« Quay lại

Chuyên san KHXH&NV số 8/2019

TS. Trần Cao Nguyên

Viện KHXH&NV, Đại học Vinh

Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một trong những sự kiện trọng đại nhất, trang sử huy hoàng nhất của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. Thắng lợi Cách mạng tháng Tám đã đập tan ách thống trị hà khắc của chủ nghĩa thực dân tồn tại trên 80 năm và chủ nghĩa phát xít sau 5 năm trên đất nước ta, lật nhào chế độ quân chủ phong kiến đã lạc hậu, lỗi thời, đưa tới sự ra đời của một nhà nước kiểu mới - nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Từ đây, dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc: kỷ nguyên độc lập, tự do gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 không chỉ là thắng lợi của nhân dân Việt Nam với tinh thần "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta" mà còn góp phần cùng nhân dân thế giới đánh bại chủ nghĩa phát xít, mang lại hòa bình cho nhân loại - "khẳng định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới", là thắng lợi đầu tiên của một dân tộc thuộc địa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã giành được chính quyền về tay nhân dân. Có thể nói trong bối cảnh lịch sử thế giới giữa thế kỷ XX, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam có giá trị phổ quát sâu sắc và vĩ đại đối với phong trào cách mạng thế giới lúc bây giờ.

1. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam đã vượt tầm ảnh hưởng ra khỏi biên giới quốc gia và trở thành động lực, "niềm tin tinh thần - sức mạnh to lớn", cổ vũ cho nhân dân các dân tộc thuộc địa đứng lên đấu tranh giành độc lập. Cách mạng tháng Tám mãi được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới xem là ngọn đèn chiếu sáng, hình mẫu cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới trong thế kỷ XX.

Việc chiến thắng các thế lực xâm lược đất nước, giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân có thể có nhiều con đường để thực hiện và giành thắng lợi. Tuy nhiên, cách mạng giải phóng dân tộc trên lập trường vô sản là cuộc cách mạng giải phóng triệt để nhất, cuộc cách mạng đó tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định, bền vững cho quá trình đi lên của mỗi quốc gia. Cho nên, thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đánh dấu sự mở đầu trên phạm vi quốc tế.

Lịch sử thế giới thế kỷ XX đã ghi nhận tầm vóc thời đại của "Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 - mở đầu thời đại mới của cách mạng thế giới, thời đại quá độ từ Chủ nghĩa tư bản lên Chủ nghĩa xã hội". Chính vì vậy, tính từ năm 1917 cho đến trước khi Cách mạng tháng Tám ở nước ta thành công, chưa có một cuộc cách mạng nào "phổ quát" được những giá trị thời đại như Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, giá trị phổ quát của nó chính là mức độ ảnh hưởng trên phạm vi toàn thế giới. Cho nên, Cách mạng tháng Tám - sự kiện trọng đại này mở ra thời kỳ mới cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới trong thế kỷ XX, "một sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử thế giới từ sau Cách mạng tháng Mười Nga. Đó là một cuộc cách mạng đầu tiên thành công trong việc lật đổ chính quyền của chế độ thuộc địa"[1; tr.224], tầm vóc và giá trị của nó chính là sự phổ quát và truyền tải hết những giá trị tốt đẹp nhất mà cuộc cách mạng này đem đến cho cách mạng thế giới lúc bây giờ - "giải phóng dân tộc trên lập trường vô sản".

Tầm vóc và ý nghĩa lịch sử lớn lao của Cách mạng tháng Tám đối với tiến trình lịch sử của dân tộc và thế giới đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc"[2; tr.159].

Sức mạnh lan tỏa của Cách mạng tháng Tám không chỉ giới hạn ở khu vực Đông Nam Á, mà nó đã góp phần quan trọng thức tỉnh các dân tộc trên thế giới, đặc biệt các nước ở châu Phi, châu Mỹ Latinh đang bị cùm trói trong vòng nô lệ, lệ thuộc của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, cổ vũ các dân tộc vùng lên đấu tranh để tự giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột, lệ thuộc của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

Đánh giá về giá trị phổ quát của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đối với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới trong những năm nửa sau của thế kỷ XX. Giáo sư, Nhà Sử học L.Esmonson, Trường Đại học Cornell (Mỹ) cho rằng: "Đó là một sự kiện lớn của thế giới. Cuộc Cách mạng tháng Tám của Việt Nam có một ý nghĩa lịch sử rất to lớn, nó giải phóng con người, giải phóng cho một dân tộc bị áp bức. Trên bình diện quốc tế, nó còn là hình mẫu và là động lực cho nhiều nước khác đứng lên đấu tranh, đánh đuổi thực dân, giành lại chính quyền. Những quốc gia thuộc địa của Pháp, đặc biệt là các nước ở khu vực Đông Dương, châu Phi đã tiến hành công cuộc cách mạng theo đúng tiến trình cách mạng ở Việt Nam"[3;tr.2].

Giáo sư người Jamaica Horet Compel nhìn nhận: "Cuộc cách mạng Việt Nam năm 1945 có một tác động to lớn đối với lịch sử đấu tranh giành độc lập của các nước thuộc địa Pháp lúc đó, trong đó có nhiều nước châu Phi. Khi cuộc cách mạng ở Việt Nam thành công, cũng là lúc các nước châu Phi như: Cameroon, Algeria, Tanzania… đang chuẩn bị những cuộc cách mạng lớn. Nhờ có bài học từ Việt Nam, họ đã có những bài học kinh nghiệm quý báu, làm nên thành công của các cuộc cách mạng ở những nước thuộc địa Pháp ở châu Phi"[3;tr.3].

Tiến sĩ Sanomish Dashtsevel (Mông Cổ) nhấn mạnh: "Cách mạng tháng Tám đã tạo điều kiện cho nhân dân Việt Nam làm chủ đất nước, giành được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước. Cuộc Cách mạng tháng Tám còn có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc và dân chủ ở các nước châu Á và trên thế giới" [4;tr.3].

Như vậy, có thể khẳng định thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã trở thành cuộc cách mạng mở đầu cho tiến trình sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân và biến lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc thế giới thế kỷ XX giành được toàn thắng. Lịch sử thế giới thế kỷ XX đã ghi nhận tầm vóc thời đại của Cách mạng tháng Mười mở đầu thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và Cách mạng tháng Tám mở đầu trào lưu phi thực dân hoá trong trào lưu cách mạng giải phóng dân tộc toàn thế giới. Đến nay không còn có nước nào không giành được độc lập dân tộc với những mức độ khác nhau.

2. Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, nằm trong quỹ đạo của cách mạng vô sản. Cuộc cách mạng này do Đảng Cộng sản lãnh đạo, vì vậy, thành công của cách mạng là triệt để, là "đến nơi" mà Hồ Chí Minh khẳng định trước đó. Cách mạng tháng Tám là cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới chứ không như các cuộc cách mạng dân chủ tư sản trước đây. Thắng lợi của cách mạng đã lật đổ ách thống trị thực dân Pháp hơn 80 năm, ách thống trị phong kiến tay sai và ách thống trị của chủ nghĩa phát xít Nhật (1941 - 1945), đưa dân tộc Việt Nam bước vào thời đại mới - thời đại độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Sự phổ quát những giá trị nhân văn của Cách mạng tháng Tám đã làm cho tư tưởng của Hồ Chí Minh rực rỡ hơn. Là sự khẳng định bằng thực tiễn lịch sử về tính đúng đắn của sự lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc - "con đường cách mạng vô sản", con đường cách mạng gắn kết một cách tất yếu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dòng chủ đạo xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cách mạng tháng Tám đã khai phá con đường thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam và góp phần quan trọng trong tiến trình phát triển của khu vực và thế giới.

Hồ Chí Minh không chỉ trung thành vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn mà còn phát triển, bổ sung cho chủ nghĩa Mác - Lênin lý luận về vấn đề dân tộc và thuộc địa và thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã chứng minh sự bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, đồng thời còn nêu một mẫu mực đấu tranh giải phóng dân tộc cho các dân tộc thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh. Chính vì vậy, các dân tộc thuộc địa coi Việt Nam là chiến sỹ tiên phong, anh hùng giải phóng dân tộc. Nó đã làm cho Cách mạng tháng Tám không chỉ của Việt Nam mà là những vấn đề lý luận và thực tiễn mang tầm vóc quốc tế, có giá trị phổ quát thời đại.

Giá trị phổ quát thời đại của Cách mạng tháng Tám còn được thể hiện ở chỗ là đưa dân tộc Việt Nam đến với các giá trị chính trị, xã hội cao nhất trong nền văn minh nhân loại - đó là chế độ dân chủ nhân dân, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do nhân dân làm chủ, các quyền công dân và quyền con người được tôn trọng, rút ngắn con đường phát triển của dân tộc hàng thế kỷ.

3. Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 - cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam đã diễn ra như một tất yếu, hợp với quy luật phát triển xã hội, với sự đồng thuận của đông đảo nhân dân mang ước vọng xây dựng một xã hội tươi đẹp trong tương lai. Đó là sự xác lập lần đầu ở Việt Nam một nền dân chủ bằng sự lựa chọn thể chế nhà nước sau cuộc cách mạng - thể chế dân chủ cộng hòa - một thành tựu phổ quát của nền chính trị nhân loại. Chính giá trị tiến bộ đó là chìa khóa để các dân tộc hướng tới xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn với một thể chế chính trị ưu việt, nhân ái ở đó quyền con người, tính nhân văn được đặt lên hàng đầu. Vì vậy, tính phổ quát của Cách mạng tháng Tám không chỉ là ánh sáng soi đường để các dân tộc tiến lên đấu tranh giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột mà còn là sự định hướng, hướng đến xây dựng một chế độ chính trị ưu việt, nhân ái, nhân văn.

Việc xây dựng xã hội tốt đẹp đó là hợp với quy luật tiến lên của xã hội loài người. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay, những giá trị phổ quát của Cách mạng tháng Tám năm 1945 càng tiếp tục được phát huy, trên cơ sở các bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc cách mạng này là cơ sở lý luận minh chứng cho các quốc gia dân tộc trên thế giới có sự nhìn nhận, đánh giá về tính nhân văn, sự tiến bộ và tính ưu việt của nhà nước Việt Nam hiện nay, là mẫu hình cho những quốc gia, dân tộc muốn xây dựng một đất nước "của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân".

Sự nghiệp cách mạng là khó khăn, gian khổ nhưng với những giá trị đạt được từ sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, cách mạng Việt Nam ngày càng trở thành trung tâm để các dân tộc trên thế giới học tập, giá trị phổ quát của Cách mạng tháng Tám năm 1945 chính là hướng đi đúng với một thể chế chính trị ưu việt tiếp tục soi rọi, trở thành động lực để các quốc gia, dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới hướng tới xây dựng một xã hội đưa con người đạt đến các giá trị cao nhất - giá trị hòa bình, tự do, dân chủ và phát triển.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thomas Hodgkis: Thế giới bàn về Việt Nam, tập 2, Viện Thông tin KHXH, 1975, tr.224

2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, H, 2000, tập 6, tr.159.

3. Đại tá, Nguyễn Đức Thắng, Tầm vóc và ý nghĩa thời đại của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Báo Biên phòng ra ngày 10/08/2015.

4. Việt Nam trong thế kỷ XX (2008), Hội thảo quốc tế, Hà Nội.

5. Trần thị Thu Hương, Phát huy thành quả của Cách mạng tháng Tám trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam qua 7 thập kỷ.

 

Phong Lê

Tháng 6 năm 1919, ở Paris, bản Yêu sách của nhân dân Việt Nam có tên ký là "Nguyễn Ái Quốc - thay mặt những người An Nam yêu nước" - "Groupes des patriotes Annamites", gồm 8 điểm, trong đó có 4 điểm đòi quyền tự do cho người An Nam: "3. Tự do báo chí và ngôn luận; 4. Tự do lập hội và hội họp;  5. Tự do di cư và đi ra nước ngoài; 6. Tự do mở trường và thành lập ở tất cả các tỉnh những trường dạy kỹ thuật và nghề nghiệp cho người bản xứ theo học".

Đây chỉ là mấy yêu cầu tự do tối thiểu nằm trong một phạm trù tự do rộng lớn, gắn với Độc lập cho dân tộc và Hạnh phúc cho nhân dân, làm thành bộ ba: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc, trên cơ sở nền Dân chủ - Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ được thực hiện trọn vẹn sau Cách mạng tháng Tám - 1945 mà Nguyễn Ái Quốc là người sáng lập, lãnh đạo và là vị Chủ tịch đầu tiên.

Và như vậy nói đến sự nghiệp viết của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh bắt đầu từ năm 1919 thì đó là nói đến 50 năm viết, cho đến năm 1969 - năm Người qua đời, với hai giai đoạn:

1. Từ 1919 đến 1945.

2. Từ 1945 đến 1969.

Ở giai đoạn thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc, và sau đó là Hồ Chí Minh, có một sự nghiệp viết trong tư cách một chiến sĩ cách mạng có ý thức sử dụng "vũ khí của tiếng nói" để thực hiện sứ mệnh lịch sử cao nhất và duy nhất là độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân. Một sự nghiệp viết bắt đầu bằng hai loại chữ: Pháp và Việt, nhằm vào hai đối tượng: một là thực dân Pháp và chính quyền tay sai Nam triều; và hai là nhân dân lao khổ trên toàn thế giới, trong đó có người An Nam. Với kẻ thù, thì đó là sự cảnh tỉnh; với nhân dân bản xứ và người nghèo khổ trên khắp thế giới thì đó là sự thức tỉnh. Cảnh tỉnhthức tỉnh - đó là hai mục tiêu lớn trong sự nghiệp viết, trước hết là báo chí, và sau đó là văn học của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, từ 1919 đến 1945. Một sự nghiệp viết, bắt đầu từ Yêu sách của nhân dân Việt Nam (1919), báo Le Paria, kịch Con rồng tre, những truyện ngắn, tiểu phẩm đăng trên các báo tiếng Pháp ở Paris những năm đầu thập niên 1920, và Bản án chế độ thực dân Pháp, in ở Paris (1925).

Tiếp đó là Đường Kách mệnh (1927) và Nhật ký chìm tàu (1931) bằng tiếng Việt bị cấm và tịch thu.

Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, sau 30 năm xa xứ; và trong 4 năm mở đầu thập niên 1940 là sự dồn tụ một sự nghiệp viết trên nhiều thể, loại như văn, thơ, diễn ca, chính luận, trong đó rất quan trọng là thơ tiếng Việt trên 30 bài được gọi là Bài ca Việt Minh đăng trên báo Việt Nam độc lập; diễn ca Lịch sử nước ta, 208 câu; Ngục trung nhật ký - 135 bài thơ chữ Hán; nhiều thư kêu gọi và hiệu triệu quốc dân đánh Pháp, đuổi Nhật, chuẩn bị Tổng khởi nghĩa; và cuối cùng là Tuyên ngôn độc lập.

Như vậy là hơn 25 năm trước 1945, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã để lại một sự nghiệp viết trên ba loại chữ: Pháp, Hán, Việt, nhằm hướng tới một mục tiêu cao nhất và duy nhất là Độc lập cho dân tộc, Tự do và Hạnh phúc cho nhân dân... Hơn hai mươi lăm năm viết (1919-1945), trong 30 năm xa xứ (1911-1941), nhà cách mạng và lãnh tụ vĩ đại của dân tộc đã để lại cho nhân dân Việt Nam một di sản báo chí, văn chương vô cùng quý giá, trong đó có những tác phẩm đứng ở đỉnh cao nhất các giá trị của văn minh và nhân đạo. Đó là Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Ngục trung nhật ký (1943) và Tuyên ngôn độc lập (1945).

Cần một lược kể như trên để nói một sự thật, đúng hơn, một chân lý đơn giản: Trong thân phận một người dân mất nước; một nước Việt Nam mất tên gọi trên bản đồ; một thanh niên đi tìm đường phải thay tên đổi họ nhiều chục lần; phải làm đến 12 nghề để kiếm sống; phải trải một hành trình 30 năm xa xứ, với hai lần bị bắt, hai lần bị án tù, hai lần có tin chết, chắc chắn Nguyễn không có chút tự do nào trong hoạt động và kiếm sống. Thế mà Nguyễn đã rất tự do trong cả một sự nghiệp viết rất đồ sộ; và với sự nghiệp đó Nguyễn đã thành người đặt nền móng và kết tụ những tinh hoa cho nền văn chương và báo chí Việt Nam thế kỷ XX.

Ba mươi năm xa xứ. Hơn hai mươi lăm năm viết. Viết - đã trở thành một phương thức cho hoạt động cách mạng. Một vũ khí của tiếng nói. Với Nguyễn, viết không phải để lưu lại một sự nghiệp văn chương, như bất cứ nhà thơ, nhà văn nào khác trong lịch sử và cùng thời. Nếu có một sự nghiệp thì đó là chủ quyền của Tổ quốc - còn trong nô lệ, là lợi ích của nhân dân - còn rất lầm than "Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi. Đó là tất cả những gì tôi biết. Đó là tất cả những gì tôi hiểu". Quên mình đi trong một sự nghiệp lớn, trong đó có động thái viết, Bản án... ấn hành bằng tiếng Pháp ở Paris năm 1925 phải đến 1946 mới xuất hiện ở Việt Nam, và đến 1960 mới được dịch ra tiếng Việt. Nhật ký chìm tàu (1931) với dòng chữ "phi mại phẩm" (không phải để bán) ở trang bìa, viết bằng hai loại chữ: Nôm và Quốc ngữ bị cấm ngay sau khi được chuyền tay ở xứ Nghệ. Ngục trung nhật ký (1943) được viết trong 14 tháng ở các nhà lao Quảng Tây - Trung Quốc, phải 17 năm sau, cả bản chính và bản dịch mới được ra mắt công chúng trong nước và ngoài nước. Hơn mười truyện ngắn và ký viết bằng tiếng Pháp ở Paris những năm đầu 1920, phải hơn 50 năm sau mới có bản in tiếng Việt... Nói như vậy để hiểu: Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là người tuyệt đối được tự do trong suốt 30 năm xa xứ, và ngay cả trong 14 tháng bị giam cầm, và không có băn khoăn gì về yêu cầu tự do cho việc viết. Có nghĩa là bất cứ lúc nào, bất cứ trong hoàn cảnh nào, Hồ Chí Minh cũng giành được cho mình quyền tự do cao nhất, đó là sự toàn tâm toàn ý cho một sự nghiệp lớn - vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì hạnh phúc của con người, trước hết là những con người bé mọn, nghèo khổ.

Từ 1919 đến 1945 trong sự nghiệp viết của mình, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh không có nhu cầu phải thuyết phục ai, giáo dục ai về quan niệm viết, về kinh nghiệm viết, ngoài việc thể hiện mình, bộc lộ mình trung thành và trọn vẹn trên tất cả các trang viết, thuộc mọi chủng loại - đó là Yêu sách, hoặc Bản án; là một vần thơ cực kỳ giản dị như Hòn đá cho quần chúng mù chữ ai cũng hiểu, đến một triết lý thâm trầm về sự sống trong cảnh ngộ một người tù; một hiệu triệu gửi các giới đồng bào gia nhập Việt Minh hoặc chuẩn bị Tổng khởi nghĩa đến một Tuyên ngôn độc lập, nhân danh lịch sử và dân tộc nói với tương lai và nhân loại.

*   *   *

Từ 1945, ở cương vị Chủ tịch nước, sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, cho đến 1969, công bố Di chúc sau khi qua đời, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục một sự nghiệp viết gồm nhiều thể, loại; như thơ chữ Hán và thơ chữ Việt (gồm thơ viết cho mình và thơ viết cho các giới đồng bào); thư từ, lời kêu gọi hoặc bài nói chuyện cho các giới nghề nghiệp... Ở khu vực này, Hồ Chí Minh có cơ hội để thể hiện quan niệm của mình về báo chí, văn chương, nghệ thuật…

Nhưng trước khi đi vào việc lĩnh hội quan niệm nghệ thuật của Hồ Chí Minh cần lưu ý một điều là: chưa bao giờ Người nhận mình là nhà thơ, nhà văn; mà chỉ là người yêu thơ, yêu nghệ thuật. "Ngâm thơ ta vốn không ham", cách trả lời này của Hồ Chí Minh là nhất quán, đối với tất cả giới văn nghệ sĩ trong nước và bè bạn nước ngoài. Mở đầu Bài nói chuyện trong buổi bế mạc Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ II - năm 1957, Người nói: "Tôi lấy danh nghĩa là một người yêu chuộng văn nghệ xin chúc mừng Đại hội văn nghệ thành công. Cụ Hoàng (tức Hoàng Ngọc Phách) vừa nói với tôi rằng tôi là một nhà văn nghệ, nhưng tôi chỉ nhận tôi là một người yêu chuộng văn nghệ chứ không phải là một nhà văn nghệ"(1). Cả trong khi trả lời bạn bè nước ngoài đến thăm và hỏi chuyện. Rơ-nê Đêpestơrơ - nhà thơ Haiiti kể: "Người nói rằng: khi ở tù ở miền Nam Trung Quốc, Người đã làm những bài thơ ấy cho qua giờ, rằng Người thật ra không phải là một nhà thơ"(2). Trả lời nhà thơ Nga Paven Antonxconxki, khi ông ngỏ ý muốn dịch sang tiếng Nga một số bài thơ của Hồ Chí Minh, "Người phá lên cười một cách vui vẻ. Trong đôi mắt Người ánh lên những tia hài hước: - Nhà thơ gì tôi cơ chứ hở đồng chí! Chẳng qua là những năm kháng chiến, khi còn sống trong chiến khu Việt Bắc, chúng tôi có quá nhiều thì giờ rỗi rãi quá đi mất. Và thế là chúng tôi làm thơ chơi. Cả tôi lẫn những đồng chí khác nữa! Ở Việt Nam ai cũng làm thơ cả. Nhưng bây giờ thơ của chúng tôi là những con số. Vâng, đúng như vậy, những con số về mùa màng, hoa lợi, đó là thơ của chúng tôi đấy!"(3).

"Những con số" - ta hiểu đó là một cách nói vui. Nhưng cũng là cách đi vào thực chất hiệu quả và tác dụng của thơ ca. Khi không nhận mình là nhà thơ phải chăng có một quan niệm văn chương riêng của Hồ Chí Minh. Văn chương là công việc cần được coi trọng. Văn chương phải trực tiếp đến với công chúng, và được công chúng đón nhận. Văn chương đòi hỏi tính chuyên nghiệp, phải là một nghề...

Nhớ lại một dịp gặp gỡ khác với nhà văn Liên Xô Rút Bersatxki: "Đồng chí Hồ Chí Minh vui vẻ nhìn tất cả chúng tôi bằng cặp mắt ngời ngợi tỏa sáng của mình - "Tôi, tất nhiên không thể nào lại ngờ rằng trên cơ sở những bài thơ này, bao giờ đó người ta lại đưa tôi vào hàng các nhà thơ! Không! Nếu như quả thực tôi là nhà thơ, hẳn tôi đã không thể sống mà không sáng tác. Là các nhà văn chuyên nghiệp, các đồng chí hẳn biết rõ điều đó. Còn tôi, như các đồng chí thấy đấy, tôi có thể sống thoải mái không cần phải làm thơ. Và trước khi ở tù cũng như sau khi ra tù, tôi đã sống mà không làm thơ"(4).

Như vậy phải chăng có một yêu cầu riêng và một quan niệm riêng về văn chương ở Hồ Chí Minh.

Đã là nhà văn "chuyên nghiệp" thì phải viết, vì viết văn là một nghề; nhà văn phải đóng góp vào đời sống xã hội bằng chính nghề của mình. Nếu sống mà không cần viết, hoặc ít viết, thì không nên xem là nhà văn, nhà thơ.

Còn Hồ Chí Minh, nhiều lúc "đã sống mà không làm thơ".

Nhưng đừng nên quên: Hồ Chí Minh đã viết trong suốt cuộc đời mình.

Người lúc nhỏ có cùng sự đồng cảm với Phan Bội Châu trong niềm yêu thích câu thơ Viên Mai:

Lập thân tối hạ thị văn chương.

Cũng chính là Người, khi tự mình đối diện với mình, đã từng ghi một phương châm viết:

Nay ở trong tơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

*   *   *

Là nhà cách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn xem hoạt động văn hóa - văn nghệ như một hoạt động cải tạo, sáng tạo thế giới ở con người. Văn nghệ không có một mục đích tự thân. Trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp Triển lãm hội họa năm 1951, Hồ Chí Minh viết: "Văn hóa, văn nghệ cũng như mọi hoạt động khác, không thể ở ngoài, mà phải ở trong kinh tế, chính trị". Bao thế hệ văn nghệ sĩ và công chúng Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua, hẳn không ai không nhập tâm từng lời, từng chữ bức thư trên, khi cuộc kháng chiến đã diễn ra sau 6 năm. "Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy"(5).

Trước đó, năm 1947, trong Thư gửi anh em văn hóa, và trí thức Nam bộ: "Ngòi bút của các bạn là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà"(6). Đây là quan điểm có tính nguyên tắc trong tư tưởng văn nghệ của Hồ Chí Minh. Khi nhiệm vụ chống ngoại xâm, lật đổ chế độ cũ là nhiệm vụ số một, thì hoạt động chính trị và vũ trang phải là nhiệm vụ quyết định, hàng đầu. Đấu tranh chính trị phải là tiêu điểm, là mũi nhọn của đấu tranh giai cấp, nơi đó giai cấp vô sản và quần chúng cách mạng phải chiếm lĩnh trận địa; nơi đó bất cứ một sự mơ hồ hoặc lỏng lẻo nào cũng đều gây tổn thất. Nhưng yêu cầu phục vụ cách mạng trong tinh thần của Hồ Chí Minh không hề mang tinh thần áp đặt, mà phải là một hoạt động tự nguyện, tự giác, một đòi hỏi của trách nhiệm, của lương tâm người nghệ sĩ:

"Rõ ràng là dân tộc bị áp bức thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng"(7).

Có điều cần lưu ý: mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị theo cách tác giả nêu như trên, không có nghĩa là một sự hạ thấp giá trị văn nghệ; cũng không có nghĩa như một sự phân chia tách bạch chính trị và văn nghệ thành hai vế, đối lập nhau, hoặc với trật tự cao thấp, bên trọng bên khinh. Trong bức thư đã gửi trên có đoạn viết: "Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn sự ủng hộ của các bạn. Chính phủ cùng toàn thể đồng bào Việt Nam kiên quyết chiến đấu, tranh quyền thống nhất và độc lập cho nước nhà, để cho văn hóa cũng như chính trị và kinh tế, tín ngưỡng, đạo đức đều được phát triển tự do"(8).

Như vậy, cho đến khi dân tộc giành được chủ quyền, và mục tiêu của cách mạng được tập trung vào việc xây dựng một xã hội mới, nhằm mưu cầu hạnh phúc cho con người thì yêu cầu về sự phát triển tự do, toàn diện của các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, tín ngưỡng, đạo đức sẽ được đặt ra trong một quan hệ chỉnh thể, tác động vào nhau; mặt khác, lại phải chú ý đến những đặc trưng riêng, và những yêu cầu nội tại, có tính quy luật cho mỗi lĩnh vực hoạt động, mà những người được phân công hoặc tự nguyện chọn lựa cần phải nắm hiểu, vận dụng.

Văn nghệ cần được tự do. Nhưng tự do của văn nghệ cần được đặt ra trong tự do chung của nhân dân, của dân tộc.

Văn nghệ cần được tự do. Nhưng việc quan niệm tự do như thế nào cho đúng, và làm thế nào để được tự do - đó là điều cần hiểu và phát triển trên cơ sở nắm vững yêu cầu cụ thể của thực tiễn cách  mạng, và quy luật phát triển nội tại của văn nghệ.

Có thể còn nhiều cách nêu, cách đúc kết các ý kiến của Hồ Chí Minh về văn hóa, văn nghệ. Nhưng dầu khai thác thế nào, trên bình diện nào, theo cách thức nào, ở thời điểm nào, theo tôi, quan niệm văn nghệ ở Hồ Chí Minh luôn luôn nhất quán, không phiến diện, không thiên lệch, không mâu thuẫn. Bởi tư tưởng Hồ Chí Minh là kiên định, sáng rõ và có một tầm nhìn xa. Cái đúng cho tầm gần có thể lạc hậu, thậm chí có thể lệch khi để vào tầm xa. Nhưng cái đúng cho tầm xa thì mọi tầm gần đều sáng rõ.

*   *   *

Không xem mình là nhà thơ, nhà văn, nhà văn nghệ, bởi đó không phải là nghề chuyên của mình, bởi nếu là nghề thì phải thường xuyên, phải chuyên tâm viết; nhưng Hồ Chí Minh vẫn để lại một sự nghiệp bất hủ, đứng ở hàng đầu các giá trị nhân văn và hiện đại trong lịch sử văn chương Việt.

Người viết không chuyên ấy cũng là người luôn luôn khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của văn hóa - văn nghệ. Người rất thuộc ca dao, dân ca và Truyện Kiều. Người từng xem mình là "người học trò nhỏ của L. Tônxtôi"... Người am hiểu rất sâu các giá trị của văn nghệ và đưa văn nghệ lên một vị trí rất cao như "những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà".

Người suốt đời chiến đấu cho độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc, của nhân dân cũng là người rất tự do trong sáng tạo văn chương, báo chí trong suốt 50 năm sự nghiệp viết của mình. Viết cho công chúng cần lao còn trong tình cảnh nô lệ hoặc công chúng đã được hưởng độc lập, tự do; và viết cho riêng mình - Hồ Chí Minh bao giờ cũng tự thể hiện trong một tư thế tự do tuyệt đối, không chịu bất cứ ràng buộc hoặc áp lực nào của bản thân và ngoại cảnh.

 

Chú thích

(1), (5), (6), (7), (8). Sách Hồ Chí Minh: Về công tác văn hoá, văn nghệ; Nxb Sự thật; H; 1971.

(2), (3), (4). Sách Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận; Nxb Văn học; H; 1981.

 

Trương Quế Phương

Để học tập và phát huy truyền thống đấu tranh của ông cha ta trong cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc, sau khi thành lập Mặt trận Việt Minh (19-5-1941), ngày 1-8- 1941 ngày tuyên truyền của Đảng), Bác Hồ đã viết tác phẩm "Lịch sử nước ta" để làm tài liệu tuyên truyền cho cán bộ Việt Minh. "Lịch sử nước ta" sáng tác theo thể thơ lục bát, gồm 210 câu đã trở thành cẩm nang của cán bộ Việt Minh trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc. Nhân kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ đi xa (1969 - 2019), khi toàn Đảng, toàn dân ta đang thực hiện cuộc vận động: Học tập và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bài viết này xin cung cấp thêm một số tài liệu lịch sử về những lời dạy của Người, đối với mỗi người dân đất Việt.

*    *   *

Sau 30 năm bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, mùa Xuân năm 1941, Bác Hồ đã trở về Pác Bó, Cao Bằng, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Bác rất chú trọng công tác tuyên truyền, nên đã cho ra tờ báo "Việt Nam độc lập". Vào ngày 1-8-1941, ngày kỷ niệm 11 năm thành lập Ban tuyên truyền của Đảng, Bác đã viết tác phẩm Lịch sử nước ta (1)  do cơ quan Việt Minh Tuyên truyền Bộ xuất bản vào tháng 2 - 1942. Mục đích Bác Hồ viết báo Việt Nam độc lậpLịch sử nước ta cốt làm cho dân ta noi gương cha ông, đoàn kết, đặng đánh Tây, đánh Nhật, giành tự do, độc lập cho dân tộc Việt Nam. Kẻ thù chính của Việt Nam là phát xít Nhật, Pháp và bọn tay sai. Tố cáo tội ác dã man, kịp thời vạch trần những âm mưu thủ đoạn xảo quyệt của kẻ thù trên mọi lĩnh vực. Công tác tuyên truyền nhằm khích lệ tinh thần yêu nước của toàn dân, cổ vũ, động viên mọi người hăng hái tham gia vào các Hội cứu quốc: Nông dân cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, thanh niên cứu quốc, nhi đồng cứu quốc, phụ lão cứu quốc. Tuyên truyền về tác phẩm lịch sử nước ta còn có tác dụng tốt trong việc giáo dục tinh thần yêu nước, phát huy lòng tự hào về lịch sử vẻ vang của dân tộc cho cán bộ và nhân dân, hiểu đúng tinh thần, chủ trương của Mặt trận Việt Minh. Từ đó mà động viên sức người, sức của và tinh thần đoàn kết toàn dân, hăng hái tham gia Mặt trận Việt Minh, chớp thời cơ để giành độc lập cho Tổ quốc.

Diễn ca Lịch sử nước ta được Hồ Chí Minh viết với mục đích làm tài liệu học tập cho cán bộ Việt Minh trong các lớp huấn luyện ở chiến khu thời kỳ Mặt trận Việt Minh. Theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, tập diễn ca Lịch sử nước ta là tài liệu rất quý cho công tác tuyên truyền và phổ biến rộng rãi cho nhân dân cả nước ta, từ nông thôn đến thành thị, từ trẻ em chăn trâu bò đến các cụ phụ lão. Nó có tác dụng to lớn trong việc giáo dục và động viên mọi người học tập và phát huy truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc, góp phần chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc vào tháng Tám năm 1945.

Để cho Tập diễn ca Lịch sử nước ta được tuyên truyền phổ biến rộng rãi trong nhân dân, khi đại đa số nhân dân ta còn mù chữ, Bác Hồ đã sử dụng phương pháp phổ biến và tuyên truyền miệng. Tuyên truyền bằng miệng là người này nghe xong rồi nói lại cho người khác nghe. Chỗ nào chưa hiểu cũng dùng miệng nói lại để giải thích cho người nghe hiểu. Thời kỳ Mặt trận Việt Minh, cán bộ làm công tác tuyên truyền còn rất ít ỏi, nhiều người chưa biết đọc, biết viết. Vì yêu nước, kính phục Hồ Chí Minh mà đi theo Mặt trận Việt Minh để đánh Pháp, đuổi Nhật. Bác Hồ muốn viết bằng thơ lục bát để mọi người dễ học, dễ thuộc để rồi nhân rộng thêm đội ngũ cộng tác viên bằng miệng. Người này truyền cho người khác và mọi người cùng thuộc và một sự rất tự nhiên là chính những người đi đọc cho người khác nghe đã nhớ và thuộc hàng trăm câu thơ Lịch sử nước ta của Bác Hồ. Nghiễm nhiên họ đã trở thành một cộng tác viên tuyên truyền của cách mạng. Phương pháp tuyên truyền miệng này rất có hiệu quả. Ngay từ những năm đầu mới thành lập (1930), Ban tuyên truyền của Đảng được coi trọng số một. Phương pháp tuyên truyền miệng được phổ biến rất hiệu quả. Đại hội Đại biểu Tỉnh Đảng bộ Nghệ An lần thứ Nhất (tháng 10- 1930), Trưởng Ban tuyên truyền là Thường vụ Tỉnh ủy (đồng chí Hoàng Trần Thâm) đứng vị trí thứ hai, sau Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Tiềm. Đến khi đồng chí Hoàng Trần Thâm đi tuyên truyền trong cuộc mít tinh ở Hạnh Lâm bị địch bắn trọng thương, lần lượt các đồng chí Hoàng Văn Tâm, Đặng Chánh Kỷ lên thay. Những bài thơ "Bài ca cách mạng" được tuyên truyền phổ biến rộng rãi khắp các huyện, khích lệ tinh thần đấu tranh của nhân dân, góp phần làm nên cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh long trời chuyển đất.

Hồ Chí Minh đã kế thừa truyền thống và phát huy hiệu quả tuyên truyền bằng thơ của cha ông. Người đã soạn ra tài liệu tuyên truyền bằng thơ lục bát có nội dung theo biên niên của lịch sử nước ta. Theo dòng lịch sử, Bác đã ca ngợi những trang sử vẻ vang của dân tộc từ thời Hồng Bàng dựng nước đến năm 1942, khi tác phẩm ra đời. Người ca ngợi sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc của các anh hùng hào kiệt. Bác Hồ khẳng định truyền thống quý báu của dân tộc ta là: yêu nước và đoàn kết. Truyền thống đó đang được nhân dân ta phát huy trong giai đoạn chống Pháp với những tấm gương anh hùng tiêu biểu. "Lịch sử nước ta" của Bác Hồ có tác dụng to lớn trong việc tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, góp phần cổ vũ nhân dân đoàn kết, hăng hái tham gia cách mạng và tăng thêm lòng tin vào thắng lợi của cuộc cách mạng dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh. Sau đây là một số trích đoạn trong Lịch sử nước ta:

"Dân ta phải biết Sử ta,/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam./ Kể năm hơn bốn ngàn năm,/  Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa./ Hồng Bàng là tổ nước ta./ Nước ta khi ấy gọi là Văn Lang./ Thiếu niên ta rất vẻ vang,/ Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời./ Tuổi tuy chưa đến chín mười,/ Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương./ An Dương Vương thế Hùng Vương / Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân./ Nước Tàu cậy thế đông người,/ Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam,/ Quân Tàu nhiều kẻ tham lam./ Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?/ Hai Bà Trưng có đại tài,/ Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian,/ Ra tay khôi phục giang san,/ Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta./... Phụ nữ ta chẳng tầm thường,/ Đánh Đông dẹp Bắc làm gương để đời,/...   "(2).                                                   

Sau thắng lợi, vì không biết đoàn kết, nước ta lại bị các thế lực phương Bắc xâm lược. Nhờ có Lý Bôn, văn võ song toàn, lãnh đạo nhân dân đánh đuổi quân Tàu, lập nên triều đại nhà Lý. Năm 722, vì thương dân chịu cảnh lầm than, Mai Thúc Loan lại dấy cờ khởi nghĩa, xây thành Vạn An ở núi Đụn, Nam Đàn, đánh đuổi quân xâm lược nhà Đường, lên làm vua xưng vương là Mai Hắc Đế. Năm 939 "Ngô Quyền quê ở Đường Lâm,/ Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm". Thời kỳ đất nước loạn 12 sứ quân, nhờ có Đinh Bộ Lĩnh cầm quân dẹp loạn, lên ngôi Hoàng đế lập nên triều đại nhà Đinh. Kế tiếp các thời đại từ Đinh, đến Lê sang Lý, Trần và hậu Lê, thời nào đất nước ta cũng có hào kiệt, lãnh đạo nhân dân đánh đuổi quân xâm lược phương Bắc, giành độc lập cho nước nhà. Hồ Chí Minh đã viết những vần thơ lục bát, ca ngợi những chiến công oanh liệt của các anh hùng: "Lý Thường Kiệt là hiền thần,/ Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành./ Tuổi già phỉ chí công danh,/ Mà lòng yêu nước trung thành không phai... Nhà Trần thống trị giang san,/ Trị yên trong nước, đánh tan giặc ngoài… Dân ta nào có chịu hèn,/  Đồng tâm, hợp lực mấy phen đuổi Tàu./ Ông Trần Hưng Đạo cầm đầu,/ Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang,/ Mênh mông một giải Bạch Đằng,/ Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh…".

Nhà Trần trị vì thiên hạ được 12 đời, đến Trần Phế Đế thì suy vong. Hồ Quý Ly lên ngôi, tuy có nhiều cải cách đất nước, nhưng thế lực chưa đủ mạnh, bọn xâm lược nhà Minh lại kéo sang xâm chiếm nước ta. Giữa thế kỷ 15, Lê Lợi đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa:

 "… Mười năm sự nghiệp hoàn thành,/ Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan./ Vì dân hăng hái kết đoàn,/ Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng./ Vua hiền có Lê Thánh Tông,/ Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành…". Khi nhà Mạc suy vong, vua Lê, chúa Trịnh tranh nhau bá quyền, Hồ Chí Minh đã viết:

"Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau,/ Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng./ Dân gian có kẻ anh hùng,/ Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn,/... Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,/  Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,/ Ông đà chí cả mưu cao,/ Dân ta lại biết cùng nhau một lòng/ Cho nên Tàu dẫu làm hung,/ Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà....".   

Khi bị nghĩa quân Tây Sơn đuổi, Gia Long nhà Nguyễn đã bạc nhược cầu cứu quân Pháp, với mộng tưởng giữ được ngai vàng đã mục rỗng. Việc làm đê hèn của Nguyễn Ánh đã mở đường cho thực dân Pháp vào xâm lược nước ta. Sự kiện lịch sử mất nước đó được Bác Hồ khái quát bằng mấy câu thơ với bao uất hận và oán trách:

"Nay ta mất nước thế này/ Cũng vì Vua Nguyễn rước Tây vào nhà,/ Khác gì cõng rắn cắn gà,/ Rước voi dày mả, thiệt là ngu si./ Từ năm Tân Hợi trở đi,/ Tây đà gây chuyện thị phi với mình… Năm Tự Đức thập nhất niên,/ Nam kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây./ Hăm lăm năm sau trận này,/ Trung kỳ cũng mất, Bắc kỳ cũng tan/ Ngàn năm gấm vóc giang san,/ Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!/ Tội kia càng đắp càng đầy,/ Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng… ".   

Bất bình với sự bạc nhược bán nước cầu vinh của vua quan triều Nguyễn, một số quan lại thanh liêm, yêu nước thương dân đã đứng lên theo Hịch Cần vương của Vua Hàm Nghi, rời kinh thành, phất cờ khởi nghĩa. Truyền thống yêu nước đấu tranh chống thực dân Pháp của dân tộc ta được Bác Hồ chứng minh qua các phong trào đấu tranh từ Văn thân, Cần vương đến Đông du do cụ Phan Bội Châu khởi xướng. Bằng những câu thơ lục bát dễ nhớ, dễ thuộc, Bác Hồ ngợi ca bao anh hùng liệt sĩ trong từng giai đoạn lịch sử đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống Pháp, tô đẹp thêm trang sử vàng dân tộc:

"Nước ta nhiều kẻ tôi trung,/ Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương./ Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương,/ Cùng thành còn mất làm gương để đời./ Nước ta bị Pháp cướp rồi,/ Ngọn cờ khởi nghĩa nhiều nơi lẫy lừng;/ Trung kỳ đảng Phan Đình Phùng,/ Ra tay đánh Pháp vẫy vùng một phương./ Mấy năm ra sức Cần vương,/ Bọn ông Tán Thuật nối đường Hưng Yên,/ Giang san độc lập một miền,/ Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành./ Anh em khố đỏ khố xanh,/ Mưu khởi nghĩa tại Hà thành năm xưa,/… Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An, Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu./ Nam kỳ im lặng đã lâu,/ Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây./ Bắc Sơn đó, Đô Lương đây!/ Kéo cờ khởi nghĩa đánh Tây bạo tàn./ Xét trong lịch sử Việt Nam,/ Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng./ Nhiều phen đánh bắc dẹp đông,/ Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên….". 

Bằng những vần thơ xúc động lòng người, Bác Hồ đã phân tích giảng giải cho nhân dân ta hiểu vì sao bị mất nước và bây giờ phải làm gì để cứu nước khi thời cơ đã đến:

"Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,/ Vì ta chỉ biết lo yên một mình./ Để người đè nén xem khinh,/ Để người bóc lột ra tình tôi ngươi !/ Bây giờ Pháp mất nước rồi,/ Không đủ sức, không đủ người trị ta./ Giặc Nhật Bản thì mới qua,/ Cái nền thống trị chưa ra mối mành./ Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh,/ Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà./ Ấy là nhịp tốt cho ta/ Nối lên khôi phục nước nhà tổ tông./ Người chúng ít, người mình đông,/ Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên./ Hỡi ai con cháu Rồng Tiên! Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau./ Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu,/ Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn./ Người giúp sức, kẻ giúp tiền,/ Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta./ Trên vì nước, dưới vì nhà,/ Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh/ Chúng ta có hội Việt Minh,/ Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh,/ Mai sau sự nghiệp hoàn thành,/ Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng,/ Dân ta xin nhớ chữ đồng:/ Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!".

Sau khi đã viết xong Lịch sử nước ta vào dịp Tết năm Nhâm Ngọ (1942), trước khi cho phát hành phổ biến diễn ca Lịch sử nước ta, Hồ Chí Minh đã viết bài đăng lên Báo Việt Nam độc lập(3) số 117 ra ngày 1-2-1942 với nội dung"Nên học sử ta":

"Dân ta phải biết sử ta,/  Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam" (1)- Dân ta phải biết sử ta, sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yêu dân trị nước tiếng để muôn đời.

 2) Trước khi vua Gia Long bán nước ta cho Tây, nước ta vẫn là nước độc lập. Đời nào cũng có người anh hùng mưu cao võ giỏi đứng ra đoàn kết nhân dân đuổi giặc cứu nước.

Đời Trần, quân Nguyên đánh đâu được đấy, chiếm nước Tàu và nửa châu Âu, thế mà ba lần bị ông Trần Hưng Đạo đánh tan. Bình dân như ông Lê Lợi  và ông Nguyễn Huệ đã đánh đuổi quân Tàu làm cho nước ta độc lập.

Người già như ông Lý Thường Kiệt quá 70 tuổi mà vẫn đánh Đông dẹp Bắc, bao nhiêu lần đuổi giặc cứu dân.

Thiếu niên như Đổng Thiên Vương chưa đến 10 tuổi mà đã ra tay cứu nước, cứu nòi. Trần Quốc Toản mới 15, 16 tuổi đã giúp ông Trần Hưng Đạo đánh phá giặc Nguyên.

Phụ nữ thì có bà Trưng, bà Triệu ra tay khôi phục giang san.

Những vị anh hùng ấy vì nước, vì dân mà làm nên sự nghiệp kinh thiên động địa. Nhờ những vị dân tộc anh hùng ấy mà nước ta được tự do, độc lập, lẫy lừng Á Đông.

Vì muốn giành làm vua mà Gia Long đem nước ta bán cho Tây. Thế là giang san gấm vóc tan tác tiêu điều; con Lạc cháu Hồng hóa làm trâu ngựa.

Từ đó đến nay, biết bao nhiêu người oanh liệt đứng lên khởi nghĩa đánh Tây như ông Phan Đình Phùng, ông Hoàng Hoa Thám vân vân.

3)-  Sử ta dạy cho ta bài học này:

Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do.

Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn.

Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi dưới ngọn cờ Việt Minh để đánh đuổi Tây - Nhật, khôi phục lại độc lập, tự do".

Nhờ có tác phẩm Lịch sử nước ta của Bác Hồ mà công tác tuyên truyền thời kỳ Việt Minh đạt đến đỉnh cao. Bài diễn ca trên 200 câu mà không chỉ có cán bộ Việt Minh thuộc mà dân ta từ trẻ đến già thời kỳ ấy đã truyền miệng cho nhau, ai cũng thuộc. Diễn ca Lịch sử nước ta của Bác Hồ đã vượt cả thời gian và không gian, truyền vào tận các nhà tù như Nhà lao Vinh, ngục Kon Tum, Buôn Ma Thuột, Côn Đảo,… tiếp thêm sức mạnh và niềm tin cho các chiến sĩ cộng sản bền gan tranh đấu. Bởi ý nghĩa trên mà cho đến nay,  Lịch sử nước ta của Bác Hồ muôn và kính yêu vẫn còn nguyên giá trị trong công tác tuyên truyền.

 

                                                                                    

Chú thích 

(1). Kèm theo Bộ Tuyên truyền của Việt Minh xuất bản và phát xuống cơ sở vào tháng 2-1942.  Hiện nay Bảo tàng cách mạng Việt Nam đang lưu giữ một số bản in cuốn lịch sử nước ta xuất bản vào những 1942, 1947 và 1949. Các bản in sau được Bác Hồ chỉnh sửa và bổ sung.

(2) -  Hồ Chí Minh toàn tập. T3. 1930- 1945. Nxb Chính trị Quốc gia. Hà nội 2000. Tr 221.

(3) - Đăng trên Báo Việt Nam độc lập, số 117, ngày 1-2-1942. Có đối chiếu Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 38. NXB Khoa học Xã hội năm 2000.    

 

 

Trần Thị Kim Phượng

Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh

Những năm gần đây, tiếng chuông cảnh tỉnh xuất hiện trên mọi phương tiện thông tin đại chúng về các biểu hiện sống gấp, thiếu lành mạnh, thiếu hụt kiến thức cơ bản về lịch sử dân tộc, theo đó là sự "nguội lạnh" với truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng ở một bộ phận không nhỏ của thế hệ trẻ nước nhà, trong đó có thế hệ trẻ học đường, khiến cho không chỉ các bậc phụ huynh, mà cả toàn xã hội thật sự quan tâm. Thực tế ở các trường phổ thông chỉ rõ, việc dạy học lịch sử ở các nhà trường chủ yếu chỉ dựa vào nội dung sách giáo khoa, rất nghèo nàn về đồ dùng trực quan. Phần lớn giáo viên dạy lịch sử chỉ dạy "chay", không có giáo cụ trực quan. Nhiều cuộc khảo sát bằng hình thức hỏi trực tiếp và thông qua phiếu điều tra gần đây cho thấy nhiều học sinh hiểu biết về lịch sử còn hạn chế. Tình trạng phổ biến hiện nay là học sinh không nhớ sự kiện lịch sử cơ bản, nhớ sai hoặc lẫn lộn sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử... Nhiều học sinh không biết hoặc biết rất ít về Quang Trung, Nguyễn Trường Tộ, Cao Xuân Dục, Phan Đình Phùng... Tình trạng này đòi hỏi cấp thiết phải nâng cao tri thức lịch sử cho thế hệ trẻ, đặc biệt là thế hệ trẻ học đường, góp phần to lớn vào việc giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho học sinh.

Nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh, thành trong cả nước đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo như: Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông do Bộ GD&ĐT tổ chức (11/1999); Đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông, ĐHSP Hà Nội (9/2006); Nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển kỹ năng tự học cho học sinh, HN, 2011; Dạy học lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam, Đà Nẵng (8/2012); Nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử trong bối cảnh hiện nay, NXB Lí luận Chính trị, 2016; Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên môn lịch sử đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, SGK, NXBĐHQG, 2017... Trong dạy học bộ môn, giáo viên dạy lịch sử xác định chuyển từ mô hình "tập trung vào kiến thức" sang việc phát triển năng lực, phẩm chất của người học; thực hiện phương châm "lấy học sinh làm trung tâm" trong dạy học lịch sử; đổi mới các phương pháp dạy học truyền thống; sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại để phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh; đề xuất việc tăng cường tổ chức dạy học lịch sử với bảo tàng và di tích, tăng cường hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm cho học sinh. Trong nhiều biện pháp được sử dụng, việc tham quan bảo tàng hoặc sử dụng những tư liệu, hình ảnh, hiện vật của bảo tàng trong việc dạy học lịch sử là điều cần thiết để góp phần nâng cao tri thức lịch sử văn hóa nói chung và chất lượng dạy học lịch sử ở các trường phổ thông nói riêng. Nhiều giáo viên lịch sử đã đến bảo tàng nghiên cứu các tài liệu, hình ảnh, hiện vật trưng bày để củng cố thêm tư liệu, rồi căn cứ vào nội dung trong sách giáo khoa để vận dụng vào tiết giảng.

Để đưa bảo tàng trở thành một trung tâm văn hóa, giáo dục truyền thống lịch sử, trở thành một mô hình học ngoại khóa hấp dẫn đối với các trường phổ thông, bảo tàng phải tổ chức các hoạt động giáo dục phong phú, đa dạng, hấp dẫn dưới nhiều hình thức, bởi đó là một trong những chức năng của bảo tàng. Trong tất cả các hình thức giáo dục công chúng của bảo tàng thì hoạt động hướng dẫn tham quan luôn có vai trò đặc biệt quan trọng bởi lẽ nó có mục đích rõ ràng về mặt chính trị, có hướng dẫn thuyết minh về nội dung giá trị của hệ thống trưng bày của bảo tàng. Trong đó việc trưng bày hiện vật gốc, sưu tập hiện vật gốc có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật… là đặc trưng của bảo tàng. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã từng nói về hoạt động tham quan của bảo tàng như sau: "Người đến Viện bảo tàng cần vừa xem vừa suy nghĩ và liên hệ với bản thân mình, các đồng chí phụ trách giới thiệu thì cần nói rõ ý nghĩa cách mạng của những hiện vật trưng bày, làm như thế sẽ rất bổ ích" [3]. Hoạt động trưng bày dù hoàn thiện đến mức nào cũng không nói hết được các vấn đề của lịch sử, truyền cảm hết giá trị lịch sử của hiện vật. Hướng dẫn khách tham quan tức là "làm sống lại" các sự kiện lịch sử, làm tăng sức hấp dẫn và những nội dung lịch sử mà trưng bày không thể nói hết được. Khi tham quan, người xem được trực tiếp quan sát hiện vật, nghe cán bộ thuyết minh kể những câu chuyện lịch sử gắn liền với hiện vật gốc chắc chắn sẽ để lại những ấn tượng sâu sắc. Khi đến xem phần trưng bày của bảo tàng, học sinh vừa được nghe người thuyết minh giới thiệu, vừa được nhìn, quan sát kỹ hiện vật, thậm chí ở bảo tàng các nước còn có thể được sờ những hiện vật thuộc các sưu tập phục vụ chương trình giáo dục, lại vừa có thể trao đổi ý kiến với người thuyết minh, đồng thời, nói lên suy nghĩ của bản thân, kể cả việc so sánh những gì các em vừa tham quan với những gì mà các em thấy hàng ngày về vấn đề liên quan. Hay nói cách khác, người thuyết minh bảo tàng không nên làm vai trò của một giáo viên lên lớp mà phải như cầu nối giữa bảo tàng với các em học sinh, làm sao để khuyến khích các em chia sẻ những hiểu biết cũng như những suy nghĩ của bản thân về các vấn đề các em quan tâm. Những hình ảnh, hiện vật, sưu tập hiện vật trong nội dung trưng bày sẽ theo chân học sinh đến trường, về nhà, giúp các em ghi nhớ lâu hơn những ấn tượng của cuộc tham quan. Em Bùi Thanh Huyền học sinh lớp 10E trường PTTH Nguyễn Huệ, Hà Nội đã xúc động ghi vào sổ cảm tưởng khi đến tham quan tại Viện Bảo tàng cách mạng: "... Mỗi hiện vật gợi lại cho em một sự kiện lịch sử em đã học, mà đến nay em mới tận mắt được nhìn thấy". Một em khác cho rằng: "Lịch sử cách mạng gần đây hình như bị lãng quên, truyền thống là cái gốc để một dân tộc từ đó mà đi lên, để cho con người từ đó sống tốt hơn, đẹp hơn" (Trần Thanh Huyền, lớp 12C Trường PTTH Đoàn Kết). Trên phiếu "Tìm hiểu lịch sử Việt Nam", em Nguyễn Thùy Trúc, học sinh lớp 9A2, Trường THCS Thanh Quan, Hà Nội đã nói lên cảm xúc của mình khi được đến tham quan và học tập tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia: "Bước chân vào cỗ máy thời gian - Bảo tàng Lịch sử Quốc gia để quay về quá khứ, khám phá lịch sử đất nước Việt Nam từ thời tiền sử đến nay, tôi thấy vô cùng hứng thú. Những kiến thức lịch sử cứ đưa tôi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Tôi càng biết nhiều hơn, tôi càng yêu lịch sử của dân tộc. Yêu những di tích còn sót lại thời kỳ đồ đá... yêu văn hóa trống đồng đặc sắc, yêu những năm tháng đấu tranh chống giặc ngoại xâm anh dũng của dân tộc. Qua buổi tham quan hôm nay, cho tôi có quyền được tự hào về lịch sử Việt Nam và càng nhận thấy rõ trách nhiệm của mình với đất nước, quyết tâm xây dựng Việt Nam ngày một tươi đẹp để đền đáp công ơn của cha anh đã làm trong quá khứ. Tôi yêu lịch sử Việt Nam!".

Nằm trong hệ thống bảo tàng cách mạng, Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh là bảo tàng lưu niệm sự kiện lịch sử tiêu biểu của Đảng Cộng sản Việt Nam và quê hương Nghệ Tĩnh. Gần 60 năm xây dựng và phát triển, Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh luôn đặt công tác giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống yêu nước cho mọi thế hệ đặc biệt là thế hệ trẻ học đường lên trên hết, là nhiệm vụ hàng đầu. Một vấn đề xã hội nổi bật hiện nay là thực trạng thờ ơ, yếu kém về việc dạy và học môn lịch sử trong các nhà trường, tình trạng vắng khách đến báo động của các bảo tàng dẫn đến thế hệ trẻ kém hiểu biết lịch sử dân tộc, truyền thống cách mạng của cha ông, ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình thành nhân cách, xây dựng lòng tự tôn, tự hào dân tộc, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá quê hương. Để nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học phổ thông, chú trọng chất lượng giáo dục toàn diện, xây dựng và đưa các nội dung giáo dục truyền thống lịch sử, truyền thống cách mạng, văn hóa xứ Nghệ… vào các trường học, với các hình thức phong phú, đa dạng để học sinh dễ học, dễ hiểu, dễ tiếp thu, tháng 12/2005, Sở Văn hóa - Thông tin và Sở Giáo dục - Đào tạo Nghệ An đã thống nhất chủ trương đưa giáo dục lịch sử Xô viết Nghệ Tĩnh vào học trong nhà trường. Ngày 6/7/2007, hai ngành chính thức ban hành Kế hoạch số 1341/SVHTT- SGDĐT về giáo dục truyền thống XVNT cho học sinh THCS và THPT.

Trong suốt hơn 10 năm (2007-2019) thực hiện kế hoạch giáo dục, Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh đã triển khai thực hiện kế hoạch phối hợp giữa hai ngành như: Biên soạn hai bài giảng ngoại khoá về Xô viết Nghệ Tĩnh cho học sinh lớp 9 và lớp 12; Phối hợp với Đài PTTH Nghệ An xây dựng phim khoa giáo "Xô viết Nghệ Tĩnh năm 1930-1931" phục vụ tiết học ngoại khóa cho các trường học; Làm tốt công tác đón tiếp, hướng dẫn, thuyết minh cho học sinh các trường; Bảo tàng XVNT đã phối hợp với các địa phương, nhà trường tổ chức: Câu lạc bộ lịch sử, giao lưu văn hóa, trưng bày lưu động, giao lưu, đối thoại với nhân chứng lịch sử, nói chuyện chuyên đề, tổ chức cuộc thi "thuyết minh viên nhí"... Sau mỗi chương trình, lãnh đạo nhà trường, giáo viên bộ môn lịch sử và lãnh đạo bảo tàng đã họp, hội ý nhằm đánh giá, rút kinh nghiệm để lần sau tổ chức tốt hơn. Trong việc xây dựng mô hình "Trường học thân thiện, học sinh tích cực", Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh đã giúp trường lập danh mục di tích Xô viết Nghệ Tĩnh đã được xếp hạng để học sinh có thể vừa tổ chức học ngoại khóa vừa nhận chăm sóc di tích tại địa phương mình. Ngoài ra bảo tàng còn cung cấp tài liệu, các ấn phẩm cho các trường làm tư liệu giảng dạy, giáo dục truyền thống cách mạng cho học sinh như cuốn: Chiếc va ly màu đỏ, Ráng đỏ Hồng Lam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học 65 năm, 70 năm XVNT, tập sách "Nghệ An - những tấm gương cộng sản"; những mẩu chuyện về danh nhân và tấm gương dũng cảm, kiên trung của các chiến sỹ cộng sản trong phong trào XVNT như: Nguyễn Phong Sắc, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Hà Huy Tập, Nguyễn Sỹ Sách, Lê Mao, Phan Thái Ất…; Tuyên truyền về Xô viết Nghệ Tĩnh trên các phương tiện thông tin đại chúng như Web, Fanpage; mở rộng liên kết trang thông tin điện tử của bảo tàng với công chúng trong và ngoài nước, các công ty lữ hành và các cộng tác viên của Báo Nghệ An, Báo Lao động, Tạp chí Văn hóa Nghệ An, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nghệ An...

Từ khi triển khai đến nay (2007-2019), số học sinh trong các trường học được đến tham quan, học tập tại Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh ngày càng nhiều hơn. Số lượng học sinh được tham quan trưng bày lưu động, được tham gia giao lưu văn hóa, thi tìm hiểu lịch sử, nghe nói chuyện truyền thống, xem phim khoa giáo về phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh đã tăng lên, trong đó có một số trường ở miền núi như Con Cuông, Nghĩa Đàn, Quỳ Châu, Tân Kỳ, Quế Phong... Ước tính số lượng học sinh trong tỉnh đến tham quan, học tập tại Bảo tàng Xô viết hàng năm là gần 20 ngàn lượt. Hầu hết các trường THCS, THPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An như THPT Huỳnh Thúc Kháng, Lê Viết Thuật, Hà Huy Tập, Nguyễn Sỹ Sách, Đặng Thúc Hứa… hàng năm đều tổ chức cho học sinh đến tham quan Bảo tàng Xô viết và duy trì thành nề nếp. Một số trường ở các huyện như: Tương Dương, Kỳ Sơn, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quế Phong... mặc dù xa xôi nhưng những năm học 2017-2018, 2018-2019 các nhà trường đã phối hợp với các công ty lữ hành tổ chức cho các em về tham quan, học tập tại Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh. Qua đó, nhận thức, hiểu biết của các em về lịch sử địa phương, về phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh sâu sắc hơn.

Có thể nói rằng việc tham quan, học tập tại bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh đã thu được kết quả tốt về mặt giáo dưỡng (kiến thức), giáo dục (tư tưởng, phẩm chất, đạo đức) và kỹ năng (tư duy, thực hành). Phần lớn giáo viên bộ môn lịch sử thấy được sự cần thiết trong việc sử dụng các tài liệu, hiện vật, hình ảnh của Bảo tàng để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Về phía học sinh các em cũng rất hứng thú vì có dịp được học tập, ôn lại truyền thống lịch sử, cách mạng của quê hương, của đất nước một cách tương đối có hệ thống. Các em đã xác định được trách nhiệm của mình trong việc kế thừa truyền thống yêu nước và cách mạng của cha anh. Nhiều em học sinh lớp 11, 12 đã rút ra kết luận: phải thực sự tỉnh táo, không được phủ nhận quá khứ, phải bảo vệ giữ gìn truyền thống tốt đẹp của cha ông (Nguyễn Thị Thảo, trường PTTH Huỳnh Thúc Kháng). Thông qua hệ thống trưng bày của Bảo tàng, kiến thức lịch sử mà các em đã học ở nhà trường sẽ được củng cố và nâng cao, tác dụng về nhận thức và tình cảm của các em rất rõ rệt, thể hiện rõ nét ở các bài thu hoạch, bài cảm tưởng sau khi tham quan bảo tàng. Em Nguyễn Phạm Vân Trinh, Lê Nguyễn Phương Linh, lớp 9C, Trường THCS Lê Mao đã viết: "Hôm nay, chúng em những học sinh khối 9 trường THCS Lê Mao, vinh dự được về tham quan, học tập tại Bảo tàng XVNT. Sau chuyến tham quan đã giúp chúng em học hỏi được rất nhiều bài học đáng quý về lòng yêu nước của các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh vì dân tộc để cho chúng em có được cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc. Chúng em được hiểu biết thêm về lịch sử dân tộc, cảm nhận được những mất mát của đất nước. Qua đó chúng em như được nung nấu thêm tấm lòng yêu nước, rèn luyện ý chí bảo vệ dân tộc. Đây là động lực để chúng em chăm chỉ học tập, rèn luyện đạo đức để trở thành công dân tốt, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp. Chúng em xin hứa sẽ luôn cố gắng rèn luyện để làm tròn trách nhiệm những chủ nhân tương lai của đất nước, luôn trung thành với dân tộc để không phụ sự hy sinh xương máu của các thế hệ cha anh".

Trong các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, yêu nước là giá trị cao nhất, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam. Nó thể hiện nổi bật mỗi khi người Việt Nam đánh giặc ngoại xâm. Truyền thống yêu nước và cách mạng của dân tộc Việt Nam là nguyên tắc đạo đức và chính trị, là tình yêu và lòng trung thành với Tổ quốc, lòng tự hào về quá khứ và hiện tại, ý chí bảo vệ những lợi ích của dân tộc. Giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng cho nhân dân, cho tuổi trẻ, trong đó có tuổi trẻ học đường, hiển nhiên không phải là nhiệm vụ, là chức năng riêng có của Bảo tàng XVNT mà là nhiệm vụ chung của mọi bảo tàng có hiện vật ở nước ta hiện nay. Thông qua hệ thống trưng bày với hàng ngàn tư liệu, hiện vật gốc bảo tàng đã và đang ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong công tác giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng, trở thành trường học lịch sử cách mạng cho mọi thế hệ, đúng như cảm nhận của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đến tham quan Viện Bảo tàng cách mạng, được người kể lại trên Báo Nhân dân số ra ngày 4/7/1959 với nhan đề bài viết "Xem Bảo tàng Cách mạng", Hôm cùng đi xem Viện bảo tàng Cách mạng với Tổng thống Xu-các-nô, một người bạn nói một cách thân thiết "Nếu người ta chú ý, thì xem Viện Bảo tàng Cách mạng một lần cũng bằng học một pho lịch sử cách mạng".

 

Tài liệu tham khảo

1. Timothy Ambrose and Crispin paine (2000), Cơ sở Bảo tàng, Lê Thúy Hoàn dịch, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Hà Nội.

2.  Gary Edson và David Dean (2001), Cẩm nang Bảo tàng, Hà Nội.

3. M. Harrison, Vấn đề giáo dục và các viện Bảo tàng, Phan Đình Giễm dịch,  Tài liệu dịch của Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

4.. Hồ Chí Minh (1997), Về văn hóa văn nghệ, Nxb. Văn hóa,

Ông Phạm Xuân Cần: Đặt vấn đề

Nhiều năm nay, nhất là 3 năm gần đây (từ năm 2017 - 2019) điểm thi tốt nghiệp phổ thông môn sử rất thấp. Cụ thể: năm 2017, điểm dưới trung bình của toàn quốc gia chiếm 61,9%, trong đó điểm trung bình chỉ có 4,7%, điểm phổ biến nhất là điểm 4; Năm 2018, tỉ lệ dưới trung bình 83,24% và điểm trung bình là 3,79, điểm phổ biến nhất là 3,25 điểm; Năm 2019, tình hình có khả quan hơn nhưng tỉ lệ điểm dưới trung bình vẫn 70.01%, trong đó điểm trung bình toàn môn là 4,3 điểm và điểm phổ biến nhất các bài thi được chấm là 3,75 điểm.

Như vậy trong 3 năm liên tiếp kết quả thi môn Sử luôn xếp cuối bảng trong 9 môn thi trung học phổ thông. Tại sao không phải là những môn khó như toán, lý, hóa, hay ngoại ngữ mà nó lại rơi vào môn sử?

Hôm nay chuyên san Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An tổ chức cuộc tọa đàm này nhằm góp thêm một tiếng nói để lý giải nguyên nhân và đề xuất những giải pháp, góp phần khắc phục tình trạng trên.

Để có cái nhìn khách quan, đa chiều, đa dạng, hôm nay chúng tôi mời đến đây đại diện các thầy giáo, cô giáo dạy sử; đại diện các em học sinh vừa thi môn sử; phụ huynh học sinh; các nhà nghiên cứu lịch sử; đại diện cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục lịch sử…

Một cuộc tọa đàm nhỏ sẽ không đề cập và giải quyết được mọi vấn đề, nhưng chúng ta hi vọng được nghe những ý kiến trao đổi thẳng thắn và trách nhiệm của các thành viên tham dự buổi tọa đàm hôm nay.

 

PG.TS. Trần Viết Thụ - Hội Khoa học Lịch sử Nghệ An

Kết quả dạy học môn Sử nói riêng là sản phẩm tổng hợp của nhiều lực lượng giáo dục, giống như 3 đỉnh của tam giác: Gia đình - nhà trường - xã hội

Đây không phải là năm đầu tiên mà từ kỳ thi THPT năm 2016, điểm số môn Lịch sử đã thấp hơn với các môn khác, những nguyên nhân do đâu? Tôi có cảm giác nguyên nhân đó đang giống như quả bóng đá chỗ này sang chỗ khác, khi tại cái này, khi tại cái kia, luẩn quẩn, chưa giải quyết được tận gốc, mà trong đó chủ yếu người ta dồn vào 2 nguyên nhân: do chương trình sách giáo khoa và cách dạy học của thầy và trò.

Theo tôi, để tìm hiểu nguyên nhân thì trước hết phải nhìn nhận nguyên nhân một cách toàn diện hơn, chứ không phải nhìn ở khía cạnh trách nhiệm. Một sản phẩm giáo dục nói chung, môn Sử nói riêng là sản phẩm tổng hợp của nhiều lực lượng giáo dục, giống như 3 đỉnh của tam giác: Gia đình - nhà trường - xã hội. Sản phẩm giáo dục ra đời chính là kết quả của 3 lực lượng tham gia giáo dục này, dĩ nhiên nhà trường là đóng vai trò then chốt quan trọng nhất. Vì thế, điểm Sử thấp không chỉ nhìn ở đỉnh mà theo tôi phải nhìn một cách toàn diện:

Trước hết về phía nhà trường: Trong nhà trường dù không công khai những vẫn có nhận thức môn chính môn phụ, thông qua việc tập trung thời lượng cho môn chính: Toán, Lý, Hóa, Ngoại ngữ… còn những môn như Mỹ thuật, Lịch sử thì mức độ quan tâm cũng ít hơn. Từ nhận thức đó mà những môn phụ điều kiện để dạy như hoạt động trải nghiệm, cơ sở vật chất, phòng chuyên môn, những phương tiện để phục vụ rõ ràng không bằng các môn khác.

Chương trình và sách giáo khoa môn Lịch sử cũng có những hạn chế, quá nặng, trùng lặp dễ nhàm chán, đòi hỏi phải ghi nhớ nhiều. Tiếp nữa, giáo viên dạy môn Lịch sử cũng yêu nghề, nhưng để có những sáng tạo mang tính chất đột phá, đa dạng, hấp dẫn các em còn nhiều hạn chế vì ai cũng chọn quy trình an toàn.

Về phía gia đình: gồm có phụ huynh - học sinh, đây cũng là nguyên nhân do định hướng của các bậc phụ huynh cho rằng học Sử cho biết thôi chứ "không ra cơm áo gạo tiền". Chỉ nên tập trung học Toán, Lý, Hóa, Tin học, Ngoại ngữ… sau này định hướng nghề nghiệp tìm được việc làm, có thu nhập, địa vị xã hội, từ đó tác động đến thái độ của học sinh đối với môn Lịch sử.

Bản thân học sinh, đa số lựa chọn môn Sử làm điều kiện thi đại học, nên việc học và thi không phải là mục tiêu có kết quả tốt nhất, mà chỉ cần đừng mắc điểm liệt là được.

Về phía xã hội: Câu nói "Dân ta phải biết sử ta" của Chủ tịch Hồ Chí Minh lâu nay được đưa ra mới chỉ dừng lại ở khẩu hiệu, tuyên truyền, chứ chưa thấy hành động cụ thể, rõ ràng, đặc biệt là đối với các cấp quản lý. Chẳng hạn như chủ trương tích hợp ba môn Lịch sử - Địa lý - Giáo dục công dân thành môn học Công dân với Tổ quốc cách đây mấy năm đã dấy lên làn sóng phản đối mạnh mẽ. Tích hợp là đúng quy luật, bởi xu thế phát triển của khoa học hiện đại nhưng tích hợp làm một cách vội vàng, phong trào, thậm chí những người làm tích hợp chưa hiểu được khái niệm đó, họ chỉ mới lắp ghép Sử với Địa và Giáo dục công dân một cách kệch cỡm.

Theo tôi, đã có 3 nguyên nhân thì phải có 3 nhóm giải pháp. Nhóm giải pháp thứ nhất: đó là về phía nhà trường phải đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp, hình thức tổ chức dạy học.

Về phía gia đình, học sinh phải được tuyên truyền rộng rãi tầm quan trọng bộ môn này, môn này không phải phục vụ mục đích trước mắt là kiếm nghề, kiến tiền mà hình thành nên phẩm chất con người Việt nam.

Về phía xã hội: Các cơ quan quản lý cần đưa ra chính sách cụ thể chứng đừng hô hào, ví dụ xét vào các ngành đại học nên đưa tổ hợp môn Sử vào, ví dụ vào công an Toán, Lý, Sử.v.v. khi đó không cần tuyên truyền thì học sinh cũng học và thi đạt điểm cao...

 

Th.S Nguyễn Quốc Hồng - Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Nghệ An

Môn Lịch sử không chỉ trang bị kiến thức mà còn xây dựng niềm tin, nhân cách, phẩm chất cho học sinh

Vai trò môn Lịch sử trong trường phổ thông một là trang bị kiến thức cho học sinh; hai là xây dựng niềm tin, nhân cách, phẩm chất của học sinh trong quá trình phát triển. Cho nên khi nói đến vấn đề dạy và học môn lịch sử có rất nhiều người quan tâm từ giáo dục, hội khoa học, nhà quản lý, người dân...

Thực trạng về học và thi môn sử không phải bây giờ mà theo tôi biết phải cách đây hàng chục năm đã xảy ra những vấn đề này rồi. Bộc lộ ở điểm thi thấp, tâm lý học sinh không thích học và vấn đề tìm việc làm sau khi học xong. Từ đó nảy sinh quan điểm, định hướng gia đình, của xã hội, đối với học Sử. Theo tôi:

Thứ 1, muốn chuyển biến được chất lượng dạy học môn lịch sử thì phải có sự vào cuộc của cả hệ thống, nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều người chứ để tự chuyển biến sẽ rất khó.

Thứ 2, chương trình sách giáo khoa nặng tính hàn lâm, vị trí môn lịch sử trong nhà trường bị xem nhẹ, phương pháp giảng dạy truyền thống, hiện nay có bổ sung những phương pháp mới tuy nhiên cũng chưa làm được bao nhiêu về cơ sở vật chất, về mặt thông tin, bản đồ, sơ đồ… Một nguyên nhân là áp lực tìm việc làm sau khi ra trường của những học sinh, sinh viên học ngành Lịch sử, từ đó dẫn đến tâm lý chán học và không học môn Lịch sử..

Thứ ba, để cải thiện vấn đề dạy và học sử, theo tồi cần: Phải đưa môn Lịch sử thành môn học bắt buộc và thi như các môn Toán, Văn; Thay đổi phương pháp biên soạn sách giáo khoa; Đổi mới phương pháp dạy học, kết hợp phương pháp dạy truyền thống và phương pháp dạy hiện đại; Thay đổi đánh giá thi cử của học sinh tránh nặng nề, áp lực, tạo tâm lý để học sinh thích học lịch sử, khơi dậy sự hưng phấn của học sinh trong quá trình học.

 

Th.S Trần Văn Hữu - Ban Quản lý Di tích Nghệ An

Chú trọng giáo dục lịch sử địa phương cho các em học sinh

Bản thân tôi tuy tốt nghiệp đại học chuyên ngành Hán Nôm, nhưng do tính chất công việc quản lý và nghiên cứu về các di tích thấy rằng những sự kiện lịch sử, những di tích lịch sử địa phương của tỉnh Nghệ An nói riêng, của nước ta nói chung đều rất hay và thú vị.

Kết quả môn Lịch sử tại các kỳ thi THPT các năm vừa qua là một thực trạng đáng buồn. Tôi có xem qua bộ đề thi năm 2018 - 2019, thực ra nó không khó, chứng tỏ do các em không chú trọng. Thứ nữa, tôi thấy có sự phân biệt giữa chuyên ngành xã hội và tự nhiên kể cả trong nhà trường lẫn xã hội dẫn đến cơ hội để tìm việc làm giữa khối tự nhiên và xã hội cũng cách biệt nhau. Ngày xưa học văn - sử - địa, tứ thư ngũ kinh, nam sử bắc sử, nhưng các cụ đều thuộc, theo tôi sở dĩ các cụ nhớ từng chữ, từng dòng bởi khi đó phương tiện thông tin còn hạn chế, bắt buộc các cụ phải học thuộc, ghi nhớ; hai nữa các cụ xưa học được và có ứng dụng được nên việc học Sử hiệu quả hơn.

Hiện nay trong khối di tích của chúng tôi quản lý, có nhiều sự kiện lịch sử chưa được quan tâm, ví dụ ở quê tôi, có địa điểm có vị tướng 3 lần đánh quân Nguyên nhưng bây giờ hỏi những em học sinh trong xã đó thì chẳng ai biết ông ấy là ông nào. Tôi thấy công tác giới thiệu của nhà trường đối với di tích lịch sử địa phương còn rất hạn chế, trong khi đó, từ di tích đến nhà trường chưa đầy 1 km.

Tôi đề xuất hiện nay tỉnh Nghệ An có hơn 2.000 di tích, chia trung bình hầu như các xã đều có di tích, mỗi di tích đó lại là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử. Trong quá trình chúng ta học lịch sử thì có thể tìm hiểu trên địa bàn địa phương mình nó có sự kiện gì diễn ra, gắn với những nhân vật nào, giai đoạn nào của lịch sử,...? Như thế tôi nghĩ sẽ hiệu quả hơn cách dạy học truyền thống đọc, chép .v.v.

 

Ông Trần Trung Hiếu - Giáo viên môn Lịch sử, Trường THPT chuyên Phan Bội Châu

Thay đổi cách thi để vừa tiếp cận được nội dung vừa tiếp cận được năng lực học sinh

 Là một giáo viên chuyên sử tôi thấy, sau mỗi kỳ thi thì môn Sử "không bình yên", xét về góc độ truyền thông, năm có vài chỗ không ổn về đề, năm thì có vài chỗ không ổn với đáp án, năm thì cơn mưa, cơn bão điểm 0 và năm nay là môn đội sổ. Xin chia sẻ rằng tôi không bất ngờ. Bàn về nguyên nhân, thực trạng, giải pháp, theo tôi:

Về nguyên nhân: có 4 nguyên nhân:

Thứ nhất: Xu thế của xã hội chúng ta hiện nay, thích đi theo các ngành khoa học cơ bản, khối kinh tế và quay lưng với môn xã hội trong đó có môn lịch sử;

Thứ hai, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, ít quan tâm môn sử. Chìa khóa mở ra giải pháp đó chính là thượng tầng, Ban Bí thư, Bộ chính trị, phải có nghị quyết riêng về bộ môn Sử để từ đó có sự quan tâm cụ thể;

Thứ ba, về phía học sinh: điểm môn Sử thấp nhưng chúng ta không nên nhìn nhận cực đoan là học trò chán Sử, thậm chí đến giờ học Sử học sinh vẫn thích nhưng học sinh không chọn thi Sử, hai vấn đề này hoàn toàn khác nhau. Học sinh vốn dĩ học để thi. Thế hệ chúng tôi trước đây học cái gì sẽ thi cái đó, còn bây giờ thì thi kiểu gì sẽ học kiểu đó. Đây là kiểu dạy học gọi là "ứng thí", "đối phó". Số đông các học sinh nằm trong tỉ lệ 70% dưới điểm trung bình đều chọn môn Lịch sử để thi tốt nghiệp, mà thi tốt nghiệp thì không cần cao chỉ cần 2-3 điểm là đủ, để dành thời gian cho 3 môn thi đại học, đây là kiểu thi thực dụng, không trách học trò được.

Thứ tư, xâu chuỗi 3-4 năm qua về cách thức tổ chức kỳ thi "hai trong một" có thành công không? Thì tôi nghĩ là khó. Có đánh giá được năng lực của học trò không, câu trả lời "khó", bởi nó không rõ ràng giữa thi tốt nghiệp và đại học. Số lượng học sinh đăng ký thi môn Sử phục vụ cho tốt nghiệp và số lượng học sinh đăng ký thi môn sử phục vụ cho thi đại học nó không rõ ràng. Có những học sinh lúc đầu không có ý định chọn sử làm môn thi đại học, nhưng kết quả thi tốt nghiệp  môn sử cao thì chuyển qua đăng ký vào đại học.

Về giải pháp: Ngoài những giải pháp về đổi mới toàn diện, theo tôi đổi mới quan trọng và cần thiết phải làm nhất đó chính là đổi mới cách thức thi. Nói đổi mới có nhiều cách, đổi mới phương pháp giảng dạy, nội dung chương trình, đánh giá kiểm tra và thi cử thì cái học trò quan tâm nhất là "thi". Quan trọng là thi bởi thực chất học bây giờ là để thi, cho nên đề ra kiểu gì thì học sinh sẽ học theo kiểu đó. Ra tự luận sẽ học theo kiểu tự luận, ra trắc nghiệm sẽ học theo kiểu trắc nghiệm. Cái đó không trách được học trò.

Nhiều thầy cô sẽ băn khoăn làm thế nào để thay đổi cách thi, để vừa đánh giá được năng lực, vừa phân hóa được học sinh khá, giỏi vào đại học, vừa giúp học sinh tiếp cận được nội dung? Bởi suy cho cùng học sinh học 12 năm thì cuộc thi là thành quả cuối cùng để đánh giá kết quả học tập, thậm chí đánh giá luôn năng lực của cả thầy cô.

Hi vọng môn Lịch sử sẽ được đánh giá đúng vị thế của nó trong tương quan các môn học trong trường phổ thông.

 

Bà Kim Hoa - Giáo viên dạy môn Lịch sử trường THPT Lê Viết Thuật

Giáo viên đổi mới phương pháp dạy nhưng cơ sở vật chất không đồng bộ nên rất khó thực hiện

Dưới góc độ là giáo viên dạy Lịch sử, việc học sinh đạt điểm thấp trong môn thì tôi thấy trách nhiệm của giáo viên dạy sử là chiếm 50%.

Trong những năm gần đây, phương pháp giảng dạy môn Lịch sử của giáo viên đã có sự đổi mới, tuy nhiên không phải giáo viên nào cũng đuổi kịp phương pháp mới đó. Bên cạnh đó việc đổi mới phương pháp dạy còn phải liên quan đến cơ sở vật chất, giáo án soạn, giảng dạy, ngoại khóa theo phương pháp hiện đại đều cần cần có cơ sở vật chất đồng bộ. Trong khi đó cơ sở vật chất chưa đáp ứng được hầu hết các tiết dạy, chỉ mới chủ yếu phục vụ ở những giờ dạy thao giảng, thi giáo viên dạy giỏi, còn trong những giờ dạy lên lớp bình thường thì mới đổi mới ở cách tổ chức dạy học, chứ chưa đổi mới ở việc đưa công nghệ thông tin vào giảng dạy, mà nếu có công nghệ vào công tác giảng dạy lịch sử thì nó sẽ hấp dẫn hơn rất nhiều. Do đó việc đổi mới phương pháp dạy hiện đại của các thầy cô cũng rất nhiều khó khăn.

Do đó, muốn giáo viên đổi mới phương pháp dạy thì cần có sự hỗ trợ về cơ sở vật chất, trang thiết bị đồng bộ.

Ngoài nguyên nhân trên thì vẫn tồn tại những nguyên nhân khác như: một số giáo viên ngại đổi mới; mục đích thi của học sinh cũng gây tâm lý không cần học  sử; ma trận đề thi môn sử khá nhiều thông tin bao quát kiến thức từ lớp 11, lớp 12 với 33 bài học. Đây là khối lượng kiến thức khá lớn, nếu chỉ để cho học sinh thi tốt nghiệp thì quả thật không thể nào tạo được động cơ học của học sinh.

 

Học sinh Trần Thị Nhật Thanh - Trường THPT Chuyên Phan Bội Châu

Vấn đề quan trọng nhất đó là tâm lý của học sinh, khi xác định đây là môn học giúp ích cho bản thân trong tương lai lẫn cả vấn đề tư duy trong cuộc sống, trong lựa chọn nghề của bản thân thì việc học môn sử là điều đương nhiên

Thực ra ban đầu việc lựa chọn học chuyên về Lịch sử không phải là lựa chọn đầu tiên của em, tuy nhiên khi bước vào học thì với cách dạy của giáo viên dạy sử đã thu hút và gây hứng thú cho em đối với bộ môn này.

Với các bạn cùng trang lứa với em thì có nhiều bạn không thích học môn Lịch sử, nguyên nhân đầu tiên đó là vấn đề về tâm lý của việc học. Các bạn cho môn Lịch sử là môn phụ nên chỉ chú trọng vào việc học các môn chính như Toán, Văn, Ngoại ngữ; Một nguyên nhân nữa là khi nói đến môn Lịch sử, học sinh cứ nghĩ đến các sự kiện, các mốc thời gian, đòi hỏi cần phải nhớ chính xác, cụ thể dẫn đến tâm lý học sinh sợ phải học môn học này, từ đó dẫn đến thái độ bất hợp tác và ngại học.

Bên cạnh đó nó còn có sự tác động của tâm lý chung của xã hội, không coi trọng bộ môn này như các môn học khác. Khi chọn ngành thi thì thực tế có rất ít ngành đưa môn Lịch sử là môn thi chính. Những ngành có khối C như ngành Đông Phương học thì chỉ tuyển thẳng học sinh giỏi quốc gia môn Địa lý chứ không lấy môn Lịch sử; những ngành như quản trị khách sạn, lữ hành thì hiện nay không tuyển học sinh khối C nữa mà thay đó là lấy học sinh khối A, khối D... Nói như vậy, để thấy ngành học có môn Lịch sử hiện nay đang bị thu hẹp lại và như vậy sẽ không đảm bảo đầu ra cho học sinh nếu lựa chọn học bộ môn này để thi đại học.

Một nguyên nhân nữa theo em khiến cho điểm thi môn Lịch sử thấp, đó là cách học hiện nay của học sinh chúng em về môn Lịch sử thường chủ yếu là học thuộc lòng, mà không hiểu được thực chất vấn đề, khiến việc học sử trở nên khó khăn, nặng nề hơn.

Ở đây em chỉ xin chia sẻ cách học về bộ môn Lịch sử theo kinh nghiệm cá nhân trong quá trình theo học 3 năm ở trường THPT. Theo em vấn đề quan trọng nhất đó là tâm lý của học sinh, khi xác định đây là môn học giúp ích cho bản thân trong tương lai lẫn cả vấn đề tư duy trong cuộc sống, trong lựa chọn nghề của bản thân thì việc học môn Lịch sử là điều đương nhiên. Hai nữa là phương pháp học môn Lịch sử, không chỉ học thuộc kiến thức mà cần phải học theo sơ đồ tư duy, học theo công thức như học toán; cùng với đó cần xem thêm những bộ phim tư liệu lịch sử, xem tranh ảnh để kích thích được trí nhớ, giúp hiểu được bối cảnh lịch sử, những sự kiện lịch sử,…

Bên cạnh đó, phương pháp dạy của giáo viên cũng rất quan trọng, như trong các tiết học sử của chúng em, giáo viên thường xuyên cho học sinh thuyết trình, tổ chức tranh luận để giúp học sinh hiểu rõ vấn đề, từ đó giúp học sinh dễ nhớ, nhớ sâu hơn và có hứng thú với việc học Lịch sử hơn.

 

Phụ huynh Trần Quang Hiển - Huyện Yên Thành, Nghệ An:

Phụ huynh luôn quan niệm: thi thế nào thì học như thế, học để thi đã, còn học để biết để hiểu, để giáo dục truyền thống, tự hào dân tộc là vấn đề được đặt sau

Với tư cách là phụ huynh có con học THPT, tôi thấy rất ít gia đình đầu tư cho con học môn Lịch sử. Phụ huynh luôn quan niệm: thi thế nào thì học như thế, học để thi đã, còn học để biết để hiểu, để giáo dục truyền thống, tự hào dân tộc là vấn đề được đặt sau. Cho nên chỉ có học sinh nào thi vào đại học có tổ hợp xét tuyển có môn Lịch sử thì mới thực sự đầu tư để học môn này.

Về phía gia đình, theo tôi, chắc chắn mỗi học sinh dù ít hay nhiều đều có sự tác động của gia đình. Với học sinh cấp 1, khi việc học chưa thật áp lực nếu gia đình cho các cháu đọc một số cuốn sách lịch sử thì có thể các cháu sẽ có thời gian đọc hiểu hơn, tuy sau này không phải cháu nào cũng đi theo khối C nhưng sẽ ít nhất sẽ có sự đam mê tìm hiểu về lịch sử dân tộc nói chung.

Thực tế hiện nay tôi thấy những bộ phim về lịch sử Việt Nam rất ít, thay vào đó là những bộ phim về lịch sử Trung Quốc lại khá nhiều. Rồi sách viết về sử nước ta để cho công chúng đọc cũng không nhiều. Theo tôi nhà nước cần giành một phần kinh phí để tái bản những bộ sách sử cũ, từ đó phát về các nhà trường, đến tận các lớp học. Những cuốn sách sử này ban đầu sẽ yêu cầu học sinh phải đọc, ngầm dần và sẽ từ từ tạo được niềm hứng thú học sử cho học sinh. Có như vậy sẽ phần nào giảm bớt tình trạng chán học sử của học sinh đang diễn ra hiện nay.

 

Thầy Phan Trọng Đông - Hiệu trưởng Trường THPT Diễn Châu 3:

Cần làm cho học sinh phải học sử; có cơ hội học sử và thích học sử

Theo tôi hiện nay về chủ trương, đường lối, chính sách chung yêu cầu các trường phải thực hiện, đó là điều không thể thay đổi, cho nên chúng ta không nên bàn về những cái không thể thay đổi.

Hiện nay đang có xu hướng chung là: Thi cái gì thì học cái đó, đây là tư duy chung cho cả học sinh lẫn phụ huynh. Môn học nào giúp ích cho tương lai, cho công việc sau này của con em mình thì phụ huynh cho con mình học môn đó, vì thế việc rất ít học sinh lựa chọn học môn sử là điều đương nhiên.

Theo tôi trước hết cần phải làm cho học sinh phải học môn sử, từ chủ trương, từ chính sách đến cơ chế quản lý, thậm chí cơ chế quản lý của giáo viên làm thế nào để học sinh phải học. Tiếp đến là tạo cơ hội học cho học sinh được tiếp cận, trải nghiệm với các sự kiện lịch sử địa phương. Cơ hội ở đây là về mặt thời gian, kinh phí, cơ sở vật chất,... để các em có thể tham gia trải nghiệm thực tế. Ngoài ra, những tư liệu về các sự kiện lịch sử như phim ảnh, sách viết về lịch sử còn khá ít, trong khi ở trong nhà trường rất muốn có những kho tư liệu này để làm tư liệu dạy học cho học sinh. Vấn đề thứ ba là làm cho học sinh thích học sử. Điều này phụ thuộc hoàn toàn vào phương pháp giảng dạy của mỗi giáo viên. Theo tôi nếu khắc phục được ba vấn đề trên thì chắc chắn môn sử sẽ đạt được kết quả tốt hơn.

Một điều nữa tôi muốn nói ở đây là nếu chỉ ngành giáo dục vào cuộc, các giáo viên vào cuộc không thôi thì không có kết quả. Giáo viên có tâm huyết, có truyền lửa đam mê học sử cho học sinh thì nó cũng chỉ đến với một bộ phận rất nhỏ học sinh, còn đại trà chung cho toàn học sinh thì rất khó; quản lý có áp đặt thì cũng áp đặt được một số đối tượng không thể áp đặt toàn bộ, vì nó mang tính chất của xã hội. Nghệ An có một nền lịch sử văn hóa rất đa dạng phong phú, tuy nhiên thực tế của những kỳ thi lịch sử lại không được đưa vào, vì vậy việc các trường phổ thông tại Nghệ An không đầu tư vào việc dạy lịch sử địa phương là điều đương nhiên. Bởi đầu tư học để làm gì khi nó không nằm trong chương trình học và thi của học sinh, và đánh giá chất lượng của các trường, đánh giá năng lực của học sinh lại nằm ở kết quả thi. Đây là một vấn đề khó trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập môn lịch sử ở trường PTTH hiện nay.

Tôi có quan điểm "việc ai người ấy làm", thi tốt nghiệp để cho các trường THPT thực hiện, tuyển sinh đại học, cao đẳng, học nghề thì để cho các đại học, trường cao đẳng, trường dạy nghề làm, họ sẽ đánh giá đúng và trả lại đúng thực chất của việc học, việc thi cử. Lúc đó hiệu quả của các môn học mới đạt được tối ưu nhất.

 

Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Chuyên viên môn Lịch sử, Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An

Giữa cách thi, làm thi và giảng dạy hiện nay chưa tạo được sự hỗ trợ lẫn nhau

Hiện đang có 2 chương trình giáo dục môn Lịch sử có tính pháp quy: chương trình hiện hành theo quyết định 16/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và một chương trình vừa được thông qua.

Đối với chương trình hiện hành đã được xây dựng cách đây hơn 20 năm, với quan điểm xây dựng lúc đó là nặng về nội dung cung cấp về kiến thức, phù hợp với thời điểm năm 2006. Theo quy luật thông thường thì từ 10-15 năm phải thay chương trình. Trong chương trình vừa mới xây dựng năm 2018 thì xác định cái chuẩn, mục đích chuẩn bắt đầu mới xây dựng đến sách giáo khoa, đến kiến thức, trong khi đó chương trình hiện hành thì ngược lại dẫn đến sự quá tải về nội dung.

Tuy nhiên, chương trình mới chưa được áp dụng rộng rãi, chương trình cũ tiếp tục giảng dạy đã khiến cho vấn đề giảng dạy của giáo viên khá vất vả: phải chịu áp lực trong việc cần dạy đủ, dạy kịp chương trình phân phối, khiến giáo viên không thể mạnh dạn thay đổi phương pháp dạy vì họ phải dạy theo chuẩn của sách giáo khoa viết, theo đúng đánh giá của nhà trường, của cơ quan quản lý.

Hiện nay giáo viên đang chịu tác động của nhiều yếu tố mà khiến họ vẫn chưa đổi mới được như: chương trình của sách giáo khoa là một yếu tố; thứ hai là điều kiện để tổ chức dạy học. Theo quy định của Bộ thì có một số môn học có phòng học riêng, đây là quy định cứng nhưng trong các môn học xã hội sự đầu tư tùy thuộc vào điều kiện của từng trường, cộng với tâm lý của công tác quản lý của nhà trường thì những bộ môn xã hội sẽ khó có được sự quan tâm ngang với các bộ môn khác như Toán, Ngoại ngữ,… Khi cơ sở vật chất không có để phục vụ cho việc dạy của giáo viên thì sẽ làm giảm đi sự hứng thú, mong muốn đổi mới trong phương pháp giảng dạy của giáo viên.

Kỳ thi THPT quốc gia hoàn toàn sử dụng thi trắc nghiệm 100% đối với môn Lịch sử. Ưu điểm của hình thức thi này là lượng kiến thức rộng hơn hình thức tự luận, có tính khách quan, tuy nhiên nó có hạn chế trong đánh giá năng lực của học sinh.

Để khắc phục tình trạng trên, theo tôi:

Đối với cấp quản lý (cấp phòng, nhà trường), trách nhiệm của Sở và phòng GD cần chỉ đạo cụ thể hơn trong việc đổi mới cách dạy và học của học sinh với bộ môn Lịch sử, trong đó có cả cách ra đề để đánh giá các em trong các tiết dạy Lịch sử.

Về phía nhà trường, yêu cầu học sinh phải học môn Lịch sử. Cần có công tác giáo dục và tuyên truyền việc học Sử hiện nay trong nhà trường, muốn vậy cần có hai đối tượng cùng đồng hành là nhà trường và phụ huynh.

Về công tác phối kết hợp giữa các cơ quan ban ngành liên quan, phía ngành giáo dục chúng tôi sẽ chịu trách nhiệm chỉ đạo cụ thể; đối với các sở ban ngành khác, theo tôi thấy việc dạy học Sử không chỉ dừng lại trong nhà trường, mà cần có sự phối hợp với các sở ban ngành khác như: Ban Quản lý Di tích, Bảo tàng Xô viết,… Đặc biệt là sự quan tâm của tỉnh trong việc cung cấp việc dạy học Sử dưới dạng băng hình, cụ thể là các di tích, các bảo tàng. Việc đưa học sinh đến học tại các di tích là chủ trương đúng của Sở Giáo dục và Đào tạo nhưng việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, như kinh phí đi lại, thời gian tổ chức,… Vì vậy thay cho việc đó trước mắt chúng ta có thể cung cấp thông tin, hình ảnh các di tích cho giáo viên tổ chức trình chiếu ngay trong lớp học. Có như vậy mới góp thêm phần nào trong đổi mới phương pháp dạy và học môn Lịch sử, tạo hứng thú cho học sinh.

 

Kết luận của ông Phạm Xuân Cần: Cần tạo cảm hứng Lịch sử cho học sinh

Cuộc tọa đàm hôm nay có rất nhiều ý kiến sâu sắc, với cách tiếp cận khá toàn diện, đa chiều từ nhiều góc độ khác nhau: nhà nghiên cứu, nhà giáo, nhà quản lý, học sinh, phụ huynh. Qua đó có thể thấy rằng nguyên nhân dẫn đến tình trạng điểm thi môn Lịch sử quá thấp trong nhiều năm liền do nhiều phía: từ chương trình, nội dung cho đến cách tổ chức dạy học, người dạy, trang thiết bị, sự quan tâm của các cơ quan quản lý nhà nước đối với bộ môn này,... Đặc biệt nó liên quan đến động cơ học tập, tâm thế học tập của học sinh, sự tác động của phụ huynh,... vì môn Lịch sử không nằm trong chủ lưu của việc đào tạo nghề nên đa phần học sinh học để thi, "qua xà" là được, không cần điểm cao, càng chưa đặt mục tiêu học Sử để hình thành, rèn luyện nhân cách.

Về giải pháp, có thể thấy rõ phương pháp, cách tiếp cận hiện nay thiếu đồng bộ, ví dụ: giáo viên muốn sáng tạo nhưng gặp phải sự ràng buộc của công tác quản lý nhà nước, gặp khó khăn trong công tác đánh giá thi cử cho nên việc điều chỉnh nội dung, phương pháp của giáo viên lại không đồng bộ với cách thi, cách đánh giá,...

Do đó, chúng ta cần có cách tiếp cận toàn diện, đồng bộ, từ việc đổi mới quan điểm về môn Lịch sử, đến phương pháp giảng dạy. Phải chuyển từ cách tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực, chuyển một cách đồng bộ từ mục tiêu, nội dung chương trình, hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học, đặc biệt là phương pháp thi cử.

Nếu không đổi mới đồng bộ thì rõ ràng sẽ không giải quyết được vấn đề, tuy nhiên trong khuôn khổ của buổi toạn đàm ở cấp độ địa phương thì chúng ta không thể giải quyết được mọi vấn đề. Việc chúng ta cần hướng đến hôm nay là làm thế nào để việc dạy và học môn Lịch sử ở trong trường phổ thông đạt được kết quả tốt, trong đó cố gắng giải quyết 3 yếu tố, như thầy Phan Trọng Đông, Hiệu trưởng THPT Diễn Châu 3 đã nói ở trên. Nhưng, theo tôi cần phải đảo ngược trình tự ba yếu tố đó lần lượt là: Làm cho học sinh thích học lịch sử, sau đó tạo cơ hội cho các em học sử và thứ ba là buộc các em phải học sử.

Để thực hiện 3 yếu tố này cần đổi mới ngay việc xác định mục tiêu dạy học và cách tổ chức dạy học trong từng bài học cụ thể. Khi biên soạn sách giáo khoa môn Lịch sử, hầu các nhà viết sách chỉ chú trọng nhồi nhét kiến thức, mà hầu như không quan tâm đến mục tiêu tạo hứng thú cho học sinh. Trong khi chưa thay đổi được chương trình, người giáo viên vẫn phải đặt mục tiêu, thậm chí đề cao mục tiêu tạo hứng thú cho học sinh khi học sử. Cần thiết phải đặt mục tiêu tạo cảm hứng lịch sử cho học sinh ngang hoặc cao hơn mục tiêu trang bị kiến thức. Vì, khi đã có cảm hứng lịch sử, học sinh sẽ chủ động tìm đến kiến thức, không chỉ khi học, mà còn lâu dài về sau. Tuy khó khăn, chúng ta vẫn có thể cho học sinh đi thực tế, tham gia trải nghiệm, tìm hiểu những việc gần gũi với mình, nhất là các nhân vật, sự kiện trong lịch sử địa phương mình sinh sống. Từ đó sẽ tạo hứng thú học lịch sử cho học sinh. Từ hứng thú đó các em sẽ tự giác tìm hiểu những vấn đề khác của lịch sử. Tại sao từ những năm 20 của thế kỷ trước, khó khăn gấp vạn lần, thầy trò trường Quốc học Vinh vẫn có thể đi tham quan, học tập tại các di tích lịch sử ở Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An? Thậm chí khi đó thầy Le Braton đã đưa học sinh Quốc học Vinh lên tận bia Ma Nhai ở huyện Con Cuông, một địa điểm mà ngay cả bây giờ thầy sử và trò học sử ta cũng rất ít biết đến! Thầy còn giao cho các trò tìm hiểu và viết về các di tích lịch sử ở quê hương mình, dòng họ mình. Từ những tư liệu đó, ông đã viết nên cuốn khảo cứu lịch sử - văn hóa trứ danh "An Tĩnh cổ lục". Trong cuốn sách này có hàng trăm bức ảnh cho thấy thầy trò Quốc học Vinh khi đó đã đi đến hầu hết các di tích lịch sử - văn hóa quan trọng ở xứ Nghệ. Nếu các trường, các thầy cô giáo cứ sợ chương trình bắt buộc, cứ chạy theo "thi gì, học nấy", cứ lo không đủ cơ sở vật chất rồi chỉ biết dạy và dạy, đọc và chép, thì sẽ giết chết hứng thú học sử của học sinh, giết chết cảm hứng lịch sử của học sinh ngay từ khi chưa học. Cộng hưởng với đó là dư luận xã hội nữa thì tình trạng học sinh chán sử, sợ sử, thậm chí ghét sử là điều đương nhiên.

Tôi đồng ý với quan điểm của thầy Phan Trọng Đông "việc ai người ấy làm". Trong lúc đề xuất những thay đổi ở tầm cao, vĩ mô như thầy Hiếu nói, thì hôm nay, ngay trên lớp học phải làm cho học sinh hứng thú với bài sử của thầy. Học sinh không hứng thú, trước hết là lỗi của thầy. Cách quản lý, cách đánh giá thầy cũng phải đổi mới theo hướng khuyến khích thầy cô sáng tạo, chứ không phải buộc các thầy không được vượt ra khỏi khung khổ giáo điều.

Tóm lại, giải pháp tối ưu, gần gũi, cụ thể nhất hiện nay đó là làm thế nào tạo cảm hứng Lịnh sử cho học sinh. Đó là chìa khóa để giải quyết vấn đề chất lượng môn sử bên cạnh các "chìa khóa" vĩ mô khác.

TÒA SOẠN

 

 

HÀ THỊ VINH TÂM[*]

 

Bác Hồ từng nói: "Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam". Bên cạnh kiến thức về lịch sử dân tộc thì trong chương trình giáo dục THCS và THPT, các giáo viên còn cần truyền dạy về lịch sử địa phương. Mặc dù nó là một bộ phận nhỏ trong lịch sử dân tộc nhưng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc hình thành phẩm chất, năng lực của người học sinh. Tuy vậy trong quá trình thực hiện, phần dạy này bắt gặp những khó khăn nhất định đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp tích cực, cụ thể.

Dạy học lịch sử địa phương có ý nghĩa vô cùng to lớn.

Thứ nhất dạy học lịch sử địa phương góp phần hoàn chỉnh kiến thức lịch sử dân tộc. Những sự kiện về lịch sử dân tộc được soi chiếu vào chính lịch sử địa phương - vùng đất các em được sinh ra, lớn lên và gắn bó. Các em nhận ra những kiến thức lịch sử không phải là những sự kiện cao siêu mà gắn liền với những biến cố, những sự vật, những địa điểm ở quê hương mình.

Thứ hai, trên cơ sở những tri thức về lịch sử địa phương, các em hiểu hơn về nguồn cội, về quê hương xứ sở - nơi chôn rau cắt rốn của mình. Từ đó các em sẽ được giáo dục và ngày càng được bồi đắp tình yêu quê hương, xứ sở, niềm tự hào chính đáng về non sông, đất nước.

Thứ ba, nếu biết cách tổ chức dạy học lịch sử địa phương gắn với các buổi hoạt động ngoại khóa thì sẽ giúp các em hứng thú, sôi nổi và yêu thích học bộ môn lịch sử nhiều hơn. Những kiến thức về lịch sử sẽ hiện diện trong đời sống của các em, trở thành một phần quan trọng hình thành phẩm chất, tính cách, năng lực cho các em một cách toàn diện.

Thứ tư, dạy học lịch sử địa phương còn giúp cho học sinh hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản, biết tìm hiểu về các sự kiện lịch sử, di tích lịch sử, nhân vật lịch sử ở địa phương. Từ đó, các em biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống một cách cụ thể, thiết thực, rõ nét.

Thứ năm, việc tìm hiểu lịch sử địa phương dành cho học sinh THCS và THPT phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của các em. Ở lứa tuổi này, các em thích học hỏi, tìm tòi và khám phá, quen nhận biết từ xa đến gần, từ rộng đến hẹp, từ cụ thể đến trừu tượng.

Tuy nhiên dạy phần lịch sử địa phương còn gặp nhiều khó khăn.

       Thứ nhất, số tiết dành cho lịch sử địa phương còn ít. Hơn nữa lại dạy vào cuối năm học nên giáo viên cũng như học sinh chưa chú trọng thậm chí còn bỏ qua nên hiệu quả học lịch sử địa phương chưa cao.

Thứ hai, tài liệu tham khảo về lịch sử địa phương chưa nhiều, thậm chí còn manh mún. Nguồn tư liệu lịch sử địa phương nhiều khi có được là qua câu chuyện truyền lại trong nhân dân do các bậc cao niên kể lại chứ chưa có một nguồn tư liệu chính xác hoặc có độ tin cậy cao. Hơn thế, sách giáo khoa và giáo viên không có hướng dẫn cụ thể về nội dung và cách thức tiến hành cho phần lịch sử địa phương.

Thứ ba, kinh phí dành cho các buổi hoạt động ngoại khóa đi tìm hiểu các di tích lịch sử, tham quan các bảo tàng lịch sử,… còn eo hẹp. Vì thế nên các hoạt động ngoại khóa được tổ chức còn ít và mới chỉ dừng lại ở những địa điểm gần nhất.

Thứ tư, phần kiến thức lịch sử địa phương dành một khoảng trống lớn cho giáo viên tự học hỏi và chủ động trong cách thức tiếp cận, tổ chức giờ dạy nhưng một số giáo viên chưa thực sự chú trọng, đầu tư tìm hiểu về lịch sử địa phương nên kiến thức truyền thụ cho học sinh còn hời hợt, thậm chí còn chưa chuẩn. Nhiều giáo viên thừa nhận còn chưa đầu tư cho việc sưu tầm và biên soạn bài lịch sử địa phương. Điều này khiến cho giáo viên lịch sử ngại dạy phần lịch sử địa phương nên chỉ dạy cho có hoặc thay tiết lịch sử địa phương bằng giờ ôn tập, kiểm tra, đánh giá.

Trên cơ sở thực trạng ấy, bản thân tôi qua việc khảo sát ý kiến, thảo luận với các giáo viên dạy lịch sử xin mạnh dạn đề xuất một số giải pháp sau:

Một là, các tổ chức cấp trường và lớn hơn trường, hàng năm nên tổ chức các cuộc thi tìm hiểu lịch sử địa phương, thiết kế đồ dùng dạy học liên quan đến lịch sử địa phương (các loại tranh ảnh, bản đồ, lược đồ, sơ đồ, phim lịch sử, …) trong giáo viên và học sinh. Từ đó, bổ sung vào bộ tư liệu lịch sử địa phương và tư liệu dạy học trong nhà trường.

Hai là, các trường học và các ban ngành cần chú trọng đầu tư cơ sở vật chất (máy chiếu, kết nối internet, phòng tổ chuyên môn,…) và nguồn kinh phí để học sinh có điều kiện học tập tốt hơn, giáo viên tổ chức được nhiều hoạt động ngoại khóa tham quan các di tích lịch sử địa phương một cách hiệu quả.

Ba là, phải thay đổi từ chính giáo viên dạy. Thiết nghĩ ở phần lịch sử địa phương, giáo viên cùng tổ chuyên môn cần xác định chủ đề dạy học. Ví dụ với học sinh lớp 10: Tìm hiểu về các di tích lịch sử, văn hóa địa phương; Lớp 11: Tìm hiểu về các danh nhân văn hóa ở địa phương; Lớp 12: Tìm hiểu về các nghề thủ công truyền thống. Từ đó, mỗi giáo viên sẽ xác định nội dung và hình thức tổ chức cho bài học, chuẩn bị tư liệu, học liệu dạy học chu đáo. Khi tiến hành bài học cần chú ý khơi dậy tính chủ động, tích cực, sáng tạo ở học sinh. Có thể chiếu phim cho học sinh xem rồi liên hệ đến các sự kiện lịch sử cụ thể ở địa phương, có nhận xét, đánh giá về các sự kiện lịch sử. Hoặc cho học đi tham quan đến các địa danh, di tích lịch sử trên địa bàn và yêu cầu các em thuyết minh theo nhóm về những nơi học sinh đi đến, học sinh đặt câu hỏi, tranh biện và thảo luận tại nơi các em được đến. Sau đó, giáo viên có thể yêu cầu các em làm việc theo nhóm hoàn thành một poster, bộ lịch, bộ sách, quyển tập san, phóng sự ngắn về các di tích lịch sử địa phương. Đến tiết hôm sau, các em giới thiệu sản phẩm của mình. Để làm được điều đó, học sinh phải biết ghi thông tin, tìm hiểu về di tích lịch sử, nhân vật lịch sử, biết chụp ảnh, quay phim,… Tiếp đó, các em phản biện, nhận xét, đánh giá, bổ sung cho nhau. Giáo viên cho học sinh đóng nhiều vai khác nhau khi tổ chức cho học sinh hoạt động trải nghiệm, phá vỡ không gian lớp học, gắn học tập với thực tiễn, gắn giáo dục trong nhà trường với giáo dục ngoài xã hội. Giáo viên đưa ra các tình huống: Tập làm hướng dẫn viên du lịch giới thiệu về lịch sử địa phương, thử làm chủ tịch huyện (hoặc tỉnh) đề ra chiến lược phát triển tổng thể của huyện (tỉnh). Giáo viên cũng có thể gợi ý cho các em đọc về những câu chuyện lịch sử ở địa phương đến giờ học, các em chia sẻ rồi cùng thảo luận với nhau. Cuối buổi giáo viên có thể đưa ra một bài kiểm tra nhỏ liên quan đến câu chuyện lịch sử hoặc chủ đề lịch sử vừa học. Bên cạnh đó, giáo viên bộ môn kết hợp với giáo viên chủ nhiệm tổ chức cho học sinh quét dọn, dâng hương nhân những ngày kỉ niệm đặc biệt về một sự kiện lịch sử nào đó ở địa phương.

Bốn là, Sở GD&ĐT, tổ bộ môn cần có quy định trong các đề kiểm tra, đánh giá phải có nội dung liên quan đến lịch sử địa phương, hoặc liên hệ giữa kiến thức lịch sử dân tộc với lịch sử địa phương. Điều này nhằm góp phần thúc đẩy giáo viên và học sinh chú trọng hơn khi dạy và học phần lịch sử địa phương (có kế hoạch, có mục đích rõ ràng).

    Tóm lại, thay đổi cách thức dạy học lịch sử nói chung và phần lịch sử địa phương nói riêng vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển các phẩm chất của "người học sinh mới".  Học sinh  được hình thành và phát triển phẩm chất: trung thực, trách nhiệm, nhân ái, chăm chỉ,… hình thành và phát triển năng lực như: giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực tìm hiểu xã hội, năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mỹ. Đặc biệt, phần lịch sử địa phương sẽ góp phần hun đúc ở chính bản thân các em tình yêu và niềm tự hào về cha ông, về quê hương xứ sở và lớn hơn nữa là lòng yêu nước như nhà văn Ê-ren-bua từng nói "Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu quê hương tạo nên lòng yêu Tổ quốc". /.

 



[*] GV trường THPT Anh Sơn 2, Nghệ An

 

GS.NGND Nguyễn Đình Chú

 

Vai trò của Phật giáo trong thời đại công nghiệp 4.0

1. Khoa học và tôn giáo từ góc nhìn của  học thuyết âm dương và quan điểm của Einstein.

Nói đến Phật giáo là nói đến tôn giáo. Mà ở nước ta, chung quanh việc nhận thức về tôn giáo không phải không còn vấn đề. Mặc dù chính sách tôn giáo của Nhà nước thì đã rõ: Tự do tín ngưỡng. Bình đẳng giữa các tôn giáo. Người đi đạo là người sống đẹp đời tốt đạo. Nhưng trong dư luận xã hội, kể cả sách vở đây đó vẫn tồn tại những quan niệm như "Tôn giáo là thuốc phiện", "Nguồn gốc của tôn giáo là sự ngu dốt", "Tôn giáo là chuyện tạo thần quyền để tăng cường quân quyền". Trên thế giới không đâu cho phép tuyên truyền tôn giáo trong học đường nhưng không ít nước có giờ thần học để cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản và cần thiết về tôn giáo. Ở nước ta, chưa thấy điều đó. Đã có không biết bao nhiêu định nghĩa về tôn giáo. Nhưng với tôi, tôn giáo trước hết chỉ là sản phẩm của năng lực người vì chưa thấy động vật nào có tôn giáo. Tôn giáo có nguồn gốc từ bản chất của sự sống là ham muốn. Đã sống là ham muốn. Sống mà không còn ham muốn thì coi như đã chết. Nhưng tạo hóa đã bắt loài người phải sống trong một định mệnh khắc nghiệt là từ ham muốn đến kết quả đạt được không bao giờ là một. Vouloir không bao giờ cũng là pouvoir. Vẫn có khoảng cách, chính đó là mảnh đất màu mỡ của ước mong, của cầu xin, của tín ngưỡng và từ đó là tôn giáo, giáo hội. Dĩ nhiên giữa tôn giáo và giáo hội cũng có khoảng cách và cũng có tín ngưỡng chính đáng và mê tín nhảm nhí. Có thể nói còn loài người thì còn tôn giáo. Và có những người không tôn giáo mà vẫn sống lương thiện. Nhưng nhìn chung không tôn giáo thì bất nhân bất lương là điều dễ có. Thậm chí trở lại động vật cũng có.

Hãy từ góc nhìn của học thuyết âm dương của Kinh Dịch để nhìn rõ hơn vị trí của tôn giáo trong sự sống của nhân loại. Với học thuyết âm dương thì dương trung hữu âm (trong dương có âm), âm trung hữu dương (trong âm có dương), chỉ có âm khi có dương, chỉ có dương khi có âm. Âm khác dương, dương khác âm. Chính học thuyết âm dương với ba lớp nghĩa của nội hàm như thế là thuộc qui luật đối trọng (contre poids) để có sự quân bình (équilibre) vốn là cơ sở tồn tại lớn nhất,  chung nhất của mọi sự sống không chỉ của loài người mà còn là của tự nhiên. Với tự nhiên, trồng một cái cây. Nếu vít cây sang bên trái (action) rồi để thả cây bật sang bên phải    (réaction) thì cây không thể phát triển nhô cao. Phải qua chao đảo (balancer) đến khi đứng im (fixer) nghĩa là quân bình thì cây mới phát triển nhô cao. Với sự sống của loài người cũng vậy. Có sống thì cũng có chết mới có loài người. Chứ chỉ sống mà không chết hoặc chỉ chết mà không sống thì đâu có loài người. Trong ngôn ngữ bất cứ nước nào cũng có từ tương phản chính là sự thể hiện của qui luật đối trọng và quân bình mà có sự sống. Khoa học và tôn giáo là sản phẩm của luật đối trọng và quân bình trong sự sống của nhân loại. Có khoa học mà không có tôn giáo hoặc có tôn giáo mà không có khoa học thì sự sống của nhân loại sẽ chẳng ra gì. Chẳng phải vì thế mà Einstein, nhà khoa học thiên tài của thế kỷ XX đã nói: "Khoa học mà không tôn giáo thì tê liệt. Tôn giáo mà không khoa học thì mù quáng".

 2. Vai trò của Phật giáo trong thời đại công nghiệp 4.0

2.1. Tính chất ưu việt của Phật giáo

Giáo hội nào thì cũng có mặt phức tạp vì liên quan đến phần đời nhưng tôn giáo nào thì cũng là hướng thiện. Chính sách của Nhà nước là tôn trọng các tôn giáo như nhau. Nhưng người dân thì có thể tùy theo nhận thức mà lựa chọn tôn giáo nào mình thấy ưu việt hơn để hướng tới. Đã có chuyện như sau: Năm 1947, Thủ tướng Ấn Độ Nêru và Einstein gặp nhau ở Mỹ. Hai ông đều than phiền về tình hình nhân loại tuy càng ngày càng văn minh nhưng đạo đức thì càng ngày càng xuống cấp.        Einstein tiếc cho phương Đông từng có truyền thống đức trị mà để mất. Từ đó ông nói: nếu cần một tôn giáo cho toàn vũ trụ thì không gì hơn là Phật giáo. Chúng ta nghĩ gì về ý kiến của nhà bác học thiên tài này? Tôi muốn lấy ý kiến của Einstein để bàn về vai trò của Phật giáo trong thời đại công nghiệp 4.0 ở nước ta. Mà trước hết là phải nghĩ đến hai phía. Phía là Phật giáo thông qua vai trò của giáo hội phải làm sao thật xứng đáng trong vai trò hoằng dương Phật đạo với đất nước. Phía là đất nước cũng phải tự giác chủ động hỗ trợ phát huy vai trò của Phật giáo trong thời đại 4.0. Thiếu đi phía sau thì hiệu quả nhất định bị hạn chế. Phải từ hai phía để làm sao cho người Việt Nam ta nhận rõ tính ưu việt của Phật giáo để từ đó mà hưởng ứng mà noi theo để có lợi cho bản thân và cho đất nước trong thời đại 4.0 này. Sau đây là những điểm ưu việt của Phật giáo từ góc nhìn Việt Nam.

2.1.1. Đây là tôn giáo có tình thương bao la bát ngát nhất trong mọi tôn giáo. Không chỉ thương con người mà còn thương đến cả muôn loài. Ý kiến của Einstein chính là từ căn cứ này.

2.1.2. Đây là tôn giáo xa lìa với bất kỳ cuộc chiến tranh nào bởi với Phật giáo thì chiến tranh nào cũng là cốt nhục tương tàn, nồi da nấu thịt. Dĩ nhiên có quan điểm khác để lựa chọn tùy người.

2.1.3. Không như Nho giáo buổi đầu đến với nước ta theo con đường xâm lược cho nên một khi xâm lược cút thì thứ Nho giáo đó cũng phải "cút" theo. Nhưng Nho giáo với bản chất là một học thuyết vĩ đại của một nền văn hóa lớn thì theo qui luật của tự thân văn hóa là sự lan tỏa ảnh hưởng của một nền văn hóa lớn đối với nền văn hóa nhỏ trong khu vực thì đã ở lại nước ta để hỗ trợ phát triển  nền văn hóa trung đại vẻ vang của ta theo qui luật tiếp biến. Còn Phật giáo đến nước ta từ mấy hướng đều chỉ bằng con đường dân sự không mảy may liên quan tới xâm lược...

2.1.4. Lịch sử Phật giáo tồn tại trên đất nước đã hai ngàn năm nay là lịch sử đồng hành cùng dân tộc. Lịch sử cứu nhân độ thế, lịch sử góp phần tạo ra những giá trị tinh thần nhân văn cao cả cho dân tộc, dù khi là quốc giáo hay không còn là quốc giáo; góp phần sản sinh cho dân tộc một thần tượng nhân phẩm cao siêu của muôn đời là Phật hoàng Trần Nhân Tông với triết lý Cư trần lạc đạo; một thiên tài văn chương vô tiền khoáng hậu với tác phẩm Truyện Kiều mà hình hài là thuộc Nho giáo nhưng hồn vía là thuộc Phật giáo.

2.2. Tích cực hoằng dương Phật đạo trong thời đại công nghiệp 4.0

2.2.1. Điều  hạnh phúc lớn của đất nước trong buổi đầu bước chân vào thời đại công nghiệp 4.0. thì đã và đang có cuộc chấn hưng Phật đạo khá sôi động. Nhiều nơi đua nhau xây lại chùa cũ, dựng thêm chùa mới đặc biệt có thêm những Trúc Lâm thiền viện nguy nga tráng lệ thâm nghiêm. Thiền phái Trúc Lâm đang ngày một đồng quang hòa trần. Có hội Phật giáo thống nhất từ trung ương đến địa phương, có viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, trường đào tạo Phật học. Riêng ở miền Bắc là nơi không may một thời xơi phải chủ nghĩa vô thần mà rẻ rúng với Phật đạo, phá hoại chùa chiền thì nay đã cùng cả nước hào hứng chấn hưng Phật đạo. Chùa Yên Tử có thêm Yên Tử thiền viện, chùa Bái Đính ở Ninh Bình có qui mô lớn nhất Đông Nam Á theo lời báo chí, Tây Thiền thiền viên ở Vĩnh Phúc là những địa điểm hấp dẫn đông đảo chẳng riêng các Phật tử mà còn du khách trong nước ngoài nước. Số lượng Phật tử tăng lên vùn vút ở khắp cả nước. Những ngày Phật lễ là những ngày thiêng liêng tưng bừng của đất nước. Hầu hết các nhà lãnh đạo cao cấp của đất nước cũng đến chùa. Đặc biệt là thành quả nghiên cứu Phật học với các chuyên  khảo chuyên sâu, với nhiều cuộc hội thảo khoa học quốc gia quốc tế, có thể nói là bề thế nhất trong đời sống học thuật về khoa học xã hội và nhân văn của nước nhà hiện nay. Lịch sử Phật học Việt Nam chưa bao giờ có được mấy học giả lớn là Thích Nhất Hạnh, Thích Minh Châu, Thích Thanh Từ, Lê Mạnh Thát... Quan hệ giữa Phật giáo Việt Nam và Phật giáo quốc tế cũng ngày một khăng khít. Ngày Phật đản và Phật tịch đã được Unessco công nhận là ngày cả thế giới kỷ niệm. Năm 2014 đã tổ chức kỷ niệm ở Bái Đính 4 ngày có khoảng nghìn khách quốc tế trong đó có cả một vài nguyên thủ quốc gia tham dự. Năm 2019 này lại tổ chức ở Hà Nam. Có thể nói văn hóa Phật giáo đã làm thay đổi tỷ lệ cấu trúc nội tại của nền văn hóa Việt Nam hiện đại. Nghiên cứu văn hóa Việt Nam hiện đại không thể bỏ qua đặc điểm đó. Vấn đề đặt ra là văn hóa Phật đạo đã chuẩn bị sẵn sàng như thế. Đất nước sẽ khai thác tận dụng hoằng dương Phật đạo trên đường gia nhập thời đại công nghiệp 4.0 là thế nào? Ở đây xin có một vài ý kiến nhỏ mọn như sau:

2.2.2. Phật đạo với vấn đề tâm thế trong cuộc sống.

Đã sống, dù là một cá nhân hay một dân tộc, thiết tưởng cũng cần tạo cho mình một tâm thế sống thế nào là bền vững tối ưu trong khi cuộc đời vốn dĩ là biến chuyển là đa chiều, là xáo động, lúc thế này lúc thế khác, lúc thuận lợi lúc khó khăn mà bản thân mà đất nước phải đương đầu phải ứng phó sao để giữ được sự an bình, sự phát triển, không bị tổn thất, không bị thụt lùi. Với Nho giáo, đó là thuyết trung dung. Vui không vui quá, buồn không buồn quá. Không chuồi theo cảm xúc đơn thuần mà trong cảm xúc vẫn có sự can thiệp của lý trí. Sống là biết tri túc (chỗ đủ của mình là đâu), tri chỉ (chỗ nào nên dừng). Trung là chính giữa, không thiên lệch. Dung là giữ vững không thay đổi. Trung dung đối nghịch với cực đoan, phiến diện. Trung dung dẫn đến trung hòa. Có được trung hòa, trời đất sẽ yên vị, vạn vật sẽ được dưỡng dục (Trung giả dã, thiên hạ chi đại bản dã. Hòa giả dã, thiên hạ chi đại đạo dã. Chí trung hòa, thiên hạ vị yên, vạn vật dục yên). Cơ sở triết học của thuyết trung dung chính là học thuyết âm dương với qui luật đối trọng và sự quân bình vốn là cơ sở tồn tại vững chãi nhất, chung nhất của mọi sự sống mà trên đây đã nói tới. Nho giáo còn có chữ nhận được chiết tự gồm ba chữ: đao (dao), nghệ (sự tốt lanh), tâm (tấm lòng). Nhận là tạo tâm thế bình tĩnh kiên tâm để thắng cái ác và giữ được sự bình yên tốt lành cho cá nhân mình mà còn cho cả nhân quần.

Với Phật đạo, tâm thế chính là triết lý vô thường dẫn đến sự tịnh tâm để vươn tới Phật tâm ở con người giữa cuộc đời. Đến với Phật đạo có bao nhiêu là phương cách: là tu sĩ suốt đời sống ở chùa, diệt dục, không lấy vợ sinh con, chỉ lo việc tu hành tụng kinh niệm Phật, hoằng dương Phật đạo để mong được lên cõi Niết bàn; là Phật tử cứ rằm, mồng một thì đến chùa tụng kinh niệm Phật, ăn chay; là tu tại gia có bàn thờ Phật trong nhà để ngày ngày tụng niệm; là thiện nam tín nữ vãng lai nơi chốn cửa Thiền cầu ban phước lành. Giáo lý và giáo pháp của Phật đạo thì vô cùng phong phú. Tín đồ nào càng thuộc nhiều kinh kệ, càng chấp hành đúng Phật pháp càng được coi trọng. Nhưng cách gì thì cách, căn bản là phải có được Phật tại tâm (Phật ở trong lòng) từ đó mà thực hành Phật đạo mà bớt tham sân si để Từ bi hí xá, Tế độ chúng sinh, Cứu một người phúc đẳng hà sa, làm cho Tứ hải giai huynh đệ. Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo được rút ngắn. Con Lạc cháu Hồng cũng yêu thương nhau hơn. Cái ác sẽ bị đẩy lùi. Thuần phong mỹ tục sẽ được khôi phục. Mục tiêu dân chủ - công bằng - văn minh sẽ là hiện thực. Thiết nghĩ, người Việt Nam ta, trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 dù có làm gì kỳ diệu hiện đại đến đâu về công nghiệp và dù có sống văn minh hơn, sung sướng hơn đến đâu và cũng chẳng có thời gian lui tới cửa Thiền, tụng  kinh  niệm  Phật nhưng  trong tâm vẫn neo đậu, vẫn nặng lòng và thực thi được mấy điều Phật dạy đó thì hẳn đã hoàn  toàn xứng đáng là người biết sống, là người có hạnh phúc đích thực  rồi. Trong nội dung hạnh phúc này cũng có phần về sức khỏe và tuổi thọ. Bởi một khi đã tịnh tâm đã có Phật tại tâm và đã thực hành được Phật đạo mà vẫn có những khoảnh khắc thiền định, những ngày lui tới các thiền viện trang nghiêm tráng lệ giữa những khung cảnh thiên nhiên tuyệt mỹ của đất trời như ở Yên Tử, Tây Thiên, Bái Đính, Trúc Lâm thiền viện (Đà Lạt)... thì stress vốn là sản phẩm của văn minh công nghiệp sẽ bị xua tan. Chẳng phải có người đã nói nơi nào phá đi một ngôi chùa thì hãy xây lên một bệnh viện. Nhưng có người lại nói tốt nhất là xây lại ngôi chùa. Ý kiến khác nhau nhưng cùng chung một ý là tác dụng của việc đi chùa, của việc thiền định, nhập thiền về sức khỏe của người theo Phật đạo. Có đúng thế không thưa quí vị?

2.2.3. Vai trò của giáo hội

Tôn giáo nào cũng vậy, muốn hóa thân vào cuộc sống nhân quần phải có giáo hội. Phật giáo Việt Nam từ lâu đã có giáo hội và ngày một lớn mạnh đã đưa sự nghiệp hoằng dương Phật đạo tới độ cường thịnh như hiện nay. Trong đó có sự gắn bó giữa giáo hội với chính quyền từ cấp trung ương đến cấp địa phương. Giáo hội Việt Nam cũng là một thành phần tích cực trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tuy thế, bên cạnh mặt sáng đó, thì mặt tối cũng đã bộc lộ khá rõ: không ít người đội lốt nhà sư để kiếm tiền, không ít sư mà ăn tiêu xả láng, đi xe ô tô hàng tỷ. Gần đây còn là tình trạng mê tín dị đoan xâm nhập vào cửa Thiền một cách hỗn loạn, thương mại hóa tôn giáo một cách qui mô của các nhóm lợi ích biến cửa Phật thành nơi cầu lợi một cách vô tội vạ làm đau lòng những người lương thiện, mộ đạo chân chính. Trách nhiệm nay là thuộc Giáo hội Phật giáo Trung ương và các địa phương nhưng cũng là của Chính phủ và các cấp chính quyền. Nếu không kịp thời nghiêm  khắc chấn chỉnh thì chưa biết Phật giáo Việt Nam sẽ thế nào trong khi đất nước đang rất cần đến vai trò trọng đại của Phật đạo trong thời đại công nghiệp 4.0.

 

Quảng Phước

Ban Quản lý Di tích tỉnh Nghệ An

Lập đền thờ phụng những người có công với dân với nước là một việc làm thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn" và là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta từ bao đời nay. Dân gian có câu "có công dân lập đền thờ, có tội dân đái ngập mồ thối xương" điều đó thể hiện rõ quan điểm "công tội phân minh" của nhân dân ta, có công thì dân kính trọng, có tội thì dân khinh bỉ. Hi hữu có những trường hợp được nhân dân lập đền thờ khi đang còn sống như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Thức Tự… Đền thờ khi người đó còn sống được gọi là "sinh từ". Việc một người được dân chúng lập "sinh từ" là việc "hiếm có xưa nay". Rất nhiều người được lập đền thờ sau khi đã chết nhưng số người được lập đền thờ sống thì chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Phúc Lâm bá Nguyễn Văn Viện là một trong những người có được vinh dự như vậy. Ông được dân làng khắc bia ghi công, lập đền thờ khi còn sống. Sau khi chết được suy tôn là phúc thần và triều đình ban tặng sắc phong giao cho dân xã phụng sự.      

Theo các tài liệu lưu tại di tích như gia phả(1), văn bia, văn cúng và một số tài liệu khác cho biết: Ông Nguyễn Văn Viện sinh vào khoảng đầu thế kỷ XVIII, là hậu duệ đời thứ 2 của họ Nguyễn Văn làng Hoành Sơn, xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương. Từ nhỏ, ông Nguyễn Văn Viện đã là người thông minh, ham học, gia đình lại có điều kiện khá giả nên ông được cha mẹ cho học hành đến nơi đến chốn. Lớn lên ông tinh thông cả nho y lý số, gia phả họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn ghi lại như sau: "Ông Nguyễn Văn Viện thông minh học giỏi, nho y lý số đều thông"(2). Sau một thời gian dùi mài kinh sử, ông dự kỳ thi Hương và trúng Sinh đồ. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm Huyện thừa(3) huyện Trung Sơn(4) (huyện Quế Phong ngày nay). Một thời gian sau, ông được "thăng tiến chức Cẩn sự tá lang Đồng Tri phủ phủ Trường Khánh(5)  tước Phúc Lâm bá, hàm Hiển cung Đại phu"(6). Bia đá dựng tại Sinh từ của ông lập năm Quý Dậu niên hiệu Cảnh Hưng thứ 14 (1753) cũng chép "làng ta có ông Nguyễn Văn Viện, làm chức Đồng Tri phủ ở phủ Trường Khánh".   

Làm quan to nhưng ông Nguyễn Văn Viện không cậy thế, hách dịch, cường quyền. Vợ chồng ông sống rất chan hòa, gần gũi với nhân dân, thường tìm cách giúp đỡ mọi người ổn định cuộc sống, xây dựng xóm làng cường thịnh. Bia đá lưu tại di tích có đoạn chép như sau: "Vợ chồng quan Đồng Tri phủ là dòng dõi danh giá, bậc trưởng giả hiếu hữu trong làng, gia đình làm việc nghĩa, một lòng giúp xóm làng phồn thịnh, tài vật bao dung, tính chẳng cầu cạnh người khác, thành kính thờ thần, động tịnh tấm lòng như tại". Không những vậy, ông còn là người hành hiệp trượng nghĩa, cứu bần chửng tế khắp cả Nghệ Tĩnh, gia phả còn ghi như sau: "Khoảng niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786), đại hạn sâu keo, dân bị chết đói… ông xuất tiền mua lương thực cấp phát cứu đói… hoặc khi cùng người nhà là Nguyễn Viết Oánh đi dạo khắp hai xứ Nghệ Tĩnh thấy những kẻ chết đói ở đường, mua hòm và vải chôn cất, hỏi biết xã thôn họ tên chép vào trong sổ, đem về rước sư lập đàn chay siêu độ"(7). Ông luôn sẵn sàng giúp mọi người bằng một tấm lòng chân tình như đối với người thân của mình. Gặp những năm mất mùa, đói kém dân làng không có tiền để nộp thuế, ông đã bán ruộng để có tiền nộp thuế thay cho cả làng "Có năm đồng ruộng bị ngập lụt, người dân mất mùa, đói kém ông đã bán ruộng của Bà Cả ở thôn Trung Thượng lấy 100 quan tiền để nạp thay thuế lệ cho người dân"(8). Những việc làm ấy khiến dân làng hết sức cảm kích.

 Làng Hoành Sơn thường bị hỏa hoạn gây thiệt hại lớn về người và của khiến dân làng hết sức lo lắng. Ông Nguyễn Văn Viện là người học rộng, thông hiểu cả"nho y lý số" nên am tường phong thủy, ông đã cúng 5 mẫu tư điền để trồng cây trấn yểm long mạch nhằm hóa giải nạn hỏa hoạn, về sau nhân dân thường gọi khu vực đó là "Vệ Tam Bảo"(9). Theo gia phả họ Nguyễn Văn cho biết: "Thôn ngài ở thường bị hỏa tai, cứ ba năm phát một lần, nhà dân cháy sạch, ông xuất năm mẫu tư điền, trồng trọt cây cối, gọi là vệ Tam Bảo, ý để ngáng hỏa tai, lại đào ngòi dèm nước sinh thủy quanh quẩn trước mặt dân cư, ý muốn cho dân thôn trù phú. Lại đắp bờ lũy từ vệ Tam Bảo đến bờ đê hói trồng các bụi tre xanh để trấn nạn hỏa tai, từ ấy dân làng mới có nhà cửa yên ổn"(10). Quả nhiên, sau khi cây cối được trồng xong thì nạn hỏa hoạn không còn tiếp diễn khiến cho nhân dân yên tâm phấn khởi làm ăn, cuộc sống yên ổn, xóm làng ngày thêm trù phú. Không những trồng cây để ngăn hỏa tai trong làng, gia phả còn cho biết thêm, ông đã thuê người trồng cây da dọc đường thiên lý từ cung Voi (Hà Tĩnh) đến Tĩnh Gia (Thanh Hóa) để người đi đường có nơi trú chân nghỉ ngơi những lúc mưa nắng. 

Không chỉ là một vị quan thanh liêm, giản dị, đức độ, giàu lòng nhân ái mà ông còn là một người rất chú trọng việc xây dựng các thiết chế văn hóa. Ông cùng gia đình đã hằng tâm công đức xây đình làng Hoành Sơn để làm nơi thờ Thành Hoàng làng(11) và là nơi dân làng hội họp, xây dựng đền Cả(12) để thờ thần, nơi gửi gắm tâm linh của cả làng. Điều này được gia phả chép như sau: "Lại làm ba gian đền, cấp ruộng học điền, lập một tòa đình, cúng đồ tế khí"(13). Đồng thời, để có kinh phí cho thờ cúng ở các đền miếu, giúp dân làng không phải đóng góp, ông đã cúng ruộng, ao cho làng làm "tế điền" lấy hoa lợi phục vụ vào các ngày lễ, tết "hàng năm cúng tế xôi thịt thì phải đặt tế điền, ao cá để tiện việc cúng cấp lâu dài"(14). Theo bản hương ước của làng(15) đang được lưu tại di tích thì ông còn có công trong việc biên soạn điều lệ (hương ước) của làng. Thấy dân tình đi lại khó khăn, ông đã xuất tiền sửa sang cầu quán, đường sá giao thông, gia phả họ chép như sau: "Trước vâng phúc nhà, sau nối chi cha, sửa sang cầu quán…".  

Để tri ân công đức của ông, nhân dân làng Hoành Sơn đã xây dựng Sinh từ, lập bia đá ghi công lao tại núi Cấm. Việc ông được dân làng xây dựng Sinh từ chứng tỏ công đức của ông đối với quê hương, làng xóm vô cùng lớn lao. Đây cũng là việc làm "xưa nay hiếm". Bia đá được làm từ đá xanh, cao 1,5m (bao gồm cả đế) được cấu tạo bởi 2 phần đế bia (cao 0,3m, rộng 0,82m, dày 0,26) và thân bia (cao 1,2m, rộng 0,78m,) trán bia hình bán nguyệt. Nội dung bia đá như sau(16)

Làng Hoành Sơn, xã Trường Mỹ, tổng Thuần Trung, huyện Nam Đường, phủ Anh Đô, Quan viên thiên hộ Nguyễn Văn, Hương lão Nguyễn Kim Tửu, Phan [], Đội trưởng Nguyễn Đình Cửu, Sinh đồ Nguyễn Công Đại, Bách hộ Trương Văn Thông, Xã trưởng Nguyễn Thự, Trùm tổng tri Phan Bân, Cai hợp Nguyễn Doãn Cung, Phó sở Nguyễn Đức Lung, Thủ hợp Nguyễn Doanh, Nhiêu phu Nguyễn Đình Diễn, Đội trưởng Nguyễn Đoan, Nhiêu nam Nguyễn Doãn Tiêm, Khán thủ Nguyễn Đức Dật, Từ đường: Nguyễn Đình Truân, Nguyễn Viết Oánh, Nguyễn My; Hộ hạng: Phan Vực, Phan Chư, Trương Văn Huy, Trương Văn Niêm; Trùm trưởng Trương Văn Trí, cùng toàn thể trên dưới trong làng.

Kính nghe: Làm thiện ở người, phúc thiện ở trời, máy tạo hóa lồng lộng, cảm đức của thần, hưởng ơn của thần, nay làm việc báo đáp rất thành kính sâu xa. Làng ta có ông Nguyễn Văn Viện làm chức Đồng Tri phủ ở phủ Trường Khánh, chính thất là Trần Thị Cảnh, kế thất là Nguyễn Thị Duyên, con trai Nguyễn Đạt Thao, Nguyễn Đạt Ổi, Nguyễn Đạt Lỗi, Nguyễn Đạt Trang, con gái Nguyễn Thị Thích/Đích.

Nay làng ta nghĩ rằng vợ chồng quan Đồng Tri phủ là dòng dõi danh giá, bậc trưởng giả hiếu hữu trong làng, gia đình làm việc nghĩa, một lòng giúp xóm làng phồn thịnh, tài vật bao dung, tính chẳng cầu cạnh người khác, thành kính thờ thần, động tịnh tấm lòng như tại. Khắp trong làng xóm già trẻ đều nhờ ơn, xử sự trong hương thôn đều theo việc thiện đến cùng, phân phát tiền tài chẳng hề keo lận. Muốn xiển dương sự linh nghiêm của thánh thần thì trước phải xây dựng đền miếu to rộng. Muốn hàng năm cúng tế xôi thịt thì phải đặt tế điền, ao cá để tiện việc cúng cấp lâu dài. Một lòng chí thành nên làm vậy, trăm phúc do đó mà bền vững, lại sinh con trai, nhiều lần ứng mộng hùng bi(17). Tự cầu nhiều phúc truyền đời cho con cháu lâu dài chẳng phải là do thân làm việc thiện đó sao. Gia đình hòa thuận với xóm làng. Do vậy, làng ta nhớ đến công lao và đức độ của ông, nghĩ đến việc báo đáp, đồng lòng yêu mến, cùng bầu [vợ chồng ông] làm Hậu thần để [sau này] phụng sự, nhất nhất đều theo nghi thức. Cho nên lập bia đá này để lưu truyền muôn đời. 

Vậy nên lập bia. 

Làng ta giao ước cúng tế giỗ chạp các tiết như sau: 

Hễ hàng năm có ba lễ giỗ của chồng vợ. Mỗi giỗ lễ vật gồm lợn, xôi, trầu, rượu chuẩn giá cổ tiền hai quan năm mạch. Trong ngày ấy, [chức dịch] khăn áo chỉnh tề, lễ vật tinh khiết, buổi sáng tới nhà thờ họ làm văn kính tế, tế xong lễ vật hoàn lại cho làng, còn thủ lợn biếu gia trưởng để thể hiện sự trọng nghĩa.  

Bản thôn lập Am đường hai gian, bia đá một tòa ở xứ Cồn Lan. Về sau Am đường che bia bị hư nát, làng ta xây dựng sửa sang lại. Hễ mỗi năm hai xã và hàng năm mỗi lễ tiết ra miếu, làng ta kính tế sáu bàn. Còn như hai lễ Thường tân (cúng cơm mới) và trần y (thay áo) thì tùy theo ít nhiều [của từng năm]. Hễ đến ngày tế lễ [chức dịch] đều phải khăn áo chỉnh tề đến Am đường làm văn kính tế, tế xong lễ vật hoàn lại cho làng.

Gian bên trái của đình làng thiết một bàn thờ, hàng năm xuân tiết lệ làng có ca hát, các chức dịch của làng phải khăn áo chỉnh tề cùng đến Am đường rước hương án [Hậu thần] về đình để phụng sự. Còn như các tiết tế tự không có ca hát và lễ tháng sáu thì phụ nhập [vị hiệu Hậu thần] vào sau chúc văn, lại kính tế ở nhà thờ họ một cỗ [biếu lại] cho con cháu được dùng để báo đáp cội nguồn.   

Làng ta bầu [vợ chồng ông] làm Hậu thần để thờ cúng, không biết gì báo đáp hơn, ông bèn lấy một phần ruộng tư, ao hồ và cả các đồ tế khí để cúng cho làng lưu dùng vào việc tế tự.

Ruộng, ao ở các xứ, số sào mẫu liệt kê như sau:

- Xứ Đồng Cựa sáu thửa: một thửa sáu sào, một thửa ba sào, hai thửa liền nhau một mẫu, một thửa hai sào, một thửa sáu sào.

- Xứ Hạ Tra bốn thửa: hai thửa hồ liền nhau sáu sào, một thửa dưới hồ một sào, một thửa trên hồ hai sào.

- Xứ Ma Lậm 11 thửa: một thửa sáu sào, một thửa bốn sào, một thửa sáu sào, một thửa một mẫu, một thửa [] sào, một thửa bốn sào, hai thửa liền nhau tám sào, một thửa bốn sào, một thửa ba sào, một thửa một mẫu.

- Xứ Cây Thánh ba thửa ao: một thửa ba sào hồ, một thửa năm sào hồ, một thửa bốn sào hồ.

- Cúng cho thầy là Quốc tử giám Giám sinh Nguyễn Sỹ Huyên tiên sinh được liệt vào hàng tiên hiền để phụ thờ ở đền, xứ Phúc Trai ba sào ruộng.

- Cúng cho cha là Quan viên tử được phong tặng chức Mậu lâm lang Thiếu khanh, tên tự là Trung Thường được liệt vào hàng tiên hiền để phụ thờ ở đền, xứ Ma Lậm sáu sào ruộng.

- Cúng cho bản phân 03 sào ruộng ở xứ Phúc Trai để phụ tế tiên hiền ở đền.

Ở trên là số ruộng và ao ở các xứ cúng cho làng, tổng cộng 40 mẫu.

- Cúng nhà thánh một gian để thờ Thánh Sư(18). Cúng đền ba gian để thờ thần.

- Cúng một chiếc chiêng Ai Lao nhỏ, giá cổ tiền là 18 quan; một chiếc Thanh la giá cổ tiền 4 quan; 12 chiếc Long bàn và đài trản, tranh trướng họa đồ đầy đủ.

Ở trên là làng ta bầu [vợ chồng ông] làm Hậu thần để thờ phụng cúng tế vào các dịp lễ tiết. Sau đó, ông lại cúng thêm ruộng, ao và các đồ tế khí, một là dùng để tế tự thần thánh, một là dùng để tế tự giỗ chạp Hậu thần. Hai bên thuận tình lập bia ký kết cho rõ. Những việc phải tuân thủ lâu dài không quên. Nếu về sau trong làng có người nào mở miệng nói bán số ruộng này, hoặc cầm bút kết lập văn khế, hoặc xuất tiền ra mua, hoặc bỏ phế việc tế tự các tiết, hoặc bỏ Am đường hư nát, xin kính nguyện trên chư vị thần linh, thổ địa linh quan, sơn lâm đồng điền các xứ thông tri chứng giám, quyết không dung tha. Số ruộng này con cháu không được tranh nhận.

Ngày tốt mùa xuân năm Quý Dậu niên hiệu Cảnh Hưng thứ 14 (1753) lập văn bia. 

Sắc mục Nguyễn Công đại ký. Trên dưới cả làng tất cả đều ký.

Văn bia này vừa là văn bản ghi lại những đóng góp của ông Nguyễn Văn Viện cho quê hương và ca ngợi công đức của ông. Đồng thời cũng vừa là bản giao ước, cam kết của dân làng đối với việc thờ cúng vợ chồng ông Nguyễn Văn Viện sau khi ông bà qua đời. Những giao ước đó được ghi rất rõ trong nội dung văn bia. Cụ thể, ngoài việc được thờ chính tại Am đường (sau này Am đường được gọi là đền Hai - đền đã bị hư hỏng, nền đền hiện đã bị chia cho dân ở) thì tại "Gian bên trái của đình làng thiết một bàn thờ, hàng năm xuân tiết lệ làng có ca hát, các chức dịch của làng phải khăn áo chỉnh tề cùng đến Am đường rước hương án [Hậu thần] về đình để phụng sự". Đối với những lễ tiết khác không có ca hát thì vị hiệu của ông được viết vào chúc văn để thỉnh về cùng hâm hưởng với Thành hoàng. Hàng năm đến ngày giỗ của ông và hai bà vợ, chức dịch phải khăn áo đến làm lễ, lễ vật cũng được quy định cụ thể về chủng loại (lợn, xôi, trầu, rượu) và giá tiền (2 quan 5 mạch cổ tiền)… Đặc biệt, trong văn bia còn nói rất rõ số ruộng ông đã cúng cho làng thì con cháu không được tranh chấp, dân làng cũng phải giữ lại làm ruộng công, nếu ai có ý nghĩ hoặc hành động mua bán, đổi chác số ruộng đó, hoặc phá hoại Am đường (đền thờ) của ông thì bị trời tru đất diệt, quỷ thần bắt tội.     

Ông mất vào ngày 18/8 âm lịch (không rõ năm), thi hài được an táng tại Cồn Giếng, xã Trường Mỹ. Sau khi mất, Phúc Lâm bá Nguyễn Văn Viện thường linh ứng giúp dân độ thế nên dân làng suy tôn ông làm phúc thần và lập bản tấu xin triều đình ban sắc phong thần. Hiện nay, tại di tích còn lưu giữ 3 đạo sắc phong thần như sau:

Đạo thứ nhất:

Phiên âm:

Sắc Nghệ An tỉnh, Lương Sơn huyện, Trường Mỹ xã phụng sự Phúc Lâm bá Quỳ Sơn chi Thần. Nẫm trứ linh ứng, hướng lai vị hữu dự phong. Tứ kim phi thừa cảnh mệnh, miến niệm thần hưu, trứ phong vi Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần. Chuẩn y phụng sự. Thần kỳ tương hựu bảo ngã lê dân.

Khâm tai.

Thành Thái nhị niên, nhị nguyệt nhị thập nhật.

             (Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

Dịch nghĩa:

Sắc cho xã Trường Mỹ, huyện Lương Sơn, tỉnh Nghệ An thờ phụng thần Phúc Lâm bá Quỳ Sơn. Thần linh ứng đã lâu nhưng từ trước đến nay chưa được phong tặng. Cho nên, nay trẫm cả vâng mệnh sáng, xa nghĩ ơn thần, trứ phong là thần Dực bảo Trung hưng Linh phù. Chuẩn cho thờ phụng như cũ. Thần hãy che chở, giúp đỡ, bảo vệ cho dân ta.

Kính thay.

Ngày 20 tháng 2 Thành Thái năm thứ 2 (1890)

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

Đạo thứ hai: (bản sao, phong chung cho 4 vị thần: Cao Sơn Cao Các, Cao Sơn Cao Các Phật Sơn, Phúc Lâm bá Nguyễn Văn Viện, Lạc Hiên Nguyễn Văn Trí)

Phiên âm:

Sắc chỉ Nghệ An tỉnh, Lương Sơn huyện, Trường Mỹ xã tòng tiền phụng sự Hiệu linh Đôn tĩnh, Hùng tuấn Trác vĩ, Dực bảo Trung hưng, Cao Sơn Cao Các Thượng đẳng thần; Tú nghi Dực bảo Trung hưng Cao Sơn Cao Các Phật Sơn Đương cảnh Thành Hoàng chi thần; Dực bảo Trung hưng Linh phù Phúc Lâm bá Quỳ Sơn chi thần; Dực bảo Trung hưng Linh phù, Quỳ Phong, Điện Dân Tích Khánh Linh Ứng, Tường sinh Lạc Hiên chi thần. Tiết kinh ban cấp sắc phong, chuẩn kỳ phụng sự. Duy Tân nguyên niên tấn quang đại lễ, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Đặc chuẩn y cựu phụng sự. Dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển.

Khâm tai.

Duy Tân tam niên bát nguyệt thập nhất nhật.

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo) 

Dịch nghĩa:

Sắc chỉ cho xã Trường Mỹ, huyện Lương Sơn, tỉnh Nghệ An theo như trước thờ các thần: Hiệu linh Đôn tĩnh, Hùng tuấn Trác vĩ, Dực bảo Trung hưng, Cao Sơn Cao Các Thượng đẳng thần; Tú nghi Dực bảo Trung hưng Cao Sơn Cao Các Phật Sơn Đương cảnh Thành Hoàng Tôn thần; Dực bảo Trung hưng Linh phù Phúc Lâm bá Quỳ Sơn Tôn thần; Dực bảo Trung hưng Linh phù, Quỳ Phong, Điện Dân Tích Khánh Linh Ứng, Tường sinh Lạc Hiên Tôn thần. Các thần đã được ban cấp sắc phong chuẩn cho thờ phụng. Năm Duy Tân thứ nhất (1907) đại lễ đăng quang, đã ban chiếu báu, tỏ rõ ân sâu, lễ lớn nâng thêm phẩm trật. Đặc chuẩn cho thờ phụng như cũ. Dùng để ghi nhớ ngày mừng của đất nước mà tỏ rõ điển thờ.

Kính thay!

Ngày 11 tháng 8 niên hiệu Duy Tân năm thứ 3 (1909)

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

Đạo thứ 3

Phiên âm:

Sắc Nghệ An tỉnh, Anh Sơn phủ, Trường Mỹ xã, Hoành Sơn thôn tòng tiền phụng sự nguyên tặng Linh phù Dực bảo Trung hưng Phúc Lâm bá Quỳ Sơn Linh ứng tôn thần. Hộ quốc tí dân, nẫm tác linh ứng, tiết mông ban cấp sắc phong chuẩn hứa phụng sự. Tứ kim chính trị trẫm tứ tuần đại khánh tiết, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật, trứ gia tặng Đoan túc Tôn thần. Đặc chuẩn phụng sự. Dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển.

Khâm tai!

Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật.

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

Dịch nghĩa:

Sắc cho làng Hoành Sơn, xã Trường Mỹ, phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An theo như trước thờ phụng vị thần vốn được tặng là Linh phù Dực bảo Trung hưng Phúc Lâm bá Quỳ Sơn Linh ứng tôn thần. Thần phù giúp đất nước, che chở nhân dân, linh ứng đã lâu. Cho nên nay đúng dịp đại lễ mừng thọ 40 tuổi của trẫm, đã ban chiếu báu tỏ rõ ân sâu, lễ lớn tăng thêm phẩm trật, trứ tặng thêm là Đoan túc Tôn thần. Đặc chuẩn cho thờ phụng. Dùng để ghi nhớ ngày mừng của đất nước mà tỏ rõ điển thờ.  

Kính thay!

Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924)

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

Những giao ước khắc trong bia đá được con cháu dòng họ và dân làng tuân thủ nghiêm túc. Hàng năm đến ngày giỗ của ông, chức sắc trong làng đều biện lễ đến đền thờ và nhà thờ họ Nguyễn Văn để cúng giỗ. Theo quy ước, làng cúng trước họ cúng sau. Lễ giỗ của ông được duy trì liên tục từ xưa đến nay chưa bao giờ bị gián đoạn, kể cả những năm kháng chiến ác liệt. Hiện nay, tại nhà thờ còn lưu giữ chiếc cân cổ (đòn cân bằng gỗ, quả cân bằng đá hình chiếc khánh) dùng để cân xôi, thịt trong những dịp tế lễ. Mãi đến thời cải cách ruộng đất và bài trừ mê tín dị đoan thì số tế điền công thổ của làng mới bị chia cho tư nhân, đền thờ của ông cũng bị phá bỏ, lấy đất chia cho dân ở. Con cháu dòng họ đã rước long ngai, bài vị, sắc phong, bia đá và các đồ tế khí về nhà thờ họ để lưu giữ.  

"Trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ", trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, vật đổi sao dời, có thể những công trình do ông xây dựng đã bị phá hủy, hư hỏng không còn nữa nhưng công đức của ông đối với nhân dân vẫn còn mãi muôn đời. Điều đó lí giải vì sao ông được lập "sinh từ", được tôn làm tiên hiền của làng và nhân dân đến nay vẫn truyền tụng về công đức của ông, như cách để giáo dục con cháu noi gương. Thiết nghĩ, việc khôi phục đền thờ của ông là việc làm hết sức cần thiết và đó là nỗi niềm đau đáu của những người con họ Nguyễn Văn cũng như dân làng Hoành Sơn. Việc làm này thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc, truyền thống tri ân đối với các bậc tiền nhân có công với dân với nước. Và hơn nữa, đó cũng là địa chỉ sinh hoạt văn hóa tâm linh của làng xã, nơi gửi gắm niềm tin, ước vọng được thần linh che chở, phù hộ cho cuộc sống được ấm no, hạnh phúc.

 

 Chú thích

  1. Gia phả bằng chữ Hán của dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn do ông Nguyễn Văn Diệu sao lại vào ngày 15 tháng 6 năm Canh Ngọ niên hiệu Bảo Đại thứ 5 (1930).

  2. Gia phả chữ Hán của dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn được dịch sang Quốc ngữ năm 1938, trang 7.

 3. Huyện thừa giúp việc cho tri huyện, hàm tòng thất phẩm.

  4. Gia phả chữ Hán của dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn được dịch sang Quốc ngữ năm 1938, trang 7.

 5. Phủ Trường Khánh nay thuộc tỉnh Lạng Sơn. 

6. Gia phả chữ Hán của dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn được dịch sang Quốc ngữ năm 1938, trang 7.

  7. Gia phả chữ Hán của dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn được dịch sang Quốc ngữ năm 1938, trang 8.

8. Gia phả chữ Hán của dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn được dịch sang Quốc ngữ năm 1938, trang 9.

9. Vệ là tiếng địa phương chỉ khu đất cao ráo.

10. Gia phả chữ Hán của dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn được dịch sang Quốc ngữ năm 1938, trang 8.

  11. Thành hoàng làng được thờ tại đình Hoàng Sơn là Cao sơn Cao các có vị hiệu "Tú nghi Dực bảo Trung hưng Cao sơn Cao các Phật Sơn Đương cảnh Thành Hoàng Tôn thần".

 12. Đền Cả thờ thần Cao sơn Cao các có vị hiệu: "Hiệu linh Đôn tĩnh, Hùng tuấn Trác vĩ, Dực bảo Trung hưng, Cao sơn Cao các Thượng đẳng thần".

 13. Gia phả chữ Hán của dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn được dịch sang Quốc ngữ năm 1938, trang 9.

 14. Bia đá lưu tại di tích.

15. Hương ước của làng bằng chữ Hán, được biên soạn vào năm Cảnh Hưng thứ 9 (1748).

16. Nguyên văn bia đá bằng chữ Hán, bia khắc chữ cả hai mặt, còn nguyên vẹn, hiện đang lưu giữ tại nhà thờ họ Nguyễn Văn làng Hoành Sơn, xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương.

  17. "Ứng mộng hùng bi" nghĩa là sinh con trai.

  18. Thánh sư tứ

Hoàng Thị Khánh

Phó Trưởng Ban Quản lý Di tích tỉnh Nghệ An

Theo gia phả họ Nguyễn Văn (do ông Nguyễn Văn Diệu sao lại vào ngày 15 tháng 6 năm Canh Ngọ niên hiệu Bảo Đại thứ 5 (1930)) cho biết họ Nguyễn Văn làng Hoành Sơn nguyên gốc ở tổng Võ Liệt, huyện Thanh Chương, phủ Đức Quang (nay là xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương) về sau con cháu di cư đến thôn Đồng Nê, xã Trung Kiệt, tổng Thuần Trung (nay là xã Trung Sơn, huyện Đô Lương) sinh cơ lập nghiệp. Đến đời thứ 10, có ông Nguyễn Đạt Đường dời cư đến làng Hoành Sơn, xã Trường Bộc, tổng Thuần Trung (nay là xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương) định cư, dần dần phát triển thành một dòng họ lớn mạnh, giàu có và ông Nguyễn Đạt Đường được xem là thủy tổ của họ Nguyễn Văn tại làng Hoành Sơn.

Nằm giữa khu dân cư trù mật, trên vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa - xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương - nhà thờ họ Nguyễn Văn là công trình kiến trúc tâm linh có lịch sử gần 300 năm. Họ Nguyễn Văn là một trong những dòng họ lớn của làng Hoành Sơn. Trải qua quá trình phát triển, các thế hệ người họ Nguyễn Văn đã có nhiều cống hiến cho quê hương đất nước, được nhà nước và nhân dân ghi nhận. Đặc biệt, đây là một dòng họ có nhiều vị tổ được nhân dân thờ phụng, triều đình ban sắc phong thần.   

Theo gia phả họ Nguyễn Văn (do ông Nguyễn Văn Diệu sao lại vào ngày 15 tháng 6 năm Canh Ngọ niên hiệu Bảo Đại thứ 5 (1930)) cho biết: họ Nguyễn Văn làng Hoành Sơn nguyên gốc ở tổng Võ Liệt, huyện Thanh Chương, phủ Đức Quang (nay là xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương) về sau con cháu di cư đến thôn Đồng Nê, xã Trung Kiệt, tổng Thuần Trung (nay là xã Trung Sơn, huyện Đô Lương) sinh cơ lập nghiệp. Đến đời thứ 10, có ông Nguyễn Đạt Đường dời cư đến làng Hoành Sơn, xã Trường Bộc, tổng Thuần Trung (nay là xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương) định cư, dần dần phát triển thành một dòng họ lớn mạnh, giàu có và ông Nguyễn Đạt Đường được xem là thủy tổ của họ Nguyễn Văn tại làng Hoành Sơn.

Lúc bấy giờ, vùng đất Hoành Sơn còn hoang vu, rậm rạp, dân cư thưa thớt nhưng đất đai rộng rãi, có núi, có sông, thuận lợi cho sản xuất, phát triển nông nghiệp lâu dài nên ông Nguyễn Đạt Đường bắt tay vào khai hoang vỡ đất. Vốn là người có đầu óc tính toán khoa học lại cần cù, chịu khó trong việc canh nông nên một thời gian sau, gia đình ông đã trở nên giàu có. Gia phả ghi lại như sau: "Ông Nguyễn Đạt Đường dời ở thôn Hoành Sơn chuyên việc canh nông, làm nên cự phú"(1). Đặc biệt, gia đình ông Nguyễn Đạt Đường thường làm việc thiện, giúp đỡ mọi người khi gặp khó khăn hoạn nạn. Hàng ngày nhìn thấy người dân đi lại trên tuyến đường chính vào ngày nắng nóng rất vất vả, mệt mỏi nên ông đã bỏ tiền ra thuê người trồng những hàng cây xanh có tán rộng hai bên vệ đường quan(2), tạo bóng mát giúp xua đi cái nắng nóng gay gắt cho người đi đường hoặc mỗi khi mệt mỏi họ có thể tựa bóng cây nghỉ ngơi lấy sức để tiếp tục cuộc  hành trình. Gia phả dòng họ chép về việc này rất cụ thể: "xuất của nhà trồng những hàng cây da ở vệ đường quan, trên từ Nương Nẩm, dưới đến giáp địa phận xã Sơn La để làm ơn cho người đi đường hóng mát".

Ông mất vào ngày 04/6 âm lịch (không rõ năm), thi hài ông được an táng tại Cồn Giếng ở bản xã. Sau này triều đình vinh phong cho ông chức "Mậu lâm lang Ích Quang điện Thiếu khanh Trường Hống tử"(3). Ông được dân làng liệt vào hàng tiên hiền phụ thờ ở đền làng.

Vị tổ đời thứ hai là Nguyễn Văn Viện, con trai thứ 3 của ông Nguyễn Đạt Đường. Vốn sinh ra trong một gia đình khá giả, lại có tư chất thông minh, ham học nên từ nhỏ ông đã được theo đòi việc bút nghiên, tinh thông cả nho y lý số. Ông dự thi Hương và trúng Sinh đồ rồi được bổ nhiệm làm Huyện thừa(4) huyện Trung Sơn (huyện Quế Phong ngày nay). Sau đó, ông được thăng chức Cẩn sự tá lang Đồng Tri phủ phủ Trường Khánh (nay thuộc tỉnh Lạng Sơn), tước Phúc Lâm bá, hàm Hiển cung Đại phu(5). Noi gương cha, ông chăm chỉ làm việc thiện tích đức. Văn bia và gia phả còn ghi rất rõ những việc làm ích nước lợi dân của ông như: phát lương cứu đói, chôn cất người chết đói, trồng cây từ Cung Voi (Hà Tĩnh) đến Tĩnh Gia (Thanh Hóa), trồng cây chắn gió, chắn hỏa cho làng, sửa đình, xây đền, sửa sang cầu quán, đặt học điền, tế điền, trong làng ngoài xã ai có khó khăn gì ông đều sẵn lòng giúp đỡ… Những việc làm ấy khiến dân làng hết sức cảm kích, ghi nhớ truyền tụng đến ngày hôm nay. Để tri ân những công đức to lớn của ông, năm 1753(6), nhân dân làng Hoành Sơn đã bầu hai vợ chồng ông làm Hậu thần và lập Sinh từ(7), dựng bia ghi công tích tại núi Cấm. Ông mất vào ngày 18/8 âm lịch (không rõ năm), thi hài được an táng tại Cồn Giếng xã Trường Mỹ. Sau khi mất, ông Nguyễn Văn Viện được dân làng suy tôn làm phúc thần và lập bản tấu xin triều đình ban sắc phong thần. Hiện nay, tại di tích còn lưu giữ 3 đạo sắc phong vào năm Thành Thái thứ 2 (1890), năm Duy Tân thứ 3 (1909) và năm Khải Định thứ 9 (1924).  

 Tổ đời thứ năm, ông Nguyễn Văn Trí (còn có tên gọi khác là Văn Triết), hiệu là Tường Sinh Lạc Hiên, sinh năm Bính Dần, niên hiệu Gia Long thứ 5 (1806). Ông là con trai trưởng của ông Nguyễn Văn Nhuyến, chắt của ông Nguyễn Văn Viện. Từ nhỏ, Nguyễn Văn Trí cũng được cha mẹ cho ăn học đến nơi, đến chốn. Sẵn bản chất sáng dạ nên ông học một biết mười. "Khoa thi năm Tân Mão niên hiệu Minh Mệnh [1831], ông thi đậu Tú tài và là người khai khoa cho xã nhà thời Nguyễn"(8). Việc ông trở thành người khai khoa cho xã Trường Mỹ thời Nguyễn, là niềm tự hào lớn của gia đình, dòng họ và quê hương. Sau đó, ông được bổ nhiệm chức Bang biện tại phủ Anh Đô(9) (sau là phủ Anh Sơn)(10). Ông được đánh giá là người "công bằng, ngay thẳng, hào phóng"(11).

Ông Nguyễn Văn Trí luôn đau đáu nỗi niềm làm sao để thúc đẩy việc học hành cho các sĩ tử quê nhà. Tiếp nối truyền thống chăm làm việc thiện, ưa điều nhân đức từ gia đình, dòng tộc, Nguyễn Văn Trí đã đứng ra chỉ đạo việc lập Sĩ hội và xây dựng Văn chỉ nhằm khích lệ việc học cho con em trong làng. Gia phả chép rõ việc này như sau: "Ông bàn với xã lập Sĩ hội (tức Hội Văn), xây dựng Văn chỉ (tức Nhà thánh), đặt tế điền để xuân thu cúng tế, hình thành quy chế lâu dài, chỉnh đốn phong tục, đặt ruộng công để sinh lời cho dân"(12). Nhờ những việc làm đó của ông mà phong trào học tập được khuyến khích, phát huy truyền thống tốt đẹp của làng xã.

Ông mất ngày 17 tháng Giêng, năm Quý Dậu niên hiệu Tự Đức thứ 25 (1873). Hội tư  văn của làng rước linh vị ông vào thờ tại nhà Thánh, hàng năm, xuân thu nhị kỳ tế lễ: "Lễ Xuân Đinh(13), ông được phụ tế; lễ Thu Mậu(14) ông được chính tế"(15). Nhân dân suy tôn ông làm Phúc thần của làng, triều đình ban tặng sắc phong. Hiện nay, tại di tích còn lưu giữ 3 đạo sắc phong thần cho ông Nguyễn Văn Trí vào các năm Thành Thái thứ 16 (1904), Duy Tân thứ 3 (1909) và Khải Định thứ 9 (1924). Tất cả các sắc phong đều giao cho xã Trường Mỹ tòng tiền phụng sự.

Tiếp nối truyền thống tốt đẹp của cha ông, trong thời kỳ đất nước bị thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhiều người con của họ Nguyễn Văn đã xông pha trận mạc lập được nhiều chiến công được nhà nước ghi nhận như: ông Nguyễn Ngọc Giao - cán bộ tiền khởi nghĩa, được phong tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất; Huân chương Quận công hạng ba; Huân chương kháng chiến hạng nhất; Huân chương chiến thắng hạng ba. Gia đình ông có 04 anh em đều tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Thủ tướng Chính phủ tặng "Bảng vàng danh dự".  

Đến nay, họ Nguyễn Văn làng Hoành Sơn đã trải qua 300 năm tồn tại, phát triển thành 3 chi lớn mạnh. Con cháu hậu duệ rất tự hào biết bao khi mà trong một dòng họ có ít nhất ba vị tiên tổ được dân làng tổ chức phụng thờ tại đền, đình và Nhà thánh của làng xã. Điều đó cho thấy những công lao đóng góp to lớn của các vị tiên tổ của dòng họ. Đó cũng là truyền thống nhân đức tốt đẹp của dòng họ mà con cháu luôn nhắc nhở nhau kế thừa và phát huy truyền thống của ông cha, xây dựng dòng họ, quê hương ngày một giàu đẹp. Ngày nay, con cháu dòng họ tiếp tục có nhiều cống hiến trên các lĩnh vực như khoa học kỹ thuật, kinh tế, giáo dục, y tế, luật và quân đội… Chỉ tính riêng giai đoạn hiện nay con cháu họ Nguyễn Văn có 01 Phó Giáo sư; 02 tiến sĩ; 12 thạc sĩ và rất nhiều cử nhân đang công tác trên các lĩnh vực ở trong nước cũng như ở nước ngoài như: PGS.TS Nguyễn Văn Dũng giảng viên Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, người đã có công kêu gọi và hằng tâm công đức phục dựng lại đình làng Hoành Sơn, di tích mà tổ tiên ông đã có công xây dựng vào thế kỷ XVIII

Dù đang hoạt động ở lĩnh vực, cương vị nào thì những người con của dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn, xã Xuân Sơn vẫn luôn nêu cao tinh thần vì dân, vì nước của cha ông thủa trước, tích cực đóng góp công sức, trí tuệ, kinh tế để xây dựng và phát triển quê hương.

Hiện nay, di tích nhà thờ họ Nguyễn Văn còn khá nguyên vẹn và mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn: Bái đường ba gian hai hồi, bốn bộ vì kết cấu kiểu "thượng cung hạ kẻ"; Hậu đường một gian hai hồi, vì kèo kết cấu kiểu "thượng cung hạ kẻ". Đặc biệt tại nhà thờ còn lưu giữ được hệ thống hiện vật phong phú, đa dạng với 111 đơn vị (59 cổ vật,  52 di vật) bằng chất liệu gỗ, sứ, đồng, đá, giấy… như hương án, bình hương, mâm bồng, đài trản, gươm, đao, giáo, súng, biển rước, long ngai, bài vị, hộp đựng sắc phong, hoành phi, câu đối, cân cổ… Đặc biệt, trong đó có nhiều hiện vật cổ có giá trị quý như gia phả, sắc phong, bia đá, khế ước, đơn từ, văn cúng. Đó là những minh chứng cho lịch sử xây dựng, phát triển    của dòng họ cũng như những đóng góp to lớn của các vị tiên tổ, con cháu dòng họ đối với quê hương,  đất nước. Đồng thời, đây còn là những tư liệu lịch sử gốc có giá trị thiết thực đối với công tác nghiên cứu lịch sử, phong tục, văn hóa truyền thống địa phương nói chung. 

 Trải qua hàng trăm năm tồn tại, nhà thờ họ Nguyễn Văn luôn là địa chỉ sinh hoạt văn hóa tâm linh của con cháu trong họ và nhân dân trong vùng. Đây là nơi lưu giữ những nét đẹp truyền thống, đạo lý "uống nước nhớ nguồn", tôn vinh những người có công đối với quê hương, làng xã. Các vị tiên tổ của dòng họ Nguyễn Văn, có nhiều người có công với dân, với nước, không chỉ được nhà nước phong kiến ghi nhận mà còn được nhân dân tôn kính, lưu truyền công đức. Dù ở thời kỳ nào, những người có công với dân, với nước cũng luôn được nhân dân ngưỡng vọng, tôn thờ.           

Ngoài ra, chính việc lưu truyền, gìn giữ những nghi thức tế lễ từ đời này qua đời khác đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên nét văn hóa tâm linh mang đậm bản sắc của một vùng quê xứ Nghệ, góp phần bảo lưu những giá trị văn hóa phi vật thể mà cha ông đã dày công sáng tạo.

Với những giá trị ý nghĩa như vậy, ngày 28 tháng 12 năm 2018, UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định số 5862/QĐ-UBND xếp hạng Nhà thờ họ Nguyễn Văn là di tích lịch sử cấp tỉnh. Điều này vừa góp phần tạo thêm cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích. Đồng thời cũng là sự ghi nhận, tôn vinh của nhà nước đối với những đóng góp của các bậc tổ tiên và con cháu dòng họ Nguyễn Văn. Đây không chỉ là niềm tự hào của riêng con cháu dòng họ Nguyễn Văn mà còn là niềm vinh dự của nhân dân và chính quyền địa phương, làm dày dặn thêm truyền thống tốt đẹp của quê hương, góp phần xây dựng nông thôn mới ngày một giàu đẹp.    

 

 Chú thích

1. Gia phả chữ Hán của dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn được dịch sang Quốc ngữ năm 1938, trang 6.

2. Đường quan (tiếng địa phương): tức đường lớn, đường chính. 

3. Chức quan thuộc hàm Chánh lúc phẩm.

4. Huyện thừa là chức quan giúp việc cho tri huyện, hàm tòng thất phẩm.

5. Gia phả dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn, bản dịch năm 1938, trang 7.

6. Nội dung được khắc trên bia đá ở đền Hai.

7. Sinh từ: Lập đền khi người được thờ còn đang sống.

8. Gia phả bằng chữ Hán, do Trần Văn Hữu - CB Hán Nôm Ban quản lý DT dịch, trang 7.

9. Gia phả bằng chữ Hán, bản do Trần Văn Hữu dịch, trang 7.

10. Chức Bang biện là chức quan giúp việc ở phủ, nhiệm vụ chính là trợ lý cho quan phụ trách - Đỗ Văn Ninh, Từ điển quan chức Việt Nam, Nxb Thanh niên, trang 90.

11. Gia phả bằng chữ Hán, bản do Trần Văn Hữu dịch, trang 7.

12. Gia phả bằng chữ Hán, bản do Trần Văn  Hữu dịch, trang 6.

13. Xuân Đinh nghĩa là tế Đinh vào mùa xuân, theo lệ này vào ngày đinh đầu tiên của tháng 2 âm lịch làng làm lễ tế Thánh Khổng Tử và các bậc tiên hiền nho học tại Văn chỉ.

14. Thu Mậu nghĩa là tế vào mùa thu, lấy ngày mậu đầu tiên của tháng 8 âm lịch.

15. Gia phả bằng chữ Hán, bản do Trần Văn Hữu dịch, trang 6.

 

Nguyễn Quốc Vương

Nghiên cứu sinh ngành giáo dục lịch sử, Đại học Kanazawa-Nhật Bản

 

Ở Nhật Bản hiện tại, giáo dục lịch sử có một vị trí quan trọng trong trường phổ thông và được thực hiện ở cả ba cấp từ tiểu học đến trung học phổ thông. Giáo dục lịch sử ở đây được thực hiện thông qua môn Nghiên cứu xã hội (Xã hội) và môn Lịch sử. Vì vậy trên thực tế ở trường phổ thông Nhật Bản tồn tại hai kiểu giáo dục lịch sử: Giáo dục lịch sử trong môn Lịch sử và giáo dục lịch sử trong môn Nghiên cứu xã hội.

Bậc Tiểu học: Giáo dục lịch sử trong môn Nghiên cứu xã hội

Từ sau 1945, giáo dục tiểu học ở Nhật kéo dài 6 năm. Trước thập niên 90 của thế kỉ XX, môn Nghiên cứu xã hội có ở cả lớp 1 và lớp 2 tuy nhiên sau đó nó được thay thế bằng môn Đời sống.

Trong chương trình hiện nay, giáo dục lịch sử được bắt đầu từ lớp 3 trong môn Nghiên cứu xã hội. Đây là môn học có tính tổng hợp cao, bao hàm trong nó cả lịch sử, địa lý, công dân.

Mục tiêu của môn học này là nhằm "làm cho học sinh có hiểu biết về đời sống xã hội, giáo dục hiểu biết và tình yêu đối với lịch sử và lãnh thổ nước ta, giáo dục nền tảng phẩm chất công dân cần thiết với tư cách là người xây dựng nên quốc gia - xã hội hòa bình dân chủ và sống trong cộng đồng quốc tế".

Trên cơ sở mục tiêu tổng quát này, bản chương trình (có tên gọi "Hướng dẫn học tập") xác định mục tiêu và nội dung học tập ở từng khối lớp.

Lớp 3 và lớp 4 có mục tiêu: (1) Học sinh có hiểu biết về tình hình sản xuất của địa phương và đời sống tiêu dùng cùng các hoạt động nhằm bảo vệ đời sống khỏe mạnh của mọi người, bảo vệ môi trường sống tốt đẹp. (2) Học sinh có hiểu biết về môi trường địa lý của địa phương, sự biến đổi của đời sống con người và lao động của những người đi trước đã nỗ lực vì sự phát triển của địa phương. (3) Quan sát, điều tra các hiện tượng xã hội ở địa phương đồng thời sử dụng có hiệu quả bản đồ và các tư liệu cụ thể khác, giáo dục năng lực tư duy, năng lực biểu hiện những gì điều tra được, suy ngẫm về đặc trưng và mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượng xã hội của địa phương.

Lớp 5 có mục tiêu: (1) Học sinh hiểu biết về lãnh thổ nước ta, mối quan hệ giữa môi trường lãnh thổ và đời sống quốc dân, làm sâu sắc mối quan tâm về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai, giáo dục tình yêu đối với lãnh thổ. (2) Học sinh có hiểu biết về tình hình sản xuất của nước ta và mối quan hệ giữa sản xuất và đời sống quốc dân, có mối quan tâm tới sự phát triển sản xuất của nước ta và sự tiến triển của thông tin hóa trong xã hội. (3) Điều tra cụ thể về các hiện tượng xã hội, đồng thời sử dụng có hiệu quả các tư liệu cơ bản các loại như bản đồ, quả địa cầu, số liệu thống kê, giáo dục năng lực biểu hiện những gì điều tra được, suy ngẫm được và năng lực tư duy về ý nghĩa của các hiện tượng xã hội.

Bậc Trung học cơ sở: "Lĩnh vực lịch sử" có 4 mục tiêu

Trong ba năm trung học cơ sở, học sinh sẽ học "lĩnh vực Lịch sử", một bộ phận thuộc môn Nghiên cứu xã hội.

Môn Nghiên cứu xã hội được giảng dạy ở cấp học này nhằm mục tiêu: "Nâng cao mối quan tâm đối với xã hội dựa trên tầm nhìn rộng lớn, khảo sát đa diện, đa góc độ dựa trên các tư liệu, làm sâu sắc sự lý giải và tình yêu đối với lịch sử và lãnh thổ nước ta, nuôi dưỡng văn hóa nền tảng với tư cách là công dân, giáo dục nền tảng phẩm chất công dân cần thiết với tư cách là người xây dựng nên quốc gia - xã hội hòa bình, dân chủ và sống trong cộng đồng quốc tế".

Dựa trên mục tiêu tổng quát đó, "lĩnh vực lịch sử" sẽ đảm nhận 4 mục tiêu sau:

(1) Nâng cao mối quan tâm đối với các sự kiện, hiện tượng lịch sử, làm cho học sinh lý giải dòng chảy lớn của lịch sử nước ta, lịch sử thế giới dựa trên bối cảnh và đặc trưng từng thời đại, thông qua đó làm cho học sinh đứng trên cái nhìn rộng lớn để tư duy về đặc trưng truyền thống và văn hóa nước ta đồng thời làm sâu sắc tình yêu đối với lịch sử nước ta, giáo dục sự tự giác với tư cách là công dân.

(2) Làm cho học sinh có hiểu biết và giáo dục thái độ tôn trọng đối với các nhân vật lịch sử đã cống hiến cho quốc gia - xã hội, sự phát triển của văn hóa và đời sống của mọi người cũng như các di sản văn hóa được truyền tới hiện tại trong mối quan hệ với thời đại và địa phương đó.

(3) Làm cho học sinh lý giải được đại thể về giao lưu quốc tế và giao lưu văn hóa trong lịch sử, tư duy về mối quan hệ qua lại sâu sắc giữa lịch sử và văn hóa nước ta với các nước khác đồng thời làm cho có mối quan tâm tới văn hóa, đời sống của dân tộc khác, giáo dục tinh thần hợp tác quốc tế.

(4) Nâng cao mối quan tâm, hứng thú đối với lịch sử thông qua học tập các sự kiện, hiện tượng cụ thể và lịch sử của địa phương gần gũi, sử dụng các tư liệu phong phú để khảo sát đa diện, đa góc độ các sự kiện, hiện tượng lịch sử, đưa ra sự phê phán công bằng và giáo dục thái độ, năng lực biểu hiện phù hợp.

Về nội dung, khác với tiểu học, nội dung lịch sử không được bố trí theo từng khối lớp mà được xây dựng cho toàn khối.

Bậc Trung học phổ thông: Môn Lịch sử - Địa lý

Bậc học Trung học phổ thông Nhật Bản kéo dài 3 năm, tùy theo từng trường mà có các ban khác nhau nhưng thông thường sẽ có các ban: Tổng hợp, phổ thông và nghề nghiệp (còn gọi là ban chuyên môn).

Ở Trung học phổ thông sẽ có một hệ thống các môn bắt buộc và tự chọn (tương ứng theo ban) cho học sinh lựa chọn.

Giáo dục lịch sử ở cấp THPT được thực hiện trong môn giáo khoa có tên Lịch sử - Địa lý.

Đối với phân môn Lịch sử trong môn giáo khoa này, nó được phân chia thành 4 môn học nhỏ cho học sinh lựa chọn tương ứng với năng lực và nguyện vọng của bản thân là: Lịch sử Nhật Bản A, Lịch sử Nhật Bản B, Lịch sử thế giới A, Lịch sử thế giới B. Trong đó học sinh bắt buộc phải chọn một môn Lịch sử thế giới và một môn Lịch sử Nhật Bản.

Về mục tiêu, ngoài mục tiêu tổng quát chung cho môn học Lịch sử - Địa lý, còn có mục tiêu của từng phân môn.

Dưới đây là mục tiêu của từng môn học cụ thể nằm trong môn Lịch sử - Địa lý trích từ bản Hướng dẫn học tập hiện hành.

Lịch sử thế giới A: Dựa trên các tư liệu làm cho học sinh lý giải lịch sử thế giới với trung tâm là lịch sử cận hiện đại trong mối quan hệ với các điều kiện địa lý và lịch sử Nhật Bản, giáo dục năng lực tư duy lịch sử thông qua việc cho học sinh khảo sát từ quan điểm lịch sử các vấn đề của xã hội hiện đại, giáo dục phẩm chất và sự tự giác với tư cách là công dân Nhật Bản sống một cách chủ thể trong cộng đồng quốc tế.

Lịch sử thế giới B: Làm cho học sinh lý giải cơ cấu lớn và sự triển khai của lịch sử thế giới dựa trên các tư liệu trong mối quan hệ với các điều kiện địa lý và lịch sử Nhật Bản, thông qua khảo sát từ tầm nhìn rộng lớn tính đa dạng, phức hợp của văn hóa và đặc trưng của thế giới hiện đại mà giáo dục năng lực tư duy lịch sử, giáo dục phẩm chất và sự tự giác với tư cách là công dân Nhật Bản sống một cách chủ thể trong cộng đồng quốc tế.

Lịch sử Nhật Bản A: Dựa trên các tư liệu, tạo ra mối quan hệ giữa lịch sử cận hiện đại nước ta và các điều kiện địa lý, lịch sử thế giới, làm cho học sinh chú ý và khảo sát các vấn đề hiện đại, từ đó giáo dục năng lực tư duy lịch sử, giáo dục phẩm chất và sự tự giác với tư cách là công dân Nhật Bản sống một cách chủ thể trong cộng đồng quốc tế.

Lịch sử Nhật Bản B: Dựa trên các tư liệu cho học sinh khảo sát tổng hợp về sự triển khai lịch sử nước ta trong mối liên quan với các điều kiện địa lý và lịch sử thế giới, làm sâu sắc nhận thức về đặc trưng truyền thống và văn hóa nước ta, nuôi dưỡng tư duy lịch sử và giáo dục phẩm chất, lòng tự giác với tư cách là công dân Nhật Bản sống một cách chủ thể trong xã hội quốc tế.

 

Phạm Xuân Cần

Nguyên PGĐ Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An

 

Trường Quốc học Vinh (Collége de Vinh), còn gọi là trường Cao đẳng Tiểu học Vinh ra đời năm 1920, là một cơ sở giáo dục hàng đầu ở Bắc Trung bộ thời thuộc Pháp. Đương thời, Collége de Vinh nổi tiếng là ngôi trường có kỷ luật nghiêm và chất lượng giáo dục tốt. Nhân dịp sắp đến ngày khai trường năm học mới, Chuyên san KHXH&NV Nghệ An xin giới thiệu với bạn đọc một bản quy chế của trường Trung học Vinh(1), được gọi là "Luật lệ trường nội" để giới nghiên cứu giáo dục và những người quan tâm tham khảo. Nguồn tài liệu là báo Thanh Nghệ Tịnh Tân Văn, số 10, ra ngày 26/0/1930.

Luật Lệ trường nội

I. Lời tổng thuyết

Những đứa trẻ con được nhập học, hoặc xin nhập trường là chú ý muốn mở mang thêm đường tri giác và đường hạnh kiểm, để được thỏa lòng trông mong cha mẹ. Những học trò đã được học hoặc xin vào trường thì phải tuân theo pháp luật trường như sau này:

Khi nào hoặc chỗ nào cũng phải hết lòng kính trọng thầy Pháp và thầy Nam(2).

Không được vô cớ mà khiếm diện, lười biếng khóa học nào. Muốn cho tấn ích thì phải học cho chuyên, hạnh cho tốt mới được.

Những lỗi lầm xét ra vì học trò vô ý mà phạm phải thì nhà trường cũng có lòng dung thứ mà chuyên dạy, và có phạt thì cũng sẽ phạt nhẹ.

Những lỗi lầm xét ra vì hoặc cố ý làm, hoặc tái phạm, hoặc sự lỗi nặng thì sẽ phạt nặng.

Còn những lỗi lầm xét ra vì đồng đảng để phản đối với phép nhà trường thì phải nghiêm trị thật nặng, mặc dù ai xui vẽ ra.

Chẳng những học trò phải có hạnh kiểm khi ở nhà trường mà thôi, những học trò ở trong khi ngày nghỉ về nhà và học trò ở ngoài trường cũng phải ăn ở theo khuôn phép, để khỏi mang tiếng nhà trường.

II. Cách thưởng phạt trong trường

a. Thưởng

- Trò nào đến kỳ cộng sổ tháng được cao thì có tên trong "Bảng danh dự". Quan đốc lại có cấp cho một cái giấy để ở nhà biết mình đã học hành tấn ích và có hạnh kiểm thật tốt.

- Cuối mỗi kỳ 6 tháng thấy trò nào tánh nết tốt, học hành giỏi Hội đồng Giáo sư cử lên cho quan Đốc khen thưởng "Học sanh biên bộ". Sẽ có ghi mấy lời khen ấy vào để kỳ sát hạch sẽ được gia phân số(3). Trong các bài hạch những trò nào được nhiều điểm và được đứng đầu thì cuối năm học được dự thưởng hay dự xướng. Và lại nếu ngân sách còn dư thì cũng có phần trông được lương Nhà nước(4).

b. Hình phạt

 - Những hình phạt nặng nhẹ (vô phép, nhác nhớn, vân vân…) thi hành cho học trò cách như sau này.

1. Cách phạt của Quan Đốc(5) và của các thầy

- Lời quở trách

- Bài làm phụ

- Giam ở trường một vài giờ hay cả ngày

- Lời quở trách của "Hội đồng lệ luật"

- Trong lúc gấp thì "Hội đồng lệ luật" có quyền đuổi hẳn hay là đuổi tạm.

 2. Cách phạt của Quan Khâm sứ(6)  theo ý kiến của "Hội đồng lệ luật" và theo lời quan Đốc ở trường

 - Đuổi tạm

 - Đuổi hẳn

3. Cách phạt của quan Toàn Quyền theo ý kiến của quan Khâm sứ và quan Tổng đốc Học chánh Đông Pháp

- Cấm không được ứng thí trong nội hạt Đông Pháp trong khoảng một năm đến năm năm.

 - Không được học những trường công ở Đông Pháp(7).

- Cấm tạm hoặc cấm hẳn không cho làm việc ở Đông Pháp.

III. Ở ngoài đi học

Học trò ở ngoài phải ăn ở với cha mẹ, hay là ăn ở với ông bà, anh chị, chú bác, cậu mợ, cô dì. Nếu không có ai thì ở với một người bảo lãnh. Nhưng mà ở với ai thì cũng phải có lý trưởng nhận thực thì học trò mới được ở ngoài. Trò nào mà cha mẹ có lựa cho một người bảo lãnh cho có danh giá, mà quan đốc đã nhận người ấy thì mới được ở ngoài. Những trò nào mà được như thế thì phải ăn và ở cùng một nhà với người bảo lãnh. Người bảo lãnh phải làm đơn để chịu trách nhiệm tên học trò mà mình đã nhận. 

Cách thức làm đơn bảo lãnh thì nhà trường phát cấp cho mà làm.

IV. Đi học thường ngày

Học trò tiểu học và cao đẳng tiểu học đều phải cứ một mực theo ngày theo giờ mà đi học. Trò nào nghỉ học mà không xin phép trước, thì khi tới học phải trình quan đốc tờ khai của cha mẹ, hoặc của người bảo lãnh, nói rõ vì cớ gì mà mình đã nghỉ học, rồi mới được vào lớp.

Những người bảo lãnh phải tuân theo điều luật này mà giữ trách nhiệm mình; nếu khai man trá mà nhà trường biết được thì có lỗi.

Xin phép - Những đơn xin phép phải nộp cho cơ quan quản giáo y đơn, hoặc trao cho quan đốc.

 Những đơn xin phép thì cha mẹ hay là người bảo lãnh phải đem đến mới được.

Nếu viết thơ thì phải có lý trưởng nhân thực.

Lệ thăm viếng

 Cha mẹ hoặc người bảo lãnh, hoặc người có lời nhận của cha mẹ học trò muốn thăm học trò thì thường ngày từ 12:30 đến 1:30 được phép vào thăm con cái, hoặc tên học trò mà mình bảo lãnh. Ngoài giờ ấy thì không được phép vào.

Cách giao thiệp với cha mẹ học trò

Hễ con cái học hành ra thế nào thì mỗi kỳ 6 tháng trường sẽ gửi giấy báo điểm số về cho cha mẹ biết. Trong giấy ấy có biên phân số và lời thẩm của quan đốc.

Quan đốc trường

Cao đẳng Tiểu học Vinh

    Tên Ký: GIRADR.

 

Chú thích

1. Chính là trường Cao đẳng Tiểu học Vinh, hay còn gọi là trường Quốc học Vinh (Collége de Vinh).

2. Ý nói là giáo viên người Pháp và giáo viên người Việt.

3. Ý nói là được tăng thêm điểm.

4. Có thể hiểu là được học bổng.

5. Tương tự hiệu trưởng nhà trường

6. Khâm sứ Trung kỳ.

Tức là Đông Dương.

 

* Nghệ An: Tổ chức Lễ tưởng niệm 50 năm ngày mất Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng ngày 21/8 (tức ngày 21/7 âm lịch), tại Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở xã Kim Liên, Nam Đàn, Đảng bộ, chính quyền tỉnh Nghệ An, huyện Nam Đàn long trọng tổ chức Lễ tưởng niệm 50 năm Ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Lễ tưởng niệm được tổ chức với các nghi thức truyền thống như Lễ khai quang, Lễ yết cáo, Lễ đại tế và Lễ tạ và các nghi lễ như dâng hoa, dâng hương, lễ vật lên anh linh của Người. Các đại biểu cùng đông đảo các tầng lớp nhân dân đã thành kính dâng hoa, dâng hương bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với công lao vĩ đại của vị Cha già dân tộc; nguyện sẽ tiếp tục đi theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, đoàn kết, phấn đấu xây dựng đất nước, quê hương Nghệ An ngày càng giàu đẹp.

Trước đó, lãnh đạo tỉnh Nghệ An, huyện Nam Đàn, cán bộ Khu di tích Kim Liên, dòng họ Nguyễn Sinh, Hoàng Xuân đã làm lễ dâng hoa, dâng hương tại Khu mộ Bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu của Người tại dãy núi Đại Huệ, xã Nam Giang (Nam Đàn).

Lễ tưởng niệm được tổ chức trong hai ngày (20 và 21/7 âm lịch) tại Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh - Khu Di tích Kim Liên và một số di tích liên quan như: Nhà thờ dòng họ Nguyễn Sinh, Nhà thờ dòng họ Hoàng Xuân, quê nội, quê ngoại Bác Hồ.

Linh Nhi

* Nghệ An tổ chức Hội nghị Kết nối doanh nghiệp Nghệ An - Nhật Bản

Chiều ngày 22/8, tại TP. Vinh, UBND tỉnh Nghệ An phối hợp với Brain Works Group (BWG) tổ chức Hội nghị Kết nối doanh nghiệp Nghệ An - Nhật Bản (Hội nghị kinh doanh EGA lần thứ 67).

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 8 dự án có vốn FDI đầu tư từ Nhật Bản với tổng vốn đầu tư trên 92 triệu USD; 44 dự án ODA với tổng số vốn tài trợ là 5.070 tỷ đồng, trong đó phải kể đến các dự án trong lĩnh vực nông nghiệp như: "Khôi phục, nâng cấp hệ thống thủy lợi Bắc Nghệ An", Dự án hỗ trợ kỹ thuật lập quy hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh Nghệ An do Jica hợp tác tài trợ... Nhật Bản hiện cũng là nhà tài trợ ODA lớn nhất cho Nghệ An.

Để các doanh nghiệp có cơ hội trao đổi, kết nối, Hội nghị đã tổ chức phần hỏi đáp giữa đoàn chủ tọa gồm Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ngọc Hoa, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Trần Quốc Thành, Giám đốc điều hành BWG và Phó trưởng đại diện Văn phòng JICA Việt Nam với các doanh nghiệp Nhật Bản và Nghệ An. Các doanh nghiệp cả 2 bên đã có những chia sẻ về nhu cầu hỗ trợ về kỹ thuật, công nghệ của  chuyên gia Nhật Bản, đề xuất có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích các tình nguyện viên là các chuyên gia Nhật Bản sang Nghệ An để tư vấn, hỗ trợ về khoa học, công nghệ, hình thức hợp tác đầu tư, kết nối thị trường để tiêu thụ một số nông sản, mong muốn có sự kết nối, hợp tác đầu tư từ các doanh nghiệp Nhật Bản để cải thiện năng lực sản xuất, kinh doanh theo hướng chuyên sâu, liên kết chuỗi, tạo ra hàng hoá có tính cạnh tranh, tham gia xuất khẩu được vào các thị trường khó tính…

Sau sự kiện kết nối doanh nghiệp Nghệ An - Nhật Bản thành công, Trung tâm Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư tỉnh Nghệ An đã ký kết Bản ghi nhớ hợp tác (MoU) với Công ty TNHH       Brainwork Asia.

Trước đó, cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản đã có chương trình làm việc và đi thực tế tại một số DN trong 2 lĩnh vực: nông nghiệp và công nghệ thông tin. Đoàn tham quan một số nhà máy, doanh nghiệp sản xuất tiêu biểu trên địa bàn thành phố Vinh như Tổng Công ty Vật tư nông nghiệp Nghệ An; Công ty TNHH Đức Phong với sản phẩm mây, tre đan mỹ nghệ;  Công ty TNHH Long Lưu với sản phẩm rượu Mú từn..

M.T

* Vinh danh 10 dự án "Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo" tỉnh Nghệ An năm 2019

Tối ngày 16/8, tại Hội trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Vinh, Sở Khoa học & Công nghệ phối hợp với Tỉnh đoàn, Trường ĐH Kỹ thuật Vinh tổ chức Lễ trao giải Cuộc thi "Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo" tỉnh Nghệ An năm 2019.

Sau 5 tháng phát động, Cuộc thi "Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo" tỉnh Nghệ An năm 2019 đã thu hút được 51 hồ sơ dự án khởi nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, y tế, du lịch, dịch vụ, môi trường, CNTT... tham gia. Qua vòng chấm sơ khảo, Hội đồng chấm giải đã lựa chọn ra 20 dự án tham gia vòng chung kết. Tại vòng chung kết, các thí sinh được thuyết trình về dự án của mình trước Hội đồng chấm giải và các nhà đầu tư, các nhà tài trợ. Hội đồng chấm giải đã chọn ra 10 dự án xuất sắc để trao giải, trong đó có 1 giải Nhất, 2 giải Nhì, 3 giải Ba và 4 giải Khuyến khích. Bên cạnh đó, Hội đồng cũng đã chọn ra 10 ý tưởng khởi nghiệp tiềm năng sẽ được nhận Giấy khen của Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Các sản phẩm, dự án khởi nghiệp đạt giải sẽ được giới thiệu tham gia cuộc thi TECHFST vùng Bắc Trung bộ do Bộ KH&CN tổ chức.

Tại Lễ trao giải, đã có 3 dự án được các nhà đầu tư, doanh nghiệp ký cam kết hợp tác đầu tư nhằm hoàn thiện, khai thác, quảng bá, phát triển các ý tưởng, sản phẩm của dự án đi vào sản xuất, đời sống.

Hồ Thủy

 

* Hội nghị Giao ban hoạt động khoa học và công nghệ năm 2019

Sáng ngày 9/8, tại huyện Nghĩa Đàn, Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội nghị Giao ban khoa học và công nghệ cấp huyện năm 2019. Tham dự có đại diện lãnh đạo, các cán bộ quản lý và hoạt động lĩnh vực khoa học và công nghệ của 21 huyện, thành, thị.

Báo cáo tại Hội nghị nêu rõ: Trong 7 tháng đầu năm 2019, hoạt động khoa học và công nghệ cấp huyện đạt được những kết quả cụ thể: Công tác tham mưu tư vấn Hội đồng KHCN huyện đã tổ chức được 24/60 cuộc. Lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng KH&CN: Tổ chức thực hiện 4 dự án, 2 đề tài; nghiệm thu 3 dự án; Triển khai 177 mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN;... Công tác quản lý TC-ĐL-CL hàng hóa: Đến tháng 7 năm 2019 đã có 18/21 huyện thành thị tổ chức thanh tra diện rộng; các huyện tổ chức và phối hợp tổ chức được 43 cuộc thanh, kiểm tra. Công tác đưa thông tin về cơ sở: Các huyện đã phối hợp với các đơn vị, trạm, trại trên địa bàn tổ chức 252 cuộc tập huấn phổ biến các quy trình kỹ thuật cho 14.504 lượt tham gia;…

Kế hoạch hoạt động cho những tháng tiếp theo, ngành khoa học tiếp tục đánh giá tác động của KH&CN đối với kinh tế - xã hội để phục vụ cho xây dựng văn kiện Đại hội Đảng các cấp; Chú trọng hoạt động đổi mới sáng tạo; Đánh giá lại hoạt động, kết quả thực hiện Chương trình 100 sản phẩm của trên địa bàn các huyện; Khâu nối chặt chẽ giữa Phòng quản lý KH-CN cơ sở đối với cán bộ quản lý KHCN các huyện để tăng cường hoạt động KH-CN đối với các huyện; Đẩy mạnh áp dụng đổi mới công nghệ trong các khâu sản xuất, chế biến, bảo quản đối với hoạt động sản xuất sản phẩm, sản phẩm đặc sản, nông nghiệp; …

Hồ Thủy

* Hội thảo khoa học: Phát triển đặc sản, sản phẩm truyền thống Nghệ An thành hàng hóa

Chiều ngày 8/8, tại huyện Nghĩa Đàn, UBND tỉnh Nghệ An tổ chức Hội thảo khoa học "Phát triển đặc sản, sản phẩm truyền thống Nghệ An thành hàng hóa". Theo báo cao, tính đến nay, Nghệ An có 159 sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương có thể phát triển thành hàng hóa. Trong số này, có 84 sản phẩm chế biến và 75 sản phẩm cây trồng, vật nuôi. Nghệ An có hơn 150 làng nghề truyền thống được UBND tỉnh công nhận; 690 hợp tác xã và hơn 8.000 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh đang hoạt động với nhiều sản phẩm đa dạng về mẫu mã, phong phú về chủng loại. Tỉnh cũng đã có một số sản phẩm nông nghiệp được bảo hộ nhãn hiệu, hoặc đang đăng ký hồ sơ bảo hộ sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể...

Thảo luận tại Hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học cho rằng mặc dù phong phú, đa dạng về các loại sản phẩm, đặc sản truyền thống nhưng đến nay vẫn còn nhiều sản phẩm của Nghệ An vẫn chỉ "mang danh trong vùng" chứ chưa tiếp cận được với thị trường, người tiêu dùng chưa thực sự biết đến, do đó doanh thu, lợi nhuận và giá bán không đạt như kỳ vọng; Vấn đề xây dựng và bảo hộ nhãn hiệu còn quá ít, chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng số hàng hóa... Tại Hội thảo các nhà khoa học đã hiến kế, đưa ra những giải pháp nhằm giúp tỉnh tìm hướng đi trong phát triển sản phẩm đặc sản, sản phẩm thành truyền thống trong thời gian tới.

Kế hoạch phát triển sản phẩm, đặc sản truyền thống trong thời gian tới, tỉnh Nghệ An sẽ tập trung chỉ đạo các sở, ngành địa phương quan tâm công tác quy hoạch trong phát triển vùng nguyên liệu, sản phẩm. Trên cơ sở rà soát lại danh mục sản phẩm đặc sản của tỉnh đã công bố, sẽ nghiên cứu lựa chọn một số sản phẩm phục vụ du lịch. Phát huy vai trò của doanh nghiệp trong xác lập, khai thác và quản lý, phát triển nhãn hiệu. Tập trung tác động đến các đặc sản và sản phẩm truyền thống một cách đồng bộ thông qua các giải pháp khoa học công nghệ để tổ chức sản xuất, chế biến, đến xây dựng thương hiệu, tổ chức thị trường.

          Linh Nhi

* Hội thảo khoa học "Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin khoa học xã hội và nhân văn phục vụ phát triển bền vững tỉnh Nghệ An và vùng duyên hải Bắc Trung bộ"

Sáng ngày 18/8, tại Nghệ An, Viện Thông tin Khoa học Xã hộiphối hợp với Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An tổ chức Hội thảo khoa học "Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin khoa học xã hội và nhân văn phục vụ phát triển bền vững tỉnh Nghệ An và vùng duyên hải Bắc Trung bộ".

Hội thảo được tổ chức nhằm đánh giá thực trạng xây dựng, lưu trữ thông tin KHXH&NV của tỉnh Nghệ An, và xác định các nguyên nhân thành công, cũng như các yếu tố cản trở quá trình xây dựng và khai thác thông tin của tỉnh Nghệ An. Cung cấp thông tin về cơ sở dữ liệu về tỉnh Nghệ An đang được lưu trữ, quản lý tại Viện TTKHXH. Đề xuất chia sẻ, hợp tác CSDL thông tin và kiến nghị việc xây dựng cơ sở dữ liệu về tỉnh Nghệ An nói riêng, vùng Bắc Trung bộ nói chung vì mục tiêu phát triển bền vững. Chia sẻ một số thông tin, kết quả nghiên cứu trên cơ sở khai thác cơ sở dữ liệu hiện có của mỗi bên về văn hoá, lịch sử, dân tộc, tôn giáo của Nghệ An, cũng như thực trạng du lịch tỉnh Nghệ An.

Hội thảo đã nhận được nhiều bài tham luận, với các chủ đề liên quan đến việc xây dựng, vận hành, khai thác hệ thống thông tin, thư viện; đến việc khai thác hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu các vấn đề phát triển bền vững của vùng. Một số bài tham luận đã được trình bày và trao đổi ý kiến. Nội dung các bài trình bày xoay quanh một số vấn đề CSDL ruộng đất thời nhà Nguyễn, văn hóa ẩm thực, du lịch tâm linh, dân tộc thiểu số... của Nghệ An;…

    Hồ Thủy

* Hội thảo khoa học: "Đề xuất chiến  lược bảo tồn, phát huy di sản văn hóa vật thể ở các huyện miền Tây Nghệ An đến năm 2030"

Chiều ngày 19/8/2019, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An đã tổ chức Hội thảo khoa học: "Đề xuất chiến  lược bảo tồn, phát huy di sản văn hóa vật thể ở các huyện miền Tây Nghệ An đến năm 2030" thuộc đề tài khoa học: "Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể để phát triển kinh tế xã hội ở miền Tây Nghệ An hiện nay".

Tại buổi Hội thảo, các đại biểu, chuyên gia, nhà khoa học hầu hết đều đánh giá cao ý nghĩa và tính thiết thực của đề tài, cơ bản đồng tình với nội dung chiến lược được xây dựng. Các đại biểu đã tập trung góp ý đánh giá thực trạng theo hướng đúng, đầy đủ, toàn diện hơn; hoàn thiện mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp (trong đó nhiệm vụ gắn liền với giải pháp); Đề xuất các vùng gắn với các di sản để phát triển du lịch (gắn di sản với kinh tế du lịch); Đồng thời, trong lộ trình thực hiện cần đề xuất một số nhiệm vụ cụ thể (bảo tồn nhà cổ, nâng cấp Bảo tàng văn hóa các dân tộc Quỳ Châu, xây dựng Tiên Kỳ trở thành điểm đến của du khách du lịch cộng đồng...).

Kết luận tại Hội thảo, đồng chí Trần Quốc Thành - GĐ Sở KH&CN đề nghị Ban chủ nhiệm đề tài tiếp thu và chỉnh sửa các nội dung mà Chủ trì Hội thảo đã đưa ra, tiến tới nghiệm thu Đề tài đúng tiến độ.

Nguyễn Hiền

* Giới thiệu sách: Giải pháp bảo vệ môi trường và phục hồi rừng ngập mặn tỉnh Nghệ An - Một tài liệu tham khảo quý về rừng ngập mặn, công tác phục hồi rừng ngập mặn ở Nghệ An

Vấn đề bảo vệ môi trường và phục hồi rừng ngập mặn ven biển tỉnh Nghệ An hiện nay đang đặt ra rất cấp bách, cần có giải pháp đồng bộ từ tỉnh xuống đến tận cơ sở. Từ yêu cầu thực tiễn đó, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã đặt hàng xuất bản cuốn sách Giải pháp bảo vệ môi trường và phục hồi rừng ngập mặn tỉnh Nghệ An của nhóm tác giả là các nhà chuyên môn đang công tác tại Nghệ An.

Sách dày 80 trang và 80 trang phụ bản (là các bản đồ rừng ngập mặn từ tỉnh đến xã), được Nhà xuất bản Nghệ An ấn hành vào quý III/2019. Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của cuốn sách gồm 3 chương: Chương 1: Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng ven biển tỉnh Nghệ An; Chương 2: Kết quả điều tra, đo đạc rừng ngập mặn Nghệ An; Chương 3: Đề xuất quy hoạch, kế hoạch phục hồi và trồng rừng ngập mặn.

Cuốn sách được biên soạn bởi nhóm tác giả có kiến thức và kinh nghiệm trong nghiên cứu, giảng dạy, quản lý về bảo vệ môi trường và phục hồi, phát triển rừng ngập mặn do Thạc sĩ Võ Duy Việt, Tiến sĩ Nguyễn Anh Dũng và Thạc sĩ Hoàng Xuân Trường đồng chủ biên. Đây là một tài liệu tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu, quản lý, giảng dạy trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường, nông lâm nghiệp.

Phạm Ngọc Chi

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.