« Quay lại

Chuyên san KHXH&NV số 10/2019

Ông Lê Hồng Vinh - Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy

Phó Chủ tịch UBND tỉnh

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, Đảng ta đã sớm có các định hướng và chỉ đạo đúng đắn về vị trí, vai trò của khoa học và công nghệ (KH&CN) đối với sự phát triển kinh tế xã hội; Đồng thời, luôn coi trọng và tạo điều kiện thuận lợi để KH&CN phát triển làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; Coi KH&CN là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa hiện đại hóa, điều này được khẳng định và quán triệt trong nhiều văn kiện của Đảng thời kỳ đổi mới.

Trước Đại hội Ban Chấp hành TW Đảng lần thứ VI, Đảng ta đã xác định cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt trong ba cuộc cách mạng của thời kỳ khôi phục và kiến thiết đất nước sau thống nhất. Tại Đại hội Ban Chấp hành TW Đảng lần thứ VI (1986) coi KH&CN là động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Đại hội lần thứ VII (1991) khẳng định KH&CN là nền tảng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đại hội VIII (1996) và Đại hội IX (2001) coi KH&CN là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đại hội X (2006) nhấn mạnh vai trò động lực của KH&CN trong phát triển kinh tế tri thức. Đại hội XI (2011) đề ra đường lối đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới và KH&CN giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững. Đại hội XII (2016) khẳng định khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầulà động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại.

Ở Nghệ An, ngày 25 tháng 10 năm 1959, Hội Phổ biến Khoa học Kỹ thuật Nghệ An được thành lập, đánh dấu một mốc quan trọng, khẳng định vị trí của khoa học kỹ thuật đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Trải qua quá trình 60 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Khoa học và Công nghệ đã làm tốt công tác tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành nhiều nghị quyết, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quan trọng định hướng phát triển KH&CN góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Công tác quản lý nhà nước về KH&CN từng bước có những đổi mới mang tính đột phá; hiệu lực, hiệu quả quản lý ngày càng được nâng cao. Những nỗ lực không mệt mỏi của ngành đã góp phần quan trọng đưa KH&CN thực sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội tỉnh nhà, gắn kết KH&CN với sản xuất và đời sống, có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương. Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, KH&CN tỉnh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng:

- Nâng cao nhận thức ở các cấp, các ngành, doanh nghiệp và người dân về KH&CN; Các sở ban, ngành, huyn, thành, thị đã cụ thể hóa bằng việc ban hành nhiều nghị quyết, chương trình hành động, đề án, kế hoạch ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ vào sản xuất, đời sống phù hợp với phát triển kinh tế xã hội địa phương.

- Nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội đã được quan tâm, tiếp tục được mở rộng, góp phần bổ sung kiến thức trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, lịch sử, xã hội,... Thành tựu khoa học đã góp phần nâng cao dân trí, đưa ra những nhận thức mới, cung cấp luận cứ khoa học để hoạch định chính sách, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

- Tỷ trọng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GRDP của tỉnh giai đoạn 2015 - 2018 đạt 34,9%, chứng tỏ mô hình tăng trưởng kinh tế của tỉnh đang chuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu.

- Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH&CN có những đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh; Tác động KH&CN được triển khai theo chuỗi giá trị của sản phẩm để biến các đặc sản, sản phẩm truyền thống địa phương thành hàng hóa, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước, đang dần hướng đến thị trương khu vực và quốc tế. Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm chủ yếu của tỉnh đạt mức khá so với cả nước, tốc độ đổi mới công nghệ/thiết bị của tỉnh đạt 15%; sản xuất các sản phẩm chủ yếu của tỉnh được đầu tư đổi mới công nghệ tiến tiến, hiện đại, công nghệ cao. Giá trị sản phẩm công nghệ cao và ứng dụng công nghệ cao đạt 20%Hoạt động nghiên cứu KH&CN gắn với ứng dụng được đẩy mạnh, lấy doanh nghiệp làm chủ thể trong hoạt động ứng dụng KH&CN, chuyển hướng khắc phục dần đầu tư dàn trải thông qua xác định các lĩnh vực ưu tiên đầu tư.

- Thị trường KH&CN bước đầu được hình thành, một số yếu tố của thị trường bắt đầu xuất hiện, các sản phẩm KH&CN từng bước trở thành hàng hoá, nhu cầu mua, bán công nghệ ngày càng tăng. Hoạt động sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn đo lường chất lượng có bước tiến bộ, từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Phong trào sáng tạo KH&CN của các tầng lớp nhân dân được quan tâm, có nhiều đóng góp thiết thực cho sản xuất và đời sống.

- Tiềm lực KH&CN của tỉnh có bước phát triển mạnh mẽ. Đến nay, toàn tỉnh có 71 đơn vị là các tổ chức KH&CN trên địa bàn có tham gia hoạt động nghiên cứu triển khai. Hợp tác trong nước và quốc tế về KH&CN được triển khai toàn diện, góp phần nâng cao trình độ kiến thức đội ngũ cán bộ KH&CN, giải quyết một số nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển của tỉnh.

Tuy nhiên, đứng trước đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tếKH&CN vẫn còn nhiều hạn chế, thách thức: Trình độ tổng thể về KH&CN của tỉnh còn khoảng cách với các thành phố lớn của cả nước và khoảng cách khá xa so với các nước trong khu vựcNhận thức về vai trò của KH&CN là động lực nâng cao sức mạnh tổng hợp của nhiều cấp uỷ, chính quyền và doanh nghiệp chưa thật sự đầy đủ; hoạt động KH&CN ở một số địa phương, ngành, doanh nghiệp chưa đúng tầm. Hiệu quả nghiên cứu triển khai một số lĩnh vực chưa cao. Thiếu những cơ chế chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực trọng điểm nhằm nâng cao sức mạnh tổng hợp tỉnh thông qua các ngành, lĩnh vực có nhiều lợi thế so sánh. Sản phẩm hình thành chuỗi giá trị để tạo ra hàng hóa thật sự, có quy mô lớn chưa được nhiều. Tốc độ đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp còn chậm. Chất lượng nguồn nhân lực KH&CN chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu cán bộ giỏi về quản lý kinh tế, sâu về chuyên môn công nghệ cao như công nghệ dược, công nghệ chế biến, công nghệ sinh học, thiếu kỹ thuật viên và công nhân kỹ thuật lành nghề. Đầu tư cho KH&CN, đặc biệt là đầu tư của xã hội còn hạn chế. Tính kết nối giữa triển khai kết quả hoạt động KH&CN với các nguồn lực khác chưa tốt và chưa tập trung.

Đứng trước thời cơ và thách thức trong thời gian tới, nhất là trong giai đoạn đất nước tiến vào cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0, để "Khoa học và công nghệ thực sự là động lực quan trọng để nâng cao sức mạnh tổng hợp trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh", góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết 06-NQ/TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về "Phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2016-2020, định hương đến 2025", ngành KH&CN cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước và ưu tiên tập trung một số nhiệm vụ, giải pháp sau đây:

1. Nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng và chính quyền về vai trò, vị trí quan trọng của KH&CN trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Gắn các mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội từng ngành và từng địa phương; đưa kế hoạch ứng dụng và phát triển KH&CN trở thành một cấu phần không thể thiếu của quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành và địa phương.

Đầu tư, nâng cao năng lực hoạt động cho các tổ chức KH&CN; Phát triển nhân lực KH&CN có trình độ cao, xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi, cán bộ KH&CN đầu ngànhTích cực xã hội hóa nguồn lực đầu tư KH&CN.

2. Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH&CN, thực hiện nhiệm vụ tham mưu, tư vấn, phản biện, xây dựng và cung cấp luận cứ khoa học cho các chủ trương, chính sách, quyết định của tỉnh trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh một cách hiệu quả, góp phần quan trọng và tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng của nền kinh tế.

Trong đó cần tập trung nghiên cứu, xây dựng, đề xuất các cơ chế, chính sách phục vụ phát triển kinh tế, vùng kinh tế, khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khănxây dựng mô hình tổ chức sản xuấttác động theo chuỗi giá trị để phát triển các sản phẩm chủ lực và đặc sản địa phương; phát triển sinh kế cho người dân. Tổng kết thực tiễn, nhất là trong lĩnh vực kinh tế hợp tác, tái cơ cấu nền kinh tế. Nghiên cứu các vấn đề về tiềm năng thế mạnh và môi trường đầu tư, môi trường xã hội của Nghệ An.

Nghiên cứu và ứng dụng trong khoa học quản lý.

Ưu tiên các nhiệm vụ ứng dụng, tiếp thu đổi mới công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh cao trên thị trường; ứng dụng, chuyển giao các công nghệ hiện đại, công nghệ cao vào quản lý và sản xuất, thúc đẩy hoạt động KH&CN trên địa bàn ngày càng sâu, rộng, hiệu quả, tạo nền tảng vững chắc để Nghệ An  trở thành Trung tâm KH&CN vùng Bắc Trung Bộ và cả nước.

3. Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ; thúc đẩy phát triển thị trường KH&CN. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến, tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ; phát triển các tổ chức trung gian tư vấn, môi giới công nghệ.

Chủ động mở rộng có trọng điểm hợp tác trong và ngoài nước về KH&CN, thu hút công nghệ tiên tiến phù hợp với điều kiện của tỉnh để áp dụng có hiệu quả; tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của các nước, các tổ chức quốc tế và trung ương trong các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu ứng dụng KH&CN, chia sẻ thông tin, chuyên gia, đổi mới công nghệ, hướng vào giải quyết các mục tiêu ưu tiên của tỉnh. Thu hút chuyên gia, cán bộ KH&CN trong nước và quốc tế, kiều bào Việt Nam ở nước ngoài tham gia các dự án KH&CN.

4. Tăng cường hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ. Tập trung hỗ trợ hoạt động quản lý, khai thác và phát triển tài sản trí tuệ đối với sản phẩm chủ lực, đặc sản, làng nghề của tỉnh gắn với chương trình OCOP.

5. Thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, tạo lập môi trường thuận lợi để thúc đẩy, hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới; tập trung nguồn lực hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trọng tâm là sản phẩm sáng tạo để nâng cao năng lực cạnh tranh; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, thành lập các trung tâm ươm tạo, câu lạc bộ khởi nghiệp, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo.

Ngành Khoa học và Công nghệ đã đi được một chặng đường 60 năm đầy khó khăn, thử thách nhưng cũng rất vinh quang, từ những thành tựu đã đạt được, chúng ta tin tưởng ngành Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp tục phát huy, đóng góp tích cực, hiệu quả vào công cuộc xây dựng và phát triển quê hương, đất nước, thực sự là động lực thúc đẩy mạnh mẽ phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh trên địa bàn tỉnh Nghệ An./.

 

 

Th.S Trần Quốc Thành

Giám đốc Sở KH&CN Nghệ An

                Ngày 25 tháng 1O năm 1959 Hội Phổ hiến Khoa học - Kỹ thuật Nghệ (An được thành lập, đây là ngày đánh dấu sự ra đời và trở thành ngày truyền thống của ngành Khoa học và Công nghệ Nghệ An. Từ đó đến nay, tên gọi cơ quan đã nhiều lần thay đổi, gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị qua từng thời kỳ: Ban Kỹthuật tỉnh Nghệ An (năm 1961); Ban Khoa học Kỹ thuật tỉnh Nghệ Tĩnh (năm 1976); (Ủy han Khoa học Kỹ thuật tỉnh Nghệ An (năm 1991); Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường (năm 1993) đến Sở Khoa học và Công nghệ ngày nay (2003).

          Ngày đầu mới thành lập, với muôn vàn khó khăn, cơ sở vật chất kỹ thuật thiếu thốn, đội ngũ cán bộ làm công tác khoa học kỹ thuật vừa ít lại vừa thiếu kinh nghiệm, môi trường hoạt động khoa học còn nhiều hạn chế, nhưng Hội Phổ biến KH-KT và Ban Kỹ thuật tỉnh đã cùng với các ngành, các cấp trong tỉnh quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, tập trung làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học, tổ chức giới thiệu, tham quan mô hình và phát động các phong trào thi đua cải tiến kỹ thuật trong sản xuất. Thời kỳ này, tuy hoạt động khoa học và kỹ thuật chưa được triển khai rộng khắp, nhưng đã góp phần quan trọng vào việc đẩy lùi tập quán canh tác lạc hậu, xây dựng nếp làm ăn mới, tiến bộ hơn, góp phần hoàn thành xuất sắc mọi chỉ tiêu của kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất.

          Năm 1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc nước ta. Nghệ An hiên ngang bước vào cuộc đọ sức trực tiếp với kẻ thù, trở thành nơi đầu sóng ngọn gió, tuyến đầu đánh Mỹ của miền Bắc và hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Nam. Các hoạt động khoa học kỹ thuật lúc này được chuyển từ thời bình sang thời chiến. Để đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất và chiến đấu của tỉnh, Ban Kỹ thuật tỉnh chủ trương một mặt hướng dẫn, giúp đỡ các ngành, các địa phương duy trì, và chuyển hướng các hoạt động KH-KT cho phù hợp với chủ trương chuyển hướng kinh tế của Đảng, đồng thời điều hoà phối hợp lực lượng nghiên cứu các đề tài giải quyết dứt điểm một số vấn đề cấp thiết đối với sản xuất chiến đấu và đời sống trước mắt. Mặt khác, xúc tiến công việc chuẩn bị phục vụ cách mạng kỹ thuật sau chiến tranh như tổ chức xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn phát triển KH-KT, phát triển tiềm lực KH-KT, tổ chức tiến hành một số công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu KH-KT và quản lý kỹ thuật có ý nghĩa lớn và lâu dài đối với nền kinh tế quốc dân.

          Sau khi Hiệp định Pari được ký kết (27/01/1973), các hoạt động khoa học kỹ thuật của tỉnh tập trung vào nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, giải phóng đồng ruộng, khôi phục lại các cơ sở sản xuất ở các công, nông trường, xí nghiệp để phát triển sản xuất trong điều kiện tạm thời đình chiến, tiếp tục xây dựng về mọi mặt, dồn sức cho tiền tuyến giành thắng lợi hoàn toàn. Có thể khẳng định rằng những hoạt động KH-KT trong thời kỳ 1959-1975 đã đóng góp tích cực vào ổn định sản xuất, góp phần xây dựng hậu phương vững chắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

          Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước thống nhất, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, 02 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hợp nhất thành tỉnh Nghệ Tĩnh. Ngày 28/01/1976, Ban Khoa học Kỹ thuật tỉnh Nghệ Tĩnh được thành lập và đến năm 1983 được đổi tên thành Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nghệ Tĩnh. Trong 15 năm nhập tỉnh (1976 - 1990) trong bối cảnh đất nước vừa kết thúc chiến tranh, hoạt động khoa học và kỹ thuật của tỉnh lúc này đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách, nhưng với tinh thần chủ động, sáng tạo, vượt khó vươn lên, phát huy mọi nguồn lực hiện có, kết hợp với mở rộng quan hệ hợp tác, tranh thủ sự giúp đỡ của các bộ, ngành Trung ương, sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tích cực triển khai thực hiện nhiệm vụ và nhanh chóng thích ứng với điều kiện hoàn cảnh mới; đã tập trung đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Đặc biệt là tập trung 3 chương trình kinh tế lớn là Chương trình lương thực thực phẩm, Chương trình hàng tiêu dùng và Chương trình hàng xuất khẩu để tạo nhiều sản phẩm cung cấp cho xã hội trong thời kỳ khan hiếm hàng hoá, góp phần giải quyết được những khó khăn trước mắt đồng thời đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội.

          Năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh chia tách thành 02 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Nghệ An được thành lập. Hoạt động khoa học và kỹ thuật thời kỳ này tập trung hướng vào phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, tạo bước chuyển biến mới trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, làm cơ sở cho việc phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp và các lĩnh vực kinh tế xã hội khác. Đến tháng 11/1993, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nghệ An được chuyển thành Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường, ngoài các nhiệm vụ như trước đây còn được bổ sung thêm chức năng quản lý môi trường. Hoạt động khoa học, công nghệ và môi trường của tỉnh đã có sự phát triển rõ nét, nhất là từ sau khi có Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) về "Định hướng chiến lược phát triển KH-CN trong thời kỳ CNH-HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000" khẳng định vai trò động lực của KH&CN đối với sự nghiệp CNH-HĐH và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV nhiệm kỳ 1996 - 2000. Ngành đã bám sát nhiệm vụ chính trị, tình hình kinh tế tỉnh đã đi đúng trọng tâm, trọng điểm phục vụ đắc lực cho các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, thông qua triển khai thực hiện 7 chương trình KH&CN trọng điểm thời kỳ 1996-2000.

          Bước sang giai đoạn mới, khi KH&CN phát triển như vũ bão, đưa lại những tiến bộ phi thường; toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực, thế giới trở nên "phẳng và không biên giới". Khoa học và công nghệ càng thể hiện là nhân tố "quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước" và đã được thể chế hóa trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị TW 6 khóa XI (năm 2012), Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013. Xác định rõ vai trò của KH&CN trong tình hình mới và trên cơ sở định hướng của TW, Nghệ An kịp thời ban hành Nghị quyết 06-NQ/ TU về phát triển KH&CN đến 2020, định hướng đến 2025; UBND tỉnh ban hành quy hoạch phát triển KH&CN đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025. Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 18, nhiệm kỳ 2015 - 2020 xác định xây dựng Nghệ An thành Trung tâm KH&CN vùng Bắc Trung bộ, trọng tâm là nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao các thành tựu KH&CN và công nghệ cao, đào tạo nhân lực phục vụ sản xuất và đời sống, có tầm ảnh hưởng đến các tỉnh trong khu vực. Nhiều chủ trương, chính sách được ban hành và đi vào thực tiễn cuộc sống, trên các lĩnh vực: truyền thông KH&CN, thị trường KH&CN, sở hữu trí tuệ, ứng dụng và phát triển công nghệ cao, sáng tạo KH&CN, bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo... Đây là những định hướng, hành lang pháp lý quan trọng, đồng thời thể hiện sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền và toàn xã hội đối với nhiệm vụ phát triển khoa học và công nghệ.

          Cho đến thời điểm này chúng ta có thể khẳng định rằng, khoa học và công nghệ đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, tỉ trọng đóng góp năng suất của nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GRDP của tỉnh, giai đoạn 2001-2014 đạt 25,1% và giai đoạn 2015-2018 đạt 34,9%.

          Trải qua 60 năm, ngành KH&CN tỉnh đã trưởng thành cả về chức năng, nhiệm vụ lẫn bộ máy tổ chức và cơ chế quản lý. Từ chỗ ban đầu chỉ có 2-3 nhóm nhiệm vụ, với gần 10 cán bộ nhân viên đầu tiên, phần đông còn chưa có trình độ đại học lúc mới thành lập, đến nay Sở KH&CN - là cơ quan chuyên môn giúp việc cho UBND tỉnh làm quản lý Nhà nước về KH&CN, đã được giao đảm nhận trên 20 nhóm nhiệm vụ quản lý nhà nước, có đội ngũ hơn 120 cán bộ công chức, viên chức, KHXH&NV NGHỆ AN - SỔ 10/2019 và người lao động, trong đó trên 90% có trình độ đại học trở lên. Ở các ngành cấp tỉnh có Hội đồng KH&CN ngành và một phòng chuyên môn được giao nhiệm vụ quản lý các hoạt động KH&CN thuộc ngành; Ở các huyện, thành, thị có Hội đồng KH&CN cấp huyện và phòng chuyên môn, cán bộ chuyên trách KH&CN thực hiện công tác quản lý nhà nước về KH&CN trên địa bàn. Đội ngũ cán bộ KH&CN trưởng thành cả về số lượng và chất lượng. Cùng với sự phát triển của đội ngũ cán bộ, các cơ sở nghiên cứu từng bước được đầu tư xây dựng theo hướng hiện đại góp phần nâng cao năng lực KH&CN của tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu, chuyển giao các tiến bộ KH&CN. Dù trong điều kiện thuận lợi hay khó khăn, thời bình hay thời chiến, cùng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ngành KH&CN đã nỗ lực phấn đấu tham mưu và thực hiện các chủ trương, chính sách trong lĩnh vực KH&CN. Thực tế 60 năm qua đã chứng minh vị trí, vai trò và hiệu quả của KH&CN đối với phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và chúng ta có thể khẳng định rằng:

          - Đã tạo được sự chuyển biến quan trọng trong nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể' và nhân dân về vai trò của KH&CN đối với sự phát triển KT-XH của tỉnh.

          - Hoạt động KH&CN luôn bám sát các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương, phối hợp đồng bộ với các cấp, các ngành để' xây dựng chương trình kế hoạch hoạt động sát đúng, triển khai thực hiện kịp thời đáp ứng nhu cầu về phát triển sản xuất, đời sống và mở rộng quan hệ hợp tác KH&CN trong và ngoài nước.

          - Hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng KH&CN có nhiều đổi mới, nghiên cứu, tổng kết khoa học và thực tiễn cung cấp các luận cứu cho việc hoạch định các chủ trương, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành, của tỉnh trong các thời kỳ. Thực hiện tốt việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông nghiệp, nông thôn; công nghiệp, xây dựng, giao thông, các kỹ thuật y cao, hiện đại phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Xây dựng và phát triển các ngành công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và năng lượng mới. Các nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH&NV đã mang đến một số nhận thức mới, cách tiếp cận mới, giải pháp mới và thay đổi một số cơ chế chính sách, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Công tác phản biện khoa học đối với các cơ chế chính sách, các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An được quan tâm. Huy động được trí tuệ của các tổ chức, đội ngũ trí thức KH&CN trong và ngoài tỉnh.

          - Các hoạt động trên các lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng, quản lý công nghệ, sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ hạt nhân, truyền thông KH&CN, thanh tra KH&CN đã có những đóng góp quan trọng vào việc nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ Nghệ An, giúp cho nhiều doanh nghiệp xây dựng và quảng bá thương hiệu; xây dựng kỷ cương, văn minh trong kinh doanh, thương mại, đấu tranh chống hàng giả, hàng kém chất lượng, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

          - Với định hướng lấy doanh nghiệp làm chủ thể, việc xã hội hoá đầu tư cho khoa học và công nghệ được mở rộng, với sự tham gia ngày càng nhiều của các ngành, các cấp, các tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng nhân dân. Hệ thống tổ chức các trung tâm nghiên cứu ứng dụng được cải tiến đổi mới, cơ sở vật chất không ngừng được đầu tư phát triển. Hiện nay toàn tỉnh có 71 đơn vị là các tổ chức KH&CN trên địa bàn có tham gia hoạt động nghiên cứu triển khai; 1 DN nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và 9 doanh nghiệp KH&CN.

          - Hoạt động KH&CN của các ngành, huyện, thị xã, thành phố tiếp tục phát triển cả về phạm vi, qui mô ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật phục vụ sản xuất và đời sống, mang lại kết quả thiết thực, nhận thức và khả năng ứng dụng KH&CN của người dân trong thời gian qua tăng lên rõ rệt.

          - Thị trường công nghệ của tỉnh và hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo bước đầu được hình thành và đạt được những kết quả khả quan.

          - Hợp tác khoa học và công nghệ được chú trọng để tranh thủ sự giúp đỡ về trí tuệ, nhằm triển khai ứng dụng nhanh, có hiệu quả các thành tựu KH&CN. Thông qua các mối quan hệ hợp tác, năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ của tỉnh ngày càng được bổ sung, phát triển; hiệu quả chất lượng của công tác nghiên cứu ứng dụng ngày càng được nâng lên, giải quyết được nhiều vấn đề bức xúc đang đặt ra cho thực tiễn sản xuất và đời sống.

          Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong 60 năm qua, nghiêm túc nhìn lại KH&CN tỉnh nhà vẫn còn những hạn chế: Vai trò quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ của các cấp, các ngành chưa đổi mới kịp so với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Nguồn lực đầu tư cho phát triển KH&CN chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội. Đóng góp và tác động của KH&CN đến sự phát triển kinh tế xã hội chưa như mong đợi. Trình độ công nghệ của doanh nghiệp ở Nghệ An nhìn chung còn thấp, năng lực ứng dụng và thu hút dự án ứng dụng công nghệ cao chưa tương xứng với tiềm năng, thị trường công nghệ vẫn còn sơ khai. Sản phẩm hình thành chuỗi giá trị để tạo ra hàng hóa, có quy mô lớn chưa được nhiều, sức lan tỏa thấp. Tính kết nối giữa kết quả hoạt động KHCN với các nguồn lực sự nghiệp kinh tế nhằm nhân rộng mô hình ở một số ngành, huyện, thị chưa tốt và chưa tập trung. Hoạt động sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng chưa phát huy được tác dụng mạnh mẽ, nhất là trong bối cảnh hội nhập hiện nay. Hoạt động KH&CN của các ngành và cấp huyện chưa ngang tầm. Đội ngũ cán bộ KH&CN chưa mạnh, thiếu chuyên gia giỏi ở một số ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, lực lượng đội ngũ KH&CN triển khai ứng dụng chưa mạnh.

          Cùng với cả nước, Nghệ An đang thời kỳ tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH trong bối cảnh xu hướng hội nhập quốc tế và khu vực ngày càng sâu rộng; Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng, làm thay đổi bối cảnh toàn cầu, mở ra nhiều cơ hội cũng như thách thức to lớn cho các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam. Thu hút các nguồn lực, tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ thế giới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, rút ngắn khoảng cách phát triển hoặc tụt hậu ngày càng xa hơn. Do đó, một trong những giải pháp chính để phát triển nền kinh tế - xã hội là phải đặt mối quan tâm đúng mức đến công tác khoa học và công nghệ. Thời gian tới, trước nhu cầu thực tiễn, nắm bắt cơ hội, định hướng khoa học và công nghệ tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây nhằm tạo động lực mạnh mẽ, thúc đẩy tăng trưởng có tính đột phá:

          (1) Đổi mới cơ chế quản lý và hoạt động khoa học và công nghệ một cách năng động, sáng tạo, hiệu quả, góp phần để "Khoa học và công nghệ thực sự là động lực quan trọng nhất để nâng cao sức mạnh tổng hợp trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh". Vận dụng linh hoạt mọi thuận lợi và khó khăn để phát triển KH&CN gắn với các quy hoạch, kế hoạch và chương trình phát triển của tỉnh.

          (2) Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Bảo đảm cung cấp luận cứ khoa học cho các chủ trương, chính sách, các quy hoạch, kế hoạch và chương trình phát triển của tỉnh. Thúc đẩy nhanh lộ trình đổi mới công nghệ theo hướng đi thẳng vào công nghệ tiên tiến, hiện đại. Gắn với ứng dụng thực tiễn, gắn với doanh nghiệp, tạo được một số sản phẩm hàng hóa có chất lượng tốt, khối lượng lớn và thương hiệu mạnh từ KH&CN. Ưu tiên đầu tư chuỗi giá trị một số sản phẩm chủ lực và có lợi thế của tỉnh. Tập trung lồng ghép các nguồn lực để tác động khoa học và công nghệ cho một số sản phẩm chiến lược của tỉnh, nhất là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và dược liệu. Ưu tiên một số lĩnh vực trọng điểm: nông nghiệp CNC, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và khoa học xã hội và nhân văn. Tập trung nguồn lực nhằm hỗ trợ khai thác tiềm năng miền Tây Nghệ An. Áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật của Việt Nam và quốc tế đối với sản phẩm hàng hóa của tỉnh để đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển.

          (3) Phát triển thị trường KH&CN, đổi mới công nghệ và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo: Hỗ trợ thương mại hóa sản phẩm KH&CN và các hoạt động xúc tiến thị trường, tìm kiếm, môi giới, mua, bán công nghệ thông qua các hoạt động điểm kết nối cung cầu, hội chợ công nghệ thiết bị, sàn giao dịch thiết bị công nghệ nhằm giới thiệu các công nghệ thiết bị và công nghệ mới cho doanh nghiệp. Xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ đối với sản xuất sản phẩm chủ lực của tỉnh. Thí điểm hình thành vườn ươm công nghệ, hỗ trợ hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp và ươm tạo doanh nghiệp. Phát triển doanh nghiệp KH&CN. Đổi mới sáng tạo bao gồm đổi mới cả sản phẩm, đổi mới công nghệ, đổi mới tư duy và mô hình kinh doanh theo chuỗi trên cơ sở nền tảng 4.0.

          (4) Tăng cường đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước về KH&CN: Rà soát và tham mưu các cơ chế, chính sách phát triển KH&CN. Nâng cao chất lượng đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ, ưu tiên những đề tài nghiên cứu thiết thực, có chất lượng cao, ứng dụng có hiệu quả vào thực tiễn cuộc sống và sản xuất. Từng bước triển khai cơ chế khoán đầu ra trong thực hiện các đề tài dự án KH&CN. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả về quản lý của nhà nước đối với tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng. Đẩy mạnh công tác thanh tra chuyên ngành về tiêu chuẩn đo lường chất lượng, đặc biệt là các sản phẩm xã hội đang quan tâm như: lương thực thực phẩm, nước, dược phẩm, vật tư nông nghiệp, xăng dầu... Đẩy mạnh hoạt động thẩm định công nghệ, xác lập, khai thác phát triển tài sản trí tuệ và bảo tồn, khai thác, phát triển quỹ gen.

          (5) Nâng cao năng lực truyền thông KH&CN. Đẩy mạnh công tác thống kê KH&CN trên địa bàn phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý.

          (6) Chú trọng phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ để có đủ năng lực tiếp thu, làm chủ công nghệ, thiết bị tiên tiến, nghiên cứu KH&CN đáp ứng yêu cầu phát triển. Thu hút đầu tư, phát huy tiềm lực, xã hội hóa đầu tư cho khoa học và công nghệ.

          (7) Coi trọng xây dựng cơ chế thu hút, tập hợp, khai thác và phát huy tiềm lực khoa học và công nghệ, đặc biệt là trí tuệ của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, của các cơ quan, các tổ chức khoa học và công nghệ trung ương, kiều bào ở nước ngoài, các chuyên gia của nước ngoài phục vụ cho sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh.

 

Đưa khoa học và công nghệ thành trụ cột phát triển kinh tế - xã hội

 

          LTS: Trao đổi với Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An nhân Kỷ niệm 60 năm thành lập ngành KH&CN Nghệ An (1959 - 2019), dưới góc nhìn của một chuyên gia, Ông Hồ Xuân Hùng - nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phất triển Nông thôn, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, thành viên Tổ tư vấn kinh tế - xã hội của Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An chia sẻ những đánh giá, nhận định về khoa học công nghệ Nghệ An và góp ý phát triển trong thời gian tới.

PV. Thưa ông Hồ Xuân Hùng, là thành viên tích cực của Tổ tư vấn, ông theo dõi rất sát tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tham gia tích cực vào các hoạt động KH&CN, vậy ông đánh giá như thế nào về kết quả hoạt động của KH&CN tỉnh trong những năm vừa qua?

*   *

*

PV. Thưa ông Hồ Xuân Hùng, là thành viên tích cực của Tổ tư vấn, ông theo dõi rất sát tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tham gia tích cực vào các hoạt động KH&CN, vậy ông đánh giá như thế nào về kết quả hoạt động của KH&CN tỉnh trong những năm vừa qua?

Ông Hồ Xuân Hùng:

          Từ trước Đại hội VI, Đảng ta đã xác định cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt trong ba cuộc cách mạng của thời kỳ khôi phục và kiến thiết đất nước sau thống nhất và suốt từ Đại hội VI (1986) đến nay Đảng ta luôn coi KH&CN là động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững.

          Cùng với cả nước, ngành KH&CN Nghệ An có những đổi mới mạnh mẽ từ xây dựng và thực hiện các mục tiêu, giải pháp mang tính khả thi, thực tiễn, ứng dụng cao. Đổi mới từ công tác tham mưu ban hành các chương trình, chính sách đến các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và công tác quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội tỉnh nhà.

          Các chương trình KH&CN đã tập trung đầu tư quy mô và phục vụ các chương trình trọng điểm, đột phá của tỉnh. Hoạt động nghiên cứu và ứng dụng ngày càng hướng về cơ sở, lấy doanh nghiệp làm đối tượng chính. Ưu tiên các đề tài, dự án mang tính ứng dụng, thực tiễn, khả năng nhân rộng và sản phẩm có tính thương mại hóa cao, nhất là các dự án gắn với doanh nghiệp, hợp tác xã sẵn sàng có chiến lược kinh doanh chế biến ngay trên địa bàn và liên kết với nông dân phát triển thành sản phẩm hàng hóa chất lượng cao.

          Đặc biệt trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp đã tập trung nghiên cứu để tạo ra một số sản phẩm hàng hóa có chất lượng tốt, khối lượng lớn và thương hiệu mạnh từ KH&CN, đã tuyển chọn các giống cây trồng năng suất, chất lượng; Ứng dụng tiến bộ KH&CN phát triển các sản phẩm hàng hóa trên nền các đặc sản và sản phẩm truyền thống địa phương; Bảo tồn và phát triển một số nguồn gen quý phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; Nghiên cứu, tác động KH&CN theo chuỗi giá trị sản phẩm và thương mại hóa sản phẩm chất lượng cao phục vụ tiêu dùng và sản xuất;...

          Trong thời gian qua, Nghệ An cũng là tỉnh đã thực hiện ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao và tạo được sự lan tỏa, trong đó đã hình thành và phát triển được các doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như: Công ty TNHH Mía đường Nasu, TH, Vinamilk, Tổng Công ty cổ phần VTNN Nghệ An, Công ty Vĩnh Hòa, Công ty Nafood...

          - Thực sự KH-CN đã góp phần thay đổi cơ cấu nông nghiệp của tỉnh nhà cả về số lượng, chủng loại và chất lượng cây trồng vật nuôi, làm tăng thu nhập cho nông dân và các nhà đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp.

          - Các lĩnh vực khác như công nghệ thông tin, giáo dục, y tế,... cũng đã ứng dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại mang lại những giá trị thực tiễn cao.

Riêng lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nhiều công trình, dự án lớn được triển khai, hoàn thành; tổ chức các hội thảo chuyên đề với những quan điểm khoa học sâu sắc gợi mở; tư vấn cho tỉnh trong chỉ đạo điều hành và định hướng phát triển của tỉnh.

 

PV. Theo như ông đánh giá thì hoạt động KH&CN đã có những bước tiến nhưng vẫn chưa đạt được như kỳ vọng, vậy để KH&CN trỏ thành lực lượng sản xuất trực tiếp, góp phẩn phát triển kinh tế - xã hội tỉnh, KH&CN cẩn phát huy vai trò động lực như thế nào, thưa ông?

Ông Hồ Xuân Hùng:

          Bên cạnh các thành tựu đã đạt được, nghiêm túc nhìn lại KH&CN tỉnh còn nhiều mặt hạn chế: Vai trò quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ của các cấp, các ngành chưa đổi mới kịp so với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Chưa khai thác và huy động được nguồn nhân lực khoa học, trí thức hiện có trên địa bàn và cả nước. Nguồn lực đầu tư cho phát triển KH&CN chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội, mới chỉ đạt khoảng 0,54%/quy định 2%. Đóng góp và tác động của KH&CN đến sự phát triển kinh tế - xã hội chưa cao. Trình độ công nghệ của doanh nghiệp ở Nghệ An nhìn chung còn thấp, ứng dụng và thu hút dự án ứng dụng CNC chưa tương xứng với tiềm năng, thị trường công nghệ vẫn còn sơ khai. Sản phẩm hình thành chuỗi giá trị để tạo ra hàng hóa có quy mô lớn chưa được nhiều...

          Đối với Nghệ An, để KH&CN trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh, KH&CN cần:

          Một là, cần nâng cao hơn nữa nhận thức của các đồng chí lãnh đạo các cấp từ tỉnh đến cơ sở về vai trò và tác động của KH - CN trong giai đoạn hiện nay, nhất là khi Việt Nam chủ động tham gia vào cuộc cách mạng công nghiệp lẩn thứ 4. Từ đó kịp thời đề ra các chủ trương chính sách đối với hoạt động KH&CN. Trong quá trình triển khai thực hiện, KH&CN phải huy động nguồn nhân lực và tri thức của toàn xã hội. Xây dựng mối quan hệ phối hợp chặt chẽ với các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành, thị, cơ quan nghiên cứu, trường đại học và các nhà khoa. Kết nối được quá trình nghiên cứu ứng dụng từ cơ sở nghiên cứu với đơn vị, doanh nghiệp, hộ dân trong ứng dụng thành quả đó.

          Hai là, hoạt động KH&CN luôn có sự sáng tạo, đổi mới trong công tác quản lý và tổ chức các hoạt động KH&CN. Lựa chọn đúng trọng tâm, trọng điểm, mục tiêu để tổ chức nghiên cứu KH - CN phù hợp.

          Ba là, tập trung xây dựng bộ máy vững mạnh, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ, chú trọng tăng cường tiềm lực KH&CN, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong quản lý, điều hành sẽ thực hiện tốt các nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao phó và nhân dân, doanh nghiệp đang mong muốn.

          Bốn là, coi trọng hợp tác KH&CN trong và ngoài nước, ưu tiên trong hợp tác với cơ sở nghiên cứu, các quốc gia có nhiều tiến bộ khoa học phù hợp với Việt Nam và tỉnh ta.

 

PV: Với vai trò là then chốt, là động lực thì theo ông, trong thời gian tới ngành KH&CN Nghệ An nên phát triển như thế nào?

Ông Hồ Xuân Hùng:

          Theo tôi, phát triển KH&CN Nghệ An cần tập trung ở một số điểm nhấn sau:

          Một là, phải xem phát triển và ứng dụng KH&CN cùng với đào tạo nguồn nhân lực là động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. KH&CN là nội dung then chốt trong mọi hoạt động của các ngành, các cấp, trong đó, sự lãnh đạo của Đảng có vai trò quyết định, năng lực quản lý của nhà nước và tài năng, tâm huyết của các nhà khoa học là điều kiện tiên quyết.

          Hai là, nhân lực KH&CN là nhân tố quyết định cho sự phát triển KH&CN. Đầu tư cho nhân lực KH&CN và đãi ngộ tri thức là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh. Tỉnh Nghệ An cần có chính sách phát triển, phát huy và trọng dụng đội ngũ trí thức KH&CN, và huy động được các nhà khoa học hiện có trên địa bàn Nghệ An, các nhà khoa học là con em Nghệ An ở mọi miền tổ quốc và nước ngoài.

          Ba là, tập trung cho nghiên cứu ứng dụng, coi doanh nghiệp là trung tâm của đổi mới công nghệ, là nguồn cầu quan trọng nhất thúc đẩy phát triển thị trường KH&CN; trong đó doanh nghiệp KH&CN có vai trò đặc biệt quan trọng. Tạo môi trường để các doanh nghiệp ứng dụng thành quả nghiên cứu để mở rộng quy mô kinh doanh, liên kết với doanh nghiệp khác, với HTX, hộ dân.

          Bốn là, chủ động hợp tác và liên kết khu vực, cả nước và quốc tế sâu rộng với định hướng dài hạn và kế hoạch hợp tác trung hạn về KH&CN là giải pháp rất quan trọng, hiệu quả cao để cập nhật tri thức KH&CN tiên tiến của các tỉnh, khu vực, cả nước và quốc tế bổ sung nguồn lực, nâng cao tiềm lực KH&CN của tỉnh.

Năm là, phát triển đồng bộ khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Khoa học xã hội và nhân văn đảm bảo cung cấp kịp thời luận cứ khoa học cần thiết cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển của tỉnh. Khoa học tự nhiên đảm bảo nền tảng hiện đại cho khoa học và công nghệ nói chung, ở một số lĩnh vực đạt trình độ cao của khu vực và trong nước. Khoa học kỹ thuật và công nghệ tập trung làm chủ, ứng dụng và phát triển các công nghệ có ảnh hưởng quyết định đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, tạo ra các sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao.

          Kiên trì và có biện pháp hữu hiệu hình thành đội ngũ cán bộ KH&CN đồng bộ, trình độ cao, trung thực, tận tụy, tâm huyết. Phát triển các tập thể KH&CN mạnh, các nhà khoa học đầu ngành. Phát triển mạnh các doanh nghiệp KH&CN của tỉnh nhà.

Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

Hồ Thủy (Thực hiện)

 

Th.S Trần Quốc Thành

Giám đốc Sở KH&CN Nghệ An

                Ngày 25 tháng 1O năm 1959 Hội Phổ hiến Khoa học - Kỹ thuật Nghệ (An được thành lập, đây là ngày đánh dấu sự ra đời và trở thành ngày truyền thống của ngành Khoa học và Công nghệ Nghệ An. Từ đó đến nay, tên gọi cơ quan đã nhiều lần thay đổi, gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị qua từng thời kỳ: Ban Kỹthuật tỉnh Nghệ An (năm 1961); Ban Khoa học Kỹ thuật tỉnh Nghệ Tĩnh (năm 1976); (Ủy han Khoa học Kỹ thuật tỉnh Nghệ An (năm 1991); Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường (năm 1993) đến Sở Khoa học và Công nghệ ngày nay (2003).

          Ngày đầu mới thành lập, với muôn vàn khó khăn, cơ sở vật chất kỹ thuật thiếu thốn, đội ngũ cán bộ làm công tác khoa học kỹ thuật vừa ít lại vừa thiếu kinh nghiệm, môi trường hoạt động khoa học còn nhiều hạn chế, nhưng Hội Phổ biến KH-KT và Ban Kỹ thuật tỉnh đã cùng với các ngành, các cấp trong tỉnh quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, tập trung làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học, tổ chức giới thiệu, tham quan mô hình và phát động các phong trào thi đua cải tiến kỹ thuật trong sản xuất. Thời kỳ này, tuy hoạt động khoa học và kỹ thuật chưa được triển khai rộng khắp, nhưng đã góp phần quan trọng vào việc đẩy lùi tập quán canh tác lạc hậu, xây dựng nếp làm ăn mới, tiến bộ hơn, góp phần hoàn thành xuất sắc mọi chỉ tiêu của kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất.

          Năm 1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc nước ta. Nghệ An hiên ngang bước vào cuộc đọ sức trực tiếp với kẻ thù, trở thành nơi đầu sóng ngọn gió, tuyến đầu đánh Mỹ của miền Bắc và hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Nam. Các hoạt động khoa học kỹ thuật lúc này được chuyển từ thời bình sang thời chiến. Để đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất và chiến đấu của tỉnh, Ban Kỹ thuật tỉnh chủ trương một mặt hướng dẫn, giúp đỡ các ngành, các địa phương duy trì, và chuyển hướng các hoạt động KH-KT cho phù hợp với chủ trương chuyển hướng kinh tế của Đảng, đồng thời điều hoà phối hợp lực lượng nghiên cứu các đề tài giải quyết dứt điểm một số vấn đề cấp thiết đối với sản xuất chiến đấu và đời sống trước mắt. Mặt khác, xúc tiến công việc chuẩn bị phục vụ cách mạng kỹ thuật sau chiến tranh như tổ chức xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn phát triển KH-KT, phát triển tiềm lực KH-KT, tổ chức tiến hành một số công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu KH-KT và quản lý kỹ thuật có ý nghĩa lớn và lâu dài đối với nền kinh tế quốc dân.

          Sau khi Hiệp định Pari được ký kết (27/01/1973), các hoạt động khoa học kỹ thuật của tỉnh tập trung vào nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, giải phóng đồng ruộng, khôi phục lại các cơ sở sản xuất ở các công, nông trường, xí nghiệp để phát triển sản xuất trong điều kiện tạm thời đình chiến, tiếp tục xây dựng về mọi mặt, dồn sức cho tiền tuyến giành thắng lợi hoàn toàn. Có thể khẳng định rằng những hoạt động KH-KT trong thời kỳ 1959-1975 đã đóng góp tích cực vào ổn định sản xuất, góp phần xây dựng hậu phương vững chắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

          Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước thống nhất, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, 02 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hợp nhất thành tỉnh Nghệ Tĩnh. Ngày 28/01/1976, Ban Khoa học Kỹ thuật tỉnh Nghệ Tĩnh được thành lập và đến năm 1983 được đổi tên thành Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nghệ Tĩnh. Trong 15 năm nhập tỉnh (1976 - 1990) trong bối cảnh đất nước vừa kết thúc chiến tranh, hoạt động khoa học và kỹ thuật của tỉnh lúc này đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách, nhưng với tinh thần chủ động, sáng tạo, vượt khó vươn lên, phát huy mọi nguồn lực hiện có, kết hợp với mở rộng quan hệ hợp tác, tranh thủ sự giúp đỡ của các bộ, ngành Trung ương, sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tích cực triển khai thực hiện nhiệm vụ và nhanh chóng thích ứng với điều kiện hoàn cảnh mới; đã tập trung đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Đặc biệt là tập trung 3 chương trình kinh tế lớn là Chương trình lương thực thực phẩm, Chương trình hàng tiêu dùng và Chương trình hàng xuất khẩu để tạo nhiều sản phẩm cung cấp cho xã hội trong thời kỳ khan hiếm hàng hoá, góp phần giải quyết được những khó khăn trước mắt đồng thời đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội.

          Năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh chia tách thành 02 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Nghệ An được thành lập. Hoạt động khoa học và kỹ thuật thời kỳ này tập trung hướng vào phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, tạo bước chuyển biến mới trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, làm cơ sở cho việc phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp và các lĩnh vực kinh tế xã hội khác. Đến tháng 11/1993, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nghệ An được chuyển thành Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường, ngoài các nhiệm vụ như trước đây còn được bổ sung thêm chức năng quản lý môi trường. Hoạt động khoa học, công nghệ và môi trường của tỉnh đã có sự phát triển rõ nét, nhất là từ sau khi có Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) về "Định hướng chiến lược phát triển KH-CN trong thời kỳ CNH-HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000" khẳng định vai trò động lực của KH&CN đối với sự nghiệp CNH-HĐH và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV nhiệm kỳ 1996 - 2000. Ngành đã bám sát nhiệm vụ chính trị, tình hình kinh tế tỉnh đã đi đúng trọng tâm, trọng điểm phục vụ đắc lực cho các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, thông qua triển khai thực hiện 7 chương trình KH&CN trọng điểm thời kỳ 1996-2000.

          Bước sang giai đoạn mới, khi KH&CN phát triển như vũ bão, đưa lại những tiến bộ phi thường; toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực, thế giới trở nên "phẳng và không biên giới". Khoa học và công nghệ càng thể hiện là nhân tố "quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước" và đã được thể chế hóa trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị TW 6 khóa XI (năm 2012), Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013. Xác định rõ vai trò của KH&CN trong tình hình mới và trên cơ sở định hướng của TW, Nghệ An kịp thời ban hành Nghị quyết 06-NQ/ TU về phát triển KH&CN đến 2020, định hướng đến 2025; UBND tỉnh ban hành quy hoạch phát triển KH&CN đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025. Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 18, nhiệm kỳ 2015 - 2020 xác định xây dựng Nghệ An thành Trung tâm KH&CN vùng Bắc Trung bộ, trọng tâm là nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao các thành tựu KH&CN và công nghệ cao, đào tạo nhân lực phục vụ sản xuất và đời sống, có tầm ảnh hưởng đến các tỉnh trong khu vực. Nhiều chủ trương, chính sách được ban hành và đi vào thực tiễn cuộc sống, trên các lĩnh vực: truyền thông KH&CN, thị trường KH&CN, sở hữu trí tuệ, ứng dụng và phát triển công nghệ cao, sáng tạo KH&CN, bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo... Đây là những định hướng, hành lang pháp lý quan trọng, đồng thời thể hiện sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền và toàn xã hội đối với nhiệm vụ phát triển khoa học và công nghệ.

          Cho đến thời điểm này chúng ta có thể khẳng định rằng, khoa học và công nghệ đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, tỉ trọng đóng góp năng suất của nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GRDP của tỉnh, giai đoạn 2001-2014 đạt 25,1% và giai đoạn 2015-2018 đạt 34,9%.

          Trải qua 60 năm, ngành KH&CN tỉnh đã trưởng thành cả về chức năng, nhiệm vụ lẫn bộ máy tổ chức và cơ chế quản lý. Từ chỗ ban đầu chỉ có 2-3 nhóm nhiệm vụ, với gần 10 cán bộ nhân viên đầu tiên, phần đông còn chưa có trình độ đại học lúc mới thành lập, đến nay Sở KH&CN - là cơ quan chuyên môn giúp việc cho UBND tỉnh làm quản lý Nhà nước về KH&CN, đã được giao đảm nhận trên 20 nhóm nhiệm vụ quản lý nhà nước, có đội ngũ hơn 120 cán bộ công chức, viên chức, KHXH&NV NGHỆ AN - SỔ 10/2019 và người lao động, trong đó trên 90% có trình độ đại học trở lên. Ở các ngành cấp tỉnh có Hội đồng KH&CN ngành và một phòng chuyên môn được giao nhiệm vụ quản lý các hoạt động KH&CN thuộc ngành; Ở các huyện, thành, thị có Hội đồng KH&CN cấp huyện và phòng chuyên môn, cán bộ chuyên trách KH&CN thực hiện công tác quản lý nhà nước về KH&CN trên địa bàn. Đội ngũ cán bộ KH&CN trưởng thành cả về số lượng và chất lượng. Cùng với sự phát triển của đội ngũ cán bộ, các cơ sở nghiên cứu từng bước được đầu tư xây dựng theo hướng hiện đại góp phần nâng cao năng lực KH&CN của tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu, chuyển giao các tiến bộ KH&CN. Dù trong điều kiện thuận lợi hay khó khăn, thời bình hay thời chiến, cùng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ngành KH&CN đã nỗ lực phấn đấu tham mưu và thực hiện các chủ trương, chính sách trong lĩnh vực KH&CN. Thực tế 60 năm qua đã chứng minh vị trí, vai trò và hiệu quả của KH&CN đối với phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và chúng ta có thể khẳng định rằng:

          - Đã tạo được sự chuyển biến quan trọng trong nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể' và nhân dân về vai trò của KH&CN đối với sự phát triển KT-XH của tỉnh.

          - Hoạt động KH&CN luôn bám sát các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương, phối hợp đồng bộ với các cấp, các ngành để' xây dựng chương trình kế hoạch hoạt động sát đúng, triển khai thực hiện kịp thời đáp ứng nhu cầu về phát triển sản xuất, đời sống và mở rộng quan hệ hợp tác KH&CN trong và ngoài nước.

          - Hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng KH&CN có nhiều đổi mới, nghiên cứu, tổng kết khoa học và thực tiễn cung cấp các luận cứu cho việc hoạch định các chủ trương, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành, của tỉnh trong các thời kỳ. Thực hiện tốt việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông nghiệp, nông thôn; công nghiệp, xây dựng, giao thông, các kỹ thuật y cao, hiện đại phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Xây dựng và phát triển các ngành công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và năng lượng mới. Các nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH&NV đã mang đến một số nhận thức mới, cách tiếp cận mới, giải pháp mới và thay đổi một số cơ chế chính sách, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Công tác phản biện khoa học đối với các cơ chế chính sách, các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An được quan tâm. Huy động được trí tuệ của các tổ chức, đội ngũ trí thức KH&CN trong và ngoài tỉnh.

          - Các hoạt động trên các lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng, quản lý công nghệ, sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ hạt nhân, truyền thông KH&CN, thanh tra KH&CN đã có những đóng góp quan trọng vào việc nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ Nghệ An, giúp cho nhiều doanh nghiệp xây dựng và quảng bá thương hiệu; xây dựng kỷ cương, văn minh trong kinh doanh, thương mại, đấu tranh chống hàng giả, hàng kém chất lượng, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

          - Với định hướng lấy doanh nghiệp làm chủ thể, việc xã hội hoá đầu tư cho khoa học và công nghệ được mở rộng, với sự tham gia ngày càng nhiều của các ngành, các cấp, các tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng nhân dân. Hệ thống tổ chức các trung tâm nghiên cứu ứng dụng được cải tiến đổi mới, cơ sở vật chất không ngừng được đầu tư phát triển. Hiện nay toàn tỉnh có 71 đơn vị là các tổ chức KH&CN trên địa bàn có tham gia hoạt động nghiên cứu triển khai; 1 DN nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và 9 doanh nghiệp KH&CN. 

          - Hoạt động KH&CN của các ngành, huyện, thị xã, thành phố tiếp tục phát triển cả về phạm vi, qui mô ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật phục vụ sản xuất và đời sống, mang lại kết quả thiết thực, nhận thức và khả năng ứng dụng KH&CN của người dân trong thời gian qua tăng lên rõ rệt.

          - Thị trường công nghệ của tỉnh và hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo bước đầu được hình thành và đạt được những kết quả khả quan.

          - Hợp tác khoa học và công nghệ được chú trọng để tranh thủ sự giúp đỡ về trí tuệ, nhằm triển khai ứng dụng nhanh, có hiệu quả các thành tựu KH&CN. Thông qua các mối quan hệ hợp tác, năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ của tỉnh ngày càng được bổ sung, phát triển; hiệu quả chất lượng của công tác nghiên cứu ứng dụng ngày càng được nâng lên, giải quyết được nhiều vấn đề bức xúc đang đặt ra cho thực tiễn sản xuất và đời sống.

          Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong 60 năm qua, nghiêm túc nhìn lại KH&CN tỉnh nhà vẫn còn những hạn chế: Vai trò quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ của các cấp, các ngành chưa đổi mới kịp so với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Nguồn lực đầu tư cho phát triển KH&CN chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội. Đóng góp và tác động của KH&CN đến sự phát triển kinh tế xã hội chưa như mong đợi. Trình độ công nghệ của doanh nghiệp ở Nghệ An nhìn chung còn thấp, năng lực ứng dụng và thu hút dự án ứng dụng công nghệ cao chưa tương xứng với tiềm năng, thị trường công nghệ vẫn còn sơ khai. Sản phẩm hình thành chuỗi giá trị để tạo ra hàng hóa, có quy mô lớn chưa được nhiều, sức lan tỏa thấp. Tính kết nối giữa kết quả hoạt động KHCN với các nguồn lực sự nghiệp kinh tế nhằm nhân rộng mô hình ở một số ngành, huyện, thị chưa tốt và chưa tập trung. Hoạt động sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng chưa phát huy được tác dụng mạnh mẽ, nhất là trong bối cảnh hội nhập hiện nay. Hoạt động KH&CN của các ngành và cấp huyện chưa ngang tầm. Đội ngũ cán bộ KH&CN chưa mạnh, thiếu chuyên gia giỏi ở một số ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, lực lượng đội ngũ KH&CN triển khai ứng dụng chưa mạnh.

          Cùng với cả nước, Nghệ An đang thời kỳ tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH trong bối cảnh xu hướng hội nhập quốc tế và khu vực ngày càng sâu rộng; Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng, làm thay đổi bối cảnh toàn cầu, mở ra nhiều cơ hội cũng như thách thức to lớn cho các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam. Thu hút các nguồn lực, tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ thế giới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, rút ngắn khoảng cách phát triển hoặc tụt hậu ngày càng xa hơn. Do đó, một trong những giải pháp chính để phát triển nền kinh tế - xã hội là phải đặt mối quan tâm đúng mức đến công tác khoa học và công nghệ. Thời gian tới, trước nhu cầu thực tiễn, nắm bắt cơ hội, định hướng khoa học và công nghệ tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây nhằm tạo động lực mạnh mẽ, thúc đẩy tăng trưởng có tính đột phá:

          (1) Đổi mới cơ chế quản lý và hoạt động khoa học và công nghệ một cách năng động, sáng tạo, hiệu quả, góp phần để "Khoa học và công nghệ thực sự là động lực quan trọng nhất để nâng cao sức mạnh tổng hợp trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh". Vận dụng linh hoạt mọi thuận lợi và khó khăn để phát triển KH&CN gắn với các quy hoạch, kế hoạch và chương trình phát triển của tỉnh.

          (2) Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Bảo đảm cung cấp luận cứ khoa học cho các chủ trương, chính sách, các quy hoạch, kế hoạch và chương trình phát triển của tỉnh. Thúc đẩy nhanh lộ trình đổi mới công nghệ theo hướng đi thẳng vào công nghệ tiên tiến, hiện đại. Gắn với ứng dụng thực tiễn, gắn với doanh nghiệp, tạo được một số sản phẩm hàng hóa có chất lượng tốt, khối lượng lớn và thương hiệu mạnh từ KH&CN. Ưu tiên đầu tư chuỗi giá trị một số sản phẩm chủ lực và có lợi thế của tỉnh. Tập trung lồng ghép các nguồn lực để tác động khoa học và công nghệ cho một số sản phẩm chiến lược của tỉnh, nhất là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và dược liệu. Ưu tiên một số lĩnh vực trọng điểm: nông nghiệp CNC, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và khoa học xã hội và nhân văn. Tập trung nguồn lực nhằm hỗ trợ khai thác tiềm năng miền Tây Nghệ An. Áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật của Việt Nam và quốc tế đối với sản phẩm hàng hóa của tỉnh để đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển.

          (3) Phát triển thị trường KH&CN, đổi mới công nghệ và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo: Hỗ trợ thương mại hóa sản phẩm KH&CN và các hoạt động xúc tiến thị trường, tìm kiếm, môi giới, mua, bán công nghệ thông qua các hoạt động điểm kết nối cung cầu, hội chợ công nghệ thiết bị, sàn giao dịch thiết bị công nghệ nhằm giới thiệu các công nghệ thiết bị và công nghệ mới cho doanh nghiệp. Xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ đối với sản xuất sản phẩm chủ lực của tỉnh. Thí điểm hình thành vườn ươm công nghệ, hỗ trợ hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp và ươm tạo doanh nghiệp. Phát triển doanh nghiệp KH&CN. Đổi mới sáng tạo bao gồm đổi mới cả sản phẩm, đổi mới công nghệ, đổi mới tư duy và mô hình kinh doanh theo chuỗi trên cơ sở nền tảng 4.0.

          (4) Tăng cường đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước về KH&CN: Rà soát và tham mưu các cơ chế, chính sách phát triển KH&CN. Nâng cao chất lượng đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ, ưu tiên những đề tài nghiên cứu thiết thực, có chất lượng cao, ứng dụng có hiệu quả vào thực tiễn cuộc sống và sản xuất. Từng bước triển khai cơ chế khoán đầu ra trong thực hiện các đề tài dự án KH&CN. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả về quản lý của nhà nước đối với tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng. Đẩy mạnh công tác thanh tra chuyên ngành về tiêu chuẩn đo lường chất lượng, đặc biệt là các sản phẩm xã hội đang quan tâm như: lương thực thực phẩm, nước, dược phẩm, vật tư nông nghiệp, xăng dầu... Đẩy mạnh hoạt động thẩm định công nghệ, xác lập, khai thác phát triển tài sản trí tuệ và bảo tồn, khai thác, phát triển quỹ gen.

          (5) Nâng cao năng lực truyền thông KH&CN. Đẩy mạnh công tác thống kê KH&CN trên địa bàn phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý.

          (6) Chú trọng phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ để có đủ năng lực tiếp thu, làm chủ công nghệ, thiết bị tiên tiến, nghiên cứu KH&CN đáp ứng yêu cầu phát triển. Thu hút đầu tư, phát huy tiềm lực, xã hội hóa đầu tư cho khoa học và công nghệ.

          (7) Coi trọng xây dựng cơ chế thu hút, tập hợp, khai thác và phát huy tiềm lực khoa học và công nghệ, đặc biệt là trí tuệ của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, của các cơ quan, các tổ chức khoa học và công nghệ trung ương, kiều bào ở nước ngoài, các chuyên gia của nước ngoài phục vụ cho sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh.

 

Giải thưởng Sáng tạo Khoa học và Công nghệ Nghệ An: động lực cho các nhà nghiên cứu

Th.S Hồng Bắc

          Sáng tạo Khoa học và Công nghệ Nghệ An là giải thưởng lớn nhất về KH&CN của tỉnh được tổ chức hàng năm (bắt đầu từ năm 2011 thì tỉnh thay đổi 3 năm tổ chức một lần), giải thưởng được xét tặng nhằm tôn vinh các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, đội ngũ trí thức và những người lao động sáng tạo nên những công trình có giá trị về khoa học và công nghệ, có hiệu quả ứng dụng cao trong đời sống và sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội của tỉnh.

          Được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2000, đến nay, giải thưởng sáng tạo KH&CN đã góp phần khơi dậy, động viên các tầng lớp nhân dân không ngừng lao động sáng tạo, cải tiến và ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống. Cùng với đó phong trào lao động sáng tạo được tổ chức sâu rộng hơn trong các đơn vị, cơ quan, trường học, bệnh viện,... qua đó đã có hàng trăm công trình được nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả trong thực tế. Và từ đó đến nay đã công nhận và trao 343 công trình đạt giải thưởng sáng tạo KH&CN thuộc các lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp, y dược, khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục, quốc phòng, an ninh,... Trong các lĩnh vực được trao giải thưởng sáng tạo khoa học thường niên, lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn tuy chiếm tỷ lệ chưa cao, nhưng các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này đã đóng góp phần nào cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

          Lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn là một lĩnh vực khá đặc thù, các kết quả, các thành tựu nghiên cứu về lĩnh KHXH&NV ít có biểu hiện bề nổi như thành tựu của KHKT, tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, những nghiên cứu về lĩnh vực này đã được các nhà nghiên cứu có sự điều chỉnh để thích nghi với sự thay đổi của đời sống xã hội, giải quyết các vấn đề của xã hội, kinh tế và văn hóa. Các nghiên cứu ngày càng thực tiễn, đáp ứng các nhu cầu của xã hội hiện nay.

          Nghệ An là một tỉnh có bề dày về giá trị truyền thống lịch sử và nhân văn với những bản sắc riêng; cũng là vùng đất sớm hình thành đội ngũ những nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn tài năng, tâm huyết đã để lại cho hậu thế những công trình giá trị về lịch sử, văn hóa, vùng đất và con người Nghệ An. Chính trầm tích văn hóa và tính cách con người Nghệ là mãnh đất màu mỡ để sớm phát triển KHXH&NV. Trong các chương trình nghiên cứu trọng điểm, Nghệ An xây dựng chương trình KHXH&NV để định hướng cho việc nghiên cứu, ứng dụng trong lĩnh vực này. Các nghiên cứu tập trung vào những vấn đề thiết thực của thực tiễn, hạn chế những đề tài chỉ dừng lại ở luận cứ hay giải pháp chung chung, mà ưu tiên cho những đề tài có thể giải quyết được những yêu cầu cụ thể của cuộc sống. Có thể kể đến một số đề tài, một số nghiên cứu đi theo hướng này như: Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh (tác giả: Nguyễn Nhã Bản và cộng sự); đề tài Xung đột xã hội phát sinh trong quá trình đổi mới ở Nghệ An, giải pháp ngăn ngừa và xử lý nhằm bảo đảm an ninh quốc gia (tác giả Phạm Xuân Cần); đề tài nghiên cứu bảo tồn văn hóa của người Ơ Đu; đề tài xóa nghèo cho người Khơ Mú, đề tài nghiên cứu dạy chữ Thai hệ Lai Tay.

          Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả xin lược đăng một số công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đạt giải thưởng sáng tạo khoa học và công nghệ tỉnh Nghệ An và có tính ứng dụng cao trong thực tiễn trong những năm gần đây.

          Giải Nhì Giải thưởng sáng tạo KH&CN Nghệ An năm 2007: Công trình "Xung đột xã hội phát sinh trong quá trình đổi mới ở Nghệ An, giải pháp ngắn ngừa và xử lý nhằm bảo đảm an ninh quốc gia" của tác giả Phạm Xuân Cần

          Công trình Xung đột xã hội phát sinh trong quá trình đổi mới ở Nghệ An, giải pháp ngăn ngừa và xử lý nhằm bảo đảm an ninh quốc gia của tác giả Phạm Xuân Cần là công trình đầu tiên của Việt Nam vận dụng lý luận về xung đột xã hội của xã hội học hiện đại để tiếp cận thực tiễn tranh chấp xung đột, làm phát sinh các "điểm nóng" về an ninh xã hội ở nước ta, mà Nghệ An là một địa phương cụ thể. Công trình đã tập trung nghiên cứu và giải quyết những nội dung chủ yếu sau:

          1. Hệ thống hóa và trình bày một cách tổng quát những vấn đề lý luận chung về xung đột xã hội. Tiếp cận hiện tượng xung đột xã hội dưới góc độ của thuyết xung đột, tác giả đã chỉ ra những vấn đề có tính bản chất của xung đột xã hội. Bên cạnh đó, với tinh thần tiếp thu có phê phán, tác giả cũng đã so sánh thuyết xung đột với các lý thuyết xã hội học khác và với chủ nghĩa duy vật lịch sử. Qua đó tích hợp các hạt nhân hợp lý, để có một cái nhìn khách quan, khoa học về vấn đề nghiên cứu.

          2. Trên cơ sở lý luận chung về xung đột xã hội, tác giả đã vận dụng để khảo sát, nghiên cứu thực trạng mâu thuẫn, tranh chấp, dẫn đến xung đột, hình thành các điểm nóng về an ninh xã hội phát sinh trong quá trình đổi mới ở Nghệ An. Không chỉ cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về thực trạng này, mà với cách tiếp cận mới về lý luận, công trình đã phân tích sâu sắc thực tiễn, khái quát thành những vấn đề có tính quy luật của xung đột phát sinh trong quá trình đổi mới ở Nghệ An. Căn cứ vào nguyên nhân trực tiếp, tác giả đã phân chia xung đột xã hội ở Nghệ An thành 5 loại; Mô tả đặc điểm và mô hình hóa thành công thức diễn biến của từng loại. Từ đó khái quát những vấn đề có tính quy luật, hay là đặc điểm của xung đột xã hội phát sinh ở Nghệ An. Những khái quát này vừa sát thực tiễn, vừa có giá trị lý luận sâu sắc. Trên cơ sở chủ nghĩa duy vật lịch sử, tiếp thu những hạt nhân hợp lý của thuyết xung đột và một số lý thuyết xã hội học khác, tác giả đưa ra cách đánh giá mới mẻ về vai trò của xung đột, trong đó không chỉ đơn thuần nhấn mạnh đến yếu tố tiêu cực. Về khía cạnh an ninh xã hội, tác giả kết luận rằng xung đột là một vấn đề an ninh rất đặc biệt, nó phát sinh không phải từ các yếu tố ngoại lai, mà phát sinh bởi chính các yếu tố nội sinh của xã hội. Chính vì vậy, cơ chế ngăn ngừa và chữa trị căn bệnh "nội thương xã hội" này rất khác.

          3. Từ những lý luận chung về giải quyết xung đột, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, công trình đề xuất một hệ thống các quan điểm và giải pháp ngăn ngừa và xử lý xung đột. Thừa nhận sự tồn tại và đánh giá đúng vai trò của mâu thuẫn và xung đột, nhưng cũng phải đảm bảo sự ổn định để phát triển. Cần quán triệt phương châm coi trọng ngăn ngừa không để phát sinh xung đột, khi xung đột xảy ra thì phải tìm cách thu nhỏ, không để kéo dài, lây lan. Tuy nhiên, đây không phải là một sự thỏa hiệp xã hội vô nguyên tắc, mà là cố gắng giải quyết sớm, hợp tình hợp lý các mâu thuẫn bằng con đường phi xung đột. Trong đó kiên trì vận động, thương lượng và quản lý là phương thức chủ yếu để xử lý mâu thuẫn và xung đột.

          Nguyên nhân sâu xa của xung đột xã hội là sự bất bình đẳng xã hội, chính vì vậy giải pháp ngăn ngừa xung đột xã hội quan trọng nhất cố nhiên cũng chính là tìm cách quản lý sự phân tầng xã hội, mà trước hết là sự phân hóa giàu nghèo. Tuy nhiên để giữ ổn định xã hội cần phải quản lý sự phân hóa này về mức độ phân hóa, về tốc độ phân hóa, về nguyên nhân phân hóa, nhất là chống tham nhũng, hạn chế giàu lên bất chính bằng tham nhũng.

          Bên cạnh đó phải xây dựng và hoàn thiện dần một hệ thống tiếp nhận, đánh giá, phản hồi và xử lý ý kiến của nhân dân và dư luận xã hội, không để tích tụ sự căng thẳng xã hội một cách không cần thiết, đồng thời xây dựng thiết chế dân chủ và thực hành dân chủ ở cơ sở cũng là một bí quyết ngăn ngừa xung đột.

          Theo hướng thể chế hóa xung đột, tác giả cũng đề xuất cần phải xây dựng, hoàn thiện và đưa vào cuộc sống pháp luật về xung đột xã hội. Thực tiễn đang đòi hỏi phải có các quy định pháp luật về lập hội, biểu tình, về bãi công, về tình trạng khẩn cấp,... để từng bước quản lý các hoạt động này theo pháp luật. Đó là giải pháp để hạn chế đến mức thấp nhất sự vô chính phủ và những hành động vô thức nhưng hết sức nguy hiểm thường phát sinh trong xung đột. Theo đó chính quyền và các cơ quan chức năng cũng phải xây dựng các phương án, rèn tập các kỹ năng để chủ động ngăn ngừa cũng như xử lý kịp thời, chính xác các vụ tranh chấp xung đột. Đề tài cũng đã xây dựng một quy trình nghiệp vụ cho việc xử lý xung đột.

          Đánh giá cao những đóng góp về lý luận và thực tiễn, đặc biệt là tính mới mẻ trong phương pháp tiếp cận và nghiên cứu vấn đề, đề tài đã được Hội đồng Khoa học của Bộ Công an xếp loại xuất sắc. Viện Chiến lược và Khoa học Bộ Công an, Nhà xuất bản CAND đã xuất bản công trình này làm tài liệu nghiên cứu và ứng dụng trong toàn quốc. Từ chỗ là một vấn đề lý luận "nhạy cảm", hiện nay một số khái niệm, thuật ngữ mới mà công trình đề xuất đã trở nên thông dụng. Công trình cũng đã và đang được ứng dụng khá rộng rãi trong thực tiễn.

          Giải Nhất Giải thưởng Sáng tạo KH&CN Nghệ An năm 2011: Công trình "Sách Địa lý tỉnh Nghệ An" của tác giả Trần Kim Đôn

          Tác giả đã thu thập, tham khảo tài liệu, tổng hợp tư liệu từ các ngành, điền dã nhiều địa bàn dân cư, danh lam thắng cảnh, công trình kinh tế kỹ thuật trong tỉnh: ven sông Cảm, thượng nguồn sông Giăng, đảo Song Ngư, thủy điện Bản Vẽ, lên đỉnh Đại Can, vườn quốc gia Pù Mát, cửa khẩu Nậm Cắn, tiểu vùng á ôn đới Mường Lống, các bản làng người Thái, Thổ, Mông,. để biên soạn và xuất bản công trình "Địa lý tỉnh Nghệ An".

          Sách "Địa lý tỉnh Nghệ An" dày 540 trang, khổ 14,5 x 20,5 cm viết về: danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa, công trình kết cấu hạ tầng, công nghiệp, đô thị, nông lâm thủy sản, dịch vụ, du lịch,... Nội dung cuốn sách được trình bày theo hai phần lớn:

          Phần Địa lý tỉnh Nghệ An gồm các mục: Địa lý tự nhiên, Địa lý dân cư và nhân văn; Địa lý kinh tế nông lâm thủy sản; công nghiệp dịch vụ, giao thông vận tải và thông tin truyền thông.

          Phần Phụ lục là hình ảnh minh họa và kiến thức mở rộng giúp cho việc đi sâu tìm hiểu về địa chính trị, địa văn hóa,. của địa phương như người Việt cổ, địa danh Nghệ An qua các thời kỳ lịch sử, danh lam thắng cảnh, di tích, công trình, biển đảo Nghệ An; Các bản đồ, biểu bảng, đặc biệt là hình ảnh được đưa vào trong sách tương đối nhiều, tạo nên sự sinh động, hấp dẫn, giúp cho người đọc thấy được sự phong phú và tươi đẹp của quê hương Nghệ An.

          Có thể nói đây là công trình khoa học về địa lý tỉnh Nghệ An, chưa tác giả nào biên soạn, lần đầu tiên xuất bản với tư liệu thông tin mới nhất, đầy đủ nhất về địa lý tự nhiên, địa lý dân cư, địa lý kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, bảo vệ môi trường. Cuốn sách là kết quả của sự chắt lọc kiến thức cơ bản về tự nhiên, dân cư, nhân văn, kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và cung cấp các tư liệu mới nhất trong điều kiện có thể, trên cơ sở vận dụng quan điểm lãnh thổ, tổng hợp, hệ thống sinh thái, lịch sử và dự báo trong khuôn khổ tìm hiểu và nghiên cứu địa lý tỉnh Nghệ An.

          Đặc biệt, đây là công trình được đánh giá cao về mặt hiệu quả xã hội. Công trình đã đáp ứng yêu cầu của cán bộ khoa học và mọi người dân tìm hiểu hoặc nghiên cứu về địa lý Nghệ An, là tư liệu cốt lõi giúp cho các tác giả ở khoa Địa lý, trường Đại học Vinh biên soạn sách "Địa lý tỉnh Nghệ An" trong bộ "Nghệ An toàn chí"; giúp các đơn vị quy hoạch, các đơn vị tư vấn khảo sát thiết kế, xã hội và nhân văn; giúp cho việc giảng dạy học sinh phổ thông về địa lý ở địa phương; là tài liệu tham khảo cho các khóa luận, luận văn tốt nghiệp đại học, cao học liên quan đến lĩnh vực địa lý của tỉnh Nghệ An. Hiện nay, cuốn sách vẫn là tài liệu khoa học được dùng trong công tác học tập, giảng dạy ở bậc phổ thông và cũng là tài liệu đọc cho nhiều độc giả khác nhau.

Công trình đạt giải Đặc biệt Giải thưởng Sáng tạo khoa học và công nghệ Nghệ An năm 2017: "Nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn tài liệu và tổ chức dạy học chữ Thái hệ Lai Tay" của tác giả Sầm Văn Bình và cộng sự

          Chữ Thái, trong đó có chữ Thái hệ Lai Tay ở huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An là phương tiện ghi chép và lưu giữ thông tin về kinh tế, xã hội và văn hóa của đồng bào người Thái, vì thế đây là một di sản văn hóa quý không chỉ của người Thái mà còn là di sản văn hóa của cả dân tộc. Hiện kho tàng các tài liệu viết bằng chữ Thái đang chứa đựng rất nhiều trầm tích văn hóa lịch sử quý báu. Tuy nhiên, số lượng người biết đọc, biết viết và sử dụng chữ Thái ngày càng ít đi, trong khi nhu cầu tìm hiểu, khám phá, "giải mã" những vấn đề về văn hóa lịch sử trong các văn tự cổ ngày càng cao. Do đó công trình Nghiên cứu, sưu tẩm, biên soạn tài liệu và tổ chức dạy học chữ Thái hệ Lai Tay của tác giả Sầm Văn Bình và cộng sự thực sự là tài liệu quý để làm sáng tỏ về bản chất khoa học của ngữ âm tiếng Thái Nghệ An trong sự gắn kết với lịch sử chữ Thái hệ Lai Tay; đáp ứng nguyện vọng của người dân Thái Nghệ An muốn tìm hiểu về bản chất khoa học của chữ viết dân tộc mình.

          Công trình đã thực hiện được các nội dung cụ thể như: Biên soạn xong bộ tài liệu dạy học chữ Thái hệ Lai Tay gồm 5 cuốn theo từng chủ đề: Tài liệu giáo khoa hệ chữ Lai-Tay; Ngữ pháp chữ Thái hệ Lai-Tay; Sách tham khảo chữ Thái Lai-Tay; Bài tập chữ Thái hệ Lai-Tay; Từ vựng chữ Thái hệ Lai-Tay. Bộ sách này đã được in và được sử dụng rộng rãi ở các lớp học chữ Thái hiện nay.

          Công trình cũng đã thiết kế thành công 5 font chữ Thái (đó là các font chữ Thái thuộc các hệ chữ Thái Lai-Tay, Lai-Xư-Thanh và Lai-Pao được sử dụng rộng rãi trong các nhóm Thái của tỉnh Nghệ An) được cài đặt và sử dụng trên máy tính, hiệu quả cho việc soạn thảo các tài liệu và văn bản phục vụ việc học tập, tìm hiểu chữ Thái trên địa bàn tỉnh; được sử dụng để số hóa các tài liệu viết tay chữ Thái, sử dụng trong các tài liệu báo chí, tạp chí, tập san để tuyên truyền cổ động. Các font chữ này được sử dụng cho chuyên mục "Bảo tồn vốn cổ" của Báo Nghệ An cuối tuần.

          Đây là công trình được thực hiện đầu tiên trên địa bàn tỉnh Nghệ An cũng như trên toàn quốc. Việc nghiên cứu, tìm ra quy luật về ngữ âm tiếng Thái, chữ Thái đều tuân theo quy luật ngôn ngữ phổ biến dựa trên đặc điểm riêng của nhóm ngôn ngữ Tày-Thái. Sản phẩm bộ Tài liệu dạy học chữ Thái dùng để giảng dạy trong quá trình nhân rộng mô hình, cả giáo viên và học sinh đều có thể sử dụng, những đối tượng quan tâm, muốn tìm hiểu chữ Thái Lai-Tay hoặc tìm hiểu về văn hóa đặc sắc của dân tộc Thái ở Nghệ An. Đưa chữ Thái Lai- Tay từ chỗ có nguy cơ là "từ ngữ", trở thành một sinh ngữ, được nhiều người biết đến và sử dụng trong đời sống cộng đồng.

          Đây cũng là công trình có giá trị đặc biệt sức to lớn và sâu sắc về văn hóa, xã hội; góp phần quan trọng trong công tác phục hồi, bảo tồn và phát huy một giá trị đặc biệt trong việc nghiên cứu văn hóa Thái và truyền dạy chữ Thái trong cộng đồng. Đã thúc đẩy việc đưa chữ Thái vào đời sống hàng ngày, nhất là trong tuyên truyền giáo dục về văn hóa, trong lễ hội.

          Cho đến nay, việc truyền dạy chữ Thái vẫn được tác giả Sầm Văn Bình tiến hành song song ở cả ba kênh: trực tiếp dạy theo kế hoạch của Câu lạc bộ chữ Thái hoặc của UBND xã (như Châu Cường, Châu Quang); dạy tại lớp đào tạo giáo viên cho Dự án Lai-Tay và các lớp cộng đồng; dạy chữ Thái theo kế hoạch của các Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh và ở Trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện như Quỳ Hợp, Anh Sơn, Tân Kỳ, Con Cuông.

          Từ cuối năm 2018, Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Nghệ An đã làm hồ sơ đề nghị đưa chữ Thái thành di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Hy vọng và tin tưởng rằng, chữ Thái, ngôn ngữ Thái và rất nhiều giá trị truyền thống khác, bằng cách này hay cách khác, cũng sẽ là đề tài lớn để những người có tâm huyết đi sâu vào nghiên cứu để có những giải pháp giữ gìn, bảo tồn và phát huy.

          Có thể nói Giải thưởng Sáng tạo Khoa học và Công nghệ đã trở thành động lực động viên, khuyến khích các nhà khoa học, các nhà sáng tạo, mọi người dân say mê nghiên cứu khoa học trong tỉnh hăng say đóng góp trí tuệ của mình cho sự nghiệp phát triển khoa học công nghệ và góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong đó, lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn tiếp tục được các nhà nghiên cứu, nhà khoa học nỗ lực và bền bỉ phát hiện, tìm tòi nghiên cứu những vấn đề mới về vai trò của văn hóa, lịch sử, con người và các nhân tố tạo nên sự phát triển bền vững, tác động vào quá trình thay đổi nhận thức và hành vi, bồi đắp trí tuệ của con người Nghệ An trong xã hội hiện đại; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của tỉnh nhà. Bên cạnh đó, tính ứng dụng vào thực tiễn của các nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn ngày càng được chú trọng, quan tâm và kết quả nhiều công trình nghiên cứu đã được ứng dụng trong thực tiễn là minh chứng cho việc chuyển hướng nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay.

 

Start up - Nơi thực hiện hóa các ý tưởng, dự án khởi nghiệp

Hoàng Anh

          Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo - Start up, nghĩa là khởi nghiệp từ những ý tưởng mới, những mô hình mới, những kết quả khoa học công nghệ mới, sau đó nhanh chóng phát triển thành doanh nghiệp để cạnh tranh toàn cầu và được đầu tư nhanh chóng.

          Theo đánh giá không chính thức của Diễn đàn Khởi nghiệp trẻ 6, tính đến hết năm 2018, 30 Việt Nam có khoảng trên 3.000 doanh nghiệp khởi nghiệp và phần lớn trong số đó là các doanh nghiệp công nghệ, được thành lập trong khoảng 4 năm tính đến thời điểm tiến hành khảo sát sơ bộ (2016). Riêng khu vực Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh là khu vực có nhiều tiềm năng để phát triển khởi nghiệp, tuy nhiên vẫn chưa tạo lập được cơ sở nền tảng vững chắc và đà phát triển mạnh để vươn lên, tạo bứt phá phát triển. Lực lượng doanh nghiệp khá đông nhưng chủ yếu doanh nghiệp nhỏ, tiềm lực yếu; đây là vùng đất học nhưng hiện tượng "chảy máu chất xám" rất cao vì môi trường Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (KN ĐMST) khu vực này chưa thực sự năng động; môi trường sống, tâm lý giới trẻ ngại thay đổi, không dám bứt phá, mạo hiểm để khẳng định mình; sân chơi KN ĐMST ở khu vực này còn hạn chế, chưa tạo được động lực mạnh mẽ cho các nhà đầu tư; số lượng ý tưởng, đề tài, dự án về KN ĐMST chưa thực sự mới và có sức lan tỏa cao.

          Năm 2018, thông qua Đề án 844 của Bộ KH&CN, cuộc thi khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Nghệ An chính thức phát động, và sau hơn 4 tháng ban tổ chức đã nhận được gần 100 hồ sơ tham gia. Qua các vòng thi, hội đồng xét thưởng cấp tỉnh đã đề nghị UBND tỉnh khen thưởng 10 công trình gồm: 1 giải nhất, 2 giải nhì, 3 giải ba, và 4 giải khuyến khích thuộc các lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, công nghệ thông tin, giáo dục và đào tạo. Tổng số tiền thưởng trao cho các công trình là 195 triệu đồng. Tiếp nối thành công, năm 2019, sau 5 tháng phát động cuộc thi, Ban tổ chức đã nhận được 51 dự án, ý tưởng khởi nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, y tế, du lịch, môi trường,... Qua vòng chấm sơ khảo, hội đồng chấm giải đã chọn 20 dự án tham gia thuyết trình vòng chung kết, sau đó chọn ra 10 dự án xuất sắc để trao giải. Trong đó có 1 giải nhất, 2 giải nhì, 3 giải ba và 4 giải khuyến khích; Trong 2 năm phát động cuộc thi KNĐMST đã có 18 dự án, ý tưởng khởi nghiệp tiềm năng được ban tổ chức chọn, ký cam kết hợp tác đầu tư nhằm hoàn thiện, khai thác, quảng bá, phát triển các ý tưởng, sản phẩm của dự án.

Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi xin giới thiệu một số ý tưởng, dự án tiềm năng được quỹ đầu tư Vietnam Silicom Valley (VSA) và Vietnam Silicom Valley Accelerator (VSVA) ký cam kết hợp tác hỗ trợ đầu tư: Dự án Nâng cao giá trị cam Vinh thông qua phát triển sản phẩm chế biến và du lịch trải nghiệm vườn cam (2018); GoStream, Gostudio - Đài truyền hình 4.0; Ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất chế biến gia vị, hương liệu hữu cơ - Lala Land và Tinh hoa Thai hội tụ và phát triển - Lê Đông Homestay (2019).

Dự án: Nâng cao giá trị cam Vinh thông qua phát triển sản phẩm chế biến và du lịch trải nghiệm vườn cam - Công ty CP trang trại nông sản Phủ Quỳ, xã Minh Hợp, huyện Quỳ Hợp

          Sinh ra và lớn lên từ vùng đất có truyền thống trồng cam, nhận thấy cây cam - cây trồng chủ lực của địa phương đang dần giảm chất lượng, tình trạng lạm dụng hóa chất trong phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tại vùng trồng cam ngày càng đáng báo động, giá trị thu lại trên cùng một diện tích canh tác cam ngày càng thấp do chất lượng và sản lượng ngày càng giảm sút, từ thực tế đó, đội ngũ những người trẻ của công ty mong muốn tìm ra giải pháp để nâng cao giá trị của cam Vinh, nhằm giảm thiểu lượng hóa chất, gia tăng khí oxy, tiết kiệm nguồn nước, bảo vệ môi trường vào bảo vệ tính đặc sản riêng có của cây cam Vinh. Đồng thời mong muốn giúp nông dân tiết kiệm được 30% sản lượng cam phải đổ bỏ đi hàng năm, quảng bá hình ảnh của đặc sản cam Vinh thông qua các sản phẩm chế biến và dịch vụ du lịch sinh thái, hướng tới xuất khẩu và xuất khẩu tại chỗ.

          Dự án được chính thức bắt đầu từ năm 2016, với 3 hợp phần: Xây dựng vùng nguyên liệu cam sinh thái; Xây dựng xưởng và sản xuất sản phẩm chế biến từ cam để đưa ra thị trường và Xây dựng và quy hoạch vùng du lịch vườn cam sinh thái để đón khách tham quan. Đối với vùng nguyên liệu cam sinh thái, dự án đã triển khai thí điểm vườn cam sinh thái, hoàn toàn không sử dụng hóa chất, đến thời điểm 2018 là 2 năm và đã bắt đầu cho thu hoạch; hoàn thiện bộ hướng dẫn tiêu chuẩn kỹ thuật trồng cam sinh thái để tập huấn, hướng dẫn cho 29 hộ nông dân với 50 ha trong vùng nguyên liệu liên kết với công ty. Đối với sản phẩm chế biến, năm 2017, được sự giúp đỡ của chuyên gia Hà Lan và tổ chức Jica, Công ty đã có điều kiện thử nghiệm, để nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo tiêu chuẩn khắt khe hơn nhằm hướng đến xuất khẩu. Lô hàng thử nghiệm đầu tiên 2.000 kg cam sấy được khách hàng đón nhận. Sau đó các sản phẩm chế biến từ cam đã nhận được đơn hàng mẫu từ Hà Lan và bắt đầu tiếp cận các siêu thị, đại lý trong nước. Riêng hoạt động trải nghiệm vườn cam, tại thời điểm tham gia khởi nghiệp năm 2018, dự án đang lên ý tưởng thiết kế cảnh quan và xây dựng bộ tiêu chuẩn hướng dẫn, tiêu chuẩn lưu trú, các dịch vụ đi kèm nhằm hướng dẫn các hộ nông dân tham gia và triển khai thực hiện dựa trên vườn cam sinh thái thực nghiệm 2 ha của Công ty.

          Tham gia khởi nghiệp đổi mới sáng tạo năm 2018, với mong muốn kêu gọi vốn, hợp tác đầu tư, nâng cao giá trị cam Vinh trên thị trường và đặc biệt là muốn tạo ra một điểm đến sinh thái tại Nghệ An để người nông dân trồng cam có được sinh kế bền vững cũng như mang lại giá trị cao hơn cho doanh nghiệp và cộng đồng địa phương.

          Với giải Ba cuộc thi Khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo Sở KH&CN Nghệ An tổ chức, giải Nhì Cuộc thi Techfest Bắc Trung bộ do Bộ Khoa học & Công nghệ tổ chức cũng như sự hỗ trợ hợp tác đầu tư từ quỹ Việt Nam Silicon Valley, công ty đã có nhiều bước tiến dài trong quá trình khởi nghiệp của mình. Qua 1 năm ươm tạo và làm việc cùng quỹ đầu tư Việt Nam Silicon Valley, đến nay công ty đang tiến tới xây dựng một mô hình kinh doanh mới, đó là phát triển Làng du lịch cam Vinh sinh thái đầu tiên tại Nghệ An.

          Cụ thể là công ty sẽ xin phép quy hoạch khoảng hơn 500 ha liên kết với nông dân trồng cam Vinh tại Nghệ An, áp dụng hệ thống quản lý theo mô hình FarmLab, FarmShop, FarmTour để quản lý và phát triển Làng. Theo đó, sẽ tập trung vào công tác nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao mô hình cho nông dân, cung ứng các dịch vụ về quản lý chất lượng, dịch vụ quảng bá và kinh doanh, dịch vụ đóng gói và vận chuyển cũng như dịch vụ các điểm bán hàng trực tuyến và trực tiếp để giúp nông dân bán được sản phẩm một cách tốt và hiệu quả nhất. Dựa trên nền tảng canh tác sinh thái để tạo ra môi trường trong lành và sạch sẽ, công ty xây dựng các mô hình tour du lịch mẫu cũng như các hoạt động văn hóa tại địa phương sau đó cung cấp dịch vụ liên kết nông dân với các nhà đầu tư để phát triển mảng du lịch sinh thái, cung cấp dịch vụ quản lý kinh doanh để nông dân và các nhà đầu tư có được hệ thống đảm bảo cùng giám sát và tham gia cũng như cung cấp dịch vụ quảng bá và đặt tour để giúp nông dân tiếp cận được với khách du lịch tốt hơn.

Mô hình kết hợp giữa 5 nhà bao gồm: Nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà nước, nhà khoa học và nhà đầu tư. Công ty tin tưởng rằng đây sẽ là một mô hình kinh doanh mới phù hợp với sự phát triển nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn đổi mới hiện nay nhằm nâng cao giá trị tài nguyên bản địa và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong tương lai.

Dự án: GoStream, GoStudio - Đài truyền hình 4.0 - Công ty CP Công nghệ GoStream, phường Lê Mao, TP Vinh

          GoStream ra đời xuất phát từ ý tưởng, thay vì ra mắt một nền tảng tương tự như Facebook, Youtube, Twitter, thì GoStream có thể xây dựng những công cụ bổ trợ cho họ, giúp người dùng sáng tạo nội dung và chia sẻ lên mạng xã hội. CEO Nghiêm Tiến Viễn chia sẻ: Chúng tôi bắt đầu xây dựng dự án đầu tiên của mình năm 2008 khi bắt đầu năm thứ nhất đại học tại trường Bách khoa Hà Nội. Sản phẩm đầu tiên của tôi là một website chia sẻ hình ảnh dành cho người Việt Nam. Qua quá trình phát triển, dự án này nhanh chóng trở thành trang chia sẻ hình ảnh lớn nhất Việt Nam lúc bấy giờ. Tuy nhiên, sau khi những ông lớn nước ngoài như Flickr hay đặc biệt là Facebook vào Việt Nam thì chúng tôi không còn giữ được vị thế của mình nữa. Facebook là mạng xã hội lớn nhất hành tinh đồng thời cũng là nơi chia sẻ hình ảnh lớn nhất của người dùng. Dự án của chúng tôi kết thúc sau 5 năm hoạt động.

          Sau khi thất bại với dự án chia sẻ hình ảnh, tôi vào làm việc cho một công ty chuyên về streaming video, cách hoạt động tương tự Youtube. Dự án này cũng thất bại sau 3 năm hoạt động do sự cạnh tranh từ nhiều dịch vụ khác tương tự. Tuy nhiên, việc được tham gia vào 2 dự án về chia sẻ hình ảnh rồi đến video đã giúp tôi có được những kiến thức và kinh nghiệm trong ngành media online.

          Ngày đầu khởi nghiệp chúng tôi chỉ có 3 người, chính là 3 co-founder. Với số vốn ít ỏi mà 3 chúng tôi góp lại, bài toán đầu tiên chúng tôi phải giải quyết đó là đặt văn phòng ở đâu khi có 2 co-founder ở Hà Nội và 1 ở Hồ Chí Minh. Sau khi bàn bạc, chúng tôi cho rằng nếu đặt văn phòng ở những thành phố lớn như Hà Nội hay TP. Hồ Chí Minh, chúng tôi sẽ nhanh chóng hết tiền trong khi chưa kịp kiếm ra lợi nhuận. Do đó, tôi quyết định sẽ đặt văn phòng chính tại Nghệ An - nơi quê hương mình - đồng thời mở văn phòng đại diện ở TP. Hồ Chí Minh. Việc này có 2 cái lợi, thứ nhất là tiết kiệm chi phí trong thời gian đầu khởi nghiệp. Chúng tôi là công ty công nghệ, dịch vụ bán online, do đó việc đặt văn phòng ở đâu không quá quan trọng. Cái lợi thứ 2 là khi về Nghệ An, chúng tôi được tỉnh hỗ trợ về mặt bằng và các chính sách để có thể phát 33 triển được tốt nhất. Chúng tôi có văn phòng ở TP. Hồ Chí Minh do 1 co-founder phụ trách, do đó vẫn có thể tiếp cận, gặp gỡ những khách hàng lớn, đối tác tại đây.

          Tuy nhiên, khởi nghiệp ở quê cũng có những khó khăn riêng. Khó khăn lớn nhất là vấn đề nhân sự. Nhân sự giỏi thường tập trung ở thành phố lớn, do đó chúng tôi rất khó để tuyển được nhân sự phù hợp. Chúng tôi đưa ra 2 chiến lược. Đầu tiên, chúng tôi tuyển những nhân sự Nghệ An, hiện đang làm việc ở các thành phố lớn và có mong muốn trở về làm việc tại địa phương. Phương châm của chúng tôi là làm việc tại Nghệ An nhưng hưởng lương Hà Nội. Chiến lược thứ 2 của chúng tôi là đào tạo nhân sự tại chỗ - chính là các sinh viên tại trường đại học trên địa bàn. Mỗi năm chúng tôi hướng dẫn khoảng 50 sinh viên thực tập và giữ lại 1-2 bạn phù hợp với yêu cầu.

          Thời gian đầu, tuy cả 3 co-founder đều "làm việc không lương", nhưng chúng tôi vẫn rất lạc quan vào tương lai của GoStream bởi chúng tôi đã nhanh chóng có được khách hàng đầu tiên, đồng thời nhận được nhiều phản hồi tích cực. Từ những phản hồi đó, chúng tôi quay lại cải tiến sản phẩm và liên tục nâng cấp phiên bản mới. GoStudio với phiên bản 4.0 phát video trực tiếp từ nhiều camera, xây dựng giao diện phần mềm chuyên nghiệp như phần mềm dựng phim trên máy tính. GoStudio chạy trên nền tảng web, nghĩa là khách hàng không cần cài đặt phần mềm lên máy mà chỉ cần vào địa chỉ website của phần mềm (https://gostudio.co) là có thể sử dụng. Điều này giúp tính năng linh động, có thể dễ dàng triển khai trên bất kỳ máy tính nào, thậm chí có thể dùng điện thoại, máy tính bảng.v.v.. Điểm lợi thế của GoStudio là chi phí thấp hơn nhiều so với mô hình cầu truyền hình truyền thông; Livestream dùng nhiều camera; Livestream tương tác với mạng xã hội, với lượng khách hàng lớn bao gồm nhiều thành phần và ngành nghề khác nhau như những đơn vị sản xuất nội dung video, những đơn vị cần làm Marketing trên mạng xã hội, những đơn vị, cá nhân bán hàng online, những đơn vị tổ chức sự kiện. Sản phẩm được thực hiện từ đầu năm 2018 và sau 6 tháng phát triển đã bắt đầu thử nghiệm và tìm kiếm những khách hàng đầu tiên, đến tháng 10/2018, sản phẩm nhanh chóng được biết đến và tạo ra làn sóng mới thúc đẩy dịch vụ phát video trực tiếp qua mạng xã hội phát triển. Doanh thu được tính từ 2 kênh: khách hàng và sự kiện. Đến nay chúng tôi đã có 500.000 user đăng ký và có mức tăng trưởng tốt.

Vào tháng 6/2019, chúng tôi có tham gia vườn ươm Zone Startup. Zone Startups Việt Nam là chương trình hợp tác của Tập đoàn Ryerson Futures (Canada), dự án Zone Startups toàn cầu với các đối tác tại Việt Nam gồm UniBrands, VinaCapital và các nhà đầu tư độc lập. Trong khuôn khổ hợp tác, Zone Startup đã hỗ trợ chúng tôi về không gian làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian 6 tháng, đồng thời đã hỗ trợ chúng tôi hoàn thiện mô hình kinh doanh và hồ sơ giấy tờ để chuẩn bị cho quá trình gọi vốn. Tới tháng 8/2019, chúng tôi về cơ bản hoàn thành quá trình tìm hiểu lẫn nhau và quyết định sẽ hợp tác lâu dài hơn thông qua việc Zone Startups sẽ đầu tư vào GoStream. Tuy nhiên, mức định giá công ty ban đầu của chúng tôi lúc đó chưa được thống nhất. Do GoStream hiện đã có lãi - điều mà ít startup làm được trong những giai đoạn đầu - đồng thời đang tăng trưởng tốt theo từng tháng, nên chúng tôi tin rằng định giá công ty phải gấp 3 lần mức mà Zone Startups đưa ra. Cùng lúc này, chúng tôi đạt giải Nhất Cuộc thi Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo năm 2019 do tỉnh Nghệ An tổ chức. Qua cuộc thi này, chúng tôi đã học được rất nhiều kinh nghiệm từ các start up khác cũng như sự hướng dẫn của các chuyên gia. Nhờ đó chúng tôi đã có được vị thế tốt hơn trên bàn đàm phán và đạt được mức định giá như chúng tôi kì vọng, đó là 5 triệu USD. Cuối tháng 9/2019, GoStream và Zone Startups đã chính thức kí kết thỏa thuận đầu tư. Nhờ có số tiền đầu tư, chúng tôi có các chiến lược để đưa GoStream tiếp cận nhiều hơn nữa với thị trường nước ngoài, trước mắt là các nước có nền văn hóa tương đồng như Thái Lan, Indo¬nesia và Trung Quốc.

Dự án: Ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất chế biến gia vị, hương liệu hữu cơ - Lala Land - Công ty TNHH SXT- M&DVLala Land, xã Minh Hợp, huyện Quỳ Hợp

          LaLa Land được xây dựng dựa trên mong muốn ban đầu là mang những sản phẩm có chất lượng quốc tế cho người Việt đồng thời đưa những sản phẩm đặc trưng của vùng miền như mắc khén và mắc mật để giới thiệu với bạn bè quốc tế. Khi bắt đầu triển khai, dự án LaLa Land nhận thấy rằng, có một vấn đề còn lớn lao hơn nữa đó là tệ nạn chặt phá rừng bừa bãi dẫn đến các hiện tượng thiên tai xẩy ra ngày càng nhiều về tần suất lẫn mức độ nghiêm trọng. Người dân được bàn giao rừng nhưng không có kinh nghiệm và hiểu biết dẫn đến tình trạng các sản phẩm không được khai thác và bảo tồn đúng cách.

          Để khắc phục những vấn đề trên, Lala Land cùng đội ngũ của mình nghiên cứu và phát triển một hệ sinh thái rừng với những sản phẩm chủ đạo là mắc khén và gừng, nghệ. Đồng thời trồng xen thêm các tầng tán khác trong rừng để tạo một hệ sinh thái bền vững và tăng thêm doanh thu cho khoảnh đất và phát triển thêm du lịch trải nghiệm.

          Tháng 8 vừa rồi Lala Land đã xuất khẩu thành công 1 container hạt mắc khén đi sang Pháp. Đồng thời nhận được thêm sự hỗ trợ đầu tư của quỹ VSVA với số tiền đầu tư là 40.000USD, trong chương trình Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Nghệ An 2019.

          Lala Land nắm trong tay công nghệ tách, Nhóm tác giả Dự án nhận quỹ hỗ trợ chiết tinh dầu mắc khén và chuyển tinh dầu từ dạng lỏng về dạng rắn để phục vụ cho nhu cầu sản xuất của các công ty thực phẩm.

          Định hướng với mô hình thử nghiệm 50ha rừng tại huyện Quế Phong, sau khi thành công sẽ chuyển giao mô hình cho bà con và bán sang các tỉnh khác.

          Lala Land mong muốn trở thành công ty đứng đầu phát triển các gia vị bản địa Việt Nam. Đưa Việt Nam trở thành một nước phát triển nông nghiệp bền vững.

Dự án: Tinh hoa Thái hội tụ và phát triển - Lê Đông Homestay - Xã Bồng Khê, huyện Con Cuông

          Xuất phát từ ý tưởng, tình yêu, niềm khát khao cháy bỏng muốn được gìn giữ bản sắc, tinh hoa văn hóa truyền thống của đồng bào Thái miền Trà Lân - Con Cuông, cách đây 7 năm, bản thân Lê Đông đã mày mò, tìm tòi, gõ cửa từng nhà, từng bản để hỏi những vị già làng, trưởng bản xem có ai còn lưu giữ lại được kỹ thuật làm men lá, siêu rượu truyền thống quý giá của đồng bào Thái nơi đây. Trải qua bao thăng trầm, khó khăn vất vả, cũng rất may mắn, sau 2 năm đã cho ra sản phẩm đầu tiên trên cả mong đợi - Sản phẩm rượu men lá hạ thổ mang tên Lê Đông ra đời. Rượu được chế biến theo bí quyết riêng của người Thái, men rượu được làm từ các loại thảo dược trong thiên nhiên như sâm khỉ, cam thảo rừng, lá và vỏ quế rừng, mú từn, vàng gua, cây và bả mía cùng một số dược liệu khác. Các nguyên liệu trên được phơi khô, giã nhỏ, trộn đều với bột gạo nếp lứt đủ độ dẻo vắt thành viên rải vỏ trấu sau đó ủ từ 10-15 ngày cho lên men, rồi tiếp tục phơi khô bằng ánh nắng mặt trời, đêm về phải đưa gác bếp hong khói trong thời gian 1 tháng. Gạo nếp lứt hông chín, trấu được đãi sạch và hông chín để nguội (chiếm tỉ lệ 20%). Trộn gạo nếp với trấu đã được hông chín với nhau, sau đó vào men ủ trong chum sành ít nhất 20 ngày trở lên rồi cho vào nồi siêu (hông cách thủy). Sau khi có thành phẩm, rượu sẽ được hạ thổ bằng chum sành cổ với thời gian 1 năm trở lên mới đem ra sử dụng. Thành phẩm thu được là loại rượu men lá trắng trong, mùi hương đặc trưng dịu ngọt từ các loại thảo dược và vỏ trấu. Tuy nhiên với nguồn lực hạn chế của gia đình, rượu men lá hạ thổ Lê Đông chưa có hệ thống dây chuyền đóng chai và mẫu mã tương xứng với sản phẩm. Thị trường tiêu thụ chủ yếu khách du lịch tại Homestay, bán hàng bằng cách truyền miệng từ người này đến người khác.v.v.

          Anh Lê Đông chia sẻ: sinh ra và lớn lên tại Đô Lương, bén duyên với cô gái Thái và sống gắn bó với núi rừng Con Cuông, ngay từ lúc có ý tưởng khôi phục lại văn hóa ẩm thực, rượu men lá của đồng bào người ThThái, bản thân tôi đã gặp không ít khó khăn, đầu tiên là quyết định bán căn nhà nơi phố huyện Con Cuông vào Bồng Khê sau đó là quyết định nghỉ việc nhà nước, chuyên tâm theo đuổi đam mê; hơn nữa bản thân tôi là người Kinh sống trong cộng đồng người Thái, việc để làm, thay đổi thói quen, hướng bà con cùng làm và phát triển với mình là cả một quá trình bền bỉ và nỗ lực.

          Tham gia khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Nghệ An năm 2019, và được đánh giá là một trong những dự án triển vọng, với mục đích ý tưởng ban đầu tìm kiến cơ hội cọ xát, tư vấn, học hỏi, lan tỏa sản phẩm rượu men lá Con Cuông. Với cam kết hỗ trợ, hợp tác với số vốn lên tới 10.000 USD của VSVA, cộng với chủ trương của Đảng, Nhà nước, đặc biệt sự ủng hộ của chính quyền địa phương huyện Con Cuông, Lê Đông Homestay đang hướng tới mở ra hướng phát triển du lịch sinh thái trải nghiệm Homestay - một loại hình lưu trú tại nhà dân bản địa khi đi du lịch. Tham gia du lịch trải nghiệm là hoạt động hòa mình vào cuộc sống tại các điểm đến du lịch của du khách thông qua việc tìm hiểu thông tin và tham gia vào các hoạt động cụ thể trong vai trò là những thành viên và người dân bản địa. Những hoạt động sẽ giúp du khách có thêm những trải nghiệm thú vị về cuộc sống trong những môi trường khác biệt với cuộc sống thường ngày. Ngoài ra, du khách sẽ tích lũy thêm những tri thức và kinh nghiệm thực tế về thiên nhiên, văn hóa xã hội nhờ việc tham gia vào các hoạt động cụ thể cùng với cộng đồng trên địa phương.

          Theo thống kê, năm 2018, Lê Đông Homestay đã đón hơn 50 đoàn khách trong nuớc, 8 đoàn khách nước ngoài về tham quan vườn rượu men lá và trải nghiệm ẩm thực, với tổng doanh thu hơn 2 tỷ đồng. Riêng 6 tháng đầu năm 2019, doanh thu từ các dịch vụ gần 1,5 tỷ đồng.

          Phát triển du lịch sinh thái gắn với phát triển chuỗi sản phẩm dịch vụ ẩm thực, những đồ dùng thủ công mĩ nghệ, thổ cẩm, những sản phẩm sạch được nuôi trồng trên địa phương, các chương trình đào tạo, chương trình lễ hội (như: múa sạp, vũ hội rượu cần,...) là hướng phát triển mà Lê Đông Homestay hướng tới trong tương lai. Thông qua các cách maketing sản phẩm như khách sạn, các điểm du lịch trong vùng, các công ty du lịch, các trường học, hội phụ huynh; qua kênh truyền thông như: Facebook, các ứng dụng đặt tour,.

          Điểm du lịch Lê Đông Homestay ra đời xác định như việc đi tắt đón đầu, là điểm đến mang giá trị nhân văn cốt lõi của du lịch miền Tây Nghệ An, đồng thời giải quyết công ăn việc làm cho người bản địa cùng như tạo ra sản phẩm du lịch mới trong chuỗi liên tuyến quốc tế gắn quốc lộ 7, qua Lào, kết nối đường mòn Hồ Chí Minh trong không gian du lịch rộng lớn. Chúng tôi tin tưởng và hi vọng Lê Đông Homstay sẽ là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa Thái vùng Trà Lân - Con Cuông nói riêng và đồng bào Thái miền Tây xứ Nghệ nói chung.

          Có thể nói trong 2 năm Nghệ An phát động cuộc thi "Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo" đã phần nào khơi dậy những ý tưởng, dự án khởi nghiệp trong cộng đồng, từ đó tìm kiếm, chọn lọc, tôn vinh các ý tưởng, dự án tiềm năng, góp phần hiện thực hóa các ý tưởng, dự án khởi nghiệp, tạo sự lan tỏa tinh thần khởi nghiệp trong cộng đồng xã hội; đồng thời thu hút sự quan tâm của doanh nghiệp đối với các ý tưởng khởi nghiệp hay và có tiềm năng phát triển. Thông qua Đề án 844 của Bộ KH&CN cùng một số chính sách của địa phương, phong trào KNĐMST Nghệ An đã có bước khởi sắc, thu hút các start up tham gia khởi nghiệp.

 

Đánh giá hiệu quả ứng dụng của các nhiệm vụ KHXH&NV

 giai đoạn 2005-2015

Phạm Xuân Cần

          Trong giai đoạn 2005 - 2015 các nhiệm vụ khoa học xã hội và nhân văn cấp tỉnh (bao gồm các đề tài và dự án KH&CN) ở Nghệ An chiếm 25,8% tổng số các nhiệm vụ KH&CN nói chung của tỉnh (89/345). Đây là một tỷ lệ khá cao, chứng tỏ khoa học xã hội và nhân văn đã rất được quan tâm trong giai đoạn này.

          Phân tích theo loại hình nghiên cứu cho thấy, trong số 89 nhiệm vụ KHXH&NV có:

          14 (chiếm 15,7%) nhiệm vụ thuộc loại hình nghiên cứu cơ bản, như các công trình điều tra 38  cơ bản về văn hóa; các công trình nghiên cứu lịch sử (Lịch sử Nghệ An, Lịch sử quân sự), hay công trình về địa chí (nổi bật là công trình Nghệ An toàn chí).

          55 nhiệm vụ (chiếm 61,8%) thuộc loại hình nghiên cứu ứng dụng. Đây thường là những công trình nghiên cứu để giải quyết các yêu cầu của thực tiễn. Không dừng lại ở những luận cứ khoa học chung chung, mà các đề tài này đã đề xuất những giải pháp, với mục đích ứng dụng vào thực tiễn.

          20 nhiệm vụ (chiếm 22,5%) thuộc loại hình KHXH&NV NGHỆ AN - SỐ 10/2019 nghiên cứu triển khai. Đây thực chất là các dự án ứng dụng, thường là giai đoạn 2 của các đề tài nghiên cứu, có nhiệm vụ đưa các giải pháp đã đề xuất trong giai đoạn 1 ứng dụng vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề thực tiễn đang đặt ra.

          Tỷ lệ các loại hình nghiên cứu trên đây cho thấy cơ cấu các nhiệm vụ KH&CN thuộc lĩnh vực KHXH&NV khá hợp lý, vừa chú ý đến các công trình nghiên cứu cơ bản, nhưng chủ yếu là hướng đến các nghiên cứu mang tính ứng dụng. Đây là hướng đi đúng đối với các địa phương.

          Trong khuôn khổ nhiệm vụ khoa học "Đánh giá hiệu quả các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh ở Nghệ An giai đoạn 2005 - 2015", đã tổ chức điều tra ngẫu nhiên 38 nhiệm vụ KHXH&NV, chiếm gần 40% tổng số nhiệm vụ KHXH&NV trong giai đoạn này. Đề tài đã điều tra hiệu quả ứng dụng theo các chỉ tiêu cơ bản: Hiệu quả khoa học và công nghệ; Hiệu quả kinh tế; Hiệu quả xã hội và quản lý; Hiệu quả môi trường. Tuy nhiên, với các nhiệm vụ KHXH&NV, hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường không được tính. Điều này xuất phát từ thực tế các nhiệm vụ KHXH&NV nói chung không đặt mục tiêu trực tiếp là phải mang lại hiệu quả về kinh tế, hoặc môi trường, dù rằng có một số nhiệm vụ vẫn có thể mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.

          Như vậy, các nhiệm vụ KHXH&NV chủ yếu được đánh giá về hiệu quả KH&CN và hiệu quả về xã hội và quản lý. Theo đó, với các nhiệm vụ thuộc loại hình nghiên cứu cơ bản hiệu quả KH&CN được xác định có trọng số 70%. Trọng số này giảm dần còn 50% đối với loại hình ứng dụng và 30% đối với loại hình nghiên cứu triển khai. Ngược lại, hiệu quả xã hội và quản lý được xác định có trọng số 70% với loại hình nghiên cứu triển khai, nhưng giảm xuống 50% đối với loại hình nghiên cứu ứng dụng và 30% đối với loại hình nghiên cứu cơ bản.

          Với cách tiếp cận như trên, ban nghiên cứu đã xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cho mỗi chỉ tiêu đánh giá, sau đó tổ chức qua các bước: Khảo sát, tự đánh giá của cơ quan chủ trì nhiệm vụ; Điều tra (điều tra trực tiếp của điều tra viên và điều tra xã hội học); Đánh giá (qua hội đồng chuyên môn).

          Quá trình khảo sát, điều tra, đánh giá nói trên đã cho một số kết quả sau đây:

          1. Về vệc đưa kết quả các nhiệm vụ KHXH&NV vào ứng dụng trong thực tiễn

          Xuất phát từ quan điểm cho rằng: Việc đưa kết quả một nhiệm vụ KH&CN vào việc ứng dụng trong thực tiễn là một quá trình. Quá trình đó bắt đầu bằng việc phổ biến kết quả nghiên cứu dưới nhiều hình thức khác nhau đến với chủ thể ứng dụng, sau đó đến việc tổ chức ứng dụng với những động thái cụ thể, như xây dựng chủ trương, kế hoạch, chính sách ứng dụng. Sau đó là triển khai ứng dụng, với các động thái như: Sử dụng kết quả nghiên cứu để tham mưu xây dựng thành chủ trương của cấp ủy, chương trình, kế hoạch của chính quyền, cơ quan chuyên môn; Sử dụng kết quả nghiên cứu biên soạn thành tài liệu nghiệp vụ, tổ chức đào tạo, tập huấn cho các lực lượng thực hiện; Xây dựng mô hình ứng dụng; Tổ chức các khóa đào tạo...

          Kết quả điều tra cho thấy có 36/38 nhiệm vụ, chiếm 94,7% đã được phổ biến dưới các hình thức khác nhau. Tỉ lệ này giảm dần khi nhiệm vụ được triển khai ứng dụng ở các mức độ khác nhau. Đáng lưu ý có 7 nhiệm vụ (chiếm 18,42%) nghiệm thu xong không được phổ biến, hoặc có phổ biến nhưng hầu như không làm gì để ứng dụng vào thực tiễn.

          Những con số trên đây cho thấy tỷ lệ các nhiệm vụ KHXH&NV được đưa vào ứng dụng là khá cao. Tình trạng nghiên cứu xong "đút tủ", không phố biến, không làm gì để đưa vào ứng dụng chỉ còn là cá biệt. Tuy nhiên, số nhiệm vụ đi đến tận cùng của quá trình ứng dụng cũng đã bị rơi rụng nhiêu. Điêu này có nhiêu nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân một số nhiệm vụ thuộc loại hình nghiên cứu cơ bản thì chỉ cần được phổ biến và được sử dụng để nghiên cứu, tham khảo là đã coi như được ứng dụng.

          2. Về hiệu quả ứng dụng theo các chỉ tiêu đánh giá

          a. Hiệu quả vê' khoa học và công nghệ

          Việc đánh giá hiệu quả khoa học và công nghệ của các nhiệm vụ KHXH&NV dựa trên điêu tra và đánh giá theo 6 tiêu chí. Khi điêu tra, đánh giá từng nhiệm vụ cụ thể đã đánh giá định lượng điểm đạt được với từng tiêu chí rất cụ thể. Trong Bảng thống kê sau đây chúng tôi chỉ đưa ra số nhiệm vụ đạt từng tiêu chí như thế nào:

TIÊU CHÍ

SỐ NV ĐẠT TIÊU CHÍ

TỶ LỆ %

GHI CHÚ

1. Đưa lại thông tin, luận điểm, nhận thức, quan điểm khoa học mới vê vấn đê nghiên cứu

37/38

97,36

 

2. Được xuất bản thành sách nghiên cứu, chuyên khảo; giáo trình hoặc tài liệu nghiệp vụ

28/38

73,68

19 sách và tài liệu được xuất bản

3. Được sử dụng thành công cụ tra cứu, tham khảo; được trích dẫn trên các tạp chí, bài báo khoa học, hoặc các công trình khoa học khác

28/38

73,68

 

4. Góp phần đào tạo sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh

21/38

55,26

4 tiến sĩ; 9 thạc sĩ; 1 cử nhân

5. Được sử dụng để tính điểm xét công nhận học hàm, học vị cho tác giả, hoặc có tác dụng nâng cao trình độ cho chính người nghiên cứu

30/38

78,94

 

6. Được giải thưởng KH&CN

4/38

10,52

1 giải đặc biệt STKH&CN

Nghệ An

 

          Qua thống kê trên cho thấy hiệu quả ứng dụng của các nhiệm vụ vê' khoa học và công nghệ là khá rõ nét. Trước hết, đã ghi nhận giá trị lý luận khá tốt của các công trình, khi tuyệt đại bộ phận các nhiệm vụ đêu được đánh giá là có mang lại những thông tin, luận điểm, nhận thức, quan điểm khoa học mới vê' vấn đê' nghiên cứu (97,36%) và có tới 19 cuốn sách và tài liệu nghiệp vụ được xuất bản trên cơ sở đê' tài, dự án. Hiệu quả khoa học và công nghệ cũng được đánh giá cao khi các nhiệm vụ đã có đóng góp lớn, cụ thể, thiết thực vê đào tạo (1 cử nhân, 9 thạc sĩ và 4 tiến sĩ). Ngoài ra, với nhiệm vụ được tặng giải thưởng khoa học đã cho thấy các nhiệm vụ KHXH&NV cũng đã phát huy hiệu quả cao trên thực tế, vì các giải thưởng khoa học đêu coi trọng và đê' cao hiệu quả ứng dụng.

          b. Hiệu quả vê' xã hội và quản lý

          Việc đánh giá hiệu quả xã hội và quản lý của các nhiệm vụ KHXH&NV dựa trên điểu tra và đánh giá theo 5 tiêu chí. Khi điê'u tra, đánh giá từng nhiệm vụ cụ thể đã đánh giá định lượng điểm đạt được với từng tiêu chí rất cụ thể. Trong Bảng thống kê sau đây chúng tôi chỉ đưa ra số nhiệm vụ đạt từng tiêu chí như thế nào:

TIÊU CHÍ

SỐ NV

ĐẠT TIÊU CHÍ

TỶ LỆ %

1. Góp phần nâng cao tri thức và hiểu biết xã hội

37/38

97,36

2. Có tác động tích cực đến văn hóa, xã hội (như về nâng cao đạo đức, lối sống, phòng chống tệ nạn xã hội; tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo; phòng chống bất bình đẳng giới.)

31/38

81,57

3. Được sử dụng làm luận cứ để xây dựng chủ trương, quy hoạch, đề án, cơ chế, chính sách của nhà nước các cấp

25/38

60,52

4. Các giải pháp đề xuất của nhiệm vụ (về quản lý nhà nước, quản lý kinh tế; quản lý nghiệp vụ.) được áp dụng có hiệu quả; hoặc xây dựng được mô hình mới về kinh tế, xã hội có hiệu quả

22/32

68,75

 

          Bảng thống kê trên cho thấy hiệu quả ứng dụng về xã hội và quản lý khá rõ nét của các nhiệm vụ KHXH&NV. Ngoài việc tuyệt đại bộ phận các nhiệm vụ đều góp phần nâng cao tri thức và hiểu biết xã hội ở những mức độ khác nhau, tỷ lệ các nhiệm vụ có tác động tích cực đến văn hóa xã hội cũng khá cao (81,57%). Có thể dẫn ra một vài ví dụ về nhận định này, như đề tài, sau đó là dự án "Mở rộng mô hình tổ chức dạy học chữ Thái hệ Lai - Tay ở huyện Quỳ Hợp, Nghệ An" đã làm sống lại di sản chữ Thái Lai Tay của đồng bào Thái, góp phần đắc lực trong bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc. Đề tài, sau đó là dự án "Tình hình di cư trái phép của đồng bào Mông tại các huyện miền núi Nghệ An - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp" đã góp phần nâng cao nhận thức và hành động cho đồng bào Mông ở Kỳ Sơn, làm giảm hẳn tình trạng di dịch cư trái phép sang Lào, bảo vệ an ninh biên giới.

          Đặc biệt các thống kê cũng ghi nhận có tới 25/38, chiếm 60,52% số nhiệm vụ được sử dụng làm luận cứ khoa học để xây dựng chủ trương, quy hoạch, chính sách phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Đây là một sự đóng góp rất thiết thực và to lớn. Có thể kể ra như: Đề tài "Đánh giá tiềm năng, lợi thế và xác định cơ cấu sản phẩm chiến lược của Nghệ An giai đoạn 2011 - 2015 có tính đến 2020" đã được sử dụng làm luận cứ để xây dựng Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh. Các đề tài khác cũng đã góp phần xây dựng chiến lược đột phá về kinh tế xã hội, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển kinh tế xã hội miền Tây... Nhiệm vụ "Nghiên cứu xây dựng chương trình ứng dụng và phát triển CNC tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-2015 có tính đến 2020", không chỉ cung cấp luận cứ, mà còn xây dựng chương trình, đề xuất chính sách phát triển công nghệ cao, được áp dụng trong thực tiễn.

          Không dừng lại ở cung cấp luận cứ, nhiều nhiệm vụ KHXH&NV (68,75%) đã xây dựng mô hình, hoặc đưa vào áp dụng các giải pháp quản lý, giải pháp nghiệp vụ mới, mang lại hiệu quả cao. Có thể chỉ ra các nhiệm vụ: "Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng cải cách hành chính trong công tác quản lý Nhà nước về an ninh trật tự của Công an Nghệ An", đã xây dựng phần mềm quản lý và đưa vào ứng dụng quản lý ở Trại tạm giam, mang lại hiệu quả rất lớn và thiết thực về nghiệp vụ và hành chính. Nhiệm vụ "Phát triển du lịch cộng đồng gắn với xóa đói giảm nghèo ở miền Tây Nghệ An", không chỉ đưa ra giải pháp mà còn bắt tay xây dựng mô hình về du lịch cộng đồng, mang lại hiệu quả tốt, làm hình mẫu cho nhân dân làm theo. Đề tài "Nâng cao chất lượng tranh tụng trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát Nghệ An trong giai đoạn thực hiện chiến lược Cải cách tư pháp", đã góp phần nâng cao năng lực thực hành tranh tụng cho các kiểm sát viên, đáp ứng yêu cầu mới.

          3. Đánh giá chung:

          Hiệu quả ứng dụng các nhiệm vụ KHXH&NV được đánh giá, xếp hạng theo 5 mức sau đây:

          Mức A (xuất sắc, ứng dụng của nhiệm vụ đã tạo ra lợi ích nổi bật về mặt khoa học công nghệ và xã hội, quản lý): 8/38, chiếm 21,05%.

          Mức B (khá, ứng dụng của nhiệm vụ đã tạo nên lợi ích đáng kể về KHCN và xã hội, quản lý): 16, chiếm 55, 16%).

          Mức C (trung bình, Ứng dụng của đề tài, dự án được người sử dung công nhận là có tác động): 7, chiếm 18,42%.

          Mức D (thấp, Ứng dụng của nhiệm vụ tác động không đáng kể đến KHCN và KTXH): 6, chiếm 15,78%.

          Mức E (không hiệu quả, Nhiệm vụ nghiệm thu xong ứng dụng không hiệu quả, hoặc không được ứng dụng trên thực tế): 1, chiếm 2,63%.

          Như vậy, hiệu quả ứng dụng của các nhiệm vụ KHXH&NV trong giai đoạn 2005 - 2015 được đánh giá khá cao. Đại đa số các nhiệm vụ được đánh giá có hiệu quả ứng dụng xuất sắc hoặc khá (76,21%). Tuy nhiên số nhiệm vụ có hiệu quả trung bình hoặc thấp vẫn cao, cá biệt có nhiệm vụ nghiên cứu, nghiệm thu xong không được phổ biến (1) hoặc không được đưa vào ứng dụng (6).

          Từ hiệu quả ứng dụng được đánh giá khá cao trên đây, có thể rút ra một số bài học và kinh nghiệm sau đây:

          Trước hết, cần phải tiếp tục coi ứng dụng là mục tiêu quan trọng nhất của các nhiệm vụ KHXH&NV, ít nhất là ở cấp địa phương. Mục tiêu này sẽ định hướng việc đề xuất, lựa chọn và xác định các đề tài, dự án cụ thể trong từng giai đoạn và từng năm cụ thể. Theo đó, nên duy trì tỷ lệ cân đối giữa các loại hình nghiên cứu, theo mô hình: Loại hình nghiên cứu cơ bản từ 10 - 15%; Loại hình nghiên cứu ứng dụng từ 60 - 70%; Loại hình nghiên cứu triển khai từ 20 - 30%. Trong đó, cần định hướng các đề tài thuộc loại hình nghiên cứu ứng dụng nên hoặc phải được tổ chức giai đoạn 2, với tư cách là dự án nghiên cứu triển khai.

          Thứ hai, chất lượng nghiên cứu là yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu quả ứng dụng. Tất cả các nhiệm vụ được đánh giá là có hiệu quả ứng dụng xuất sắc và khá đều là các nhiệm vụ có kết quả nghiệm thu xuất sắc hoặc khá (24/24). Không có nhiệm vụ nào được đánh giá ứng dụng 42 xuất sắc mà trước đó có kết quả nghiệm thu là trung bình. Tuy nhiên, kết quả nghiệm thu chỉ là yếu tố đầu vào của quá trình ứng dụng, có thể coi là yếu tố "cần". Hiệu quả ứng dụng còn tùy thuộc vào một yếu tố "đủ" nữa, đó là quá trình tổ chức ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Trong số 24 nhiệm vụ được đánh giá hiệu quả ứng dụng xuất sắc và khá có tới 22 nhiệm vụ (chiếm 91,66%) được đánh giá là đã tổ chức ứng dụng tốt hoặc khá, chỉ có 2 nhiệm vụ hiệu quả ứng dụng khá được đánh giá là đã tổ chức ứng dụng ở mức trung bình. Ngược lại, vẫn có tới 3 nhiệm vụ được nghiệm thu xuất sắc, nhưng hiệu quả ứng dụng chỉ được đánh giá ở mức trung bình. Đây đều là những nhiệm vụ mà sau khi nghiệm thu đã không được tổ chức ứng dụng một cách nghiêm túc. Như vậy có thể đúc kết thành công thức: Chất lượng nghiên cứu + Quá trình tổ chức ứng dụng = Hiệu quả ứng dụng.

          Từ thực tiễn, đã có thể đúc kết ra con đường hoặc mô hình đưa kết quả nghiên cứu xã hội và nhân văn vào ứng dụng trong thực tế cuộc sống. Đây là một kết quả hết sức quan trọng. Theo đó, có thể hình dung việc đưa kết quả nghiên cứu của một nhiệm vụ KHXH&NV vào ứng dụng giống như một quy trình, bắt đầu bằng việc phổ biến kết quả nghiên cứu; sau đó đề xuất chủ trương, xây dựng kế hoạch, đề xuất chính sách ứng dụng; tiếp theo là xây dựng mô hình ứng dụng, hoặc triển khai các công việc cụ thể để ứng dụng các giải pháp mới - cuối cùng là sơ kết, tổng kết, đánh giá và hoàn thiện chính sách đưa ứng dụng vào thường xuyên. Quy trình này cần được tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc. Ngay cả những nhiệm vụ được nghiệm thu xuất sắc, nhưng nếu không được tổ chức ứng dụng tốt cũng không thể phát huy hiệu quả trên thực tế.

          Cuối cùng, cần phải bồi dưỡng, rèn tập về kiến thức và kĩ năng tổ chức ứng dụng cho cán bộ nghiên cứu KHXH&NV, hạn chế tình trạng chỉ biết nghiên cứu, mà không biết cách để đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

 

Khoa học và công nghệ là yếu tố cốt lõi cho doanh nghiệp phát triển

Trần Anh Sơn

          Trong lịch sử phát triển của thế giới, có thể thấy rõ sự phát triển kinh tế của một đất nước thường gắn liền với sự phát triển của khoa học và công nghệ. Qua thời gian và thực tiễn chứng minh, hầu hết mọi người đều cho rằng "Không có quốc gia nào tiên tiến về khoa học và công nghệ (KH&CN) mà lại lạc hậu về kinh tế, cũng như không có quốc gia nào lạc hậu về KH&CN mà lại có nền kinh tế phát triển". Cùng với sự phát triển của KH&CN, giới doanh nhân, doanh nghiệp ngày càng khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng mang tính quyết định cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Có thể nói khoa học công nghệ và đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp là yếu tố sống còn cho doanh nghiệp. Chúng ta đang được sống trong thời đại công nghiệp 4.0, sự cạnh tranh động nâng cao trình độ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Vậy công nghệ là gì?

          Công nghệ là các phương pháp, giải pháp kỹ thuật trong các dây chuyền sản xuất. Có thể hiểu công nghệ là tổng hợp các phương tiện kỹ thuật, kỹ năng, phương pháp dùng để chuyển hóa các nguồn lực thành một loại sản phẩm nào đó. Công nghệ gồm 4 thành phần cơ bản.

          + Công cụ, máy móc, thiết bị, vật liệu. Nó gọi là phần cứng của công nghệ.

          + Thông tin, phương pháp, quy trình bí quyết.

          + Tổ chức điều hành, phối hợp, quản lý.

          + Con người.

          Bất kỳ quá trình sản xuất nào đều phải đảm bảo 4 thành phần trên. Mỗi thành phần đảm lành mạnh chính là cạnh tranh công nghệ. Việc nhiệm những chức năng nhất định. Trong đó nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo được xem như là phương thức để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trên thị trường hiện nay.

          Cả hai phạm trù KH&CN và đổi mới sáng thành phần trang thiết bị được coi là xương sống, cốt lõi của quá trình hoạt động nhưng nó lại do con người lắp đặt và vận hành. Thành phần con người được coi là nhân tố chìa khoá của nhân tố hoạt động sản xuất nhưng lại phải hoạt động theo tạo luôn song hành. Nhưng đổi mới sáng tạo hướng dẫn do thành phần thông tin cung là cơ sở hướng dẫn người lao động vận hành các máy móc thiết bị và đưa ra các quyết định. Thành phần tổ chức có nhiệm vụ liên kết các thành phần trên, động viên người lao động nâng cao hiệu quả sản xuất.

          Để sản phẩm luôn luôn được thay đổi, năng suất lao động ngày càng tốt hơn, tối đa hóa lợi nhuận thì công nghệ không thể đứng yên mà phải thường xuyên được đổi mới, muốn vậy phải nhờ đến khoa học để nghiên cứu nhằm mục tiêu thay đổi công nghệ. Đổi mới sản phẩm là việc tạo ra một sản phẩm hoàn toàn mới, hoặc cải tiến các sản phẩm truyền thống của công ty mình.

          + Đổi mới quy trình sản xuất: Có thể áp dụng một công nghệ hoàn toàn mới hoặc cải tiến hiệu chỉnh quy trình công nghệ đang vận hành để hoàn thiện hơn, hiệu quả hơn. Việc cải tiến này cho phép nâng cao năng suất của người lao động.

          + Nâng cao năng lực sản xuất trong doanh nghiệp: Năng lực sản xuất của một doanh nghiệp là khả năng hay trình độ doanh nghiệp đó trong việc phối, kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất và lực lượng lao động, công cụ lao động và đối tượng lao động để tạo ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường từ nguồn lực có sẵn của doanh nghiệp. Chúng ta cần phải chú ý năng lực sản xuất của một doanh nghiệp không đồng nhất với quy mô của doanh nghiệp đó mà năng lực sản xuất chính là biểu hiện bằng những chỉ tiêu hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh như năng suất lao động, hiệu suất, thời hạn hoàn vốn đầu tư. Năng lực sản xuất của một doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu đầu vào... ở đây chúng ta chỉ xem xét tới yếu tố máy móc thiết bị và sự đổi mới công nghệ.

          + Vai trò của đổi mới công nghệ tới năng lực sản xuất: Một doanh nghiệp sản xuất công nghiệp muốn tồn tại và phát triển được cần phải xây dựng cho mình một kế hoạch đổi mới công nghệ. Tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới công nghệ sẽ cho phép nâng cao chất lượng sản phẩm tạo ra nhiều sản phẩm mới, đa dạng hóa sản phẩm, tăng sản lượng, tăng năng suất lao động, sử dụng hợp lý tiết kiệm nguyên vật liệu. Nhờ vậy sẽ tăng khả năng cạnh tranh, vì sẽ có sản phẩm có giá trị cao, giá thành giảm, thuận lợi cho việc mở rộng thị trường, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới công nghệ thực sự là hướng đi đúng đắn của một doanh nghiệp công nghiệp giàu tiềm năng.

          Từ trước đến nay, từ nghiên cứu đến ứng dụng KH&CN luôn có "độ trễ". Độ trễ ở đây là khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng. Là sự gặp nhau giữa cung và cầu công nghệ. Ở khoảng giữa đó, vai trò của doanh nghiệp là rất quan trọng, quyết định đến thành công của việc ứng dụng kết quả nghiên cứu, góp phần thương mại hóa các kết quả nghiên cứu. Tuy nhiên, lâu nay việc gắn kết giữa doanh nghiệp và nhà khoa học đang còn nhiều bất cập. Trong khi đó, dư địa của các yếu tố tác động đến sự phát triển trong thời gian qua của nền kinh tế Việt Nam ngày càng hạn hẹp và mất dần lợi thế. Do vậy, trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ tư đang diễn ra nhanh chóng, KH&CN gắn liền với đổi mới sáng tạo là rất cần thiết, nếu không chúng ta sẽ mất cơ hội, tụt hậu và sa vào "bẫy thu nhập trung bình".

          Vậy ngược lại các doanh nghiệp có nên đặt việc nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo như một chiến lược phát triển đối với doanh nghiệp mình không?

          Đó là điều hiển nhiên, vì với tốc độ phát triển KH&CN như hiện nay, mỗi doanh nghiệp dù là lâu năm, có kinh nghiệm hay còn non trẻ nếu không có sự chuẩn bị thích ứng, nhanh nhạy cho việc này thì sẽ nhanh chóng bị tụt hậu và không thể cạnh tranh được. Bởi vậy, việc nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, sẵn sàng bứt phá, nắm bắt thời cơ kinh doanh là bắt buộc đối với mỗi doanh nghiệp hiện nay. Từ đó chuẩn bị các nguồn lực quan trọng, cần thiết, trong đó, nguồn lực con người là quan trọng nhất. Theo Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị "Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo - Một trụ cột cho phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam" vào ngày 15/5/2019 đã nhấn mạnh: "Trong doanh nghiệp hay bất kỳ tổ chức nào, không phải máy móc thiết bị, không phải nguyên vật liệu, mà chính sự sáng tạo của con người mới là vốn quý giá nhất. Sáng tạo phải từ con người và vì con người. Con người phải là trung tâm của sáng tạo. Người Việt Nam chúng ta có đầy đủ tố chất bẩm sinh cho sự sáng tạo, nếu có đủ những dưỡng chất tốt sẽ tạo ra những con người xuất sắc và tâm huyết đóng góp cho đất nước vì sự phồn thịnh của đất nước".

          Doanh nghiệp phải kết nối chặt chẽ với các nhà khoa học, các viện, trường đại học để đặt hàng nghiên cứu, để nhận sự tư vấn, sự hợp tác nghiên cứu - phát triển và đầu tư. Đổi mới sáng tạo không chỉ dừng lại ở sản xuất sản phẩm với năng suất, chất lượng cao, khác biệt, mà cả mô hình kinh doanh, quản trị doanh nghiệp,... Đặc biệt là dựa trên nền tảng công nghệ số.

          Mặt khác với những doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp công nghiệp thì việc ứng dụng khoa học kỹ thuật cũng hết sức cần thiết để tìm ra giải pháp đưa ra sản phẩm tốt nhất cung ứng cho thị trường, nên khoa học phải luôn gắn liền với doanh nghiệp. Chúng ta thấy rất rõ ứng dụng khoa học trong nông nghiệp với sự kết nối chặt chẽ giữa 4 nhà đó là: nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông và nhà nước.

          Vậy với cơ chế hiện nay, chính quyền đã có những chính sách gì thực sự thu hút và hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo?

          Vấn đề đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp đã được Bộ KH&CN tham mưu cho Chính phủ từ khá lâu, nhưng đến năm nay 2019 là năm được nhấn mạnh và chú trọng. Chính phủ và các bộ ngành đã vào cuộc quyết liệt, cơ chế, chính sách trong KH&CN đã được tháo gỡ và tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo ngày một hoàn thiện. Thực ra bên cạnh việc nâng cao năng lực tự thân của doanh nghiệp, rất cần sự hỗ trợ của Chính phủ và chính quyền địa phương.

          Để các doanh nghiệp bắt kịp cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, ngoài sự nỗ lực từ mỗi doanh nghiệp, nhiều chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN cũng đã được Trung ương ban hành, như: Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào KH&CN; chính sách cho phép doanh nghiệp trích 10% lợi nhuận trước thuế để thành lập quỹ phát triển KH&CN; miễn, giảm, thuế thu nhập doanh nghiệp; miễn giảm tiền sử dụng đất; thuê đất đối với doanh nghiệp KH&CN...

          Tại Nghệ An, cũng hết sức coi trọng việc áp dụng khoa học công nghệ đi vào doanh nghiệp, UBND tỉnh đã ban hành khá nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong các lĩnh vực có áp dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo như quyết định số: 2171/QĐ-UBND, ngày 24 tháng 5 năm 2017 về việc Ban hành kế hoạch hỗ trợ, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2017 - 2020; Quyết định số: 3373/ QĐ-UBND, ngày 26 tháng 7 năm 2017 về việc Phê duyệt kế hoạch chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ lĩnh vực thủy sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2017 - 2020...

          Với những chính sách hỗ trợ thiết thực đối với doanh nghiệp đó, trong những năm qua, Nghệ An đã thực hiện việc chuyển hướng hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ, trong đó: hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp bảo hộ sở hữu trí tuệ, định hướng doanh nghiệp tham gia chủ trì thực hiện các dự án khoa học công nghệ; ưu tiên xét duyệt các nhiệm vụ, ý tưởng đề xuất của doanh nghiệp... Chương trình 100 sản phẩm của Sở KH&CN đề xuất với các sản phẩm cụ thể, giúp doanh nghiệp có thể xác định được sản phẩm phù hợp để tham gia; Hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, đổi mới công nghệ thông qua việc hỗ trợ doanh nghiệp tham gia trực tiếp triển khai các nhiệm vụ KH&CN tại các Chương trình KH&CN quốc gia để nhập khẩu công nghệ, nâng cao trình độ công nghệ của doanh nghiệp...

          Với những chính sách và sự hỗ trợ doanh nghiệp thiết thực như trên, hiện nay các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tham gia vào hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định.

          Thực tế không ai hiểu hết và hiểu rõ những vấn đề tồn tại của doanh nghiệp bằng chính chủ doanh nghiệp, bởi vậy sự chủ động của doanh nghiệp trong đổi mới sáng tạo là hết sức cần thiết. Vai trò của người đứng đầu doanh nghiệp trong vấn đề này là hết sức quan trọng. Doanh nghiệp cần có kế hoạch và lộ trình đầu tư cho nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ, nguồn lực tài chính chuẩn bị cho sự phát triển.

          Những năm qua, hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo Nghệ An để lại nhiều dấu ấn. Các thủ tục hành chính được tháo gỡ, nhiều chính sách, cơ chế được ban hành tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích các nhà khoa học, tổ chức cá nhân và doanh nghiệp tham gia nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, nhằm đưa doanh nghiệp trở thành trung tâm hệ thống sáng tạo quốc gia.

          Với những điều kiện thuận lợi đó, doanh nghiệp Nghệ An đã quan tâm nhiều hơn đến đầu tư cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nhiều doanh nghiệp thành lập các trung tâm nghiên cứu như: Công ty TNHH Mía đường Nghệ An thành lập Trung tâm nghiên cứu mía đường, Công ty Cổ phần Nafoods Group thành lập Trung tâm nghiên cứu chanh leo tại huyện Quế Phong... Hoặc một số công ty thực hiện việc trích 10% lợi nhuận trước thuế để đầu tư quỹ khoa học công nghệ như: Tập đoàn TH, Tổng công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Nghệ An,... Nhiều mô hình kinh tế trang trại được phát triển có hiệu quả (HTX nông nghiệp 19/5 Nghĩa Đàn, mô hình trồng và chế biến dược liệu của Công ty CP Dược liệu Pù Mát, Công ty cổ phần dược liệu Mường Lống...). Các công ty đã hình thành mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Nhiều sản phẩm sáng tạo được ra đời từ kết quả nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ tại các doanh nghiệp có năng suất và chất lượng cao.

          Đơn cử như doanh nghiệp Tổng Công ty Cổ phần Vật tư nông nghiệp Nghệ An được xem là đơn vị điển hình tại các tỉnh phía Bắc xây dựng thành công nhiều mô hình cánh đồng mẫu, mô hình chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. tạo điều kiện hỗ trợ người nông dân tiếp cận tiến bộ khoa học công nghệ, phát triển sản xuất, tháo gỡ khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm sau thu hoạch, nâng cao giá trị gia tăng thu nhập, góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hiện nay, Tổng Công ty hiện đang trình chấp thuận chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An thực hiện dự án sản xuất nước đóng chai, chế biến trà sen và trồng rau, quả sạch công nghệ cao với mong muốn: Cung cấp nguồn nước tinh khiết và nước lon-kiềm giàu Hydrogen. Đưa được các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất các sản phẩm thương mại (đạt được sản phẩm an toàn), nhằm gia tăng sản lượng sen trên địa bàn toàn tỉnh và hình thành cơ sở chế biến các sản phẩm từ sen để nâng cao giá trị cho cây sen, phát triển nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao để tạo ra sản phẩm rau quả có năng suất cao, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao; đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Hình thành mô hình thí điểm trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, sản phẩm chủ lực là rau, củ, quả sạch phục vụ cho nhu cầu địa phương và cung cấp nguồn thực phẩm sạch an toàn cho các nhà hàng, khách sạn và siêu thị tiện lợi trên địa bàn tỉnh.

          Tóm lại, với sự tham gia của các doanh nghiệp, hoạt động khoa học công nghệ ở Nghệ An những năm gần đây trở nên sôi nổi hơn, nhanh nhạy hơn khiến "độ trễ" và khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng đã được rút ngắn và bước đầu hình thành thị trường khoa học công nghệ. Từ thực tế vai trò của khoa học công nghệ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng, từ thực trạng tình hình ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp; để các doanh nghiệp chúng ta có thể đứng vững và phát triển khi Việt Nam thực thi các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đặc biệt ngay trong năm 2019 này, cụ thể là chiều 30/6/2019, tại Hà Nội, Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và EU gồm Hiệp định thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (IPA) vừa được ký kết sau 9 năm đàm phán. Đây là dấu mốc lịch sử quan trọng, như Thủ tướng nhấn mạnh "Hai hiệp định quan trọng này như hai tuyến cao tốc quy mô lớn, hiện đại nối gần hơn EU và Việt Nam, để hai bên tiếp cận thị trường của nhau". Bởi vậy, hơn lúc nào hết chúng ta cần thúc đẩy vai trò quan trọng, cốt lõi của khoa học công nghệ đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Bản thân xin có một số mong muốn cho vấn đề này như sau:

          Thứ nhất, qua khảo sát thực tế ở các doanh nghiệp cho thấy: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là điểm yếu nhất cần phải khắc phục. Bên cạnh đó, doanh nghiệp khó khăn về tiếp cận vốn, thị trường mới, đổi mới trang thiết bị, xác định 47 chiến lược kinh doanh và năng lực quản trị. Đặc biệt để doanh nghiệp có chỗ đứng, phát triển bền vững khi Việt Nam thực thi các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; doanh nghiệp chúng ta cần chủ động tiếp tục đổi mới tư duy và hành động quyết liệt hơn nữa để đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp, đặc biệt người đứng đầu đóng vai trò dẫn dắt doanh nghiệp vô cùng quan trọng. Cách tiếp cận đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp cần toàn diện, đồng bộ hơn; không chỉ là vấn đề đổi mới công cụ, máy móc, thiết bị. Đây chỉ là phần cứng trong đổi mới công nghệ. Các doanh nghiệp cần chú trọng cả 3 yếu tố phần mềm của công nghệ là: yếu tố thông tin, phương pháp, quy trình, bí quyết; yếu tố tổ chức điều hành, quản lý và yếu tố con người. Khi phối hợp đồng bộ cả 4 yếu tố trên thì chắc chắn sẽ nâng cao được hiệu quả sản xuất - kinh doanh và năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp.

          Thứ hai, các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa cần chủ động rà soát, đánh giá một cách khách quan việc ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ trong sản xuất, kinh doanh xem mình đang đứng ở vị trí nào. Trình độ khoa học công nghệ ở mức tiên tiến, trung bình hay lạc hậu; tỷ lệ đầu tư đổi mới công nghệ đạt bao nhiêu % doanh thu; đánh giá khả năng tiếp cận công nghệ mới của doanh nghiệp xem khó khăn nhất, yếu nhất ở khâu nào. Sau đó đối chiếu với các tiêu chuẩn, điều kiện của các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới để làm cơ sở quy hoạch, xây dựng kế hoạch cụ thể cho việc đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực sao cho linh hoạt phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng doanh nghiệp. Qua đó, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có điều kiện nên đầu tư vào hoạt động nghiên cứu khoa học, trích số % lợi nhuận trước thuế để đầu tư vào quỹ khoa học công nghệ cho doanh nghiệp mình, để có giải pháp kỹ thuật, giải pháp công nghệ mới nhằm tạo ra sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của thị trường.

          Thứ ba, với việc hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đã có tác động mạnh mẽ đối với nền kinh tế Việt Nam, chúng ta cần biết tận dụng những cơ hội mà các hiệp định này mang lại cũng như hạn chế những tác động tiêu cực trong quá trình hội nhập. Hơn lúc nào hết, không chỉ trực tiếp các doanh nghiệp mà là sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, mọi người dân phải nỗ lực vượt bậc, không ngừng đổi mới và sáng tạo. Chính phủ cần điều chỉnh, bổ sung các nhiệm vụ giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ; tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển theo chiều sâu dựa trên đổi mới sáng tạo và thành tựu của khoa học công nghệ. Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận, khai thác, sử dụng hiệu quả các tiến bộ khoa học công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng hiệu quả nguồn vốn từ Quỹ Đổi mới công nghệ và các chương trình hỗ trợ khác. Sớm xây dựng và triển khai Đề án Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa để khuyến khích phát triển doanh nghiệp; trong đề án cần có sự tham gia của ngành khoa học công nghệ, các hiệp hội doanh nghiệp; xác định rõ lộ trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu khi Việt Nam thực thi các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới...

          Tóm lại, khoa học công nghệ là yếu tố cốt lõi cho doanh nghiệp phát triển. Hy vọng, với nhiều cơ chế, chính sách mở hiện nay của nhà nước nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, kết hợp sự chủ động, bứt phá của tự thân mỗi doanh nghiệp sẽ tạo đà cho nhiều doanh nghiệp trong nước nói chung và doanh nghiệp Nghệ An nói riêng phát triển, có nhiều khởi sắc mới trong tương lai không xa.

 

Viện Sư phạm Xã hội, Đại học Vinh - Môi trường nghiên cứu khoa học nghiêm khắc

PGS.TS Trần Vũ Tài

          Viện Sư phạm Xã hội, trường Đại học Vinh được thành lập vào tháng 6 năm 2018 trên cơ sở tái cấu trúc các khoa Sư phạm Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý & Quản lý tài nguyên và Giáo dục Chính trị. Bên cạnh chức năng đào tạo cử nhân sư phạm, cao học thạc sỹ và nghiên cứu sinh tiến sỹ lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, Viện Sư phạm Xã hội luôn đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt là nghiên cứu gắn với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An. Với nguồn nhân lực đông đảo, tập hợp các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực như: Ngôn ngữ và Văn hóa, Văn học, Sử học, Địa lý học, Kinh tế học, Chính trị học, Xã hội học, Dân tộc học... qua 60 năm xây dựng và phát triển của trường Đại học Vinh, các nhà khoa học thuộc Viện Sư phạm Xã hội đã dành nhiều công sức và tâm huyết cho việc nghiên cứu lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An, cho ra đời nhiều công trình, đề tài, dự án xuất sắc, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

          1. Trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa. Ngôn ngữ trở thành một kho tàng văn hóa đặc sắc, phong phú với nhiều nét riêng biệt về thành ngữ, tục ngữ, nhận diện, ngữ nghĩa, sự hành chức, đặc trưng văn hóa ngôn ngữ được khảo cứu công phu và nghiêm túc trong các công trình của GS.TS Nguyễn Nhã Bản, GS.TS. Đỗ Thị Kim Liên, PGS.TS. Hoàng Trọng Canh,        TS. Nguyễn Hoài Nguyên, TS. Đặng Lưu... Gắn với ngôn ngữ là địa danh trên các mặt: đặc điểm về cấu tạo, phương thức định danh với những đặc điểm về ý nghĩa của các yếu tố cũng như đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa qua mối quan hệ giữa địa danh với lịch sử, địa lý. Thông qua việc miêu tả và phân tích địa danh, chỉ ra các yếu tố hình thành nên đặc điểm của địa danh Nghệ An. Đó là những yếu tố địa hình, lịch sử, dân cư, văn hóa và ngôn ngữ. Những dữ liệu được thu thập, thống kê sẽ là cơ sở để xây dựng những công trình quan trọng có năng lực khái niệm hóa hoặc khai mở những cánh cửa đi vào những nẻo đường văn hóa người Nghệ ở dạng kí ức văn hóa hoặc đời sống hiện tại trên cả hai phương diện vật chất và tinh thần như Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh (Nxb Văn hoá thông tin, 1999, 459 trang), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh (Nxb Nghệ An, 2005, 397 trang,) Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh (trên dẫn liệu ngôn ngữ) (446 trang), Từ địa phương Nghệ Tĩnh về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hóa, (Nxb KHXH, 2009), Tiếng Việt trên mặt đất và trong lòng đất (Nxb Nghệ An, 2009, 243 trang)... Các vấn đề của văn hóa ngôn ngữ Nghệ An nói riêng và xứ Nghệ nói chung cũng là đối tượng được quan tâm nghiên cứu, và thực sự đã bộc lộ trong các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp từ quốc gia đến cơ sở, mà nhiều trong số đó hoàn toàn có thể trở thành những chuyên luận chững chạc như Nghiên cứu từ ngữ - văn hóa nghề biển Thanh - Nghệ Tĩnh (đề tài KHCN cấp quốc gia), Từ nghề nghiệp trong phương ngữ Nghệ Tĩnh (bước đầu khảo sát các lớp từ chỉ nghề cá, nước mắm, muối) (đề tài KHCN cấp Bộ), Đặc điểm từ nghề nông trong ngôn ngữ người Việt miền Tây Nghệ An, Đề tài KHCN Cấp Bộ), Chiến lược rào đón và nghĩa liên nhân của hành động rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh, (Luận án TS, 2017). Ngoài ra có thể kể đến hàng chục đề tài khoa học cấp trường, hàng trăm bài báo khoa học đã công bố trên các Tạp chí chuyên ngành có uy tín, các hội thảo khoa học có chất lượng cấp trường, cấp quốc gia, quốc tế. Các nghiên cứu về ngôn ngữ, văn hóa Nghệ - Tĩnh hay Nghệ An ở đây không chỉ có giá trị từ điển hay cơ bản chuyên sâu, mà còn hướng tới tính ứng dụng trên bình diện giáo dục, giao tiếp, nghề nghiệp. góp phần vào xây dựng, quảng bá hình ảnh, đời sống, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa xã hội xứ Nghệ và Nghệ An.

          Trên tinh thần khám phá, giới thiệu hình ảnh xứ Nghệ và Nghệ An ở phương diện đời sống tinh thần, bên cạnh các vấn đề văn hóa - ngôn ngữ, các vấn đề của văn học cũng được các nhà khoa học quan tâm tìm hiểu, từ văn học dân gian đến văn học viết, từ văn học trung đại đến văn học hiện đại, từ những người đã thành một phần của lịch sử văn học Nghệ An đến những người đang sống và viết. Nhìn chung, chưa thể nói là đã xuất hiện những công trình bề thế về quy mô, nhưng cũng không thể không nói đã có những nghiên cứu mang tính hệ thống về một hiện tượng, một tác giả văn học người Nghệ, trong đó đáng kể nhất có lẽ là TS. Trương Xuân Tiếu với Tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Nôm Hồ Xuân Hương (Nxb Nghệ An, 2010), Ths. Hoàng Minh Đạo với Nghệ An, suối nguồn văn hóa dân gian, PGS.TS. Đinh Trí Dũng với các nghiên cứu về Phan Thúc Trực, Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu, Trần Hữu Thung, Minh Huệ, Đặng Hồng Thiệp, Nguyễn Đăng Việt.; TS. Lê Thanh Nga với nghiên cứu về Nguyễn Biểu, Dương Thúc Hạp, Nguyễn Thiếp, Nguyễn Hữu Chỉnh, Hồ Chí Minh.

          2. Nghệ An là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, yêu nước và cách mạng. Công tác sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương trong những năm qua đã được các nhà khoa học thuộc Viện Sư phạm Xã hội tiến hành có hiệu quả. Với sự cộng tác của các nhà khoa học đầu ngành cùng các nhà nghiên cứu địa phương, một số công trình về lịch sử Nghệ An được công bố. Điều đó thể hiện trong các nghiên cứu và xuất bản của các tác giả: PGS. Phan Văn Ban, PGS.TS. Nguyễn Trọng Văn, PGS.TS. Trần Viết Thụ, PGS. TS. Nguyễn Quang Hồng, PGS. TS. Trần Vũ Tài... Đáng chú ý là công trình Lịch sử Nghệ An (2 tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2012). Dựa trên những thành tựu khoa học liên ngành từ khảo cổ học, dân tộc học, thư tịch học đến văn hoá và văn học dân gian. các tác giả đã làm nổi bật được quá trình phát triển của lịch sử Nghệ An một cách đầy đủ, toàn diện và hệ thống.

          Trong những năm gần đây, hầu hết các huyện thị trong tỉnh như thành phố Vinh, huyện Anh Sơn, Đô Lương, Nam Đàn, Nghi Lộc, Thanh Chương, Tân Kỳ, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Ng¬hĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong... đã cho biên soạn lịch sử Đảng bộ huyện; một số cơ quan ban ngành cấp tỉnh như Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hoá và Thể thao, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Ủy ban mặt trận tổ quốc tỉnh, Ban chỉ huy quân sự tỉnh, Bộ đội biên phòng, ngành Thanh tra, ngành Xăng dầu, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh. cũng đã tổ chức biên soạn lịch sử về ban ngành mình. Các nhà khoa học Viện Sư phạm Xã hội chủ biên hoặc tham gia biên soạn các công trình lịch sử của các huyện thị, cơ quan ban, ngành như: Lịch sử mặt trận tổ quốc Việt Nam thành phố Vinh (1930¬2005), (Nxb Nghệ An, 2005), Sơ thảo lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Diễn Châu (1930-2005), (Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2005), 50 năm Hải quan Nghệ An (1956-2006), (Nxb Nghệ An, 2006), Lịch sử phong trào và tổ chức hội phụ nữ thành phố Vinh(1930-2001), (Nxb Nghệ An, 2006), Công ty xăng dầu Nghệ Tĩnh 50 năm xây dựng và phát triển (1956-2006), (Nxb Nghệ An, 2006), Lịch sử ngành kiểm tra Đảng tỉnh Nghệ An (1959-2008), (Nxb Nghệ An, 2008), Lịch sử Viện Kiểm sát nhân dân Nghệ An, (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010), Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân huyện Nam Đàn (1930 - 2012), (Nxb Nghệ An, 2013), Tân Kỳ 50 năm xây dựng và phát triển (1963 -2013), (Nxb Nghệ An, 2013), Lịch sử lực lượng vũ trang Thanh Chương (1930 -2010), (Nxb Nghệ An, 2014), Lịch sử Hải quan Nghệ An (1956 -2016), (Nxb Nghệ An, 2016), Ngành Kế hoạch đầu tư tỉnh Nghệ An: 70 năm xây dựng và phát triển (1945 - 2015), (GPXB số 155/2015/GP - STTT Nghệ An, 2015), Lịch sử ngành Tài chính Nghệ An (1945 - 2015), (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2015)...

          Ngoài các công trình về lịch sử tỉnh và các địa phương trong tỉnh kể trên, vùng đất Nghệ An đã thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học từ những góc độ chuyên môn khác nhau và những mảng đề tài khác nhau. Nghệ An tự hào là quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh và đây là đề tài thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Ngoài các bài viết công bố trên các tạp chí trung ương và địa phương, Viện Sư phạm Xã hội đã chủ trì các Hội thảo Quốc gia có quy mô và gây được tiếng vang lớn. Hội thảo quốc gia "50 năm Bác Hồ về thăm quê hương Nghệ An" (Nxb Khoa học Xã hội, 2007), Hội thảo quốc gia: "Bối cảnh lịch sử Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước" (Nxb Khoa học Xã hội, 2011) đã làm sáng tỏ thêm thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mảnh đất và truyền thống lịch sử Nghệ An đã góp phần hun đúc nên nhân cách và trí tuệ Hồ Chí Minh cũng như tình cảm của Người đối với quê hương Nghệ An.

          Nghệ An là mảnh đất địa linh nhân kiệt, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quê hương và gia tộc của một số anh hùng tiêu biểu như Mai Hắc Đế, Nguyễn Huệ - Quang Trung, các nhà cách mạng tiền bối như Phan Bội Châu, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lưu, Phùng Chí Kiên. Đáng chú ý là Hội thảo khoa học toàn quốc "Mai Thúc Loan với Khởi nghĩa Hoan Châu"(Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2009) đã có nhiều đóng góp mới về sử liệu, góp phần làm sáng rõ thời gian, tầm vóc và vị thế của Mai Thúc Loan và khởi nghĩa Hoan Châu trong tiến trình lịch sử dân tộc.

          Là mảnh đất kiên cường trong đấu tranh cách mạng, phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Nghệ An đã được tái hiện trong nhiều công trình nghiên cứu, tiêu biểu như Cách mạng tháng Tám ở Nghệ An (1939 -1945), (Nxb Lao Động, 2008), Thành phố Vinh quá trình hình thành và phát triển (1804-1945), (Nxb- Nghệ An, 2003), Lịch sử Nghệ An (2 tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012). cùng với đó là nhiều khóa luận tốt ng¬hiệp, luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam đã nghiên cứu trên nhiều bình diện và góc độ khác nhau về đề tài: Nghệ An trong cuộc vận động giải phóng dân tộc, Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đóng góp của nhân dân Nghệ An đối với chiến dịch Điện Biên Phủ cũng được nghiên cứu toàn diện và công bố Kỷ yếu Hội thảo quốc gia: "Thanh - Nghệ - Tĩnh với chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ" (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014).

          Từ vùng đất phên dậu của quốc gia Đại Việt, Nghệ An đã có sự vươn lên mạnh mẽ qua từng triều đại và trở thành một vùng đất hiếu học, xuất hiện ngày càng nhiều các nhà khoa bảng và dòng họ khoa bảng. Điều đó được thể hiện qua Quốc triều đăng khoa lục của Cao Xuân Dục và gần đây là hàng loạt luận văn thạc sĩ, khoá luận tốt nghiệp nghiên cứu về các dòng họ khoa bảng như họ Hoàng, họ Hồ, họ Nguyễn ở Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu), họ Cao ở Diễn Châu, họ Phan ở Yên Thành, họ Nguyễn Cảnh ở Đô Lương, họ Đặng, họ Nguyễn Tài ở Thanh Chương, họ Nguyễn ở Nghi Lộc... càng tô đậm thêm truyền thống hiếu học và khoa bảng của người Nghệ An.

          Trong suốt chiều dài lịch sử, cộng đồng các dân tộc thiểu số Nghệ An đã chung lưng đấu cật trong việc bảo vệ quê hương, xây dựng bản làng. Đây cũng là mảng đề tài thu hút được các nhà khoa học say mê nghiên cứu, nhiều công trình có giá trị được xuất bản, tiêu biểu như Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An (Nxb Nghệ An, 2013), cùng với nhiều đề tài, dự án khảo tả về nguồn gốc tộc người, quá trình di cư, định cư của các dân tộc ít người ở miền tây Nghệ An: Dân tộc Thái, dân tộc Mông, dân tộc Khơ Mú, dân tộc Thổ, dân tộc Ơ Đu, nhóm Đan Lai; đóng góp của các dân tộc ít người ở miền Tây Nghệ An đối với lịch sử dân tộc từ xưa tới nay; thực trạng đời sống kinh tế vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc ít người ở miền Tây Nghệ An - cuối thế kỷ XX đến nay. Đồng thời, thông qua nghiên cứu của mình, bước đầu các nhà khoa học đã khảo tả một cách đầy đủ, có hệ thống những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của các dân tộc thiểu số Nghệ An, từ đó đề xuất các phương án bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số miền Tây Nghệ An.

          3. Được xem như hình ảnh của nước Việt Nam thu nhỏ, Nghệ An là một trong những tỉnh có diện tích tự nhiên và dân số đông nhất cả nước. Với đầy đủ các miền địa hình từ rừng núi, trung du đến đồng bằng ven biển, điều kiện tự nhiên Nghệ An nhiều tiềm năng nhưng cũng lắm thách thức cho việc phát triển kinh tế. Đây là mảng đề tài thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như địa chí, địa lý, kinh tế, dân cư... Điều đó thể hiện trong các công bố của PGS.TS. Đào Khang, PGS.TS. Nguyễn Thị Trang Thanh, TS. Nguyễn Thị Hoài, TS. Hoàng Phan Hải Yến, TS. Lương Thị Thành Vinh... Tiêu biểu là các công trình: Địa lí Nghệ An (Nxb Thông tin và Truyền thông, 2014)          , Địa danh lịch sử - văn hoá Nghệ An, (Nxb Nghệ An, 2006), Kinh tế Nghệ An (1885-1945), (Nxb Lý luận chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008), Địa chí thành phố Vinh, (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2015), Địa chí huyện Quỳ Châu tỉnh Nghệ An, (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2011), Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, thực tế tỉnh Nghệ An (giai đoạn 2000 - 2010) (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2015)...

          Ngoài các công trình chuyên khảo kể trên các khía cạnh của địa lý tự nhiên, địa lý kinh tế, địa lý xã hội cũng được nghiên cứu công phu trong các đề tài, dự án các cấp, đáng kể là các đề tài: Tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Nghệ An, Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh Nghệ An, Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp ở tỉnh Nghệ An, Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở miền Tây Nghệ An, Một số giải pháp tăng cường mối liên kết bền vững trong sản xuất chè ở tỉnh Nghệ An, Nghiên cứu xây dựng chuỗi giá trị thích hợp cho sản phẩm chè Nghệ An nhằm tăng giá trị cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, Thực trạng chênh lệch vùng về một số vấn đề kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An, Nghiên cứu đề xuất giải pháp và xây dựng mô hình kinh tế góp phần giảm nghèo theo hướng bền vững cho các xã bãi ngang ven biển và miền núi tỉnh Nghệ An. Cùng với đó là hàng trăm bài báo đăng tải trên các tạp chí khoa học ở trung ương và điạ phương, trong các kỷ yếu hội thảo quốc gia và quốc tế nghiên cứu các khía cạnh thực trạng của địa lý kinh tế - xã hội: Thực trạng phát triển công nghiệp tỉnh Nghệ An, Thực trạng phát triển các khu công nghiệp, khu công nghiệp nhỏ tỉnh Nghệ An, Thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp tỉnh Nghệ An, Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn lao động trong sản xuất nông - lâm -    ngư nghiệp ở tỉnh Nghệ An, Thực trạng phát triển nông - lâm - ngư nghiệp các huyện ven biển Nghệ An, Thực trạng phát triển vùng chuyên canh chè gắn với công nghiệp chế biến ở tỉnh Nghệ An, Thực trạng phát triển một số vùng chuyên canh ở tỉnh Nghệ An, Thực trạng liên kết giữa sản xuất và chế biến chè ở tỉnh Nghệ An, Thực trạng nguồn lao động ở tỉnh Nghệ An, Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh Nghệ An. Trên cơ sở đó, các nghiên cứu tập trung xây dựng mô hình, đề xuất các giải pháp phát triển: Phát triển kinh tế trang trại ở miền Tây Nghệ An, Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Nghệ An, Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở vùng núi Nghệ An, Vấn đề phát triển các vùng nguyên liệu mía ở tỉnh Nghệ An, Phát triển kinh tế trang trại vùng đồng bằng tỉnh Nghệ An, Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững ở tỉnh Nghệ An, Phát triển nông nghiệp theo hướng chuyên môn hoá ở tỉnh Nghệ An, Phát triển kinh tế hộ gia đình ở nông thôn tỉnh Nghệ An, Vấn đề bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Nghệ An, Một số giải pháp phát triển bền vững sản phẩm chè ở tỉnh Nghệ An, Một số vấn đề trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè ở tỉnh Nghệ An, Một số giải pháp và mô hình kinh tế giảm nghèo cho các xã miền núi tỉnh Nghệ An, Mô hình liên kết bền vững trong chuỗi giá trị chè tỉnh Nghệ An, Mô hình kinh tế giảm nghèo cho các xã bãi ngang ven biển tỉnh Nghệ An.

          Nghệ An là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng, đa dạng về sinh thái tự nhiên và xã hội trở thành đề tài bất tận cho các nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Các nghiên cứu về khoa học xã hội nhân văn đã góp phần gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử; đề xuất các giải pháp góp phần hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội Nghệ An trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

Nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trong bối cảnh mới hiện nay

Th.S Nguyễn Thị Minh Tú

          Khoa học xã hội và nhân văn là khoa học nghiên cứu về con người và đời sống xã hội, thông qua nghiên cứu, đánh giá thực trạng xã hội để làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý đề ra các chiến lược, kế hoạch phát triển lâu dài; góp phần nâng cao dân trí và phát triển nguồn lực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngày nay cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại không những đã tạo ra sự biến đổi sâu sắc trong

công nghệ sản xuất mà còn tác động rất lớn đến lĩnh vực chính trị xã hội trong lối sống, trong ý thức tư duy của con người, đặt vai trò vị ví của nguồn lực con người, yếu tố con người là trung tâm, động lực và là mục tiêu của sự phát triển bền vững. Đảng ta luôn quan tâm đến việc nghiên cứu KHXH&NV vì nó là cơ sở tư tưởng chỉ đạo phương hướng phát triển xã hội, là cơ sở khoa học để hoạch định chủ trương, đường lối chính sách của Đảng; là vai trò quan trọng trong việc hình thành thế giới quan khoa học, nâng cao dân trí, giáo dục tính nhân văn, bảo tồn phát huy truyền thống tốt đẹp và bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.

          Nghệ An nằm trong tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ, là vùng đất văn hiến có truyền thống lịch sử và truyền thống nhân văn đa dạng thể hiện rõ bản sắc riêng. Nghiên cứu, bảo tồn các giá trị truyền thống của Nghệ An từ xa xưa đã có nhiều học giả uyên bác để lại cho hậu thế nhiều kiệt tác giá trị. Sang thời hiện đại, Nghệ An đã hình thành đội ngũ những nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn nổi tiếng như: Cao Xuân Huy, Cao Xuân Hảo, Đặng Thai Mai, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Khánh Toàn... với nhiều công trình có giá trị mang tầm cỡ quốc gia. Ở giai đoạn hiện nay, các nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tỉnh đã đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng, bảo vệ an ninh trật tự và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

          Vào những năm 70 của thế kỷ XX, Ban Sử         55 Địa được thành lập trực thuộc UBND tỉnh đã tập hợp được một số nhà nghiên cứu và biên soạn, công bố nhiều công trình quan trọng về các lĩnh vực lịch sử, văn hóa, con người Nghệ An như: Danh nhân Nghệ Tĩnh, Lịch sử Nghệ Tĩnh (tập I)...

          Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, ngoài sự cấp thiết đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, nhiều vấn đề KHXH&NV đặt ra cần phải nghiên cứu nhằm tạo nên nền tảng tư tưởng văn hóa vững chắc và môi trường văn hóa nhân văn lành mạnh cho sự phát triển nhanh và bền vững của Nghệ An. Để thực hiện được nhiệm vụ nặng nề đó, đồng thời, khơi dậy nguồn nhân lực to lớn đầy sáng tạo của người Nghệ An trong sự nghiệp phát triển, tỉnh Nghệ An đã triển khai 3 chương trình nghiên cứu lớn về khoa học xã hội và nhân văn là:

          (1) Nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn kinh tế xã hội Nghệ An trong tiến trình đổi mới: Chương trình do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia và Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An thực hiện năm 1993.

          (2) Con người Nghệ An trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Chương trình do cố Phó giáo sư Lê Bá Hán làm Chủ nhiệm: giai đoạn I triển khai trong 3 năm (1996-1998) với 6 đề tài: Bản sắc con người Nghệ An trong tiến trình lịch sử và qua những năm của sự nghiệp đổi mới; Vai trò của gia đình trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo con người ở Nghệ An; Một số vấn đề xã hội và nhân văn của đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào các tôn giáo ở Nghệ An; Xây dựng môi trường xã hội và nhân văn ở Nghệ An; Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Nghệ An. Chương trình đã triển khai nghiên cứu khá toàn diện về các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An và huy động nhiều chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý tham gia thực hiện.

          (3) Nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế - xã hội nhằm thúc đẩy nhanh quá trình phát triển ở Nghệ An.

          Ngoài các chương trình lớn đó, trên địa bàn Nghệ An còn triển khai một số công trình thuộc các lĩnh vực văn hóa, lịch sử, tôn giáo, văn nghệ dân gian do Hội Văn nghệ Dân gian Nghệ An, mà trực tiếp là cố PGS. Ninh Viết Giao và các nhà nghiên cứu độc lập triển khai.

          Giai đoạn 1996 - 2000, các vấn đề có nội dung liên quan đến môi trường, sức khỏe, an ninh - quốc phòng, kinh tế đều được sắp xếp, tổ chức triển khai trong chương trình KHXH&NV vì vậy không có điều kiện đi sâu giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực này có trọng tâm, trọng điểm.

          Giai đoạn 2000 - 2005: chương trình KHXH&NV được giao trực tiếp cho Ban tuyên giáo chủ trì - Các vấn đề về môi trường, sức khỏe, quốc phòng - an ninh được tách ra thành các chương trình riêng. Lĩnh vực KHXH&NV chỉ tập trung giải quyết các vấn đề về quản lý kinh tế, xây dựng Đảng, chính quyền cấp xã, dân tộc, tôn giáo và các vấn đề xã hội khác. Vì vậy có điều kiện tập trung nguồn lực giải quyết các vấn đề chuyên sâu hơn. Tuy nhiên, giai đoạn này cũng có rất ít công trình nổi bật.

          Giai đoạn 2006 - nay, đây là giai đoạn có nhiều đột phá, đó chính là Trung tâm KHXH&NV Nghệ An thành lập theo Quyết định số 32/2007/ QĐ.UBND của UBND tỉnh vào năm 2007. Trung tâm KHXH&NV được thành lập với chức năng, nhiệm vụ chính là nghiên cứu những vấn đề KHXH&NV trên địa bàn tỉnh nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc lập quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển kinh tế xã hội của tỉnh; Tổ chức sưu tầm nghiên cứu các di sản văn hóa phi vật thể, Lịch sử các dân tộc, các địa phương trên địa bàn tỉnh; Bảo tồn phát huy tinh hoa văn hóa xứ Nghệ, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Nghệ An đến với bạn bè trong nước và quốc tế. Ngay sau khi thành lập, hàng loạt vấn đề lớn thuộc lĩnh vực KHXH&NV do các nhà nghiên cứu ấp ủ lâu nay được dịp triển khai đồng loạt và để lại nhiều dấu ấn, đó là:

          - Triển khai Quyết định số 928/QĐ-TTg ngày 24/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Nghiên cứu khoa học xã hội, tổng kết thực tiễn, xây dựng luận cứ khoa học cho các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa"; UBND tỉnh phê duyệt đề án tại Quyết định số 899/QĐ.UB ngày 26/3/2008 với các vấn đề được đặt ra cần nghiên cứu, giải quyết với khoảng 25 đề tài, dự án cho giai đoạn 2008 - 2020. Đến nay các vấn đề được đề xuất trong đề án đã được triển khai đạt 80 - 85% khối lượng. Đặc biệt là 3 dự án lớn được nghiên cứu và xuất bản là: Năm 2012, hoàn thành và phát hành bộ Lịch sử Nghệ An từ nguyên thủy đến năm 2005 (do Trung tâm KHXH&NV Nghệ An là đơn vị chủ trì, thực hiện trong 4 năm, từ 2009 đến 2012). Đây là công trình KHXH&NV lớn nhất từ trước đến nay của Nghệ An, tập hợp đông đảo các nhà khoa học ở các viện, trường Trung ương và các nhà nghiên cứu, bảo tàng trong tỉnh tham gia, có sự đóng góp, tham gia cố vấn của nhiều giáo sư có uy tín của cả nước như Giáo sư Đinh Xuân Lâm, Giáo sư Phan Huy Lê. Bộ Nghệ An toàn chí, do cố PGS. Ninh Viết Giao, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An làm chủ nhiệm Dự án và Trung tâm KHXH&NV chủ trì được triển khai từ năm 2010, công trình xuất bản 11 tập, khoảng 2 vạn trang sách. Công trình hệ thống hóa những tri thức cơ bản nhất về những giá trị văn hóa, địa lý, lịch sử, con người văn học dân gian, kinh tế, kỹ thuật, phong tục, tập quán... của tỉnh trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; nhằm bảo tồn, lưu giữ gia tài di sản của cha ông để lại; Phản ánh những đặc trưng văn hóa của vùng đất và con người Nghệ An, góp phần làm phong phú thêm văn hóa dân tộc Việt Nam. Năm 2015, xuất bản bộ sách Lịch sử quân sự Nghệ An 1930¬2010 gồm 2 tập. Công trình đã tổng kết, phục dựng lại một cách khách quan và khoa học lịch sử đấu tranh, xây dựng và trưởng thành của các tổ chức quân sự và lực lượng vũ trang Nghệ An từ năm 1930-2010, từ đó rút ra các quy luật chiến tranh, bài học kinh nghiệm, nhằm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của lực lượng vũ trang Nghệ An trong tình hình mới.

          - Nhóm vấn đề kinh tế, xã hội: Tập trung nghiên cứu đánh giá hiện trạng, tiềm năng của tỉnh, cung cấp những luận cứ khoa học để hoạch định chủ trương, chính sách, đóng góp tích cực đổi mới cơ chế quản lý, các hình thức sở hữu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, như: Nghiên cứu, đề xuất cơ chế chính sách phát triển kinh tế trang trại; xây dựng mô hình nông lâm kết hợp; giải pháp phát triển kinh tế tư nhân; chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; giải pháp đổi mới công nghệ cho một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu; đánh giá tiềm năng, lợi thế và xác định cơ cấu sản phẩm chiến lược của Nghệ An giai đoạn 2011-2015 có tính đến 2020.

          - Ngày 21/4/2012, Chương trình hợp tác nghiên cứu KHXH&NV giữa Viện KHXH Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) với UBND tỉnh giai đoạn 2012-2015 và đến năm 2020 được ký kết. Trên cơ sở chương trình hợp tác của tỉnh, Viện Hàn lâm đã phối hợp với tỉnh tổ chức thực hiện một số đề tài nghiên cứu khoa học: Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 - 2020 và tầm nhìn đến 2030; Đề tài: Huy động nguồn lực người xứ Nghệ ở trong và ngoài nước đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An. Kết quả nghiên cứu của các đề tài nói trên đã cung cấp những luận cứ khoa học, tổng kết những vấn đề thực tiễn trong quá trình xây dựng và phát triển của tỉnh; Là nguồn cứ liệu quan trọng giúp cho tỉnh trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội: thể chế hóa thành các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội, chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt cung cấp những luận cứ khoa học cho việc xây dựng báo cáo chính trị Đại hội 18 Đảng bộ tỉnh.

          Triển khai nhiều đề tài khoa học nhằm hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết 18-NQ/TW Hội nghị lần thứ sáu BCHTW Đảng khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đó là: Nghiên cứu về sắp xếp tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh; Nghiên cứu sắp xếp hệ thống chính trị cấp xã; Ứng dụng CNTT trong xây dựng, quản lý CSDL bộ máy và biên chế của hệ thống chính trị tỉnh...

          - Nhóm vấn đề văn hoá - lịch sử: Đã tư liệu hóa, văn tự hóa những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể thuộc lĩnh vực văn hóa dân gian và văn hóa bác học, nghiên cứu lịch sử truyền thống của địa phương, ngành. Khôi phục các lễ hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và bản sắc con người xứ Nghệ và giáo dục truyền thống cho các thế hệ. Đi sâu nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ các dân tộc trên địa bàn tỉnh như: văn hóa và ngôn ngữ người Ơ Đu, Đan Lai; xây dựng tài liệu dạy học và phầm mềm bộ gõ chữ Thái Lai - Tay, Lai - Pao; giải pháp phát triển du lịch cộng đồng gắn với xóa đói giảm nghèo ở miền Tây; áp dụng các giải pháp bảo tồn dân ca xứ Nghệ vào thực tiễn (đưa dân ca vào trường học); nghiên cứu các giải pháp bài trí thờ tự, sắp xếp đồ tế khí tại các di tích trên địa bàn tỉnh; xây dựng giáo trình, tài liệu phục vụ công tác đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng và phục vụ công tác giáo dục đào tạo.

          - Nhóm vấn đề về quốc phòng, an ninh: Tập trung vào các lĩnh vực ngăn ngừa, phòng chống tội phạm về ma tuý; công tác đảm bảo an ninh trật tự, nhất là địa bàn các tuyến biên giới; giải pháp ngăn ngừa tội phạm có hiệu quả, hạn chế tai nạn giao thông, ngăn ngừa di, dịch cư trái phép của đồng bào dân tộc; nâng cao chất lượng công tác tham mưu trong lực lượng công an và các giải pháp đảm bảo an ninh trật tự vùng giáp ranh. đã góp phần ngăn chặn các loại tội phạm đảm bảo an ninh, trật tự trên địa bàn, góp phần ổn định xã hội để thúc đẩy kinh tế phát triển. Nghiên cứu, biên soạn giáo trình huấn luyện thực hành phương án "Diễn tập chiến đấu trị an cấp xã, phường, thị trấn"; nâng cao chất lượng tranh tụng trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý chứng minh nhân dân, trong quản lý nhân hộ khẩu đã được triển khai nhân rộng trong toàn ngành công an tỉnh.

          - Thông qua việc nghiên cứu, phối hợp nghiên cứu triển khai các nhiệm vụ KHXH&NV trên địa bàn đã giúp cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu KHXH của tỉnh Nghệ An, từng bước trưởng thành, tự tin hơn trong công tác nghiên cứu. Bước đầu đã hình thành đội ngũ nghiên cứu viên trẻ, chuyên sâu theo từng lĩnh vực ở Trường Đại học Vinh, Trung tâm KHXH&NV và một số đơn vị nghiên cứu khác, tạo cầu nối chuyển giao thế hệ trong nghiên cứu KHXH&NV trên địa bàn tỉnh. Với việc thành lập cơ quan nghiên cứu về KHXH&NV đã trở thành nơi tập hợp, kết nối, thu hút các chuyên gia, các nhà khoa học không chỉ là con em xứ Nghệ mà trong cả nước về với tỉnh, giúp tỉnh nghiên cứu những vấn đề lớn của môi trường xã hội và nhân văn đang đặt ra, hạn chế về sự hẫng hụt nguồn nhân lực là chuyên gia đầu ngành.

          - Ngoài ra, thông qua tổ chức các hội thảo khoa học, điều tra xã hội học góp phần đánh giá khách quan, phản biện và đề xuất những định hướng cho quá trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh, vấn đề phát triển vùng kinh tế, vấn đề dân tộc, xóa đói giảm nghèo. Truyền thông KHXH&NV được chú trọng và không ngừng nâng cao với những đổi mới, đa dạng hóa, hiện đại hóa phương thức. Chuyên san KHXH&NV là diễn đàn tập hợp, quy tụ các nhà khoa học, quản lý trong và ngoài tỉnh để chia sẻ kinh nghiệm trong công tác phổ biến, tuyên truyền, chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn về KHXH&NV vào đời sống và sản xuất. Bên cạnh đó, các kênh truyền thông KHXH&NV trở thành phương tiện để quảng bá hình ảnh lịch sử, văn hóa, con người Nghệ An đến với đông đảo bạn đọc trong và ngoài tỉnh.

          Với những kết quả đạt được trong nghiên cứu KHXH&NV ghi nhận ở trên, hoạt động KHXH&NV còn một số tồn tại: (1) Các vấn đề thuộc lĩnh vực KHXH&NV đa phần là có tính liên ngành, phức tạp, khó và nhạy cảm cao, đặc biệt là mảng các vấn đề về tôn giáo, dân tộc, phân tầng xã hội chưa được các nhà khoa học chú tâm khai thác và nghiên cứu hoặc có nghiên cứu nhưng còn ít và chưa sâu. (2) Trong từng thời kỳ, giai đoạn, các nghiên cứu thuộc lĩnh vực KHXH&NV chưa được chú trọng đúng mức, nhiều chương trình được sắp xếp chung vào chương trình KHXH&NV vì vậy không có điều kiện nghiên cứu sâu, đặc biệt là giai đoạn 1996 - 2005. Các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu lĩnh vực KHXH&NV trên địa bàn tỉnh không nhiều. Chỉ đến khi Trung tâm KHXH&NV được thành lập thì mới huy động sự tham gia đông đảo của các nhà nghiên cứu trong và ngoài tỉnh chủ trì, tham gia, phối hợp nghiên cứu và đã có một số công trình lớn được thực hiện trong giai đoạn này. (3) Những năm gần đây, chương trình KHXH&NV đã đề ra mục tiêu và xác định các nhiệm vụ nghiên cứu có định hướng và trọng tâm hơn, nhưng đa số các đề tài, dự án khoa học được đề xuất, thực hiện vẫn theo chiều hướng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu các vấn đề về quá khứ như văn hóa, lịch sử mà có rất ít các công trình mang tính dự báo. (4) Các công trình nghiên cứu gắn với thực tiễn, phục vụ thực tiễn cuộc sống chưa nhiều, hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu KHXH&NV chưa cao, do tích đặc thù của lĩnh vực này.

          Với xu thế hiện nay và trong môi trường công nghệ, thế giới phẳng tác động làm thay đổi rất lớn đến kinh tế - xã hội - văn hóa. Do đó, hoạt động KHXH&NV thay đổi để phù hợp với bối cảnh mới. Đối với khoa học xã hội và nhân văn, cần tiếp tục bảo đảm cung cấp được luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh chính trị và bồi đắp, phát huy các giá trị văn hóa, xã hội và con người xứ Nghệ. Định hướng nghiên cứu lĩnh vực KHXH&NV trong thời gian tới tập trung:

          - Nghiên cứu, cung cấp những luận cứ khoa học góp phần xây dựng chiến lược phát triển kinh tế, xã hội tỉnh; về kinh tế vùng và các vùng kinh tế; các loại hình tổ chức kinh tế; phát triển các chuỗi sản phẩm chủ lực của tỉnh; phát triển du lịch; nghiên cứu, đề xuất giải pháp phát triển sinh kế cho người dân, công tác xóa đói giảm nghèo.

          - Nghiên cứu chính sách hỗ trợ phát triển các loại hình doanh nghiệp; điều tra khảo sát nhu cầu, phản hồi của doanh nghiệp về nền hành chính, chính sách, môi trường đầu tư.

          - Nghiên cứu, xây dựng cơ chế tư vấn, phản biện và giám sát xã hội cho các nhiệm vụ, chương trình kinh tế xã hội trọng điểm.

          - Nghiên cứu các vấn đề về tiềm năng thế mạnh và môi trường đầu tư, môi trường xã hội của Nghệ An.

          - Đối với văn hóa đi sâu nghiên cứu về sắc thái, bản địa, sự khác biệt để cạnh tranh, phát triển trong kỷ nguyên số.

          - Nghiên cứu bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống - lịch sử - văn hoá của Nghệ An; Vấn đề phát huy nguồn lực con người Nghệ An. Chính sách thu hút, sử dụng nguồn lực con người xứ Nghệ vào xây dựng quê hương đất nước.

          - Nghiên cứu, đánh giá các vấn đề xã hội phục vụ công tác bảo đảm an ninh, tạo môi trường cho phát triển kinh tế xã hội gồm vấn đề biến đổi cơ cấu xã hội, phân hoá giàu - nghèo, dân tộc, tôn giáo; văn hóa đô thị; xây dựng nông thôn mới; văn hoá ứng xử với môi trường xã hội của đồng bào các dân tộc ít người đề xuất những giải pháp quản lý, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường cho phát triển kinh tế - xã hội.

          - Nghiên cứu và ứng dụng trong khoa học quản lý.

          - Nghiên cứu một số vấn đề bức thiết, nổi cộm như: phát triển miền Tây Nghệ An; Những vấn đề về tôn giáo và công tác tôn giáo; Văn hóa đô thị; Xây dựng nông thôn mới; Vấn đề giải phóng mặt bằng và hậu giải phóng mặt bằng; Vấn đề lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch; Mạng xã hội, vấn đề phản biện...

          - Nghiên cứu triển khai các giải pháp xử lý hiệu quả các vấn đề xã hội ảnh hưởng đến quốc phòng - an ninh.

          - Nghiên cứu tổng kết thực tiễn, nhất là trong lĩnh vực kinh tế hợp tác, tái cơ cấu nền kinh tế.

PGS. Ninh Viết Giao - Người nặng lòng với văn hóa dân gian xứ Nghệ

Th.S Nguyễn Quốc Hồng

Thành công từ nghị lực và đam mê

          PGS Ninh Viết Giao sinh ngày 15/05/1933, tại xã Hoằng Xuyên, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1956, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Văn khoa Hà Nội, thầy được Bộ Giáo dục quyết định cử vào liên khu IV dạy trường cấp III Huỳnh Thúc Kháng, tỉnh Nghệ An. Ngày lên đường về Vinh nhận công tác, thầy đến chào thầy Trương Tửu dạy văn học Việt Nam hỏi ý kiến, thầy bảo: "Anh có năng khiếu và chịu khó, nếu ở Hà Nội thì đi vào lĩnh vực nghiên cứu văn học hiện đại, nếu về địa phương thì đi vào văn học dân gian, Nghệ Tĩnh là một vùng văn hóa đặc sắc cậu chú ý cái mảng văn hóa dân gian. Điều cốt yếu là đam mê, có đam mê mới thành công được cậu ạ" (1).

          Về sống và làm việc ở Nghệ An, thầy giáo trẻ Ninh Viết Giao làm việc bằng "cả hai tay", hai lĩnh vực, đó là giáo dục và sưu tầm, biên soạn, công bố các công trình văn hóa dân gian.

          Từ những gợi ý ban đầu của người thầy vô cùng quý trọng, thầy Ninh Viết Giao bước vào địa hạt sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian. Hơn 1/2 thế kỷ thầy luôn cần mẫn, nghiêm túc trong công việc. Ban đầu gặp muôn vàn khó khăn, thầy đã từng tâm sự: "Tôi là người ngoài tỉnh, lại sinh sau đẻ muộn, hiểu biết về chữ Hán, về văn ngôn rất hạn chế, song tôi có một nhiệt tình, có lòng đam mê, có một đức tính cần cù, nghị lực, đã chọn việc gì thì phải quyết tâm theo đuổi để làm thành công"(2).

          Điều tâm sự ấy cũng chính là những suy nghĩ của một trí thức hiểu rõ vai trò của văn hóa truyền thống dân tộc, đó cũng chính là niềm say mê, tình yêu đối với lĩnh vực văn hóa dân gian xứ Nghệ.

          Để có được một gia tài về văn hóa dân gian xứ Nghệ để lại cho hôm nay, trước hết phải nói đến nghị lực phi thường của thầy trong việc rong ruổi khắp các làng quê để sưu tầm trầm tích văn hóa dân gian xứ Nghệ. Ròng rã 4 năm trời từ đầu năm 1966 đến đầu năm 1970, với một ít tiền và tem phiếu, với khát vọng gom góp những câu chuyện cổ tích, những câu ca dao, những bài vè của ông cha để lại. Với một chiếc xe đạp lọc cọc, một ba lô đựng vài bộ quần áo, cùng với giấy tờ tùy thân thầy đã rong ruổi đến 300/465(3) xã ở tỉnh Nghệ An và hàng trăm xã khác ở tỉnh Hà Tĩnh. Mỗi xã thầy ở lại từ 3 đến 4 ngày, đến từng làng, vào từng nhà để xin các cụ đọc cho nghe, kể cho ghi những bài ca dao, những câu đố, câu dân ca, câu chuyện cổ tích của làng xóm, quê hương. Một sức đi không mệt mỏi khó ai bì được. Đó là những xã đã đặt chân đến, còn những xã chưa đến được, thầy tìm tòi, khai thác trong sách vở, trong tài liệu cổ, và như một lần tâm sự với một nhà báo rằng: "Tất cả các xã trên xứ sở này tôi đều biết từ đặc điểm địa lý đến lịch sử và con người"(4).

          Năm 1995, thầy mắc căn bệnh ung thư biểu mô (tuyến giáp thể) phải trải qua 5 lần phẫu thuật tại bệnh viện K - Hà Nội. Sau mỗi lần phẫu thuật, thầy lại tiếp tục nghiên cứu, biên soạn và cho ra đời nhiều tập sách. Tính từ khi lâm bệnh đến khi trút hơi thở cuối cùng, thầy cho ra đời 28 đầu sách cả viết riêng và viết chung. Hơn 1/2 thế kỷ gắn bó với công việc sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian xứ Nghệ, thầy Ninh Viết Giao để lại một nhân cách làm khoa học với tinh thần trung thực, thái độ làm việc đam mê, khiêm tốn với một nỗ lực phi thường, đầy trách nhiệm, thầy lặng lẽ ví mình "Chỉ là một hạt cát của dân gian, hạt cát của mình có nhỉnh hơn hạt cát khác bởi được bồi đắp thêm vào"(5).

          PGS đã đưa ra tuyên ngôn về nhân cách một nhà khoa học "Không được ăn xổi ở thì, không được ăn cháo đá bát, không được ăn cắp của đồng nghiệp và cuối cùng là không được gian lận với nhân dân"6).

Để lại một gia tài đồ sộ về văn hóa dân gian xứ Nghệ

          Với lòng đam mê và sự nỗ lực hiếm có PGS Ninh Viết Giao đã để lại cho nhân dân xứ Nghệ một gia tài về văn hóa văn nghệ dân gian đồ sộ. Cuốn sách đầu tiên: Câu đố Việt Nam - xuất bản năm 1958 và công trình cuối cùng Làng xã Nghệ An - xuất bản năm 2016, tất cả là 53 cuốn sách. Điều đáng nói là nhiều sách của PGS viết đã được tái bản từ 2 đến 3 lần, có những cuốn sách tái bản đến 7 lần như Câu đố Việt Nam. Các tập sách để lại bao gồm đầy đủ các loại hình, từ văn hóa văn nghệ dân gian, địa chí đến thơ văn yêu nước, về các tác gia...

          Về văn học dân gian có: Hát phường vải; hát giặm Nghệ Tĩnh (viết chung với Nguyễn Đổng Chi); truyện cổ Thai (viết chung); Gánh bưởi qua sông; Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ (chủ biên); Kho tàng ca dao xứ Nghệ (chủ biên) và Kho tàng vè xứ Nghệ gồm 9 tập.

          Về thể loại địa chí có các tập sách: Nam Đàn quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh (viết chung với Trần Thanh Tâm); Tân Kỳ truyền thống và làng xã (chủ biên); Địa chí văn hóa Quỳnh Lưu, Địa chí văn hóa Quỳ Hợp, Địa chí huyện Tương Dương, Địa chí văn hóa huyện Hưng Nguyên (chủ biên), Địa chí huyện Nghi Lộc và Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh (Nguyễn Đổng Chi chủ biên).

Loại sách vè: Tục thờ thần và thần tích Nghệ An; Văn bia Nghệ An và nhiều thể loại khác như: Nghề (làng nghề) truyền thống Nghệ An (chủ biên), Hương ước Nghệ An (sách viết chung), Thơ văn Xô viết Nghệ Tĩnh, Văn hóa ẩm thực dân gian xứ Nghệ, Thơ văn nhà Nho xứ Nghệ, Từ điển nhân vật xứ Nghệ, chỉ một con đường; Về văn hóa xứ Nghệ xuất bản 4 tập trong tổng tập Nghệ An toàn chí: Truyện kể dân gian xứ Nghệ (Chủ biên); Làng xã Nghệ An (chủ biên), Tổng tập thơ văn yêu nước và cách mạng Nghệ An (chủ biên), Giáo dục Nghệ An (chủ biên) và nhiều tập sách khác cùng với gần 200 bài báo, bài tham luận tại các hội thảo quốc gia và quốc tế.

          Có lẽ trong lĩnh vực nghiên cứu về văn hóa dân gian xứ Nghệ kể từ Bùi Dương Lịch với các công trình: Nghệ An ký, Nghệ An phong thổ ký, Nghệ An chí và Yêu hội chí thì PGS Ninh Viết Giao với tư cách là người đi sau nhưng đã để lại một số lượng sách đồ sộ. Và chính gia tài về văn hóa dân gian xứ Nghệ thầy để lại cho nhân dân xứ Nghệ đã đưa PGS vượt khỏi tầm địa phương trở thành nhà nghiên cứu văn hóa dân gian của cả nước.

          Những tập sách về văn hóa dân gian xứ Nghệ PGS Ninh Viết Giao để lại cho nhân dân xứ Nghệ đã bảo tồn, lưu giữ gia tài di sản văn hóa của cha ông ông đồng thời là những bảo vật của nhân dân xứ Nghệ để quảng bá, giới thiệu rộng rãi với nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế về hình ảnh đất nước và con người xứ Nghệ, một vùng văn hóa đặc sắc, phong phú và đa dạng với truyền thống nhân văn sâu sắc.

          Sự lan tỏa của những tập sách không chỉ là bảo tồn, lưu giữ và quảng bá, mà còn là kho tư liệu đồ sộ cho các sinh viên, các học viên cao học và các nghiên cứu sinh về mảng văn hóa văn nghệ dân gian làm nguồn tư liệu để nghiên cứu, viết luận văn, luận án tốt nghiệp đại học, thạc sĩ và tiến sĩ. Sự nghiệp của PGS không chỉ sưu tầm, nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian xứ Nghệ, mà còn là Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian địa phương có uy tín. Đầu năm 1991, Hội văn nghệ dân gian Nghệ An ra đời, PGS được bầu làm Tổng thư ký (sau này gọi là Chủ tịch Hội). Là Chủ tịch Hội, PGS luôn trăn trở về phương pháp hoạt động, về xây dựng nguồn lực con người, làm sao để tập hợp được nhiều người tham gia, làm sao để' biến hội từ ít thành nhiều, yếu thành mạnh, mới ra đời mà như đã lâu. Với phương pháp hoạt động bài bản, nghiêm túc và sức thu hút mạnh mẽ của người đứng đầu với hội viên, hơn 20 năm ra đời và hoạt động, Hội văn nghệ dân gian Nghệ An trở thành một trong những Hội mạnh nhất cả nước, cả về hội viên và số lượng công trình. Được như vậy là có một phần không nhỏ của PGS Ninh Viết Giao.

Giải thưởng và phần thưởng cao quý

          Khi nhắc đến PGS Ninh Viết Giao, nhiều người nói đó là người của giải thưởng.

          Với phương pháp làm việc khoa học, sự đam mê và nghị lực phi thường của "Người thợ tìm quặng cô độc"(7), PGS Ninh Viết Giao đã phát hiện và khai thác được một số lượng tài sản văn hóa tinh thần của xứ Nghệ lớn lao. Đánh giá về công lao của PGS, Đảng và Nhà nước ta đã trao tặng nhiều giải thưởng và phần thưởng cao quý.

          Từ giải thưởng đầu tiên của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tặng về thành tích hoạt động và sưu tầm văn học dân gian (năm 1971) đến khi được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh - Giải thưởng cao quý nhất vào năm 2017, PGS Ninh Viết Giao được tặng 25 giải thưởng, từ giải nhất đến giải khuyến khích của Hội Văn nghệ dân gian Việt nam, Giải thưởng Hồ Xuân Hương của UBND tỉnh Nghệ An và của các báo trong nước. Ngoài những giải thưởng, PGS Ninh Viết Giao được Đảng, Nhà nước và các ngành Trung ương tặng nhiều huân, huy chương cao quý: Huân chương kháng chiến hạng nhất (năm 1983); Huân chương lao động hạng 3 (năm 1997) và Huân chương lao động hạng 2 (năm 2004) và các huy chương về: sự nghiệp giáo dục, về sự nghiệp văn học nghệ thuật Việt Nam; về sự nghiệp văn nghệ dân gian; về sự nghiệp dân số; về sự nghiệp công đoàn và về sự nghiệp văn hóa thông tin cơ sở.

          Năm 1984, thầy được phong chức vụ khoa học PGS. Việc thầy được phong PGS đã trở thành hiện tượng, bởi trong toàn quốc lúc bấy giờ chưa có người nào dạng phổ thông trung học ở địa phương có chức danh khoa học PGS. Thầy là người đầu tiên ở địa phương và là người đầu tiên ở ngành giáo dục phổ thông được công nhận chức danh khoa học này.

          Năm 2001, PGS được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tặng Giải thưởng Nhà nước đợt 1 về văn học nghệ thuật cho cụm công trình: Hát phường vải (1961, 1993); Văn học dân gian Nghệ Tĩnh (1982) và Địa chí văn hóa Quỳnh Lưu.

          Năm 2013, Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã trao huy chương và bằng xác nhận kỷ lục "Người có nhiều công trình nghiên cứu nhất về dân ca xứ Nghệ".

          Năm 2017, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho tác phẩm sách Kho tàng vè xứ Nghệ (9 tập).

          Năm mươi tám năm, kể từ ngày đặt chânvề vùng đất xứ Nghệ, năm 1956 đến khi "Cây đại thụ''(8) của văn hóa, văn nghệ dân gian xứ Nghệ trút hơi thở cuối cùng vào hồi 10:05 ngày 06/03/2014 tại thành phố Vinh, PGS Ninh Viết Giao đã gắn trọn cuộc đời công tác của mình cho văn hóa, văn nghệ dân gian xứ Nghệ.

          Nhìn lại 58 năm gắn bó với xứ Nghệ đến "Bạc đầu anh vẫn thiết tha"(7) và cả lòng đam mê và một nghị lực phi thường. Và một xứ Nghệ đã "cho" PGS Ninh Viết Giao một kho tàng văn hóa, văn nghệ dân gian giàu bản sắc, nhiều về số lượng, phong phú về loại hình và nhân dân xứ Nghệ vừa sáng tạo ra, vừa nâng niu, vừa gìn giữ kho tàng văn hóa ấy. Đó chính là sức cuốn hút của xứ Nghệ, đã gặp gỡ PGS Ninh Viết Giao đầy đam mê và trí tuệ.

          Gia tài của PGS Ninh Viết Giao để lại cho nhân dân xứ Nghệ với hàng vạn trang sách gồm các thể loại: Từ ca dao đến vè, bài hát nói, ví giặm, truyện kể, thần tích, địa chí các huyện... là hết sức quý giá được giữ lại cho đời, nó như những viên ngọc quý. Vấn đề là ở chỗ những viên ngọc ấy không chỉ để cất giữ mãi mà chúng ta phải biết tiếp nhận và gieo những viên ngọc văn hóa dân gian ấy vào cuộc sống, vào cộng đồng hôm nay. Đó mới là cách lưu giữ có hiệu quả nhất. Bởi xét đến cùng, giá trị lớn nhất của gia tài văn hóa dân gian của ông cha để lại chính là bài học của quá khứ, bài học làm người cho chúng ta hôm nay, biết ơn PGS chúng ta tiếp tục khai thác trầm tích kho tàng văn hóa dân gian xứ Nghệ, để gia tài đó tiếp tục sinh sôi và không ngừng phát triển.

 

Chú thích

  1. . Ninh Viết Giao - Xứ Nghệ và tôi, NXB Nghệ An năm 2012, trang 42.
  2. Sđd trang 58
  3. Hiện nay, Nghệ An có 480 xã, phường, thị trấn.
  4. Sđd trang 166
  5. Sđd trang 158
  6. Sđd trang 97
  7. Sđd trang 110
  8. Ngô Thảo - Nghĩ về tầm vóc nhà giáo đi tìm quặng - Đăng trong Xứ Nghệ và Tôi (sđd trang 337).
  9. Chữ dùng trong điếu văn của Ban lễ tang tại Lễ truy điệu PGS Ninh Viết Giao.

Tài liệu tham khảo

  1. Ninh Viết Giao - Xứ Nghệ và Tôi - NXB Nghệ An - 2012.
  2. Ninh Viết Giao - Nghệ An đất phát nhân tài - NXB Nghệ An - 2017.
  3. Ninh Viết Giao - Về văn hóa xứ Nghệ (Tập 2) - NXB Nghệ An - 2007
  4. Điếu văn của Ban lễ tang đọc tại Lễ truy điệu PGS Ninh Viết Giao.
  5. Nguyên Xuân Đức - PGS Ninh Viết Giao và Xứ Nghệ - Những điều tôi biết đăng Chuyên san KHXH Nghệ An số 4/2014.

 

 

Người một đời tâm huyết với xứ Nghệ

PGS.TS Phan Mậu Cảnh

          Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Nhã Bản sinh ra và lớn lên ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, một vùng địa linh nhân kiệt. Ông học tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, bảo vệ luận án Tiến sĩ tại Đại học Tổng hợp Moskva mang tên Lômônôxôp (MGU). Đời làm nghề giáo, ông gắn với trường Đại học Vinh (ĐHV), gắn với mảnh đất xứ Nghệ. Ông từng làm quản lý các cấp: tổ, khoa, chuyên ngành rồi viện (Viện trưởng Viện nghiên cứu Văn hóa và Ngôn ngữ - ĐHV). Là người có công đầu mở đào tạo cao học ngành ngôn ngữ từ sau những năm 90, góp phần đưa ngành Ngôn ngữ học của khoa Ngữ văn, ĐHV lên tầm một trong những trung tâm đào tạo uy tín của cả nước.

          Giáo sư giảng dạy nhiều chuyên đề, tham gia bồi dưỡng cán bộ trẻ và hướng dẫn các thế hệ học viên cao học và nghiên cứu sinh. Lĩnh vực nào ông cũng có những dấu ấn riêng với những đóng góp rất đáng được ghi nhận. Nhưng nổi trội nhất trong gần 40 năm công tác của ông chính là mảng nghiên cứu; có thể xem ông là nhà Nghệ ngữ học tiêu biểu hiện nay.

          Ngôn ngữ là một thành tố văn hoá, là hiện thân của văn hoá thời cũng là biểu trưng của văn hoá "Không có một chiếc chìa khoá vạn năng nào để mở cửa vào cuộc sống nội tâm của một dân tộc ngoại trừ ngôn ngữ của dân tộc đó" (Hevvett). Theo nghĩa ấy, tiếng Nghệ là một thành tố văn hóa biểu hiện rõ nhất nét đặc thù của tiểu vùng văn hóa Nghệ Tĩnh. Ông sớm nhận thấy điều này trong tiếng Nghệ; và ông đã "túm" lấy chìa khoá đó để từ các hiện tượng lời ăn tiếng nói của người dân mà lý giải văn hoá nói chung, tiểu vùng văn hoá xứ Nghệ nói riêng, một cách thấu đáo, sâu sắc, đầy sức thuyết phục.

          Quả vậy, trong lĩnh vực chuyên môn, dù tham gia giảng dạy nhiều học phần thuộc ngôn ngữ đại cương, ngôn ngữ thơ, ngữ âm học, phương ngữ học nhưng ý tưởng về nghề, trong đó việc "làm gì trên/ cho mảnh đất xứ Nghệ" được ông tỏ bày rồi định hình dần từ những năm 90. Văn hoá Nghệ Tĩnh nói chung, tiếng nói của xứ Nghệ nói riêng, dù đã có nhiều tác giả nghiên cứu nhưng ông đã ra tìm cách đi của mình. Và càng về sau, gần như ông dành toàn công sức châu tuần vào một hướng đi là phương ngữ Nghệ Tĩnh. Mình sống trên "mỏ vàng" thì phải biết đánh thức, khai thác. Ông bắt đầu chú tâm hơn việc hệ thống lại và tìm hiểu kỹ hơn tiếng Nghệ. Bài giảng, bài báo, đề tài hướng dẫn học viên cao học, nghiên cứu sinh, đề tài nghiên cứu các cấp... của ngành ngôn ngữ, do ông khởi xướng và cùng một số anh em trong ngành ngôn ngữ trường ĐHV tham gia, đã chú ý nhiều hơn vào ngôn ngữ - văn hóa xứ Nghệ.

          Và mấy năm về sau đã có kết quả trông thấy. Có khoảng gần 50 bài báo khoa học, 6 đề tài cấp Bộ và cấp tỉnh do ông chủ trì, hơn 50 đề tài luận văn cao học và luận án tiến sĩ do ông hướng dẫn, tất cả đều tập trung vào lĩnh vực phương ngữ. Các công trình do Giáo sư chủ biên lần lượt ra đời: Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh (1999), Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh (trên dẫn liệu ngôn ngữ) (2001), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh (2005), Cuộc sống của thành ngữ, tục ngữ trong kho tàng ca dao người Việt (2007), Tiếng Việt trong lòng đất và trên mặt đất (2009), v.v.. Cả một "sery" về Nghệ học.

          Các công trình của Nguyễn Nhã Bản đề cập đến phương diện lý luận (về văn hoá, phương ngữ, địa danh), tổng kết khá đầy đủ về lịch sử vấn đề. Mặc dù ông xem xét ngôn từ ở diện đồng đại nhưng qua đó lại vén lên được bức màn ẩn sâu những vỉa tầng của lịch đại. Đáng ghi nhận nhất là mảng tư liệu về phương ngôn thổ ngữ (thể hiện trong các từ điển); các phân tích về ngữ âm, từ vựng, hoạt động của thành ngữ, tục ngữ, hệ thống địa danh vùng Nghệ Tĩnh (thể hiện trong các chuyên luận). Tổng hợp các công trình ông đã công bố, có thể thấy tác giả có công dựng lại, miêu tả một cách hệ thống, làm bật nổi nhiều đặc điểm của phương ngữ Nghệ Tĩnh.

          Về ngữ âm, ông cho rằng phương ngữ vùng này có nhiều nét "lạ" như: chỉ có ba thanh điệu, trầm, âm vực thấp, đằm và phần đoạn tính có nhiều biến đổi, đối ứng cực kỳ phức tạp... Tất cả làm nên tiếng Nghệ, giọng Nghệ (tr.330)(1).

          Về từ vựng tiếng Nghệ, ông cho rằng, đó là những từ cư trú ở một địa phương cụ thể có sự khác biệt với ngôn ngữ văn hóa hoặc với địa phương khác về ngữ âm và ngữ nghĩa (tr.337)(2). Ông cùng các cộng sự góp nhặt nguồn ngữ liệu từ đời sống và trong thơ ca dân gian xứ Nghệ, biên soạn thành hai cuốn từ điển (Từ điển từ và Từ điển thành ngữ tục ngữ) dày dặn, công phu. Ông nói đến những nhát cắt trong tâm thức người Nghệ, thể hiện qua việc biểu thị các loại 66 âm và nghĩa (từ ngữ âm và từ ngữ nghĩa). Chẳng hạn, khái niệm "bé, nhỏ" trong tiếng Nghệ là cả một loạt từ: đích, mén, thẹo, thỉ, tỉ, tỉu, chút... (tr. 342)(3); từ mần vừa có nghĩa là làm (mần cao, mần du, mần nhục) vừa dùng với nghĩa khác với ngôn ngữ chung, như: ăn, chạy, gánh, đánh....; lại có những kết hợp tạo thành từ (mần mạn, mần lẩy, mần sạch) hay tục ngữ, thành ngữ (Mần ả ngả mặt lên, mần như tru, mần như kít...). Trong các công trình của Nguyễn Nhã Bản, ta bắt gặp ngồn ngộn những phân tích như thế. Hoá ra lời ăn tiếng nói dân quê mình có cả thanh và tục, có cái văn hóa và cái đời thường; nó sinh động, tươi mới, gần gũi, diễn tả "đích đáng" điều cần nói (Chết thì chúc thực điểm trà, Sống thì xin đọi nác cà nỏ cho; Bút Cấm Chỉ sĩ Thiên Lộc; Hội Thống lắm tiền, Xuân Viên lắm ló, Tiên Điền lắm quan; Ả em du như tru một bịn, chưa đặt khu đã tu mồm, lằng nhằng như chó lẹo chắc; béo như trấn mấn, mặt như khu mấn, rách như mấn đập chắc, lúng búng như địt trong mấn, ngúc ngắc như c.sợ (thợ) cưa,v.v...).

          Đằng sau các phân tích về ngôn ngữ học, khi thì hiển ngôn khi thì thấp thoáng, ta bắt gặp ở đâu đó những chỉ dẫn người đọc đến cái đích rằng: tôi nói đến ngôn ngữ thời cũng là để về đến tư duy, đến văn hoá và con người xứ Nghệ. Cái "giọng Nghệ" (với các đặc trưng về ngữ âm: đằm, nặng, trầm hùng, ba thanh điệu, âm vực thấp) đã làm nên bản sắc văn hoá riêng có của vùng đất này: lưu giữ nhiều yếu tố cổ thể hiện một vùng văn hoá cổ xưa, lâu đời của dân tộc. Kho tàng vốn từ, lời quê, cách nói năng ví von của người dân (lặp từ, dùng thành ngữ tục ngữ, chơi chữ...) cho thấy người xứ Nghệ thông minh, sắc sảo nhưng cũng rõ ràng, dứt khoát, đầy ý chí nghị lực...

          Cũng như nhiều người tìm hiểu về xứ Nghệ, tác giả bằng tư liệu và góc nhìn của mình, cố gắng lý giải các đặc điểm: địa linh nhân kiệt, truyền thống cách mạng, các anh hùng, danh nhân văn hoá, thông minh học giỏi, cá tính (thẳng thắn, gàn)... Rồi tìm nguyên nhân của các đặc trưng này từ các yếu tố địa - văn hoá: vùng biên viễn, nơi dồn toa, dung nạp nhiều hạng người, do phong thuỷ địa lý, do điều kiện tự nhiện vừa sơn thuỷ hữu tình vừa khắc nghiệt dữ dội... Ông bộc bạch: "Những gì chúng tôi trình bày từ góc độ ngôn ngữ - văn hoá cũng chỉ là nỗi lòng, tâm khảm của đứa con quê hương với đất mẹ. Tất cả cũng chỉ là sự gợi ý cho một định hướng, một cách tiếp cận"(4).

          Thế mới biết, tiếng Nghệ, trên diện biểu kiến, thoạt nghe tưởng hẹp nhưng đi vào lại thấy mở ra nhiều hướng; tưởng khô mà càng khám phá càng thấy bao điều thú vị, tế vi; tưởng cạn mà hóa ra còn nhiều trầm tích, vỉa quặng khám phá không biết lúc nào cho hết; tưởng chỉ đơn thuần tìm hiểu nó là vì chính nó hoá ra đằng sau đó lại là nếp cảm nếp nghĩ, rộng hơn là cốt cách của con người, biểu trưng văn hoá của một cộng đồng qua các thời kỳ lịch sử...

          Mới hay ở đời việc đóng góp không phải chỉ làm cái gì mà cái chính là làm ra sao, làm được gì. Đề tài là tài chọn đề. Quả là tác giả đã chọn hướng đi phù hợp với cái tạng, cái sở trường và hợp cái môi trường của mình. Không làm nên núi thì nên đá. Và thế là ông thành công, thành danh sớm. Nguyễn Nhã Bản góp công làm cho người ta hiểu hơn tiếng Nghệ - rộng hơn là hiểu thêm con người và văn hóa xứ Nghệ; ngược lại, tiếng Nghệ - văn hóa xứ Nghệ cũng đưa lại cho tác giả nhiều thứ, làm nên danh vị, danh phận một con người (Ông là một trong số rất ít giảng viên của ĐHV được phong học hàm Giáo sư cũng từ những công trình nghiên cứu như thế).

          Điều đáng nói là, trong nghiên cứu, ông không "đánh lẻ" mà biết tập hợp nhiều đồng nghiệp trong tổ, trong ngành, nhiều công trình còn có cả học viên cao học, nghiên cứu sinh cùng tham gia. Không khí học thuật, chất lượng đào tạo, hướng nghiên cứu mang tính ứng dụng, mối liên hệ và đóng góp của khoa, trường với địa phương vì vậy có hiệu quả thiết thực, được ghi nhận, phù hợp phương châm giáo dục, được các chuyên gia trong và ngoài ngành đánh giá cao... Các công trình của Nguyễn Nhã Bản đã khơi gợi, làm cho người ta thấy rõ hơn ý nghĩa mà cha ông đã đúc kết, sử dụng, qua đó mà càng quý trọng tiếng nói - văn hóa dân tộc... Đây là nguồn ngữ liệu quí góp công bảo tồn vốn cổ, cần thiết cho những ai xây dựng những công trình dài hơi sau này.

          Cố Giáo sư Phạm Đức Dương cũng là người xứ Nghệ, chuyên gia hàng đầu về văn hóa ngôn ngữ phương Đông; sinh thời Giáo sư rất quan tâm đến các công trình ngôn ngữ văn hóa Nghệ Tĩnh, đánh giá cao các nghiên cứu của Nguyễn Nhã Bản. Những năm Giáo sư Phạm Đức Dương còn khỏe, vào dạy cho học viên, lúc trà dư tửu hậu, thường tâm sự: Mình là người Nghệ nên "Chịu chơi mà không chơi chịu". Ông đánh giá: Những tìm tòi của Nhã Bản làm tôi bị cuốn hút ngỡ ngàng đến sững sờ với những lý giải rất hay, đầy cảm xúc. Ông nói vui: Nhưng nó cũng có chút "gàn Nghệ"... Chưa đi chưa biết Nghệ An. Đi rồi mới biết nó gàn làm sao. Mỗi năm một bận ra vào. Ở lâu xứ Nghệ đến tao cũng gàn"...

          Những năm sau này, sức khỏe giảm sút, nhưng Nguyễn Nhã Bản vẫn ấp ủ dự định làm kỹ hơn về văn hoá xứ Nghệ, về địa danh và danh nhân Nghệ Tĩnh, những vấn đề mà ông tâm huyết nhưng đang còn dang dở. Đời là vu vơ vút vít, mần được cái gì thì cố mà mần. Lúc trà dư tửu hậu, ông thường nói vui như thế và quả thật ông đã làm như thế. Dường như linh cảm thấy quỹ thời gian trần thế dành cho mình đã cạn, ông gắng gỏi chạy đua, may vẫn kịp hoàn tất đề tài cấp Bộ về địa danh Nghệ Tĩnh trước lúc rời xa cõi tạm.

          Một chiều mưa ngâu tháng bảy năm 2015, ông về lại mảnh đất Bình Sơn nơi gần 70 năm trước người đã cất tiếc khóc chào đời. Ngày đi tuổi trẻ tóc xanh. Nay về đất mẹ yên lành thiên thu. Dưới bốn mảnh gỗ rừng trên đồi cây xanh, gió núi mây ngàn thanh tĩnh rất hợp với tâm hồn vốn rất lãng mạn của ông. Ông để lại tiếng Nghệ "trên mặt đất" và mang nó "vào trong lòng đất" như tên gọi cuốn sách ông viết sau cùng. Nhưng những gì mà GS.TS Nguyễn Nhã Bản - người thầy mang dáng dấp "đồ Nghệ" và là một nhà khoa học chân chính - đã thầm lặng chèo đò và trọn đời tâm huyết cần mẫn cày ải trên cánh đồng văn chương chữ nghĩa, để lại cho đời sẽ còn mãi. Mọi người mãi nhớ đến ông.

Chú thích

1, 2, 3, 4. Dẫn từ Nguyễn Nhã Bản, Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh (trên dẫn liệu ngôn ngữ), Nxb Nghệ An, 2001.

 

          * Nghệ An sẽ triển khai Đề án đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành và các địa phương và Đánh giá mức độ hài lòng của người dân, tổ chức đối với chất lượng dịch vụ công của các cơ quan hành chính nhà nước

          Chiều 18/10, UBND tỉnh Nghệ An đã có buổi làm việc với Sở KH&CN, các sở, ngành liên quan về việc nghe và cho ý kiến về Đề án: Đánh giá mức độ hài lòng của người dân, tổ chức đối với chất lượng dịch vụ công của các cơ quan hành chính nhà nước và Đề án đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành và các địa phương trên địa bàn tỉnh. Đồng chí Lê Ngọc Hoa - Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì buổi làm việc.

          Đề án Đánh giá mức độ hài lòng của người dân, tổ chức đối với chất lượng dịch vụ hành chính công của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2020 - 2025 có mục tiêu: Đo lường mức độ hài lòng của người dân, tổ chức đối với chất lượng dịch vụ hành chính công nhằm đánh giá khách quan chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công của các cơ quan hành chính nhà nước.

Tiếp đó, UBND tỉnh cũng đã nghe và cho ý kiến về Đề án Đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành và các địa phương trên địa bàn tỉnh (DDCI). Tạo sự cạnh tranh, thi đua về chất lượng điều hành của các sở, ban, ngành và chính quyền địa phương, từ đó tạo động lực cải cách hành chính quyết liệt, đồng bộ, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh ở mọi lĩnh vực. Qua đó, tạo kênh thông tin tin cậy, rộng rãi để doanh nghiệp tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính quyền địa phương và các sở, ban, ngành. Cải thiện chất lượng phục vụ dịch vụ hành chính công và nâng cao chất lượng hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, đồng hành cùng doanh nghiệp. Phạm vi nghiên cứu đề án là các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động, sản xuất kinh doanh, triển khai đầu tư dự án trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Đối tượng được đánh giá DDCI là các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố tỉnh Nghệ An.

          Bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh các sở, ban, ngành và chính quyền địa phương gồm có 08 chỉ số thành phần: Tính minh bạch và tiếp cận thông tin; Tính năng động của sở, ban, ngành và chính quyền địa phương; Chi phí thời gian; Chi phí không chính thức; Cạnh tranh bình đẳng; Hỗ trợ doanh nghiệp; Thiết chế pháp lý; Vai trò người đứng đầu. Tổng hợp điểm các chỉ số thành phần để xếp theo các loại: Tốt, Khá, Trung bình, Yếu.

P.V (tổng hợp)

* Hội thảo khoa học "Vai trò nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong với nền kịch hát dân ca ví, giặm"

          Sáng ngày 19/10, Hội thảo Khoa học "Vai trò nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong với nền kịch hát dân ca ví, giặm" đã được tổ chức tại thành phố Vinh, Nghệ An.

          Nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong (1929 - 1990) sinh ra tại làng Vân Tập, xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu trong một gia đình nho học. Ông nguyên là Phó Ty văn hóa tỉnh Nghệ An, Phó Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Nghệ Tĩnh, là một nghệ sỹ có nhiều đóng góp to lớn cho nền sân khấu truyền thống tỉnh nhà, nhất là sự hình thành và phát triển kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh. Trong sự nghiệp nghệ thuật của mình, Nguyễn Trung Phong để lại dấu ấn với nhiều tác phẩm giành nhiều giải thưởng cao như: vở chèo "Cô gái sông Lam", "Giận mà thương", "Khi ban đội đi vắng"...

          Tại buổi hội thảo, các nhà nghiên cứu, các văn nghệ sỹ đã tập trung thảo luận làm nổi bật một số nội dung, trong đó nêu bật vai trò của nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong đối với sự hình thành, phát triển của Kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh và sân khấu kịch truyền thống tỉnh nhà; Đánh giá và nhận diện đúng các giá trị nội dung, tư tưởng và nghệ thuật của các tác phẩm do nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong để lại cho đời; Đánh giá đúng con người và nhân cách của người nghệ sỹ.

Linh Nhi

* Nghiệm thu cấp tỉnh Đề tài khoa học "Nghiên cứu bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể để phát triển kinh tế - xã hội ở miền Tây Nghệ An hiện nay"

          Ngày 1/10, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An tổ chức Hội đồng khoa học cấp tỉnh đánh giá nghiệm thu đề tài "Nghiên cứu bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể để phát triển kinh tế - xã hội ở miền Tây Nghệ An hiện nay". Đề tài do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An là đơn vị chủ trì thực hiện; Ông Nguyễn Quốc Hồng - Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử, chủ nhiệm.

          Sau 18 tháng triển khai thực hiện, đề tài đã hoàn thành mục tiêu, nội dung đề ra, cụ thể: Đã hệ thống được những cơ sở lý luận về bảo tồn bền vững và phát huy các di sản văn hóa vật thể; Đánh giá thực trạng, phân loại di sản văn hóa vật thể trên địa bàn miền Tây Nghệ An hiện nay; Từ đó đề xuất các nhóm giải pháp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể ở các huyện miền Tây Nghệ An đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030; Thiết kế 4 chương trình, mô hình gắn di sản văn hóa vật thể với các loại hình và tiềm năng du lịch về văn hóa vật thể ở miền Tây Nghệ An; Hoàn thành các sản phẩm theo hợp đồng đã ký.

          Tại cuộc họp, các thành viên Hội đồng nhất trí đánh giá đây là công trình có giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn, bên cạnh đó các thành viên có một số các góp ý để báo cáo được hoàn thiện hơn như: cần thống nhất về số liệu khoa học, tên gọi của một số di tích; sắp xếp tính pháp lý của các văn bản từ cao đến thấp và bổ sung các thông tư, nghị định liên quan đến đề tài; làm rõ hơn trong công tác quản lý, vận hành các mô hình;...

          Kết luận buổi nghiệm thu, ông Trần Quốc Thành, chủ tịch Hội đồng yêu cầu ban chủ nhiệm đề tài tiếp thu, chỉnh sửa những nội dung đã góp ý tiến tới hoàn thiện đề tài.

          Hội đồng khoa học cấp tỉnh đánh giá nghiệm thu: Đạt loại khá.

Gia Hưng

* Góp phần gìn giữ, phát huy ngôn ngữ Thái hệ Lai - Pao một cách bền vững

          Thực hiện Quyết định số 2023/QĐ-TH-UB- ND, ngày 01/4/2019 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An về việc xuất bản sách đặt hàng đợt 1 năm 2019, Nhà xuất bản Nghệ An ấn hành 05 đầu sách gồm: Tài liệu giảng dạy tiếng Thái Nghệ An (hệ chữ Lai - Pao); Ngữ pháp tiếng Thái Nghệ An (hệ chữ Lai - Pao); Văn hoá, văn nghệ dân gian dân tộc Thái; 200 câu hỏi và bài tập ôn tập kiểm tra chữ Lai - Pao; Tập viết chữ Lai - Pao; nhằm tổ chức dạy học chữ Thái hệ Lai - Pao ở 04 huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông và Thanh Chương.

          05 đầu sách này được nhóm biên soạn lựa chọn từ đề tài khoa học "Nghiên cứu, biên soạn tài liệu và tổ chức dạy học chữ Thai hệ Lai - Pao ở huyện Tương Dương" do Thạc sĩ Vi Tân Hợi làm Chủ nhiệm, đã được Hội đồng khoa học của tỉnh Nghệ An nghiệm thu năm 2017 và xếp loại Xuất sắc.

          05 đầu sách này được phát hành đến 41trung tâm học tập cộng đồng các xã có người Thái hệ Lai - Pao sinh sống thuộc 04 huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông và Thanh Chương; hệ thống thư viện của tỉnh và các địa phương, trường học, các sở, ban, ngành có liên quan với mục đích gìn giữ, phát huy tiếng Thái Nghệ An (hệ chữ Lai - Pao) một cách bền vững.

          Bộ tài liệu sẽ được nhóm biên soạn trực tiếp giảng dạy ở 41 trung tâm học tập cộng đồng thuộc 04 huyện nêu trên trong thời gian sớm nhất.

Bùi Ngọc

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.