« Quay lại

Chuyên san KHXH&NV số 9/2019

Lê Văn Tùng

Hiện chúng ta có đầy đủ các bản "bút tích di chúc"(1) của Bác Hồ: Một bản viết, sau đó đánh máy ngày 15/5/1965, phía trên cùng, bên trái có ghi bốn chữ đặt trong ngoặc đơn: (tuyệt đối bí mật), phía dưới cùng bên trái ghi bằng bút tích viết tay: "Chứng kiến/ Bí thư thứ nhất/ Ban chấp hành trung ương/ Lê Duẩn"(2). Một bản viết tay không ghi ngày tháng nhưng chắc là vào đầu 1968, vì Bác có viết: "Năm nay, tôi vừa 78 tuổi"(3), phía trên cùng vẫn ghi: (tuyệt đối bí mật). Bản này Bác xem là một bức thư, và đến tháng 5/1968 Bác viết bản bổ sung: "Khi xem lại thư này, tôi thấy cần phải viết thêm mấy điểm"(4). Bản bút tích viết tay cuối cùng ghi ngày 10/5/1969 là phần đầu của bản Di chúc được công bố sau này: Từ "Cuộc chống Mỹ cứu nước…" đến "khỏi cảm thấy đột ngột"(5). Bản Di chúc được công bố chính thức với toàn dân sau khi Bác mất cũng ghi "ngày 10 tháng 5 năm 1969"(6) có đoạn in nguyên văn các bản viết của Bác nhắc ở trên, một số đoạn được tổng hợp, khái quát lại các ý cụ thể của Bác trong các bản viết ấy.

Từ ghép "di chúc" trong từ loại học nguyên là động từ ghép. Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học - Nxb Đà Nẵng, 2004, trang 254) giải thích nghĩa 1: "Dặn lại trước khi chết những việc người sau cần làm và nên làm", và nghĩa 2 như một danh từ: "Lời hoặc bản di chúc". Nghĩa 2 này trùng hợp với cách giải của Hán Việt từ điển: "Lời chúc dặn của người chết để lại" (Đào Duy Anh - Nxb Trường Thi - Sài Gòn, 1957, trang 203). Nên kết hợp hai nghĩa lại để hiểu "Di chúc" là lời dặn lại trước khi mất của Bác những việc người sau cần làm, nên làm.

Lời dặn lại của Bác với chúng ta là những lời thiêng liêng, vừa là tình cảm tha thiết, vừa biểu hiện nỗi "lo muôn mối như lòng mẹ" với con cháu mai này trước lúc mình từ biệt. Những lời dặn lại của Bác về các việc phải làm, cần phải làm, có việc đã làm xong, đã hoàn toàn thắng lợi như "cuộc kháng chiến chống Mỹ", nhưng nhiều việc còn phải làm và làm mạnh hơn nữa.

Những lời dặn lại của Bác không chỉ bắt nguồn từ lý thuyết cách mạng, từ nhận thức lịch sử và văn hóa bằng tư duy logic suy lý. Theo chúng tôi, trước hết và quan trọng hơn là từ nhận thức và tư duy thực tiễn về lịch sử và cuộc sống của nhân dân, dân tộc để lo nghĩ cho tương lai. Nghĩa là từ nguồn gốc, nguyên nhân thực tiễn để có những lời dặn lại trong Di chúc. Người Việt ta hay dùng một từ thuần Việt để gọi ra cái nguyên nhân thực tiễn đó là nguồn cơn, nghĩa là cái lý do thực tế, hiện thực của lời dặn, lời nhận xét hay nhận định.

Trong Di chúc, Bác dặn lại nhiều điều lắm. Tôi xin nói những nghĩ suy của mình về nguồn cơn thực tiễn của một lời trong điều quan trọng nhất, điều "Trước hết nói về Đảng". Đó là lời cuối của điều "trước hết": "Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ của nhân dân"(7). Từ phải diễn đạt trạng huống việc muốn làm hoặc việc chưa làm xong cần tiếp tục. Ở đây, nguyên là những việc muốn làm, muốn đạt đến nhưng trong thực tiễn ta làm chưa xong, chưa "thật sự" thực hiện tốt, thậm chí tình trạng vi phạm đạo đức cách mạng, hành động đi ngược với phẩm chất cần kiệm liêm chính, chí công vô tư ở một "bộ phận không nhỏ" cán bộ đảng viên ngày càng trầm trọng và phổ biến hơn, cho nên ảnh hưởng không tốt tới sự trong sạch và làm giảm sút uy tín, vai trò của Đảng trong nhân dân. Cho đến thời ta sống đây, tình trạng đó càng được báo động. Đặc biệt là mối họa tham nhũng, lãng phí, quan liêu mà chủ trương và hành động quyết liệt của trung ương và chính phủ chống lại mối họa đó từ giữa năm 2018 đến nay được toàn dân ủng hộ.

Lời dặn lại của Bác đã dẫn ở trên vừa là mong muốn, vừa là nỗi lo nghĩ của Bác trước thực tiễn của tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hóa, hủ hóa, biến chất ngày càng nghiêm trọng của một số đảng viên, cán bộ. Sự thật trong thực tiễn đó là những sự thật đau lòng mà ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 3/9/1945 Bác đã cảnh báo và "Đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân", chống lại "Những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô"(8) do chế độ cũ để lại. Đến bài viết cuối cùng trên chủ đề này (trước khi viết Di chúc): "Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân" (đề ngày 3/2/1969), Bác nói rõ hơn: "Do cá nhân chủ nghĩa mà… sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa, tham danh trục lợi… xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền… xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh…"(9).

Từ ngày 3/9/1945 đến 3/2/1969 Bác đã có rất nhiều bài báo, thư từ, lời nói chuyện…, một mặt biểu dương những cán bộ, đảng viên, người dân thực hiện tốt đạo đức cách mạng, mặt khác rất nhiều bài viết phê phán nghiêm khắc những bệnh chứng của chủ nghĩa cá nhân đang làm hại, đang cản trở bước tiến của đất nước. Ở đây, xin dẫn trích một số bài:

Hai tuần sau lời phát biểu trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ (đã dẫn ở trên), khi công việc của đất nước ngày càng bộn bề phức tạp, Bác vẫn có: "Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà" (Nghệ An) đề ngày 17/9/1945. Bác nêu năm vấn đề. Vấn đề thứ năm là sự phê phán của Bác đối với "những khuyết điểm to nhất" của cán bộ ở các địa phương: "Giả mạo tiếng Chính phủ, tên Việt Minh ức hiếp dân, xoáy tiền dân…". Trong cán bộ "cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng… độc hành, độc đoán, dĩ công dinh tư (lấy của công làm của riêng)… dùng pháp công để báo thù tư"(10). Một tháng sau, ngày 17/10/1945 trong thư "Gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng", Bác tiếp tục cảnh cáo nghiêm khắc "Những lầm lỗi rất nặng nề"(11) của cán bộ lãnh đạo các cấp. Vậy là chỉ trong vòng một tháng rưỡi sau quốc khánh đầu tiên (2/9/1945) Bác đã có ba văn bản báo động và cảnh cáo tai họa biến chất cán bộ đều liên quan trực tiếp với nạn tham ô, lãng phí, quan liêu, chứng tỏ sự thao thức lo lắng thường trực của Bác về một tình hình hiện thực trong thực tiễn chứ không chỉ là chuyện "đề phòng" ở thời tương lai.

Chín năm kháng chiến (1946-1954) gian nan khốc liệt, Bác vẫn luôn luôn lo lắng về tình trạng "chủ nghĩa cá nhân… một thứ vi trùng rất độc… sinh ra các chứng bệnh nguy hiểm". Tháng 10/1947 Bác viết: "Sửa đổi lối làm việc", chỉ ra tám chứng bệnh: "Tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ"(12). Nhiều người đã biết nỗi đau của Bác trong vụ án tham nhũng của Trần Dụ Châu năm 1950. Khi cuộc kháng chiến chống ngoại xâm tiến dần đến giai đoạn cuối, nạn tham nhũng cũng ngày càng nặng "sẽ làm hại đến công việc của ta". Năm 1952, Bác viết bài trực tiếp chỉ thẳng vào bệnh chứng này: "Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu". Tại văn bản này, lần đầu tiên Bác gọi những kẻ mắc bệnh chứng đó là "giặc nội xâm", "giặc ở trong lòng"(13). Người vạch rõ để nhân dân và chiến sĩ biết: "Có nạn tham ô lãng phí là vì bệnh quan liêu"… "bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô lãng phí". Và Người đưa đến ba kết luận: "A. Tham ô lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, bộ đội và chính phủ"; "B. Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là cách mạng"; "C. Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ"(14).

Từ hòa bình 1954 đến trước khi viết Di chúc, Bác còn viết rất nhiều bài tiếp tục cảnh cáo, phê phán các hiện tượng vi phạm đạo đức cách mạng, trong đó luôn nhấn mạnh nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu (Nxb Sự thật, 1975 đã "sưu tầm, tuyển lựa" đến 30 bài, in thành sách: "Về đạo đức cách mạng").

Chúng tôi xin nhắc lại, những hiện tượng tha hóa Bác phê phán trong các văn bản đã kể trên là hiện thực trong thực tiễn của đất nước chứ không chỉ là những hiện tượng từ tư duy suy lý, lý thuyết. Trong chủ đề mà Bác luôn lo nghĩ và đau lòng ấy, còn có một bình diện thực tiễn - sự thật thứ hai: Có những nhà văn, nhà báo thực hiện lời dạy của Bác đã dũng cảm dấn thân bằng ngòi bút của mình vạch trần sự thật tham nhũng, lãng phí, quan liêu và nhiều chứng bệnh khác mà Bác đã cảnh cáo, lại bị chính thói "quan liêu, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền", "dung túng, che chở cho nạn tham ô lãng phí" làm hại, bắt tội một cách oan uổng. Trước khi nói về trường hợp điển hình là nhà văn - chiến sĩ Phùng Quán, xin nhắc lại trong tâm trạng căm phẫn vụ Trần Dụ Châu (Cục trưởng Cục quân nhu trong kháng chiến chống Pháp) và đồng bọn dùng bạo lực đối với nhà thơ Đoàn Phú Tứ - nguyên Đại biểu Quốc hội khóa I - khi ông trực tiếp lên án tội tham nhũng của hắn ngay giữa đám cưới xa hoa do hắn tổ chức và bảo trợ trong lúc ngoài chiến khu bộ đội đang "võ vàng đói khát". "Đêm hôm đó, nhà thơ viết một bức thư dài gửi lên Hồ Chủ tịch" (cuối năm 1950). Và "một tuần sau, Tòa án Quân sự được thiết lập. Trần Dụ Châu lãnh án tử hình vì tội tham nhũng"(15).

Trở lại với câu chuyện của nhà thơ, nhà văn chiến sĩ Phùng Quán. Ông sinh năm 1932 và 13 tuổi đã cầm lấy khẩu súng trong đội hình Vệ quốc đoàn chiến đấu chống ngoại xâm 9 năm ròng (1946-1954). Từ Điện Biên Phủ trở về và trở thành nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết Vượt Côn Đảo (1954) và trường ca Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (1955). Ta biết đến hàng chục tác phẩm văn xuôi, hàng trăm bài thơ ông viết trong những năm tháng oan khổ dài dằng dặc với 7 năm phải ra khỏi biên chế đi lao động cải tạo (1957-1964) và 30 năm bị tước thẻ Hội viên Nhà văn Việt Nam, bị cấm xuất bản tác phẩm (1957 đến 3/2/1988). Tuổi thơ dữ dội, cuốn tiểu thuyết gần nghìn trang viết trong thời gian đó, mãi đến 1988 mới được xuất bản lần đầu (Nxb Thuận Hóa - Huế). Ông mất năm 1995 và năm 2007 được Chủ tịch nước tặng "Giải thưởng nhà nước về Văn học nghệ thuật".

Trong cuộc đời chiến sĩ của mình, chín năm cầm súng chống ngoại xâm với "Vinh dự hai lần đổ máu tươi", cứ nói theo ý của Marx là ông đã thực hiện sứ mệnh "Phê phán bằng vũ khí", thì từ hòa bình (sau 1954), với ngòi bút trong tay, thức nhận trong đầu và ngọn lửa trong tim ông sử dụng "vũ khí phê phán" để tiếp tục chiến đấu bảo vệ Cách mạng, Tổ quốc và Nhân dân theo lời dạy của lãnh tụ, bằng cách vạch trần sự thật thoái hóa, tha hóa đang chà đạp lên những gì là vinh quang, là hy vọng của nhân dân và dân tộc. Đó là sứ mệnh văn hóa của ngòi bút chân thật, của văn học nghệ thuật chân chính. Phùng Quán, trong tình huống đó đã quyết đòi thực hiện cái quyền "nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa văn nghệ" mà Bác Hồ đã yêu cầu. Và người chiến sĩ ấy đã sử dụng "vũ khí phê phán" dũng cảm tiến công vào một loại giặc mới: giặc nội xâm. Phùng Quán là một trong những chiến sĩ văn nghệ đầu tiên đáp đúng yêu cầu cách mạng của Bác Hồ. Và chính cái "bệnh quan liêu - kẻ thù của nhân dân, bộ đội và chính phủ" đã phản công lại nhà văn, đẩy ông vào 30 năm oan khổ. Vì sao vậy? Vì chính cái đòn tiến công đích đáng của ông vào đúng kẻ thù của nhân dân mà Bác Hồ đã chỉ rõ. Đòn tiến công đó không phải bằng hành xử của tòa án, của luật pháp, của kỷ luật tổ chức… mà bằng nghệ thuật ngôn từ, bằng văn hóa của văn học.

Đó là bài thơ Chống tham ô lãng phí (1956). Tên bài thơ như có bạn nhận xét "100% khẩu hiệu", quả đúng với tính cách chiến sĩ của Phùng Quán. Nhưng bài thơ không phải là một khẩu hiệu có chức năng trực chỉ nhiệm vụ cho quần chúng. Bài thơ là một tác phẩm nghệ thuật với chức năng văn hóa đặc thù của nó, mang lại cho độc giả một khả năng tự cảm, tự thức, tự luận để không chỉ nhận diện bề mặt sự kiện mà còn mở ra một nẻo nhìn vào bản chất sự thật của mối hiểm họa từ tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Đọc bài thơ không thể không nhận ra cách nhìn nghệ thuật của thi nhân. Hai loại sự thật của hiện thực khởi nguyên vào tác phẩm trong một quan hệ đối lập, tương phản:

Đây, loại sự thật thứ nhất:

"Tôi đã đi qua/Những xóm làng…/Tôi đã gặp:

Những bà mẹ già quấn giẻ rách…

…Kéo dây thép gai tay máu ròng ròng

Bới đồn giặc, trồng ngô tỉa lúa

Tôi đã đi qua/Những xóm làng…

…Hai mùa rồi, lúa không có một bông

Phân người toàn vỏ khoai tím đỏ…

Tôi đã gặp/Những em thơ còm cõi…

…Cơm thòm thèm độn cám và rau…".

Ông đã gặp giữa thành phố:

"Đường mùa đông nước nhọn tựa dao găm

Chị em công nhân đổ thùng/Run lẩy bẩy chui vào hầm xí tối.

Vác những thùng phân/Thuê một vạn một thùng

Mấy ai dám vác?

Các chị suốt đêm quần quật/Sáng ngày vừa đủ nuôi con…".

Đây, loại sự thật thứ hai:

Có một Lũ người tiêu máu của dân/Như tiêu giấy bạc giả…

... Đài xem lễ, họ cao hứng dựng lên/Nửa chừng bỏ dở.

Mười một triệu đồng dầm mưa dãi gió

Mồ hôi máu đỏ mốc rêu

Những con chó sói quan liêu

Nhe răng cắn rứt thịt da cách mạng!...

 … Đục cơm khoét áo chúng ta

Ăn cắp máu dân đổi chác đồng hồ…

Bạn trẻ bây giờ đọc đến loại sự thật thứ nhất dẫn ở trên có lẽ nghĩ đến một huyền thoại của thời hồng hoang sơ sử xa xôi. Nhưng đó là sự thật về những gian lao của nhân dân và chính phủ sau cách mạng và kháng chiến. Đói, cái đói tràn khắp thôn cùng xóm vắng. Bác Hồ đề nghị cán bộ mỗi tuần nhịn ăn một bữa để góp gạo giúp dân chống đói và chính Người gương mẫu thực hiện trước và thực hiện một cách bền bỉ. Phùng Quán nói đến cái đói ấy của dân, nói đến sự nỗ lực quá sức người của bà con nông dân và của chị em công nhân để chống nạn nghèo đói thì có gì tội lỗi? Bạn thấy ngày nay hàng năm ta có con số % kết quả giảm đói nghèo sẽ tiếp cận dần đến hết. Còn ngày ấy "Đất nước chúng ta không đếm hết người nghèo". Phùng Quán lên án kẻ tham ô lãng phí của dân trong tình huống dân khổ, dân nghèo và đói thì có tội gì: "Những con chó sói quan liêu… Cắn rứt thịt da cách mạng… Đục cơm khoét áo… Ăn cắp máu dân đổi chác đồng hồ".

Trong bài thơ yếu tố tự sự được sử dụng như một cách nhìn khách quan để giúp người đọc nhận được sự thật cuộc sống từ sự chân tín. Nhà thơ kể lại sự thật theo những bước đi thực tế của chính mình đến các địa bàn: Tôi đã đi qua…, Tôi đã gặp…, Tôi đã đi qua…, Tôi đã gặp…, Tôi đã đi giữa…", hãy đi cùng tôi "Về… mà xem". Các địa bàn đó đều có địa chỉ cụ thể: Kiến An, Hồng Quảng, Hà Nội, Nam Định. Mọi cảm xúc và tâm trạng đau đớn, xót xa, căm giận của thi nhân đều bắt nguồn từ những yếu tố hiện thực khách quan của cuộc sống đang diễn ra. Đó gọi là chất liệu sống của nghệ thuật. Ở đây không có chất liệu thời quá vãng, không có chất liệu tưởng tượng từ một thế giới khác. Chất liệu sống, chất liệu thực có tính tự sự ấy gây ám ảnh tâm lý, day dứt nhà thơ. Hình ảnh "máu" lặp lại sáu lần như một ký hiệu nghệ thuật của ám ảnh đau đớn, nhức nhối trong tâm trạng người thơ: "Những bà mẹ già… kéo dây thép gai tay máu ròng ròng", "Đẫm mồ hôi và máu tươi của cách mạng", "Lũ người tiêu máu của dân", "Ăn cắp máu dân đổi chác đồng hồ", "Mồ hôi máu đỏ mốc rêu", "Những mẹ già, em trai, chị gái… Còng lưng rỏ máu lấn vành đai".

Từ ám ảnh đau đớn qua tâm trạng bất an đến sự tự thức nhận sứ mệnh của thi ca và nghệ thuật. Phùng Quán không hề phủ nhận giá trị văn hóa đa diện, đa phong cách của nghệ thuật. Nhưng lúc này đây, trước sự thật này đây thì:

Một triệu bài thơ không nói hết nhọc nhằn

Của quần chúng anh hùng lao động

Đang buộc bụng, thắt lưng để sống

Để dựng xây kiến thiết nước nhà

Để yêu thương, nuôi nấng chúng ta.

Từ sự thức nhận đó dẫn đến sự lựa chọn văn hóa cho thi ca và thể hiện ý chí của người nghệ sĩ. Nhà thơ quyết quay lưng với thứ thi ca "đầy bướm, đầy hoa, xanh đỏ sáng lòa, như giấy trang kim" lòe loẹt, vàng son lộng lẫy phủ lên trên "mồ hôi và máu tươi của cách mạng!" lừa dối nhân dân, lấp vùi sự thật:

Như công nhân

Tôi quyết đúc thơ thành đạn

Bắn vào tim những kẻ làm càn

Vào lũ người tiêu máu của dân

Như tiêu giấy bạc giả.

Đấy là sứ mệnh văn hóa của nghệ thuật, của người nghệ sĩ. Nhưng Phùng Quán còn là người chiến sĩ cầm súng lúc 13 tuổi chống giặc ngoại xâm. Vậy lúc này đây, cách mạng "Cần lập những đội quân trừ diệt" giặc nội xâm, Phùng Quán lại xin có mặt "trong hàng ngũ tiên phong".

Bài thơ minh bạch, rõ ràng. Sự thật được trình bày trong một quan niệm văn hóa sâu sắc, cao cả và đầy sự hy sinh. Từ đâu, Phùng Quán có được ý chí, đức tin và tư duy nghệ thuật đầy sức mạnh cống hiến ấy? Từ giác ngộ lý tưởng cách mạng vì nhân dân chiến đấu đã đành, nhưng cũng là chung cho nhiều nhà văn chiến sĩ khác. Phùng Quán có một đặc hữu của riêng ông - ta có thể nhận thức như vậy. Đó là ông có Lời mẹ dặn như một đức tin thiêng liêng trong tâm hồn, tình cảm, lý trí đã cùng ông đi suốt cuộc đời nghệ sĩ rất đỗi gian nan nhưng cũng đầy kiên định, thủy chung với sứ mệnh văn hóa của văn học nghệ thuật.

Lời mẹ dặn là tên bài thơ ông viết và công bố năm 1957 sau Chống tham ô lãng phí một năm. Như Chống tham ô lãng phí, cảm hứng và quan niệm văn hóa của nhà thơ cũng bắt đầu từ một sự việc được ông kể lại có thời gian, có tình huống, có nhân vật. Nhưng điểm khác ở bài thơ này yếu tố tự sự là một "câu chuyện" của thời quá vãng từ hai mươi năm trước: Một người vợ mất chồng khi con trai mới hai tuổi, quyết ở vậy nuôi con "đến ngày khôn lớn". Con lớn năm tuổi mắc tội nói dối, mẹ không đánh đòn, mà chỉ nhắc lại lời di huấn của người cha: "Suốt đời phải làm một người chân thật". Sau đó là lời mẹ dạy con thế nào là "một người chân thật". Nhà thơ kể tiếp, lớn lên đã hiểu và yêu người chân thật thế nào. Tình tiết tự sự cuối cùng nhưng ông muốn chia sẻ với chúng ta đức tin văn hóa của người nghệ sĩ chân chính. Đó là:

Năm nay tôi hai lăm tuổi (1932-1957)

Đứa bé mồ côi thành nhà văn

Mặc dù: Lời mẹ dặn thuở lên năm

Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.

Nhưng nhà văn có dám "đi trên con đường chân thật" hay không? Không hề là câu chuyện đơn giản như cưỡi trâu ra đồng mỗi sáng thuở còn con trẻ. Nhà văn "đi trọn đời trên con đường chân thật" còn khó gấp muôn lần "người làm xiếc đi trên dây". Đến đây xin cùng bạn trở lại những Lời mẹ dặn. Ông đã khắc sâu trong tâm não của mình:

Con ơi! Một người chân thật

Thấy vui muốn cười cứ cười

Thấy buồn muốn khóc cứ khóc.

Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu.

Những Lời mẹ dặn đã trở thành bản lĩnh, nhân cách văn hóa của một nhà văn được thực chứng qua quãng đời giông bão ba mươi năm, tuy Có những phút ngã lòng nhưng ông Vịn câu thơ mà đứng dậy để tiếp tục hướng ngòi bút về với Sự thật của Nhân dân và Cách mạng. Đối với ông… "làm một nhà văn chân thật/Chân thật trọn đời" vừa là lẽ sống, là khát vọng của người chiến sĩ sử dụng "vũ khí phê phán", nhưng đồng thời là hiện thực cuộc dấn thân cho văn học nghệ thuật chân chính, quyết từ chối văn nghệ công cụ, văn nghệ "chư hầu" cho bất cứ một nhóm quyền lực xu danh trục lợi nào tiếp tay, tiếp sức cho sự phản bội dân tộc, nhân dân và cách mạng. Ông là nhà nghệ sĩ chân thật, trung thành đã thực hiện lời dạy của Bác Hồ về chống tham ô, lãng phí, quan liêu một cách triệt để, chấp nhận hy sinh. Theo tư duy logic thuận, tôi nghĩ nhóm quyền lực xử lý oan uổng với ông phải là một nhóm quan liêu đã làm trái lời dạy của Bác Hồ, họ là một số trong bộ phận bị tác phẩm của Phùng Quán vạch trần sự thật, dù sự thật có bị chôn vùi tận đáy đất đen. Chứng cứ là trong sách Phùng Quán còn đây, tác giả của bài Lời mẹ dặn - tuyên ngôn của người cầm bút(16), đã cấp cho ta "chân dung" dơ dáy, điếm nhục "của một ông quan lớn" qua "bài thơ" ông viết để đả kích Lời mẹ dặn của Phùng Quán. Đó là một bài văn vần: Lời mẹ dặn - thật hay không? (ký tên Trúc Chi) mà tác giả của nó hầu như đã tự chứng tỏ không có tri thức tối thiểu về đặc trưng loại hình văn hóa của nghệ thuật ngôn từ, cho nên không có khả năng hiểu được tác phẩm nghệ thuật Lời mẹ dặn - "Một trong những bài thơ Việt hay nhất thế kỷ XX"(17). Mà cũng có thể do bản chất dối trá, cố tình xuyên tạc bài thơ Lời mẹ dặn bằng lời lẽ dung tục, tầm thường, vô văn hóa. Sự thật về bản chất của nhân vật này cuối cùng cũng bị phơi trần như một kẻ phản bội Tổ quốc và Nhân dân phải bỏ trốn khỏi đất nước đi "lánh nạn" ở nước ngoài. Đây là một trong những người chửi bới Chống tham ô lãng phíLời mẹ dặn một cách sai lầm, tàn nhẫn nhất. Có bạn sau này cho họ là "những người cực đoan". Tôi nghĩ chưa hẳn, mà thể chính họ đã sa vào tha hóa, kể cả tha hóa quyền lực, có thể họ thuộc loại đối tượng bị phê phán trong tác phẩm của Phùng Quán. Giữa người nghệ sĩ chống tham nhũng theo lời dạy của lãnh tụ với kẻ tham nhũng hoặc bao che, bảo vệ tham nhũng: chọn ai để kỷ luật, để xử lý? Đó là một lựa chọn phải sử dụng chuẩn mực văn hóa để khu biệt.

Hai bài thơ Chống tham ô lãng phíLời mẹ dặn sau ba mươi năm không trở thành một ký hiệu nghệ thuật dĩ vãng, chưa hề là một hiện tượng văn học quá khứ. Năm 1986, Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã có quyết sách "nhìn thẳng vào sự thật", một trong những quyết sách của Đổi mới đã và đang mang lại sự phát triển hợp quy luật trên đường phấn đấu cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Tuy vậy, thế lực "giặc nội xâm", tham nhũng, lãng phí, quan liêu cũng ngày càng cản trở cuộc tiến bộ của đất nước. Nó không chỉ do di căn xã hội cũ mà còn do cả những bệnh căn mới phát trong nền sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường buổi ban đầu. Chủ trương công khai, minh bạch hóa mọi hoạt động của chính phủ, quyết tâm của lãnh đạo trung ương chống tham nhũng, lãng phí quan liêu vừa qua đã chứng tỏ nhu cầu bức thiết của nhân dân về Sự thật trên mọi hoạt động của đất nước (ngoài các bí mật quốc gia do Hiến pháp và Pháp luật quy định). Đó là một nhu cầu, một khát vọng văn hóa trong một xã hội dân chủ: Văn hóa của Sự thật.

Hành trình về phía Sự thật của tác phẩm Phùng Quán vẫn mãi là hành trình văn hóa của văn học nghệ thuật chân chính ở thời đại chúng ta. Đương nhiên, do sự phát triển tiến bộ của tư duy nghệ thuật đương đại, văn hóa của Sự thật trong văn học thời ta sống có thể được biểu hiện sâu sắc, năng động hơn với nhiều chiều kích nghệ thuật đa dạng, phong phú, tinh tế hơn. Nhưng xét từ bản lĩnh và nhân cách văn hóa của người nghệ sĩ thì tâm niệm của Phùng Quán về văn hóa của sự thật càng ngày càng được khẳng định vững vàng hơn vì "Đã đi với nhân dân/Thì thơ không thể khác" (thơ Phùng Quán). Văn nghệ xa rời nhân dân, không đi với nhân dân là văn nghệ đã tự từ bỏ vai trò chủ thể văn hóa của mình trong đặc trưng loại hình của hoạt động văn học nghệ thuật.

Từ một lời dặn lại của Bác Hồ trong Di chúc thiêng liêng, rất tự nhiên cứ liên tưởng theo logic về những bài viết, bài nói của Bác từ ngày đầu của chế độ mới đến trước khi Bác viết Di chúc báo động, cảnh cáo, phê phán chủ nghĩa cá nhân mà bệnh chứng trầm trọng là tham nhũng, lãng phí, quan liêu… "những hiểm họa đang rình phục Tổ quốc và Nhân dân tôi" (lời Phùng Quán). Từ đó nghĩ về sứ mệnh và sự dấn thân chiến đấu của người nghệ sĩ và văn học nghệ thuật chân chính trong cuộc chiến chống "giặc nội xâm" ngày nay và tự nhận thức mình có một phần trách nhiệm.

 

Chú thích

(1). Trong sách Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia. H, 2008, tr.9.

(2). Sđd, Nxb Chính trị Quốc gia. H, 2008, tr.11, 12, 13.

(3). Sđd, Nxb Chính trị Quốc gia. H, 2008, tr.14, 15.

(4). Sđd, Nxb Chính trị Quốc gia. H, 2008, tr.16, 17, 18, 19.

(5). Sđd, Nxb Chính trị Quốc gia. H, 2008, tr.20.

(6). Sđd, Nxb Chính trị Quốc gia. H, 2008, từ tr.33 đến tr.38.

(7). Sđd, Nxb Chính trị Quốc gia. H, 2008, tr.36.

(8). Hồ Chí Minh toàn tập - tập 4 - Nxb Sự thật. H, 1984, tr.7.

(9). Trong sách Về đạo đức cách mạng, Nxb Sự thật.H, 1976, tr.156.

(10). Hồ Chí Minh toàn tập - tập 4 - Nxb Sự thật. H, 1984, tr.19.

(11). Hồ Chí Minh toàn tập - tập 4 - Nxb Sự thật. H, 1984, tr.36.

(12). Hồ Chí Minh toàn tập - tập 4 - Nxb Sự thật. H, 1984, tr.470, 471.

(13), (14). Hồ Chí Minh: Bài viết năm 1952, in lại trong sách Về đạo đức cách mạng, Nxb Sự thật.H, 1976, tr.49 và 46, 47, 48.

 (15). Ba phút sự thật, Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 2007, từ tr.51 đến tr.55.

(16). Ngô Minh, trong sách, Phùng Quán còn đây (NXB Văn nghệ Tp. HCM, 2007), tr.326, 327, 328.

(17). Dẫn theo Ngô Minh Phùng Quán còn đây (sđd), tr

Chu Hoàng Yến

Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa của người dân Nghệ Tĩnh, trở thành nét bản sắc riêng của vùng văn hóa xứ Nghệ. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, loại hình sinh hoạt văn hóa này vẫn chứng tỏ sức sống lâu bền, tiếp tục được trao truyền và gìn giữ trong đời sống đương đại ngày nay. Với những giá trị nhân văn và nghệ thuật độc đáo dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2014. Đến nay đã được 5 năm và đang thực sự vươn mình, khẳng định sức sống, sức lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng. Đó là kết quả từ sự chung tay, góp sức của chính quyền, nhân dân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh cùng cộng đồng người Nghệ xa quê.

Tuy nhiên, dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện nay đang đứng trước một số thách thức, khó khăn. Đó là sự biến đổi khá cơ bản về không gian và bối cảnh sáng tạo, diễn xướng do quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, của các địa phương như về cảnh quan, nghề nghiệp, công cụ, phương tiện sản xuất, sinh hoạt… Sự biến đổi về nhu cầu, thị hiếu và phương tiện hưởng thụ, tiếp nhận nghệ thuật của người dân trong từng thời kì lịch sử, nhất là trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của các công nghệ, kỹ thuật hiện đại ngày nay như cạnh tranh giữa các loại hình nghệ thuật; xuất hiện nhiều xu hướng nghệ thuật mới… Đội ngũ nghệ nhân, diễn viên chuyên nghiệp và quần chúng thưa vắng dần, khả năng lưu giữ vốn cổ, nguyên gốc và kỹ năng trao truyền, diễn xướng, trình diễn bị thách thức.

Trước những thách thức chung cho việc bảo tồn, phát huy dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, thực hiện chương trình hành động quốc gia về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đại diện của nhân loại, 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đặc biệt quan tâm, coi trọng, nỗ lực hết sức trong 5 năm qua. Có thể kể đến 6 hoạt động chính đó là công tác sưu tầm, nghiên cứu; công tác tuyên truyền, quảng bá, xuất bản; vinh danh nghệ nhân, hỗ trợ thành lập các CLB dân ca; tổ chức các liên hoan, hội thi, hội diễn, trại sáng tác; thí điểm đưa dân ca vào trường học và dạy đàn hát dân ca trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

Trước hết là công tác nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hóa dân ca Ví, Giặm nhằm mục đích bảo tồn các làn điệu, bài bản dân ca Ví, Giặm cổ còn lưu giữ trong cộng đồng, Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản dân ca xứ Nghệ cùng với sự tham gia của người dân đã và đang tiếp tục thực hiện việc sưu tầm, kiểm kê di sản tại các địa phương, sau đó thực hiện tư liệu hoá và lưu trữ bằng hệ thống băng ghi âm, ghi hình, ảnh tư liệu. Cùng với việc sưu tầm, tư liệu hóa, công tác nghiên cứu khoa học về dân ca Ví, Giặm cũng được quan tâm. Các bài nghiên cứu về Ví, Giặm được đăng tải thường xuyên trên các báo, tạp chí và website                    dancaxunghe.vn.

Hoạt động truyền dạy dân ca Ví, Giặm trong cộng đồng tiếp tục được thực hiện thông qua các nghệ nhân trực tiếp truyền dạy, hướng dẫn cho người học hoặc qua sinh hoạt của các CLB, các thành viên cùng trao đổi, tập luyện. Sở Văn hóa và Thể thao chỉ đạo Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản dân ca xứ Nghệ đưa vào kế hoạch hàng năm tổ chức tập huấn dân ca cho đối tượng là các câu lạc bộ và tác giả, bằng nhiều hình thức và nội dung. Bên cạnh đó, Sở Văn hóa và Thể thao Nghệ An đã phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo thực hiện Chương trình đưa dân ca vào trường học, nhất là các trường phổ thông cơ sở với giáo trình cụ thể dạy hát dân ca, trong đó tập trung vào dân ca Ví, Giặm, chỉ đạo Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản dân ca xứ Nghệ biên soạn các làn điệu dân ca có tính phổ biến phù hợp với đối tượng trong nhà trường, song song với việc biên soạn sách làm tài liệu giảng dạy còn tập trung tập huấn dân ca cho các giáo viên dạy âm nhạc ở 4 cụm trên địa bàn tỉnh; biên tập và xuất bản sách, cung cấp nhiều băng đĩa hát dân ca để làm tài liệu cho các trường; tổ chức phong trào "Thi tìm hiểu và hát dân ca trong trường học". Phong trào hát dân ca rộng khắp trong các tầng lớp nhân dân, hệ thống các câu lạc bộ đàn và hát dân ca trong các trường được thành lập. Đưa dân ca vào chương trình giảng dạy cho sinh viên ngành sư phạm bằng cách biên soạn tài liệu gồm các làn điệu hát dân ca; Đặc biệt UBND tỉnh chỉ đạo trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An đưa dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh vào chương trình giảng dạy cho sinh viên ngành Sư phạm Âm nhạc.

Ngành Văn hóa, Hội Văn nghệ dân gian đã phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh triển khai Chương trình dạy hát dân ca trên sóng phát thanh, truyền hình (chủ yếu là Ví, Giặm) với sự tham gia giảng dạy của nhiều nghệ sỹ, nhạc sỹ, nghệ nhân. 

Bên cạnh đó Sở Giáo dục và Đào tạo cứ 5 năm 2 lần tổ chức cuộc thi hát dân ca trong trường học, có sự tham mưu và phối hợp của Sở Văn hóa và Thể thao Nghệ An, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch và Thể lệ thi dân ca trong trường học. Nội dung thi trước đây là thi hát dân ca các vùng miền nhưng bắt đầu từ năm 2014 cho đến nay nội dung thi nghiêng về dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, với tỷ lệ 70% số tiết mục dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, 30% dân ca cải biên, đặt lời mới, dân ca các vùng, các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Nghệ An cho các đối tượng là cán bộ, giáo viên, học sinh từ bậc học tiểu học, THCS, THPT, Trung tâm GDNN-GDTX, khuyến khích các đơn vị có nhiều học sinh tham gia biểu diễn.

Về công tác xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống CLB dân ca Ví, Giặm; tôn vinh và đào tạo nghệ nhân; tăng cường hoạt động của các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp: Từ sau khi dân ca Ví, Giặm được vinh danh, mạng lưới CLB ở các huyện, thành, thị không ngừng được mở rộng. Nếu năm 2015, toàn tỉnh có 92 CLB/15 huyện, thành, thị với tổng số gần 2.000 thành viên, thì đến năm 2019 đã có hơn 120 CLB/20 huyện, thành, thị với tổng số hơn 2.000 thành viên thuộc nhiều độ tuổi, ngành nghề cùng tham gia sinh hoạt trong đó có 117 câu lạc bộ có quyết định thành lập, 03 câu lạc bộ đi vào hoạt động nhưng chưa có quyết định thành lập. Ở ngoại tỉnh cũng đã có các CLB Ví, Giặm ở Hà Nội và CLB Ví, Giặm Nghệ Tĩnh phía Nam. Hoạt động của các CLB cũng nhận được sự hỗ trợ của chính quyền và cộng đồng. Từ năm 2017, hàng năm UBND tỉnh cấp 200 triệu đồng cho 40 CLB trong tỉnh. Từ năm 2015-2018, Hội đồng hương Nghệ Tĩnh cũng hỗ trợ cho 34 CLB ở 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, mỗi CLB 10 triệu đồng để mua sắm trang thiết bị, tổ chức sinh hoạt định kỳ. Các CLB thực sự đã trở thành nơi lưu giữ hồn Ví, Giặm, góp phần làm khởi sắc đời sống văn hoá văn nghệ của đông đảo quần chúng nhân dân trong tỉnh.

Việc thành lập hệ thống Câu lạc bộ hát dân ca cũng như việc đưa dân ca vào trường học, dạy hát dân ca trên đài phát thanh - truyền hình, tổ chức các hội thi, hội diễn, liên hoan dân ca đã tạo ra không gian văn hóa mới cho Ví, Giặm thực hành. Hệ thống các câu lạc bộ đã tạo nên được một mạng lưới hát dân ca rộng khắp từ tỉnh đến các cơ sở, trở thành một trong những "cái nôi" lưu giữ hồn dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ. Dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản dân ca xứ Nghệ, hầu hết các CLB sinh hoạt đều đặn, nhiệt tình, say mê, nhiều nghệ nhân đã tuổi cao sức yếu nhưng vẫn tham gia CLB, truyền dạy hát dân ca cho các thế hệ trẻ và tham gia biểu diễn phục vụ dân ca cho các hoạt động văn hoá văn nghệ trên địa bàn dân cư. Tiêu biểu như CLB Hồng Sơn (huyện Quỳnh Lưu), CLB Nghi Trung (H. Nghi Lộc), CLB Ngọc Sơn (H. Thanh Chương)...

Ví, Giặm từ miền xuôi đã lan tỏa đến cả vùng đồng bào dân tộc thiểu số qua các cuộc Liên hoan dân ca Ví, Giặm. Năm 2016, huyện Tương Dương đã ra mắt câu lạc bộ đầu tiên về Ví, Giặm tại làng Nhùng, xã Tam Quang. Ở ngoại tỉnh cũng đã có các Câu lạc bộ Ví, Giặm ở Hà Nội và Câu lạc bộ Ví, Giặm Nghệ Tĩnh phía Nam. Hoạt động của các câu lạc bộ cũng nhận được sự hỗ trợ của chính quyền và cộng đồng.

Đối với các nghệ nhân - những người "giữ hồn di sản", ngay sau khi dân ca Ví, Giặm được vinh danh, Nghệ An đã tổ chức Lễ tôn vinh những nghệ nhân, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, những tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp xuất sắc trong việc bảo vệ, phát huy giá trị dân ca Ví, Giặm. Qua hai đợt xét tặng, tỉnh Nghệ An đã có 42 nghệ nhân dân ca Ví, Giặm được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu "Nghệ nhân ưu tú". Đối với lớp nghệ nhân kế cận, có khả năng biểu diễn, truyền dạy các làn điệu Ví, Giặm, tỉnh cũng hết sức tạo điều kiện để cho họ có cơ hội hoạt động, cống hiến và hàng năm đều tổ chức tập huấn kỹ năng cho các đối tượng này. Một số nghệ nhân tiêu biểu có đóng góp nhiều cho việc bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ như: Nguyễn Thị Đồng; Nguyễn Trọng Đổng, Trần Thị Như, Phan Văn Tư, Nguyễn Tân Khai, v.v...

Hoạt động sân khấu hóa dân ca Ví, Giặm trên sân khấu kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh ngày càng đào tạo nên được một đội ngũ diễn viên có tay nghề vững vàng và góp phần đưa sân khấu kịch hát dân ca đến gần hơn với quần chúng. Các vở diễn "Cô gái Sông Lam", "Sáng mãi niềm tin", "Điều còn lại", "Hoa lửa Truông Bồn", "Võ Nguyên Giáp Đại tướng của lòng dân", "Người là niềm tin tất thắng" ... của Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản dân ca xứ Nghệ đã thể nghiệm thành công sân khấu hóa dân ca Nghệ Tĩnh và phục vụ nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của quần chúng nhân dân.

Các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp cũng tích cực phát huy vai trò, tiếp tục đưa di sản đến với cộng đồng. Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản dân ca xứ Nghệ đã tổ chức hàng trăm buổi biểu diễn để phục vụ nhân dân trong và ngoài tỉnh; tăng cường giao lưu văn hoá với các tỉnh bạn và với các nước; xây dựng các vở diễn mới để phục vụ nhiệm vụ chính trị và phục vụ nhân dân; tổ chức trình diễn dân ca Ví, Giặm tại Khu di tích Kim Liên và thị xã Cửa Lò tạo hiệu ứng tốt trong nhân dân, du khách khi về thăm quê Bác.

Công tác tuyên truyền, quảng bá giá trị dân ca Ví, Giặm sau khi được vinh danh, có sức lan tỏa mạnh. Trên cơ sở Kế hoạch tuyên truyền, quảng bá dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh giai đoạn 2015-2020 do UBND tỉnh ban hành, hoạt động tuyên truyền, quảng bá có những điều kiện thuận lợi nhất định và là hoạt động đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận nhất trong gần 05 năm qua. Nhiều hình thức tuyên truyền, quảng bá sâu rộng được áp dụng như: xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, viết bài, đưa tin về dân ca Ví, Giặm trên các phương tiện thông tin đại chúng; phối hợp xây dựng phóng sự, phim tài liệu như: "Tìm về câu Ví, Giặm", "Về xứ Nghệ nghe câu Ví, Giặm", "Về miền Ví, Giặm"...; quảng bá về dân ca Ví, Giặm trên internet qua  website: dancaxunghe.vn; phát hành đĩa CD, VCD ca nhạc về dân ca Ví, Giặm...

 Từ sau khi dân ca Ví, Giặm được vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, việc bảo vệ, phát huy và quảng bá hình ảnh di sản với công chúng được tăng cường và có sự tham gia tích cực của cộng đồng. Từ năm 2015, Hội Cựu học sinh trường THPT chuyên Phan Bội Châu đã phối hợp với cơ quan hữu quan và các địa phương tổ chức các chương trình "Ân tình Ví, Giặm", kết hợp giao lưu và biểu diễn dân ca Ví, Giặm tại nhiều tỉnh, thành như TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, TP. Đà Nẵng...

Trong các năm từ 2015-2018; chương trình nghệ thuật "Đôi bờ Ví Giặm" nhân dịp kỷ niệm 87 năm ngày Xô viết Nghệ - Tĩnh (12/9/1930 - 12/9/2017)…; các buổi biểu diễn tại các chương trình, liên hoan như Liên hoan dân ca toàn quốc, Liên hoan Tuồng và Ca kịch toàn quốc, Festival Huế 2018, Festival "Về miền Quan họ - 2019"… dân ca Ví, Giặm đã đến gần hơn với đông đảo công chúng trong cả nước. Năm 2015, Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản dân ca xứ Nghệ cũng tổ chức 2 đợt biểu diễn ở nước ngoài (tại Thái Lan và     Australia). Sang năm 2016, công tác tuyên truyền, quảng bá dân ca Ví, Giặm được mở rộng không gian, sang đến cả châu Âu. Năm 2016, Hội đồng hương Nghệ Tĩnh đã kết nối, tổ chức để các nghệ sỹ, nghệ nhân Ví, Giặm có chuyến biểu diễn, giao lưu, quảng bá tại các nước Cộng hòa Thụy Sỹ, Cộng hòa Ba Lan, Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Slovakia và Cộng hòa Hungaria.

Ví, Giặm còn được bảo tồn và phát huy qua các liên hoan, hội thi, hội diễn. Bất kỳ liên hoan, hội thi, hội diễn nào trên địa bàn 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh cũng đều có trình diễn dân ca Ví, Giặm. Đặc biệt là Liên hoan dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được 2 tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh thay phiên nhau lần lượt tổ chức 2 năm 1 lần, ở cấp liên tỉnh, 1 năm 1 lần ở mỗi tỉnh. Kể từ năm 2014 sau khi được  UNESCO công nhận 2 tỉnh Nghệ An Hà Tĩnh luân phiên tổ chức Liên hoan dân ca Ví, Giặm. Năm 2016 tỉnh Nghệ An chủ trì tổ chức Liên hoan cấp liên tỉnh ở Nghệ An được chia làm 4 cụm. Số CLB tham gia Liên hoan cấp tỉnh là 40 CLB với 1128 Nghệ nhân tham gia. Liên hoan cấp liên tỉnh: Nghệ An chọn 9 CLB với 316 Nghệ nhân tham gia. Năm 2018 tỉnh Hà Tĩnh chủ trì tổ chức Liên hoan cấp tỉnh ở Nghệ An được chia làm 4 cụm. Số CLB tham gia Liên hoan cấp tỉnh là 38 CLB với 1105 Nghệ nhân tham gia. Liên hoan cấp liên tỉnh, Nghệ An chọn 9 CLB với 295 Nghệ nhân tham gia.

 Liên hoan có những nét mới hơn trước đó là các hạt nhân nhỏ tuổi của các câu lạc bộ tham gia ngày một nhiều hơn thể hiện rõ sự trao truyền của các nghệ nhân lớn tuổi đối với các cháu nhỏ tuổi, nhiều hạt nhân mới trẻ trung hát hay, diễn giỏi, biết kế thừa thế hệ nghệ nhân lớn tuổi trong cách hát dân ca cổ, lối trình diễn cổ, chúng ta có thể yên tâm và tin tưởng với lớp nghệ nhân trẻ trong việc chuyển giao các thế hệ nắm giữ di sản Ví, Giặm, tiếp tục gìn giữ và phát huy tốt giá trị di sản bao đời cha ông đã sáng tạo nên. Ngoài phát triển nghệ nhân, việc phát hiện, chăm lo, bồi dưỡng cho đội ngũ sáng tác, soạn lời mới dân ca đã được các địa phương quan tâm và phát triển, mạng lưới câu lạc bộ rất tốt, mạnh dạn cho các câu lạc bộ lần đầu tham gia liên hoan để tạo cho các câu lạc bộ được luân phiên nhau cọ xát, giao lưu học hỏi kinh nghiệm trong liên hoan. Các tác giả tự biên tại các địa phương đã có sự tìm tòi, khai thác các đề tài mang bản sắc địa phương mình, nội dung phản ánh rất gần gũi với cuộc sống đời thường. Vì thế, chúng ta có thể khẳng định rằng khi đưa đề tài mới vào trong các làn điệu hát Ví, Giặm đều có đủ khả năng truyền tải được nội dung mới mà vẫn giữ được giá trị vốn có và giá trị tiêu biểu của các thể hát và trò diễn xướng dân gian Ví, Giặm. Chúng ta trân trọng các nghệ nhân ưu tú sau khi được Nhà nước phong tặng đã phát huy tốt danh hiệu của mình và là hạt nhân nòng cốt, sáng tác soạn lời cho các tác phẩm dân ca, duy trì, tổ chức tốt các hoạt động tại cơ sở.

Sự đam mê, nhiệt tình tâm huyết của các chủ nhiệm câu lạc bộ cũng như các thành viên trong câu lạc bộ, các tiết mục chương trình ngày càng được đầu tư hơn và chất lượng hơn.

Sự vào cuộc và quan tâm đến các câu lạc bộ của cả hệ thống từ xã, phường đến huyện, tỉnh nhằm mục đích tiếp tục bảo tồn và phát huy các giá trị vốn có và giá trị tiêu biểu của dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, tạo môi trường cho các câu lạc bộ, các nghệ nhân dân ca được gặp gỡ, giao lưu học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm hoạt động, qua đó nhằm đẩy mạnh phong trào hát dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh trong các tầng lớp nhân dân, các ngành, các tổ chức, đoàn thể, trường học.

Mặc dù còn tồn tại những hạn chế như nguồn lực đầu tư cho công tác bảo tồn, phát huy di sản dân ca Ví, Giặm còn ít; các hoạt động bảo tồn chưa thực sự có định hướng dài hơi và chưa có chiều sâu; vẫn còn nhiều lúng túng trong giải quyết vấn đề giữa bảo tồn và phát huy,... nhưng nhìn chung, thông qua các hoạt động này, Ví, Giặm đang ngày càng gắn bó trực tiếp với cuộc sống sinh hoạt thường ngày của người xứ Nghệ, tạo nên sức sống và sự lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng.

Các làn điệu dân ca cổ (nguyên gốc) cũng như cách thức trình diễn của nó đã bị mai một, ít người còn nhớ đến; tính sáng tạo trong dân ca Ví, Giặm đã bị hạn chế, không còn sự đối đáp ngẫu hứng mà phụ thuộc phần nhiều vào bài bản, người ta biết đến Ví, Giặm qua các bài hát mới sáng tác trên nền tảng của Ví, Giặm nhiều hơn. 

Lực lượng nghệ nhân dân gian nắm giữ, thực hành các bài bản cổ ngày một ít đi do tuổi cao sức yếu không đủ sức để truyền dạy. Bên cạnh đó lớp trẻ lại ít người hào hứng học nên ít có người kế thừa. Trong số các nghệ nhân hát Ví, Giặm ở Nghệ An thì nhiều người có độ tuổi từ 70 đến hơn 100, trong đó chỉ có một số nghệ nhân còn khả năng trình diễn và truyền dạy, số người biết truyền dạy một cách bài bản và có kỹ thuật thì không còn nhiều, truyền dạy chủ yếu bằng phương thức truyền miệng và dưới hình thức sinh hoạt CLB, một số người thực hành hiện nay không nắm vững kỹ thuật trình diễn và nội dung các bài bản truyền thống. Môi trường và không gian diễn xướng thay đổi, không còn điều kiện để thực hành những bài bản cổ. Việc cải biên hoặc "sáng tác" không nắm vững những bài bản cổ đã làm thay đổi, thậm chí làm sai lệch di sản.

Để việc đưa dân ca Ví, Giặm vào trường học có hiệu quả và không bị nhàm chán cần phải đa dạng hóa các hình thức đó là giải pháp đã và đang thực hiện vì trường học là nơi có điều kiện để trao truyền dân ca cho thế hệ trẻ một cách hệ thống, chính quy và bền vững, vì vậy việc đa dạng hóa hình thức đưa dân ca vào trường học cần phải có một hệ thống vĩ mô đó là chủ trương, cơ chế của các  cấp, sở, ngành, nhà trường; hệ thống vi mô là chương trình tài liệu, phương pháp dạy và cách thức kiểm tra đánh giá. Với mục tiêu chung là tiếp tục nghiên cứu, đánh giá vai trò, các đặc điểm nổi trội và các giá trị tiêu biểu của dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh. Xây dựng chương trình giảng dạy và học tập dân ca ở các trường phổ thông và đào tạo diễn viên dân ca, giáo viên âm nhạc, cán bộ quản lý văn hóa trong các trường cao đẳng và đại học, trong đó lấy trường Văn hóa Nghệ thuật làm nòng cốt. Làm rõ các giải pháp để việc tổ chức thực hiện đưa dân ca vào trường học có hiệu quả. Đề xuất chương trình, tài liệu dạy học dân ca trong trường học, môn học dân ca trong mối quan hệ với các môn học khác, chương trình chính khóa hay ngoại khóa; thời lượng dạy học, cánh thức dạy học; lựa chọn bài dân ca cho các trường; tập huấn dạy dân ca; điều kiện dạy học dân ca trong các nhà trường như thế nào đó là việc mà Nghệ An đang ra sức phấn đấu để đạt được mục tiêu và hiệu quả, phát huy tính sáng tạo, giáo dục cảm thụ thẩm mỹ nghệ thuật để dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được bảo tồn và phát huy bền vững.

Tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, ngành Văn hóa và Thể thao sẽ tiếp tục tham mưu UBND tỉnh triển khai các nội dung cụ thể hóa chương trình hành động bảo vệ và phát huy giá trị dân ca Ví, Giặm mà trước hết là hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án "Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh giai đoạn 2019 - 2030", làm định hướng lâu dài cho công tác bảo tồn và phát huy di sản.

Trên cơ sở Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 30/7/2013 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Văn hóa và Thể thao xây dựng Quy hoạch hệ thống di tích trên địa bàn tỉnh Nghệ An, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn 2050, trong đó kết hợp quy hoạch bảo tồn, phát huy di tích với bảo tồn, phát huy các loại hình di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm di sản dân ca Ví, Giặm. Đề án nghiên cứu các giải pháp phát triển kinh tế di sản (áp dụng thí điểm cho một số di tích, di sản văn hóa, bảo tàng tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Nghệ An), trong đó có nhóm di sản văn hóa phi vật thể Ví, Giặm và Ca trù. Đề án Bảo vệ và phát huy dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đến năm 2030 do Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam xây dựng và đang được hoàn thiện để trình Thủ tướng Chính phủ.

UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Sở Văn hóa và Thể thao và UBND các huyện thành thị rà soát, triển khai Nghị định 109/2015/NĐ-CP ngày 28/10/2015 của Chính phủ về việc hỗ trợ đối với nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn và có quyết định hỗ trợ cho 14 nghệ nhân có hoàn cảnh khó khăn từ năm 2017.

UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch 703/KH-UBND ngày 23/12/2014 về việc tuyên truyền, quảng bá dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014-2020.

 Sở Văn hóa, Thể thao đã tham mưu tổ chức các hoạt động bảo tồn, phát huy di sản dân ca Ví, Giặm như Tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá giá trị dân ca Ví, Giặm với nhiều hình thức.

 Nhằm góp phần bảo tồn, phát huy dân ca Ví, Giặm, hàng năm UBND tỉnh đều bố trí kinh phí để thực hiện công tác tuyên truyền, quảng bá, phát huy di sản và kinh phí hỗ trợ cho hoạt động của các câu lạc bộ. UBND tỉnh có chính sách tạo điều kiện huy động các nguồn xã hội hóa để bảo tồn, phát huy di sản trong cộng đồng.

 Để dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh luôn là nơi neo đậu tâm hồn của những người con xứ Nghệ, giữ mãi sức sống, sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng và thực sự xứng tầm là một di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại, con đường phía trước còn rất dài, vì vậy rất cần tiếp tục nhận được sự quan tâm của chính quyền các cấp và sự chung tay của cả cộng đồng.q

 

Trần Lan

Sau 5 năm được Tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại, dân ca Ví, Giặm đã và đang ngày càng được đông đảo nhân dân trong và ngoài nước biết đến. Đó cũng là 5 năm chứng kiến những nỗ lực hết mình trong công tác bảo tồn và phát huy di sản của các cấp chính quyền và nhân dân 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Một trong những hoạt động đó là đưa loại hình văn hóa này gắn kết với hoạt động du lịch, góp phần tạo sức lan tỏa di sản, phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà.

Dân ca Ví, Giặm là lối hát tự nhiên, mộc mạc tình người, tình quê, rất phù hợp với mọi không gian (từ lễ hội, sân khấu đến bến thuyền, dệt vải…), dễ thích ứng với mọi hoàn cảnh (thời gian: quá khứ đến hiện tại, gián tiếp hay trực tiếp). Nội dung có thể đề cập đến nhiều lĩnh vực từ bác học đến cuộc sống đời thường, thậm chí có cả những cái tếu táo, hài hước. Đối tượng hát và nghe cũng đa dạng (mọi lứa tuổi, mọi thành phần: nhà nho, quan chức, người bình dân). Người hát có thể hát đúng làn điệu cũng có thể hát linh hoạt, không cần tuân thủ nghiêm nhặt, có thể hát đơn, hát đối, hát tập thể,... Chính vì vậy, dân ca Ví - Giặm là một loại sinh hoạt văn nghệ rất dễ thích ứng với mọi người, mọi thời, ngay cả hiện nay, khi tâm lý, thị hiếu của người hát lẫn người nghe, môi trường lao động đã có nhiều thay đổi. Với đặc điểm đó, dân ca Ví, Giặm rõ ràng có đủ điều kiện để kết nối với các loại hình du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái ven sông.

Đưa dân ca vào trong hoạt động du lịch ven sông Lam vốn được chú ý thực hiện từ lâu và thời gian gần đây mới bắt đầu có hiệu quả. Lợi thế của hát Ví - Giặm trên sông sẽ khác hẳn với biểu diễn trên sân khấu hay trong khán phòng hội họp. Giữa không gian mênh mang sông nước, khí hậu trong lành, các nghệ nhân, nghệ sĩ sẽ dễ cảm nhận được sự yên bình, giản dị của khung cảnh quê hương, các hoạt cảnh lao động đời thường cứ tự nhiên được diễn ra, tạo nên xúc cảm trong từng lời ca điệu ví thêm phần thăng hoa. Du khách từ đó cũng sẽ cảm nhận nét đặc sắc nhất, gần gũi nhất của một di sản riêng có ở vùng đất xứ Nghệ đằm thắm nghĩa tình.

Trong những năm gần đây, nhiều địa phương đã triển khai kế hoạch hỗ trợ các CLB dân ca hoạt động, từng bước đưa dân ca thành sản phẩm du lịch văn hoá, phục vụ các tour du lịch trong phạm vi khác nhau. Tiêu biểu có lễ hội ở đền Quả Sơn, CLB dân ca xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương đã tổ chức các tiết mục dân ca được biểu diễn cùng với đoàn rước trên sông đưa bài vị Lý Nhật Quang về chùa Bà Bụt, phục vụ du khách đến với lễ hội. Các làn điệu cổ vừa được phục dựng vừa được phát huy, mang lại cho người nghe, người xem rất nhiều cảm xúc. Cùng với đó, sau rất nhiều lần thử nghiệm, mùa du lịch biển năm 2019, thị xã Cửa Lò đã khuyến khích du khách tham gia du thuyền và nghe hát dân ca Ví, Giặm trong không gian bao la của biển cả. Huyện Anh Sơn trong chiến lược khai thác tiềm năng du lịch huyện nhà đã cho triển khai lồng ghép một số chương trình hát dân ca trên sông Giăng - bản Vều, góp phần hứa hẹn về một điểm đến du lịch sinh thái hấp dẫn.

Về phía các doanh nghiệp, hoạt động đưa di sản Ví - Giặm gắn với du lịch sông nước được triển khai sớm hơn. Trong đó có Nhà hàng Nga Sơn (Cửa Hội), gần đây có thêm Nhà hàng Du thuyền Hải Châu (Tp. Vinh), đã đầu tư đóng tàu du lịch có công suất 150 mã lực, chở được gần 50 khách vừa cung cấp dịch vụ ăn uống vừa lồng ghép chương trình nghe hát dân ca Ví, Giặm trong tour du lịch ven sông Lam qua các điểm Hòn Ngư, Đảo Mắt,  lên Hưng Nguyên - Nam Đàn hay xuôi về đền Củi, Nghi Xuân… Có không ít đoàn khách nước ngoài, dù không hiểu rõ ngôn ngữ, không biết nhiều về các làn điệu của dân ca Ví, Giặm nhưng họ vẫn cảm nhận được cái tình và âm nhạc đặc sắc của loại hình âm nhạc này.

Có thể thấy, dân ca Ví, Giặm hoàn toàn có thể trở thành sản phẩm du lịch đặc sắc và việc đưa di sản đến gần hơn với khách du lịch là việc làm cần thiết nhằm phát huy giá trị văn hóa đặc trưng đại diện cho nhân loại. Tuy nhiên, vẫn là câu hỏi: Nghệ An có di sản Ví - Giặm mang tầm quốc tế là thế, có đủ điều kiện để phát huy vào du lịch là thế, song so với các tỉnh bạn, chúng ta vẫn đang loay hoay ở giai đoạn thử nghiệm, thiếu tính hấp dẫn để thu hút, lưu giữ khách lâu dài và sức lan tỏa giá trị di sản đến du khách trong và ngoài nước vẫn còn hạn chế. Nếu khai thác và biến dân ca Ví, Giặm thành một sản phẩm du lịch một cách tùy tiện, thiếu cân nhắc, có thể dẫn tới nguy cơ làm sai lệch bản chất và hạ thấp giá trị của dân ca. Các công ty du lịch, các đơn vị kinh doanh lữ hành trên địa bàn hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, hầu như không có đơn vị nào thiết kế hay tổ chức một chương trình du lịch mang tính chuyên sâu, lấy dân ca Ví, Giặm làm trọng tâm, điểm nhấn thật sự trong hoạt động kinh doanh của mình mà hầu hết còn nặng tính vụ lợi, thiếu ý tưởng triển khai. Dẫn đến việc triển khai ca hát dân ca với hoạt động du lịch còn nhiều yếu kém, nếu có cũng chỉ mang tính thời vụ.

Rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế đó, song chủ yếu vẫn là sự kết hợp giữa du lịch và di sản văn hóa chưa được tốt. Người làm du lịch thì thiếu một sự hiểu biết thấu đáo, kỹ càng về di sản văn hóa để xây dựng sản phẩm du lịch giới thiệu cho khách tham quan. Người làm văn hóa còn thờ ơ, chưa xem trọng việc đưa văn hóa vào du lịch. Các cấp chính quyền Nghệ An cũng chưa thực sự quan tâm đầu tư, phát triển loại hình nghệ thuật này vào hoạt động du lịch. Những biện pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị nghệ thuật dân ca Ví, Giặm chưa được quan tâm đúng mức, công tác triển khai thiếu đồng bộ. Nghệ nhân dân ca Ví, Giặm phần lớn đều nghèo, nghề nghiệp không thể nuôi sống bản thân và gia đình nên rất ít người thực sự muốn "dấn thân" theo đuổi khiến việc tìm nhân tố để truyền nghề và "giữ lửa" nghệ thuật dân ca Ví, Giặm cũng đang ngày càng bị mai một.

Việc thiết kế chương trình dân ca Ví, Giặm phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước, không gian biểu diễn, trang phục biểu diễn, chế độ thù lao… vẫn còn nhiều bất cập. Các tư liệu, tài liệu về dân ca chưa được biên soạn hệ thống và quảng bá rộng rãi như là một sản phẩm du lịch; các CLB dân ca hoạt động chủ yếu là tự giác, tự nguyện mà chưa được đầu tư kinh phí và chương trình hoạt động chưa phong phú; sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan chưa đồng bộ, chặt chẽ. Mặt khác, để đưa dân ca vào du lịch đường sông vốn không phải là vấn đề dễ dàng, chủ yếu do thiếu sự quy hoạch đồng bộ về tour tuyến cũng như hệ thống cơ sở hạ tầng như tàu thuyền, cảnh quan đường sông, bến bãi dừng chân cho các đoàn khách du lịch tham quan, sử dụng các dịch vụ khác… vẫn đang là một bài toán khó.

Thiết nghĩ, để phần nào khắc phục những hạn chế trên, rất cần có cơ chế và sự đầu tư quyết liệt từ phía chính quyền, doanh nghiệp. Cần thiết phải đặt chương trình đưa dân ca vào các hoạt động du lịch tại tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh các bến bãi ven sông như là một điều kiện hoạt động và tiêu chí xếp loại. Có một cơ chế được nhiều địa phương triển khai hiện nay đó là: lấy kinh phí thu được đầu tư lại cho chính nó. Ví như Đờn ca tài tử của Nam bộ, hay hò Huế sống được nhờ các công ty du lịch đầu tư, bảo tồn để phục vụ du lịch. Dân ca Ví - Giặm xứ Nghệ cũng cần chuyển hướng dần theo cách làm này, phải xác định đưa di sản dân ca Ví, Giặm sẽ là một điểm nhấn trong quá trình phục vụ du khách. Trong tương lai, khi các dự án quy hoạch đất ven sông được thực hiện hoàn chỉnh, trên đường du lịch ven sông Lam, gần cầu Bến Thủy hay Cửa Hội, Đê 42, bến Sa Nam (Nam Đàn)… chúng ta có thể xây dựng những bến dân ca (tổ chức bán vé). Tương tự như ở Huế, buổi tối có thể đi bộ trên cầu Tràng Tiền xuống bến sông Hương để nghe hò Huế thì ở thành phố Vinh, buổi tối khách du lịch cũng có thể đi bộ xuống cầu Bến Thủy, ngắm cảnh, xuống bến lên thuyền dọc sông Lam nghe hát dân ca. Đó là cách để vừa giữ lại hồn quê xứ Nghệ, vừa quảng bá dân ca xứ Nghệ đến với bạn bè, du khách trong và ngoài nước. Chính quyền cùng với các doanh nghiệp, các công ty lữ hành có thể kết hợp triển khai các tour du lịch trên sông Lam - kết nối một số điểm du lịch của TP Vinh - Cửa Lò - Hưng Nguyên - Nam Đàn... Đi theo tuyến đường ven sông Lam, khách du lịch sẽ được thả hồn trong một không gian thoáng đạt khác hẳn với không khí ồn ào của thành phố. Ở đó, hai bên đường từ Cửa Hội đến cầu Bến Thủy, du khách tha hồ ngắm nhìn những con thuyền của ngư dân cập bến với khoang nặng đầy cá, tôm; được ngắm rừng bần Hưng Hòa về chiều tĩnh lặng, hoặc dạo bước tham quan những mô hình nuôi tôm của người dân ven đô. Vượt qua con đường Nguyễn Viết Xuân, từ đây sẽ là những điểm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn cả nước như đền Vua Quang Trung trên núi Dũng Quyết, đền Ông Hoàng Mười (Hưng Thịnh), đền Vua Lê (Hưng Lam)…

Và quan trọng hơn hết vẫn là chiến lược quy hoạch lâu dài trong phát triển hạ tầng du lịch. Phát triển sản phẩm du lịch di sản Ví - Giặm gắn với đường sông hiện vẫn là khó nhất, đòi hỏi các cấp chính quyền phải tính toán kỹ lưỡng chỗ nào là điểm dừng, chỗ nào là nơi nghe hát dân ca, vui chơi, mua sắm, ngắm cảnh… Muốn vậy, cần có sự kết nối tham gia của các ngành, doanh nghiệp, cá nhân và địa phương liên quan. Trước mắt, các địa phương cần có những chuyến khảo sát thực tế để đánh giá cụ thể, làm cơ sở để các doanh nghiệp lữ hành cùng thiết kế các tour du lịch phù hợp, phối hợp với các cấp quản lý như Sở Du lịch, Sở Văn hóa và Thể thao, Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản Dân ca xứ Nghệ, các câu lạc bộ dân ca ở các địa phương… đặt ra kế hoạch thực hiện bài bản, quyết tâm đồng bộ trong chiến lược quảng bá di sản đến du khách trong và ngoài tỉnh, góp phần lan toả sức sống của di sản Ví - Giặm trong hành trình xây dựng thương hiệu du lịch tỉnh Nghệ An.

Gắn du lịch với phát huy giá trị di sản Ví - Giặm là việc làm cần thiết, nhưng công tác này phải đề cao vai trò của cộng đồng gốc, nơi sản sinh di sản phải là những người thụ hưởng chính trong mọi hoạt động du lịch liên quan đến di sản của họ và phải đóng vai trò chính trong quản lý hoạt động này. Do đó, mọi hoạt động có liên quan đến du lịch, dù là Nhà nước hay tư nhân thực hiện đều phải tôn trọng nguyên tắc bảo vệ di sản văn hóa Ví - Giặm cũng như quyền, nguyện vọng và mong muốn của người dân. Có như vậy, du lịch mới thực sự đóng góp trong việc lan tỏa các giá trị di sản văn hóa đến với nhiều người, làm đẹp thêm hình ảnh văn hóa xứ Nghệ cũng như chuyển tải được dòng chảy lịch sử, văn hóa, văn minh của vùng sông Cả (tên gọi khác của sông Lam) trong suốt hành trình khám phá đất và người Nghệ An.

 

Lương Vân

Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh mang đậm bản sắc văn hóa xứ Nghệ, góp phần không nhỏ vào việc lưu giữ các giá trị văn hóa cổ xưa của vùng Nghệ Tĩnh, chiếm vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân nơi đây. Với tầm quan trọng đó, cách đây 5 năm vào ngày 27/11/2014, Unesco đã chính thức công nhận dân ca Ví, Giặm vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đó là niềm tự hào và động lực to lớn để dân ca Ví, Giặm tiếp tục vượt qua ranh giới lãnh thổ đến với thế giới nhưng đồng thời cũng là thách thức.

Thách thức bởi vì có được danh hiệu đã khó, giữ được danh hiệu lại càng khó hơn. Có những di sản dù đã được Unesco vinh danh nhưng không thực hiện được cam kết với     Unesco nên đã bị gạt ra khỏi danh sách. Bởi lẽ, khi bước chân ra thế giới rộng lớn, mỗi di sản văn hóa phải mang đặc trưng riêng của mình để không bị lẫn lộn, hòa tan trong dòng chảy văn hóa đa thanh, đa sắc. Đồng thời, đây còn là lời nhắc nhở chúng ta về cách ứng xử với di sản khi được vinh danh.

Lại nói về cam kết đối với Unesco, theo Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 của Unesco, quy định vai trò của các quốc gia thành viên: "áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo công tác bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể hiện có trên lãnh thổ". Trong đó, "bảo vệ" là các biện pháp có mục tiêu đảm bảo khả năng tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể bao gồm việc nhận diện, tư liệu hóa, nghiên cứu, bảo tồn, phát huy, củng cố, truyền dạy, đặc biệt là thông qua hình thức giáo dục chính quy hoặc không chính quy cũng như việc phục hồi các phương diện khác nhau của loại hình di sản này. Ngay sau khi được vinh danh, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đặng Thị Bích Liên phát biểu: "Từ nay, dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đã trở thành tài sản văn hóa của nhân loại, Việt Nam cam kết thực hiện chương trình hành động nhằm bảo tồn sức sống của dân ca Ví Giặm. Việt Nam có những chính sách vinh danh các nghệ nhân để trao truyền, thực hành, giáo dục thế hệ trẻ để di sản mãi trường tồn, xứng đáng là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại".

Thực hiện Chương trình hành động quốc gia về Bảo tồn và Phát huy Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh theo đúng nội dung đã cam kết với Unesco, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai, xây dựng đề án "Bảo tồn và Phát huy dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đến năm 2030" trình chính phủ phê duyệt. Qua 5 năm vinh danh, chính quyền và nhân dân Nghệ Tĩnh đã nâng niu gìn giữ, truyền dạy và nâng tầm để tạo nên sức sống cho dân ca Ví, Giặm.

Môi trường diễn xướng - yếu tố quan trọng trong bảo tồn, phát huy dân ca

Trong bảo tồn và phát huy dân ca, có nhiều cách thức, biện pháp được thực hiện, trong đó, việc tạo cho dân ca những môi trường diễn xướng thích hợp có ý nghĩa to lớn. Bởi dân ca là loại hình âm nhạc dân gian mang đặc thù riêng, không giống những loại hình âm nhạc khác. Đặc thù riêng đó thể hiện ở quá trình ra đời, hình thức diễn xướng và cách thức lưu truyền. Chúng liên quan chặt chẽ và phản ánh môi trường, thời đại mà chúng được tạo ra. Người dân Nghệ Tĩnh có thể hát khi đi gánh củi, hái măng, hát lúc đi cấy, gặt hái ở ngoài đồng ruộng, cũng có khi đang chèo thuyền trên sông nước, hát khi dệt vải quay tơ, hát khi ru con… tất cả mọi ngành nghề, mọi công việc, mọi địa điểm, mọi hoàn cảnh khác nhau người dân Nghệ Tĩnh đều sáng tạo ra một điệu Ví và Giặm khác nhau. Mỗi bài Ví, Giặm tùy theo từng bối cảnh sinh hoạt đó mà được đặt tên. Chính vì lẽ đó mà ngay trong cái tên của những câu hò điệu Ví cũng đã gắn với các nghề nghiệp lao động rồi: Ví phường cấy, Ví phường gặt, Ví phường vải, Ví đò đưa, Giặm ru, Giặm kể…; Về hình thức diễn xướng, các sáng tác và sinh hoạt của người dân đều là sự ứng biến linh hoạt, theo phương pháp ngẫu hứng tức thì, "cảnh nào tình ấy", "lời ca nào hình thức diễn xướng ấy". Đối tượng thực hành vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là khách thể thưởng thức. Chính cái không khí ồn ào, lời chê bai hoặc khích lệ của những người nghe, tâm trạng cay cú thi đua sáng tác ra những câu mới để đáp lại đối phương, với những con người và cảnh vật xung quanh tạo ra nguyên nhân kích thích sự sáng tạo, tạo cảm hứng sáng tạo cho người hát. Những yếu tố độc đáo này đã đem đến cho Ví, Giặm nét bản sắc riêng không nơi nào có được.

Trải qua thời gian, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, rồi xây dựng cuộc sống XHCN, bên cạnh đó là quá trình CNH, HĐH toàn cầu đã làm cho nhiều không gian và môi trường diễn xướng Ví, Giặm biến mất, trong một thời gian khá dài dân ca không còn là công cụ giải trí hữu hiệu của người dân nữa, công cuộc bảo tồn dân ca cũng lỏng lẻo hơn.

Sớm ý thức được tầm quan trọng của môi trường và không gian diễn xướng cũng như sự mai một các giá trị văn hóa truyền thống sẽ trở thành mối đe dọa đối với công tác xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đặc biệt dân ca Ví, Giặm là biểu trưng cho tâm hồn, cốt cách của người dân xứ Nghệ; trong những năm vừa qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã có nhiều trăn trở và động thái tích cực nhằm đưa dân ca Ví, Giặm sống lại mạnh mẽ hơn trong cộng đồng. Từ sau khi Ví, Giặm được Unesco vinh danh là Di sản văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại đã làm thay đổi nhận thức và tiếng nói đồng thuận của cả cộng đồng, công tác bảo tồn và phát huy môi trường diễn xướng có sự chuyển biến rõ rệt. Đây là thời kỳ mà vấn đề gìn giữ và phát huy vốn di sản văn hóa của dân tộc chưa bao giờ được quan tâm mạnh mẽ đến vậy. Dường như, khi xã hội càng phát triển, tiến đến văn minh thì loại hình văn hóa truyền thống lại là vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn.

Bảo tồn hay phát huy?

Không phải cho đến bây giờ chúng ta mới đặt ra vấn đề bảo tồn môi trường diễn xướng cho dân ca mà trong suốt mấy chục năm vừa qua, Ví, Giặm và chỗ đứng của nó trong đời sống cộng đồng luôn là một vấn đề nhức nhối và đáng quan tâm của các nhà quản lý. Việc bảo tồn môi trường diễn xướng của dân ca Ví, Giặm không phải là vấn đề đơn giản. Nếu chúng ta lưu giữ được các làn điệu nguyên gốc mà không bảo tồn được môi trường diễn xướng thì sự bảo tồn ấy vẫn chưa trọn vẹn. Nhưng câu hỏi đặt ra là bảo tồn như thế nào? Cách bảo tồn tốt nhất, đầy đủ nhất chính là bảo tồn không gian nguyên sơ đã sản sinh ra Ví, Giặm, đó là môi trường diễn xướng dân gian, là môi trường của lao động; không gian của dân ca là không gian của vũ trụ bao la với sông, với đồng, với núi non đại ngàn, với biển cả, với đời sống chân chất thôn dã của người dân. Bởi dân ca là của dân gian, hơn bất cứ loại hình nghệ thuật nào khác, văn học dân gian yêu cầu chúng ta quay trở lại cái thời đại đã sinh ra và nuôi dưỡng nó, sống lại cuộc sống của những người sáng tạo và nuôi dưỡng nó, phải làm sao để dân ca thực sự sống trong đời sống, trở thành máu thịt, thành "món ăn tinh thần", thành phương tiện giãi bày cho con người hôm nay. Chỉ đến lúc đó chúng ta mới thấy hết cái hay, cái đẹp của dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, mới thấy hết được ý nghĩa và vị trí của nó trong đời sống tinh thần của nhân dân.

Tuy nhiên, có một thực tế mà chúng ta không thể chối cãi, đó là nhờ sự tiến bộ của khoa học công nghệ mà cuộc sống của chúng ta đã được cải thiện lên rất nhiều. Nhờ có thông tin mà con người có nhận thức mới, có cách tiếp cận mới. Cũng nhờ đó mà con người có thể lưu giữ, truyền bá các giá trị văn hóa của quá khứ, con người có thể phổ biến, trao đổi các giá trị, giao lưu học hỏi văn hóa giữa các dân tộc khác nhau, làm cầu nối của các quốc gia trên thế giới. Con người cũng có nhiều thời gian hơn. Người ta đi lại nhanh hơn, thông tin nhanh hơn, làm việc nhanh hơn, ăn uống nhanh hơn, nội trợ nhanh hơn… Nhưng cũng có một câu hỏi đặt ra là tại sao con người mỗi ngày sống vội vàng hơn, phù phiếm hơn, tại sao tinh thần càng ngày càng căng thẳng hơn, và ngày càng nhiều áp lực gây nên bởi thời gian? Người ta không hát dân ca cho vơi bớt mệt nhọc trong lúc làm việc căng thẳng, người ta cũng không hát giao duyên khi đi tìm bạn trăm năm, người ta cũng không hát tự sự trữ tình mỗi lần khuyên bảo con cái… như cha ông ta vẫn thường làm? Đơn giản bởi môi trường sống đã thay đổi và chúng ta chưa đủ tiềm lực để phát huy nó trong cuộc sống đương đại. Do đó, việc phục hồi môi trường diễn xướng thật của dân ca Ví, Giặm là vô cùng khó khăn bởi cuộc sống đương đại khác quá xa so với cuộc sống lao động của cha ông ngày xưa. Cái không gian nguyên sơ đã sản sinh ra loại hình dân ca Ví, Giặm nay đã không còn nữa. Cơ cấu kinh tế thay đổi, nhịp sống thay đổi cũng đã làm thay đổi đời sống văn hóa của người dân. Môi trường diễn xướng của lối hò hát đối đáp hồn nhiên như vậy cũng bị mất đi. Kéo theo đó chính là sự mai một, thất truyền của dân ca Ví, Giặm. Không gian, mức độ hiện diện của Ví, Giặm đã có sự biến đổi theo thời gian.

Trong những trường hợp như vậy, nếu cứ bảo tồn là buộc phải tôn trọng, hay phải bảo toàn không gian văn hóa nghệ thuật cổ truyền một cách cứng nhắc, bảo thủ, cực đoan thì việc bảo tồn sẽ trở nên bế tắc. Vì thế đôi lúc cũng cần có một cái nhìn cởi mở hơn, thông thoáng hơn, thậm chí phát triển hơn. Đặt trong một thời đại, một xã hội "động" và "mở", với những con người hiện đại, năng động, nhanh nhạy với cái mới, dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh muốn tồn tại, phát triển, không thể giữ mãi cái "tĩnh", cái bất biến, mà cũng phải "động" theo, nhằm đổi mới mình cho phù hợp với thời đại.  Bên cạnh bảo tồn phải kết hợp phát huy, tạo ra những môi trường diễn xướng mới thích hợp để dân ca tiếp tục được lưu giữ, bảo tồn và phát triển. Bởi sự biến đổi môi trường diễn xướng của dân ca là một vấn đề tất yếu có tính chất quốc tế, theo trào lưu và quy luật. Chúng ta phải chấp nhận trào lưu, chấp nhận sự thay đổi tất yếu. Chấp nhận để tồn tại và phát triển. Nếu không chấp nhận sự chuyển đổi tất yếu đó, chúng ta sẽ để mất đi rất nhiều những hình thức nghệ thuật có giá trị văn hóa cao và giá trị nghệ thuật kiệt tác do nhân dân sáng tạo trong trường kì lịch sử. Nếu không chấp nhận, chúng ta sẽ không tìm được tiếng nói đồng thuận, không tìm được những giải pháp có tính khoa học để bảo tồn những giá trị nghệ thuật của quá khứ cho mai sau.

Trong khi đó dân ca Ví, Giặm là một loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian rất dễ thích ứng với môi trường, không đòi hỏi cầu kỳ về mặt không gian, thời gian, hoàn cảnh diễn xướng, không cần đến nhạc cụ, đạo cụ, trang phục phức tạp, có thể thực hành một cách cá nhân hoặc tập thể từ các nhóm nhỏ đến trình diễn trước đông đảo công chúng. Bất cứ không gian nào cũng có thể là môi trường diễn xướng của dân ca Ví, Giặm. Do vậy Ví, Giặm là loại hình nghệ thuật dễ tiếp nhận và dễ phổ biến, có sức lan tỏa và ảnh hưởng mạnh trong cộng đồng người Nghệ An và Hà Tĩnh trên mọi miền đất nước. Đó chính là lý do cho dù cuộc sống có thay đổi thì người dân xứ Nghệ cũng đã biết chuyển đổi một cách linh hoạt không gian diễn xướng theo từng giai đoạn khác nhau. Qua một thời gian dài hàng thế kỷ, dân ca náu mình trong các sinh hoạt lao động, trong hội hè đình đám và các môi trường sinh hoạt khác nhau, dù là không chuyên trong bất kỳ hình thức nào, nhưng cho đến nay chúng ta vẫn thấy dân ca hiện diện với đủ muôn màu sắc trong cuộc sống hiện đại của chúng ta như: Dân ca trên sân khấu chuyên nghiệp, dân ca trong trường học, dân ca trong sinh hoạt văn nghệ quần chúng, dân ca trên sóng phát thanh truyền hình, dân ca giao lưu trước giờ hội họp, nơi gặp mặt bạn bè, hát dân ca trong đám cưới, liên hoan dân ca, festival dân ca, dân ca tại các điểm du lịch, trong nhà hàng khách sạn, trên các phương tiện thông tin đại chúng, thậm chí là "ký sinh" trong những tác phẩm âm nhạc chuyên nghiệp, trở thành món ăn tinh thần của người dân ở hầu khắp mọi vùng miền đất nước... Đặc biệt, từ sau khi Unesco đưa Ví, Giặm vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại thì sự hiện diện của dân ca Ví, Giặm chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống cộng đồng. Số lượng CLB dân ca Ví, Giặm tăng từ 82 CLB năm 2014 lên đến 120 CLB năm 2019, thậm chí nhiều tỉnh, thành phố khác trong cả nước cũng lần lượt xuất hiện các CLB dân ca Ví, Giặm hoạt động nổi bật nhất là CLB Unesco dân ca Ví, Giặm tại Hà Nội. Ví, Giặm còn mở rộng ra phạm vi quốc tế như biểu diễn ở Úc trong chương trình "Văn hóa phương đông - Asiafest" do Đại sứ quán phối hợp Hội sinh viên Việt Nam tại Úc mời tham dự vào năm 2015. Tại Lễ hội, Ban tổ chức đã bố trí không gian diễn xướng tự nhiên, hoang sơ, toát lên sự yên bình của làng quê Việt Nam, khiến các nghệ sỹ cảm thấy gần gũi, thân thuộc; Bên cạnh đó trong lĩnh vực du lịch, Ví, Giặm cũng trở thành động lực và lợi thế phát triển của ngành này. Ví, Giặm trong những năm gần đây đã trở thành sản phẩm du lịch "có hàm lượng văn hóa cao, dung lượng văn hóa lớn, hình thức văn hóa hiện hữu, nội dung văn hóa tiềm ẩn, tạo sức hấp dẫn vô cùng tận cho điểm đến du lịch". Còn vấn đề đưa dân ca vào trường học cũng không manh mún, lẻ tẻ như lúc mới bắt đầu thực hiện ý tưởng mà đã được cụ thể hóa bằng những cuộc điều tra khảo sát sâu rộng, những cơ sở lý luận chặt chẽ, từ đó có những biện pháp cụ thể nhằm đưa dân ca trở thành môn học chính thức ở các cấp học.

Để thấy rằng những giá trị vốn có mà chúng ta tiếp cận hôm nay không phải là bất di bất dịch, mà đã có sự bổ sung, hoàn thiện dần theo điều kiện phát triển của xã hội qua từng giai đoạn. Ở mỗi thời kỳ, không gian diễn xướng lại thay đổi và như một lẽ tất yếu, hình thức sinh hoạt và trình diễn cũng được thay đổi phù hợp với cuộc sống đương đại. Do đó, có thể nói người dân xứ Nghệ đã làm cho Ví,  Giặm thích nghi tương tác với tất cả phương thức sinh hoạt. Đó chính là lý do Ví, Giặm vẫn luôn trường tồn song hành với đời sống của con người. Khi dân ca được chính người dân vừa là người bảo tồn, sáng tạo, vừa là người hưởng thụ tham gia tích cực và đặt trong dòng chảy của đời sống thì chắc chắn sẽ có được sức sống lâu bền trong mọi thời đại.

Tuy nhiên, bên cạnh phát huy thì chúng ta cũng rất cần bảo tồn và giữ "nguyên vẹn" những giá trị văn hóa và nghệ thuật trong các không gian văn hóa cổ truyền đến hết khả năng mà chúng ta có thể có. Việc phát huy môi trường diễn xướng không đồng nghĩa với việc làm méo mó nội dung âm nhạc, cấu trúc âm nhạc bởi suy cho cùng không gian bằng nhân tạo với sân khấu, lễ hội... không thể đủ sức để tái tạo và phản ánh không gian ban đầu của dân ca và dân nhạc cổ truyền.

Một số giải pháp bảo tồn và phát huy môi trường diễn xướng dân ca Ví, Giặm

Dân ca Ví, Giặm là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị của di sản được coi là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, cần sự chung tay góp sức của toàn thể cộng đồng. Để bảo tồn và phát huy môi trường diễn xướng của Ví, Giặm theo tinh thần Công ước của Unesco có một số giải pháp sau:

+ Chính sách trợ cấp hàng tháng cho các nghệ nhân trong CLB dân ca Ví, Giặm.

Nghệ nhân chính là "báu vật" nhân văn sống giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc gìn giữ, trao truyền vốn di sản văn hóa truyền thống. Nhưng trên thực tế hiện nay, chính sách trợ cấp cho nghệ nhân vẫn chưa thỏa đáng, chưa đủ sức để tạo động lực khuyến khích nghệ nhân tiếp tục cống hiến, tiếp tục nuôi dưỡng tình yêu di sản. Các CLB hiện tại chủ yếu hoạt động dựa trên tinh thần tự nguyện, tập hợp theo kỳ liên hoan, hội thi hội diễn, rất ít CLB sinh hoạt đều đặn, thậm chí một số CLB chỉ tồn tại trên danh nghĩa nhưng thực chất gần như không hoạt động. Điều này không thể trách nghệ nhân mà trách nhiệm nằm ở các nhà quản lý. Họ đã "bỏ quên", hờ hững, thiếu sự quan tâm hỗ trợ, chăm lo cho các nghệ nhân, những người được coi là hồn cốt, nền tảng làm nên giá trị đích thực của các di sản. Chúng ta không chỉ mãi hô hào, kêu gọi bảo vệ di sản bằng những công văn, kế hoạch mà quên mất rằng nghệ nhân cũng cần sống, cũng cần kinh phí để hoạt động, không phải gồng mình hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch chỉ với niềm đam mê, yêu thích. Bởi vậy, nếu chúng ta không nhanh chóng thực hiện ngay một chính sách trợ cấp xứng đáng cho nghệ nhân, e rằng di sản và loại hình nghệ thuật còn đấy nhưng hồn cốt thì đã dần mai một và mất hẳn.

+ Phát huy môi trường diễn xướng qua con đường du lịch.

Nghệ An mỗi năm thu hút hàng chục triệu khách du lịch trong và ngoài nước với hàng trăm địa chỉ du lịch hấp dẫn du khách thập phương. Đây là một thị trường khán thính giả  đông đảo rất thuận lợi kết hợp để quảng bá cho di sản dân ca Ví, Giặm. Sau khi được Unesco vinh danh, Nghệ An tích cực triển khai các phương án đưa dân ca vào phục vụ phát triển du lịch. Tuy nhiên, tất cả những gì chúng ta làm đến nay cũng mới chỉ có tính chất manh mún, chưa bài bản. Ngành du lịch vẫn chưa phát huy hết vai trò của mình trong việc giới thiệu dân ca Ví, Giặm đến với du khách. Chưa có đơn vị nào thiết kế hay tổ chức một chương trình du lịch mang tính chuyên sâu lấy dân ca Ví, Giặm làm trọng tâm; chưa có công ty du lịch nào xem dân ca Ví, Giặm là một điểm nhấn thật sự trong hoạt động kinh doanh của mình. Các công ty du lịch đang gặp khó khăn về nguồn lực, về nhân sự đủ khả năng để thiết kế các chương trình du lịch mang tính chuyên sâu quảng bá đầy đủ những giá trị nghệ thuật của loại hình dân ca này.

Muốn xây dựng môi trường diễn xướng dân ca Ví, Giặm thành công thì việc đầu tiên cần phải làm chính là đào tạo, tập huấn về dân ca Ví, Giặm cho đội ngũ hướng dẫn viên du lịch trên toàn tỉnh. Bởi hướng dẫn viên du lịch là bộ phận quan trọng truyền bá di sản. Họ có thể diễn giải cái hay, cái đẹp, những giá trị và ý nghĩa sâu xa của di sản, qua đó mang đến cho du khách những trải nghiệm, hiểu biết về di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại này. Nếu du khách thập phương được giới thiệu cặn kẽ về Ví, Giặm, sẽ không thể không tâm đắc bởi giá trị của nó đã từng lôi kéo các danh sĩ tài ba, các chí sĩ yêu nước, các nhà khoa bảng, kể cả những danh nhân văn hóa thế giới như Nguyễn Du, Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phải nói hát Ví, Giặm có giá trị như thế nào mới hấp dẫn, mới lôi cuốn và nuôi dưỡng tâm hồn của các bậc vĩ nhân. Kể cả sau này, chất liệu và âm hưởng của dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ đã giúp nhiều nhạc sĩ sáng tác những ca khúc sáng giá, làm vẻ vang nền âm nhạc chuyên nghiệp. Ví, Giặm xứ Nghệ cũng đã đủ sức để chuyển hóa từ hình thức diễn xướng dân gian lên hình thức diễn xướng của các đoàn văn công, các nhà hát chuyên nghiệp ở Nghệ Tĩnh.

+ Tổ chức Festival dân ca Ví, Giặm mang tầm quốc tế.

Festival là sự kiện văn hóa hiện đại có nguồn gốc từ phương Tây. Những người đứng ra tổ chức sự kiện này gồm các chuyên gia trong hoạt động nghệ thuật, các công ty tổ chức sự kiện chuyên nghiệp và một nhân tố không thể thiếu đó là chính quyền. Đây là một sự kiện quan trọng và cần được lên kế hoạch chuẩn bị thật chính xác, cẩn trọng và tỉ mỉ. Muốn tổ chức một festival có sức sống và đứng vững trong thị trường thì yếu tố đầu tiên chính là chất lượng nghệ thuật. Ý tưởng nghệ thuật chính là linh hồn của festival. Ngoài ra còn phải có công nghệ tổ chức tốt, kỹ nghệ quản trị và quảng bá tốt. Những việc đó sẽ gây được ảnh hưởng to lớn, huy động các đoàn nghệ thuật trong nước và quốc tế tham gia. Mục đích chính là nhằm giao lưu, tôn vinh di sản, sau đó là mục đích kinh tế -  chính trị. Đây cũng là cách thức tốt nhất để quảng bá hình ảnh của địa phương, xây dựng thương hiệu cho vùng quê xứ Nghệ.

+ Tăng cường tổ chức ngoại khóa dân ca Ví, Giặm cho học sinh ở các cấp.

Hiện nay Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An đang triển khai đưa dân ca trở thành môn học chính thức, đã dạy thử nghiệm tại một số trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở trong tỉnh. Cần nhân rộng mô hình này và phổ cập trong toàn tỉnh. Bên cạnh đó, việc tăng cường hoạt động ngoại khóa rất quan trọng. Mục đích học ngoại khóa là để các em tiếp cận với môi trường diễn xướng dân ca Ví, Giặm, từ đó có những hình dung bước đầu về không gian văn hóa của loại hình này. Ngoại khóa không chỉ là mời nghệ nhân, nghệ sĩ về tại trường học biểu diễn một cách máy móc các làn điệu mà phải cho các em xâm nhập thực tế, đó có thể là một buổi biểu diễn phục vụ khách du lịch tại Kim Liên, một buổi biểu diễn của các diễn viên tại Nhà hát dân ca, hay là một buổi sinh hoạt của các nghệ nhân CLB… và trong những trường hợp như vậy cũng có thể cho các em giao lưu với các nghệ sĩ, nghệ nhân.

Bên cạnh những giải pháp trên, các cấp các ngành cũng cần phối hợp với UBND tỉnh Nghệ An đề xuất và phê duyệt một số đề tài nhằm xây dựng và bảo tồn môi trường diễn xướng cho dân ca Ví, Giặm như:

"Phát huy môi trường diễn xướng dân ca Ví, Giặm trong giai đoạn hiện nay".

"Xây dựng môi trường diễn xướng dân ca Ví, Giặm phục vụ phát triển du lịch".

Những đề tài trên nếu được thực hiện không chỉ bảo vệ và phát huy một số mô hình môi trường diễn xướng trên địa bàn tỉnh nghệ An, hướng đến bảo tồn và phát triển bền vững các giá trị dân ca Ví, Giặm mà còn tạo ra động lực để phát triển các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương.

 

Phan Mậu Cảnh

Từ khi dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO vinh danh đến nay đã 5 năm. Các chủ trương từ cấp vĩ mô đến tổ chức thực hiện ở cơ sở đã được triển khai khá hệ thống và đáp ứng được một số yêu cầu khi thực hiện cam kết, làm cho dân ca Ví, Giặm phát huy vai trò và giá trị của nó trong thực tiễn. Nhiều hội thảo, hội nghị, hội thi, chương trình hoạt động đã được tổ chức thực hiện. Công tác nghiên cứu, tuyên truyền quảng bá dân ca Nghệ Tĩnh vẫn tiếp tục được triển khai. Nhiều giải pháp đã được nêu ra và thực hiện. Trong số đó, việc đưa dân ca Ví, Giặm vào trường học là một giải pháp đã có chủ trương chính thức, có tính khả thi cao, đã và đang thực hiện góp phần làm cho dân ca Nghệ Tĩnh được tiếp tục bảo tồn và phát huy lâu dài và bền vững trong thời kỳ đương đại.

1. Dân ca Ví, Giặm (DCVG) Nghệ Tĩnh ra đời đã lâu nhưng từ lúc nào là điều khó xác định, chỉ biết rằng DCVG từng là hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian hơn hai trăm năm trước, bởi thuở ấy, cụ Nguyễn Du từ Nghi Xuân đã vượt qua bao truông ải, đường bộ hiểm trở để vào Trường Lưu (Can Lộc) hát ví...  Mấy trăm năm qua, DCVG là những lời ca, điệu hát mà những người bình dân đã cất lên từ trong lao động thủ công có tính phường hội và trong sinh hoạt hàng ngày, tương tác với nhau ngẫu hứng, truyền miệng. Những  câu ví, điệu hò cứ nảy sinh, lưu truyền, gắn bó với người dân quê xứ Nghệ từ đời này đến đời khác, như khí trời, như hạt lúa củ khoai... Cứ thế, DCVG được nuôi dưỡng, phát triển cùng với xã hội và môi trường tinh khôi, nguyên sơ, chưa có sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố ngoại lai, pha tạp. 

Nhưng rồi xã hội, nghề nghiệp, cách thức lao động, tâm lý con người đã đổi khác khi có sự du nhập, mở cửa với thế giới... Từ đầu thế kỷ XX, nhà thơ Tú Xương đã đau đớn nhìn thấy con sông Lấp biến mất khi đô thị hoá bắt đầu: Sông kia rày đã nên đồng/ Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai/ Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò... (Sông Lấp). Nhà thơ Nguyễn Bính giữa thế kỷ XX, chứng kiến sự mai một nếp xưa, sự xâm thực của văn minh đô thị, đã thảng thốt kêu lên: Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều /...Van em em hãy giữ nguyên quê mùa (Chân quê). Cả hai nhà thơ, ngay từ đầu thế kỷ đã lo âu, day dứt và dự cảm về sự phai nhạt nhanh chóng đến đáng sợ đối với những gì vốn mang đậm bản sắc quê hương, dân tộc. Thế kỷ XX quả là một thế kỷ đầy biến động; sự hội nhập và toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng; tình hình nông thôn - nông dân - nông nghiệp, nơi khởi phát và là mảnh đất sống tự nhiên của dân ca, đã có sự thay đổi nhiều khi nhanh đến "chóng mặt": Buổi sáng đi xóm cũ vẫn là làng/ Lúc chiều về, làng đã xoay thành phố/ Nhà đã tắt tiếng ru con muôn thuở/ Tục ngữ ca dao chết trong sách giáo khoa/ Lũ trẻ chập chờn trong nhạc Rốc hát qua loa... (Trần Nhuận Minh, 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh).   

Trong bối cảnh ấy, DCVG (cũng giống với dân ca nhiều vùng miền khác, như: Quan họ, Chèo, Cải lương, Ca trù, Tuồng, Xẩm, hát Xoan, hát Ghẹo) đang đứng trước nhiều thử thách quyết liệt. Cho đến nay, nói chung thì dân ca vẫn "sống" nhưng chủ yếu là "sống" trong không gian hạn chế, như các chương trình hội thi, biểu diễn nghệ thuật hay một số hoạt động khác (câu lạc bộ, lễ hội) và "kí sinh" vào một số tác phẩm có yếu tố "mượn lời", cải biên hay sân khấu hoá mà không có được sự tồn tại với tư cách là một sinh hoạt văn hóa tinh thần tự nhiên, nguyên sơ trong dân gian như những ngày xưa; nó cũng không được tiếp nhận một cách mặn mà, hồ hởi của thế hệ trẻ thời nay khi tâm lý, thị hiếu của họ đã khác trước; dòng nhạc dân gian đang bị lấn át bởi những dòng nhạc có độ hot cao hơn. Thời huy hoàng của dân ca đã lùi vào quá khứ. Đó là một thực tế, không thể cưỡng được thời thế. Vấn đề là chúng ta tiếp nhận cái mới, cái hiện đại và ứng xử với cái cũ, cái truyền thống như thế nào để đảm bảo mục tiêu: xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Mấy trăm năm tồn tại, dân ca các vùng miền, trong đó có DCVG đã đi vào tâm thức thành máu thịt của nhân dân nên dù trải qua bao thăng trầm, nó vẫn sẽ tồn tại phù hợp với thời đại mới. Quả thật, DCVG bây giờ đã có vị thế khác: từ chỗ chỉ gắn bó với lao động cấy cày, chèo thuyền, dệt vải nơi đồng ruộng làng quê, bến sông con đò, dân ca bây giờ đã lên sân khấu, đến các điểm du lịch, hội hè, lên các giảng đường, lên sóng phát thanh truyền hình; dân ca cũng đã có tầm hoạt động vượt ra khỏi vùng quê Nghệ An - Hà Tĩnh, vươn đến tầm cả nước và đến cả bạn bè năm châu, được vinh danh là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại...

Những người dân quê tạo ra dân ca, cũng chính là những người thầm lặng giữ cho mạch nguồn dân ca như giữ ngọn lửa trong nhà mình không tắt. Công lao ấy còn thuộc về quan điểm, tầm nhìn của lãnh đạo và sự tâm huyết, đầy trách nhiệm của những người "chiến sỹ trên mặt trận văn hoá" hai tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh đã kiên trì, bền bỉ gìn giữ và trao truyền dân ca Ví, Giặm trong suốt mấy chục năm qua...

Thống kê sơ bộ, từ đầu thế kỷ XX đến nay đã có hơn 500 bài viết, 25 tập sách, hơn 10 cuộc hội thảo, gần 20 đề tài, dự án và luận văn, luận án, vài ba cuộc thi tiếng hát dân ca được tổ chức trên phạm vi toàn tỉnh, hàng trăm câu lạc bộ dân ca vẫn đang hoạt động ở các vùng miền xứ Nghệ, hàng trăm cuộc giao lưu, liên hoan Ví, Giặm... Tất cả đều nhằm sưu tầm, nghiên cứu, đánh giá giá trị, nêu các giải pháp và tổ chức thực hiện để bảo tồn và phát huy dân ca Ví, Giặm...

Như vậy, khi bàn về dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, chúng ta thấy được cái giá trị tiêu biểu của nó trong việc thể hiện đời sống tâm hồn, cốt cách và sinh hoạt văn hoá của một vùng quê. Nói đến Nghệ Tĩnh (xứ Nghệ) là nói đến một vùng đất địa linh nhân kiệt, là nơi khí hậu khắc nghiệt nhưng người dân thì cần cù trong lao động, anh dũng trong chiến đấu, sống giàu tình nghĩa; nói đến xứ Nghệ, người ta nghĩ ngay đến Ví, Giặm. Ví, Giặm là đặc sản và cũng đã thành đặc trưng tiêu biểu nhất của non nước và con người xứ Nghệ.

2. Ngày 27 tháng 11 năm 2014, DCVG Nghệ Tĩnh đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Danh hiệu cao quý này là niềm vinh dự, tự hào của nhân dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh nhưng cũng nhắc nhở trách nhiệm to lớn của mỗi chúng ta, những người hôm nay và các thế hệ mai sau phải thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, cam kết quốc tế cũng như ý nguyện của nhân dân về bảo tồn và phát huy bền vững giá trị văn hoá quý báu mà cha ông ta để lại. Đây cũng là lý do để chúng ta cần phải có những kế hoạch và giải pháp tích cực, cần thiết để bảo tồn và phát huy giá trị của DCVG trước mắt và lâu dài…

Tình hình trên đòi hỏi phải nghiên cứu các giá trị và nêu các giải pháp để bảo tồn và phát huy các giá trị của DCVG. Các vấn đề cần phải giải quyết cơ bản  và cấp thiết hiện nay là: tiếp tục nghiên cứu đánh giá, định vị bản sắc của dân ca Nghệ Tĩnh (các giá trị lịch sử - xã hội, văn hóa, nghệ thuật). Trong đó, phải xác định rõ những cái gì của DCVG Nghệ Tĩnh là nổi trội, tinh túy cần bảo tồn phát huy; cái gì cần cải biến, tiếp biến trong thời đại mới, trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa. Các giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị của DCVG Nghệ Tĩnh hiện nay là cấp thiết nhưng cần tính đến tính khả thi và hiệu quả.

Một vấn đề lớn đặt ra và cũng là điều trăn trở nhất, trong suốt mấy chục năm qua, là tìm các giải pháp, cách thức thích hợp để bảo tồn và phát huy giá trị DC - VG trong tình hình mới. Các giải pháp hiện nay đang tổ chức thực hiện là: tiếp tục sưu tầm, nghiên cứu dân ca; thành lập các câu lạc bộ; tổ chức hội thi, hội diễn, hội thảo; cải biên, sáng tác lời mới; sân khấu hoá dân ca; tuyên truyền quảng bá dân ca.v.v... Các cơ quan quản lí (chính quyền, sở ngành cấp tỉnh) và các đơn vị chức năng (Phòng văn hoá, Trung tâm văn hóa) của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã có chủ trương, giải pháp và tổ chức thực hiện việc dạy hát dân ca trên sóng phát thanh truyền hình, tại câu lạc bộ...

Trong số các giải pháp đó, việc đưa DCVG vào nhà trường là một giải pháp đã có chủ trương chính thức, có tính khả thi cao vì trường học là nơi có điều kiện để trao truyền dân ca cho thế hệ trẻ một cách hệ thống, chính quy và bền vững. Có thể thấy, việc đưa dân ca vào nhà trường là vấn đề không mới (các trường học trong hai tỉnh đã triển khai thực hiện từ khá sớm) nhưng đến nay, qua khảo sát ở các trường trên địa bàn tỉnh Nghệ An, hiệu quả thực hiện dạy học dân ca rất hạn chế, bởi đây là việc khó (vì điều kiện dạy học môn dân ca còn thiếu và yếu, chương trình phổ thông vốn đã nặng, khối lượng kiến thức gần như đã quá tải với học sinh), lại liên quan đến cả hệ thống (hệ thống vĩ mô: chủ trương, cơ chế của các cấp, sở, ngành, nhà trường; hệ thống vi mô: đội ngũ giáo viên, chương trình tài liệu, phương pháp dạy và cách thức kiểm tra đánh giá...).

3. Để thực hiện có hiệu quả việc đưa DCVG vào dạy học trong nhà trường, theo chúng tôi, các vấn đề về nội dung và giải pháp cần xác định là:

3.1. Về nội dung: Tiếp tục nghiên cứu, đánh giá hai vấn đề chính (liên quan đến đề tài): i) các đặc điểm nổi bật, và ii) các giá trị tiêu biểu của DCVG Nghệ Tĩnh. Trong đó, để giải pháp này có tính khả thi, phải xác định rõ những đặc điểm và giá trị nào của DCVG là cần thiếtphù hợp trong tình hình hiện nay cần đưa vào dạy học trong nhà trường để trao truyền cho thế hệ trẻ.

3.2. Về giải pháp dạy học dân ca trong nhà trường, các vấn đề cần thực hiện là:

- Cần có giải pháp mang tính vĩ mô, gồm: các chủ trương, chỉ đạo của UBND tỉnh; cần có kế hoạch triển khai của Sở Giáo dục và Đào tạo để các trường phổ thông thực hiện một cách thống nhất, đồng bộ. Các trường phải xem đây là một môn học trong chương trình dạy học của từng năm học.

- Cần điều tra thực tế tình hình dạy học DCVG thời gian vừa qua trên địa bàn tỉnh Nghệ An; trao đổi, học tập kinh nghiệm việc đưa dân ca vào trường học ở các địa phương khác trong nước (Bắc Ninh, Thái Bình, Phú Thọ, Huế...).

- Cần xác định rõ đối tượng dạy học DCVG trong nhà trường (các cấp học: Mầm non, tiểu học, trung học cơ sở là phù hợp nhất). Xác định đơn vị tham mưu, phối hợp thật rõ (đơn vị chủ trì đóng vai trò chính trong việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và diễn viên dân ca cho các đơn vị cơ sở và chịu trách nhiệm biên soạn chương trình, tài liệu dạy học DCVG cho các cấp học trong toàn tỉnh; các sở ban ngành phối hợp thực hiện: Sở Văn hoá và Thể thao, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ).

- Xây dựng Chương trình môn học và các tài liệu dạy học (giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu hướng dẫn) phù hợp với yêu cầu của từng cấp học ở phổ thông, ở các trường chuyên nghiệp, các vùng miền trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

- Sau khi đánh giá kết quả giai đoạn thử nghiệm, có kế hoạch chuyển giao kết quả nghiên cứu để tiến tới giai đoạn chính thức: hoàn thiện chương trình, biên soạn giáo trình, sách giáo khoa; chính thức thực hiện dạy học DCVG trong nhà trường.

Từ khi DCVG Nghệ Tĩnh được UNESCO vinh danh đến nay đã 5 năm. Các chủ trương từ cấp vĩ mô đến tổ chức thực hiện ở cơ sở đã được triển khai để thực hiện cam kết, làm cho DCVG được tiếp tục bảo tồn và phát huy trong thời kỳ mới. Nhiều hội thảo, hội nghị, hội thi, đề tài nghiên cứu đã được tổ chức thực hiện. Công tác nghiên cứu, tuyên truyền quảng bá DCVG vẫn tiếp tục được triển khai.

Chúng tôi cho rằng, kết quả nổi bật nhất trong 5 năm qua là đã xác định rõ được các giải pháp bảo tồn và phát huy DCVG trong tình hình mới. Trong các giải pháp đó, việc đưa DCVG vào trường học tỏ ra là một trong những giải pháp cơ bản, phù hợp để DCVG được bảo tồn và phát huy bền vững nhất.

Là một trong những người trực tiếp tham gia thực hiện giải pháp này (thông qua Đề tài Nghiên cứu dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc dạy và học hát dân ca Nghệ Tĩnh trong trường học đã được tỉnh phê duyệt), chúng tôi đã hoàn thành các bước: (i) Xác định những nội dung của DCVG đưa vào trường học: hoàn thành năm 2017; (ii) Soạn bộ tài liệu dạy học hát dân ca Nghệ Tĩnh (gồm chương trình và tài liệu dạy học): hoàn thành năm 2018. Đang thực hiện: (i) Dạy học thử nghiệm (để đánh giá bộ tài liệu và nắm tình hình thực tế): năm 2019, (ii) Hoàn chỉnh bộ tài liệu: năm 2020 và (iii) Triển khai đại trà việc dạy và học hát DC Nghệ Tĩnh trong trường học trên địa bàn toàn tỉnh Nghệ An: từ năm 2021.

3.3.Kết quả bước đầu (phần tham khảo)

Nắm bắt được tình hình thực tế, cái đang cần nhất nhưng lại đang thiếu của các nhà trường khi đưa DCVG vào trường học, chúng tôi đã soạn bộ tài liệu dạy học hát dân ca Nghệ Tĩnh từ mẫu giáo đến trung học cơ sở. Tóm tắt một số kết quả chính:

1) Về bộ tài liệu dạy hát dân ca

a) Bộ tài liệu dạy học môn dân ca Ví, Giặm cho giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông, gồm các tài liệu:

- Chương trình khung của môn học.

- Tài liệu dạy học (Tập bài giảng, giáo trình).

- Tài liệu bổ trợ, đọc thêm.

b) Số lượng bộ tài liệu dạy học dân ca Ví, Giặm:

- Bậc học mầm non: 1 bộ, 2 tập (cho hai lớp mẫu giáo: 4 -5 tuổi & 5 - cận 6 tuổi).

- Bậc học phổ thông: 2 bộ, 9 tập (Tiểu học: 1 bộ, 5 tập (cho 5 lớp: từ lớp 1 đến lớp 5); Trung học cơ sở: 1 bộ, 4 tập (cho 4 lớp: từ lớp 6 đến lớp 9).

c) Tiêu chí lựa chọn các nội dung của bộ tài liệu:

Việc lựa chọn nội dung của các bộ tài liệu phải đáp ứng được các mục đích, yêu cầu của môn học dân ca.

- Về lý thuyết:

+ Những kiến thức bổ trợ liên quan đến DCVG (các chuyện kể về con người, nghề nghiệp, các gương mặt tiêu biểu của DCVG);

+ Những kiến thức cơ bản về DCVG (đất nước, con người xứ Nghệ; đặc điểm và giá trị tiêu biểu, các thể loại, cách thức hát dân ca...).

- Về thực hành:

Việc lựa chọn các bài hát DCVG phải đảm bảo các tiêu chí sau:

+ Chú trọng chọn các bài hát gốc và tiêu biểu cho từng thể loại: Ví, Giặm, Hò (để đảm bảo chủ trương bảo tồn đặc điểm bản sắc và phát huy giá trị DCVG);

+ Nội dung bài hát cơ bản là thích hợp với bậc học, cấp học, tâm lý lứa tuổi, và tình hình thực tiễn của địa phương, của nhà trường; có thể chọn thêm các bài hát dân ca lời mới.

+ Thời lượng và hình thức học DCVG (chính khoá, ngoại khoá) phù hợp với chương trình, kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành và giao cho nhà trường.

2) Nội dung chi tiết của các tài liệu

a) Chương trình khung giờ học hát dân ca Ví, Giặm

(Dùng cho các bậc học: mầm non, phổ thông (tiểu học, trung học cơ sở) trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Phần 1 - Vị trí, tính chất và mục tiêu, yêu cầu của môn học dân ca;

Phần 2 - Nội dung của môn học và phân phối thời gian;

-  Nội dung của môn học:

+ Giới thiệu dân ca Nghệ Tĩnh;Kể chuyện nghệ nhân.        

+ Thực hành hát dân ca (luyện tập hát một số làn điệu dân ca tiêu biểu, phổ biến của dân ca Nghệ Tĩnh, chủ yếu là Ví, Giặm; các bài hát cụ thể của từng thể loại (lời cổ, lời mới).…

- Phân phối thời gian:

+ Bậc học mầm non: Tổ chức hoạt động chính: 01 buổi chiều/ tháng như hoạt động giáo dục âm nhạc đang thực hiện (thời gian mỗi buổi từ 25' đến 30').

+ Bậc học phổ thông: Cấp tiểu học (Tổng số tiết học hát DCVG: 16 tiết/ 32 tuần/ năm học/ lớp (trong đó: học chính khoá: 8 tiết - Bố trí dạy hát DCVG vào: tiết học địa phương, lồng ghép vào môn âm nhạc và tiết ôn tập); học ngoại khoá: 8 tiết (tập hát ngoài giờ; tổ chức Câu lạc bộ dân ca, hội thi, chương trình văn nghệ; đi đến các câu lạc bộ dân ca địa phương), v.v...

Cấp trung học cơ sở (tổng số tiết học hát DCVG: 18 tiết/ 32 tuần/ năm học/ lớp (trong đó: học chính khoá: 8 tiết - Bố trí dạy hát DCVG vào: tiết học địa phương, lồng ghép vào môn âm nhạc và tiết ôn tập); học ngoại khoá: 10 tiết (tập hát ngoài giờ; tổ chức câu lạc bộ dân ca, hội thi, chương trình văn nghệ; đi đến các câu lạc bộ dân ca địa phương), v.v...

b) Tài liệu dạy học dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

- Tài liệu dạy học dân ca cho bậc mầm non:

+ Kết cấu, nội dung chi tiết của Tập bài dạy hát dân ca cho lứa tuổi mầm non về cơ bản cũng bao gồm các mục như Tập bài giảng cho học sinh tiểu học, nhưng giản lược hơn, phù hợp lứa tuổi, chỉ gồm tập hát các bài đồng dao dành cho các lớp mẫu giáo 4 - cận 6 tuổi.

 + Số tập tài liệu: 2 tập, 100 trang (dùng cho 2 lớp mẫu giáo lớn, mỗi tập: soạn khoảng 30 trang gồm các bài hát và bài kể, còn lại là tranh ảnh minh họa).

- Tài liệu dạy học dân ca cho cấp tiểu học:

Số  tập tài liệu: 5 tập, 150 trang (5 khối lớp: từ lớp 1 đến lớp 5, mỗi khối một tập bài giảng); mỗi tập từ 30 - 40 trang.

- Tài liệu dạy học dân ca cho cấp trung học cơ sở:

 Số tập tài liệu: 4 tập, 200 trang (4 khối, từ lớp 6 đến lớp 9, mỗi khối một tập bài giảng); mỗi tập: 45 - 55 trang(1) (Chưa kể tài liệu bổ trợ, và bộ tài liệu dạy hát dân ca tại trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật Nghệ An, 2018).

Những vấn đề trên, tưởng như cũ, tưởng như đơn giản nhưng nếu không có sự trao đổi bàn bạc thấu đáo thì sẽ gặp khó khăn khi tổ chức thực hiện, nhất là trong các công đoạn cụ thể. Chúng tôi cho đây là công việc lớn, có liên quan đến cả hệ thống: từ cấp quản lý, các đơn vị chức năng đến các cơ sở thực thi... Mọi lý thuyết thì màu xám, còn cây đời thì mãi mãi xanh tươi (J.W.Goethe). Không có lý thuyết nào là chân lý tuyệt đối, chúng ta vừa làm vừa tiếp tục bổ sung, điều chỉnh từ thực tế để ngày càng có hiệu quả thiết thực.q    

 

Phan Mậu Cảnh

Từ khi dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO vinh danh đến nay đã 5 năm. Các chủ trương từ cấp vĩ mô đến tổ chức thực hiện ở cơ sở đã được triển khai khá hệ thống và đáp ứng được một số yêu cầu khi thực hiện cam kết, làm cho dân ca Ví, Giặm phát huy vai trò và giá trị của nó trong thực tiễn. Nhiều hội thảo, hội nghị, hội thi, chương trình hoạt động đã được tổ chức thực hiện. Công tác nghiên cứu, tuyên truyền quảng bá dân ca Nghệ Tĩnh vẫn tiếp tục được triển khai. Nhiều giải pháp đã được nêu ra và thực hiện. Trong số đó, việc đưa dân ca Ví, Giặm vào trường học là một giải pháp đã có chủ trương chính thức, có tính khả thi cao, đã và đang thực hiện góp phần làm cho dân ca Nghệ Tĩnh được tiếp tục bảo tồn và phát huy lâu dài và bền vững trong thời kỳ đương đại.

1. Dân ca Ví, Giặm (DCVG) Nghệ Tĩnh ra đời đã lâu nhưng từ lúc nào là điều khó xác định, chỉ biết rằng DCVG từng là hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian hơn hai trăm năm trước, bởi thuở ấy, cụ Nguyễn Du từ Nghi Xuân đã vượt qua bao truông ải, đường bộ hiểm trở để vào Trường Lưu (Can Lộc) hát ví...  Mấy trăm năm qua, DCVG là những lời ca, điệu hát mà những người bình dân đã cất lên từ trong lao động thủ công có tính phường hội và trong sinh hoạt hàng ngày, tương tác với nhau ngẫu hứng, truyền miệng. Những  câu ví, điệu hò cứ nảy sinh, lưu truyền, gắn bó với người dân quê xứ Nghệ từ đời này đến đời khác, như khí trời, như hạt lúa củ khoai... Cứ thế, DCVG được nuôi dưỡng, phát triển cùng với xã hội và môi trường tinh khôi, nguyên sơ, chưa có sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố ngoại lai, pha tạp. 

Nhưng rồi xã hội, nghề nghiệp, cách thức lao động, tâm lý con người đã đổi khác khi có sự du nhập, mở cửa với thế giới... Từ đầu thế kỷ XX, nhà thơ Tú Xương đã đau đớn nhìn thấy con sông Lấp biến mất khi đô thị hoá bắt đầu: Sông kia rày đã nên đồng/ Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai/ Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò... (Sông Lấp). Nhà thơ Nguyễn Bính giữa thế kỷ XX, chứng kiến sự mai một nếp xưa, sự xâm thực của văn minh đô thị, đã thảng thốt kêu lên: Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều /...Van em em hãy giữ nguyên quê mùa (Chân quê). Cả hai nhà thơ, ngay từ đầu thế kỷ đã lo âu, day dứt và dự cảm về sự phai nhạt nhanh chóng đến đáng sợ đối với những gì vốn mang đậm bản sắc quê hương, dân tộc. Thế kỷ XX quả là một thế kỷ đầy biến động; sự hội nhập và toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng; tình hình nông thôn - nông dân - nông nghiệp, nơi khởi phát và là mảnh đất sống tự nhiên của dân ca, đã có sự thay đổi nhiều khi nhanh đến "chóng mặt": Buổi sáng đi xóm cũ vẫn là làng/ Lúc chiều về, làng đã xoay thành phố/ Nhà đã tắt tiếng ru con muôn thuở/ Tục ngữ ca dao chết trong sách giáo khoa/ Lũ trẻ chập chờn trong nhạc Rốc hát qua loa... (Trần Nhuận Minh, 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh).   

Trong bối cảnh ấy, DCVG (cũng giống với dân ca nhiều vùng miền khác, như: Quan họ, Chèo, Cải lương, Ca trù, Tuồng, Xẩm, hát Xoan, hát Ghẹo) đang đứng trước nhiều thử thách quyết liệt. Cho đến nay, nói chung thì dân ca vẫn "sống" nhưng chủ yếu là "sống" trong không gian hạn chế, như các chương trình hội thi, biểu diễn nghệ thuật hay một số hoạt động khác (câu lạc bộ, lễ hội) và "kí sinh" vào một số tác phẩm có yếu tố "mượn lời", cải biên hay sân khấu hoá mà không có được sự tồn tại với tư cách là một sinh hoạt văn hóa tinh thần tự nhiên, nguyên sơ trong dân gian như những ngày xưa; nó cũng không được tiếp nhận một cách mặn mà, hồ hởi của thế hệ trẻ thời nay khi tâm lý, thị hiếu của họ đã khác trước; dòng nhạc dân gian đang bị lấn át bởi những dòng nhạc có độ hot cao hơn. Thời huy hoàng của dân ca đã lùi vào quá khứ. Đó là một thực tế, không thể cưỡng được thời thế. Vấn đề là chúng ta tiếp nhận cái mới, cái hiện đại và ứng xử với cái cũ, cái truyền thống như thế nào để đảm bảo mục tiêu: xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Mấy trăm năm tồn tại, dân ca các vùng miền, trong đó có DCVG đã đi vào tâm thức thành máu thịt của nhân dân nên dù trải qua bao thăng trầm, nó vẫn sẽ tồn tại phù hợp với thời đại mới. Quả thật, DCVG bây giờ đã có vị thế khác: từ chỗ chỉ gắn bó với lao động cấy cày, chèo thuyền, dệt vải nơi đồng ruộng làng quê, bến sông con đò, dân ca bây giờ đã lên sân khấu, đến các điểm du lịch, hội hè, lên các giảng đường, lên sóng phát thanh truyền hình; dân ca cũng đã có tầm hoạt động vượt ra khỏi vùng quê Nghệ An - Hà Tĩnh, vươn đến tầm cả nước và đến cả bạn bè năm châu, được vinh danh là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại...

Những người dân quê tạo ra dân ca, cũng chính là những người thầm lặng giữ cho mạch nguồn dân ca như giữ ngọn lửa trong nhà mình không tắt. Công lao ấy còn thuộc về quan điểm, tầm nhìn của lãnh đạo và sự tâm huyết, đầy trách nhiệm của những người "chiến sỹ trên mặt trận văn hoá" hai tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh đã kiên trì, bền bỉ gìn giữ và trao truyền dân ca Ví, Giặm trong suốt mấy chục năm qua...

Thống kê sơ bộ, từ đầu thế kỷ XX đến nay đã có hơn 500 bài viết, 25 tập sách, hơn 10 cuộc hội thảo, gần 20 đề tài, dự án và luận văn, luận án, vài ba cuộc thi tiếng hát dân ca được tổ chức trên phạm vi toàn tỉnh, hàng trăm câu lạc bộ dân ca vẫn đang hoạt động ở các vùng miền xứ Nghệ, hàng trăm cuộc giao lưu, liên hoan Ví, Giặm... Tất cả đều nhằm sưu tầm, nghiên cứu, đánh giá giá trị, nêu các giải pháp và tổ chức thực hiện để bảo tồn và phát huy dân ca Ví, Giặm...

Như vậy, khi bàn về dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, chúng ta thấy được cái giá trị tiêu biểu của nó trong việc thể hiện đời sống tâm hồn, cốt cách và sinh hoạt văn hoá của một vùng quê. Nói đến Nghệ Tĩnh (xứ Nghệ) là nói đến một vùng đất địa linh nhân kiệt, là nơi khí hậu khắc nghiệt nhưng người dân thì cần cù trong lao động, anh dũng trong chiến đấu, sống giàu tình nghĩa; nói đến xứ Nghệ, người ta nghĩ ngay đến Ví, Giặm. Ví, Giặm là đặc sản và cũng đã thành đặc trưng tiêu biểu nhất của non nước và con người xứ Nghệ.

2. Ngày 27 tháng 11 năm 2014, DCVG Nghệ Tĩnh đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Danh hiệu cao quý này là niềm vinh dự, tự hào của nhân dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh nhưng cũng nhắc nhở trách nhiệm to lớn của mỗi chúng ta, những người hôm nay và các thế hệ mai sau phải thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, cam kết quốc tế cũng như ý nguyện của nhân dân về bảo tồn và phát huy bền vững giá trị văn hoá quý báu mà cha ông ta để lại. Đây cũng là lý do để chúng ta cần phải có những kế hoạch và giải pháp tích cực, cần thiết để bảo tồn và phát huy giá trị của DCVG trước mắt và lâu dài…

Tình hình trên đòi hỏi phải nghiên cứu các giá trị và nêu các giải pháp để bảo tồn và phát huy các giá trị của DCVG. Các vấn đề cần phải giải quyết cơ bản  và cấp thiết hiện nay là: tiếp tục nghiên cứu đánh giá, định vị bản sắc của dân ca Nghệ Tĩnh (các giá trị lịch sử - xã hội, văn hóa, nghệ thuật). Trong đó, phải xác định rõ những cái gì của DCVG Nghệ Tĩnh là nổi trội, tinh túy cần bảo tồn phát huy; cái gì cần cải biến, tiếp biến trong thời đại mới, trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa. Các giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị của DCVG Nghệ Tĩnh hiện nay là cấp thiết nhưng cần tính đến tính khả thi và hiệu quả.

Một vấn đề lớn đặt ra và cũng là điều trăn trở nhất, trong suốt mấy chục năm qua, là tìm các giải pháp, cách thức thích hợp để bảo tồn và phát huy giá trị DC - VG trong tình hình mới. Các giải pháp hiện nay đang tổ chức thực hiện là: tiếp tục sưu tầm, nghiên cứu dân ca; thành lập các câu lạc bộ; tổ chức hội thi, hội diễn, hội thảo; cải biên, sáng tác lời mới; sân khấu hoá dân ca; tuyên truyền quảng bá dân ca.v.v... Các cơ quan quản lí (chính quyền, sở ngành cấp tỉnh) và các đơn vị chức năng (Phòng văn hoá, Trung tâm văn hóa) của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã có chủ trương, giải pháp và tổ chức thực hiện việc dạy hát dân ca trên sóng phát thanh truyền hình, tại câu lạc bộ...

Trong số các giải pháp đó, việc đưa DCVG vào nhà trường là một giải pháp đã có chủ trương chính thức, có tính khả thi cao vì trường học là nơi có điều kiện để trao truyền dân ca cho thế hệ trẻ một cách hệ thống, chính quy và bền vững. Có thể thấy, việc đưa dân ca vào nhà trường là vấn đề không mới (các trường học trong hai tỉnh đã triển khai thực hiện từ khá sớm) nhưng đến nay, qua khảo sát ở các trường trên địa bàn tỉnh Nghệ An, hiệu quả thực hiện dạy học dân ca rất hạn chế, bởi đây là việc khó (vì điều kiện dạy học môn dân ca còn thiếu và yếu, chương trình phổ thông vốn đã nặng, khối lượng kiến thức gần như đã quá tải với học sinh), lại liên quan đến cả hệ thống (hệ thống vĩ mô: chủ trương, cơ chế của các cấp, sở, ngành, nhà trường; hệ thống vi mô: đội ngũ giáo viên, chương trình tài liệu, phương pháp dạy và cách thức kiểm tra đánh giá...).

3. Để thực hiện có hiệu quả việc đưa DCVG vào dạy học trong nhà trường, theo chúng tôi, các vấn đề về nội dung và giải pháp cần xác định là:

3.1. Về nội dung: Tiếp tục nghiên cứu, đánh giá hai vấn đề chính (liên quan đến đề tài): i) các đặc điểm nổi bật, và ii) các giá trị tiêu biểu của DCVG Nghệ Tĩnh. Trong đó, để giải pháp này có tính khả thi, phải xác định rõ những đặc điểm và giá trị nào của DCVG là cần thiếtphù hợp trong tình hình hiện nay cần đưa vào dạy học trong nhà trường để trao truyền cho thế hệ trẻ.

3.2. Về giải pháp dạy học dân ca trong nhà trường, các vấn đề cần thực hiện là:

- Cần có giải pháp mang tính vĩ mô, gồm: các chủ trương, chỉ đạo của UBND tỉnh; cần có kế hoạch triển khai của Sở Giáo dục và Đào tạo để các trường phổ thông thực hiện một cách thống nhất, đồng bộ. Các trường phải xem đây là một môn học trong chương trình dạy học của từng năm học.

- Cần điều tra thực tế tình hình dạy học DCVG thời gian vừa qua trên địa bàn tỉnh Nghệ An; trao đổi, học tập kinh nghiệm việc đưa dân ca vào trường học ở các địa phương khác trong nước (Bắc Ninh, Thái Bình, Phú Thọ, Huế...).

- Cần xác định rõ đối tượng dạy học DCVG trong nhà trường (các cấp học: Mầm non, tiểu học, trung học cơ sở là phù hợp nhất). Xác định đơn vị tham mưu, phối hợp thật rõ (đơn vị chủ trì đóng vai trò chính trong việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và diễn viên dân ca cho các đơn vị cơ sở và chịu trách nhiệm biên soạn chương trình, tài liệu dạy học DCVG cho các cấp học trong toàn tỉnh; các sở ban ngành phối hợp thực hiện: Sở Văn hoá và Thể thao, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ).

- Xây dựng Chương trình môn học và các tài liệu dạy học (giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu hướng dẫn) phù hợp với yêu cầu của từng cấp học ở phổ thông, ở các trường chuyên nghiệp, các vùng miền trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

- Sau khi đánh giá kết quả giai đoạn thử nghiệm, có kế hoạch chuyển giao kết quả nghiên cứu để tiến tới giai đoạn chính thức: hoàn thiện chương trình, biên soạn giáo trình, sách giáo khoa; chính thức thực hiện dạy học DCVG trong nhà trường.

Từ khi DCVG Nghệ Tĩnh được UNESCO vinh danh đến nay đã 5 năm. Các chủ trương từ cấp vĩ mô đến tổ chức thực hiện ở cơ sở đã được triển khai để thực hiện cam kết, làm cho DCVG được tiếp tục bảo tồn và phát huy trong thời kỳ mới. Nhiều hội thảo, hội nghị, hội thi, đề tài nghiên cứu đã được tổ chức thực hiện. Công tác nghiên cứu, tuyên truyền quảng bá DCVG vẫn tiếp tục được triển khai.

Chúng tôi cho rằng, kết quả nổi bật nhất trong 5 năm qua là đã xác định rõ được các giải pháp bảo tồn và phát huy DCVG trong tình hình mới. Trong các giải pháp đó, việc đưa DCVG vào trường học tỏ ra là một trong những giải pháp cơ bản, phù hợp để DCVG được bảo tồn và phát huy bền vững nhất.

Là một trong những người trực tiếp tham gia thực hiện giải pháp này (thông qua Đề tài Nghiên cứu dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc dạy và học hát dân ca Nghệ Tĩnh trong trường học đã được tỉnh phê duyệt), chúng tôi đã hoàn thành các bước: (i) Xác định những nội dung của DCVG đưa vào trường học: hoàn thành năm 2017; (ii) Soạn bộ tài liệu dạy học hát dân ca Nghệ Tĩnh (gồm chương trình và tài liệu dạy học): hoàn thành năm 2018. Đang thực hiện: (i) Dạy học thử nghiệm (để đánh giá bộ tài liệu và nắm tình hình thực tế): năm 2019, (ii) Hoàn chỉnh bộ tài liệu: năm 2020 và (iii) Triển khai đại trà việc dạy và học hát DC Nghệ Tĩnh trong trường học trên địa bàn toàn tỉnh Nghệ An: từ năm 2021.

3.3.Kết quả bước đầu (phần tham khảo)

Nắm bắt được tình hình thực tế, cái đang cần nhất nhưng lại đang thiếu của các nhà trường khi đưa DCVG vào trường học, chúng tôi đã soạn bộ tài liệu dạy học hát dân ca Nghệ Tĩnh từ mẫu giáo đến trung học cơ sở. Tóm tắt một số kết quả chính:

1) Về bộ tài liệu dạy hát dân ca

a) Bộ tài liệu dạy học môn dân ca Ví, Giặm cho giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông, gồm các tài liệu:

- Chương trình khung của môn học.

- Tài liệu dạy học (Tập bài giảng, giáo trình).

- Tài liệu bổ trợ, đọc thêm.

b) Số lượng bộ tài liệu dạy học dân ca Ví, Giặm:

- Bậc học mầm non: 1 bộ, 2 tập (cho hai lớp mẫu giáo: 4 -5 tuổi & 5 - cận 6 tuổi).

- Bậc học phổ thông: 2 bộ, 9 tập (Tiểu học: 1 bộ, 5 tập (cho 5 lớp: từ lớp 1 đến lớp 5); Trung học cơ sở: 1 bộ, 4 tập (cho 4 lớp: từ lớp 6 đến lớp 9).

c) Tiêu chí lựa chọn các nội dung của bộ tài liệu:

Việc lựa chọn nội dung của các bộ tài liệu phải đáp ứng được các mục đích, yêu cầu của môn học dân ca.

- Về lý thuyết:

+ Những kiến thức bổ trợ liên quan đến DCVG (các chuyện kể về con người, nghề nghiệp, các gương mặt tiêu biểu của DCVG);

+ Những kiến thức cơ bản về DCVG (đất nước, con người xứ Nghệ; đặc điểm và giá trị tiêu biểu, các thể loại, cách thức hát dân ca...).

- Về thực hành:

Việc lựa chọn các bài hát DCVG phải đảm bảo các tiêu chí sau:

+ Chú trọng chọn các bài hát gốc và tiêu biểu cho từng thể loại: Ví, Giặm, Hò (để đảm bảo chủ trương bảo tồn đặc điểm bản sắc và phát huy giá trị DCVG);

+ Nội dung bài hát cơ bản là thích hợp với bậc học, cấp học, tâm lý lứa tuổi, và tình hình thực tiễn của địa phương, của nhà trường; có thể chọn thêm các bài hát dân ca lời mới.

+ Thời lượng và hình thức học DCVG (chính khoá, ngoại khoá) phù hợp với chương trình, kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành và giao cho nhà trường.

2) Nội dung chi tiết của các tài liệu

a) Chương trình khung giờ học hát dân ca Ví, Giặm

(Dùng cho các bậc học: mầm non, phổ thông (tiểu học, trung học cơ sở) trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Phần 1 - Vị trí, tính chất và mục tiêu, yêu cầu của môn học dân ca;

Phần 2 - Nội dung của môn học và phân phối thời gian;

-  Nội dung của môn học:

+ Giới thiệu dân ca Nghệ Tĩnh;Kể chuyện nghệ nhân.        

+ Thực hành hát dân ca (luyện tập hát một số làn điệu dân ca tiêu biểu, phổ biến của dân ca Nghệ Tĩnh, chủ yếu là Ví, Giặm; các bài hát cụ thể của từng thể loại (lời cổ, lời mới).…

- Phân phối thời gian:

+ Bậc học mầm non: Tổ chức hoạt động chính: 01 buổi chiều/ tháng như hoạt động giáo dục âm nhạc đang thực hiện (thời gian mỗi buổi từ 25' đến 30').

+ Bậc học phổ thông: Cấp tiểu học (Tổng số tiết học hát DCVG: 16 tiết/ 32 tuần/ năm học/ lớp (trong đó: học chính khoá: 8 tiết - Bố trí dạy hát DCVG vào: tiết học địa phương, lồng ghép vào môn âm nhạc và tiết ôn tập); học ngoại khoá: 8 tiết (tập hát ngoài giờ; tổ chức Câu lạc bộ dân ca, hội thi, chương trình văn nghệ; đi đến các câu lạc bộ dân ca địa phương), v.v...

Cấp trung học cơ sở (tổng số tiết học hát DCVG: 18 tiết/ 32 tuần/ năm học/ lớp (trong đó: học chính khoá: 8 tiết - Bố trí dạy hát DCVG vào: tiết học địa phương, lồng ghép vào môn âm nhạc và tiết ôn tập); học ngoại khoá: 10 tiết (tập hát ngoài giờ; tổ chức câu lạc bộ dân ca, hội thi, chương trình văn nghệ; đi đến các câu lạc bộ dân ca địa phương), v.v...

b) Tài liệu dạy học dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

- Tài liệu dạy học dân ca cho bậc mầm non:

+ Kết cấu, nội dung chi tiết của Tập bài dạy hát dân ca cho lứa tuổi mầm non về cơ bản cũng bao gồm các mục như Tập bài giảng cho học sinh tiểu học, nhưng giản lược hơn, phù hợp lứa tuổi, chỉ gồm tập hát các bài đồng dao dành cho các lớp mẫu giáo 4 - cận 6 tuổi.

 + Số tập tài liệu: 2 tập, 100 trang (dùng cho 2 lớp mẫu giáo lớn, mỗi tập: soạn khoảng 30 trang gồm các bài hát và bài kể, còn lại là tranh ảnh minh họa).

- Tài liệu dạy học dân ca cho cấp tiểu học:

Số  tập tài liệu: 5 tập, 150 trang (5 khối lớp: từ lớp 1 đến lớp 5, mỗi khối một tập bài giảng); mỗi tập từ 30 - 40 trang.

- Tài liệu dạy học dân ca cho cấp trung học cơ sở:

 Số tập tài liệu: 4 tập, 200 trang (4 khối, từ lớp 6 đến lớp 9, mỗi khối một tập bài giảng); mỗi tập: 45 - 55 trang(1) (Chưa kể tài liệu bổ trợ, và bộ tài liệu dạy hát dân ca tại trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật Nghệ An, 2018).

Những vấn đề trên, tưởng như cũ, tưởng như đơn giản nhưng nếu không có sự trao đổi bàn bạc thấu đáo thì sẽ gặp khó khăn khi tổ chức thực hiện, nhất là trong các công đoạn cụ thể. Chúng tôi cho đây là công việc lớn, có liên quan đến cả hệ thống: từ cấp quản lý, các đơn vị chức năng đến các cơ sở thực thi... Mọi lý thuyết thì màu xám, còn cây đời thì mãi mãi xanh tươi (J.W.Goethe). Không có lý thuyết nào là chân lý tuyệt đối, chúng ta vừa làm vừa tiếp tục bổ sung, điều chỉnh từ thực tế để ngày càng có hiệu quả thiết thực.q    

 

 

Hoàng Tú Anh

 "Đã hơn một thập kỷ trôi qua từ khi nhà nước thông qua Luật Phòng chống bạo lực đối với phụ nữ nhưng nhìn chung vấn đề này vẫn còn nhiều điều phải suy nghĩ. Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của xã hội. Nhận thức của con người về vấn đề cũng thay đổi nhanh chóng. Các hoạt động liên quan đến việc phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái cũng được triển khai thường xuyên và ngày càng tốt hơn. Nhưng hiệu quả của các công tác phòng chống bạo lực đối với phụ nữ hay việc thực thi các quy định của pháp luật về vấn đề này cũng còn nhiều điều bất cập. Để hiểu thêm về những vấn đề này, chúng tôi đã có buổi trao đổi với nhà nghiên cứu Hoàng Tú Anh, Giám đốc Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (CCIHP), một tổ chức phi chính phủ chuyên nghiên cứu, tư vấn các vấn đề liên quan đến phòng chống bạo lực gia đình, phòng chống bạo lực đối với phụ nữ. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

*  *

*

PV: Để bắt đầu câu chuyện, có thể chúng ta sẽ đưa ra các cách hiểu về như thế nào là bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái? Cách phân chia các hành vi bạo lực đối với trẻ em gái ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Nó có gì khác với các nước khác?

Nhà nghiên cứu Hoàng Tú Anh (HTA): Với một đất nước chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa Nho giáo như nước ta thì vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội là vấn đề quan trọng và cần phải được quan tâm đặc biệt. Trong xã hội truyền thống trọng nam khinh nữ nên người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi trên nhiều phương diện. Nhưng càng ngày, xã hội càng phát triển thì nhận thức về bình đẳng giới cũng ngày càng cao hơn. Vấn đề bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ ngày càng được nhà nước và xã hội quan tâm hơn. Việt Nam kí công ước về Xóa bỏ mọi hình thức bạo lực và phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) từ năm 1979 và là một trong những nước đầu tiên kí công ước này. Điều tra quốc gia đầu tiên về bạo lực đối với phụ nữ của Việt Nam được thực hiện dựa trên nghiên cứu đa quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Do vậy, về cơ bản khái niệm bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái ở Việt Nam cũng như cách phân loại là khá tương đồng với định nghĩa và phân loại quốc tế. Định nghĩa này qui định bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái là tất cả các hành động xảy ra ở nơi công cộng hay riêng tư, có thể gây tổn hại đến thể chất, tinh thần, kinh tế, xã hội và tình dục bao gồm cả việc đe dọa thực hiện các hành vi này. Các hành vi bạo lực được chia thành bạo lực thể chất, tinh thần và tình dục.

PV: Vấn đề phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái ở Việt Nam đã thay đổi như thế nào trong nhiều năm qua? Phải chăng, càng ngày, cùng với phong trào đấu tranh cho bình đẳng giới, phong trào phòng chống bạo lực với phụ nữ và trẻ em gái cũng tăng lên?

HTA: Việt Nam thông qua Luật Phòng chống Bạo lực Gia đình năm 2006. Lúc đó chúng tôi - Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (CCIHP) đang triển khai chương trình phòng chống bạo lực trên cơ sở giới dựa vào y tế và cộng đồng tại Cửa Lò. Tôi vẫn nhớ, ngay hôm Luật được thông qua, ông Phan Công Lưu lúc đó là Phó Chủ tịch thị xã Cửa Lò đã gọi điện cho tôi và chia sẻ rất xúc động "Chị Tú Anh ơi, có Luật rồi. Mừng quá. Chương trình của chúng ta đã có kết quả và chúng ta đã có cơ sở pháp lý chính thức để đưa phòng chống bạo lực giới vào mọi ngành, mọi gia đình rồi". Cũng xin chia sẻ thêm trong quá trình vận động cho sự ra đời của bộ Luật này, các phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình ở Cửa Lò cũng tham gia tích cực đưa tiếng nói người trong cuộc đến các nhà làm luật. Đúng là có Luật phòng chống bạo lực gia đình, vấn đề bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái được thảo luận nhiều hơn ở các diễn đàn chính thức. Từ năm 2016, Việt Nam chính thức lấy tháng 11 là tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng chống bạo lực với phụ nữ. Đây là những thay đổi tích cực, thể hiện cam kết chính trị đối với vấn đề này.

PV: Nhận thức của con người về phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái là vấn đề quan trọng. Theo chị, chúng ta nhận thức về vấn đề này bắt đầu từ lúc nào? Và nhận thức đó thay đổi như thế nào cho đến hiện nay?

HTA: Đúng là có thay đổi rất nhiều. Khi chúng tôi bắt đầu dự án phòng chống bạo lực trên cơ sở giới ở Cửa Lò năm 2006, khái niệm bạo lực giới, bạo lực gia đình lúc đó với nhiều người còn rất mơ hồ. Khi làm việc ở xã, lãnh đạo xã còn nói ở xã không có vấn đề này, hoặc chỉ có một ít trường hợp và những trường hợp đó là do người chồng có vấn đề về tâm lí, tâm thần hay do di chứng chiến tranh. Chính vì thế sản phẩm truyền thông đầu tiên của chúng tôi là tập sách Những mảnh đời có thật chia sẻ những câu chuyện thật chúng tôi thu được trong nghiên cứu tại địa phương về bạo lực với phụ nữ do chồng gây ra nhằm giúp mọi người nhận thức được vấn đề này. Tập sách có tác động rất mạnh tới lãnh đạo địa phương và cộng đồng. Tiếp đó là rất nhiều hoạt động truyền thông tại cơ sở để giúp mọi người nhận ra không phải là chuyện say rượu mà chính bất bình đẳng giới là nguyên nhân gốc rễ của vấn đề. Trong chương trình chúng tôi có hai tư vấn viên làm việc tại Trung tâm tư vấn Hạnh phúc gia đình đặt tại Trung tâm y tế Cửa Lò. Tôi vẫn nhớ khi tuyển bạn nam giới làm tư vấn viên, chúng tôi có đặt tình huống một người vợ có nói lại chồng khi không đồng ý với chồng và người chồng đánh vợ thì bạn ấy nói "Em vào tình huống đó em cũng đánh. Vợ thế hỗn quá". Sau khi tham gia vào các đào tạo trong chương trình, bạn ấy trở thành một cán bộ truyền thông và một tư vấn viên tuyệt vời. Tiếc là khi hết dự án, địa phương có những thay đổi về nhân sự và bạn ấy đã bị điều chuyển đi làm công việc khác. Nhìn trên bình diện quốc gia thì thấy rằng sau khi có luật và đặc biệt sau nghiên cứu quốc gia lần đầu về bạo lực gia đình thì bạo lực với phụ nữ đã được biết đến nhiều hơn, được nhìn nhận nhưng việc bào chữa, dung túng cho bạo lực vẫn còn phổ biến. Trên 90% biết bạo lực đối với phụ nữ là vi phạm pháp luật và hầu hết đồng thuận với ý kiến rằng nam giới không nên đánh vợ hay đánh vợ là xấu. Tuy nhiên, trên 60% lại cho rằng đánh vợ là chấp nhận được trong một số tình huống. Đặc biệt đánh vợ khi vợ ngoại tình, khi cãi lại mẹ chồng được rất đông người ủng hộ. Điều đấy cho thấy nhận thức về vấn đề này có thay đổi nhưng chưa sâu và do vậy ít có tác động đến thay đổi hành vi.

PV: Là một người có nhiều năm nghiên cứu và hoạt động xã hội trong việc phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái, chị nhận thấy vấn đề này hiện nay đang gặp những khó khăn và thuận lợi nào? Làm sao để hạn chế những khó khăn đó?

HTA: Các thuận lợi tôi đã nói nhiều ở trên, câu này xin tập trung vào khó khăn. Việc đặt bạo lực với phụ nữ trong luật phòng chống bạo lực gia đình giống như bạo lực với tất cả các thành viên khác trong gia đình đã khiến phần nào làm lu mờ yếu tố bất bình đẳng giới như là nguyên nhân gốc rễ của bạo lực đối với phụ nữ. Đây có thể là một trong những yếu tố khiến phong trào phòng chống bạo lực với phụ nữ và trẻ em gái chưa có nhiều hiệu quả, chưa có chiều sâu. Luật có, nhưng các trường hợp phụ nữ bị bạo lực được đưa ra xử lí với pháp luật còn rất hạn chế. Tư tưởng coi đây là chuyện riêng, chuyện gia đình hay việc đánh vợ là chấp nhận được trong một số trường hợp vẫn còn rất phổ biến.

Quan niệm coi trọng hôn nhân, hay việc con phải có cả bố và mẹ là những rào cản quan trọng trong báo cáo và xử lí bạo lực. Nhiều trường hợp dù bị bạo lực nặng nề trong thời gian dài, chính cán bộ cơ sở hay bố mẹ của người phụ nữ là người khuyên người phụ nữ hãy chịu đựng, hy sinh vì gia đình, cố gắng sống với chồng để con có bố.

Trong các loại bạo lực thì bạo lực thân thể thường dễ được báo cáo và can thiệp hơn. Các cơ quan có thẩm quyền hay các thành viên trong hệ thống hỗ trợ tại cơ sở vẫn lúng túng nhiều với bạo lực tình dục. Trong một cuộc phỏng vấn, một cán bộ cơ sở chia sẻ như thế này "Nếu anh ấy đánh hay đập vỡ cái xe đạp của cô ấy thì tôi có thể can thiệp được ngay, có bằng chứng rõ ràng. Nhưng nếu bảo hôm trước anh chồng cưỡng ép quan hệ thì tôi cũng không biết làm thế nào, không biết lấy bằng chứng như thế nào".

Bên cạnh đó một số phong trào có thể gây ảnh hưởng không mong muốn cho phòng chống bạo lực ví dụ như phong trào Gia đình văn hóa, Làng văn hóa hay phong trào phụ nữ ba tiêu chuẩn. Chính những phong trào này có thể làm cán bộ địa phương không muốn báo cáo các trường hợp bị bạo lực, không muốn hỗ trợ phụ nữ li hôn.

Một trở ngại quan trọng nữa là cực kì thiếu dịch vụ hỗ trợ. Cả nước đã có số đường dây nóng 111 để báo về bạo lực nhưng số người trực tổng đài còn ít do vậy thời gian chờ còn dài. Tư vấn hỗ trợ về tâm lí và xã hội mới chỉ có ở thành phố lớn và cả nước mới có hai cơ sở tạm lánh chính thức cho phụ nữ bị bạo lực. Đây là những rào cản khiến người phụ nữ khó thoát khỏi bạo lực.

PV: Nói đến phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái thì trước hết ta cần bàn đến hệ thống chính sách liên quan đến vấn đề này. Vừa là một nhà nghiên cứu, vừa tham gia hoạt động thực tiễn xã hội để giải quyết vấn đề này, chị nhận xét thế nào về hệ thống chính sách đối với vấn đề này ở Việt Nam hiện nay? Những điểm được và chưa được trong việc xây dựng chính sách phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái hiện nay là gì? Cần phải làm những gì để có thể hoàn thiện hơn về hệ thống chính sách đó?

HTA: Một số điểm liên quan tới chính sách tôi đã bàn ở trên. Cần phải nói rằng, trong hơn một thập kỷ qua chúng ta không ngừng nỗ lực xây dựng và hoàn thiện dần các quy định về pháp luật có liên quan đến vấn đề phòng chống bạo lực đối với phụ nữ. Điều đó vô cùng quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý để quản lý, giám sát và xử lý các hành vi bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái. Tuy nhiên, do vấn đề bạo lực và nhận thức về bạo lực đối với phụ nữ cũng thay đổi nhanh chóng nên xuất hiện nhiều lỗ hổng, nhiều hạn chế từ hệ thống chính sách mà các quy định chưa thể bổ sung kịp được. Một số điểm hạn chế quan trọng của hệ thống chính sách là việc chưa có các qui định cụ thể về bạo lực tình dục. Bên cạnh đó cơ chế về xử phạt chưa hợp lí. Nhiều phụ nữ không báo cáo bạo lực do chồng gây ra vì nếu xử phạt thì chính họ lại phải bỏ tiền của họ hay của gia đình ra trả.

PV: Theo tôi nghĩ, để làm tốt hơn việc phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái, bên cạnh hệ thống chính sách và hoạt động của các cơ quan chuyên môn của nhà nước thì các tổ chức xã hội (hay xã hội dân sự) giữ một vai trò quan trọng. Dù đó là tổ chức xã hội trong hay ngoài nước cũng đều có vị thế riêng. Có nhiều vấn đề, các cơ quan nhà nước có thể làm chưa hiệu quả nhưng các tổ chức xã hội lại làm tốt hơn. Trong tình hình hiện nay, theo bà, các tổ chức xã hội hiện nay đang đóng vai trò như thế nào trong việc giải quyết vấn đề này? Làm thế nào để tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội hoạt động có hiệu quả hơn?

HTA: Như trên đã chia sẻ, bạo lực với phụ nữ, bạo lực gia đình, bạo lực tình dục dù có luật nhưng vẫn là những vấn đề nhạy cảm, khó nói, và đây chính là lí do vì sao các tổ chức xã hội lại có vai trò quan trọng trong giải quyết vấn đề này. Việc đưa vấn đề bạo lực gia đình thành vấn đề công cộng, vận động đưa vào luật có vai trò quan trọng của xã hội dân sự. Các tổ chức xã hội dân sự như Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe Dân số đã làm về vấn đề này trước khi có luật. Các tổ chức xã hội không thực hiện các nghiên cứu ở mức quốc gia nhưng các nghiên cứu nhỏ, sử dụng phương pháp định tính lại giúp phát hiện vấn đề. Các tổ chức xã hội cũng là đơn vị thử nghiệm các mô hình can thiệp và hỗ trợ đầu tiên rồi từ đó đưa khuyến nghị để các cơ quan chức năng điều chỉnh và áp dụng trên diện rộng. Năm 2016 Việt Nam mới chính thức kỉ niệm ngày 25/11, chúng tôi đã đưa hoạt động này vào và được lãnh đạo địa phương ủng hộ tổ chức ở Cửa Lò từ năm 2007.

Để các tổ chức xã hội hoạt động hiệu quả hơn, đóng góp nhiều hơn, nhà nước cần tạo điều kiện mở cơ hội để các tổ chức xã hội tham gia bình đẳng với các tổ chức nhà nước trong dự phòng và ứng phó với bạo lực bao gồm cả tham gia nghiên cứu, truyền thông giáo dục và dịch vụ hỗ trợ. Hiện tại hầu hết ngân sách hoạt động của các tổ chức xã hội là hỗ trợ quốc tế do vậy không ổn định, khó bền vững. 

PV: Theo quan sát của tôi thì một trong những vấn đề quan trọng trong việc phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái chính là sự im lặng của những người trong cuộc. Họ là những nạn nhân, nhưng có thể do nhận thức, hoặc do rào cản văn hóa và nhiều vấn đề khác mà họ ngại lên tiếng. Một khi những người trong cuộc im lặng thì các biện pháp phòng chống bạo lực mà cơ quan chính quyền đưa ra hay nỗ lực của các tổ chức xã hội cũng gặp rất nhiều khó khăn và khó thu được kết quả như mong muốn. Là một nhà nghiên cứu nhiều kinh nghiệm, bà có cảm thấy vậy không? Làm sao để giải quyết được tình trạng đó?

HTA: Tôi tham gia vào nghiên cứu quốc gia lần đầu tiên về bạo lực gia đình với phụ nữ năm 2009-2010, phụ trách cấu phần nghiên cứu định tính. Tiêu đề của báo cáo nghiên cứu lần đó đã lấy trích dẫn câu nói một phụ nữ bị bạo lực "Im lặng là chết đấy". Đây là câu nói mà người phụ nữ đã tự rút ra cho chính mình sau khi chị ấy đã tự giải thoát được mình khỏi những lần bị hành hạ chết đi sống lại của người chồng. Điều này cho thấy việc lên tiếng của người trong cuộc quan trọng như thế nào. Tuy nhiên, nếu nói rằng hiện nay các nạn nhân đang im lặng, chưa lên tiếng và vì thế các can thiệp không hiệu quả thì tôi lại không đồng ý. Tôi e ngại rằng cách lí giải này có thể lại là một cách nhìn đổ lỗi cho nạn nhân. Đúng là có những trường hợp bạo lực được thể hiện một cách thầm lặng và tinh vi mà chính người trong cuộc không nhận ra và không lên tiếng hoặc trong nhiều trường hợp người bị bạo lực còn e ngại, xấu hổ mà giấu hay che giấu tình trạng của mình, tuy nhiên, cần đặt câu hỏi có đúng là những trường hợp này bạo lực là hoàn toàn im lặng không? Tôi nghĩ là không. Trong nghiên cứu của tôi, rất nhiều trường hợp bạo lực ầm ĩ, dù người trong cuộc không nói, không báo nhưng hàng xóm, thậm chí lãnh đạo cơ sở không thể nói là không biết. Hay rất nhiều khi những phụ nữ bị bạo lực đến cơ sở y tế và nói là mình bị ngã mà cán bộ y tế cũng tin ngay. Hay khi họ đến công an để báo thì lại bị hỏi lại là "Chắc làm sao chồng nó mới đánh chứ". Vậy chúng ta cũng cần đặt lại câu hỏi là liệu các cơ quan hỗ trợ đã làm hết trách nhiệm chưa. Khi người bị bạo lực không nói có nghĩa là họ im lặng. Nếu chúng ta đủ nhạy cảm, nếu chúng ta nhìn vào mắt, nghe bằng tim chứ không chỉ bằng tai, chúng ta làm đúng các qui định về sàng lọc, báo cáo, xử lí các trường hợp bị bạo lực thì sẽ thấy những người bị bạo lực không im lặng đâu.

PV: Chúng ta đang bàn đến vấn đề phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái. Điều này là quan trọng. Nhưng thiết nghĩ, trong bối cảnh xã hội hiện nay, không chỉ phụ nữ và trẻ em gái mới bị bạo hành. Phải chăng chúng ta cần nhìn rộng ra hơn, đó là vấn đề an ninh con người ở Việt Nam đang còn nhiều bất cập. Bà có thể trao đổi thêm về vấn đề này qua góc nhìn của chị. Theo bà, làm thế nào để chúng ta có thể đảm bảo tốt hơn vấn đề an ninh con người trong bối cảnh hiện nay?

HTA: Tôi nghĩ chúng ta cần quay lại cái gốc của xã hội là giáo dục. Qua rất nhiều năm chúng ta chỉ tập trung đào tạo con người giỏi văn, giỏi toán và các bài học đạo đức chủ yếu mang tính giáo điều. Các giá trị nhân văn, các mối quan hệ trên cơ sở bình đẳng, không bạo lực không được bàn, không được thực hành trong nhà trường và gia đình. Ngược lại, chính nhà trường và gia đình dường như lại đang là nơi xảy ra nhiều bạo lực nhất. Từ trẻ con đến người lớn phải chịu quá nhiều áp lực. Các thể loại hình thức kỉ luật được sử dụng ở mọi nơi. Tôi nghĩ việc xây dựng xã hội lấy giáo dục nhân văn, bình đẳng, dân chủ làm gốc sẽ giúp nhiều trong việc giảm bạo lực. Bên cạnh đó là đảm bảo một xã hội công bằng, pháp luật được thực thi, người dân tin vào công lý cũng rất quan trọng trong việc tạo ra một xã hội an ninh và phát triển.

Xin trân trọng cảm ơn bà về cuộc trao đổi này!

P.V (Thực hiện)

 

Linh Nhi

Quế Phong là huyện miền núi nằm về phía Tây Bắc Nghệ An, mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm, cùng với thổ nhưỡng thích hợp tạo nên sự đa dạng sinh học cao, giàu tiềm năng về cây, con làm dược liệu. Theo tổng hợp các kết quả điều tra gần đây cho thấy tại Nghệ An có 962 loài cây và nấm làm thuốc thì ở Quế Phong đã có hơn 372 loại. Trong đó có các loài quý và hiếm như: Trà hoa vàng, đẳng sâm, bon bo,... đã được UBND huyện đưa vào Đề án Bảo tồn và phát triển Cây Dược liệu có giá trị kinh tế cao giai đoạn 2015 - 2020.

Thuốc quý - giá trị kinh tế cao

Quế Phong là huyện có quỹ đất rất lớn, tính chất đất, khí hậu phù hợp với việc phát triển các loại cây dược liệu sẵn có với các nhóm đất chính là: Đất Feralit đỏ vàng vùng đồi (dưới 200m); đất feralit đỏ vàng trên núi thấp  (từ 200 - 1.000m); đất mùn vàng trên núi trung bình (1.000-2.000m); đất mùn trên núi cao (> 2.000m). Có 4 con sông chính phân bổ đều từ Tây Bắc sang Tây Nam: sông Chu, sông Nậm Việc, sông Nậm Giải, sông Nậm Quàng. Tổng diện tích tự nhiên 188.969,0 ha, trong đó đất lâm nghiệp hơn 174. 296 ha, diện tích có rừng 144.999 ha. Huyện đã được UNESCO đưa vào danh sách các địa danh thuộc khu vực dự trữ sinh quyền miền Tây Nghệ An.

Với những đặc điểm thuận lợi về địa hình, đất đai, thổ nhưỡng và khí hậu thích hợp cho nhiều loại cây dược liệu khác nhau, Quế Phong là một vùng đất lý tưởng để bảo tồn, phát triển cây dược liệu và phát triển kinh tế từ cây dược liệu. Trong đó có những loại cây dược liệu quý, hiếm và mang lại hiệu quả kinh tế cao đã được huyện đưa vào danh mục bảo tồn, tái sinh và phát triển tránh nguy cơ bị tàn phá và suy kiệt nghiêm trọng, có khả năng biến mất hoàn toàn do việc khai thác bừa bãi, ồ ạt, không có kế hoạch của người dân.

- Cây trà hoa vàng: Trà hoa vàng là cây mọc tự nhiên trong rừng, tập trung nhiều trên địa bàn các xã Thông Thụ, Đồng Văn, Hạnh Dịch, Tiền Phong, Châu Kim và Mường Nọc.

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, lần đầu tiên trà hoa vàng được phát hiện ở Quảng Tây, Trung Quốc, thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Ở Việt Nam, giống cây quý hiếm này được tìm thấy ở Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Ba Chẽ (Quảng Ninh), Lâm Đồng, Tuyên Quang và Yên Bái. Tại Nghệ An, năm 2012, trà hoa vàng được huyện Quế Phong phát hiện và công bố những thông tin, giá trị khoa học. Qua kết quả điều tra, khảo sát sơ bộ của Sở KH&CN Nghệ An năm 2016, toàn huyện Quế Phong có hơn 5.000 cây trà hoa vàng, trong đó, cây đang cho thu hoạch là trên 4.500 cây, tập trung chủ yếu ở các xã Mường Nọc, Thông Thụ, Đồng Văn. Trà hoa vàng tại đây sinh trưởng, phát triển tốt (trên 70%). Trung bình cứ 100 cây thì có khoảng 70 cây trưởng thành cho khoảng 1 kg hoa tươi/cây/vụ, khoảng 21 cây trung bình chưa cho ra hoa hoặc cho hoa nhưng dưới 0,2 kg/cây/vụ với giá bình quân khi phơi hoặc sấy khô từ 3.500.000 - 8.000.000 đồng/kg.

Theo "Camellia International Journal" - Tạp chí chuyên nghiên cứu về trà hoa vàng của thế giới, các hợp chất của trà hoa vàng có khả năng kiềm chế sự sinh trưởng của các khối u đến 33,8%; giúp giảm đến 35% hàm lượng cholesterol trong máu. Loại trà này còn có khả năng làm giảm triệu chứng xơ vữa động mạch do máu nhiễm mỡ, điều hoà huyết áp và chữa các bệnh về tim mạch, tiểu đường, u bướu… Ngoài ra, khi bị các vết thương lở loét, người dân địa phương còn lấy hoa và lá của trà hoa vàng giã nhỏ đắp lên vết thương, mỗi ngày thay 2 - 3 lần, sau 2 - 3 ngày, vết thương sẽ khô và liền da… Màu vàng của trà hoa vàng rất đặc trưng, khó có thể tạo được bằng phương pháp lai tạo nên càng thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà lai tạo giống trà trên thế giới.

Tuy nhiên, những năm gần đây, người dân lên rừng đào gốc, mang thân và lá trà về bán cho thương lái với giá cao nên cây dược liệu quý, hiếm đứng trước nguy cơ bị tận diệt. Để phát triển cây trà hoa vàng, tháng 4/2016, UBND huyện Quế Phong đã đưa loài cây này vào Đề án bảo tồn và phát triển cây dược liệu có giá trị kinh tế cao giai đoạn 2016 - 2020. Mục tiêu của Đề án là đến năm 2020, phấn đấu trồng được 5 ha cây trà hoa vàng.

Cùng với đó, hiện đã có một số vườn ươm đang nhân giống và bán cây trà hoa vàng, góp phần bảo tồn được nguồn gen quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng như ở xã Đồng Văn, Sở KH&CN Nghệ An đã tiến hành khảo sát, thu thập số liệu về quá trình sinh trưởng của cây. Qua đó, Sở tiến hành xây dựng vườn ươm cây tại khu vực lòng hồ thủy điện Hủa Na.

- Cây đẳng sâm: Đây là một loại dược liệu quý, là cây bản địa thường mọc ở những cánh rừng nghèo tại huyện miền núi Quế Phong. Từ hàng chục năm trước, đồng bào nơi đây đã biết giá trị của loại cây thuốc quý và đem về trồng trong vườn nhà. Mỗi kg đẳng sâm tươi được thương lái săn lùng tại đây với giá từ 400 - 500 nghìn đồng. Loại củ to có giá trên dưới 1 triệu đồng/kg.

Năm 2016, từ nguồn vốn chương trình 30a, UBND huyện Quế Phong (Nghệ An) trồng thử nghiệm 2ha cây đẳng sâm ở bản Ăng, xã Thông Thụ. Qua gần 2 năm triển khai, mô hình bước đầu cho thấy hiệu quả. Đây không phải là mô hình trồng cây dược liệu duy nhất ở vùng tái định cư (TĐC) thủy điện Hủa Na.

Cây đẳng sâm được người dân sử dụng trong chữa trị một số bệnh và dùng để bồi bổ sức khỏe; dễ trồng, dễ chăm sóc và hiệu quả kinh tế cao. Hiện nay đang trồng thử nghiệm gần 01 ha tại địa bàn xã Thông Thụ, huyện Quế Phong, có tiềm năng để phát triển và là cây có thể xóa đói giảm nghèo cho bà con nhân dân trên địa bàn huyện, đặc biệt là tại các xã Thông Thụ, Đồng Văn, Hạnh Dịch và mở rộng ra các xã khác trên địa bàn huyện.

- Cây bon bo: Được phân bổ tự nhiên và tập trung nhiều ở các xã Nậm Nhóng, Tri Lễ, Châu Thôn, Nậm Giải, hàng năm được người dân thu hái và bán cho thương lái. Cây bon bo hay còn gọi là cây riềng Bắc lá to  ApiniaBractea Roxb) tại Nghệ An thường gọi là cây bon bo, cọ cà, mạc cá thuộc họ gừng (Zinginberaceae), chi riềng (Alpinia). Ở nghệ An loài cây này phân bố nhiều ở các huyện vùng núi cao, nhất là những vùng rừng thứ sinh nghèo, bìa rừng, ven sông suối có độ tán che khoảng 30-70%. Đây là loài cây đa tác dụng, hạt được sử dụng làm thuốc chữa bệnh (thấp khớp, đau lưng, đau tức ngực, đau dạ dày), đọt non được sử dụng chế biến các món ăn. Hạt cây là nguồn dược liệu quý có giá trị thương mại cao.

Ngoài ba loại cây dược liệu quý trên, Quế Phong còn nhiều loại dược liệu quý hiếm khác như: sâm đất, mú từn, quế, sa nhân, nhân trần,... tạo nên sự đa dạng sinh học, giàu tiềm năng về cây, con làm dược liệu. Tuy nhiên, cây thuốc ở Quế Phong ngày càng suy giảm. Hầu hết các loại cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao đang mất dần khả năng khai thác. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do việc khai thác bừa bãi không có kế hoạch bảo vệ, tái sinh, cộng với việc đồng bào các dân tộc thiểu số phát rừng làm rẫy. Nhiều cánh rừng trước đây có trữ lượng lớn những cây làm thuốc nay đã dần biến mất. Một số loài quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. Hầu hết, các dược liệu mà bà con khai thác đều được tư thương thu mua, xuất sang Trung Quốc với giá rẻ. Cùng với đó là vấn đề phát triển công nghiệp dược và dược liệu trên địa bàn tỉnh Nghệ An chưa được quan tâm đúng mức như: Công tác quy hoạch; chính sách đầu tư; doanh nghiệp dược trên địa bàn chưa quan tâm phát triển lĩnh vực đông dược; công tác thu hút các doanh nghiệp dược và dược liệu mới manh nha…

Phát triển chưa tương xứng tiềm năng

Trong những năm gần đây trên địa bàn huyện có một số hộ gia đình đã bắt đầu trồng, chăm sóc, bảo vệ và phát triển các loại cây dược liệu để làm thuốc. Cây thuốc tồn tại cùng với hệ sinh thái rừng, nông nghiệp và nông thôn lại có mối tương quan chặt chẽ với sự đa dạng văn hóa, y học cổ truyền và là nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng các đồng bào dân tộc. Tuy nhiên, một thực trạng đang diễn ra hiện nay là khối tài sản dược liệu vô giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho huyện Quế Phong đã và đang có nguy cơ bị tàn phá, suy kiệt nghiêm trọng, nhiều loại quý hiếm có khả năng biến mất hoàn toàn do việc khai thác bừa bãi, ồ ạt, không có kế hoạch, trong khi chưa chú ý đến việc bảo tồn và tái sinh.

Theo đánh giá của Phòng Nông nghiệp huyện Quế Phong, việc phát triển các loài cây dược liệu trên địa bàn huyện chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế sẵn có. Mặc dù huyện có khả năng trồng nhiều loài dược liệu khác nhau nhưng cách làm còn manh mún, tự phát, thiếu liên kết, thị trường tiêu thụ chưa ổn định. Tuy diện tích trồng hàng năm tăng nhưng chỉ tập trung vào một số loại như trà hoa vàng, cây đẳng sâm, bon bo,... Không chỉ vậy, phần lớn các hộ tự vào rừng thu hái dược liệu rồi tự chế biến theo kinh nghiệm dân gian. Việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hiện chế biến dược liệu là khâu rất quan trọng để bảo đảm chất lượng của sản phẩm dược liệu, tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, trên địa bàn chưa có nhà máy sơ chế, chế biến các loại dược liệu.

Đối với huyện Quế Phong, cây dược liệu là một trong những nguồn tài nguyên quý của địa phương. Nếu được khai thác, sản xuất, chế biến kết hợp với bảo tồn một cách bài bản thì sẽ tạo ra lượng hàng hóa có giá trị kinh tế lớn, mang lại thu nhập đáng kể cho người dân. Năm 2016, thực hiện Nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ khóa XXI, huyện Quế Phong đã xây dựng Đề án: "Bảo tồn và phát triển Cây Dược liệu có giá trị kinh tế cao giai đoạn 2015 - 2020" với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020: Diện tích bảo tồn và trồng mới cây dược liệu là 334,5 ha, trong đó cây chè hoa vàng sẽ đạt tổng diện tích khoảng 95ha; chủ yếu tập trung bảo tồn các loại cây dược liệu có trong rừng tự nhiên, xây dựng các mô hình trồng thí điểm tại các xã. Tuy nhiên, sau 3 năm triển khai chỉ đạt được 50% so với kế hoạch đề ra, đặc biệt đối với cây dược liệu chủ lực là trà hoa vàng cũng gặp nhiều khó khăn trong nhân giống và mở rộng diện tích. Theo đó, trong 3 năm (2016, 2017 và 2018) huyện Quế Phong đặt mục tiêu bảo tồn và trồng bổ sung 37 ha và trồng mới 2,5 ha trà hoa vàng. Nhưng kết quả chỉ bảo tồn, trồng bổ sung 17 ha, đạt 46% kế hoạch 2 năm. Cùng với đó, diện tích trồng mới chỉ có 0,5 ha, đạt 20% kế hoạch 2 năm.

Theo đánh giá của UBND huyện Quế Phong, có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên. Cụ thể, việc kêu gọi các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tham gia vào quá trình phát triển cây dược liệu tại địa phương chưa được thực hiện tốt, tình trạng chặt, đào gốc và khai thác tận diệt cây dược liệu vẫn còn xảy ra. Do đó, để phát huy tiềm năng dược liệu vốn có huyện cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, làm tốt công tác tư tưởng, từng bước đổi mới nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về công tác bảo tồn và phát triển cây dược liệu.

Giải pháp thúc đẩy

Để cây dược liệu trở thành cây chủ lực, góp phần nâng cao đời sống kinh tế của người dân, trong thời gian tới Quế Phong cần tập trung chỉ đạo xây dựng các chuỗi giá trị sản phẩm. Trong đó, người dân liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp và lấy doanh nghiệp làm nòng cốt nhằm gia tăng giá trị của sản phẩm.

Hiện nay, Quế Phong đã xây dựng thành công mô hình sản xuất trà hoa vàng của Công ty CP Công nghệ xanh Kim Sơn, bước đầu đều tạo được lợi ích cho các bên tham gia. Người dân được doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm thô, doanh nghiệp chế biến thành phẩm, bán ra thị trường. Các bên tham gia liên kết đều có lợi. Bên cạnh đó, nhà nước đã tạo được môi trường thuận lợi hỗ trợ nông dân và doanh nghiệp liên kết sản xuất hàng hóa, như về quy hoạch vùng sản xuất, hay kết nối công nghệ, kết nối thị trường.

Để triển khai mô mình liên kết như vậy, người nông dân cần được tổ chức thành từng nhóm: Nhóm gieo trồng, nhóm thu hái, sơ chế sản phẩm. Doanh nghiệp chế biến bằng công nghệ, thiết bị chuyên dụng, đóng bao bì, làm thị trường. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm bằng cách ứng dựng các công nghệ chế biến tiên tiến, đồng thời doanh nghiệp cũng còn là vai trò trong khâu tiếp cận thị trường, tiêu thụ sản phẩm.

Song song với đó, cần nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể - xã hội, coi đây là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên trong nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững.

Đối với huyện Quế Phong hiện nay, phát triển cây dược liệu là cần thiết, nhằm góp phần làm thay đổi cơ cấu cây trồng tại các xã trong huyện theo hướng sản xuất hàng hóa là hết sức quan trọng, giúp nâng cao trình độ sản xuất của nhân dân, áp dụng khoa học kỹ thuật mới, cây trồng mới; góp phần ổn định sản xuất và công tác xóa đói, giảm nghèo. Đồng thời có nguồn dược liệu để sử dụng làm thuốc chữa trị bệnh theo kinh nghiệm dân gian, đông y của bệnh viện trong và ngoài huyện. Trong thời gian tới, huyện cần tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn và phát triển vùng trồng cây dược liệu tương xứng tiềm năng, tạo ra giá trị kinh tế cao hơn nữa cho người dân.

 

Tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc nam của đồng bào dân tộc có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc quý hiện nay. Xã Hạnh Dịch huyện Quế Phong là một xã miền núi, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, là nơi vẫn lưu giữ những nét đặc trưng riêng về tri thức và kinh nghiệm trong việc sử dụng các loại thực vật rừng để chữa bệnh. Đây cũng là xã duy nhất của huyện Quế Phong có tổ chức về công tác chữa bệnh bằng cây thuốc nam. Kinh nghiệm chữa bệnh của các thầy lang ở đây là một nét đặc trưng, góp phần duy trì tri thức bản địa từ đời này qua đời khác của đồng bào dân tộc nơi đây. Bàn về vấn đề này, Chuyên san Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An đã có cuộc trò chuyên với ông Vi Đình Văn - Chủ tịch Hội Đông Y xã Hạnh Dịch.

*   *

*

PV: Với vai trò là Chủ tịch Hội Đông y của xã Hạnh Dịch, xin ông cho biết vai trò của thầy thuốc đông y trong khám chữa trị bệnh cho người dân địa phương như thế nào?

Ông Vi Đình Văn: Tôi rất may mắn được sinh ra trong gia đình có truyền thống về nghề thuốc nam, có từ rất lâu, sau này vừa kết hợp với những kiến thức gia truyền, vừa tham gia học hỏi, trao đổi kinh nghiệm kiến thức của nhiều nơi khác nên bản thân cũng đã tích lũy được nhiều bài thuốc quý phục vụ cho công việc chữa trị.

Nói về giá trị của thuốc nam trong công tác chữa bệnh, trước tiên là nói về việc dùng cây thuốc nam là không độc, nếu mình có uống nhiều hơn hoặc ít hơn thì cũng không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe. Còn đối với thuốc tây, nếu chúng ta uống quá liều có thể gây nguy hiểm, còn thuốc nam thì có thể uống thay nước hàng ngày. Về hiệu quả chữa trị từ cây thuốc nam thì hiện nay cũng đã được đánh giá, bởi số lượng người dân được chữa trị từ các loại thuốc này cũng khá nhiều, có thể kể đến một số loại bệnh được chữa trị bằng cây thuốc nam như: bệnh đại tràng, dạ dày; bệnh viêm xoang; bệnh cảm cúm; bệnh đau khớp, thần kinh,… Đây là những bài thuốc đơn giản và dễ sử dụng trong các gia đình; có nguồn gốc từ thực vật, cây cỏ, ta thường gặp, hoặc những loại rau, cây ăn quả mình có thể ăn uống hằng ngày.

PV: Nói về hiệu quả chữa trị của cây thuốc cũng đã có, tuy nhiên việc xác định, kiểm định chất lượng của nó thì đã có cơ quan nhà nước, đơn vị khoa học nào xác minh chưa? Và vấn đề hiệu quả kinh tế của công tác chữa bệnh này hiện nay như thế nào, thưa ông?

Ông Vi Đình Văn: Tất nhiên là đã có, bởi các thành viên của Hội Đông y xã Hạnh Dịch đều được cấp thẻ thành viên của Hội Đông y tỉnh Nghệ An, có chứng nhận của Hội Đông y tỉnh Nghệ An. Đó là căn cứ xác minh tính pháp lý cho công tác chữa bệnh của các "thầy lang" như chúng tôi. Và cũng chính nhờ đó mà công việc chữa bệnh bằng cây thuốc nam mới được nhiều người dân tin tưởng tìm đến, không chỉ người dân địa phương mà còn có người dân vùng khác tìm đến mua thuốc của chúng tôi. Cho đến nay, việc chữa trị bằng cây thuốc nam đã góp một phần cải thiện cuộc sống, nâng cao thu nhập cho gia đình tôi cũng như một số thành viên trong Hội. Hiện gia đình tôi có 10 bài thuốc có sản phẩm bán ra thị trường, thu nhập bình quân từ cây thuốc nam là từ 3-5 triệu đồng/tháng, cũng đã góp một phần trong phát triển kinh tế gia đình.

Vừa qua, tôi may mắn được tham gia trong Dự án phi chính phủ của Viện Nghiên cứu chính sách xã hội và Trung tâm phát triển năng lực cộng đồng phụ nữ dân tộc. Về lĩnh vực thuốc nam, Dự án đã hỗ trợ cho xã để thành lập Hội của những người có kiến thức về thuốc để đi chia sẻ những hiểu biết, những kiến thức về những bài thuốc, cách gọi tên cây thuốc, những kinh nghiệm với các tỉnh như Lào Cai, Ba Vì - Hà Tây; các nước khác như Lào, Thái Lan. Với Dự án này, Hội Đông y của xã sẽ được giao đất giao rừng để tự bảo vệ, quản lý, cùng phối hợp với thôn bản để bảo tồn cây thuốc nam, bởi đây là những cây thuốc quý có trong tự nhiên, rất khó trồng và nếu trồng được thì chất lượng vị thuốc rất kém.

PV: Dự án đã được triển khai với quy mô khá rộng cả ở trong và ngoài nước, đem lại rất nhiều tác dụng cho công tác phát triển nền y học dân gian. Vậy ở tỉnh Nghệ An, Dự án đã được triển khai ở địa phương nào và mục đích của Dự án về cây thuốc nam là như thế nào, thưa ông?

 Ông Vi Đình Văn: Dự án hiện chỉ triển khai duy nhất tại xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong. Đây là xã vùng cao, xã nghèo, có diện tích rừng khá lớn với số lượng cây thuốc tự nhiên nhiều hơn so với các vùng khác. Mục đích của dự án là xây dựng nên một thương hiệu, từ đó có thể mở rộng trong công việc giao dịch với các địa phương khác, vùng khác. Thay mặt Hội, tôi sẽ tiếp thu các kiến thức mới học hỏi được của các vùng miền khác, sau đó sẽ đưa những hiểu biết của mình truyền lại cho các hội viên của hội đông y xã. Trước đây, cách làm của Hội là đông tây y kết hợp, có văn phòng làm việc ngay tại trạm xá của xã. Tuy nhiên, hiện công tác khám chữa bệnh lại được đưa về từng hộ gia đình của 18 thành viên trong hội, tự chế biến thuốc, tuy nhiên sản phẩm thuốc làm ra muốn bán ra thị trường thì cần có sự kiểm nghiệm chất lượng của Hội, của Chủ tịch hội đóng dấu trước khi xuất bán ra bên ngoài.

PV: Nói như vậy, những kiến thức y học về thuốc nam có thể không chỉ truyền cho con cháu trong gia đình mà còn có thể truyền cho người ngoài, những người có đam mê trong lĩnh vực này, thưa ông?

Ông Vi Đình Văn: Cách đây 3 năm, trung tâm có tổ chức mở các lớp tập huấn, có sự tham gia của các trạm y tế của các xã trong huyện và có các nhóm dự án về tham gia tập huấn tại trụ sở ủy ban huyện. Chúng tôi đã có buổi tập huấn về các loại cây thuốc nam cụ thể, cách chữa bệnh, cách chế thuốc. Có nghĩa là chúng tôi đã có sự truyền nghề khá công khai cho mọi người cùng biết, không chỉ truyền cho người trong vùng mà còn truyền lại kiến thức đông y cho người vùng khác nữa. Bởi theo tôi, làm nghề thuốc này thì cần có những người có đam mê, có tâm huyết thì mình có thể truyền cho họ.

PV: Các loại cây thuốc nam như ông nói đều mọc tự nhiên, rất khó trồng, vậy thì trong quá trình khai thác thì Hội đông y có những biện pháp bảo vệ nào chưa? Sự vào cuộc, hỗ trợ của chính quyền hiện nay như thế nào, thưa ông?

Ông Vi Đình Văn: Chúng tôi đã có ra quy chế của hội, vừa tham gia khai thác vừa bảo tồn các loại cây quý. Hội cũng đã có công tác tuyên truyền, công tác bảo vệ khá nghiêm ngặt. Tuy nhiên hiện nay có hiện tượng các đối tượng buôn bán bên ngoài vào thu mua số lượng lớn trong dân nên đã có hiện tượng người dân vào rừng khai thác ồ ạt, gây nguy cơ tuyệt chủng nhiều loại cây thuốc quý. Nếu như trước đây lá và cành thường được sử dụng để chữa bệnh thì hiện nay mức độ thu hái quá mức và mất kiểm soát đã dẫn tới việc tận thu cả cây đang diễn ra ngày một nghiêm trọng. Điều này thật sự đang đe dọa đến sự tồn tại của các loại cây thuốc đồng thời tạo ra một thách thức lớn trong việc duy trì bảo tồn nguồn tài nguyên quý này. Bản thân nếu là những người biết sử dụng, chế biến cây thuốc như chúng tôi thì đã biết tác hại của việc khai thác tận diệt nên đang cố gắng trong việc bảo vệ các loài cây thuốc quý, tuyên truyền sâu rộng trong người dân.

Về phía chính quyền địa phương thì hiện nay vẫn chưa có sự hỗ trợ cụ thể nào. Trước mắt, Hội đông y xã đã tiến hành xây dựng quỹ bảo vệ rừng thuốc nam. Quỹ này dùng để hỗ trợ cho các thành viên tham gia công tác bảo vệ rừng.

PV: Trong tương lai, các thành viên trong hội đã có những phương hướng, kế hoạch gì để bảo tồn và phát huy tác dụng của các loại cây thuốc quý này, thưa ông?

Ông Vi Đinh Văn: Bản thân tôi và các thành viên trong Hội cũng đã có nhiều suy nghĩ, trăn trở trong công tác bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc quý này. Tuy nhiên hiện nay cách thức tiến hành rất khó, khó trước hết bởi vì ý thức của bà con trong vấn đề bảo vệ cây thuốc còn rất hạn chế. Nên hiện nay biện pháp duy nhất mà chúng tôi tiến hành chỉ là hình thức tuyên truyền vận động để nâng cao ý thức cho bà con trong công tác bảo vệ các loài cây thuốc quý. Bên cạnh đó, Hội cũng cố gắng bảo vệ những cá thể cây quý trong tự nhiên, đồng thời tiến hành nhân giống, gây trồng để giảm nguy cơ biến mất của các loài cây thuốc quý, tuy nhiên công việc là rất khó và chúng tôi đang nỗ lực để có những kết quả tốt hơn trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, Hội cũng mong muốn có sự hỗ trợ của nhà nước trong công tác bảo vệ các loài cây thuốc quý này. Nhà nước cần phải có quy chế, chế tài xử phạt nghiêm trong các hành vi phá hoại, khai thác tận diệt các loài cây thuốc quý, có như vậy mới góp phần trong công cuộc bảo vệ rừng, bảo vệ các loại cây thuốc quý hiện nay. Đồng thời mong muốn, nhà nước có sự hỗ trợ cho Hội trong công tác nghiên cứu, bảo tồn các loại cây thuốc quý, góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn sự đa dạng sinh học của các loài cây thuốc quý trong tự nhiên này.

Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

P.V (Thực hiện)

 

 

Quốc Huy

Đền Chiêng Ngam được xây dựng trên đồi Tèn Bọ thuộc dãy núi Phá Èn, ở thế đất "Tọa sơn vọng thủy". Hiện nay đền thuộc bản Hồng Tiến 2, xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu. Đền ngoảnh mặt về hướng Tây Nam có dòng sông Nậm hạt làm minh đường, phía Nam có dãy núi Phá Èn làm hậu chẩm, xung quanh đền Chiêng Ngam có nhiều di tích danh lam thắng cảnh như: Hang Bua, Thẳm Cỏ Ngụn, Thẳm Quái, Thẳm Ké Xăng ở Châu Bính, Thẳm Ốm, Tôn Phạt, Thẩm Chạng ở Châu Thuận.

Theo truyền thuyết ngày xưa có ông  Ló Ỳ là con trai cả của tạo Luống - Phả - Báng(1), được cha có ý định truyền ngôi nhưng bị người anh ganh ghét, nên bày mưu hãm hại. Ló Ỳ được một đôi quạ cứu sống và đến lập nghiệp ở vùng đất của người Thái (thuộc tỉnh Thanh Hóa ngày nay) và được dân làng tôn làm Tạo(2). Mường do Tạo Ló Ỳ lập nên được gọi là mường Cá giá (tức Mường quạ cứu). Tại đây Ló Ỳ đã gặp ba anh em họ Sầm là Xiêu Bọ, Xiêu Ké và Xiêu Luông, cả ba anh em đều là những người khôi ngô, thông minh có sức khỏe và là trợ thủ cho Ló Ỳ cai quản bản Mường.

Thời gian trôi qua, Tạo Ló Ỳ nhớ thương bản Mường, nơi có cha mẹ già đang sinh sống nên đã trao quyền tạo mường cho người khác và trở về quê với cha mẹ. Ba anh em Xiêu Bọ, Xiêu Ké và Xiêu Luông cũng đi theo Ló Ỳ. Ra đi trong vùng rừng núi mênh mông nên lạc vào đất Phủ Quỳ.

Vùng đất Phủ Quỳ lúc bấy giờ người Thái sinh sống đã nhiều năm, nhưng chưa có Tạo, chưa thành bản, thành Mường. Cả bốn người thấy đây là vùng rất tốt, non nước hữu tình, đất đai tươi tốt nên đã cùng nhau ở lại sinh cơ lập nghiệp.

Ló Ỳ cai quản và lập nên 9 mường: Mường Tôn, mường Pắn, mường Chón, mường Puộc, mường Miểng, mường Hả Quèn, mường Quáng, mường Chừn… Ba anh em Xiêu Bọ, Xiêu Ké và Xiêu Luông lập bản Mường ở Chiêng Ngam.

Vùng đất Chiêng Ngam thời bấy giờ, bao gồm cả thung lũng Châu Tiến, Châu Bính, Châu Thắng ngày nay. Là khu rừng hoang vu rậm rạp, chưa có người khai phá. Ba anh em đã khai hoang ruộng nương và chiêu dân đến ở cùng khai phá đất đai, lập nên làng bản. Càng ngày những người không có ruộng đất ở các vùng khác, kéo về đây khai hoang, cư trú địa bàn của Mường Chiêng Ngam ngày càng rộng lớn. Ba anh em chia nhau mỗi người quản lý một vùng lập nên bản mới.

 Người anh cả là Xiêu Bọ, ở lại cai quản vùng đất nơi ba anh em đặt chân đến đầu tiên, người anh thứ hai là Xiêu Ké cai quản vùng đất phía ngoài, người em út là Xiêu Luông cai quản vùng đất trong. Các bản mới ra đời, dân bản lấy tên ba anh em đặt tên cho bản của mình là bản Bọ, bản Ké và bản Luông.

Càng ngày tuổi càng cao, sức càng yếu và anh em Xiêu Bọ, Xiêu Ké, Xiêu Luông lần lượt qua đời. Để nhớ công ơn của các ông đã khai hoang, lập bản, dân các bản đã tôn làm Thành Hoàng và lập đền thờ Thần Xiêu Bọ, thờ ở bản Bọ, thần Xiêu Ké thờ ở bản Ké, thần Xiêu Luông thờ ở bản Luông.

Năm 1924 nhân dân Mường Chiêng Ngam đã xây một ngôi đền mới, tại bản Bọ và rước thần Xiêu Ké và Xiêu Luông về thờ tại đây.

Chiêng Ngam là vùng đất nhiều núi non và khe suối, nên dân Mường còn thờ cả Sơn thần và Thủy thần để cầu sự bảo hộ, độ trì của các vị thần đối với dân bản. Đền Chiêng Ngam khi bắt đầu dựng gồm một tòa ba gian bằng gỗ, xung quanh thưng phên nứa, mái lợp tranh. Hiện nay đền Chiêng Ngam có khuôn viên mới diện tích 24.700m2 gồm đền, sân vườn và đường lên đền.

Đền có diện tích 98,3m2 gồm một tòa 3 gian, 2 hồi, 3 phía được xây bằng tường gạch, hai đầu hồi xây bít đốc, trong đền được bài trí 3 gian thờ ngang nhau. Gian chính giữa thờ ba vị thần là anh em Xiêu Bọ, Xiêu Ké và Xiêu Luông, gian bên trái thờ Thủy thần, gian bên phải thờ Sơn thần.

Đền Chiêng Ngam là công trình kiến trúc tín ngưỡng, có sự giao thoa văn hóa giữa người Thái và người Kinh, là nơi hoạt động văn hóa tâm linh của đồng bào Thái phủ Quỳ Châu từ ngày xưa đến nay.

Trước đây lễ hội được tổ chức từ ngày 19 đến 20 tháng 8 (âm lịch) gồm phần lễ và phần hội. Đến năm 1996, sau khi lễ hội Hang Bua được khôi phục thì lễ hội đền Chiêng Ngam chuyển sang ngày 19 đến ngày 22 tháng giêng hàng năm cùng với lễ hội Hang Bua. Phần lễ tự khai quang, yết cáo, đại tế, lễ tạ đều tổ chức tại đền Chiêng Ngam.

Về phần hội diễn ra nhiều tiết mục văn nghệ dân gian cổ truyền, của đồng bào dân tộc Thái như: khắc luống, uống rượu cần và hội cồng chiêng. Sau khi dùng xong cỗ, dân trong vùng và du khách cùng chung vui với chum rượu cần và cùng nhau hát nhuôn, nhảy sạp với những động tác lướt nhẹ nhàng, uyển chuyển, lúc thì dồn dập quay, nhảy trên sạp, lúc thì uốn lượn, quấn quýt, biến đổi dọc ngang cùng với tiếng cồng, tiếng trống nhịp nhàng, sôi động cuốn hút mọi người.

Đến với lễ  hội, ngoài các trò chơi dân gian, du khách còn được tham gia các hoạt động thể thao như bóng chuyền, bóng bàn, kéo co, giao lưu biểu diễn nghệ thuật, thi nét đẹp trang phục, thi người đẹp và giao lưu tìm hiểu bản sắc văn hóa, tri thức bản địa của các huyện Quỳ Châu, Quế Phong, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp…

 Đặc biệt, về với đền Chiêng Ngam, với lễ hội Hang Bua, du khách được hưởng thụ và khám phá văn hóa hang động với một Hang Bua được hình thành từ thuở hồng hoang lịch sử. Hang Bua nằm trong dãy núi đá vôi Phá Èn thuộc hệ thống dãy núi Trường Sơn Bắc, được kiến tạo hang sâu có vòm cao, rộng, quanh co, có nhiều tầng với vẻ đẹp đa dạng, phong phú và được nâng lên thành huyền thoại hấp dẫn du khách.

 Với lộ trình một điểm đến nhiều di sản, du khách sẽ được tham quan, khám phá các hang động như hang Thẩm Ồm, hang Tôn phạt, huyện Quỳ Châu. Tham quan thắng cảnh thác Xao Va, thác 7 tầng, hồ thủy điện Hủa Na, cây di sản Sama. Bản Hoa Tiến, với làng nghề thêu dệt nổi tiếng huyện Quỳ Châu. Bãi tập, đền Chọong Quỳ Hợp, đền Chín Gian, bản cổ người Thái, Hủa Mương - Na Sai ở Quế Phong.

Tham quan trải nghiệm các di sản văn hóa vật thể và danh thắng qua một chuyến du lịch về với miền Tây Nghệ An về với đền Chiêng Ngam du khách sẽ được hưởng thụ văn hóa hang động, văn hóa các dân tộc trên vùng đất này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đảng ủy - HĐND - UBND huyện Quỳ Châu (2011), Địa chí huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

2. Ban Quản lý Di tích Nghệ An (1997) - Lý lịch di tích Hang Bua, xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu.

3. Ban Quản lý di tích Nghệ An (2015, Lý lịch đền Chọong, xã Châu Lý, huyện Quỳ Hợp.

4. Ban Quản lý di tích Nghệ An (2019) - Lý lịch di tích đền Chiêng Ngam.

5. Ninh Viết Giao (2000) - Tục thờ thần và thần tích Nghệ An - NXB Nghệ An.

6. Ninh Viết Giao (2012), Nghệ An toàn chí, tập 4. Làng xã Nghệ An.

7. Bài cúng đền thờ Mường Chiêng Ngam (Tiếng Thái), người soạn Mỏ Lo Kawm Diệp, bản Hoa Tiến 1, huyện Quỳ Châu, người dịch: Vi Văn Dũng - Trung tâm VH TT huyện Quỳ Châu.

 

Tạ Quang Tâm

Nguyễn Trung Phong  sinh năm 1929 ở làng Văn Tập, xã Diễn Bình, lớn lên ở làng Trung Phường, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ngày đó, nơi đây thuộc vùng chiêm trũng nhưng lại có bề dày truyền thống văn hóa, văn nghệ; làng nào cũng có người sáng tác văn chương, có đội tuồng hay đội chèo thường xuyên luyện tập biểu diễn phục vụ những ngày lễ, tết, hội làng. Nguyễn Trung Phong, hình thành nhân cách, tài năng và tính cách Nghệ từ đó.

Tuổi nhỏ nhưng ông lại thích đọc sách dành cho người lớn như tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, thơ tình. Mỗi lần ngồi lên lưng trâu là mỗi lần thu nhận được một kiến thức quý báu của tuổi học trò. Đêm đến trong những ngày hội làng, ông thường theo cha đi nghe hát chèo, hát tuồng. Tiếng trống tuồng, trống chèo làm náo nức tâm hồn ông, đặc biệt là những vai diễn hóm hỉnh, tài hoa trong những vở tuồng "Trưng Trắc Trưng Nhị", "Phạm Công Cúc Hoa" và "Trương Viên". Ông cũng là người thích sưu tầm, ghi chép những mẩu chuyện thần thoại, cổ tích, hò vè, đồng dao, ca dao, tục ngữ. Đặc biệt là dân ca Hò, Ví, Giặm. Ông đi nhiều, chơi nhiều và biết nhiều nghệ nhân dân gian là vậy. Mỗi lần nghe mẹ ông hát "phụ tử tình thâm" là ông khóc, ông rất nhạy cảm khi tiếp thu âm hưởng dân ca Nghệ Tĩnh. Nghe mộc mạc dễ thương như cuộc đời và tính cách của ông. Có những tiếng ru con và tiếng võng đu đưa ở cạnh láng giềng làm rung động trái tim ông. Rồi nghe tiếng hát vè, tiếng Giặm kể của những nghệ nhân trong làng đã thôi thúc ông khát vọng  sáng tạo thành nghề. Ông được tiếp thu những âm hưởng ngọt ngào trong diễn xướng dân ca Nghệ Tĩnh, rồi ông bắt đầu tỏa sáng bằng bút pháp, viết những bài giặm vè ngắn đầu tay. Ông viết đến đâu ông lại hát cho cha nghe, cho các nghệ nhân trong làng nghe để góp ý sửa chữa. Rồi ông mạnh dạn viết thành hoạt ca chèo, hoạt ca dân ca bằng cách chắp nối các làn điệu với nhau thành bài hát, không có cốt chuyện. Đội văn nghệ trong làng Trung Phường đã bắt đầu tập và biểu diễn tiết mục của ông.

Thấy ông có năng khiếu văn chương, nghệ thuật, đầu năm 1950, huyện ủy Diễn Châu điều động ông lên làm cán bộ tuyên huấn chỉ đạo phong trào. Đây là chặng đường tiếp nối mà ông có thời cơ thuận lợi hơn trên một địa bàn rộng được đi nhiều, học nhiều để có kiến thức hơn và trở thành cây viết kịch bản sân khấu.

Cũng nhờ làm tuyên huấn nên ý thức tư tưởng của Đảng thấm vào từng tác phẩm. Năm 1952, lúc đó ông mới 23 tuổi, lần đầu tiên ông viết thành công vở hoạt ca "Nhắc lại" và đạt giải nhất hội diễn huyện Diễn Châu và sau đó được phổ biến đi các xã. Ông viết nhiều bài Giặm kể, Giặm vè về đề tài chiến tranh và xây dựng HTX nông nghiệp "Vững tay cày, chắc tay súng". Có được vốn kinh nghiệm, được mọi người tin yêu mến phục; cũng vào cuối năm đó, ông được Ty tuyên truyền văn nghệ, do ông Nguyễn Đức Phiên, Trưởng Ty ký quyết định điều động ông về làm việc ở phòng văn nghệ. Đây là môi trường thuận lợi phù hợp với năng khiếu của người cầm bút để phát triển. Ông được gần gũi với các nghệ sĩ là nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, họa sĩ, sân khấu, nhà nghiên cứu văn hóa có tài để được tiếp lửa lên trên con đường sáng tạo nghệ thuật. Năm 1956, sau cải cách ruộng đất, ông viết vở hoạt ca dân ca "Tấc đất tấc vàng". Năm 1957, ông chỉnh lý cải biên vở chèo "Trương Viên". Cũng chính trong năm này ông viết vở dân ca chèo "Lòng mẹ". Năm 1958, ông viết vở hoạt ca dân ca "Vẹn cả đôi đường". Đặc biệt năm 1959 ông viết vở kịch "Lúa cộng sản" đề cập đến vai trò của Đảng trong đấu tranh cách mạng dân chủ. Thấy đề tài quan trọng, Trưởng ty Trần Nguyên Trinh đã tổ chức đọc kịch bản, mời Ban thường vụ Tỉnh ủy về duyệt. Ông Võ Thúc Đồng, Bí thư Tỉnh ủy và ông Chu Mạnh, Chủ tịch UBHC tỉnh chủ trì đọc duyệt và góp ý. Mọi ý kiến đều khen kịch bản hay, có tính thời sự, hợp với nội dung tuyên truyền và chỉ sửa một vài chỗ. Sau cuộc họp, Bí thư Tỉnh ủy  hỏi tác giả Nguyễn Trung Phong: "trong kịch bản có đưa được dân ca Nghệ Tĩnh vào không?". Từ đó manh nha dư luận đưa dân ca lên sân khấu được bàn tán xôn xao. Người thì bảo không thể được. Người thì nói chỉ lồng ghép được với dân ca chèo và có người nói phải nên có thời gian nghiên cứu thể nghiệm.

Sau đó mấy tháng, Nguyễn Trung Phong bắt tay vào viết kịch về đề tài Xô viết Nghệ Tĩnh. Ông trăn trở làm đề cương, xây dựng cốt truyện, nghiên cứu bối cảnh lịch sử, chọn không gian diễn xướng, nhân vật và sự kiện. Ông vừa viết ở cơ quan vừa đạp xe về quê nhà yên tĩnh để viết. Trong quá trình viết, ông dự kiến một loạt tên của vở kịch để chọn như: Cô gái sông Lam, Ngày ấy bên dòng sông Lam, Người mẹ sông Lam, Cô gái sông Lam. Có một lần, ông cẩn thận đi sang nhà Trần Hữu Thung cạnh làng nghe nói công tác ở Hà Nội mới về để tranh thủ ý kiến. Nhà thơ Trần Hữu Thung nói: Rất mừng là lãnh đạo tỉnh quan tâm đến văn hóa, văn nghệ và đặt hàng viết. Ông mi nên lấy tên vở kịch "Cô gái sông Lam là hay". Còn cái tên "Ngày ấy bên sông Lam", mình đã có ý định viết kịch phim rồi. Nguyễn Trung Phong phấn khởi, tự tin đặt tên ngay cho vở kịch là "Cô gái sông Lam" để xoay quanh nhân vật nữ chiến sĩ cộng sản thời ấy. Nhưng trong vốn liếng kinh nghiệm viết kịch, xung đột nhiều, chỉ có các làn điệu chèo chứ không đưa được dân ca găm vào kịch. Ông vẫn băn khoăn khi nghe Bí thư Tỉnh ủy đặt vấn đề về dân ca. Rồi cũng rất may, trong quá trình viết, ông tìm ra một lớp kịch Hà và Nghệ gặp nhau trên dòng sông Lam và đối đáp với nhau bằng ví đò đưa. Nhân vật Nghệ hát: "Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục, thì biết sống cuộc đời răng là nhục là vinh. Thuyền em lên thác xuống ghềnh. Nước non là nghĩa là tình ai ơi". Rồi nhân vật Hà đối lại: "Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây/ Sông Lam hết nước thì đó với đây mới hết tình". Vở kịch chèo chỉ đưa được hai câu dân ca Nghệ Tĩnh vào mà thấy hợp lý, có duyên. Ông vững tin trong lòng. Vào năm 1960, vở chèo "Cô gái sông Lam" cơ bản hoàn thành và đưa vào duyệt, chỉnh lý, bổ sung để dàn dựng. Lại một cuộc tổng duyệt lớn toàn là lãnh đạo Tỉnh ủy, UBHC tỉnh, Ban Tuyên huấn tỉnh và Ty Văn hóa Nghệ An.  Trường Ty Trần Nguyên Trinh giao cho tác giả tiếp thu ý kiến sửa chữa, hoàn chỉnh và cũng giao cho Thái Quang Ngoãn đạo diễn và nhạc sĩ Mai Hồng chịu trách nhiệm phần âm nhạc. Vở chèo "Cô gái Sông Lam" đã kịp thời biểu diễn phục vụ thành công kỷ niệm 30 năm Xô viết Nghệ Tĩnh (12/9/1930-12/9/1960). Năm 1962, Đoàn được cử đi tập huấn nâng cao và tham gia Hội diễn sân khấu toàn quốc đạt 4 huy chương Vàng, 4 huy chương Bạc cho kịch bản, đạo diễn, âm nhạc, diễn viên. Nguyễn Trung Phong là một tác giả trong đó đạt huy chương Vàng. Sau thắng lợi lừng vang của Đoàn văn công nhân dân Nghệ An, tối ngày 27/5/1962 Đoàn được Bác Hồ mời vào biểu diễn ở Phủ Chủ tịch. Cùng với quan khách xem một cách chăm chú vở chèo "Cô gái sông Lam", Bác Hồ ngậm ngùi xúc động, đến đoạn cô Nghệ (Minh Ngọc) hát ví: "Ai biết nước sông Lam…" thì Bác rưng rưng nước mắt. Cuối buổi biểu diễn, Bác Hồ gặp đoàn khen ngợi, phát kẹo và tặng huy hiệu Bác Hồ cho tác giả Nguyễn Trung Phong. Từ đó, ông cảm thấy vinh dự, tự tin hơn và nhận ra rằng đưa được dân ca lên sân khấu không những Bác Hồ mà khán giả ai cũng thích, cũng xúc động. Ông trăn trở mãi, suốt năm này đến năm khác, để cố gắng viết cho được kịch hát dân ca. Năm 1967 ông viết một lúc hai vở dân ca cho đội văn nghệ xã Diễn Bình; Hoạt cảnh "Chị thư ký đội sản xuất" và vở kịch dân ca "Khi ban đội đi vắng". Đây là sự bứt phá suốt 5 năm trời, ông nghiên cứu chèo rồi vận dụng vào dân ca. Thế là ông viết từ đối ca, đến hoạt ca, rồi sang hoạt cảnh và chốt lại kịch dân ca. "Khi ban đội đi vắng" là câu chuyện trong một gia đình làm ăn ở hợp tác xã mà mâu thuẫn nội tại là vợ chồng không đồng nhất quan điểm "chân ngoài, chân trong" khi Ban đội đang quản lý chặt chẽ xã viên. Thời đó buôn bán ít vốn và nhanh lời nhất chỉ có chè xanh Gay mua ở chợ Lường (Đô Lương) về bán ở chợ quê để lấy tiền đong gạo chứ có phải làm giàu chi đâu. Thế mà ai có hiện tượng đi buôn kiếm lời là khép vào tội theo bọn tư sản, vi phạm pháp luật. Người vợ thì kéo níu anh ở lại đi cày. Còn người chồng thì nằng nặc ra đi khi biết Ban cán sự đội sản xuất đi vắng. Cả hai người giằng co mãi lên cao trào của tính kịch mà dân ca Ví, Giặm không có làn điệu nào tải nổi. Nguyễn Trung Phong thinh lặng ra về và nhiều đêm  không ngủ, ông trăn trở rồi tìm ra được một làn điệu mới là Ví nối với Giặm một cách có duyên. Ông đặt tên là điệu "trăn trở". Đó là: "Anh ơi, khoan vội bực mình. Em xin kể lại phân minh tỏ tường. Anh cứ nhủ là em không thương. Em đo lường thì rất cặn kẹ. Chính thương anh em mới bàn với mẹ. Phải ngăn anh không đi chuyến ngược lường. Giận thì giận mà thương thì thương. Giận thì giận mà thương thì thương. Anh đi sai đường em không chịu nổi. Anh yêu ơi xin đừng có giận vội. Mà trước tiên anh phải tự trách mình". Đây là lời cải biên dân ca Nghệ Tĩnh thành công nhất của ông, trong đó có nhạc sĩ Thanh Tùng làm kí âm giúp cho dàn nhạc đệm.  Ông tự nhận thấy trách nhiệm của người cầm bút lúc này là phải tiếp tục viết cung cấp tiết mục cho các đoàn văn công chuyên nghiệp. Thế là ông viết các vở cho Đoàn chèo như "Chị Thảo" năm1968, "Hạt lúa quê ta" năm 1970, "Vẫn còn ra trận" và "Một cuộc đời" năm 1976. Đến năm 1980, ông viết vở kịch dân ca "Bà mẹ Trung". Năm 1081, ông viết vở cho Đoàn cải lương "Ngọn lửa không bao giờ tắt". Rồi như cái điềm báo cuối năm đó, ông bị lâm bệnh hiểm nghèo và xin tỉnh "cáo từ quan" về quê điều trị. Cũng do cái nghiệp nối cuộc đời và ngọn lửa đam mê với dân ca Nghệ Tĩnh, năm 1983, ông vừa chữa bệnh vừa viết vở dân ca "Giữa vụ cày" và đạt huy chương vàng. Năm 1986, ông viết vở kịch dân ca cuối cùng "Nhóm sản xuất đồng chí Liêm" cho Nhà văn hóa Trung tâm tỉnh. Một con người 60 năm tuổi đời, gần 40 năm cầm bút, ông đã viết trên 20 vở kịch hát và hàng chục vở hoạt ca, hoạt cảnh khác, trong đó chủ yếu là dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, được đánh giá cao về chất lượng nghệ thuật. Khi trở thành nhà viết kịch nổi tiếng, Nguyễn Trung Phong lấy làm xúc động tự hào, như ngọn lửa cuốn hút vào ma trận sáng tạo của người nghệ sĩ. Một con người giàu nghị lực, tâm huyết, đa tình, đa tài, đứng ở lĩnh vực nào cũng làm con người nổi trội. Cuộc đời ông không được học hành một lớp nào về văn chương, sân khấu, âm nhạc, nhưng ông như "con tằm cứ cần mẫn ăn dâu rồi nhả tơ vàng óng". Ông chỉ học ngoài đời và học trong sách vở là chính. Ông học những nghệ nhân tuồng, chèo, dân ca, những nhà viết kịch như Nguyễn Đình Thi, Đào Hồng Cẩm, Tào Mạt, Hà Văn Cầu… Càng học, ông lại càng viết và viết một cách say sưa.

Năm 1976 sát nhập hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, Nguyễn Trung Phong vẫn tiếp tục làm Phó trưởng Ty Văn hóa thông tin Nghệ Tĩnh. Lúc này công việc lãnh đạo, quản lý càng đặt lên vai nặng nề hơn. Ông tập trung đầu tư công sức cùng với tập thể lãnh đạo Ty chỉ đạo xây dựng các đoàn văn công chuyên nghiệp như cải lương, chèo, kịch nói, ca múa nhạc, và đặc biệt Đoàn thể nghiệm kịch hát dân ca đến năm 1973 mới bắt đầu ra đời. Tuy ra đời muộn nhưng kịch hát dân ca được lãnh đạo tỉnh quan tâm hơn, và được quần chúng nhân dân yêu thích mến mộ hơn. Nhiều vở kịch hát ở sân khấu trước đây của Nguyễn Trung Phong được đưa vào đoàn Dân ca chuyên nghiệp để chuyển thể, nâng cao, trong đó được chú ý nhất vở "Cô gái Sông Lam" và "Khi ban đội đi vắng". Đúng là cuộc đời của ông gắn liền với sân khấu. Các tác phẩm sân khấu cứ liên tiếp ra đời trong quá trình làm việc ở xã, ở huyện và ở tỉnh; từ cán bộ đến trưởng phòng văn nghệ của ông (1959), làm Thường vụ và phó Chủ tịch Hội văn nghệ Nghệ An (1967-1981) rồi làm phó Ty Văn hóa Nghệ An và Ty Thông tin Nghệ Tĩnh giai đoạn (1974-1981). Sức lao động sáng tạo nghệ thuật của ông dẻo dai, kiên trì, bền bỉ. Cứ mỗi tác phẩm viết ra, gặp ai ông cũng đọc, cũng hát cho nghe để tiếp thu lời góp ý. Ông làm lãnh đạo ngành rất khiêm tốn, vô tư, thẳng thắn, đấu tranh vì lẽ phải, vì cái đẹp, cái cao quý của nghệ thuật. Ông sống giản dị, chất phác, hiền lành như người nông dân, kể cả nói năng, tiếp xúc, chuyện trò bằng giọng tiếng Trung Phường mô - tê - răng - rứa, tau - mi - ông mi - nha mình. Việc ăn mặc, áo quần của ông thường màu tối nâu, xanh, xộc xệch, khi nào cũng tay xăn, quần xắn, tóc cắt cao cạo trắng, với đôi dép nhựa và chiếc xe đạp cà tàng, rồi lên đời bằng chiếc xe movilet cũ để đi về trên 50 km như con thoi. Nghe ở đâu có hát tuồng, hát chèo, hát cải lương là ông đến, nhất là hát dân ca. Ông vừa ghi chép tư liệu, vừa hướng dẫn cách viết kịch bản và đạo diễn sân khấu quần chúng cho các nghệ nhân và những người yêu thích nghệ thuật sân khấu trong tỉnh. Khi nói đến Nguyễn Trung Phong, họ đều kính nể, nhất là đội văn nghệ Diễn Bình, Diễn Minh quê nhà xem ông như người anh cả về chuyên môn. Ông sống bằng tình cảm vị tha, khoan dung, độ lượng; trọng dụng người tài, thương người nghèo khó, thường xuyên chia sẻ nỗi niềm với đồng nghiệp. Trong làm việc, ông nghiêm túc, thẳng thắn, thường xuyên bày vẽ, giúp đỡ cán bộ trẻ mau chóng trưởng thành. Ông cũng là người thường nghe ngóng chọn lọc, tham mưu với lãnh đạo Ty về thu hút nhân tài. Phòng văn nghệ và các Đoàn văn công thời ông phụ trách toàn là người nổi tiếng, tài năng như Nguyễn Thanh Khầm, Trần Thanh Tâm, Hoàng Thọ, Thái Quang Ngoãn, Cao Danh Giá, Mai Hồng, Thế Bính, An Thuyên, Đặng Thanh Lưu, Lê Thái Sơn… Họ  là đạo diễn, nhạc sĩ, nhà thơ, nhà viết kịch và là nhà quản lý nghệ thuật.

Nguyễn Trung Phong, đúng là một nhân cách văn hóa, tài năng, đậm tính cách Nghệ và là người khơi dòng sữa ngọt dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh mà ít ai có được. Ông xứng đáng là nhà viết kịch được nhận giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

 

 

Huy Khánh

Xứ Nghệ từ lâu không chỉ nổi tiếng về truyền thống hiếu học, khoa bảng mà còn được biết đến là một vùng đất có nét văn hóa riêng, sâu lắng, đắm say lòng người.

 Dân ca Nghệ Tĩnh được mệnh danh là đặc sản văn hóa xứ Nghệ, bởi âm sắc, giai điệu, ca từ đặc trưng của nó; đấy là sự thăng hoa của tâm hồn trí tuệ, tài năng người xứ Nghệ.

Hàng chục năm qua các thế hệ văn nghệ sĩ hoạt động trên lĩnh vực văn hóa đã cất công điền dã khắp các làng quê xứ Nghệ để sưu tầm, khảo cứu vốn văn hóa dân gian cổ truyền đó. Phần lớn các tư liệu điền dã được văn bản hóa bằng các ấn phẩm văn học và âm nhạc dân gian. Trong quá trình lưu giữ, trao truyền, ngoài duy trì, phát triển đội ngũ nghệ nhân hùng hậu, Nghệ An có hàng chục câu lạc bộ hát dân ca Ví, Giặm ra đời, duy trì và hoạt động có hiệu quả. Trong đó phải kể đến câu lạc bộ hát dân ca Ví, Giặm xã Hưng Tân huyện Hưng Nguyên.

Hưng Tân là một xã thuần nông, cách thành phố Vinh khoảng 7km; là một trong những cái nôi của phong trào hát phường vải của huyện Hưng Nguyên, với nhiều nghệ nhân nổi tiếng một thời như cố Nhân, cố Thúy, cố Phúc… Có lẽ tình yêu văn nghệ ấy được trao truyền và tiếp nối cho đến ngày nay, câu lạc bộ dân ca Ví, Giặm Hưng Tân được thành lập cuối năm 2012, với 25 thành viên, sau gần 8 năm hoạt động đến nay câu lạc bộ có tới 40 thành viên trong đó 2/3 thành viên trong câu lạc bộ là những người trẻ, đam mê dân ca "lỡ bén duyên" với câu hò, điệu ví. Chủ nhiệm câu lạc bộ là Anh Phan Đăng Minh, cán bộ văn hoá xã.

Câu lạc bộ thành lập và sinh hoạt định kỳ mỗi tháng 1 lần, (ngoại trừ những lúc tập duyệt ngày đêm để tham dự các cuộc thi, liên hoan), trên tinh thần tự nguyện: "lúc nào nghe loa tập trung sinh hoạt là các thành viên đều có mặt đông đủ. Có những cụ ông, cụ bà dù sức yếu không còn tham gia biểu diễn được nhưng yêu ca hát cũng đến tham gia. Đặc biệt là vào dịp chuẩn bị liên hoan, thanh niên, học sinh đều dành thời gian về sinh hoạt câu lạc bộ"(1).

Ở câu lạc bộ dân ca Ví, Giặm Hưng Tây, chị Nguyễn Thị Hương được xem là nhân vật kỳ cựu của câu lạc bộ. Yêu thích ca hát từ ngày bé, chị tự mày mò học hát qua các chương trình dạy dân ca Ví, Giặm trên Đài phát thanh Nghệ An. Bởi thế với chị sinh hoạt văn nghệ trong câu lạc bộ chính là sân chơi giúp bà con thoải mái sau những giờ làm việc vất vả trên ruộng đồng; làng xóm cũng đoàn kết gắn bó với nhau hơn. Điều ý nghĩa nhất là chúng tôi đã truyền được tình yêu dân ca cho lớp trẻ, để vốn văn hoá tinh thần quý báu của dân tộc ngày được gìn giữ, phát triển. Trong những buổi sinh hoạt của câu lạc bộ, chị thường là một trong những người hát mẫu, tập những làn điệu mới cho mọi người trong đoàn. Anh Nguyễn Trọng Tâm - Bí thư Đoàn xã đảm nhận vai trò sưu tầm làn điệu cổ và đặt lời mới cho các làn điệu trong các cuộc thi tuyên truyền ca ngợi cảnh sắc quê hương đổi mới, về các phong trào xây dựng nông thôn mới, phòng chống tệ nạn xã hội .v.v. Xuất phát từ tình yêu đối với dân ca, hơn nữa từ bé anh thường được nghe bà nội cố Nhân, một trong những nghệ nhân hát phường vải Hưng Nguyên hát. Những lời hát cổ ấy đã được chính người bố tỷ mẩn chép lại trong một cuốn sổ lưu giữ của gia đình. Bên cạnh đó, bản thân anh sưu tầm thêm các làn điệu cổ từ những người già trong làng "Trong quá trình sưu tầm, tìm hiểu, dân ca đã "ngấm dần" vào tâm hồn tôi từ lúc nào. Bởi thế, mỗi khi xã có sự kiện, chủ đề cần tuyên truyền tôi thường đặt lời mới cho các làn điệu dựa trên các niêm, luật của các làn điệu gốc"(2). Hoạt động của câu lạc bộ làm lan toả tình yêu dân ca ở vùng quê này. Bởi thế ở Hưng Tân có những gia đình, nhiều thế hệ thành viên trong một gia đình gồm ông nội, mẹ và con cùng nhau tham gia. Mỗi tháng 1 lần câu lạc bộ dân ca Hưng Tân còn tiến hành truyền dạy dân ca cho thế hệ trẻ, các cháu thiếu niên nhi đồng. Chính vì thế câu lạc bộ dân ca Hưng Tân là một trong những câu lạc bộ được UBND tỉnh, Sở Văn hóa và Thể thao, Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản dân ca xứ Nghệ, đánh giá cao trong công tác bảo tồn, phát huy và trao truyền vai trò dân ca xứ Nghệ.

Không chỉ tạo nên phong trào văn nghệ phát triển mạnh mẽ trong địa phương, câu lạc bộ Dân ca Hưng Tân còn là điểm sáng trong các phong trào văn hoá, văn nghệ của huyện Hưng Nguyên. Sức trẻ của câu lạc bộ dân ca Ví, Giặm Hưng Tân thực sự được phát huy hiệu quả qua những kỳ liên hoan dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ được tổ chức thường niên. Để có được những tiết mục tham dự các liên hoan dân ca Ví, Giặm với những thành viên câu lạc bộ là cả một sự kỳ công. Mỗi thành viên được phân công đảm nhận các công việc rõ ràng để phát huy lợi thế vốn có. Từ biên đạo, dụng cụ, đến viết lời mới cho các chủ đề tuyên truyền đều do các thành viên trong đoàn đảm nhận. Anh Phan Đăng Minh - chủ nhiệm câu lạc bộ chia sẻ: Thành viên câu lạc bộ dân ca chúng tôi đa năng, không chỉ hát hay, diễn giỏi mà còn tự mình làm các đạo cụ, phục trang để biểu diễn. Anh, chị em tự tận dụng những dụng cụ sẵn có trong gia đình hoặc tự bỏ kinh phí để hoá trang cho từng vai diễn của mình. Như trong các cuộc thi, liên hoan dân ca Ví, Giặm các đạo cụ như: cày, cuốc, dao, búa… anh em chúng tôi tự chế hết. Thế mới thấy hết tinh thần hăng say với phong trào và tình yêu tha thiết với dân ca. Nhờ vậy câu lạc bộ dân ca Ví, Giặm Hưng Tân từ khi thành lập đến nay đã có 4 lần tham gia Liên hoan dân ca Ví, Giặm cấp tỉnh và liên tỉnh, trong đó có 01 giải Nhất toàn đoàn Liên hoan dân ca Ví, Giặm cấp tỉnh (năm 2014); Năm 2016, câu lạc bộ dân ca Ví, Giặm Hưng Tân đặt 02 giải Nhì toàn đoàn cấp tỉnh và liên tỉnh. Phần giải tiết mục có 11 giải A, 8 giải B và 5 giải C. Đặc biệt trong 2 năm liên tiếp 2013-2014, câu lạc bộ dân ca Ví, Giặm Hưng Tân đều giành giải cao tại các kỳ liên hoan dân ca Ví, Giặm. Giải A tiết mục "Phường cấy" và giải B của tiết mục "Lời giã từ" (năm 2013). Đặc biệt, trong Liên hoan dân ca Ví, Giặm cụm tháng 8 năm 2014, câu lạc bộ đã đạt 2 giải A cho tiết mục diễn xướng "Lửa Xô viết" và "Thuyền và biển", một giải B cho tiết mục "Tình người lính biển". Ngoài ra, câu lạc bộ dân ca xã Hưng Tân vinh dự được Liên minh Hợp tác xã tỉnh Nghệ An, đặt hàng diễn tại cuộc thi Tìm hiểu mô hình Hợp tác xã kiểu mới vùng Bắc Trung bộ được tổ chức tại thành phố Huế năm 2016, đã vinh dự đặt giải Ba toàn đoàn và giải nhất toàn đoàn, năm 2018, tổ chức tại thành phố Vinh, Nghệ An… Để đặt được những thành quả đó ngoài niềm đam mê, sự nỗ lực của các thành viên trong câu lạc bộ, còn có sự động viên giúp đỡ về tinh thần cũng như vật chất của chính quyền địa phương, các ban, ngành, tổ chức liên quan.

Về Hưng Tân nghe hát dân ca, để thêm yêu, trân quý những người nông dân lao động cần cù một nắng hai sương. Với họ hát dân ca không chỉ để giải trí, kết bạn, giao duyên mà hát dân ca còn để giáo dục đạo đức, nhân cách, phẩm giá của con người; là món ăn tinh thần, góp phần gìn giữ và phát huy nét đẹp văn hoá tinh thần vô giá dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ.

 

Chú thích

1. Anh Phan Đăng Minh, cán bộ văn hoá xã, chủ nhiệm câu lạc bộ chia sẻ.

2. Theo lời anh Nguyễn Trọng Tâm - Bí thư Đoàn xã Hưng Tân.

 

* Đoàn công tác Cục Sở hữu trí tuệ làm việc với Sở KH&CN Nghệ An

Chiều ngày 15/9, Đoàn Cục sở hữu trí tuệ do ông Đinh Hữu Phí - Cục trưởng, cùng đại diện một số phòng và trung tâm trực thuộc Cục đã có buổi làm việc với Sở KH&CN Nghệ An nhằm triển khai, tư vấn về xây dựng thương hiệu sản phẩm Nghệ An. Làm việc với đoàn có Ông Trần Quốc Thành - Giám đốc Sở cùng các đồng chí trong ban giám đốc, trưởng các phòng, đơn vị thuộc Sở.

Tính đến tháng 7/2019, Nghệ An có 1.037 đối tượng được bảo hộ, trong  đó có 955 nhãn hiệu, 59 kiểu dáng, 11 giải pháp hữu ích và 12 sáng chế. Ngoài ra, hiện đang còn hơn 20 nhãn hiệu đang xây dựng.     

Tuy nhiên số đối tượng được bảo hộ đó vẫn còn ít so với khoảng 12.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Hơn 90% DN chưa đăng ký nhãn hiệu, trong số các nhãn hiệu đã đăng ký bảo hộ gắn với sản phẩm chưa nhiều, chỉ chiếm 66%. Đối với các tài sản đã được bảo hộ, các DN chưa chủ động quảng bá, xúc tiến thương mại khai thác giá trị của nó để nâng cao sức cạnh tranh.

Trao đổi tại buổi làm việc đồng chí Cục trưởng đánh giá cao những cố gắng và triển khai thực hiện về hoạt động SHTT trên địa bàn tỉnh. Trong thời gian tới Cục sẽ phối hợp với tỉnh để tập huấn, hướng dẫn bồi dưỡng các nội dung liên quan đến SHTT. Đồng thời cũng giải đáp để giải quyết cho xây dựng chỉ dẫn gừng Kỳ Sơn, nhãn hiệu tương Nam Đàn, mở rộng chỉ dẫn địa lý cam Vinh và gợi ý trong xây dựng nhãn hiệu cho sản phẩm làm từ sen, dược liệu…

Nhân dịp này, Cục trưởng Cục SHTT trao Nhãn hiệu tập thể bưởi Hồng Quang Tiến Thái Hòa Nghệ An cho Nghệ An (Quyết định số 76492/QĐ-SHTT ngày 09/09/2019 của Cục Sở hữu trí tuệ về việc cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu

Thảo Chi

* 86 thí sinh tham dự Cuộc thi "Sáng tạo Robot tỉnh Nghệ An lần thứ nhất năm 2019"        

Trong 2 ngày (từ ngày 24 - 25/8), tại TP. Vinh, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Nghệ An tổ chức Cuộc thi "Sáng tạo Robot tỉnh Nghệ An lần thứ nhất năm 2019". Tham dự có các đồng chí đại diện Tỉnh đoàn, các sở, ban, ngành cấp tỉnh và 86 thí sinh tham gia cuộc thi cùng các bậc phụ huynh.

Với mục đích tạo sân chơi trí tuệ lành mạnh, bổ ích, hấp dẫn dành cho các học sinh có niềm đam mê với kỹ thuật, công nghệ, Cuộc thi "Sáng tạo Robot tỉnh Nghệ An lần thứ nhất năm 2019" đã thu hút 86 thí sinh đến từ các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng. Các thí sinh được chia thành 37 đội thi tham gia các phần thi: Lego (5 đội); Gara cấp 1 (10 đội) và Gara cấp 2 (22 đội).

Kết quả cuộc thi, Ban tổ chức đã trao 1 giải Nhất, 2 giải Nhì, 3 giải Ba cho mỗi phần thi; ở phần thi Gara cấp 1 và Gara cấp 2 có thêm 4 giải Khuyến khích. Giải Đặc biệt được Ban Tổ chức trao cho Đội THCS - 08 (gồm các thí sinh: Nguyễn Đức Tâm, Bùi Tuấn Dũng, Phạm Phương Nam) đến từ Trường THPT Yên Thành 3, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

Gia Hưng

* Nghiệm thu cơ sở Đề tài "Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể để phát triển kinh tế - xã hội ở miền Tây Nghệ An"              

Chiều ngày 11/9/2019, tại Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An tổ chức Hội đồng nghiệm thu cơ sở Đề tài "Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể để phát triển kinh tế - xã hội ở miền Tây Nghệ An". Đề tài do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An chủ trì, ông Nguyễn Quốc Hồng - Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Nghệ An chủ nhiệm.

Sau 18 tháng triển khai, đề tài đã thực hiện các nội dung: Hệ thống cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể; tiến hành điều tra điền dã 108/217 xã và thu thập thông tin để đánh giá thực trạng, phân loại di sản văn hóa vật thể trên địa bàn miền Tây; Tổ chức 2 cuộc hội thảo và đi nghiên cứu trao đổi kinh nghiệm quản lý di sản một số địa phương tỉnh bạn. Đặc biệt đề tài đã nghiên cứu cụ thể, phân loại di sản văn hóa trên địa bàn một cách cụ thể chi tiết với bộ cơ sở dữ liệu đầy đủ. Trên cơ sở đó đã đề xuất kế hoạch, giải pháp cũng như các mô hình cụ thể để phát huy các di sản văn hóa vật thể.

Thảo luận tại buổi nghiệm thu, các thành viên đồng tình cao với kết quả nghiên cứu, đồng thời tham gia góp ý, bổ sung để hoàn thiện báo cáo khoa học như rà soát, sử dụng một số thuật ngữ, tên gọi chính xác; bổ sung mục tiêu cụ thể, thực hiện mô hình kinh tế di sản, gắn với phát triển du lịch. Đề xuất kinh phí cần làm rõ, các nguồn vốn, coi trọng nguồn lực xã hội hóa; Quy định rõ nhiệm vụ các sở, ban, ngành địa phương; Về mô hình, rà soát lại để đề xuất hướng triển khai phù hợp, nên lựa chọn mỗi huyện 1 mô hình thí điểm…

Kết luận tại buổi nghiệm thu, chủ trì yêu cầu Ban chủ nhiệm Đề tài tiếp thu và chỉnh sửa báo cáo theo kết luận của Hội đồng, hoàn thiện báo cáo để tiến hành nghiệm thu cấp tỉnh theo đúng kế hoạch. Kết quả Hội đồng đánh giá nghiệm thu cơ sở đạt.

Hoàng Anh

* Nghệ An: Công bố Quyết định về việc công nhận Ban Chấp hành, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2019 - 2024

Ngày 10/9/2019, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An ký Quyết định số 3532/QĐ-UBND về việc công nhận Ban Chấp hành, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2019 - 2024.

Theo Quyết định Ban Chấp hành Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Nghệ An gồm 35 đồng chí và chức danh Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh bầu tại Đại hội đại biểu khóa VI, nhiệm kỳ 2019 - 2024. Trong đó, bà Nguyễn Thị Thu Hường, UV BTV, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy - Chủ tịch; Ông Đậu Quang Vinh, Phó Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An - Phó Chủ tịch Thường trực, Trưởng ban kiểm tra; Ông Trần Quốc Thành, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ - Phó Chủ tịch kiêm nhiệm; Ông Trần Văn Toản, Văn phòng Liên hiệp các hội KH&KT - Tổng thư ký cùng 31 Ủy viên Ban chấp hành hiện đang công tác tại các cơ quan, đơn vị, sở, ban, ngành trong tỉnh.

Ban Chấp hành Liên hiệp Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Nghệ An có trách nhiệm lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Nghệ An hoạt động theo điều lệ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam; Quy chế tổ chức và hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Nghệ An và các quy định của pháp luật.

Huy Khánh

* Lễ hội Bươn Xao, xã Tiên Kỳ, Tân Kỳ

Trong 2 ngày, 17-18/9, tại xã Tiên Kỳ, UBND huyện Tân Kỳ long trọng tổ chức lễ hội Bươn Xao năm 2019. Lễ hội Bươn Xao (tiếng Thái là Trăng ngày 20) bắt nguồn từ truyền thống lễ giỗ Mẫu, là dịp để nhân dân xã Tiên Kỳ, huyện Tân Kỳ tưởng nhớ, tri ân người đã khai sinh ra đồng bào dân tộc Thái, đây cũng là dịp tưởng nhớ công đức của vua Lê Lợi và tướng sỹ cùng các bậc tiền nhân tham gia đánh đuổi giặc Minh xâm lược, đem lại nền hòa bình, độc lập của dân tộc ta.

Tương truyền, cách đây 594 năm về trước, nơi đây được nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi làm chủ tướng chọn làm hậu phương chiến lược chuẩn bị cho các trận đánh mang tính quyết định, trước tiên là thành Trà Lân (thuộc xã Bồng Khê - Con Cuông ngày nay). Đây vừa là một thủ phủ, vừa là căn cứ quân sự trọng yếu của quân Minh. Sau chiến thắng ở thành Trà Lân, nhân dân Tiên Kỳ tổ chức lễ hội khao quân. Từ đó đến nay, đến dịp 20/8 âm lịch hàng năm, nhân dân nơi đây lại tổ chức lễ hội Bươn Xao.

Ngày nay, trên mảnh đất Tân Kỳ nhiều nơi còn lưu giữ các địa danh mà nghĩa quân Lê Lợi chiêu binh, tập mã như bãi tập mã, bãi Quyền, đền Thờ làng vạn (Thờ tướng Nguyễn Chích), đền thờ tướng Lê Mạnh và đặc biệt là dấu tích thành lũy của nghĩa quân tại núi Pù Pán, bản Kẻ Ỏn, xã Tiên Kỳ.

Lễ hội hướng tới sự gắn kết cộng đồng, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giáo dục truyền thống cho các thế hệ. Cũng trong dịp này, xã Tiên Kỳ chính thức triển khai phục dựng đền thờ nghĩa quân Lê Lợi tại xóm 2 - Kẻ Ỏn bằng nguồn vốn xã hội hóa.

M.T

* Lễ công bố nhãn hiệu tập thể "Bưởi hồng Quang Tiến"

Thực hiện dự án KH&CN cấp tỉnh "Xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể bưởi hồng Quang Tiến dùng cho sản phẩm Bưởi hồng Quang Tiến của Thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An", sáng ngày 19 tháng 9, UBND thị xã Thái Hòa tổ chức lễ công bố nhãn hiệu tập thể "Bưởi hồng Quang Tiến" và dán tem truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Hiện nay, Thái Hòa có 80 ha bưởi hồng Quang Tiến, trong đó, có trên 45 ha đã cho thu hoạch. Năng suất bình quân đạt từ 25 - 30 tấn/ha, trồng chủ yếu ở phường Quang Tiến, xã Nghĩa Tiến, xã Nghĩa Thuận. Trong đó, có 20 ha của 18 thành viên HTX nông nghiệp sạch bưởi hồng Quang Tiến. Những năm gần đây, cây bưởi này đã trở thành đặc sản của thị xã với những ưu điểm như: Vỏ bưởi mỏng; thịt quả có màu hồng tươi; tép căng mọng; ăn giòn, vị thanh, không có vị đắng sau khi ăn. Loại quả này đang được ưa chuộng trên thị trường.

Để xây dựng cơ chế quản lý chất lượng sản phẩm, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu bưởi hồng Quang Tiến, UBND thị xã Thái Hòa đã xây dựng dự án "Xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể bưởi hồng Quang Tiến". Ngày 9/9/2019, Cục Sở hữu trí tuệ đã ban hành Quyết định  số 76492/QĐ - SHTT chứng nhận đăng ký nhãn hiệu bưởi hồng Quang Tiến cho HTX nông nghiệp sạch bưởi hồng Quang Tiến.

Nguyễn Thủy

* Giới thiệu sách: "Bàn luận về Mỹ thuật; Minh họa cho tác phẩm văn học; Tranh vui" của Họa sĩ - Nhà điêu khắc Trần Minh Châu

"Bàn luận về Mỹ thuật; Minh họa cho tác phẩm văn học; Tranh vui" là một tác phẩm dày dặn cả về nội dung và số trang mà nó chuyển tải (151 trang 22 x 24cm). Cụ thể: ở phần Bàn luận, trong 37 bài viết thì có 13 bài của tác giả Trần Minh Châu viết về hiện trạng Mỹ thuật Nghệ An, những trăn trở, băn khoăn về hoạt động Mỹ thuật. 24 bài của các tác giả khác viết về Trần Minh Châu, tranh và tượng của Trần Minh Châu, tập trung nhiều hơn vào việc đánh giá, chia sẻ góc nhìn, quan niệm về Mỹ thuật và tác phẩm Mỹ thuật; Phần Minh họa cho tác phẩm văn học giúp làm sáng tỏ nội dung câu chuyện bằng hình vẽ với một độ dày đáng nể gồm 36 trang với 66 bức vẽ.

Tác phẩm dù chưa đầy đủ nhưng tác giả đã có một cái nhìn toàn diện về diện mạo Mỹ thuật Nghệ An mà ông là một thành viên trong đó. Từ những vấn đề lý luận đến công việc sáng tác tượng, tượng đài, vẽ tranh minh họa… lĩnh vực nào Trần Minh Châu cũng có những đóng góp nhất định và luôn là người đi trước. Tác phẩm này đúng là tổng hợp một đời sáng tạo, sáng tác của ông - một Họa sĩ, Nhà điêu khắc dù đã ở tuổi 88 vẫn miệt mài làm việc, gắn bó với họat động Mỹ thuật xứ Nghệ.

                              Nguyễn Dương Đức

 


 

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.