Minh đổi gọi Chân Phúc. Triều Lê nhân đó đổi gọi Nghi Chân thuộc phủ Nghệ An. Triều Tây Sơn đổi là huyện Chân Lộc thuộc phủ Đức Thọ. Triều Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 7 đổi thuộc phủ Anh Sơn. Năm Thành Thái thứ 1 đổi gọi như hiện nay (Nghi Lộc). Năm Thành Thái thứ 10 chuyển sang thuộc phủ Hưng Nguyên. Nay huyện quản lý 4 tổng 81 xã, thôn(6).

III. Một số tư liệu khác về phủ Hưng Nguyên

1. Bia Tiến sĩ ở Văn miếu Huế, khoa thi năm Đinh Vị, niên hiệu Thành Thái thứ 19 (đầu 1907), trong số 4 người đậu đệ nhị giáp (Phó bảng), có một người Nghệ An tên là Nguyễn Đức Lý. Quê quán ông Nguyễn Đức Lý văn bia chép như sau (phiên âm chữ Hán): "Yên Trường tổng, Nghi Lộc huyện, Hưng Nguyên phủ, Nghệ An tỉnh"(7).

2. Sắc phong thần cho Ngài Nguyễn Viết Nhung tại nhà thờ họ Nguyễn Viết, khối 16 phường Hồng Sơn, thành phố Vinh, vào năm Khải Định thứ 9 (1924), mở đầu như sau (phiên âm): "Sắc Nghệ An tỉnh, Hưng Nguyên phủ, Yên Trường Xã, Trung Mỹ thôn…".

 

Chú thích

1. Lê Dần chịu trách nhiệm xuất bản. Cục xuất bản cấp giấy phép ngày 26/3/1996. In tại Xí nghiệp in quận I. TP Hồ Chí Minh.

2. PGS Ninh Viết Giao, chủ biên, NXB Khoa học Xã hội-2009.

3. Phủ lỵ Hưng Nguyên xưa ở vị trí chợ Đước, xã Hưng Chính, TP Vinh ngày nay.

4. 1 dặm thời Nguyễn bằng  0,5 km.

5-6. Đại Nam nhất thống chí bắt đầu viết năm Tân Dậu, niên hiệu Tự Đức 14 (1861). Năm Duy Tân thứ nhất (cuối 1907), phủ Hưng Nguyên có sự thay đổi số tổng của hai huyện (thay đổi sau khi in Đại Nam nhất thống chí). Cắt tổng Yên Trường của huyện Nghi Lộc sáp nhập về huyện Hưng Nguyên, đổi lại cắt hai tổng Vân Trình và La Vân của huyện Hưng Nguyên sáp nhập về huyện Nghi Lộc. Như vậy Hưng Nguyên còn lại 6 tổng, giảm 1 tổng. Nghi Lộc có 5 tổng, tăng 1 tổng. Số tổng  2 huyện giữ như vậy cho đến 1945; Năm Thành Thái thứ 10, nhà Vua chuẩn tấu của viện Cơ Mật đổi gọi Hưng Nguyên là phủ và từ năm Thành Thái thứ 18 các công văn và sách vở ở Nghệ An không ghi tên huyện Hưng Nguyên nữa, thì tên huyện này không dùng. Tuy nhiên sách Nhất thống chí vẫn chép. Phàm các phủ hạt đều có lệ phủ kiêm lý, thống hạt. Trước chép tên phủ có địa giới của phủ, sau chép tên huyện vẫn là phân địa giới của phủ, nếu không còn tên huyện Hưng Nguyên nữa thì cương giới không rõ ràng, số tổng xã để quản lý không biết căn cứ vào đâu mà định. Vì vậy vẫn chép ra để dễ tra cứu.

7. Sách "Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn"- Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế. NXB Thuận Hóa - tr 388, 389.

 

 

Bùi Quang Minh

Quảng Ninh là một tỉnh công nghiệp và dịch vụ du lịch, với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, có biển, đất liền, Quảng Ninh có nhiều đặc sản nổi tiếng như: Chả mực Hạ Long, Ngán, mực ống Cô Tô, cua biển Quảng Yên, miến dong Bình Liêu, rượu Ba Kích… được du khách trong và ngoài nước biết đến.

Xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm đặc sản gắn với địa danh của tỉnh Quảng Ninh, được triển khai ở 3 chương trình:

1. Chương trình xây dựng thương hiệu nông nghiệp của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2015: Được thực hiện theo Quyết định số 273/QĐ-UBND ngày 27/3/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, trong đó Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh được giao chủ trì, là đầu mối, phối hợp với các sở, ngành, địa phương đơn vị có liên quan triển khai thực hiện 21 dự án xây dựng thương hiệu trong đó:

+ Chỉ dẫn địa lý: 03 (Ngán Quảng Ninh, Mai vàng Yên Tử, Chả mực Hạ Long).

+ Nhãn hiệu tập thể: 05 sản phẩm (na dai, nếp cái hoa vàng, Tôm chân trắng Móng Cái, Mía tím Quảng Ninh, vải chín sớm Phương Nam).

+ Nhãn hiệu chứng nhận: 13 sản phẩm (Ba Kích Quảng Ninh, Trứng gà Tân An, Thanh long Uông Bí, Rượu mơ Yên Tử, Miến dong Bình Liêu, Tu hài Vân Đồn, Mắm Cái Rồng, Mực ống Cô Tô, Chè Đường Hoa Hải Hà, Rau an toàn Quảng Yên, Gà Tiên Yên, Nhựa thông Quảng Ninh).

Tổng kinh phí được UBND tỉnh phê duyệt là 57 tỷ đồng. Trong đó: kinh phí nguồn sự nghiệp khoa học 48 tỷ đồng và kinh phí đối ứng của các địa phương là 9 tỷ đồng.

2. Chương trình Hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ (Chương trình 68 của Bộ KH&CN), Bộ Khoa học và Công nghệ hỗ trợ tỉnh Quảng Ninh xây dựng và phát triển thương hiệu cho 05 sản phẩm: Chỉ dẫn địa lý: 01 (Sá sùng Vân Đồn); Nhãn hiệu tập thể: 01 (Gốm sứ Đông Triều); Nhãn hiệu chứng nhận: 03 Mật ong Tiên Yên, Cá duội Cô Tô, Cua biển Quảng Yên.

3. Chương trình tỉnh Quảng Ninh mỗi xã phường một sản phẩm - OCOP, đến nay, các địa phương trong tỉnh Quảng Ninh đã lựa chọn 321 sản phẩm tham gia Chương trình OCOP của tỉnh, đăng ký bảo hộ được trên 200 sản phẩm, trong đó đăng ký nhãn hiệu gắn với địa danh của tỉnh là 33 sản phẩm.

Như vậy, đến nay, tỉnh Quảng Ninh xây dựng được 59 nhãn hiệu cho các sản phẩm đặc sản gắn với địa danh của tỉnh, trong đó: 04 chỉ dẫn địa lý; 26 nhãn hiệu chứng nhận; 29 nhãn hiệu tập thể.

Quảng Ninh là tỉnh đầu tiên trong cả nước triển khai đồng bộ các dự án xây dựng thương hiệu đầy đủ toàn diện từ khâu quy hoạch vùng sản xuất tập trung (vùng nguyên liệu), xây dựng và chuyển giao kỹ thuật sản xuất, xác lập quyền sở hữu trí tuệ, thiết kế tem, nhãn, bao bì sản phẩm; phát triển sản xuất và phát triển thị trường. Các dự án xây dựng được bộ công cụ quản lý nhãn hiệu; thành lập mới các hội hoặc bổ sung chức năng quản lý cho các Hội/Hợp tác xã sản xuất và kinh doanh các sản phẩm được xây dựng thương hiệu (19/19 Hội hợp tác xã); xây dựng hoàn chỉnh bộ tiêu chuẩn chất lượng và  quy trình kỹ thuật cho 21 sản phẩm thương hiệu... Chính việc thực hiện các dự án thương hiệu đầy đủ các nội dung như vậy, nên Chương trình đã nhận được sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền các địa phương, đặc biệt sự tích cực vào cuộc của các phòng chuyên môn địa phương....

Các dự án sau khi xây dựng thương hiệu đã mang lại hiệu quả cao, sản phẩm được thị trường chấp nhận, giá bán tăng và ổn định từ 10 - 30% so với khi chưa xây dựng thương hiệu, cá biệt, có sản phẩm tăng tới 50% (VD: Nếp cái hoa vàng Đông Triều, trước khi xây dựng thương hiệu, giá bán 17.000đ/kg, hiện nay tăng 32.000đ/kg, diện tích tăng từ 300 hecta lên gần 700 héc ta; Vải chín sớm Phương Nam, trước khi xây dựng thương hiệu, giá bán 18-20.000đ/kg, hiện nay, giá bán trung bình từ 30 - 35.000đ/kg).

Các sản phẩm hàng hóa đã có nhãn mác, bao bì đẹp, bước đầu tạo lòng tin cho người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm. Điều đó khẳng định cách làm và hướng đi đúng đắn của Chương trình xây dựng thương hiệu của tỉnh Quảng Ninh. Thông qua các hoạt động của dự án thuộc Chương trình xây dựng và phát triển thương hiệu, hình thành vùng sản xuất tập trung, tạo sự lan tỏa trong cộng đồng, gắn với triển khai Đề án "Mỗi xã phường một sản phẩm của tỉnh". Đây là yếu tố quan trọng góp phần hoàn thành Chương trình nông thôn mới của tỉnh Quảng Ninh. Hiện nay, Chương trình OCOP đã phát triển trong toàn quốc.

Bên cạnh việc hỗ trợ đăng ký, xây dựng thương hiệu, tỉnh Quảng Ninh còn thực hiện các đề tài, dự án, ứng dụng phát triển sản phẩm cho trên 50 sản phẩm của tỉnh Quảng Ninh như: Công nghệ bảo quản bột dong riềng sạch tại huyện Bình Liêu giúp bảo quản thành công bột dong riềng trong vòng 12 tháng để sản xuất. Công nghệ sản xuất giống, nuôi thương phẩm và công nghệ thụ tinh nhân tạo cho gà Tiên Yên để chọn con giống có chất lượng, thuần chủng; Công nghệ trồng và chế biến 3 loại cây dược liệu tại Quảng Ninh; Công nghệ chế biến bảo quản sản phẩm củ cải Đầm Hà; Công nghệ sản xuất giống, nuôi thương phẩm và nuôi cấy ngọc trai môi vàng.

Thành công của việc xây dựng nhãn hiệu gắn với địa danh của tỉnh trở thành hàng hóa là do tỉnh Quảng Ninh đã giao trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị, địa phương, sự vào cuộc của các cấp, các ngành cụ thể:

- Sở Công thương chủ trì, hỗ trợ quảng bá, xúc tiến tiêu thụ sản phẩm; hàng năm tổ chức hội chợ OCOP 3-4 lần/năm; xây dựng trang web riêng để tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến thương mại các sản phẩm trong và ngoài tỉnh;

- Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Y tế hỗ trợ xây dựng quy trình sản xuất, chế biến bảo quản sản phẩm, cấp chứng nhận đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm;

- Sở Khoa học và Công nghệ hướng dẫn ghi nhãn hàng hóa, mã số mã vạch, đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp, xây dựng tiêu chuẩn cơ sở, chất lượng sản phẩm.

- Xây dựng các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tổ chức, cá nhân phát triển sản xuất, thị trường (ban hành Nghị quyết 15/2009/NQ-HĐND; Nghị quyết số 43/2016/NQ-HĐND; Nghị quyết số 45/NQ-HĐND) như: Hỗ trợ kinh phí dồn điền, đổi thửa, mua vật tư, con giống, chuyển đổi dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị; xây dựng khu trưng bày, bán và giới thiệu sản phẩm; xây dựng tiêu chuẩn cơ sở, đạt tiêu chuẩn VIETGAP, đăng ký bảo hộ thương hiệu...

Bên cạnh những thành công đạt được của những dự án, chương trình xây dựng nhãn hiệu đặc sản của địa phương gắn với địa danh của tỉnh, Quảng Ninh cũng gặp những khó khăn, tồn tại, cần giải quyết như:

1. Hầu hết các sản phẩm đặc sản xây dựng thương hiệu của tỉnh là sản phẩm nông nghiệp. Do vậy sản phẩm mang tính mùa vụ, không có thường xuyên liên tục; chất lượng, sản lượng phụ thuộc nhiều vào thời tiết, thiên nhiên (VD: Vải chín sớm Phương Nam; Na dai Đông Triều, Thanh long Uông Bí).

2. Đất đai nhỏ lẻ, manh mún, được giao cho từng hộ dân làm chủ, việc dồn điền đổi thửa để áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm, cơ giới hóa gặp khó khăn, tốn kém.

3. Mở rộng diện tích không nằm trong quy hoạch để tăng sản lượng dẫn đến chất lượng sản phẩm không đảm bảo. Các dự án xây dựng nhãn hiệu tập thể, chứng nhận, chỉ dẫn địa lý đều có vùng quy hoạch sản xuất. Khi sản phẩm bán tốt, có thị trường, người dân mở rộng diện tích sản xuất (VD: nếp cái hoa vàng Đông Triều, vùng quy hoạch sản xuất là 442 hecta, thuộc 04 xã, tuy nhiên, hiện nay diện tích đã lên tới gần 700 héc ta).

4. Hai hay nhiều địa phương có cùng chung một sản phẩm, dẫn đến sự cạnh tranh trong cùng một vùng, địa phương (VD: Miến dong Bình Liêu: Huyện Bình Liêu và huyện Tiên Yên đều có sản phẩm miến dong. Huyện Bình Liêu đã xây dựng thương hiệu, sản phẩm tiêu thụ tốt. Huyện Tiên Yên cũng có sản phẩm miến dong, nhưng chưa xây dựng thương hiệu, tiêu thụ sản phẩm khó hơn mặc dù chất lượng củ dong riềng như nhau. Việc mang củ dong riềng của Huyện Tiên Yên sang Bình Liêu để chế biến, tiêu thụ sẽ vi phạm quy chế quản lý nhãn hiệu Miến dong Bình Liêu).

5. Các nhãn hiệu tập thể thường giao cho Hội nông dân là chủ sở hữu. Tuy nhiên Chủ tịch Hội nông dân làm kiêm nhiệm, không có chức năng sản xuất, kinh doanh nên không thúc đẩy thương hiệu phát triển thương hiệu (VD: Na dai Đông Triều, Nếp cái hoa vàng Đông Triều, Mía tím Quảng Ninh).

6. Bên cạnh những dự án xây dựng thương hiệu thành công, mang lại hiệu quả cao, cũng có một số dự án sau khi thực hiện, k

* Đại hội Đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật nhiệm kỳ 2019 - 2024

Sáng ngày 26/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Nghệ An tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ VI, nhiệm kỳ 2019-2024. Tham dự Đại hội có hơn 250 đại biểu đại diện cho hơn 95.000 hội viên.

Báo cáo tổng kết hoạt động nhiệm kỳ 2011-2019, nêu rõ: Nhiệm kỳ vừa qua Liên hiệp hội đã đạt được nhiều kết quả trên các mặt: Tư vấn, phản biện và giám định xã hội; nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; bảo vệ môi trường; giáo dục và đào tạo; thông tin và phổ biến kiến thức; phát triển cộng đồng và xóa đói, giảm nghèo; động viên phong trào quần chúng tham gia hoạt động sáng tạo khoa học và công nghệ; tôn vinh trí thức; hợp tác trong và ngoài nước… Tuy vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, đội ngũ trí thức tuy đông về số lượng nhưng chất lượng của một số cán bộ, hội viên chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; chưa tập hợp và phát huy hết tiềm năng của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ hiện có trên địa bàn tỉnh…

Đại hội đã bầu 35 đồng chí vào Ban Chấp hành Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật lần thứ VI, nhiệm kỳ 2019-2024. Sau khi họp phiên thứ nhất, Ban Chấp hành Liên hiệp Hội đã bầu 13 đồng chí vào Ban Thường vụ, 3 đồng chí vào Ban kiểm tra. Đồng chí Nguyễn Thị Thu Hường tiếp tục được tín nhiệm bầu giữ chức vụ Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Nghệ An lần thứ VI, nhiệm kỳ 2019-2024. Các đồng chí: Trần Quốc Thành - Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ; Đậu Quang Vinh - Phó Giám đốc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh.

Nhân dịp này, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp phát triển các Hội Khoa học và Kỹ thuật cho 4 cá nhân; tặng Bằng khen cho 2 tập thể và 3 cá nhân có thành tích xuất sắc 5 năm liền; tặng Bằng khen cho 7 tập thể và 8 cá nhân có thành tích xuất sắc năm 2018. UBND tỉnh tặng Bằng khen cho 1 tập thể và 3 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phát triển các Hội KH&KT trên địa bàn tỉnh.

Minh Tú

* Hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị BCH trung ương lần thứ 10 khóa XII của Đảng, 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sơ kết công tác xây dựng Đảng 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019.

Ngày 12/7/2019, Đảng bộ Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị BCH trung ương lần thứ 10 khóa XII của Đảng, 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sơ kết công tác xây dựng Đảng 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019.

Hội nghị đã được nghe đồng chí Trần Quốc Thành - tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thông báo nhanh kết quả của Hội nghị lần thứ 10 BCH Trung ương Đảng khóa XII, họp tại Thủ đô Hà Nội, từ ngày 16 đến 18/5/2019; cũng như ý nghĩa của việc 50 năm thực hiện Di chúc của Bác.

Đồng chí Lê Thị Kim Oanh - Ủy viên Ban thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Đảng ủy khối trình bày Chuyên đề Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đề cương, nội dung, ý nghĩa khái quát trong bản Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tại Hội nghị, Đảng bộ cũng đã tiến hành sơ kết công tác xây dựng Đảng 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019.

Hoàng Anh

* Hội thảo khoa học "Giới thiệu bước đầu nghiên cứu về cây sâm Puxailaileng và một số cây dược liệu vùng núi cao tỉnh Nghệ An"

Sáng ngày 15/7, tại xã Mường Lống,  huyện Kỳ Sơn, UBND tỉnh Nghệ An tổ chức Hội thảo khoa học "Giới thiệu bước đầu nghiên cứu về cây sâm Puxailaileng và một số cây dược liệu vùng núi cao tỉnh Nghệ An".

Trên địa bàn Nghệ An hiện nay có gần 1.000 loài có giá trị dược liệu khác nhau, trong đó có nhiều loại có giá trị cao như: sâm Puxailaileng, đẳng sâm, Tam thất, Bảy lá một hoa, Lan kim tuyến, Hà thủ ô đỏ, Nấm linh chi đỏ, Trà hoa vàng, Xạ đen, Giảo cổ lam, Đông trùng hạ thảo, Mú từn, Bình vôi, Đinh lăng,.... 

Thảo luận tại Hội thảo, bên cạnh việc đưa ra những tiềm năng lớn của Nghệ An trong phát triển cây dược liệu, đặc biệt là vùng miền núi phía Tây Nghệ An, các nhà khoa học còn định hướng cho chính quyền Nghệ An nên phát huy và áp dụng trồng đại trà các cây dược liệu quý như sâm          Puxailaileng, đẳng sâm, đương quy. Đây là cây dược liệu có giá trị kinh tế cao, với giá thành từ 200 đến 250 ngàn đồng/1kg khô, thời gian khai thác ngắn, có thể phát triển trồng trong vườn và tán rừng. Đặc biệt đối với giống cây có giá trị kinh tế cao nhưng khó gặp trong tự nhiên như sâm Puxailaileng thì cần được tập trung nghiên cứu sâu hơn về nhân giống, kỹ thuật trồng để đưa giống cây này phát triển không riêng ở Kỳ Sơn mà cả tỉnh Nghệ An.

Cũng tại Hội thảo, UBND huyện Kỳ Sơn và Công ty Dược Mường Lống tổ chức lễ ký kết hợp tác trong việc phát triển cây dược liệu, cây sâm Puxailaileng. Trước đó, các đại biểu tham dự Hội thảo được tham quan mô hình trồng cây dược liệu của Công ty Dược liệu Mường Lống.

      Hồ Thủy

* "Đá xanh máu đỏ" - Cuốn tiểu thuyết tri ân các liệt sỹ nhân ngày 27/7

 (Xuất bản tháng 6/2019)

Nhân kỷ niệm 72 năm ngày thương binh liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2019), Nhà xuất bản Nghệ An đã cho ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết Đá xanh máu đỏ của nhà văn Nguyễn Ngọc Lợi.

Đá xanh máu đỏ là cuốn tiểu thuyết đầy xúc động, tái hiện lại những năm tháng "bom sôi lửa đạn" của cuộc kháng chiến chống Mỹ trên mảnh đất Hoàng Mai; tái hiện lại một phần cuộc đời của những con người đã hiến trọn tuổi thanh xuân vì lý tưởng cao đẹp. Trong số những con người đó đã có nhiều người ngã xuống, có những người vẫn đang còn sống, tiếp tục cống hiến cho mảnh đất quê hương,... Tác phẩm được ra đời bởi sự trăn trở, hối thúc mãnh liệt qua những lần tác giả lên dâng hương cho các liệt sĩ và sự xâu chuỗi qua các câu chuyện được nghe từ chính những người trong cuộc kể lại.

Tác phẩm Đá xanh máu đỏ được nhà văn Nguyễn Ngọc Lợi hoàn thành tại trại sáng tác về đề tài Giao thông - Vận tải tổ chức tại Cửa Lò, năm 2014 và đã vinh dự nhận được Giải thưởng do Bộ Giao thông - Vận tải trao tặng.

Tập sách được UBND tỉnh Nghệ An đặt hàng xuất bản. Sách dày 240 trang in, khổ 14,5x20,5 cm. In 600 cuốn, bìa cứng, trình bày trang nhã, ấn tượng.

Hồ Văn Sơn

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.