« Quay lại

Chuyên san KHXH&NV số 12/2019

GS. Phong Lê

Người lính trong lịch sử ít có dấu ấn trong văn học. Với văn học cổ điển ta có mấy câu thơ trong bản dịch Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn:

Áo chàng đỏ tựa ráng pha

Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in

Với văn học dân gian, ta có mấy câu ca dao:

Ngang lưng thì thắt bao vàng

Đầu đội nón dấu vai mang súng dài

Một tay thì cắp hỏa mai

Một tay cắp súng quan sai xuống thuyền

Thùng thùng trống đánh ngũ liên

Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.

Thời hiện đại, những năm tiền cách mạng, ta có bài Ca binh lính trong chùm 30 bài ca Việt Minh của Hồ Chí Minh:

Hai tay cầm khẩu súng dài

Ngắm đi ngắm lại bắn ai thế này?

Bắn vào quân Nhật, quân Tây

Lũ cướp nước, lũ đọa đầy dân ta.

Khỏi phải bình luận nhiều về nội dung xã hội, giá trị hiện thực và chất lượng nghệ thuật của các áng thơ trên. Câu chuyện ta bàn hôm nay có liên quan đến lịch sử thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (với tiền thân là Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được Bác Hồ thành lập năm 1941) trong thời đại Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, có thời điểm khai sinh là 22 tháng 12 năm 1944. Đó là lực lượng vũ trang rồi sẽ góp phần quyết định làm nên Cách mạng tháng Tám 1945, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc thoát khỏi ách chủ nghĩa thực dân 80 năm và nghìn năm xã hội phong kiến.

Khi trong đời sống có sự xuất hiện người lính thì tất yếu văn học sẽ cùng song hành để ghi lại dấu ấn, hình ảnh và chân dung người lính trên từng bước hành trình của họ, trong vai trò người Vệ quốc quân, Cảm tử quân, anh Bộ đội cụ Hồ, anh Giải phóng quân qua tất cả các giai đoạn lịch sử xuyên suốt thế kỷ XX.

Ở đây, trong bài này, tôi chỉ giới hạn sự theo dõi và ghi nhận chân dung, dáng nét của họ trong chặng đầu của cách mạng sau 1945, với đôi nét đặc thù, qua sáng tạo của một đội ngũ người viết chuyên và không chuyên trong buổi đầu nền văn học mới.

Người lính trong thơ ở chặng đầu này, qua sáng tạo của một đội ngũ viết như Chính Hữu, Quang Dũng, Hoàng Lộc, Hồng Nguyên, Hoàng Trung Thông, Hữu Loan… chắc chắn nhiều thế hệ độc giả đã rất quen thuộc.

Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng

Hồn mười hướng phất phơ cờ đỏ thắm

Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm

Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa

(Chính Hữu)

Tây tiến đoàn quân không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

(Quang Dũng)

Rất "khẩu khí", rất "yêng hùng" - đó là âm hưởng chung của Chính Hữu và Quang Dũng. Và một chiều khác - đó là mất mát, hy sinh, với Hoàng Lộc trong Viếng bạn; với sinh hoạt đời thường, và tình quân dân thắm thiết như trong Nhớ của Hồng Nguyên, Bộ đội về làng của Hoàng Trung Thông; và "bi lụy" trong Màu tím hoa sim của Hữu Loan. Tôi đặt trong ngoặc kép mấy đặc trưng - để ghi dấu nhận thức và phán quyết của một thời.

Trong văn xuôi, cần được nói dài hơn; và với văn xuôi cũng đã diễn ra những kiếm tìm của một đội ngũ tác giả đông hơn, gồm cả chuyên và không chuyên. Xin bắt đầu từ Trần Đăng, theo tôi, có lẽ là cây bút đầu tiên cho ta làm quen với anh bộ đội. Là người thủ đô, Trần Đăng viết về anh bộ đội chưa từng biết thủ đô, hoặc có biết thủ đô, nhưng trở về trong tư thế xa lạ và phủ nhận hết thảy mọi ánh sáng phù hoa của đời sống thành thị. Nét đó có phần còn lẫn lộn ít nhiều tâm trạng chủ quan, hoặc nói theo tác giả, còn mang theo cái "xác chủ quan" (Một lần tới thủ đô; 1946).

Cũng Trần Đăng là người, trong quãng đời văn ngắn ngủi của mình, sớm ghi nhận được những nét dáng khác nhau của anh bộ đội đến từ nhiều nguồn. Sự tìm kiếm một chân dung thực về anh bộ đội ở Trần Đăng có lúc ráo riết như một sự săn đuổi. Đại đội trưởng P.N lăm lăm chuôi kiếm, vẻ mặt nghiêm lạnh, lẳng lặng mà nôn nóng, luôn tay nhìn đồng hồ, trong Trận Phố Ràng (1949) là hình ảnh có "nguyên mẫu" trong cuộc đời. Có thể tìm sự tương ứng của anh bộ đội đó trong truyện và ký của Trần Đăng với đồng đội của họ trong thơ, qua hình ảnh "đoàn quân Tây Tiến", "mắt trừng gửi mộng qua biên giới" của Quang Dũng, hoặc "những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng", với "giày vạn dặm", "bụi trường chinh" trong Ngày về của Chính Hữu. Thế nhưng bên cạnh đại đội trưởng P.N, những binh nhất binh nhì trước trận đánh diễn ra còn cãi nhau châu chấu - cào cào con nào bằng đầu, con nào nhọn đầu, lại là hình ảnh hồn nhiên của một lớp thanh niên vào cách mạng ở tuổi đời còn non trẻ. Cũng những giờ khắc đó, ở cái bút ký có tên Một cuộc chuẩn bị (1949) khó quên câu chuyện ồn ào giữa đám lính, nơi một trạm nghỉ, vào đêm trước ngày ra trận: "Sàn dưới ồn ào chia nhau mấy tấm gỗ không biết vác ở đâu về, hai người ba tấm, ba người hai tấm, làm cho một anh liên lạc đại đội bộ ở trên, ngày trước làm nghề đóng áo ở Phòng ngứa mồm chõ xuống gọi: - Này! Một người thì phải sáu tấm, bốn dài hai ngắn nhớ, ngủ đi nhớ!".

Câu đùa tếu, và cũng có thể là nghiêm chỉnh của anh lính làm nghề đóng áo (tức đóng quan tài) này, đã vào các trang viết của Trần Đăng một cách hồn nhiên. Một khía sống khách quan của thời chiến, nhà văn tinh ý nhặt được. Cũng có thể là một khía sống được soi qua tâm trạng, khi ở cuối thiên ký sự, nhà văn để một dòng lửng lơ: "Mai, một cuộc đời mới nữa, sống hay chết trong đạn lửa".

Dừng lại ở những năm 1948-1949 của văn học kháng chiến chống Pháp, cùng với ký của Trần Đăng, còn có Voi đi của Siêu Hải, Lưỡi mác xung kích, Thư nhà của Hồ Phương, và những trang ghi chép ngắn của không ít cây bút viết văn bộ đội. Đó là lực lượng viết hình thành cùng với kháng chiến, để bổ sung cho đội ngũ chuyên nghiệp còn khá mỏng, và khá đông trong họ còn đang bâng khuâng trong những bước nhận đường. Đó là những sáng tác ra đời với các dấu ấn mới lạ, được giới chuyên nghiệp chào đón nồng nhiệt.

Sự xuất hiện của lớp người trẻ tuổi này hoàn toàn không ngẫu nhiên. Nó có cơ sở trong sự phát triển của phong trào văn nghệ bộ đội. Ở sự đua nở của báo tay, báo tường, thơ ca báng súng. Ở những trang nhật ký, sổ tay của các cây bút đội viên và cán bộ. Điều đáng kể là những giá trị mới mà nó mang lại. Một hơi văn mạnh. Sự chân thật, khoẻ. Một vẻ đẹp hồn nhiên, lắm lúc tự nhiên. Các chi tiết sống lắm khi chưa kịp gọt giũa... Chính từ trong phong trào bộ đội viết, và viết về bộ đội này mà làm nảy nở những cây bút sau này sẽ là đội quân chủ lực của văn học mới chúng ta, mà số lớn rồi sẽ hội về trụ sở 4 Lý Nam Đế, và làm nên "phố nhà binh" ở trung tâm Hà Nội. Nhưng trước khi nói đến đội ngũ này, không được phép quên những người mang niềm khao khát viết mà chưa một lần xuất hiện. Họ đã ngã xuống quá sớm, khi những ước mơ còn chưa kịp hình thành.

Đây là những trang nhật ký ghi ngày 29-12-1948 của Phan Phú, Chính trị viên đại đội một đơn vị chủ lực, hy sinh trong trận Bản Trại, được lưu lại trong sổ tay của Tô Hoài:

... "Chúng tôi cùng một tiểu đội trở vào bản (làng) đi sục sạo từng nhà một. Mỗi khi bước vào một nhà, lại hơi rợn rợn, không biết địch để lại cái gì trong nhà: một tên bị thương liều lĩnh, một vài quả lựu đạn nổ chậm... Trong mấy gian nhà vắng tanh, đồ đạc của chúng tôi vẫn còn bừa bãi: chăn chiếu, ba lô, quần áo, tỏ ra địch chưa kịp lấy một thứ gì cả đã vội phải rút lui. Ánh sáng vẫn chiếu tưng bừng qua kẽ lá, qua mái nhà. Con gà vừa đẻ xuống vẫn cục tác vang lừng. Tôi không lấy làm ngạc nhiên vì cảnh vật có vẻ thanh bình giữa trận ác liệt đang xẩy ra... Tôi lại quay trở lại chỗ đại đội I vẫn đương đánh nhau với Pháp ở sườn đồi trước mặt.

(...)

Chiều hôm qua rời A.T lúc 5 giờ, đoàn quân lại kéo qua P.R theo bờ sông máng. Hai bên đường, trên những ruộng lúa chín vàng, mấy người thợ gặt gái trai đứng nhìn chúng mình. Chiều đẹp quá, êm ả như bất cứ chiều thu nào khác ở thôn quê. Xa xa, bên kia sông, một cứ điểm của Pháp hiện thành một khối vuông trắng xoá giữa các đỉnh đồi trọc. Người dân, những ruộng lúa vàng, cứ điểm địch, và người vệ quốc quân, những hình ảnh ấy hiện ra cùng một lúc, bao hàm bao ý nghĩa"(1).

Và đây là ghi chép của Lê Nguyên - Đại đội trưởng Đại đội 156, Sư đoàn 308, hy sinh ngày 20-3-1949 - được giữ gìn cẩn thận trong ba lô của Trần Đăng.

"Kinh nghiệm trường đời cho biết rằng không nên giãi bày tâm sự mình lên trang giấy, nhưng từ khi vào bộ đội, mình có những xúc động ghê gớm thầy cần phải ghi lại... Trận B.T. mình dẫn bộ đội đánh thốc ngang vào... Tụi địch không biết gì cả. Đấy là lần đầu mình giữ một vai trò quan trọng trong một trận ác liệt... Đến sát đồn, mình thấy ba thằng lính Đức tóc lật ngược trước gió, đứng trên miệng hầm, bên đống lửa rừng rực, lia súng ra phía suối...".

Một mẩu ghi khác có tên Đôi mắt: "Tiểu đội phó N.Đ. Thản có đôi mắt một mí như Nhật vậy. Trời, sao mình yêu đôi mắt hiền từ và đẹp như thế!

Trận B.T. lúc ấy mình chưa cho lệnh bắn. Hắn sướng quá bắn luôn một tràng thompson, thế là lũ giặc bắn như mưa... Thản bị bắn xuyên óc, chết ngồi dựa lưng vào vách đá. Hôm sau địch chạy hết, mình vào chôn cất cho Thản.

Đã có bao nhiêu đôi mắt như đôi mắt của N.Đ.Thản đã nhắm ở chiến trường mà không người vuốt xuống"(2).

Cả Phan Phú và Lê Nguyên đều hy sinh ở Bản Trại, Lạng Sơn. Cả hai cùng viết về những cảm xúc từ đời lính, về những tình huống căng thẳng, và cả những mất mát, hy sinh trong chiến tranh. Điều đáng nói ở đây là một dạng văn theo khuynh hướng mới, chứ không phải văn chương theo khuôn sáo cũ, thường thấy có ở những người mới học viết. Cái chất văn là kết quả của một năng khiếu quan sát tinh tế, tỉ mỉ, kết hợp với một mạch ngầm cảm xúc chân thành. Và nếu ở Phan Phú là khuynh hướng khai thác những sự trạng trái ngược để nói cái chất đời bình thường trong chiến tranh như một hoàn cảnh không bình thường; thì ở Lê Nguyên là sức hút, sức xoáy của chi tiết khách quan - hoà vào một chủ quan giàu sức cảm nghĩ.

Thực ra nói Phan Phú hoặc Lê Nguyên, chỉ là nói một trong số rất nhiều tên, chưa kịp trở thành bút danh. Các sáng tác trong phong trào bộ đội viết này có lúc đã được tuyển chọn trong một tập văn có tên Vệ quốc quân viết, như một bó hoa tươi. Một tập văn từng gây nhiều hứng thú và xúc động cho bạn đọc, và sớm nhận được sự chào đón nồng nhiệt của Nam Cao: "Những người viết cũng như những nhân vật họ tả đều là những con người hành động. Họ hy sinh và đoàn kết, chiến đấu và kỷ luật. Tâm lý họ không phiền phức, rắc rối. Họ giản dị và thiết thực, không viển vông, vơ vẩn...". Để từ nhận xét đó, Nam Cao đi tới sự khẳng định về bản chất cuộc sống mới: "Người anh hùng đã thành thường thấy trong thời kháng chiến này, chính người bạc nhược mới là người hiếm thấy"(3).

Đó là một tập văn đã được chọn tuyển, được in. Còn vô số trang văn khác, trên khắp các báo tay, báo tường. Đến với các đơn vị bộ đội, chăm chú quan sát, đọc, ghi chép, không ít nhà văn đã phải ngạc nhiên vì cái chất mới của người lính mà nó mang lại, để góp vào việc nhận diện gương mặt mới của dân tộc. Tân Sắc "đọc bích báo Tết bộ đội": "Trong tất cả những bích báo Tết năm ngoái của các đơn vị bộ đội mà tôi được đọc, tịnh không có cái "buồn nhớ nhà" của người lính. Những người Binh Nhì, Binh Bét, Vệ Hiếng, Vệ Còm chúng ta tuy có nhắc tới nhà cửa ở xa, nhưng là nhắc với một giọng vui nghịch ngợm, hay là với một sự so sánh ngộ nghĩnh, so sánh cái Tết "mẹ đĩ" với cái Tết "làng Vệ". Để đi đến một nhận định rõ ràng rằng cái Tết "làng Vệ" bao giờ cũng vui hơn, ý vị hơn cái Tết "mẹ đĩ". Phải chăng người lính của chúng ta một khi quen sống cuộc đời bộ đội rồi, cảm thấy rõ ràng gia đình bộ đội là nguồn an ủi dịu dàng, là sự nâng đỡ lành mạnh, là nơi phát huy những tình thương đằm thắm, chân thật, tình yêu đời, yêu nước, yêu bạn, đẹp đẽ, cao hơn trong gia đình thực của mình nhiều"(4). Ở buổi đầu một nền văn học đang trên những bước dò tìm, sự phát triển của phong trào bộ đội viết, hay nói rộng hơn, của phong trào quần chúng viết để hưởng ứng khẩu hiệu "Kháng chiến hoá văn hoá và Văn hoá hoá kháng chiến", quả có một tác động tích cực rõ rệt. Nó giúp cho sự nhận diện gương mặt con người thời đại, như thu hoạch của Tân Sắc, Nam Cao đã kể trên. Nó còn giúp cho sự xác định "con đường đi" chung của "văn nghệ thời đại", như nhận xét của Nguyễn Đình Thi: "Sức hấp dẫn... đối với tôi thật đặc biệt, tuy đó mới là những lời bập bẹ chưa thành hình... Một nghệ thuật còn ròng ròng sự sống, một nghệ thuật chân đứng vững trên mặt đất tưới đẫm mồ hôi và khét tiếng súng, một cái đẹp khoẻ, không khéo léo phấn son, mà mộc mạc, tươi như vừa mới nẩy lên từ một bàn tay hoá công nào, một nghệ thuật vui sống, vui chiến đấu, vui làm lụng, đó là con đường của văn thơ anh binh nhì đã bước lên. Đó cũng là con đường đi của tất cả văn nghệ thời đại"(5).

*   *  *

Từ đây, qua các mốc lịch sử Điện Biên Phủ - 1954, và Đại thắng Mùa Xuân - 1975, đến thời kỳ Đổi mới - 1986 và hội nhập - 1995, kết thúc thế kỷ XX chuyển sang Thế kỷ mới và Thiên niên kỷ mới, đội ngũ nhà văn mặc áo lính không lúc nào không đóng vai trò quan trọng, nếu không nói là quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước, làm nên cốt cách, diện mạo văn học Việt Nam thế kỷ XX - một thế kỷ dân tộc Việt Nam có vinh dự đánh thắng hai đế quốc to, góp phần bảo vệ hòa bình, đưa Tổ quốc lên một tầm cao, đồng hành cùng nhân loại tiến bộ.

Chú thích

1. Tô Hoài: Sổ tay viết văn; Nxb. Tác phẩm mới; 1977.

2. Báo Dân quân Việt Bắc, số 18; 15-5-1949.

3. Đọc cuốn Vệ quốc quân viết; Tạp chí Cứu quốc; số 19; tháng 4-1949.

4. Vệ quốc quân; số 35; Xuân Kỷ Sửu; 1949.

5. Vài ý nghĩ về văn nghệ mới trong bộ đội; Tạp chí Văn nghệ; số 11-12; tháng 4 và 5-1949.

 

 

Th.Nguyễn Thị Minh Tú và cộng sự

Giám đốc Trung tâm KHXH&NV

 

1. Khái niệm và vai trò của TFP

Năng suất nhân tố tổng hợp TFP là phản ánh sự đóng góp của các yếu tố vô hình như kiến thức - kinh nghiệm - kỹ năng lao động, cơ cấu lại nền kinh tế hay hàng hoá - dịch vụ, chất lượng vốn đầu tư mà chủ yếu là chất lượng thiết bị công nghệ, kỹ năng quản lý... Tác động của nó không trực tiếp như năng suất bộ phận mà phải thông qua sự biến đổi của các yếu tố hữu hình, đặc biệt là lao động và vốn. Nói cách khác, năng suất nhân tố tổng hợp là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động nhờ vào tác động của các nhân tố đổi mới công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến quản lý và nâng cao trình độ lao động. Ta có thể chia kết quả sản xuất thành ba phần: phần do vốn tạo ra, phần do lao động tạo ra và phần do yếu tố tổng hợp TFP tạo ra. Như vậy, không phải nhất thiết để tăng trưởng sản xuất phải tăng lao động hoặc tăng vốn, mà có thể có kết quả sản xuất (đầu ra) lớn hơn thông qua tối ưu hóa nguồn lao động và vốn, cải tiến quy trình công nghệ, cải tiến quy trình quản lý.

Chỉ tiêu tốc độ tăng TFP phản ánh toàn diện về chiều sâu của quá trình sản xuất, kinh doanh. Chỉ có tăng trưởng kinh tế nhờ vào tăng TFP mới là sự tăng trưởng có tính chất ổn định và bền vững. Chỉ tiêu tốc độ tăng TFP cũng chính là sự phản ánh sự tiến bộ về KH&CN, thể hiện kết quả của việc cải tiến tổ chức sản xuất, đổi mới công nghệ, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, nâng cao chất lượng lao động. Áp dụng chỉ tiêu TFP để đánh giá hoạt động sản xuất của một đơn vị, một ngành hay toàn bộ nền kinh tế quốc dân, không chỉ khuyến khích người sản xuất nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao  động  để tăng TFP, mà còn có tác dụng động viên họ duy trì và mở rộng quy mô sản xuất. Đây chính là một trong những đặc điểm quan trọng của việc áp dụng chỉ tiêu năng suất theo cách tiếp cận mới với mục đích cuối cùng của nâng cao năng suất là tăng thêm nhiều sản phẩm vật chất và dịch vụ cho xã hội, và tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động. Tăng TFP sẽ góp phần nâng lương, nâng thưởng, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Đối với doanh nghiệp thì có khả năng mở rộng tái sản xuất. Còn đối với nền kinh tế sẽ nâng cao sức cạnh tranh, tăng phúc lợi xã hội. Trong quá trình phát triển nói chung cần có sự gia tăng của vốn và lao động, nhưng một điều dễ nhận thấy là ở các nước phát triển, thành phần quan trọng nhất đóng góp cho tăng trưởng sản lượng là sự gia tăng của TFP. Nâng cao TFP tức là nâng cao hơn kết quả sản xuất với cùng đầu vào. Nếu TFP thấp, thì tăng trưởng của nền kinh tế sẽ không bền vững. Chính vì vậy, TFP đã trở thành chỉ tiêu đặc biệt quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế, đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu áp dụng.

Tăng trưởng TFP chịu tác động bởi nhiều yếu tố, tuy nhiên có thể tập trung vào một số yếu tố chính:

 

Nguồn: Tổng hợp của Viện Năng suất Việt Nam

2. Thực trạng về TFP tỉnh giai đoạn 2015-2018 và nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ tăng, đóng góp của TFP vào tăng trưởng GRDP của tỉnh

2.1 Tăng trưởng kinh tế tỉnh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 Nguồn: Cục Thống kê tỉnh

 

Trong 3 khu vực kinh tế, khu vực công nghiệp xây dựng có tốc độ tăng trưởng phần lớn đều nằm trên tốc độ tăng trưởng chung, đồng thời tăng cao hơn mức tăng 2 khu vực còn lại và đóng góp quan trọng cho nền kinh tế. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản trong các năm 2015 đến 2018 đạt mức tăng trưởng thấp do thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, giá cả vật tư nông nghiệp, thức ăn chăn nuôi tăng cao, khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng khu vực này thường không ổn định và khó đạt mức tăng cao do điều kiện khắc nghiệt về môi trường, khí hậu trong vùng. Ngành dịch vụ của tỉnh chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu kinh tế và có vai trò quan trọng trong tăng trưởng, tuy nhiên trong thời gian qua một số ngành dịch vụ mũi nhọn chưa phát huy hết tim năng, thế mnh của địa phương.

 

 

 

 

Bảng 1: Tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng của các ngành (ĐVT:%)

Năm

Nông lâm nghiệp và thủy sản

Công nghiệp xây dựng

Dịch vụ

Thuế

2011

22,94

24,64

45,66

6,75

2012

16,24

20,49

55,83

7,44

2013

15,92

32,80

49,88

1,41

2014

2,49

37,85

51,61

8,05

2015

18,74

35,75

39,75

5,75

2016

14,78

41,63

36,91

6,68

2017

11,71

45,09

39,17

4,04

2018

12,35

49,30

35,52

2,83

2011-2018

14,40

35,94

44,29

5,37

2015-2018

14,40

42,94

37,84

4,82

 

Nguồn: Tính toán từ số liệu NGTK tỉnh

Trong giai đoạn 2015-2018, công nghiệp là ngành chủ lực đóng góp 44,29% trong tăng trưởng kinh tế của tỉnh, tiếp đến ngành dịch vụ đóng góp 37,84%, thuế 4,82% và nông nghiệp 14,4%. Đây là xu hướng phù hợp do quá trình CNH ở tỉnh Nghệ An đã diễn ra mạnh trong giai đoạn 2015-2018.

2.2 Thực trạng về TFP tỉnh giai đoạn 2015-2018

Bảng 2: Đóng góp của vốn, lao động và TFP trong tăng trưởng GDP của tỉnh

Năm

Tốc độ tăng GRDP

Đóng góp Vốn

Đóng góp lao động

Đóng góp TFP

Tốc độ tăng

Điểm %

Tỷ trọng đóng góp

Tốc độ tăng

Điểm %

Tỷ trọng đóng góp

Tốc độ tăng

Điểm %

Tỷ trọng đóng góp

 

2011

8.72

11.91

4.55

52.17

2.16

1.33

15.31

2.84

2.84

32.57

 

2012

5.12

10.24

3.95

77.20

3.09

1.90

37.06

-0.73

-0.73

-14.26

 

2013

5.98

8.89

3.42

57.23

4.95

3.04

50.91

-0.49

-0.49

-8.19

 

2014

6.83

8.66

3.36

49.20

1.34

0.82

12.01

2.65

2.65

38.80

 

2015

6.81

8.38

3.20

47.01

-2.92

-1.80

-26.50

5.41

5.41

79.44

 

2016

6.98

9.58

3.67

52.57

-0.24

-0.15

-2.12

3.46

3.46

49.57

 

2017

8.25

10.6

4.09

49.60

-0.14

-0.09

-1.04

4.24

4.24

51.39

 

2018

8.77

10.51

4.06

46.26

0.42

0.26

2.94

4.46

4.46

50.86

 

2011-2018

7.18

9.85

3.79

52.74

1.08

0.67

9.27

2.73

2.73

37.98

 

2015-2018

7.70

9.77

3.75

48.73

-0.72

-0.44

-5.76

4.39

4.39

57.03

 

                         

Nguồn: Theo tính toán của nhóm nghiên cứu

Giai đoạn 2011 - 2018, tốc độ tăng TFP là 2,73 tương đương với tỷ trọng đóng góp trung bình của nhân tố TFP trong tăng trưởng là 37,98%, tỷ trọng đóng góp của lao động trong tăng trưởng 9,72%, tỷ trọng đóng góp của vốn trong tăng trưởng là 52,74%.

Giai đoạn 2015-2018, tốc độ tăng TFP là 4,39% tương đương với tỷ trọng đóng góp trung bình của nhân tố TFP trong tăng trưởng GRDP là 57,03%. Giai đoạn này tốc độ tăng TFP và đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh cao do một số nguyên nhân: (1) Các chính sách tái cơ cấu kinh tế được thực hiện từ năm 2011 đã tác động đến hiệu quả sử dụng nguồn lực bao gồm tài nguyên, vốn và lao động. Quá trình tái cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm cho nền kinh tế dịch chuyển sang các ngành có trình độ công nghệ và năng suất cao hơn. (2) Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu dựa vào lợi thế cạnh tranh cao hơn về nguồn nhân lực, công nghiệp chế biến chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao cũng làm cho đóng góp TFP cao hơn. (3) Đóng góp của TFP là phần còn lại sau khi đã trừ đi góp của vốn là lao động. Giai đoạn 2011-2018 nhiều năm tốc độ tăng lao động âm, do di dân cơ học ra khỏi tỉnh Nghệ An và đặc biệt là xuất khẩu lao động. (4) Các chính sách cải thiện môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư của tỉnh đã làm cho chất lượng thể chế của tỉnh nâng cao, thể hiện thông qua chỉ số PCI của tỉnh Nghệ An đã được cải thiện đáng kể. Chất lượng thể chế tăng làm cho đóng góp của TFP được cải thiện so với giai đoạn trước.

2.3 Đánh giá các nhân tổ tác động đến tốc độ và tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh

2.3.1 Môi trường chính sách địa phương

Môi trường sản xuất kinh doanh, thể chế chính sách có nhiều ảnh hưởng đến năng suất nhân tố tổng hợp TFP vì trong một môi trường kinh doanh thuận lợi, các chính sách phù hợp giúp thu hút được đầu tư phát triển, doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và sử dụng tốt các nguồn lực sẵn có để nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, từ đó nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp (TFP). Để đánh giá môi trường kinh doanh, thể chế chính sách của tỉnh giai đoạn 2015-2018, trong nghiên cứu này sử dụng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của VCCI công bố hàng năm. Chỉ số PCI của tỉnh duy trì ở trong nhóm khá của Việt Nam, có xu hướng tăng dần, năm 2015 tổng điểm là 58,47 xếp hạng 32/63 cả nước và đến năm 2018 là 64,08 xếp hạng 19/63. Trong những năm qua, tăng trưởng kinh tế của tỉnh có đóng góp quan trọng trong việc cải tiến, thực thi những chính sách điều hành kinh tế xã hội đảm bảo cho các yếu tố nguồn lực được huy động và sử dụng hiệu quả.

2.3.2 Chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động

a. Lao động tỉnh

Lao động đang làm việc giai đoạn 2015-2018 tốc độ bình quân -0,72% như vậy lao động giảm. Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế giai đoạn 2015-2018 chuyển dịch theo hướng tích cực Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp, tăng dần lao động trong các khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm dần lao động trong khu vực nông nghiệp. Cơ cấu lao động trong khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản giảm 12,49% trong giai đoạn 2015-2018, trong khi đó, cơ cấu lao động khu vực dịch vụ tăng 5,31% và khu vực công nghiệp - xây tăng 7,19%.

 

Hình 1: Cơ cấu lao động tỉnh trong từng khu vực (Đơn vị tính: %)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

b. Năng suất lao động

Năng suất lao động xã hội của tỉnh trong hình 4 tăng khá đều trong cả giai đoạn 2015-2018, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước. Năm 2015, năng suất lao động của tỉnh theo giá hiện hành đạt 45,06 triệu đồng/người bằng 56,75% so với cả nước (79,4 triệu đồng/người), đến năm 2018 đạt 61,89 triệu đồng, bằng 60,68% cả nước. Bình quân giai đoạn 2015-2018, năng suất lao động tỉnh đạt 39,53 triệu đồng/người, bằng 44,03% so với cả nước (89,78 triệu đồng/người).

Hình 2: Năng suất lao động của tỉnh và cả nước theo giá hiện hành

Đơn vị tính: Triệu đồng

 

 

Năng suất lao động trong khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản năm 2015 theo giá hiện hành đạt 18,91 triệu đồng bằng 41,97% năng suất lao động chung toàn tỉnh và đến năm 2018 đạt 27,73 triệu đồng, bằng 45,40%. Năng suất lao động khu vực công nghiệp xây dựng năm 2015 đạt 66,38 triệu đồng, bằng 134,16% năng suất lao động chung toàn tỉnh và đến năm 2018 đạt 76,08 triệu đồng, bằng 122,93%. Năng suất lao động khu vực dịch vụ năm 2015 đạt 92,53 triệu đồng, cao hơn 105,35% năng suất lao động chung toàn tỉnh và đến năm 2018 đạt 100,38 triệu đồng, cao hơn 62,19%.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến NSLĐ của tỉnh đạt thấp:

Ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lao động lớn nhưng giá trị tạo ra thấp so với tổng sản phẩm trong tỉnh. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tới 49,14% lao động toàn tỉnh nhưng mới chỉ tạo ra 22% GRDP tính đến năm 2018. Khu vực nông thôn đang có sự chuyển dịch lao động từ ngành nông nghiệp sang các ngành phi nông, lâm nghiệp, thủy sản nhưng thực tế lao động di chuyển ra khỏi ngành nông nghiệp chủ yếu lại chuyển sang làm việc trong các ngành công nghiệp có năng suất thấp hay các ngành dịch vụ có thu nhập thấp. Ngoài ra, quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp nhìn chung còn hạn chế.

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh tuy theo hướng tích cực nhưng còn chậm, các ngành công nghiệp, dịch vụ, nhất là những ngành dịch vụ "mũi nhọn" còn chiếm tỷ trọng thấp, việc đầu tư kiến thức cho ngành dịch vụ còn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế (ví dụ về kỹ năng giao tiếp, đón tiếp khách, trình độ ngoại ngữ, chuyên môn khai thác thị trường,…). Đây có thể xem là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho NSLĐ của tỉnh đạt thấp. Bên cạnh đó máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ chậm đổi mới, phần lớn doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đang sử dụng công nghệ mức trung bình. Quy mô doanh nghiệp còn nhỏ bé, số doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ chiếm tỷ lệ lớn, phần lớn doanh nghiệp chưa đạt được quy mô tối ưu (50-99 lao động) để có được mức NSLĐ cao nhất. Các khu công nghiệp phần lớn là chế biến thủy hải sản, may mặc và 1 phần của cơ khí, điện tử vì vậy số lượng lao động đơn giản chiếm tỷ trọng lớn; theo thời gian ngành công nghiệp vẫn bổ sung một nguồn lực lao động lớn tuy nhiên nguồn lao động bổ sung phần lớn lao động di chuyển ra khỏi ngành nông nghiệp chuyển sang làm trong các ngành công nghiệp chế biến - chế tạo không đòi hỏi tay nghề, trình độ và gần như không được đào tạo, nên có năng suất thấp.

Chất lượng, cơ cấu và hiệu quả sử dụng lao động còn thấp. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2018 chiếm 59,1% dân số toàn tỉnh, trong khi đó tỷ lệ lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo (được cấp bằng hoặc chứng chỉ đào tạo nghề) năm 2015 tỉnh đạt 16,7% (cả nước 19,9%), năm 2018 đạt 20,69% (cả nước 21,93%) tăng 3,99% so với năm 2015. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi khu vực thành thị giảm dần, năm 2015 là 4,32%, năm 2017 là 2,88% và năm 2018 là 3,45%.

2.3.3. Thu hút vốn đầu tư

Tổng vốn đầu tư bình quân giai đoạn 2015-2018 theo giá hiện hành đạt 50.730,44 tỷ đồng, bằng 51,35% so với GRDP bình quân. Trong đó, năm 2015 có tỷ lệ vốn đầu tư/GRDP thấp nhất đạt 45,19% và năm cao nhất là năm 2018 đạt 53,78%. Nhưng nhìn chung tỷ lệ vốn đầu tư qua các năm trên địa bàn tỉnh so với GRDP đều đã vượt ngưỡng 40%, là tỷ lệ thuộc loại cao.

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh theo giá hiện hành giai đoạn 2015-2018 đạt 203 ngàn tỷ đồng, trong đó năm 2018 đạt 62,2 ngàn tỷ đồng, tăng hơn 1,6 lần so với năm 2015, vốn đầu tư phát triển thực hiện hàng năm tăng nhanh nhưng vẫn đảm bảo tỷ lệ cơ cấu ổn định và hợp lý, theo đó tỷ trọng khu vực thương mại và dịch vụ chiếm bình quân hàng năm xấp xỉ 68%, khu vực công nghiệp và xây dựng chiểm bình quân 27%/năm và vốn đầu tư từ khu vực nông, lầm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm bình quân 5%/năm. Trong tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh hàng năm thì vốn đầu tư khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng cao nhất, đặc biệt năm 2017 chiếm 76,88% và 2018 chiếm 75,02%, trong đó vốn đầu tư huy động từ dân cư chiếm bình quân hàng năm gần 50%/năm, ngoài vốn đầu tư được huy động từ dân cư thì các doanh nghiệp ngoài Nhà nước đóng góp và vốn đầu tư toàn xã hội là chủ yếu, thể hiện qua các dự án được tỉnh thu hút và thực hiện đầu tư.

Cơ cấu vốn đầu được phân bổ và chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng khu vực dịch vụ và giảm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tập trung đầu tư vào hoạt động sản xuất công nghiệp. Cơ cấu tỷ trọng nguồn vốn đầu tư phát triển của khu vực dịch vụ 9 năm gần đây chiếm tỷ trọng là chủ yếu và phát triển nhanh nhất, năm 2005 chiếm 37,09% trong tổng số, đến năm 2010 đã chiếm 62,31% và duy trì đến năm 2018 chiếm 69,09% trong tổng số nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Trong nội ngành thuộc khu vực dịch vụ thì lĩnh vực đầu tư nhà ở của các hộ gia đình chiếm tỷ lệ bình quân hàng năm trên 52% và chiếm bình quân hàng năm trên 33% tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Còn ngành kinh tế được thu hút đầu tư nhiều nhất và chiếm tỷ trọng cao nhất trong nền kinh tế (không tính đầu tư cho nhà ở) thì ngành công nghiệp là ngành đóng góp lớn nhất vào vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.

Hình 3: Cơ cấu vốn đầu tư theo giá hiện hành theo khu vực kinh tế (ĐVT: %)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguồn: Cục Thống kê và số liệu tính toán của nhóm nghiên cứu

Việc thu hút được các dự án đầu tư lớn với công nghệ hiện đại đã thúc đẩy tăng năng suất lao động, năng suất vốn và năng suất nhân tố tổng hợp. Điều này thể hiện khá rõ trong đóng góp của TFP vào tăng trưởng giai đoạn 2015-2018.

 

 

 

 

 

2.3.4. Thu nhập dân cư

 

 

Nguồn: Tính toán từ số liệu NGTK tỉnh

Thu nhập tăng làm thay đổi cơ cấu chi tiêu theo hướng gia tăng các chi tiêu dành cho các hàng hóa bền lâu và các hàng hóa cao cấp. Thu nhập tăng làm cho nhu cầu tiêu dùng tăng, điều này sẽ tác động tích cực đến tốc độ tăng TFP và đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

2.3.5. Khoa học công nghệ

Đầu tư khoa học công nghệ có vai trò rất quan trọng trong tăng trưởng TFP. Trong những năm qua, đầu tư KH&CN trên địa bàn tỉnh có những chuyển biến tích cực.

Theo số liệu điều tra 237 đơn vị là các cơ quan QLNN, viện nghiên cứu, tổ chức KH&CN, trung tâm, trạm trại, Trường đại học, cao đẳng, trường trung cấp, trường PTTH và các DN KH&CN trên địa bàn tỉnh: Tổng nhân lực KHCN hiện có 63.978 người có trình độ đại học trở lên tăng 29,6% so với năm 2017. Trong đó có 4.989 thạc sỹ, 421 tiến sỹ, 83 phó giáo sư và 7 giáo sư. Nhân lực chất lượng cao tập trung chủ yếu ở các trường đại học, cao đẳng. Tuy nhiên nhiều lĩnh vực vẫn thiếu chuyên gia giỏi, thiếu chuyên gia đầu ngành ở các lĩnh vực kinh tế, công nghệ chế biến, công nghệ sinh học.

Nghệ An có lợi thế về đào tạo nguồn nhân lực KH&CN so với nhiều địa phương khác trong vùng. Trên địa bàn tỉnh có 71 đơn vị là các tổ chức KH&CN trên địa bàn có tham gia hoạt động nghiên cứu triển khai, trong đó có 6 trường đại học, 11 trường Cao đẳng, Trung cấp đào tạo nguồn nhân lực cung cấp cho vùng và trong cả nước, 6 đơn vị KH&CN của các Bộ đóng trên địa bàn, phạm vi hoạt động mang tính vùng và 4 đơn vị KH&CN tỉnh có liên kết hoạt động KHCN trong Vùng. Hệ thống các phòng thử nghiệm được công nhận VILAS, LAS xây dựng: Tổng số phòng thử nghiệm được công nhận Vilas 13 phòng (5 phòng của các đơn vị sự nghiệp và 8 phòng của các doanh nghiệp); Las xây dựng: có 45 phòng đang hoạt động.

Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm chủ yếu của tỉnh đạt mức khá so với cả nước, tốc độ đổi mới công nghệ/thiết bị năm 2018 đạt 15%; Giá trị sản phẩm công nghệ cao và ứng dụng công nghệ cao đạt 20%. Hiện có 09 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN.

Công tác đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp được quan tâm, đến hết quý 1 năm 2019 có 994 văn bằng bảo hộ (Sáng chế 12; GPHI: 09; KDCN: 58; Nhãn hiệu: 915).

Đầu tư kinh phí cho hoạt động KH&CN: Nguồn vốn đầu tư cho hoạt động KH&CN hàng năm chưa đạt 2% chi ngân sách của tỉnh theo tinh thần Nghị quyết 20-NQ/TW, năm 2019 chỉ đạt khoảng 0,21% chi ngân sách (51,928 tỷ/24.344,151 tỷ).

Hoạt động nghiên cứu KH&CN của tỉnh ưu tiên cho 6 lĩnh vực KH&CN trọng điểm: Lĩnh vực nông nghiệp; Lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn; Lĩnh vực y dược; Lĩnh vực KH&CN phục vụ phát triển kinh tế xã hội các huyện, thị, thành; Lĩnh vực công nghệ thông tin; Lĩnh vực môi trường), trong đó tập trung tác động KH&CN theo chuỗi giá trị các sản phẩm và tổ chức ứng dụng thành công nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội góp phần sản xuất và thương mại hóa nhiều sản phẩm phục vụ tiêu dùng.

Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và phát triển thị trường KH&CN của tỉnh Nghệ An được quan tâm đầu tư. Thị trường khoa học và công nghệ đã được hình thành và phát triển.

4. Một số giải pháp nâng cao tỷ trọng đóng góp của TFP trong tăng trưởng GRDP của tỉnh thời gian tới

4.1. Giải pháp chung cho nền kinh tế

Tiếp tục duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy mạnh cải cách cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện thu hút đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Định hướng lại chính sách huy động nguồn lực, trong đó tập trung phát huy nội lực, là động lực của mô hình tăng trưởng mới, trên cơ sở khai thác một cách hiệu quả các nguồn lực đầu tư bên ngoài. Tạo điều kiện để khu vực tư nhân ngày càng lớn mạnh về quy mô, không ngừng nâng cao năng suất và sức cạnh tranh. Nghiên cứu đầy đủ nội dung của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 để xây dựng các chính sách thực hiện cụ thể vào một số ngành, lĩnh vực kinh tế của địa phương. Tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học phục vụ nông nghiệp; chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ có giá trị cao; chuyển dịch trong nội bộ ngành công nghiệp từ sản xuất dựa vào lao động và gia công sang dựa vào công nghệ, hàng hóa có giá trị gia tăng cao, bên cạnh đó, cần phát triển mạnh mẽ khu vực công nghiệp phụ trợ.

Để kinh tế phát triển nhanh và bền vững cần đổi mới mô hình tăng trưởng: mô hình tăng trưởng hiện nay chủ yếu dựa vào gia tăng các yếu tố vốn, lao động và tài nguyên trong khi đó năng suất lao động tăng chậm, hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, đặc biệt là vốn còn thấp, dẫn tới năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế bị hạn chế. Ngoài ra mô hình tăng trưởng này đang có dấu hiệu kéo theo tốc độ suy thoái môi trường tự nhiên ngày càng nhanh, tài nguyên thiên nhiên dần cạn kiệt. Bên cạnh đó ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra vấn đề cần đổi mới nhanh mô hình tăng trưởng để theo kịp tốc độ phát triển khoa học công nghệ trong thời kỳ mới.

Tăng trưởng kinh tế muốn bền vững cần dựa trên nền tảng chất lượng, theo đó, yếu tố vốn con người, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo phải dần trở thành yếu tố then chốt đóng góp cho tăng trưởng. Chuyển dần tăng trưởng theo chiều sâu tức nâng cao vai trò đóng góp của các nhân tố tổng hợp TFP.

Đối với nền kinh tế qui mô nhỏ như Nghệ An để tăng trưởng cao và bền vững không chỉ tăng cường thu hút vốn đầu tư mà quan trọng hơn là phải sử dụng nguồn vốn huy động có hiệu quả, tăng năng suất lao động.

4.2. Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Nâng cao tay nghề và trình độ kỹ thuật cho người lao động. Nâng cao trình độ văn hoá và trình độ nhận thức cho người lao động, từng bước xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dạy nghề hiện có theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, tăng tính thực tiễn, sát với  thực tế của địa phương, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp trên địa bàn.

Tăng cường nâng cao chất lượng đào tạo cao đẳng, đại học, có cơ chế gắn kết giữa các trường Đại học, các viện, trung tâm nghiên cứu nhằm đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu, trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ hội nhập và cuộc cách mạng công nghiệp, khắc phục tình trạng thiếu cán bộ KHKT, công nhân kỹ thuật bậc cao, cán bộ có trình độ ngoại ngữ, tin học. Xây dựng các cơ sở đào tạo nghề chất lượng cao, học đi đôi với hành để đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực cho các ngành công nghiệp và du lịch; tiếp tục tăng cường công tác đào tạo nghề cho khu vực nông thôn.

Nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp: Rà soát lại từ công tác tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất, thiết bị, công nghệ, lao động, vật tư, nguyên liệu. Sử dụng nguồn nhân lực một các hiệu quả, chú trọng từ khâu tuyển chọn, bố trí, sử dụng lao động, bảo đảm lao động có trình độ, năng lực phù hợp. Tăng cường đào tạo và đạo tạo lại để nâng cao trình độ, kỹ năng của người quản lý và lao động. Chú trọng đầu tư thiết bị, công nghệ tiên tiến phù hợp với điều kiện, khả năng của doanh nghiệp kết hợp với đào tạo tại chỗ cho lao động về sử dụng những công cụ, thiết bị công nghệ tiên tiến.

4.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

Để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, tỉnh cần có những giải pháp đánh giá tính hiệu quả của các dự án đầu tư trên địa bàn và có những cam kết, biện pháp xử lý phù hợp đối với những dự án ngừng thi công nhiều năm. Tăng cường tính công khai, minh bạch và thực hiện quản lý đầu tư theo quy hoạch, kế hoạch. Tăng cường công tác giám sát đầu tư, kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm quy định về quản lý đầu tư. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư quốc tế nhằm thu hút vốn, công nghệ và tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao động, chú trọng các dự án đầu tư có tiềm năng lớn về vốn và năng lực trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ cho tỉnh. Ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông, các dịch vụ xã hội tại các điểm du lịch có tiềm năng nhưng chưa khai thác đúng giá trị để tạo ra những điểm du lịch hấp dẫn, ấn tượng nhằm thu hút được khách du lịch nhiều hơn.

4.4. Giải pháp phát triển khoa học và công nghệ

- Xây dựng các chính sách hỗ trợ thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ, làm cơ sở cho việc phát triển các doanh nghiệp khoa học và công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Có chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài, đặc biệt là chuyên gia đầu ngành và chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực.

- Tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ. Tăng cường quan hệ hợp tác giữa các tổ chức KHCN, các trường đại học và doanh nghiệp trên địa bàn.

- Các cơ quan chức năng liên quan có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ các doanh nghiệp về nguồn cung cấp công nghệ, về các dữ liệu công nghệ. Ngoài ra, phải thực thi nghiêm túc việc giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước vì lợi ích chung của toàn bộ nền kinh tế, trong đó việc thẩm định, xét duyệt công nghệ nhập khẩu là khâu đặc biệt quan trọng.

- Đổi mới công nghệ thông qua các dự án đầu tư nước ngoài hoặc liên kết đầu tư với sự tham gia của các nhà quản lý có kinh nghiệm và các chuyên gia giỏi về công nghệ trong nước và quốc tế.

- Xây dựng lộ trình phát triển và đổi mới công nghệ vào các ngành, lĩnh vực trọng tâm, thế mạnh của tỉnh để tạo ra sự bứt phá của một số ngành, lĩnh vực công nghệ cao có tác động tích cực đến sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế.

- Có chính sách thu hút lực lượng chuyên gia khoa học kỹ thuật giỏi trong và ngoài tỉnh, kể cả người nước ngoài tham gia vào quá trình chuyển giao kiến thức, công nghệ. Hình thành thị trường công nghệ với sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế nhằm tăng năng lực của các thành viên trong xã hội tham gia vào quá trình đổi mới công nghệ, thực hiện xã hội hóa chuyển giao công nghệ. 

- Có cơ chế chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ trên địa bàn (về vốn, thuế, kỹ thuật và các hoạt động hỗ trợ khác).

- Các cơ quan quản lý về khoa học và công nghệ cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các ứng dụng công nghệ mới trong các lĩnh vực cho các doanh nghiệp trên địa bàn, giúp doanh nghiệp có nhiều lựa chọn, quyết định trong quá trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.

- Thường xuyên tổ chức các hội thảo giới thiệu về vai trò, ứng dụng khoa học công nghệ mới trong sản xuất kinh doanh; tọa đàm, trao đổi đúc rút kinh nghiệm trong quá trình sử dụng và đổi mới công nghệ.

- Xây dựng các chương trình truyền hình giới thiệu về khoa học công nghệ trên kênh truyền hình địa phương giúp nâng cao nhận thức về sự đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp trên địa bàn.

5. Kiến nghị

- Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao, tỉnh cần nâng cao vai trò của TFP trong tăng trưởng kinh tế. Để làm được điều này, cần phải: (1) Xem xét định hướng tăng trưởng kinh tế không dựa vào tăng vốn đầu tư và khai thác tài nguyên mà tăng trưởng kinh tế dựa vào tri thức và công nghệ. (2) Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thông qua đầu tư trọng tâm trọng điểm vào các công trình có công nghệ cao; tránh thất thoát, lãng phí trong sử dụng vốn đầu tư và tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động đầu tư. (3) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh Nghệ An bằng cách nâng cao trình độ văn hóa và nhận thức của người lao động, tăng cường đầu tư cho giáo dục đào tạo trên tất cả các mặt như phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và tin học. (4) Tỉnh cần kiên quyết cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao hiệu quả hiệu lực quản lý nhà nước về kinh tế.

- Hàng năm và từng giai đoạn tính toán TFP để biết đóng góp của các yếu tố vốn, lao động và năng suất tổng hợp, từ đó có đề xuất, kiến nghị phù hợp.

- Đề nghị Cục thống kê hàng năm cung cấp số liệu để ngành KH&CN tính toán chỉ số TFP

- Đề nghị với Sở Kế hoạch và Đầu tư hàng năm trong đánh giá các chỉ số bổ sung thêm chỉ số TFP trong tổng kết, đánh giá phát triển KTXH của tỉnh.

          - Đề nghị Sở KHCN tiếp tục nghiên cứu dự báo chỉ số đóng góp TFP giai đoạn 2020-2025 để có những giải pháp và khuyến nghị trong nâng cao chất lượng tăng trưởng.

 

 

 

 

Th.S Nguyễn Quốc Hồng

 

1. Đặt vấn đề 

ghệ An đang cùng với cả nước bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển. Phát triển không chỉ đơn thuần  đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế mà phát triển phải mang lại sự tiến bộ toàn diện trên các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong quá trình ấy, khoa học kỹ thuật đóng vai trò then chốt, nhưng để có một môi trường xã hội nhân văn lành mạnh, con người được phát triển một cách toàn diện thì khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) có vị trí đặc biệt quan trọng. 

2. Khoa học xã hội và nhân văn và trí thức trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

2.1. Khoa học xã hội và nhân văn

KHXH&NV có chức năng tổng kết thực tiễn, tư vấn và phản biện xã hội, dự báo và định hướng tương lai. KHXH&NV giữ vị trí quan trọng trong sự phát triển của xã hội, xây dựng và bồi dưỡng nhân cách con người.

Trong công cuộc đổi mới và hội nhập, KHXH & NV trở thành "Công cụ sắc bén trong đổi mới tư duy, xây dựng luận cứ khoa học cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta"(1). KHXH&NV giúp định hướng phát triển con người, liên quan chặt chẽ đến vấn đề con người và chính là khoa học hướng con người đến chân, thiện, mỹ.

2.2. Trí thức trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

- Trí thức là "Người chuyên làm việc lao động trí óc và có tri thức chuyên môn cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của mình"(2).

- Nghị quyết số 27-NQ/TW  Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X:

"Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, làm giàu tri thức, tạo ra sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội"(3).

Từ khái niệm về trí thức được hiểu, trí thức trong lĩnh vực KHXH&NV là những người có đầy đủ đặc trưng của trí thức, triển khai những công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của KHXH&NV đã được đề cập ở trên. Cụ thể là: Nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học để Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối, xây dựng chính sách phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương. Nghiên cứu làm rõ những quan hệ xã hội và bản chất con người, góp phần xây dựng đạo đức, lối sống, nhân cách tư tưởng, văn hóa của dân tộc; Tích cực hoạt động tư vấn, phản biện xã hội, đưa ra những dự báo định hướng tương lai.

3. Thực trạng tập hợp thu hút đội ngũ trí thức trong lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn tỉnh Nghệ An trong những năm qua

Bước vào thời kỳ đổi mới, nhận thức về vai trò của KHXH&NV được thay đổi, từng bước đưa KHXH&NV đúng với vai trò trong phát triển đất nước. Mặt khác, bản thân của các tổ chức đội ngũ trí thức hoạt động trong lĩnh vực KHXH&NV đã bám sát thực tiễn, tổng kết thực tiễn, tổng kết khoa học "KHXH&NV sau Đại hội VI đã từ bỏ khuynh hướng nghiên cứu có tính chất hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tế, nặng về thuyết minh, minh họa một chiều của giai đoạn trước, chuyển sang nghiên cứu cơ bản, vừa cấp bách về kinh tế - xã hội - văn hóa - tư tưởng"(4).

Cùng với sự chuyển biến nhận thức về vai trò của KHXH&NV cả nước, lãnh đạo tỉnh Nghệ An đã nhận thức một cách đúng đắn và khẳng định rõ hơn về vai trò của KHXH&NV trong sự phát triển bền vững của tỉnh, "Đẩy mạnh nghiên cứu các lĩnh vực KHXH&NV, tổng kết thực tiễn, phục vụ cho nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý chính quyền và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Nghiên cứu khai thác các giá trị truyền thống văn hóa, lịch sử quê hương, phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội"(5).

Cùng với quá trình hoàn thiện về nhận thức vai trò của KHXH&NV, Nghệ An đã triển khai nhiều hình thức tập hợp, thu hút đội ngũ trí thức để nghiên cứu những vấn đề đang đặt ra trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

3.1. Tập hợp, thu hút đội ngũ trí thức trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn thông qua các tổ chức nghiên cứu 

Ngay từ những năm 70, 80 của thế kỷ trước, Nghệ An đã thành lập 2 tổ chức nghiên cứu, đó là: Ban Sử Địa trực thuộc UBND tỉnh và Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng trực thuộc Tỉnh ủy. Cả hai tổ chức này đã tập hợp, quy tụ được một số nhà nghiên cứu, hoạt động trong lĩnh vực KHXH&NV, nghiên cứu, đề xuất giải quyết khá nhiều nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt là lịch sử địa phương và lịch sử tỉnh Đảng bộ. Tiếp đến là sự ra đời và hoạt động của Hội Văn nghệ dân gian do Phó giáo sư Ninh Viết Giao đứng đầu, đã tập hợp hàng chục chuyên gia trong lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian xứ Nghệ. Những công trình đã công bố của Hội Văn nghệ dân gian có giá trị bảo tồn, lưu giữ kho tàng văn hóa văn nghệ dân gian xứ Nghệ với những nét đặc sắc và phong phú.

Sự ra đời và tổ chức nhiều hoạt động của Hội Văn học nghệ thuật và Hội Khoa học Lịch sử Nghệ An đã có nhiều đóng góp trong thu hút đội ngũ văn nghệ sĩ và các nhà nghiên cứu lịch sử trong và ngoài tỉnh nghiên cứu, sáng tác về Nghệ An. Trường Đại học Vinh là đơn vị tổ chức nhiều hoạt động nghiên cứu KHXH&NV cả về số lượng trí thức và các công trình nghiên cứu về KHXH&NV không chỉ ở Nghệ An mà cả khu vực với nhiều công trình nghiên cứu trên các lĩnh vực: lịch sử, ngôn ngữ, kinh tế, văn hóa... Không những có giá trị học thuật mà còn góp phần giải quyết nhiều vấn đề đặt ra cho phát triển của địa phương.

 Sự ra đời của 3 ấn phẩm: Tạp chí Văn hóa Nghệ An và Chuyên san KHXH&NV và Tạp chí Sông Lam, nhất là Tạp chí Văn hóa Nghệ An đã trở thành diễn đàn thu hút các nhà khoa học, trí thức trong và ngoài tỉnh và cả nước ngoài tham gia trở thành đội ngũ cộng tác viên đông đảo và uy tín trong cả nước.

Bước sang thế kỷ XXI, Trung tâm KHXH&NV Nghệ An (trực thuộc Sở Khoa học  và Công nghệ) ra đời đã trở thành nơi quy tụ, tập hợp các nhà nghiên cứu, các trí thức đầu ngành trong lĩnh vực KHXH&NV ở Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; Viện Nghiên cứu Kinh tế - Xã hội thành phố Hồ Chí Minh và các trường đại học trong nước. Nhiều công trình nghiên cứu gắn với thực tiễn, có tính ứng dụng cao, đã cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn cho lãnh đạo tỉnh hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ hội nhập và phát triển.

 Sự ra đời của các tổ chức, các hội hoạt động trong lĩnh vực KHXH&NV trong những năm qua đã tập hợp, thu hút đông đảo đội ngũ trí thức trong tỉnh, trong nước cùng nghiên cứu, giải quyết những vấn đề mà Nghệ An đang đặt ra trong quá trình phát triển.

3.2. Thu hút, tập hợp đội ngũ trí thức trong lĩnh vực khoa xã hội và nhân văn thông qua các chương trình khoa học 

Cùng với sự ra đời và hoạt động của các tổ chức, các hội là việc đặt hàng các chương trình nghiên cứu của tỉnh về lĩnh vực KHXH&NV, trong đó phải kể đến các chương trình thu hút nhiều chuyên gia, nhà khoa học, trí thức tham gia.

Chương trình "Kinh tế - xã hội Nghệ An trong tiến trình đổi mới" do Giáo sư, viện sĩ Nguyễn Duy Quý chủ trì với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, chuyên gia của Trung tâm KHXH&NV Quốc gia. Kết quả của chương trình đã đưa ra những đánh giá khoa học về điểm mạnh, điểm yếu của Nghệ An trong tiến trình đổi mới. Từ đó gợi mở cho lãnh đạo tỉnh những giải pháp để phát triển Nghệ An phù hợp với xu thế phát triển của cả nước. 

Chương trình KX01-NA "Con người Nghệ An trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa" do cố Phó Giáo sư Lê Bá Hán chủ trì thực hiện trong 2 năm 1996 -1998 với mục tiêu xây dựng những luận cứ khoa học, đề xuất, kiến nghị những giải pháp, động viên, phát huy tiềm năng con người Nghệ An thực hiện có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp, hóa hiện đại hóa, phát triển bền vững kinh tế, xã hội Nghệ An giai đoạn 1996-2000 và 2010. Chương trình đã tập hợp nhiều nhà khoa học của trường Đại học Vinh và một số chuyên gia của tỉnh cùng thực hiện, triển khai.

Chương trình "Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030" do Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng - Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam làm chủ nhiệm, với sự tham gia đông đảo của các nhà khoa học xã hội Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Sản phẩm của chương trình là cơ sở quan trọng để chuẩn bị nội dung báo cáo chính trị của Đại hội XVIII tỉnh Đảng bộ và một số chương trình khác. Việc thành lập các tổ chức nghiên cứu khoa học và các Hội trong lĩnh vực KHXH&NV đã thu hút, tập hợp được một lực lượng đông đảo trí thức nghiên cứu nhiều vấn đề về khoa học xã hội, góp phần giải bài toán phát triển của tỉnh nhà trong thời kỳ đổi mới.

Tuy nhiên, việc tập hợp đội ngũ trí thức trong lĩnh vực KHXH&NV trong những năm qua đang bộc lộ những vấn đề cần phải được khắc phục, đó là: Thiếu một chiến lược dài hạn cho từng ngành, do đó có lúc còn cảm tính, bột phát, thiếu bài bản; Số lượng trí thức tập hợp khá đông nhưng thiếu đồng bộ, thiếu đội ngũ chuyên gia đầu ngành, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội học, dân tộc, tôn giáo; Thiếu đội ngũ trí thức chuyên nghiệp, chuyên sâu dẫn đến hạn chế về các kết quả nghiên cứu và khả năng ứng dụng.

Hiện nay, Nghệ An đang giải quyết bài toán phát triển nhanh và bền vững. Nhiều vấn đề cần phải được trả lời một cách khách quan và khoa học: Tiềm năng, thế mạnh thực sự của Nghệ An là gì? Tại sao giàu tiềm năng, nhất là tiềm năng con người nhưng Nghệ An vẫn đang là tỉnh nghèo? Tại sao người Nghệ An khó làm giàu và phát triển được trên chính quê hương mình?…

Để góp phần cùng lãnh đạo tỉnh lý giải những vấn đề đang đặt ra, Nghệ An tiếp tục thu hút, tập hợp đội ngũ trí thức trong KHXH&NV về số lượng nhưng quan trọng hơn là chất lượng thể hiện tầm nhìn, trí thức uyên bác và kinh nghiệm trong việc nghiên cứu, phản biện khoa học.

Do vậy, để thực hiện được yêu cầu tập hợp và thu hút đội ngũ trí thức trong xu thế phát triển hiện nay, cần phải có cách tiếp cận các giải pháp mới, thực tiễn hơn, vừa tập hợp, thu hút, vừa kết nối và lan tỏa.

4. Một số giải pháp tập hợp, thu hút đội ngũ trí thức hoạt động trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trong tình hình hiện nay

4.1. Tiếp tục hỗ trợ để các tổ chức, đơn vị các hội có chức năng, nhiệm vụ trong tổ chức nghiên cứu KHXH&NV, trong tổ chức phản biện xã hội đổi mới các hình thức hoạt động nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, các hội tập hợp, thu hút trí thức thuộc lĩnh vực KHXH&NV.

4.2. Xây dựng môi trường và điều kiện thuận lợi cho trí thức hoạt động:

- Muốn tập hợp, thu hút trí thức trong lĩnh vực KHXH&NV, tỉnh phải xây dựng môi trường làm việc, môi trường cống hiến, cơ hội mở rộng và không gian cho trí thức phát huy.

- Xây dựng môi trường thực sự dân chủ trong hoạt động KHXH&NV: nghiên cứu khoa học, ý tưởng mới, đặc biệt là hoạt động phản biện xã hội của trí thức.

- Xây dựng cơ chế tạo ra cầu cho trí thức KHXH&NV: những dữ liệu, thực tiễn, luận cứ khoa học để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội: cầu trong phát triển để thu hút các tập đoàn doanh nghiệp lớn đầu tư vào tỉnh.

- Tỉnh phải có chiến lược phát triển, tầm nhìn và triển vọng đối với Nghệ An trong những năm tới tạo ra sức hấp dẫn, trở thành điểm đến lý tưởng cho trí thức.

4.3. Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh đội ngũ trí thức trong tình hình mới

- Mạnh dạn thể chế hóa một số chính sách thu hút, đãi ngộ trí thức của Nhà nước và thực tiễn của tỉnh theo hướng "vượt khung" để thu hút trí thức trong lĩnh vực tư vấn xây dựng chính sách, chính sách đầu tư, liên kết phát triển.

- Hàng năm tổ chức gặp gỡ động viên, đối thoại với trí thức những vấn đề đang đặt ra cho sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh trong không khí dân chủ, cầu thị, lắng nghe ý kiến của trí thức, cho dù những ý kiến còn trái chiều.

- Khơi dậy tình cảm, trách nhiệm với quê hương của đội ngũ trí thức. Trên thực tế, nếu có tình cảm, trách nhiệm gắn bó với quê hương thì ở đâu trí thức cũng đóng góp cho quê hương được, và ngược lại thì sống ngay trên mảnh đất sinh ra mình cũng chẳng có ý nghĩa gì. Thực tế vừa qua ở một số địa phương đưa ra những chính sách ưu đãi "vượt khung" để thu hút trí thức người tài… Nhưng cũng chính ở những địa phương này không ít trí thức, người tài năng sẵn sàng bỏ chi phí đào tạo chứ không chịu hồi hương.

4.4. Xây dựng cơ chế kết nối đội ngũ trí thức trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn làm việc ở các đơn vị Trung ương trên địa bàn tỉnh và trí thức trong nước và nước ngoài

Chúng ta đang sống trong một thế giới rất mở và kết nối. Vấn đề kết nối trí thức ở các cơ quan nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài chuyển giao các kết quả nghiên cứu, phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh là một hình thức hết sức quan trọng. Để kết nối, thu hút được trí thức ngoài tỉnh, trước hết tỉnh phải tạo môi trường thuận lợi cho đội ngũ trí thức trong tỉnh cơ hội phát triển và đãi ngộ xứng đáng với kết quả cống hiến của họ.

Để kết nối được lực lượng trí thức phải thông qua các hoạt động như đặt hàng nghiên cứu, tổ chức phối hợp các cuộc hội thảo khoa học, khảo sát tổng kết thực tiễn và tổ chức tư vấn phản biện xã hội, cơ chế chính sách…

4.5. Khẳng định và nâng cao vai trò của Liên hiệp các hội KHKT tỉnh và các hội thành viên trong việc tập hợp, thu hút đội ngũ trí thức

 Với chức năng tập hợp, đoàn kết và phát huy đội ngũ trí thức, Liên hiệp các hội KH - KT tỉnh tổ chức các hoạt động phản biện xã hội để tập hợp đội ngũ trí thức; mặt khác để tập hợp và thu hút đội ngũ trí thức thì Liên hiệp Hội và các hội thành viên phải là những tổ chức vững mạnh nhất, phương pháp và chất lượng hoạt động để tạo niềm tin cho đội ngũ trí thức.

4.6. Nâng cao tri thức, trách nhiệm đội ngũ trí thức trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

Trước hết phải khẳng định không ai nâng cao được vai trò của trí thức, nếu trí thức không tự khẳng định được chính mình. Do vậy, để thực hiện được nhiệm vụ của một trí thức trong lĩnh vực KHXH & NV, đòi hỏi trung thực trong công việc, luôn gắn với thực tiễn sôi động để nghiên cứu, đề xuất giải pháp đáp ứng với yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn; mặt khác các tổ chức, các hội cần có cơ chế trao đổi thông tin, cung cấp thông tin cần thiết, chính thống về thực tiễn của tỉnh, của đất nước cho đội ngũ trí thức.

5. Kết luận

Thế giới hiện nay đang đặt ra cho trí thức KHXH&NV hai vấn đề lớn:

Một là, phải trả lời được yêu cầu của cuộc sống đang đặt ra. Trong đó yêu cầu cao nhất là thế giới con người phải đạt tới một xã hội bền vững trên cơ sở phát triển cân đối, hài hòa giữa vật chất với tinh thần, hiện tại với tương lai và giữa các vùng miền với nhau.

 Hai là, phải có sứ mệnh đi trước thời đại, dự báo chính xác những vấn đề của xã hội loài người, dẫn đường cho ứng dụng hiệu quả các thành tựu của khoa học tự nhiên và công nghệ.

 Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đang đặt ra cho trí thức KHXH&NV những yêu cầu rất cụ thể và cũng rất nặng nề để Nghệ An cất cánh trong thời gian tới.

 

Tài liệu tham khảo

1. Tạp chí tuyên truyền, Đại hội VII - Đại hội của trí tuệ - Đổi mới - Dân chủ - Kỷ cương - Đoàn kết - Tháng 7/1991 - Tr.32.

2. Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) - NXB Đà Nẵng năm 2000 - Tr.1034.

3. Nghị quyết 27/NQ/TW của BCHTW (khóa X) về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, tr.1.

4. Đặng Hữu (chủ biên): 50 năm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (1945- 1975), NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, Tr.373.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam - Tỉnh ủy Nghệ An: Văn kiện ĐHĐB Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII - Tháng 12/2010, Tr.93.

 

LTS: Biên niên tiểu sử, cũng như những nghiên cứu gần đây về Chủ tịch Hồ Chí Minh đều khẳng định Nguyễn Tất Thành và anh trai là Nguyễn Tất Đạt đã theo học tại trường Tiểu học Pháp - Việt ở Vinh từ khoảng tháng 9 năm 1905 đến tháng 5 năm 1906. Thế nhưng, Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Vinh là ngôi trường nào, được thành lập bao giờ, vị trí của trường ở đâu? Nó đóng vai trò gì trong lịch sử giáo dục của thành phố Vinh và cả xứ Nghệ? Có thể và cần thiết phải làm gì để lưu niệm về ngôi trường này? Đó là những câu hỏi rất cần phải được nghiên cứu và trả lời. Rất tiếc, từ trước đến nay vấn đề này chưa được đầu tư nghiên cứu đúng mức.

          Để bước đầu làm sáng tỏ những vấn đề trên, ngày 27 tháng 11  năm 2019 vừa qua, tại thành phố Vinh, Sở KH&CN Nghệ An đã tổ chức Hội thảo khoa học "Trường Tiểu học Pháp Việt Vinh với Nguyễn Tất Thành".

          Tham dự hội thảo có đông đảo các nhà nghiên cứu đến từ Viện Sử học, Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội, Trường Đại học Vinh và tỉnh Nghệ An.

Chuyên san KHXH&NV Nghệ An xin tổng thuật lại cuộc hội thảo quan trọng này.

 

Đề dẫn của ông Phạm Xuân Cần, nguyên PGĐ Sở KH&CN Nghệ An:

          Báo cáo đề dẫn Hội thảo, ông Phạm Xuân Cần nêu lên một số vấn đề cần thảo luận: - Thứ nhất, xác định chính xác năm ra đời của Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh là năm nào? Hiện đang còn ba ý kiến khác nhau: 1. Năm 1899, do Tổng đốc Đào Tấn mời họa sỹ Lê Huy Miến từ Hà Nội về Vinh mở trường; 2. Năm 1905, do Lê Huy Miến từ Huế về Vinh mở trường; 3. Từ 1906 trở đi, tức là sau khi thực hiện cải cách giáo dục lần thứ nhất, cho phép mỗi tỉnh mở một trường Tiểu học Pháp - Việt.

          - Thứ hai, vai trò của các danh nhân Đào Tấn, Lê Huy Miến, đặc biệt là vai trò của danh nhân Cao Xuân Dục trong việc ra đời cũng như bảo trợ thành lập hay giảng dạy ở ngôi trường này như thế nào? Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh có phải chính là trường TH Cao Xuân Dục sau này?

          - Thứ ba, vấn đề Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Tất Đạt học ở đây như thế nào? Theo Biên niên tiểu sử Hồ Chí Minh do Viện Hồ Chí Minh công bố thì anh em Nguyễn Tất Đạt và Nguyễn Tất Thành đã theo học tại Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh từ khoảng tháng 9/1905 đến 5/1906. Tuy nhiên, hiện vẫn còn một số ý kiến băn khoăn về vấn đề này.

          - Thứ tư, địa điểm và hình ảnh của Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh. Về vấn đề này, ông Phạm Xuân Cần đã đưa ra bằng chứng là các bản đồ Vinh - Bến Thủy năm 1925 và 1936, ghi chú về vị trí của trường, cũng như đưa ra hình ảnh ngôi trường được tìm thấy trên trang thông tin điện tử của một bảo tàng ở Pháp.

          - Thứ năm, là đánh giá tầm vóc và giá trị lịch sử của Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh, đối với lịch sử giáo dục và lịch sử đấu tranh cách mạng, đặc biệt đối với sự hình thành tri thức và nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau đây là các ý kiến tham luận và phát biểu tại hội thảo:

          GS.TS Nguyễn Văn Khánh - Khoa Sử, Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội:

          Với tham luận "Giáo dục Tiểu học ở Trung kỳ đầu thế kỷ XX", GS.TS Nguyễn Văn Khánh đã nêu tổng quan tình hình giáo dục ở Trung kỳ đầu thế kỷ 20. Trong đó, đáng lưu ý có thông tin: "Cho đến đầu thế kỷ XX, hệ thống giáo dục ở Việt Nam vẫn có sự khác nhau khá lớn. Trong khi ở Nam kỳ, chữ Hán hầu như bị bãi bỏ, trường Pháp - Việt đều được mở tại hầu hết các xã, tổng thì ở Bắc và nhất là ở Trung kỳ, trường chữ Hán còn tồn tại khắp nơi; trường dạy chữ Pháp và chữ Quốc ngữ rất ít ỏi. Riêng ở Trung kỳ, đến năm 1900, mới có 8 trường Pháp - Việt ở Thanh Hóa, Nghệ An (Vinh), Huế, Hội An và Nha Trang" (Doumoutier (1900), L'Enseignement Franco-Annamites, Hanoi, tr.33. Dẫn theo Phan Trọng Báu (2015), Giáo dục Việt Nam thời cận đại, tr. 62).

          TS. Trần Thị Phương Hoa  Phó Viện trưởng Viện Sử học:

          Tỉnh Nghệ An, thủ phủ thành phố Vinh là một trung tâm học vấn quan trọng của Trung kỳ thời Pháp thuộc. Trong giai đoạn trước năm 1919, tức là trước khi thi cử Nho học chấm dứt hoàn toàn, Nghệ An có đủ các loại hình trường học: trường Nho học, trường Pháp - Việt, trường Pháp.

          Tương tự như thực trạng giáo dục ở Trung kỳ giai đoạn này, các trường Nho học chiếm ưu thế rõ rệt. Nghệ An có 1 trường Trung học (trường Đốc học), 8 trường Tiểu học (trường Giáo thụ/Huấn đạo) và trên dưới 1 ngàn trường Ấu học (trường Hương sư). Đặc biệt Nghệ An có nhiều trường Ấu học do cá nhân tự bỏ tiền ra xây dựng (nhưng giáo viên do Sở Học chính và chính quyền phê duyệt, điều động).

          Nghệ An cũng sớm thành lập trường Pháp - Việt, tiêu biểu nhất là trường Tiểu học Pháp - Việt Kiêm bị ở Vinh. Mặc dù không có tài liệu chính thức về trường học ở Vinh vào năm 1906, qua khảo sát về trường Tiểu học Pháp - Việt kiêm bị Vinh năm 1910 có thể suy luận trường này đã được hình thành từ khoảng năm 1906. Năm 1920, trường College Vinh thành lập, là 1 trong 4 trường Cao đẳng Tiểu học Trung kỳ giai đoạn này (cùng với Quốc học Huế, Đồng Khánh Huế, Quốc học Quy Nhơn). Ở giai đoạn đầu (1920 - 1922) học sinh College Vinh sử dụng cơ sở của trường Tiểu học Kiêm bị Vinh trước khi chuyển sang cơ sở mới.

Cho đến năm 1919, ở Vinh chỉ có 1 trường Tiểu học Pháp - Việt (cũng là trường Tiểu học Pháp - Việt duy nhất của Nghệ An), còn gọi là trường Kiêm bị Pháp - Việt (trường có đủ 4 lớp).

Ông Trần Minh Siêu - Nhà nghiên cứu thành phố Vinh:

          Tháng 9 năm 1905, Trường Tiểu học Pháp -Việt Vinh ra đời do họa sĩ Lê Văn Miến sáng lập. Đây là ngôi trường công, do danh sĩ Cao Xuân Dục xuất tiền xây dựng, là người bảo trợ và tài trợ cho hoạt động dạy học.

          Nội dung giảng dạy gồm: Giáo dục đạo đức, tập đọc, tập viết, số học, khái niệm về hình học thực hành và đo đạc, khái niệm về khoa học vật lý và khoa học tự nhiên, ứng dụng khoa học trong nông nghiệp, vệ sinh, mỹ nghệ và một số tiết chữ Hán.

          Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh gồm 4 lớp: lớp dự bị (lớp tư), lớp sơ đẳng (lớp ba), lớp nhì, lớp nhất.

          Nội dung giảng dạy của trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh hoàn toàn mới mẻ, có sức hấp dẫn đối với các nhà Nho đang khao khát tìm cái mới, nhất là việc học hành của các con trong độ tuổi đến trường, khác hẳn với trường dạy chữ Hán trước đây.

          Những thông tin mới mẻ về trường Tiểu học Việt - Pháp Vinh ra đời đã đáp ứng lòng mong đợi của ông Nguyễn Sinh Sắc, lại được người bạn quen thân là ông Nghè Nguyễn Quý Song quê ở làng Xuân Hồ cách làng Kim Liên về phía Tây Bắc chưa đầy 3km động viên, thôi thúc.

          Ý kiến của ông Nghè Nguyễn Quý Song là: Muốn hiểu Pháp thì phải học chữ Pháp. Muốn đánh thắng Pháp thì phải học văn minh Pháp.

          Ông Nguyễn Sinh Sắc quyết định cho cả hai người con là Nguyễn Tất Đạt và Nguyễn Tất Thành vào học trường Tiểu học Pháp - Việt, cách quê nhà Kim Liên 15 km. Hai anh em ở trọ trong một gia đình nghèo ở cầu Rầm thị xã Vinh, chiều thứ bảy đi bộ về thăm nhà, sáng thứ 2 lại xuống Vinh học tập.

          Theo quy cách hồi đó về phía trên bảng đen trong lớp của trường Tiểu học Pháp - Việt có 3 chữ Pháp "Liberté, Égatité, Frateite" được trưng lên (nghĩa là: Tự do - Bình đẳng - Bác ái).

          Lý tưởng cao đẹp của cuộc đại cách mạng Pháp năm 1789 được trưng bày ở vị trí trang trọng nhất của lớp học, nhưng thái độ của các thầy giáo người Pháp đối với học sinh và nhất là thực trạng xã hội đang hàng ngày, hàng giờ diễn ra ở khắp mọi nơi, Nguyễn Tất Thành thấy hoàn toàn trái ngược hẳn.

          Sau khi từ chối con đường Đông Du sang Nhật được mấy tháng, lại được tiếp xúc, rồi trải nghiệm với thực trạng gay cấn ở trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh, Nguyễn Tất Thành nảy ra hoài bão là muốn đến tận nơi đã phát sinh 3 chữ: "Tự do - Bình đẳng - Bác ái" để tìm ra bản chất vốn có của nó.

          Tư duy của Nguyễn Tất Thành phát sinh ở trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh niên khóa 1905- 1906 rất độc đáo. Thực chất là Nguyễn Tất Thành muốn đi sang phương Tây để khảo sát, để nghiên cứu, để học tập văn minh của nhân loại, rồi trở về Việt Nam để giúp đồng bào ta cứu nước cứu dân. Có thể nói rằng ở Việt Nam, trước Nguyễn Tất Thành chưa có ai có được tư duy này.

          Niên khóa 1905-1906 của trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh vừa kết thúc, triều đình Huế lại đưa giấy mời ông Nguyễn Sinh Sắc vào kinh đô Huế làm quan. Hết lý do từ chối, Nguyễn Sinh Sắc phải từ giã quê hương, lên đường nhậm chức. Ý nguyện muốn tiếp xúc với nền văn minh Pháp để tìm hiểu bản chất của nó ngày càng thôi thúc, tháng 5  năm 1906, Nguyễn Tất Thành được cha đưa vào kinh đô Huế.

          Trường tiểu học Pháp - Việt thành lập từ tháng 1905 đến nay (2019) có thời gian 114 năm, là một di sản văn hóa, có đầy đủ giá trị tinh thần và vật chất. Nhưng qua thời gian hơn một thế kỷ, những biến động sâu sắc của xã hội ở Vinh, trong đo có chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, nhất là sự thiếu hiểu biết để bảo tồn sự quý giá di sản văn hóa của một số người nên hình thể vật chất của trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh không còn hiện hữu trên bộ mặt của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

          Tôi kính đề nghị tất cả chúng ta cố gắng đề xuất cách thức phục hồi toàn diện hoặc một phần nào đó bộ mặt của trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh để góp phần giáo dục truyền thống văn hóa, giáo dục cho thế hệ sau. Hoặc có thể dựng một bia lưu niệm để tôn vinh sự kiện anh em Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt đã học tập trong niên khóa đầu tiên (1905-1906) tại trường.

TS. Phan Xuân Thành - Nguyên Giám đốc Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh:

          "Trường tiểu học Pháp - Việt Vinh do thực dân Pháp mở năm 1899, thầy giáo Lê Văn Miến được cử làm đốc giáo (Hiệu trưởng). Thầy Lê Văn Miến làm đốc giáo trường này từ năm 1899 đến năm 1902 và năm 1904 đến năm 1906" (Địa chí thành phố Vinh (UBND thành phố Vinh), NXB Thông tin và Truyền thông Hà Nội, năm 2015, tr.673). Khoảng tháng 9/1905 ông Nguyễn Sinh Sắc cho hai người con trai là Nguyễn Tất Đạt và Nguyễn Tất Thành xuống thị xã Vinh học lớp dự bị của trường tiểu học Pháp - Việt, cách Kim Liên 15km. Làng Kim Liên còn có Chu Văn Phi (tức Nậy) cũng học với anh Thành. Trường tiểu học Pháp - Việt Vinh đóng ở đường Gia Long nay là đường Đặng Thái Thân.

          Ngôi trường này đã đào tạo hàng trăm danh nhân, nhà cách mạng, nhà khoa học nổi tiếng, đã theo học như Trần Phú, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Xiển. Riêng Giáo sư Nguyễn Xiển khi 10 tuổi mới đi học trường Pháp - Việt Vinh. Sau khi học ở trường này, năm 1922 Giáo sư mới học Trường Quốc học Vinh. Các thầy giáo người Pháp dạy ở trường tiểu học Pháp - Việt Vinh chuyển lên dạy ở trường Quốc học Vinh như thầy Merlier, thầy Legell.

          Trong những năm học trường Pháp - Việt ở Vinh, cũng như trường Quốc học Huế, cụ Nguyễn Sinh Sắc đã gửi gắm hai người con, đặc biệt là Nguyễn Tất Thành cho cụ Lê Văn Miến. Chính nhân cách, tài năng và tâm huyết của thầy Lê Văn Miến đã ảnh hưởng không nhỏ đến thế hệ học trò. Đúng như Giáo sư Lê Thước hàm ơn người thầy của mình: "Cụ Miến không chỉ dạy chữ, dạy bài học về lòng yêu nước, về ý nghĩa của một kẻ sĩ, mà cụ Miến còn là tấm gương cho bao thế hệ học trò trong việc hình thành nhân cách của họ".

Ông Nguyễn Thể - Cựu học sinh Trường TH Pháp - Việt Vinh:

          Tôi sinh 1933, tại thành phố Vinh. Năm 1940, tôi được cha xin vào học ở Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh, lúc đó Trường đã được đổi tên thành Trường Tiểu học Cao Xuân Dục. Khi có thông tin nói Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh là Trường Tiểu học Cao Xuân Dục, tôi có đem thắc mắc hỏi anh rể tôi là Phạm Nhượng - nguyên Hiệu trưởng Trường Huỳnh Thúc Kháng thì được anh khẳng định Trường Tiểu học Cao Xuân Dục chính là Trường Tiểu học Pháp - Việt được đổi tên.

          Nhưng thời điểm đổi tên là lúc nào thì chưa rõ, chính Phạm Nhượng cũng học ngôi trường này và ông đỗ đầu một khóa thi của tiểu học Pháp Việt. Trường chính là nơi địa điểm trên bản đồ, trên đường Đặng Thái Thân từ ngã tư Quang Trung đi vào thì đầu tiên là nhà băng Đông Dương, tiếp đó là Trường Tiểu học Cao Xuân Dục bên đường Đặng Thái Thân hiện nay, bên cạnh là Trường nữ sinh Nguyễn Trường Tộ, hiện nay là địa điểm đóng của Công ty Văn hóa tổng hợp và khu dân cư Công ty Văn hóa tổng hợp.

          Trường Tiểu học Pháp - Việt thời kỳ đó có 3 lớp học ở Văn Miếu, ở Văn Thánh, hiện nay là đất của Công ty In Nghệ An. Sau khi học xong, trải qua nhiều kỳ thi thì mới lên học Quốc học Vinh. Tôi học từ năm 1941-1946, đến năm 1947 thì đến ngày toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, thời kỳ đầu Trường dời vào Hoàng Cung ở trong thành nội học tạm, sau đó trường đóng cửa. Lúc bấy giờ toàn thành phố phải tiêu thổ kháng chiến, phải tản cư, gia đình tôi tản cư lên Dương Liễu, Tân Hợp, Nam Đàn, tôi học xong tiểu học ở nơi này.

          Như vậy có thể khẳng định Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh có từ lâu, và sau này đổi tên thành Trường Tiểu học Cao Xuân Dục.

Ông Tôn Thất Chuyên - Cựu học sinh Trường TH Pháp - Việt Vinh:

          Nhà tôi trước đây ở đoạn đường Đinh Công Tráng, đường đó kéo dài cắt qua đường Quang Trung, qua nhà băng Đông Dương rồi đến Trường Tiểu học Cao Xuân Dục, sau Trường Tiểu học Cao Xuân Dục là Trường nữ sinh Nguyễn Trường Tộ.

          Ngoài việc tôi từng là học sinh của Trường thì bố tôi cũng từng dạy tại đó. Đến năm 1946, trường chuyển vào học trong hành cung, bởi năm đó Trường Tiểu học Cao Xuân Dục bị bọn Tàu Tưởng sang chiếm và không học được.

Ông Phạm Xuân Cần, nguyên PGĐ Sở KH&CN: KẾT LUẬN

          Từ ý kiến của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhân chứng lịch sử chúng ta phải khẳng định dù ra đời năm nào, ai thành lập thì Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh vẫn là cơ sở giáo dục tân học đầu tiên của thành phố Vinh nói riêng và Nghệ Tĩnh nói chung, nếu mở rộng ra có thể cả vùng Bắc Trung bộ lúc bấy giờ. Và, qua tài liệu, ý kiến có thể khẳng định:

          Thứ nhất, Trường Tiểu học Cao Xuân Dục ban đầu chính là Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh.

          Thứ hai, vị trí đặt trường, địa điểm đặt Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh đã có căn cứ khẳng định chính xác thông qua tư liệu, tài liệu, bản đồ bằng tiếng Pháp lúc bấy giờ, cũng như sự xác nhận của các nhân chứng, đó là trên đường Gia Long cũ nay là trường Đặng Thái Thân. Trường đóng cả ở hai phía Bắc và Nam của đường Đặng Thái Thân ngày nay. Cụ thể được giới hạn bởi: Phía Bắc là đường Jean Dupuis (Nay là đường Nguyễn Nghiễm); Phía Đông là đường Paul Bert (Nay là đường Nguyễn Cảnh Chân; Phía Nam là đường Đồng Khánh (Nay không còn); Phía Tây là đường Clemenceav (Nay là đường Nguyễn Công Trứ), còn đường Gia Long (Nay là đường Đặng Thái Thân) chạy xuyên qua giữa.

          Thứ ba, năm 1992, trong dịp kỷ niệm lần thứ 102 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã cho ra mắt tập đầu tiên của công trình nhiều tập Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử. 

Trong đó nêu rõ:

          "Năm 1905. Khoảng tháng 9

          Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt được ông Nguyễn Sinh Huy xin cho theo học lớp dự bị (préparatoire). Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh, cách Kim Liên khoảng 14km.

          Hai anh em trọ ở một gia đình nghèo mạn Cầu Rầm (Vinh) và chiều thứ bảy thường đi bộ về thăm nhà, sáng thứ hai lại xuống Vinh.

Chính tại trường tiểu học này, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên tiếp xúc với khẩu hiệu TỰ DO - BÌNH ĐẲNG - BÁC ÁI.

           - Chưa hết năm học, Tất Thành cùng cha vào Huế nhân dịp cha vào Kinh đô nhận chức.

          - Tài liệu của Khu di tích Kim Liên và Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ - Tĩnh.

          - Hồi ký của ông Chu Văn Phi, người cùng học lớp dự bị với Nguyễn Tất Thành. Tài liệu lưu tại Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ An.

          Năm 1906. Cuối tháng 5

          Nguyễn Tất Thành cùng Nguyễn Tất Đạt theo cha vào Huế trong dịp ông Nguyễn Sinh Huy vào kinh đô nhậm chức" (Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, Học viện CTQGHCM - Viện HCM, NXB Chính trị Quốc Gia 1992).

          Như vậy, có căn cứ để nói rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh từng học tại Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh. Tuy nhiên, nếu có thêm thông tin, tư liệu về vấn đề này thì vẫn rất đáng quý.

          Thứ tư, Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh từng là nơi hai cố Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam là Trần Phú và Hà Huy Tập và rất nhiều nhà cách mạng và nhà khoa học hàng đầu của Việt Nam từng dạy và theo học.

          Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh cũng là nơi mà nhiều nhà cách mạng và nhân sĩ, trí thức tài danh của nước ta đã từng giảng dạy hoặc học tập. Đặc biệt, có hai cố Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng giảng dạy tại đây, là Trần Phú và Hà Huy Tập, cùng với những người thầy khác cũng là những nhà cách mạng tên tuổi, như Trần Mộng Bạch, Trần Văn Tăng, Bùi Văn Bình... Bên cạnh đó hàng chục nhà cách mạng, nhà khoa học, nhân sỹ, trí thức tên tuổi cũng đã từng học tập dưới mái trường này, như Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai, Siêu Hải, Nguyễn Ngọc Ba, Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Thị Xuyến, Nguyễn Thị Nhuận, Trần Thị Liên, Nguyễn Tiềm, Chu Văn Biên, Hồ Mỹ Xuyên, Nguyễn Đức Dương, Phạm Khắc Hòe, Nguyễn Xiển, Hoàng Xuân Hãn, Đặng Thai Mai… Đó cũng là nơi ghi dấu ấn của danh sỹ Cao Xuân Dục và danh họa, nhà giáo Lê Huy Miến.

Tuy nhiên, ngoài 4 vấn đề đã được khẳng định tại Hội thảo thì hiện nay đang có mấy vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu:

          Thứ nhất, cần xác định chính xác năm ra đời của Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh là năm nào?

          Thứ hai, vai trò của danh nhân Cao Xuân Dục trong việc ra đời cũng như bảo trợ thành lập hay giảng dạy ở ngôi trường này như thế nào?

          Thứ ba, vẫn cần tiếp tục thu thập, xác minh thêm về vấn đề Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Tất Đạt đã học tại Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh.

          Hội thảo cũng đã gợi ra một số phương hướng để tiếp tục tìm kiếm thông tin, tài liệu, nhằm tiếp tục làm rõ những vấn đề trên.

          Dù đang có những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, xác minh rõ hơn, vẫn có thể khẳng định tầm vóc lịch sử của Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh. Trước hết, đó là cơ sở giáo dục tân học đầu tiên của thành phố Vinh và của Nghệ An. Cùng với trường Quốc học Vinh và các trường khác, Trường THPV Vinh đã góp phần biến Vinh - Bến Thủy thành trung tâm giáo dục lớn nhất ở Bắc Trung bộ. Không chỉ thế, đây là ngôi trường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng theo học; hai cố Tổng Bí thư Đảng CS Việt Nam, là Trần Phú và Hà Huy Tập từng giảng dạy. Đồng thời có hàng chục nhà cách mạng, nhà khoa học, nhà văn hóa hàng đầu Việt Nam từng theo học tại đây.

          Hội thảo đề nghị ghi nhận và tôn vinh tầm vóc và giá trị lịch sử hết sức quan trọng của Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh đối với sự nghiệp giáo dục và sự nghiệp mạng giải phóng dân tộc của Thành phố Vinh, của tỉnh Nghệ An và của cả dân tộc. Chính vì vậy, Hội thảo đề nghị cấp ủy và chính quyền các cấp cần sớm có chủ trương về xây dựng một công trình lưu niệm ngôi trường này. Trong điều kiện hiện nay, cần thiết và có thể, hoặc là phục dựng lại một phần ngôi trường; hoặc là dựng một bia dẫn tích tại vị trí nơi trường đóng ngày xưa.

TÒA SOẠN

 

Phan Trọng Đông

1. Bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay

Toàn cầu hóa đã và đang diễn ra hết sức mạnh mẽ như một tất yếu, khách quan của quá trình vận động, lôi cuốn, bao trùm trên tất cả các lĩnh vực, vừa thúc đẩy cơ hội hợp tác, vừa gia tăng sức ép cạnh tranh và tạo nên ràng buộc lẫn nhau giữa các quốc gia, vùng miền. Cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ dẫn đến sự bùng nổ tri thức, làm cho sản xuất và mọi lĩnh vực đời sống văn hóa, giáo dục sẽ phải đổi mới nhanh chóng, kịp thời về nhận thức cũng như các hoạt động của đời sống hàng ngày. Để thích ứng kịp thời với sự thay đổi từng ngày, từng giờ của sản xuất cũng như đời sống, cá nhân và cộng đồng, việc trang bị những kiến thức, kỹ năng mới, điều chỉnh ứng xử phù hợp với những cái mới trở thành nhu cầu.

Trong thời đại toàn cầu hóa, đòi hỏi giáo dục ở Việt Nam cần đổi mới về tư duy, hướng cộng đồng về một xã hội học tập với nền kinh tế tri thức. Đồng thời, làm rõ cho người học những quan niệm về văn hóa của nhân loại, chủ động hội nhập và đối thoại giữa các nền văn hóa, để có thể sống bao dung với các giá trị văn hóa của cộng đồng khác. Những thành quả của khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật, y học, thể thao,… là những thành tựu văn hóa chung của nhân loại, đòi hỏi con người phải học tập suốt đời mới thích nghi với sự phát triển của nó. Để vượt qua được những thách thức, tận dụng cơ hội, mỗi người, mỗi cộng đồng, quốc gia, dân tộc đều phải tăng cường giáo dục, học tập để nâng cao dân trí, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho sự phát triển đất nước, giao lưu hội nhập khu vực và quốc tế.

2. Phát huy các phẩm chất tốt đẹp của nhà giáo trong phát triển văn hóa nhà trường phổ thông trước bối cảnh đổi giáo dục hiện nay

Đất nước phát triển cùng với sự hội nhập đã mở ra nhiều cơ hội lớn cho kinh tế xã hội gia tăng, tuy nhiên song hành với đó là những tác động của mặt trái thị trường, dẫn đến tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nó len lỏi đến mọi nơi, mọi đối tượng trong xã hội. Đặc biệt nó làm ảnh hưởng đến giáo dục, làm cho hình ảnh của nhà giáo trở nên xấu xí trong niềm tin của nhân dân. Vì vậy, việc phát huy các phẩm chất của nhà giáo trở thành yêu cầu cấp thiết, là biện pháp hiệu quả nhằm duy trì, phát triển các giá trị văn hóa tốt đẹp, tạo nên tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Trong nhà trường việc giáo dục tư tưởng, đạo đức, văn hóa cho học sinh được thực hiện dưới nhiều hình thức, song giáo dục nêu gương từ các phẩm chất tốt đẹp của nhà giáo là phương pháp đạt hiệu quả và giá trị cao nhất, là một trong những nguyên tắc cơ bản trong giáo dục đạo đức mới.

Trong khuôn khổ bài viết, tôi xin đề cập một số phẩm chất nhà giáo cần cho việc tạo dựng nét đẹp văn hóa nhà trường, làm tấm gương cho học sinh noi theo.

2.1. Đạo đức, tác phong, lối sống văn hóa

2.1.1. Đạo đức

Theo sách Từ điển Tiếng Việt: "Đạo đức là những phép tắc được xã hội thừa nhận, qui định quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với tập thể". Nếu hiểu theo tính chất thì nó có nghĩa là "Phẩm chất tốt của con người"(1). Đạo đức là hệ thống các quy tắc chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, của xã hội(2). Đến nay chưa có một định nghĩa cụ thể nào về đạo đức nhà giáo, tuy nhiên khi xem nhà giáo là người hoạt động trong nghề giáo dục thì đạo đức nhà giáo chứa đựng những "quy tắc kỹ thuật" và những "quy luật đạo đức" để xác định giá trị chuyên biệt, cũng như nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm của các thành viên trong khi thi hành ngành nghề chuyên môn. Chúng ta có thể hiểu, đạo đức nhà giáo là những tiêu chuẩn đạo đức đối với những con người tham gia vào sự nghiệp giáo dục, "hướng tới những cách ứng xử của người dạy học đối với một thế hệ, trong hiện tại và cả tương lai". Khi xây dựng và hoàn thiện hình ảnh đạo đức nhà giáo, mỗi giáo viên cần thực hiện tốt các nội dung căn bản sau(3):

- Tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh dự, l­ương tâm nhà giáo; có tinh thần đoàn kết, th­ương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và trong công tác; có lòng nhân ái, bao dung, độ lư­ợng, đối xử hoà nhã với người học, đồng nghiệp; sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người học, đồng nghiệp và cộng đồng.

- Tận tụy với công việc; thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội quy của đơn vị, nhà trư­ờng, của ngành.

- Công bằng trong giảng dạy và giáo dục, đánh giá đúng thực chất năng lực của người học; thực hành tiết kiệm, chống bệnh thành tích, chống tham nhũng, lãng phí.

- Thực hiện phê bình và tự phê bình thường xuyên, nghiêm túc; thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục.

2.1.2. Tác phong, lối sống

2.1.2.1. Tác phong

Tác phong là sản phẩm nhận thức và tư duy khoa học của con người, phản ánh hành vi ứng xử của con người với công việc và xã hội. Tác phong là cách thức, lối làm việc và cách sống riêng của mỗi người(4). Tác phong không phải là bẩm sinh, mà nó phải trải qua một quá trình nhận thức và rèn luyện lâu dài của con người trong môi trường xã hội. Tác phong làm việc được hiểu là một bộ phận trong tác phong của con người, nó thể hiện ở cách thức, lề lối tiến hành và giải quyết công việc cụ thể. Mỗi giáo viên phải xây dựng cho mình tác phong văn hóa trong làm việc, sinh hoạt, đó là:

Tác phong làm việc khoa học, nền nếp, ngăn nắp, cần mẫn trong suy nghĩ và hành động. Khi tác phong này được thực hiện tốt thì hệ quả của nó là chất lượng và hiệu quả, các hồ sơ được sắp xếp ngăn nắp gọn gàng.

Tác phong đúng giờ, tiết kiệm thời gian tối đa và phân bổ thời gian để giải quyết công việc một cách hợp lý, khoa học, tôn trọng công việc và tôn trọng con người(5). Khi giáo viên thực hiện đúng giờ là lúc học sinh cảm thấy được tôn trọng và khi giáo viên đến trễ giờ tạo nên sự xáo trộn, ức chế, làm mất thiện cảm, sự hứng thú học tập bị giảm xuống. Vì vậy, mỗi giáo viên phải cố gắng hết mức có thể để đến đúng giờ dù là chuyện cá nhân hay trong công việc, coi trọng thời gian lên lớp, thời gian làm việc. Đúng giờ là một đức tính và là yếu tố vô cùng then chốt để tạo dựng hình ảnh nhà giáo, là biểu tượng của chính xác, trung thực và uy tín đối với người học.

2.1.2.2. Lối sống

Theo Vũ Khiêu, lối sống là một phạm trù xã hội học khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa(6).

Theo cách hiểu đơn giản, lối sống là sinh hoạt cá nhân, chủ quan hóa của hệ thống những quan hệ xã hội, của toàn bộ tổng thể những điều kiện sống, thể hiện ra trong những hoạt động của con người. Mỗi giáo viên luôn chọn cho bản thân một lối sống đẹp và chính nó trở thành giá trị tinh thần để học sinh hướng tới. Lối sống đẹp là sống có mục đích, có ước mơ, lí tưởng, sống có chí cầu tiến, biết đứng dậy bằng chính đôi chân của mình khi vấp ngã. Lối sống đẹp còn là một lối sống có văn hóa, lịch sự; là một cuộc sống có tri thức, có tình người.

Để lối sống nhà giáo trở thành biểu tượng văn hóa cho học sinh noi theo, chính trong cuộc sống hằng ngày giáo viên phải thể hiện sống đẹp, sống có ích. Trong mọi hoàn cảnh, trước hết phải xuất phát từ lòng nhân ái, từ tình yêu thương, hết lòng vì học sinh, sự bao dung, thứ tha, sự quan tâm, chia sẻ đối với những học sinh khó khăn. Trước các tệ nạn xã hội, giáo viên phải là người kiên định, tỉnh táo, biết nhận thức, biết yêu thương đối với những người sa ngã. Lối sống tốt đẹp của giáo viên là tấm gương tỏa sáng, giúp học sinh tự cảm nhận, tự ngộ ra và tự điều chỉnh mình theo chiều hướng tích cực, thoát khỏi những trò vui vô bổ, những thói ăn chơi trụy lạc, trở về với hoạt động vui chơi lành mạnh, tham gia các hoạt động xã hội có ích. Vì vậy mỗi giáo viên cần xây dựng cho bản thân mục tiêu, lý tưởng hợp lý, hài hòa giữa các giá trị vật chất, giá trị tinh thần, giá trị thẩm mỹ, giá trị nhân văn… phải thực sự hài hòa trong quan hệ tương tác giữa thầy và trò làm cho mối quan hệ trở nên đẹp đẽ, giá trị hơn.

2.2. Lịch sự, chân thành, kiêm tốn, trung thực

2.2.1. Phép lịch sự

Theo Wikipedia: lịch sự (hay còn gọi phép lịch sự, politeness) là cách cư xử hay, phép xã giao tốt trong xã hội loài người. Mục đích của phép lịch sự là làm thỏa mãn và hài lòng các bên. Người lịch sự là người hội tụ nhiều nét đẹp trong giao tiếp hằng ngày. Lời nói lịch sự thì trong sáng, vừa dễ hiểu vừa có ngôn từ đẹp, lập luận chặt chẽ, lô gic. Lịch sự trong cách ăn mặc là gọn gàng, sạch đẹp, kín đáo vừa đủ. Lịch sự trong ứng xử đó là có thái độ nhã nhặn, lễ độ khi tiếp xúc, phù hợp với quan niệm về phép tắc xã giao của xã hội, là cách ứng xử tử tế, tế nhị để tỏ lòng mến mộ và nhân hậu của mình, hoặc có thể nói đó là nghệ thuật tự quên mình vì người khác, nó vừa là sự thiện tâm, sự khéo léo của lý trí, và duyên dáng của thái độ cư xử.

Người giáo viên lịch sự trước hết phải hội tụ những vẻ đẹp của phép lịch sự và biến chúng thành phương tiện giao tiếp trong mọi hoàn cảnh, mọi mối quan hệ. Đặc biệt là với học sinh, giáo viên phải luôn luôn chuẩn mực trong lời nói, cách ăn mặc, cách ứng xử. Một nhà giáo được đánh giá là lịch sự khi cử chỉ hành vi (hành động) và ý thức (tâm hồn) luôn hướng tới lẽ thiện, tạo ra một khối lượng công việc biểu lộ sự "biết sống", biết hòa nhập với mọi người và cùng mọi người tạo ra đời sống xã hội. Phép lịch sự được thể hiện tự nhiên, không khoa trương mà gắn liền với lối sống có nhân cách. Phép lịch sự nói theo một cách khác đó là thể hiện tính rộng lượng và thái độ tôn trọng với người tiếp xúc là học sinh.

Phép lịch sự nó không có nhiều trong sách vở, mà chính học sinh thường học hỏi qua cách ứng xử của người lớn mà đầu tiên là giáo viên, qua các hoạt động giáo dục kỹ năng sống, các hoạt động trải nghiệm. Phép lịch sự rất cần thiết cho mọi người, đặc biệt là học sinh những người đang ở lứa tuổi thành niên, vì họ đang trong quá trình hoàn thiện nhân cách cho mình.

Khi nhà giáo là biểu tượng văn hóa của phép lịch sự thì nó có sự lan tỏa sâu rộng phẩm chất tốt đẹp này đến với tất cả học sinh khiến mỗi học sinh đều có thể trở thành những con người lịch lãm, lễ độ, đúng mực, biết kính trọng, biết tôn ti trật tự và yêu thương con người.

2.2.2. Chân thành

Chân thành có thể hiểu là thành thật và thẳng thắn, không giả bộ, bóp méo sự thật, hoặc mánh khóe. Là một người có đức tính chân thành, trước hết phải sống thành thật với chính mình, rồi mới thành thật với mọi người, thành thật từ trong tâm, lời nói, đến ứng xử và hành động.

Với giáo viên, muốn thật sự chân thành, bạn phải có trái tim biết yêu thương để đồng cảm với học sinh trước khó khăn, nỗi đau hay mất mát mà học sinh phải trải qua, có thể bao dung, độ lượng, bỏ qua những lỗi lầm của con trẻ. Khi yêu thương, rộng lượng trước lỗi lầm của học trò thì giáo viên không chỉ cứu rỗi được linh hồn, nhân cách của các em, giúp các em nhận thức chính mình, trở thành một người thành thật hơn, từ đó trở nên chân thành hơn khi giao thiệp với người khác.

Khi giáo viên chân thành, khoan dung, độ lượng, tôn trọng những ưu điểm, cũng như biết trân trọng những điểm khác biệt sẽ làm cho học sinh cảm thấy được tôn trọng là cách để cảm hóa, tạo động lực, phát huy tính độc lập tự chủ, sáng tạo trong học tập. Mặt khác, sự chân thành, khoan dung, độ lượng sẽ làm khoảng cách giữa giáo viên và học sinh được xích lại gần nhau. Khi đó giáo viên không chỉ là thầy cô mà còn có thể là bạn, có thể là điểm tựa cho học trò. Những  phẩm chất này giúp giáo viên thấy rằng họ có thể tạo ra sự khác biệt cho thế giới và tích cực đáp ứng nhu cầu của người học, góp phần xây dựng môi trường học tập văn hóa, tích cực và thân thiện.

2.2.3. Khiêm tốn

Khiêm tốn là có ý thức và thái độ đúng mực trong việc đánh giá bản thân, không tự đề cao, không kiêu căng, tự phụ. Thái độ khiêm tốn thể hiện qua từng lời nói, hành động và cử chỉ một cách thật tâm đối với mọi người.

Khi giáo viên là một người có thái độ khiêm tốn trước các thành quả lao động, trước các thành tích đạt được thì nó tạo nên sự cuốn hút, ngưỡng mộ mà học tập, để rồi chính học sinh tự soi, tự sửa trước những việc làm của bản thân, tự làm đẹp các thành quả học tập bằng sự khiêm nhường, lịch thiệp. Thái độ khiêm tốn của giáo viên dạy cho học sinh khả năng tự chủ cao, kiểm soát bản thân tốt, chiến thắng "cái tôi", không ảo tưởng để bị cuốn theo những tham vọng cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy "khiêm tốn bao nhiêu cũng không đủ, tự kiêu một chút đã là thừa". Đạo đức khiêm tốn, lối sống giản dị của giáo viên có sức lay động lớn đến từng tâm hồn mỗi học sinh mà không một bài thuyết giảng về đạo đức nào có thể có tác dụng giáo dục sâu sắc bằng.

2.2.4. Trung thực

Trung thực là tôn trọng sự thật, thành thực với chính mình, với mọi người, với công việc, là chân thật trong từng lời nói và hành động. Khi giáo viên là một người trung thực, đồng nghĩa đó là người thật thà, ngay thẳng, chân thành trong cách đối xử với mọi người, với mọi học sinh. Họ luôn nhìn nhận khách quan về các sự việc trong cuộc sống, luôn tôn trọng và bảo vệ chân lí; không gian dối, không ích kỉ hay vụ lợi cá nhân. Một giáo viên trung thực luôn hướng đến lợi ích chung của tập thể lớp, tập thể nhà trường, và giáo viên là người có thể sẵn sàng hi sinh lợi ích của bản thân để bảo vệ lẽ phải cho học sinh.

Trong học tập, mỗi học sinh cần có lòng trung thực để đạt hiệu quả học tập tốt nhất, đạt lấy thành tích. Sống trung thực góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp trở thành người tốt, được tin cậy. Người trung thực không chấp nhận gian dối trong bất kì việc gì. Trung thực làm nên tính cách tự trọng, thẳng thắn của cá nhân; tạo nên uy tín, sức mạnh cho tập thể. Sống trung thực đòi hỏi phải dũng cảm và nghiêm khắc với chính bản thân. Là học sinh phải luôn trưng thực trong thi cử và cuộc sống. Trung thực trong mọi hành động, rèn luyện nhân cách, nhân phẩm trở thành người hữu ích sau này đem sức mình xây dựng quê hương đất nước.

2.3. Tính tự học, sáng tạo

Trong xu thế toàn cầu hóa, đòi hỏi giáo viên không những phải uyên thâm về kiến thức mà còn phải là người có kỹ năng tự học, có khả năng sáng tạo đáp ứng được yêu cầu của việc dạy học chủ động. Vì vậy ngoài khả năng kiến thức chuyên sâu, giáo viên phải biết tự học, tự tìm tòi từ nhiều nguồn thông tin để luôn cập nhật kiến thức, từ đó truyền đạt cho học sinh cái mới, cái hay với nguồn cảm hứng say mê khám phá để chiếm lĩnh kiến thức. Tính tự học, sáng tạo phát triển trở thành khát vọng khám phá thế giới, và chính nó là động lực cho việc tự học, tư duy sáng tạo của người học. Hình ảnh tự học, sáng tạo của giáo viên trở thành nét đẹp văn hóa cho học sinh noi theo, là khát vọng tương lai của mỗi học sinh.

Giáo sư Thái Duy Tuyên viết: "Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học"(7).

Tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/ 1998 cũng bàn về khái niệm tự học: "Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học"(8).

Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn đưa ra khái niệm tự học như sau: "Tự học là động não, suy nghĩ, sử dụng năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích…) và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của chính bản thân người học (tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học) cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình"(9).

Việc tự học của giáo viên trong nhà trường thể hiện qua các hoạt động trao đổi chuyên môn, dự giờ, thao giảng… Ban đầu, hoạt động này là do quy định, dần dà thành thói quen, và trở thành nhu cầu tự học nâng cao kĩ năng nghề nghiệp, chuyên môn. Trong thời đại bùng nổ thông tin, nếu người giáo viên không chịu cập nhật thông tin, không chịu tự học nâng cao kiến thức thì sẽ khó có thể đáp ứng yêu cầu giáo dục trong một xã hội phát triển với tốc độ cao như hiện nay.

Nếu không tự học để nâng cao tay nghề thì sẽ thiếu sự sáng tạo trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Tự học và sáng tạo giúp cho công việc của người giáo viên vừa có cái hay, vừa có cái mới. Mặt khác, sáng tạo trong nhà trường phổ thông bắt đầu từ những công việc đơn giản là mang đến cho học sinh nụ cười trong những giờ học khô khan; là trò chuyện với các em về lòng trắc ẩn trong cuộc sống đời thường; là làm sao để thầy cô trở thành người bạn của mỗi học sinh, để bài giảng kiến thức trở thành niềm vui khám phá.

Bởi vậy, tự học và sáng tạo là sự sống còn của nghề thầy, không đơn giản là hưởng ứng cuộc vận động. Những thầy cô giáo muốn làm tốt thiên chức nghề thầy trong hiện tại và tương lai cần phải nhận thức rằng cuộc vận động "Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" là một lời cảnh báo để tự mình định vị nghề thầy trong tương lai.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở cán bộ: "Học hỏi là một công việc phải tiếp tục suốt đời, suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày càng đổi mới, nhân dân ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân"(10). Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa làm, vừa tự học đã trở thành tác phong và nhân cách mà tất các chúng ta cần học tập, noi theo.

 

Tài liệu tham khảo:

(1). Xuân Huy và Đồng Công Hữu, Từ điển tiếng Việt (Hà Nội), Nxb. Trẻ, 2007, tr. 302.

(2). Mai Văn Bính và ctv, Giáo dục công dân 10, Nxb GD Việt Nam, Hà Nội 2011.

(3). Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về đạo đức nhà giáo.

(4). Từ điển tiếng Việt, NxbVHTT, H.1998, tr1337.

(5). Thư ký Bác Hồ kể chuyện, Nxb CTQG, HN.2005, tr 303.

(6). Vũ Khiêu (1983), Lối sống, Tạp chí Xã hội học, Viện Xã hội học, số 2 - 1983, tr. 121.

(7). Thái Duy Tuyên (2007), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, NXB GD, Hà Nội.

(8). Nguyễn Kỳ, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/ 1998.

(9). Nguyễn Cảnh Toàn - Nguyễn Kỳ (1997), Quá trình dạy tự học, NXBGD, Hà Nội.

(10). HCM Toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, tr 215.

 

PGS.TS Nguyễn Đăng Bằng

Đặt vấn đề

Nghệ An là một tỉnh có diện tích tự nhiên vào loại lớn nhất cả nước. Một vùng có hệ sinh thái đa dạng, rừng lớn, biển rộng, nhiều sông ngòi. Có tiềm năng vượt trội so với các tỉnh Bắc Trung bộ. Với 82 km bờ biển, được thiên nhiên ưu đãi nhiều điều kiện thuận lợi, Nghệ An đã từng bước chuyển dịch cơ cấu, phát triển mạnh mẽ từ kinh tế biển. Dựa vào biển, làm giàu từ biển, đưa kinh tế biển thành ngành kinh tế mũi nhọn đang là chủ trương lớn, được Nghệ An triển khai bằng nhiều nội dung, kế hoạch mang tầm chiến lược. Trọng tâm của bài viết mà chúng tôi trình bày dưới đây là phân tích kinh tế biển Nghệ An dưới góc nhìn: Tiềm năng, lợi thế, thách thức trong quá trình phát triển bền vững.

1. Đâu là tiềm năng, lợi thế của kinh tế biển Nghệ An

Nếu không nói là giàu tiềm năng thì biển Nghệ An có lợi thế vượt trội so với các tỉnh trong vùng sinh thái Bắc Trung bộ. Biển Nghệ An gắn liền với với nhiều cửa sông, cửa lạch, được bồi đắp bởi phù sa, màu mỡ của các dòng sông. Nguồn thức ăn từ các dòng sông thượng nguồn đã nuôi dưỡng nguồn lợi hải sản ven bờ. Mùa nước sông lên to các bãi bồi ven biển ngập nước, khi thủy triều dâng và các loại hải sản ven bờ sinh sản nhanh và hiệu quả. Sản lượng cá, mực đủ để ngư dân đánh bắt quanh năm. So với các tỉnh trong dải ven biển miền Trung, Nghệ An có mật độ hải sản tập trung tương đối cao trên một đường bờ biển không dài; có thể khai thác liên tục với sản lượng lớn. Trong các loại hải sản, Nghệ An có thế mạnh về đánh bắt và khai thác con tôm he, cá mú, mực. Toàn tỉnh có trên 3.000 ha nuôi thủy sản, hơn 4.000 tàu thuyền đánh bắt hải sản; sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản hàng năm đạt gần 30.000 tấn. Nếu được trang bị kỹ thuật hiện đại, các tàu cá lớn hơn, các chủ tàu có thể ra khu vực Vịnh Bắc bộ và quần đảo Hoàng Sa thì sản lượng đánh bắt sẽ tăng lên nhiều lần.

Vùng biển Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm của các tuyến giao lưu quốc tế và liên vùng, trên tuyến trục bắc nam và đông tây của miền Trung, trên hành lang của tuyến đường hàng hải quốc tế, là một trong những cửa ngõ biển của vùng Bắc Trung bộ, Trung Lào và Đông Bắc Thái Lan. Nghệ An lại là vùng có nhiều tiềm năng, giàu có về nguyên vật liệu công nghiệp xây dựng và nông sản. Nhờ có các cảng biển mà cơ hội xuất khẩu lớn hơn, thuận lợi hơn. Hiện nay, tỉnh có 7 cảng biển, trong đó, cảng Cửa Lò là thương cảng lớn, do tỉnh quản lý, còn 6 cảng còn lại do địa phương quản lý (đó là cảng xếp dỡ tổng hợp Bến Thủy, 2 cảng xăng dầu ở Hưng Hòa và 3 cảng cá Cửa Hội, Lạch Quèn, Lạch Vạn). Cụ thể, cảng Cửa Lò có 4 bến, 3 kho hàng và bãi chứa hàng diện tích 9ha; cảng Đông Hồi có các nhà đầu tư như Công ty Thanh Thành Đạt, Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam, Possco Hàn Quốc đã lựa chọn các vị trí xây dựng bến cảng chuyên dụng; cảng The VISSAI có 3 bến khu cảng nội địa cho tàu 3.000 - 10.000 DWT và 2 bến cho tàu lớn đến 70.000 DWT; cảng Bến Thủy cho phép tàu có trọng tải dưới 1.000 tấn ra vào thuận lợi.

Ngoài ra cảng Nghi Hương chuyên dụng nhập xăng dầu sản phẩm, cho tàu 1 vạn tấn ra vào cảng thuận lợi; cảng Hưng Hòa cho phép cập tàu 1.200 tấn; cảng Cửa Hội phục vụ tàu đánh cá. Trên địa bàn tỉnh này có 6 cửa lạch, chủ yếu cho tàu thuyền đánh cá neo đậu và tránh, trú bão và hàng hóa tổng hợp ra vào cửa lạch.

Theo Quy hoạch chi tiết Khu bến cảng biển Cửa Lò, tỉnh Nghệ An giai đoạn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và sau năm 2030 được công bố cuối tháng 3/2018, cảng Cửa Lò sẽ rộng 5.125 ha, trong đó phạm vi quy hoạch vùng đất khoảng 782,3 ha; phạm vi quy hoạch vùng nước khoảng 4.342,7 ha. Khu bến chuyên dùng có bến cảng tổng hợp, container cho tàu biển có trọng tải từ 30.000 - 50.000 tấn (tương lai tiếp nhận cỡ tàu tổng hợp, container có trọng tải đến 100.000 tấn và tàu khách quốc tế từ 3.000 - 5.000 chỗ khi có điều kiện)...

  Bãi biển Nghệ An đẹp, dài phẳng, nước nông vừa phải và có nồng độ muối thích hợp cho các loại hình du lịch biển, trong đó Cửa Lò, Bãi Lữ, Diễn Thành, Quỳnh Phương… là những bãi biển đã được nhiều khách du lịch biết đến, hàng năm thu hút hàng vạn khách du lịch đến tham quan nghỉ dưỡng. Ngoài ra, còn có một số bãi biển đẹp, nguyên sơ chưa được khai thác như bãi biển Đông Hồi - Quỳnh Lập (Quỳnh Lưu), Mũi Rồng - Nghi Thiết (Nghi Lộc), bãi biển Cửa Hiền…

Trong những năm gần đây du lịch Nghệ An đã có sự phát triển khá tốt, về lượng khách đến vượt mốc 1 triệu khách. Đến nay, lượng khách du lịch đến Nghệ An ngày càng tăng. Du lịch biển chiếm gần 70% các hoạt động của ngành du lịch tỉnh Nghệ An, trong đó tập trung phát triển mạnh là khu du lịch biển Cửa Lò. Ngoài việc tập trung phát triển khu du lịch biển Cửa Lò, ngành du lịch Nghệ An đang từng bước mở rộng, kêu gọi các nhà đầu tư vào các khu du lịch biển tại Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Cửa Hội, Bãi Lữ… Đây là những bãi biển đẹp, hoang sơ, chưa bị ảnh hưởng nhiều của quá trình đô thị hóa. Đối với những khu vực biển này, phương châm của ngành du lịch Nghệ An là phát triển các loại hình du lịch biển nghỉ dưỡng, ưu tiên cho các dự án du lịch có quy mô lớn, chất lượng cao để phục vụ nhu cầu cao cấp của khách du lịch cũng như xu hướng phát triển du lịch biển trong tương lai.

2. Thách thức lớn nhất của kinh tế biển Nghệ An là gì?

Môi trường biển đang bị đe dọa. Đến nay, việc châu Âu chưa gỡ thẻ vàng đối với ngành chăn nuôi, thủy hải sản Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung là một bài học đắt giá với các cấp quản lý và chính người dân. Trước đó, vào ngày 23/10/2017, Ủy ban châu Âu EC cảnh báo "thẻ vàng" đối với sản phẩm hải sản khai thác của Việt Nam. Bởi vì Việt Nam chưa kiểm soát được hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (khai thác IUU); công tác quản lý nghề cá Việt Nam chưa tương đồng với quản lý nghề cá khu vực và thế giới. Đặc biệt Việt Nam chưa đáp ứng được các quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm hải sản khai thác của Ủy ban châu Âu EC.

Điều này xuất phát từ một thực tế vốn đã tồn tại từ lâu trong thói quen khai thác thủy hải sản theo lối "tận diệt" của người dân. Trong đó, chủ yếu là giã cào, khai thác thủy sản trái phép tại vùng biển ven bờ; khai thác sai mùa vụ, sai nghề; tình trạng sử dụng kích điện, chất nổ để khai thác thủy sản; không ghi nhật ký khai thác thủy sản, không đánh dấu tàu cá… đã làm hủy hoại nguồn lợi thủy sản, gây mất an toàn trong khai thác thủy sản trên biển. Đây chính là nguyên nhân căn cơ khiến nguồn tài nguyên thủy hải sản ngày càng khan hiếm như hiện nay.

 Thời gian gần đây, một số ngư dân ven biển khai thác thủy hải sản thiếu hiệu quả. Nguyên nhân chính là do nguồn lợi thủy hải sản bị khai thác quá mức cho phép, dẫn đến không thể sinh sôi, phát triển kịp để đáp ứng nhu cầu. Người dân đã bắt đầu "ngấm" hệ quả của việc khai thác thủy hải sản thiếu khoa học của chính mình. Theo kế hoạch, cuối năm 2019, Đoàn Thanh tra của Tổng vụ các vấn đề về Biển và Thủy sản của Liên minh châu Âu sẽ sang Việt Nam kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện khuyến nghị của EC về IUU. Đợt kiểm tra này đặc biệt quan trọng, đây là thời điểm EC đánh giá kết quả sau 2 năm Việt Nam thực hiện các khuyến nghị của EC để có đủ luận chứng đưa ra kết luận có thể gỡ bỏ hoặc duy trì cảnh báo "thẻ vàng" hoặc áp dụng biện pháp cảnh báo "thẻ đỏ" đối với sản phẩm thủy sản khai thác của Việt Nam. Trên thực tế, nếu bị EC rút "thẻ đỏ", ngư dân sẽ càng khó khăn vì doanh nghiệp chế biến hải sản sẽ không được xuất khẩu hải sản.

Môi trường biển bị xâm hại một phần là do khách du lịch thiếu ý thức trong hành trình đi du lịch, trong khi người dân sinh sống ven biển vẫn chưa nhận thức rõ về mức độ nguy hiểm ô nhiễm rác thải nhựa tới vùng biển như thế nào. Như tại khu vực biển thuộc thị xã Cửa Lò mỗi ngày công nhân đều thu gom một lượng lớn rác thải trôi nổi khắp các bãi tắm; bãi biển Quỳnh Phương, những chai nhựa, túi nilon... theo sóng trôi dạt dọc bãi cát vàng, ảnh hưởng đến mỹ quan khu du lịch.

Hệ thống dịch vụ tổng hợp gần bờ và xa bờ còn manh mún, sơ khai. Chưa có sự gắn kết giữa các loại dịch vụ phục vụ người đi biển. Các loại dịch vụ này hình thành tự phát. Khi đánh bắt xa bờ các chủ tàu cần xăng dầu, thức ăn, nước uống chưa có dich vụ cung cấp kịp thời. Khi gặp gió, bão hệ thống thông tin liên lạc rất khó khăn. Các cơ sở thu mua chế biến hải sản ven bờ chưa thực sự đồng hành cùng các chủ tàu, chủ thuyền.

Lao động nghề biển dư thừa nhiều, một phần do trình độ, kỹ năng chưa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật cao, phần khác do sức khỏe kém, nhất là lao động nữ.

Muốn đưa kỹ thuật hiện đại vào phát triển kinh tế biển, đòi hỏi cấp bách hiện nay là phải đào tạo và đào tạo lại lao động nghề biển. Một lý do khác là lao động nghề biển thu nhập thấp, rủi ro cao, đa số thanh niên không muốn lập nghiệp bằng nghề đi biển. Như vậy thách thức của kinh tế biển Nghệ An là thiếu lao động.

3.Phát triển kinh tế biển bền vững

Phát triển bền vững là khái niệm không mới, nhưng cần đặc biệt quan tâm, đối với kinh tế biển, đảo phát triển bền vững lại càng quan trọng hơn. Để kết hợp hài hòa mối quan hệ giữa bảo vệ môi trường và khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên trong phát triển kinh tế biển, UBND tỉnh Nghệ An đã triển khai Dự án quản lý tổng hợp đới bờ (QLTHĐB). Đây là một phương thức, cách tiếp cận quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo mang tính tổng thể để đạt được phát triển bền vững tại vùng bờ biển. Việc áp dụng dự án này nhằm giải quyết các vấn đề về ngăn ngừa, quản lý thiên tai và thảm họa do con người gây ra; bảo vệ, phục hồi, chống suy thoái các sinh cảnh, hệ sinh thái, ô nhiễm môi trường; an toàn thực phẩm và sinh kế của con người; phòng, chống biến đổi khí hậu...

Năm 2019 là năm Nghệ An mở hướng phát triển kinh tế ra biển đảo. Để tạo ra sự đột phá song song với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách, đảm bảo công tác quản lý tài nguyên - môi trường vùng đới bờ có hiệu quả, Nghệ An là tỉnh sớm chủ động triển khai dự án đới bờ trong vùng Bắc Trung bộ từ chính nguồn ngân sách của tỉnh và huy động các cấp, ngành và các tầng lớp nhân dân tham gia. Ba mô hình đề xuất thí điểm trong giai đoạn tới gồm: Mô hình phát triển rừng ngập mặn gắn với phát triển du lịch sinh thái tại xã Hưng Hòa (TP Vinh); mô hình giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn cho TX Cửa Lò; chương trình quan trắc môi trường tổng hợp vùng bờ tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 - 2025.

Giám đốc Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường Nghệ An khẳng định, vào mùa du lịch, mỗi tháng, Trung tâm đều 2 lần lấy mẫu nước biển ở các địa phương để kiểm tra, xét nghiệm. Kết quả sẽ được công bố chính thức trên phương tiện thông tin đại chúng để người dân và du khách được biết rõ. Báo cáo mới nhất của Sở Tài nguyên và Môi trường Nghệ An, chất lượng môi trường biển ở các điểm du lịch đều an toàn.

Phát triển kinh tế biển bền vững đang là hướng đi tích cực không riêng Nghệ An mà xu thế đó đang trở thành mục tiêu rõ rệt ở các địa phương ven biển trong cả nước. Trong đó, yếu tố then chốt chính là việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ. Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An khẳng định, dù đã rất cố gắng nhưng kết quả vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Trên thực tế, những công nghệ được ứng dụng rộng rãi trong nuôi trồng, chế biến thủy hải sản đã tạo hiệu quả rõ rệt trong sản xuất. Trong đó, phải kể đến việc thực hiện phương pháp đánh bắt "chụp 4 tăng gông", triển khai thí điểm đèn led thay thế đèn cao áp góp phần giảm thiểu tiêu hao nhiên liệu, thực hiện ứng dụng đo đếm tự động trong nuôi trồng thủy sản, đề tài đánh giá tác động đến môi trường biển... Đặc biệt, 3 năm nay, việc ứng dụng nuôi tảo xoắn spirulina và tảo nano đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân.

Thừa nhận những khó khăn khi áp dụng khoa học công nghệ vào các lĩnh vực kinh tế biển, song giám đốc Sở KH&CN cũng khẳng định, thời gian tới, những tiến bộ mới sẽ được áp dụng rộng rãi hơn và được đầu tư hơn. Hiện, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An đang chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp, Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục nghiên cứu và đưa vào thực tiễn những công nghệ mới. Mục tiêu là nâng cao giá trị sản xuất bền vững, thích ứng, hòa hợp với môi trường biển. Phấn đấu để mỗi con tàu ra khơi phải gắn với camera hành trình, gắn với định vị vệ tinh. Có như vậy mới kiểm tra, giám sát được tàu bè trên biển.

Con người là yếu tố quyết định nhất đến thành công của mọi ngành kinh tế, nhất là xu hướng phát triển kinh tế biển bền vững như hiện nay. Cần có chính sách hấp dẫn để khuyến khích đội ngũ lao động có chuyên môn, nghiệp vụ giỏi, tạo động lực thu hút các chuyên gia, lao động trình độ cao. Lao động nghề biển ít được đào tạo các trường lớp chính quy. Họ phải lênh đênh trên biển hàng tháng, làm sao có thể học được. Ở tuổi vị thành niên các cháu đã đi biển dài ngày. Cũng vì vậy, chất lượng nguồn nhân lực vùng ven biển rất thấp. Cần phải phát triển giáo dục đào tạo ở các xã ven biển. Vận động người dân cho con đi học. Cần có các lớp học phù hợp cho lực lượng lao động này.

 Đồng thời với việc phát triển nhân lực biển phải đặc biệt coi trọng phát triển xã hội ở vùng ven biển; chú ý tới đời sống và tính mạng của những người hoạt động trên biển và người dân ở những vùng thường bị thiên tai. Cần đảm bảo sinh kế cho người dân ven biển. Để từ đó họ có thể sống được với nghề biển. Các thiết chế văn hóa cộng đồng ven biển đang hình thành tự phát, cần phải đổi mới tổ chức và hoạt động.

Thực tiễn sinh động tại các quốc gia và địa phương đã minh chứng, mọi dấu ấn phát triển đột phá đều bắt nguồn từ biển cả. Có gặp gỡ và sẻ chia mới thấy rõ, biển đã làm đổi thay cuộc sống của người dân như thế nào và khát vọng chinh phục biển cả trong mỗi người dân xứ Nghệ lớn lao ra sao. Họ là những người lính trên đảo Trường Sa; là công nhân trên cảng quốc tế tấp nập, sôi động; là những ngư dân "ăn sóng, nói gió" trước phong ba bão táp; là chiến sỹ công an bãi ngang luôn sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ trên sóng nước... Thử thách cuộc sống, tình yêu quê hương nồng nàn đã hun đúc, thắp lên trong họ ngọn lửa chinh phục và cống hiến để vươn lên vì cuộc sống bình yên, vì chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Ngư dân cần tìm hiểu rõ các quy định của pháp luật về khai thác hải sản cũng như vùng lãnh thổ của Việt Nam để đánh bắt an toàn, nâng cao ý thức trách nhiệm trong hoạt động khai thác trên biển. Vì thế, việc thực hiện nghiêm các văn bản, công điện trong khai thác thủy hải sản đòi hỏi nỗ lực nhiều hơn nữa từ vai trò tuyên truyền giáo dục, thanh, kiểm tra của các ngành chức năng đến ý thức chấp hành của chính các ngư dân. Ở các khu vực cấm khai thác, khu bảo tồn, ngư dân phải tuyệt đối chấp hành, đồng thời việc thực thi pháp luật phải nghiêm, làm sao nhận thức của người dân phải thay đổi để thấy giá trị của nguồn lợi thủy sản chính là cuộc sống, sinh kế. Không chỉ nguồn lợi thủy hải sản, môi trường biển cũng đang bị ảnh hưởng bởi sự phát triển công nghiệp, du lịch. Đi đôi với những resort, khách sạn mọc lên ngày càng nhiều là khối lượng rác thải ngày càng lớn. Đáng chú ý, hệ thống nước thải ở một số cơ sở nuôi trồng, chế biến thủy hải sản chưa qua xử lý "chạy thẳng" ra biển khiến nguồn nước bị ảnh hưởng. Nguồn rác thải nhựa cũng là mối lo lớn với các địa phương ven biển... Để những tiềm năng phát huy hiệu quả trong phát triển kinh tế biển, Nghệ An cần hình thành một trung tâm logistics Bắc miền Trung. Tuy nhiên, Nghệ An nằm trong thực trạng chung là thiếu cơ chế quản lý nhà nước, bao gồm cả chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics, pháp luật điều chỉnh ngành...

Để Nghệ An hay bất cứ khu vực trọng điểm nào vươn lên được, các bộ, ngành và địa phương cần chủ động rà soát, gắn kết quy hoạch về trung tâm logistics, cảng cạn, kho ngoại quan và các quy hoạch sản xuất công - nông nghiệp trong một tổng thể thống nhất; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ logistics, phát triển kết cấu hạ tầng logistics, sàn giao dịch logistics gắn với thương mại điện tử trên các địa bàn.

Ngoài ra, cần xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics tại địa phương hiệu quả, phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa phương, đưa ngành dịch vụ logistics lên một bước mới hiện đại và mở rộng. Tại Nghệ An hiện nay, hàng hóa phải đi qua rất nhiều khâu trung gian và do đó, làm tăng chi phí giao dịch và tăng giá bán. Mặt khác, các doanh nghiệp trên địa bàn Nghệ An cũng chưa có thói quen sử dụng dịch vụ thuê ngoài mà chủ yếu là tự làm. Khi tự mình thực hiện các hoạt động logistics thì sẽ tốn rất nhiều vốn đầu tư và không đạt được chất lượng cao.

Theo Chủ tịch Hội Người đi biển Việt Nam, với những bứt phá trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và các công cụ hiện đại hóa đã và đang bắt đầu thay đổi toàn bộ viễn cảnh của dịch vụ kho bãi và phân phối hàng hóa trên toàn thế giới. Với lĩnh vực logistics, cuộc cách mạng này sẽ ngày càng mở rộng việc kết nối những thiết bị phi truyền thống như pallet, xe cần cẩu, thậm chí xe rơ-mooc chở hàng với mạng         internet. Các doanh nghiệp logistics Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng cần nắm bắt xu hướng này, cải tiến công nghệ để tỷ suất lợi nhuận ngày càng được nâng cao. Biển đảo ở Nghệ An là nơi sinh sống của hàng triệu người. Tài nguyên biển là vô giá. Đồng thời biển còn là một phần lãnh thổ quốc gia, cần phải được bảo vệ. Không có ai bảo về biển bằng người dân. Muốn bảo vệ biển phải phát triển kinh tế biển. Cần coi phát triển kinh tế biển bền vững là mệnh lệnh của quốc gia dân tộc, trong thời điểm kẻ thù đang dòm ngó ngoài khơi.

Tài liệu tham khảo

1. Báo: canthotv.vn (12/2/2012), Biển đảo Việt Nam: Nghệ An với tiềm năng phát triển kinh tế biển.

2. Báo: baophapluat.vn (17/7/2019), Phát triển kinh tế biển Nghệ An: vấn đề không chỉ là hạ tầng.

3. Báo: congannghean.vn (1/8/2019); Sức vươn từ kinh tế biển.

4. Hồ Khánh Lâm (2015); Phát triển kinh tế biển ở Nghệ An; Luận văn Thạc sỹ kinh tế.

 

Trương Công Anh

Theo bài báo: "Tạo cơ sở phát triển kinh tế rừng bền vững" (Báo Nghệ An ra ngày 26/5/2019) thì sau khi điều chỉnh diện tích 3 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng, rừng sản xuất) thì năm 2019 này, diện tích rừng sản xuất tăng hơn 26.368,5 ha so với con số rà soát, điều chỉnh quy hoạch theo Quyết định 48 ngày 15/8/2014 của UBND tỉnh trước đây.

Cũng theo bài báo này thì tại cuộc họp thường kỳ của UBND tỉnh vừa qua, ông Đinh Viết Hồng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: Mục tiêu của tỉnh khi rà soát là chỗ nào rừng phòng hộ ít xung yếu thì xem xét để điều chỉnh cho đất rừng sản xuất. Tinh thần là phải tăng diện tích sản xuất để có thêm điều kiện bố trí cho các đối tượng sử dụng đất, đặc biệt là nhân dân vùng cao có thêm đất rừng sản xuất. Ông còn cho rằng tăng được hơn 26.368 ha quỹ đất rừng sản xuất là "số liệu quý nhất". Kết thúc bài báo tác giả Thành Duy viết: "Đây thực sự là niềm vui, niềm hi vọng của người dân khu vực các huyện miền Tây, cũng là cơ sở để góp phần phát triển kinh tế rừng một cách bền vững, gắn với bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái".

Sau đây xin được có mấy điều trao đổi:

1. Trước hết phải khẳng định chủ trương rà soát, điều chỉnh quy hoạch, ba loại rừng để trong thực tiễn nếu tăng được diện tích rừng sản xuất thì điều chỉnh để tăng. Chủ trương này là cần thiết và đúng, nhưng cùng với điều khẳng định đó, lại phải khẳng định điều thứ 2 là: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng ngoài chức năng chính là phòng hộ, đặc dụng vẫn hoàn toàn có thể là rừng kinh tế tức là rừng đem lại thu nhập kinh tế. Bài học về sâm Ngọc Linh ở Kon Tum, ở Nam Trà My cho thấy phải giữ rừng nguyên sinh để trồng sâm Ngọc Linh. Và có trồng sâm Ngọc Linh mới giữ được rừng nguyên sinh.

Trên diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng của tỉnh ta có thể làm kinh tế theo kiểu Kon Tum, Nam Trà My được không? Hoàn toàn được. Chỉ có điều là ta chưa nhận thức được, nên chưa bắt tay làm mà thôi!

2. Con số diện tích đất rừng sản xuất của tỉnh ta quy hoạch năm 2014 là hơn 622 nghìn ha (số liệu bài đã dẫn). Nay sau rà soát và điều chỉnh tăng thêm được hơn 26 nghìn ha tức là tăng thêm trên dưới 0,4%. Con số tăng này quả là quá nhỏ nhoi nếu như không muốn nói là không đáng kể.

Từ 2 điều trên gợi cho ta 2 câu hỏi:

- Tại sao không tổ chức khai thác kinh tế mà chủ yếu là trồng dược liệu quý dưới tán rừng phòng hộ, rừng đặc dụng cho đồng bào ở các huyện có diện tích rừng sản xuất ít, ngược lại diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng lại rất lớn?

Tại sao cứ mãi trồng cây nguyên liệu thuần ngắn ngày (chu kỳ 5-7-10 năm) hiệu quả kinh tế không cao, hiệu quả bảo vệ môi trường sinh thái cũng không lớn? Tại sao không trồng rừng hỗn giao: xem cây gỗ lớn trên diện tích trồng rừng nguyên liệu ngắn ngày? Tại sao không kinh doanh tổng hợp mà chỉ cứ mãi kinh doanh đơn độc?

3. Cứ chỉ nghĩ đến việc tăng diện tích cho rừng sản xuất mà không hề nghĩ đến làm cách nào để tăng hiệu quả rừng sản xuất khi những tiến bộ về kỹ thuật và công nghệ đã mở ra triển vọng rất lớn khi mà thực tiễn kinh doanh rừng ở nhiều địa phương đã làm được, khi mà thực tiễn trồng rừng thuần cây nguyên liệu ngắn ngày của tỉnh ta đã bộc lộ gần như đầy đủ mọi hạn chế của nó?

4. Tăng thêm hơn 26 nghìn ha rừng sản xuất đúng là niềm vui cho người dân ở địa phương nào đó ở miền Tây Nghệ An. Bởi thêm 1 ha là có thêm nguồn sinh kế. Nhưng nếu hi vọng rằng có thêm từng đó diện tích là có cơ sở để góp phần phát triển kinh tế rừng một cách bền vững thì e rằng sẽ chỉ là hi vọng hão huyền.

Hơn 622 nghìn ha rừng sản xuất hiện có chưa làm nên trò trống gì thì thêm hơn 26 nghìn ha liệu có ý nghĩa gì? Một cánh én đâu làm nổi một mùa xuân. Là vậy chăng?

Làm gì, làm thế nào để kinh tế rừng Nghệ An phát triển bền vững?

Sự phát triển bền vững của kinh tế rừng Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung có thể đánh giá qua các tiêu chí sau:

- Hiệu quả sản xuất kinh doanh trên 1 đơn vị diện tích và trên tổng diện tích rừng và đất rừng cao ở mức có thể.

- Tài nguyên rừng càng khai thác để sản xuất kinh doanh càng được bảo vệ, càng giàu thêm chứ không bị cạn kiệt.

Môi trường sinh thái trên đất rừng và rừng ngày càng tốt hơn. Nguồn nước sinh thủy được bảo tồn. Chống được xói mòn đất, chống thoái hóa đất.

Nói một cách ngắn gọn là: Rừng nuôi người - người nuôi rừng. Rừng giàu - dân giàu - dân giàu - rừng giàu. Kinh tế rừng hài hòa với tự nhiên rừng.

2. Để phát triển bền vững kinh tế rừng, đầu tiên phải hiểu đúng, hiểu sâu đặc tính của rừng từ đó "ứng xử" với nó thật khôn ngoan đem lại lợi ích kép: kinh tế, môi trường.

3. Khai thác, tái tạo rừng, chế biến các sản phẩm từ rừng phải dựa vào những thành tựu mới và ngày càng mới của khoa học và công nghệ. Ta đang nói và đang làm nông nghiệp thông minh, nông nghiệp 4.0 đồng nghĩa với ta cũng phải ngay từ đầu làm kinh tế rừng thông minh, kinh tế rừng 4.0.

4. Đặt kinh tế rừng của Nghệ An trong chuỗi sản phẩm kinh tế rừng, chiến lược kinh tế rừng của cả nước. Hướng kinh tế rừng Nghệ An ra thị trường ngoài tỉnh và quốc tế. Và kinh tế rừng của Nghệ An phải nằm trong các mối quan hệ liên kết: liên kết nội bộ, liên kết trong ngoài, liên kết trên dưới, liên kết ngang, liên kết chuỗi sản phẩm… và liên kết lợi ích.

Thực trạng kinh tế rừng Nghệ An hiện nay ra sao?

1. Từ cơ quan quản lý, các cơ quan chức năng cho đến chủ thể sản xuất - kinh doanh về cơ bản chưa có một quan niệm chính xác và đầy đủ về phát triển bền vững.

2. Về cơ bản ta chưa tận dụng được các ưu thế của rừng nhiệt đới, ta chỉ mới lấy tài nguyên rừng một phần, còn để phung phí rất nhiều sản phẩm mà tài nguyên rừng có thể cung cấp. Riêng việc tái tạo rừng - trồng rừng có thể nói ta chưa làm đúng theo quy luật tự nhiên nếu không muốn nói là có chỗ còn làm trái quy luật.

3. Trừ một vài cơ sở chế biến hiện đại, còn lại hầu như ta chưa có nền tảng công nghệ mới trong toàn bộ quá trình khai thác, tái tạo, thu hoạch, chế biến. Nói cách khác, kinh tế rừng Nghệ An đang chủ yếu dựa trên kỹ thuật và công nghệ cũ lạc hậu.

4. Hầu hết "chủ thể" kinh tế rừng ở Nghệ An vẫn là "hộ", dù quy mô "hộ" không quá nhỏ như hộ nông nghiệp, nhưng "hộ" làm kinh tế rừng thì cứ nhỏ lẻ manh mún tản mạn, y như "hộ" nông nghiệp, và cả vạn "hộ" này vẫn làm ăn như hàng trăm năm trước.

Quan hệ liên kết tuy đã có nhưng còn lỏng lẻo. Nhà trồng, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp đã tìm đến nhau, nhưng xem ra còn thưa thớt lắm. Vẫn cứ đèn nhà ai nấy rạng.

Từ mấy quan điểm xuất phát và thực trạng kinh tế rừng Nghệ An nói trên cho ta một vài kết luận sau:

1.Từ tư duy, tổ chức sản xuất, kỹ thuật công nghệ, đến quản lý sản xuất kinh doanh rừng và đất rừng của tỉnh vẫn đang ở trình độ sản xuất hàng hóa nhỏ, hiệu quả kinh tế thấp, hiệu quả bảo vệ nuôi trồng không cao.

Bởi vậy, chưa có cơ sở khoa học, cơ sở kinh tế, kỹ thuật để phát triển bền vững.

2. Để phát triển bền vững kinh tế rừng, Nghệ An cần có chiến lược đúng dựa trên các luận cứ khoa học: Khoa học lâm sinh, khoa học kinh tế, dựa trên các thành tựu của công nghệ mới và đúng với thực tiễn: đất, khí hậu, con người hiện tại.

Đề nghị lãnh đạo tỉnh, Sở NN&PTNT, Sở KH&CN, Liên hiệp Hội KHKT sớm nghĩ đến và bắt tay xây dựng chiến lược kinh tế rừng cho Nghệ An.

Mấy đề xuất cụ thể để có chiến lược cần và phải có chiến lược cho rừng phòng hộ và rừng đặc dụng:

Phải bằng cơ chế, chính sách để bảo vệ tốt nhất diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.

Tổ chức làm kinh tế trên một diện tích nào đó ở địa phương cụ thể nào đó trên đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.

- Lấy tán rừng làm môi trường sinh thái để xây dựng và phát triển ngành dược liệu, nhất là các dược liệu quý mà rừng ta có. Xin lưu ý là Đại hội XVIII của Đảng bộ tỉnh đã xác định dược liệu là một ngành có tính đột phá cho kinh tế miền Tây. Và cũng xin lưu ý là cần học cách làm sâm Ngọc Linh của Kon Tum và Nam Trà My.

- Tổ chức các sản phẩm du lịch như: du lịch sinh thái, du lịch khám phá, du lịch mạo hiểm… để đưa kinh tế du lịch vào vùng này.

- Nghiên cứu, làm điểm, xây dựng mô hình về chăn nuôi dưới tán rừng: nuôi ong, nuôi các con đặc sản. Cao hơn là tổ chức nuôi trồng các loại phong lan quý hiếm có giá trị cao.

Phương châm (hay nguyên tắc cũng được) là: Giữ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng không chỉ để bảo vệ môi trường mà còn để đem lại lợi ích kinh tế. Ngược lại, càng biết làm kinh tế hiệu quả càng giữ được rừng. Rừng nuôi người, người nuôi rừng.

Chiến lược cho rừng sản xuất hay rừng kinh tế.

Hiện tại rừng sản xuất của tỉnh ta có diện tích lớn nhưng hiệu quả kinh tế thấp, hiệu quả bảo vệ môi trường không cao. Sở dĩ như vậy là vì hầu hết diện tích rừng trồng của tỉnh ta đều đang trồng rừng thuần. Rừng nguyên liệu chu kỳ ngắn, 5-7 năm/chu kỳ sản xuất.

Phần lớn diện tích rừng tự nhiên của tỉnh ta là rừng nhiệt đới với 2 đặc điểm: rừng hỗn giao, rừng nhiều tầng (khác với rừng ôn đới là rừng thuần, rừng ít tầng). Sở dĩ có đặc điểm đó là do khí hậu, nhiệt đới mưa nhiều, cường độ bức xạ mặt trời lớn. Với rừng hỗn giao, nhiều tầng, sản phẩm của rừng phong phú: gỗ, các sản phẩm phi gỗ, đặc biệt là dược liệu. Cùng với đặc điểm này, rừng nhiệt đới có khả năng bảo vệ môi trường rất lớn.

Từ đó để nói rằng, trồng rừng thuần, chu kỳ ngắn là không hoàn toàn phù hợp với quy luật tự nhiên, là sự lãng phí lớn đối với tài nguyên khí hậu. Về kinh tế rừng thuần cây nguyên liệu ngắn ngày cho thu nhập thấp, bình quân 15 triệu/ha/năm (theo giá hiện hành).

Để phù hợp với quy luật tự nhiên, để tận dụng tài nguyên khí hậu, để tăng hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường nhất thiết phải chuyển từ trồng rừng thuần kinh doanh đơn thuần sản phẩm gỗ nguyên liệu sang trồng rừng hỗn giao kinh doanh tổng hợp.

Thế nào là rừng hỗn giao? Thế nào là kinh doanh tổng hợp? Làm gì và làm thế nào để chuyển dần đến trồng rừng hỗn giao, kinh doanh tổng hợp (Vấn đề này đã có bài đăng trên Chuyên san KHXH&NV số 6/2018)?

Phương châm để chuyển sang trồng rừng hỗn giao kinh doanh tổng hợp là: lấy cực ngắn nuôi ngắn. Lấy ngắn nuôi dài. Phương châm này tận dụng được tài nguyên khí hậu, thỏa mãn được yêu cầu có thu nhập sớm, thu nhập nhanh đối với người trồng rừng đồng thời đáp ứng được đòi hỏi về cơ bản và lâu dài của phát triển bền vững kinh tế rừng.

 Để có chiến lược này điều tiên quyết là phải có tư duy mới về rừng và kinh tế rừng. Từ xuất phát điểm của chiến lược này để hoạch định chiến lược đầu tư, chiến lược con người, chiến lược liên doanh, liên kết… Theo số liệu rà soát, điều chỉnh diện tích rừng và đất rừng của tỉnh ta theo Quyết định số 48 ngày 15/8/2014, chúng ta có thêm 365 nghìn ha rừng phòng hộ, trên 172 nghìn ha rừng đặc dụng và trên 622 nghìn ha rừng và đất rừng sản xuất (lấy con số tròn).

Thử đặt vấn đề này:

- Nếu chúng ta đưa được 10% diện tích rừng phòng hộ rừng đặc dụng vào làm kinh tế dưới tán rừng, chúng ta sẽ có thêm 53 nghìn ha rừng kinh tế, gấp đôi con số 26 nghìn ha có khi bớt diện tích rừng phòng hộ để chuyển sang rừng sản xuất. Hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường sẽ là không hề nhỏ.

- Nếu chuyển dần sang trồng rừng hỗn giao kinh doanh tổng hợp thì với 1 ha rừng sản xuất cho ta 15 triệu đồng/năm tăng lên thành 20-25 triệu đồng/ha/năm thì hiệu quả kinh tế của trên 622 nghìn ha rừng sản xuất hiện tại cũng sẽ tăng lên đáng kể. Đó mới chính là cơ sở vững chắc cần có để phát triển bền vững kinh tế rừng

Bùi Minh Hào - Nguyễn Thanh Tâm

Trong mấy năm trở lại đây, du lịch cộng đồng xuất hiện ở Nghệ An và ngày càng gây được sự chú ý của nhiều người. Truyền thông liên tục đưa tin hàng loạt các dự án xây dựng và phát triển các điểm du lịch cộng đồng ở nhiều địa phương khác nhau. Định hướng phát triển du lịch cộng đồng ở nhiều địa phương, đặc biệt là ở miền núi, nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, văn hóa tộc người đa dạng, và có cả các thắng cảnh thiên nhiên hùng vĩ, tươi đẹp là một lựa chọn hợp lý. Nó không những góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo mà còn tạo điều kiện để người dân bản địa có những trải nghiệm quý báu về kinh tế thị trường khi tham gia vào phát triển du lịch cộng đồng. Về mặt lý thuyết là như vậy nhưng thực tế, để phát triển du lịch cộng đồng một cách có hiệu quả không phải là chuyện đơn giản. Bởi nó cần nhiều yếu tố cả khách quan và chủ quan, mà trong đó yếu tố con người vẫn giữ vai trò quyết định nhất. Trong một số bài viết trước đây, chúng tôi đã phân tích một số điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến du lịch cộng đồng, phân tích hiệu quả kinh tế của một vài trường hợp cụ thể qua một thời gian nhất định. Cảm thấy những phân tích đó chưa được thỏa đáng, chúng tôi tiếp tục đi vào khía cạnh nhân tố con người, mà cụ thể ở đây là sự tương quan giữa trải nghiệm thị trường và phát triển du lịch cộng đồng. Du lịch cộng đồng đã đưa lại cho người dân bản địa những trải nghiệm về thị trường thú vị, và ngược lại, trải nghiệm thị trường cũng tác động tích cực lại du lịch cộng đồng ở các địa phương.

1. Du lịch trải nghiệm và trải nghiệm du lịch

Phát triển du lịch cộng đồng là một định hướng không phải không có lý do khi mà ở nhiều địa phương trong nước đã chứng minh đó là hướng đi khả dĩ, nhất là trong quá trình hội nhập và ngành du lịch đang ngày càng trở nên phát triển mạnh mẽ. Nhiều địa phương ở miền núi phía Bắc Việt Nam đã tiến hành xây dựng và phát triển du lịch cộng đồng từ những năm đầu của thế kỷ XXI. Đặc trưng của những điểm mà du lịch cộng đồng phát triển mạnh mẽ chính là những địa phương còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống tộc người. Nhiều dân tộc đã tham gia vào quá trình phát triển du lịch cộng đồng như người Thái, người Mường, người Tày, người Nùng, người Dao, người Mông, người Giáy… Các điểm được lựa chọn làm điểm du lịch cộng đồng thường phải có một số yêu cầu quan trọng: gắn liền với một tộc người cụ thể; còn giữ được cơ sở vật chất văn hóa truyền thống như hệ thống nhà cửa, làng bản, trang phục còn khá nguyên vẹn; còn lưu giữ được nhiều hoạt động văn hóa cộng đồng như lễ hội, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi dân gian, nghi lễ vòng đời có hệ thống ẩm thực đặc sắc,… và có các thắng cảnh tự nhiên đẹp để du khách có thể đi tham quan.

Ở Nghệ An, du lịch cộng đồng được biết đến trong khoảng gần một thập kỷ lại nay. Và trong khoảng hơn 5 năm qua đã trở thành một khuynh hướng được nhiều lĩnh vực quan tâm, nhất là trong các định hướng phát triển miền núi, xóa đói giảm nghèo và đa dạng hóa sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi phía Tây. Tính đến nay, toàn tỉnh đã có khoảng vài chục điểm du lịch cộng đồng ở nhiều huyện khác nhau, tập trung chủ yếu ở miền núi. Trong đó có thể kể đến các điểm đã được nhiều người biết đến như: Huyện Con Cuông có bản Nưa (xã Yên Khê), bản Thái Sơn 1, bản Thái Sơn 2, bản Xiềng, bản Búng, bản Cò Phạt (xã Môn Sơn), bản Yên Thành (xã Lục Dạ), bản Khe Rạn (xã Bồng Khê); Huyện Tương Dương có bản Chắn, bản Mác, bản Lau (xã Thạch Giám), bản Xoóng Con (xã Lưu Kiền), bản Phồng (xã Tam Hợp), bản Huổi Tố 1, bản Huổi Tố 2 (xã Mai Sơn); Huyện Kỳ Sơn có bản Na (xã Hữu Lập), bản Xiềng Tắm, bản Yên Hòa (xã Mỹ Lý); Huyện Quế Phong có bản Na Sai (xã Hạnh Dịch), bản Đan 1, bản Đan 2 (xã Tiền Phong), bản Cỏ Nong (xã Mường Nọc); Huyện Quỳ Châu có bản Hoa Tiến 1, bản Hoa Tiến 2 (xã Châu Tiến)….

Một trong những đặc trưng của du lịch cộng đồng chính là tạo điều kiện để khách du lịch được trải nghiệm, hưởng thụ các nét văn hóa truyền thống tộc người. Du khách sẽ ở lại cùng gia đình người dân bản địa, tham gia vào các hoạt động văn hóa, sản xuất cũng như hưởng thụ các sản phẩm văn hóa của người dân. Để rồi qua đó, khách du lịch hiểu thêm về cuộc sống của người dân bản địa và cũng để văn hóa tộc người được quảng bá qua chính các du khách đã đến. Đây được gọi là du lịch trải nghiệm. Trong các dự án phát triển du lịch cộng đồng nói chung và ở Nghệ An nói riêng đều nhấn mạnh đến du lịch trải nghiệm và luôn xem đây là điểm nhấn quan trọng. Tuy nhiên, tùy theo các điều kiện cụ thể mà du lịch trải nghiệm có thật sự thu hút được khách tham quan hay không. Qua khảo sát nhiều điểm đã xây dựng du lịch cộng đồng thì những tiết mục mang tính du lịch trải nghiệm vẫn chưa thu hút được khách du lịch bởi du khách đến đây với quỹ thời gian ít, họ chủ yếu tập trung vào thưởng thức ẩm thực, đặc sản và xem văn nghệ rồi ra về. Trong khi để sử dụng du lịch trải nghiệm thì cần nhiều thời gian hơn du khách mới có thể hoàn thành được. Ở nhiều khu vực khác, du lịch trải nghiệm thu hút được nhiều du khách nước ngoài, những người muốn được đắm mình trong các không gian mới lạ để trải nghiệm các giá trị văn hóa khác biệt với họ. Du khách nước ngoài ở lại hàng tuần, thậm chí hàng tháng để được sinh sống, lao động và sinh hoạt như những người dân. Trong quãng thời gian đó, họ được trải nghiệm gần hết các vấn đề cuộc sống của người dân bản địa từ sinh hoạt hàng ngày, sinh hoạt sản xuất và sinh hoạt văn hóa. Cũng qua những sự tương tác giữa du khách với người dân bản địa mà các giá trị truyền thống nền văn hóa của cộng đồng bản địa được lan tỏa, quảng bá rộng rãi. Đó là giá trị mà du lịch trải nghiệm mang lại. Ở Nghệ An, hầu hết các điểm du lịch cộng đồng đều nhấn mạnh du lịch trải nghiệm và mong muốn trong tương lai sẽ là điểm nhấn thu hút được du khách gần xa.

Nếu như khách du lịch đến với du lịch cộng đồng với mong muốn được trải nghiệm trong nền văn hóa truyền thống của người dân bản địa thì chính những người làm chủ thể của việc phát triển du lịch cộng đồng cũng thực hành một quá trình trải nghiệm vô cùng quan trọng mà nhiều khi chính họ cũng không nhận thức ra. Đó là trải nghiệm du lịch hay là một góc độ nhỏ hơn của sự trải nghiệm thị trường qua phát triển du lịch. Trải nghiệm du lịch chính là trải nghiệm của những người đứng ra tổ chức hay tham gia vào thực hiện các mô hình du lịch cộng đồng. Họ được đưa đi tập huấn, đi tham quan các mô hình phát triển, rồi được bày cho cách lập kế hoạch, xây dựng các tour du lịch, hạch toán kinh tế, hoàn thiện kỹ năng làm du lịch, tìm kiếm đối tác để hợp tác làm ăn, phân chia lợi nhuận, hạch toán tái đầu tư vào các hoạt động khác… Đây chính là một quá trình trải nghiệm kinh tế thị trường và nó làm thay đổi tư duy của người dân bản địa một cách sâu sắc mà nhiều khi chính họ cũng không nhận thức được bởi nó thay đổi tự nhiên trong quá trình tiếp xúc trực tiếp với các công việc liên quan đến phát triển du lịch. Trải nghiệm du lịch hay trải nghiệm thị trường đã làm cho người dân bản địa tích lũy dược nhiều hơn các năng lực phát triển kinh tế, là nguồn lực quan trọng trong quá trình phát triển của họ. Tuy nhiên, do Nghệ An đang bước đầu phát triển du lịch cộng đồng nên trải nghiệm du lịch vẫn là vấn đề mới, cần được quan tâm tìm hiểu để có những nhận thức và tác động một cách hợp lý.

2. Sự thay đổi tư duy kinh tế của người dân bản địa trong quá trình phát triển du lịch cộng đồng ở Nghệ An

2.1. Sự thay đổi tư duy về mục đích kinh tế

Nếu như trước đây, trong nền kinh tế tự cung tự cấp, người dân tộc thiểu số chủ yếu tập trung vào việc sản xuất những mặt hàng cấp thiết phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, thì với những trải nghiệm thị trường, người dân bản địa đã biết tính toán chi tiết hơn về các mục đích kinh tế của mình. Một khảo sát của chúng tôi tại bản Nưa (xã Yên Khê, huyện Con Cuông) cho thấy rõ hơn về điều này. Nếu so sánh giữa những người tham gia vào phát triển du lịch cộng đồng và những người ít tham gia hơn cho thấy sự tính toán trong mục đích kinh tế của họ khác nhau. Với 4 gia đình được đi tập huấn và về tổ chức du lịch cộng đồng có sự tư duy mục đích kinh tế rất rõ ràng. Trong khi phần lớn những người dân khác, những người ít tham gia vào hoạt động thị trường thì họ chủ yếu vẫn tập trung vào các hoạt động sản xuất phục vụ nhu cầu gia đình là chính. Còn những người tham gia du lịch cộng đồng lại lên kế hoạch đầu tư kinh tế để tìm kiếm lợi nhuận rõ ràng hơn. Tức là về mặt kinh tế học, tư duy của người dân chủ yếu vẫn bị chi phối bởi kinh tế tự cung tự cấp, nhưng sau khi có những trải nghiệm thị trường do du lịch cộng đồng đưa lại, một số người đã biết tính toán đến việc kiếm tiền lợi nhuận từ các hoạt động kinh tế, biết đem tiền ra đầu tư để thu về một khoản tiền nhiều hơn.

Sự thay đổi trong tư duy cũng làm cho người dân thay đổi các hoạt động sản xuất của mình. Về cơ bản, các gia đình tham gia vào du lịch cộng đồng vẫn tiếp tục sản xuất nông nghiệp nhưng họ không coi đây là hoạt động quan trọng nhất trong gia đình nữa. Họ đã nhìn thấy được mối tương tác giữa các hoạt động kinh tế khác nhau. Tham gia du lịch cộng đồng ban đầu có thể không mang lại thu nhập cao cho họ, nhưng ngược lại sẽ cho họ những trải nghiệm thị trường -một nguồn lực quan trọng cho quá trình phát triển. Từ đó, họ đặt ra những mục tiêu kinh tế cao hơn, không chỉ là chuyện tự cung tự cấp, mà làm sao để có lợi nhuận. Những người tham gia du lịch cộng đồng là những gia đình tham gia nhiều hoạt động kinh tế nhất, là sự mở rộng sinh kế, đa dạng sinh kế trong quá trình phát triển của người dân. Họ đứng ra tổ chức phát triển du lịch cộng đồng qua việc hợp tác với các câu lạc bộ, chi hội phụ nữ để cung cấp các dịch vụ như ăn uống, văn hóa, văn nghệ, thậm chí tổ chức thêm các dịch vụ du lịch trải nghiệm cho du khách. Mặt khác, họ cũng vươn đến liên kết, hợp tác với các công ty du lịch để tiếp đón các đoàn khách. Mục đích của họ là tìm ra được một khoản lợi nhuận, dù là nhỏ sau khi phải thanh toán rất nhiều khoản khác, nhưng cũng rất hữu ích cho cuộc sống của họ.

Nói tóm lại, sau khi tham gia vào du lịch cộng đồng và có được những trải nghiệm thị trường nhất định, những người dân bản địa đã biết thay đổi mục đích hoạt động kinh tế của mình, từ chỗ chỉ tập trung sao cho đủ cái ăn cái mặc, họ biết tính toán để tham gia nhiều hoạt động kinh tế và tìm kiếm những nguồn lợi nhuận nhất định. Đó là cơ sở để họ đa dạng hóa và mở rộng sinh kế cho gia đình, giúp họ có năng lực vượt qua các vấn đề liên quan đến biến động mùa màng do thiên nhiên mang lại. Một gia đình chỉ tập trung vào trồng trọt nếu thiên tai lũ lụt xẩy ra, mùa màng mất trắng thì rơi vào cảnh đói kém. Hay một gia đình tập trung vào phát triển chăn nuôi mà bị dịch bệnh tràn qua thì cuộc sống bấp bênh. Nhưng nếu đa dạng hóa các sinh kế thì năng lực để chống chịu với những biến động này lớn hơn nhiều khi họ có nhiều nguồn thu nhập bổ trợ.

2.2. Sự thay đổi tư duy về nguồn lực phát triển

Nguồn lực phát triển trong xã hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền Tây Nghệ An chủ yếu cũng là đất rừng, nương rẫy, ruộng nước, nói chung là các nguồn tài nguyên gắn với cuộc sống của họ. Trong nền kinh tế thị trường, những nguồn lực này cũng có vai trò quan trọng, nhưng không phải là tất cả. Nguồn lực phát triển được mở rộng ra gấp nhiều lần. Đó là những nguồn lực mới như quan hệ xã hội, mạng lưới xã hội, tri thức dân gian, thông tin thị trường, vị trí địa lý, kỹ năng nghề nghiệp, tri thức văn hóa, bằng cấp, vị thế xã hội,… Những yếu tố này đều trở thành các nguồn lực quan trọng trong quá trình phát triển hiện nay. Nhưng không phải ai cũng nhận thức và nắm bắt được các nguồn lực này. Nhìn vào các gia đình tham gia du lịch cộng đồng với các gia đình ít tham gia vào các hoạt động này có thể thấy rõ hơn việc nắm bắt các nguồn lực phát triển do khác nhau về sự trải nghiệm thị trường. Những người làm du lịch cộng đồng biết cách xây dựng mạng lưới xã hội thông qua nhiều kênh khác nhau. Trước hết là các mối quan hệ với chính quyền địa phương. Ngay từ khi có dự án phát triển du lịch cộng đồng và được đưa đi tham quan một số mô hình, những người này đã biết tạo ra cho mình các mối quan hệ cần thiết như với những người hướng dẫn, với những người tổ chức du lịch cộng đồng, thậm chí với một số người ở những nơi mà họ đi tham quan để trao đổi. Sau đó, khi có những đoàn khách tham quan đầu tiên, họ đã biết giữ gìn các mối quan hệ với du khách. Đặc biệt, họ biết tạo ra và mở rộng mối quan hệ với các công ty du lịch, các hướng dẫn viên du lịch và xem đây là mối quan hệ quan trọng, là nguồn cung cấp khách cho họ. Không chỉ biết tạo các mối quan hệ xã hội bên ngoài, những người làm du lịch cộng đồng cũng tỏ ra nhanh nhẹn và biết cách tập hợp những người khác trong bản cùng tham gia vào hoạt động này hơn. Họ tập trung và tập huấn cùng mọi người về việc nấu ăn, tổ chức tiếp đón khách, tổ chức các hoạt động để phục vụ du khách. Khi phân chia thành các nhóm/câu lạc bộ như câu lạc bộ dân ca, nhóm ẩm thực, nhóm trải nghiệm… thì những người làm du lịch cộng đồng chính là cầu nối giữa các nhóm này. Họ chính là người tiếp nhận thông tin về du khách và thông báo, tổ chức các hoạt động liên quan cũng như thỏa thuận về giá cả và phân chia lợi ích với nhau. Như vậy, thông qua du lịch cộng đồng, những người tham gia đã nhận thức được rõ quan hệ xã hội và năng lực tổ chức là một nguồn lực để phát triển kinh tế. Họ cũng hiểu rằng bản sắc văn hóa tộc người là nguồn vốn quan trọng và có thể vận dụng vào quá trình phát triển. Ngoài ra, còn họ còn nắm bắt được nhiều nguồn lực khác như ngoại ngữ, năng khiếu văn nghệ, tri thức về văn hóa truyền thống,….

2.3. Sự thay đổi tư duy về hoạch định kinh tế

Bản thân du lịch cộng đồng là một quá trình kinh tế gồm nhiều bước, nhiều hoạt động khác nhau có mối quan hệ với nhau. Nên phát triển du lịch cộng đồng cũng cần một chiến lược hoạch định kinh tế. Tuy nhiên, khi tham gia vào du lịch cộng đồng, nhất là khi đã có quá trình phát triển nhất định, những người tham gia đã thay đổi nhiều về việc hoạch định chiến lược phát triển. Trước hết là chiến lược đầu tư tài chính. Muốn phát triển du lịch cộng đồng thì cần có một nguồn tài chính và một chiến lược đầu tư, sử dụng tài chính nhất định. Huy động một số vốn không nhỏ từ việc bán trâu bò, lợn, hay vay mượn anh em, thậm chí vay ngân hàng là một điều không dễ dàng đối với người dân miền núi. Vậy nên khi đã theo đuổi thì đòi hỏi họ phải rất cẩn thận trong kế hoạch đầu tư. Những người làm du lịch cộng đồng đều cho thấy họ có sự táo bạo trong việc làm ăn kinh tế. Và họ cũng rất tính toán trong việc đầu tư cho lĩnh vực mới này. Nhưng họ không dốc hết mọi nguồn lực cho hoạt động này mà vẫn giữ các hoạt động sản xuất khác để đề phòng khi những hoạt động này không đem lại lợi ích như mong muốn thì cuộc sống gia đình cũng không đi vào hiểm trở. Ở Bản Nưa, các gia đình phát triển du lịch cộng đồng đều đa dạng hóa trong hoạt động sinh kế. Hầu hết vẫn tiếp tục canh tác nông nghiệp và chăn nuôi. Có người làm thêm nhiều nghề khác như đầu tư nhà hàng, quán ăn, bán hàng lưu niệm ở nơi khác, thu mua buôn bán nông sản. Có người thì làm nghề đóng gạch để bán. Có người tham gia sản xuất các mặt hàng thủ công… Như vậy, họ rất biết tính toán trong việc hoạch định sinh kế gia đình. Điều quan trọng nữa, họ còn biết tự nâng cao năng lực của mình qua việc tự tìm hiểu cũng như đầu tư cho con cái học hành cao hơn để làm nguồn lực phát triển sau này. Rõ ràng tầm nhìn về hoạch định kinh tế của người dân đã được mở rộng hơn trong quá trình tham gia phát triển du lịch cộng đồng.

2.4. Sự thay đổi tư duy về hệ thống giá trị văn hóa

Hệ thống giá trị mang tính bản sắc tộc người. Nhưng đây đều là những khái niệm trừu tượng và thay đổi theo thời gian. Hệ thống giá trị được định hình trong những giai đoạn khác nhau và nó thay đổi tùy theo hoàn cảnh nhưng vẫn giữ được những nét cơ bản của nó. Với các cộng đồng dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An trước đây, hầu hết đều mang hệ thống giá trị cơ bản là hướng nội. Các cộng đồng sáng tạo và sản xuất đều hướng đến phục vụ bản thân, phục vụ gia đình và phục vụ cộng đồng của mình. Ví dụ như một bộ trang phục đẹp là sự tôn vinh một người phụ nữ - người đã sản xuất ra nó. Đó gọi là các giá trị văn hóa hướng nội. Nhưng khi phát triển du lịch cộng đồng thì hệ thống giá trị cũng có sự thay đổi. Bản sắc văn hóa tộc người là nền tảng, là nguồn lực để phát triển du lịch cộng đồng. Nhưng rồi du lịch cộng đồng lại tác động ngược và làm thay đổi bản sắc văn hóa cộng đồng. Để phát triển du lịch, người dân đã thay đổi, thậm chí hiện đại hóa các yếu tố văn hóa để phục vụ du khách. Ở Bản Nưa, người dân sửa sang lại nhà cửa, làm thêm mái tôn, nâng cột nhà lên để sử dụng tầng 1 như một không gian tiếp khách và ăn uống. Mua sắm các trang thiết bị hiện đại như tủ lạnh, nồi cơm điện, tắm nóng lạnh, làm vệ sinh tự hoại,... Nhiều món ăn cũng bị thay đổi sao cho phù hợp với khẩu vị của du khách hơn. Nhiều dịch vụ mới xuất hiện như các quán cà phê, các quán nhậu, các shop quần áo, thời trang và đồ lưu niệm. Không chỉ vậy, những bộ trang phục nhiều khi cũng được cách tân, các điệu hát điệu múa cũng được cải biên sao cho hợp lý và sôi nổi hơn, lộng lẫy hơn. Như vậy, những người làm du lịch cộng đồng đang hướng đến phục vụ du khách, như một người tham gia phát triển du lịch cộng đồng ở Bản Nưa đã nhấn mạnh "thu hút được du khách thì phát triển được kinh tế". Điều đó chứng tỏ, du lịch cộng đồng đã làm thay đổi hệ thống giá trị của những người làm du lịch cộng đồng từ hướng nội sang hướng ngoại, phục vụ khách hàng.

3. Trải nghiệm thị trường là yếu tố quan trọng giúp người dân bản địa phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa truyền thống

Qua phân tích về sự thay đổi tư duy của người dân bản địa khi tham gia phát triển du lịch cộng đồng cho thấy một vấn đề quan trọng, đó là trải nghiệm thị trường, mà cụ thể trên đây là những trải nghiệm ngược từ quá trình hoạt động du lịch cộng đồng của người dân. Trải nghiệm thị trường là một yếu tố quan trọng góp phần giúp người dân bản địa phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa truyền thống trong thời đại kinh tế thị trường.

Trong vài thập niên qua, kinh tế thị trường hình thành và phát triển ở miền núi đã tác động mạnh mẽ đến đời sống của các dân tộc thiểu số. Trước hết, nó làm bản sắc văn hóa tộc người thay đổi theo hướng thị trường, tức chuyển từ hệ giá trị cộng đồng nội tại sang hệ giá trị hàng hóa, từ phục vụ cộng đồng sang phục vụ thị hiếu và nhu cầu của khách hàng. Đây là quá trình thị trường hóa văn hóa. Nhưng mặt khác, thị trường cũng tạo điều kiện cho người dân đẩy mạnh phát triển kinh tế và bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống. Trong quá trình tham gia thị trường, người dân sẽ tìm kiếm cơ hội để phát triển bản thân, phát triển cộng đồng, đưa các giá trị văn hóa của mình ra thị trường để quay lại phục vụ chính cộng đồng mình bằng những lợi ích chính đáng mà nó thu lại qua các chu trình luân chuyển. Đây gọi là quá trình văn hóa hóa thị trường. Nếu quá trình thị trường hóa văn hóa diễn ra khách quan, mang tính ngoại tại và quyết định bởi yếu tố bên ngoài, thì quá trình văn hóa hóa thị trường lại mang tính nội tại, khó khăn hơn và chịu quy định bởi yếu tố con người. Thực tế cho thấy, ở nhiều địa phương kinh tế thị trường kém phát triển nhưng bản sắc văn hóa tộc người lại mai một và mất mát nhanh chóng, trong khi đó, có một số địa phương kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ nhưng bản sắc văn hóa vẫn giữ được và trở thành một nguồn lực để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống con người. Một trong những nhân tố quan trọng làm nên điều đó chính là năng lực tái tạo bản sắc văn hóa, chủ động biến đổi nền văn hóa sao cho phù hợp với thị trường và vẫn giữ được giá trị cốt lõi, nền tảng của nền văn hóa. Trong quá trình tái tạo bản sắc văn hóa và phát triển sự trải nghiệm thị trường có một vị trí quan trọng. Sự trải nghiệm không đồng nhất với kinh nghiệm dù cả hai đều phải bắt nguồn từ hoạt động thực tiễn. Trong khi kinh nghiệm có thể được truyền tải qua các thế hệ và có thể học tập được thì trải nghiệm lại không. Trải nghiệm là quá trình một cá nhân, một cộng đồng tham gia trực tiếp và tương tác trong môi trường kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, để từ đó, họ có những nhận thức, cảm xúc về các vấn đề họ quan tâm. Đó còn được gọi là quá trình cá nhân hóa thực tiễn phát triển. Trong gần hai thập kỷ qua, trải nghiệm là một vấn đề quan trọng được các tổ chức quốc tế quan tâm và xem đó là một phần trong việc bảo vệ an ninh con người. Đó cũng là xu hướng dịch chuyển trọng tâm trong các chiến lược an ninh do Liên Hiệp Quốc đưa ra từ an ninh quốc gia sang an ninh con người và an ninh cộng đồng. Ở các cộng đồng đang bước chân vào nền kinh tế thị trường, trải nghiệm thị trường là một vấn đề quan trọng, tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển của cá nhân lẫn cộng đồng. Vậy nên, ở nhiều quốc gia và địa phương, thay vì trốn tránh hay bài trừ thị trường, các chiến lược phát triển hướng đến nâng cao năng lực tiếp cận thị trường của người dân để họ chủ động tham gia vào thị trường, trong đó quan trọng là tăng cường sự trải nghiệm thị trường cho người dân.

Trải nghiệm thị trường không chỉ giúp người dân chủ động trong các kế hoạch phát triển kinh tế mà còn tạo điều kiện để họ bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người của mình. Khi khách hàng có nhu cầu thưởng thức những sản phẩm mang đúng phong cách, văn hóa truyền thống của họ thì họ sản xuất đúng với nguyên mẫu. Cũng có nhiều trường hợp sản xuất theo các mẫu mã khác nhau, làm biến đổi văn hóa truyền thống, nhưng các sản phẩm này có giá cả thấp hơn nhiều so với "hàng thật" đúng nguyên mẫu cổ truyền. Tức là ở đây có sự lựa chọn trong sản xuất khi các sản phẩm theo đúng nguyên mẫu truyền thống thì mất nhiều thời gian hơn nhưng giá cao hơn sản xuất theo mẫu mới đơn giản hơn, ít thời gian hơn thì giá cả thấp hơn. Và khi thị trường phát triển lành mạnh thì hàng thật cũng được ưa chuộng hơn. Đó là lý do mà những người giỏi các nghề thủ công truyền thống lại giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế và bảo tồn bản sắc văn hóa, họ là những người đi tiên phong và giữ vai trò đầu tàu cho lớp sau đi theo.

Các dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An hiện nay đang cần có những nguồn cảm hứng mới để phát triển. Đó là một chương trình phát triển làm sao cho người dân được trải nghiệm trong kinh tế thị trường. Khi người dân không có trải nghiệm thị trường thì họ sẽ phải thụ động tiếp cận đến các chính sách phát triển và lúc đó, mọi sự hỗ trợ cũng không đạt được hiệu quả. Nhưng để tăng cường sự trải nghiệm thị trường của người dân không phải là việc dễ dàng và nhanh chóng được, phải có quá trình và kế hoạch cụ thể. Có hai con đường để tăng cường trải nghiệm thị trường, là con đường tự vận động và con đường nhận tác động. Tự vận động là con đường chủ quan, người dân tự tìm cách tiếp cận thị trường để tìm kiếm trải nghiệm và từ đó kiến tạo các kế hoạch kinh tế của mình. Con đường thứ hai là con đường khách quan, nhờ các chính sách hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức phi chính phủ qua các lớp tập huấn và các chương trình hỗ trợ tham gia các hội chợ để người dân tiếp cận thị trường và tích lũy trải nghiệm. Trải nghiệm thị trường giữ vai trò quan trọng để  tái cấu trúc bản sắc văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế, nhưng nó cũng cần được định hướng rõ ràng. Trải nghiệm thị trường sẽ là nền tảng giúp người dân chủ động tiếp cận thị trường và phát triển kinh tế, nhưng nếu họ bị thị trường chi phối, chạy theo lợi nhuận trước mắt thì sự tái cấu trúc văn hóa sẽ theo hướng thị trường và làm mất đi bản sắc văn hóa tộc người. Nhưng sự trải nghiệm thị trường được đặt trên nền tảng của tâm lý tự hào dân tộc thì cơ hội để bảo tồn bản sắc văn hóa được nâng cao lên nhiều lần. Và nó sẽ tạo ra một luồng gió mới cho quá trình phát triển ở các dân tộc thiểu số vùng miền núi.

 

Nguyễn Khắc Thái

          GS. Hà Văn Tấn, người khổng lồ của giới sử học đương đại đã về trời. Tưởng nhớ Thầy kính yêu, xin kể một số câu chuyện chưa hề được đăng tải trên báo chí.

Chuyện 1: Nguyên nhân Việt Nam chậm phát triển

Câu chuyện này tôi nghe 2 lần, một lần hầu trà Thầy với GS. Hồng Phong và GS. Lâm Bình Tường (GS Bảo tàng học, thủ trưởng cũ của tôi) tại Vụ BTBT - 22 Hai Bà Trưng Hà Nội. Lần thứ hai, hầu trà Thầy với nhà thơ Hoàng Trung Thông với GS. Hoàng Thiếu Sơn, người đồng hương tài hoa, uyên bác cả 3 lĩnh vực Văn Sử Địa tại số 1 Hàng Chuối, nơi cư ngụ của GS. Hoàng Thiếu Sơn. Cả 2 lần hầu trà đều nghe các cụ bàn thảo về nguyên nhân vì sao Việt Nam (và cả một vài nước châu Á nữa) có nền văn minh sớm nhưng sự phát triển càng ngày càng chậm lại để phương Tây, tuy nền văn minh ra đời muộn hơn nhưng lại vượt lên một cách ngoạn mục. Trong câu chuyện, mỗi người có một chính kiến khác nhau, nhưng thú vị là về cuối câu chuyện, tất cả những trí thức danh tiếng này đều đồng thuận với ý kiến GS. Hà Văn Tấn… Đây là lập luận của GS. Hà Văn Tấn:

Việt Nam có lịch sử lâu đời và có nền văn minh sớm, bằng chứng được khảo cổ học chứng minh từ các di chỉ đồ đá cũ, nhưng rực rỡ nhất là Văn minh sông Hồng trong giai đoạn văn hóa Đông Sơn. Và không như GS. Kinh tế học NHP nói là do Việt Nam phát triển không thuần thục, bỏ qua một vài phương thức sản xuất (như chế độ nô lệ chẳng hạn) nên nền kinh tế bị thiếu nền tảng xã hội tương ứng.

GS. Hà Văn Tấn cho rằng, Việt Nam, trong lịch sử vẫn trải qua tuần tự tất cả các phương thức sản xuất như K. Marx đã vạch ra, chỉ khác nhau về mức độ điển hình của nó thôi.

Thế thì vì sao nền kinh tế - xã hội của Việt Nam cứ phát triển chậm lại. Các GS đặt câu hỏi.

Đơn giản thôi: Cái gì thế giới bỏ đi, vượt qua để phát triển thì Việt Nam tiếp nhận và níu kéo lại - GS. Hà Văn Tấn trả lời một cách tự tin. Tất cả các trí thức trong 2 buổi tiếp xúc mà mình vừa kể đều ngỡ ngàng về kết luận hết sức giản đơn nhưng vô cùng sâu sắc của GS. Hà Văn Tấn. Tuy nhiên, các GS muốn được giải thích cụ thể hơn. GS. Hà Văn Tấn chậm rãi nói: Việt Nam có chế độ nô lệ không? Có, chỉ có điều do nhiều tác động của đặc điểm dân cư và tác động ngoại cảnh nên nó không điển hình. Vì thế, chế độ phong kiến nhanh chóng thay thế. Thế nhưng, khi thay thế chế độ nô lệ, phong kiến Việt Nam vẫn giữ lại hình thức nô lệ cá nhân, nô lệ tiểu cộng đồng mà sử học gọi là "nô lệ gia trưởng". Hai ông Yết Kiêu và Dã Tượng thời Trần, trước khi cầm quân đánh giặc là nô lệ gia trưởng. Đó là một bằng chứng. Thời Lý Trần Lê đều phổ biến nô lệ gia trưởng, đặc biệt là thời Trần. Họ lao động trong các điền trang, thái ấp theo thân phận nô lệ. Khi có cơ hội phát triển nền kinh tế tư bản, có mầm mống xuất hiện vào thế kỷ XIX, thì VN chỉ thoáng qua rồi đánh mất cơ hội, trong khi lại hưởng ứng phong trào Cần Vương rất rầm rộ. Dù Cần Vương là phong trào yêu nước, chống Pháp nhưng ngọn cờ phong kiến đã hết thời, không có khả năng tập hợp lực lượng lẽ ra phải đi theo xu hướng cách mạng tư sản thì Việt Nam vẫn cứ níu kéo ngọn cờ phong kiến. Thế đấy, rất nhiều tư tưởng chính trị và phương thức vận động xã hội trên thế giới đã bỏ đi, Việt Nam tiếp nhận vào và giữ luôn không chịu thoát ra cho kịp thế giới thì chậm phát triển là phải. Câu chuyện thầy Hà Văn Tấn nói đã 50 năm rồi. Một nửa thế kỷ qua đi nhưng những chân lý và tiên đoán khoa học mang tên Hà Văn Tấn vẫn còn nguyên giá trị. Chân lý, phải có bộ óc siêu phàm mới phát hiện ra nó. Nhưng khi đã phát hiện ra rồi thì nó vốn hết sức giản đơn. Và cái điều giản đơn ấy vẫn đang tồn tại: Cái gì thế giới bỏ qua thì Việt Nam giữ lại quyết không buông bỏ, dù nó đã hết vai trò lịch sử.

Chuyện 2: Nhận thức lại Engels

Trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước", F. Engels đã dựa trên kết quả nghiên cứu của Morgan - một nhà cổ sinh thái học và nhân học người Mỹ để kết luận rằng: Đại phân công lao động xã hội lần thứ nhất diễn ra giữa bộ lạc chăn nuôi tách ra khỏi kinh tế chiếm đoạt. Căn cứ vào thực trạng môi trường sống của bộ lạc Iroqua, nơi Morgan chọn để khảo sát, nhiều người nhầm tưởng đại phân công lao động xã hội lần thứ nhất là Chăn nuôi tách khỏi nông nghiệp. Thực ra không phải. Phát hiện vĩ đại của      Engels khi coi việc tách chăn nuôi ra khỏi kinh tế chiếm đoạt, tức là lấy kinh tế sản xuất làm điểm mốc đột phá của sự phát triển loài người từ việc dựa vào thiên nhiên đến việc làm chủ thiên nhiên bằng lao động. Thế nhưng, GS. Hà Văn Tấn cho rằng, Engels chỉ đúng có một nửa. Cần phải đính chính lại.

GS phát hiện là bộ lạc Iroqua mà Morgan chọn để khảo sát là một bộ lạc chăn nuôi du mục nên chỉ lấy sự xuất hiện chăn nuôi để đánh giá tầm quan trọng của bước phát triển từ kinh tế chiếm đoạt sang kinh tế sản xuất. Thực ra, cũng với cách tiếp cận khoa học đó, nhưng nếu không phải với đối tượng là bộ lạc chăn nuôi mà là bộ lạc nông nghiệp thì cũng sẽ diễn ra cuộc phân công lao động lần thứ nhất giữa kinh tế chiếm đoạt với nông nghiệp (cụ thể là trồng trọt), tách ra khỏi kinh tế chiếm đoạt (săn bắt và hái lượm). Thậm chí, các bộ lạc nông nghiệp đông hơn chăn nuôi rất nhiều. Và bằng vốn tiếng Đức thông thạo của mình, GS. Hà Văn Tấn còn phát hiện nhiều ngôn ngữ trên thế giới dịch chưa sát cụm từ chỉ cộng đồng nguyên thủy với nền kinh tế chiếm đoạt và đính chính lại đại phân công xã hội lớn lần thứ nhất là: "Một cuộc cách mạng về phân công lao động xã hội, trong đó các bộ lạc chăn nuôitrồng trọt tách ra khỏi cộng đồng dã man còn lại". Như vậy, Engels chỉ mới nói có một nửa nội dung của đại phân công này (Chăn nuôi được tách ra). Và, hiểu phiến diện như thế thì các nước Đông Nam Á không có "Đại phân công lần thứ nhất" vì không có bộ lạc chăn nuôi.

Nhờ đính chính của GS. Hà Văn Tấn, lịch sử cổ đại Đông Nam Á được hiểu đúng là vẫn có (diễn ra) "Đại phân công lao động xã hội lần thứ nhất", nhưng không phải là chăn nuôi mà là nông nghiệp (trồng trọt). Việc GS. Hà Văn Tấn đính chính và hoàn thiện luận điểm của Engels được coi như một định đề soi sáng lịch sử cổ đại thế giới, đặc biệt là lịch sử cổ đại Đông Nam Á. Nhân đây, tôi muốn nhắc tới một định nghĩa Văn hóa của Thầy - GS. Trần Quốc Vượng từ kết quả nghiên cứu của GS. Hà Văn Tấn (không thấy Thầy viết ra trong sách) là: "Cái gì không phải là "Tự nhiên" thì cái đó là "Văn hóa".

Trồng trọt và Chăn nuôi là việc làm "phi tự nhiên" đầu tiên của con người. Engels đề cao việc đó bằng giá trị lao động của con người. Còn hai ông Thầy của mình thì đề cao nó trên phương diện và góc nhìn văn hóa. Văn hóa, xuất phát điểm là "sản xuất", sau đó mới là "Văn trị, giáo hóa".

Chuyện 3: Dùng toán thống kê giải mã ngôn ngữ

Vào thời điểm đầu những năm 70 của thế kỷ trước, ở Việt Nam có phát hiện một tấm bia (có thể là Bia Hoa Lư?) mà minh văn sử dụng một loại chữ viết/ký hiệu bí ẩn, nhiều người cho là tử ngữ. Nhiều nhà sử học, văn hóa học, ngôn ngữ học vào cuộc nhưng không sao giải mã được bí ẩn này. Cùng thời gian đó, người Nhật cũng phát hiện một bia cổ có minh văn lạ, không đọc được, đã đăng lên các tạp chí quốc tế nhờ các nhà khoa học trên thế giới giải mã. GS Hà Văn Tấn tiếp cận bản sao 2 minh văn kia và dùng toán thống kê để tìm quy luật lặp lại của các ký hiệu hoặc ngôn ngữ lạ để xem quy luật sử dụng ký hiệu/chữ viết có đồng dạng với quy luật của một loại ngôn ngữ nào không, kể cả những tử ngữ và sinh ngữ. Thật bất ngờ là bằng thống kê và lập ma trận, GS tìm được quy luật lặp lại và quy luật liên kết của các ký hiệu/chữ viết trên 2 văn bia này... tương đồng nhau. Từ đó GS rút ra kết luận: hai văn bia này có cùng một nội dung. Sau kết luận có tính quyết định quan trọng đó, GS coi đó là luận đề thứ nhất để dùng phép nội suy, dẫn đến luận đề thứ hai là: Trên 2 văn bia cổ của 2 cộng đồng dân cư mà cùng có một nội dung giống nhau thì đó là dấu hiệu của tương đồng văn hóa, và rồi, cũng chính bằng phép nội suy, GS đi đến luận đề thứ 2: Giữa Nhật Bản và Việt Nam mà tương đồng văn hóa thì chỉ có Phật giáo: Văn bia đó chắc chắn có nội dung liên quan đến Phật giáo. Từ đó, GS tiến tới luận đề thứ 3 là: Nguồn gốc của 2 văn bia có cùng nội dung ký hiệu ngôn ngữ phải có chung nguồn gốc văn hóa. Vậy phải đi tìm nguồn gốc văn hóa để tìm nguồn gốc ngôn ngữ. GS đã tìm đến Ấn Độ, cội nguồn văn hóa Phật giáo mà dòng chảy của nó dẫn tới Việt Nam và Nhật Bản. Logic học dẫn GS đến luận đề thứ tư liên quan đến chữ Phạn là ngôn ngữ được dùng trong rất nhiều bi ký Phật giáo ở Ấn Độ. Ngặt cái, khi đó GS chưa biết chữ Phạn. Bằng một nghị lực phi thường và trí thông minh đặc biệt, chỉ trong một thời gian ngắn (nghe nói 3 tháng hè thôi), GS làm chủ ngôn ngữ Phạn qua giáo trình của người Nga và được nâng cao bằng giáo trình của người Đức do GS Hồ Gia Hường (người Quảng Bình - học sử ở Đức và tác giả bộ Từ điển Việt - Đức đầu tiên) gửi tặng. Đến đây, GS Hà Văn Tấn lại sử dụng toán thống kê để tìm quy luật ngôn ngữ tiếng Phạn và phát hiện ra quy luật đó trùng khít với quy luật lặp lại và liên kết ký hiệu trên 2 văn bia đã phát hiện.. Từ đó, đủ cơ sở khoa học để kết luận, nội dung các ký hiệu/ngôn ngữ trên 2 văn bia kia chính là chữ Phạn đã bị thay thế bằng ký hiệu để tạo nên sự thần bí của tâm linh. Việc cuối cùng là chuyển ngữ từ các ký hiệu thần bí kia thành chữ Phạn và giải mã nội dung 2 văn kia, hóa ra đó là một bài kinh Phật.

Nội dung bài kinh không quan trọng, điều quan trọng và kỳ diệu là phương pháp sử dụng toán học trong nghiên cứu sử học. GS có kể thêm rằng, thời còn nhỏ ở quê, GS cũng thường chơi trò chơi ngôn ngữ: Bạn hãy viết một đoạn văn ngắn và cho biết các ký tự lặp lại bao nhiêu lần, liên kết bao nhiêu lần thì sẽ đoán ra nội dung đoạn văn đó. Ví dụ: Trong tiếng Việt, chữ n: lặp lại nhiều nhất, chữ "n" hay liên kết với chữ "h" thành chữ "nh", liên kết với "g" thành chữ "ng"... Cứ thế tìm ra ý của đoạn văn nói gì. Từ câu chuyện của GS Hà Văn Tấn, khi tôi đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô, tôi đã tiếp cận được với giáo trình (tiếng Nga): "Phương pháp số trong nghiên cứu sử học", trong đó hoàn toàn là các thuật toán khi phân tích các sự kiện và biến cố lịch sử. Nhớ đến đột phá của Thầy, GS. Hà Văn Tấn trong phương pháp luận sử học để luôn nhớ về người Thầy kính yêu vừa xa chúng ta.

Chuyện 4: Từ khảo cổ học lấn sân… thạch học

Câu chuyện "Từ Khảo cổ học, lấn sân sang Thạch học" liên quan đến cả 2 GS khảo cổ học nổi tiếng, có công khai mở nền Khảo cổ học Việt Nam là GS. Trần Quốc Vượng và GS. Hà Văn Tấn. Đây là câu chuyện "lấn sân" được giữ kín trong cả 2 giới Khảo cổ học và Địa chất học bởi những tình tiết tế nhị nhưng tôi đã được nghe GS. Trần Quốc Vượng kể lại trong một đêm thấy trò "rớt đài" bên bờ sông Nhật Lệ. Lâu quá mà lại say nữa nên câu chuyện liên quan đến GS. Hà Văn Tấn chỉ còn nhớ... loáng thoáng. Số là vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, với sự giúp đỡ của GS. Viện sĩ Liên xô P.I. Boriskovski, các nhà khảo cổ học trẻ của Việt Nam đã phát hiện ra một Di chỉ sơ kỳ đồ đá cũ Núi Đọ (Thanh Hóa), góp phần quan trọng khẳng định nguồn gốc bản địa và lâu đời của chủ nhân nước Việt thời nguyên thủy. Ngặt cái, đây là di chỉ lộ thiên, các hiện vật không nằm trong tầng văn hóa nên có rất ít thông tin đầy đủ để chứng minh môi trường sống của giai đoạn này. Vì thế, việc tìm thêm những di chỉ đồ đá cũ nằm trong tầng văn hóa là ước mơ cháy bỏng của giới sử học. Giữa những năm 70 của thế kỷ trước, một chuyên gia địa chất của Liên Xô, chỉ nhớ mang máng họ ông ta là Dokuchaiep, sang giúp Việt Nam thăm dò và phát hiện khoáng sản. Ông này từng sang giúp Ba Lan và ở đó ông đã phát hiện cho Ba Lan một di chỉ đồ đá cũ sơ kỳ rất quý giá, nhờ vậy mà thế giới biết đến ông trong lĩnh vực khảo cổ hơn là lĩnh vực địa chất.

Trong cuộc họp báo đầu tiên tại Hà Nội, ông bất ngờ thông báo với báo giới rằng: Ông đã nghe đến di chỉ Núi Đọ, ông tin là sẽ có di chỉ khác cũng thuộc sơ kỳ đá cũ nhưng ông sẽ phát hiện nó trong tầng văn hóa. Nếu điều đó thành hiện thực thì sẽ chấn động nền sử học đất nước. Câu chuyện đến tai 2 GS Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn, nhưng 2 Thầy đều nghĩ rằng: đó có thể là lời… nói khoác. Bất ngờ, 2 tuần sau khi lên Lạng Sơn, nhà địa chất người Nga đã thông báo về Hà Nội là đã phát hiện một Di chỉ sơ kỳ đồ đá cũ trong tầng văn hóa với hàng trăm chopper và vô số mảnh tước điển hình cho giai đoạn sơ kỳ đồ đá cũ. Nếu đúng vậy thì đây vừa là tin mừng và vừa là... nỗi nhục của giới khảo cổ học Việt Nam vì thành quả khảo cổ học đất nước lại do nhà địa chất học nước ngoài phát hiện, hơn thế, lại phát hiện trong tầng văn hóa là vô cùng kinh ngạc. Đó là điều hết sức... trái khoáy. Nghe vậy, 2 GS Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn cùng một số học trò lập tức lao lên Lạng Sơn. Vừa đặt chân đến địa bàn được cho là phát hiện di tích sơ kỳ đá cũ, trước mắt hai GS cơ man nào là hiện vật điển hình của sơ kỳ đá cũ thuộc giai đoạn     Chelléen - Acheuléen. Nghiên cứu những dấu vết kỹ thuật trên các mảnh tước, các học trò cùng đi cho rằng nó mang đầy đủ tính chất đặc trưng của mảnh tước Clacton điển hình. Đây là đặc trưng kỹ thuật cơ bản trong chế tác công cụ của con người thuộc sơ kỳ thời đại đồ đá cũ. Nhưng kỳ lạ thay, 2 GS Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn thì... dửng dưng. Hai GS lập tức quay về Hà Nội, không ai biết vì sao.

Hóa ra, hai Thầy nghi ngờ nhà địa chất nọ có sự nhầm lẫn và đi đến một quyết định táo bạo là... tìm đọc quá trình vận động của địa tầng và cấu trúc thạch học. Nghĩa là lao vào lĩnh vực địa chất học để phát hiện... sai lầm khảo cổ học.

Hơn nửa tháng đóng chặt cửa, một tay cầm bánh mì, một tay lật tài liệu, ăn bánh và uống nước trà nguội để tập trung đọc tài liệu, GS. Hà Văn Tấn chịu trách nhiệm phần thạch học (nghiên cứu về đá) đã phát hiện ra rằng: Đá thạch anh có cấu trúc hình khối lập phương và hình lục lăng, khi bị nén vỡ thì tách ra thành những hình khối lục lăng nhỏ hơn. Vì vậy, các hình khối vỡ ra này rất giống các chopper, tức là rìu tay ghè thô sơ - công cụ điển hình của sơ kỳ đồ đá. Trong khi đó, GS. Trần Quốc Vượng chịu trách nhiệm nghiên cứu vận động địa tầng, đã phát hiện một giai đoạn địa chất có xẩy ra sự vận động tạo sơn. Đây chính là nguyên nhân tạo ra sự nâng hạ và sụp đổ của các khối núi, trong đó có chứa mỏ thạch anh. Thạch anh trong các mỏ này bị vận động địa chất làm cho vỡ ra từng thỏi và quá trình rơi, đổ đã làm cho các thỏi thạch anh này tự ghè đẽo vào nhau giống vết ghè của con người. Sự "ghè đẽo" tự nhiên, vô tình bắn ra các mảnh tước, cùng với hàng trăm thỏi thạch anh hình thù chopper khiến nhà địa chất nọ nhầm là công cụ đồ đá cũ có chất liệu thạch anh. Vậy là 2 nhà khảo cổ học Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn đã đính chính sai lầm của nhà địa chất bằng chính kiến thức địa chất. Riêng GS. Hà Văn Tấn chịu trách nhiệm về thạch học thì đã thắng ngay trên sân... thạch học thuộc lĩnh vực địa chất khiến nhà địa chất danh tiếng Dokuchaiep tâm phục, khẩu phục… Thầy Hà Văn Tấn của chúng ta là vậy đó, không biết đầu hàng bao giờ.

Chuyện 5: Phớt ăng lê và mẹo Tàu

Trước năm 1975, 4 Thầy "Tứ trụ sử học" Lâm, Lê, Tấn, Vượng đều có chung một "thiệt thòi" là không được Nhà nước ta cho ra nước ngoài, có lẽ là do quy định ngặt nghèo về "Lý lịch 3/5 đời". Đến năm 1976, Université Paris Diderot (gọi tắt là Paris VII) mời GS. Hà Văn Tấn sang giảng một chuyên đề về Phương thức sản xuất châu Á. Thật may mắn là GS sang Pháp đúng dịp "Cắt tóc - Phi zê" (ngày quốc khánh nước Pháp 14 tháng 7, tiếng Pháp là "Quatoze Juillet" mà người Việt nói tiếng Pháp bồi đọc là "Cắt tóc - Phi zê". Đây là dịp may mắn hiếm hoi để GS được tận mắt chiêm ngoạn một lễ hội long trọng và hoành tráng của nước Pháp.

Không thể có cơ hội đến quảng trường Charles-de-Gaulle nên GS. Hà Văn Tấn chọn một đại lộ để đứng đón xem đoàn quân duyệt binh đi qua các phố. Tôi nhớ, GS kể là, điểm mà GS tìm đến để đón đoàn duyệt binh nằm trên đại lộ Grande Armee. Khốn nỗi, GS. Hà Văn Tấn là người thấp bé, trong khi người châu Âu cao lớn đứng chật hết vỉa hè, không thể chen chân lên phía trước và cũng không thể nhói cao chân lên đủ độ cao để nhìn ra mặt đường xem đoàn duyệt binh đi qua. Người bạn đường đi cùng GS (cũng được UDS mời sang dạy) là người Trung Quốc còn có chiều cao khiêm tốn hơn cả GS. Hà Văn Tấn nên cả 2 rất chật vật tìm điểm đứng thuận lợi để chiêm ngưỡng tốt nhất.

Đang lung túng như vậy thì từ trong phố, một người dân sống ở đó xách ra 2 chiếc ghế vuông không có tựa, chỉ cho GS và người bạn đứng lên đó để xem. Hai GS đặt 2 ghé cạnh nhau và đứng lên vừa đủ tầm cao để xem một cách thoải mái.

Đang yên vị thị bỗng một người châu Âu từ phía sau đặt tay lên vai GS và người bạn, mỗi chân bước lên một cạnh của hai chiếc ghế và đứng lên giữa 2 người thấp bé để nhìn ra đại lộ xem đoàn duyệt binh, diễu hành đang tiến đến.

Thấy người này quá "tự nhiên", GS. Hà Văn Tấn nhớ lại câu thành ngữ "Phớt Ăng Lê" mà người Việt Nam hay dùng để chỉ sự tỉnh bơ (Tỉnh bơ như người Anh) nên nói với anh bạn người Trung Quốc bằng tiếng Tàu: Thằng cha này chắc chắn là người Anh ông ạ, chỉ có người Anh mới tỉnh bơ như vậy, người Việt tụi tao hay gọi thái độ tỉnh bơ đó là "Phớt Ăng Lê". Bất ngờ, anh chàng vóc người châu Âu to lớn kia nói ngay, cũng bằng tiếng Trung Quốc. Mày nhầm, Tao không phải người Anh, tao người Úc. Nhưng tụi mày nhận diện văn hóa giỏi đấy, tao người Úc nhưng gốc Anh di cư. Thế là cả 3 nhìn nhau cười xòa và cùng hướng mắt ngóng đợi đoàn diễu binh. Tuy nhiên, theo lời GS. Hà Văn Tấn, cái anh chàng người Úc gốc Anh kia càng ngày càng "tỉnh bơ" thái quá, vừa đứng lấn chân cả sang mặt ghế của 2 người khiến 2 GS Á châu chênh vênh mấy lần suýt ngã. Hơn thế, cái mùi ngai ngái thum thủm của người lười tắm cùng với cái mồm huyên thuyên và hơi thở nặng mùi của hắn làm 2 GS Á châu khó chịu. GS. Hà Văn Tấn liếc nhìn anh bạn Trung Quốc với ngầm ý yêu cầu một giải pháp thoát ra khỏi tình thế này.
Ông GS Trung Quốc hiểu ý, nhưng không thể trao đổi bằng tiếng Tàu với GS. Hà Văn Tấn, ông ta lại không biết tiếng Việt, nói tiếng Pháp thì chắc chắn thằng Tây này cũng biết nên dùng ký hiệu.

Đầu tiên ông Tàu đưa ra một ngón tay chỉ vào thái dương của mình, sau đó đưa ra 2 ngón tay, rồi quay 2 ngón tay chỉ xuống đất, rồi xòe bàn tay lật nghiêng, sau đó lật sấp và đột ngột hạ thấp xuống. Vốn là người thông minh, GS. Hà Văn Tấn dịch ra ngay. Nội dung ngôn ngữ ký hiệu được GS. Hà Tăn Tấn giải mã thế này: Tây nó vốn ngu (ngón tay chỉ vào thái dương) nên 2 thằng mình cùng lúc bước xuống khỏi ghế (2 ngón tay chỉ xuống đất), thằng Tây to lớn kia đứng mỗi chân trên 2 mép ghế sẽ mất trọng tâm, ghế sẽ lật (bàn tay lật nghiêng), nó sẽ ngã (bàn tay sấp lại và đột ngột hạ xuống), ta sẽ giành lại ghế và đứng lên như cũ. Hiểu ý nhau, sau một động tác ra hiệu, 2 GS Á châu thực hiện đúng kịch bản và kết quả là thằng Tây ngã lăn ra đau đớn. Không những thế, do thằng Tây này huyên thuyên, mọi người chung quanh đã mất cảm tình nên chẳng ai giúp hắn, còn buông lời phàn nàn mất trật tự. Thế là nó xấu hổ, chuồn mất. GS. Hà Văn Tấn cùng người bạn lại chiếm lĩnh độ cao trên 2 chiếc ghế, chứng kiến một kỳ "Cắt tóc - Phi zê" thật thú vị. Khi kể lại chuyện này cho tôi nghe, GS cứ tủm tỉm: "Người đời nói không sai: Phớt Ăng Lê thì có sang tận Úc rồi cũng cứ cái tính cách ấy. "Thâm như Tàu" thì có bỏ Tàu sang Pháp vẫn cứ mang cái thâm Tàu đi theo".

 

Bùi Văn Chất

Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng.

Câu phương ngôn xứ Nghệ nói lên niềm tự hào, hãnh diện về "Bốn trong số những ngôi đền đẹp nhất ở An Nam" (Le Breton - An Tĩnh cổ lục) phù hợp với các tư liệu Hán Nôm tương quan. Và theo như câu đối hiện có tại cổng chính Tam quan đền Bạch Mã, vị thế bốn danh thắng trên, được thể chế hóa, từ năm Kỷ Hợi Minh Mệnh thứ 20 (1839):                                                                               

"Nghệ An quốc tế tứ linh từ chi đệ tam/ y cổ sùng hồng minh tại thạch;                                                      Minh mệnh Kỷ Hợi vạn tư niên chi nhị thập/ tùng kim thể thế ngật như sơn".

 安國祭四靈祠之弟三/依古崇鴻銘在石

 命己亥萬玆年之二十/從今体勢屹如山.

Đền Cờn, ngôi đền đứng đầu trong bốn ngôi đền thiêng, nơi phong cảnh nước non đẹp nhất của xứ Nghệ, cũng là nơi có nhiều sự tích truyền tụng trong dân gian và trong tư liệu cổ.

Nếu đền Quả, Bạch Mã, Chiêu Trưng thờ các vị thần linh nguyên là những nhân vật lịch sử, những người con đất Việt, tên tuổi gắn liền với cơ đồ sự nghiệp giang sơn, thì Tứ vị thánh nương lại từ một cảnh ngộ bi thương của triều Nam Tống trở thành đấng thần linh tác phúc cho hàng hải Việt Nam.

Nhai Sơn nhất nhật thiên vô Tống

Hàng hải ức niên Việt hữu thần

(Càn điện đối liên: Câu đối đền Cờn)

Chuyện rằng(1), Thánh nương sinh thời là Hoàng hậu, là đấng thần minh. Khi chết là vị thánh anh minh, vị thần phúc đức. Từ xưa tới nay, trong vũ trụ này, chưa có vị thần nào thịnh bằng.

Cứ xem, trong thì Hải Dương, Yên Bang; ngoài thì các cửa biển Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Quảng Nam… đều lập đền thờ, vô cùng long trọng. Thế chẳng phải đức của thánh rất thịnh đó sao.

Kẻ ngu nguội này (BDL) thời trẻ đi học đã được nghe truyền rằng: Tứ vị Thánh nương là bốn vị trong cung triều Tống dong thuyền ra biển tránh quân Nguyên, gặp gió bão trôi dạt vào Cửa Cờn, ở đó. Về sau, khi chất đã hóa thành thần Nam hải - Phàm những ai qua lại trên biển, nếu cầu khẩn, đều được linh ứng.

Sử chép (1): Từ khi triều Tống vượt về phía Nam, định đô ở Hàng Châu, Bắc đới Trường Giang, ngó về phương Nam xông vào Bách Việt, thấy nơi đây địa hình hiểm yếu, núi non trùng điệp, bèn lấy làm phên dậu, thế dựa của đất nước, từ thời Cao Tông (1127) tiếp đến các triều đại sau trải 150 năm.

Tới khi quân Nguyên xâm cứ đô thành, bức quân Nam Tống. Không chống chọi nổi, xã tắc triều Tống nhanh chóng thất thủ. Thất thế, theo mưu Trương Thế Kiệt, tất cả tôn thất nam nữ phi tần hậu cung và tả hữu sĩ tốt cùng Dương Thái hậu, trên 20 vạn, chạy về Nhai Sơn, lánh nạn. Năm Tường Hưng (niên hiệu vua bé Đế Bính) thứ 2 (1279), tướng Trương Hoằng Phạm của quân Nguyên chia hai cánh tiến vào tập kích. Cùng đường, viên thừa tướng ôm vua trẻ nhảy xuống biển. Theo đó, bọn tôn thất, hậu cung, tả hữu trung thần nghĩa sĩ, thảy hơn 10 vạn, đều rơi xuống biển, đánh dấu ngày tận diệt của quân Đại Tống.

Ấy là ngày: "Nhai Sơn nhất nhật thiên vô Tống" (ngày Nhai Sơn chứng kiến trên cõi đời này không còn quân Tống).

Ô hô! Thời, đại biến.

Rồi, một tựa như Thái hậu, một tựa như Công chúa… gồm 3 quý thể, theo sóng dạt vào Cửa Cờn, gần ngôi chùa sát bên bờ biển. Khi tỉnh dậy, thấy thân thể mình lõa lồ, tức giận mà chết để giữ tròn trinh tiết. Uy phúc linh thông gửi vào "hoa gỗ"(2).

Từ ấy, "Hàng hải ức niên Việt hữu Thần" (Đường biển muôn năm nước Việt có Thần).

Câu chuyện biến hóa tác phúc của Thần có ở phần sau, ở đây xin lưu ý một chữ "Việt". Chữ này trong nguyên văn dùng chữ Việt cổ (), Việt Thường ngày xưa.

"Quá khứ của ngôi đền thuộc về truyền thuyết". Đề ảnh Đền Cần (ảnh LXIX), Le Breton, trong An Tĩnh xưa, chú thích:

Đền được dựng lên để thờ Hoàng Thái hậu của nhà Tống bị chết đuối, dạt về đây, cùng 3 công chúa, trong khi chạy trốn vì một kẻ chiếm đoạt ngôi vua. Thi thể của nữ hoàng tỏa ra một thứ thiên hương và gợi lên cảm giác của một cuộc sống bất diệt. Trước sự thần kỳ ấy, nhân dân vùng Cửa Cờn đặt tên cho làng mình là Hương Cần và dựng đền thờ… (Sđd tr.78, bản dịch).

Theo Bách thần sự tích(3), thần nguyên là Hoàng hậu của Tống Độ tông (1265 - 1278), 2 nàng công chúa và một nhũ mẫu(4), bị quân Nguyên bức đuổi, họ vượt biển, gặp gió bão phiêu bạt tới Nhai Sơn, Nam Hải, được vị sư trên núi vớt lên bờ. Hậu không chịu ở lại, cõng hai nàng chảy xuống biển. Vị sư cảm thấy có lỗi, cũng nhảy xuống chết theo.

Phương hồn (hồn thơm) của họ không tan, mà biến thành thần biển, sau hóa thành gỗ mộc hương, dạt vào cửa biển, hiển hiện linh ứng. Dân xã sở tại rước gỗ trầm hương về lập đền thờ phụng.

Vua Trần Anh Tông nam chinh, năm Hưng Long 12 (1312), thấy mộng, được âm lực phù trợ binh uy, khi khải hoàn phong tặng cho thần danh hiệu:

ĐẠI CÀN NAM HẢI TỨ VỊ THÁNH NƯƠNG

Đền gồm 13 sở, chính miếu tại địa phận thôn Cần Miếu, xã Hưng Cần, huyện Quỳnh Lưu.

Thời Lê Thái Tổ bình Ngô khai quốc (1419 - 1428), thần có trợ thuận, được vua phong: "Hoàng kim ngọc tổ".

Vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497), trong chuyến nam chinh, mật cầu, khắc ứng. Khi khải hoàn khắc tượng, tặng thơ, sai tu sửa đền đài. Từ đó, đền anh linh mãi mãi.

Các triều đại sau này đều có sắc phong, sai các quan cúng tế, chuẩn cho dân sở tại phụng sự, bảo quản.

 Dựng lên từ thời Trần, đền Cờn một di tích kiến trúc cổ, không chỉ là nơi miếu mạo uy nghi, nước non hùng vĩ, phong cảnh hữu tình mà còn là nơi lưu giữ nhiều di sản văn hóa đậm dấu ấn lịch sử và giàu chất sử thi.

Hiện vật, mang chữ nghĩa, xưa nhất có lẽ là tấm bia tạo lệ(5) do quan viên binh dân hương ấp tôn Càn Miếu, xã Hương Cần, huyện Quỳnh Lưu, dựng ngày 1 tháng 10 năm Cảnh Trị thứ 3 (1665), để ghi:

1. Sắc chỉ ngày 10 tháng Hai năm Khánh Đức 1 (1649), chuẩn cho bản thôn được khoan thư tạo lệ (tuần phu lính lệ) vì đã có công phụng sự đền Cờn.

2. Lệnh chỉ ngày 25 tháng Bảy năm Cảnh Trị 1(1663) của Chưởng quốc chính Tây Định vương chuẩn theo lệnh có trong tiền lệ - Các quan nha phải tuân theo. Nếu làm trái, có tội.

3. Lệnh chỉ ngày 2 tháng Sáu năm Cảnh Trị 2 (1664) của Đại Nguyên soái Thống đốc chính… chuẩn cho bản thân cùng thôn trưởng Phan Hữu Trạch y theo lệnh cũ.

Cuối cùng là bài minh gồm 96 từ ca ngợi hình thế núi sông nơi địa linh nhân kiệt, nơi đền Cờn tọa lạc; Niềm vinh hạnh của dân sở tại được hưởng thụ ân huệ của Thánh miếu được sắc chỉ vinh phong; Tỏ lòng thánh kính và cầu mong phong tục dân thuần, trên hòa dưới thuận, xin khắc chữ vào bia muôn dân chiêm ngưỡng.

Tiếp đến là chiếc chuông đồng, nặng khoảng 300 kg, đúc năm Cảnh Hưng 1 (1740) có ghi tên và sổ tiền công đức quyên góp tu sửa đền và đúc chuông.

30 năm sau, năm Cảnh Hưng 30, 1769, trong dịp đền được tu tạo lớn, trên xà hạ gian hồi văn bên phải có ghi:

Kỷ Sửu niên phụng đại lý tác. Tự đan nguyệt sơ tứ nhật khởi công chí bát nguyệt sơ nhị nhật hoàn thành. Cảnh Hưng tam thập niên, bát nguyệt cốc nhật (Năm Kỷ Sửu tu tạo lớn. Khởi công 04/3; Hoàn thành ngày 02/8, năm Cảnh Hưng 30).

Đối diện, trên xà hạ hồi văn gian bên trái, có bức đại tự: "Càn khôn hợp đức" Cảnh Hưng tam thập niên (Đất trời hợp đức - chế tác năm Cảnh Hưng 30).

Theo thần phả(6), Bảo tàng Nghệ An còn lưu 3 đạo sắc: 1. Cảnh Hưng 44 (1783); 2. Chiêu Thống 11 (1797); 3. Cảnh Thịnh 9 (1801).

Năm 1928, mùa xuân, Bảo Đại thứ 3, Tổng đốc Quảng Nam Phạm Liễu cúng bức đại tự: "Chí Khôn tai!"( ): Lớn lao thay đức hạnh Thánh nương.

Năm 1940, Bảo Đại Canh Thìn, Tri huyện Quỳnh Lưu, cúng bức chữ: "Vạn cổ anh phong" (Muôn thuở oai phong);

… Thảy đều ca ngợi uy đức của Thần.

Về thơ văn, tiếp theo bài ngự chế của Lê Thánh Tông và một số câu đối đã được ghi trong Thần phả Đền Cờn (Sđd), theo "Bách thần sự tích"(3) còn có 3 bài thơ và 1 câu đối chữ Hán, mang nội dung dẫn tích.

*Bài thứ nhất:

Y sao: 海無臣欽帝命   

城有罪奉天威

年偶入陳英夢

古猶傳趙宋妃

昔芳魂終不散

今清氣更何歸

茫海宇愁雲重

得神功佐一麾

Phiên:

Nam hải vô thần  khâm đế mệnh

Chiêm Thành hữu tội phụng thiên uy

Đương niên ngẫu nhập Trần Anh mộng

Vạn cổ do truyền Triệu Tống phi

Tự tích phương hồn cung bất tán

Tùng kim thanh khí cánh hà quy

Mang mang hải tụ sầu vân trọng

Yên đắc thần công tá nhất huy.

Tạm dịch:

Nam hải không tôi vâng mệnh đế

Chiêm Thành có tội chịu thiên uy

Nhớ khi khẩn báo Trần Anh mộng

Muôn thuở lưu truyền Triệu Tống phi

Từ thuở hồn thơm đang kết đó

Đến nay khí tốt hãy còn đây

Mênh mông trời biển mây sầu nặng

Giúp ngọn cờ đầu, Thánh tiếp tay.

(BVC dịch)

* Bài thứ hai:

Ysao:  宗皇帝南征日

                  海曾經此路過

                  次夜間頻入夢

                  師晨發靜無波

              祠香火長如許

                  國江山且柰何

                   古傷今無別恨

                陽停望吐高歌                                                                       

                僊田公子阮居敬撰

Phiên:           

Anh Tông hoàng đế Nam chinh nhật

Cần Hải tăng kinh thử lộ qua

Dịch thứ dạ gian tần nhập mộng

Đan sư thần phát tĩnh vô ba

Tân từ hương hỏa trường như hứa

Cố quốc tha hương thả nãi hà

Hoài cổ thương kim vô biệt hận

Tà dương trữ vọng thổ cao ca.

Hữu Tiền Điền công tử Nguyễn Cư (tức Đại Thi hào Nguyễn Du) 

kính soạn.

Tạm dịch:

Nam chinh thuở ấy Anh Tông tiến

Có dịp ghé qua cửa biển này

Êm giấc, thánh về loan mộng đẹp

Rạng ngày, thần hiện tạo điềm hay

Xây đền, hương khói, bền như hứa

Nhớ nước, giang sơn, đọng chẳng khuây

Thương xửa, xót nay, đâu hết hận

Chiều tà, lặng đứng ngắm trời mây.

Công tử Tiên Điền (tức Đại thi hào Nguyễn Du) kính soạn     

(BVC dịch)

*Bài thứ ba:

Y sao 朝風景趙精神

                      步其如國步屯

                     節珠飛崖港口

                     蹤玊孕海芹門

                       靈不與偕忘宋

                     烈猶寒已死元

                        卻君山湘水外

                      溟千一乾坤

Phiên:           

Quốc triều phong cảnh triệu tinh thần

Liên bộ kỳ như quốc bộ truân

Kính tiết châu phi Nhai cảng khẩu

Phương tung ngọc dựng Hải Cần môn

Anh linh bất dữ giai vong Tống

Trinh tiết do hàm dĩ tử Nguyên

Trừ Khước quân sơn Tương thủy ngoại

Nam minh thiên cổ nhất càn khôn.

Hữu Tây Sơn Dụ hầu ( Nguyễn Du) đề thi

Tạm dịch:

Triều vua phong cảnh gợi tinh thần

Mỗi bước như dằng vận nước truân

Cứng rắn, châu bang nơi Bến Cảng

Đoan trang, ngọc nẩy chốn Cần môn

Anh linh không hẳn đều quên Tống

Trinh tiết còn in đã bởi Nguyên

Từ giã núi Vua dòng lệ chảy

Biển Đông muôn thuở một càn khôn.

    (BVC dịch)

*Câu đối   

  Y sao:   堯之女,非舜之妻,一泓貞烈湘江水

宋而前,自元而後,萬古乾坤海島天

Phiên:

Phi Nghiêu chi nữ, phi Thuấn chi thê, nhất hoằng trinh liệt Tương giang thủy;

Tự Tống nhi tiền, tự Nguyên nhi hậu, vạn cổ càn khôn hải đảo thiên.

 Nghĩa là:

Chẳng là gái vua Nghiêu, chẳng là vợ vua Thuấn (mà) một dòng trinh liệt trong suốt nước Tương giang;

Từ triều Tống về trước, từ triều Nguyên về sau, muôn thuở càn khôn (mênh mông) trời biển đảo.

Vế 1: câu này ca ngợi lòng trinh tiết của Thánh nương, tuy không phải là con vua Nghiêu, vợ vua Thuấn (Nghiêu Thuấn là hai đời vua truyền ngôi không theo lệ cho con để duy trì tôn thất mà truyền ngôi cho người đủ uy đức để xây dưng cơ đồ, gìn giữ giang sơn xã tắc. Bắc sử coi đây là một thời kỳ hoàng kim);

Vế 2: nói rõ về thời điểm xẩy ra sự kiện, khiến thể xác và linh hồn hòa vào biển cả.

Về câu đối dẫn tích, trong Phụ lục của TCHC (Sđd) có câu:

 Y sao:    廣閩杭國脈正氣北而南

                        曹向孟家風英靈今自古

 Phiên: Biện, Quảng, Mân, Hàng quốc mạch, chính khí bắc nhi nam;

Cao, Tào, Hướng, Mạnh gia phong, anh linh kim tự cổ.

Dịch: Biện, Quảng, Mân, Hàng là 4 nơi định đô của nhà Tống, đến đất Hàng thì nhà Tống bị diệt;

Cao, Tào, Hướng, Mạnh là 4 họ hay phát hoàng hậu ở bên Tàu, trong đó có Thánh mẫu.

Nơi đây, truyền thuyết hẳn còn nhiều và có nhiều tình tiết khác nhau. Tư liệu hẳn là phong phú lắm mà nay chưa sưu tầm được mấy. Tuy nhiên, với những gì đã có cũng đủ để chứng tỏ sức sống trường tồn của một di sản văn hóa - lịch sử, một danh lam cổ kính mà ngày xưa đã xếp vào bậc nhất.

Chú thích

(1). Theo "Tứ vị Thánh nương ký" của Bùi Dương Lịch, phụ lục Thanh Chương huyện chí bản chữ Hán, VH2557, tr87-90.

(2). Về vật thiêng này theo Thần phả đền Cờn là khúc gỗ và vỏ hạt lúa tượng trưng trước có thờ trong đền. Điều này chứng tỏ trong đền Cờn hoàn toàn gắn bó với cư dân làm nghề đánh cá và cày ruộng… (Tư liệu của Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Nghệ An - Bản đánh máy - tr4).

Có thuyết coi đây là biểu tượng hai vật thể âm dương, cơ sở bảo tồn và phát triển nòi giống của muôn sinh. Theo triết học phương Đông, cũng từ "âm dương nhị khí" biến hóa thành muôn hình vạn trạng của vật chất trong vũ trụ. Đó là quyền năng thái cực.

(3). Bản gốc chữ Hán, giấy bản xớ, lưu ở đền Mai Phụ, Thạch Hà, Hà Tĩnh.

(4), (6). Theo Thần phả đền Cờn (SDD) tr3 và tr7, tứ vị gồm: Thái Hậu Dương Nguyệt. Quả; 2 công chúa: Triệu Nguyệt Khiêu, Triệu Nguyệt Hương và một nhũ mẫu. Đền trong ở bên bờ Mai Giang thờ Tứ vị Thánh nương; Đền ngoài sát bờ biển thờ vị sư Đề Bích, Lục Tú Phù và Trương Thế Kiệt.

(5). Văn bia đọc trong tập "Nghệ An bị ký" bản chữ Hán, lưu tại Thư viện Nghệ An.

Tài liệu tham khảo

1. "Tứ vị Thánh nương ký", Bùi Dương Lịch, Phụ lục Thanh Chương huyện chí bản chữ Hán, VHV2557 tr86 - 90 (2 mặt).

2. "Sự tích Đền Cờn" trong Bách thần sự tích, bản chữ Hán, tr1,2. Bản gốc lưu tại đền Mai Phụ, Thạch Hà, Hà Tĩnh.

3. "Đền Cờn" ảnh và bài của Le Breton trong An tĩnh xưa, Viện Viễn Đông bác cổ tái bản năm 2000, tr54 - 210, bản tiếng Pháp, Phan Xuyến Thanh Đồng dịch.

4. Thần phả Đền Cờn, Ban QL DT - DT - NA.

 

* Hội thảo khoa học "Đồng chí Nguyễn Sỹ Sách với cách mạng Việt Nam và quê hương Nghệ An (1929 - 2019)"

Sáng ngày 19/12, kỷ niệm 90 ngày mất của đồng chí Nguyễn Sỹ Sách, Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với UBND huyện Thanh Chương tổ chức Hội thảo khoa học "Đồng chí Nguyễn Sỹ Sách với cách mạng Việt Nam và quê hương Nghệ An (1929 - 2019)".

Nhà cách mạng Nguyễn Sỹ Sách quê ở làng Tú Viên, tổng Xuân Lâm (nay là xã Thanh Lương), huyện Thanh Chương. Đồng chí tham gia cách mạng từ rất sớm và từng giữ chức vụ Bí thư Kỳ bộ Trung kỳ Việt Nam cách mạng đồng chí Hội; Ban Chấp hành tổng bộ của Hội thanh niên. Năm 1929, đồng chí Nguyễn Sỹ Sách bị Pháp bắt và kết án tù khổ sai chung thân ở Lao Bảo (Quảng Trị). Tại đây đồng chí đã cùng các đồng chí khác tổ chức đấu tranh trong ngục nên bị bắn chết.

Thảo luận tại Hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu cùng làm rõ cuộc đời, sự nghiệp hoạt động cách mạng, cũng như những đóng góp của đồng chí Nguyễn Sỹ Sách với cách mạng và quê hương Nghệ An. Hội thảo cũng đã đưa ra những giải pháp tôn tạo, xây dựng Di tích và bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa dòng, gia đình Nguyên Sỹ trong thời kỳ mới.

Trước đó, Đại diện lãnh đạo Sở KH&CN và UBND huyện Thanh Chương, UBND huyện Thanh Lương cùng còn cháu dòng họ Nguyễn Sỹ đã tổ chức dâng hương, hoa tại Nhà thờ và mộ của đồng chí Nguyễn Sỹ Sách.

Hồ Thủy

* Khai trương văn phòng SGBJ tại Nghệ An

 Ngày 21/11/2019, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An phối hợp với Công ty TNHH Brainworks Asia tổ chức Khai trương Văn phòng SGBJ tại 126 Lý Tự Trọng, TP. Vinh. Văn phòng khai trương với mục đích đào tạo tiếng Nhật, văn hóa Nhật và IT cho nguồn lao động tại Nghệ An; từ đó giúp lao động Nghệ An có cơ hội tìm kiếm việc làm trong các Công ty của Nhật Bản tại Việt Nam và ở Nhật Bản.

Hình thức đào tạo học online trực tuyến và trực tiếp tại trung tâm đào tạo tiếng Nhật. Khóa đào tạo được miễn toàn bộ chi phí đào tạo tiếng Nhật đạt trình độ N4, kỹ thuật ICT với thời gian 6 tháng.

Hoàng Anh

* Cục Sở hữu trí tuệ cấp chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm gừng Kỳ Sơn

Ngày 28/11, Cục Sở hữu trí tuệ ban hành Quyết định số 5587/QĐ-SHTT về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký Chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm gừng của huyện vùng cao Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

Đặc điểm của loại gừng dé Kỳ Sơn là củ nhỏ, thân tròn, nhiều nhánh, vỏ và ruột màu trắng ngà, lõi màu vàng nhạt, nhiều xơ. Mùi thơm đặc trưng, vị cay nồng đậm. Hàm lượng nước từ 91,09% đến 92,61%, hàm lượng tinh dầu tính theo chất khô từ 3,52% đến 8,31%. Gừng sừng trâu Kỳ Sơn củ to, thân tròn, ít nhánh. Vỏ và ruột màu trắng, lõi màu vàng nhạt, ít xơ. Mùi thơm đặc trưng, vị cay nồng, cay đậm. Hàm lượng nước từ 91,06% đến 93,66%, hàm lượng đường từ 1,13% đến 1,25%, hàm lượng tinh dầu tính theo chất khô từ 3,16% đến 4,12%. Do đó, sản phẩm gừng Kỳ Sơn được dùng để chế biến ra tinh dầu, làm gia vị, hương liệu, dược liệu, thực phẩm với độ cay nồng và hàm lương tinh dầu cao…

Hiện nay gừng được trồng nhân rộng ra nhiều xã trong huyện như: Na Ngoi, Bảo Thắng, Đoọc Mạy, Mường Lống, Huồi Tụ, Tây Sơn, Nậm Cắn, Nậm Càn, Mường Ải, Mường Típ, Keng Đu, Na Loi, Bắc Lý, Mỹ Lý và Bảo Nam. Trong đó trồng nhiều nhất là ở xã Na Ngoi với trên 150 ha. Theo đánh giá, năng suất gừng đạt trên 50 tấn/ha, cao hơn từ 10 đến 15 tấn/ha so với gừng bản địa được đồng bào Mông trồng từ bao đời nay.

Linh Nhi

* Hội thảo Khoa học "Trường tiểu học Pháp - Việt Vinh với Nguyễn Tất Thành"

Chiều ngày 27/11, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An tổ chức Hội thảo khoa học "Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh với Nguyễn Tất Thành".

Với mục đích: Xác minh về nguồn gốc, sự ra đời của trường Tiểu học Pháp - Việt ở Vinh; vai trò của các danh nhân Đào Tấn, Cao Xuân Dục, Lê Huy Miến trong sự hình thành và phát triển của trường. Vị trí của trường Tiểu học Pháp - Việt đối với nền tân học của Nghệ An và khu vực; Xác minh vị trí trường đóng; Thẩm định lại các tư liệu lịch sử để làm rõ hơn vấn đề anh em Chủ tịch Hồ Chí Minh (Nguyễn Tất Đạt và Nguyễn Tất Thành) đã từng học ở đây từ tháng 9 năm 1905 đến khoảng tháng 5 năm 1906; Trên cơ sở đánh giá giá trị lịch sử của trường Tiểu học Pháp - Việt, đề xuất, kiến nghị về hình thức lưu niệm di tích lịch sử này, Hội thảo đã tập hợp được đông đảo ý kiến của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà khoa học để xác minh, làm rõ những vấn đề trên.

Kết luận tại Hội thảo, đồng chí Phạm Xuân Cần nhấn mạnh đây là vấn đề mặc dù rất khó khăn về tìm hiểu căn cứ khoa học nhưng lại nhiệm vụ cần thiết và quan trọng để xác minh được tầm vóc và vị thế lịch sử của Trường tiểu học Pháp - Việt Vinh. Do đó, Hội thảo kiến nghị, đề xuất: tỉnh Nghệ An cần có hình thức lưu niệm nào đó đối với Trường TH Pháp - Việt Vinh, có thể phục dựng lại một phần hoặc làm bia dẫn tích để khẳng định vị thế của Trường trong lịch sử.

Hồ Thủy

* Hội nghị Cộng tác viên truyền thông khoa học và công nghệ

Chiều ngày 5/12, Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội nghị Cộng tác viên truyền thông và công nghệ năm 2019.

Báo cáo tại Hội nghị nêu rõ: Trong năm 2019, hoạt động truyền thông KH&CN đã đạt được những kết quả nổi bật trên cả báo hình, báo in và website. Bên cạnh không ngừng nâng cao chất lượng, hoạt động truyền thông KH&CN còn không ngừng nâng cao chất lượng và số lượng đội ngũ cộng tác viên, xem đây là lực lượng nòng cốt quyết định chất lượng của các ấn phẩm. Nhờ đó, mạng lưới cộng tác viên của truyền thông KH&CN được chăm lo xây dựng từ tuyến trung ương đến địa phương, với đội ngũ đông đảo các chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà khoa học,… uy tín và tâm huyết.

Thảo luận tại Hội nghị, bên cạnh việc khẳng định về chất lượng hoạt động truyền thông KH&CN, các cộng tác viên cũng đã góp ý để góp phần nâng cao chất lượng ấn phẩm: Cần tăng cường các bài viết mang tính phản biện, đặc biệt là phản biện về chính sách, cơ chế, các đề tài, dự án,…; Hàm lượng khoa học một số bài viết chưa cao; Tăng cường hơn nữa đội ngũ cộng tác viên trẻ, đặc biệt là cộng tác viên về mảng kinh tế; Cần bám tiêu chí về xứ Nghệ, các bài viết cần lấy chủ đề, sự kiện, vấn đề của xứ Nghệ để bàn luận, trao đổi; Biên tập viên của các cộng tác viên cần dụng công hơn nữa để nâng cao chất lượng từng bài viết từ đó nâng cao chất lượng Tạp chí và Chuyên san.

Hồ Thủy

* Hội thảo công bố kết quả chỉ số năng suất tổng hợp (TFP) tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015-2018 và kiến nghị 2019-2020

Chiều ngày 12/12/2019, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An tổ chức Hội thảo công bố kết quả nhiệm vụ "Xây dựng phương pháp tính toán chỉ số năng suất tổng hợp (TFP) tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015-2018 và kiến nghị 2019-2020".

Với mục tiêu của nhiệm vụ là tổng quan cơ sở lý luận về năng suất nhân tố tổng hợp; Xác định đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng kinh tế tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015-2018 và hoàn thiện hướng dẫn tính toán, phương pháp tính TFP, sau 9 tháng triển khai thực hiện, chủ nhiệm nhiệm vụ báo cáo kết quả thực hiện các nội dung theo thuyết minh và hợp đồng ký kết.

Thảo luận tại buổi Hội thảo các đại biểu đánh giá cao kết quả nhiệm vụ; là chỉ số để cho tỉnh có những điều chỉnh bổ sung về giải pháp điều hành kinh tế; cần bổ sung số liệu TFP năm 2019; đề xuất dự báo TFP giai đoạn 2020-2025…

Kết luận Hội thảo, đồng chí Trần Quốc Thành đánh giá cao kết quả nhiệm vụ nghiên cứu của Trung tâm KHXH&NV, báo cáo công phu và tính toán trên số liệu thống kê tin cậy, khoa học. Kết quả nghiên cứu đáp ứng hợp đồng và thuyết minh nhiệm vụ phê duyệt. Tham mưu văn bản báo cáo tóm tắt gồm: Định nghĩa TFP, phương pháp tính, một số số liệu tính toán của các tỉnh trong thời gian qua, kết quả tính toán Nghệ An và một số kiến nghị, đề xuất gửi UBND tỉnh, Văn phòng Tỉnh ủy, Cục Thống kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính.

Hoàng Anh

* Hội thảo khoa học: Phát triển du lịch nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Sáng ngày 13/12/2019, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An tổ chức Hội thảo khoa học "Phát triển du lịch nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An". Chủ nhiệm báo cáo tóm tắt một số vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch nông nghiệp; Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch nông nghiệp trên địa bàn tỉnh; Đề xuất 5 mô hình du lịch nông nghiệp và giải pháp phát triển du lịch nông nghiệp trên địa bàn tỉnh; Một số kiến nghị đề xuất. Trong nhiệm vụ đã xây dựng thử nghiệm tour tại huyện Quỳ Hợp, huyện Nghĩa Đàn và thị xã Thái Hòa.

Các thành viên tham dự hội thảo đánh giá cao hiệu quả, tính thực tiễn của nhiệm vụ; Tuy nhiên để du lịch nông nghiệp phát huy được hiệu quả, cần sự vào cuộc của toàn xã hội, nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và chủ nhân làm du lịch cần có mối liên kết chặt chẽ; phân khúc thị trường cụ thể; đặc biệt phát triển du lịch trước hết làm tốt công tác marketting; tập huấn kỹ năng và thái độ phục vụ cho các đối tượng như doanh nghiệp, người làm du lịch; …

Hoàng Anh

* Dân ca xứ Nghệ và sân khấu hóa dân ca - Một công trình sưu tập, khảo cứu giá trị

Nhằm khẳng định vai trò to lớn của dân ca xứ Nghệ trong đời sống văn hoá cộng đồng và mong muốn làm tốt hơn nữa việc bảo tồn, phát huy các giá trị ấy trong cuộc sống đương đại, đặc biệt là góp phần giữ gìn nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An đặt hàng xuất bản cuốn Dân ca xứ Nghệ và sân khấu hoá dân ca của tác giả Thanh Lưu.

Đây là một công trình sưu tập, khảo cứu có giá trị, dày 296 trang, khuôn khổ 16x24cm, in 1.000 cuốn, bìa cứng trang nhã. Cuốn sách gồm 4 phần: Phần 1: Đặt vấn đề; Phần 2: Tổng quan về dân ca xứ Nghệ; Phần 3: Từ dân ca ví, giặm đến kịch hát Nghệ Tĩnh; Phần 4: Phụ lục.

Cuốn sách là tư liệu quý nhằm tuyên truyền, quảng bá dân ca xứ Nghệ; góp phần bảo tồn và phát huy vốn di sản dân ca của cha ông; là nguồn tài liệu sử dụng trong các câu lạc bộ dân ca, các trường văn hoá nghệ thuật, các đài phát thanh truyền hình,…

Phạm Hằng

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.