« Quay lại

Chuyên san KHXH&NV số 3/2019

Với phương châm: "Chính quyền luôn đồng hành cùng doanh nghiệp, xem sự thành công của doanh nghiệp là thước đo về sự hoàn thành nhiệm vụ của chính quyền", Nghệ An đã và đang quyết tâm để cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, đưa Nghệ An trở thành một địa chỉ tin cậy đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

          Trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An đã không ngừng nỗ lực, phấn đấu để đưa quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng phát triển. Một trong những nỗ lực đó là tổ chức tốt "Hội nghị gặp mặt các nhà đầu tư" thường niên để tìm kiếm cơ hội, tạo sợi dây liên kết với các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến với Nghệ An. Chỉ tính từ năm 2014 đến nay, tỉnh đã thu hút được 150 dự án có quy mô trên 100 tỷ đồng với tổng số vốn đăng ký là 89.141 tỷ đồng, trong đó 129 dự án đã và đang được triển khai đúng tiến độ, đạt tỷ lệ 87%.

Nhiều dự án lớn, sử dụng công nghệ cao đã đi vào hoạt động hiệu quả, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động, đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh: Tập đoàn Vingroup; Masan; T&T; BRG; FLC; TH; The Vissai; Hoa Sen; Mường Thanh; Vinamilk; VSIP; WHA;...

          Hội nghị Gặp mặt các nhà đầu tư Xuân Kỷ Hợi 2019 chính là điểm nhấn cho tiến trình hội nhập và phát triển của Nghệ An trên chặng đường mới. Với hơn 700 đại biểu về dự, Hội nghị vừa là ngày hội gặp gỡ, tri ân các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, vừa là dịp để các nhà đầu tư trong và ngoài nước có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu, chia sẻ các cơ hội đầu tư mới vào tỉnh Nghệ An.

          Điểm nhấn quan trọng tại Hội nghị Gặp mặt các nhà đầu tư Xuân Kỷ Hợi 2019, đó là Lễ ký kết Hợp tác chiến lược toàn diện giữa UBND tỉnh Nghệ An với Công ty TNHH Mitsubishi Coporation Việt Nam; UBND tỉnh Nghệ An với Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank).

          Hội nghị đã trao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư cho 13 dự án và trao 18 Thỏa thuận hợp tác đầu tư, 4 Biên bản tài trợ quy hoạch cho các đối tác đầu tư, với tổng số vốn đăng ký hơn 21.977 tỷ đồng. 

          Bên cạnh phiên Hội nghị chính thức diễn ra 4 sự kiện quan trọng gồm:

          - Khánh thành Nhà máy nước tinh khiết và nước hoa quả Núi Tiên của Tập đoàn TH tại xã Nghĩa Sơn, huyện Nghĩa Đàn (tổng mức đầu tư: 1.177 tỷ đồng; dây chuyền nước tinh khiết công suất 600.000 lít/ngày đêm (40.000 chai/giờ) và dây chuyền nước hoa quả công suất 36.000 chai/giờ).

          - Khánh thành Tổng kho xăng dầu DKC (có quy mô xây dựng kho xăng dầu, nhựa đường và gas có sức chứa 115.000m3, diện tích sử dụng đất 118.855m2, tổng mức đầu tư 598 tỷ đồng) và công bố Cảng xăng dầu DKC (có quy mô xây dựng cảng chuyên dụng tiếp nhận tàu có trọng tải đến 49.000 DWT, 01 bến cảng tiếp nhận tàu có trọng tải đến 10.000 DWT; Tổng mức đầu tư 570 tỷ đồng) tại xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc của Công ty CP Tập đoàn Thiên Minh Đức; Dự án tổng kho xăng dầu đã chính thức đi vào hoạt động sau 3 năm tiến hành xây dựng, dự kiến đóng góp nguồn ngân sách lớn cho địa phương.

          - Khai trương đường bay Vinh - Bangkok, đưa nhà ga quốc tế Cảng hàng không Vinh vào khai thác.

          Thành công của doanh nghiệp là thước đo về sự hoàn thành nhiệm vụ của chính quyền

          - Hội nghị Triển khai Quyết định số 17/QĐ-TTg ngày 04/1/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thí điểm "Xây dựng huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trở thành huyện nông thôn mới kiểu mẫu theo hướng phát triển văn hóa gắn với du lịch, giai đoạn 2018-2025" và xúc tiến đầu tư vào huyện Nam Đàn, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp UBND tỉnh Nghệ An đồng tổ chức vào hồi 8h00 ngày 24/02/2019 tại Trung tâm Văn hóa thể thao huyện Nam Đàn.

          Năm 2019, cũng là năm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với tỉnh Nghệ An, là mốc son 50 năm Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Nghệ An thực hiện những lời căn dặn trong "Bức thư" cuối cùng của Bác gửi cho quê hương (21 tháng 7 năm 1969): "Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc". Năm 2019, tiếp tục là năm bản lề quan trọng để thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015-2020 của tỉnh Nghệ An và Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị. Với ý nghĩa đó, phát biểu khai mạc tại Hội nghị Gặp mặt các nhà đầu tư Xuân Kỷ Hợi 2019, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Thái Thanh Quý khẳng định quyết tâm: "Nghệ An quyết tâm phát triển mạnh mẽ về mọi mặt để trở thành một tỉnh công nghiệp, là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Nghệ An sẽ luôn đồng hành cùng doanh nghiệp, xem sự thành công của doanh nghiệp là thước đo về sự hoàn thành nhiệm vụ của chính quyền".

          Chuyên san KHXH&NV Nghệ An lược đăng ý kiến phát biểu của các nhà lãnh đạo, các doanh nghiệp tại Hội nghị.

*     *

*

1. Đồng chí Thái Thanh Quý - Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An:

Nghệ An cam kết sẽ phục vụ các nhà đầu tư trên tinh thần "Chính quyền kiến tạo và phục vụ"

          Tỉnh Nghệ An cam kết trong năm 2019, sẽ phục vụ các nhà đầu tư trên tinh thần "chính quyền kiến tạo và phục vụ". Chủ động xây dựng các công cụ để thực hiện mục tiêu, đó là đất đai dễ tiếp cận, cải cách hành chính, áp dụng công nghệ thông tin trong điều hành. Chủ động hỗ trợ nhà đầu tư và doanh nghiệp, xem việc hỗ trợ nhà đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp là nghĩa vụ của chính quyền. Về tổng thể, tỉnh Nghệ An mạnh dạn thay đổi tư duy, áp dụng cách làm mới mang tính đột phá trong xúc tiến đầu tư. Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện để đáp ứng các yêu cầu khắt khe của các nhà đầu tư lớn, có tiềm lực trong và ngoài nước đầu tư vào tỉnh Nghệ An, cụ thể:

          Triển khai xây dựng và hoàn thiện đồng bộ các kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, gắn kết thuận lợi các vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh. Tập trung xây dựng và hoàn thiện các dự án hạ tầng khu công nghiệp hiện đại như Dự án Khu công nghiệp đô thị và dịch vụ VSIP (Singapore); Dự án Khu công nghiệp WHA Nghệ An (Thái Lan); Dự án Khu công nghiệp Hoàng Mai 1, 2.

          Tỉnh sẽ cung cấp đầy đủ, kịp thời các cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư của Trung ương và địa phương đối với từng lĩnh vực mà tỉnh tập trung thu hút đầu tư.

Đồng thời, tăng cường công tác cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin để rút ngắn và đơn giản hóa thời gian giải quyết các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, nhà đầu tư. Tập trung công tác đào tạo nguồn nhân lực và có chính sách hỗ trợ đào tạo nhân lực có tay nghề để cung cấp cho các dự án triển khai trên địa bàn của tỉnh.

          Bên cạnh đó, Nghệ An sẽ làm tốt công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch ngành, gắn với phát triển các vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh với tầm nhìn chiến lược, dài hạn. Rà soát, xây dựng quỹ đất sạch để sẵn sàng giao đất cho nhà đầu tư khi có nhu cầu.

          Tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi để phát triển doanh nghiệp, làm tốt công tác xúc tiến đầu tư tại chỗ để các nhà đầu tư yên tâm sản xuất, kinh doanh tại Nghệ An.

          Về cụ thể, trong năm 2019, tỉnh Nghệ An sẽ thực hiện thí điểm một số cải cách và biện pháp theo tinh thần "chính quyền kiến tạo và phục vụ", thực hiện "Năm cải cách hành chính", bao gồm:

          Thí điểm áp dụng thủ tục đầu tư đơn giản để rút ngắn 50% thời gian thực hiện thủ tục. Thủ tục đầu tư đơn giản là thủ tục đầu tư gộp, trong đó toàn bộ các thủ tục đầu tư dự án từ bước đầu tiên cho đến bước cuối cùng được thực hiện trong một lần nộp hồ sơ duy nhất.

          Thí điểm áp dụng công nghệ thông tin để kiểm soát toàn bộ thông số, chỉ số của các dự án đầu tư trong tỉnh. Giúp các sở, ngành trong tỉnh hỗ trợ nhà đầu tư tối đa, tránh thông tin sai lệch, chồng chéo gây chậm trễ trong thủ tục và phiền nhiễu nhà đầu tư.

          Nỗ lực xây dựng sự bình đẳng với tất cả nhà đầu tư, nhất là trong tiếp cận đất đai. Thể hiện tinh thần đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý, để đất đai luôn sẵn sàng trong công cuộc kiến thiết và phát triển của tỉnh; kiên quyết xử lý các dự án chậm tiến độ, kém hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí nguồn tài nguyên đất.

          Nghệ An quyết tâm phát triển mạnh mẽ về mọi mặt để trở thành một tỉnh công nghiệp, là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Nghệ An sẽ luôn đồng hành cùng doanh nghiệp, xem sự thành công của doanh nghiệp là thước đo về sự hoàn thành nhiệm vụ của chính quyền. Đồng thời cam kết dành nguồn lực tương xứng để hoàn thành tốt nhiệm vụ đó.

2. Ông Tesu Funayama - Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty Mitsubishi Corporation Việt Nam:

"7 từ khóa" có thể tham khảo trong quá trình phát triển các tỉnh, thành phố tại Việt Nam

          Công ty Mitsubishi Corporation là doanh nghiệp hoạt động trên 2 lĩnh vực thương mại và đầu tư. Tại Việt Nam, Mitsubishi Corporation đã có lịch sử hoạt động hơn 100 năm. Với tư cách là một doanh nghiệp kinh doanh toàn cầu, Mitsubishi Corporation mong muốn được đóng góp để Việt Nam hội nhập sâu rộng với các nền kinh tế trên thế giới.

          Trong những năm trở lại đây, không chỉ các thành phố lớn, mà tất cả các địa phương tại Việt Nam đều có tiềm năng riêng để phát triển một cách mạnh mẽ. Tuy vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể tận dụng tối đa những thế mạnh cũng như những tiềm năng vốn có này để đóng góp vào sự phát triển kinh tế của địa phương. Về vấn đề này, tôi xin phép được chia sẻ ý kiến của bản thân về "7 từ khóa" có thể tham khảo trong quá trình phát triển các tỉnh, thành phố tại Việt Nam. Đó là: Du lịch, Quy hoạch tổng thể, Công nghiệp chế biến nông sản, Công nghiệp chế biến thủy sản, Năng lương tái tạo, IT và công nghệ sinh học, Công nghiệp.

Đầu tiên là "Du lịch". Đây là phương thức được nhiều tỉnh, thành phố áp dụng nhằm thu hút nguồn ngoại tệ, đóng góp vào sự tăng trưởng GRDP của địa phương. Một số địa phương đã xây dựng được các điểm du lịch có vị thế nhất định mà các tỉnh, thành phố khác khó có thể cạnh tranh được. Bởi vậy, mỗi tỉnh, thành phố thường tận dụng các ưu thế hấp dẫn khác của mình để thu hút khách du lịch.

          Thứ hai là "Quy hoạch tổng thể". Nếu tỉnh, thành phố có một quy hoạch tổng thể tốt thì sẽ có lợi thế rất lớn trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Để đạt được điều này, các tỉnh, thành phố cần làm việc với các công ty tư vấn bên ngoài để xây dựng quy hoạch tổng thể và tiến hành phát triển theo chiến lược đề ra.

          Thứ ba là "Công nghiệp chế biến nông sản". Các tỉnh phát triển về kinh tế cần tập trung xuất khẩu các sản phẩm đã gia công thay vì sản phẩm thô để nâng cao giá trị gia tăng, cũng như tận dụng ưu thế về vị trí địa lý của Việt Nam là cửa ngõ giao thương của các nền kinh tế trong khu vực. Mặt khác, việc phát triển cơ sở hạ tầng, trong đó tập trung vào hệ thống cảng biển cũng là một điểm quan trọng ảnh hưởng lớn đến việc mở rộng xuất khẩu.

          Thứ tư là "Công nghiệp chế biến thủy sản". Việt Nam cần mở rộng xuất khẩu hàng thủy sản chế biến. Đặc biệt đối với các tỉnh, thành phố có kinh tế phát triển và các tỉnh gần các thành phố lớn, việc tập trung cải thiện chuỗi cung ứng lạnh cũng rất quan trọng.

          Thứ năm là "Năng lượng tái tạo". Trong những năm gần đây, năng lượng tái tạo đã nhận được rất nhiều sự quan tâm. Rất nhiều tỉnh có trình độ phát triển kinh tế chưa cao đã lựa chọn phát triển các dự án nhà máy phát điện, thu hút đầu tư các dự án phát điện năng lượng gió tại vùng ven biển hay năng lượng mặt trời.

          Thứ sáu là "IT và Công nghệ sinh học". Các tỉnh có GRDP bình quân đầu người cao và  nguồn thu nhập ngoại hối có đủ nguồn lực để tiến hành phát triển các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao.

          Cuối cùng là "Công nghiệp". Dựa trên các đặc điểm về địa lý, môi trường, xã hội mà mỗi địa phương cần lựa chọn phát triển các ngành công nghiệp đặc thù. Đối với các tỉnh, thành phố gần biên giới thì cần thiết phải phát triển chuỗi cung ứng gồm nhập nguyên liệu thô - gia công- xuất khẩu thành phẩm. Mặt khác, việc tập trung vào các ngành công nghiệp nhẹ như công nghiệp sợi, da giày hay thu hút các ngành công nghiệp nặng như điện, điện tử chỉ nên được giới hạn ở các khu công nghiệp lớn gần khu vực đô thị, nơi có mức cầu cao. Việc khuyến khích công nghiệp hóa dàn trải quá mức sẽ không đem lại nhiều hiệu quả trong tương lai.

3. Ông Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI):

Thanh Hóa và Hà Tĩnh đã khởi đầu các đại công trường với các khu công nghiệp lớn, Nghệ An nên đóng vai trò là trung tâm thương mại, phát triển y tế, giáo dục, công nghiệp hỗ trợ, du lịch

          Khác với hai tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh thu hút các dự án nước ngoài với vốn đầu tư lớn như: Tổ hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn, Khu công nghiệp Formusa,… thì Nghệ An có phần chậm hơn với các dự án chủ yếu là của các doanh nghiệp tư nhân trong nước, trong đó có nhiều dự án phát triển nông nghiệp nông thôn năng động với quy mô vừa và nhỏ, ít ảnh hưởng đến môi trường. Đây cũng là một ưu điểm trong thu hút đầu tư phát triển của Nghệ An.

          Trong năm 2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã yêu cầu Nghệ An - Thanh Hóa - Hà Tĩnh phấn đấu trở thành cực tăng trưởng của vùng Bắc Trung bộ, từ đó chúng ta có thể kỳ vọng một cực tăng trưởng mới mang tên Nghệ - Thanh - Hà với không gian địa linh nhân kiệt xứ Nghệ và xứ Thanh. Thanh Hóa và Hà Tĩnh đã khởi đầu các đại công trường với các khu công nghiệp lớn, Nghệ An nên đóng vai trò là trung tâm thương mại, phát triển y tế, giáo dục, công nghiệp hỗ trợ, du lịch. Trong tương lai Nghệ An sẽ trở thành thủ phủ của tổ hợp nông - công - nghiệp hiện đại với nền văn hóa và hệ sinh thái gắn kết giữa các hộ nông dân với các tập đoàn hàng đầu như TH, Vinamilk, Vingroup, FLC,..

          Tuy nhiên cũng cần định hướng để các doanh nghiệp có vốn đầu FDI lớn hơn đầu tư vào tỉnh và gắn kết chặt chẽ hơn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tham gia vào trong sự phát triển của xu thế toàn cầu. Để thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân và doanh nghiệp dân tộc, một mặt cần "lót ổ cho đại bàng đến ở", mặt khác cần có biện pháp phát triển cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp hộ gia đình đó là nơi chủ yếu tạo công ăn việc làm và là xương sống cho nền kinh tế của tỉnh nhà.

          Nghệ An có diện tích lớn nhất cả nước, người Nghệ An hiếu học cần cù, yêu thơ ca, giỏi văn học,... là những tố chất cần thiết để sáng tạo, xây dựng,… tin rằng "khát vọng sông Lam" sẽ được thiết thực hóa bằng sức trẻ của ngày hôm nay.

Ông Duy Ly - Giám đốc điều hành 4Ways, Austrailia:

Nghệ An là tỉnh giàu tiềm năng để đầu tư và phát triển

          Trong hai tháng qua, Đoàn lãnh đạo Công ty đã đến Nghệ An khảo sát, tìm hiểu và đã được chính quyền Nghệ An nhiệt tình hỗ trợ, cung cấp tài liệu.

          Nghệ An là tỉnh rất giàu tiềm năng để đầu tư và phát triển. Qua thời gian khảo sát và làm việc, chúng tôi đã tìm kiếm được đối tác để phối hợp, kết nối đó là Công ty Cổ phần Nafoods Group. Tại Hội nghị Gặp mặt các nhà đầu tư Xuân Kỷ Hợi 2019, hai công ty đã ký kết thỏa thuận hợp tác đầu tư. Sau lễ ký kết, bước đầu Công ty sẽ xem những thỏa thuận mà Công ty cổ phần Nafoods Group đã ký với tỉnh, qua đó để có những hạng mục đầu tư hợp lý. Trước mắt Công ty sẽ đầu tư những trang trại công nghệ cao, với những kỹ thuật sản xuất tiên tiến;…

          Bên cạnh đó, Công ty sẽ làm việc với Trường Đại học Vinh để tuyển chọn một số học sinh sang Úc vừa học và vừa thực tập tại Công ty. Sau chương trình 2 năm các học sinh này có thể quay về làm việc cho công ty mình và Công ty cổ phần Nafoods Group.

4. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: 

Các doanh nghiệp có sứ mệnh vô cùng lớn lao đó là thúc đẩy cỗ xe kinh tế Nghệ An tăng tốc nhanh hơn

          Năm 2018, Nghệ An được xem một bức tranh kinh tế Việt Nam thu nhỏ bởi nhiều gam màu sáng và đầy lạc quan. Tốc độ kinh tế đạt 8,77%, cao hơn mức bình quân cả nước (7,08%); đặc biệt đã tăng đều cả 3 khu vực, trong đó lĩnh vực công nghiệp có tốc độ tăng giá trị sản xuất gần 21% và tốc độ giá trị tăng thêm đạt 18,78%, dịch vụ đạt 45%. Toàn tỉnh Nghệ An có trên 218 xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 4 xã 30a mặc dù là xã đặc biệt khó khăn nhưng vẫn đạt tiêu chí nông thôn mới. Vốn đầu tư toàn xã hội tăng 12,9%, tỷ lệ hộ nghèo đến cuối 2018 giảm còn khoảng trên 5,5%; lĩnh vực văn hóa xã hội có bước phát triển toàn diện. Những điều đó chứng tỏ Nghệ An đang vươn lên mạnh mẽ, là một điển hình về ý Đảng lòng dân, về tinh thần và quyết tâm kiến tạo phát triển ở cấp địa phương.

Nhân dịp xuân mới chúng ta cùng nhau đặt một câu hỏi đối với tỉnh Nghệ An: Khát vọng đến năm 2045 của tỉnh Nghệ An là gì? Liệu Nghệ An có thể về đích sớm hơn cả nước không?

          Nghệ An là tỉnh có dân số nằm trong tốp 5 cả nước với 3 triệu người, vì vậy khát vọng của Nghệ An đến 2045 sẽ khó đạt được nếu thu nhập của người dân xứ Nghệ vẫn thấp hơn mặt bằng cả nước. Thu nhập bình quân đầu người của Nghệ An hiện nay chỉ mới đạt 1.620 đô la, tương đương mức 63% của cả nước, tuy nhiên tôi đánh giá cao quyết tâm của lãnh đạo Nghệ An khi đặt mục tiêu tăng trưởng 2019 đạt từ 9% - 9,5%. Để đạt được mục tiêu đó, ngoài chính quyền thì các nhà đầu tư có sứ mệnh vô cùng lớn lao đó là thúc đẩy cỗ xe kinh tế Nghệ An tăng tốc nhanh hơn, mạnh mẽ hơn, bứt phá hơn, tận dụng thời cơ để đi tắt đón đầu, vượt lên và về đích sớm. Nghệ An có thành công thì cả nước mới cất cánh bởi đây là vùng "địa linh nhân kiệt", là quê hương của Bác Hồ, là niềm cảm hứng của cả nước trong quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam độc lập, tự cường, thịnh vượng, sánh vai với các cường quốc năm châu như mong mỏi của Bác Hồ kính yêu. Nghệ An cũng như cả nước đang nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cải cách hành chính, cải thiện năng lực quản lý nhà nước ở địa phương, tạo điều kiện tốt nhất cho nhà đầu tư. Đối với nhà đầu tư khi gặp khó khăn thì hãy đừng nản lòng và nhớ lại vùng đất Nghĩa Đàn năm xưa khó khăn thế nào mà bây giờ thay da đổi thịt. Thành quả đó xin dành tặng cho tất cả các nhà đầu tư. Đến với Nghệ An, giá trị của đầu tư của các doanh nghiệp không chỉ đo bằng tiền, bằng lợi nhuận mà đó còn là việc làm, thu nhập, niềm tin, sự chào đón, nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt của người dân nơi đây. Nghệ An đang hướng vào các dự án công nghệ, dự án đô thị lớn để phát triển cùng các dự án nhỏ.

          Ông bà ta từng nói: "Thế xứ Thanh, thần xứ Nghệ", "thế xứ Thanh" mang hàm ý là nơi phát tích nhiều đế vương, "thần xứ Nghệ" có nghĩa đây là vùng "địa linh nhân kiệt", đã sản sinh ra nhiều nhà tư tưởng, nhà cách mạng, những văn thần võ tướng có tài kinh bang tế thế. Xứ Nghệ ngày nay bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh với văn hóa Lam Hồng tiêu biểu, là nơi sinh ra nhiều người tài hoa, bậc hào kiệt trong giới kinh doanh, nhiều người trong số họ đang tiên phong dẫn đầu xu hướng về nông nghiệp thông minh, nông nghiệp hữu cơ, ứng dụng công nghệ 4.0, phát triển công nghệ cao, phát triển dịch vụ chất lượng cao;... Do đó, Nghệ - Thanh - Hà phải là một cực tăng của Việt Nam, nhân dân, đất nước đang mong đợi điều này và chúng ta phải quyết tâm làm được điều này. Tôi cũng mong Nghệ An cũng là nơi "đất lành chim đậu" thu hút được các tập đoàn doanh nghiệp lớn về đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, kể cả FDI, kể cả doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, kể cả doanh nghiệp lớn nhà nước;...

          Nhớ về câu hát trước lúc Người đi xa: "Bác muốn nghe câu hò xứ Nghệ, bởi làng Sen day dứt trong tim". Hiểu được day dứt của Bác chúng ta phải làm sao để làng Sen và toàn tỉnh Nghệ An không được nghèo khó hơn nữa, kinh tế người dân khá giả, đất nước thịnh vượng. Làm được điều đó Đảng bộ và nhân dân Nghệ An phấn đấu quyết liệt hơn nữa để thực hiện tốt Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị. Muốn thực hiện điều đó, ngoài nỗ lực mạnh mẽ của tỉnh Nghệ An, đề nghị Chính phủ, các bộ ngành phải phân bố lực lượng sản xuất hợp lý cho khu vực Bắc Trung bộ, cụ thể là đưa những dự án tầm cỡ vào khu vực này để giúp Nghệ An có thể phát triển tốt và nhanh như mong mỏi của tất cả chúng ta. Nhân dịp Xuân mới tôi xin trích lời hai câu ca dao như lời chúc đầu xuân với Đảng bộ và nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp Nghệ An:

Sông Lam giang càng ngày càng rộng

Núi Hồng Lĩnh mỗi bậc mỗi cao.

5. Đồng chí Nguyễn Đắc Vinh - Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An: 

Sau Hội nghị, Nghệ An sẽ triển khai chương trình hành động, phân công trách nhiệm cụ thể

          Tỉnh Nghệ An cam kết sẽ triển khai ngay sau Hội nghị này một chương trình hành động cụ thể, phân công trách nhiệm rõ cho từng đồng chí lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương để thực hiện một cách đầy đủ, nghiêm túc các thỏa thuận hợp tác đầu tư đã được ký kết.

          Đối với các dự án đã cấp chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đầu tư được trao tại Hội nghị, chúng tôi cam kết sẽ bàn giao mặt bằng sạch cho các dự án trong thời gian sớm nhất để các chủ đầu tư triển khai thi công; đồng hành với quyết tâm và nỗ lực cao nhất, kịp thời tháo gỡ các khó khăn vướng mắc cho các doanh nghiệp trong quá trình triển khai thực hiện dự án. Phấn đấu hoàn thành và đưa vào sử dụng các công trình, dự án đảm bảo tiến độ đã đề ra.

          … Tỉnh Nghệ An còn rất nhiều tiềm năng, dư địa để hợp tác đầu tư, phát triển, đặc biệt là sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 26 - NQ/TW về phương hướng nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020. Nghị quyết đã mở ra những định hướng vững chắc cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Do vậy, qua Hội nghị này, tôi mong muốn các nhà đầu tư, các doanh nghiệp tiếp tục quan tâm nghiên cứu, giới thiệu với các bạn bè, đối tác để thực hiện đầu tư những dự án có hiệu quả tại Nghệ An.

          Chúng tôi cam kết sẽ đồng hành, sẽ tiếp tục là đối tác tin cậy, lâu dài của các nhà đầu tư, và sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để các nhà đầu tư đến đầu tư, kinh doanh có hiệu quả cao tại Nghệ An.

          … Năm 2019, tròn 50 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh,  "Năm cải cách hành chính", Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An nguyện đoàn kết một lòng, tiếp tục phát huy truyền thống quê hương cách mạng; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của tỉnh; đẩy mạnh thu hút đầu tư; tăng cường hợp tác, liên kết phát triển với các tỉnh, thành phố, các doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm đưa tỉnh Nghệ An phát triển nhanh hơn, mạnh mẽ hơn và bền vững hơn, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, nhiệm kỳ 2015 - 2020.

HỒ THỦY - HỒNG BẮC (Thực hiện)

 

PGS.TS Nguyễn Đăng Bằng

Có một thực tế đã được khẳng định đó là trong vùng Bắc Trung bộ (từ Thừa Thiên Huế đến Thanh Hóa) thì Nghệ An là tỉnh có đủ điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội để phát triển toàn diện hơn các tỉnh khác. Nắm được lợi thế đó, 11 năm qua Nghệ An đã nỗ lực để mời gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước về Nghệ An. Mỗi năm cứ đến đầu xuân Nghệ An lại tổ chức gặp mặt các nhà đầu tư. Gặp mặt không phải chỉ để tri ân bè bạn xa gần mà còn mong muốn các "mạnh thường quân" trong nước và thế giới về Nghệ An biến ước mơ đầu tư thành hiện thực, biến ý tưởng thành hành động. Từ năm 2008 đến nay, "đến hẹn lại lên" các nhà đầu tư lại gặp gỡ tại Nghệ An để tìm kiếm cơ hội làm giàu. Nghệ An đã thực sự trở thành chấm son trên bản đồ đầu tư của cả nước. Tuy nhiên bên cạnh thành công, giấc mơ đầu tư của Nghệ An vẫn còn nhiều khó khăn, cản trở. Đất đã lành nhưng chim chưa đến đậu. Hoặc đàn chim bay đến rồi lại bay đi, để lại nhiều cảm xúc cho người dân Nghệ An. Với bài viết này tác giả muốn đưa đến một cách nhìn mới trong đánh giá thành tựu và thách thức đầu tư ở Nghệ An sau 11 năm nỗ lực không biết mệt mỏi (2008 đến 2019) của Đảng bộ và nhân dân Nghệ An.

1. Những con số ấn tượng và những lời hứa chắc nịch

 Cách đây 11 năm các dự án đầu tư nước ngoài vào Nghệ An chỉ đếm trên đầu ngón tay. Tại thời điểm đó các chỉ số về môi trường đầu tư của Nghệ An hết sức khiêm tốn. Sau nhiều năm đầu tư phát triển chậm vì lúng túng về phương pháp xúc tiến đầu tư, sau khi học tập kinh nghiệm một số tỉnh, Nghệ An đã dành ra một quỹ đất cực lớn để thành lập các khu công nghiệp (KCN). Khu công nghiệp Hoàng Mai ra đời, với mục đích xây dựng vùng đất Nam Thanh - Bắc Nghệ phát triển vượt bậc, trở thành động lực thúc đẩy. Từ một Nhà máy xi măng Hoàng Mai, Nghệ An đã xây dựng KCN Hoàng Mai. Không cách xa là mấy, ở Thanh Hóa đã xây dựng KCN Nghi Sơn. Điều mà dư luận quan tâm liệu KCN Hoàng Mai có cạnh tranh được với KCN Nghi Sơn hay không?

Với những kết quả tích cực từ những Hội nghị xúc tiến đầu tư, năm 2018, nhiều dự án đã cho "hoa thơm, trái ngọt". Thành công tiếp nối thành công khi có nhiều tập đoàn đã và đang triển khai dự án tại Nghệ An như VSIP, Hemaraj, TH True Milk, Hoa Sen, Vincom, Vingroup, FLC, T&T, BRG, Masan, Mavin, Vissai, Sabeco, Hoàng Thịnh Đạt, Mường Thanh...

Nhiều hình thức đầu tư đang được Nghệ An lựa chọn và nhà đầu tư đề xuất như BT, BOT, PPP, vốn vay ODA,... tạo ra sự phong phú về nguồn lực được huy động, bước đầu giảm gánh nặng về đầu tư ngân sách. Các dự án thu hút đều có sự chọn lọc, công nghệ cao, công nghệ sạch; hạn chế thấp nhất tác động xấu tới môi trường sinh thái...

Hội nghị Gặp mặt các nhà đầu tư năm 2018 đã kêu gọi được 26 dự án trọng điểm, tổng mức vốn đầu tư kêu gọi 26.294 tỷ đồng gồm các lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng, công nghiệp xây dựng, nông nghiệp, thương mại dịch vụ. Tại Hội nghị này, SHB đã ký kết hợp tác cấp gói tín dụng với hạn mức 100 tỷ đồng để Công ty CP Phát triển đô thị Vinh bổ sung vốn xây dựng Chung cư Greenview 3 thuộc dự án Khu nhà ở tổng hợp và sân vận động tại khối 3 và khối 9, phường Lê Lợi, TP. Vinh, Nghệ An. Đồng thời, SHB đã tiếp xúc làm việc, có kế hoạch hành động, gắn kết cùng các doanh nghiệp ngay sau khi kết thúc Hội nghị.

Hội nghị gặp gỡ các nhà đầu tư tại Cửa Lò năm 2019, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, Thái Thanh Quý chia sẻ: "Trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An đã không ngừng nỗ lực, phấn đấu để đưa quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng phát triển. Một trong những nỗ lực đó là tổ chức tốt "Hội nghị gặp mặt các nhà đầu tư thường niên để tìm kiếm cơ hội, tạo sợi dây liên kết với các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến với Nghệ An". Nhờ vậy, chỉ tính từ năm 2014 đến nay, tỉnh đã thu hút được 150 dự án có quy mô trên 100 tỷ đồng với tổng số vốn đăng ký là 89.141 tỷ đồng, trong đó 129 dự án đã và đang được triển khai đúng tiến độ, đạt tỷ lệ 87%.

Trước hết phải kể đến những gương mặt đầu tư quen thuộc. Sau 11 lần tổ chức hội nghị thu hút đầu tư, Tập đoàn TH đã đầu tư 21 dự án với tổng vốn 65.697 tỷ đồng. Một số dự án hiện tập đoàn này đang triển khai: Dự án xi măng Tân Thắng, vốn đầu tư 4.999 tỷ đồng, công suất 1,96 triệu tấn xi măng/năm; Nhà máy xử lý phân bò, vốn đầu tư 756 tỷ đồng; Vùng nguyên liệu cho nhà máy chế biến gỗ, vốn đầu tư 1.211 tỷ đồng; Nhà máy nước tinh khiết và nước hoa quả Núi Tiên, vốn đầu tư 1.176 tỷ đồng... Ông Lê Ngọc Hoa - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An cho biết, trong nhiều tập đoàn có dấu ấn về đầu tư ở Nghệ An, TH là tập đoàn có quyết tâm cao và nhiều dự án hiệu quả, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội Nghệ An phát triển. Các dự án của TH đã có tác động thúc đẩy nền nông nghiệp công nghệ cao của Nghệ An. Có thể nói TH đang là nhà đầu tư phù hợp nhất đối với Nghệ An hiện nay. Vì quá trình phát triển của Tập đoàn TH gắn liền với nền nông nghiệp Nghệ An. Nếu nói hình ảnh thì TH đã "đánh thức cô gái nông thôn đang ngủ quên" thức dậy làm giàu trên vùng đất thảo nguyên xanh Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp. Từ Nghệ An, TH đã vươn sang đầu tư tại Cộng hòa liên bang Nga. Hy vọng TH sẽ thành công ở nơi "đất khách xứ người".

Nhà máy tôn Hoa Sen (Tập đoàn Hoa Sen) trong Khu công nghiệp Đông Hồi, thị xã Hoàng Mai (Nghệ An), là một minh chứng v s hiệu quả trong chính sách thu hút đầu tư của Tỉnh. Sản phẩm của tập đoàn đã được chào đón trên thị trường nội địa và cả thị trường quốc tế. Tôn Hoa Sen là doanh nghiệp sản xuất phụ trợ. Nếu thiếu tôn thì ngành công nghiệp Nghệ An sẽ gặp khó. Sáng 10/1/2019, tại Cảng Quốc tế Nghi Sơn (Tĩnh Gia), Tập đoàn Hoa Sen đã tổ chức xuất khẩu lô hàng 17.000 tấn tôn đến Hoa Kỳ và ký kết hợp tác chiến lược giữa Tập đoàn Tôn Hoa Sen với Tập đoàn SK Shipping (Hàn Quốc). Lô hàng tôn xuất khẩu được sản xuất trị giá hơn 14 triệu USD. Trước đó, tháng 5-2017, Tập đoàn Hoa Sen đã xuất khẩu lô hàng 12.000 tấn tôn thành phẩm đến Hoa Kỳ thông qua Cảng PTSC Nghi Sơn (Tĩnh Gia), đánh dấu bước đột phá trong hoạt động xuất khẩu của Tập đoàn nói riêng và cả ngành tôn, thép Việt Nam nói chung. Dự kiến, trong năm 2019, Tập đoàn Hoa Sen sẽ xuất khẩu khoảng 740.000 tấn tôn ra thị trường quốc tế.

Dự án KCN, đô thị và dịch vụ VSIP Nghệ An (Dự án VSIP Nghệ An) đã được khởi công vào tháng 9/2015 với sự hiện diện của nhiều nhà máy hiện đại trong tương lai sẽ nâng tầm vóc thành phố Vinh lên một tầm cao mới. Cách đây 3 năm, toàn bộ diện tích KCN đô thị và dịch vụ VSIP Nghệ An là những cánh đồng lúa kém hiệu quả bởi không chủ động được nước. Một dự án được kỳ vọng thay đổi diện mạo, tạo đột phá cho công nghiệp Nghệ An cũng như mang đến một phong cách phục vụ các nhà đầu tư nước ngoài chuyên nghiệp đã đến với tốc độ khẩn trương, tinh thần trách nhiệm cao nhất của chủ đầu tư. Khó có thể nói hết những gian khó trong công tác giải phóng mặt bằng với diện tích lớn 750 ha, trong đó có nhiều diện tích đất dân cư, nhà xưởng, nghĩa trang. VSIP Nghệ An đã trực tiếp dẫn đại diện nhân dân vùng giải tỏa vào tận Bình Dương để tận mắt chứng kiến những KCN tầm vóc của VSIP ở đây cũng như những giá trị VSIP tạo dựng nên có lợi cho cộng đồng về kinh tế, xã hội, môi trường… Một không khí thi công khẩn trương, quyết liệt, tinh thần làm việc hết mình trong suốt 3 năm qua và nay những tin vui đầu tiên đã đến với KCN, đô thị và dịch vụ VSIP Nghệ An. Tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đầu tư vào VSIP cho 4 dự án. Năm 2019 còn hứa hẹn có thêm nhiều tập đoàn kinh tế lớn đến thuê cơ sở hạ tầng VSIP.

Tóm lại, trên bản đồ đầu tư Nghệ An đã đầy đủ sắc màu, khoảng tối và sáng đan xen nhau. Khoảng đất trống của KCN đang được lấp đầy. Tại các hội nghị xúc tiến đầu tư hàng năm, các nhà đầu tư và tỉnh Nghệ An rất kỳ vọng trong tương lai gần Nghệ An sẽ là đất lành để đón những "con Đại Bàng" chứ không phải những "con chim Cút" v làm t, đẻ trứng.

2. Đâu là bài học rút ra t thực tiễn

Trải qua 11 hội nghị xúc tiến đầu tư và thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư, Ngh An đã thấm thía những bài học kinh nghiệm sau:

Một là, s đúng đắn của một chính sách đầu tư không chỉ nằm ở những lời hứa hẹn, mà phải được minh chứng trong thực tiễn. Chỉ khi mang lại hiệu quả thực tế bằng sự tăng trưởng và việc làm, mới được coi là chính sách đúng. Một chính sách hay chủ trương đúng phải mang tính dài hạn, đảm bảo sự cân bằng giữa lợi ích biên và chi phí biên. Nếu lợi ích biên nhỏ hơn chi phí biên điều đó cần phải xem lại. Nếu chỉ thỏa mãn lợi ích ngắn hạn mà không có tầm nhìn dài hạn thì sẽ mang tội với thế h mai sau.

Hai là, trước đây trong chính sách xúc tiến đầu tư phần nào chưa thể hiện được sự vận dụng linh hoạt giữa nguyên lý của sự phát triển vùng, quốc gia và yêu cầu của thực tiễn kinh tế - xã hội Nghệ An. Nghệ An cần sự gợi ý, đóng góp ý kiến các chuyên gia kinh tế và nhà đầu tư, nhưng cần thấu hiểu đặc điểm của tỉnh, để không rập khuôn, máy móc chỉ biết học tập, làm theo mà thiếu đi sự đột phá sáng tạo.

Ba là, mạnh dạn đột phá nhưng không nóng vội chủ quan đ tránh được những sai lầm không đáng có. Ví dụ chúng ta đã cấp giấy phép đầu tư cho một số tập đoàn, doanh nghiệp nhưng thực lực tài chính và công nghệ của họ rất khiêm tốn. Hứa hảo rất hào phóng, nhiệt tình mà không đưa ra được các dự án có tính khả thi. Một số dự án treo, đã giải phóng mặt bằng nhưng không thể thi công theo dự kiến. Tỉnh mất công, dân mất đất, tâm lý nặng nề. Ví dụ đường 72 m Vinh - Cửa Lò chậm tiến độ đến gần 4 năm. Dự án Nhà máy nhiệt điện Quỳnh Lập 1 "treo" hết năm này sang năm khác kéo theo muôn vàn hệ lụy. Dự án 2.2 tỷ USD, sau 3 năm đợi chờ viễn cảnh tốt đẹp chẳng thấy đâu chỉ thấy gần 200 hộ dân thuộc 2 xóm Tân Minh và Đồng Minh của xã Quỳnh Lập đang vướng vào tình cảnh "sống mòn" vì chẳng may vướng vào vùng quy hoạch...

Bốn là, trong quản lý đầu tư còn nhiều bất cập. AMột số dự án phá bỏ quy hoạch ban đầu. Nhà đầu tư "treo đầu dê, bán thịt chó". Ví dụ tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Từ đất khu đô thị, khu chung cư, khu vui chơi giải trí sang chia lô bán nền thu lời bất chính. Một số dự án chuyển từ đấu thầu sang chỉ định thầu đã làm thiệt hại của nhà nước hàng trăm tỷ đồng. Thu hút đầu tư nhưng phải tính đến hiệu quả của nhà nước, đến người dân chứ không nên đầu tư bằng mọi giá.

Năm là, xúc tiến đầu tư nhưng phải chọn được các nhà đầu tư lớn, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quốc tế cao. Thực tế trong 11 năm qua các nhà đầu tư vào Nghệ An vừa nhỏ, vừa yếu. Các nhà đầu tư lớn không vào Nghệ An. Ví dụ Tập đoàn thép Kober của Nhật 5 năm trước đã vào Nghệ An nhưng không rõ lý do đã rút lui. Phải chăng các nhà đầu tư lớn không muốn vào Ngh An, hay vì Ngh An chưa có môi trường đầu tư thích hợp đối với họ. Nếu chúng ta chấp nhận thực tại "mèo nhỏ bắt chuột nhắt" thì đến bao gi kinh tế Ngh An mới đủ sức cạnh tranh thị trường? Trong không gian kinh tế m nếu môi trường đầu tư của bạn chưa tốt bằng nơi khác thì bạn phải chịu thua thiệt. Vì vậy trong thu hút đầu tư phải biết lựa chọn, sàng lọc, chậm mà chắc.

3. Giải pháp nào cho xúc tiến đầu tư mưi năm tiếp theo

Hội nghị "Gặp mặt các nhà đầu tư Xuân Kỷ Hợi 2019" khép lại những thành tựu đầu tư 11 năm xúc tiến đầu tư và mở ra triển vọng mới cho đầu tư tại Nghệ An. Nhân dịp này tỉnh đã cấp chứng nhận đầu tư mới cho 6 dự án; cam kết thỏa thuận đầu tư 14 dự án ngoài KCN đồng thời cấp chứng nhận 4 dự án đầu tư vào KCN - VSIP. So với năm 2018 thì s d án cam kết không nhiều hơn nhưng quy mô d án lớn hơn. Đặc biệt có một s d án đầu tư vào nông nghiệp công ngh cao. Năm 2019 với nhiều đổi mới mà thách thức khi Nghệ An đã có nhiều sự thay đổi về điều chỉnh quy hoạch các khu kinh tế, KCN nên hứa hẹn sẽ là một năm "mùi mẫn" trong việc đón đợi làn sóng thu hút đầu tư dòng vốn mới. Tuy nhiên, hoạt động xúc tiến đầu tư chủ yếu đang tập trung vào các giai đoạn trước cấp phép đầu tư, các hoạt động hỗ trợ nhà đầu tư khi dự án triển khai và đi vào hoạt động còn hạn chế. Công tác giám sát, đôn đốc và hỗ trợ triển khai dự án sau cấp phép chưa thực sự hiệu quả. Hiệu quả thu hút đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Số lượng dự án và quy mô vốn đăng ký của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn thấp. Các dự án đầu tư vào khu kinh tế và KCN, các dự án sử dụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao và các dự án hạ tầng công nghiệp - đô thị, giáo dục đào tạo, y tế và nông nghiệp chưa nhiều...

Người đứng đầu chính quyền tỉnh Nghệ An, ông Thái Thanh Quý đề nghị cần nâng cao chất lượng hoạt động xúc tiến đầu tư; thường xuyên rà soát để thu hồi các dự án chậm tiến độ; chủ động tiếp cận nhà tài trợ, nhằm tranh thủ vận động các dự án có quy mô lớn theo định hướng ưu tiên của tỉnh đã được xác định trong danh mục ưu tiên vận động ODA, phù hợp với tiêu chí của nhà tài trợ..., đó là mục tiêu mới trong năm 2019.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ngh An "để phát triển kinh tế, tỉnh cần năng động hơn nữa trong việc liên kết với các địa phương khác trong vùng, đặc biệt là những trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, TP. HCM".

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhắc nhở không vì phát triển kinh tế mà làm ảnh hưởng xấu đến môi trường... Nghệ An với dân số    hơn 3 triệu người, diện tích lớn, nhưng mới chỉ có 11.000 doanh nghiệp; tính bình quân 280 người trên một doanh nghiệp, trong khi tỉnh Bình Dương và Lâm Đồng chỉ 170 người/doanh nghiệp. 

Nghệ An cần tiếp tục khuyến khích, tạo mọi điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, tham gia đầu tư vào các lĩnh vực hạ tầng, các khu công nghiệp, cảng hàng không, cảng biển... Trong đó, tỉnh sớm thực hiện đề án nâng cấp sân bay Vinh nhằm mở thêm nhiều đường bay quốc tế, đưa du khách thẳng tới địa phương. Quy mô thành phố Vinh phải lên một triệu dân. Ông Nguyễn Cảnh Bình (Phó Tổng giám đốc Trung nghiên cứu kinh tế châu Á Thái Bình Dương) cho rằng, Nghệ An muốn phát triển thì nên tổ chức nhiều hơn nữa các hoạt động liên quan trí thức; phát triển cán bộ và lãnh đạo trẻ tại địa phương bằng cách lập trung tâm đào tạo lãnh đạo trẻ.

Nghệ An tiếp tục cam kết triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp cụ thể: Áp dụng chính sách ưu đãi và hỗ trợ nhà đầu tư với mức cao nhất trong quyền lợi đang có; Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ, phục vụ tốt nhất nhu cầu của doanh nghiệp;... Dựa trên nền tảng các giải pháp của tỉnh Nghệ An, chúng tôi cho rằng trong 10 năm tới cần nhấn mạnh 4 nhóm giải pháp cơ bản sau:

Một là, nhóm giải pháp về môi trường. Bài học của các nước phát triển là phải chăm lo môi trường trước khi đầu tư. Bởi vì bỏ vốn đầu tư mà không quan tâm môi trường thì lợi bất cập hại. Phải trả giá cho sự xâm hại môi trường, nhất là môi trường tự nhiên. Bài học của Formosa Hà Tĩnh là một điển hình về xâm hại môi trường. Chúng ta không đánh đổi môi trường để lấy kinh tế. Trong phát triển muốn nhanh và bền vững thì kinh tế và môi trường phải phát triển đồng hành. Việc đánh giá tác động môi trường của dự án vô cùng quan trọng. Nếu chưa tìm ra giải pháp bảo vệ môi trường hữu hiệu thì chưa cho đầu tư.

Hai là, cam kết giải phóng mặt bằng đúng tiến độ của nhà đầu tư. Giá đền bù trong giải phóng mặt bằng cho các dự án cần xây dựng hợp lý hơn. Nhiều dự án chậm tiến độ vì không làm tốt việc đền bù giải phóng mặt bằng. Cần thiết phải thành lập bộ phận chuyên nghiên cứu để đưa ra giá đền bù. Có những dự án nhà đầu tư đưa ra giá đền thù thấp nhưng khi có quỹ đất họ tự ý sửa quy hoạch và chia lô bán nền. Người dân mua lại với giá cao trên trời. Một số dự án giữa nhà đầu tư và người dân không thể thỏa thuận được phải sử dụng biện pháp cưỡng chế. Thực tế giá đất do nhà nước quy định khác nhiều so với giá thị trường. Nếu đền bù mà không có giá đất đai hợp lý thì không thể giải phóng mặt bằng được. Chính vì điều đó đã làm nản lòng nhà đầu tư.

Ba là, nhóm giải pháp tái định cư. Kinh nghiệm ở các nước trong khu vực, công tác tái định cư phải thực hiện sớm để khi giải phóng mặt bằng người dân đã về cơ sở mới. Các khu tái định cư phải hơn hoặc bằng nơi ở cũ. Hệ thống dịch vụ trong tái định cư phải liên hoàn đồng bộ. Hệ thống cung cấp nước sạch cho dân. Nhà trẻ, mẫu giáo, các trường tiểu học trung học phải xây dựng khang trang. Nếu dân đông phải thành lập chợ để trao đổi hàng hóa dịch vụ.

Bốn là, nhóm giải pháp về lựa chọn nhà đầu tư. Lãnh đạo tỉnh phải trực tiếp làm việc với các nhà đầu tư để tìm hiểu thông tin các nhà đầu tư. Trong 10 năm qua tỉnh chưa chú trọng việc lựa chọn nhà đầu tư. Trong tương lai cần quan tâm hơn. Quan điểm của chúng tôi là nhà đầu tư càng khó tính càng khả thi. Tiềm lực tài chính và KHCN của nhà đầu tư càng tốt thì hiệu quả càng cao. Mặc dù tỉnh có những chính sách đột phá nhưng phần lớn các nhà đầu tư nhỏ, kém kinh nghiệm. Một số nhà đầu tư lợi dụng sự sơ hở trong quản lý nhà nước để trốn, lậu thuế, hoặc chuyển giá.

Năm là, đổi mới lề lối làm việc, phân công lãnh đạo tỉnh trực và làm việc trực tiếp với nhà đầu tư; niêm yết công khai 100% thủ tục hành chính với các quy hoạch, kế hoạch; cải cách thủ tục và rút ngắn thời gian nộp thuế cho các doanh nghiệp, đảm bảo trên 98% doanh nghiệp được kê khai thuế điện tử. Hiện nay thủ tục hành chính đã được cải thiện. Tuy nhiện tình trạng đùn đẩy, chậm trễ về thủ tục đầu tư vẫn còn. Phải sớm thực hiện một nền hành chính không sử dụng giấy tờ. Qua hệ thống mạng, khai thông đầy đủ thông tin và kịp thời. Có cơ chế để thu hút nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhân lực chất lượng cao phải có chuyên môn sâu, tiếng Anh giỏi, đạo đức tốt.

4. Kết luận

Người đứng đầu Chính phủ nói "Nghệ An không được chủ quan, không được thỏa mãn hoặc thỏa mãn non với những kết quả bước đầu vừa đạt được vì chúng ta vẫn còn nghèo, còn nhiều vấn đề đặt ra trong phát triển đất nước"; "Nghệ An phải xây dựng chính quyền năng động hơn nữa - chính quyền đối thoại; đồng thời yêu cầu các nhà đầu tư hãy giữ đúng cam kết, không để tồn tại những dự án chậm tiến độ, quy hoạch treo. Các nhà đầu tư phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường, có trách nhiệm với xã hội". Nhà nước, người dân, cộng đồng phải đồng hành cùng doanh nghiệp, theo tinh thần sai đâu sửa đó, vướng đâu điều chỉnh đó.

Tài liệu tham khảo

1. Việt Hương, Báo nhadautu.vn, Phỏng vấn ông Lê Ngọc Hoa, PCT tỉnh Nghệ An tại Hội nghị xúc tiến đầu tư lần thứ 10.

2. Việt Hương, Báo nhadautu.vn, Báo cáo của Chủ tịch UBND tỉnh về xúc tiến đầu tư vào Nghệ An tại Hội nghị Gặp mặt các nhà đầu tư năm 2019.

3. Nguyễn Hải, Báo Đầu tư, (2018) Nghệ An gặp mặt 800 nhà đầu tư, bàn cách phát triển kinh tế.

 

Minh Hải

Mùa xuân đến, chúng ta bước vào một năm mới bằng hàng loạt các lễ hội truyền thống nổ ra rầm rộ ở nhiều địa phương. Lễ hội làm cho không khí thật sự mùa xuân, mùa của sự bắt đầu. Nhà nhà, người người kéo nhau đi lễ hội, đi cầu phúc, cầu an, cầu tài, cầu lộc, cầu duyên, và đi chơi xuân. Đó đều là những nhu cầu cần được nhìn nhận khách quan. Và ai cũng có quyền được trải nghiệm qua lễ hội theo cách riêng của mình. Nhưng như một chút bệnh nghề nghiệp, một số người lại lựa chọn một góc nhìn để hiểu thêm về lễ hội. Và, khi chấp nhận điều đó, việc xem xét lễ hội dưới góc độ giới sẽ là một sự lựa chọn khá vị. Bản thân lễ hội thì không có giới tính, nhưng chủ thể (có góc độ nào đó là cả khách thể) đã vô hình trung tạo ra tính giới cho lễ hội. Có những lễ hội thiên về sức mạnh, về hướng ngoại (nam tính) nhưng cũng có những lễ hội thiên về sự mềm dẻo, khéo léo và hướng nội (nữ tính).

Mùa lễ hội và "Văn hóa tháng Giêng"

Chắc hẳn không cần phải bàn nhiều về khái niệm hay đặc trưng của lễ hội, bởi điều đó sẽ trở nên dư thừa khi nó đã được quá nhiều nhà nghiên cứu bàn luận và được đưa vào nhiều mục từ trong các từ điển. Có điều, hiểu theo cách nào đi chăng nữa thì lễ hội vẫn là một sinh hoạt văn hóa vô cùng quan trọng với các cộng đồng người Việt, và phổ biến nhất vào dịp đầu năm mới. Nói đến sự phổ biến của lễ hội cũng như vai trò của lễ hội trong cuộc sống xã hội, chúng ta có thể phần nào nhận thấy qua một vài số liệu, sẽ cố gắng trấn tĩnh để không bị ngạc nhiên. Theo thống kê của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch thì hiện tại Việt Nam có 7.966 lễ hội, như vậy trung bình mỗi ngày có 22 lễ hội diễn ra, tức là hơn 1 giờ đồng hồ thì có một lễ hội. Phải ghi nhớ có những lễ hội kéo dài vài ba ngày. Nói về số lượng du khách trung bình tham gia các lễ hội lớn phải kể đến: Lễ hội Đền Hùng (Phú Thọ) có 7-8 triệu lượt khách, Lễ hội Bà Chúa Xứ (An Giang) có khoảng 2,5 triệu lượt khách, Lễ hội Yên Tử (Quảng Ninh) có khoảng 2 triệu lượt khách, Lễ hội Chùa Hương (Hà Nội) có 1,5-2 triệu lượt khách, Lễ hội Núi Bà Đen (Tây Ninh) có khoảng 1,5 triệu lượt khách… Điều đó cho thấy lễ hội là một sinh hoạt văn hóa rất phổ biến ở Việt Nam(1).

 

Thống kê lễ hội ở Việt Nam hiện nay (nguồn laodong.vn)

Nghệ An, vốn là một vùng văn hóa lâu đời nên lễ hội cũng rất phổ biến. Là một địa phương đa tộc người với nhiều nền văn hóa như văn hóa Kinh, văn hóa Thái, văn hóa Khơ Mú, văn hóa Mông, văn hóa Thổ, văn hóa Ơ Đu… Mỗi cộng đồng ở mỗi địa phương lại có những sắc thái đặc trưng riêng, tạo nên một vườn hoa văn hóa tộc người, văn hóa cộng đồng đa sắc sặc sỡ. Hiện nay trong tỉnh có hàng trăm lễ hội truyền thống hàng năm, trong đó có hàng chục lễ hội nổi tiếng trước đã bị mai một, nay được phục hồi như các lễ hội đền Cuông (Diễn Châu), đền Cờn (Quỳnh Lưu), đền Quả Sơn (Đô Lương), đền Vua Mai (Nam Đàn), đền Bạch Mã (Thanh Chương), đền Hồng Sơn, chùa Sư Nữ (thành phố Vinh)… Miền núi phía Tây có các lễ hội Xăng Khan, Hang Bua (Quỳ Châu), đền Chín Gian (Quế Phong), đền Vạn (Tương Dương)… Gần đây tỉnh còn xây dựng nên một số lễ hội mới mang sắc thái hiện đại như Lễ hội làng Sen (19-5), lễ hội sông nước Cửa Lò (30/4 - 1/5), Lễ hội uống nước nhớ nguồn (27-7),… Phần lớn các lễ hội thường gắn liền với các di tích lịch sử văn hóa ở các địa phương. Theo thống kê, Nghệ An cũng có hơn 1.700 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 125 di tích cấp quốc gia và 104 di tích cấp tỉnh, là một hệ thống di tích hấp dẫn, có sức hút lớn đối với du khách như Khu di tích Kim Liên, Khu di tích Truông Bồn, đền thờ Vua Quang Trung… Tất cả những điều đó cũng tạo nên một không khí lễ hội vô cùng sôi động cho con dân đất Nghệ. Cũng như nhiều vùng khác trong cả nước, mùa xuân, nhất là trong tháng Giêng, là thời điểm có nhiều lễ hội nhất được tổ chức ở rất nhiều địa phương trong tỉnh. Lễ hội trở thành một yếu tố văn hóa quan trọng trong sinh hoạt văn hóa ở Nghệ An.

Nhiều lễ hội quan trọng ở Nghệ An diễn ra ngay sau dịp tết Nguyên Đán. Theo lịch pháp thì tết Nguyên Đán thể hiện một đặc trưng về cách tính lịch của người phương Đông. Học giả Nguyễn Văn Huyên từng viết: "Mỗi tháng bắt đầu vào một ngày của tuần trăng mới. Và năm cũng khởi đầu tuần trăng mới đầu tiên tiếp theo lúc mặt trời rời khỏi chí tuyến Nam, là dấu hiệu sau cùng của ba dấu hiệu mùa đông. Như vậy, tết vừa là sự vận hành của cả mặt trời và mặt trăng"(2). Ông giải thích chữ "tiết Nguyên Đán" là "những buổi rạng đông của sự khởi đầu"(3). Nói như vậy để thấy rằng, tết Nguyên Đán là giao mùa, giao thời. Theo lý lẽ đó, có thể nói tháng Giêng là tháng của sự mở đầu: Đầu mùa, đầu thời, đầu năm và đầu tiên. Vậy nên, với mỗi một gia đình, tháng Giêng cần mở đầu cho nhiều thứ, và cũng cho tất cả những việc quan trọng của một năm mới. Trong quan niệm về giới thì nữ/cái mới là sự khởi đầu, là chủ thể trực tiếp sản sinh thông qua việc phối hợp với nam/đực. Và điều đó phần nào giống với việc chuẩn bị cho sự khởi đầu trong gia đình của người phụ nữ. Phần lớn các gia đình truyền thống, một ngày mới bắt đầu với công việc của người phụ nữ. Họ là người thức dậy đầu tiên, chuẩn bị bữa sáng và nhiều thứ cho hoạt động của một gia đình trong một ngày mới. Một năm cũng vậy, tháng Giêng, người phụ nữ cũng thể hiện vai trò quan trọng trong quá trình chuẩn bị cho cuộc sống và công việc của gia đình trong một năm mới. Đặc biệt về cuộc sống tâm lý, niềm tin hay về một chiến lược bảo vệ gia đình ở nhiều mặt trong năm đó. Có thể tạm gọi là "Văn hóa tháng Giêng", văn hóa của sự chuẩn bị. Mà bắt đầu là sự chuẩn bị về niềm tin, về tâm lý và cả tâm linh. Và trên phương diện giới, vai trò của người phụ nữ trở nên nổi trội hơn trong "văn hóa tháng Giêng" này. Nếu như những người đàn ông coi tháng Giêng là "tháng ăn chơi" thì với phụ nữ, đó là "tháng bắt đầu", "tháng chuẩn bị". Không phải/chỉ chuẩn bị cho cá nhân họ, mà chuẩn bị cho cả gia đình, nhất là về tâm lý, về đời sống tâm linh. Tất nhiên, nói vậy không phải coi nhẹ vai trò của người đàn ông, nhất là trong việc thực hiện các công việc quan trọng của gia đình. Vấn đề này sẽ được phân tích rõ hơn trong phần tiếp theo.

Tham gia lễ hội nhìn từ góc độ giới

Liệu có một kết cấu nào đó về giới dành cho lễ hội hay không? Tôi nghĩ là có. Ít nhất là trên phương diện nhận thức. Đây không phải là kết quả của sự phân chia giới một cách tự nhiên, mà là hệ quả của các quá trình tương tác văn hóa cũng như sự chuyển dịch trong đời sống văn hóa tinh thần. Tất nhiên, ở góc độ nào đó còn là kết quả của quá trình đấu tranh cho bình đẳng giới của xã hội. Có lẽ câu chuyện này hơi cảm quan, nhưng trong khoa học xã hội, không phải cái gì định tính cũng không có giá trị và cái gì cứ định lượng thì nghĩa là đáng tin hơn. Cảm quan cũng quan trọng, nhất là trong những vấn đề văn hóa nhạy cảm, dễ tạo cảm xúc cho những người trong cuộc. Vậy, kết cấu giới trong lễ hội là như thế nào?

Trên bình diện tổng quan, người Việt theo chế độ phụ hệ nên người đàn ông có vai trò như là làm chủ gia đình, nhất là trong việc thực hành các nghi lễ liên quan đến tổ tiên cũng như các nghi lễ liên quan đến đời sống cộng đồng. Trong các nghi lễ nông nghiệp, đàn ông vẫn làm chủ lễ. Điều đó thể hiện rất rõ ràng trong các lễ hội truyền thống ở các làng. Trong các nghiên cứu về lễ hội dân gian ở các vùng khác nhau đều ghi nhận vai trò chủ lễ của đàn ông. Có nhiều nghi lễ coi trọng sự cân bằng âm dương, nhưng dù gì đi nữa thì cũng có sự thống trị của nam giới trong việc tổ chức nghi lễ. Nói cách khác, phần lễ trong nhiều lễ hội truyền thống gắn với vai trò và vị thế của người đàn ông. Nhưng ở góc độ khác, phần hội - một phần quan trọng của lễ hội lại cởi mở hơn nhiều khi mà cả đàn ông và phụ nữ đều có thể tham gia một cách thoải mái hơn. Thậm chí, có khi, phụ nữ đi chơi hội còn nhiều hơn cả nam giới. Nhưng xét trên phương diện đứng ra tổ chức và thực hành nghi lễ trong lễ hội, thì đàn ông vẫn chiếm vị thế quan trọng hơn và thường xuyên làm chủ lễ.

Trên góc nhìn khác về không gian thiêng trong quá trình tổ chức các lễ hội truyền thống. Tính giới trong sự phân chia không gian thiêng và các điều cấm kỵ cũng liên quan đến tính chất của các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau và các sinh hoạt văn hóa khác nhau. Trong các tín ngưỡng dân gian gắn liền với nhiều lễ hội như thờ các thần linh có công sáng tạo, thờ Thành Hoàng làng, thờ tổ nghề, thờ cúng các nhân vật có công với cộng đồng hay thờ các anh hùng dân tộc vốn là công việc được cộng đồng quan tâm và có hội đồng làng xã đứng ra tổ chức. Những lễ hội này cũng gắn với các không gian thiêng như đền thờ, đình làng, miếu thờ,… Và trong lễ hội còn có phần đón rước. Những không gian này có sự phân biệt giới tính và đẳng cấp cao nhất. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã ghi nhận rằng, sự phân biệt giới tính trong không gian thiêng trong xã hội truyền thống là vô cùng nghiêm ngặt. Dân gian có câu: "Đàn ông vui thú tại đình, đàn bà vui thú tại chùa" như là để chỉ sự phân biệt đó. Đình, đền là những nơi linh thiêng mà ít người phụ nữ dám vào và được vào. Đó là nơi thờ phụng, cũng là nơi "phái mạnh" bàn chuyện lớn, chuyện quốc gia đại sự. Vào đó đã khó, đụng chạm vào các vật thiêng trong đình, đền lại còn bị cấm kỵ nghiêm ngặt hơn đối với phụ nữ. Những đồ vật linh thiêng trong đình, đền đều như mặc định "xa tầm tay người phụ nữ". Khi phải lau rửa các đồ vật này người ta vẫn lựa chọn những người con trai sạch sẽ, khỏe mạnh thực hiện. Một sự thật mà tôi được biết đến ở quê mình mà đến nay vẫn nhớ mãi. Quê tôi có một ngôi đền nổi tiếng là đền Hữu (thờ Tấn Quốc công Nguyễn Cảnh Hoan, nay thuộc xã Thanh Yên, huyện Thanh Chương). Khoảng từ 1990 trở về trước, chỉ có những người đàn ông mới được vào đền để thắp hương dâng lễ. Những người phụ nữ thôn quê, đi làm ruộng làm đồng qua đền chỉ dám nhìn vào chứ ít ai dám vào phía trong xem nó thế nào. Thậm chí chỉ tay vào trong đền cũng được coi là kỵ và ít người làm điều đó. Họ còn dạy con nhỏ rằng không được chỉ tay vào tượng, vào nhà đền vì nếu làm vậy về nhà sẽ đau tay… Những điều đó phần nào cho thấy đình, đền thật sự là không gian thiêng rất cấm kỵ với phụ nữ. Chùa thì ngược lại, dù cũng là một không gian thiêng nhưng nó gần gũi với người phụ nữ hơn. Phụ nữ đi lễ chùa, đi hội chùa phổ biến hơn và họ gắn liền với nhiều sinh hoạt văn hóa ở chùa hơn. Đó phần nào xuất phát từ bản chất của Phật giáo. Điều này sẽ được phân tích cụ thể hơn trong một phần sau của bài viết.

Mặt khác, cũng cần phải nhìn nhận lại sự biến đổi của đời sống xã hội để xem xét sự phân biệt giới trong lễ hội. Thực chất, ngoài việc phân biệt khá gay gắt trong việc thực hành các nghi lễ quan trọng liên quan đến đời sống tâm linh thì gần như không có quy định nào phân biệt giới tính, nhất là trong phần hội của lễ hội. Người phụ nữ cũng đi chơi hội nhiều và thậm chí chưa chắc tỷ lệ đã thấp hơn đàn ông ở một số lễ hội. Nhưng nhìn chung, trong xã hội truyền thống, người phụ nữ vẫn mang gánh nặng công việc gia đình. Dịp tết rồi đầu năm, bao nhiêu việc gia đình phần lớn đều do người phụ nữ lo liệu. Trong khi người đàn ông đi tham gia lễ hội, đi vui chơi ăn uống, cờ bạc hay thi thố ở các cuộc chơi, thì người phụ nữ vẫn gắn với một loạt các công việc gia đình. Không mấy gia đình cấm phụ nữ đi chơi hội. Nhưng đó là chuyện sau khi hoàn thành các việc nhà. Mà một ngày ngắn ngủi, xong việc cũng hết ngày. Hôm sau lại là một vòng việc nhà khác. Cứ thế, thời gian dành cho họ đi tham gia lễ hội, tham gia các sinh hoạt văn hóa cộng đồng ít hơn.

Tính giới trong lễ hội cũng thay đổi theo thời gian và không gian văn hóa khác nhau. Ở Nghệ An, sau cải cách văn hóa, nhiều đình đền bị phá hủy. Theo thống kê thì từ năm 1960 đến hết những năm 1980 Nghệ An đã phá hủy mất 1.076 đình, đền và chùa. Cùng với nó là rất nhiều lễ hội truyền thống bị mất mát và nhiều di sản văn hóa cũng bị mai một. Trong thời gian gần đây, các di tích được phục hồi hay xây mới nhiều, nhất là chùa và đền, nhưng đình thì vẫn còn rất ít. Các sinh hoạt văn hóa cộng đồng, trong đó có nhiều lễ hội truyền thống cũng thay đổi. Việc tổ chức lễ hội chủ yếu do chính quyền địa phương quản lý và điều hành. Các tổ chức dân sự trong làng xã cũng ít hoạt động và ngày càng mất dần vai trò trong đời sống xã hội, nhất là trong các sinh hoạt đời sống tín ngưỡng, vốn là lĩnh vực mà trước đây thuộc trách nhiệm của họ. Khi tổ chức các lễ hội, việc thảo luận kế hoạch và cách thức tổ chức cũng được diễn ra ở trụ sở ủy ban mà ít khi ở các không gian thiêng như trước. Bên cạnh đó, đình, đền không còn là không gian thiêng quá cấm kỵ nghiêm ngặt với người phụ nữ. Như trường hợp ở đền Hữu đã đề cập ở trên lại thay đổi nhanh đến kỳ lạ. Nếu trước đây, người phụ nữ không dám, không được vào đền làm lễ, thậm chí còn không dám chỉ tay vào đền thì trong khoảng hơn mươi năm trở lại đây, số lượng phụ nữ đến đền thắp hương làm lễ vào ngày mồng 1 và rằm hàng tháng lại tăng lên nhanh chóng. Nhất là trong bối cảnh đàn ông trong vùng đi xa làm ăn thì phụ nữ thường đi đền thắp hương lễ Thánh cầu an, cầu phúc cho cả nhà. Người phụ nữ cũng được giải phóng công việc gia đình nhiều hơn, lại có sự tự lập về kinh tế hơn nên nhu cầu đi du xuân, đi lễ hội cũng lớn hơn. Và thực tế, trong các đoàn du khách đi lễ hội hiện nay, phụ nữ lại có phần chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới. Ở các cơ quan đoàn thể, các nhóm, hội phụ nữ rủ nhau đi lễ hội, đi du xuân nhiều hơn so với nam giới. Phần nhiều đàn ông đi lễ hội là đi cùng gia đình, rất ít khi dăm bảy người đàn ông tụ tập nhau lại đi lễ hội. Nhưng điều đó lại diễn ra khá phổ biến đối với phụ nữ. Phải chăng, kếu cấu giới của lễ hội đang thay đổi?

Có rất nhiều lý do làm thay đổi tính giới trong lễ hội, và nó nằm trong một quá trình chuyển biến các giá trị văn hóa mà rộng hơn là sự chuyển biến trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa. Chúng ta chuyển từ một nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế thị trường hiện đại và đa dạng, chuyển từ chế độ phụ hệ sang xã hội mà quyền bình đẳng giới được đảm bảo rõ ràng hơn, chuyển từ xã hội sản xuất năng suất thấp sang một xã hội tiêu thụ mà nhu cầu về tinh thần của con người tăng nhanh hàng ngày. Nó làm cho quyền và năng lực tiếp cận của đàn ông và phụ nữ gần ngang nhau. Bên cạnh đó, những bức tường rào cản văn hóa cũng được xóa bỏ đi nhiều, người phụ nữ được giải phóng hơn. Tất cả những vấn đề này đều có ảnh hưởng đến sự thay đổi kết cấu giới trong việc tham gia các lễ hội. Nhưng đàng sau hay vượt lên trên đó, là vấn đề tâm lý giới trong đời sống tín ngưỡng nói riêng và đời sống tinh thần nói chung. Xin phân tích một vấn đề cụ thể, đó là vấn đề phụ nữ với Phật giáo, một vấn đề được thể hiện rõ ràng trong kết cấu giới tham gia lễ hội khi số lượng phụ nữ đi lễ chùa đầu năm chiếm tỷ lệ cao hơn đàn ông nhiều lần.

Phụ nữ với Phật giáo và chuyện đi lễ chùa đầu năm

Hoạt động văn hóa nổi bật nhất của những người phụ nữ trong tháng Giêng là đi chùa lễ Phật cầu an, cầu phúc cho gia đình. Trong văn hóa Việt, chùa luôn là nơi đến gần gũi với phụ nữ. Người phụ nữ lựa chọn đi chùa để đáp ứng nhu cầu tâm lý, tâm linh và đời sống tinh thần của mình, vừa để giảm tránh những khó nhọc, mất mát, thua thiệt trong cuộc sống hàng ngày, vừa tìm nơi chia sẻ với bạn bè, với phật tử. Chính vì vậy nên dễ dàng nhận ra trong các đoàn người đi lễ chùa, dù dịp lễ tết hay ngày thường thì phụ nữ vẫn chiếm phần lớn hơn.

Trong tháng đầu năm, nhiều người phụ nữ tham gia đi lễ chùa. Theo một thống kê sơ bộ trên báo chí, hiện nay Nghệ An có 55 ngôi chùa lớn được Giáo hội Phật giáo quan tâm và có quyết định nhà sư trụ trì quản lý, thu hút hơn 50 ngàn phật tử thường xuyên đi lễ. Con số này có lẽ còn khiêm tốn bởi bên cạnh đó thì có hàng vạn người vẫn đi lễ chùa nhưng họ chưa nhận mình là phật tử. Phụ nữ chiếm một tỷ lệ áp đảo trong số người đi lễ chùa. Đặc biệt, ở các vùng có nhiều ngôi chùa cổ, vốn là những nơi Phật giáo phát triển khá lâu đời như ở TP. Vinh, Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Đô Lương,… thì số lượng phụ nữ đi chùa càng nhiều hơn. Nhiều vùng ở Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu và Vinh, nhiều người phụ nữ còn tập hợp thành các nhóm bạn đi chùa, không chỉ thường xuyên lên chùa gần nhà lễ phật mà dịp đầu năm còn tổ chức thuê xe để cả nhóm cùng đi hành hương qua nhiều chùa khác nhau. Đầu năm, người ta lên chùa để làm lễ cầu phúc, cầu an, cầu tài, cầu lộc cho cả gia đình. "Việc đi chùa lễ là rất tốt, nhất là đối với những người phụ nữ đã khá lớn tuổi. Sau bao năm vất vả lo cho gia đình, giờ mình cần được nghỉ ngơi, đi chùa để cho tinh thần thoải mái, nhẹ nhàng, không phải giận hờn, cáu gắt với con cháu. Tôi và những người bạn trong nhóm bạn đi chùa của mình thường xuyên tham gia đi làm từ thiện với nhà chùa, đọc kinh niệm Phật để cầu an yên cho cả gia đình. Hay nhiều khi, chỉ đơn giản là lên chùa để người mình cảm thấy an yên, nhẹ nhõm, tránh được sự bon chen, ồn ào của cuộc sống, cũng là tránh được nhiều bệnh tật, tránh tai biến…" (Phụ nữ, 62 tuổi, Yên Thành).

Trong một cuộc khảo sát nhỏ với 73 người phụ nữ độ tuổi từ 18 đến 70 ở Vinh và Yên Thành thì có 61 người đi lễ chùa vào tháng Giêng (chiếm 84%), trong đó có 47 người thường xuyên đi chùa, còn lại mỗi năm chỉ đi lễ chùa 1-4 lần. Xét về nghề nghiệp, những người làm nghề buôn bán, kinh doanh tự do là đi chùa nhiều nhất, sau đó là các viên chức nhà nước (cả đang làm việc lẫn về hưu) rồi đến những người khác. Về mục đích, hầu hết lên chùa làm lễ đều để cầu an, cầu phúc cho gia đình, một số còn thêm cầu tài, cầu lộc, một số chỉ lên chùa vãn cảnh. Điểm chung là hầu hết đều đi theo các nhóm. Nhiều người già thường chọn đi lễ chùa ở gần nhà và đi thường xuyên hơn. "Già rồi nên đi chùa cho thanh thản. Giờ các việc nặng không làm được nữa, nên đi chùa để cho bản thân thoải mái hơn, vừa cầu mong Đức Phật phù hộ, che chở cho con cháu, gia đình được bình an, hạnh phúc. Nhất là trong tháng Giêng thì càng nên lên chùa lễ Phật, cầu cho gia đình cả một năm bình an vô sự" (Phụ nữ, 69 tuổi, Yên Thành). Tất nhiên, hiện nay, đi chùa không chỉ là thói quen của mỗi người già. Nhiều bạn trẻ cũng lựa chọn đi lễ chùa vào dịp đầu xuân: "Đi chùa mình thấy thoải mái hẳn. Quanh năm buôn bán, chạy đôn chạy đáo khắp nơi, bon chen với cơm áo, với công việc, có lúc được, có lúc mất nhưng luôn phải lo lắng. Chỉ có vào chùa thì thấy mình nhẹ nhõm hơn. Vậy nên hàng tháng vẫn đi lễ chùa. Tháng Giêng thì mình đi hầu hết các chùa trong tỉnh mà mình biết đến, để cầu mong cả gia đình được một năm may mắn, hạnh phúc" (Phụ nữ, 21 tuổi, TP. Vinh). Lý giải về nguyên nhân làm cho chùa chiền và Phật giáo trở nên gần gũi với phụ nữ hơn, TS Đặng Hoàng Giang(4) cho rằng có 4 nguyên nhân chính: (1). Phụ nữ thuộc về nhóm yếu thế trong xã hội và nhìn chung dễ tổn thương, chịu nhiều thiệt thòi nên họ luôn cần tôn giáo bảo hộ cho đời sống tinh thần của mình, cho gia đình mình và những người mình yêu thương; (2). Trước 1945, đình nghiễm nhiên là nơi độc quyền của nam giới, còn chùa đền là không gian của nữ. Nữ gần gũi với chùa từ lâu đời và chùa cũng mang tính nữ nhiều hơn các không gian thiêng khác; (3). Nữ giới thường có xu hướng quan sát và cảm nhận cuộc sống bằng cảm xúc, còn nam là lý trí. Nên nữ dễ đồng cảm với đạo Phật hơn nam vì nếu thiếu đức tin, cảm xúc thì ko thể theo đạo Phật được; (4). Ở Việt Nam, nữ đi tu và thuyết pháp nhiều. Công nghệ đã mang tiếng nói của họ đến nữ giới nhiều hơn nên thu hút được nhiều người tham gia. Trong khi đó, với cái nhìn theo chiều sâu hơn, PGS.TS Hoàng Thị Thơ(5) phân tích cụ thể hơn: Về tâm lý, tâm linh, phái nữ yếu đuối hơn nam nên dễ sợ hãi, và sợ hãi đủ điều, hay nghĩ vẩn vơ và lập trường ko vững chắc… Ai nói gì cũng nghe theo, hay làm theo phong trào, kể cả khi không hiểu gì. Chẳng hạn, khi chưa có gia đình riêng, còn ở cùng cha mẹ thì con gái hay theo mẹ, theo bà lên chùa hơn là con trai. Lớn lên một chút, đi học và khi vướng mắc chuyện tình cảm riêng tư ở tuổi thanh nữ hầu như không có tư vấn đặc biệt nên cũng theo bạn bè lên chùa cầu xin, van vái về chuyện học hành và cầu duyên. Đây là một mảng tâm lý của thanh thiếu niên bị gia đình, nhà trường và cả xã hội bỏ trống, mà các em phải tự mò mẫm... Đến được với nhà chùa tốt là một may mắn vì trong giáo lý Phật giáo cũng có đôi chút hướng dẫn về làm chủ cái Tâm và phân tích nguồn gốc của mọi đau khổ là do Vô minh (ngu dốt) mà nảy sinh Tham, Sân, Si nên tự mình chuốc lấy khổ... Song khi đến với nhà chùa, nhiều cô đã theo luôn Phật giáo và trở thành tu sĩ... khi thấy vào đó có thể trốn được (chưa hẳn là giải quyết được) bế tắc của cuộc sống. Về vai trò người phụ nữ, khi đến với nhà chùa, người phụ nữ có cơ hội thể hiện được đầy đủ hơn vai trò giới nữ của họ đối với xã hội theo nguyên tắc "Tích Thiện" của Phật giáo. Đó là họ có cơ hội thể hiện tình thương yêu, bao che, đùm bọc về tâm linh cho các thành viên trong gia đình. Hơn nữa, họ có thể tham gia làm từ thiện cho xã hội mà nhà chùa (đại diện) tổ chức (như làm chấp tác, giúp nhà chùa những ngày Sóc, Vọng hay giỗ Tổ..., tham gia truyền bá lợi ích ăn chay, phát cháo từ thiện tại các bệnh viện, đi thăm và giúp đỡ học trò nghèo và bà con các vùng bị thiên tai)... Điều này giúp người phụ nữ cảm thấy mình có ý nghĩa tích cực hơn trong gia đình và xã hội. Có thể nói Phật giáo bày vẽ cho người phụ nữ biết thể hiện vai trò tích cực (thiên tính) nhưng không dạy họ đòi hỏi gì từ xã hội và gia đình, nên hầu như khi đến với nhà chùa họ không hề bị ai phản đối, hay bêu xấu... Thật bình yên khi họ vẫn là họ, và cả gia đình và xã hội đều chấp nhận điều họ làm ở chùa là tốt, là Thiện! Về kinh tế, người phụ nữ tìm thấy cộng đồng chia sẻ kinh tế với họ dễ dàng hơn: khi thiếu thốn nhà chùa sẵn sàng cưu mang, chia sẻ, dù là bữa cơm chay hay giúp việc trong chùa. Khi làm ăn được ít thì họ tự nguyện, tùy tâm đóng góp một chút "dầu đèn" cho nhà chùa, hoặc có thể đóng góp để làm chuông chùa, sửa cổng chùa, chống dột mái chùa,... mà không có quy định bắt buộc nào cả. Về nghệ thuật, Phật giáo hướng đích vào nội tâm nên cả văn học, hội họa và kiến trúc đều có vẻ không ồn ào, mà hoài cổ, chia sẻ sự chiêm nghiệm nên khi chị em đến với Phật giáo họ cũng dễ dàng được chia sẻ, thậm chí có thể tự thể nghiệm. Đặc biệt trong các lễ hội làng thường gắn liền với trung tâm văn hóa làng là Đình và Chùa. Nhiều môn chơi có tính nghệ thuật dân gian được thêm vào nội dung và các loại hình nghệ thuật của lễ hội (nấu ăn, ẩm thực, đặc sản, làng nghề... dân ca...) và rất cần sự góp mặt của chị em thanh nữ cũng như các nghệ nhân nữ lớn tuổi. Như vậy, phụ nữ đi chùa đầu năm là một hoạt động mà họ hướng đến nhiều giá trị. Ngoài cầu phúc cầu an cho gia đình, họ cũng muốn khẳng định giá trị bản thân, được thể nghiệm cũng như về cuộc sống nội tâm…

Sự cộng hưởng

Nói cho cùng, lễ hội là sự cộng hưởng. Cộng hưởng giữa thế giới thần linh với thế giới trần tục, giữa người trong cuộc với người ngoài cuộc, giữa các cộng đồng với nhau, giữa các cá nhân với nhau, và giữa cả chính bản thân người tham gia với họ tức là sự trải nghiệm. Lễ hội là những sinh hoạt văn hóa truyền thống quan trọng của cộng đồng. Trải qua những giai đoạn khác nhau, lễ hội cũng có sự thay đổi nhất định, trong đó có sự thay đổi với tính giới. Con người đến với lễ hội, với đời sống tâm linh bằng nhiều tâm thế khác nhau, và hầu hết đều mang theo những giá trị tốt đẹp cho cuộc sống (tính Thiện) mà phụ nữ với Phật giáo là một ví dụ. Nhưng không phải khi nào con người cũng có nhận thức và ứng xử có văn hóa, mang theo giá trị tích cực với lễ hội. Việc nhiều lễ hội tổ chức nhốn nháo, chen lấn, xô đẩy rồi tranh cướp là một biểu hiện tiêu cực. Sự chạy theo lợi ích kinh tế biến lễ hội thành những cơ hội thương mại hóa, làm biến tướng các giá trị văn hóa tốt đẹp cũng hiện hữu khá phổ biến trong lễ hội. Chưa hết, nhiều người còn quá mê tín, đi lễ suốt ngày, bỏ ra nhiều tiền của để tổ chức cầu cúng, nhiều khi tiền mất tật mang… Chúng ta đang sống trong một xã hội mà sự cộng hưởng trở thành những làn sóng ào ạt tấn công vào cuộc sống riêng của mọi người cũng như cuộc sống chung của cộng đồng. Vậy nên, để tận dụng được những giá trị, vận dụng sức mạnh từ sự cộng hưởng thì bản thân phải tự trang bị cho mình những kiến thức cơ bản, bản lĩnh vững vàng để cảm nhận được cái đẹp và hướng đến Chân-Thiện-Mỹ.

 

TS. Lê Thanh Nga

Trong những truyện ngắn của Thạch Lam, có vẻ như "Dưới bóng hoàng lan" là một tác phẩm khá "lạc điệu". Nó không viết về những nỗi khổ ải của kiếp nhân sinh trên một phố huyện tiêu điều, trong một xóm nhỏ vùng ngoại ô tăm tối, không về một nỗi niềm của cái tôi đầy mặc cảm trước thế giới, mà viết về cuộc trở lại của một tâm hồn thanh sạch, trong một kết thúc khá tươi sáng và gợi mở… Chạm vào thiên truyện là chạm vào thế giới trong lành của một kí ức chưa xa nhưng lại gợi những niềm cổ tích, khi nhân vật vừa được nếm trải, lại vừa bị đẩy xa khỏi thế giới của mình.Tất cả như xa như gần bởi những khoảng cách không gian với những cuộc đi về không theo một quy luật nào cả. Và mọi thứ vì thế, vừa lãng đãng lại vừa hiện hữu trong những cảm nhận tinh tế và khắc khoải. Bao trùm lên thế giới ấy là một tình cảm thanh cao và nhẹ nhõm nhưng không phải không chứa những nỗi niềm u uẩn.

1. Dưới bóng hoàng lan kể lại hành trình của một chàng trai từ phố thị trở về tìm lại những phút giây ấm áp và thanh thản nơi khu vườn cũ và căn nhà cũ. Đấy là một tình cảm vô cùng đẹp (cũng như vẻ đẹp và nhân hậu trong cách đặt vấn đề và lựa chọn đề tài của tác giả truyện ngắn). Bởi lẽ đó, tất cả các nhân vật xuất hiện đều mang trong mình sự sáng trong, hồn hậu. Chỉ có bốn nhân vật, và tần suất xuất hiện về cơ bản đều như nhau. Bác Nhân - có vẻ là lão bộc - xuất hiện ít hơn, ở phần cuối tác phẩm nhưng cũng được nhắc tên ngay từ phần đầu. Tên gọi của họ tạo những liên tưởng nhẹ nhàng. Cần chú ý là trong văn học lúc bấy giờ cách đặt tên, gọi tên nhân vật thường phổ biến hai xu hướng: hoặc là quê mùa, ngờ nghệch, xấu xí, bé mọn, thậm chí quái đản nhằm thể hiện bi kịch "dưới đáy" của con người, kiểu chị Dậu, Chí Phèo, lão Hạc, cu Lộ, Lang Rận, Oẳn Tà Roằn, Trạch Văn Đoành… của văn học hiện thực; hoặc mĩ miều, đài các, "sang chảnh", kiểu Tuyết, Loan, Mai… của Tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn; hay mỉa mai một chút, nhại một chút kiểu Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ. Thạch Lam dường như không thuộc về nơi nào trong hai khuynh hướng đó. Tên nhân vật của ông thường hướng đến sự hồn nhiên bình đạm, như là những trang văn bình đạm nhắm đến những phận người và bức tranh hiện thực cũng ít nhiều bình đạm của ông, là An, Liên, Sơn, bà cụ Thi, bác phở Siêu, Tâm, Diệu… Tên nhân vật trong Dưới bóng hoàng lan, về cơ bản vẫn giữ vẻ bình đạm hồn nhiên ấy, nhưng không phải không tỏ ý khuấy động một chút suy tư của người đọc. Cái tên Thanh của nhân vật trung tâm được xướng lên ngay mở đầu tác phẩm gợi một cảm nhận về sự thanh sạch của tình cảm. Thậm chí, còn vang khẽ một khát vọng thanh lọc tâm hồn trong ám ảnh của một hành trình trở về mang tính biểu tượng: "Thanh lách cánh cửa gỗ để khép, nhẹ nhàng bước vào" (tr.68)(1). Trong thế giới tràn ngập thứ rung cảm yên lắng của những vòng ánh sáng, mùi lá tươi non, mùi hoàng lan thoang thoảng với con đường lát gạch bát tràng rêu phủ, căn nhà và chiếc trường kỉ cũ kĩ ấy, các nhân vật đều xuất hiện với tên gọi nền nã và gợi lên những tình cảm nhân hậu hay một vẻ đẹp gần gũi và gợi một phẩm chất hay nỗi niềm: bác Nhân, cô Nga.

Cũng như trong một số tác phẩm khác của Thạch Lam, Dưới bóng hoàng lan không quá chú trọng việc miêu tả tính cách nhân vật, mà chủ yếu từ nhân vật để gợi tình cảm và giá trị. Các nhân vật không có một cá tính, một tính cách rõ ràng trong sự miêu tả trực tiếp, mà người đọc chỉ có thể cảm nhận trạng thái tâm hồn họ trong cách họ cư xử với nhau và cảm nhận về thế giới. Đấy là sự đối xử ân cần, đầy tin yêu, không chỉ giữa bà cháu Thanh, mà cả bác Nhân, và nhất là cô Nga - hàng xóm. Sự nhẹ nhàng, thân mật và tôn trọng đã xóa nhòa mọi khoảng cách để họ thực sự trở thành những người trong một gia đình. Tình cảm gia đình sâu nặng ấy khởi từ tiếng gọi trong nghẹn ngào (mà cũng mãi mới cất lên được) "Bà ơi" của Thanh, đến những cử chỉ ân cần, âu yếm của bà, những quan tâm có phần ngập ngừng, e lệ của Nga, bữa cơm thân mật và cuộc chuyện trò dưới ánh đèn mãi tận tới khuya…

Các nhân vật của truyện đều xuất hiện không hề đường đột. Hình như Thạch Lam rất có ý thức chuẩn bị cho sự góp mặt của họ một cách kĩ lưỡng khi mô tả những tín hiệu - nhất là tín hiệu âm thanh báo trước rằng có ai đó đang đến: trước khi người bà bước vào là một vật chắc chắn rất thân thiết: "Một cái bóng lẹ làng từ trong vụt ra, rơi xuống mặt bàn; Thanh định thần nhìn rõ: con mèo của bà chàng, con mèo già vẫn chơi đùa với chàng ngày trước" (tr.68). Tiếp đó, bà chàng mới xuất hiện, song, còn được dẫn dắt bởi những tiếng bước chân: "Thanh bước xuống giàn thiên lí. Có tiếng người đi, rồi bà chàng, mái tóc bạc phơ, chống gậy trúc, ở ngoài vườn vào" (tr.68-69). Và rồi, Nga xuất hiện sau tiếng nói, tiếng cười... Việc để những nhân vật này xuất hiện một cách chậm rãi và có chuẩn bị, dường như là sự cố ý đặt Thanh vào tâm thế phải đợi chờ, hoặc để chàng kịp sửa soạn tâm lí cho những hạnh ngộ hẳn đang rất được chờ đợi; để dung dị hóa sự tồn tại của con người… Và dĩ nhiên, thông qua sự chậm rãi, từ tốn ấy, người đọc cũng cảm được cái khiêm nhường, điềm tĩnh của các nhân vật.

Cùng với sự xuất hiện điềm tĩnh, khiêm nhường ấy, các nhân vật của Dưới bóng hoàng lan cũng luôn nói năng, hành động nương nhẹ, trong quan hệ với nhau hoặc trong công việc của mỗi người. Ngay từ khi xuất hiện, Thanh không đẩy cánh cửa gỗ, mà là "lách" cánh cửa gỗ, rồi tiếp đó chàng "nhẹ nhàng bước vào" như một cố gắng để khỏi phá tan không gian yên tĩnh và thời gian bình yên như đọng lại trong tất cả mọi thứ ở khu vườn cũ, căn nhà cũ, để tránh làm thảng thốt "mùi lá tươi non phảng phất trong không khí" (tr.68). Dường như người con xa quê ấy không muốn gây ra một sự xáo trộn, dù nhỏ nhất đối với "sự yên lặng trầm tịch đến nỗi Thanh trở nên nghẹn họng", "tựa như bao sự ồn ào ở ngoài kia đều ngừng lại trên bậc cửa" (tr.69). Trong không gian mà ngay đến con mèo cũng chỉ xuất hiện trước tiên bằng cái bóng trong trạng thái lẹ làng và động thái rơi xuống, chứ không phải là hiện thân thế tục của nó nhảy xuống. Không chỉ Thanh, mà cả người bà, cả thiếu nữ hàng xóm cũng đều gượng nhẹ trong mỗi cử chỉ, lời nói. Thật ấm áp biết bao với hình ảnh "Bà cụ thôi nhai trầu, đôi mắt hiền từ dưới làn tóc trắng đưa lên nhìn cháu" (tr.69). Không phải là đưa mắt theo cách nói thông thường kiểu "chỉ tay, đưa mắt", mà là đưa lên - từ tốn và khắc khoải. Dường như bao mến yêu, lo lắng dành cho cháu tập trung trong "nhãn tự" này! Còn Nga, tất cả mọi cử chỉ, lời nói của cô đều toát lên cái nhẹ nhàng, kín đáo, duyên dáng của một "gái quê"; lúc ăn cơm thì "vén áo ngồi bên cạnh bà cụ", "ăn nhỏ nhẹ, cầm chừng". Khi hai người ra vườn, "Thanh chẳng biết nói gì; chàng vít một cành lan xuống giữ trong tay để Nga tìm hoa, rồi nhẹ nhàng buông ra cho cành lại cong lên" (tr.73). Hành động nhẹ nhàng trong một tình cảm âu yếm của hai con người hẳn chưa bao giờ bị vướng bởi những ý nghĩ trần tục ấy làm đẹp và thanh cao hơn tâm hồn họ.

Để không khuấy động cuộc trở về của Thanh, và không khuấy động cái bình yên của khu vườn, căn nhà và thậm chí, có thể còn là giấc ngủ của con mèo già nua, dường như người trở về và người chờ đợi đều chung ý nghĩ phải nói với nhau bằng những gì nhẹ nhàng nhất, âu yếm nhất có thể. Những gì họ nói ra vừa đủ thân mật để không suồng sã, vừa đủ khách sáo để không xa lạ, và dường như trong mỗi phát ngôn của nhân vật đều lấp lửng một điều gì chưa nói hết, để đối phương chờ đợi và cũng tự mình chờ đợi. Tất cả vì thế, đều vừa phải, tạo nên cảm giác vừa thân thương vừa dịu ngọt.

Các đối thoại dạng câu hỏi trong tác phẩm thường không kết thúc bằng chữ "à", "hả" mà kết thúc bằng "ư" - một nguyên âm hẹp, hàng giữa, âm sắc trung hòa cùng với thói quen sử dụng của nó tạo nên niềm trắc ẩn, mến thương. Nó hình thành một liên kết nhẹ nhàng nhưng bền chặt giữa những người trong gia đình và những người vừa chớm nở một tình cảm tinh khôi.

Một điểm đáng chú ý nữa là các nhân vật của Dưới bóng hoàng lan đều đẹp. Bác Nhân đẹp ở sự đôn hậu tận tụy; Thanh đẹp với tấm lòng lương thiện luôn hướng về cội nguồn, với những tình cảm sáng trong vô trùng; cả thể chất và tinh thần của người bà khiến ta dễ liên tưởng đến một bà tiên bước ra từ cổ tích; Nga đẹp vẻ đẹp của một thiếu nữ đương độ xuân e ấp; nàng đẹp một cách khiêm nhường nhưng quyến rũ - một vẻ đẹp phảng phất màu hoa chanh hoa bưởi đã từng khiến Nguyễn Bính xao lòng: cô "xinh xắn trong tà áo trắng, mái tóc đen lánh buông trên cổ nhỏ" (tr.71). Sự xuất hiện của Nga khiến không gian, sự vật chung quanh cũng đẹp lây: "Lá rau tươi xanh ngắt bên bàn tay trắng hồng nhỏ nhắn" (tr.71).

2. Tất cả những hành động, những đối thoại, chi tiết kể trên cũng chính là những yếu tố cơ bản của cốt truyện. Nói vậy để khẳng định thêm một lần nữa rằng cũng như phần lớn các tác phẩm của Thạch Lam, Dưới bóng hoàng lan là một truyện không có cốt. Tất cả đều tiến triển, vận động theo cách hết sức nhẹ nhàng, không phải để kể, mà để gợi một tình cảm, một trạng thái tâm hồn và cả một trạng thái của hiện thực. Xin nói thêm rằng, Dưới bóng hoàng lan không chỉ miêu tả niềm vui, sự bắt gặp tâm hồn mình trong hành trình trở về của nhân vật, mà còn báo hiệu một điều gì đó có thể xảy ra trong một dự cảm chẳng lành. Những dự cảm ấy xuất hiện ngay trong cái "nghẹn lại" của cổ họng Thanh, trong những mảnh trời xanh tan tác dưới đáy bể lúc chàng rửa mặt, và trong cả câu chuyện ba bà cháu nói với nhau dưới bóng đèn mãi tới khuya với cuộc tạm biệt đầy e ấp khiến "Thanh đi trở vào rất thong thả. Có cái gì dịu ngọt chăng tơ ở đâu đây, khiến chàng vương phải. Chàng đến trường kỉ ngồi ở bên đèn" (tr.73-74). Một dáng ngồi khắc khoải gợi nỗi buồn vô hạn!

Khác với những nhân vật trong Hai đứa trẻ, các nhân vật của Dưới bóng hoàng lan dường như yên ổn trong khu vườn cũ và căn nhà cũ, nhưng sự bình lặng đáng ngạc nhiên đó chẳng phải không gợi một chút băn khoăn cho người đọc. Trong cái vẻ lành hiền ấy là một cái gì cam chịu. Vả chăng, những con người ấy, khung cảnh ấy liệu có giữ mãi được cái vẻ lành hiền theo năm tháng? Hình ảnh Thanh tới cổng "còn đứng lại nhìn cây hoàng lan và các cây khác trong vườn" vừa nhấn mạnh sự gắn bó của chàng với chốn đi về, lại vừa dấy lên một mơ hồ bất an trong những người đọc nhạy cảm, đa đoan?

3. Con người cố hương, con người lần tìm vẻ đẹp trong quá khứ ấy, dĩ nhiên thể hiện một cách đầy đủ nhất ở Thanh - một chàng trai mồ côi cha mẹ, thuở nhỏ được bà ấp yêu, chăm bẵm, lớn lên ra tỉnh làm rồi cứ các ngày nghỉ lại trở về thăm bà. Với Thanh, mỗi lần trở về là một lần được tắm trong không khí ấm áp, thân thương và trong trẻo của những ngày xưa. Hành trình trở về của Thanh là hành trình trở về tuổi thơ, trở về để tìm những giây phút bình yên, thanh thản sau những va đập trong đà sống xô bồ đô thị. Nơi anh về, ngôi nhà vẫn y nguyên như ngày anh ra đi, con đường lát gạch bát tràng ấy hẳn ngày xưa rêu đã phủ, và những vòng ánh sáng hẳn cũng đã lọt qua vòm cây tự ngày xưa? Có điều không biết ngày xưa chúng cũng từng nhảy múa, hay chỉ hôm nay chúng mới nhảy múa để đợi Thanh về? Về với bà, với cô Nga hàng xóm, với bác Nhân, những ồn ào náo nhiệt ngoài kia được Thanh để lại trên bậc cửa.

Trở về quá khứ, với khu vườn cũ và căn nhà cũ, nhưng không gian nhân vật là một không gian mở. Đấy là cánh cửa gỗ để khép mà không đóng, đấy là con đường lát gạch bát tràng rêu phủ mở ra để đón từng bước chân kỉ niệm; bức tường hoa không phải là kéo dài mà là chạy thẳng đến đầu nhà và ngay thềm nhà là chiếc trường kỉ đợi sẵn… Trong không gian ấy, tất cả đều mang đến dấu hiệu của sự yên bình, luôn sẵn sàng mở lòng đón lấy sự hoài nhớ của chàng. Đó là con mèo già nằm trên trường kỷ "mắt lim dim trong sự bình yên và nhàn nhã". Không gian ấy dường như ít có sự xáo trộn bởi "Lần nào trở về với bà chàng, Thanh cũng thấy bình yên và thong thả như thế. Căn nhà với thửa vườn này đối với chàng như một nơi mát mẻ và hiền lành, ở đấy bà chàng lúc nào cũng sẵn sàng chờ đợi để mến yêu chàng".

Nếu không gian trong Dưới bóng hoàng lan là không gian mở ra sau khi cánh cửa gỗ khép lại, thì thời gian dường như là thời gian đóng, thời gian đứng im để chiều lòng một khách bộ hành trên con đường trở về quá khứ, trở về với những giá trị xưa. Chỉ có một lần thời gian tương lai được nhắc đến trong câu Thanh nói với Nga khi được hỏi về việc bao giờ lên tỉnh: "Ngày mai thôi. Kì này được nghỉ ít. Nhưng mà mai kia, tôi sẽ về đây lâu hơn" (tr.73), một vài từ nhắc đến thời gian quá khứ như "ngày nào bước chân Nga đi trên đó" không có từ nào miêu tả thời gian quá khứ, còn về cơ bản, thời gian ở đây được không gian hóa. Thời gian hiển hiện đặc biệt ấn tượng trong hình ảnh người bà. Nếu hình ảnh người già là một trong những phương tiện để thể hiện quá khứ(2) thì Thạch Lam trong Dưới bóng hoàng lan đã sử dụng "chiêu thức" này một cách rất thành công. Hình ảnh người bà, trong quan hệ gia tộc, quan hệ thời gian, dĩ nhiên là quá khứ, là biểu tượng quá khứ. Nhưng tính chất này được gia tăng, sự cũ kĩ xưa xa được gia tăng khi người bà ấy tóc bạc phơ, lưng còng, chống gậy trúc. Quá khứ hiện rõ hơn khi hình ảnh người được đặt bên cạnh đứa cháu người thẳng, mạnh… Từ trung tâm là hình ảnh người bà, tất cả đồ vật chung quanh đều phủ bụi thời gian: chiếc trường kỉ cũ kĩ, chiếc điếu cũ kĩ, căn nhà cũ kĩ, thời gian ngưng đọng ngay cả trong cái dáng khoanh tròn nằm, lim dim mắt của con mèo già… Và điều đặc biệt là khu vườn, căn nhà… dường như đều đứng yên, bất động từ bao giờ, từ cái ngày xưa cũ hoặc ít nhất là lần trước Thanh về thăm. Chữ vẫn(3) được nhắc lại 21 lần (cùng với đó là cũng, vẫn còn) chính là phương tiện neo quá khứ lại trong mọi biểu hiện của không gian. Phần lớn, chữ "vẫn", không phải để chỉ một trạng thái "cũng thế" của sự vật, mà sau rốt là hướng đến chỉ trạng thái ngưng tụ của thời gian. Khi đọc câu văn "Thanh vắng nhà đã gần hai năm nay, vậy mà chàng có cảm giác như vẫn ở nhà tự bao giờ. Phong cảnh vẫn y nguyên, gian nhà vẫn tịch mịch và bà chàng vẫn tóc bạc phơ và hiền từ", tất nhiên người đọc đều hiểu đấy là trạng thái xưa cũ, nhưng chưa dễ mấy ai hiểu rằng khi Thạch Lam viết "ngoài vườn, trời vẫn nắng", thì không phải là vẫn như ban nãy, lúc Thanh về, mà vẫn là cái nắng của ngày xưa. Cái nắng cũng theo tâm hồn thanh neo lại một cách bền vững, cho đến lần này chàng trở về.

Trở lên, bài viết đã chỉ ra một cách khá sơ lược những đặc điểm thi pháp nổi bật của Dưới bóng hoàng lan theo sự cảm thấy của người viết. Còn nhiều biểu hiện có thể coi như là những đặc sắc thi pháp của tác phẩm này như lời văn, thủ pháp đối lập… Tuy nhiên, do khuôn khổ của bài viết, chúng tôi chưa thể đề cập (cũng như chưa thể phân tích sâu những điểm đã thống kê. Mong rằng chúng tôi sẽ có dịp trở lại.

Chú thích

1. Tất cả các trích dẫn trong bài viết đều rút từ Thạch Lam tuyển tập, Nxb. Văn học, H.2012.

2. Trần Đình Sử, Giáo trình Dẫn luận thi pháp học, Nxb. GD, H.1998, tr.71.

3. Việc quan tâm đến chữ "vẫn" trong Dưới bóng hoàng lan đã được thể hiện trong một bản thảo chép tay của Lê Nguyên Long vào năm 2000, nhưng không hiểu vì sao, cho đến nay bài nghiên cứu này vẫn khôn

Chu Trọng Huyến

Đến đất Anh khi Chiến tranh thế giới (1914-1918) đang diễn ra, đối với Nguyễn Tất Thành, nói như nhà sử học Rút-xi-ô (Alin Russio), là thêm một bước để anh "phát hiện về thế giới".

Người thanh niên ra đi từ đất Việt (phương Đông) ấy biết là vào thời đỉnh cao của Liên hiệp Anh, đế quốc này có diện tích thuộc địa bao phủ gần 34 triệu cây số vuông, tức chiếm khoảng một phần tư bề mặt đất đai toàn cầu và cai trị chừng 458 triệu người, gần bằng một phần năm dân số thế giới. Cho nên, đã một thời, dân gian có câu nói: "Mặt trời không bao giờ lặn trên đất đai của đế quốc Anh". Và ta biết, đồng thời với việc mở mang thuộc địa như vậy thì những di sản về ngôn ngữ, văn hóa của người Anh cũng được truyền bá rộng rãi ở rất nhiều châu lục trên hành tinh(1).

Và, như các tài liệu từng được kê cứu, một trong những nơi Nguyễn Tất Thành đến để lao động và học tập khá lâu là tại Luân Đôn         (Londre), thủ đô của vương quốc này. Thành phố ấy nằm trên đôi bờ của con sông Thêm (Tamise) dài 400km, lớn nhất nước, phát nguyên từ phía Tây, đi qua nhiều vùng công nghiệp giàu có nổi tiếng như Ốc-pho (Oxford). Đoạn, nó băng về phía Đông, mở rộng lòng chảy giữa thành Luân Đôn rồi đổ ra Bắc Hải (Mer du Nord), tạo thành một hải cảng hướng về lục địa châu Âu, luôn nhộn nhịp vào bậc nhất thế giới. Khi anh Thành đến, đất đai vốn có của riêng vương quốc Anh còn gồm cả toàn bộ đảo Ai-rơ-len (Ireland)(2).

Thủ đô của vương quốc Anh đến lúc đó đã có các công trình là những di sản thế giới: Tháp Luân Đôn, Vườn thực vật hoàng gia Kew, Khu cung điện Oét-manh-tơ (Westminster) và Giáo đường Ma-ga-rit (St. Magarret), Khu định cư lịch sử Gơ-rin-uych (Greenwich), trong đó có Đài thiên văn Hoàng gia, đánh dấu bằng sự đi qua của Kinh tuyến 0o (Greenwich Meridian)… Về thương mại, giao lưu thì kể từ đầu thế kỷ XIX, trên địa bàn rộng lớn, thuận tiện giao thương ấy đã có trụ sở của hầu hết các công ty hàng đầu của toàn vương quốc Anh và khoảng trên một trăm cơ sở thuộc các nước Âu-Mỹ. Anh Thành không quên, nơi đây là địa bàn, khởi nguồn cho việc diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên của nhân loại(3). Từ 1848, nước này đã là "Công xưởng của thế giới".

Năm 1764 trên đất Anh đã ra đời chiếc máy kéo sợi Gien-ny. Năm 1791 thì nước này có máy dệt tối tân. Bởi xứ sở này có nhiều đồng cỏ với khí hậu thích hợp cho việc nuôi cừu và họ có nguồn bông (làm vải) dồi dào, nhập khẩu từ châu Mỹ. Do đó, nghề dệt ở đây sớm phát triển. Từ chiếc máy thô sơ ban đầu ấy, nó cứ được cải tiến dần để năm 1769 thì Anh có máy chạy bằng hơi nước. Năm 1819 thì người Anh có tàu thủy thay cho thuyền buồm mà vượt các đại dương, rồi đến 1814 thì họ chế ra máy hơi nước cao áp để có đầu máy xe lửa chạy trên đường ray (rail) và nó được hoàn thiện dần để từ năm 1825 thì đưa vào lưu thông… Cuộc cách mạng công nghiệp Anh đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cả đời sống kỹ nghệ và nền kinh tế của các nước tư bản Âu-Mỹ rồi truyền sang nhiều vùng đất phụ thuộc của họ ở các châu lục khác. Đó cũng là lý do mà trong quan hệ với các thuộc địa, chủ nghĩa tư bản Anh chú trọng nhiều về mặt thương mại chứ không riêng việc cai trị bóc lột bằng khai thác tài nguyên. Đến 1870, khi người ta biết đúc gang để bắc cầu thì cũng là khi Kênh đào Xuy-ê (Suez) làm xong. Bấy giờ khoảng 38% hàng hóa của các châu lục được chuyển qua những hải cảng của Anh và đấy cũng là lúc diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp thế giới lần thứ hai.

Còn khi mà cuộc chiến tranh thế giới đang diễn ra ác liệt ấy, anh Thành đến Luân Đôn, ngoài lao động để nuôi sống như cào tuyết ở trường học, phục vụ trong khách sạn để tự nuôi sống và học tập thì còn có mục đích gì.

A-lanh Rút-xô cũng đã dẫn tài liệu của Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CACM) Ai-xen-Prô-văng xơ và Slôt-phôm để viết trong "Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, chân dung một người Bôn-sê-vích vàng" rằng: "Tại Luân Đôn, Thành đã có những hoạt động chính trị đầu tiên. Anh liên kết với những người di cư An Nam. Anh bất bình về vấn đề Iếc - lăng và liên hệ đến Tổ quốc mình. Một chỉ điểm Pháp nhận xét rằng, vào buổi ấy, một người tên là P. Tất Thành đã có những hành động thái quá với sở thích của mình".

Đuy-ke viết trong sách "Hồ Chí Minh" rằng, anh Nguyễn cũng đã trở thành người hoạt động tích cực trong các tổ chức chính trị. Rất nhiều tài liệu cho thấy Thành đã tham gia hoạt động công đoàn và là thành viên của Hiệp hội Công nhân hải ngoại - một tổ chức bí mật, chủ yếu bao gồm (những người làm thuê) trong các nhà máy ở Anh. Thành cũng tự tuyên bố là đã tham gia các cuộc biểu tình trên đường phố nhằm ủng hộ nền độc lập của Ai-rơ-len cũng như tham gia vào các công việc khác của phe Cánh tả.

Cũng theo tác giả Đuy-ke thì những hoạt động của Nguyễn Tất Thành trên đất Anh đã làm cho các cơ quan mật thám Pháp ở Pa-ri và cả tại Luân Đôn phải tra cứu và lo lắng rất nhiều, nhất là khi họ nhận ra hai bức thư mà Thành gửi cho cụ Phan Chu Trinh. Đui- ke viết: "Cảnh sát Pháp đã lục lọi căn phòng của họ (tức của Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường) ở Pa-ri và phát hiện ra các bức thư của một người Việt Nam tên là Nguyễn Tất Thành ngụ tại số 8 đường Xtê-phan và đường Tốt-tin-ham Cốt (Luân Đôn)… Trong khi điều tra, cảnh sát còn phát hiện thấy trong một bức thư gửi cho ông Trinh (hiện không còn nữa), Tất Thành đã phàn nàn về điều kiện sống ở Đông Dương và hứa rằng, trong tương lai sẽ tìm cách tiếp tục công việc của ông Trinh… Theo yêu cầu của Đại sứ quán Pháp tại Luân Đôn, cảnh sát Anh tiếp tục tìm kiếm nhưng không tìm được ai có tên như vậy ở địa chỉ trên".

Và, ước vọng "phát hiện thế giới" của Nguyễn Tất Thành khi lao động trên đất Anh không chỉ riêng việc muốn làm sáng tỏ những điều vốn có sự giới hạn đó mà còn bởi những ước mong sâu xa khác.

Ta chú ý điều này, cũng ở sách "Hồ Chí Minh", Đuy-ke đã viết: "Có thể trong thời gian này, lần đầu tiên Thành được biết đến các tác phẩm của Mác, nhà cách mạng người Đức".

Như ta biết, trước khi tới đây, anh Thành đã có một thời gian dài lao động tại Mỹ. Nơi ấy vốn là đất do các nhà hàng hải Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan và Anh thăm dò rồi đưa người sang khai phá. Đến năm 1733 thì người Anh chiếm lấy toàn bộ, trong đó có nơi sau này gọi là Nữu Ước, là 13 xứ thuộc địa của họ trên châu Mỹ. Nhưng đến năm 1776, dưới sự lãnh đạo của Hoa Thịnh Đốn, tất cả các xứ ấy cùng đứng lên đấu tranh đòi độc lập rồi hợp nhất lại mà thành nước Mỹ (tức Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) và ra bản "Tuyên ngôn nhân quyền"(4).

Điều quan trọng là Nguyễn Tất Thành đã đến đất Anh khi Chiến tranh thế giới đang diễn ra một cách ác liệt. Mà lần này, người ta gây ra chiến tranh trên hoàn cầu cũng là để nhằm vẽ lại bản đồ về sự bá chủ đất đai trên các lục địa. Ở những nơi bị đánh chiếm thì dân chúng tại đó sẽ mất quyền độc lập, tự do mà như Tuyên ngôn của Cách mạng nhân quyền Mỹ cũng như của Cách mạng Pháp (1789) thì đấy là những "quyền (của con người) không ai có thể xâm phạm được"(5).

Những năm tháng sinh hoạt tại Luân Đôn, Nguyễn Tất Thành chú ý nhiều đến sự đóng góp của đảo quốc này trong việc dung dưỡng đối với sự hoạt động của những con người ít nhiều có góp phần giúp ích cho nhân loại. Bởi: "Đối với những nhà cách mạng nước ngoài, chính phủ Anh chỉ đặt một điều kiện: các người tuyệt đối chớ động đến nội chính của nước Anh"(6). Trong đó việc đầu tiên, anh Thành chú ý đến là những năm tháng sống tại đây của Các Mác (Karl Heinrich Marx) và Ăng- ghen (Friedrich Enghel).

Cùng với nhiều công trình có giá trị khác như ta đã biết, đóng góp quan trọng nhất của Ăng ghen vào kho tàng lý luận kinh điển cách mạng cho nhân loại sau khi Mác đã qua đời là việc chỉnh lý, biên tập và cho xuất bản tập II và tập III (tức trọn bộ) của bộ "Tư bản" mà Mác, tác giả của các tập sách đó, lúc sinh thời Người chưa làm được. Với công việc làm tại Luân-Đôn ấy, "Ăng ghen đã xây cho người bạn thiên tài của mình một đài kỷ niệm vĩ đại"(7). Và như đã nói, chỉ trên đất Anh, xứ sở sương mù kia, họ mới chung sức làm nên công trình bất tử như vậy cho nhân loại.

Sau này, trong sách "Vừa đi đường vừa kể chuyện", T.Lan viết: "Ngày xưa, giai cấp thống trị nước Anh có truyền thống "khoan hồng" với người cách mạng nước ngoài. Ví dụ: người thầy cộng sản của chúng ta là Các Mác bị chính phủ Đức đuổi ra khỏi nước, rồi bị chính phủ Pháp đuổi. Nhưng đến Luân Đôn thì chính phủ Anh để ông Mác ở yên suốt đời. Sau khi Công xã Pa-ri thất bại (1789), bọn phản động Pháp khủng bố dữ, nhiều lãnh tụ Công xã lánh sang Anh, chính phủ Anh cũng để cho họ làm ăn yên ổn…"(8).

Thời gian lao động, học tập tại Luân Đôn, Nguyễn Tất Thành đã chứng kiến, vì Thế giới đại chiến nổ ra và kéo dài mà "Người Pháp ở Luân Đôn nhận được lệnh động viên, nhiều người khóc. Khóc nhiều nhất là những người đàn bà Pháp… Người Đức bị bắt (về đấy) nhốt vào các trại tập trung, họ cũng khóc. Lính Anh bị đưa ra mặt trận, cha mẹ vợ con họ đều khóc"(9).

Cho đến khi Nguyễn Tất Thành rời khỏi đất Anh để trở lại Pháp (cuối 1917), thì coi như sự đọ sức bằng trận mạc trực tiếp chưa (và sẽ) không diễn ra trên đất đai của đảo quốc này. Và, nhất định rồi cuộc chiến đang làm điêu đứng nhân dân cần lao ở khắp nơi ấy phải kết thúc. Bấy giờ, các nước thắng trận sẽ ngồi với nhau để bàn cách vẽ lại bản đồ thuộc địa trên thế giới(10). Mà như sách xưa đã nói: "Cổ kim vị kiến thiên niên quốc 古 今 未 見 千 年國". "Quốc" ở đây là đế quốc   , như đế quốc Trung Hoa, đế quốc La Mã... thuở xưa. Và, khi còn chế độ đế quốc - thực dân thì những dân tộc bị áp bức bóc lột phải đứng lên đấu tranh để giành quyền sống. Phải chấm dứt chiến tranh xâm lược. Từng quốc gia một phải thực sự được độc lập, tự do (mặc dầu việc đi đến các mục tiêu ấy của mỗi dân tộc có thể có những con đường khác nhau). Nguyễn Tất Thành rời Luân Đôn ra đi với tâm niệm đó để rồi 28 năm sau, khi trở thành Chủ tịch của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người viết bản Tuyên ngôn độc lập của dân nước mình: "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do"(11).

Cả cuộc đời của mình (có lúc nương nhờ trên đất nước Anh), Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh luôn luôn phấn đấu vì mục đích đó.

Chú thích                                                                                                                                                                      

(1). Dẫn theo "Dictionnairres Larousse" - 1931 và "Đế quốc Anh", Bách khoa toàn thư Wikipedia 2016. Ngày 1-1-1908 là ngày độc lập, ngày thành lập Vương quốc Liên hiệp Anh.

(2). Phần lớn đất đai của đảo này, cả miền Donegal (ở phía Tây Bắc đảo, giới hạn bởi con sông Erne), từ  ngày 6-12-1921 đã được tách riêng ra, thành nước Ai-re-len (Aireland:68.890 km2 đất nổi tự nhiên).

(3). Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất nổ ra từ 1708, đầu tiên ở Anh. Đến khoảng 1836 khi người ta biết đúc gang để bắc cầu thì cũng là mở đầu cho Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2.

(4). Theo "Ký sự về Nữu ước" (Naration de New York) của Dinnar.

(5). Trong "Tuyên ngôn độc lập" của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại điều đó.

(6). Xem sách "Vừa đi đường vừa kể chuyện" của T.Lan, Nxb Sự Thật, Hà Nội. Lâu nay đã được khẳng định: "T. Lan" là một trong những bút danh của Hồ Chủ tịch. Nội dung được dẫn ở đây là nói về sự đối xử  của nhà cầm quyền Anh trước ngày Cách mạng tháng Mười Nga thành công.

(7).  "Từ điển triết học" do M.Roodentan và P. Iuđin chủ biên, bản dịch và in (lần thứ 3): Nxb Sự Thật, HN 1976 (mục Ăng ghen), tr. 25.

(8). 1917, vì về sau chính quyền Anh đã không còn duy trì điều đó đối với các nhà tư tưởng cách mạng nữ.

(9). Trần Dân Tiên, Sách "Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch", Nhà xuất bản Sự Thật, HN 1957, Tr. 13. 

(10). Sẽ diễn ra ở "Hòa hội" Versaille (Pháp), vào giữa năm 1919.

(11) Hồ Chí Minh "Toàn tập", Tập III, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1995, Tr.555.

 

Xứ Nghệ gồm Nghệ An và Hà Tĩnh, có nhiều nét tương đồng đến độ xưa nay ít người quan tâm tìm hiểu về sự khác biệt giữa 2 địa phương này. Thực tế, Nghệ An và Hà Tĩnh có nhiều khác biệt lớn, cả về tự nhiên và nhân văn. Về tự  nhiên, tuy Nghệ An và Hà Tĩnh cùng nằm trong một xứ "non xanh nước biếc" nhưng gần như tất cả hợp phần tự nhiên của hệ thống lãnh thổ này, từ địa thế, địa hình, địa chất, khí hậu, thổ nhưỡng, thủy văn đến thực vật (cả tự nhiên và cây trồng) đều không giống nhau (xem kì 1: Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An số 12/2018).

Về nhân văn, tuy chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều nhưng bước đầu cũng cho thấy có không ít khác biệt về dân tộc, tộc người thiểu số; về tính cách; về phong tục chôn cất người chết; trong vốn cổ ví giặm; trong lời ăn tiếng nói hằng ngày…

Nhân văn trong bài viết xin được hiểu, gồm: Con người (nhân) và Thành quả của con người (văn) trên lãnh thổ Nghệ An và Hà Tĩnh.

1. Khác biệt về dân tộc thiểu số

1.1. Một số khái niệm về dân tộc, tộc người, nhóm (người) địa phương

Dân tộc ở đây được hiểu theo nghĩa: là một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung nền văn hóa, ngôn ngữ, nguồn gốc, lịch sử (ví dụ như dân tộc Thái, dân tộc Kinh…) mà không hiểu theo nghĩa rộng hơn: là một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước (ví dụ như dân tộc Việt Nam: sống trên lãnh thổ có biên giới được xác định và cùng chung một nhà nước được thế giới công nhận). Khái niệm dân tộc theo nghĩa này trùng với khái niệm quốc gia (nation): một cộng đồng chính trị - xã hội được quản lý bằng bộ máy nhà nước. Có quốc gia chỉ gồm một dân tộc (như­ trường hợp CHDCND Triều Tiên trước khi bị chia cắt). Phần lớn một quốc gia gồm nhiều dân tộc, trong đó có một dân tộc đông hơn và/ hoặc phát triển hơn.

Các khái niệm về dân tộc, tộc người, nhóm địa phương có thể hiểu theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:

a. Dân tộc

Dân tộc (nation) là từ dùng để chỉ một cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử, sau khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và xuất hiện nhà nước. Trong xã hội nguyên thuỷ đã có thị tộc, rồi bộ lạc. Thị tộc bao gồm các thành viên gắn bó với nhau bằng quan hệ huyết thống. Bộ lạc bao gồm những người cùng họ và những người khác họ, cùng sinh sống trên một địa bàn. Sản xuất phát triển thì bản thân con người cũng phát triển theo, cùng với những đặc trưng như­ ngôn ngữ, văn hoá vật chất (thể hiện trong phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt) và văn hoá tinh thần (thể hiện thành ý thức và các hình thái ý thức). Hình thức của cộng đồng người cũng có sự tiến hoá: từ phân tán đến tập trung, từ thấp đến cao, kết quả là hình thành nên những tộc người và những dân tộc khác nhau.

b. Tộc người

Tộc người (ethnic) là một cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, có đặc trưng chung ổn định về ngôn ngữ, đặc điểm sinh hoạt văn hoá, có mối quan hệ nguồn gốc, có chung ý thức tự giác tộc người.

c. Nhóm địa phương

Nhóm địa phương (localgroup) là kết quả của quá trình chia tách hay hợp nhất các tộc người, cho dù vì nguyên nhân địa lý, lịch sử, văn hóa hay tôn giáo, cũng dẫn đến sự hình thành những khác biệt đa dạng trong một tộc người, tạo thành một nhóm địa phương. Nhóm địa phương có tên gọi riêng. Được gọi là một nhóm địa phương khi họ tự nhận mình là một bộ phận của một tộc người nào đó, do có những quan hệ về lịch sử, về ngôn ngữ, về tập quán,…

Như vậy, một dân tộc thiểu số gồm một hoặc nhiều tộc người, nhóm người địa phương.

1.2. Khác biệt về thành phần các dân tộc thiểu số

Việt Nam có 54 dân tộc. Về số dân, người Kinh chiếm đa số, mỗi dân tộc khác chiếm thiểu số nên được gọi là dân tộc thiểu số; trước đây có lúc gọi là dân tộc ít người, nay không dùng nữa.

Các dân tộc thiểu số ở xứ Nghệ có sự khác biệt rất lớn giữa Nghệ An và Hà Tĩnh. (Dân tộc hay tộc người ở đây không bao gồm những người ở nơi khác lấy chồng/vợ hay làm con nuôi về Nghệ An hay Hà Tĩnh).

Nghệ An có nhiều dân tộc thiểu số, Hà Tĩnh chỉ có tộc người thiểu số.

1.2.1. Dân tộc thiểu số ở Nghệ An

Tiếp giáp với Nghệ An, phía Bắc là Thanh Hóa, phía Nam là Hà Tĩnh. Thanh Hóa có 4 dân tộc thiểu số là Thái, Mường, Mông, Dao. Hà Tĩnh chỉ có tộc người Mã Liềng sống tập trung thành bản, một số hộ gia đình dân tộc Thái và tộc người Cọi - Khạ Phong sống xen với người Kinh. Tất cả đều có số dân rất ít [5].

Nghệ An có 6 dân tộc nằm trong danh sách 54 dân tộc của Việt Nam. Dân tộc Kinh chiếm số dân đông nhất. Các dân tộc thiểu số là Thái, Thổ, Khơ Mú, Mông và Ơ Đu (tính theo số dân giảm dần). Dân tộc Ơ Đu chỉ gồm một tộc người, các dân tộc Thái, Thổ, Mông gồm nhiều tộc người, nhóm người địa phương. Người Khơ Mú ở Nghệ An đông nhất cả nước [1].

1.2.1.1. Dân tộc Thái

Cộng đồng người Thái vào Việt Nam đầu tiên từ thiên niên kỷ 2 sau Công nguyên. Vào khoảng thế kỷ 11 và 12, người Thái từ miền Nam Trung Quốc ồ ạt vào Tây Bắc Việt Nam. Điểm dừng cuối cùng là Nghệ An.

Người Thái có nhiều nhóm. Các nhóm Thái ở Nghệ An gồm:

a. Nhóm Tày Mường (Tày Chiềng/Hàng Tổng) là nhóm Thái đầu tiên vào Nghệ An. Do di cư từ Tây Bắc vào có tổ chức theo đơn vị Mường phìa nên vào Nghệ An họ mang theo tên gọi có ý nghĩa tự xưng là người Tày Chiềng/Tày Mường (người ở vùng trung tâm của Mường phìa). Nhóm Tày Mường đã lập làng bản ở Con Cuông và Tương Dương vào thế kỷ 13, 14.

b. Nhóm Tày Mười có nguồn gốc ở Mường Muỗi, một vùng trung tâm của người Thái Đen ở xã Chiêng Pấc, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, di cư vào Nghệ An nửa đầu thế kỷ 15. Vào Nghệ An họ mang tên tự gọi quê hương, nhưng do tiếp xúc cách phát âm của các cư dân xung quanh nên "Muỗi" bị đọc chệch thành "Mười".

c. Nhóm Tày Thanh có nguồn gốc từ Mường Thanh, di cư vào Nghệ An khoảng hơn 200 năm nay.

Ngoài ba nhóm đông đảo nhất nói trên còn có nhóm Tày Khăng với số lượng ít hơn từ Mường Khăng (Lào) nay cư trú ở Kỳ Sơn và Tương Dương [6].

1.2.1.2. Dân tộc Thổ

Ở Việt Nam, người Thổ chỉ cư trú tại 2 tỉnh là Nghệ An và Thanh Hóa [7].

Người Thổ ở Nghệ An gồm 2 nhóm ở cách xa nhau về vị trí địa lí:

a. Nhóm Kẹo, Mọn, Họ, Cuối: cư trú ở phía Bắc, tại các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp.

b. Nhóm Đan Lai, Ly Hà, Tày Poọng: cư trú ở phía Nam, tại các huyện Con Cuông và Tương Dương.

(Về tộc người Đan Lai: Đây là tộc người còn có nhiều tranh luận về nguồn gốc, trong đó có ý kiến cho rằng Đan Lai có nguồn gốc là người Kinh ở xã Thanh Đức, huyện Thanh Chương chạy nạn "100 cây nứa vàng và thuyền liền chèo" (do khuôn khổ bài báo nên xin phép không trình bày nội dung này). Tộc người này được chính quyền Nghệ An xếp vào diện được hưởng các quyền lợi như các dân tộc thiểu số khác ở Nghệ An (Quyết định số 1575/QĐUB ngày 25/7/1990 của UBND tỉnh Nghệ An). Các nhà dân tộc học Việt Nam đang xếp Đan Lai vào một nhóm địa phương thuộc dân tộc Thổ mà không xếp thành một dân tộc thiểu số [7].

1.2.1.3. Dân tộc Khơ Mú

Người Khơ Mú (Tày Hạy/Xá/Cấu/Mứn Xen/Pu Thầy) sinh sống tại các thung lũng, sườn núi thuộc 4 huyện Quế Phong, Tương Dương, Kỳ Sơn, Thanh Chương (địa bàn Thanh Chương là nơi tiếp nhận dân tái định cư năm 2005 từ lòng hồ Bản Vẽ huyện Tương Dương đến, gồm người Thái, người Khơ Mú và người Ơ Đu). Người Khơ Mú ở Nghệ An chiếm khoảng 50% số người Khơ Mú cả nước. Các cuộc khảo sát của chúng tôi không nhận được thông tin nào về các tộc người/ nhóm địa phương của người Khơ Mú ở Nghệ An.

1.2.1.4. Dân tộc Mông

Người Mông (H'Mông/Mèo Hoa-Mông Lềnh/Mán Trắng-Mông Đơ/Mạo/Ná Miêu) đến Việt Nam bằng 2 đường: qua Hà Giang và qua Lào Cai, theo 3 đợt đông nhất: 1. Đời nhà Minh; 2. Đời nhà Thanh (năm 1820); 3. Sau thất bại của phong trào "Thái Bình Thiên Quốc" (năm 1872).

Người Mông ở Nghệ An liên quan đến những người đi qua Lào Cai, gồm 2 nhóm là Mông Lềnh (các tên gọi khác là Mông Hoa, Mông Sỹ, Mèo Hoa) và Mông Đơ (các tên gọi khác là Mông Trắng, Mèo Trắng, Mán Trắng) [6].

1.2.1.5. Dân tộc Ơ Đu

Ở Việt Nam, người Ơ Đu (Tày Hạt) chỉ sinh sống tại huyện Tương Dương của tỉnh Nghệ An. Khi xây dựng hồ thủy điện Bản Vẽ, chính quyền Nghệ An đã cho di dời một số gia đình người Ơ Đu về khu tái định cư tại huyện Thanh Chương.

Trong số các dân tộc thiểu số ở Nghệ An, người Ơ Đu có số dân ít nhất. Ơ Đu cũng là 1 trong 5 dân tộc có số dân ít nhất ở Việt Nam, cùng với các dân tộc Brâu, Rơ Măm, Pu Péo và Si La [7], [8].

Người Ơ Đu không có một bản nào thuần tộc, ngôn ngữ giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày là tiếng Thái hoặc tiếng Khơ Mú. Hiện tại chỉ người già còn biết sử dụng tiếng nói của dân tộc mình trong hệ số đếm từ 1 đến 10 và một số từ cơ bản trong sinh hoạt, đời sống [6].

1.2.2. Dân tộc và tộc người thiểu số ở Hà Tĩnh

Hà Tĩnh có rất ít dân tộc thiểu số. Các tộc người từ phương Bắc thiên di vào Việt Nam đều dừng chân ở Nghệ An. Tộc người thiểu số phương Nam di dời đến Hà Tĩnh chỉ tập trung tại 1 bản. Một số ít người từ Lào sang hoặc chỉ ở lại thời gian ngắn, hoặc sống xen với người Kinh.

Theo Báo cáo công tác dân tộc 2010-2015 [14] và Báo cáo thực trạng kinh tế, văn hóa, xã hội và các nhiệm vụ chủ yếu hỗ trợ phát triển kinh tế dân tộc rất ít người giai đoạn 2016-2025 [15] của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thì "Hà Tĩnh có một số dân tộc thiểu số là Chứt, Thái, Mường, Lào sống ở các huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê". Về nội dung dân tộc thiểu số trong các bản báo cáo trên, chúng tôi xin có một số ý kiến như  sau:

1.2.2.1. Về dân tộc Chứt ở Hà Tĩnh:

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia "Người Chứt, còn gọi là người Rục, người Sách, người A Rem, người Mày, người Mã Liềng, người Tu Vang, người Pa Leng, người Xe Lang, người Tơ Hung, người Cha Cú, người Tắc Cực, người U Mo, là một dân tộc sinh sống tại trung Việt Nam và Lào. Tại Việt Nam người Chứt được công nhận là một trong 54 dân tộc Việt Nam [2], [7]. Một số tài liệu lại cho rằng: "7 tên gọi Sách, Mày, Rục, Mã Liềng, A Rem, Xơ Lang (hay Xe Lang), U Mo dùng để chỉ 7 nhóm trong tộc người Chứt". Trong bảng Danh mục các dân tộc ở Việt Nam, "người Mã Liềng cùng với các nhóm Sách, Rục, Mày, A Rem hợp thành dân tộc Chứt, địa bàn cư trú chỉ có ở Hà Tĩnh và Quảng Bình" [10].

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Chứt ở Việt Nam có 6.022 người, cư trú tại 23 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố, tập trung tại các tỉnh: Quảng Bình (đông nhất, chiếm khoảng 85% tổng số người Chứt tại Việt Nam), Đắk Lắk, Lâm Đồng, Hà Tĩnh (ít nhất) [1]. Mã Liềng là một trong những tộc người lạc hậu và kém phát triển nhất hiện nay ở Việt Nam. 

Như vậy, các tài liệu và kết quả khảo sát thực tế nhiều đợt của chúng tôi đều thấy: ở Hà Tĩnh chỉ có tộc người Mã Liềng thuộc dân tộc Chứt. Vì vậy, nếu nói "ở Hà Tĩnh có dân tộc Chứt" là chưa chính xác. Các đợt khảo sát của chúng tôi tại bản Rào Tre: nhân dân, chính quyền địa phương và bộ đội biên phòng ở đây cũng khẳng định điều này.

1.2.2.2. Về dân tộc Thái ở Hà Tĩnh:

Theo nghiên cứu thực tế của chúng tôi tại xã Sơn Kim 2 (2004, 2008, 2017), các cụ già ở đây cho biết: cách nay 3-4 đời (?), một số gia đình người Thái ở huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An di cư/chạy nạn làm đường cho người Pháp ở Việt Nam sang Lào, sau đó  trở về Việt Nam thì lạc sang đất Hà Tĩnh và định cư tại xã Sơn Kim 2, huyện Hương Sơn cho đến ngày nay. Các gia đình này thuộc 2 dòng họ: họ Vì (có nguồn gốc họ Vi ở Nghệ An) và họ Lò (có nguồn gốc họ Lô ở Nghệ An).

1.2.2.3. Về dân tộc Mường ở Hà Tĩnh:

 Người Mường, còn gọi là người Mol, Mual, Moi, Moi Bi, Au Tá, Ao Tá, là một dân tộc sống ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, tập trung đông nhất ở tỉnh Hòa Bình và các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa [3], [9]. Người Mường ở Việt Nam theo kết quả điều tra dân số năm 2009 là 1.268.963 người [1]. Khảo sát thực tế của chúng tôi về các dân tộc thiểu số ở Hà Tĩnh cho thấy người Mường hoàn toàn không có ở Hà Tĩnh [5]. Nghệ An cũng không có dân tộc Mường [6], [7].

1.2.2.4. Về dân tộc Lào ở Hà Tĩnh:

Theo nghiên cứu thực tế của chúng tôi năm 1978 tại xã Hương Vĩnh và các năm 2004, 2008, 2017 tại các huyện Hương Khê và Hương Sơn thì ở Hà Tĩnh có tộc người thiểu số tự nhận là người Cọi-Khạ Phong ở bản Giằng 2, xã Hương Vĩnh, huyện Hương Khê có quan hệ với người Bru (?) bên Lào. Tộc người này sống khu vực dọc biên giới Việt-Lào thuộc huyện Hương Khê. Những năm 1970-1980, họ qua lại biên giới tự do, trao đổi hàng hóa với người Việt tại một số chợ xung quanh thị trấn Hương Khê, rất ít khi ở lại lâu. Hiện tại, có một số gia đình ở huyện Vũ Quang nhận họ có nguồn gốc từ Lào nhưng họ không còn nhớ tiếng mẹ đẻ nên chúng tôi cũng không xác định được họ thuộc Lào Lùm(1), Lào Thơng(2) hay Lào Sủng(3). Cũng có thể họ thuộc 1 dân tộc khác ở Lào không liên quan đến 3 dân tộc thiểu số ở Nghệ An. Bởi CHDCND Lào là quốc gia đa dân tộc(4). Chúng tôi chỉ so sánh được 3 dân tộc Lào có tiếng nói gần giống với  3 dân tộc thiểu số có nguồn gốc từ phương Bắc thiên di đến Nghệ An là Thái, Khơ Mú và Mông mà thôi. 

1.3. Khác biệt về địa bàn cư trú của dân tộc thiểu số

1.3.1. Địa bàn/lãnh thổ cư trú của các dân tộc thiểu số ở Nghệ An

Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An chiếm khoảng 14% dân số, sống tập trung khu vực đồi núi phía Tây rộng lớn thuộc thị xã Thái Hòa và 10 huyện miền núi: Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kì, Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Kì Sơn và gần đây là Thanh Chương (từ lòng hồ Bản Vẽ của huyện Tương Dương đến tái định cư). Dạng địa hình đồi núi ở Nghệ An chiếm hơn 85% diện tích tự nhiên của tỉnh (trong đó có một số nằm rải rác khu vực đồng bằng).

1.3.2. Địa bàn/lãnh thổ cư trú của tộc người thiểu số ở Hà Tĩnh

Người thuộc dân tộc thiểu số sống thành cộng đồng riêng ở Hà Tĩnh, chỉ có tộc người Mã Liềng sống ở bản Rào Tre, xã Hương Liên, huyện Hương Khê. Bản Rào Tre có tọa độ địa lí: 18°02'19"B-18°03'34"B và 105°43'38"Đ-105°44'22"Đ. Phía Bắc giáp khu vực sinh sống của người Kinh ở xã Hương Liên. Phía Đông Bắc giáp sông Ngàn Sâu. Phía Nam giáp rừng phòng hộ thuộc quản lí của lâm trường Hương Khê, gần với huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình. Phía Tây giáp xã Hương Lâm, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh [5].

Theo Báo cáo công tác dân tộc 2010-2015 [14] và Báo cáo thực trạng kinh tế, văn hóa, xã hội và các nhiệm vụ chủ yếu hỗ trợ phát triển kinh tế dân tộc rất ít người giai đoạn 2016-2025 [15] của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thì bản Rào Tre có 30 gia đình với 118 người, năm 2016 có 41 gia đình với 146 người. Tháng 2/2017, điều tra thực tế tại bản Rào Tre của chúng tôi, vẫn là 30 hộ và 146 người [5].

1.4. Khác biệt về nguồn gốc các dân tộc thiểu số

Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An có nguồn gốc bản địa hoặc từ phương Bắc thiên di xuống nhưng dừng lại ở Nghệ An mà không đi tiếp về phía Nam.

Nguồn gốc bản địa có: Dân tộc Ơ Đu chỉ sống ở Nghệ An. Dân tộc Thổ chỉ sống ở Nghệ An và Thanh Hóa (nguồn gốc của dân tộc Thổ còn cần nghiên cứu tiếp).

Nguồn gốc từ phương Bắc thiên di đến có các dân tộc Thái, Mông, Khơ Mú.

Các dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An quen sống du canh du cư nhưng chỉ quanh quẩn ở Nghệ An, có xuất cư thì cũng chỉ sang Lào, không sang Hà Tĩnh.

Hà Tĩnh không có dân tộc hay tộc người thiểu số có nguồn gốc bản địa mà chỉ có tộc người Mã Liềng có nguồn gốc từ phía Nam lên. Người Mã Liềng cũng quen sống du canh du cư nhưng từ Quảng Bình tiến lên phía Bắc cũng chỉ dừng lại ở Hà Tĩnh, cách xa địa giới của Nghệ An.

Kết quả là Nghệ An hoàn toàn không có các dân tộc/tộc người từ phía Nam lên. Hà Tĩnh không có các dân tộc/tộc người từ phía Bắc thiên di trực tiếp xuống.

2. Những khác biệt khác

2.1. Khác trong vốn cổ ví, giặm

Trong cái nôi Ví, Giặm Nghệ Tĩnh ngoài một số thể loại có chung cả ở Nghệ An và Hà Tĩnh như: Ví phường đan, tiêu biểu ở Nghi Lộc (Nghệ An) và Thạch Hà (Hà Tĩnh); Ví phường bện vòng, tiêu biểu ở Kì Anh (Hà Tĩnh), Diễn Châu (Nghệ An); Ví phường chắp gai đan lưới (ở các vùng ven biển cả Nghệ An và Hà Tĩnh), Ví phường róc cau, Ví phường lau mía, Ví phường gặt, Ví đò đưa, Ví phường nốc (thuyền), Ví phường buôn, Ví phường củi, Ví phường cỏ..., còn có một số thể loại tiêu biểu cho từng tỉnh: Ví phường vải (tiêu biểu ở huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An), Ví phường nón (tiêu biểu ở các huyện Nghi Xuân, Kì Anh, Thạch Hà của tỉnh Hà Tĩnh) (Tài liệu chép tay của cố PGS. Ninh Viết Giao, tác giả bài viết đang có).

2.2. Khác về tính cách

Ở một số lĩnh vực, người Hà Tĩnh quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề xã hội. Năm 1983, Việt Nam thực hiện chủ trương kế hoạch hóa gia đình, vận động người dân hạn chế sinh đẻ. Từ đó tỉ suất sinh thô của cả nước trong đó có Bắc Trung bộ giảm mạnh. Năm 1989, tỉ suất sinh thô của cả nước 30,1‰, của Bắc Trung bộ là 32,6. Năm 2012, tỉ suất sinh thô của cả nước là 16,9, của Bắc Trung bộ là 17,6, cao nhất là Nghệ An 19,3; thấp nhất là Hà Tĩnh 16,3[12].

Năm 2012, Việt Nam có chủ trương lấy ý kiến của người dân góp ý đề sửa đổi Hiến pháp và sửa đổi Luật đất đai năm 2003. Nhân dân Hà Tĩnh đã rất nhiệt tình đóng góp ý kiến, sôi nổi nhất cả nước. VTV hồi đó nhiều lần đưa tin về tinh thần này của nhân dân Hà Tĩnh, nhất là đóng góp về Luật đất đai.

Năm 2015, trước sự kiện hải sản chết hàng loạt, một ngư dân Hà Tĩnh đã mạnh dạn lặn sâu xuống biển để tìm ra đầu ống xả nước thải của nhà máy thép khu công nghiệp Vũng Áng, phát hiện sự cố môi trường Formosa rúng động cả nước, lan ra cả thế giới.

Năm 2017, trong một cuộc phỏng vấn, GS. Phong Lê có nhận xét: "Nói chung, người Nghệ có nhiều nét đặc trưng như kiên cường, dũng cảm, yêu nước, có tinh thần cách mạng cao, chăm chỉ, chịu khó, phóng khoáng, thẳng thắn, trung thành... Đặc trưng nhất của người Nghệ là hiếu học, là gàn, là ngông, dựa trên nền tảng tài năng và tử tế, được người các vùng khác rất quý trọng. 

Sự khác nhau lớn nhất là người Nghệ An tính kiên cường hơn, mạnh mẽ, thẳng thẳn quá nên nhiều khi dễ rơi vào cực đoan, cứng nhắc. Đức tính này là thế mạnh trong các cuộc cách mạng khi người dân sẵn sàng hy sinh để tranh đấu, nhưng trong quá trình xây dựng, cần sự kiên trì nhẫn nại thì lại gặp khó khăn.

Do vậy, người Nghệ An làm cách mạng giỏi hơn, có nhiều lãnh tụ cách mạng. Trong khi đó, người Hà Tĩnh mềm mại, nhẹ nhàng hơn và có nét uyển chuyển hơn. Họ vẫn kiên trì con đường mà họ lựa chọn nhưng cách làm thì khéo léo hơn, vì vậy mà người Hà Tĩnh giỏi làm trong các lĩnh vực văn hóa hơn, có nhiều người thành công trong hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật hơn" [11].

2.3. Khác về phong tục chôn cất người chết

Hầu hết người Nghệ An chôn cất người chết 2 lần: hung táng và cát táng. Hung táng là chôn người mới chết lần 1 bằng hòm gỗ. Mộ hung táng có hình ô van hay hình chữ nhật vát các góc. Mộ hung táng ngày trước không có mộ chí (do người nhà thường hay qua lại thăm nom nên không sợ thất lạc). Ngày nay mộ hung táng có gắn mộ chí ghi tên, ngày tháng năm sinh và mất của người chết. Cát táng là sau một thời gian chôn hung táng, đợi cho đến khi phân hủy hết phần thịt thì cất lên, chỉ lấy phần xương bỏ vào tiểu bằng sành rồi đem chôn lần 2 và là lần cuối cùng. Trường hợp phải di chuyển thì cất lên rồi giữ nguyên hiện trạng của tiểu sành, đem đi chôn nơi khác. Mộ cát táng hình tròn, phía chân có đặt mộ chí ghi tên tuổi người chết. Mộ cát táng ngày xưa đắp bằng đất, ngày nay thường được xây gạch, ốp gạch men, đá các loại. Nơi chôn hung táng gọi là nghĩa địa, nơi chôn cát táng gọi là nghĩa trang hay lăng. Thông thường, mộ hung táng được chôn ở nghĩa địa chung của cộng đồng, mộ cát táng được chôn tại nghĩa trang riêng của dòng họ hay của gia đình.

Hầu hết người Hà Tĩnh chỉ chôn một lần (giống như những người theo Thiên Chúa giáo và đồng bào các tỉnh phía Nam của Việt Nam).

2.4. Khác trong sử dụng từ ngữ

Ở xứ Nghệ dòng văn hoá bác học và dân gian đều rất phong phú, đa dạng. Giọng nói là thông tin đầu tiên và ấn tượng nhất của con người xứ Nghệ. Về thanh điệu, giọng người dân xứ Nghệ "nặng", có phần trúc trắc, nhiều nơi không có sự phân biệt giữa thanh có dấu ngã và dấu nặng. Khi 2 từ liền nhau cùng dấu hỏi hoặc dấu hỏi đi liền với dấu ngã thì thường phát âm sai: cửa sổ phát âm thành cựa sổ, cửa ngõ phát âm thành cựa ngọ hay cựa ngõ (cựa ngọ chi mà bẩn ra ri).

Về vốn từ, so với các phương ngữ khác của tiếng Việt, còn bảo lưu khá nhiều yếu tố của ngôn ngữ Việt cổ hay tiền Việt-Mường. Theo Nguyễn Đổng Chi (1995), khi nghe hát giặm Nghệ Tĩnh, có "chất chứa một cái gì chất phác của con người thời cổ hay của con người ở chốn rừng núi mà cuộc sống còn giản đơn và cách biệt". Tuy nhiên trong phương ngữ xứ Nghệ cũng một số khác biệt như là những ốc đảo thổ ngữ. Do yêu cầu hạn chế về dung lượng, trong bài viết  này, chúng tôi chỉ đưa ra một số ý kiến rút ra từ kết quả nghiên cứu bước đầu của chúng tôi về một số khác biệt trong cách dùng từ ngữ của người Nghệ An và người Hà Tĩnh, thể hiện ở một số chi tiết:

2.4.1. Khác nhau do ảnh hưởng theo chiều Bắc-Nam ở khu vực đồng bằng

Nghệ An có một số địa phương dọc Quốc lộ 1A ở các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành phát âm đúng các từ có thanh ngã như người Bắc bộ. Hiện tượng này không có ở Hà Tĩnh.

Hà Tĩnh có một số khu vực giáp với Quảng Bình sử dụng một số từ phổ biến ở các tỉnh từ Quảng Bình trở vào. Người Kì Anh, khu vực Lâm-Sơn-Thượng-Lạc gọi cha đẻ là "bọ", dùng từ "đọa" để chỉ sự mệt mỏi quá mức. Nghệ An không có nơi nào sử dụng các từ này.

2.4.2. Khác nhau do ảnh hưởng của người thiểu số ở khu vực miền núi

Chưa thấy có nghiên cứu nào công bố về chi tiết này. Chúng tôi mạnh dạn đưa ra nhận định rằng: Có thể là do ảnh hưởng của thổ ngữ tộc người mà Nghệ An (các tộc người sống vùng đầu nguồn chủ yếu là từ phương Bắc xuống) và Hà Tĩnh (các tộc người sống vùng đầu nguồn chủ yếu là người Kinh và người Mã Liềng từ phía Nam lên) sử dụng một số danh từ khác nhau để chỉ cùng một sự việc, một hiện tượng.

Người Nghệ An gọi các sông nhánh đầu nguồn của sông Lam là "nậm": Nậm Nơn, Nậm Mô, Nậm Giải, Nậm Chông,...

Người Hà Tĩnh gọi các các sông nhánh đầu nguồn của sông Lam là "ngàn" để chỉ sông lớn và "rào"để chỉ sông nhỏ. Đồng thời "ngàn" cũng dùng để chỉ "rừng"; "rào" có khi lại được dùng để chỉ núi.

Như  vậy, có thể thấy, trong trường hợp này, người Nghệ An dùng 1 danh từ để chỉ 1 sự vật; trong khi người Hà Tĩnh dùng 1 danh từ để chỉ nhiều hơn 1 sự vật. Ví dụ:

-  Danh từ "ngàn":

+ Người Nghệ An chỉ dùng để nói đó là "rừng": lên ngàn là lên rừng; đại ngàn là rừng lớn/rừng rậm/rừng nguyên sinh.

+ Người Hà Tĩnh, vừa để chỉ "sông lớn":  Ngàn Sâu, Ngàn Phố, Ngàn Trươi,... vừa để chỉ "rừng" như người Nghệ An.

- Danh từ "rào":

+ Người Nghệ An chỉ dùng để nói đó là khe, suối (qua một con rào: qua một cái khe).

+ Người Hà Tĩnh:

* Rào = Núi: Rào Cọ (đỉnh cao nhất của dãy Hoành Sơn 2.235m).

* Rào = Sông: Rào Cái (sông Ngàn Mọ), Rào Nậy (phần thượng lưu sông Gianh trong địa phận Hà Tĩnh), Rào Trổ (phụ lưu sông Gianh trong địa phận Hà Tĩnh).

Trong đề thi môn Ngữ Văn 7, thuộc kỳ thi khảo sát chất lượng học kỳ II năm học 2014-2015 của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lộc Hà có câu hỏi 1 điểm yêu cầu dịch hai câu thơ sau bằng tiếng địa phương sang tiếng phổ thông: Mô rú mô ri mô nỏ chộ/ Mô rào mô bể chộ mô mồ. Theo ông Phan Thanh Dân, Trưởng phòng GD&ĐT huyện Lộc Hà, đáp án của câu này là: "Đâu núi đâu non đâu chẳng thấy/Đâu sông đâu biển thấy đâu nào". Từ "rào" dịch sang tiếng phổ thông là "sông".

2.4.3. Khác trong sử dụng một số từ, cụm từ

Rất khó để tìm ra sự khác nhau trong các tập quán sinh hoạt, cư trú và sản xuất của cư dân xứ Nghệ sống 2 bên bờ sông Lam, nhất là vùng hạ du. Ra xa khỏi khu vực đó, sự khác nhau mới xuất hiện và càng ra xa có phần rõ nét hơn.

Cũng rất khó để tìm ra những từ mà chỉ người Nghệ An dùng, người Hà Tĩnh không dùng và ngược lại. Tuy nhiên cũng có một số từ mà bên này hay bên kia dùng nhiều hơn. Ví dụ:

Nội dung

Người Nghệ An hay dùng

người Hà Tĩnh ít dùng

Người Hà Tĩnh hay dùng

người Nghệ An ít dùng

Bữa ăn phụ

Ăn nửa buổi

Ăn cộ chè (cỗ)

Bấy nhiêu thôi

- Từng nớ thôi, từng nớ chơ mấy.

- Bấy cớ (Một số xóm ở xã Diễn Bích-Diễn Châu)

- Từng nớ thôi, từng nớ chơ mấy.

 

Bố

Bố, Cha,…

- Bố, Cha,…

- Bọ (Một số  xã ở Kì Anh)

Dây cao su đèo hàng

Dây cao su

- Dây cao su

- Chạc địu

Đại từ ngôi I số ít

- Mình, tui,…

- Nha (vùng Yên Thành)

Mình, tui,…

Cối giã gạo

Cối  đạp

- Cối đạp

- Trày đạp

Mệt quá

Liệt

- Liệt

- Đọa (Một số  xã ở Kì Anh)

Đu đủ (cây, quả)

Đu đủ (thủ đủ)

- Đu đủ (thủ đủ)

- Dầu

- Thia thia (một số xóm ở xã Đức Ninh-ĐứcThọ)

Giặt giũ

Giặt

- Giặt

- Xắt

Mẹ tôi

Mẹ mình

- Mẹ mình

- Mẹ va (một số xã ở Thạch Hà, Lộc Hà)

Ngủ trưa

Ngủ trưa

Ngủ bày

Nhựa cây

Mủ cây

Mét

Nhờ vả (làm việc gì)

Mượn/nhờ

Mạn (ăn có mời mần có mạn)

Nói

Nói

- Nói

- Phô (nhủ nghe phô cứ).

Rát (đau)

Rát

- Rát

- Tát (kéo tát cả tay: kéo rát/đau cả tay)

Vợ chồng

Vợ chồng

- Vợ chồng

- Mụ ông (vùng Hương Sơn)

Vứt bỏ

Vứt đi, Quăng đi

Cút (cút cho ngái: vứt cho xa. Vùng Thạch Hà)

Béo khỏe

- Béo khỏe (con trai: đô con)

- Úc (Làng Quang Trung xã Long Thành-Yên Thành. (Làng này còn có các tên khác: Rú Đất, Quần thần)

- Béo khỏe (con trai: đô con)

 

Yếu

- Yếu

- Ươn

- Yếu

- Hèn (mắc cục hèn: do yếu mà làm không nổi)

 2.4.4. Khác trong sử dụng một số phụ âm:

Người Nghệ An ít nơi nói sai các từ có chữ cái đầu là phụ âm "s", "ch", "th" như người Hà Tĩnh:

- Đọc s thành tr:

+ Năm ni bác trồng mấy trào khoai? Năm nay bác trồng mấy sào khoai?

+ Trâu ăn hết rau cải rồi: Sâu ăn hết rau cải rồi.

- Đọc ch thành tr: Trừa đến tra: Chừa đến già, cạch đến già.

- Đọc th thành s: Xa nhà sèm nác chè: Xa nhà thèm nước chè.

2.5. Khác trong sử dụng các thể loại dân ca, tục ngữ vào cuộc sống:

Ngoài một số ca dao, thành ngữ, tục ngữ,... cho đến nay vẫn khó phân biệt có xuất xứ từ Nghệ An hay Hà Tĩnh thì một số khác có địa chỉ khá rõ ràng. Người Hà Tĩnh hay bông đùa hơn người Nghệ An khi nói về cái gì đó liên quan đến địa danh "Nhất cao là đỉnh Ba Đồn, Lắm hươu Rú Đọ, to l... Chợ Voi";  "Nón Ba Đồn, l… Đức Thọ",... Người Nghệ An thường dùng các câu thành ngữ, tục ngữ, phương ngôn để thể hiện tri thức địa lí dân gian mang sắc thái địa phương rõ rệt: Mây ấp núi Xước, hứng nước cho mau (vùng Quỳnh Lưu), Khi mô rú Quyết có mây, Cửa Lò có chớp ngày rày hẳn mưa (vùng Nghi Lộc), Bao giờ Đại Huệ mang tơi, rú Đụn đội nón thì trời hẳn mưa (vùng Nam Đàn), Đất Thọ Lang lắm cam, nhiều quýt, đất Rú Mít cả quýt lẫn bòng (vùng Thanh Chương). Một số địa phương có hẳn những bài ca nói về địa đồ, địa dư từng địa phương, như bài Địa đồ Nhượng Ban, Địa dư Phù Lưu (50 câu), Địa dư Quỳnh Lưu (134 câu),... (Nguyễn Đổng Chi, 1995).

Kết luận

Những nhận định trong bài viết có phần mâu thuẫn với nhận xét của một số nhà nghiên cứu văn hóa về một xứ Nghệ đại đồng tuy hai mà một "Nếu xét về mặt quản lí hành chính thì chia làm hai cũng có mặt thuận tiện. Nhưng xét về mặt văn hoá thì gộp làm một lại hợp lí hơn,..." [4]. Theo chúng tôi, trong xứ Nghệ có sự khác biệt, cả tự nhiên và nhân văn. Nghệ An chịu tác động rõ rệt các đặc điểm từ phía Bắc xuống, trong khi Hà Tĩnh phần nào chịu ảnh hưởng từ phương Nam lên. Mong là sẽ có thêm một hội thảo, chí ít một diễn đàn về xứ Nghệ…

Chú thích

2. Lào Lùm: Người Lào Lùm theo nghĩa chữ là "người Lào ở vùng đất thấp" có tiếng nói giống tiếng Thái ở Nghệ An.

3. Lào Thơng: nghĩa chữ là "người Lào ở vùng trung du", có tiếng nói giống tiếng Khơ Mú ở Nghệ An.

4. Lào Sủng: Lao Soung, còn viết là Lao Sung, có tiếng nói giống tiếng Mông ở Nghệ An.

5. Theo "Laos. Ethnologue", truy cập 15/10/2015: trên đất nước Lào có 160 nhóm dân tộc sử dụng 82 ngôn ngữ riêng biệt. Trong điều tra dân số năm 1995, chính phủ Lào công nhận 149 nhóm dân tộc trong 47 dân tộc chính. Mặt trận Lào Xây dựng Đất nước (LFNC) gần đây đã sửa thành 49 dân tộc với hơn 160 nhóm dân tộc.

Tài liệu tham khảo

1. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội 6/2010. Biểu 5, tr.134-225.

2. Ban Dân tộc tỉnh Hậu Giang 2012. Các dân tộc Việt Nam. Trang thông tin điện tử Truy cập 01/04/2017.

3. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ Việt Nam 2016. Người Mường. Truy cập 01/04/2017.

4. Đinh Gia Khánh, Cù Huy Cận. Các vùng văn hóa Việt Nam. NXB Văn học 1995.

5. Đào Khang và nnk. Khảo sát, điều tra điền dã cùng sinh viên,  học viên cao học, nghiên cứu sinh các năm 2004, 2008, 2017.

6. Đào Khang. Địa lí Nghệ An. NXB Thông tin-Truyền thông 2014.

7. Nguyễn Văn Huy. Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam. NXBGD 2005.

8. Internet. Top 5 Dân tộc ít người nhất nước ta. 19-04-2018.

9. NXB Thông tấn xã Việt Nam. Người Mường ở Việt Nam. Hà Nội 2008.

10. Nguyễn Văn Mạnh (1996). Người Chứt ở Việt Nam. NXB Thuận Hoá, Huế.

11. Phong Lê. Cần nhìn nhận đúng đặc trưng, cá tính của người Nghệ. Báo Nghệ An 04/06/2017

12. Tổng cục Thống kê. Niên giám thống kê Việt Nam năm 2012. NXB Thống kê 2013.

13. Trang web Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.

14. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (2016). Báo cáo công tác dân tộc 2010-2015.

15. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (2016), Báo cáo thực trạng kinh tế, văn hóa, xã hội và các nhiệm vụ chủ yếu hỗ trợ phát triển kinh tế dân tộc rất ít người giai đoạn 2016-2025.

 

Hồ Đức Thỉnh

Theo "Nhân Sơn phong thổ ký" bản chép tay do xã sử Phan Công Minh khởi biên năm Nhâm Dần 1722…, Hồ Trọng Kham tục biên 1806, Hồ Đợi dịch 1985 (HĐ lưu giữ) cho biết: Làng Nhân Sơn nay là xã Quỳnh Hồng, Quỳnh Lưu, Nghệ An, thời Quang Trung - Nguyễn Huệ có đến 5 vị tước hầu - một hiện tượng hiếm thấy trong lịch sử. Đó là các vị:

1.Tiền tướng Tư Nhân hầu Hồ Phi Tứ. Ông là cháu nội Quỳnh Quận công Hồ Phi Tích (1665-1724), con ông án sát Hồ Phi Phú (vốn quê ở làng Quỳnh Đôi). Ông lấy bà người họ Đậu, con tri phủ Tam Đái Đậu Công Triều. Hồ Phi Phú mất sớm, mẹ con dắt nhau về bên ngoại nương nhờ; đem theo cả Hồ Phi Diễn, con chú (thân phụ nữ sĩ Hồ Xuân Hương). Về Nhân Sơn một thời gian dài, Hồ Phi Tứ lập gia đình với người Nhân Sơn, ở lại nuôi mẹ già. Người anh là Hồ Phi Phúc, sinh ra Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ vào Thái Lão, Hưng Nguyên rồi theo quân Nguyễn đàng trong vào Quy Nhơn (Bình Định). Hồ Phi Diễn và vợ con ra phường Khán Xuân (Hà Nội). Sau đó Hồ Phi Tứ tham gia quân vụ, theo Quang Trung khởi binh ra Bắc phù Lê, diệt Trịnh hay vào Nam tiêu diệt trên 2 vạn quân Xiêm; đặc biệt là làm tiền tướng tiêu diệt 29 vạn quân Mãn Thanh Xuân Kỷ Dậu 1789; ông được ban tước Tư Nhân hầu. Ông là một dũng tướng nhưng còn là một nhân tướng đã giúp cho làng Nhân Sơn vượt qua khó khăn trong trận lụt lịch sử mùa thu Kỷ Dậu 1789 và nhất là thời kỳ khó khăn sau chiến thắng tiêu diệt trên 29 vạn quân Thanh. Ông được dân làng tôn vinh, che chở. Cả làng làm giỗ to cho ông vào 24 tháng 8 âm lịch hàng năm. Dân Nhân Sơn có câu cảo: "Hai mươi mốt giỗ ông Lê Lai/ Hai mươi hai giỗ ông Lê Lợi/ Hai mươi ba rửa bát rửa đọi/ Hai mươi bốn giỗ quan Tư Nhân". Khi chết làng lập đền thờ cho ông, trước đền thờ có đôi câu đối:

"Khí chung Quỳnh địa sinh tiên tướng/ Danh tại Nhân Sơn tử hậu thần". Trước đền thờ có 3 chữ "Bảo Nghĩa Dân". Từ 1968-1971 đền thường bị phá sạch. Năm 2017 làng làm lại khang trang, to đẹp hơn.

2. Thịnh Đức hầu Hồ Trọng Thịnh. Ông từng là chỉ huy Đội Tượng binh. Một đội quân "Bách chiến bách thắng". Sau chiến thắng Ngọc Hồi con voi chiến lừng danh của ông khi về đến làng Nhân Sơn quê ông thì bị kiệt sức và chết tại đó. Dân làng làm lễ chôn cất rất trang nghiêm, thương tiếc. Chứng tích nay hiện còn ở đội Mộ Voi.

3. Trung úy Vệ úy Đôn Đức hầu Hồ Hữu Thiện. Ông là chỉ huy đội quân Túc Vệ, khi về trí sĩ ở làng. Một thời gian khi quan quân Nguyễn Ánh phát hiện được trong lúc làm đường quan mới 1802 qua đường thiên lý gần nhà ông. Ông bị trung bức, sau ông thành người biểu lận.

4. Miên Đức hầu Hồ Văn Miên. Không thấy ghi công trạng trong "Nhân Sơn phong thổ". Chỉ ghi rằng ông là người có tài đánh trống thúc quân rất giỏi, được ban cả một đội ruộng lớn, nay còn gọi là đội Ruộng Trống.

5. Nguyễn Trung Cần hầu. Trong "Nhân Sơn phong thổ" không nói rõ tên ông, cũng không biết ông người họ Nguyễn nào (Tôi nghi là người họ Nguyễn Thọ, xóm 6, Quỳnh Hồng). Ông là một văn quan, chuyên bàn mưu tính kế dưới tướng cùng Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích… Nhà ông sát đường Thiên lý cạnh chùa Long Sơn, còn gọi là chùa Rồng, gần nhà Đôn Đức hầu Hồ Hữu Thiện. Hồ Hữu Thiện bị quân Nguyễn Ánh phát hiện giả làm biểu lận. Còn Trung Cần hầu bị trung bức mạnh, bởi chúng coi ông là "tay chân của Ngụy triều". Ông phải bỏ làng đi mất tích; mãi sau ông mới quay lại. Phan Huy Ích đều ghé qua nhà Trung Cần hầu chơi để lại nhiều bài thơ vãn cảnh chùa Rồng. Chùa Rồng, một ngôi chùa thiên tạo được các danh sĩ: Lê Hữu Trác, Nguyễn Du, Bùi Huy Bích… để lại nhiều bài thơ vãn cảnh. Các chính khách, các thương nhân Trung Quốc, Ai Lao… cung tiến vào ngôi chùa thiên tạo này nhiều chuông đồng, khám đá…

Có vinh quang có chiến thắng tất có hi sinh. Trong "Nhân Sơn phong thổ" viết: "Từ khi vua Quang Trung huy động quân lính đánh phá Quân Thanh cùng các bản Mường vùng Tuyên Quang, Hưng Hóa; các ngoại trấn Trấn Ninh, Mường Chăn, Mandi nước ngoài cho đến các trận Nha Trang, chợ Lớn, Màn Hồng, Đồng Nai… người bị thương vong tại trận, kẻ chết vì đường sá hiểm trở, non 10 năm trời làng mất đến 50 người. Làng mời sư tăng lập đàn siêu độ. Sau lễ siêu độ, làng xã ai nấy đều được an ninh…".

 

Quảng Phước

Các dòng họ ở Nghệ An chủ yếu có nguồn gốc từ phía Bắc di cư vào như họ Hồ ở Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu), họ Phan công thần ở Yên Thành, họ Trần ở Đan Trung (Diễn Châu), họ Ngô ở Lý Trai (Diễn Châu), họ Nguyễn Cảnh ở Đô Lương, họ Nguyễn Duy ở Thanh Chương... Tuy nhiên cũng có một bộ phận không nhỏ các dòng họ có nguồn gốc phương Nam, đặc biệt là từ vương quốc Chiêm Thành. Tiêu biểu trong số đó là dòng họ Chế ở thị xã Cửa Lò.    

Từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 13, Nghệ An là phiên trấn phía Nam của Đại Việt, là vùng biên viễn tiếp giáp với vương quốc Chiêm Thành nên từ xa xưa vùng này đã có cư dân gốc Chiêm Thành sinh sống. Họ có nhiều nguồn gốc phát tích khác nhau và đến định cư ở đây vào nhiều thời điểm với nhiều lý do khác nhau nhưng chủ yếu là các nguyên nhân sau:

Thứ nhất là những người Chăm cổ sinh sống rải rác khắp vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh từ trước thế kỷ X. Trước khi người Việt giành được độc lập tự chủ sau nghìn năm Bắc thuộc thì người Chăm đã vùng lên chống lại ách đô hộ của nhà Hán, thành lập vương quốc Lâm Ấp. Biên giới của nước Lâm Ấp với nhà Hán ra đến tận vùng Nghệ An ngày nay(1). Trong quá trình sinh sống, những người Chăm ở vùng này đã có sự giao thoa với người Việt và dần bị đồng hóa thành người Việt.      

Thứ hai là binh lính và các tù binh, hàng binh Chiêm Thành trong các cuộc chiến tranh. Lịch sử của hai dân tộc đã ghi nhận những cuộc xung đột giữa Đại Việt và Chiêm Thành, trong các cuộc chiến tranh đó, cả hai bên đều bắt được tù binh, hàng binh của nhau. Các tù, hàng binh Chiêm Thành sau khi bị bắt thường được cho đi khai phá các vùng đất hoang. Nghệ An là một trong những vùng phân bố tù binh Chiêm trên lãnh thổ Đại Việt. Những người Chiêm Thành này đã khai phá ra nhiều làng như các làng Hoành Sơn, làng Xuân Áng, Xuân Lồi, Thánh Tự ở tổng Nam Kim (Nam Đàn), bốn làng ở phủ Hưng Nguyên (hai bên bờ sông Lam)(2). Tuy nhiên, do thời gian quá dài cùng với quá trình cộng cư với người Việt và một phần do ý thức dấu kín nguồn gốc xuất thân, lâu dần họ đã bị Việt hóa. Vì thế hiện nay hầu hết họ đều mang họ của người Việt, những dấu tích Chiêm Thành chỉ còn sót lại trong ngữ điệu ngôn ngữ, một số phong tục, vết tích điêu khắc, khảo cổ học(3)...

Thứ ba là các thân vương, quý tộc Chiêm Thành tỵ nạn chính trị và quy thuận triều đình Đại Việt được triều đình cho về vùng Thanh Nghệ Tĩnh để khai phá. Sách"Đại Việt sử ký toàn thư" có ghi: Năm 1390, Chế Bồng Nga tiến đánh Đại Việt và bị thất trận ở Hải Triệu (Hưng Yên), một tướng của Chiêm Thành là La Ngai thu thập tàn quân rồi "về đến Chiêm Thành, chiếm nước, tự lập làm vua. Con của Bồng Nga là Chế Ma Nô Đà Nan và em là Chế Sơn Nô sợ bị giết, liền chạy sang ta. Phong Ma Nô Đà Nan làm Hiệu Chính hầu, Sơn Nô làm Á Hầu"(4). Sách Le Vieux An Tinh (An Tĩnh cổ lục) cho biết: "Hai người con trai của Bồng Nga là Chế Mã Nô(5) và Chế Sơn Nô chạy trốn và đến xin cư trú tại triều đình nhà Trần. Nhà Trần đặt hai người này lên chức vị vua chư hầu(6) tại An Tĩnh"(7).

Họ Chế ở Nghệ An nói chung và thị xã Cửa Lò nói riêng là một trong những dòng họ có nguồn gốc Chiêm Thành. Theo các tài liệu như: An Tĩnh cổ lục, Lịch sử Đảng bộ xã Nghi Thu, văn bia (bia đá hai mặt, mặt trước do Trung Thuận đại phu Thái thường tự khanh, Bang biện tỉnh Nghệ An thăng Bố chính tỉnh Thanh Hóa, Gia Nghị đại phu Lê Lượng Bạt soạn văn và Đệ nhất giáp Thám hoa khoa Canh Sửu, Triều Liệt đại phu, Thị độc ở viện Hàn lâm, lãnh chức Đốc học ở tỉnh Nghệ An là Nam Sơn Nguyễn Đức Đạt nhuận sắc. Mặt sau do quan Ngự sử Nguyễn Năng Tĩnh soạn văn, khắc năm Tự Đức thứ 17 (1864), câu đối... lưu tại di tích cho biết họ Chế tại làng Thu Lũng là dòng dõi con cháu của Chế Bồng Nga mà những thủy tổ đầu tiên đến định cư ở Nghệ An được nhà Trần phong tước Hầu là Chế Ma Nô Đà Nan tước Hiệu Chính hầu và Chế Sơn Nô tước Á hầu). 

Trong văn bia tại nhà thờ họ Chế khẳng định: "dòng họ ta từ xưa là họ Chế [thứ họ này vốn riêng biệt, đến đời giữa thì dần suy, quê gốc vốn là Chiêm Thành]". Đây là tài liệu gốc và xưa nhất nói về nguồn gốc dòng họ Chế. Theo lẽ thường tình nếu một dòng họ có nguồn gốc tù binh Chiêm Thành thì không bao giờ lại khắc ghi rõ ràng nguồn gốc dòng họ mình lên bia đá để người ngoài biết được lai lịch. Điều đó chứng tỏ nguồn gốc của dòng họ này không giống những dòng họ khác. Việc khắc rõ nguồn gốc dòng họ vào bia đá cho thấy con cháu rất tự hào về nguồn gốc của mình. Không những vậy, đôi câu đối chữ Hán tại nhà thờ họ Chế cũng nhắc về nguồn gốc của dòng họ như sau:

故國鴻圖舊本源

秋江廟宇新支派

Phiên âm:

Cố quốc hồng đồ cựu bản nguyên,

Thu Giang miếu vũ tân chi phái.

Dịch nghĩa:

Hồng đồ nước xưa nguồn gốc cũ,

Miếu thờ Thu Lũng chi phái mới(8)

Hippolyte Le Breto khi nghiên cứu gia phả họ Chế ở làng Thu Lũng đã cho biết "những hậu duệ của dòng họ Chế này bị đuổi khỏi tổ quốc mình bởi một người cướp ngôi(9) và được vua Trần cho đến nương náu ở đất An Tĩnh(10). Đây cũng là tài liệu đáng tin cậy. Bởi khi đó, Le Breto đã hợp tác với ông Tú tài Nguyễn Đức Tánh - "một trong những nhà Nho học rộng của An Tĩnh"(11), cháu đích tôn của Thám hoa Nguyễn Đức Đạt(12) để dịch cuốn gia phả của họ Chế làng Thu Lũng. Ở thời điểm Le Breto nghiên cứu về họ Chế thì tại nhà thờ còn lưu giữ hơn 300 cuốn sách gồm sách thuốc, sách nho, gia phả và các loại sách khác(13) - quả là một nguồn tư liệu dồi dào và phong phú.  

Sách Lịch sử Đảng bộ xã Nghi Thu cũng ghi "những người đầu tiên đến lập cư nơi đây là... ngài Thống chế tướng quân Chế Ngân hậu duệ vua Chế Bồng Nga vương quốc Chiêm Thành"(14).

Khác với những dòng họ có nguồn gốc là tù binh Chiêm Thành do Cương Quốc công Nguyễn Xí đưa về ở vùng Đồng Sô, Bàu Ó(15) đã đổi thành họ Nguyễn Đình làm chi dưỡng tử của Nguyễn Xí(16), họ Chế làng Thu Lũng(17) vẫn giữ được tên gọi họ của mình. Trong văn bia "Hậu thần bi ký"(18) của làng Thu Lũng lập năm 1755 có khắc tên 5 người họ Chế là chức dịch của địa phương(19). Đến cuối thế kỷ XVIII, ông Chế Khuê(20) mới đổi thành Nguyễn Đình Khuê và chỉ riêng chi nhánh này đổi sang họ Nguyễn(21). Trong văn bia lưu tại di tích có đoạn  ... 𠆳 ... "dòng họ ta trước kia họ Chế... sau này đổi sang họ Nguyễn, từ cha là Cai hợp Trùm trưởng Thủ chỉ Nguyễn Đình Khuê... đến nay đã hai đời". Tuy nhiên, việc đổi sang họ Nguyễn chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, sau đó, con cháu lại trở về họ Chế.

Họ Chế làng Thu Lũng có lịch sử hơn 600 năm(22), đến nay đã trải qua hơn 22 đời và là một trong những dòng họ đầu tiên đến định cư, khai phá vùng Thu Lũng. Dòng họ Chế ở đây đã phát triển mạnh mẽ, trở thành dòng họ nổi tiếng trong vùng, được nhân dân mến phục, kính nể. Tiếp nối truyền thống tốt đẹp của tổ tiên, các thế hệ con cháu họ Chế đã và đang có nhiều cống hiến trong công cuộc bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước.

Dưới triều Nguyễn, dòng họ có ông Chế Đình Thông (1796 - 1861) làm chức Chánh ty tượng ở cục Cứ tượng. Hiện nay, tại nhà thờ họ Chế còn lưu giữ được 3 đạo sắc phong, 02 bằng cấp của triều đình ban cho ông Chế Đình Thông và 01 bia đá ghi về công lao, sự nghiệp của ông và nguồn gốc dòng họ. Chế Đình Thông đã có nhiều cống hiến trong việc xây dựng quê hương Thu Lũng giàu đẹp. Đặc biệt, ông là người đã góp phần xây dựng các công trình kiến trúc lăng tẩm, đền đài, cung điện... ở kinh đô Huế. Hiện nay, những công trình đó đã được UNESCO công nhận là di sản của thế giới.  

Trong phong trào Văn thân, những người con ưu tú của dòng họ Chế đã đi theo các sĩ phu yêu nước như Chế Đình Xiến, Chế Đình Xan, Chế Đình Nuôi, Chế Đình Tác, Chế Đình Pháp... Các ông đã hoạt động tích cực trong phong trào Văn thân chống Pháp rồi sau này là phong trào Duy tân do Phan Bội Châu khởi xướng(23). Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời có ông Chế Đình Ban tham gia rải truyền đơn chống Pháp ở Đáp Cầu, Bắc Ninh bị địch bắt tù đày. Hồ sơ mật thám của ông hiện đang lưu ở Cục hồ sơ nghiệp vụ, Bộ Công an.

Trong thời kỳ Xô viết Nghệ Tĩnh, đầu năm 1930, chi bộ đảng làng Thu Lũng được thành lập gồm 5 đồng chí, trong đó có 3 đồng chí là người họ Chế, gồm Chế Đình Nhiếp, Chế Đình Trượng, Chế Đình Thiệng(24). Đây là một trong những đảng viên đầu tiên của Chi bộ Đảng làng Thu Lũng. Sau đó, nhiều người họ Chế được kếp nạp vào đảng trong Cao trào 1930 - 1931, như Chế Đình Bành, Chế Đình Quát, Chế Đình Dao, Chế Đình Huyến... họ là những đảng viên trung kiên, hoạt động tích cực và đều bị địch bắt tù đày ở nhà lao Vinh và các nhà lao khác. Những người cộng sản họ Chế làng Thu Lũng đã góp phần xương máu vào cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Hiện nay, hồ sơ của các đồng chí do mật thám Pháp lập và kết án còn lưu giữ ở Cục nghiệp vụ hồ sơ, Bộ Công an.      

Các gia đình con cháu họ Chế và ngay nhà thờ họ Chế là những cơ sở cách mạng của Đảng như ông Chế Đình Nhung được Đảng cài cắm làm Lý trưởng, gia đình bà Chế Thị Quyền có công nuôi, bảo vệ đồng chí Nguyễn Duy Trinh - Cán bộ Xứ ủy Trung kỳ 1930 - 1936. Gia đình ông Chế Đình Nhung được Nhà nước tặng bằng có công với nước.

Trong kháng chiến chống Pháp, nhà thờ họ Chế được mượn làm nơi mở lớp bình dân học vụ. Trong thời kỳ Đế quốc Mỹ đánh phá miền Bắc (l965 - 1968, 1972 - 1973), nhà thờ họ Chế là nơi cất giấu vũ khí của đơn vị bộ đội phòng không. Nhờ đó đã góp phần cùng với quân dân Nghệ An nói chung, Cửa Lò nói riêng đánh tan chiến dịch phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, dòng họ có 22 liệt sĩ(25), 03 Bà mẹ Việt Nam anh hùng(26), 04 người được phong hàm Đại tá.

Con cháu họ Chế còn là cán bộ lãnh đạo địa phương trong các thời kỳ, tiêu biểu như: Ông Chế Đình Thiệng được bầu làm Bí thư Chi bộ đầu tiên của xã Nghi Thu, có công xây dựng được nhiều cán bộ cốt cán, đảng viên vùng giáo, được đồng bào lương giáo trân trọng quý mến. Các ông Chế Đình Nhường, Chế Đình Trinh, Chế Đình Điển, Chế Đình Hiệp làm Chủ tịch, Bí thư Đảng bộ xã nhiều năm liền từ thời kỳ đầu thành lập xã Nghi Thu đến ngày nay. Ông Chế Đình Trinh là cán bộ của Ban nông nghiệp trung ương, sau về công tác tại huyện Nghi Lộc. Ông Chế Đình Hồng làm thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư huyện ủy Kỳ Sơn. Ông Chế Đình Phượng làm Phó Bí thư Thường trực, Chủ tịch HĐND thị xã Cửa Lò.  

Hiện nay, dòng họ có 02 Phó Giáo sư (PGS.TS Chế Đình Hoàng - Phó Hiệu trưởng trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội; PGS.TS Chế Đình Lý - Trưởng khoa trường Đại học Bách Khoa TP HCM) và hàng chục thạc sĩ, cử nhân; có gia đình cả ba thế hệ đều có người tốt nghiệp đại học, tiêu biểu như gia đình ông Chế Đình Huyền có 30 con cháu, chắt tốt nghiệp đại học, trong đó có 01 Phó Giáo sư, Tiến sĩ.    

Họ Chế đã nhiều lần được các cấp chính quyền tặng giấy khen, bằng khen như: UBND phường Nghi Thu tặng giấy khen là dòng họ "đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập năm 2010" tại Quyết định số 40/QĐ-UBND ngày 06/12/2010; UBND thị xã Cửa Lò tặng giấy khen là dòng họ "đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua xây dựng gia đình hiếu học, dòng họ hiếu học, cộng đồng khuyến học giai đoạn 2007 - 2012" tại Quyết định số 1373/QĐ-UBND ngày 19/6/2012; UBND tỉnh Nghệ An tặng bằng khen là dòng họ "đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua xây dựng và phát triển dòng họ hiếu học trên địa bàn tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2007 - 2012" tại Quyết định số 4278/QĐ-UBND.TĐ ngày 22/11/2012. 

Ngoài ra, họ Chế còn là dòng họ có phong trào an ninh tốt, chăm lo xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc, xây dựng dòng họ văn hóa, không có ai sa vào các tệ nạn xã hội. Con em trong họ đoàn kết, giúp đỡ nhau trong sản xuất, kinh doanh, có người là doanh nhân thành đạt, tiêu biểu như: ông Chế Minh Chương - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Thiết bị áp lực Đông Anh, Hà Nội được vào danh sách top 100 doanh nghiệp tiêu biểu của Việt Nam; ông Chế Đình Tương - Phó Tổng giám đốc tập đoàn Hà Đô...

Với những thành tích đã đạt được, dòng họ Chế vinh dự được UBND thị xã Cửa Lò công nhận là dòng họ văn hóa tại Quyết định số 3952/QĐ-UBND ngày 13/12/2018. Đồng thời, nhà thờ họ Chế là nơi bảo tồn và phát huy những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ đã được UBND tỉnh Nghệ An xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh tại Quyết định số 5860/QĐ.UBND ngày 28/12/2018. 

Việc tìm hiểu về lịch sử của họ Chế giúp chúng ta hiểu hơn về truyền thống tốt đẹp của một dòng họ kiên cường. Với tinh thần "bất vong bản" (không quên gốc), con cháu họ Chế luôn tự hào mình là dòng dõi của vương quốc Chiêm Thành. Mặc dầu trải qua hàng trăm năm với biết bao biến động của thời cuộc nhưng vượt lên trên tất cả là tinh thần tự lực, tự cường, tự tôn, vươn lên trong cuộc sống, con cháu họ Chế luôn sống hòa đồng, đoàn kết cùng với các họ tộc khác trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước.

Dòng họ Chế gốc Chiêm Thành còn góp phần làm nên sự đa dạng các tộc người ở Nghệ An. Quá trình sinh sống, giao lưu và tiếp biến văn hóa của họ với các dân tộc khác đã góp phần tạo nên sự phong phú cho văn hóa xứ Nghệ. Sự giao thoa văn hóa này đã để lại nhiều dấu tích trong các phong tục, tập quán, ngôn ngữ của địa phương. 

Có thể khẳng định rằng, người họ Chế nói riêng và người Việt gốc Chiêm Thành trên đất Nghệ An nói chung không phải hoàn toàn là tù binh như định kiến của nhiều người thường hiểu. Dù nguồn gốc xuất phát như thế nào đi chăng nữa thì ngày nay, những cư dân Việt gốc Chiêm Thành đã thực sự trở thành những công dân của Việt Nam, cùng hòa nhịp vào dòng chảy của lịch sử Việt Nam, có nhiều cống hiến cho dân tộc Việt Nam. Ngày nay, con cháu họ Chế làng Thu Lũng đã tỏa đi khắp mọi miền đất nước và luôn tự hào "tôi là người họ Chế". Dù sống ở đâu, công tác trên lĩnh vực nào những người con họ Chế vẫn luôn nhớ về nguồn cội của mình và luôn phấn đấu là những công dân tốt của nước Việt Nam.

 

 

Chú thích

1. Thời kỳ này toàn bộ Bắc bộ và Bắc Trung bộ của Việt Nam đang chịu sự đô hộ của nhà Hán.

2. Hippolyte Le Breto, (2005), An Tĩnh cổ lục, Nxb Văn hóa Thông tin - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, trang 191, 192.

3. Theo Tục An Tĩnh cổ lục, tlđd, trang 192, 195: đu tiên ở Hoành Sơn, một số pho tượng ở chùa Nam Sơn (chùa Làng Ngang) ở Hoành Sơn có phong cách Chăm Pa đều là những dấu tích của Chiêm Thành. 

4. Quốc sử quán triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, (2004), Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích, GS Hà Văn Tấn hiệu đính, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, trang 193.  

5. Chế Mã Nô hay Chế Ma Nô Đà Nan cũng đều là một người, đây là do cách phiên âm từ tiếng Chăm sang âm Hán Việt.

6. Chỗ này chắc có sự nhầm lẫn của người dịch từ bản tiếng Pháp sang tiếng Việt, vì hai người này được ban tước Hầu chứ không phải vua chư hầu.

7.10.11. An Tĩnh cổ lục, sđd, trang 41, 255.

8. Hồng đồ nghĩa là cơ nghiệp to lớn, dùng để chỉ cơ đồ của vương triều. Vì thế trong sắc phong thần của triều đình (thời Hậu Lê và Tây Sơn) thường viết "Hoàng gia kỳ thừa phi tự, hồng đồ củng cố" (Hoàng gia nối tiếp đại thống, cơ đồ to lớn được củng cố). Nước xưa tức nước Chiêm Thành nơi phát tích của dòng họ.

9. Người cướp ngôi đây chính là La Ngai - một vị tướng của Chế Bồng Nga.

12. Thám hoa Nguyễn Đức Đạt là người đã nhuận sắc văn bia "Quan Chánh ty Trung Tín hiệu úy", nói về công đức của ông Chế Đình Thông và lịch sử dòng họ Chế tại làng Thu Lũng.  

13. Theo văn bia lưu tại nhà thờ họ Chế. Những sách này do ông Chế Đình Thông lưu giữ lại cho con cháu.

14. 24. Lịch sử Đảng bộ xã Nghi Thu, tlđd, trang 9, 17.

15. Sau Đồng Sô đổi thành làng Phú Ích (nay là xã Nghi Thạch), Bàu Ó đổi thành làng Kim Ổ (nay thuộc phường Nghi Hương), thị xã Cửa Lò.

16. Theo gia phả họ Nguyễn Đình (Nghi Hợp, Nghi Lộc) và sách An Tĩnh cổ lục, những người gốc Chiêm Thành đó là Chế Lâu, Chế Hiệp, Chế Đá.

17. Làng Thu Lũng xưa có tên là Bàu Lối (hiện vẫn còn đền Bàu Lối - đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh).

18. Văn bia này do Thám hoa Nguyễn Huy Oánh soạn, nội dung nói về việc làng Thu Lũng bầu ông Hoàng Khắc Dòng và vợ là Phạm Thị Lềnh làm Hậu thần của làng Thu Lũng. Hiện nay, tấm bia này còn lưu giữ tại đền Bàu Lối, phường Nghi Thu (cách nhà thờ họ Chế 500m).  

19. Gồm: Chế Đình Phi, Chế Đình Đốc, Chế Đình Thi, Chế Đình Viễn, Chế Đình Dư họ đều là quan viên chức dịch của làng Thu Lũng khi đó. 

20. Ông Chế Đình Khuê là cha của ông Chế Đình Thông. 

21. Hiện nay, chưa rõ nguyên nhân vì sao ông Chế Đình Khuê lại đổi họ thành Nguyễn Đình Khuê. Theo các cụ cao niên kể lại, lúc này do ông Chế Đình Khê làm quan cho triều đình nên buộc phải đổi thành Nguyễn Đình Khuê để thuận lợi trong công việc, tránh sự chèn ép, phân biệt nguồn gốc.   

22. Nếu lấy mốc 1390 đến nay là năm 2018 thì đã trải qua 628 năm. 

23. Đảng ủy, HĐND, UBND, UBMT TQ xã Nghi Thu, (2005), Lịch sử Đảng bộ xã Nghi Thu, Nxb Nghệ An, trang 16.

25. Theo thống kê của dòng họ. 

26. Gồm mẹ Phùng Thị Sửu, mẹ Nguyễn Thị Châu, mẹ Nguyễn Thị Lan.

 

Hoàng Thị Khánh

Trong gần 5 thế kỷ (XVI - XX), Huế từng là thủ phủ của các đời chúa Nguyễn, là Đế đô của nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn. Tuy nhiên, quần thể kiến trúc cố đô Huế như chúng ta thấy ngày nay chủ yếu được kiến thiết dưới triều Nguyễn. Khi nói đến Cố đô Huế, ai cũng nghĩ ngay đến những thành cao hào sâu, cung điện vàng son, lâu đài tráng lệ, lăng tẩm thâm nghiêm… Đây là nơi lưu giữ những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn người Việt. Để xây dựng nên trung tâm đầu não của đất nước, biết bao tinh hoa trí tuệ, bao nhiêu người thợ khéo tay của các vùng miền được chắt lọc hội tụ về đây. Trong số những bàn tay, khối óc góp phần xây dựng kinh đô Huế có một người con họ Chế ở làng Thu Lũng, xã Hiếu Hạp, tổng Thượng Xá, huyện Nghi Lộc (nay là phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò), đó là quan Chánh ty Chế Đình Thông.    

Theo các tài liệu còn lưu tại di tích nhà thờ họ Chế như gia phả, văn bia, bằng cấp, sắc phong... cho biết ông Chế Đình Thông còn gọi là Nguyễn Đình Thông, hiệu là Thu Giang Y Ông, sinh ngày 14 tháng 10 năm Bính Thìn (1796). Ông là con trai trưởng của Cai hợp(1) Chế Đình Khuê (còn gọi là Nguyễn Đình Khuê) và bà Phạm Thị Bằng.

Những cống hiến cho quê hương

Ông Chế Đình Thông sinh ra trong một gia đình tương đối khá giả nên từ nhỏ đã được cha mẹ cho ăn học tới nơi, tới chốn. Lớn lên, ông tinh thông cả Nho, Y, Lý, Số,"là người khảng khái, hay làm việc nghĩa mà ít có chuyện vặt. Nghiệp bút nghiên theo đòi từ nhỏ, nghề chữa bệnh thì miệng nói lời đạo Nho mà lòng thì thông làu y học"(2). Ông là người có uy tín, được nhân dân kính trọng nên "làng xóm suy tôn là đầu mục của dân"(3), trong suốt hơn hai mươi năm (từ năm 1821 đến 1843)(4). Trong suốt thời gian này, ông đã có nhiều cống hiến cho quê hương như: "lập Văn hội, [đốc thúc] dân chúng chọn lựa vật liệu để xây dựng Văn chỉ"(5). Những đền, chùa, miếu mạo trong làng bị hư hỏng, ông đều cho tu bổ, sửa sang, mua sắm các đồ tế khí... Năm 1831, niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 12, nhà nước có đợt sửa đổi địa bạ, ông đã biên chép sổ sách, lập lại địa bạ, quy hoạch đất đai của làng nên mọi việc đồng điền công tư, số sào mẫu, đất hoang hóa, đất thổ cư, đất chùa miếu…"đều được rõ ràng rành mạch"(6), không có sự tranh chấp hay khiếu kiện. Ông còn là người có công làm đơn kê khai và tâu xin triều đình ban cấp sắc phong thần cho các vị thần trong làng và bỏ công sức, tiền của để đốc suất dân chúng xây dựng đình làng để thờ cúng.    

Trong thời gian làm Đầu mục của dân ở quê hương Thu Lũng, ông luôn là người mẫn cán, cương trực, công tư phân minh. Những cống hiến của ông đối với quê hương đã góp phần làm nên một làng Thu Lũng phồn thịnh trù phú nổi tiếng khắp vùng, nhân dân làng trên xóm dưới ai ai cũng đều được hưởng chung.  

Không chỉ có vậy, ông Chế Đình Thông còn là một người nghĩa hiệp, phóng khoáng, thích làm việc thiện, gặp ai có hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn ông đều ra tay cứu giúp "những năm mất mùa ông tổ chức quyên góp thóc lúa để cứu giúp xóm làng đang lúc đói kém (Kẻ thiếu thốn có chỗ nương dựa. Ông chọn người quản lý việc hoang thiếu, ban chức quan "Nghĩa lật"). Ông lại thường giúp đỡ người ta qua cơn hoạn nạn"(7)… Những người được ông giúp đỡ là bạn bè đồng liêu, văn nhân trí thức, họ hàng, làng xóm, thậm chí cả những người không quen biết nhưng ông vẫn sẵn sàng giúp đỡ họ với một tấm chân tình như người thân của mình(8). Với tính cách hào hiệp, phóng khoáng, ông là con người quảng giao, thường giao lưu văn thơ, kết thân với nhiều trí thức nổi tiếng như ông Tiến sĩ họ Hồ, hiệu Mã Phong; Lang trung Lê Lượng Bạt, Lang trung họ Phạm, Nam Sơn Thám hoa Nguyễn Đức Đạt, Ngự sử Nguyễn Năng Tĩnh, Hiệp biện Nguyễn Toản Phu, Cử nhân Nguyễn Hoằng, Cử nhân Lê Xuân Huyên, Hương cống Vương Tất Đăng… Vì thế tầng lớp văn sĩ trí thức đương thời"đều bày tỏ sự ngưỡng mộ, kính trọng"(9) đối với ông. 

Người góp phần xây dựng kinh đô Huế

Năm 1843, niên hiệu Thiệu Trị năm thứ 3, ông được tỉnh đường(10) cấp bằng Tượng mục sung vào quan xưởng(11). Ông được điều vào làm Tượng mục ở cục Cứ tượng thuộc bộ Công. Đây là công xưởng của triều đình chuyên cưa xẻ và chế tác các đồ gỗ để phục vụ các công trình xây dựng cung đình, đền đài, lăng tẩm của hoàng gia. Vì vậy, đây cũng là nơi tập trung những người thợ khéo tay, lành nghề ở khắp mọi miền đất nước. Nhờ có tay nghề cao, "tỏ tường kỹ nghệ"(12), học thức uyên bác nên chỉ sau một thời gian ngắn, ông đã được thăng chức. Ngày mồng 4 tháng 4 năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), theo đề xuất của bộ Công, ông được triều đình sắc phong Chánh cửu phẩm Tượng mục. Sắc phong như sau: 

敕鋸匠局給憑匠目阮廷通貫乂安省英山府真祿縣上舍總好合社秋隴村應務年深頗諳技藝茲工部聲請具題準爾補授伊局正玖品匠目率本局人等從該管員差派公務若所事弗虔有軍在欽哉

紹治肆年肆月初肆日

Phiên âm

Sắc Cứ tượng cục cấp bằng Tượng mục Nguyễn Đình Thông quán Nghệ An tỉnh Anh Sơn phủ Chân Lộc huyện Thượng Xá tổng Hiếu Hợp xã Thu Lũng thôn ứng vụ niên thâm, phả tường kĩ nghệ. Tư công bộ thanh thỉnh cụ đề chuẩn nhĩ bổ thụ y cục Chính cửu phẩm Tượng mục suất bản cục nhân đẳng tòng cai quản viên sai phái công vụ. Nhược sở sự phất kiền, hữu quân chính tại. Khâm tai!

Thiệu Trị tứ niên tứ nguyệt sơ tứ nhật.

Tạm dịch

Sắc cho Tượng mục Nguyễn Đình Thông ở cục Cứ tượng quê tại thôn Thu Lũng xã Hiếu Hợp tổng Thượng Xá huyện Chân Lộc phủ Anh Sơn tỉnh Nghệ An. Làm việc lâu năm, tỏ tường kỹ nghệ. Nay bộ Công bàn bạc xin đề chuẩn ngươi bổ nhận trật Chính cửu phẩm Tượng mục để đốc thúc mọi người trong cục theo cai quản viên vâng làm công vụ. Nếu công việc không siêng năng thì có phép quân tại đây. Kính thay!

Ngày mồng 4 tháng 4 năm Thiệu Trị thứ 4.

Sau khi được thăng chức, ông lại càng cần mẫn với công việc hơn nên đến năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), ông được bộ Công cấp bằng Quyền sai Phó ty tượng cai quản 1344 thợ người Nghệ An(13). Bằng cấp như sau:

工部為憑給事

玆據倉督工員稟稱屬工所之乂安省鋸匠局匠數壹千仨百肆拾肆名唱率頗有乏人仍察之該局正玖品匠目阮廷通頗屬敏幹稟請憑給該名為權差副司匠等語輒此合行憑給宜從管率官唱率匠數奉行公務若所事弗虔干咎不細須至憑給者

右憑給

鋸匠局權差副司匠阮廷通準此

紹治五年肆月貳拾陸日

Phiên âm:

Công bộ. Vi bằng cấp sự

Tư cứ Mộc thương đốc công viên bẩm xưng thuộc công sở chi Nghệ An tỉnh cứ tượng cục tượng sở nhất thiên tam bách tứ thập tứ danh, xướng suất phả hữu phạp nhân. Nhưng sát chi cai cục chính cửu phẩm Tượng mục Nguyễn Đình Thông phả thuộc mẫn cán. Bẩm thỉnh bằng cấp cai danh vi quyền sai phó ty tượng. Đẳng ngữ triếp thử hợp hành, bằng cấp nghi tòng quản suất quan xướng suất tượng sổ phụng hành công vụ. Nhược sở sự phất kiền can cữu bất tế. Tu chí bằng cấp giả.

Hữu bằng cấp.

Cứ tượng cục quyền sai phó ty tượng Nguyễn Đình Thông cứ thử.

Thiệu Trị ngũ niên tứ nguyệt nhị thập lục nhật.

Tạm dịch:

Bộ công

Về việc cấp bằng

Nay căn cứ vào viên đốc công ở kho gỗ bẩm việc số thợ người Nghệ An ở cục cưa xẻ thuộc bộ Công gồm 1344 người, việc quản lý đang thiếu người. Bèn xét Chính cửu phẩm Tượng mục Nguyễn Đình Thông ở cục này là người mẫn cán. Bẩm xin cấp bằng cho người này làm quyền sai phó ty tượng. Mọi việc đều hợp lý, bằng cấp để theo quan Quản suất đôn đốc thợ vâng làm việc công. Nếu mọi việc trễ nải thì can tội không nhỏ. Cho nên cấp bằng này.

Trên đây là bằng cấp.

Cục cứ tượng quyền sai Phó ty tượng Nguyễn Đình Thông căn cứ vào đây.

Ngày 26 tháng 4 năm Thiệu Trị thứ 5.  

Đến năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), số thợ của cục Cứ tượng tăng lên 1386 người(14), công việc quản lý lại thêm vất vả hơn, nhưng ông Chế Đình Thông vẫn điều hành tốt công việc ở ty. Năm năm sau, tức năm 1850, ông được sắc phong chức Phó ty tượng, trật Tòng bát phẩm(15).

敕鋸匠局試差副司匠阮廷通玆期滿經工部覆奏準爾補授該匠局從八品副司匠率本局人等從該管員差派公務若所事弗虔有軍政在欽哉

嗣德叁年陸月拾玖日

Phiên âm:

Sắc Cứ tượng cục Thí sai Phó ty tượng Nguyễn Đình Thông tư kỳ mãn kinh Công bộ phúc tấu chuẩn nhĩ bổ thụ cai tượng cục Tòng bát phẩm Phó ty tượng suất bản cục nhân đẳng tòng cai quản viên sai phái công vụ. Nhược sở sự phất kiền hữu quân chính tại. Khâm tai!

Tự Đức tam niên lục nguyệt thập cửu nhật.

Tạm dịch:

Sắc cho Thí sai Phó ty tượng ở cục Cứ tượng là Nguyễn Đình Thông. Nay đã mãn hạn, bộ Công phúc tấu chuẩn ngươi bổ nhận chức Phó ty tượng, trật Tòng bát phẩm ở cục đó để đốc thúc mọi người trong cục theo cai quản viên làm các việc công vụ. Nếu mọi việc không siêng năng thì có phép quân ở đây. Kính thay!

Ngày 19 tháng 6 năm Tự Đức thứ 3.

Và chỉ 10 ngày sau khi chính thức được bổ nhiệm chức Phó ty tượng, bộ Công xét thấy ông là người nhiều kinh nghiệm, "theo việc đã lâu, tỏ tường kĩ nghệ nên xin cho được thăng chức bổ chức… Thí sai Chánh ty tượng"(16).

工部為憑給事

玆本部摺將屬木倉督工所之鋸匠局試差副司阮廷通從事日久技藝諳詳請將該員陞補該局副司匠再試差正司匠等因奉旨依奏欽此輒此合行憑給宜唱率內局匠數人等從該管官員差派諸公務若所事弗虔干咎不細須至憑給者

右憑給

鋸匠局試差正司匠阮廷通據此

嗣德叁年柒月初柒日

Phiên âm

Công bộ. Vi bằng cấp sự.

Tư bản bộ tập tương thuộc mộc thương đốc công sở chi Cứ tượng cục thí sai ti Nguyễn Đình Thông tòng sự nhật cửu, kĩ nghệ am tường. Thỉnh tương cai viên thăng bổ cai cục Phó ti tượng, tái thí sai Chính ty tượng. Đẳng nhân phụng chỉ y tấu khâm thử. Triếp thử hợp hành bằng cấp. Nghi xướng suất nội cục tượng sổ nhân đẳng tòng cai quản quan viên sai phái chư công vụ. Nhược sở sự phất kiền can cữu bất tế. Tu chí cấp bằng giả.

Hữu bằng cấp. Cứ tượng cục thí sai Chánh ty tượng Nguyễn Đình Thông cứ thử.

Tự Đức tam niên thất nguyệt sơ thất nhật.

Tạm dịch

Bộ Công. Về việc cấp bằng.

Nay bản bộ xét thấy cục thợ cưa của sở quản công thuộc kho gỗ có Thí sai Phó ty là Nguyễn Đình Thông theo việc đã lâu, tỏ tường kĩ nghệ. Nên xin cho người này được thăng chức bổ chức Phó ty tượng ở cục này, lại cho làm Thí sai Chính ty tượng, vâng chỉ theo tấu. Xét thấy mọi thứ đều hợp lý. Bằng cấp cho để đốc suất mọi người trong cục theo quan cai quản làm mọi việc công. Nếu công việc không siêng năng thì giống như phạm tội lớn. Cho nên cấp bằng này.

Trên đây là bằng cấp.

Quan Thí sai Chánh ty tượng ở cục Cứ tượng là Nguyễn Đình Thông căn cứ theo bằng cấp này (mà làm việc).

Ngày mồng 1 tháng 7 niên hiệu Tự Đức thứ 3 (1850).

Đến năm 1853, niên hiệu Tự Đức thứ 6, ông được sắc phong bổ thụ chức Chánh ty tượng ở cục Cứ tượng, hàm Chánh bát phẩm. Sắc phong như sau:

敕鋸匠局試差正司匠阮廷通應務年深諳詳技藝玆工部聲請具題準爾補授伊局正八品正司匠率內局員等從該管員差派公務若事弗虔有軍政在. 欽哉

嗣德陸年捌月貳拾日

Phiên âm:

Sắc Cứ tượng cục Thí sai Chánh ty tượng Nguyễn Đình Thông ứng vị niên thâm am tường kỹ nghệ. Tư Công bộ thanh thỉnh cụ đề chuẩn nhĩ bổ thụ y cục Chánh bát phẩm Chánh ty tượng suất nội cục viên đẳng tòng cai quản viên sai phái công vụ. Nhược sở sự phất kiền, hữu quân chính tại. Khâm tai!

Tự Đức lục niên bát nguyệt nhị thập nhật.

Tạm dịch

Sắc cho Thí sai Chánh ty tượng ở cục Cứ tượng là Nguyễn Đình Thông theo việc đã lâu, tỏ tường kĩ nghệ. Nay bộ Công đề bạt chuẩn ngươi nhận trật Chánh bát phẩm và chức Chánh ty tượng ở cục đó để đốc suất mọi người trong cục theo cai quản viên làm mọi việc công vụ. Nếu mọi việc không siêng năng thì đã có phép quân ở đây. Kính thay!

Ngày 20 tháng 8 năm Tự Đức thứ 6.

 Không phụ sự ủy thác của triều đình, trong suốt thời gian làm việc tại cục Cứ tượng, ông luôn là người chu toàn trong mọi việc, quán xuyến sát sao, chỉ bảo cấp dưới hết sức tận tình. Vì thế mọi việc trong Cục đều trôi chảy, "trong cục không hề có phiền nhiễu gì mà sự lẽ và lòng người đều tin tưởng. Quan trưởng bộ…. đề nghị xin [cho ông] 3 đạo sắc văn…"(17). Không những được quan trên tín nhiệm mà ông còn được anh em trong Cục hết lời ca ngợi:"Ông xử sự trong sáng thanh cao. Với người khác thì luôn tràn đầy thiện ý, việc công bận rộn thì tự thân gánh vác. Nếu không đến chốn thì chỉ bảo rõ ràng, những chỗ chưa được thì đưa vào nề nếp mà uốn nắn. Cho nên ai nấy đều giữ được mình mà không phạm vào lầm lỗi, ấy là ơn của ông vậy"(18). Cục Cứ tượng là cơ quan phụ trách việc chế tác phần mộc để xây dựng các công trình của triều đình, vì vậy yêu cầu về kỹ thuật phải cao cũng như mỹ thuật phải tinh xảo, điêu luyện. Nhiều khi những công trình có độ khó cao lại làm gấp rút nhưng vẫn phải đảm bảo hoàn thành đúng kế hoạch như công trình xây dựng lăng vua Thiệu Trị từ khi khởi công đến khi hoàn thành chỉ chưa đầy 10 tháng nên đòi hỏi những thợ làm việc tại đây phải "phu dịch" cật lực. Hiểu được điều này, ông luôn giữ mình liêm khiết, không bao giờ hạch sách cấp dưới. Ông còn bàn bạc với các quan trong Cục tìm nhiều giải pháp để khoan thư sức người nhưng vẫn đảm bảo tiến độ của công trình, đồng thời làm văn bản xin với cấp trên nới giảm các việc phu dịch cho dân trong Cục. Văn bia đã nói rõ việc này như sau "Dân trong cục khổ sở vì phu dịch ông liền bàn bạc với Hiệp biện Nguyễn Toản Phu giữ tiết và quán xuyến mọi việc, lại thêm văn bản xin được nới giảm cho dân"(19).

Sau hơn 10 năm miệt mài cống hiến cho triều đình với nhiều công trình đền đài, lăng tẩm có sự góp sức từ bàn tay và khối óc của ông, cuối năm 1853 (khi đó, ông 58 tuổi), ông xin cáo lão về hưu(20)."Các quan trưởng bộ thấy ông là người tài giỏi nên muốn giữ ông lại làm quan"(21) nhưng do tuổi cao sức yếu nên ông đã khước từ.

Ông mất vào giờ Mùi ngày mồng 5 tháng 12 năm Tân Dậu (1861), hưởng thọ 66 tuổi. Sau khi mất, ông được triều đình ban thụy hàm là Sắc thụ Trung Tín hiệu uý và thụy hiệu là Dũng Kiên(22). Con cháu, chức sắc và nhân dân trong vùng vô cùng thương tiếc ông. Để tỏ lòng ngưỡng mộ, kính trọng đối với ông, nhân dân địa phương và chức sắc trong vùng đã tổ chức đám tang của ông thật chu đáo và trọng thể từ việc chọn đất phong thủy tốt để đặt huyệt mộ, đề chủ(23), làm trướng viếng, dựng nhà trạm đồ trung(24), viếng mộ: "xem đất là quan Ngự sử, Đề chủ là quan Giáo thụ, Văn thân Vũ biện đến viếng thiếp rất nhiều, Văn hội của làng thì viếng trướng, Cục dân thì kính cẩn đặt Tổ đạo, xã dân thì viếng ở mộ, huyện viếng thiếp"(25). Có thể nói đây là đám tang lớn nhất làng Thu Lũng thời bấy giờ. Không chỉ có vậy, sau khi ông qua đời được mấy tháng thì quan Bang biện tỉnh Nghệ An, thăng Bố chánh tỉnh Thanh Hóa, Gia nghị đại phu Lê Lượng Bạt đã soạn bài văn bia ghi lại sự nghiệp và ca ngợi công lao của ông. Đặc biệt bài văn bia này còn được Thám hoa Nguyễn Đức Đạt nhuận sắc. Đây đều là những bậc đại Nho khoa bảng, đức cao vọng trọng của tỉnh Nghệ An thời bấy giờ. Điều đó càng chứng tỏ tài năng và đức độ của ông được người đương thời rất nể phục và mến mộ.  

Tìm hiểu về công lao và sự nghiệp của ông Chế Đình Thông giúp chúng ta hiểu hơn về lịch sử đất nước thời kỳ đầu nhà Nguyễn. Những đóng góp của ông đối với quê hương góp phần củng cố lại làng xóm sau bao nhiêu năm tiêu điều của giai đoạn cuối Lê - Tây Sơn - nhà Nguyễn. Đối với vương triều, ông có nhiều cống hiến trong việc xây dựng các công trình kiến trúc của nhà nước, đặc biệt là các lăng tẩm, đền đài, cung điện... ở kinh đô. Những công trình đó không chỉ có giá trị về mặt văn hóa, nghệ thuật mà còn có giá trị về kinh tế, là chứng tích lịch sử của một thời vàng son. Hiện nay, quần thể cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là di sản của thế giới. Để ngày nay chúng ta có một công trình kỳ vĩ, một di sản vô giá là cả một quá trình lâu dài với bao bàn tay tài hoa và trí tuệ uyên thâm của những con người như ông Chế Đình Thông.

Chú thích

1. Cai hợp là chức quan trong các phiên ở phủ chúa Trịnh.

2. Văn bia lưu tại nhà thờ họ Chế, do Trung Thuận đại phu Thái thường tự khanh, Bang biện tỉnh Nghệ An thăng Bố chính tỉnh Thanh Hóa, Gia Nghị đại phu Lê Lượng Bạt soạn văn và Đệ nhất giáp Thám hoa khoa Canh Sửu, Triều Liệt đại phu.        

3.5.6.7.8.9.11.17.18.19.20.21.25. Văn bia lưu tại di tích, tlđd. 

4.Văn bia lưu tại di tích, tlđd. Các mốc thời gian được bổ nhiệm của ông đều ghi cụ thể trong văn bia.

10. Tỉnh đường tức quan tỉnh.

12. Sắc phong ngày mồng 4 tháng 4 năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) lưu tại di tích.

13. Sắc phong ngày 26 tháng 4 năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) lưu tại di tích.

14. Bằng cấp ngày 22/7 năm Thiệu Trị thứ 6 cho ông Võ Đức Huệ, trong đó ghi rõ cục Cứ tượng vào thời điểm đó có 1386 người và ông Nguyễn/Chế Đình Thông làm Phó Ty tượng. Hiện tài liệu này lưu tại nhà thờ họ Võ, xã Nghi Khánh, huyện Nghi Lộc.  

15. Sắc phong ngày 19 tháng 6 năm Tự Đức thứ 3 (1850) lưu tại di tích.

16. Bằng cấp Ngày mồng 1 tháng 7 niên hiệu Tự Đức thứ 3 (1850) lưu tại di tích.

22. Bài vị và văn bia lưu tại di tích, tlđd.

23. Đề chủ: nghi thức điểm bút vào thần chủ của người quá cố sau khi an táng xong. Việc đề chủ thường mời người đức cao vọng trọng, có địa vị trong xã hội thực hiện.

24. Nhà trạm đồ trung: nhà rạp dựng tạm trên đường đi an táng để đoàn đưa tang dừng lại làm lễ tế người quá cố (gọi là "tế Đồ trung" nghĩa là tế giữa đường) và những người đi đưa tang nghỉ chân.

 

Chế Đình Phượng

Họ Chế ở phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò là một dòng họ có truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng. Nhiều người con họ Chế đã hi sinh xương máu cho đất nước hòa bình. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, dòng họ có 22 liệt sĩ(1), 03 Bà mẹ Việt Nam anh hùng(2), 04 người được phong hàm Đại tá. Nhiều gia đình con cháu họ Chế là cơ sở cách mạng được nhà nước tặng bằng có công với nước, huân huy chương kháng chiến. Trong số đó, phải kể đến những người "đi đầu dậy trước" làm nòng cốt cho các thế hệ sau tiếp nối, tiêu biểu như sau:

1. Chế Đình Bành

Theo gia phả dòng họ và hồ sơ mật thám số A.19048 của Nha Mật Thám Đông Dương hiện đang lưu giữ tại Cục hồ sơ nghiệp vụ, Bộ Công an cho biết ông Chế Đình Bành (còn gọi là Nguyễn Chế Bành) sinh năm 1895 tại làng Thu Lũng, tổng Thượng Xá (nay là phường Nghi Thu, Thị xã Cửa Lò) trong một gia đình nông dân nghèo. Cha là Chế Đình Pháp (còn gọi là Phiệt) một nhà nho từng hoạt động trong phong trào văn thân chống Pháp, mẹ là bà Hoàng Thị Thực. Mặc dầu gia đình nghèo khó nhưng từ nhỏ, ông đã được cha mẹ cho ăn học đầy đủ. Trong ông luôn sục sôi lòng căm thù giặc. Khi ông lớn lên thì cũng chính là lúc phong trào cách mạng trong nước có nhiều chuyển biến tích cực. 

Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và phát triển cơ sở trong cả nước. Nghệ An và các tỉnh Trung kỳ là vùng có nhiều cơ sở đảng nhất. Đầu năm 1930, Đảng bộ huyện Nghi Lộc được thành lập do đồng chí Hoàng Văn Tâm là Bí thư, đây là một trong những đảng bộ được thành lập sớm ở tỉnh Nghệ An.  

Khoảng giữa năm 1930, chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam làng Thu Lũng được thành lập gồm 5 đồng chí thì trong đó có ba đồng chí là người họ Chế (Chế Đình Nhiếp, Chế Đình Trượng, Chế Đình Điếng). Dựa vào mối quan hệ họ hàng, các đồng chí này đã vận động nhiều người trong họ Chế cùng tham gia hoạt động cách mạng như ông Chế Đình Bành, Chế Đình Ban, Chế Đình Dao, Chế Đình Huyến, Chế Đình Quát… Chi bộ đã chỉ đạo các đồng chí "đi vào các xóm lựa chọn những quần chúng tích cực lập ra tổ chức "Nông hội đỏ" và "Tự vệ đỏ" làm nòng cốt đấu tranh của cách mạng. Các tổ chức này được phát triển rất nhanh. Nông hội đỏ có 10 tổ ở các xóm với 150 hội viên và một đội tự vệ đỏ gồm 18 hội viên do đồng chí Chế Đình Bành làm đội trưởng"(3). Với vai trò là đội trưởng của đội Tự vệ đỏ, ông Chế Đình Bành đã chỉ huy các đội viên thực hiện nhiều nhiệm vụ mà chi bộ giao phó như: bảo vệ các cuộc hội họp bí mật, "dằn mặt" các thành phần gian ác, treo cờ đỏ búa liềm, rải truyền đơn hiệu triệu và vận động quần chúng tham gia cuộc biểu tình của toàn huyện kéo lên huyện đường Nghi Lộc vào ngày 02 tháng 6 năm 1930(4), bảo vệ quần chúng đi biểu tình ngày 29/8/1930 tại Cồn Má Nường, làng Kỳ Trân (xã Nghi Trường)(5) và cuộc biểu tình ngày 28/9/1930 của nhân dân ba tổng Thượng Xá, Đặng Xá, Kim Nguyên tại làng Long Trảo (xã Nghi Khánh)(6). Được sự chỉ đạo của Huyện ủy Nghi Lộc, đội Tự vệ đỏ làng Thu Lũng còn "đến hỗ trợ các làng thị uy, trừng trị những tên hào lý, mật thám làm tay sai cho chính quyền thực dân, phong kiến đàn áp cách mạng"(7). Trong lúc hoạt động, ông Chế Đình Bành nổi tiếng là một đội trưởng gan dạ, dũng cảm, lắm cơ mưu.  

Nhờ sự hoạt động tích cực, tinh thần đấu tranh triệt để nên ông đã "được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1931 với tư cách là đảng viên một Thôn Bộ"(8). Sau khi được đứng vào hàng ngũ của đảng, ông lại càng phấn đấu hơn trong công tác, đây cũng chính là thời kỳ đỉnh cao của cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Ông Chế Đình Bành là "một cán bộ hoạt động tích cực của làng Thu Lũng trong cao trào cách mạng 1930 - 1931"(9).       

"Cuối năm 1931, tổ chức Đảng và cơ sở cách mạng vùng Vinh - Bến Thủy - Cửa Hội bị địch phá vỡ. Nhiều cán bộ lãnh đạo của Thành ủy Vinh, huyện ủy Nghi Lộc và xứ ủy Trung kỳ bị sa lưới địch"(10). Trong một chuyến đi công tác, ông đã bị bọn mật thám theo dõi và bắt vào ngày 29/10/1931 tại Nghi Lộc(11). Sau đó địch giải ông Chế Đình Bành về nhà lao Vinh để giam giữ với số tù: 163(12). Ở trong nhà lao, chúng dùng mọi thủ đoạn để dụ dỗ, tra trấn đồng chí nhằm bắt ông khai các cơ sở cách mạng của ta nhưng ông vẫn một mực từ chối. Biết không thể khai thác được gì, đầu năm 1932, chúng đưa ông ra xét xử và kết án với mức án đề nghị là 11 tháng tù giam, 05 tháng quản thúc. Sau chúng thấy ông là thành phần sừng sỏ nên tăng "01 năm tù giam và 06 tháng quản thúc vì hoạt động cộng sản theo bản án số 44 ngày 09/01/1932 của Tòa án tỉnh Nghệ An"(13). Mức án này được Hội đồng Cơ Mật chuẩn y tại Quyết định số 639 ngày 24/5/1932 và Khâm sứ Trung kỳ chuẩn y tại Quyết định ngày 11/8/1932(14). Ở trong nhà tù, ông vận động anh em tù binh phải vững tin vào tương lai của cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống lại các phần tử chiêu hồi, phản cách mạng.   

Sang đầu năm 1933, sau khi mãn hạn tù, ông trở về quê ở làng Thu Lũng. Lúc này ông đang chịu án 06 tháng quản thúc, mặc dầu sống trong vòng kìm kẹp và hàng tháng phải đến trình diện với chính quyền tay sai nhưng ông đã tìm mọi cách bắt liên lạc với các cơ sở cách mạng để tiếp tục hoạt động "Từ sau khi được trả tự do, Chế Đình Bành đã nhiều lần liên tiếp thu hút sự chú ý của chính quyền chịu trách nhiệm quản thúc ông ta"(15). Ông đã tích cực hoạt động trong phong trào mặt trận dân chủ "nhiều lần lôi kéo những người hoạt động chính trị trong vùng"(16).

 Năm 1939, phong trào Mặt trận dân chủ ở Đông Dương đang trên đà phát triển và lên cao thì ở Pháp, Mặt trận bình dân bị lật đổ, Chính phủ mới lên nắm chính quyền bèn tiến hành nhiều chính sách phát xít. Cũng như ở chính quốc, mọi hoạt động dân chủ ở các nước thuộc địa đều bị chúng thẳng tay đàn áp. Trước tình hình đó, Đảng ta chủ trương lập "Mặt trận chống chiến tranh, chống phát xít" thay cho Mặt trận dân chủ. Lúc này, tại làng Thu Lũng, ông Chế Đình Bành là một trong những đảng viên chủ chốt, hoạt động tích cực nhất trong việc thành lập Mặt trận chống chiến tranh chống phát xít, vận động được nhiều quần chúng tham gia cách mạng. Hồ sơ mật thám ghi như sau: "Tháng 01/1939, ông đã tham gia tuyên truyền thành lập hội kín, thúc đẩy người nghèo chống lại chủ của họ và kêu gọi người dân chống lại chính quyền cấp cao, ông là người lôi kéo quần chúng hoạt động cộng sản trong vùng"(17).     

Để ngăn chặn sự nổi dậy của nhân dân Đông Dương khi chiến tranh xẩy ra, chính quyền thực dân Pháp càng khủng bố khốc liệt. Đến giữa năm 1941, các tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng nhiều nơi bị phá vỡ. Thực dân Pháp và tay sai ra sức lùng sục những người hoạt động cách mạng được cho là "phần tử nguy hiểm", trong đó có ông Chế Đình Bành "sự có mặt tại Nghệ An của Chế Đình Bành, người khiến cho hoạt động cộng sản trở nên quá hiệu quả và có tổ chức trong hoàn cảnh hiện nay, một người gây nguy hại cho nền an ninh quốc gia"(18). Hầu hết các đảng viên làng Thu Lũng đều bị chúng bắt và kết án tù từ một năm trở lên. Cũng trong thời gian này, ông Chế Đình Bành bị địch bắt lần hai, chúng đánh giá ông là thành phần "nguy hại" nên phải cách ly với các tù chính trị địa phương "việc đưa ông ta vào trại an trí là hết sức cần thiết"(19). Trại an trí là nơi giam giữ những người bị Pháp cho là gây nguy hiểm với chính quyền Pháp nhưng thiếu chứng cứ để kết án. Sau đó, ông "bị dẫn giải đến Trại an trí Lý Hy, Thừa Thiên ngày 28/9/1943 để giam giữ căn cứ theo Quyết định số 3044 ngày 08/9/1943 của Khâm sứ Trung kỳ"(20).       

Mặc dầu bị địch đưa vào trại an trí nhưng ông vẫn không chịu "ngồi yên ăn cơm tù". Càng bị tù đày thì tinh thần cách mạng lại càng cao, ông cùng với các bạn tù là những người cộng sản trung kiên đã biến nhà tù thực dân làm lớp học cách mạng, tôi luyện ý chí chiến đấu. Các đồng chí thường xuyên nghe ngóng tình hình bên ngoài, thành lập các tổ chức trong tù để động viên nhau vượt qua những khó khăn. Biết Chế Đình Bành là thành phần "cứng đầu khó cải tạo" nên sang năm 1944, địch lại chuyển ông sang trại an trí Phú Bài, Thừa Thiên Huế. Trong công hàm Số 1153 ngày 23 tháng 10 năm 1944 của Tòa Công sứ Vinh gửi Chánh Sở Cảnh sát Trung kỳ tại Huế viết như sau: "tôi đồng ý với ngài Tổng đốc An Tĩnh, tôi cho rằng đây không phải nơi để nêu lên những lý do như trong công hàm của Cảnh sát đặc biệt Vinh, được đưa ra sau khi bà Hoàng Thị Thân đề nghị trả tự do cho ông Chế Đình Bành, người đang bị giam giữ tại Trại an trí Phú Bài (trước đây là Lý Hy) bởi Quyết định số 3044 ngày 08/9/1943"(21). Ở trong trại an trí Phú Bài, ông lại bắt liên lạc với chiến sĩ cộng sản khác và càng hoạt động tích cực hơn, tham gia thành lập Ủy ban Việt Minh cứu quốc. Trong báo cáo ngày 26 tháng 01 năm 1945, của Mật thám Pháp cho biết "Chế Đình Bành số hồ sơ 19048" "trong khi bị giam giữ tại Phú Bài đã tham gia vào cuộc họp trong nhà tù nhằm mục đích thành lập ủy ban "Việt minh cứu quốc""(22).    

Ngày 9/3/1945, phát xít Nhật hất cẳng thực dân Pháp, chiếm độc quyền cai trị Đông Dương. Nhân lúc hỗn loạn, thay thầy đổi chủ, các cán bộ, đảng viên bị Pháp cầm tù ở các nhà lao chớp thời cơ nổi dậy đấu tranh đòi mở cửa nhà tù tự giải thoát. Tại trại an trí Phú Bài, nhờ sự lãnh đạo của Ủy ban Việt Minh cứu quốc, nhiều tù chính trị đã thoát được ra ngoài, trong đó có ông Chế Đình Bành. Ra tù, số cán bộ, đảng viên này tỏa về các địa phương, chắp nối liên lạc với các cơ sở cách mạng thời kỳ trước để hoạt động. Ông Chế Đình Bành cũng nhanh chóng trở về quê để hoạt động "Được các đồng chí Nguyễn Trường Bờn (ở Nghi Xá) và Lê Huy Trù (ở Nghi Long) là cán bộ lãnh đạo Việt Minh huyện Nghi Lộc bắt liên lạc và hướng dẫn, đồng chí Chế Đình Bành… vừa thoát tù về cùng với các đồng chí hoạt động trong các thời kỳ trước đứng ra tập hợp lực lượng thành lập tổ chức Việt Minh ở làng Thu Lũng để tổ chức và tuyên truyền vận động nhân dân "kháng Nhật cứu quốc" theo chỉ thị của Tổng bộ Việt Minh. Tổ chức Việt Minh đầu tiên của làng Thu Lũng gồm các đồng chí: Hoàng Khắc Hành (tức Tời), Chế Đình Bành (tức Nhâm), Hoàng Khắc Thước (tức Kháng), Lê Văn Chí (tức Sanh), Phùng Bá Nẫm, Chế Đình Viên"(23). Nhờ có chủ trương linh hoạt, phù hợp với tình hình này nên Việt Minh làng Thu Lũng đã nhanh chóng tập hợp lực lượng về mình, chuẩn bị cho công cuộc dành chính quyền. 

Ngày 25/8/1945, nhận được chỉ thị của Việt Minh huyện Nghi Lộc, Việt Minh làng Thu Lũng đã tổ chức, lãnh đạo nhân dân đi giành chính quyền ở huyện Nghi Lộc(24). "Sau khi giành thắng lợi ở huyện, Việt Minh làng thu Lũng vận động nhân dân mít tinh tại đình làng, cho Tự vệ đòi hào lý mang mộc triện và sổ sách ra giao nạp. Ủy ban lâm thời nhân dân cách mạng làng Thu Lũng được thành lập và ra mắt nhân dân, gồm 5 ủy viên: Hoàng Khắc Thước - Chủ tịch, Chế Đình Bành - Phó chủ tịch phụ trách Tư pháp, Chế Đình Chấn - Ủy viên phụ trách Quân sự, Lê Văn Chí - Ủy viên phụ trách Giáo dục, Phùng Bá Nẫm - Ủy viên phụ trách Tài chính"(25). Ủy ban lâm thời cách mạng làng Thu Lũng tiến hành tổ chức và lãnh đạo toàn dân thực hiện mọi chính sách, chủ trương mới của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam DCCH. Đây là một bước ngoặt lịch sử đối với đất nước nói chung, đối với nhân dân xã Nghi Thu nói riêng. Từ đây, nhân dân làng Thu Lũng cùng với nhân dân cả nước cởi được ách nô lệ thực dân và phong kiến. 

Sau khi kháng chiến chống Pháp nổ ra, ông tiếp tục tham gia kháng chiến và làm nhiều nhiệm vụ mà Đảng giao phó. Ông Chế Đình Bành là một tấm gương tiêu biểu cho tinh thần cách mạng triệt để, một người chiến sĩ cộng sản kiên trung của Đảng ta. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, bao nhiêu lần vào tù ra tội dưới chế độ thực dân phong kiến, ông cũng luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng. Bản thân ông đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp giải phóng quê hương, đất nước, là tấm gương cho các hậu thế noi theo.   

2. Chế Đình Quát

Căn cứ theo gia phả dòng họ và hồ sơ mật thám số A.11953 của Nha Mật Thám Đông Dương hiện đang lưu giữ tại Cục hồ sơ nghiệp vụ, Bộ Công an cho biết ông Chế Đình Quát sinh năm 1884 tại làng Thu Lũng, tổng Thượng Xá (nay là phường Nghi Thu, Thị xã Cửa Lò) trong một gia đình nông dân nghèo.      

Khoảng giữa năm 1930, chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam làng Thu Lũng được thành lập gồm 5 đồng chí. Được sự động viên, kèm cặp, dìu dắt của các đảng viên cốt cán là các anh, chú, bác trong họ nên ông Chế Đình Quát đã hăng hái hoạt động cách mạng. Ông là một trong những quần chúng ưu tú, tích cực nhất nên ngay trong năm 1930 ông đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây quả là một vinh dự to lớn, đánh dấu sự trưởng thành về nhận thức chính trị và sự ghi nhận của Đảng đối với ông. Được kết nạp vào Đảng, ông lại càng hoạt động mạnh mẽ, sôi nổi hơn, vận động quần chúng nhân dân làng Thu Lũng đi biểu tình góp phần cùng với các địa phương khác trong hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh làm cho chính quyền thực dân phong kiến chao đảo.    

"Những năm 1930 - 1931, để đàn áp và dập tắt cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, thực dân Pháp đã tung bọn mật thám lùng sục khắp nơi để bắt bớ, chém giết. Hàng trăm người tham gia đấu tranh đã bị bắt, giải về giam tại nhà lao Vinh"(26). Lúc này, tại làng Thu Lũng, thực dân Pháp đưa quân về đóng ở đình làng để lùng bắt cán bộ cách mạng. Hàng chục cán bộ và quần chúng cách mạng bị chúng bắt về giam và tra tấn tại đồn Thượng Xá và đồn Mai Lĩnh(27). Trong hoàn cảnh đó, ngày 13/10/1930, ông Chế Đình Quát bị địch bắt và xét thấy đây là thành phần đầu sỏ nguy hiểm nên chúng đưa ông về giam giữ tại nhà lao Vinh(28). Sau khi bị bắt, chúng đã dùng mọi cực hình để tra tấn nhưng ông vẫn một lòng trung kiên. Ngày 12 tháng 3 năm 1930, chúng đưa ông ra xét xử tại Tòa án tỉnh Nghệ An và kết án 01 năm tù giam và 01 năm quản thúc vì gia nhập Đảng Cộng sản theo Bản án số 169(29). Đến cuối năm 1931, mãn hạn tù về quê, mặc dầu đang bị 01 năm quản thúc nhưng ông vẫn tìm cách bắt liên lạc với các cơ sở cách mạng để tiếp tục hoạt động cho đến khi Cách mạng tháng Tám thành công và kháng chiến chống Pháp.

3. Ông Chế Đình Ban

Theo gia phả dòng họ và Hồ sơ mật thám số A.8239 của Nha Mật Thám Đông Dương hiện đang lưu trữ tại Cục hồ sơ nghiệp vụ, Bộ Công an, ông Chế Đình Ban (còn gọi là Nguyễn Chế Ban) sinh năm 1890 tại làng Thu Lũng, tổng Thượng Xá (nay là phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò), là con của ông Chế Đình Hành (Nguyễn Chế Hành).

Ông sinh ra trong một dòng họ có truyền thống yêu nước nên đã sớm có lòng căm thù giặc sâu sắc. Lớn lên, ông làm nghề cắt thuốc bắc chữa bệnh cứu người(30). Sau đó ông bị bắt sang Pháp đi lính hai lần, rồi được trở về nước vào tháng 8 năm 1927. Đến tháng 12 năm 1927, ông được triệu hồi về quân ngũ(31) thuộc số lính 84, đội viên đội Pháo binh đóng quân ở Đáp Cầu, Bắc Ninh(32). Đáp Cầu là một trong những trung tâm đô hội của tỉnh Bắc Ninh "là trung tâm thương mại người Âu châu của tỉnh, nhờ có mực nước sâu nên tàu thuyền buôn bán có thể ra vào. Giang cảng này có cả khách sạn hạng sang, có chi nhánh của hãng sửa chữa và đóng tàu SACRIC (Société anonymel de Chalandage et Remorquage de I'IndoChine)"(33). Đồng thời đây còn là khu vực có nhiều nhà máy, xí nghiệp nên số lượng công nhân nhiều, sống tập trung. Lúc này, phong trào cách mạng ở vùng Bắc Ninh phát triển rất mạnh, chỉ trong vòng 6 tháng cuối năm 1927, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã xuất hiện 6 chi hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trong đó có các cán bộ cốt cán như Ngô Gia Tự, Nguyễn Tuân, Nguyễn Hữu Căn, Nguyễn Quốc Uy và Dương Hạc Đính(34). Các chi hội Việt Nam Cách mạng thanh niên đã vận động quần chúng nhân dân đấu tranh chống Pháp dưới mọi hình thức, trong đó có việc vận động, lôi kéo lính khố xanh, lính khố đỏ trong các đồn binh của thực dân Pháp đi theo và ủng hộ cách mạng. Được sự giác ngộ của chi hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, ông Chế Đình Ban đã tích cực tham gia "phát tán truyền đơn chống Pháp"(35). Ông không chỉ rải truyền đơn kêu gọi nhân dân chống Pháp mà còn tuyên truyền, vận động anh em binh lính trong đội cùng ngầm giúp đỡ phong trào, tạo điều kiện thuận lợi cho các đồng chí của hội Việt Nam Cách mạng thanh niên hoạt động. Trong lúc công việc đang tiến triển tốt thì tháng 1 năm 1929, ông bị địch điều tra, theo dõi vì rải truyền đơn chống chính quyền Pháp(36). Tuy nhiên, ông vẫn một lòng trung thành với cách mạng, dù bị tra tấn dã man, ông cương quyết không khai báo các thông tin bí mật liên quan đến tổ chức. Sau một thời gian giam giữ và điều tra nhưng không thu được kết quả, đến ngày 05 tháng 5 năm 1929, ông được trả tự do(37). Sau đó, ông xin về quê tiếp tục hành nghề cắt thuốc và bí mật tham gia các phong trào cách mạng trong thời kỳ Xô viết Nghệ Tĩnh, Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp.

Ngoài ra còn có các ông Chế Đình Huyến và Chế Đình Dao tham gia vào cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1931. Sau đó, do sự khủng bố của địch, hai ông bị địch bắt và kết án phải đi phu dịch ở Sở Công chính tại Paksane, Lào đến năm 1937 mới được trả tự do(38). Hiện nay, hồ sơ mật thám của Nha Mật Thám Đông Dương số A.31005(39) và A.31008(40) đang lưu trữ tại Cục hồ sơ nghiệp vụ, Bộ Công an. 

Các đồng chí Chế Đình Bành, Chế Đình Quát, Chế Đình Ban, Chế Đình Huyến, Chế Đình Dao là những đảng viên ưu tú của đảng, hoạt động tích cực, góp phần xương máu vào cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh làm lay chuyển cả bộ máy chính quyền thực dân phong kiến. Mặc dầu các đồng chí bị địch bắt tù đày nhưng vẫn giữ lòng trung kiên với Đảng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của cách mạng. Đặc biệt đồng chí Chế Đình Bành là một chiến sĩ cộng sản xuất sắc, hoạt động liên tục qua nhiều thời kỳ: Xô viết Nghệ Tĩnh, Mặt trận dân chủ, Mặt trận chống chiến tranh chống phát xít, Mặt trận Việt Minh cứu quốc, tham gia lãnh đạo giành chính quyền ở huyện, ở xã, góp phần làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Những người cộng sản họ Chế đã biến xiềng xích thành vũ khí, nhà tù thành trường học. Đây quả là những tấm gương kiên trung với lý tưởng cách mạng, vì độc lập dân tộc, là niềm tự hào của con cháu dòng họ Chế, đáng để các thế hệ đảng viên sau này học tập noi theo.   

Nhân dân phường Nghi Thu nói chung, con em họ Chế nói riêng, tự hào về những người con kiên trinh, bất khuất quên mình vì độc lập tự do của dân tộc, nguyện sống, chiến đấu, lao động, học tập, công tác xứng đang với tiền nhân, vươn lên trên mọi lĩnh vực, phấn đấu xây dựng quê hương Nghi Thu - Thị xã Cửa Lò giàu mạnh, văn minh. Góp phần vào tiến trình đổi mới phát triển đi lên của đất nước Việt Nam.

Chú thích

1.Theo thống kê của dòng họ. 

2. Gồm mẹ Phùng Thị Sửu, mẹ Nguyễn Thị Châu, mẹ Nguyễn Thị Lan.

3.4.5.6.7.9.10.23.24.25.27, Lịch sử Đảng bộ xã Nghi Thu, tlđd, trang 18,19,20,21,27,28.

8. 11.12.13.14.15.16.17.18.19.20.21.22.28.29.30.31.32.35.36.37.38. Hồ sơ mật thám của Thực dân Pháp, lưu tại Cục hồ sơ nghiệp vụ, bộ Công an, nguyên văn bằng tiếng Pháp, bản dịch của bà Đào Thị Thu Trang - cán bộ Cục Hồ sơ nghiệp vụ.

26. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Nghệ An, Nhà lao Vinh, Nxb Nghệ An, 2005, trang 76.

33. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, đăng ngày 08/06/2017, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/tu-lieu-ve-dang/lich-su-dang.

34. https://dongchiemthoa.wordpress.com/2015/03/17/lich-su-dang-bo-bac-ninh-1926-2008/

39. Hồ sơ của ông Chế Đình Huyến.

40. Hồ sơ của ông Chế Đình Dao.

 

Nguyễn Khắc Thuần

Ngày 17/01/2019, Hội Sử học Việt Nam, Hội Kiều học Việt Nam. Hội đồng hương Cẩm Xuyên tại Hà Nội và gia đình, bạn bè, thân hữu đã trọng thể làm lễ tiễn đưa GS Bùi Thiết về cõi vĩnh hằng.

Nhân 49 ngày ông đi xa, Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An xin giới thiệu bài viết: "Bùi Thiết nhà nghiên cứu nặng lòng với văn hóa xứ Nghệ" như một lời tri ân, sự sẻ chia với gia đình Giáo sư - người cộng tác viên gần gũi của Chuyên san và bạn đọc Chuyên san.

*    *

*

Nhà nghiên cứu Bùi Thiết sinh ngày 07/01/1942 tại làng Thượng Đại, xã Vĩnh Lại nay là xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

Lên 6 tuổi ông đã được gia đình tạo điều kiện cho đi học tại trường làng. Năm 1954 hòa bình lập lại, ông hăng hái tham gia hoạt động đoàn thể, năm 1959 ông là Phó Bí thư đoàn xã Cẩm Vịnh. Là một cán bộ đoàn năng nổ, say sưa cống hiến, hoạt động đoàn thể có hiệu quả nên ông được chọn đi học trường Bổ túc văn hóa công nông Trung ương để đào tạo cán bộ. Năm 1962, tốt nghiệp hệ Phổ thông Bổ túc công nông, ông thi đậu Đại học Tổng hợp Hà Nội (khoa lịch sử). Năm 1965, ông tốt nghiệp Đại học chuyên ngành khảo cổ học và Hán tự, được phân công về công tác tại Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, công tác tại Thư viện Khoa học Trung ương sau đó chuyển sang công tác nghiên cứu tại Thư viện Khoa học Xã hội và Viện Thông tin Khoa học Xã hội Việt Nam. Trước ngày nghỉ hưu (năm 2002) ông là Thư ký khoa học, Phó trưởng ban Quản lý khoa học Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Bộ Văn hóa.

Bên cạnh những hoạt động công vụ của một cán bộ thư viện với niềm say mê lịch sử, văn hóa ông đã giành nhiều thời gian, tâm huyết cho việc nghiên cứu khoa học và ông đã sớm trở thành nghiên cứu viên chính, một chuyên gia nghiên cứu lịch sử, văn hóa với khối lượng công trình khá đồ sộ. Ông là tác giả của 60 đầu sách trong đó có 10 tập là chủ biên, 21 tập là đồng tác giả và 29 đầu sách là của riêng ông. Ông còn là tác giả của hơn 500 bài nghiên cứu đã đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, các kỷ yếu hội thảo khoa học thuộc các lĩnh vực lịch sử, khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa, hành chính, địa chí… Ông còn là cộng tác viên của nhiều tờ báo trung ương và địa phương với các bút danh: B.T, Chu Nại, Dương Hạnh, Chu Nại Dương với nhiều bài viết gây ấn tượng.

Các ấn phẩm đã xuất bản của ông "Đối thoại lịch sử", "Đối thoại Thăng Long", "Việt Thường Thị", "Truyện Kiều và âm Việt cổ", "Vinh - Bến Thủy"… đã được giới nghiên cứu ghi nhận và đánh giá cao.

Ông là người mê say nghiên cứu biên soạn từ điển. Các bộ từ điển của ông đã xuất bản: "Từ điển Hà Nội địa danh" (xuất bản 1993), "Từ điển Lễ hội Việt Nam" (xuất bản 1916), "Địa danh về Hồ Chí Minh" (xuất bản 1999), "Từ điển địa danh văn hóa và thắng cảnh Việt Nam (xuất bản 2004)…. đã cung cấp một lượng thông tin hữu ích, tin cậy cho các hoạt động khoa học xã hội và nhân văn, chỉ đạo thực tiễn trên nhiều lĩnh vực, ngành, nghề…

Là người nặng lòng với văn hóa xứ Nghệ, ông say mê khai phá kho tàng này và đã công bố nhiều tác phẩm, bài nghiên cứu có giá trị. Ông là cộng tác viên gần gũi, thân thiết với các tạp chí nghiên cứu văn hóa, khoa học của quê hương xứ Nghệ. Với Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An ngay từ những số xuất bản đầu tiên ông đã cho nhiều ý kiến đóng góp thiết thực trong xây dựng định hướng phát triển, nội dung và hình thức. Những bài viết của ông trên Chuyên san đã gây được một ấn tượng sâu sắc với bạn đọc, bởi những thông tin bổ ích. Những năm gần đây biết sức khỏe mình yếu dần, ông đã dồn tâm huyết để hoàn thành công trình "Dư địa chí huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh" quê hương. Sách đang in với trên 500 trang in là những khảo cứu từng làng, xã, văn hóa dòng họ, danh lam, thắng cảnh, nhân vật lịch sử, địa lý của quê hương. Rất tiếc ông không kịp nhìn thấy đứa con tinh thần, kết quả của bao tâm huyết với con người và vùng đất nơi ông sinh ra.

Hội Sử học Việt Nam, Hội Kiều học Việt Nam, Hội đồng hương Cẩm Xuyên tại Hà Nội đã trọng thể tổ chức lễ truy điệu, tiễn đưa ông về cõi niết bàn trong niềm tiếc thương một nhà khoa học xã hội tâm huyết, sâu sắc với nhiều ý tưởng mới lạ, người bạn gần gũi với các đồng nghiệp trong giới khoa học xã hội.

Bài viết xin là nén tâm nhang kính cẩn nhớ về ông trong lễ 49 ngày ông đi xa. Kính chúc ông thanh thản cõi niết bàn, bao công trình nghiên cứu của ông còn sống mãi trong lòng hậu thế với sự ghi nhận và biết ơn sâu sắc.

 


 

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.