« Quay lại

Chuyên san KHXH&NV số 11/2019

TS. Hồ Bất Khuất

Những thông tin, những đồn đoán, những bình luận về thảm họa 39 người chết trong container ở Anh tạm lắng xuống vì mọi chuyện đã khá rõ ràng: Cả 39 đều là người Việt Nam, có hộ khẩu ở 6 tỉnh thành khác nhau. Thông tin lắng xuống nhưng nỗi đau cồn lên vì đây là nỗi đau đa chiều, sắc nhọn khiến người Việt Nam chúng ta buồn thương,…

Đã bao năm rồi, người Việt vẫn ra đi…

Phần lớn người Việt là những người ưa khám phá, thích chuyển dời, có tư tưởng hướng ngoại nên việc ra nước ngoài là điều nhiều người lựa chọn. Tuy nhiên, trong những điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, việc ra nước ngoài của người Việt Nam có mục đích, ý nghĩa khác nhau. Trong hơn 60 năm cuộc đời, tôi có trên 15 năm sống ở nước ngoài nên cảm nhận và hiểu rất rõ điều này. Trước những năm tám mươi thế kỷ XX, người Việt Nam ra nước ngoài rất tự hào vì họ còn ít và có sứ mệnh khá cao cả. Còn sau đó, số người Việt Nam ra nước ngoài bằng nhiều con đường khác nhau tăng lên nhanh chóng, chủ yếu là vì kế sinh nhai. Lúc này, ở nước ngoài ít người Việt Nam vỗ ngực tự hào, kể cả những người đoạt Huy chương Vàng thi Toán quốc tế.

Trong vòng 30 năm trở lại đây, người Việt Nam ra nước ngoài chủ yếu vì mục đích kinh tế. Họ ra nước ngoài bằng nhiều cách thức khác nhau nhưng có thể chia thành 3 loại: 1. Hợp pháp - Được tổ chức của nhà nước đưa đi; sống, học tập, làm việc đúng với thỏa thuận ban đầu; 2. Bán hợp pháp - Được đưa ra nước ngoài hợp lệ nhưng sau đó không tuân thủ thỏa thuận nữa mà tìm cách sống, làm việc theo ý mình; 3. Bất hợp pháp - Ra nước ngoài một cách bí mật bằng đường dây của người thân quen hay đi theo "những gói dịch vụ" không rõ ràng và khá mạo hiểm.

39 người xấu số chết trong container được phát hiện ở Anh là những người ra nước ngoài thuộc nhóm thứ 3. Bản thân họ và gia đình không nghĩ rằng, họ ra đi mờ ám và bất hợp pháp bởi vì họ chi trả một số tiền khá lớn. Hơn nữa, họ rời khỏi gia đình, làng xóm trong sự chia tay bịn rịn và có mọi giấy tờ tùy thân, thường đi bằng máy bay, xuất cảnh đàng hoàng qua các cửa khẩu quốc gia. Hiện tượng này âm thầm diễn ra hàng chục năm nay ở nhiều làng quê Việt Nam, phổ biến nhất có lẽ ở Nghệ An và Hà Tĩnh.

Ở nước ngoài, cộng đồng người Việt khá gắn kết. Họ cũng ít để ý tới chuyện họ ra đi hợp pháp hay bất hợp pháp. Việc họ quan tâm là dựa vào nhau để sống và kiếm tiền. Tiền kiếm được chủ yếu họ gửi về Việt Nam để giúp gia đình và tích lũy cho tương lai. Hoạt động này diễn ra trong nhiều năm và tạo dựng được một số hình ảnh hấp dẫn là những ngôi làng với nhà cao tầng san sát, những con người với sự am hiểu cuộc sống phương Tây hào hoa. Việc người Việt ra nước ngoài được cổ vũ nồng nhiệt, được thực hiện rộng khắp, được nhận thức… có phần lệch lạc.

Thảm họa 39 người chết trong container làm người Việt chúng ta đau đớn, bàng hoàng, thức tỉnh…

Ban đầu, thông tin 39 người chết là người Trung Quốc, người Việt Nam có thương cảm nhưng nhìn chung là thờ ơ. Đến khi Trung Quốc nói những người chết chưa xác định được quốc tịch thì người Việt Nam có dự cảm không tốt, phập phồng, lo âu. Sau đó xuất hiện những thông tin, những bằng chứng khiến nhiều người tin rằng, nạn nhân chủ yếu là người Việt, cụ thể là ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Lúc này, tuy thông tin chưa rõ ràng, cụ thể nhưng nỗi đau đã cào cấu tâm can nhiều người, đặc biệt là những gia đình có người thân bị mất liên lạc.

Khi có những thông tin là nạn nhân chủ yếu là người xứ Nghệ, tôi buồn đau thẫn thờ. Bằng sự hiểu biết tính cách người Nghệ của mình, tôi thấy chuyện này không quá lạ; không lạ nhưng đau lắm! Người Nghệ cũng có những phẩm chất, tính cách như người những vùng miền khác nhưng ở người Nghệ cái gì cũng nổi trội hơn một chút. Chính cái "một chút" này đã khiến nhiều người Nghệ gặt hái được vinh quang, đồng thời cũng khiến không ít người Nghệ chịu nhiều cay đắng, thậm chí phải trả giá bằng chính sinh mạng của mình.

Người Nghệ nói riêng, cộng đồng người Việt nói chung tỏ ra nhân văn, văn hóa, có bản lĩnh trong thảm họa 39 người chết. Trước hết, người ta xót thương các nạn nhân; sau đấy, nhớ đến những kỷ niệm đẹp về họ. Tôi thật sự xúc động khi thấy anh Trương Hồng Quang (người Đô Lương, Nghệ An; sống lâu năm ở Đức) tìm được bức tranh hoa hướng dương do Phạm Thị Trà My vẽ để ủng hộ một dự án giúp đỡ bệnh nhi ung thư mang tên "Ước mơ của Thuý". Tôi xem bức tranh và không cầm được nước mắt. Lẽ nào tác giả bức tranh đã bị chết ngạt, chết lạnh trong container ở trời Âu? Tôi đưa bức tranh lên trang cá nhân của mình, sau đấy một số đồng nghiệp xin phép được sử dụng trong các bài báo của họ.

Việc 39 người chết trong container là một thảm họa lớn bởi số người chết quá nhiều và quá thương tâm. Người ta thấy những vết máu, những vết cào cấu trên thùng xe, chứng tỏ trước khi chết những người trên xe vô cùng hoảng loạn và tuyệt vọng. Có lẽ họ chết do bị ngạt thở chứ không phải chết vì lạnh. Thảm kịch này là nỗi đau đa chiều với nhiều người Việt Nam. Trước hết, nỗi đau nhiều đồng bào ta bị chết thảm ở trời Âu. Sau đó là nỗi đau về việc Việt Nam là quốc gia có nhiều người di cư bất hợp pháp, vi phạm pháp luật của nhiều nước trên thế giới, đặt cược cả tính mạng vào những chuyến đi mạo hiểm. Các gia đình của các nạn nhân thì nỗi đau còn cụ thể và thảm thương hơn vì họ vừa mất người thân, mất tiền, mất niềm hi vọng thoát nghèo… Thảm họa này còn khiến chúng ta đau đớn vì nó gợi lại giai đoạn đen tối hàng chục năm về trước khi nhiều người Việt Nam cũng bỏ mạng khi ra nước ngoài bằng những con thuyền thô sơ, bé nhỏ.

Trong thảm kịch 39 người chết, chỉ có một điều chúng ta được an ủi là người Việt cũng như người nước ngoài không xem những nạn nhân là người vi phạm pháp luật; họ được xem là nạn nhân của các tổ chức buôn bán người có đường dây chằng chịt trên thế giới. Hơn thế nữa, không biết bằng cách nào báo chí thế giới có và công bố những bức ảnh chân dung của các nạn nhân xinh đẹp, dễ thương với các đức tính cần cù, chịu thương, chịu khó; phần lớn nạn nhân là những người yêu thương gia đình. Có thể nói báo chí, truyền thông phản ánh về thảm kịch này đã đạt được tiêu chuẩn thẩm mỹ và đạo đức nghề nghiệp của mình.

Thảm kịch còn chứa đựng nhiều điều mập mờ, khó hiểu, gây hoang mang

Cho đến nay, danh tính của 39 nạn nhân đã được xác định. Tuy nhiên, không phải vì thế mà thảm kịch đã được giải mã và trở nên rõ ràng, dễ hiểu. Ngược lại, thảm kịch này còn chứa đựng nhiều điều mập mờ, khó hiểu, gây hoang mang… Đó là ngày 23/10/2019, phát hiện 39 thi thể trong container tại hạt Essex - một khu công nghiệp của nước Anh, nằm về phía Đông Bắc London. Ngày 24/10, cảnh sát Anh thông báo 39 người bị chết là công dân Trung Quốc. Ngày 25/10, sứ quán Trung Quốc tại nước Anh xác nhận điều này. "Hoàn Cầu thời báo" (Trung Quốc) đã đăng bài xã luận cho rằng Anh và các nước châu Âu khác phải chịu trách nhiệm cho cái chết của 39 người nói trên với lập luận "Một thảm họa nghiêm trọng xảy ra dưới sự giám sát của người Anh và châu Âu. Rõ ràng Anh và các nước châu Âu liên quan không thực hiện trách nhiệm bảo vệ những người này khỏi cái chết". Bài viết còn cho rằng cái chết của các nạn nhân không phải lỗi của họ, dù họ đang tìm cách vào Anh một cách trái phép. Sau đó, Trung Quốc đính chính lại là quốc tịch của các nạn nhân chưa được xác định rõ ràng. Tiếp sau đó là những thông tin chứng tỏ tất cả nạn nhân của thảm kịch này có thể là người Việt Nam.

Chúng ta chấp nhận mất mát, đau thương nhưng không thể không nêu những câu hỏi: Căn cứ vào đâu mà những thông tin ban đầu nói rằng họ là công dân Trung Quốc? Người Trung Quốc có liên quan gì tới thảm kịch mang tầm quốc tế này? Tại sao các nạn nhân ở những vùng quê khác nhau lại bị nhốt trong cùng một container? Họ bị đẩy lên đấy tại địa điểm nào? Vào thời điểm nào? Họ bị chết ngạt hay chết lạnh? Ai là người chịu trách nhiệm chính về cái chết của họ?...

Có vẻ như ít ai quan tâm đến việc trả lời những câu hỏi này. Báo chí quốc tế dẫn lại thảm kịch năm 2000 có 58 người Trung Quốc chết trong container ở Anh có ý nói là thảm kịch đã từng diễn ra và có thể lặp lại. Có người đoán là những nạn nhân mang theo giấy tờ tùy thân (hộ chiếu) của Trung Quốc nên cảnh sát Anh kết luận họ là người Trung Quốc.

Trong thảm kịch năm 2000, có 2 người Trung Quốc sống sót và họ kể lại những ký ức kinh hoàng. Theo đó, tất cả 60 người trên xe đều đi từ tỉnh Phúc Kiến của Trung Quốc, qua nhiều nước châu Âu và vào Anh. Họ chết vì lái xe vô tình đóng ống dưỡng khí lại. Còn vụ án 39 người Việt chết năm 2019 đang trong quá trình điều tra nhưng chúng ta có thể thấy có sự liên quan của các băng nhóm tội phạm người Trung Quốc, đặc biệt là băng nhóm buôn người "Đầu Rắn". Phải nói rõ điều này để chúng ta cảnh giác với việc có quá nhiều người Trung Quốc bất hảo đến Việt Nam trong thời gian gần đây. Hiện tại, những người bị bắt liên quan đến thảm kịch này đều là người châu Âu, chưa có người châu Á nào; song, tôi khẳng định chắc chắn trong đường dây tội phạm này phải có người châu Á. Thông tin về một gia đình ở thành phố Vinh được người môi giới trả lại hơn 1 tỷ đồng sau thảm họa xẩy ra và có thể con gái của gia đình nằm trong số 39 nạn nhân chứng tỏ điều này.

Vai trò, trách nhiệm của chúng ta: Không để thảm kịch lặp lại!

Có một câu ngạn ngữ của Nga: "Về người chết, chỉ nói tốt hoặc không nói gì cả". Tôi không biết ai trong số 39 nạn nhân nhưng tôi nghĩ, về đạo đức - nhân cách, họ đều là những người tốt, những người yêu thương và có trách nhiệm với gia đình. Họ đi kiếm tiền không chỉ vì họ, mà vì người thân. Họ biết đi bằng con đường bất hợp pháp nhưng họ vẫn dấn thân. Ở đây có biểu hiện của sự dũng cảm, hi sinh vì người khác. Họ đã chết thương tâm khi còn quá trẻ, hãy tạo điều kiện tốt nhất để họ yên nghỉ.

Về vai trò, trách nhiệm: Tuy có sự phức tạp và không đồng nhất về quy định của pháp luật giữa Việt Nam và thế giới nhưng Bộ Công an, Bộ Ngoại giao của Việt Nam vào cuộc khá khẩn trương, phối hợp khá chặt chẽ với chính quyền Anh để xác định danh tính nạn nhân. Việc còn lại bây giờ là chúng ta phải lo chu đáo cho những nạn nhân: họ phải được nhận dạng, được đưa về quê hương bản quán, được yên nghỉ để siêu thoát; họ chỉ là nạn nhân, họ không có tội lỗi gì. Gia đình họ phải được hỗ trợ, vỗ về, an ủi; không nên để gia đình các nạn nhân lâm vào hoàn can bi đát cả về phương diện tài chính, kinh tế lẫn tinh thần.

Những việc cần làm tiếp theo: Rà soát lại những hoạt động phát triển kinh tế - xã hội trong những năm gần đây; đánh giá khách quan là việc đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đạt được những thành tựu gì, còn những khiếm khuyết gì? Phải trả lời được câu hỏi: Tại sao vẫn còn nhiều lao động bỏ trốn, lao động ra nước ngoài bất hợp pháp? Phải chăng khi đàm phán với các ông chủ nước ngoài việc trả lương, chúng ta đã hạ thấp lương của người lao động? Có phải chính điều này khiến nhiều lao động ra đi hợp pháp những sau đấy bỏ trốn? Trách nhiệm của địa phương ở đâu? Của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ở đâu?

Trong tình hình hiện nay, chắc chắn trong những năm trước mắt chúng ta vẫn tiếp tục đưa lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc. Vậy phải làm thế nào để hoạt động này đạt hiệu quả cả về kinh tế, cả về xã hội? Hiện nay, người lao động di cư để tìm chỗ làm tốt hơn, kiếm được nhiều tiền hơn vẫn là một xu hướng phổ biến. Tuy nhiên, ở quy mô cấp tỉnh, cấp quốc gia thì phải xem đây chỉ là giải pháp tình thế. Phải thấy là không thể phát triển thịnh vượng và bền vững nếu luôn luôn đưa lao động của mình đi làm thuê ở nơi khác.

Chiều 8/11/2019, phát biểu trong phiên chất vấn của Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ lòng tiếc thương tới những công dân Việt Nam thiệt mạng; ông xin chia buồn với gia quyến các nạn nhân và kêu gọi: "Chúng ta không được để thảm kịch đó tái diễn!". Để thực hiện được điều này, có nhiều việc phải làm. Trước hết, đó là hoạt động phòng tránh, nghĩa là tuyên truyền để người dân hiểu ra nước ngoài bằng con đường bất hợp pháp là nguy hiểm. Tiếp theo, tạo điều kiện để người dân có thể sống và làm giàu ngay tại quê hương, bản quán của mình. Muốn vậy, lãnh đạo phả

Th.S Ngô Hoàng Nam

Dân quân tự vệ (DQTV) biển là lực lượng thuộc DQTV nòng cốt được tổ chức ở cấp xã ven biển, xã đảo và cơ quan, tổ chức có phương tiện hoạt động trên biển để làm nhiệm vụ tại các vùng biển Việt Nam. Trong thời kỳ chống Chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965-1972), lực lượng DQTV biển là lực lượng nòng cốt chiến đấu trên mặt trận sông, biển.

Trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại (CTPH) của đế quốc Mỹ (1965-1972), phát huy truyền thống là "cái nôi"(1) của lực lượng DQTV Việt Nam, lực lượng DQTV biển tỉnh Nghệ An đã thể hiện vai trò quan trọng trong chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để góp phần làm rõ vai trò, vị trí của DQTV biển trong thời kỳ chống CTPH và phát huy vai trò của lực lượng này trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay, bài viết tập trung giải quyết những vấn đề trọng tâm sau: Độc lập chiến đấu, phối hợp chiến đấu bắn máy bay và tàu chiến Mỹ; Tham gia bảo đảm giao thông vận tải; Xây dựng hậu phương và tích cực sản xuất góp phần chi viện cho tiền tuyến miền Nam.

1. Chiến đấu, phối hợp cùng các lực lượng vũ trang khác bắn máy bay và tàu chiến Mỹ

Đến năm 1965, chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ tiến hành ở miền Nam Việt Nam đứng trước nguy cơ thất bại; để vực dậy tinh thần cho chính quyền, quân đội Sài Gòn, đế quốc Mỹ đã tăng cường viện trợ kinh tế, quân sự và đưa quân viễn chinh tham chiến tại miền Nam Việt Nam, đồng thời tiến hành CTPH miền Bắc. Âm mưu và mục tiêu chính của đế quốc Mỹ khi tiến hành CTPH miền Bắc là phá hoại tiềm lực kinh tế, quốc  phòng, gây thiệt hại lớn về sức người, sức của, uy hiếp tinh thần của dân tộc Việt Nam và cắt đứt sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Để chống lại cuộc CTPH của đế quốc Mỹ, Đảng đã chỉ đạo nhân dân tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân và chuyển hướng nền kinh tế từ thời bình sang thời chiến, "vừa sản xuất, vừa chiến đấu".

Tháng 3-1965, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 11 (khóa III) đã ra Nghị quyết về Tình hình và nhiệm vụ cấp bách, đối với miền Bắc, Nghị quyết chỉ rõ: "Tiếp tục xây dựng miền Bắc, kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế và tăng cường quốc phòng, kiên quyết bảo vệ miền Bắc đánh thắng cuộc CTPH và phong tỏa bằng không quân và hải quân của địch,…"(2). Với tinh thần chủ động, quân dân Nghệ An nhanh chóng chuyển mọi hoạt động sang thời chiến.

Trong bối cảnh mới, để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ, lực lượng DQTV biển được tăng cường về các vị trí trọng điểm ven sông, ven biển; đồng thời bố trí thêm những trận địa pháo ở ven biển. Năm 1965, toàn tỉnh có 1.100 lượt trận địa súng máy phòng không 12,7mm, 14,5mm và hàng chục ụ pháo từ 37mm đến 100mm dọc bờ biển. Huyện Quỳnh Lưu trang bị hỏa lực B40, B41 cho các thuyền đánh cá trên biển. Năm 1966, Tỉnh đội, Phòng Hải quân và dân quân Quân khu 4 đã chỉ đạo xã Quỳnh Long (Quỳnh Lưu) và 23 xã ven biển đẩy mạnh chủ trương quân sự hóa trong tổ chức đánh cá và vận tải trên biển.

Từ năm 1965 đến năm 1968, đế quốc Mỹ đã đánh phá hầu hết các thị trấn, thị xã, thành phố, nhà máy, hợp tác xã, hệ thống giao thông toàn tỉnh(3). Trên biển, ngày 30-7-1965, tàu hải quân Mỹ bắn vào các đảo Hòn Ngư và các xã Nghi Hải, Nghi Thu, Nghi Xuân (Nghi Lộc), xâm nhập vào vùng biển Cửa Vạn, bờ biển Diễn Châu, các xã Nghi Tiến, Quỳnh Lập, tấn công các tàu cá của nhân dân. Với tinh thần kiên quyết đánh trả không quân và hải quân Mỹ trên mặt trận sông, biển, DQTV biển đã độc lập chiến đấu và hiệp đồng với lực lượng vũ trang khác tạo thành lưới lửa nhiều tầng lập lên nhiều chiến công. Đêm 14-5-1965, dân quân xã Vĩnh Quang phối hợp với công an vũ trang đồn Cửa Tùng, bắn chìm một tàu biệt kích Mỹ khi chúng đang tập kích thuyền đánh cá của dân. Ngày 7-8-1965, lực lượng dân quân Quỳnh Lưu (Nghệ An), phối hợp với hải quân bắn chìm hai tàu, những chiếc còn lại vội vàng tháo chạy(4).

Vùng biển Nghệ An là những khu vực tập trung nhiều thuyền đánh cá của ngư dân, mật độ thuyền đánh cá lúc thấp nhất 110 chiếc, lúc cao có đến 400 - 500 chiếc, phạm vi đánh cá cách bờ 2 đến 15 hải lý, đây cũng là nơi tàu biệt kích bắt thuyền dân. Thực tế đòi hỏi ngư dân vừa sản xuất vừa chiến đấu. Với tinh thần "Nhanh tay lưới, chắc tay súng", trong năm 1968, DQTV biển đã 2 lần đánh trả tàu biệt kích ở vùng biển Diễn Châu, đẩy lùi các đợt tấn công của tàu chiến Mỹ. Trận ngày 8-8-1968, đội thuyền chiến đấu của xã Quỳnh Long(5) (Nghệ An), chỉ có 4 thuyền đi biển vào ban đêm, đang đánh bắt cá thì gặp 3 tàu biệt kích, các thuyền đánh cá lựa chọn thời cơ đồng loạt nổ súng vào cả 3 tàu biệt kích, các tàu địch bị đánh bất ngờ không phối hợp được với nhau nên không tập trung được sức mạnh(6).

Trong CTPH lần thứ hai, tiếp nối thành tích và rút kinh nghiệm từ những năm chống CTPH thứ nhất, DQTV biển Nghệ An tiếp tục giành thêm những chiến thắng mới. DQTV biển đã phối hợp chặt chẽ cùng hải quân, các lực lượng vũ trang khác ở ven bờ, trên biển, hải đảo chiến đấu đánh trả máy bay, tàu chiến Mỹ. Từ ngày 12 đến 17-4-1972, hải quân Mỹ đánh phá liên tiếp vào Đảo Ngư, Đảo Mắt và tàu thuyền của ngư dân đang neo đậu dọc bờ biển của hai huyện Nghi Lộc, Quỳnh Lưu. Tại đây, DQTV biển phối hợp với lực lượng bộ đội chủ lực, pháo bờ biển bắn cháy 5 tàu chiến Mỹ, bảo vệ bờ biển, tàu thuyền(7). Ngày 27-5-1972, các nữ dân quân xã Nghi Hải (Nghi Lộc) bắn cháy một chiếc F4, đồng thời tiêu diệt phi công nhảy dù xuống biển. Trong 20 trận đánh trả tàu chiến Mỹ, từ ngày 29-4 đến 25-5-1972, quân dân các huyện ven biển bắn cháy 2 tàu chiến Mỹ. Trong tháng 10-1972, DQTV biển Nghệ An tiếp tục giành thêm những chiến thắng mới, ngày 25-10-1972, quân dân vùng biển Quỳnh Lưu bắn cháy một máy bay F8, bắt sống giặc lái(8). Pháo binh dân quân cũng đã có những trận phối hợp chiến đấu với các đơn vị khác rất tốt. Trong những ngày tháng 5, tháng 6, tháng 7-1972, đại đội pháo binh dân quân xã Quỳnh Long (Quỳnh Lưu) đã phối hợp chiến đấu với Đại đội 49 pháo binh bộ đội địa phương, trong 8 trận chiến đấu đã bắn cháy 2 tàu khu trục Mỹ(9).

Cùng với hoạt động chiến đấu, DQTV biển còn tổ chức vây bắt giặc lái Mỹ nhảy dù xuống biển và các toán biệt kích đường biển. DQTV biển được tổ chức rộng khắp ở ven bờ, trên biển, trên sông, nên thường là lực lượng phát hiện giặc lái và hành động trước tiên. DQTV biển thường dùng thuyền buồm vây bắt, vì đây là một phương tiện địch ít chú ý hơn các phương tiện khác trên biển. Trong thời kỳ chống CTPH, hầu hết các trường hợp vây bắt giặc lái trên biển đều có DQTV biển tham gia. Điển hình dân quân Quỳnh Bảng (Quỳnh Lưu) đã dùng thuyền nan bắt giặc lái Mỹ trên biển ngày 3-2-1966. Đối với hoạt động vây bắt các toán biệt kích đường biển, DQTV biển phối hợp với các đồn biên phòng duy trì chặt chẽ chế độ tuần tra bờ biển đề phòng biệt kích bất ngờ tập kích vào đất liền, bảo vệ trật tự trị an. Trong thời kỳ chống CTPH, DQTV biển Nghệ An đã phát hiện và vây bắt thành công 1 vụ(10). Bên cạnh các hoạt động trên, DQTV biển Nghệ An còn tích cực giúp đỡ bộ đội chủ lực, bộ đội phòng không quan sát phát hiện tình hình mặt biển, làm hầm hào, công sự, tổ chức ngụy trang che phòng, cất giấu phương tiện vũ khí. Cùng với những đóng góp trên, DQTV biển còn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm giao thông vận tải, chi viện cho tiền tuyến.

2. Bảo đảm giao thông vận tải

Để thực hiện âm mưu "ngăn chặn sự chi viện", đế quốc Mỹ đã thực hiện hơn 50% số lượng bom đạn trong các lần đánh phá xuống hệ thống giao thông miền Bắc. Đối với Nghệ An, khối lượng bom đạn Mỹ trút xuống trong năm 1967-1968 đã gấp 2 lần những năm trước cộng lại. Trong điều kiện đó, hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy bị phá hủy nặng nề, nhiều điểm gây ách tắc nghiêm trọng. Đặc biệt từ tháng 5-1972 trở đi, Mỹ tăng cường đánh phá ác liệt vào các mục tiêu giao thông, thả thủy lôi ở Cửa Hội, Cửa Lò, Lạch Quèn, tuyến vận tải trên sông Lam, sông Hoàng Mai, các bến vượt đất liền và cầu phà quan trọng như cầu Bùng, phà Sen, phà Bến Thủy, các trọng điểm giao thông quan trọng như Bãi Ngang - Cửa Lò, khu chuyển tải Hòn Ngư, đoạn sông Lam, Cửa Hội - Bến Thủy, Bến Thủy - Ngã ba sông Lam, sông La, Lạch Tháp, Lạch Thơi,… phong tỏa vùng biển Nghệ An.

Trong CTPH lần thứ nhất, Mỹ sử dụng thủy lôi MK-50 (là thủy lôi âm thanh), MK-52 (thủy lôi từ tính) và bom TN (từ tính), các loại đó đều là loại chưa cải tiến (Mod-0). Sang CTPH lần thứ hai chúng đã cải tiến 3 lần, từ Mod-0 lên đến Mod-3, Mod-4. Chống phong tỏa thủy lôi là nhiệm vụ mới, bao gồm nhiều bước như tổ chức quan sát, rà phá tháo gỡ, nghiên cứu kỹ thuật, mở đường vòng tránh, đánh máy bay thấp thả thủy lôi. Trên toàn tuyến ven biển, các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc đã lập được 79 trạm gác dọc bờ biển(11), trung bình mỗi xã ven biển có từ 2 đến 3 trạm, mỗi trạm được bố trí từ 8 đến 12 chiến sĩ có nhiệm vụ tuần tra bảo vệ, phát triển xâm nhập, mạng lưới quan sát này đã phát huy tác dụng phát hiện hầu hết các bãi thủy lôi, nhờ đó đã giúp cho việc rà phá, tháo gỡ, mò tìm được nhanh chóng và đạt kết quả.

Để đảm bảo giao thông vận tải đường thủy trên tuyến lửa này, công tác chống phong tỏa, thông luồng, mở bến rất quan trọng. Được sự hỗ trợ, phổ biến kỹ thuật và kinh nghiệm rà phá thủy lôi của hải quân, công binh và các cơ quan chuyên môn nên hoạt động rà phá bom mìn, chống thủy lôi của DQTV biển nhanh chóng được triển khai. Trên các dòng sông, cầu cống, bến phà, cửa biển… lực lượng DQTV biển với các khí tài thô sơ như thuyền, tàu sắt, nam châm, mảnh tôn,… đã rà phá bom mìn, thủy lôi thành công, nhanh chóng. DQTV vùng ven biển, dọc hai bên bờ sông Lam của huyện Nghi Lộc, tự vệ cảng Cửa Hội đã phối hợp với công binh hàng hải K3 tiến hành rà phá thủy lôi, đảm bảo thông luồng, thông bến(12).

Thực hiện nhiệm vụ đảm bảo giao thông vận tải, bên cạnh nhiệm vụ chống phong tỏa, lực lượng DQTV biển còn tích cực tham gia vận chuyển chi viện chiến trường và chi viện đảo. Với các khẩu hiệu "Địch phong tỏa, ta mở đường, địch ngăn chặn, ta vòng tránh", "Sống bám cầu đường, chết kiên cường dũng cảm", "Xe chưa qua, nhà không tiếc",… lực lượng đảm bảo giao thông vận tải Nghệ An, trong đó có DQTV biển đã "nêu cao tinh thần hy sinh, dũng cảm, bình tĩnh, mưu trí, linh hoạt chiến đấu ngày đêm với địch, với thiên nhiên. Mỗi đoạn đường, bến phà, mỗi chiếc cầu, bom đạn địch đánh phá, cày xới lên, sắt thép lẫn lộn với đất đá, nhưng xe vẫn chạy, phà vẫn sang sông, ý chí sắt đá của cán bộ và chiến sĩ ta quyết tâm bảo đảm giao thông, đưa hàng ra tiền tuyến, không thể nào lay chuyển được"(13).

Trong chống CTPH lần thứ nhất, lực lượng DQTV biển trong các hợp tác xã đường sông (1.204 thuyền), hợp tác xã đường biển (74 thuyền) đã tích cực tham gia bảo đảm giao thông vận tải trên sông, biển. Các chiến sĩ tự vệ biển phối hợp với công nhân lái ca nô kéo một phà sắt nặng 25 tấn từ Bến Thủy ra Hoàng Mai, vượt qua tuyến đường biển dài 90km trong điều kiện rất nguy hiểm để phục vụ vượt sông(14). DQTV biển Nghệ An đã phát huy cao độ tinh thần dũng cảm, không quản ngại hy sinh, gian khổ tham gia công tác vận tải, trong đó dân quân xã Nghi Hương (Nghi Lộc, Nghệ An) luôn thường trực có mặt bên bờ biển để đón nhận từng bao hàng, giữa lúc nhiều máy bay, tàu chiến Mỹ điên cuồng bắn phá là tấm gương điển hình(15).

Trong CTPH lần thứ hai, số lượng bom đạn Mỹ thả xuống Nghệ An khoảng 39.915 tấn, trong hoàn cảnh đó nhiệm vụ đảm bảo giao thông vận tải càng trở nên nặng nề. Phát huy tinh thần và thành quả trong những năm chống CTPH lần thứ nhất, quân dân Nghệ An ngày đêm bám trụ, rà phá bom mìn, san lấp hố bom, sửa chữa mặt đường, mở thêm đường vòng, đường tránh, làm cầu, phà chuyển tải hàng hóa, góp phần đảm bảo sự chi viện liên tục cho miền Nam. Với sự quyết tâm của chiến sĩ tự vệ trong các hợp tác xã thuyền sông, thuyền biển, dân quân các xã ven biển thời gian và khối lượng hàng hóa luân chuyển luôn bảo đảm. Về thời gian, nếu năm 1964, một chuyến hàng phải mất 30 phút mới qua sông thì đến năm 1972 chỉ mất 5 phút. Khối lượng vận tải tăng mạnh, với hơn 600 chiếc thuyền của 13 hợp tác xã thuyền sông, 7 hợp tác xã thuyền biển đã khắc phục mọi khó khăn hoàn thành nhiệm vụ vận tải hai chiều từ đảo vào đất liền và từ đất liền ra đảo. Từ tháng 4 đến tháng 11-1972, vận tải biển Nghệ An đã vận chuyển được 21.927 tấn hàng từ tàu Hồng Kỳ (Trung Quốc) vào bờ an toàn(16). Tiêu biểu cho sự đóng góp đó là DQTV thuộc đội thuyền của các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, hợp tác xã Phúc Thọ (Nghi Lộc), bến đò ngang Vạn Rú (Nam Đông, Nam Đàn), các xã Nghi Hùng, Nghi Tân và Nghi Thu (Nghi Lộc).

Trong thời kỳ chống CTPH, khu vực phà Bến Thủy là nơi diễn ra cuộc chiến khốc liệt nhất của tỉnh Nghệ An. Nơi đây cũng ghi dấu nhiều tấm gương DQTV biển đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến chống phong tỏa, đảm bảo giao thông. Ghi nhận những thành tích đạt được trong hai cuộc chiến đấu chống CTPH bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ trên vùng đất Bến Thủy, Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang cho tập thể cán bộ, công nhân viên phà Bến Thủy (hai lần); cho lực lượng tự vệ cảng Bến Thủy(17) và phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang cho chiến sĩ Nguyễn Đăng Chế - Trưởng phà, kiêm tự vệ trưởng phà Bến Thủy, người đã xung phong lái chuyến phà cảm tử, phá bom từ trường dày đặc trên dòng sông Lam ngày 23-11-1972.

Như vậy, mặc dù bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nhưng với sức mạnh của đường lối chiến tranh nhân dân, phát huy vai trò của lực lượng ba thứ quân, nhiệm vụ bảo đảm giao thông vận tải được thông suốt, góp phần làm thất bại âm mưu "ngăn chặn sự chi viện" của đế quốc Mỹ.

3. Xây dựng hậu phương và tích cực sản xuất góp phần chi viện cho tiền tuyến miền Nam

Thấm nhuần chủ trương "vừa chiến đấu, vừa sản xuất" của Đảng, DQTV biển với tinh thần hăng say lao động, đã phát huy nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật để bảo đảm đạt năng suất cao. Thực tế đã chứng minh, nơi nào, cơ sở nào DQTV mạnh thì công tác sản xuất bảo đảm, chỉ tiêu kế hoạch được hoàn thành, trật tự trị an tại địa bàn được giữ vững. Trong chống CTPH bằng không quân, hải quân của Mỹ ở miền Bắc, một số ngành nghề trên biển vẫn được duy trì và phát triển. Các ngành như vận tải, khai thác hải sản được củng cố và phát triển mạnh, được quân sự hóa và vũ trang hóa triệt để. Một trăm phần trăm cán bộ, nhân viên, công nhân trên tàu thuyền, ngư dân đều là DQTV biển. Việc hình thành các hải đội, hải đoàn trên các cơ sở vận tải, đánh cá là phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ.

Trong chiến tranh ác liệt, DQTV biển Nghệ An không chỉ lập công trong chiến đấu, mà ngay trong sản xuất đã đóng vai trò nòng cốt, bảo đảm năng suất lao động. Mỗi chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi, mỗi sản phẩm công nghiệp, ngư nghiệp ra đời, trong đó có mồ hôi và xương máu của người cán bộ, chiến sĩ DQTV biển. Việc xây dựng các ụ đà cho tàu thuyền ra vào cảng ở Bến Thủy, Cửa Hội,… là một trong những thành tích thể hiện cho tinh thần đó.

Trên lĩnh vực khai thác kinh tế biển, mặc dù bị không quân, hải quân Mỹ đánh phá ác liệt, song các chiến sĩ DQTV biển trong các hợp tác xã đánh cá, ngư dân ven biển vẫn kiên cường vươn khơi. Trong quý 2-1966, lực lượng đánh cá ở 23 xã ven biển của 3 huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc đã thực hiện quân sự hóa, kết hợp giữa sản xuất và chiến đấu vừa bắn rơi máy bay Mỹ, vừa khai thác được hàng nghìn tấn cá(18).

Trong thời gian chống CTPH lần thứ hai, năm 1972, bất chấp sự đánh phá ác liệt của tàu chiến Mỹ, các đội đánh cá vùng ven biển vẫn ra khơi, khai thác cá phục vụ đời sống nhân dân và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước. Tiêu biểu là các đội cá của xã Quỳnh Long (Quỳnh Lưu), Nghi Hưng (Nghi Lộc), dân quân xã Quỳnh Long với khoảng 15 người, trong tháng 10-1972 đã đánh bắt được 350 tấn cá, bằng 1/6 sản lượng toàn tỉnh. Xã Nghi Hưng trong 6 tháng đầu năm 1972 khai thác 64 tấn, vượt chỉ tiêu 4 tấn(19).

Như vậy, có thể khẳng định DQTV biển Nghệ An đã góp phần quan trọng đánh bại cuộc CTPH miền Bắc, đặc biệt là trên mặt trận sông biển, một trong hai hướng đánh phá chủ yếu của đế quốc Mỹ. DQTV biển Nghệ An đã phát huy vai trò chiến lược của mình trên chiến trường sông biển, lập được nhiều thành tích trong việc chiến đấu bắn máy bay, đánh tàu chiến, bắt biệt kích, bắt giặc lái, tham gia vận chuyển tiếp tế, phục vụ chiến đấu và làm nòng cốt cho nhân dân duy trì sản xuất trên biển trong điều kiện chiến tranh ác liệt.

Qua thực tiễn xây dựng và hoạt động của DQTV biển trong thời kỳ chống CTPH miền Bắc của đế quốc Mỹ, có thể rút ra một số kinh nghiệm.

Thứ nhất, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ địa phương, Đảng bộ các ngành Trung ương, trong việc tổ chức xây dựng và chỉ đạo hoạt động lực lượng DQTV biển, xây dựng thế trận lòng dân, thế trận chiến tranh nhân dân trên mặt trận sông biển. Thứ hai, quán triệt vị trí vai trò chiến lược của lực lượng DQTV vào việc phát huy vai trò của DQTV biển. Xây dựng thế trận liên hoàn giữa sông, biển, kết hợp chặt chẽ giữa các ngành kinh tế biển, tạo điều kiện để gắn tổ chức DQTV biển với tổ chức kinh tế, gắn sản xuất, khai thác với bảo vệ vùng sông biển. Thứ ba, đảm bảo về trang thiết bị, phương tiện, vũ khí thích hợp, hiện đại để lực lượng DQTV biển hoạt động và chiến đấu trên sông biển đạt hiệu quả. Thứ tư, chú trọng việc đào tạo cán bộ có phẩm chất chính trị, nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật đặc thù trên mặt trận sông biển; đồng thời chú trọng giải quyết chính sách, chế độ và chăm lo đời sống vật chất cho DQTV biển.

Những kinh nghiệm trong xây dựng, hoạt động tác chiến của DQTV biển Nghệ An trong thời kỳ chống CTPH rất có ý nghĩa và cần thiết cho công tác nghiên cứu phát huy vai trò DQTV biển trong điều kiện hiện nay - thời điểm biển Đông đang tiềm ẩn những vấn đề phức tạp về chính trị - quân sự - kinh tế, đặc biệt là việc tranh chấp chủ quyền trên biển.

Chú thích

(1). Trong cao trào cách mạng (1930-1931) với đỉnh cao là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, các đội Từ vệ Đỏ đã ra đời, đây là mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng.

(2). Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập 26, tr.109.

(3). Trọng điểm là Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Đô Lương, Kỳ Sơn, thành phố Vinh.

(4). Bộ Tư lệnh Quân khu 4, Lịch sử Dân quân tự vệ Quân khu 4 (1945-2010), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2012, tr 193.

(5). Được thành lập từ năm 1967 gồm có 7 thuyền. Mỗi thuyền có 6 đồng chí đều là đảng viên, do 1 đảng ủy viên xã hoặc 1 xã đội phó hay 1 chi ủy viên phụ trách. Trang bị mỗi thuyền có 1 trung liên, 2 tiểu liên, 6 thủ pháo nhỏ, 2 thủ pháo lớn loại 2kg, có 2 thuyền được trang bị thêm 1 cối K60mm và 1 B27.

(6). Bộ Tổng tham mưu, Phát huy vai trò dân quân tự vệ biển góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại chủ yếu bằng không quân, hải quân của Mỹ trên mặt trận sông biển ở miền Bắc (1964-1973), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr. 56.

(7). Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Lịch sử Nghệ An, tập II (từ năm 1945 đến năm 2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.465

(8). Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Lịch sử Nghệ An, tập II (từ năm 1945 đến năm 2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.474

(9). Bộ Tổng tham mưu, Phát huy vai trò dân quân tự vệ biển góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại chủ yếu bằng không quân, hải quân của Mỹ trên mặt trận sông biển ở miền Bắc (1964-1973), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr.60.

(10). Bộ Tổng tham mưu, Phát huy vai trò dân quân tự vệ biển góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại chủ yếu bằng không quân, hải quân của Mỹ trên mặt trận sông biển ở miền Bắc (1964-1973), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr.61.

(11). Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Lịch sử Nghệ An, tập II (từ năm 1945 đến năm 2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.357.

(12). Bộ Tư lệnh Quân khu 4, Lịch sử DQTV Quân khu 4 (1945-2010), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2012, tr. 218.

(13). Báo cáo của Bộ Tư lệnh Quân khu 4 tại Hội nghị mừng công Công binh giao thông (7/1967)

(14). Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Lịch sử Nghệ An, tập II (từ năm 1945 đến năm 2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.362, 365.

(15). Bộ Tư lệnh Quân khu 4, Lịch sử DQTV Quân khu 4 (1945-2010), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2012, tr. 218.

(16). Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Lịch sử Nghệ An, tập II (từ năm 1945 đến năm 2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.483.

(17). Ban Chấp hành Đảng bộ - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân thành phố Vinh, Lịch sử thành phố Vinh, tập II (1945-1975), Nxb Nghệ An, 2003, tr 241.

(18). Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Lịch sử Nghệ An, tập II (từ năm 1945 đến năm 2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.485

(19). Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Lịch sử Nghệ An, tập II (từ năm 1945 đến năm 2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.485.

 

Th.S Nguyễn Thị Thu Hà

 Theo kết quả sơ bộ từ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2019 dân số tỉnh Nghệ An đạt mốc 3,32 triệu người, xếp thứ 4 cả nước sau thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và tỉnh Thanh Hóa. 3.32 triệu người không phải là một con số vô tri vô giác mà trái lại đặt ra cho tỉnh Nghệ An những bài toán về cách thức sử dụng con người hiệu quả đem đến sự phát triển bền vững cho tỉnh nhà nói riêng và cả nước nói chung trên con đường phát triển.

Thực trạng Nghệ An

Trong báo cáo kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê thì dân số tỉnh Nghệ An có 848.977 hộ với 3.327.791 người và là tỉnh có dân số đông thứ 4 cả nước. Như vậy, sau 10 năm từ 2009 đến 2019, dân số tỉnh Nghệ An đã tăng 414.736 người (dân số năm 2009 là 2.912.041 người); tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2009-2019 là 1,33% cao hơn tỷ lệ tăng của cả nước (1,14%). So với các tỉnh trong khu vực Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, Nghệ An có tỷ lệ tăng dân số là cao nhất.

Cùng thời điểm này, Nghệ An có 37 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống với 11 tôn giáo khác nhau, nhiều nhất là Công giáo có 287.064 người, tiếp theo là Phật giáo có 2.019 người, còn lại các tôn giáo khác như: Đạo Tin lành, Hồi giáo, Minh Lý đạo,…

Năm 2019, với quy mô bình quân hộ 3,8 người/hộ, mật độ dân số trung bình ở Nghệ An tăng từ 177 người/km² năm 2009 lên 202 người/ km² năm 2019. Tuy nhiên, dân cư ở Nghệ An phân bố rất không đều. Tại khu vực đồng bằng: TP. Vinh, TX. Cửa Lò, Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành, Đô Lương, Nghi Lộc, Nam Đàn, Hưng Nguyên, TX. Hoàng Mai có mật độ cao, hơn 500 người/km2; ngược lại các huyện miền núi phía Tây lại rất thưa thớt, khoảng 50 người/km2 như: Quế Phong, Quỳ Châu, Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông; nguyên nhân là do địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, giao thông khó khăn.

Bảng 1: Dân số và mật độ dân số Nghệ An phân theo đơn vị hành chính

TT

Đơn vị hành chính

Dân số (người)

Mật độ dân số (người/km²)

Năm 2009

Năm 2019

Năm 2009

Năm 2019

 

Tổng

2.912.041

3.327.791

177

202

1

Thành phố Vinh

303.714

339.114

2.893

3.230

2

Thị xã Cửa Lò

50.477

55.668

1.807

1.993

3

Thị xã Thái Hoà

59.962

66.127

444

490

4

Huyện Quế Phong

62.129

71.940

33

38

5

Huyện Quỳ Châu

52.637

57.813

50

55

6

Huyện Kỳ Sơn

69.524

80.288

33

38

7

Huyện Tương Dương

72.405

77.830

26

28

8

Huyện Nghĩa Đàn

122.303

140.515

198

228

9

Huyện Quỳ Hợp

116.554

134.154

124

143

10

Huyện Quỳnh Lưu

251.694

276.259

571

627

11

Huyện Con Cuông

64.240

75.168

37

43

12

Huyện Tân Kỳ

129.301

147.257

178

203

13

Huyện Anh Sơn

99.357

116.922

164

193

14

Huyện Diễn Châu

266.447

312.506

868

1.018

15

Huyện Yên Thành

257.747

301.635

471

551

16

Huyện Đô Lương

183.584

213.543

516

601

17

Huyện Thanh Chương

211.204

240.808

187

214

18

Huyện Nghi Lộc

184.148

218.005

533

630

19

Huyện Nam Đàn

149.826

164.634

513

564

20

Huyện Hưng Nguyên

110.451

124.245

693

780

21

Thị xã Hoàng Mai

94.337

113.360

549

660

 

(Nguồn: Tổng điều tra Dân số và nhà ở 2009, 2019 Cục Thống kê Nghệ An)

Sau 10 năm tỷ lệ tăng dân số bình quân và dân số chia theo nông thôn thành thị và giới tính có sự thay đổi rõ nét. Cụ thể với tỷ lệ tăng dân số bình quân/năm giai đoạn 2009-2019 là 1,33%, trong đó thành thị 2,68% và nông thôn 1,12%; các huyện có tỷ lệ tăng dân số bình quân cao hơn bình quân của toàn tỉnh bao gồm các huyện: Quế Phong, Kỳ Sơn, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Con Cuông, Anh Sơn, Diễn Châu, Yên Thành, Đô Lương, Nghi Lộc, TX. Hoàng Mai. Nguyên nhân là việc phân chia lại ranh giới địa lý cũng như việc di dời dân, xây dựng khu tái định cư mới; thu hút nhiều nguồn lao động làm việc tại các khu công nghiệp mới đưa vào sử dụng (Khu công nghiệp Hoàng Mai I, Khu công nghiệp Nghĩa Đàn, Khu công nghiệp Hoàng Mai II, Khu công nghiệp Thọ Lộc thuộc huyện Diễn Châu, Khu công nghiệp Sông Dinh thuộc huyện Quỳ Hợp);… Toàn tỉnh, tỷ lệ dân số bình quân/năm giai đoạn 2009-2019 thấp thuộc huyện Tương Dương (0,72%), tuy nhiên mức tăng này ở thành thị lại khá cao 2,18% và nông thôn 0,65%, so với thành phố Vinh nơi tập trung kinh tế trọng điểm của tỉnh thì mức tăng của thành phố Vinh là khá thấp (1,1%), thành thị là 0,37% và nông thôn là 2,09%.

Xét về phân bố dân cư, tỷ lệ người dân sống ở khu vực thành thị 14,73% (năm 2009 là 12,87%), ở khu vực nông thôn 85,27% (năm 2009 là 87,13%), tỷ lệ nam 50,27% (năm 2009 49,64%) và tỷ lệ nữ 49,73% (năm 2009 50,36%) trên tổng dân số chung của tỉnh (xem bảng 2).

 

TT

Đơn vị hành chính

Dân số có đến 01/4/2009 (người)

Dân số có đến 01/4/2019 (người)

Tỷ lệ tăng dân số bình quân/năm giai đoạn 2009-2019 (%)

 

Tổng

Thành thị

Nông thôn

Tổng

Thành thị

Nông thôn

Tổng

Thành thị

Nông thôn

 

Nghệ An

2.912.041

374.797

2.537.244

3.327.791

490.038

2.837.753

1,33

2,68

1,12

1

Thành phố Vinh

303.714

215.577

88.137

339.114

230.439

108.675

1,10

0,67

2,09

2

Thị xã Cửa Lò

50.477

38.522

11.955

55.668

55.668

-

0,98

3,68

-

3

Thị xã Thái Hoà

59.962

26.472

33.490

66.127

29.079

37.048

0,98

0,94

1,01

4

Huyện Quế Phong

62.129

3.259

58.870

71.940

3.634

68.306

1,47

1,09

1,49

5

Huyện Quỳ Châu

52.637

2.362

50.275

57.813

4.958

52.855

0,94

7,41

0,50

6

Huyện Kỳ Sơn

69.524

2.933

66.591

80.288

2.952

77.336

1,44

0,06

1,50

7

Huyện Tương Dương

72.405

3.108

69.297

77.830

3.866

73.964

0,72

2,18

0,65

8

Huyện Nghĩa Đàn

122.303

-

122.303

140.515

5.558

134.957

1,39

-

0,98

9

Huyện Quỳ Hợp

116.554

9.909

106.645

134.154

11.980

122.174

1,41

1,90

1,36

10

Huyện Quỳnh Lưu

251.694

5.532

246.162

276.259

9.595

266.664

0,93

5,51

0,80

11

Huyện Con Cuông

64.240

4.753

59.487

75.168

5.653

69.515

1,57

1,73

1,56

12

Huyện Tân Kỳ

129.301

6.425

122.876

147.257

7.976

139.281

1,30

2,16

1,25

13

Huyện Anh Sơn

99.357

4.654

94.703

116.922

5.401

111.521

1,63

1,49

1,63

14

Huyện Diễn Châu

266.447

5.374

261.073

312.506

6.896

305.610

1,59

2,49

1,58

15

Huyện Yên Thành

257.747

3.964

253.783

301.635

4.855

296.780

1,57

2,03

1,57

16

Huyện Đô Lương

183.584

7.742

175.842

213.543

10.102

203.441

1,51

2,66

1,46

17

Huyện Thanh Chương

211.204

5.832

205.372

240.808

8.964

231.844

1,31

4,30

1,21

18

Huyện Nghi Lộc

184.148

4.764

179.384

218.005

6.197

211.808

1,69

2,63

1,66

19

Huyện Nam Đàn

149.826

6.534

143.292

164.634

7.088

157.546

0,94

0,81

0,95

20

Huyện Hưng Nguyên

110.451

7.855

102.596

124.245

9.660

114.585

1,18

2,07

1,11

21

Thị xã Hoàng Mai

94.337

9.226

85.111

113.360

59.517

53.843

1,84

18,64

-               4,58

                       

(Nguồn: Tổng điều tra Dân số và nhà ở 2009, 2019 - Cục Thống kê Nghệ An)

 

Như vậy, với tình hình dân số Nghệ An hiện nay, ngoài những lợi ích mà dân số tăng mang lại thì cũng đòi hỏi sự quan tâm phối hợp giải quyết ở mọi cấp độ nhằm hạn chế tình trạng tăng dân số với tốc độ quá nhanh, cũng như góp phần đưa dân số Nghệ An bước vào giai đoạn tăng trưởng ổn định.

Nguyên nhân của tình trạng trên là do sau khi tách Nghệ Tĩnh thành 2 tỉnh là Nghệ An và Hà Tĩnh vào năm 1991, Nghệ An đã có xuất phát điểm dân số của tỉnh ở mức cao trong cả nước; với tỷ lệ sinh hàng năm của tỉnh đạt khá cao so với mặt bằng chung của cả nước; năm 2018 tỷ suất sinh thô (CBR) của Nghệ An là 20,04‰ (cả nước 14,55), tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên 26,06% (cả nước là 18,97%), tổng tỷ suất sinh (TFR) 2,82 số con/phụ nữ (cả nước 2,05 số con/phụ nữ )(1). Mặt khác dân cư phân bố chưa hợp lý do tác động của điều kiện tự nhiên, lịch sử định cư, lịch sử văn hóa và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng trong tỉnh làm cho dân số tăng lên và phân bố không đồng đều giữa các vùng.

Lợi thế dân số Nghệ An

Nghệ An là tỉnh có quy mô dân số lớn nên lực lượng lao động dồi dào, là động lực tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cơ cấu dân số trẻ nên lực lượng lao động trẻ chiếm ưu thế, điều này có lợi cho việc chuyển dịch lao động và tạo ra sự năng động, sáng tạo trong các hoạt động về kinh tế, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới và hội nhập; khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… tương đối cao và bền vững; bên cạnh việc xây dựng và phát triển kinh tế, quy mô dân số lớn còn là thế mạnh, là tiềm năng vững chắc trong sự nghiệp bảo vệ an ninh chính trị, trật tự xã hội ở địa phương và quốc gia.  

Nghệ An cũng là tỉnh có nhiều dân tộc chung sống, đoàn kết với nhau, phát huy truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, tạo nên sức mạnh phát triển kinh tế, xây dựng đất nước.

Thách thức đồng hành

Thách thức của tỉnh nhà sẽ phải đối mặt là bệnh tật, môi trường bị tàn phá, sự mất cân bằng về dân số giữa thành thị và nông thôn, cũng như tình trạng di cư miền núi sang đồng bằng, huyện nghèo sang huyện giàu, di cư nước ngoài,… qua đó cũng góp phần chảy máu chất xám. "Chảy máu chất xám" được coi là một hiện tượng phức tạp, đáng lo ngại không chỉ với Việt Nam mà cả các nước trên thế giới. Vì vậy, các nhà lãnh đạo của tỉnh nói riêng và Việt Nam nói chung phải xem xét và điều chỉnh, từ đó có chính sách, biện pháp khắc phục.

Đông dân thì vấn đề đô thị hóa sẽ là bài toán khó giải đối với tỉnh. Cụ thể, dân số đông đã tạo ra sức ép không nhỏ đối với thành phố, thị xã thuộc tỉnh. Do có sự chênh lệch về điều kiện kinh tế và cơ sở vật chất giữa nông thôn và thành thị, ngày càng có nhiều người đổ xô về thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, thị xã Hoàng Mai hoặc tìm đến các thành phố lớn để làm việc, đặc biệt là tầng lớp trí thức; trong khi dân số nông thôn ngày càng thưa thớt và không đủ lao động để xây dựng kinh tế. Có thể thấy hiện nay, xuất hiện ngày càng nhiều các cơ sở công nghiệp, xí nghiệp liên doanh với nước ngoài ở khu vực ven thành phố Vinh, nên luồng dân di cư từ nông thôn ra thành thị làm các nghề thợ hồ, may mặc, chế biến lương thực,… tăng lên đáng kể, góp phần làm cho dân số các huyện ven thành phố tăng lên nhanh chóng. Áp lực về sự gia tăng dân số đột ngột đặt ra nhiều bức xúc mà các huyện ven thành phố phải đối mặt như vấn đề giải quyết việc làm - lao động, nhà ở, tệ nạn xã hội,…

Thách thức lớn nữa không thể bỏ qua, đó là vấn đề môi trường. Do dân số đông và tăng nhanh đã dẫn đến chất thải từ sinh hoạt và sản xuất ngày càng nhiều, chi phí cho làm sạch môi trường thấp, các bãi tập kết rác thải quá tải; và có thể nói cận hơn đó là một bộ phận không nhỏ chưa chú trọng hay quan tâm đến vấn đề này dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, kéo theo bão lũ, cháy rừng, hạn hán,… thiệt hại cả về người và của.

Ngoài ra, tỷ lệ thiếu việc làm và thất nghiệp vẫn chưa có chiều hướng giảm mà ngược lại còn tăng lên. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị tăng lên đáng kể năm 2017 là 2,88% lên 3,45 năm 2018; ở nông thôn từ 0,83% năm 2017 và năm 2018 là 0,92%; khi chia theo giới thì tỷ lệ thất nghiệp của nữ cao hơn nam cụ thể, tỷ lệ thất nghiệp nữ từ 0,96% (năm 2017) lên 1,28% (năm 2018), còn nam từ 1,22% (năm 2017) lên 1,25% năm 2018.

Dân số tăng làm nảy sinh ra các tệ nạn xã hội, gây bất ổn về an ninh. Năm 2018 phát hiện và xử lý 1.320 vụ phạm pháp kinh tế, 1.325 vụ phạm pháp hình sự, 851 vụ buôn bán, vận chuyện, tàng trữ ma túy bị phát hiện, 490 vụ tai nạn giao thông làm 234 người chết, 426 người bị thương và bắt hàng trăm vụ tệ nạn ma túy, mại dâm; ước thiệt hại 14,81 tỷ đồng. Trong 06 tháng đầu năm 2019 phát hiện và xử lý 879 vụ phạm kinh tế, 679 vụ phạm pháp hình sự, 505 vụ buôn bán, vận chuyện, tàng trữ ma túy bị phát hiện, 214 vụ tai nạn giao thông làm 103 người chết, 171 người bị thương, ước tính thiệt hại ban đầu 5,8 tỷ đồng(3). Tệ nạn xã hội ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tinh thần và đạo đức con người, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, rối loạn trật tự xã hội, văn hóa suy đồi. Làm mất tư cách của một người công dân, gây ảnh hưởng sâu sắc đến nguồn lao động trẻ Nghệ An nói riêng và Việt Nam nói chung khi đất nước đang trong đà đi tới hội nhập và phát triển.

Giải pháp

Thực hiện nhiều chương trình tuyên truyền và giảng dạy để nâng cao hiểu biết của người dân về vấn đề dân số và tầm quan trọng của vấn đề này. Từ đó thực hiện các chương trình giáo dục thay đổi hành vi. Cần thực hiện phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị sở ngành, cụ thể là Sở Giáo dục  và Đào tạo - Sở Y tế - Đài Phát thanh, Truyền hình. Qua đây, nâng cao khả năng tiếp cận đối với các dịch vụ về sức khỏe, bao gồm kế hoạch hóa gia đình.

Mở rộng hơn nữa các cơ hội về giáo dục, nâng cao hiểu biết cho con người: một thực tế chứng minh rằng những người phụ nữ và nam giới có giáo dục có xu hướng muốn một gia đình nhỏ hơn. Mặt khác, đầu tư hơn vào phụ nữ, dễ nhận thấy những phụ nữ có học sẽ có nhiều quyền lựa chọn hơn, có tiếng nói hơn trong gia đình và trong xã hội, khi vai trò phụ nữ được tăng lên, tình trạng "trọng nam khinh nữ" cũng sẽ được khắc phục bởi lẽ đây chính là một trong những nguyên nhân của việc sinh nhiều con dẫn đến tỉ lệ gia tăng dân số nhanh.

Nâng cao nhận thức của người dân về tình trạng tệ nạn xã hội hiện nay. Ngoài sự vào cuộc của các cơ quan chức năng, mỗi người, mỗi gia đình cần thực hiện tốt các quy định pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội, thực hiện tốt cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới", "đô thị văn minh" và các cuộc vận động khác. Ðó chính là thứ "vũ khí" hiệu quả để đề phòng các tệ nạn ma túy xâm nhập từ mỗi cá nhân, mỗi gia đình.

Đưa nội dung về giáo dục giới tính, kỹ năng sống cho trẻ tại các trường học, xây dựng môn học chính quy về nội dung này. Nhằm xây dựng nền tảng sống lành mạnh trong tư duy của con em chúng ta, và các em cũng sẽ không bỡ ngỡ, lo sợ khi bước vào một thế giới phát triển của con người, nhằm tiến tới hòa bình, thân thiện.

Tạo cơ hội, môi trường khởi nghiệp cho lớp trẻ. Hiện nay, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn triển đang khai cuộc thi "Ý tưởng khởi nghiệp sáng tạo thanh niên nông thôn lần thứ III" năm 2019 đến các huyện, thành, thị Đoàn và Đoàn các đơn vị trực thuộc. Mô hình này cần nhân rộng và lấy đây là nhiệm vụ hàng năm nhằm thúc đẩy, phát triển phong trào lập nghiệp, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và hoạt động nghiên cứu khoa học trong đoàn viên, thanh niên và sinh viên. Trên cơ sở đó góp phần vào việc lan tỏa tinh thần khởi nghiệp, cung cấp kiến thức và kỹ năng khởi nghiệp, tìm kiếm và hỗ trợ thực hiện những ý tưởng sáng tạo, dự án, sáng kiến khởi nghiệp trong đoàn viên, thanh niên và sinh viên. Ngoài ra, cũng nhằm thu hút sự quan tâm, hỗ trợ của nhà khoa học, chuyên gia kinh tế, nhà đầu tư, doanh nghiệp và toàn xã hội đối với các ý tưởng, sáng kiến, sáng tạo khởi nghiệp.

Phân bố lại dân cư và lao động, thúc đẩy đầu tư phát triển công nghiệp giữa các vùng núi cao, trung du, đồng bằng và ven biển trên địa bàn tỉnh nhằm khai thác tài nguyên và sử dụng tối đa nguồn lao động của tỉnh. Ngoài ra cần hạn chế đến mức tối đa việc di dân tự do.

Thu hút người tài bằng nguồn thu và môi trường làm việc. Có thể thấy thu nhập và môi trường làm việc là hai yếu tố có ý nghĩa quyết định khi lựa chọn công việc của một người. Thu nhập có thể kém một chút so với những chỗ khác thì người lao động vẫn lựa chọn khi thỏa mãn về môi trường làm việc, đó là yếu tố con người được coi trọng, văn hóa doanh nghiệp vững mạnh cụ thể trong công việc hàng ngày, cách giao tiếp với đồng nghiệp, đối tác, khách hàng,… không khí làm việc, mối quan hệ giữa lãnh đạo với nhân viên và giữa các đồng nghiệp với nhau, xây dựng quy định rõ ràng về giới hạn quyền lợi, trách nhiệm của từng người, có chế độ thưởng phạt rõ ràng,… Điều này giúp cho nhân viên thấy rõ được những tiềm năng phát triển của đơn vị, công ty và có thể an tâm cống hiến.

Đầu tư và phát huy tối đa nguồn lực thiên nhiên mang lại, phát triển ngành du lịch trọng điểm, trong đó chủ trọng các danh lam thắng cảnh ở miền núi (Vườn quốc gia Pù Mát, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt,…) và vùng biển (Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Cửa Lò,…). Xây dựng bức tranh ấn tượng về một tỉnh đậm đà bản sắc dân tộc, thiên nhiên hùng vĩ nhằm giới thiệu du khách trong và ngoài nước đến thưởng thức, từ đó tạo công ăn việc làm cho người dân, tăng nguồn thu cho địa phương, tránh việc di dân tự do cũng như tạo sự phát triển đồng đều bền vững cho tỉnh ở hiện tại và tương lai.

 

Chú thích

(1). Số liệu Niên giám Thống kê Nghệ An 2018.

(2). Cục Thống kê Nghệ An, Báo cáo tháng thiên tai, cháy nổ.

(3). Cục Thống kê Nghệ An, Báo cáo tình hình an toàn xã hội.

Tài liệu tham khảo:

1. BCĐ Tổng điều tra Dân số và nhà ở tỉnh Nghệ An (2010), Các kết quả chủ yếu Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009.

2. BCĐ Tổng điều tra Dân số và nhà ở Trung ương (2019), Báo cáo "Tổ chức thực hiện và kết quả sơ bộ".

3. Cục Thống kê Nghệ An, Báo cáo quý tình hình thiên tai, cháy nổ, trật tự xã hội năm 2018, 2019.

4. https://cacnuoc.vn, "Bùng nổ dân số, suy thoái môi trường, đói nghèo tiếp tục gia tăng".

5. http://thuthuat.taimienphi.vn, "Vấn đề dân số đã được thể hiện như thế nào trong văn bản Bài toán dân số của Thái An".

6. https://vi.wikipedia.org/wiki/Nghệ An.

 

Nguyễn Thị Tùng - Hoàng Thị Thu Hoài

 

Trong hệ thống các môn lý luận chính trị hiện nay đang giảng dạy tại Trường Đại học Kinh tế Nghệ An, môn Triết học Mác - Lê Nin giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp thế giới quan, phương pháp luận cho sinh viên nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan.

Một trong những đặc trưng của tri thức triết học là tính khái quát hóa, trừu tượng hóa, nhưng không xa rời với thực tiễn. Do đó, nhận thức triết học là giúp người học hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Nhưng trên thực tế giảng dạy môn Triết học Mác - Lê Nin hiện nay đang đặt ra một số vấn đề xuất phát từ chính người dạy và người học. Phương pháp giảng dạy của các giảng viên đã có sự đổi mới, nhưng kết quả không cao, trong lúc lượng tri thức lý luận cung cấp cho sinh viên quá lớn, nhiều lúc chỉ đơn thuần giảng về mặt khái niệm mà không liên hệ thực tiễn. Điều đó, làm cho sinh viên thấy học tập môn Triết học Mác - Lên Nin khô khan, khó hiểu, xa rời thực tiễn. Để khắc phục tình trạng này, trong quá trình giảng dạy, đòi hỏi giảng viên phải quán triệt, vận dụng một cách sáng tạo quan điểm lịch sử - cụ thể để giúp sinh viên dễ tiếp thu tri thức triết học.

Qua thực tế giảng dạy Triết học, chúng tôi thấy rằng: Một là, đa phần sinh viên vẫn còn ngại học môn Triết học vì cho rằng nó khô khan, nhàm chán, trừu tượng, khó hiểu, hàn lâm và không bám sát thực tế. Triết học bàn đến những vấn đề thuộc về thế giới quan, bản thể luận - những tri thức vẫn còn xa lạ với sinh viên. Hai là, số ít sinh viên quan tâm thì chủ yếu là do hiếu kỳ trước những sự kiện mang tính chất tiêu cực hay chỉ quan tâm đến điểm số hoặc học cho xong nội dung chương trình môn học, miễn sao sau khi kết thúc môn học không phải thi lại là cảm thấy thỏa mãn. Ba là,  nội dung có xu hướng nghe ngóng từ những sai lầm, hạn chế mắc phải trong quá trình lãnh đạo của Đảng, mà ít đi vào tìm hiểu nguyên nhân mà thực tiễn đã xảy ra. Bốn là, các bài học, ý nghĩa thực tiễn và lý luận được tổng kết, đúc rút lại ít được chú ý, ghi nhớ và vận dụng vào hoạt động nhận thức và thực tiễn của sinh viên. Năm là, do tính chất nhiều sinh viên vừa đi làm thêm, vừa đi học nên đôi lúc còn tranh thủ việc riêng; chính vì vậy chưa thực sự đầu tư nghiên cứu học tập và đề xuất các giải pháp cho nội dung mà bản thân đang theo học để mang lại hiệu quả cao hơn.

Nguyên nhân của thực trạng nói trên có thể có nhiều. Trong đó theo chúng tôi có mấy nguyên nhân chính sau đây:

Một, chúng ta cần phải nghiêm túc nhìn lại vai trò của người thầy trong quá trình giảng dạy. Điều 15, Luật Giáo dục (năm 2005) quy định: "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục" và gần đây, tại Hội nghị Trung ương 8, Khóa XI, trong Nghị quyết về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 29-NQ/TW) Đảng ta cũng yêu cầu phải: "Nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục"(1). Tuy nhiên trên thực tế, không ít giảng viên chưa thực hiện tốt vai trò người quyết định chất lượng giáo dục, cả về tinh thần trách nhiệm lẫn kiến thức chuyên môn.

Hai, hệ thống giáo trình, tài liệu tuy được sửa đổi, bổ sung nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu học tập môn Triết học Mác - Lê Nin của sinh viên các trường đại học. Từ những nhận thức như vậy, để góp phần nâng cao hiệu quả vận dụng quan điểm lịch sử - cụ thể vào giảng dạy môn Triết học Mác - Lê Nin ở Trường Đại học Kinh tế Nghệ An, theo chúng tôi trước mắt cần phải thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, giảng viên phải tổng quan được toàn bộ nội dung bài học một cách hệ thống, vững vàng và chuyên sâu. Kiến thức giáo trình thể hiện cơ sở pháp lý mà giảng viên cung cấp cho sinh viên nhưng đó mới chỉ là kiến thức nền, phông cơ bản nên để khai thác sâu, hay, dễ nghe, dễ hiểu, vận dụng hiệu quả thì giảng viên cần đọc nhiều, đi thực tế nhiều, trao đổi thảo luận phong phú tại các diễn đàn và cần có phông kiến thức nền rộng và sâu… để cung cấp cho người học một lượng kiến thức thực tiễn mang tính khoa học, thuyết phục và hiệu quả cao.

Thứ hai, bài giảng ở từng mục, phần, cần được phân tích, đánh giá, bóc tách để hiểu được chân lý của vấn đề đặt ra. Muốn làm được điều đó giảng viên cần phải xác định đúng trọng tâm, trọng điểm để vận dụng vấn đề. Xác định được tính toàn diện của nội dung để quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể khi chuyển tải nội dung, chương trình.

Thứ ba, rút ra bài học kinh nghiệm nhằm quán triệt quan điểm đúng đắn, liên hệ, vận dụng lý luận với thực tiễn, đồng thời rút ra ý nghĩa của vấn đề. Để làm được điều đó, giảng viên phải lập kế hoạch bài giảng và phương pháp lên lớp phù hợp, vận dụng nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học tích cực theo tiếp cận phát triển năng lực; sử dụng tốt các kỹ thuật dạy học…

Thứ tư, vấn đề gắn lý luận với thực tiễn trong giảng dạy Triết học Mác - Lê Nin tại Trường Đại học Kinh tế Nghệ An cần được xác định rõ là thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các bài học, kinh nghiệm, nghệ thuật... Thông qua vai trò, vị trí của giảng viên, định hướng cho sinh viên vận dụng những kiến thức đã học vào các môn học tiếp theo và vận dụng công việc của bản thân tại lớp học, địa phương mình. Từ đó xử lý các vấn đề đạt hiệu quả cao.

Thứ năm, bằng thực tiễn khách quan, quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể để phân tích các nội dung, tính chất… tránh quan điểm phiến diện, siêu hình, chủ quan, duy ý chí. Khi quán triệt, liên hệ, vận dụng cần xác định đúng tính phổ biến, đâu là tính đặc thù, tính toàn diện. Tránh chiết trung, ngụy biện…

Thứ sáu, bám sát sự vận động trong thực tiễn xây dựng mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

Nhận thức đúng về những quy luật khách quan của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực xây dựng dựa trên các quy luật kinh tế thị trường cơ bản (quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ), nhưng đồng thời phải bảo đảm được sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Đây là quy luật nền tảng đối với bất cứ một nền kinh tế nào, đặc biệt ở Việt Nam đang định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội XII của Đảng xác định: "Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch phù hợp với cơ chế thị trường"(2).

Do vậy, Đảng ta xác định là phải phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao, hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phải từng bước xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, điều đó có nghĩa là phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Muốn hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì cần phải thực hiện đồng bộ các vấn đề sau: Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường; phát triển các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp; phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường; nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Một yêu cầu tất yếu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là các thành phần kinh tế cạnh tranh một cách bình đẳng, thành phần kinh tế nhà nước nắm vai trò chủ đạo. Các hình thức phân phối vừa đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế, vừa đáp ứng yêu cầu thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay từng bước phát triển. Quan hệ sản xuất phù hợp cũng được xác định trên cơ sở mâu thuẫn giữa xã hội tư bản chủ nghĩa (thực hiện chế độ tư hữu) và xã hội xã hội chủ nghĩa (thực hiện chế độ công hữu là chủ yếu), đây là hai mặt đối lập về cách nhìn nhận, quan điểm sử dụng công cụ "công hữu" và "tư hữu".

Thứ bảy, xây dựng và phát triển con người Việt Nam toàn diện đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Giảng dạy môn Triết học Mác - Lê Nin chúng ta cần phải làm rõ tinh thần xây dựng con người Việt Nam ở Đại hội XII của Đảng là phát triển con người toàn diện. Con người luôn là chủ thể của các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội, đồng thời luôn làm cho các hoạt động đó phát triển để đáp ứng nhu cầu phát triển của con người và xã hội. Trong quá trình công nghiệp hóa, các hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển theo đúng xu thế vận động của lịch sử, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội ngày càng lớn, thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người. Chính vì vậy, đòi hỏi hoạt động của con người phải có sự phát triển tương ứng, phải không ngừng hoàn thiện mình về mọi mặt, cả số lượng lẫn chất lượng - nhất là chất lượng.

Để đưa đất nước phát triển, hội nhập kinh tế, quốc tế trong thời gian tới, Đại hội lần thứ XII của Đảng đã xác định xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện cùng tiến hành đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực với mục tiêu: "Phấn đấu những năm tới, tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực"(3). Để đảm bảo được mục tiêu đó, các giảng viên giảng dạy môn Triết học Mác - Lê Nin, cần phải giúp sinh viên nhìn nhận, trong bối cảnh hiện nay, để có được niềm tin chính trị làm động lực thúc đẩy hoạt động học tập và làm việc của mình thì không ngừng củng cố sự hiểu biết đúng đắn, nâng cao khả năng làm chủ, phát triển về mặt thể chất, tạo lập và củng cố tư duy khoa học. Nó định hướng giá trị cho học viên về cuộc sống hôm nay: Có kiến thức, có bằng cấp, có việc làm, sống có mục đích. Từ đó sinh viên vừa quan tâm đến lợi ích cá nhân, lợi ích gia đình và làm giàu chân chính, đồng thời coi trọng lợi ích chung của cộng đồng, đất nước. Học tập, rèn luyện để có kiến thức, kỹ năng tốt, là để lập thân, lập nghiệp, làm giàu cho mình, gia đình và cống hiến cho xã hội, vì một đất nước phồn vinh, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu.

Trong bối cảnh hiện nay, để có được niềm tin chính trị làm động lực thúc đẩy hoạt động học tập và làm việc của người học thì cần phải không ngừng củng cố sự hiểu biết đúng đắn, nâng cao khả năng làm chủ, phát triển về mặt thể chất, tạo lập và củng cố tư duy khoa học. Để làm được như vậy, phải tăng cường trang bị lập trường thế giới quan khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cho người học. Thông qua giáo dục lập trường chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp biện chứng giảng viên giúp và cần có quan điểm lịch sử cụ thể để sinh viên thoát khỏi sự ảo tưởng, chờ đợi vào cuộc sống tốt đẹp do toàn cầu hóa và kinh tế thị trường mang lại. Giúp sinh viên nhận thức và cải tạo cuộc sống bằng trí tuệ, niềm tin và tình cảm lành mạnh để đạt được mục tiêu của bản thân và hành động vì mục tiêu của đất nước.

Chú thích

1. Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Tin-noi-bat/Ban-hanh-Nghi-quyet-ve-doi-moi-can-ban-toan-dien-giao-duc/184826.vgp.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2016, tr.tr.102-103.193.115.126,127.

3. Hồ Chí Minh (2002), toàn tập, tập 8, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.499.

 

Chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới (2011-2020) đang bước vào giai đoạn cuối với nhiều thành tựu đạt được nhưng biểu lộ nhiều vấn đề bất cập cần phải giải quyết. Trong xây dựng nông thôn mới, vấn đề văn hóa giữ một vai trò quan trọng. Để xây dựng các giá trị văn hóa mới thì việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vốn có ở nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng, cũng là một thách thức lớn hiện nay. Trong hơn nửa thế kỷ qua, di sản văn hóa ở nông thôn trải qua nhiều thăng trầm, nhưng nó luôn có sức sống mạnh, và luôn giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nông thôn. Di sản văn hóa ở nông thôn cũng luôn được bồi đắp qua những giai đoạn và những biến động lịch sử, tạo thành những lớp tầng chồng lên nhau và làm nền móng cho sự phát triển nông thôn. Vậy nên, làm sao để bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa trong quá trình xây dựng nông thôn mới hiện nay và giai đoạn tiếp theo (2021-2030) là một vấn đề quan trọng được nhiều người quan tâm. Để góp phần thảo luận thêm về vấn đề này, chúng tôi đã có buổi trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ Tô Duy Hợp, một chuyên gia hàng đầu về Xã hội học Nông thôn, nguyên Trưởng phòng Xã hội học Nông thôn, Viện Xã hội học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.

 

Phóng viên (PV): Thưa Giáo sư, là một nhà khoa học dành nhiều tâm huyết trong mấy chục năm để nghiên cứu về nông thôn Việt Nam, ông quan niệm thế nào về di sản văn hóa nông thôn? Làm sao để nhận diện được những di sản văn hóa nông thôn hiện nay?

GS.TS Tô Duy Hợp: Di sản văn hóa (Cultural Heritage) nói chung và ở nông thôn nói riêng là những thành quả hoạt động văn hóa của các thế hệ trước còn lưu giữ lại cho thế hệ sau. Di sản văn hóa vật thể dễ nhận diện trực tiếp, như các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc. Di sản văn hóa phi vật thể có thể tìm hiểu qua ý nghĩa của các biểu tượng đặc trưng, như qua ngôn ngữ văn học, nghệ thuật, hay qua biểu tượng tín ngưỡng và tôn giáo, hay qua các phạm trù, nguyên lý triết học,... Kết cấu hạ tầng ở các làng - xã bao gồm hệ thống điện, đường sá, trường học, trạm xá, kiến trúc khu nhà ở, kiến trúc khu sản xuất - kinh doanh, kiến trúc đình, chùa, nhà văn hóa thôn/bản chính là di sản văn hóa vật thể ở nông thôn. Còn kho tàng văn nghệ dân gian và bác học, triết lý dân gian và khoa học, tín ngưỡng dân gian và tôn giáo,... đều là di sản văn hóa phi vật thể ở nông thôn xưa và nay.

PV: Có thể nói nông thôn Việt Nam được chia thành hai phần rõ rệt là nông thôn miền núi và nông thôn miền xuôi (đồng bằng và trung du) với những điều kiện văn hóa xã hội đặc thù. Là một nhà nghiên cứu về nông thôn nhiều năm, ông có thể chỉ ra những điểm khác nhau cơ bản giữa di sản văn hóa vùng nông thôn miền núi với di sản văn hóa ở nông thôn miền xuôi?

GS.TS Tô Duy Hợp: Nông thôn miền xuôi và nông thôn miền núi ở nước ta có nhiều khác biệt rõ nét. Một là, khác biệt môi trường địa chất và địa lý: đó là sự khác biệt địa hình thấp - cao so với mặt nước biển, khác biệt về nguồn tài nguyên, khoáng sản; hai là, khác biệt môi trường sinh thái, đa dạng sinh học: nông thôn miền xuôi thì chủ về cây, con nông nghiệp, thủy và hải sản; trái lại, nông thôn miền núi thì chủ về cây, con lâm nghiệp; Ba là, khác biệt dân số, tộc người: Ở nông thôn miền xuôi chủ yếu là tộc người Kinh, với mật độ dân số cao, nhất là vùng nông thôn ven đô thị; trái lại, ở nông thôn miền núi chủ yếu là các tộc người thiểu số, với mật độ dân số rất thấp, tuy có sự đan xen với tộc người Kinh, song ở nông thôn miền núi, tộc người thiểu số (mặc dù là đa số trên quy mô quốc gia); Bốn là, khác biệt trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Mức sống (bao gồm thu nhập, chi tiêu, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt,...) của nông thôn miền xuôi nói chung cao hơn so với nông thôn miền núi; Năm là, khác biệt về trình độ phát triển văn hóa, văn minh: mức độ thị trường hóa, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quốc tế hóa ở nông thôn miền xuôi nói chung cao hơn so với ở nông thôn miền núi; Sáu là, khác biệt về bản sắc, đa dạng văn hóa, văn minh: thí dụ ở nông thôn miền xuôi có văn minh nông nghiệp lúa nước, định canh định cư, trong khi ở nông thôn miền núi có văn minh nông nghiệp nương rẫy, du canh du cư; ở nông thôn miền xuôi có tín ngưỡng thờ thành hoàng làng, thờ thủy thần hay hải thần, trong khi ở nông thôn miền núi có phong tục thờ thần núi, cúng ma rừng...

PV: Chính sách nhà nước luôn là một yếu tố quan trọng tác động đến đời sống kinh tế xã hội và văn hóa ở nông thôn. Nó cũng ảnh hưởng đến sự tồn vong của các di sản văn hóa nông thôn. Trên cương vị một nhà nghiên cứu, ông đánh giá thế nào về ảnh hưởng của các chính sách của Đảng và Nhà nước về di sản văn hóa nông thôn trong hơn nửa thế kỷ qua?

GS.TS Tô Duy Hợp: Chính sách quản lý, phát triển của Nhà nước luôn giữ một vai trò quan trọng trong sự biến đổi xã hội. Chính sách luôn tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến thực tiễn cuộc sống. Nếu những chính sách được ban hành là chính sách đúng đắn, phù hợp và được tổ chức thực hiện có hiệu quả thì sẽ tác động tích cực đến thực tiễn. Và ngược lại, nếu chính sách ban hành một cách chủ quan, duy ý chí, không phù hợp với thực tiễn thì sẽ tác động tiêu cực đến cuộc sống người dân, đến sự phát triển của đất nước.

Liên quan đến vấn đề phát triển nông thôn, nhà nước Việt Nam hiện đại, do Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền lãnh đạo, quản lý đã trải qua một số giai đoạn lớn. Trong mỗi giai đoạn này, thì sự tác động đến đời sống văn hóa nông thôn nói chung và các di sản văn hóa nông thôn nói riêng cũng khác nhau. Cụ thể:

1)- Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8/1945 đến kết thúc kháng chiến chống thực dân Pháp (giữa năm 1954): Nông thôn Việt Nam chủ yếu tham gia kháng chiến, theo chủ trương của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Đối với các làng - xã kháng chiến thì di sản văn hóa làng - xã mất mát nhiều do thiên tai, địch họa; tuy nhiên nhân dân nông thôn tin tưởng nhất định sẽ được khôi phục và phát triển khi kháng chiến thắng lợi.

2)- Giai đoạn khôi phục kinh tế - xã hội và xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật xã hội chủ nghĩa, từ giữa năm 1954 đến 30/4/1975, được quen gọi là thời kỳ bao cấp xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Việt Nam. Cuộc cải cách ruộng đất ở nông thôn miền Bắc đã đưa đến hậu quả lợi bất cập hại! Đảng cầm quyền đã thừa nhận sai lầm to lớn của cải cách ruộng đất, trong đó có sự phá hoại di sản văn hóa dân tộc, và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận lỗi trước nông dân ở nông thôn miền Bắc. Phong trào hợp tác hóa, mà thực chất là tập thể hóa nông nghiệp, nông thôn rập khuôn mô hình chủ nghĩa xã hội Xô viết cũng đã dẫn tới hậu quả lợi bất cấp hại!

3)- Khủng hoảng kinh tế - xã hội trên phạm vi cả nước nói chung, và khủng hoảng mô hình hợp tác xã ở nông thôn nói riêng từ sau 30/4/1975 đến cuối thập kỷ 80 chứng tỏ sự thất bại của mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu cũ rập khuôn mô hình chủ nghĩa xã hội Xô viết. Di sản văn hóa truyền thống vật thể và cả phi vật thể ở nông thôn đã bị hư hại, mất mát rất nhiều do cách mạng xã hội chủ nghĩa quá khích, lệch lạc.

4)- Giai đoạn từ 1986 đến nay, được quen gọi là Thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế trong bối cảnh gia tăng toàn cầu hóa toàn diện kinh tế - xã hội. Đây là thời kỳ nông thôn Việt Nam được khai phóng, tức là được khai sáng và được giải phóng. Di sản văn hóa nông thôn được phục hồi và phát huy, theo các phương thức khác nhau, như: kế thừa có đổi mới, phục hồi có cách tân, đổi ngôi khinh trọng,... Xu thế chung là tăng trưởng kinh tế, đổi mới chính trị, hòa nhập xã hội, đa dạng hóa văn hóa và văn minh. Tuy nhiên, không tránh khỏi bất cập, lệch lạc, và cả suy thoái, đặc biệt là suy thoái môi trường sống và suy đồi đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và của cư dân ở nông thôn, nhất là ở các làng - xã tăng trưởng kinh tế nhanh, mạnh bất chấp luật pháp, và cả luân thường, đạo lý làm người văn minh, hiện đại.

PV: Nói đến văn hóa thì trước hết, dễ dàng nhận diện nhất là văn hóa vật thể. Hệ thống văn hóa vật thể ở nông thôn, mà cụ thể hơn là các di tích lịch sử văn hóa gắn liền với đời sống nông dân như đền, chùa, đình, miếu, nhà thờ,… đã có nhiều biến động. Có thời kỳ chúng ta hủy hoại không thương tiếc. Rồi gần đây lại thành phong trào xây dựng lại rầm rộ nhưng vẫn đầy sự bất cập. Không biết Giáo sư nghĩ thế nào về vấn đề này?

GS.TS Tô Duy Hợp: Ứng xử với di sản văn hóa tùy thuộc vào nhận thức. Trong văn hóa vật thể mà nhiều người quan tâm thì cơ sở vật chất của các tôn giáo, tín ngưỡng có vai trò quan trọng. Đó là đền, chùa, đình, miếu, nhà thờ,… Đập phá hay tu bổ, xây mới đều do nhận thức con người mà ra. Đó cũng là một biểu hiện về mối quan hệ giữa Đời và Đạo. Mà mối quan hệ giữa Đạo và Đời ở nông thôn Việt Nam hiện nay đang có sự chuyển đổi to lớn so với thời kỳ bao cấp xã hội chủ nghĩa nói chung, tập thể hóa nông nghiệp xã hội chủ nghĩa nói riêng. Trước đây, triết lý vô đạo, chủ nghĩa vô thần được truyền bá và được lưu hành rộng khắp cả nước nói chung, và ở nông thôn nói riêng thì người ta xem các tôn giáo, tín ngưỡng như là kẻ thù, là sự lạc hậu, mê tín, từ đó dẫn đến việc đập phá các cơ sở vật chất của các tín ngưỡng, tôn giáo, làm hư hại nhiều di sản văn hóa vật thể (và cả phi vật thể). Thì ngày nay, triết lý sùng đạo, chủ nghĩa hữu thần đang lên ngôi! Người ta ồ ạt xây lại đền, chùa, đình, nhà thờ, thậm chí xây mới nhiều cái mà trước đó ở khu vực đó không có. Những ngôi chùa trăm tỷ thậm chí ngàn tỷ mọc lên. Điều này chưa hẳn là họ tôn trọng các di sản văn hóa vật thể, nhưng nó cho thấy đời sống tâm linh đang thay đổi. Xu hướng đạo hóa, thần thánh hóa này có tính 2 mặt đan xen nhau rất phức tạp, khó phân biệt lợi/hại, thực/giả, đúng/sai, thiện/ác, đẹp/xấu, linh thiêng/phàm tục. Nếu ai cũng sống tốt đời đẹp đạo thì sẽ có sự hài hòa giữa thực dụng và tâm linh. Nhưng nếu có sự lợi dụng, lạm dụng di tích tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh để lừa đảo, để làm giàu bất chính, để giết người thì như thế là vi phạm pháp luật, là phản đạo đức, là bất nhân.

PV: Bên cạnh văn hóa vật thể thì văn hóa phi vật thể ở nông thôn cũng thay đổi nhanh chóng. Là nhà nghiên cứu lâu năm, Giáo sư nhận xét thế nào về sự thay đổi của văn hóa phi vật thể ở nông thôn hiện nay?

GS.TS Tô Duy Hợp: Theo quy luật chậm trễ văn hóa (Cultural Lag) thì nói chung văn hóa phi vật thể thay đổi chậm hơn so với văn hóa vật thể; cũng tương tự như vây, văn minh tinh thần thay đổi chậm hơn so với văn minh vật chất. Sau hơn 30 năm đổi mới, nhất là trong phong trào xây dựng nông thôn mới hiện nay, các yếu tố văn hóa vật thể nhanh chóng được trùng tu, xây lại hoặc xây mới. Tuy nhiên, các yếu tố văn hóa phi vật thể thì vẫn còn bị chậm trễ trong thay cũ đổi mới, chẳng hạn như hoạt động sản xuất - kinh doanh đã chủ động chuyển sang cơ chế thị trường hiện đại, tích cực hội nhập thị trường quốc gia và quốc tế; tuy nhiên tư duy kinh tế thì vẫn lẩn quẩn trong cơ chế xin - cho thời kỳ hợp tác xã, bao cấp xã hội chủ nghĩa kiểu cũ...

Trong đổi mới tư duy thì đổi mới tư duy kinh tế đã vượt trước quá nhanh, mạnh; tư duy tôn giáo gần như đột biến; trong khi tư duy chính trị, tư duy pháp luật, tư duy giáo dục, tư duy y tế vẫn bị chậm trễ, tạo nên tình trạng bất cập, không đồng bộ giữa các loại hình văn hóa phi vật thể. Tuy nhiên, cũng có trường hợp văn hóa tư tưởng vượt trước văn hóa kinh tế. Nhưng trong văn hóa phi vật thể, ở nông thôn cũng chuyển mình mạnh mẽ, và đa dạng hơn. Nó không chỉ đơn thuần theo thuyết tiến hóa, mà là theo các vòng xoắn trôn ốc phức tạp hơn. Các yếu tố văn hóa cũ xen lẫn, tích hợp vào các yếu tố văn hóa mới. Nó cũng thể hiện sự đa dạng trong cuộc sống nông thôn hiện nay. Đa dạng cả về cá nhân lẫn cộng đồng, cả dân tộc lẫn vùng miền. Người dân tộc Kinh thì Tây hóa, Người dân tộc thiểu số thì Kinh hóa, đó là xu thế chung của quá trình hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh gia tăng toàn cầu hóa toàn diện kinh tế - xã hội. Tuy nhiên đây không phải là xu thế duy nhất được lựa chọn. Ở nông thôn miền xuôi người ta có thể lựa chọn phương thức hiện đại hóa phi phương Tây hóa; và ở nông thôn miền núi người dân có thể lựa chọn hiện đại hóa phi Kinh hóa. Đó là cách lựa chọn hiện đại hóa theo nghĩa kế thừa, phát huy, và phát triển tinh hoa truyền thống văn hóa dân tộc.

PV: Thưa Giáo sư, chính sách liên quan đến phát triển nông thôn hiện nay có phải là một tác nhân quan trọng làm ảnh hưởng đến di sản văn hóa ở nông thôn? Những cái được và cái chưa được của những chính sách này là gì?

GS.TS Tô Duy Hợp: Chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020 đang là một tác nhân quan trọng nếu không muốn nói là có tính quyết định làm ảnh hưởng đến chiến lược phát triển nông thôn toàn diện kinh tế - xã hội nói chung, đến bảo tồn, và phát huy di sản văn hóa ở nông thôn nói riêng. Phong trào xây dựng nông thôn mới này về cơ bản phù hợp với Chương trình nghị sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc tính đến 2030 và xa hơn nữa. Các chính sách cũng đã tạo cơ sở vật chất cho việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa nông thôn với nhiều khái niệm mới như công nghiệp hóa văn hóa, kinh tế di sản… Đó là thuận lợi lớn cho nông thôn Việt Nam hội nhập quốc tế và tham gia toàn cầu hóa. Tuy nhiên cần cảnh báo một số bất cập, và lệch lạc của khung 19 tiêu chí xây dựng xã nông thôn mới: đó là cuộc chạy đua theo thành tích số lượng hơn là chất lượng, khuôn mẫu áp đặt từ trên xuống hơn là dân chủ tham gia từ dưới lên, không kiểm soát được tệ nạn tham nhũng qua các dự án phát triển nông thôn, không ngăn chặn được tình trạng ô nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên do tăng trưởng kinh tế với mọi giá,... Những cuộc chạy đua thành tích này có thể hủy hoại di sản văn hóa theo cách này hay cách khác mà nếu không cẩn thận thì hệ quả là to lớn. Để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong bối cảnh hiện nay cần có tư duy cởi mở, sự trân trọng thật sự các giá trị văn hóa để tránh những cái nhìn hẹp hòi, khô cứng và lệch lạc.

PV: Mỗi di sản đều mang trên mình những chứng tích và có những giá trị văn hóa riêng của nó. Nhưng nhiều năm trở lại đây ở nông thôn rộ lên việc làm hồ sơ xin công nhận di tích lịch sử văn hóa các cấp quốc gia và cấp tỉnh. Việc xếp hạng di tích như vậy đã tác động không nhỏ đến bảo tồn di sản văn hóa ở nông thôn. Giáo sư đánh giá thế nào về vấn đề này?

GS.TS Tô Duy Hợp: Chúng ta cần nhận thức tính hai mặt của vấn đề này. Trước hết, việc tiến hành xếp hạng di sản văn hóa như vậy có giá trị tích cực là đã tổ chức đánh giá, phân loại lại các di tích và tăng cường việc quản lý chặt chẽ các di sản văn hóa. Dù cũng có lúc chất lượng khoa học của các bộ hồ sơ di sản văn hóa còn hạn chế, nhưng ít ra nó vẫn phải thể hiện được các đặc điểm cơ bản của di sản đó, từ mô tả di sản đến giá trị lịch sử văn hóa của di sản. Nó giúp cho người ta tiếp cận dễ dàng hơn. Tuy nhiên, mặt trái của nó là làm cho những di tích khác chưa được xếp hạng lại bị bỏ rơi. Di tích, di sản văn hóa luôn gắn với các giá trị văn hóa riêng của nó và rất khó để đánh giá rằng giá trị di tích này lớn hơn giá trị di tích kia vì nó mang những thông tin lịch sử văn hóa khác nhau gắn với các cộng đồng nhiều khi khác nhau. Đó là chưa kể đến việc chạy chọt trong quá trình làm hồ sơ và công nhận xếp hạng di tích, di sản văn hóa. Để phát huy những mặt tích cực và hạn chế các tiêu cực thì ngoài việc ban hành các chính sách hợp lý, cần những nhà quản lý có tâm, có tầm và biết trân quý di sản văn hóa, di tích lịch sử. Sau đó là tập hợp được các nhà nghiên cứu tâm huyết cùng tham gia vào vấn đề này. Trên tất cả là phải tôn trọng quyền làm chủ của chủ thể di sản, di tích lịch sử.

PV: Trong mấy năm gần đây, nhiều địa phương lựa chọn con đường kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư vào kinh tế di sản, góp phần để xã hội hóa, bảo tồn di sản văn hóa ở nông thôn. Nhưng việc làm này cũng để lại nhiều vấn đề bất cập. Nhiều khi những người quản lý không đủ bản lĩnh thì dễ làm thay đổi cảnh quan, méo mó các giá trị văn hóa của di tích. Theo Giáo sư, liệu cách làm như vậy có ổn không?

GS.TS Tô Duy Hợp: Kêu gọi doanh nghiệp tham gia vào phát triển kinh tế di sản để bảo tồn di sản văn hóa là một con dao hai lưỡi. Một mặt, nó tạo điều kiện về cơ sở vật chất, tiền bạc cho việc bảo tồn di sản văn hóa, góp phần phát huy giá trị văn hóa, đưa văn hóa tham gia vào các hoạt động kinh tế để tạo ra lợi nhuận. Qua đó cũng quảng bá nhiều giá trị văn hóa ra các đối tượng khác một cách rộng lớn hơn. Nhưng mặt khác, khi các doanh nghiệp lợi dụng việc này để kinh doanh văn hóa thì lại vô cùng nguy hiểm. Khu Bãi Đính là một ví dụ đã được nhiều nhà nghiên cứu và dư luận xã hội quan tâm. Gần đây là việc bê bối liên quan đến các nhà chùa, đến việc buôn thần bán thánh hay lợi dụng xây chùa mà chiếm đoạt đất đai, phá hủy các tài nguyên khác như vụ việc chùa Ba Vàng, vụ việc xây chùa của Sun Group đang được dư luận xã hội quan tâm… Nói vậy không có nghĩa là cấm các doanh nghiệp đầu tư vào kinh tế di sản, mà là phải có những chính sách, cơ chế quản lý phù hợp và hiệu quả. Phải tránh tình trạnh doanh nghiệp móc ngoặc với cán bộ quản lý lợi dụng việc bảo tồn di sản văn hóa để trục lợi, làm tàn hại di sản văn hóa và làm mất niềm tin của người dân.

PV: Nông thôn luôn giữ một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước ta. Vậy nên bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa nông thôn sao cho hợp lý và hiệu quả là vấn đề quan trọng. Là người quan tâm đến sự phát triển của nông thôn, xin Giáo sư gợi mở thêm vài điều cần thiết để làm được điều đó trong bối cảnh hiện nay?

GS.TS Tô Duy Hợp: Có nhiều cách tiếp cận khác nhau và mỗi cách tiếp cận cho chúng ta những nhận thức cũng như hành động khác nhau. Không có cách tiếp cận vấn đề nào là chính xác và duy nhất cả. Theo hướng tiếp cận lý thuyết Khinh Trọng mà tôi đã nhiều lần đề xuất và đã có những nghiên cứu cụ thể, về vĩ mô, chúng ta nên chọn đường lối phát triển lành mạnh, tức là phát triển toàn diện, hài hòa, bền vững; thực hiện chiến lược tam hóa, bao gồm: 1)- Hiện đại hóa di sản văn hóa tam nông Việt, tức là nông dân Việt, nông nghiệp Việt, nông thôn Việt; 2)- Việt Nam hóa di sản văn hóa tam nông du nhập; 3)- Lành mạnh hóa việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa trong xây dựng nông thôn mới gắn xây dựng đô thị thông minh phù hợp với cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.

Xin chân thành cảm ơn Giáo sư vì những chia sẻ thú vị này! Hẹn gặp lại ông trong một cuộc trao đổi về nông thôn vào dịp khác!

Phóng viên

 

Xây dựng nông thôn mới ở thôn, bản - Cái nhìn đa chiều từ thực tiễn

LTS: Nghệ An là một trong những địa phương thuộc tốp đầu cả nước về thành tích xây dựng nông thôn mới. Với một vùng miền núi rộng lớn, có nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh sống và hầu hết đều gặp khó khăn trong quá trình phát triển thì những thành tựu của quá trình xây dựng nông thôn mới là vô cùng to lớn. Tuy nhiên, cũng như nhiều địa phương khác, xây dựng nông thôn mới ở miền núi Nghệ An có nhiều hạn chế nhất định. Và những hạn chế này cần được tìm hiểu, đưa ra quyết sách hợp lý để làm cho quá trình phát triển miền núi trong giai đoạn tiếp theo hiệu quả hơn.

Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn lược đăng ý kiến của đại diện các thôn, bản, làng đã đạt chuẩn nông thôn mới và những thôn bản đang trên đà xây dựng các tiêu chí nông thôn mới về những kết quả đạt được, những khó khăn, tồn tại và vướng mắc khi xây dựng cũng như khi đã đạt được danh hiệu. Từ đó có cách nhìn khách quan, đa chiều hơn về công tác xây dựng nông thôn mới ở thôn, bản trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiện nay.

 

Bà Kha Thị Mai - Cán bộ mặt trận Bản Na Lượng 1 (xã Hữu Kiệm, Kỳ Sơn):

"Người dân gồng mình để giữ danh hiệu"

Na Lượng 1 là một trong những bản có truyền thống hiếu học, nhiều người con đi ra thành đạt cũng như làm cán bộ huyện, xã…; sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, với các mô hình rau sạch ở Khe Ninh, thành lập HTX, xây dựng mô hình sản xuất rau sạch, lúc đầu có 9 hộ làm HTX, nay đã nhân rộng 42 hộ, hộ nghèo trong bản chỉ còn dưới 10%, bản đạt 15/15 tiêu chí.

Huyện Kỳ Sơn đã chọn và dồn mọi nguồn lực để xây dựng bản Na Lượng 1 thành bản nông thôn mới đầu tiên của huyện. Quá trình xây dựng nông thôn mới được tiến hành theo từng tiêu chí, ngoài sự hỗ trợ của nhà nước, phần lớn huy động nội lực của người dân. Ở tiêu chí giao thông nội thôn, nhà nước hỗ trợ xi măng, người dân hiến đất, hiến cây, ngày công. Tập trung hỗ trợ những hộ gia đình nghèo từng bước đi lên thoát nghèo, bằng sự đoàn kết, chung tay của dân bản, đến thời điểm hiện tại Na Lượng 1 còn 16 hộ nghèo và đang trên đà phấn đấu thoát nghèo trong năm 2019.

Tuy nhiên, sau khi nỗ lực hoàn thành các chỉ tiêu, về đích nông thôn mới, thì người dân nơi đây có thể nói đang "gồng mình" để giữ "danh hiệu" đó, bởi thực tế, còn nhiều bất cập, nguy cơ tái nghèo "rớt" danh hiệu luôn tiềm ẩn.

Là một bản vùng cao của huyện vùng cao, thường xuyên thiên tai, gió lốc, thực tế tại bản cho thấy tiêu chí như sân vận động dân bản xây dựng xong, đi vào hoạt động chưa được bao lâu, đã bị mưa lũ cuốn trôi, còn lại bãi cát trống, bao khó khăn chồng chất khó khăn. Để giữ vững tiêu chí thoát nghèo, ngoài vùng trồng rau sạch Khe Dinh thì dân bản đã băng rừng, len lỏi khắp nơi tìm những vùng đất bằng phẳng để phát triển kinh tế.

Đặc biệt, để giữ vững các tiêu chí sau khi đón nhận danh hiệu thật sự khó khăn với các hộ gia đình thôn bản, trong đó khó nhất là tiêu chí nâng cao thu nhập cho người dân. Nhân dân phải đi làm phi nông nghiệp, đi ra các tỉnh thành khác để làm thuê cho các công ty, khai phá đất rừng để làm kinh tế,… Tuy nhiên, vẫn khó để đảm bảo được thu nhập bình quân như đã quy định.

Khó khăn nữa là tiêu chí thoát nghèo vì đa phần các hộ dân của bản làm nông nghiệp trang trại phụ thuộc vào thiên nhiên. Tuy nhiên không phải vì những khó khăn đó mà nhân dân nhụt chí, người dân nơi đây luôn tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, lá lành đùm lá rách, cố gắng vươn lên, giữ vững bản điểm văn hóa của xã Hữu Kiệm - huyện Kỳ Sơn.

Với một bản miền núi còn nhiều khó khăn như Na Lượng 1 thì việc phấn đấu để đạt được chuẩn nông thôn mới đã là nỗ lực quá lớn của người dân. Nhưng việc giữ được bộ mặt nông thôn mới, giữ được các tiêu chí và không ngừng phát triển lại còn khó khăn hơn nhiều. Có thể nói người dân Na Lượng 1 sau khi "thắt lưng buộc bụng" để đạt được chuẩn nông thôn mới thì nay lại phải gồng mình để giữ danh hiệu.

 

Bà Trần Thị Sen - Phó Chủ tịch UBND xã Yên Thắng, huyện Tương Dương:

"Trong xây dựng nông thôn mới, cán bộ cần xuống tận nơi cầm tay chỉ việc cho người dân"

Xã Yên Thắng là một trong những xã người Thái chiếm 99%, còn 1,2% dân tộc Kinh, chính bản thuần dân tộc nên thuận tiện cho việc vận động xây dựng văn hóa thôn, bản. Người dân phát triển kinh tế chủ yếu là trồng rừng và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Trong đó, chăn nuôi hộ gia đình chủ yếu là trâu, bò giống địa phương; trồng keo, mét; về lúa nước cả xã chỉ khoảng 126,5 ha và 20 ha lúa nương rẫy. Bên cạnh đó lao động trẻ chủ yếu đi làm việc ở ngoài Bắc trong Nam. Về xây dựng nông thôn mới, hiện tại Yên Thắng có 1 bản đã hoàn thành các chỉ tiêu nông thôn mới nhưng chưa về đích, đó là bản Pủng.

Xuất phát từ đặc thù địa phương miền núi nên việc thực hiện các tiêu chí nông thôn mới một lúc là điều không thể. Bản Pủng ở đây chúng tôi đã tiến hành làm chi tiết từng tiêu chí, và khó nhất ở 2  tiêu chí: thu nhập và hộ nghèo. Ở bản Pủng, trước khi xây dựng nông thôn mới tỉ lệ hộ nghèo chiếm trên 30%, nhưng năm gần đây, bằng sự cố gắng, nỗ lực của người dân cùng sự hỗ trợ của các chương trình nhà nước như chương trình 30A, 115, nên tỉ lệ hộ nghèo toàn bản đã giảm xuống dưới 10%.

Một số tiêu chí khác, do đặc thù địa hình đồi núi, nhà ở phân tán, nên cán bộ nơi đây đã xuống tận nơi "cầm tay chỉ việc", phân công cụ thể, rõ ràng và lập kế hoạch riêng cho mỗi tiêu chí, cụ thể ở tiêu chí 12 về cải tạo vườn, bờ rào, vệ sinh môi trường, giao trực tiếp từng bộ phận ví dụ bộ phận tư pháp phụ trách nhóm 1, nông nghiệp phụ trách nhóm 2… Sau một thời gian người dân đã ý thức được và hiện nay đến bản Pủng trong vườn người dân đã trồng những loại cây có giá trị phục vụ cuộc sống như cây rau, tiêu, cây ăn quả.v.v.

Có thể thấy, tuy khó khăn nhưng nhờ chương trình xây dựng nông thôn mới thôn bản đã trở nên khởi sắc, sạch đẹp hơn, vườn được cải tạo trồng cây phục vụ cho sinh hoạt, nhà cửa sạch sẽ, đường làng ngõ xóm, hai bên trồng hoa, phong trào thể dục thể thao, rèn luyện sức khỏe được phát triển. Làng trên bản dưới cùng nhìn thấy và làm theo.

Từ việc xây dựng bản Pủng đạt chuẩn nông thôn mới đã cho chúng tôi một bài học quan trọng. Đó là khi xây dựng nông thôn mới thôn bản, cán bộ xã, bản phải xuống tận nơi cầm tay chỉ việc, hướng dẫn tỉ mỉ; trung bình mỗi bản cán bộ xã phải ròng rã với dân bản tầm 2 -3 năm, thành lập các nhóm, ban hành các kế hoạch chi tiết cụ thể cho từng chỉ tiêu, dồn mọi nguồn lực thì mới hoàn thành chỉ tiêu nông thôn mới cho một bản.

 

Ông Trần Đăng Thân - Bí thư Chi bộ làng Bãi Sở, xã Tam Quang, huyện Tương Dương:

"Xây dựng nông thôn mới thôn bản nên có cơ chế khen thưởng, khuyến khích"

Làng Bãi Sở thành lập 1963, chủ yếu dân đi xây dựng kinh tế mới, làng có 178 hộ với 726 nhân khẩu, có 3 dân tộc anh em sinh sống là dân tộc Kinh, Thái và Hoa. Người dân chủ yếu làm nông nghiệp, với 17,5ha diện tích trồng lúa nước 2 vụ.

Trong quá trình xây dựng nông thôn mới đảng bộ, chính quyền và nhân dân làng Bãi Sở gặp không ít khó khăn: Trình độ dân trí không đồng đều khiến công tác tuyên truyền vận động người dân gặp phải trở ngại; Thời tiết diễn biến thất thường, ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của người dân nơi đây; Dịch bệnh gia súc gia cầm diễn ra khắp nơi,… Nhưng với cách làm phù hợp, Bãi Sở đã đạt được những kết quả đáng kể trong xây dựng nông thôn mới.

Trong quá trình xây dựng nông thôn mới, trước hết cần đẩy mạnh việc tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của việc xây dựng nông thôn mới bằng các chương tình phát thanh, cổ động, trực quan tạo không khí sôi nổi, đặc biệt đưa chương tình nông thôn mới vào sinh hoạt chi bộ định kỳ và lên kế hoạch cụ thể cho từng năm.

Về tư tưởng, cán bộ làng Bãi Sở xác định xây dựng nông thôn mới chính là bước đột phá để giúp đời sống của người dân khá lên, bộ mặt thôn bản trở nên khang trang, sạch đẹp, do đó đã quyết liệt vào cuộc cùng với nhân dân xây dựng từng tiêu chí. Tuy nhiên, khó khăn nhất là trong xây dựng tiêu chí hộ nghèo, bởi vì trong tư tưởng của người dân nếu xóa nghèo đồng nghĩa không được hưởng các chính sách hỗ trợ của nhà nước, vì thế nhiều hộ mặc dù đời sống đã khấm khá lên nhưng vẫn không muốn thoát nghèo. Tuy nhiên, mặt trận, cán bộ thôn, xóm đã phân tích cho nhân dân thấy được dù dự án, chương trình nào thì mục tiêu cuối cùng cũng xóa đói giảm nghèo, cho nên người dân đồng tình hưởng ứng nhờ đó tỉ lệ hộ nghèo làng Bãi Sở giảm theo từng năm, năm  2017, 18 hộ, 2018 là 10 hộ và năm 2019 còn 8 hộ, đạt tỉ lệ 0,5% theo tiêu chí hộ nghèo nông thôn mới.

Với các chỉ tiêu hoàn thành trước, hoặc đúng kế hoạch, làng chúng tôi đều có cơ chế khen thưởng, khuyến khích phù hợp, ví dụ như: Trong xây dựng tiêu chí giao thông nội thôn, xóm chia nhỏ cho từng cụm dân cư và đội nào về đích trước thì sẽ có phần thưởng cho đội đó. Cách làm là trong đội họp bàn cử ra một tổ xây dựng và chịu trách nhiệm mua vật tư như cát, sỏi, không bắt buộc, bước đầu 4 đội làm được hơn 600m, từ đó các đội khác nhìn thấy đẹp và thi đua nhau làm. Đến cuối 2016, Bãi Sở hoàn thành được 5.495m đường giao thông nội thôn, dân đóng góp 762 triệu, với 3.430 ngày công. Đặc thù là dân góp tiền đến đâu làm đến đó, đến khi hoàn chỉnh giao thông nội thôn không để nợ đọng trong dân. Có thể nói từ khi giao thông nội thôn hoàn thành, đời sống kinh tế của người dân có nhiều khởi sắc. Hàng hóa của người dân làm ra được tư thương vào thu mua tại chỗ, người dân không phải mang đi xa để tiêu thụ. Từ giao thông nông thôn xóm phát động cho nhân dân trồng hoa hai bên đường, tự động lắp hệ thống thắp sáng ven đường, 100% các tuyến đường của làng là dân góp vốn để làm điện thắp sáng; Xây dựng sân vận động bóng đá, bóng chuyền, thể dục thể thao. Nhà văn hóa là trung tâm bộ mặt của làng nên xóm được nhà nước đầu tư 982 triệu xây dựng, đồng thời xã hội hóa hơn 100tr để mua sắm nội thất.

Vệ sinh môi trường, được Đoàn thanh niên huyện hỗ trợ, đầu tư, mỗi hộ dân xây hố rác gia đình để gom rác, và tổng vệ sinh thôn làng ngõ xóm, trong gia đình… Khuyến khích trồng rau sạch, vật nuôi, khuyến khích các mô hình dịch vụ, mua bán nhỏ lẻ, cải tạo vườn tạp trồng cây ăn quả, chăn nuôi bò sinh sản, bò vỗ béo, gà thịt, trên địa bàn đã có những mô hình chăn nuôi phát triển rất mạnh nên tính đến nay 2019 hộ nông dân làng Bãi Sở đạt trung bình 29 triệu/khẩu/năm. Nhờ đó, làng Bãi Sở đã đạt được các tiêu chí xây dựng trong xây dựng nông thôn mới sớm nhất trong toàn huyện Tương Dương.

 

Ông Nguyễn Đình Phương - Chủ tịch xã Nghĩa Hoàn - Tân Kỳ:

 "Phát huy tối đa mọi nguồn lực trong đó nhân dân là chủ thể của chương trình"

Nghĩa Hoàn là xã miền núi thuộc khu vực II nằm cách trung tâm huyện 12 km về phía Bắc. Với diện tích tự nhiên là 1.130,19 ha, nằm trên trục Quốc lộ 48E, được cơ cấu thành 14 xóm; dân số 1.815 hộ, 7.371 khẩu, trong đó 20% là đồng bào DTTS, có 01 họ giáo dân trên 35 hộ; xã có địa bàn trung bình, hệ thống giao thông nhiều. Kinh tế của người dân trong xã đa phần phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, nhất là sau năm 2017 thực hiện chủ trương xóa bỏ lò gạch ngói thủ công; Tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ đang trên đà phát triển,  nhất là những việc liên quan đến xóa bỏ lò gạch, ngói và việc chuyển đổi công nghệ tại Làng nghề ngói Cừa Nghĩa Hoàn.

Quá trình thực hiện Chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới, Nghĩa Hoàn đạt được kết quả như ngày hôm nay là nhờ sự chỉ đạo sâu sát, quyết liệt, triển khai thực hiện đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm với nhiều cách làm năng động sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương của cấp ủy đảng, chính quyền các tổ chức đoàn thể từ xã đến thôn, xóm.

Ở cơ sở thôn, xóm sau khi thống nhất lựa chọn; chi bộ và các đoàn thể tổ chức họp xây dựng kế hoạch lộ trình thực hiện từng tiêu chí; đồng thời phát động phong trào "Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới", với phương châm "Phát huy tối đa mọi nguồn lực", trong đó "Nhân dân phải thực sự là chủ thể của Chương trình". Đến nay, Chương trình MTQG xây dựng NTM của xã đã được UBND huyện thẩm tra đạt 19/19 tiêu chí và đang đề nghị tỉnh thẩm định, có 5/14 xóm đạt NTM, nổi bật có 01 là xóm Đồng Tâm đạt NTM đẹp được UBND tỉnh khen thưởng.

 Đồng Tâm là xóm đạt chuẩn năm 2018 và về đích năm 2019. Dân cư phần lớn là người gốc Diễn Châu, di cư về vùng kinh tế, tạo thành 1 xóm nên rất đồng nhất, đoàn kết. Thành công trong việc huy động nội lực của người dân (làm bê tông giao thông thôn xóm; xây dựng các con đường hoa; chỉnh trang nhà ở, xây dựng vườn chuẩn; xây dựng các mô hình phát triển sản xuất nâng cao thu nhập; vệ sinh môi trường xanh, sạch, đẹp…). Minh bạch các khoản đóng góp và có quy định tuổi tác (trên 70 không phải đóng góp), các hộ nghèo được xem xét giảm trừ… Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng nông thôn mới thôn bản một số tiêu chí còn "ép", hạn chế như tiêu chí vệ sinh môi trường hiện tại 1 tháng, xe rác chở 2 lần vào bãi tập kết của huyện. Tuy nhiên vấn đề lâu dài sẽ có nhiều bất cập trong xử lý rác thải sinh hoạt vì huyện chưa có hệ thống xử lý rác hợp quy chuẩn. Các mô hình kinh tế: trước đây chủ yếu trồng mía, sau đó tuyên truyền để dân dồn điền đổi thửa, phân chia đất sản xuất hợp lý. Hiện tại xóm Đồng Tâm cũng đang đăng ký làm thôn bản kiểu mẫu của huyện.

Để đạt được kết quả như ngày hôm nay, yếu tố quan trọng nhất đó là sự đoàn kết, nhất trí "ý Đảng hợp lòng dân". Ngay từ đầu năm BCĐ xã tổ chức phiên làm việc với các xóm về xây dựng xóm đạt NTM. Vì vậy, trong chỉ đạo các xóm luôn bám vào quy hoạch, kế hoạch của UBND xã, kịp thời điều chỉnh bổ sung, tháo gỡ những vướng mắc, tập trung chỉ đạo xóm ra quân trong thời gian, thời điểm phù hợp, tạo nên phong trào thi đua về đích xây dựng NTM trong các tổ dân cư, từ đó góp phần cổ vũ động viên, khuyến khích các tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua phong trào "Toàn dân đoàn kết chung sức đồng lòng xây dựng nông thôn mới"; Làm tốt công tác tuyên truyền; thực hiện phát huy quy chế dân chủ, khơi dậy sức dân sẽ tạo sức mạnh tổng hợp để hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

 

Ông Sầm Văn Bình - Xã Châu Quang - Qùy Hợp:

"Xây dựng nông thôn mới thôn bản, một số tiêu chí cần củng cố mới có sự bền vững"

Châu Quang là một trong những xã thuộc vùng đồng bằng của huyện Quỳ Hợp, có diện tích tự nhiên 2.650,24 ha, cách trung tâm huyện Quỳ Hợp khoảng 5 km.  Toàn xã có 26 xóm, bản gồm 2.847 hộ với 12.252 nhân khẩu. Số lao động trong độ tuổi trên 7.500 người; số lao động có việc làm thường xuyên trên 7.000 người, lao động đã qua đào tạo trên 3.000 người.

Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, UBND xã đã ban hành nhiều Quyết định, Ban Chấp hành Đảng bộ xã và Hội đồng nhân dân xã cũng ra các Nghị quyết, đề án, kế hoạch... để thành lập, kiện toàn Ban quản lý xã và phân công cho từng thành viên trong ban phụ trách, chỉ đạo và giúp cho các xóm, thôn, bản thực hiện nhiệm vụ về công tác tuyên truyền vận động nhân dân đóng góp công sức, tiền của, hiến đất để tham gia xây dựng nông thôn mới.

Năm 2015, Châu Quang đã hoàn thành 19/19 tiêu chí nông thôn mới, tuy nhiên một số tiêu chí đã đạt chuẩn như giao thông, cơ sở vật chất văn hóa, điện, môi trường nhưng vẫn rất cần được đầu tư củng cố thì mới đảm bảo tính bền vững.

Trong tiêu chí về môi trường ở xã Châu Quang, các tác động xấu đến môi trường có vẻ như đã được kiểm soát, các hoạt động gây giảm thiểu về môi trường đã phải ngừng. Tuy nhiên, việc các khu công nghiệp nhỏ tiếp tục gây ô nhiễm làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng sống của người dân cần phải được tính đến sự giám sát liên tục. Việc thu gom rác thải tập trung để xử lý, nhất là ở khu vực xóm Đồng Nại, cũng chưa tìm được phương cách giải quyết. Đặc biệt gần đây, trên địa bàn huyện Quỳ Hợp rộ lên thông tin về ô nhiễm từ nước sông Nậm Huống, đây lại là con sông cung cấp nước sinh hoạt cho toàn bộ người dân của thị trấn Quỳ Hợp. Việc nước sông ô nhiễm cũng gây hại trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp của xã, vì đây là nguồn nước tưới chủ yếu cho nhân dân trong vùng.

Thứ 2 về tiêu chí văn hóa, xã Châu Quang giường như chỉ mới quan tâm về "định lượng" văn hóa (thiết chế văn hóa, cảnh quan môi trường, văn nghệ thể thao, cơ sở vật chất), còn phần "định tính" là vốn và tiềm năng văn hóa truyền thống của dân tộc Thái vẫn còn đang bị bỏ ngỏ khá nhiều. Đó là đặc trưng văn hóa của cộng đồng dân tộc Thái ở phần lớn các xóm bản ở Châu Quang, trong đó có những tập tục thờ cúng mang tính tâm linh rất có ý nghĩa mà các xã khác không có được. Nổi bật ở đây là Kễ hội "Ki mọc" diễn ra vào 20 tháng 8 âm lịch hàng năm ở các xóm bản Yên Luốm, Đồn Mộng, Bản Lè, Bản Phảy... Dĩ nhiên, phần "định tính" này cũng không thể cân đong đo đếm rạch ròi nên cần phải có thời gian để người dân thực sự có tâm huyết với văn hóa tâm linh sẽ có cách gìn giữ, bảo tồn và thực hành cho đúng với bản chất của lễ hội cộng đồng trong đời sống hiện nay...

Quá trình xây dựng nông thôn mới ở xã Châu Quang được tổ chức triển khai, đa dạng, sáng tạo và chú trọng về phát triển nông nghiệp, nông thôn đồng thời bám sát tình hình thực tế của địa phương. Các phong trào thi đua được phát động sâu rộng, thiết thực, phương pháp huy động nguồn lực và thực hiện các chính sách hỗ trợ trong xây dựng nông thôn mới đã góp phần rất lớn vào việc thay đổi nhận thức của người dân trong quá trình thực hiện các tiêu chí.

Các tiêu chí về chuẩn nông thôn mới cũng như mọi giá trị khác, đều có sự biến đổi qua thời gian. Sự biến đổi đó mang đến giá trị tích cực làm tăng tính bền vững, nếu ngược lại thì sẽ làm giảm tính bền vững hoặc làm ảnh hưởng đến phong trào và kết quả xây dựng nông thôn mới đang được đẩy mạnh và rộng khắp hiện nay. Châu Quang là một xã ở vùng trung tâm của huyện Qùy Hợp, vì thế từ khi đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2015, mỗi biến đổi tác động đến kinh tế - xã hội trên địa bàn xã đều nhanh chóng tác động đến các xã xung quanh, đem lại nhiều bài học kinh nghiệm quý làm cho bộ mặt nông thôn xã Châu Quang nói riêng, huyện Quỳ Hợp nói chung ngày càng khởi sắc, góp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập bền vững cho người dân.

TÒA SOẠN

 

Lịch sử hình thành, tồn tại của một cộng đồng có tên là "làng", "thôn", "bản", đặc biệt là những làng cổ thuần Việt, luôn gắn chặt với hệ thống các quy tắc ứng xử, được thiết lập trên tinh thần tự nguyện thỏa thuận. Đó là những hương ước, quy ước làng, có khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của cộng đồng dân cư. Ngày nay, các hương ước, quy ước (HƯQƯ) vẫn được xem là những "quy tắc mềm", giúp vận hành bộ máy làng xã trở nên trơn tru và hiệu quả hơn. Những "quy tắc mềm" đó cũng đóng góp không nhỏ trong xây dựng và gìn giữ nông thôn mới ở thôn bản trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiện nay.

1. Hương ước - bản pháp lý đầu tiên của làng, xã

Theo Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia) "Hương ước là những quy ước, điều lệ của một cộng đồng chung sống trong một khu vực. Là bản pháp lý đầu tiên của các làng xã nhằm góp phần điều hòa các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng".

GS.Đinh Gia Khánh viết: "Hương ước là bản ghi chép các điều lệ liên quan đến tổ chức xã hội cũng như đến đời sống xã hội trong làng, các điều lệ hình thành dần trong lịch sử, được điều chỉnh và bổ sung mỗi khi cần thiết".

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, Hương ước là văn bản pháp lý của mỗi làng, trong đó bao gồm các điều ước về dân sự, hình sự, các điều ước về giữ gìn đạo lý, phong tục tập quán... Hương ước là hệ  thống  luật  tục  tồn  tại  song song với pháp luật mà cơ bản  không đối lập với pháp luật. Hương ước do các vị chức sắc của làng soạn thảo trên cơ sở thống nhất với dân làng. 

Như vậy, Hương ước được hiểu là bản pháp lý đầu tiên, ghi nhận các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc đối với các thành viên trong làng xã, nhằm góp phần điều hòa các mối quan hệ xã hội cộng đồng vốn phức tạp. Các điều lệ này được hình thành dần trong lịch sử, được bổ sung, điều chỉnh mỗi khi cần thiết. Nó là thuật ngữ gốc Hán, khi du nhập vào Việt Nam nó vẫn được giữ nguyên nghĩa, là danh từ chung để chỉ các quy ước của làng xã, và còn được gọi bằng những tên khác như: hương biên, hương khoán, hương lệ khoán ước, khoán lệ, cựu khoán tục lệ, điều ước, điều lệ,…

Về thời điểm xuất hiện Hương ước thì cho đến nay các nhà nghiên cứu lịch sử, dân tộc học vẫn chưa khẳng định. Tuy nhiên, dựa vào các thư tịch cổ, có thể thấy triều đại vua Lê Thánh Tông triều đình đã ra sắc lệnh thể chế hoá Hương ước. Bộ luật Hồng Đức đã ghi lại chỉ dụ của vua Lê Thánh Tông về việc biên soạn và thi hành Hương ước như sau: "Các làng xã không nên có khoản ước riêng vì đã có luật chung của nhà nước"; "Riêng làng xã nào có những tục khác lạ thì có thể lập khoán ước và cấm lệ"; "Trong trường hợp đó, thảo ra hương ước phải là người có trình độ nho học, có đức hạnh, có chức và có tuổi tác"; "Thảo xong, phải được quan trên kiểm duyệt và có thể bị bác bỏ";...

Từ thư tịch cổ có thể thấy, đến đời vua Lê Thánh Tông đã có Hương ước, nghĩa là Hương ước xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XV. Tuy nhiên, đến ngày nay vẫn chưa ai tìm thấy được bản Hương ước cổ nào được soạn thảo từ thế kỷ XVI chứ chưa nói đến thế kỷ XV.

Về nội dung của Hương ước thường gồm 4 loại quy ước: Quy ước về chế độ ruộng đất: Hương ước các làng đều khẳng định "việc nhà nông là cái gốc lớn" để bảo vệ, phát triển sản xuất và đề ra một số quy định khuyến khích mọi người, mọi nhà tận dụng đất đai để sản xuất và quy định về việc sử dụng ruộng đất. Như Hương ước của làng Quỳnh Đôi - Nghệ An có tới 4 điều khoản nói về vấn đề này, trong đó điều 9 quy định "làng xét các nơi trong đồn điền không cày bừa để ruộng hoang thì phải phạt".

Quy ước về khuyến nông, bảo vệ sản xuất, môi trường và các danh lam thắng cảnh đền chùa, miếu mạo: Về công tác khuyến nông bảo vệ sản xuất được chú trọng nhằm tận dụng diện tích đất. Điều 113 Hương ước làng Quỳnh Đôi quy định: "Nguyên làng ta có một dải ruộng hoang ở xứ đập Bản và Vũng Cầu, làng nên cho khai khẩn thành ruộng trồng trọt để làm mối lợi thêm cho dân làng, nay làng bản hễ người nào có sức phá vỡ cày cấy được khoảng 4 năm thì cứ lấy lúa trên ruộng, được bao nhiêu làng chia 3, làng chỉ lấy 1 phần, làng làm như thế trong 20 năm, hết hạn phải giao ruộng cho làng". Hương ước các làng còn quy định về những điều xử phạt rất nghiêm khắc đối với hành vi làm ô nhiễm không khí, làm nhiễm bẩn nguồn nước, làm lây lan dịch bệnh trong xóm làng.

Quy ước về tổ chức xã hội và trách nhiệm các chức dịch của làng: Thành viên trong làng chịu sự chỉ huy của người đứng đầu, phải tuân theo những quy tắc do làng đặt ra và đều bình đẳng trên cơ sở tôn trọng giúp đỡ lẫn nhau. Những người đứng đầu phải có trách nhiệm chỉ huy việc thực hiện các quy định của làng và giải quyết các sự việc xảy ra trong làng.

Quy ước về văn hoá tinh thần và tín ngưỡng: Hầu như Hương ước của các làng, xã đều có những quy định về văn hóa ứng xử, tín ngưỡng, các lễ khao vọng, cưới hỏi,... nhằm đặt ra những quy tắc xử sự chung phù hợp với phong tục tập quán của làng xã. Trong làng thường xuyên có tổ chức các lễ cưới hỏi, rước dâu hay mừng thọ, và những lễ này cũng được quy định trong Hương ước rất chi tiết về các khoản lệ phí phải nộp, thời gian và quy mô tổ chức. Bên cạnh đó, các quy định về văn hóa ứng xử trong làng xã cũng được nêu rất rõ ràng, chi tiết và khá chặt chẽ (quy tắc "kính lão đắc thọ", "tôn sư trọng đạo",...).

Trong làng, ai làm việc tốt, việc có lợi cho dân làng, cho cộng đồng thì được thưởng. Ngược lại, ai làm điều sai trái gây hại cho làng thì sẽ phải chịu phạt.

Nhiều quy định trong các bản Hương ước cổ trước đây thường có các hình phạt khá nặng nề, chủ yếu đánh vào danh dự của cá nhân hay cả gia đình, dòng họ người phạm tội, gây thiệt hại và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, thậm chí gây thiệt mạng. Tuy nhiên, đa số các bản Hương ước hiện nay đều bãi bỏ hoặc thay thế những hình phạt như vậy để phù hợp với chính sách mới.

2. Hương ước - "Quy tắc mềm" trong xây dựng nông thôn mới ngày nay

Xét bản Hương ước cổ làng Quỳnh Đôi được soạn thảo từ năm 1636, là "một bộ luật của làng còn lại có niên đại sớm nhất" (TS. Vũ Duy Mền, Tạp chí Lịch sử, 1982), có thể thấy chúng luôn được điều chỉnh sửa đổi qua các thời kỳ. Theo tác giả Phan Hữu Thịnh, Hương ước làng Quỳnh từ năm 1668 đến năm 1856 đã sửa đổi, bổ sung đến 83 lần với nhiều điều khoản phong phú, cho đến năm 1941 mới tương đối hoàn thiện. Việc điều chỉnh, bổ sung nhiều lần là để Hương ước phù hợp với điều kiện lịch sử của quê hương, đất nước từng thời kỳ.

Trong cuộc sống hiện tại, khi nhà nước ngày càng phát triển thì vai trò của Hương ước đã mất đi ít nhiều, để thay vào đó là các văn bản, các điều luật. Thế nhưng việc điều chỉnh, bổ sung các điều khoản trong Hương ước để phù hợp với từng thời kỳ đã thể hiện vai trò cũng như sức ảnh hưởng của Hương ước, nhất là đối với các làng xã ở nước ta vẫn còn hết sức sâu đậm, đặc biệt trong phong trào xây dựng nông thôn mới hiện nay. Việc khôi phục hương ước chính là khôi phục bản sắc văn hóa làng xã và thúc đẩy sự tham gia của người dân trong các vấn đề chung của cộng đồng, xa hơn nữa là quản lý nhà nước và tăng cường dân chủ về mặt thực chất.

Tìm hiểu nội dung bản Hương ước của các thôn, bản đạt các tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới hiện nay, có thể thấy văn bản được chia thành các chương và các quy định. Hương ước bản Na Lượng 1, xã Hữu Kiệm, bản đầu tiên xây dựng thành công các tiêu chí nông thôn mới của huyện Kỳ Sơn, được xây dựng với 4 chương và 12 điều. Gồm:

Chương I. Những quy định chung

Chương II. Những nội dung

Chương III. Khen thưởng, xử lý vi phạm

Chương IV. Tổ chức thực hiện.

Hương ước làng Bãi Sở, xã Tam Quang, một trong xã đạt các tiêu chí xây dựng nông thôn mới đầu tiên của huyện Tương Dương, ngoài phần Lời lời nói đầu, văn bản được chia thành 7 chương và 32 điều khoản. Gồm:

Chương I. Quy định chung

Chương II. Các quy định về phát triển kinh tế

Chương III. Các quy định về nếp sống văn hóa

Chương IV. Các quy định về việc cưới, việc tang, lễ tết

Chương V. Các quy định về vệ sinh môi trường

Chương VI. Các quy định về an ninh trật tự

Chương VII. Tổ chức thực hiện

Như vậy, mặc dù có khác nhau về số chương và điều khoản, nhưng về nội dung Hương ước các thôn, bản đều tập trung vào các quy ước về:

Quy ước về phát triển kinh tế: Trong quy ước về kinh tế, ngoài việc khuyến khích mọi người trong thôn bản phải quyết tâm đẩy mạnh sản xuất, quản lý và sử dụng đất đai hiệu quả, làm giàu chính đáng, mở mang ngành nghề, dịch vụ khác nhưng phải chấp hành đầy đủ nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, người dân không được tham gia vào việc sản xuất, kinh doanh bất hợp pháp, vi phạm pháp luật. Hương ước làng Bãi Sở, huyện Tam Quang ghi rõ: "Khuyến khích mọi người, mọi nhà làm giàu chính đáng, mở mang ngành nghề, dịch vụ nuôi trồng thủy, hải sản,… hoặc các hình thức kinh tế khác nhưng phải chấp hành đẩy đủ nghĩa vụ của pháp luật và chịu sự quản lý của chính quyền địa phương".

Quy ước về nếp sống văn hóa: Mỗi gia đình phải tự xây dựng nề nếp, văn hóa cho gia đình mình để từ đó góp phần xây dựng nếp sống văn hóa của làng bản. Thực hiện tốt các quy định về giáo dục, y tế, tham gia bảo vệ cảnh quan, đảm bảo vệ sinh môi trường công cộng,… Quy ước về nếp sống văn hóa còn có những quy định khá nghiêm ngặt về việc cưới, việc tang và lễ tết theo đó các hoạt động này bên cạnh việc phù hợp với tập quán, phong tục, bản sắc văn hóa của mỗi vùng miền thì phải đảm bảo sự an toàn, lành mạnh, văn minh và tiết kiệm,… Chương III, điều 7 tại Hương ước làng Bãi Sở cũng ghi rõ "Tất cả mọi người, mọi gia đình phải phấn đấu xây dựng gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa để góp phần xây dựng làng bản",…

Quy ước về đảm bảo an ninh trật tự: Tất cả mọi người đều có trách nhiệm trong việc gìn giữ và đảm bảo an ninh trật tự thôn bản, không tham gia hay có hành vi vi phạm pháp luật, ngoài ra còn tham gia tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật cho người thân, bạn bè, hàng xóm,…

Ngoài 4 loại quy ước cơ bản trên, hương ước các thôn bản còn có những điều khoản về bảo vệ và phát triển rừng, phòng chống cháy nổ,…

Bên cạnh những quy ước, Hương ước các thôn bản còn quy định rất rõ việc khen thưởng và xử lý vi phạm. Điều 28, chương VII hương ước xã Bãi Sở có ghi "Hộ gia đình và cá nhân có thành tích trong việc xây dựng và thực hiện Hương ước của làng bản được ghi nhận công lao, thành tích vào sổ vàng truyền thống; được nêu gương người tốt, việc tốt trên hệ thống loa truyền thanh hoặc tại các cuộc hội nghị toàn thể nhân dân của làng bản; được bình xét đề nghị công nhận danh hiệu "gia đình văn hóa", được công nhận các hình thức khen thưởng khác do cộng đồng tự thỏa thuận hoặc đề nghị các cấp chính quyền khen thưởng theo quy định chung của nhà nước";… Điều 11 Hương ước thôn Na Lượng 1, xã Hữu Kiệm quy định rõ những hình thức xử phạt đối với những hộ gia đình vi phạm: "Hộ gia đình, cá nhân nào vi phạm các điều khoản trong hương ước của bản thì tùy theo mức độ mà xử lý bằng các hình thức sau đây: 1. Vi phạm lần đầu và lỗi nhẹ thì bị phê bình, nhắc nhở trước cuộc họp toàn dân. 2. Vi phạm lần thứ 2 trở lên, trên cơ sở thảo luận thống nhất trong tập thể cộng đồng thì kiểm điểm tại tổ chức, đoàn thể người đó đang sinh hoạt, kiểm điểm trước hội nghị toàn dân; không được bình xét công nhận "gia đình văn hóa" trong năm. 3. Việc áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm trong hương ước này không thay thế các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật";…

Qua những điều khoản có thể thấy Hương ước như là văn bản pháp lý của làng xã, đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, bảo tồn các phong tục tập quán của làng xã. Nhiều điều lệ trong Hương ước có giá trị pháp lý cao, được người dân thừa nhận và chấp hành tốt, với ý thức tự giác cao. Hương ước vừa uốn người ta vào khuôn phép, động viên người ta hành động, gắn bó dân làng thành một cộng đồng chặt chẽ, vừa điều tiết các trách nhiệm và các quyền lợi của mọi thành viên trong làng.

Hương ước xưa hay Hương ước ngày nay không chỉ khác nhau về cách gọi, mà ở đây nội dung về cơ bản đã hoàn toàn khác biệt nhau, song vẫn có sự kế thừa "gạn đục khơi trong". Những quy ước trong đời sống nông thôn mới hiện nay được xây dựng đều hướng vào mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh", do vậy hợp lòng dân, được dân chấp nhận, tự nguyện tuân thủ, làm theo và giành được nhiều kết quả tốt. Nhờ thế, các tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới được người dân tự nguyện thực hiện, nhiều hộ dân còn hiến đất mở đường, xây dựng trường học,… góp phần nâng cao cơ sở hạ tầng, mang lại bộ mặt khang trang cho thôn bản.

Có thể khẳng định Hương ước, quy ước đang dần chiếm địa vị pháp lý quan trọng trong đời sống xã hội, trở thành công cụ hỗ trợ và bổ sung cho pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội tại cộng đồng dân cư. Trên cơ sở kế thừa, có chọn lọc nội dung, hình thức xây dựng, các bản Hương ước, quy ước trước đây, các thôn, bản, khu dân cư ở Nghệ An đã vận dụng sáng tạo, xây dựng nên những bản Hương ước, quy ước mới có nội dung cũng như bố cục phù hợp với đặc trưng vùng miền, phong tục tập quán, mang đậm bản sắc văn hóa của cộng đồng dân cư để các thành viên trong cộng đồng tự giác, tự nguyện thực hiện, từ đó góp phần xây dựng thành công phong trào nông thôn mới trong toàn tỉnh.

Như vậy là, khác với tính răn đe của luật pháp, các Hương ước có sự mềm dẻo, linh hoạt và thiên về ràng buộc đạo đức hơn là pháp lý. Hay nói đúng hơn, đây thực sự là những "quy tắc mềm", có khả năng hỗ trợ đắc lực cho quá trình vận hành bộ máy hành chính làng xã, bên cạnh chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước nói chung, quá trình xây dựng nông thôn mới nói riêng.

 

GS.NGND Nguyễn Đình Chú

Thế giới đã bước vào thời đại công nghiệp 4.0, Việt Nam ta dù công nghệ còn thấp kém mấy thì cũng không thể đứng ngoài thời đại công nghệ 4.0 này. Chẳng phải thế mà gần đây từ các nhà lãnh đạo đất nước đến giới khoa học kỹ thuật đều đã hào hứng nói đến công nghiệp 4.0. Với tôi, vấn đề đặt ra là: sớm muộn thì công nghiệp 4.0 cũng sẽ làm thay đổi cuộc sống Việt Nam một cách giàu có hơn, văn minh hơn, hiện đại hơn. Nhưng liệu ở đây, điều mà cách đây hơn một trăm năm, thi sĩ của núi Tản sông  Đà (Tản Đà) trong Giấc mộng con tập I, sau khi lên chơi Cõi đời mới nhìn về Cõi đời cũ mình từng sống đã nói: "Sự văn minh  tiến hóa bao nhiêu thì sự dã man cũng tiến hóa bấy nhiêu. Sự công nghệ tiến hóa bao nhiêu thì sự giết người cũng tiến hóa bấy nhiêu. Sự nông tang tiến hóa bao nhiêu thì sự dâm đãng cũng tiến hóa bấy nhiêu" là thế nào? Và tôi còn gặp đâu đó lời cảnh báo của một số nhà nhân văn phương Tây: nhân loại hãy coi chừng mặt trái của công nghệ hiện đại là làm méo mó nhân tính. Ở đâu thì chưa biết nhưng ở Việt Nam ta hiện nay, từ các nhà lãnh đạo đến các chuyên gia về công nghiệp trong khi hào hứng cổ động đất nước đi vào công nghiệp 4.0 hình như chưa mấy ai quan tâm gì tới điều mà thi sĩ Tản Đà và các nhà khoa học nhân văn kia từng nói đó. Kể cả Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đáng ra phải có ý kiến một cách chủ động trước vấn đề trọng đại này của đất nước thì hình như cũng chưa thấy nói gì. Chả nhẽ luận điểm của thi sĩ Tản Đà là vu vơ? Lời cảnh báo của các nhà nhân văn kia là thừa? Bài viết này của tôi là thử bàn về vai trò của khoa học xã hội và nhân văn trong thời đại công nghệ 4.0                                            

Cách mạng công nghiệp 4.0 là thế nào?

Xin thú thật tôi không hiểu gì về 4.0. Nhưng, để có cơ sở cho bài viết của mình, tôi đã tìm đọc một số bài giới thiệu 4.0 như: "Cách mạng 4.0 là gì? Nó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến Việt Nam" (Kiên Nguyễn blog, cập nhật lần cuối 08/10/2018 Dân công nghệ 11 Comments), "Cách mạng 4.0 đem lại cho chúng ta điều gì?"(Nguyễn Thái Quỳnh Trang/07- 9- 2018- 10.20 AM), bài "Góc nhìn khác biệt về 4.0 của quyền Bộ trưởng  Bộ  TTTT Nguyễn  Mạnh Hùng" (13-09-2018 - 14-50 PM - Kinh tế vĩ mô - Đầu tư). Trong đó,  bài của Kiên Nguyễn Blog đã cho tôi những kiến thức cơ bản về Cách mạng 4.0 như sau: "Khái niệm Cách mạng công nghiệp hay còn gọi là cuộc Cách mạng công nghiệp lần tư trên thế giới đang diễn ra tại các nước phát triển. Không thể phủ nhận một điều đó là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mang đến cho nhân loại rất nhiều cơ hội để thay đổi nền kinh tế nhưng bên cạnh đó cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro khôn lường. Chưa bao giờ trong lịch sử con người lại đứng trước cùng một lúc nhiều cơ hội và rủi ro đến vậy. Vậy Cách mạng 4.0 sẽ tác động  như thế  nào đến nền kinh tế, công ăn việc làm của từng người dân Việt Nam?".

 "Điểm lại một chút về các cuộc cách mạng công nghiệp 0.0 đến 4.0: trước đã có cách mạng công nghiệp 0.0: Vượn => Người (nhờ phát minh ra Lửa). Cách mạng công nghiệp 1.0 (1787): Người=> phát minh ra động cơ hơi nước, động cơ đốt trong (tăng năng xuất lao động cho tất cả các lãnh vực) = > xã hội phồn vinh hơn. Cách mạng công nghiệp 2.0 (1870): Phát minh ra điện, động cơ điện => Dây chuyền sản xuất hàng loạt => Cuộc sống văn minh. Cách mạng công nghiệp 3.0: Bán dẫn =>Điện tử =>Internet, máy tính và tự động hóa => và chúng ta đang sống trong thời đại 3.0.

"Cách mạng công nghiệp 4.0: Phát triển trên ba trụ cột chính. Đó là kỹ thuật số. Công nghệ sinh học và Vật lý => Xóa nhòa các ranh giới => Kết nối vạn vật lại với nhau".

"Các yếu tố cốt lõi của kỹ thuật số trong CMCN 3.0. sẽ là Trí tuệ nhân tạo  (AL) Vạn vật kết nối - Internet of Things (loT) và Dữ liệu lớn (Big Data). Trí tuệ nhân tạo (...): Được hiểu như một ngành khoa học máy tính liên quan đến việc tự động hóa các hành vi thông minh. AL là trí tuệ do con người lập trình tạo nên với mục tiêu giúp máy tính có thể tự động hóa các hành vi thông minh như con người. Trí tuệ nhân tạo khác với việc lập trình logich trong các ngôn ngữ lập trình là ở việc ứng dụng các hệ thống học máy (machine leaming) để mô phỏng trí tuệ của con người trong các xử lý mà con người làm tốt hơn máy tính. Cụ thể, trí tuệ nhân tạo giúp máy tính có được những trí tuệ của con người như biết suy nghĩ và lập luận để giải quyết vấn đề, biết giao tiếp do hiểu ngôn ngữ, tiếng  nói, biết học và tự thích nghi...".

Bài của ông Nguyễn Mạnh Hùng cũng cho tôi một số ý về tác dụng của Cách mạng công nghiệp 4.0. như sau:

 "Thứ nhất là chính quyền sẽ nhỏ hơn và thông minh hơn" (do các doanh nghiệp và xã hội làm được nhiều việc hơn kể cả việc của chính quyền). "Nó sẽ thay đổi cách chúng ta sống, cách chúng ta quản lý quản trị. Chúng ta không chỉ hưởng thụ mà còn thay đổi tư duy của mình. Chính vì vậy, điều này cũng trở thành thách thức". "Mỗi cuộc cách mạng công nghiệp nào đều đem lại nhiều cơ hội hơn rủi ro. Lịch sử đã cho thấy sau mỗi lần thay đổi, cuộc sống của con người đều tốt hơn kể cả khi mất đi một số công việc".

Vai trò của Khoa học xã hội và nhân văn trong thời đại công nghiệp 4.0

Từ những hiểu biết sơ đẳng trên đây, tôi mong được sáng tỏ hơn những vấn đề sau đây:

Cách mạng công nghiệp 1.0, 2.0, 3.0, đặc biệt là 4.0... càng về sau càng làm cho cuộc sống của loài người giàu sang hơn, văn minh hơn. Điều đó không ai có thể chối cãi. Nhưng tại sao nhà thơ núi Tản sông Đà (Tản Đà) lại nói như thế... Nhiều nhà nhân văn lại cảnh báo nhân loại như thế. Kiên Nguyễn blog và ông Nguyễn Mạnh Hùng khi nói về lợi ích của công nghiệp 4.0 cũng đều nói đến sự rủi ro mặc dù với Kiên Nguyễn blog thì cơ hội lớn bao nhiêu rủi ro cũng lớn bấy nhiêu. Còn với ông Nguyễn Mạnh Hùng thì rủi ro chỉ là chuyện "mất đi một số việc làm". Vậy thực tế sẽ là thế nào? Rõ ràng ý kiến của hai ông về sự rủi ro tuy có khác nhau về mức độ mà đều đúng nhưng chưa đủ rõ có lẽ vì hai ông chỉ mới nhìn nhận vấn đề đơn thuần từ góc nhìn của khoa học công nghiệp có liên quan đến kinh tế mà chưa nhìn nhận vấn đề ở trạng thái bao quát nhất đối với cuộc sống toàn diện của đất nước. Trong khi đáng ra phải nhìn từ góc nhìn của khoa học công nghiệp và kinh tế học đã đành nhưng quan trọng hơn còn là từ góc nhìn của khoa học xã hội và nhân văn. Cuộc sống của nhân loại vốn là thiên hình vạn trạng và biến đổi không ngừng nhưng quy lại là gồm hai phương diện: đời sống vật chất và đời sống tinh thần vừa biệt lập vừa liên quan với nhau. Các cuộc cách mạng công nghiệp đã đưa nhân loại lên cõi văn minh bằng trí tuệ phi thường nhưng vẫn chưa phải là toàn bộ đời sống tinh thần của nhân loại với toàn bộ giá trị người của nó. Trong khi sự rủi ro từ cách mạng công nghiệp đưa đến là nguy cơ làm hao hụt, méo mó thậm chí làm tiêu hao phần nào nhân tình nhân tính là điều đã có. Bom nguyên tử là sản phẩm của trí tuệ siêu đẳng mà cũng giết người siêu đẳng, không phải là sự thật ư... Cho nên điều mà thi sĩ Tản Đà nói là hoàn toàn không sai. Thực tiễn cuộc sống của nhân loại trong đó có Việt Nam ta đã và đang là thế chứ gì, có đúng là chưa bao giờ đất nước ta giàu có như hôm nay dù độ gia tốc so với các nước trong khu vực có chậm hơn; chưa bao giờ đất nước ta văn minh như hôm nay dù còn bao nhiêu điều còn phải đuổi theo thế giới, nhưng về đạo lý, về  nhân phẩm, nhân cách, nhân tình, lối sống, lại đang có chiều đi xuống một cách rõ rệt ngay cả ở khu vực ít nhiều đã từng là gương sáng cho nhân quần. Tất nhiên, cái chân cái thiện cái mỹ vẫn là chủ lực của cuộc sống đất nước và vẫn có những yếu tố phát triển mới so với quá khứ. Nhưng cái ác cái giả dối cái đê hèn thì cũng đang mỗi ngày một tăng trưởng. Cách mạng công nghiệp 4.0 là sự cống hiến của một thiểu số có đầu óc siêu đẳng trong khi tuyệt đại bộ phận nhân loại thì chỉ ngồi không mà hưởng thụ. Vậy không tự thân vận động mà chỉ ngồi hưởng thụ thì đầu óc kể cả chân tay cơ bắp sẽ là thế nào? Nguyên  lý, lao động bao gồm cả trí óc và chân tay là nguồn gốc của mọi sự sáng tạo làm nên cuộc sống và nhân phẩm, nhân cách, nhân tính của  nhân loại, không còn là quy luật, không còn là chân lý nữa sao? Đó là những điều không thể không đặt ra để cùng suy nghĩ, đặc biệt là với những người đang hào hứng dẫn đưa đất nước vào thời đại cách mạng công nghiệp 4.0. Ông Nguyễn Mạnh Hùng có nói là với Cách mạng 4.0 thì "người ngu cũng trở thành người thông minh", "người dốt nhất cũng thành người giỏi nhất". Nói thế là có căn cứ nhất định. Chẳng nói đâu xa. Cháu tôi mới bốn năm tuổi đã dùng điện thoại thông minh thành thạo trong khi tôi là một giáo sư đại học gốc đồ Nghệ nhà quê thì chỉ biết gọi và nghe điện thoại di động mà thôi. Người ta gọi đến chưa kịp nghe. Muốn gọi lại thì chẳng biết bấm vào đâu để gọi, phải  nhờ một em bé nào đó giúp. Sự thật quả có như thế nhưng dù vậy tôi vẫn nghĩ cách nói của ông Hùng vẫn là cách nói thiên về động viên nhau cho vui thôi. Bởi vấn đề không đơn giản đến mức người kém thành người thông minh, người dốt nhất thành người giỏi nhất như ông nói đâu. Thông minh đích thực là phải tự thân sáng tạo, chứ ăn theo ăn nhờ vào thông minh của người khác thì đâu đã đáng gọi là thông minh. Robot sẽ có thể làm ra mọi thứ cao siêu mà con người đã làm được. Điều đó, tôi tin một nửa mà không tin một nửa. Bởi nghĩ rằng robot có thể tạo ra các loại sản phẩm từ trí tuệ logichcộng đồng mà không thể từ trí tuệ lịch sử cá thể. Đặc biệt là trong lĩnh vực nghệ thuật. Robot có thể làm ra một bài thơ mùi mẫn nhưng lấy đâu ra hồn thơ vốn là sản phẩm của ấp ủ, đau đáu, trầm tư, khám phá cùng tháng năm để rồi bột phát trong thi hứng mang dấu ấn cá tính riêng lẻ độc đáo của thi nhân.

Thế giới ngày nay là thế giới phẳng. Sớm muộn gì đất nước ta cũng chung thế giới phẳng đó. Đó là con đường đi lên của đất nước. Nhưng cuộc sống của đất nước đâu chỉ toàn là phẳng. Vẫn có bao nhiêu phần riêng lớn lao khác mà tự đất nước phải giữ lấy và lo liệu chẳng nhờ ai làm thay được. Nếu gì cũng phẳng cả thì còn đâu là dân tộc tính. Ngay về đời sống vật chất có phải gì cũng phẳng đâu. Trong ẩm thực, sẽ có thêm các món ăn ngoại nhập nhưng sao bỏ được các món ăn truyền thống thuộc khẩu vị của dân tộc. Về đời sống văn hóa và tinh thần lại càng phải khác nhiều hơn phẳng. Chưa nói là trong phẳng có nhiều chất bổ nhưng đâu vắng chất độc... Cái gì cũng phẳng cả để rồi quốc hồn quốc hoa quốc túy mà Tổ tiên đã bao đời xây nên không còn gì nữa thì ý nghĩa sống, chất lượng sống Việt Nam còn gì để nói. Chả lẽ "đường lối xây dựng một nền văn hóa hiện đại tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc", "Hòa nhập mà không hòa tan" trọng đại và thiết yếu như thế mà chỉ còn là khẩu hiệu suông nói cho vui thôi ư!

Đúng là sớm muộn gì thì đất nước cũng gia nhập thời đại công nghiệp 4.0 và sẽ giàu có hơn, sung sướng hơn, văn minh hơn nhưng để có một cuộc sống tối ưu, tránh được phần nào cái điều khắc nghiệt mà thi sĩ Tản Đà đã báo trước thì cần đến vai trò chủ thể tối đa của đất nước. Trong đó phải có sự đồng hành sự phối hợp tương hỗ tương tác của khoa học công nghiệp cùng khoa học xã hội và nhân văn. Cần thừa nhận rằng: khoa học công nghệ là mũi nhọn mà khoa học xã hội và nhân văn là nền tảng và có vai trò điều tiết. Bởi đây là quy luật xây dựng và phát triển cuộc sống. Một đất nước, ở thời đại nào cũng vậy, muốn phát triển một cách vững chắc, nhất định phải có một nền tảng văn hóa, triết lý nhân văn vững chãi. Ở nước ta hiện nay, trong khi hào hứng cổ động 4.0 mà hình như chưa thấy tiếng nói của khoa học xã hội và nhân văn trong thời đại 4.0, là một điều đáng thắc mắc. Ước gì Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam sẽ có một chương trình khoa học đúng nghĩa khoa học cấp quốc gia với chủ đề: "Khoa học xã hội và nhân văn trong mối quan hệ hữu cơ với khoa học công nghiệp trong thời đại 4.0". Sau đây,  tôi xin có những ý kiến gọi là bước đầu như sau:

1.1. Hãy bắt đầu bằng cách tiếp tục và liên tục tìm lời đáp cho hai câu hỏi cơ bản nhất trong sự sống muôn đời của nhân loại ở mọi người mọi gia đình mọi quốc gia dân tộc... "Thế nào là biết sống? Thế nào là hạnh phúc?". Thế nào là biết sống ư? Mấu chốt của vấn đề là ở việc xử lý mối tương quan giữa cuộc sống vật chất và cuộc sống tinh thần là thế nào? Theo Nho giáo mà "An bần lạc đạo" ư? Không được rồi, mặc dù vẫn phải kính nể. Vật chất là trên hết để không ít đã sa vào chủ  nghĩa "đớp", chủ nghĩa "mácmitit" (chủ nghĩa cái niêu) ư? Nếu thế thì buồn cho sự đời quá mà khốn nỗi cái kiểu sống tầm thường hạ đẳng này xem ra lại đang có chiều lên ngôi. Điều mong ước vào thời đại 4.0. không gì khác là một sự cân đối, một sự quân bình, một sự hài hòa giữa hai phương diện của đời sống là vật chất và tinh thần ở mọi kiếp người, mọi gia đình, mọi quốc gia dân tộc và cả với nhân loại. Cần thấy rằng nhu cầu về vật chất thì hữu hạn. Còn nhu cầu về tinh thần là vô hạn. Với nhu cầu vật chất thì phải cạnh tranh vất vả mới có mà với cá nhân nếu biết sống thì tự mình cũng phải "tri túc" (biết đâu là đủ), "tri chỉ"  (biết đâu là chỗ nên dừng) và tham gia làm việc từ thiện càng nhiều càng quý. Còn với nhu cầu tinh thần thì tha hồ mà tạo dựng, ai mà cạnh tranh cấm đoán được mình. Sao ta không sống như thế?

Còn hạnh phúc mà người nào, gia đình nào, quốc gia nào, kể cả nhân loại trong muôn đời vẫn mong ước ư? Không mong ước hạnh phúc thì còn gì là ý nghĩa sống. Thực tế đã đang và sẽ có không biết bao nhiêu học thuyết, bao nhiêu đáp án mà hiệu quả thì cũng vô cùng phức tạp. Có thứ tưởng là hạnh phúc nhưng hóa ra vô phúc. Có thứ tưởng vô phúc té ra lại hạnh phúc. "Tái ông thất mã" mà. Nhưng về  đại thể, khi nói đến hạnh phúc thì có hai điều này, không thể thiếu mới thực sự là hạnh phúc bất biến bền vững nhất trong muôn nơi muôn thuở. Ấy là hạnh phúc trong quan hệ giữa người với người và hạnh phúc của con người trong sự hòa nhập với thiên nhiên đất trời. Triết lý phương Đông cổ trung đại là thế: Thiên nhân hợp nhất, Thiên nhân tương dự, Thiên nhân  nhất thể, Tam tài: Thiên - Địa - Nhân (con người sống trong sự Trời che Đất chở). Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có triết lý hạnh phúc trọn vẹn đó. Ở bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc, Người  đã viết: "Kháng chiến xong rồi ta trở lại/ Trăng xưa hạc cũ với xuân này". Trong khi với ai đó say sưa với triết lý "cách mạng là thường trực" "hạnh phúc là đấu tranh" thì không chừng sẽ là: "Kháng chiến xong rồi ta tiếp tục/ Tiến lên tiến nữa tiến lên hoài". Nhưng hiệu quả của quan điểm này đã là gì xin để mọi người cho ý kiến. Từ quan niệm hạnh phúc tối ưu và bền vững như vừa nói, tôi mong đất nước vào thời đại công nghiệp 4.0, đừng để xẩy ra tình trạng thoải mái phá rừng để làm thủy điện mà hậu quả là gì cũng chẳng cần phải nói nữa. Hãy tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ bảo vệ môi trường thiên nhiên, không dùng túi nilông... Riêng với các chuyên gia tài giỏi đang nhiệt tình đưa đất nước vào thời đại công nghiệp 4.0 tôi nghĩ nếu các vị vẫn dành một phần tâm hồn cho những khoái cảm khác như ngắm ánh trăng thu, ngắm những bông hoa chớm nở còn đọng sương mai, ngâm đọc thơ Kiều tả cảnh mùa xuân của thiên tài Nguyễn Du... thì cuộc sống của các vị đã đẹp càng đẹp thêm. Và không chừng tuổi thọ các vị cũng tăng thêm. Có đúng thế không thưa các vị?

1.2. Từ lời đáp tối ưu cho hai câu hỏi lớn đó hãy cố gắng giải quyết tốt những vấn đề cuộc sống đã đặt ra như sau:

- Cuộc sống đòi hỏi phải "xây dựng một nền văn hóa hiện đại tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc"; "Hòa nhập mà không hòa tan" mà thực tế xem ra còn rất lúng túng. Bởi nói là xây dựng một nền văn hóa hiện đại tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhưng thế nào là hiện đại, thế nào là tiên tiến, thế nào là đậm đà bản sắc dân tộc thì nói chung chưa đủ độ tường minh. Cũng chủ trương hòa nhập mà không hòa tan nhưng xem ra lại đang hòa tan, lại đang "dĩ Âu vi trung". Mong sao sẽ vượtqua được tình trạng này trong thời đại công nghiệp 4.0.

- Đạo đức và lối sống là thành tố cốt lõi nhất của văn hóa mà như trên đã nói là đang có chiều đi ngược với văn minh. Vậy làm sao để phanh nó lại bằng cách tạo được một trào lưu một khí thế chấn hưng đạo đức truyền thống, chấn hưng thuần phong mỹ tục của dân tộc một cách có hiệu quả. Cần thấy rằng một thời ra sức xây đắp công đức mà coi nhẹ tư đức là trái với quy luật vững bền của cuộc sống, chưa nói là ít nhiều còn tạo ra một bảng giá nhân phẩm thiếu chuẩn mực. Bởi tư đức mới là gốc rễ của công đức. Xin hãy trở lại với quy luật này trong thời đại công nghiệp 4.0...

- Chưa bao giờ khát vọng dân chủ của người dân trỗi dậy mạnh mẽ như thời nay. Đường lối của lãnh đạo cũng là nhằm xây dựng một đất nước với ba mục tiêu dân chủ công bằng và văn minh... Nhưng từ chủ trương đến thực tiễn thì xem ra còn cách nhau nhiều. Dân chủ thế nào là chính đáng và thế nào là không  chính  đáng? Để có một đời sống dân chủ đích thực hơn, những vấn đề gì cần đặt ra để giải quyết? Dân chủ sẽ đi đôi với tự do tư tưởng. Nhưng với hoàn cảnh của đất nước ta vừa đi qua thời kỳ bao cấp về tư tưởng mà nay muốn có thì thế nào mới là thực chất và chính đáng.     

- Trong cuộc sống của đất nước hôm nay, cái thằng Tôi (Le Moi) đã và đang có chiều hướng trỗi dậy như ngựa không cương. Phải làm sao để mọi người nhận thức tường minh rằng: Từ một cái Tôi mà có hai ngả: Một là cái Tôi nhân văn (L'individu) cần cầu nguyện cho nó trỗi dậy sớm ngày nào hay ngày ấy để đất nước được nhờ. Một là cái Tôi phản nhân văn (L'Individualisme) khốn nạn phải tiêu diệt đến cùng nếu không đất nước sẽ tan hoang. Phải làm sao tiêu diệt được giặc nội xâm là tham nhũng, đặc sản của cái Tôi phản nhân văn đó.

- Với đất nước hôm nay, cái phần con trong con người cũng đã bắt đầu tháo cũi sổ lồng chạy rông trước mặt thiên hạ và hô reo tôi sống đúng với tôi đây. Tạo hóa cho tôi hạnh phúc này sao lại cấm tôi không được hưởng. Cụ Nguyễn Du ngày trước tả cơ thể nàng Kiều "Rõ ràng trong ngọc trắng ngà? Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên" chỉ là sex nửa vời. Phải toác toạc toàng toang ra mới khoái chứ. Chúng ta nghĩ như thế nào trước sự đời này nhỉ? Nếu cứ theo đà này thì con người có khác động vật nữa không? Nạn mại dâm bán dâm, hiếp dâm, nạn quấy rối tình dục đang có chiều hướng lan tràn khắp nơi khắp chốn kia mà. Làm sao để chấm dứt tình trạng này bằng sự rạch ròi giữa sex nhân bản và sex động vật một khi đất nước phấn khởi đi vào thời đại 4.0?

- Đất nước hôm nay gần như đâu đâu cũng nói đổi mới tư duy. Nhưng đổi mới tư duy thế nào mới là đích đáng. Hôm qua làm thế kia, hôm này làm thế này khác đi mà nói đã đổi mới tư duy thì đâu đã phải? Với hiện tình của đất nước, muốn đổi mới tư duy thì phải mạnh dạn nhìn ra những hạn chế về trình độ tư duy của dân tộc mình, từ đó phải cố gắng vươn lên trình độ tư duy cao cấp đúng với quy luật phát triển của thế giới. Cụ thể là phải rèn luyện nhằm vượt qua năng lực tư duy cụ thể, tư duy sự vụ chủ yếu chỉ nhận thức sự vật ở cấp độ hiện tượng để có năng lực tư duy trừu tượng khoa học nhận thức sự vật không chỉ ở cấp độ hiện tượng mà quan trọng hơn là ở mối quan hệ giữa các hiện tượng vốn là trừu tượng, từ đó mà có tư duy hệ thống, tư duy tích hợp cần cho cuộc sống. Thứ đến là phải vượt qua trình độ tư duy xã hội học giản đơn chỉ quen nhận thức cuộc sống ở biểu hiện bề ngoài để có tư duy triết học nhận thức sự sống ở độ phong phú phức tạp sâu kín nhất. Thứ nữa là phải vượt qua trình độ tư duy cộng đồng, ăn theo nói leo, rập khuôn theo công thức có sẵn để có tư duy cá thể, tư duy sáng tạo. Đi vào thời đại công nghiệp 4.0 hay 5G gì gì đi nữa mà không nâng cao được trình độ tư duy như thế thì không chừng chỉ là xứ sở hưởng thụ thành quả của nước khác.

Xin được chỉ giáo và trao đổi ý kiến!

 

TS. Nguyễn Danh Tiên - Nguyễn Thị Mai Chi

 

Đồng chí Nguyễn Duy Trinh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch, Ủy ban Khoa học Nhà nước… là nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, dù ở đâu và trong hoàn cảnh nào, đồng chí cũng nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, gian khổ, góp phần đặc biệt quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Với ý nghĩa đó, bài viết đi sâu làm rõ những cống hiến xuất sắc đồng chí Nguyễn Duy Trinh đối với cách mạng Việt Nam và quê hương Nghệ An.

1. Đồng chí Nguyễn Duy Trinh với cách mạng Việt Nam

Sinh ngày 15/7/1910 tại xã Nghi Thọ (nay là xã Phúc Thọ), huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, đồng chí Nguyễn Duy Trinh sớm đi theo con đường đấu tranh cách mạng, chống thực dân, đế quốc, giải phóng dân tộc. Sau những năm đầu hoạt động tại quê nhà cũng như trải qua nhiều nhà lao của đế quốc, thực dân, Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (2/9/1945), theo sự phân công của Đảng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh giữ nhiều chức vụ quan trọng: Bí thư Khu ủy V (11-1946); Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Khu V (12/1946); Chủ tịch Ban Tản di cư miền Nam Trung bộ (6/1947); Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam Trung bộ (1/1948); Bí thư Liên khu ủy V (3/1949); Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính miền Nam Trung bộ (6/1950)(1)… Trong thời gian công tác tại Nam Trung bộ, đồng chí đã lăn lộn, bám sát thực tiễn trong phong trào kháng chiến, tích cực xây dựng căn cứ địa, vùng tự do cách mạng ở Nam Trung bộ, đặc biệt là trên cương vị Bí thư Liên khu ủy V, đồng chí đã có nhiều đóng góp trong công tác xây dựng Đảng; qua đó, xây dựng Đảng bộ Liên khu V phát triển mạnh mẽ, lãnh đạo phong trào kháng chiến ở Liên khu tiến bộ rõ rệt. Nhìn chung, sự năng động trong thực tiễn đầy gian khổ, hy sinh mà đồng chí Nguyễn Duy Trinh trải qua đã góp phần hình thành quan điểm, đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng. 

Sau Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu V lần thứ II (tháng 7, tháng 8/1951), đồng chí Nguyễn Duy Trinh được điều về Trung ương nhận nhiệm vụ mới. Phát huy những kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo trong quá trình công tác tại Nam Trung bộ, đồng chí tiếp tục có những đóng góp quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, năm 1955, đồng chí Nguyễn Duy Trinh được bầu vào Ban Bí thư(2), Ủy viên Bộ Chính trị (1956). Tại kỳ họp lần thứ tám, Quốc hội khóa I (4/1958), đồng chí Nguyễn Duy Trinh được cử làm Bộ trưởng Phủ Thủ tướng. Đến kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa I (12/1958), Quốc hội phê chuẩn đề nghị của Hội đồng Chính phủ để đồng chí Nguyễn Duy Trinh thôi giữ chức Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Tại Ðại hội Ðảng lần thứ III (9/1960), đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Ðảng và Bộ Chính trị. Trước đó, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa II (7/1960), đồng chí được Quốc hội phê chuẩn làm Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước và Ủy viên Hội đồng Quốc phòng. Đến tháng 1/1963, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định bổ nhiệm và miễn nhiệm một số thành viên của Hội đồng Chính phủ. Theo đó, Phó Thủ tướng Nguyễn Duy Trinh kiêm chức Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước kiêm thêm chức Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước(3).

Giữ cương vị cấp cao của Đảng, được Quốc hội phê chuẩn giữ nhiều chức vụ quan trọng, nhưng ở cương vị nào, đồng chí Nguyễn Duy Trinh cũng thể hiện năng lực lãnh đạo, luôn đi sâu, đi sát mọi vấn đề để lãnh đạo, chỉ đạo sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Hơn nữa, ý thức được trách nhiệm trước công việc được giao, bằng tài năng và sáng tạo của bản thân, cùng với sự tin tưởng, tôn trọng ý kiến của nhiều người, trên cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã có nhiều đóng góp quan trọng vào chiến lược, sách lược về phát triển kinh tế và cải tạo xã hội, phát triển văn hoá, khoa học sát với từng vùng, miền, từng thời điểm cách mạng, động viên được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân không ngừng phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. 

Điều đáng nói, cống hiến của đồng chí Nguyễn Duy Trinh giai đoạn này không chỉ qua hoạt động thực tiễn, mà còn đóng góp quan trọng về mặt lý luận. Đồng chí đã có nhiều bài nói, bài viết sắc sảo, thấm đẫm thực tiễn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, phản ánh kịp thời sự lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến của Đảng, của Chính phủ. Qua các tác phẩm của đồng chí được đăng tải trên Tạp chí Học tập đã cho thấy những quyết sách đúng đắn, kịp thời của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị. Đặc biệt, trên cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã có nhiều bài viết, báo cáo thể hiện rõ sự chỉ đạo toàn diện và sâu sát trong công cuộc đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Những tác phẩm của đồng chí Nguyễn Duy Trinh thể hiện rõ tư duy lý luận và thực tiễn sâu sắc về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về các mối quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế quốc dân, về các nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài của miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Ngày 28/1/1965, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định Phó Thủ tướng Nguyễn Duy Trinh kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thay đồng chí Xuân Thủy(4). Đây là thời kỳ đồng chí Nguyễn Duy Trinh có những cống hiến đặc biệt xuất sắc đối với ngành ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đồng chí làm Bộ trưởng Ngoại giao trong suốt 10 năm của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1965-1975) vô cùng khó khăn, gian khổ, nhưng cũng đầy vinh quang, hào hùng và oanh liệt của dân tộc. Đây cũng là giai đoạn cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam được đẩy đến mức cao nhất.

Trong những năm tháng này, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế gặp nhiều khó khăn. Trên cương vị là Bộ trưởng Bộ ngoại giao, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã tham gia nhiều hội nghị của Bộ Chính trị, của Trung ương Đảng và Chính phủ để xây dựng hoàn thiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, phù hợp với tình hình thực tiễn, nhằm đoàn kết, tập hợp lực lượng quốc tế hiểu đúng về Việt Nam, để từ đó, giúp đỡ, ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ. 

Để thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, Đảng chủ trương đẩy mạnh hoạt động ngoại giao, vận động bằng nhiều hình thức để tranh thủ sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em cũng như sự ủng hộ của các nước thế giới thứ ba, các lực lượng yêu chuộng hoà bình trên thế giới, hàng loạt phái đoàn ngoại giao của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã được cử ra nước ngoài đều thực thi sứ mệnh quan trọng đó. Ngoài các đoàn của nguyên thủ quốc gia, trên cương vị là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã có nhiều cuộc tiếp xúc, gặp gỡ nhiều nước và các tổ chức tiến bộ trên thế giới. Qua đàm phán, nhiều nguồn viện trợ được ký kết, nhiều tổ chức đoàn kết với Việt Nam được thành lập để ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam. Đó không chỉ là thắng lợi về chính trị ngoại giao mà cả về kinh tế, quốc phòng, đảm bảo nguồn lực cũng như hậu thuẫn cần thiết cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta theo phương châm "càng đánh càng mạnh", "càng đánh càng thắng".

Tháng 1/1967, Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đề ra chủ trương mở mặt trận đấu tranh ngoại giao vận dụng sách lược "vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh" để cùng các mặt trận quân sự và chính trị tạo thế và lực mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi. Người dân cả nước đã nức lòng khi người đứng đầu Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh ra Tuyên bố ngày 28/1/1967, nêu rõ: Chỉ sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và các hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ mới có thể nói chuyện. Tuyên bố này là một đòn tấn công ngoại giao lớn, nhằm làm thất bại hẳn luận điệu "đàm phán không điều kiện" mà Mỹ từng đưa ra suốt hai năm trước đó để làm bình phong leo thang chiến tranh, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán.

Thành công nổi bật trong công tác đối ngoại thời kỳ này là quá trình đàm phán đi đến ký kết Hiệp định Pari theo phương thức "vừa đánh vừa đàm". Theo đó, sau thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, các vòng đàm phán tại Hội nghị Pari diễn ra từ tháng 5/1968 đến tháng 1/1973. Đây là cuộc đấu trí giữa nền ngoại giao nhà nghề của một siêu cường với nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ. Sau gần 5 năm đấu trí đầy bản lĩnh với hơn 200 phiên họp công khai, 45 cuộc họp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn, cuộc đàm phán kết thúc bằng việc ký kết chính thức Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27-1-1973. Thắng lợi vẻ vang trên mặt trận ngoại giao buộc Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, mở đường cho những thắng lợi về sau. Quá trình đi đến thắng lợi trên mặt trận ngoại giao của một nhà nước còn non trẻ ghi đậm dấu ấn và công lao to lớn của đồng chí Nguyễn Duy Trinh trên cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Hơn nữa, với tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh chính trị và kinh nghiệm hoạt động cách mạng dạn dày, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã chứng tỏ là một nhà ngoại giao xuất sắc của Ðảng và Nhà nước, góp phần xây dựng một nền ngoại giao Việt Nam hiện đại mà nền tảng là tư tưởng và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh.

Sau năm 1975, trước yêu cầu mới của đất nước, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh đã sớm nêu ra nhiệm vụ ngoại giao phục vụ khôi phục và phát triển kinh tế. Trong thời kỳ này, dưới sự lãnh đạo của Ðảng và sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Duy Trinh, ngành ngoại giao Việt Nam vừa tranh thủ sự hỗ trợ của các nước xã hội chủ nghĩa và cộng đồng thế giới, vừa đấu tranh chống bao vây cấm vận. Chính trong thời kỳ khó khăn ấy, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Liên hợp quốc, đánh dấu việc cộng đồng thế giới công nhận tính pháp lý và tư cách đại diện của Nhà nước ta tại tổ chức đa phương lớn nhất toàn cầu này.

Trong công tác xây dựng ngành, Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh luôn coi trọng công tác xây dựng ngành ngoại giao một cách toàn diện, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngoại giao; coi việc mở rộng dân chủ, tăng cường đoàn kết, đề cao kỷ luật là nhân tố tạo nên sức mạnh cho toàn ngành. Đặc biệt, chính ông là người đề xuất việc xây dựng quy hoạch đào tạo cán bộ cấp Vụ trẻ và qua hoạt động thực tiễn, đã đào tạo nhiều đội ngũ cán bộ ngoại giao giỏi cho đất nước sau này. Nhận xét về đồng chí Nguyễn Duy Trinh, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp viết: "Qua công tác đối ngoại, Anh thể hiện là một nhà ngoại giao xuất sắc của Ðảng và Nhà nước ta..."(5).

Năm 1982, tại Ðại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ V của Ðảng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Ðảng và được phân công Thường trực Ban Nghiên cứu Chiến lược kinh tế - xã hội của Trung ương Ðảng và Chính phủ. Không những vậy, đồng chí Nguyễn Duy Trinh còn là đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII, có nhiều đóng góp trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau này là Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trong đời thường, đồng chí Nguyễn Duy Trinh có lối sống giản dị, cần kiệm, liêm chính, gần gũi và yêu mến nhân dân. Đó là đức tính mà đồng chí tiếp nhận từ gia đình, quê hương và được bồi đắp, nuôi dưỡng trọn đời mình. Không chỉ trong thời kỳ hoạt động gian khổ, thiếu thốn mà sau khi cách mạng đã thành công, chuyển sang thời kỳ Đảng cầm quyền, bản thân đồng chí trở thành một cán bộ cao cấp của Đảng, giữ nhiều trọng trách quan trọng, nhưng đồng chí Nguyễn Duy Trinh vẫn giữ nếp sống giản dị, thanh đạm, chan hoà nhưng tâm hồn trong sáng ung dung, tự tại. Với tài năng, phẩm chất đạo đức ấy, đồng chí Nguyễn Duy Trinh thực sự là tấm gương sáng ngời để các thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ nối tiếp nhau học tập, noi theo.

Năm 1985, đồng chí Nguyễn Duy Trinh từ trần, để lại niềm tiếc thương vô hạn đối với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.

2. Đồng chí Nguyễn Duy Trinh với quê hương Nghệ An

Sinh ra và lớn lên ở một miền quê nghèo khổ, nhưng giàu truyền thống văn hiến, văn hóa và đấu tranh cách mạng, lại ở trong một giai đoạn lịch sử đầy đau thương, chứng kiến cảnh nước mất nhà tan nên đồng chí Nguyễn Duy Trinh sớm có tinh thần yêu nước và đấu tranh cách mạng. Năm 1927, đồng chí tham gia các phong trào học sinh chống áp bức của đế quốc, phong kiến đòi tự do hoạt động ở thành phố Vinh. Năm 1928, đồng chí Nguyễn Duy Trinh tham gia Đảng Tân Việt - một trong những tổ chức tiền thân của Đảng; tích cực hoạt động ở Sài Gòn - Gia Định, bị thực dân Pháp bắt và kết án 18 tháng tù, trục xuất về quê. 

Năm 1930, Nguyễn Duy Trinh là một trong những đảng viên lớp đầu tiên của Đảng. Đây là dấu mốc đặc biệt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Nguyễn Duy Trinh.

Trong Cao trào cách mạng 1930-1931, ở huyện Nghi Lộc, phong trào dấy lên từ những ngày đầu, được duy trì, phát triển mạnh mẽ, liên tục từ tháng 5/1930 đến tháng 5/1931. Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng địa phương, thực dân Pháp đã tìm mọi cách dập tắt phong trào. Hàng loạt cuộc vây bắt, truy lùng cán bộ, triệt phá làng mạc xảy ra. Hàng trăm cán bộ, quần chúng cách mạng bị bắt bớ, tù đày và bị giết hại. Đây là tổn thất nặng nề cho Đảng bộ Nghi Lộc. Lúc này, đồng chí Nguyễn Duy Trinh tham gia phong trào cách mạng ở Nam bộ, bị thực dân Pháp trục xuất về quê từ đầu năm 1931, đang bí mật hoạt động ở địa phương đã liên lạc với các đồng chí vừa thoát khỏi cuộc vây lùng của địch, tổ chức Hội nghị lập ra Ban Cán sự Huyện uỷ, tiếp tục duy trì hoạt động của Đảng bộ. Đồng chí Nguyễn Duy Trinh được bầu làm Bí thư. Tổ chức Đảng vừa khôi phục, phong trào vừa nhóm lên, hoạt động chưa được bao lâu lại bị kẻ địch ráo riết khủng bố. Đến tháng 11/1931, các cấp bộ Đảng ở huyện Nghi Lộc tan rã; phần lớn cán bộ đảng viên bị địch bắt. Đồng chí Nguyễn Duy Trinh là một trong những người bị bắt cuối cùng trong đợt khủng bố ngày 18/1/1932. 

Từ năm 1932 đến tháng 5/1945, Nguyễn Duy Trinh bị lưu đày trong nhiều nhà tù khét tiếng tàn bạo của thực dân, phong kiến. Trong gần 15 năm bị cầm tù, đồng chí đã trải qua các Nhà lao Vinh, Nhà tù Buôn Ma Thuột, trại tập trung Ðác Tô, Kon Tum, Côn Ðảo; bị liệt vào một trong những phần tử cộng sản nguy hiểm, bị tra tấn dã man. Tuy nhiên, "xiềng sắt, gông xích" của nhà tù không thể lay chuyển ý chí người cộng sản kiên trung. Trong tù, Nguyễn Duy Trinh cùng với các đồng chí cách mạng tiền bối như Phan Ðăng Lưu, Hà Huy Tập, Lê Duẩn, Phạm Văn Ðồng, Phạm Hùng, Tôn Ðức Thắng, Lê Văn Lương... đã biến nhà tù của thực dân thành trường học cách mạng của những người cộng sản yêu nước và là một trong những người tích cực biên soạn, tổ chức những lớp học nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênin, về đường lối chiến tranh du kích của Mặt trận Việt Minh. Hơn nữa, nêu cao khí tiết của người cộng sản, Nguyễn Duy Trinh đã tổ chức đoàn kết bạn tù bàn cách đấu tranh, buộc kẻ thù phải giảm bớt chế độ lao tù khắc nghiệt. Như vậy, dù gặp nhiều thử thách chông gai, nhưng "lửa thử vàng, gian nan thử sức", Nguyễn Duy Trinh đã thể hiện bản lĩnh của người cộng sản kiên trung. Chiến đấu trong lòng địch, không may sa vào tay kẻ thù, nhưng đồng chí đã giữ trọn khí tiết của người cộng sản. Đây là dấu ấn sâu đậm và là đặc điểm nổi bật trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Nguyễn Duy Trinh.

Năm 1945, khi ra tù, Nguyễn Duy Trinh tham gia tổ chức khởi nghĩa ở Vinh và Huế, sau đó được cử giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước. Nhưng dù công tác ở đâu và trên cương vị nào, Nghệ An - nơi "chôn nhau cắt rốn" vẫn là nơi ông dành nhiều tình cảm đặc biệt. Tháng 8/1963, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An được tổ chức(6). Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ dự và chỉ đạo Đại hội, đồng chí phát biểu tập trung vào ba vấn đề chính: Nhận rõ hơn nữa đặc điểm và phương hướng, nhiệm vụ của tỉnh Nghệ An; Tiếp tục hoàn thành tốt nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa; Mấy ý kiến bổ sung về công tác xây dựng Đảng.

 Đồng chí Nguyễn Duy Trinh nhấn mạnh: Chắc rằng toàn Đảng bộ và nhân dân Nghệ An, dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội lần này, sẽ phát huy mọi thuận lợi của địa phương, khắc phục mọi khó khăn, và sẽ giành được những thắng lợi mới để đưa Nghệ An thành một tỉnh khá nhất ở miền Bắc như Hồ Chủ tịch đã chỉ thị. Khi về địa phương, các đồng chí sẽ tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong Đảng bộ và nhân dân những Nghị quyết của Đại hội này kết hợp với việc phổ biến các nghị quyết khác của Đảng, biến chủ trương của Đảng thành quyết tâm của nhân dân, thành sức mạnh vật chất cụ thể. Trước mắt, các đồng chí cần phải chú ý làm các công tác sau đây: Ra sức chăm sóc và thu hoạch tốt vụ thu và tích cực thi đua làm vụ mùa đạt năng suất cao; Tranh thủ trồng nhiều rau và màu ngắn ngày, để phòng giáp hạt tháng 8, tháng 9; Làm tốt nhiệm vụ thu mua;  Tích cực phòng và chống bão lụt(7).

Thực hiện sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Duy Trinh, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Nghệ An đã nỗ lực phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ đề ra, qua đó, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau này.

Tri ân công lao to lớn của đồng chí Nguyễn Duy Trinh - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam; được sự chỉ đạo của các cơ quan Trung ương và cấp ủy, chính quyền các cấp, thể theo nguyện vọng Hội đồng gia tộc và gia đình, Ủy ban nhân dân huyện Nghi Lộc đã triển khai phục dựng và tôn tạo các công trình Nhà lưu niệm đồng chí Nguyễn Duy Trinh. Dự án được khởi công xây dựng vào ngày 8/10/2014. Đến ngày 18/8/2018, Khu tưởng niệm đồng chí Nguyễn Duy Trinh tại xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đưa vào sử dụng. Đây là hoạt động bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử văn hóa, là dịp để Đảng bộ nhân dân xã Phúc Thọ nói riêng, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An nói chung tri ân, ghi nhớ công lao to lớn của đồng chí Nguyễn Duy Trinh.

Thời gian không ngừng trôi, lịch sử dân tộc Việt Nam chắc chắn sẽ được viết tiếp những trang sử mới, nhưng những cống hiến xuất sắc của đồng chí Nguyễn Duy Trinh với cách mạng Việt Nam và quê hương Nghệ An vẫn sẽ còn mãi. Với 75 tuổi đời, gần 60 năm hoạt động cách mạng liên tục cả ba miền Trung, Nam, Bắc và với 57 năm tuổi Đảng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh được Đảng, nhân dân tin cậy giao phó nhiều trọng trách "Ở bất kỳ cương vị nào, đồng chí Nguyễn Duy Trinh cũng chứng tỏ được vai trò, phẩm chất và bản lĩnh của một nhà lãnh đạo có tầm nhìn và tư duy sâu rộng, luôn sâu sát, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành"(8). Đồng chí là người văn võ song toàn, giỏi cả trên phương diện chính trị, ngoại giao, kinh tế và khoa học, là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Sao Vàng - phần thưởng cao quý nhất của Đảng và Nhà nước. Không những vậy, tên tuổi của ông đã gắn với tên đất, tên đường, tên trường học, có lay động và thôi thúc lòng người. Đồng chí mãi là niềm tự hào và là tấm gương sáng để các thế hệ người Việt Nam học tập noi theo, cùng nhau chung sức đồng lòng, phấn đấu xây dựng một Việt Nam: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đưa đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu như sinh thời Bác Hồ đã từng mong đợi!

Chú thích

1. Ban chỉ đạo bên soạn Lịch sử Chính phủ Việt Nam, Ủy ban Kháng chiến Hành chính miền Nam Trung bộ (1945-1954), Nxb. Đại học Sư phạm, H.2006, tr.13, 20, 21, 27, 160, 557.

2. Tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ II của Đảng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

3. Xem thêm Văn phòng Quốc hội, Lịch sử Quốc hội Việt Nam (1946-1960), Nxb CTQG, H.1994.

4. Vì lý do sức khỏe.

5. Nguyễn Duy Trinh, Hồi ký và tác phẩm, Nxb CTQG, H.2003, tr.105.

6. Đại hội nhằm kiểm điểm các mặt hoạt động đã qua và đi đến những quyết nghị nhằm lãnh đạo nhân dân toàn tỉnh phấn đấu thực hiện tốt những Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965).

7. Nguyễn Duy Trinh - Tác phẩm, Tập 1, Nxb CTQG, H.2014, tr.632-656.

8. Phạm Gia Khiêm, Phát biểu khai mạc tại hội thảo "Đồng chí Nguyễn Duy Trinh và sự nghiệp ngoại giao", Hà Nội, ngày 14/7/2010.

 

PGS.TS Trần Đức Cường

Vào nửa cuối thập kỷ 20 của thế kỷ XX, trước ách áp bức, bóc lột dã man của chủ nghĩa tư bản và các nước đế quốc, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở một loạt nước thuộc địa và nửa thuộc địa như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia, Xiri, Maroc… đã diễn ra dưới nhiều hình thức vô cùng phong phú, thậm chí ở một số nơi còn nổ ra các cuộc khởi nghĩa vũ trang.

Ở Việt Nam, phong trào yêu nước dưới nhiều hình thức và xu hướng chính trị cũng phát triển. Phong trào công nhân ngày càng lan rộng và dần dần tiếp cận trình độ có tổ chức. Trước ảnh hưởng của các trào lưu cách mạng thế giới, cuộc đấu tranh về đường lối giải phóng dân tộc xuất hiện trong các lực lượng yêu nước, chủ yếu giữa hai khuynh hướng cách mạng và cải lương giữa một bên là đường lối cách mạng của giai cấp công nhân và một bên theo đường lối của giai cấp tư sản.

Cuộc đấu tranh giữa các khuynh hướng cách mạng trở nên phức tạp hơn khi cùng trong khoảng một thời gian, ba tổ chức cách mạng lần lượt ra đời là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Tân Việt Cách mạng Đảng và Việt Nam Quốc dân Đảng. Các tổ chức này đều "đưa chương trình chính trị của mình ra để tranh thủ quần chúng"(1).

Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên là một tổ chức có xu hướng mácxit do Nguyễn Ái Quốc lập ở Quảng Châu, Trung Quốc vào tháng 6 năm 1925 có chính cương rõ ràng: "…lãnh đạo quần chúng ấy phấn đấu (đấu tranh - TG) với thống trị giai cấp, phấn đấu với việc người áp bức người, người bóc lột người để phá tan cái xã hội bất bình hiện tại mà lập ra xã hội ai cũng phải làm, ai cũng đủ dùng, ai cũng tự do, bình đẳng tức là xã hội cộng sản"(2).

Với chính cương này, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên thu hút được sự tham gia của đông đảo quần chúng yêu nước khắp Bắc - Trung - Nam và được tổ chức tương đối chặt chẽ gồm năm cấp: tổng bộ, kỳ bộ, tỉnh bộ và chi bộ. Tổng bộ đầu tiên có Lý Thụy (tức Nguyễn Ái Quốc), Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn…

Tân Việt Cách mệnh Đảng là một tổ chức chính trị yêu nước gồm những trí thức tiểu tư sản gồm học sinh, sinh viên, công chức, người làm nghề tự do và một số nhà sư cấp tiến. Trong số những thành viên tích cực của Tân Việt cách mệnh Đảng có nhiều tri thức tân học, sớm tiếp thu các trào lưu tiến bộ mới thông qua sách báo tiến bộ để hướng phong trào đi theo con đường đấu tranh mới như Trần Phú, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Sĩ Sách, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai… Số này, sau khi việc hợp nhất với Hội Việt Nam Thanh niên không thành, đã chuyển sang Thanh niên. Mục đích của Tân Việt cách mệnh Đảng được ghi trong Đảng chương là: "Liên hợp cả các đồng chí trong ngoài, trong thì dẫn đạo công nông binh, quần chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa đặng kiến thiết một xã hội bình đẳng bác ái mới"(3).

Tân Việt Cách mệnh Đảng phát triển chủ yếu ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và cùng lập được một số tiểu tổ ở Hà Nội, Nam Định, Hòn Gai, Sài Gòn, Chợ Lớn, Tân An, Mỹ Tho, Cần Thơ, Biên Hòa…

Để đáp ứng yêu cầu của phong trào yêu nước và phong trào công nhân đang ngày càng phát triển, khoảng năm 1927, tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng - sau đó sẽ phát triển thành Tân Việt Cách mạng Đảng đã cử nhiều hội viên sang Quảng Châu (Trung Quốc) để dự lớp huấn luyện của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Nổi bật lên trong số này là Trần Phú, Nguyễn Sỹ Sách, Nguyễn Thị Minh Khai… Sau khi hoàn thành khóa huấn luyện, phần lớn các hội viên Hội Việt Nam Cách mạng đều tự nguyện gia nhập Thanh niên, trong đó có đồng chí Nguyễn Sỹ Sách. Nguyễn Sỹ Sách đã nổi lên là một chiến sĩ cách mạng kiên trung, có tầm lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động của tổ chức cách mạng. Đồng chí quê ở Làng Tư Viên, nay là xã Thanh Lương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Đồng chí tham gia tổ chức Phục Việt khi mới 23 tuổi. Năm 1927, đồng chí được cử tham dự lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu (Trung Quốc), được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Cộng sản Đoàn. Đồng chí được Tổng hội cử và triển khai việc hợp nhất Hội Việt Nam cách mạng thanh niên với Việt Nam cách mạng đồng chí Hội. Trong thư gửi "các đồng chí trong nước" của Tổng hội Việt Nam Thanh niên Cách mệnh đồng chí vào ngày 18 tháng 3 năm 1928 sau khi nêu nguyên tắc việc hợp nhất hai tổ chức cách mạng, có nêu rõ:

"Ngoài một số ý kiến lớn nói trên, còn các chi tiết khác, đồng chí Nguyễn Sỹ Sách sẽ bàn thêm"(4).

Với sự giới thiệu của Tổng hội và uy tín cá nhân, khi về nước, đồng chí Nguyễn Sỹ Sách được bầu làm bí thư Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Trung kỳ tại Đại hội đảng bộ Trung kỳ(5).

Nhận nhiệm vụ quan trọng, đồng chí đã cùng Kỳ bộ củng cố tổ chức của Hội từ cấp Kỳ đến cấp cơ sở và tăng cường công tác vận động quần chúng, trước hết là công nhân và nông dân. Cùng với kỳ bộ Bắc kỳ và Kỳ bộ Nam kỳ, Kỳ bộ Trung kỳ đã thành lập được tổ chức công hội tại một số nhà máy ở Hà Nội, Hải Phòng, Hòn Gai, Vinh, Bến Thủy, Nam Định, Sài Gòn, dù quy mô còn nhỏ hẹp và chưa được liên kết thành hệ thống.

Vào thời gian này, công tác huấn luyện chính trị và phương pháp hoạt động cho hội viên được Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên chú trọng ở cả ba kỳ. Tác phẩm Đường Kách Mệnh và báo Thanh niên được Tổng bộ cung cấp tương đối thường xuyên cho các kỳ bộ Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ. Cùng với đó là một số sách báo và tài liệu quốc tế khác như Thư tín quốc tế (la correspondance Internationle) và báo Nhân đạo (L'Humannite) của Đảng Cộng sản Pháp. Kỳ bộ Bắc kỳ còn thường xuyên nhận được một số sách từ nước ngoài gửi về, chủ yếu bằng tiếng Pháp, như: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Hai sách lược của Đảng xã hội Dân chủ trong cách mạng Dân chủ, Chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản, Làm gì?, Một bước tiến hai bước lùi, Nhà nước và cách mạng…

Một số tờ báo của các lực lượng yêu nước, chủ yếu của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở các địa phương cũng được phổ biến đến tận cơ sở của Hội ở cả Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, như Tiếng chuông, Lao khổ, Đồng Thanh (được xuất bản từ Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên ở Thái Lan). Tháng 7 năm 1928, khi Nguyễn Ái Quốc sang hoạt động trong phong trào yêu nước của người Việt ở Phì Chịt (Thái Lan), người đã đổi tờ Đồng Thanh thành tờ Thân Ái, dịch hai cuốn Nhân loại tiến hóaABC chủ nghĩa cộng sản đã cung cấp cho các hội viên Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên và những người Việt Nam yêu nước học tập, tham khảo…

Các tài liệu trên đây đã giúp cho các hội viên Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên nâng cao trình độ lý luận và tiến dần đến những hiểu biết về mục đích tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường của giai cấp vô sản.

Kỳ bộ Trung kỳ của tổ chức Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên dưới sự lãnh đạo của Kỳ bộ do Nguyễn Sỹ Sách làm bí thư đã tổ chức việc học tập lý luận cho hội viên dưới nhiều hình thức như truyền tay nhau các tài liệu học tập, tuyên truyền quảng bá mục tiêu và các phương thức hoạt động của Hội…không những thế, Hội còn tích cực tuyên truyền, giác ngộ nhằm lôi kéo thêm lực lượng công nhân tham gia tổ chức Hội, tổ chức phong trào "Vô sản hóa" nhằm tạo điều kiện cho các hội viên xuất thân thành phần tiểu tư sản yêu nước đưa lý thuyết cách mạng đến với công nhân…

Trong khoảng thời gian các năm 1928-1929, một số biến động trong phong trào yêu nước và phong trào công nhân trong và ngoài nước ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của tổ chức Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Trước hết là những hành động điên cuồng đàn áp phong trào cách mạng ở Trung Quốc của chính quyền Tưởng Giới Thạch đã buộc Trung Ương bộ Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên từ Quảng Châu (Trung Quốc) phải chuyển sang Hương Cảng (Trung Quốc). Tiếp đó, ở trong nước, tại Nam kỳ, nhân vụ Bác-bi-ê tại Sài Gòn vào đầu tháng 12 năm 1928, thực dân Pháp đã điên cuồng chống phá phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân ta, phá vỡ bộ máy lãnh đạo của Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Nam kỳ đã xây dựng được. Để khắc phục tình trạng trên đây và tiếp tục phát triển phong trào, Trung ương bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã quyết định tổ chức một Hội nghị trù bị để chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I tại Hương cảng với sự tham gia của một số lãnh đạo chủ chốt của Hội gồm: Lê Hồng Sơn, Lê Duy Điểm, Lâm Đức Thụ (Trung ương bộ), Trần Văn Cung (Bí thư Kỳ bộ Bắc kỳ) và Nguyễn Sỹ Sách (Bí thư Kỳ bộ Trung kỳ).

Hội nghị đã trao đổi về tình hình hoạt động của Hội trong toàn quốc, về đường lối chính trị trong thời kỳ mới của cách mạng. Ngày 23 tháng 1 năm 1929, Hội nghị thông qua Án Nghị Quyết, quyết định tiến hành đệ nhất toàn quốc đại biểu đại hội vào ngày 1 tháng 5 năm 192965).

Sau Hội nghị trù bị lần thứ nhất (tháng 1 năm 1929 và hội nghị trù bị lần thứ 2 (cuối tháng 4 năm 1929), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Tổng bộ triệu tập diễn ra tại Hương Cảng (Trung Quốc) từ ngày 1 đến ngày 9 tháng 5 năm 1929. Tại đại hội, đã diễn ra sự phân biệt giữa quan điểm cần thành lập ngay một Đảng Cộng sản để lãnh đạo phong trào cách mạng trong cả nước và quan điểm cho rằng trước hết cần cải tổ Hội rồi mới đặt vấn đề thành lập Đảng Cộng sản. Dù vậy, do yêu cầu bức bách của phong trào cách mạng trong cả nước, sau khi Đại hội kết thúc, Trung ương chấp ủy Việt Nam Cách mạng Thanh niên liền thành lập Ban trù bị tổ chức Đảng Cộng sản trong đó bao gồm hầu hết các thành viên trong Trung ương chấp ủy mới gồm Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Duy Điếm, Phạm Văn Đồng, Châu Văn Liêm và Nguyễn Sỹ Sách.

Ngay sau Đại hội, đồng chí Nguyễn Sỹ Sách, Bí thư kỳ hộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Trung kỳ, ủy viên Hội trù bị tổ chức Đảng Cộng sản được phân công về nước xây dựng Ban vận động xây dựng Hội trù bị tổ chức Đảng Cộng sản. Về đến Vinh, đồng chí Nguyễn Sỹ Sách gặp một số đồng chí khác như Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Ngọc Tuyết xây dựng được một số cơ sở ở huyện Thanh Chương và ở Vinh thì đồng chí Nguyễn Sỹ Sách và Nguyễn Văn Lợi không may bị mật thám Pháp bắt.

Để đối phó với phong trào cách mạng ngày càng phát triển, thực dân Pháp đã tiến hành bắt bớ nhiều nhà cách mạng và chiến sĩ yêu nước trên cả ba vùng Bắc, Trung, Nam. Tại Nghệ An, ngày 29 tháng 7 năm 1929, dưới dự đạo diễn của thực dân Pháp, tòa án Nam Triều đã đưa ra xét sử 45 chiến sĩ yêu nước và cách mạng, trong đó ghép án tử hình đối với Nguyễn Ái Quốc (xử vắng mặt), Trần Văn Cung, Nguyễn Trần, Vương Thúc Oánh, Hồ Tùng Mậu, Lê Duy Điếm, Trần Phú và án khổ sai chung thân đối với Nguyễn Sỹ Sách, Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Văn Thiệu, Võ Nhai, Nguyễn Văn Hậu… Đồng chí Nguyễn Sỹ Sách đã tỏ ra dũng cảm trước sự đàn áp của kẻ thù. Bị chúng đày ở nhà tù Lao Bảo, đồng chí đã anh dũng hy sinh trong năm 1929, khi chưa được biết về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930 như ước mong và mục tiêu mà đồng chí đang tích cực thực hiện với tư cách là ủy viên Ban trù bị tổ chức Đảng Cộng sản. Đồng chí thực xứng đáng là một chiến sỹ Cộng sản kiên trung.

 

Chú thích

1. Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới. NXB Sự thật, Hà Nội 1970, tr.7

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 1, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội 1997, tr.107

3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 1. Đã dẫn, tr.143

4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 1, Sđd, tr.86

5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 1, Sđd, tr.647

6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, tập I, Sđd, tr.87

 

Thái Huy Bích

Đền Phúc Mỹ nằm bên bờ sông Lam thuộc xã Hưng Châu, huyện Hưng Nguyên. Trước đây đền có quy mô rộng lớn, gồm nhiều công trình kiến trúc hoành tráng. Những năm 50 thế kỷ trước đền bị phá, gần như chỉ còn phế tích. Duy các sắc phong thần vẫn được người dân cất giữ cẩn thận. Hiện tại đền còn lưu giữ được 12 sắc phong của 6 vị thần: Tứ vị Thánh nương, Sát Hải Đại Tướng quân Hoàng Tá Thốn, Cao Sơn Cao Các, Song Đồng Ngọc Nữ, Đương cảnh Thái giám, Thần Tịnh Sơn.

Do nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh, vào những năm 90 nhân dân tự đóng góp kinh phí để khôi phục lại đền. Năm 2000 đền Phúc Mỹ đã được UBND tỉnh Nghệ An công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp tỉnh(1). Sau đây xin chọn giới thiệu một số sắc tiêu biểu:

Sắc thứ nhất: In sao chữ Hán

敕旨乂安省 興元縣福美社從前奉事含弘光大至德溥博顯化莊徽翊保中興大乾國家南海四位上等神莊徽翊保中興雙童玉女上等神節經頒給贈敕準其奉事嗣德三十一年正值朕五旬大慶節經頒寶詔覃恩禮隆登秩特準許依舊奉事用誌國慶而申祀典  欽哉 嗣德 參拾參年拾壹月貳拾肆日

Phiên âm: Sắc chỉ Nghệ An tỉnh, H­ưng Nguyên huyện, Phúc Mỹ xã, tòng tiền phụng sự Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Hiển hóa Trang huy Dực bảo Trung hư­ng Đại Càn Quốc gia Nam Hải Tứ vị Th­ượng đẳng thần; Trang huy Dực bảo Trung hưng Song Đồng Ngọc Nữ Thư­ợng đẳng thần. Tiết kinh ban cấp tặng sắc chuẩn kỳ phụng sự. Tự Đức tam thập nhất niên, chính trị Trẫm ngũ tuần đại khánh, tiết kinh ban Bảo chiếu đàm ân lễ long đăng trật. Đặc chuẩn hứa y cựu phụng sự dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển. Khâm tai.

Tự Đức tam thập tam niên, thập nhất nguyệt, nhị thập tứ nhật

Dịch nghĩa: Sắc chỉ cho xã Phúc Mỹ, huyện Hư­ng Nguyên, tỉnh Nghệ An, từ trước đến nay thờ phụng Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Hiển hóa Trang huy Dực bảo Trung hưng Đại Càn Quốc gia Nam Hải Tứ vị Thư­ợng đẳng thần(2); Trang huy Dực bảo Trung hưng Song Đồng Ngọc Nữ Thư­ợng đẳng thần(3). Từng đư­ợc  ban cấp sắc phong cho phép thờ phụng. Nay chính lúc Trẫm mừng thọ 50 tuổi, đã ban Bảo chiếu mở rộng ân trạch, long trọng lễ tăng phẩm hàm. Đặc chuẩn cho làng đ­ược thờ phụng Thần như­ cũ để ghi nhớ ngày lễ mừng của nước và tỏ rõ phép tắc thờ tự. Kính vậy.

Ngày 24 tháng 11 năm Tự Đức thứ 33 (1880)                                                                                                                                        Sắc thứ 2: In sao chữ Hán

敕乂安省興元縣福美社奉事察海將軍之神護國庇民稔著靈應向來未有預封肆今丕承耿命緬念神庥著封為澄湛翊保中興之神準仍舊奉事神其相佑保我黎民欽哉

成泰陸年玖月貳拾五日.

Phiên âm: Sắc Nghệ An tỉnh, H­ưng Nguyên huyện, Phúc Mỹ xã, phụng sự Sát Hải T­ướng quân chi Thần, hộ quốc tí dân nẫm trữ linh ứng, h­ướng lai vị hữu dự phong. Tứ kim phi thừa cảnh mệnh, miến niệm thần hư­u trư­ớc phong vi Trừng trạm  Dực bảo Trung hư­ng Linh phù chi Thần. Chuẩn nh­ưng cựu phụng sự, thần kỳ t­ương hựu bảo ngã lê dân. Khâm tai.

Thành Thái lục niên, cửu nguyệt nhị thập ngũ nhật

Dịch nghĩa: Sắc ban cho xã Phúc Mỹ, huyện H­ưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, đang thờ phụng thần Sát Hải T­ướng quân(4), rất linh thiêng, từ trư­ớc đến nay ch­ưa đ­ược dự phong. Nay Trẫm nhận mệnh lớn của trời, nhớ công phù trợ của Thần, phong tặng là Trừng trạm Dực bảo Trung h­ưng Linh phù chi Thần. Cho phép  dân trong xã đ­ược thờ phụng nh­ư cũ, ngõ hầu Thần phù hộ dân ta. Kính vậy. Ngày 25 tháng 9 năm Thành Thái thứ 6 (1894).

Sắc thứ 3: In sao chữ Hán  

敕乂安省興元府福美社奉事當境太監之神護國庇民稔著靈應向來未蒙頒給敕文肆今丕承耿命緬念神庥著封為端肅翊保中興之神特準依舊奉事神其相佑保我黎民  欽哉   維新五年閏六月初八日

 Phiên âm: Sắc Nghệ An tỉnh, Hư­ng Nguyên phủ, Phúc Mỹ xã, phụng sự Đư­ơng cảnh Thái Giám chi Thần, hộ quốc tí dân, nẫm trữ linh ứng hư­ớng lai vị mông ban cấp sắc văn. Tứ kim phi thừa cảnh mệnh, miến niêm thần hưu, trư­ớc phong vi Đoan túc Dực bảo Trung hư­ng Linh phù chi Thần. Đặc chuẩn y cựu phụng sự, thần kỳ        t­ương hựu bảo ngã lê dân. Khâm tai.

Duy Tân ngũ niên, nhuận lục nguyệt sơ bát nhật.

Dịch nghĩa: Sắc ban cho xã Phúc Mỹ, phủ H­ưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, đang thờ thần     Đư­ơng cảnh Thái Giám(5), đã phù hộ đất n­ước, che chở cho dân rất linh thiêng, chưa từng được ban cấp sắc phong. Nay Trẫm nhận mệnh lớn của Trời, nhớ công phù trợ của Thần, phong tặng là Dực bảo Trung hư­ng Linh phù chi Thần. Cho phép dân làng đư­ợc thờ phụng nh­ư cũ, ngõ hầu Thần phù hộ dân ta. Kính vậy. Ngày 8 tháng 6 nhuận năm Duy Tân thứ 5 (1911).

Sắc thứ 4: In sao chữ Hán

敕乂安省興元府福美社奉事淨山顯應保護安民效靈之神稔著靈應
肆今丕耿承命緬念神庥著封為翊保中興靈扶之神準其奉事庶幾神
其相佑保我黎民  欽哉       啟定貳年參月拾捌日

Phiên âm: Sắc Nghệ An tỉnh, Hư­ng Nguyên phủ, Phúc Mỹ xã, phụng sự Tịnh Sơn Hiển ứng Bảo hộ An dân Hiệu linh chi Thần, nẫm trữ linh ứng. Tứ kim phi thừa cảnh mệnh, miến niêm thần h­ưu, trư­ớc phong vi Dực bảo Trung h­ưng Linh phù chi Thần. Chuẩn kỳ phụng sự, thứ ky Thần kỳ t­ương hựu bảo ngã lê dân. Khâm tai. Khải  Định nhị niên, tam nguyệt, thập bát nhật.

Dịch nghĩa: Sắc ban cho xã Phúc Mỹ, phủ H­ưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, đang thờ phụng thần Tịnh Sơn Hiển ứng Bảo hộ An dân Hiệu linh(6),  rất linh thiêng. Nay Trẫm nhận mệnh lớn của trời, nhớ công phù trợ của Thần. Phong tặng là Dực bảo Trung hư­ng Linh phù chi Thần. Cho phép dân làng đư­ợc thờ phụng nh­ư cũ, ngõ hầu Thần phù hộ dân ta. Kính vậy.

Ngày 18 tháng 3 năm Khải Định thứ 2 (1917).                                            

Sắc thứ 5: In sao chữ Hán

敕旨 乂安省興元府福美社從前奉事效靈敦靜雄峻卓偉翊保中興高山高閣上等神澄湛翊保中興察海大王將軍之神端肅翊保中興進功贊治輔國上將軍之神節經頒給贈

敕準其奉事維新元年晉光大禮經頒寶詔覃恩禮隆登秩特準依舊奉事用誌國慶而申祀典欽哉   維新參年捌月拾壹日

Phiên âm: Sắc chỉ Nghệ An tỉnh, Hư­ng Nguyên phủ, Phúc Mỹ xã, tòng tiền phụng sự Hiệu linh Đôn tĩnh Hùng tuấn Trác vĩ Dực bảo Trung hưng Cao Sơn Cao Các Th­ượng đẳng thần; Trừng trạm Dực bảo Trung hưng Sát Hải Đại Vương T­ướng quân chi Thần, tiết kinh ban cấp tặng sắc chuẩn kỳ phụng sự. Duy Tân nguyên niên tấn quang đại lễ, kinh ban bảo chiếu đàm ân lễ long đăng trật. Đặc chuẩn y cựu phụng sự dụng chí quốc khánh, nhi thân tự điển. Khâm tai.            

Duy Tân tam niên, bát nguyệt thập nhất nhật.

Dịch nghĩa: Sắc chỉ cho xã Phúc Mỹ, phủ  H­ưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, từ trước đến nay thờ  phụng Hiệu linh Đôn tĩnh Hùng tuấn Trác vĩ Dực bảo Trung hưng Cao Sơn Cao Các Thư­ợng đẳng thần(7); Trừng trạm Dực bảo Trung hư­ng Sát Hải Đại v­ương T­ướng quân chi Thần, từng đư­ợc ban cấp sắc phong cho phép thờ phụng. Năm Duy Tân thứ nhất nhân lễ lớn đăng quang, Trẫm ban bảo chiếu mở rộng ân trạch, tăng thêm phẩm hàm. Đặc chuẩn cho làng đ­ược thờ phụng các thần như cũ để ghi nhớ ngày lễ mừng của nước và tỏ rõ phép tắc thờ tự.  Kính vậy. Ngày 11 tháng 8 năm Duy Tân thứ 3 (1909).q

 

 

Chú thích

1. QĐ số 54/ QĐ-UBND ngày 18/7/ 2000.

2. Tứ vị Thánh nương, là vị thần chính ở đền Cờn, huyện Quỳnh Lưu.

3,7. Song Đồng Ngọc Nữ, Cao Sơn Cao Các là những vị thần được thờ nhiều nơi ở xứ Nghệ và cả nước.

4. Sát Hải Đại Tướng quân là thần hiệu của Hoàng Tá Thốn, đền thờ chính ở làng Vạn Phần (xã Diễn Vạn, Diễn Châu).

5. Đương cảnh Thái giám: Tại làng Phúc Mỹ xã Hưng Châu có một giai thoại ly kỳ về vị Thái giám họ Nguyễn được tôn làm Thành hoàng làng này. Ngôi mộ của Ngài được xây bằng gạch, có tiếng linh thiêng, hiện nằm trong khuôn viên trường tiểu học Hưng Châu, do họ Nguyễn chăm sóc.

6. Tịnh Sơn là một núi đá nhỏ cạnh đền Phúc Mỹ.

 

 

 

Trịnh Xuân Luân

Không còn phải chứng minh, khoa học và các ứng dụng công nghệ đã đem lại những lợi ích cực kỳ to lớn, nhưng đồng thời cũng gây ra những tác hại ít ra cũng không kém phần quan trọng. Không có mô tả nào chấp nhận được về giới tự nhiên ngày nay mà không biết đến các thành tựu của các lý thuyết tương đối, cơ học lượng tử và tiến hóa các loài; mặc dù đem đến cho chúng ta mọi tri thức, khoa học chẳng đề cập gì đến cung cách xử thế và sống trong xã hội. Khoa học không đủ để đem lại hạnh phúc cho chúng ta. Chỉ cần xem dân chúng các nước tiên tiến nhất về khoa học và công nghệ = tiện nghi vật chất thì cao đấy, nhưng không ngăn nổi tình trạng bất ổn về cảm xúc và tâm lý. Có lẽ bất ổn này lại mãnh liệt hơn tại các nước đã phát triển nhất. Khoa học hiện đại đã góp phần quan trọng làm nhẹ nhàng cuộc sống thường ngày, nhưng không thể mang đến sự thoải mái tinh thần. Chỉ bằng cách biến đổi nội tâm, chúng ta mới đạt được trạng thái thanh thản và hạnh phúc. Chỉ đơn độc một mình thì khoa học không có khả năng phát triển nơi chúng ta những phẩm chất nhân văn cần thiết cho hạnh phúc ấy, bởi lẽ tự thân nó bất lực trong việc tạo ra minh triết.

Bằng chứng là có khi hiện hữu sự chênh lệch lớn giữa thiên tài khoa học với các giá trị nhân văn trong một con người, sự chênh lệch đã làm tôi rất bối rối khi tôi trở lại Caltech(2) vào lúc 19 tuổi. Ngây thơ, lúc đó tôi nghĩ rằng độ tinh thông và các đỉnh cao khoa học mà tôi đi qua bên cạnh là những đấng xuất chúng về mọi mặt, đặc biệt về mặt các quan hệ xã hội. Và tôi đã thất vọng cay đắng. Người ta có thể là một nhà khoa học vĩ đại, một thiên tài trong lĩnh vực của mình mà vẫn là kẻ tầm thường nhất trong cuộc sống. Các nhà khoa học không tốt hơn, cũng không xấu hơn con người trung bình.

Lịch sử các khoa học không ít những bộ óc lỗi lạc mà hành vi lại rất kém vinh quang về mặt nhân bản. Đấy chẳng hạn là trường hợp của New Ton, người cùng với Einstein là nhà vật lý vĩ đại nhất cổ kim. Nhưng trong trí tuệ của New Ton cũng rộng lớn như vũ trụ, trí óc của ông bao trùm cả toàn bộ vũ trụ, thì nhân cách của nhà khoa học này lại là một nhân cách hẹp hòi và thấp kém nhất trần đời. Ông đã tố cao sai nhà bác học người Đức Gottfried Leibnitry  đánh cắp phát minh phép tính vi phân của mình trong lúc nhà bác học người Đức đã tự mình tìm ra môn ấy một cách độc lập. Với quyền uy như một vị quân vương chuyên chế tại Hội Hoàng gia Luân Đôn (Viện Hàn lâm Khoa học Anh quốc) ông đã đối xử một cách tồi tệ các đối thủ của mình, nhà vật lý Robert Hooke và nhà thiên văn ngự tiền Flansteed. Tuy đã huênh hoang công bố tính hài hòa và phụ thuộc lẫn nhau trong vũ trụ, ông vẫn không bao giờ nghĩ đến các điều này cũng có thể áp dụng cho các hoạt động của con người. Nghiêm trọng hơn: hai nhà vật lý người Đức là Philip Lencord và Johsnnes Stark (cả hai đều đạt giải Nobel về vật lý), lại nhiệt liệt ủng hộ chủ nghĩa quốc xã với chính sách bài Do Thái của nó, và công bố tính ưu việt của "Khoa học Đức" so với "khoa học Do Thái". Thỉnh thoảng, mà buồn thay lại quá hiếm, có người kết hợp được thiên tài khoa học với một tinh thần sâu sắc và luân lý. Đây là trường hợp của Einstein. Đối mặt với chủ nghĩa quốc xã đang bùng lên ở Đức, ông đã trở thành người nhiệt thành theo phong trào phục quốc Do Thái ở Palestime, mà vẫn nêu lên vấn đề quyền dân tộc Ả Rập trong cuộc hình thành Nhà nước Do Thái. Thời kỳ di cư sang Hoa kỳ, chính bức thư ông gửi Tổng thống Roossevelt, mặc dù mang tinh thần hòa bình sâu sắc, vẫn là nguyên nhân của dự án "Manhattan" về việc chế tạo bom nguyên tử đầu tiên, bởi lẽ phải vượt trước Hitler. Nhưng sau vụ tàn phá         Hiroshima và Nagasaki, Einstein đã chiến đấu mạnh mẽ để cấm vũ khí hạt nhân. Ông đã đứng lên chống chủ nghĩa Mc.Carthy và đã dùng uy tín vĩ đại của mình để tấn công mọi hình thức cuồng tín và chủng tộc chủ nghĩa. Tuy vậy vẫn có những mảng tối trong đời tư của ông: làm bố thì hờ hững, làm chồng có khi thiếu chung thủy, ông đã li dị người vợ đầu đã có với ông một đứa con gái khuyết tật mà ông chẳng ngó ngàng gì đến. Tự ông đã chấp nhận rằng: "Đối với một loại người như tôi, thì sẽ xảy ra một bước ngoặt quyết định trong cuộc vươn lên của mình, khi anh ta dần dần ngừng duy nhất quan tâm đến những điều riêng tư và nhất thời, để tập trung mọi nỗ lực vào việc nắm bắt sự vật bằng trí tuệ".

Tôi không có ý định lên án nhà khoa học này hay ca ngợi nhà khoa học khác, mà chỉ muốn nhấn mạnh rằng khoa học là một có hiệu lực mạnh mang tri thức đến nhưng không tất yếu dẫn đến sự biến đổi nội tâm. Ca ngợi nó lên tận mây xanh hoặc hạ nhục nó đều chẳng có ý nghĩa gì hơn việc ca tụng hoặc chỉ trích sức mạnh của một cánh tay, nó có thể giết hại cũng như cứu sống một mạng người. Tự thân nó, khoa học không tốt mà cũng không xấu. Chính những ứng dụng vào kỹ thuật mới có khả năng, tùy trường hợp, cải thiện hay làm tổn hại đến tình trạng sung túc của chúng ta: phát minh của Einstein rằng vật chất có thể đổi thành năng lượng cho ta biết vì sao mặt trời sáng chói, tỏa nhiệt và ánh sáng cho chúng ta, để kích thích và duy trì sự sống trên trái đất, nhưng cũng chính những phát minh ấy là khởi đầu cho các quả bom nguyên tử thả xuống     Hiroshima và Nagasaki.

Khoa học đã tỏ ra có thể tác động đến thế giới. Ngày nay chẳng còn có khu vực nào của đời sống con người mà không chịu tác động của nó. Chúng ta tất thảy đều nhất trí về vai trò hàng đầu của nó, nhưng lại kém chắc chắn hơn nhiều về các chuẩn mực cần chọn để hướng dẫn cho chúng ta cách sử dụng thế giới. Các phẩm chất ấy chỉ có thể đến từ một "khoa học về tinh thần". Môn này có khả năng soi sáng cho chúng ta trong việc lựa chọn về luân lí và đạo đức để cho các trí thức của chúng ta phục vụ cho lợi ích của mọi người. Hoàn toàn chẳng phải là thứ yếu so với khoa học, thậm chí chẳng còn là thừa nữa, khoa học tinh thần phải được gắn kết với nó.

Hoan Châu (trích dịch)

 

* Lễ kỷ niệm 60 năm thành lập ngành KH&CN Nghệ An và đón nhận Huân chương lao động hạng Nhất

Chiều ngày 25/10/2019, tại thành phố Vinh, Ngành khoa học và công nghệ Nghệ An long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 60 năm thành lập (25/10/1959 - 25/10/2019) và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng.

Cách đây 60 năm, ngày 25/10/1959 Hội Phổ biến Khoa học Kỹ thuật Nghệ An được thành lập. Từ ngày đầu thành lập với vô vàn khó khăn về cơ sở vật chất thiếu thốn, đội ngũ cán bộ làm khoa học kỹ thuật vừa yếu vừa thiếu kinh nghiệm, trải qua nhiều giai đoạn, tách nhập nhưng với tinh thần chủ động sáng tạo vượt lên mọi khó khăn, phát huy mọi nguồn lực, tăng cường hợp tác của bộ, ngành trung ương, cùng với sự chỉ đạo trực tiếp của tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; Ngành KH&CN đã tích cực triển khai và nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh mới, tập trung nghiên cứu, đưa tiến bộ KHKT vào sản xuất. Sau 60 năm ngành KH&CN Nghệ An đã có những bước phát triển rõ nét với các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, phát triển tiềm lực, truyền thông khoa học công nghệ, thị trường KH&CN, sở hữu trí tuệ, ứng dụng và phát triển công nghệ cao, sáng tạo KH&CN, bảo tồn quỹ ren, hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo... Đến thời điểm này có thể khẳng định KH&CN góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh.

Với sự đóng góp của các thế hệ cán bộ công chức, viên chức trong 60 năm qua, Ngành KH&CN đã vinh dự được Đảng và nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý như Huân chương lao động hạng Ba (1999), hạng Nhì (2009) và hạng Nhất (2019), cờ thi đua và bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (2008) cùng nhiều bằng khen của Bộ KH&CN, chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An...

Ghi nhận quá trình cống hiến và đóng góp của Ngành KH&CN tỉnh Nghệ An vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước, dịp này Chủ tịch nước đã ra Quyết định trao tặng Huân chương lao động hạng Nhất cho tập thể Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An; Huân chương lao động hạng Nhì cho đồng chí Trần Quốc Thành - Ủy viên BCH Đảng bộ tỉnh, Giám đốc Sở KH&CN, Huân chương lao động hạng Ba cho đồng chí Nguyễn Viết Hùng - Phó GĐ sở KH&CN.

Cũng nhân dịp này, Bộ trưởng Bộ KH&CN đã ra quyết định tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp khoa học và công nghệ, cho 76 cá nhân đã có nhiều đóng góp cho hoạt động KH&CN Nghệ An trong thời gian qua.

Minh Tú - Hoàng Anh

* Chương trình làm việc và kí kết thỏa thuận hợp tác về khoa học và công nghệ của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam tại Nghệ An

Chiều 26/10, UBND tỉnh và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tổ chức buổi làm việc và ký kết thỏa thuận hợp tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2019 - 2025 và các năm tiếp theo.

Nội dung hợp tác giữa tỉnh Nghệ An và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là: Viện Hàn lâm cung cấp các chuyên gia hoặc thành lập các Hội đồng khoa học và công nghệ tư vấn cho tỉnh Nghệ An trong việc cung cấp cơ sở khoa học và công nghệ góp phần xây dựng chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu. Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ; nghiên cứu triển khai xây dựng các cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ của Viện Hàn lâm tại Nghệ An; nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao công nghệ; cung cấp trao đổi thông tin khoa học và công nghệ; huy động nguồn vốn phát triển khoa học và công nghệ. Đánh giá tiềm năng hợp tác với Nghệ An là rất lớn, Giáo sư, Viện sĩ Châu Văn Minh - Viện trưởng Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đề xuất với tỉnh được đầu tư Trung tâm nghiên cứu liên ngành đặt tại tỉnh Nghệ An để nghiên cứu phối hợp với các trường đại học, các sở, ngành của tỉnh để giải quyết các vấn đề thực tiễn của địa phương đặt ra có sự tham gia của các nhà khoa học của Viện. Đồng thời, GS cũng mong muốn ngoài kí kết khung chương trình thì tỉnh lựa chọn vấn đề thật sự cần thiết để triển khai sự hợp tác có chiều sâu và hiệu quả cao nhất.

Tại buổi lễ còn diễn ra ký kết hợp tác giữa Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An với Viện Kỹ thuật Nhiệt đới; Viện Kỹ thuật Nhiệt đới với Công ty TNHH MTV Dịch vụ và Công nghệ nuôi trồng thủy sản.

Nguyễn Thủy

* Nghệ An: Tổ chức "Tuần lễ cam Vinh và sản phẩm, đặc sản Nghệ An tại Hà Nội năm 2019"

Thực hiện Công văn số 7749/UBND - KT ngày 30/12/2019 của UBND tỉnh Nghệ An về việc giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Liên minh Hợp tác xã và các đơn vị liên quan tổ chức Hội chợ Cam Vinh - Nghệ An năm 2019 tại thành phố Hà Nội, ngày 7/11, Sở Khoa học và Công nghệ họp triển khai kế hoạch tổ chức.

Tuần lễ dự kiến sẽ được diễn ra trong vòng 1 tuần lễ tại siêu thị Big C Thăng Long từ ngày 12 - 16/12/2019, số lượng khoảng từ 60-80 gian hàng tiêu chuẩn. Đối tượng tham gia là các hội viên, doanh nghiệp, hợp tác xã, các tổ chức, hiệp hội, trang trại, hộ sản xuất kinh doanh cam; sản phẩm trưng bày hội chợ bao gồm cam quả và các sản phẩm đặc sản của các làng nghề, hợp tác xã và doanh nghiệp trên địa bàn Nghệ An. Ngoài ra còn có gian hàng giới thiệu tiềm năng của tỉnh với 3 gian hàng của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công thương và Sở Du lịch Nghệ An.

Tại Tuần lễ cũng sẽ giới thiệu các tiến bộ KHKT ứng dụng trong việc nâng cao năng suất, chất lượng cam quả; giới thiệu về các sản phẩm đặc sản, đặc trưng, sản phẩm Ocop của các huyện, thành, thị của Nghệ An,…

Nguyễn Thủy

* Nghiệm thu cấp tỉnh Đề tài: "Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động và nhân rộng mô hình hợp tác xã kiểu mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An"

Chiều ngày 8/11/2019, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An tổ chức Hội đồng nghiệm thu cấp tỉnh Đề tài: "Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động và nhân rộng mô hình hợp tác xã kiểu mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An". Đề tài do Th.s Nguyễn Thị Trang Nhung chủ nhiệm, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn chủ trì. Đồng chí Trần Quốc Thành - Giám đốc Sở, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu.

Tại buổi nghiệm thu Chủ nhiệm đề tài báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện bao gồm: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển HTX; Thực trạng và hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp; Giải pháp phát triển các HTX hoạt động hiệu quả phù hợp với điều kiện của tỉnh; Đề xuất và triển khai xây dựng mô hình HTX hoạt động hiệu quả và kiến nghị đề xuất phát triển HTX trong thời gian tới.

Các thành viên hội đồng đánh giá cao kết quả thực hiện Đề tài, đáp ứng các nội dung được phê duyệt và hợp đồng ký kết; Đề tài đã xây dựng thành công 3 mô hình HTX: HTXNN DVTH Thọ Thành (Mô hình HTX kinh doanh tổng hợp), HTX Việt Xanh (Mô hình HTX sản xuất theo chuỗi giá trị từ khâu sản xuất đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm) và HTX dược liệu Pù Mát (Mô hình doanh nghiệp tham gia là một thành viên trong HTX). Đồng thời, để hoàn thiện báo cáo các thành viên đề nghị bổ sung một số nội dung: Những vấn đề đặt ra HTX hiện nay cần cụ thể cho từng vấn đề; đánh giá hiệu quả các mô hình rõ hơn và có dẫn chứng nguồn; bổ sung phương hướng phát triển HTX thời gian tới,…

Kết luận tại buổi nghiệm thu, đồng chí Trần Quốc Thành, Chủ tịch Hội đồng đề nghị ban chủ nhiệm đề tài tiếp thu ý kiến của Hội đồng, tiến tới hoàn thiện hồ sơ đề tài đúng tiến độ, kế hoạch.

Kết quả hội đồng đánh giá xếp loại: Khá

Hoàng Anh

* Hội thảo khoa học "Đánh giá hiệu quả ứng dụng và giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng của các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh ở Nghệ An"

Nằm trong khuôn khổ Đề tài KH&CN "Đánh giá hiệu quả ứng dụng kết quả đề tài, dự án, nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh giai đoạn 2005-2015", sáng ngày 9/11, Sở KH&CN tổ chức Hội thảo khoa học "Đánh giá hiệu quả ứng dụng và giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng của các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh ở Nghệ An".

Đề tài đã nghiên cứu và xây dựng Bộ công cụ đánh giá hiệu quả ứng dụng của các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh và được thông qua trong giai đoạn 1 và đã sử dụng để điều tra, đánh giá hiệu quả ứng dụng của các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh giai đoạn 2005-2015. Mục đích của điều tra, đánh giá ngoài việc đánh giá hiệu quả ứng dụng của các nhiệm vụ KH&CN, còn là để thử nghiệm bộ công cụ đánh giá, từ đó từng bước hoàn thiện và đưa vào ứng dụng trên thực tế.

Thảo luận tại Hội thảo, các đại biểu tham dự đã tập trung các nội dung: báo cáo số liệu cần theo bố cục nhất định; Kết quả điều tra có những phân tích cụ thể; phần đánh giá nên thống nhất trong các thuật ngữ, tên gọi; Xếp loại, đánh giá cần sắp xếp đồng bộ, logic. Bộ công cụ đánh giá một số tiêu chí phụ còn rườm rà, trùng lặp và trong cách đánh giá cần nêu rõ quy trình cụ thể…

Kết luận Hội thảo, đồng chí Phạm Xuân Cần ghi nhận những kết quả nhóm nghiên cứu đã đạt được, qua đó cho thấy hướng nghiên cứu của đề tài là đúng, tuy nhiên có nhiều vấn đề còn phải nghiên cứu, hoàn thiện: Bộ công cụ tính điểm chưa phù hợp, cách thức và chất lượng điều tra, đặc biệt trong điều tra phần lớn đang điều tra số liệu trực tiếp mà chưa quan tâm đến hiệu quả lan rộng; cần phân tích cụ thể hơn và mang tính định tính, sắc sảo hơn; tiếp thu và hoàn thiện bộ công cụ và sẽ cân nhắc tính đến phương án giảm số lượng phiếu và số lượng nội dung các tiêu chí, điều chỉnh theo hướng các tiêu chí trùng lặp bỏ, số lượng tiêu chí riêng biệt giảm tối thiểu nhất; tính toán lại trọng số trong các phiếu đánh giá;…

Hoàng Anh

* Sở Khoa học và Công nghệ: Tổ chức Tập huấn địa phương học

Sáng ngày 14/11, tại Nhà khách Tỉnh ủy, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An tổ chức lớp Tập huấn về địa phương học cho đội ngũ cán bộ quản lý du lịch, văn hóa, doanh nghiệp làm du lịch, các hiệp hội về du lịch, hộ kinh doanh du lịch cộng đồng.

Lớp tập huấn được diễn ra trong hai ngày từ ngày 14-15/11, với các nội dung: Di sản đô thị ở thành phố Vinh  - Giá trị và định hướng bảo tồn, phát huy;  Di tích - Văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Nghệ An nhằm khai thác, phát triển du lịch; Tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số ở miền Tây Nghệ An; Cơ hội để phát triển du lịch và Hướng dẫn tham quan tại điểm.

Thông qua lớp tập huấn giúp cho ngũ cán bộ quản lý du lịch, văn hóa, doanh nghiệp làm du lịch, các hiệp hội về du lịch, hộ kinh doanh du lịch cộng đồng tiếp cận được các thông tin về văn hóa, di tích, danh thắng, bản sắc văn hóa các dân tộc hiểu số của Nghệ An,... Nắm bắt được những kiến thức, kỹ năng làm du lịch qua đó góp phần phát triển ngành du lịch Nghệ An.

Hồ Thủy

* Hội đồng biên tập Chuyên san KHXH&NV họp tổng kết năm 2019

Sáng ngày 20/11, Chuyên san KHXH&NV tổ chức họp Hội đồng biên tập năm 2019, triển khai kế hoạch năm 2020.

Tổng kết hoạt động Chuyên san trong năm 2019, báo cáo nêu rõ: Năm 2019 Chuyên san đã xuất bản được 10/12 số, 800 bản/số, mỗi số dày 68 trang. So với các năm trước, các chuyên mục đã được cân đối về dung lượng bài. Trong tổng 10 số đã phát hành: Số bài về lĩnh vực kinh tế - chính trị (33 bài) chiếm 24,47 %; lĩnh vực văn hóa - xã hội (24 bài) chiếm 17,77%; lĩnh vực tôn giáo, dân tộc (13 bài) chiếm 9,62%; lĩnh vực lịch sử (44 bài) chiếm 32,59%; lĩnh vực khoa học, giáo dục, văn học (21 bài) chiếm 15,55 %. Tính chuyên đề trong mỗi số Chuyên san đã được xây dựng chuyên sâu, phù hợp với các hoạt động nghiên cứu KHXH&NV của tỉnh, tạo tính hệ thống, liên kết liền mạch trong các số.

Trong năm qua, Hội đồng biên tập đã thẩm định hơn 500 bài của cộng tác viên gửi về, trong đó đã lựa chọn ra 122 bài viết đảm bảo chất lượng, hàm lượng khoa học cao để đăng tải trên Chuyên san và gần 100 bài trên trang Website khxhnvna.gov.vn.

Thảo luận tại cuộc họp, các thành viên Hội đồng đánh giá cao những kết quả mà Chuyên san đã đạt được trong năm vừa qua, tuy nhiên, để góp phần nâng cao chất lượng ấn phẩm, các thành viên đã bổ sung, góp ý tập trung xoay quanh các vấn đề: Chú trọng hơn mảng kinh tế, tôn giáo; Chuyên đề các số của năm 2020 cần tập trung vào các vấn đề: 990 năm danh xưng Nghệ An, Đại hội đảng bộ tỉnh Nghệ An, Xây dựng Nghệ An thành trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, Gìn giữ và bảo tồn văn hóa trong xây dựng nông thôn mới,…

Hồ Thủy

* Giới thiệu sách: Đánh một tiếng cồng

Cuốn sách Đánh một tiếng cồng của tác giả Thái Tâm được tuyển chọn, tập hợp từ các bài nghiên cứu đã được đăng tải trên các báo, tạp chí trong nhiều năm qua. Đây là một công trình dày công, giàu tâm huyết của một người con dân tộc Thái luôn đau đáu đối với việc gìn giữ, phát huy những giá trị văn hoá đặc sắc của quê hương mình.

Nội dung sách có ba phần: Phần một: Tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán và một số nét văn hoá tiêu biểu của các dân tộc thiểu số ở Nghệ An. Phần hai: Đánh một tiếng cồng. Phần ba: Một số truyện dân gian tiêu biểu của các dân tộc Thái - Thổ - Mường, đã phản ánh tương đối trọn vẹn về quá trình di cư, hình thành và phát triển cũng như những nét văn hoá dân gian tiêu biểu của một số dân tộc thuộc vùng miền Tây xứ Nghệ, cụ thể là ở huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

Cuốn sách Đánh một tiếng cồng được UBND tỉnh Nghệ An đặt hàng xuất bản nhằm mục đích lan toả, chia sẻ và chung tay của cộng đồng để góp phần quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá gắn với phát triển kinh tế di sản.

Nguyễn Ngọc

* Giới thiệu sách: Đường tới Truông Bồn huyền thoại                                                       

"Đường tới Truông Bồn huyền thoại" - một tác phẩm quý, giàu ý nghĩa, đúng như lời dẫn do tác giả Trần Văn Hiền - người lữ hành cày chữ, một nhà báo cả cuộc đời "viết không mỏi" biên soạn.

"Đường tới Truông Bồn huyền thoại" với gần 200 trang in, tập hợp các bài viết sống động về những hồi ức qua từng trận đánh quyết tử; về những con người từng là nhân chứng sống của một thời khói lửa; về những mất mát, hy sinh của 13 thanh niên xung phong ở Truông Bồn; về những huyền thoại, khát vọng tầm cao công trình… những địa danh đã đi vào lịch sử như cầu Cấm, cầu Bến Thuỷ, rú Trét, Hoàng Mai, Mỹ Lý. Điều đáng ghi nhận của cuốn sách đó là qua từng sự kiện, từng con chữ ta thấy được những triết lý nhân văn, những cách nhìn biện chứng mới mẻ nhưng đầy sức thuyết phục về đạo lý uống nước nhớ nguồn không chỉ cho thế hệ hôm nay mà cho cả mai sau.

Sách được UBND tỉnh đặt hàng, do Nhà xuất bản Nghệ An ấn hành tháng 6 năm 2019.

Trịnh Thùy

 


 

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.