« Quay lại

Chuyên san KHXH&NV số 4/2020

Nguyễn Danh Tiên - Trần Trung Kiên

Cách đây 45 năm, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vô cùng oanh liệt của dân tộc ta, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Có được thắng lợi vĩ đại ấy, dân tộc ta đã trải qua những chặng đường đấu tranh đầy hy sinh gian khổ, đã kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới truyền thống yêu nước, ý chí quật cường, bất khuất của con người và văn hóa Việt Nam; đồng thời, thắng lợi đó còn là kết tinh của khát vọng độc lập, tự do và thống nhất non sông của cả một dân tộc anh hùng.

Khát vọng độc lập, tự do và thống nhất non sông đã thấm nhuần trong tư tưởng mỗi con người Việt Nam, được nuôi dưỡng và truyền lại qua bao thế hệ. Mỗi khi đất nước bị xâm lăng, ý chí độc lập, tự do lại được nhân lên gấp bội, như mạch ngầm tạo nên sức mạnh đưa đất nước, dân tộc vượt qua những thử thách ngặt nghèo trong những chặng đường đấu tranh thoát khỏi kiếp đời nô lệ.

Chính tinh thần đoàn kết dân tộc ấy đã góp phần làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945). Trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thật sự, đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy"(1).

Thực hiện khát vọng đó, với tinh thần "thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", Đảng đã lãnh đạo quân và dân ta lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của kẻ thù, đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ (21/7/1954), lập lại hòa bình ở miền Bắc Việt Nam, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Sau khi thực dân Pháp rút khỏi Việt Nam, thế chân Pháp, đế quốc Mỹ nhảy vào xâm lược Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành căn cứ quân sự để ngăn chặn phong trào cộng sản và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh mẽ ở Đông Dương và Đông Nam Á. Nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với đặc điểm lớn và bao trùm nhất là đất nước bị chia làm hai miền Bắc - Nam. Nhưng Việt Nam là một cơ thể thống nhất, từ đất liền ra hải đảo, không thể tách rời. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn. Song! chân lý đó không bao giờ thay đổi" và "Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam", nên "31 triệu đồng bào hai miền Nam - Bắc là 31 triệu chiến sĩ diệt Mỹ".

Thực hiện quyết tâm sắt đá đó, Đảng đã lãnh đạo quân dân cả nước thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nhằm mục đích cuối cùng là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vượt qua những khó khăn, thách thức trong những năm 1954-1959, với đường lối cách mạng đúng đắn do Hội nghị lần thứ 15 khoá II (5/1959) Ban Chấp hành Trung ương và Đại hội lần thứ III của Đảng (9/1960) đề ra, cách mạng miền Nam đã chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Phong trào Đồng khởi cuối 1959 đầu 1960 thật sự là một cao trào cách mạng và là bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam, giáng một đòn nặng nề vào bộ máy thống trị của Mỹ - Diệm, làm phá sản mô hình, hình thức điển hình của chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Từ năm 1961, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược "Chiến tranh đặc biệt'', tăng cường viện trợ và cố vấn Mỹ, xây dựng ngụy quân, ngụy quyền mạnh, dồn dân lập "Ấp chiến lược''. Những cuộc khởi nghĩa từng phần từ phong trào Đồng khởi đã chuyển thành chiến tranh cách mạng, nhất là sau chiến thắng Ấp Bắc (2/1/1963). Tiếp đó, kết hợp hình thức đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, tiến hành ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược, quân và dân miền Nam tập trung đánh bại "quốc sách" ấp chiến lược, làm phá sản chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ. 

Đứng trước khả năng đế quốc Mỹ trực tiếp đưa quân vào thực hiện chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam Việt Nam, ngày 27 tháng 3 năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt, gồm 300 đại biểu đại diện cho các bậc lão thành cách mạng, các ngành, các giới, các đoàn thể, trí thức tiến bộ, nhân sĩ yêu nước và anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc. Đây thực sự là "Hội nghị Diên Hồng" trong thời đại Hồ Chí Minh để thống nhất ý chí, quyết tâm đoàn kết toàn dân tộc cùng chiến đấu giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất nước nhà.

Tiếp đó, khi đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam và tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, ngày 17/7/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi, khẳng định mạnh mẽ ý chí sắt đá của nhân dân Việt Nam: "… Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!"(2).

Hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quyết tâm thực hiện khát vọng cháy bỏng thống nhất non sông, quân dân miền Bắc đã kết thành một khối, đẩy mạnh các phong trào thi đua sôi nổi trên tất cả các lĩnh vực với khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược". Đặc biệt, các phong trào, như: "Thanh niên ba sẵn sàng", "Phụ nữ ba đảm đang", "Tay cày, tay súng", "Tay búa, tay súng" và các khẩu hiệu hành động: "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người", "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", v.v... đã lôi cuốn đông đảo mọi tầng lớp nhân dân, từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền núi, từ biên giới đến hải đảo hăng hái thi đua vừa lao động sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu dũng cảm, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ; bảo vệ vững chắc hậu phương miền Bắc, đồng thời liên tục chi viện ngày càng cao sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Trong khi đó, trên chiến trường miền Nam, kiên định với đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng và hưởng ứng mạnh mẽ Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân ta vừa đẩy mạnh tiến công địch liên tục, rộng khắp với quy mô ngày càng lớn trên cả phương diện quân sự, chính trị và binh vận; vừa đánh địch, vừa kết hợp lập thế trận và chuẩn bị tiềm lực mọi mặt; xây dựng và mở rộng căn cứ, mở rộng vùng giải phóng để chuẩn bị trực tiếp cho những đòn tiến công quyết định. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) là sự tiếp nối tinh thần và ý chí sắt đá quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã làm đảo lộn chiến lược chiến tranh xâm lược Việt Nam của kẻ thù, giáng một đòn quyết định vào chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ, đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của chúng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam và làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của kẻ thù.

Thất bại trong chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam và chiến tranh phá hoại miền Bắc, đế quốc Mỹ ngoan cố kéo dài chiến tranh bằng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh'' cực kỳ tàn ác và thâm độc. Vượt qua những khó khăn trong những năm 1969, 1970, thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, miền Nam ra sức phát triển lực lượng, miền Bắc tăng cường chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam.

Đầu năm 1971, phối hợp với chiến trường Lào và Campuchia, ta giành thắng lợi lớn về quân sự nhất là việc đánh tan cuộc hành quân Lam Sơn 719; tiếp đó, ta mở cuộc tiến công chiến lược Xuân - Hè 1972. Trước nguy cơ thất bại, đế quốc Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền Bắc từ ngày 6 tháng 4 năm 1972. Trước âm mưu và hành động xâm lược của kẻ thù, ngày 3/11/1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước:

"Chúng ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Song đó chỉ mới là thắng lợi bước đầu. Đế quốc Mỹ rất ngoan cố và xảo quyệt. Chúng nói "hòa bình", "thương lượng" nhưng vẫn chưa chịu từ bỏ dã tâm xâm lược của chúng…

Vì vậy, nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc này là phải nâng cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc.

Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi"(3).

Nghe theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân miền Bắc đã dũng cảm chiến đấu đánh bại các đợt tấn công bằng không quân của đế quốc Mỹ, đặc biệt, trong 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn chưa từng có, chủ yếu bằng B.52 của Mỹ, làm nên chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không", bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 chiếc B.52, tiêu diệt và bắt sống hàng trăm giặc lái Mỹ(4). Thắng lợi đó, đã đập tan cố gắng cuối cùng của tập đoàn cầm quyền Mỹ hòng sử dụng sức mạnh hủy diệt để đàm phán trên thế mạnh với ta. Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" là một trong những chiến thắng mang tầm vóc lịch sử ở thế kỷ XX, viết tiếp những trang sử vàng chiến công chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm, giữ nước của dân tộc. Thắng lợi trong trận "Điện Biên Phủ trên không'' của quân và dân ta đã buộc Mỹ phải trở lại bàn đàm phán và ký kết Hiệp định Pari (27/1/1973). Ngày 29 tháng 3 năm 1973, quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam làm lễ cuốn cờ, chấm dứt sự có mặt của quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam.

Sau Hiệp định Pari, đế quốc Mỹ vẫn tăng cường viện trợ về quân sự và kinh tế cho chính quyền Sài Gòn, tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu được Mỹ trợ giúp đã vi phạm những điều khoản của Hiệp định, lấn chiếm và tiếp tục mở rộng chiến tranh. Tình hình đó cho thấy một thực tế là, con đường phát triển của cách mạng miền Nam vẫn phải tiếp tục tiến hành chiến tranh cách mạng để đánh bại chính quyền tay sai của Mỹ để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III - năm 1973) được triệu tập để quyết định những nhiệm vụ của cách mạng miền Nam.

Thực hiện nhiệm vụ do Hội nghị 21 của Trung ương Đảng đề ra, cả nước dốc sức chuẩn bị lực lượng về mọi mặt. Trong nửa cuối năm 1973 và cả năm 1974, cùng với gấp rút củng cố và phát triển lực lượng tại chỗ trên chiến trường, Đảng Lao động Việt Nam chỉ đạo nhiệm vụ tăng cường chi viện của hậu phương miền Bắc. Theo đó, mức tuyển quân và huy động của cải vật chất ở miền Bắc đã tăng nhiều lần so với các thời kỳ trước. Hội đồng chi viện tiền tuyến được thành lập. Điều đó nói lên quyết tâm chiến lược của Đảng và nhân dân ta. Định hướng lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng là phải nắm vững tình hình, nắm vững thời cơ, chỉ đạo kiên quyết và khôn khéo. Đến cuối năm 1974, việc chuẩn bị về mọi mặt đã tạo nên sự chuyển biến căn bản trong thế và lực của ta trên chiến trường.

Trước bối cảnh tình hình chuyển biến mau lẹ, Bộ Chính trị hạ quyết tâm động viên sức mạnh của quân dân cả nước hoàn thành giải phóng miền Nam trong hai năm 1975, 1976. Tuy nhiên, sau chiến thắng Phước Long (1/1975), thế và lực của ta tăng lên, khả năng Mỹ đưa quân trở lại là rất khó xảy ra, do đó, Bộ Chính trị đã đi đến quyết định mở cuộc tiến công chiến lược để hoàn thành giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Ngày 10 tháng 3 năm 1975, quân ta tiến công Buôn Ma Thuột. Chiến thắng Buôn Ma Thuột và Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi chẳng những đã tăng cường thế và lực của ta mà còn xuất hiện thời cơ giải phóng miền Nam trong thời gian ngắn nhất. Ngày 18 tháng 3 năm 1975, một ngày sau khi địch rút chạy hoàn toàn khỏi Bắc Tây Nguyên, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã họp và quyết định chớp thời cơ giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm 1975.

Phát huy thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch Huế - Đà Nẵng. Ngày 26 tháng 3 năm 1975, giải phóng Huế; ngày 29 tháng 3 năm 1975, giải phóng Đà Nẵng. Tiếp tục truy quét địch dọc các tỉnh của Nam Trung bộ, ngày 24 tháng 4 năm 1975, ta phá tan phòng tuyến Xuân Lộc của địch, mở cánh cửa hướng Đông tiến vào Sài Gòn. Cùng ngày 24 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị quyết định Chiến dịch giải phóng Sài Gòn, mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. 17 giờ ngày 26 tháng 4 năm l975, Chiến dịch Hồ Chí Minh, đỉnh cao nhất của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 bắt đầu và toàn thắng vào lúc 11h30 ngày 30 tháng 4 năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thắng lợi của đường lối và phương pháp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, tự lực tự cường, vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là sức mạnh vĩ đại của ý chí và trí tuệ Việt Nam, của bản lĩnh và nhân cách Việt Nam, của nền văn hiến Việt Nam.

Hơn nữa, Đại thắng mùa Xuân 1975 còn là sự hội tụ sức mạnh của quân và dân cả nước, sức mạnh của toàn dân tộc. Đó là sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam thần kỳ với sự hy sinh to lớn của đồng bào chiến sĩ miền Nam trên tiền tuyến lớn và sự chi viện hết lòng của hậu phương lớn miền Bắc; là thắng lợi của khát vọng độc lập dân tộc, tự do và thống nhất non sông của dân tộc Việt Nam. Về vấn đề này, Đại tướng Văn Tiến Dũng khẳng định với các nhà báo và học giả phương Tây rằng: "Một lần nữa tôi muốn nói rõ rằng nguồn gốc mọi thắng lợi của chúng tôi là sức mạnh của cả một dân tộc vùng lên làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình trong thời đại ngày nay".

Tuy nhiên hiện nay, trên một số phương tiện thông tin, ấn phẩm, trang website,… đây đó xuất hiện những luận điệu xuyên tạc lịch sử, phủ nhận tầm vóc chiến thắng vĩ đại đó của nhân dân Việt Nam. Họ tập trung xuyên tạc bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta; hạ thấp ý nghĩa của chiến thắng, cho rằng "Đại thắng mùa Xuân 1975" không thể gọi là một chiến thắng vẻ vang, mà chỉ là một kết quả tất yếu khi Hoa Kỳ thay đổi chính sách đối ngoại, rút quân, cắt viện trợ, bỏ rơi chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa, v.v...

Thực tiễn lịch sử đã bác bỏ những luận điệu sai trái trên. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là thành quả vĩ đại nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc; kết thúc cuộc chiến đấu 30 năm giải phóng, giành độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chấm dứt ách thống trị kéo dài hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta; mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh chính nghĩa, nhằm đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, thống nhất nước nhà. Thắng lợi vĩ đại là kết quả của cả một quá trình đấu tranh cách mạng anh dũng, kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam với bao tổn thất, hy sinh, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) và Lãnh tụ Hồ Chí Minh; là thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; thắng lợi của sự kiên trì đường lối tiến hành chiến tranh nhân dân và của nghệ thuật quân sự tài tình biết thắng từng bước, đánh cho "Mỹ cút", tiến tới đánh cho "ngụy nhào". Trong cuộc chiến tranh này, chiến thắng đã thuộc về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, quân đội và nhân dân Việt Nam anh hùng; thắng lợi của bạn bè, các lực lượng tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới, đúng như Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã khẳng định: "Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc"(5).  

*            *

  45 năm đã trôi qua, nhưng những bài học kinh nghiệm của Đại thắng mùa Xuân 1975 rất cần được đúc kết, vận dụng trong giai đoạn cách mạng mới, trong đó, bài học về phát huy giá trị của khát vọng độc lập, tự do và thống nhất non sông vẫn mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần động viên toàn Đảng, toàn quân và toàn dân quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội"(6), sánh vai với các cường quốc năm châu như lúc sinh thời Bác Hồ hằng mong đợi.

 

Chú thích

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr.1-2.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, Tập 15, tr. 131.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, Tập 15, tr. 512.

4. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập VII - Thắng lợi quyết định năm 1972, Nxb QĐND, Hà Nội, 2013, tr.355.

5. Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Cơ Thạch: Vì sao Mỹ thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1986, tr.48.

6. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976). Dẫn theo Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 37 (1976), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.471.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.62.

 

Hoàng Nam Hưng

Mở đầu

Nhân cách là một vấn đề phức tạp trong các vấn đề phức tạp của con người, vì thế đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về nhân cách. Nhưng ngày nay, do thành tựu của nhiều ngành nhà khoa học nghiên cứu về nhân cách, người ta đã đưa ra một khái niệm có tính chất tổng hợp và đúng đắn về nhân cách như sau: "Nhân cách là tổ hợp thái độ, thuộc tính riêng trong quan hệ hành động của từng người với giới tự nhiên, với xã hội và bản thân"(1). Như vậy, khái niệm này nhấn mạnh đến hành động, nghĩa là nhân cách con người chỉ bộc lộ trong hành động thông qua quan hệ ứng xử giữa cá nhân với tự nhiên, xã hội và bản thân.

Hồ Chí Minh là người kế thừa và phát triển các quan điểm tiến bộ của nhân loại về vấn đề nhân cách để truyền bá, vận dụng nó trong quá trình xây dựng con người mới - con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những tư tưởng đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị, và đây cũng là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam hoạch định chiến lược xây dựng và phát triển con người Việt Nam, nhất là đối với thế hệ trẻ, là nguồn nhân lực chất lượng cao của xã hội ở hiện tại và tương lai, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1/2011) đã ghi rõ: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn của Đảng và dân tộc ta…"(2). Vì vậy, nghiên cứu những quan điểm, tư tưởng của Người về vấn đề nhân cách để chúng ta thấy rõ hơn giá trị nhân văn, nhân đạo khi đánh giá bản chất một cá nhân trong xã hội và cũng là cơ sở để đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan Đảng và Nhà nước đảm bảo tính hợp lý, phát huy được năng lực và sức cống hiến của họ.

Nội dung

Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng, quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, của Nho giáo, kết hợp với truyền thống của dân tộc ta để hình thành nên quan điểm của mình về nhân cách con người. Trong đó, việc tiếp thu quan điểm của Nho giáo được coi là có tính chủ đạo nhất.

Theo nhân sinh quan của tư tưởng Nho giáo, người quân tử được coi là người có những hành động ngay thẳng, công khai theo lẽ phải và không khuất tất vụ lợi cá nhân. Người quân tử là người có các đức tính trong ngũ thường: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, trong đó Nhân là yếu tố quan trọng nhất.

Nhân là người với người đối xử với nhau trên cơ sở tình thương yêu. Tình thương yêu được cụ thể hóa bằng những nguyên tắc sau:

Cái gì mà bản thân mình không muốn hoặc người khác không muốn thì không làm cho người. Cái gì người muốn thì tích tụ lại cho người.

Mình muốn đứng vững thì làm cho người khác đứng vững; mình muốn thành đạt thì giúp đỡ cho người khác thành đạt.

Lễ: theo quan điểm của Nho giáo, Lễ bao gồm việc thờ cúng, lễ bái thánh thần, trời Phật và cả những quy định có tính chất pháp luật, những phong tục, tập quán và kỷ luật tinh thần của cá nhân.

Nghĩa: chỉ làm và nên làm những việc nhằm duy trì đạo lý, lẽ phải.

Trí: tri thức để suy xét, hành động. Một trong những điểm quan trọng của Trí là phải nắm được mệnh trời.

Tín: việc làm nhất quán với lời nói, phải giữ lời.

Người nào quy tụ các đức tính trên, mà trong đó trung tâm là Nhân được coi là người có đức Nhân, tức là có tình cảm chân thật, ngay thẳng; hết lòng vì nghĩa; nghiêm trang, tề chỉnh; rộng lượng, khoan dung và siêng năng cần mẫn. Người có đức Nhân chỉ hành động vì nhân nghĩa, đối lập với kẻ bất nhân chỉ hành động vì lợi ích cá nhân.

Vận dụng quan niệm của Nho giáo về người quân tử, Hồ Chí Minh cho rằng con người trong bất kỳ xã hội nào, giai cấp tầng lớp nào cũng đều có ba mối quan hệ cơ bản: Đối với bản thân, đối với công việc và đối với người khác. Cụ thể:

Đối với mình, không được tự cao, tự đại, tự phụ, phải khiêm tốn học hỏi, phát triển cái hay, sửa đổi cái dở của mình.

Đối với người, không nịnh người trên, không khinh kẻ dưới, thật thà, không dối trá.

Đối với việc, phải để việc công lên trên, lên trước. Việc thiện, nhỏ mấy cũng gắng hết sức mà làm; việc ác, dù nhỏ đến mấy cũng phải hết sức tránh.

Khi nêu quan điểm về nguồn gốc của nhân cách con người, Hồ Chí Minh cho rằng, đạo đức không phải từ trên trời sa xuống, nó do rèn luyện hàng ngày mà hình thành, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Trong bài thơ "Nửa đêm" của Người đã phần nào giải đáp câu hỏi về nguồn gốc thiện và ác trong nhân cách của con người:

Khi ngủ ai cũng như lương thiện

Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền

Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn

Phần nhiều do giáo dục mà nên

Nhà triết học Platon cũng đã nêu quan điểm: "Khi ngủ thì kẻ cướp cũng như thiên thần". Ta thấy gần như có sự tương đồng giữa hai quan điểm, tức là đều nhấn mạnh đến hành động cá nhân, ý thức cá nhân chỉ được bộc lộ ra khi họ hành động.

Khi tiếp thu, vận dụng quan điểm tiến bộ của Nho giáo, Hồ Chí Minh đưa ra những chuẩn mực cơ bản của người cách mạng gồm 10 yếu tố: Hiếu, Dũng, Nhân, Trí, Thiện, Nghĩa, Cần Kiệm, Liêm, Chính. Trong đó, Thiện là yếu tố cơ bản nhất quyết định đến sự phát triển nhân cách con người, bởi vì Người cho rằng, việc thiện dù nhỏ đến mấy nhưng đem lại lợi ích cho dân, cho nước cũng nên cố gắng hết sức để làm; việc ác dù nhỏ cũng phải hết sức tránh. Người nhấn mạnh, trong xã hội có muôn việc nhưng được chia làm hai thứ: Chính và Tà. Làm việc Chính là người lương Thiện, làm việc Tà là Ác; siêng năng, cần cù, tiết kiệm là Thiện. Ngược lại, tham lam, lười biếng, xa xỉ là Tà. Người căn dặn, trong mỗi chúng ta đều có cả tính thiện và ác ở trong lòng, người cách mạng phải biết làm cho cái thiện nảy nở như hoa mùa xuân và cái ác ngày càng mất dần đi.

Nhân: là thật thà yêu thương, hết lòng giúp đỡ đồng bào, đồng chí, vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại với Đảng, với nhân dân; sẵn sàng khổ trước thiên hạ và vui sau thiên hạ.

Trí: là người không để cho việc tư túi làm cho mù quáng, nên đầu óc trong sạch, sáng suốt, dễ hiểu lý luận, dễ tìm ra phương hướng; biết xem người, biết xét việc. Vì thế mà biết cất nhắc người hiền tài, đề phòng người gian.

Dũng: là dũng cảm, gan góc, dám hy sinh tính mạng cho Đảng, cho cách mạng; gặp việc có gan làm, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa, gặp gian nan khổ cực có gan chịu đựng. Vì thế mà dám chống lại vinh hoa phú quý không chính đáng.

Bàn về nhân cách của con người, Hồ Chí Minh nhấn mạnh thêm về vai trò của các đức tính, lối sống cần thiết hàng ngày của mỗi cá nhân:

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Thiếu một mùa, thì không thành trời.

Thiếu một phương, thì không thành đất.

Thiếu một đức, thì không thành người.

Bốn đức tính mà Hồ Chí Minh nhắc đến ở đây là: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Người giải thích rõ:

Cần là siêng năng, chăm chỉ, lao động có kế hoạch, có tinh thần tự lực cánh sinh.

Kiệm là tiết kiệm thời gian, công sức, của cải… của nhà nước, của nhân dân, không xa xỉ, hoang phí, không liên hoan chè chén lu bù.

Liêm là luôn tôn trọng của công và của dân. Phải trong sạch, không tham lam tiền của, địa vị, danh tiếng.

Chính, tức là thẳng thắn, đứng đắn.

Các đức tính này phải được hội tụ đầy đủ ở mỗi người, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên. Họ là người thực hành trước để làm gương cho nhân dân "Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hạn, nếu không giữ được cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân"(3).

Qua đây chúng ta thấy được nhiệm vụ cấp bách cho Đảng là lãnh đạo các ngành, các cấp, các cơ quan, đoàn thể thực hiện nâng cao trách nhiệm cá nhân, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cho thế hệ trẻ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cũng như xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Tính cấp bách đó đã được Đảng ta cụ thể hóa bằng các nghị quyết sau: Bộ Chính trị (khóa X) đã ban hành Chỉ thị 06-CT/TW (ngày 07/11/2006) về Tổ chức cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" nhằm mục tiêu nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu cấp bách trước mắt, cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Tiếp đó, Chỉ thị số 03/CT-TW (ngày 14/5/2011) của Bộ Chính trị về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; Chỉ thị số 05-CT/TW (ngày 15/5/2016) của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", với mục tiêu ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; cũng như bồi dưỡng tư tưởng, đạo đức, phong cách cho thế hệ tương lai.

Trong nhà trường nói chung và ở bậc đại học nói riêng, ngoài việc học tập chuyên môn nghiệp vụ thì đồng thời sinh viên cần phải được bồi dưỡng, rèn luyện về nhân cách, đạo đức cá nhân để khi rời ghế nhà trường họ có đủ bản lĩnh để đảm nhiệm công việc được giao. Chính vì vậy, Đại hội IX (4/2001) của Đảng nêu quan điểm: "Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn"(4).

Nhất quán với quan điểm của Đại hội IX, Đại hội XII của Đảng (1/2016) tiếp tục xác định việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu chiến lược: "Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học"(5). Trong đó, việc đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ thường xuyên, nhằm bồi dưỡng tinh thần và giá trị đạo đức cho thế hệ tương lai của đất nước. Đại hội XII nhấn mạnh: Tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc. Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn. Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người. Có giải pháp ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội, khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam. Từ mục tiêu chiến lược chung của Đảng, Đại hội XII đã xác định nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 5 năm 2016 - 2020, đó là "xây dựng con người phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa"(6).

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như việc quán triệt tinh thần Nghị quyết của Đảng về xây dựng nhân cách, đạo đức của người Việt Nam, nhất là đối với thế hệ trẻ là nhằm ngăn chặn về trước mắt và lâu dài một thực trạng đáng buồn trong các cơ quan công quyền ở nước ta hiện nay mà báo chí đã phản ánh, đó là tình trạng cả họ làm quan, cha bổ nhiệm con, chồng bổ nhiệm vợ, bổ nhiệm cán bộ "thần tốc", bổ nhiệm cán bộ nhà nước không đúng chuyên môn nghiệp vụ,… đã dẫn đến hậu quả tất yếu là sự buông lỏng quản lý, thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, mà nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng này theo Hồ Chí Minh là chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu. Hồ Chí Minh cho rằng, đây là bệnh gốc sinh ra hàng trăm thứ bệnh như: tham ô, lãng phí, đặc quyền, đặc lợi, chia rẽ, tư túng, kiêu ngạo…. trong một bộ phận cán bộ, công chức; "Hồ Chí Minh kịch liệt lên án tệ kéo bè, kéo cánh, tệ nạn bà con bạn hữu mình không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ"(6), dẫn đến tình trạng gây mất đoàn kết trong cơ quan Đảng và Nhà nước.

Để từng bước loại trừ những hiện tượng sâu mọt trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, vấn đề trên hết và trước hết là thực hiện dân chủ hoá đời sống xã hội, xây dựng ý thức pháp luật và ý thức đạo đức cho mọi thành viên trong xã hội. Bởi vì, dân chủ hóa đời sống không chỉ là một quyền lợi, một đòi hỏi của nhân dân, mà còn là cơ sở, môi trường để nhân dân phát huy trách nhiệm của cá nhân đối với Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội. Đồng thời, dân chủ hoá đời sống xã hội còn là cơ chế để mọi cá nhân đều có thể kiểm tra, giám sát việc thực thi trách nhiệm cá nhân của người cán bộ, đảng viên trong các cơ quan, đơn vị hoặc địa phương nơi cư trú.

Kết luận

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn hiện nay và lâu dài đòi hỏi thế hệ trẻ, người lao động, đội ngũ cán bộ đảng viên, công chức nhà nước phát triển cả đạo đức và nhân cách một cách toàn diện. Đó là đạo đức trung thực, đạo đức trong lời nói, hành động, tự giác trong lao động và học tập. Đạo đức, nhân cách của người cách mạng biểu hiện ở sự thống nhất cao giữa lời nói phải gắn liền với việc làm, giữa nhận thức và hành động. Đạo đức đó đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội mới, là điều kiện cơ bản để thực hiện thành công công cuộc đổi mới đất nước hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, hội nhập quốc tế.

 

Chú thích

(1). Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Giáo trình Chính trị, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.85.

 (2) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.88.

(3). Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.252.

(4). Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.126.

(5). Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.127.

(6). Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.224.

 

Nguyễn Quốc Hồng

Năm 2020, năm có nhiều sự kiện chính trị quan trọng: Kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2020); Kỷ niệm 130 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2020)… Đặc biệt năm 2020 là năm diễn ra đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhân kỷ niệm 130 năm ngày sinh của Bác và trước thềm Đại hội Đảng bộ tỉnh, chúng ta cùng nhìn lại một cách tổng quát chặng đường 50 năm Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà thực hiện những điều căn dặn của Bác.

Ngày 21 tháng 7 năm 1969, Bác Hồ kính yêu đã gửi cho Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh bức thư với sự quan tâm sâu sắc. 50 năm trôi qua, tình cảm và những điều căn dặn của Bác đối với Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà vẫn còn nguyên giá trị và trở thành di sản đi cùng năm tháng, điểm tựa sức mạnh tinh thần để Đảng bộ và nhân dân Nghệ An vượt qua những khó khăn thách thức trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng quê hương.

Những điều Bác căn dặn trong thư gửi cho Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh:

Mở đầu bức thư Bác biểu dương những chiến công của quân và dân tỉnh nhà trong cuộc chiến đấu anh dũng chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Bác khen ngợi những điển hình tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp; Đồng thời Bác cũng nhận thấy: Cán bộ các ngành trong tỉnh bước đầu sửa chữa tệ quan liêu, mệnh lệnh, cố gắng đi sát nhân dân để tổ chức vận động nhân dân thực hiện các chính sách của Đảng và nhà nước.

Tiếp đến Bác viết: Sắp tới phải làm gì?

1. Tích cực thực hiện dân chủ với nhân dân hơn nữa. Trong hợp tác xã nông nghiệp, mọi việc sản xuất, phân phối, quản lý kinh tế, bầu cử các cơ quan phụ trách đều phải để cho nhân dân bàn bạc kỹ và tự quyết định một cách thật sự dân chủ… Ở các nhà máy, các công trường, nông trường, lâm trường, các cửa hàng, các cơ quan cũng cần phát động cán bộ, công nhân bàn bạc dân chủ việc cải tiến quản lý kinh tế, cải tiến lề lối làm việc của đơn vị mình.

2. Khôi phục và phát triển kinh tế là một nhiệm vụ rất quan trọng và cấp thiết, các đồng chí phải cố gắng làm cho tốt. Bác chỉ rõ phát triển kinh tế phải toàn diện từ nông nghiệp, lâm nghiệp đến công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, phải tạo ra nhiều hàng hóa để phục vụ nhân dân.

3. Hết lòng chăm lo đời sống nhân dân. Bác căn dặn: Phải ra sức phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm, lại phải phân phối cho công bằng, hợp lý, từng bước cải thiện việc ăn, mặc, ở, học, phục vụ sức khỏe và giải trí cho nhân dân. Đặc biệt chú trọng các vùng bị chiến tranh tàn phá, các cháu mồ côi, các cụ già yếu và gia đình liệt sỹ, thương binh, bộ đội, thanh niên xung phong,…

4. Một điều phải luôn luôn nhớ là:… Đảng bộ và nhân dân Nghệ An, cố gắng góp nhiều công sức hơn nữa để cùng quân và dân cả nước đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

Nghệ An là một tỉnh rộng lớn, có tài nguyên phong phú, có nhân dân cần cù lao động và rất cách mạng. Rất mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc.

Cuối thư Bác viết: Nhờ Tỉnh ủy chuyển lời của tôi chúc toàn thể đồng bào, chiến sĩ, cán bộ, đảng viên, đoàn viên trong tỉnh mạnh khỏe và cố gắng tiến bộ,…

Đảng bộ và nhân dân luôn tâm niệm bức thư cuối cùng của Bác gửi cho Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh trước lúc đi xa là bản di chúc thiêng liêng mà Người dành cho "Quê hương nghĩa nặng tình cao". Cũng từ tâm niệm ấy mà 50 năm qua các thế hệ lãnh đạo tỉnh đã trăn trở tìm hướng đi tốt nhất để thực hiện điều mong muốn của Bác.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân và dân Nghệ An đã đóng góp nhiều sức người và của cải cho tiền tuyến "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Để đảm bảo mạch máu giao thông, hàng ngàn người đã vượt qua những thử thách ác liệt chấp nhận hi sinh, mất mát nêu cao khẩu hiệu "gãy cầu như gãy xương, tắc đường như tắc ruột", "thà tim ngừng đập quyết không để phà tắc" vận chuyển hàng triệu tấn hàng vượt qua nhiều tọa độ lửa chi viện cho chiến trường miền Nam. Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, quân và dân Nghệ An đã vượt qua gian khổ, chiến đấu kiên cường bắn rơi 553 máy bay Mỹ, trong đó có 12 chiếc B52; bắn chìm 36 tàu chiến Mỹ(1).

Kết thúc cuộc chiến tranh, Nghệ An đã đóng góp cho các chiến trường 160.315 bộ đội; 11.585 thanh niên xung phong; 24.450 dân công hỏa tuyến, trong đó có 42.913 liệt sỹ hy sinh trên các chiến trường; 22.004 thương binh; 11.049 bệnh binh. Nghệ An có 97 đơn vị và 61 cá nhân được nhà nước tuyên dương đơn vị anh hùng, anh hùng lực lượng vũ trang và 4 đơn vị, 27 cá nhân được tuyên dương anh hùng lao động (tuyên dương năm 1978); 797 bà mẹ được nhà nước tuyên dương Bà mẹ Việt Nam anh hùng(2).

Những đóng góp và hy sinh to lớn của quân và dân Nghệ An đã đóng góp xứng đáng với quân và dân cả nước đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược như lời căn dặn của Bác.

Bước sang thời kỳ khôi phục, phát triển kinh tế, đổi mới và hội nhập, Đảng bộ tỉnh nhà đã có nhiều chủ trương và biện pháp thiết thực để "thực hiện dân chủ với nhân dân". Theo số liệu tổng kết thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, hiện nay trên địa bàn tỉnh có gần 100 điểm sáng về thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Nhân dân phường, xã, khối, xóm được tham gia bàn bạc, giám sát quyết định nhiều công việc quan trọng liên quan đến kinh tế, xã hội trên địa bàn. Phường, xã, khối, xóm đã thành lập Ban thanh tra nhân dân hoạt động hiệu quả. Hàng năm lãnh đạo các cấp đã tổ chức đối thoại với nhân dân để nghe, giải quyết những kiến nghị của nhân dân.

Về lĩnh vực khôi phục và phát triển kinh tế trong những năm gần đây đã có những phát triển, đạt được kết quả đáng ghi nhận. Tổng sản phẩm (GRDP) trong 5 năm 2015 - 2019 tăng bình quân 7,94%; năm 2019 đạt 14.052 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 38 triệu đồng; Năm 2019 thu ngân sách đạt 16.354 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 43,08 triệu đồng. Đến cuối năm 2019, Nghệ An có 265 xã đạt chuẩn nông thôn mới chiếm 61,4% tổng số xã trên địa bàn tỉnh, cao hơn mức bình quân chung cả nước. Có 4 huyện đạt chuẩn và hoàn thành xây dựng nông thôn mới. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 4% năm 2019.

Về lĩnh vực văn hóa, xã hội đạt được nhiều kết quả. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư đã mang lại nhiều chuyển biến tích cực trong cộng đồng. Các hoạt động văn hóa, thể thao, lễ hội diễn ra sôi nổi, lành mạnh tạo không gian văn hóa cho cộng đồng dân cư. Về chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực, mạng lưới bệnh viện, phòng khám được mở rộng, chất lượng khám chữa bệnh không ngừng nâng cao. Truyền thống hiếu học, học giỏi tiếp tục được phát huy. Nghệ An luôn đứng trong tốp đầu cả nước học sinh giỏi quốc gia và quốc tế. Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm 2019-2020, Nghệ An có 82/102 học sinh đạt giải, trong đó 13 giải nhất, 31 giải nhì, 25 giải 3 và 13 giải khuyến khích, là tỉnh trong tốp đầu học sinh giỏi quốc gia.

50 năm qua, thực hiện điều mong muốn của Bác, Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà đã phấn đấu đạt được những kết quả to lớn; song hiện tại, Nghệ An đang đứng trước những khó khăn thách thức: kinh tế phát triển nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế, tốc độ tăng trưởng chưa cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, chưa đồng bộ. Thu nhập bình quân đầu người tuy có tăng nhưng vẫn còn thấp, chỉ bằng 70% thu nhập bình quân của cả nước. Thu ngân sách chưa đủ chi. Môi trường đầu tư tuy được cải thiện, song chưa đủ hấp dẫn, chưa tạo được ấn tượng mạnh để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

50 năm trôi qua, mong muốn của Bác rất mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc vẫn đang là mục tiêu phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân Nghệ An.

Để mong muốn của Bác sớm trở thành hiện thực không còn là mục tiêu phấn đấu, cần có một chương trình khoa học tổng kết quá trình đổi mới, hội nhập, phát triển rút ra những bài học về sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và tổ chức Đảng các cấp; về sự quản lý và điều hành của các cấp chính quyền; về thực hành dân chủ của nhân dân trên cơ sở khoa học và thực tiễn. Trên cơ sở tổng kết khoa học lý giải và làm rõ những vấn đề đang còn trăn trở trong quá trình xây dựng và phát triển: Tiềm năng thực sự của Nghệ An là gì? Phải chăng là tài nguyên thiên nhiên (đất đai, rừng biển), nguồn nhân lực, vị thế địa lý kinh tế? Xác định đúng tiềm năng để xây dựng chiến lược, cơ chế chính sách phát triển. Vì sao các doanh nghiệp người Nghệ rất khó thành công trên chính vùng đất sinh ra họ mà lại thành công ở các vùng đất khác? Người giỏi, người tài ít có cơ hội lập nghiệp ở quê hương. Đến nay vẫn chưa có các nhà đầu tư lớn đầu tư làm ăn tại Nghệ An? Và một số vấn đề khác cần được làm sáng tỏ.

Những vấn đề trên đây không phải là mới, chúng ta đã biết, đã trăn trở nhiều, song để có một câu trả lời thực sự khoa học thì vẫn chưa tìm được. Do vậy cần phải có một chương trình nghiên cứu, tổng kết khoa học để tháo gỡ dần các nút thắt trong quá trình phát triển để Nghệ An trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc như mong muốn của Bác Hồ kính yêu.

 

 

 

Chú thích

(1). BCH Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An, Lịch sử Đảng bộ Nghệ An tập II (1954-1975), Nxb. Nghệ An-NA-1999, trang 234-235.

(2). Sđd, trang 295.

 

Nguyễn Thị Minh Tú

Nghệ An là một tỉnh lớn của cả nước về quy mô diện tích, dân số và cả về vị trí địa chính trị, địa chiến lược. Vì tính chất đó, ngày 30/7/2013, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020. Đây là văn kiện thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Bộ Chính trị đối với quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh; định hướng, tạo động lực giúp tỉnh vươn lên phát triển xứng đáng với vị thế, tiềm năng trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH HĐH đất nước. Năm 2015, Đại hội tỉnh đảng bộ Nghệ An lần thứ 18 đã thông qua Nghị quyết về định hướng phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020. Sau gần 5 năm, Nghệ An đã có những bước phát triển khá về nhiều lĩnh vực, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của tỉnh. Cụ thể một số kết quả:

1. Kinh tế phát triển khá toàn diện

Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GRDP) giai đoạn 2016 - 2019 tăng bình quân 7,94%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, năm 2019: nông lâm ngư nghiệp 22,41%, công nghiệp, xây dựng 28,35% và dịch vụ 44,16%. Quy mô GRDP của tỉnh đứng thứ 10/63 tỉnh, thành của cả nước; GRDP bình quân đầu người năm 2019 đạt 43,08 triệu đồng. Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, đóng góp của yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế GRDP của tỉnh bình quân giai đoạn 2016 - 2019 đạt 48,74%. Thu ngân sách năm 2019 đạt 16.354 tỷ đồng.

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2016 - 2019 đạt 235.012 tỷ đồng, gấp 1,3 lần so với giai đoạn 2011 - 2015.

Tái cơ cấu ngành nông nghiệp được quan tâm, đẩy mạnh; áp dụng khoa học kỹ thuật, đưa cơ giới hóa và các giống có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất; hình thành và phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Chăn nuôi phát triển theo hướng tập trung, quy mô trang trại gắn với công nghiệp chế biến. Các mô hình sản xuất công nghệ cao trong chăn nuôi tiếp tục phát huy hiệu quả. Công tác quản lý, bảo vệ rừng và trồng rừng nguyên liệu, độ che phủ rừng năm 2019 đạt 58%/mục tiêu 57%. Kinh tế hộ, kinh tế trang trại được chú trọng phát triển. Tốc độ tăng trưởng khu vực nông, lâm, thủy sản bình quân giai đoạn 2016 - 2019 đạt 4,52%/năm.

Ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học ở một số khâu quan trọng của sản xuất nông nghiệp như giống, kỹ thuật canh tác, nuôi và bảo quản sau thu hoạch. Diện tích canh tác nông nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ đạt trên 22.808 ha (chiếm gần 7,5% diện tích canh tác nông nghiệp), giá trị sản xuất bình quân của nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao từ 200-250 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 2-3 lần so với sản xuất nông nghiệp truyền thống. Thu hút được các doanh nghiệp đầu tư chế biến sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh như: Chè, tinh bột sắn, mía đường, cây ăn quả, sản phẩm gỗ, thủy sản,... tạo sức lan tỏa lớn trong sản xuất nông nghiệp, góp phần đẩy nhanh tốc độ cơ cấu lại sản xuất của ngành.

Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) đạt nhiều kết quả quan trọng. Diện mạo nhiều vùng nông thôn khởi sắc, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn hiện đạt trên 22,6 triệu đồng/năm (năm 2015: 19,6 triệu đồng). Toàn tỉnh đến nay có 265 xã đạt chuẩn NTM, đạt 61,48%; 04 huyện đạt chuẩn NTM gồm TP Vinh, Thị xã Thái Hòa, Nam Đàn và Yên Thành; 674 thôn, bản được công nhận đạt chuẩn NTM.

Công nghiệp xây dựng tiếp tục là động lực chủ yếu cho tăng trưởng kinh tế. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016- 2019 đạt 13,5%/năm. Công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng ngày càng cao (khoảng 77%) trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp. Các ngành công nghiệp đồ uống, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp công nghệ cao, dệt may, sản xuất và phân phối điện, nước đều có bước phát triển. Lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, làng nghề tiếp tục được quan tâm chỉ đạo phát triển, đến nay toàn tỉnh có 164 làng nghề và gần 450 làng có nghề, giải quyết việc làm và thu nhập ổn định cho gần 20.000 lao động.

Hạ tầng Khu kinh tế Đông Nam, các khu công nghiệp được quan tâm đầu tư đồng bộ. Từng bước hoàn thành hạ tầng Khu công nghiệp Nam Cấm, VSIP, WHA giai đoạn 1, Hoàng Mai 1, Đông Hồi với tổng diện tích 1.593 ha. Quy hoạch phát triển, 52 cụm công nghiệp, trong đó có 32 cụm công nghiệp đã thực hiện các bước đầu tư.

Phát triển công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp chế biến gắn với khai thác tiềm năng lợi thế của tỉnh tạo ra nhiều sản phẩm chủ lực có sức cạnh tranh cao trong nước và quốc tế như xi măng, tôn thép, đá trắng, đá granite, dệt may, điện, dược liệu, bia, sữa, mía đường. Đã thu hút được những dự án có quy mô, hàm lượng khoa học công nghệ và giá trị gia tăng cao, công nghiệp sạch, tiết kiệm năng lượng. Nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp lớn được xây dựng, nâng cấp, đổi mới thiết bị nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường và bảo vệ môi trường.

Dịch vụ phát triển nhanh, đa dạng, rộng khắp trên các lĩnh vực, vùng miền với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016 - 2019 đạt 6,58%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bình quân giai đoạn 2016 - 2019 tăng 13,3%/năm. Kim ngạch xuất khẩu năm 2019 đạt 1,1 tỷ USD, thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, doanh nghiệp tham gia xuất khẩu ngày càng tăng. Khai thác có hiệu quả các loại hình du lịch có thế mạnh như du lịch biển đảo, du lịch văn hóa - lịch sử, du lịch sinh thái gắn với cộng đồng, du lịch nông thôn; phát triển đa dạng các dịch vụ du lịch, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch. Năm 2019, có 6,5 triệu lượt khách du lịch, trong đó, khách lưu trú đạt hơn 4,7 triệu lượt, khách quốc tế đạt hơn 146 ngàn lượt; tổng thu từ khách du lịch đạt 8.890 tỉ đồng, trong đó, doanh thu du lịch đạt 4.581 tỉ đồng. Sản phẩm du lịch đã có bước chuyển biến mới đa dạng hơn, hình thành một số điểm du lịch mới thu hút số lượng lớn du khách đến tham quan. Hình thành, phát triển các tour, tuyến du lịch mới trong tỉnh gắn với liên kết các điểm du lịch liên tỉnh, liên vùng thông qua hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh, thành phố và các doanh nghiệp du lịch lớn.

Kinh tế vùng biển và ven biển đóng góp lớn vào quy mô kinh tế của tỉnh (khoảng 56% GRDP). Công nghiệp chế biến hải sản, đóng mới, sửa chữa tàu biển, dịch vụ cảng, kho bãi phục vụ kinh tế biển phát triển khá. Nhiều ngành đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh như: Du lịch biển, dịch vụ cảng, nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy, hải sản.

Với lồng ghép, nhiều nguồn vốn để đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng mang tính chiến lược, đột phá quan trọng để tạo sự kết nối thuận lợi cho phát triển như: Đường N5, cầu Yên Xuân, đường Tây Nghệ An giai đoạn 2, đường nối Quốc lộ 1 - Hoàng Mai - Thái Hòa (Quốc lộ 48D), các cầu vượt đường sắt, sân bay Vinh; đưa vào khai thác, sử dụng Cảng xăng dầu DKC, cảng chuyên dùng Vissai phục vụ vận chuyển xi măng. Hệ thống đê sông, đê biển, công trình phòng chống bão, lụt, tiêu thoát được quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp, tu bổ kịp thời. Hạ tầng đô thị được xây dựng, cải tạo, nâng cấp theo hướng văn minh, hiện đại. Hệ thống hạ tầng thông tin phát triển nhanh, đồng bộ, hiện đại và đang trở thành một trong những trung tâm thông tin truyền thông của cả nước, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử. Chỉ số thương mại điện tử (EBI) tỉnh Nghệ An năm 2019 xếp thứ 15 trên 54 tỉnh, thành cả nước, đứng đầu các tỉnh khu vực Bắc Trung bộ.

Phát triển các vùng trọng điểm tích cực: Phát triển thành phố Vinh - thị xã Cửa Lò - các huyện Đông Nam của tỉnh gắn với vùng Nam Nghệ An - Bắc Hà Tĩnh. Phát triển vùng Hoàng Mai - Quỳnh Lưu gắn với vùng Nam Thanh Hóa - Bắc Nghệ An với khu công nghiệp Hoàng Mai, Đông Hồi, phát triển các ngành công nghiệp động lực có quy mô lớn như: Sản xuất tôn thép Hoa Sen, xi măng Tân Thắng, chuẩn bị điều kiện cho nhà máy nhiệt điện Quỳnh Lập, khu công nghiệp cảng Đông Hồi, xi măng Hoàng Mai II... Tiếp tục đầu tư, xây dựng các cơ sở du lịch biển, du lịch nghỉ dưỡng, phục vụ các khu công nghiệp và nhân dân các vùng lân cận. Phát triển kinh tế vùng miền Tây Nghệ An với trọng điểm vùng là Tân Kỳ - Con Cuông - Nghĩa Đàn - Thái Hòa - Quỳ Hợp. Đã hình thành một số vùng sản xuất cây nguyên liệu, chăn nuôi tập trung quy mô lớn gắn với phát triển công nghiệp chế biến.

Doanh nghiệp và kinh tế tập thể phát triển nhanh về số lượng, đa dạng các ngành, nghề, lĩnh vực, địa bàn. Giai đoạn 2016 - 2019 thành lập mới 6.969 doanh nghiệp, tăng bình quân 9,1%/năm, quy mô vốn đăng ký bình quân năm 2019 là 8,8 tỷ đồng/doanh nghiệp, gấp 2 lần so với năm 2015. Đến nay, tổng số doanh nghiệp đăng ký là 21.539 doanh nghiệp, trong đó có 12.399 doanh nghiệp đang hoạt động (chiếm 57,6% tổng số đăng ký), đóng góp khoảng 48 - 50% tổng thu ngân sách toàn tỉnh, tạo việc làm cho trên 202 ngàn lao động. Kinh tế tập thể với nòng cốt là hợp tác xã bước đầu có chuyển biến tích cực; có nhiều mô hình hợp tác xã nông nghiệp tham gia chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm.

2. Văn hóa, xã hội có nhiều chuyển biến tích cực

Đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo, trong đó tập trung chuẩn bị triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại, hội nhập. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 2019 đạt 72,68% (1.104 trường). Chất lượng giáo dục phổ thông được khẳng định, số học sinh thi đại học đạt điểm cao, học sinh giỏi quốc gia, quốc tế nhiều năm xếp trong tốp đầu cả nước, đứng đầu các tỉnh Bắc Trung bộ. Công tác phân luồng, định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông được quan tâm thực hiện. Mạng lưới, quy mô đào tạo nghề được tăng cường, hiệu quả gắn kết giữa cơ sở đào tạo nghề với doanh nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực. Giai đoạn 2016 - 2019, toàn tỉnh đã tổ chức tuyển sinh đào tạo cho 291.535 lượt người; trong đó, số lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề là 26.327 người. Tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo đạt khoảng 78,6%. Thực hiện các giải pháp đồng bộ để tăng cường giải quyết việc làm, giai đoạn 2016-2019 đã giải quyết việc làm cho 150.958 người (trong tỉnh 51.961 người, ngoại tỉnh 44.972 người, xuất khẩu lao động 54.025 người). Xuất khẩu lao động vào các thị trường có thu nhập cao và ổn định, lượng kiều hối gửi về hàng năm đạt từ 400-500 triệu USD.

Công tác bảo tồn, tôn tạo, phục dựng và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được chú trọng. Ưu tiên đưa văn hóa về phục vụ đồng bào các dân tộc miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới.

Mạng lưới khám chữa bệnh được mở rộng, củng cố, phát triển. Chất lượng khám, chữa bệnh được nâng lên rõ rệt. Xây dựng, phát triển một số cơ sở y tế thành trung tâm y tế kỹ thuật cao, từng bước hiện đại hoá theo hướng chuyên sâu. Ứng dụng các kỹ thuật mới, cao trong điều trị. Triển khai thực hiện cơ chế tự chủ tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập đạt kết quả tích cực.

Thực hiện tốt chính sách xã hội và bảo đảm an sinh xã hội. Triển khai đồng bộ các giải pháp, chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững. Cuối năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 4%. Thực hiện tốt công tác dân tộc, triển khai đồng bộ, hiệu quả các chính sách dân tộc. Quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt chính sách xã hội, người có công.

Khoa học và công nghệ đã đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều đề tài khoa học phát triển sản phẩm hàng hóa theo chuỗi giá trị từ khâu sản xuất đến thị trường tiêu thụ, ứng dụng công nghệ cao, góp phần tăng thu nhập cho người dân và thực hiện chương trình một xã một sản phẩm (OCOP). Khoa học, công nghệ đã mang lại hiệu quả ứng dụng các đề tài, dự án khoảng 89,16%. Nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ ngày càng tăng, công tác xã hội hóa trong hoạt động khoa học và công nghệ bước đầu được đẩy mạnh. Công nghệ sản xuất các sản phẩm chủ yếu của tỉnh được đầu tư đổi mới, đạt mức khá so với cả nước; giá trị sản phẩm công nghệ cao và ứng dụng công nghệ cao đạt 20%. Hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh đã được hình thành, có nhiều khởi sắc. Công tác đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ ngày càng được quan tâm.

3. Đẩy mạnh cải cách thế chế kinh tế, trọng tâm là cải cách hành chính, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư. Giai đoạn 2016 - 2019, thu hút được 532 dự án/ tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 67.308 tỷ đồng, trong đó: Lĩnh vực công nghiệp chiếm 30,77%; dịch vụ chiếm 49,34% và nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 8,07% số lượng dự án. Nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn, có uy tín, tiềm lực ở trong và ngoài nước đã đến khảo sát, đầu tư tại Nghệ An; nhiều dự án quy mô lớn, có tính chất tạo động lực phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết nhiều việc làm, đóng góp quan trọng vào nguồn thu ngân sách của tỉnh. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được cải thiện rõ qua từng năm, hiện đứng thứ 19 cả nước, đứng đầu 6 tỉnh Bắc Trung bộ; chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công tỉnh Nghệ An (PAPI) đứng thứ 4/63 tỉnh, thành (tăng 40 bậc so với năm 2017).

4. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững

Hoạt động đối ngoại được triển khai bài bản, đồng bộ, toàn diện. Phát huy, giữ vững mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị đặc biệt với 6 tỉnh nước bạn Lào, đặc biệt là 3 tỉnh có chung đường biên giới với tỉnh Nghệ An. Mở rộng quan hệ hợp tác với các địa phương, tổ chức đối tác trong và ngoài nước, thúc đẩy thu hút đầu tư, phát triển du lịch, thương mại, đóng góp rất quan trọng vào thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

5. Tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, thẳng thắn nhìn lại phát triển kinh tế xã hội của tỉnh vẫn ở mức trung bình, chưa phát huy được lợi thế vốn có, thiếu tính đột phá vượt trội so với khá nhiều tỉnh trên cả nước. Một số tồn tại như:

Chọn mô hình tăng trưởng và phát triển dễ, khai thác tài nguyên, phát triển công nghiệp - công nghệ không cao, chưa chú trọng phát huy lợi thế so sánh - khác biệt (đất rộng, kết nối tốt, nguồn nhân lực có năng lực đổi mới, sáng tạo), gắn với xu thế thời đại về công nghệ và về thể chế, về năng lực cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp Nghệ An. Không định vị rõ quan hệ tỉnh với vùng Bắc Trung bộ để phát huy năng lực và lợi thế. Tăng trưởng kinh tế chưa bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm. Năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, tích lũy từ nội bộ nền kinh tế còn thấp. Chuyển dịch cơ cấu trong nội ngành, lĩnh vực chưa phát huy được lợi thế, tiềm năng của từng vùng. Dàn trải nguồn lực với quá nhiều đề án, chương trình phát triển trong một giai đoạn, trong khi nguồn lực hạn chế. Sản xuất nông nghiệp chưa thật sự bền vững; quy mô sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ còn nhỏ bé. Phát triển công nghiệp còn khó khăn, chưa tạo ra được ngành công nghiệp mũi nhọn đóng vai trò dẫn dắt. Năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của một số sản phẩm dịch vụ còn thấp. Sản xuất theo chuỗi giá trị chưa được nhiều. Hiệu quả sử dụng đất chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh.

Quy mô doanh nghiệp đa số còn nhỏ và siêu nhỏ, thiếu nguồn vốn, chậm đầu tư đổi mới công nghệ; trình độ quản trị, năng lực cạnh tranh và thương hiệu hàng hóa trên thị trường còn hạn chế. Môi trường đầu tư kinh doanh chưa thực sự hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư, nhất là vùng miền Tây. Doanh nghiệp tỉnh vốn dĩ đã nhỏ và yếu, nhưng chưa có chương trình phát triển doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp mới dừng lại đào tạo tập huấn đội ngũ doanh nhân, nhưng hiệu quả chưa cao. Chính sách hỗ trợ vẫn có nhưng rời rạc, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ. Doanh nghiệp đói vốn, tiếp cận đất đai khó khăn.

Thành phố Vinh phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và mục tiêu đề ra; chưa trở thành đô thị có trình độ và năng lực vượt trội so với các đô thị trong khu vực Bắc Trung bộ như khả năng kết nối vùng, đào tạo nhân lực chất lượng cao, hoạt động nghiên cứu - phát triển, khởi nghiệp - sáng tạo,… Nhiều tiềm năng của vùng miền Tây Nghệ An như tài nguyên khoáng sản, du lịch sinh thái, chăn nuôi đại gia súc, kinh tế rừng, chế biến nông lâm sản chưa được khai thác tốt và phát huy hiệu quả.

Chất lượng nguồn lực, nhất là nguồn lực chất lượng cao, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Công tác xã hội hóa một số lĩnh vực còn bất cập, chưa tương xứng với tiềm năng, nhất là trong hoạt động khoa học công nghệ, văn hóa, thể thao... Hiện tượng đạo đức, văn hóa xã hội xuống cấp trong gia đình, học đường và xã hội gây bức xúc trong xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao hơn mức bình quân chung cả nước.Trong tỉnh vẫn còn nhiều khu vực khó khăn, số huyện, xã nghèo còn lớn, chênh lệch giàu nghèo còn cao. Mức sống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn thấp. Hoạt động của các tổ chức, đối tượng phản động, cực đoan, chống đối còn tiềm ẩn.

Công tác cải cách hành chính và năng lực chỉ đạo điều hành, phối hợp của một số cấp, ngành chưa thực sự quyết liệt, hiệu quả. Quy trình xử lý công việc ở một số lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp, chồng chéo.

6. Một số đề xuất định hướng phát triển thời gian tới

Trên thế giới và trong nước đang trong bối cảnh mới, đó là những cam kết hội nhập sâu của Việt Nam vào kinh tế thế giới: kinh tế số, kinh tế chia sẻ; Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cách mạng công nghệ 4.0 cùng với xu thế dịch chuyển các chuỗi sản xuất toàn cầu và dịch chuyển các dòng đầu tư quốc tế. Đặt ra đòi hỏi nền kinh tế chuyển sang phát triển mới về chất và đổi mới mô hình tăng trưởng dựa vào hội nhập, công nghệ cao và bản sắc riêng. Với những cơ hội về công nghệ, toàn cầu hoá, xu hướng chuyển dịch đầu tư, chuyển dịch chuỗi sản xuất dịch vụ, chuyển hướng chiến lược của các nền kinh tế lớn, chuyển dịch thị hiếu tiêu dùng sang sản phẩm gần gũi thân thiện với thiên nhiên. Bên cạnh đó không ít những thách thức như sản phẩm cạnh tranh, công nghệ trình độ thấp, thâm dụng lao động trình độ thấp tràn vào; chiến tranh thương mại giữa các nước có nền kinh tế lớn; xu hướng toàn cầu hoá đi liền với chính sách bảo hộ sản xuất trong nước… Trước bối cảnh, cơ hội và thách thức đó giai đoạn tới Nghệ An tập trung để phát triển nhanh, bền vững với mô hình tăng trưởng đi vào chiều sâu, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh, dựa vào nền kinh tế định hướng công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao và du lịch mang đậm bản sắc riêng, hiện đại và an toàn, kết hợp hài hòa đời sống đô thị, nông thôn. Tập trung phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường. Cụ thể:

(1). Tiếp tục phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng gồm hạ tầng giao thông, hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp, hạ tầng thủy lợi, hạ tầng công nghệ thông tin và một số công trình của các lĩnh vực khác tạo nền tảng để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế.

(2). Tái cơ cấu nền kinh tế gắn với nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh. Thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất của các ngành, lĩnh vực, dựa trên ứng dụng những thành tựu mới của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và tăng năng suất lao động.

Phát triển nông nghiệp đặc sắc bản địa, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn theo hướng hiện đại, sinh thái hữu cơ, gắn với chế biến và thị trường, nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp trên cơ sở áp dụng khai thác lợi thế so sánh của từng vùng sinh thái. Tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị thông qua mô hình sản xuất liên kết chặt chẽ giữa nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã với doanh nghiệp, thị trường và khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn. Khuyến khích tích tụ ruộng đất để tạo điều kiện xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh tập trung, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Phát triển sản phẩm đặc sản địa phương thành hàng hóa. Bảo tồn quỹ gen, bảo đảm đa dạng sinh học và các mô hình bền vững cho bảo tồn đa dạng sinh học. Hình thành và đưa vào hoạt động khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao về lĩnh vực lâm nghiệp.

Chú trọng phát triển một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có hàm lượng khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ cao. Phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp xanh, tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường. Hình thành cơ sở sản xuất công nghiệp có quy mô lớn, chế biến sâu gắn với chuỗi giá trị trong khu kinh tế, khu công nghiệp. Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, thực phẩm và đồ uống gắn với vùng nguyên liệu để hình thành chuỗi giá trị sản phẩm khép kín. Phát triển công nghiệp hóa chất, công nghiệp dược nhằm khai thác tiềm năng nguồn nguyên liệu dược khu vực miền Tây Nghệ An.

Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, đa dạng, trọng tâm là du lịch biển đảo, du lịch văn hóa - lịch sử, du lịch sinh thái gắn với cộng đồng, du lịch nông nghiệp. Hình thành các sản phẩm du lịch hấp dẫn, đặc trưng và chủ lực của địa phương gắn với đa dạng hóa các loại hình du lịch, sản phẩm du lịch và phát triển các dịch vụ chất lượng cao nhằm thu hút du khách và kéo dài thời gian lưu trú; tăng mức chi tiêu của khách du lịch.

(3). Tiếp tục tập trung phát triển 3 vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh: thành phố Vinh - thị xã Cửa Lò, các huyện Đông Nam của tỉnh gắn với vùng Nam Nghệ An - Bắc Hà Tĩnh, phát triển đô thị theo hướng hiện đại và bản sắc. Vùng Hoàng Mai - Quỳnh Lưu gắn với vùng Nam Thanh Hóa - Bắc Nghệ An với công nghiệp động lực và công nghiệp phụ trợ. Phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Nghệ An tập trung kinh tế rừng, cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, dược liệu, chăn nuôi gia súc, các sản phẩm đặc sản. Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản theo hướng hình thành một số sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, có thương hiệu như sữa, chè, các sản phẩm gỗ, cây ăn quả, dược liệu.... Phát triển liên kết vùng hành lang đường mòn Hồ Chí Minh theo hướng xa lộ nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

(4). Xây dựng chương trình phát triển lực lượng doanh nghiệp tỉnh, từ đó xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển và nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tỉnh. Đổi mới công tác thu hút đầu tư một cách chuyên nghiệp và đi vào chiều sâu. Trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế xã hội cần thu hút có trọng tâm, trọng điểm, có chọn lọc một số đối tác nhà đầu tư chiến lược để tạo sự bứt phá, lan tỏa, là đầu kéo lực lượng doanh nghiệp. Ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, quản trị hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo, kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu. Sớm hình thành Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển doanh nghiệp, trong đó bao gồm cả khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

(5). Phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo tập trung tác động theo chuỗi giá trị để phát triển các sản phẩm chủ lực và đặc sản địa phương. Lấy doanh nghiệp làm chủ thể. Hỗ trợ khuyến khích đổi mới sáng tạo, trọng tâm là sản phẩm sáng tạo để nâng cao năng lực cạnh tranh. Gắn nghiên cứu, ứng dụng với sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu sản phẩm mang danh Nghệ An. Chú trọng thu hút, phát triển các ngành sử dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, đặc biệt trong sản xuất, chế biến, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ; xây dựng hạ tầng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu công nghệ cao, các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ điện - điện tử, t động hóa. Xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Xây dựng Vinh thành thành phố thông minh và đổi mới sáng tạo. Tăng nguồn lực Quỹ phát triển KH&CN, xã hội hóa nguồn lực, chuyển dần hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo sang cơ chế hỗ trợ sau đầu tư. Xây dựng mô hình tổ chức sản xuất liên kết doanh nghiệp theo hướng doanh nghiệp phục vụ doanh nghiệp, cụm ngành; liên kết doanh nghiệp với nông dân trong đó quan tâm mô hình phát triển hợp tác xã lấy doanh nghiệp làm nòng cốt. Đầu tư cho nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn phục vụ công tác tổng kết thực tiễn, lý luận và dự báo trong xây dựng chiến lược, cơ chế, chính sách và đẩy mạnh nghiên cứu khoa học quản lý.

(6). Bảo vệ tài nguyên môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Bảo tồn, khai thác, phát triển quỹ gen quý, có giá trị kinh tế ở miền Tây Nghệ An. Quan tâm môi trường công nghiệp, đô thị, nông thôn.

(7). Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng, quyết tâm đổi mới, sáng tạo phát triển; phát triển đội ngũ nhân lực lãnh đạo, quản lý và đội ngũ chuyên gia có trình độ cao; quan tâm bồi dưỡng nâng cao trình độ quản trị doanh nghiệp, đội ngũ kỹ thuật có tay nghề. Xây dựng các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực và hội nhập quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và thị trường lao động trong và ngoài nước. Tiếp tục bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống gắn với xây dựng con người văn hóa Nghệ An phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước.

(8). Cải cách thể chế hành chính, kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị. Cải thiện môi trường đầu tư, chính quyền kiến tạo, đồng hành cùng doanh nghiệp. Tăng cường phản biện xã hội. Xây dựng chính quyền điện tử hướng tới chính quyền số nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của các cơ quan trong hệ thống chính trị, các hoạt động dịch vụ công và hoạt động quản trị của doanh nghiệp. Phát triển và quản lý xã hội bền vững; thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

(9). Tăng cường hội nhập quốc tế sâu rộng. Mở rộng có trọng tâm, trọng điểm các kênh hợp tác với đối tác có tiềm năng. Thực hiện tốt các nhiệm vụ quốc phòng, củng cố và bảo đảm vững chắc an ninh, trật tự an toàn xã hội.

 

Tài liệu tham khảo

1. Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ 18, nhiệm kỳ 2015 - 2020.

2. Nghị quyết 26 phát triển Nghệ An.

3. Niên giám thống kê 2016 - 2019.

4. Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội các năm 2016, 2017, 2018, 2019.

5. Cổng thông tin điện tử Nghệ An.

 

Vi Văn An

1. Giới thiệu chung

Việt Nam và Lào là hai quốc gia có chung đường biên giới, vốn có nhiều nét tương đồng về lịch sử và văn hóa: đa tộc người, đa ngôn ngữ, nhiều nghề thủ công phát triển (dệt vải, đan lát, làm gốm, sơn mài…); phổ biến tập quán ở nhà sàn; có truyền thống cộng đồng làng bản; duy trì những hình thức tín ngưỡng dân gian bản địa… Hai nước Việt - Lào vốn có quan hệ hữu nghị đặc biệt và đã trải qua hơn nửa thế kỷ (từ 1962). Ngày nay, cùng với các quốc gia Đông Nam Á khác, nhân dân hai nước Việt - Lào đều đang đứng trước những thách thức về giữ gìn bản sắc văn hoá trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển. Trên cơ sở đánh giá thực trạng về biến đổi văn hóa của các tộc người thiểu số vùng biên giới Việt-Lào, địa bàn tỉnh nghệ An, hy vọng, bài viết này sẽ góp phần khỏa lấp khoảng trống trong nghiên cứu về vấn đề này.

2. Thực trạng biến đổi văn hóa của các tộc người vùng biên giới Việt - Lào địa bàn tỉnh Nghệ An

2.1. Tình hình chung

Biên giới Việt - Lào thuộc địa bàn tỉnh Nghệ An vốn là khu vực có địa hình chia cắt mạnh, khí hậu khắc nghiệt, giao thông đi lại khó khăn. Trừ người Thái là cư dân chiếm đa số, còn lại Mông và Khơ-mú là những tộc người có dân số ít, cư trú rải rác, phân tán, đời sống khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao.

Có thể nói, từ  năm 1978 trở về trước, dường như người ta chỉ biết đến một cửa khẩu duy nhất từ địa phận tỉnh Nghệ An qua Lào là cửa khẩu Nặm Cắn-thuộc hạng tiểu ngạch-qua quốc lộ 7A, vốn do thực dân Pháp mở từ năm 1918, hoàn thành năm 1922-1925. Năm 1979, trên cơ sở Hiệp định hoạch định biên giới được ký giữa hai nước Việt - Lào, một số cửa khẩu tiểu ngạch được mở để người và hàng hóa lưu thông qua lại; chợ biên giới Việt-Lào từ đó cũng được tổ chức ở một số cửa khẩu thuộc các huyện giáp biên, trong đó có chợ biên Nặm Cắn - Nghệ An, nên hàng hóa của Lào, Thái Lan có điều kiện du nhập sang Việt Nam qua cửa khẩu này. Tuy nhiên, nền kinh tế của người dân hai bên biên giới cơ bản vẫn mang tính tự cung, tự cấp. Các hoạt động buôn bán, trao đổi qua lại chủ yếu là hàng nông sản, người dân khu vực biên giới chủ yếu thuần nông, đi mua nhiều hơn đi bán. Vì thế, có thể nói: cho đến trước công cuộc Đổi mới 1986, khu vực biên giới Việt - Lào địa bàn tỉnh Nghệ An cơ bản vẫn là một trong những khu vực nghèo nhất của nước ta về kinh tế.

Từ năm 1986, công cuộc Đổi mới của Đảng ta được khởi xướng, nhất là việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế-xã hội chung của cả nước và các chính sách phát triển kinh tế-xã hội vùng miền núi, dân tộc như các chương trình, dự án: 327 (1992-2000), 135 (1998-2020), 134 (2004-2008); chương trình 30A (2008-2020)... Nhờ đó, bắt đầu từ những năm 1995-1996 cho đến những năm 2000 trở lại đây, do tác động của nền kinh tế thị trường, giao lưu và hội nhập khu vực, nhất là hiệu quả của các chương trình, dự án của Chính phủ nêu trên, đã từng bước làm thay đổi diện mạo của nông thôn miền núi nói chung, các dân tộc thiểu số khu vực biên giới (nhất là khu vực cửa khẩu) Việt-Lào, tỉnh Nghệ An nói riêng. Chính những thay đổi về cơ sở hạ tầng, về đời sống kinh tế là tác nhân cơ bản, dẫn tới những biến đổi về văn hóa của các tộc người thiểu số khu vực biên giới Việt - Lào, tỉnh Nghệ An nói trên.

2.2. Sự biến đổi của các dạng thức văn hóa

2.2.1. Biến đổi về văn hóa vật chất

- Một trong những thay đổi dễ nhận thấy nhất về nhà cửa các dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt - Lào tỉnh Nghệ An là việc tiếp thu ảnh hưởng kiểu nhà nhiều mái của Lào. Theo đó, tại các bản làng người Thái, người Khơ-mú, người Mông, dọc các trục lộ như đường 7, đường 48 hướng lên cửa khẩu với Lào như: Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong... các ngôi nhà sàn, nhà xây gạch, xi măng cốt thép có nhiều tầng mái chồng lên nhau, hay mái thò, mái thụt, giống như kiểu mái nhà của người Lào, người Thái Lan khá phổ biến. Nhiều ngôi nhà sàn khu vực cửa khẩu biên giới thường không còn giữ nguyên vẹn kiểu nhà sàn truyền thống, mà thường được sáng tạo thêm về kiểu dáng như nhà hình chữ L, hình chữ U hoặc nối thêm lớp mái ngói phụ tại vị trí trên gầm sàn, đua ra chừng 60cm/3 hàng ngói. Thêm nữa, nếu như trước đây, các ngôi nhà trệt hay nhà sàn của các dân tộc vùng biên giới Việt-Lào thường không nối thêm mái hiên thì hiện nay, cả nhà sàn và nhà trệt đều phổ biến lắp nối thêm phần mái hiên bằng tôn, kéo ra phía mặt tiền ngôi nhà. Đương nhiên, đối với các ngôi nhà kiểu mới này, vật liệu và cách bố trí mặt bằng sinh hoạt cũng thay đổi theo.

Một điểm thay đổi nữa liên quan đến nhà cửa là, truyền thống cư trú mật tập dọc theo các trục lộ biên giới, cửa khẩu thường bị phá vỡ, chuyển sang hình thái cư trú kiểu đường phố. Các bản của người Thái ở cửa khẩu Nặm Cắn, Thông Thụ; làng của người Kinh ở cửa khẩu Thanh Thủy là những ví dụ. Số lượng nhà xây, nhà tầng bằng vật liệu gạch, xi măng, bê tông, cốt thép ngày càng chiếm ưu thế hơn những ngôi nhà cất dựng bằng gỗ, tre, lợp cỏ tranh, lá cọ.

- Điều dễ nhận diện nhất về sự thay đổi trong trang phục các dân tộc vùng biên giới, cửa khẩu Việt - Lào tỉnh Nghệ An là: trào lưu mặc các loại váy kiểu Lào, váy Thái Lan của hầu hết chị em phụ nữ các dân tộc như Thái, Khơ-mú, nhất là Khơ-mú và nhóm Tày Khăng. Cũng như thế, hầu hết phụ nữ Mông vùng biên giới, cửa khẩu Việt-Lào ở Kỳ Sơn, Quế Phong cũng chuyển sang mặc những bộ y phục (áo, váy, khăn...) kiểu người Mông có xuất xứ từ Lào. Các loại y phục: áo, váy, khăn cắt may bằng vải công nghiệp giá rẻ, nhẹ, nhiều màu sắc, dễ mua phù hợp với thị hiếu, tâm lý, sở thích của phụ nữ các tộc người thiểu số vùng biên giới.

Cùng với y phục, các loại quần áo, chăn, đệm và nhiều đồ gia dụng khác với đủ chủng loại, màu sắc, kích cỡ... được bày bán khá nhiều tại các quầy hàng, ki ốt hay trong các sạp hàng của chợ biên giới, cửa khẩu.

- Văn hóa ăn uống của các dân tộc khu vực biên giới Việt - Lào tỉnh Nghệ An dường như không chịu tác động và ảnh hưởng của ẩm thực Lào là bao. Nguyên nhân của điểm này là do người dân hai bên biên giới có nhiều điểm tương đồng văn hóa, trong đó có cả ẩm thực. Thay đổi chủ yếu thể hiện ở tính sầm uất hay nghèo nàn của các dịch vụ hàng quán, buôn bán, nhà nghỉ, các ki ốt bán hàng tạp hóa, chợ phiên ở hai bên cửa khẩu cũng như khu vực biên giới. Theo đó, trừ cửa khẩu quốc tế Nặm Cắn, các cửa khẩu tiểu ngạch còn lại thường chỉ có vài quán ăn bình dân, vài ki ốt bán hàng tạp hóa của tư nhân, phục vụ nhu cầu người qua lại và người dân trong vùng hay vài tư thương thuê đất dựng nhà tạm để thu mua, gom buôn bán hàng nông sản nhập về nội địa hai bên biên giới. Ngoài những món ăn thể hiện đặc trưng vùng miền, địa phương (đồ nướng, chẻo, lạp...), sự thay đổi đáng kể trong văn hóa ăn uống của các dân tộc vùng biên giới, cửa khẩu Việt - Lào tỉnh Nghệ An chủ yếu thể hiện ở việc chế biến các món ăn hằng ngày giống như miền xuôi (xào, rán, lẩu...), nhất là trong tiệc cưới, liên hoan.

Một điểm mới nữa về biến đổi trong ăn uống của người dân ở vùng biên giới này là: sự trở lại và lên ngôi của các món ăn truyền thống, nhất là các món ăn truyền thống của người Thái như cá nướng, cá hấp, lạp, gỏi, cơm lam, thịt nướng, chẻo, măng, rau đồ. Cùng với các món ăn là các loại rượu trắng, rượu cần đều tự phong và dán mác đặc sản địa phương.

 2.2.2. Biến đổi về văn hóa xã hội

Tuy thiết chế bản-mường của người Thái hay các hình thức tự quản của các dân tộc thiểu số khác (Mông, Khơ-mú) với tư cách là phi quan phương, không còn hiện hữu như trong xã hội truyền thống, song chúng vẫn còn vai trò chi phối nhất định tới sự vận hành xã hội của các dân tộc vùng biên giới Việt - Lào. Các tập quán tốt đẹp trong xã hội truyền thống như: tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau khi ốm đau, hoạn nạn, khó khăn vẫn được duy trì trong các bản làng các dân tộc. Vai trò của người già/người có uy tín, thầy cúng, thầy thuốc, thầy dạy chữ vẫn được tôn trọng và đề cao trong xã hội.

Tuy trong xã hội không còn giai cấp, nhưng ở bản làng nào cũng có nhà giàu, nhà nghèo. Hiện tượng phân hóa giàu nghèo trong cộng đồng ngày càng có chiều hướng sâu sắc, nhất là giữa nông dân lao động và một bộ phận bộ cán bộ, người buôn bán ở huyện thị.

Vấn đề xã hội nổi cộm nhất của các dân tộc vùng biên giới Việt - Lào tỉnh Nghệ An có lẽ là: hiện tượng xâm canh đất đai, xâm cư diễn ra tại một số nơi từ Việt Nam sang Lào và ngược lại. Bên cạnh đó, di dịch cư và di cư tự do trong nội địa cũng như qua lại khu vực biên giới hai bên vẫn chưa chấm dứt. Điều này đã gây xáo trộn dân cư, bất ổn về quản lí xã hội đối với chính quyền địa phương. Không kém phần nổi cộm là các vụ buôn lậu ma túy, thuốc lắc từ Lào sang hoặc tàng trữ chất nổ, vũ khí mà vài năm gần đây các lực lượng và cơ quan chức năng đã triệt phá. Ngoài ra, ở một số nơi, tình trạng nhiễm HIV/AIDS có nguy cơ gia tăng.

Một điểm biến động xã hội khác ở vùng biên giới Việt-Lào tỉnh Nghệ An chính là: bên cạnh số thanh niên đi làm công nhân tại các công ty, liên doanh ở các tỉnh phía Nam nay ra làm công nhân hoặc làm thuê tại các tỉnh phía Bắc thì làn sóng di cư của lao động tự do người Việt Nam sang Lào và Thái Lan tìm kiếm công ăn việc làm ngày càng tăng.

Riêng vấn đề hôn nhân xuyên biên giới thường chỉ diễn ra đối với người Mông và người Thái khu vực giáp biên.

2.2.3. Biến đổi về văn hóa tinh thần

Các dân tộc sinh sống tại các tỉnh dọc theo biên giới Việt-Lào, tỉnh Nghệ An đều duy trì và thực hành tín ngưỡng, tôn giáo bản địa. Việc thờ cúng ma nhà, các nghi lễ ở phạm vi gia đình như buộc cổ tay, cơm mới, lễ mừng thọ, lễ giải hạn, cúng vía bên ngoại... vùng người Thái, người Khơ-mú, Mông phổ biến ở hầu khắp các bản làng vùng biên giới. Bên cạnh đó, hiện tượng tuyên truyền, lôi kéo người dân theo đạo Vàng Chứ, Tin Lành vùng người Mông vẫn còn tiềm ẩn. Điều này đã gây ra nhiều biến động cả về văn hoá, xã hội..., tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị, trật tự an ninh cũng như đảo lộn đời sống của người dân tại cơ sở.

Một điểm thay đổi đáng kể trong văn hóa tinh thần của các dân tộc vùng biên giới Việt-Lào, tỉnh Nghệ An trong nhiều năm gần đây là: sự phục hồi và thực hành trở lại của các lễ hội cộng đồng các dân tộc biên giới. Việc tổ chức lễ hội luôn được các cấp chính quyền quan tâm, giúp đỡ, được người dân đồng tình hưởng ứng tham gia. Đó là Lễ hội đền Chín Gian (Quế Phong), đền Vạn (Cửa Rào, Tương Dương), Pu Nhạ Thàu (Kỳ Sơn).

Cũng cần nói thêm là do đã bỏ việc phát rừng làm rẫy, nên các nghi lễ nông nghiệp liên quan đến nương rẫy ở vùng người Thái (các huyện vùng thấp) đã và đang bị lãng quên. Các nghi lễ liên quan đến rẫy chỉ còn được duy trì và thực hành ở một số tộc người: Khơ-mú, Mông vùng sát biên.

Điểm mới trong dân ca, dân vũ và nhạc cụ của các dân tộc vùng biên giới Việt - Lào là các làn điệu dân ca các dân tộc Thái, Mông, Khơ-mú được sưu tầm, dịch thuật hay sáng tác mới để biểu diễn trên sân khấu, ghi đĩa VCD. Cũng như thế, một số điệu múa dân gian: múa Thái, Mông, Khơ-mú được sưu tầm, cải biên và sân khấu hóa, trình diễn trong các sự kiện lớn của vùng, địa phương. Tháng 9/2017, Lễ hội Xăng Khan của người Thái Nghệ An đã được vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Bên cạnh đó, rất nhiều các loại nhạc cụ truyền thống của các dân tộc biên giới Việt - Lào cũng đã và đang được phục hồi, truyền dạy và sử dụng trình tấu trong các dịp biểu diễn, giao lưu văn hóa, văn nghệ cấp tỉnh, cấp huyện. Tuy nhiều trò chơi dân gian truyền thống bị mai một, song một số trò chơi dân gian như ném còn, bắn nỏ, đẩy gậy, hát giao duyên cùng với các trò mới, thi nấu cơm, thi người đẹp cùng với các hoạt động thể thao khác (bóng chuyền, bóng đá) luôn thu hút được đông đảo mọi tầng lớp tham gia.

Ngoài ra, điều đáng vui mừng là hầu hết các huyện giáp biên, tỉnh Nghệ An đều mở các lớp học chữ Thái, gồm: Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Con Cuông, Tương Dương.

Từ những cứ liệu trình bày trên đây ta thấy:

(i). Sự biến đổi văn hóa của các dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt-Lào, tỉnh Nghệ An về cơ bản vẫn là do tác động tích cực của các chủ trương, chính sách, các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Chính phủ; biết tận dụng tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Sự biến đổi ngày càng sâu rộng về lĩnh vực sinh kế, thể hiện ở sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất, cây con, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật... trong nông nghiệp của các tộc người khu vực biên giới chính là nguyên nhân tác động đến sự thay đổi của các lĩnh vực văn hóa của họ.

(ii). Trong các dạng thức văn hóa, có lẽ văn hóa vật chất là biến đổi sâu rộng hơn cả, nhất là dọc đường chính và khu vực cửa khẩu. Đó là sự thay đổi về hạ tầng cơ sở, dịch vụ, nhà hàng, chợ, nhà nghỉ, công trình phúc lợi, nhất là các khu làm việc của các cơ quan Nhà nước và cả các điểm du lịch hay di tích và danh thắng.

(iii). Giữa cư dân cư trú xung quanh cửa khẩu hay dọc theo trục lộ chính với cư dân cư trú dọc tuyến biên giới, vùng sâu, vùng xa thì mức độ biến đổi về sinh kế cũng như các dạng thức văn hóa cũng có sự khác nhau. Từ ăn mặc, tiện nghi sinh hoạt trong nhà cho đến phương tiện đi lại và thờ cúng. Bộ phận cư dân vùng sâu, vùng xa, dọc sát biên giới phần nào vẫn còn bảo lưu được những yếu tố của văn hóa truyền thống tộc người.

3. Một số vấn đề đặt ra

Trong quá trình hội nhập và phát triển bền vững, sự biến đổi văn hóa của các dân tộc thiểu số khu vực biên giới Việt-Lào, tỉnh Nghệ An đặt ra những thách thức nan giải, khó lường, liên quan đến cả ba dạng thức văn hóa sau đây:

(i). Về văn hóa vật chất, do chính sách thông thoáng đối với việc buôn bán và đi lại thăm thân giữa cư dân hai bên biên giới thuận lợi, nên vấn đề nhập lậu các loại thực phẩm; các loại củ, quả, rau; lợi dụng nhãn mác... không đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm qua cửa khẩu biên giới Việt - Lào (chính ngạch hoặc tiểu ngạch) có nguy cơ gia tăng.

Bên cạnh đó, nhiều loại hàng giả, đồ uống kém chất lượng, nguy hiểm đối với sức khỏe (như quần áo, giày dép, các loại nước khoáng, nước ngọt, bánh kẹo...) chuyên chở lên khu vực miền núi, biên giới bán cho người dân.

(ii). Về văn hóa xã hội, như đã đề cập ở trên, vấn đề tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh trật tự khu vực biên giới Việt - Lào là vấn đề lao động tự do người Việt Nam sang làm việc tại các nước Lào, Thái Lan. Phần lớn họ đi lao động "chui", nên thường bị các chủ ép làm việc quá giờ, bị hạn chế đi lại, giữ lương hoặc giấy tờ tùy thân, bị quỵt tiền công và đánh đập; và nhiều trường hợp đáng tiếc xảy ra. Bên cạnh đó, số người từ nhiều nơi khác đến làm ăn, buôn bán tại các cửa khẩu cũng gây khó khăn cho công tác quản lý, tiềm ẩn các tệ nạn xã hội.

Đối với biên giới Việt - Lào, vấn đề nổi cộm nhất là nạn buôn bán ma túy, mua bán, tàng trữ vũ khí, vượt biên trái phép sang đất bạn, xâm canh trồng cây thuốc phiện, buôn lậu v.v.. xảy ra thường xuyên, làm cho an ninh biên giới phức tạp, mất ổn định. Hiện tượng tranh giành đất đai canh tác giữa dân mới di cư đến với dân sở tại diễn ra gay gắt; mặt khác các khu rừng già, rừng đầu nguồn bị tàn phá nặng nề. Cùng với đó là, nguy cơ lớn nhất đến từ vấn đề quan hệ dân tộc xuyên biên giới gắn với yếu tố ly khai, tự trị. Do bị các thế lực phản động, thù địch chia rẽ, xúi giục, kích động, nên từ quan hệ tộc người xuyên biên giới có thể dẫn tới tình trạng ý thức tộc người nổi trội hơn ý thức quốc gia, làm tổn hại đến khối đại đoàn kết dân tộc và sự thống nhất của quốc gia dân tộc Việt Nam.

(iii). Về văn hóa tinh thần, vấn đề nổi cộm hiện nay là sự truyền bá của đạo Tin Lành vào vùng các dân tộc thiểu số khu vực biên giới có sự can thiệp, chỉ đạo, lợi dụng của các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam. Điều này đã gây ra nhiều biến động cả về văn hoá, chính trị, xã hội... trong vùng miền núi, biên giới. Ở nhiều nơi, cơ sở đạo Tin Lành đã khá ổn định, hình thành tập quán sinh hoạt của đồng bào. Đây là một vấn đề cần được xem xét một cách nghiêm túc, khách quan và khoa học, nhằm đảm bảo nhu cầu cần tâm linh chính đáng của đồng bào, góp phần đấu tranh chống việc lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo của các thế lực phản động, thù địch đang âm mưu phá hoại cách mạng, phá hoại công cuộc đổi mới, sự nghiệp CNH-HĐH và xây dựng nông thôn mới của Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đối với các tộc người thiểu số nói chung, người Mông nói riêng ở vùng miền núi nước ta hiện nay.

Bên cạnh đó, vấn đề đáng lưu ý hiện nay ở vùng miền núi, dân tộc, nhất là vùng biên giới Việt - Lào là hiện tượng một nhóm nhà sư nhân danh  người của Trung ương Hội Phật giáo Việt Nam đến gặp chính quyền địa phương, xin cấp đất để xây dựng nhà chùa, lôi kéo tín đồ. Điều này thường gây nên sự xung đột tín ngưỡng với người dân địa phương vốn chỉ thực hành tín ngưỡng bản địa.

Cũng cần đề cập thêm là việc lợi dụng tổ chức một số lễ hội tín ngưỡng ở một số địa phương biên giới, không đúng bản chất và ý nghĩa, mà chủ yếu nhằm mục đích thương mại, buôn thần bán thánh đã và đang có xu hướng phát triển. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu một cách khoa học, nghiêm túc nhằm hạn chế các nguy cơ tiềm ẩn và lợi dụng của các phần tử, thế lực phản động.

 

Phạm Tuấn Vũ

Lịch sử nghiên cứu về Nguyễn Du hơn hai trăm năm qua cho thấy nói về tài năng văn chương và tấm lòng nhân ái của nhà đại thi hào này quả là chuyện nói mãi không cùng. Hôm nay chúng tôi muốn tiếp tục chủ đề trên từ khía cạnh thi hào đã dùng cùng một thể loại để viết về những giá trị cực kỳ đối lập và tất cả đều cùng ở trình độ siêu việt. Đó là thể loại văn tế với hai tác phẩm Chiêu hồn thập loại chúng sinhVăn tế sống hai cô gái Trường Lưu(1).

Trước hết cần đặt thể loại này trong đời sống văn chương trung đại nước ta. Đ.X.Likhachốp, nhà nghiên cứu văn học Xô viết trước đây đã khái quát sâu sắc rằng một đặc điểm phổ quát của văn học trung đại thế giới là chúng gắn bó trực tiếp với mức độ mật thiết trong sinh hoạt của con người. Có thể vận dụng tư tưởng này để nhìn nhận thể loại văn tế. Tên thể loại xuất phát từ chức năng của nó. Văn tế ca ngợi công lao đức độ của người được tế và bộc lộ lòng thương tiếc của người đứng tế. Văn tế có nhiều thể thức. Chiêu hồn thập loại chúng sinh theo thể song thất lục bát, còn Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu theo thể Đường luật.

Trong tiếng Việt, "thập loại" phần lớn không chỉ đích xác mười bài mà chỉ số nhiều. Ở bài văn tế này, đại thi hào chiêu hồn mười lăm loại: những kẻ "tính đường kiêu hãnh", những kẻ "màn loan trướng huệ", những kẻ "mũ cao áo rộng", những kẻ "bài binh bố trận", những kẻ "tính đường trí phú", những kẻ "rắp cầu chữ quý", những kẻ "vào sông ra bể", những kẻ "đi về buôn bán", những kẻ "mắc vào khóa lính", những kẻ "buôn nguyệt bán hoa", những kẻ "hành khất ngược xuôi", những kẻ "mắc vào tù rạc", những kẻ "hữu sinh vô dưỡng", những kẻ "bất đắc kỳ tử", những cô hồn lạc lõng khắp mọi nơi…

Chúng ta đó là kiếp sau của gần như đầy đủ các giai tầng trong xã hội xưa. Có những loại người ở những vị trí xã hội khác biệt, thậm chí đối lập hay đối địch nhau. Vậy mà, theo nhãn quan nhà Phật, khi chết rồi họ đều thành những cô hồn đáng thương xót:

Hương lửa đã không nơi nương tựa,

Hồn mồ côi lần lữa bấy niên.

Còn chi ai quý ai hèn,

Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu.

Tác giả đặt trọng tâm vào việc thể hiện các loại cô hồn ở thế giới cõi âm. Cuộc sống của họ ở dương thế chỉ như những hồi quang khiến cho hiện tại thêm thê thiết.

Nổi bật trong toàn bài văn tế là phép đối lập. Có những kẻ màn loan trướng huệ từng tạo nên những cuộc vui vẻ rộn ràng bao nhiêu thì khi về với đất lại cô độc lạnh lẽo bấy nhiêu:

Khi sao đông đúc vui cười,

Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

Đối lập tự sinh ra khiến cho những kẻ mũ cao áo rộng tất yếu thịnh mãn lắm oán thù càng lắm, lúc sống những kẻ này được bao nhiêu người cầu cạnh săn đón, mà khi chết biết lấy ai bát nước nén nhang?

Nhiều người còn nhớ là từ thế kỷ XV vua Lê Thánh Tông đã viết Thập giới cô hồn quốc ngữ văn (Bài văn quốc ngữ mười điều răn dạy cô hồn). Nghe qua tưởng giữa ông vua - thi sĩ xưa và Đại thi hào Nguyễn Du có nhiều điểm gặp gỡ. Thực ra sự tương đồng thật ít mà sự dị biệt thật nhiều. Chẳng hạn đây là mấy dòng rút ra từ phần nhà vua viết về những người làm nghề buôn bán:

"Được thời hớn hở, vui cười, mạnh bà cầm rổ(2); thua thời âm thầm tiếc nuối, trách kẻ thầy dùi"…

 "… Của phi nghĩa làm nên khắp nước,

Lòng bất nhân truyền để làm ca.

Lừa đảo so xem nào có khác,

Người ta lại bán được người ta…".

Thật khác cái nhìn của thi hào quê Tiên Điền cũng về đối tượng đó:

"Cũng có kẻ đi về buôn bán,

Đòn gánh tre chín dạn hai vai.

Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao".

Người xưa chia người buôn bán thành hành thươngtọa cổ. Khác với tọa cổ là những người có người mang hàng hóa đến cho buôn bán, hành thương là người phải bôn ba xuôi ngược mong tìm lời lãi. Bốn câu thơ trên của Nguyễn Du đích thị viết về loại người này. Chỉ chưa đầy ba chục chữ mà đủ khái quát cả kiếp người lao khổ từ cõi hiện sinh đến lúc làm hồn ma. Lê Thánh Tông tỉnh táo ráo hoảnh vì ông mượn lời răn dạy người chết để bộc lộ quan niệm của người đứng đầu nền quân chủ ở thời cực thịnh về các hạng người trong xã hội. Theo đó, đứng đầu tứ dân còn thương bị coi rẻ. Nhà vua xuất phát từ nhãn quan chính trị còn thi hào Nguyễn Du xuất phát từ nhãn quan nhân đạo chủ nghĩa. Bài văn tế này được học giả Lê Thước sưu tầm ở chùa Diệc (thuộc thành phố Vinh) trước Cách mạng tháng Tám. Đây là trường hợp độc nhất vô nhị ở nước ta khi tác phẩm thế tục được lưu hành trong nhà chùa.

Những bài văn tế xuất sắc (trong đó có Chiêu hồn thập loại chúng sinh) cho phép ta kết luận rằng văn tế là thể loại điển hình nhất trong việc thể hiện cảm hứng cảm thương.    

Giá trị siêu việt của bài văn tế của thi hào đất Lam Hồng còn do tác giả chọn lựa được thể thức phù hợp nhất với cảm xúc thẩm mỹ của mình - thể song thất lục bát. Mỗi khổ thơ ở đây bao gồm một cặp hai câu bảy chữ và một câu lục bát. Cấu trúc này khiến cho nhạc tính (thể hiện ở gieo vần và ngắt nhịp) phong phú hơn hẳn do chúng không hề là sự lắp ghép cơ học mà có nhiều quan hệ mới mà riêng chỉ thơ song thất hoặc thơ lục bát không có. Thể thơ này kết hợp được những ưu việt của thơ lục bát và thơ thất ngôn trong tự sự và trữ tình. Điệp cấu trúc (4 dòng) vừa xoáy sâu vừa lan tỏa cảm xúc.

Nhưng lại chính Nguyễn Du cũng dùng thể loại này, hơn nữa bằng thể thức điển hình nhất - văn tế bằng Đường luật - để viết một tác phẩm đùa bỡn: Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu. Tác phẩm này còn có tên là Sinh tế Trường Lưu nhị nữ.  Tôi tin rằng đây là tên đầu tiên của văn bản, còn việc dịch ra là việc làm của hậu thế. Thời trung đại, văn bản tác phẩm bằng quốc âm còn tên văn bản bằng quốc ngữ là chuyện phổ biến. Việc tuân thủ một tập quán văn chương ở đây chúng tôi thấy không phải là điều chủ yếu mà thực sự xuất phát từ bản thân việc bộc lộ cảm hứng thẩm mỹ của tác phẩm. Bài văn tế viết để giễu nhại. Cảm hứng này tổng hòa từ nhiều yếu tố, trong đó lời văn quốc âm dùng nhiều thành ngữ tục ngữ dân gian đối lập với nhan đề văn bản bằng Hán Việt cô đọng giàu màu sắc bác học trang trọng. Đây là sự đối lập với ý thức thẩm mỹ cao.

Trường Lưu là miền quê nổi tiếng trai thanh gái lịch gần quê hương đại thi hào. Nơi đó chàng trai trẻ đất Tiên Điền có nhiều bạn văn chương đèn sách. Chàng đã nhiều lần đến đây "nhất cử lưỡng tiện", thăm thú bạn bè, đàm đạo văn chương và… tìm người đẹp. Tình cảm của chàng với o Uy, o Sạ là có thật(3). Theo khảo chứng của các nhà nghiên cứu Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính thì Nguyễn Du viết Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu vào quãng năm 1796 - 1802, lúc ấy ông hơn 30 tuổi. Thi hào hồi tưởng tình cảm thuở gần 20 năm trước, lúc mình chưa tới đôi mươi.

O Uy, o Sạ là những thanh sắc nổi bật trong sinh hoạt dân gian quê kiểng ở Trường Lưu:

Đêm đêm thường hát ví xôn xao,

Ai ai cũng trầu cau đãi đọa.

Những canh hát đó làm mọi người như quên đi cuộc sống cần lao thiếu thốn để được như sống trong một thế giới khác:

Quậy ngoài sân thì trong làng chín mười ả, ả ví, ả hát, ả kéo sợi, ả đưa thoi, lại có ả bưng trầu tận miệng, mỹ nữ như hoa.

Léo lên giường thì quan họ năm bảy ông, ông nói, ông cười, ông ngâm thơ, ông đọc truyện, lại có ông lấy áo trùm đầu, cao bằng mãn tọa.

Trai tứ phương dập dìu như ong bướm lượn quanh hoa, trai Trường Lưu bằng đủ mọi cách - kể cả dùng cách không được lịch sự lắm như đốt pháo sau nhà, thổi tắt đèn - để giữ gái làng. Những lúc đó o Uy, o Sạ cũng chung chia thử thách:

Ta đã đành rụt cổ như rùa,

Ả cũng chớ vật mình như sả.

Tình cảm với người ấy cảnh ấy ngót vài chục năm sau hồi tưởng lại vẫn đủ xốn xang trong dạ khiến con mắt mờ lệ:

Đường cửa Trẹm mỗi ngày một ngái, bóng cây tiếng suối, núi giăng giăng, con mắt đã mòn.

Điếm trên làng, càng ngắm càng buồn, ngọn khói hạt mưa, trời thăm thẳm, mặt người đã nhóa.

Trong những câu hát ghi được ở những canh hát đắm say ấy, người ta thấy có câu này:

Ai có chồng, nói chồng đừng sợ,

Ai có vợ, nói vợ đừng ghen.

Đến đây ta hát cho quen,

Sáng ra ai về nhà nấy, há dễ ngọn đèn hai tim!

 Thì ra, không hề ảo tưởng, trái lại người bình dân xưa luôn ý thức rằng những đắm say ấy chỉ là… "chuyện văn nghệ". Luôn lừng lững và khắc nghiệt là những rào cản vô hình và hữu hình người ta không đủ sức vượt qua. Đắm say đến mấy thì cậu ấm con quan cũng không thành đôi lứa với o Uy, o Sạ được. Và hơn ai hết, hai o càng thấm thía thân phận của mình. Thế là chàng công tử biết bao dỗi hờn trách móc:

Thương chắc lấy nỏ được chắc, làng nước hục hặc, lấy nỏ được chắc, chúng bạn ta như nghé sổ ràn.

Chê tôm lại phải ăn tôm, chê rau muống luộc lại ôm rau dền, lời nói trước như mèo liếm mỡ.

Đến độ tuyệt đối hóa:

Bạc tình là thói o Uy,

Chẳng nhân nghĩa ai bằng o Sạ.

Đây chính là cơ sở tình cảm để viết bài sinh tế.

Xưa kia người có đức độ công lao đặc biệt được người đời lập sinh từ (lập đền thờ lúc người đó còn sống). Chẳng hạn Uy viễn tướng công Nguyễn Công Trứ được nhiều nơi ở Kim Sơn, Tiền Hải (Thái Bình) lập sinh từ vì đã có công tổ chức cho dân khai khẩn hướng về phía biển. Đây là cơ sở đời sống cho ra đời loại sinh tế. Ví dụ, lòng biết ơn vợ (đi liền với thái độ tự diễu nhại mình) khiến Tú Xương viết văn tế sống vợ.

Nguyễn Du hồi tưởng về o Uy, o Sạ trong cảm hứng "đi tìm thời gian đã mất" của bản thân. Gần hai chục năm đã qua nên hình bóng người xưa cảnh cũ cũng nhuốm màu thương nhớ. Thuở ấy, chứng kiến cảnh hai o vui duyên mới, hẳn chàng trai trẻ cũng cay cú lắm, nhưng thời gian qua đi, đủ sức mài mòn ký ức, giờ đây chỉ còn sự mỉa mai:

Ở làm chi một năm thêm một tuổi càng cao,

Khéo gớm cho hai ả được hai chồng cũng khá.

Đức lang quân của hai ả đương nhiên cũng mang nét hoạt kê:

Một đứa thì dắt mũi trâu từ thuở bé, tắc tắc hò rì,

Một đứa thì cắt cỏ ngựa đến tận già, tùng tùng dạ há.

Không nên tìm ở tác phẩm này ý nghĩa xã hội gì đặc biệt, đồng thời cần lĩnh hội được những đặc sắc ở các phương diện khác. Tỉ như sự hòa hợp thật tự nhiên giữa chất liệu Hán học và chất liệu dân gian(4):

Nương song cúc, rắp hỏi han ả Tố, vì đâu mà phận ẩm duyên ôi;

Dạo đường hòe vừa gặp gỡ chàng Tiêu, từ đây đã người dưng nước lã.

Không chỉ trong những tác phẩm của Nguyễn Du mà cả trong toàn bộ nền văn học Việt Nam trước và sau nhiều thế kỷ, đây là tác phẩm vô địch về sự tham gia của thành ngữ tiếng Việt. Sự tương đồng về cấu trúc giữa câu văn tế Đường luật và câu thành ngữ - đều gồm hai vế cân xứng - góp phần tạo nên điều này.

Nguyễn Du đã làm nên sự cải biến lớn nhất và sớm nhất với hai thể loại văn tế: người được "tế" thực ra chưa chết. Công lao đức độ của người đó cũng không có gì đặc biệt. Cảm xúc của người đứng tế cũng không đơn sắc… Thi hào đã đưa văn tế từ chỗ là thể loại "kính nhi viễn chi" (kính trọng nhưng xa lánh) thành thể loại giàu màu sắc thông tục.

Dùng văn tế, Nguyễn Du viết Chiêu hồn thập loại chúng sinh đẫm nước mắt thương yêu đồng loại. Cũng dùng thể loại này, thi hào viết Sinh tế Trường Lưu nhị nữ không chút bi thương mà đậm đà chất hài hước dân gian của xứ sở Nghệ Tĩnh. Mạc Ngôn, nhà văn Trung Quốc từng nói hóm hỉnh rằng thể loại là chiếc lồng sắt nhốt những nhà văn kém tài. Còn Nguyễn Du làm chủ chúng. Đây không phải vấn đề tài năng chung chung mà căn nguyên ở chỗ thi hào đã sống sâu sắc với những tình huống của đời sống. Điều này càng có ý nghĩa trong văn học trung đại, khi mà các chuẩn mực của thể loại tồn tại lâu dài, bền vững. Với trực cảm của một nghệ sĩ lớn, bằng tài năng sáng tạo, Nguyễn Du đã thể hiện ý thức dân chủ hóa văn chương.

 

Chú thích

1. Văn bản theo Nguyễn Du niên phổ và tác phẩm, Nguyễn Thạch Giang - Trương Chính (biên khảo và chủ giải), Nxb. Văn hóa Thông tin, 2001.

2. Thủ đoạn của nhà buôn, khi đi chợ thường có người cầm rổ đi theo để mồi chài dìm giá của người khác hay nâng giá của người cùng phe cánh.

3. Nguyễn Du niên phổ và tác phẩm, sđd, tr.480.

4. Phạm Tuấn Vũ, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu - một mối lương duyên giữa văn học dân gian và văn học Viết, Tạp chí Văn hóa dân gian số 5 (101), năm 2005, tr.37-41.         

 

Nghệ An đã trở thành tỉnh khá như mong muốn của Bác Hồ?

 

          LTS: Cách đây hơn 50 năm, trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi bức thư cuối cùng cho Đảng bộ và nhân dân Nghệ An. Đây cũng được xem là Di chúc Người dành cho quê hương. Trong thư, Bác căn dặn: "Nghệ An là một tỉnh rộng lớn, có tài nguyên phong phú, có nhân dân cần cù lao động và rất cách mạng. Rất mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc".

Để đánh giá lại chặng đường tỉnh Nghệ An đã nỗ lực thực hiện theo Di chúc của Người; đặc biệt để góp phần "hiến kế" các giải pháp trong phát triển kinh tế - xã hội trước thềm Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An tổ chức lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà quản lý,… Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

*   *

*

1. Ông Hồ Sĩ Hùy, nguyên Trưởng bộ môn Lịch sử Việt Nam - Khoa Sử, ĐH Vinh:

Bức thư cuối cùng của Bác gửi là di sản đối với Đảng bộ và

nhân dân tỉnh Nghệ An

          Ngày 14/6/1957, Bác Hồ về thăm quê hương lần thứ nhất. Bên đồng chí và người thân, Người lẩy Kiều: "Quê hương nghĩa trọng tình cao/ Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình". Tình nghĩa của Người đối với quê hương thật sâu nặng! Theo thống kê bước đầu của chúng tôi, từ năm 1930 đến lúc mất, Người có 9 bài báo, 31 bức thư, 10 bài nói chuyện, 3 bức điện, 2 lần về thăm, 1 lời đề tựa nói đến quê hương Nghệ An hoặc trực tiếp trò chuyện thân tình với nhân dân, cán bộ Nghệ An. Là người con của quê hương Người, dân Nghệ An ai mà chẳng tự hào!

          Đặc biệt, trong bức thư cuối cùng ngày 21/7/1969 gửi Ban Chấp hành Đảng bộ và nhân dân Nghệ An, Bác chỉ ra tiềm năng to lớn của Nghệ An và nêu mong muốn thiết tha của Người đối với tỉnh nhà: "Nghệ An là một tỉnh rộng lớn, có tài nguyên phong phú, nhân dân cần cù lao động và rất cách mạng. Bác mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc".

          Ý nghĩa bức thư thật sâu sắc! Nó có tác dụng động viên cổ vũ và nhắc nhở cán bộ, nhân dân tỉnh ta nỗ lực phấn đấu. Bác Hồ đã chỉ ra tiềm năng to lớn của tỉnh ta. Từ đó đòi hỏi chúng ta phải tìm ra nguyên nhân vì sao Nghệ An chưa thực hiện trọn vẹn lời Người dạy để khắc phục.

          Công bằng mà xét, 52 năm thực hiện bức thư cuối cùng Bác Hồ gửi quê hương, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An đã có nhiều thành tích trong xây dựng tỉnh nhà. Từ một tỉnh thường xuyên thiếu đói, thiên nhiên khắc nghiệt, Nghệ An đã đạt sản lượng lương thực mỗi năm trên một triệu tấn, sản xuất nông nghiệp đi mạnh vào sản xuất hàng hóa và ứng dụng công nghệ cao. Tỉnh đã và đang thu hút các tập đoàn kinh tế lớn trong nước và quốc tế xây dựng khu kinh tế Đông Nam, các khu công nghiệp ở Bắc Vinh - Nam Cấm, Hoàng Mai - Đông Hồi, Việt Nam - Singapore (VSIP), KCN WHA Nghệ An (Thái Lan), khu nông nghiệp công nghệ cao Phủ Quỳ…     

          Đến nay Nghệ An tuy chưa trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc như Bác hằng mong, nhưng rõ ràng là đang trên đà tiến tới đạt mục đích đó. Nhưng còn nguyên nhân chưa đạt:

          1. Bác từng nói "một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền"!... "Tự mình phải chính trước mới giúp người khác chính. Mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý"…" Mình trước hết phải siêng năng trong sạch mới bảo người ta trong sạch siêng năng được" v.v… Các đồng chí lãnh đạo phải khắc sâu những lời dạy đó! Nói học Bác thì quá khó, xin các vị lãnh đạo hãy học tấm gương đồng chí Trương Đình Tuyển người Diễn Châu (Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An 2/2000 đến 8/2002).         

          2. Những lời Bác dặn cán bộ, đảng viên trong thư này: cần đề cao chữ Dân, luôn lấy dân làm gốc, "tích cực thực hiện dân chủ với nhân dân hơn nữa",… "hết sức chăm lo đời sống nhân dân", khuyến khích nhân dân tham gia xây dựng Đảng, góp ý kiến về việc chọn người vào Đảng, tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, để mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân ngày càng thêm gắn bó máu thịt. Bác yêu cầu cán bộ, đảng viên phải không ngừng "nâng cao đạo đức cách mạng, đổi mới phong cách và phương pháp công tác", "cố gắng sát dân"… thì cán bộ, lãnh đạo ngày nay cần thực hiện nghiêm những lời Bác dạy đó.

          3. Con người là vốn quý nhất, nhất là các bậc hiền tài. Người xưa nói: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia". Trong lịch sử xưa nay, Nghệ An có rất nhiều bậc hiền tài! Ngày nay họ đã được trọng dụng ra sao? Có phải ta còn chọn người nhà, người cùng cánh? Tại sao Nghệ An từ lâu đây đó vẫn lưu truyền câu nói: "Giàu có thì ghét, đói rét thì khinh, thông minh không sử dụng"? Có phải ta đã để người tài tỉnh nhà không chịu lập nghiệp ở quê hương?

 

2. PGS.TS Nguyễn Đăng Bằng - Nguyên Trưởng khoa Kinh tế, Đại học Vinh:

Xét toàn diện Nghệ An thật sự là tỉnh khá cả kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và an ninh quốc phòng

          Phải nói rằng, suốt nhiều thập kỷ qua Đảng bộ và nhân dân Nghệ An luôn trăn trở về lời dặn trong thư của Bác: "rất mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá của miền Bắc".

          Lời dặn của Bác Hồ:

          Bác về nước năm 1941, cho đến khi đi xa, Bác về quê chỉ có 2 lần. Nhưng trong tâm trí Bác quê hương Nghệ An vẫn là nỗi niềm đau đáu, nhớ thương day dứt. Ngày 21/7/1969 trước lúc đi xa không đầy 2 tháng Bác đã viết bức thư cuối cùng gửi Đảng bộ và nhân dân Nghệ An. Từ đó đến nay đã hơn 50 năm, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An luôn quyết tâm thực hiện cho được lời di nguyện của Bác trước lúc đi xa, đó là "phấn đấu để Nghệ An trở thành một trong những tỉnh khá nhất của miền Bắc".

          Vậy "tỉnh khá" trong tâm nguyện của Bác là thế nào? Tại thời điểm năm 1969 Nghệ An chưa là tỉnh khá, nhưng đến nay đã là tỉnh khá chưa? Tỉnh khá theo di nguyện của Bác là gì? Cần phải làm rõ vấn đề này trước khi tìm lời giải bài toán phát triển của Nghệ An. Đâu là vấn đề mà Bác nhắc nhở Nghệ An phải làm? Đó là: "Tích cực thực hiện dân chủ với nhân dân hơn nữa. Khôi phục và phát triển kinh tế. Hết sức chăm lo đời sống nhân dân và cố gắng góp nhiều công sức hơn nữa để cùng quân và dân cả nước đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược". Có nên coi đây là 4 nội dung của một tỉnh khá không? Trong 4 nội dung trên bao gồm cả kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng. Như vậy chúng ta không nên nhìn phiến diện chỉ tập trung vào mục tiêu phát triển kinh tế. Cần nhấn mạnh thêm mục tiêu dân chủ với nhân dân, chăm lo đời sống của nhân dân và củng cố an ninh quốc phòng.

          Công bằng mà nói nếu xét về 4 tiêu chí trên thì Nghệ An hiện nay đã là tỉnh khá của cả nước. Thật không công bằng khi mặc định Nghệ An là tỉnh nghèo, chậm phát triển. Tôi thấy hiện nay Nghệ An đã là tỉnh khá của cả nước, chứ không phải riêng miền Bắc. Về tất cả các mặt Nghệ An đứng thứ 15/63 tỉnh thành. Có mặt Nghệ An thuộc top thứ 10 của cả nước. Vậy Nghệ An đã là tỉnh khá. Xét toàn diện Nghệ An thật sự là tỉnh khá cả kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và an ninh quốc phòng. Giờ đây Nghệ An đang phấn đấu trở thành tỉnh giàu của cả nước. Để đạt được mục tiêu trên, Nghệ An cần vượt qua khó khăn, hạn chế cố hữu của mình.

Hạn chế:

          Nghệ An vẫn tồn tại những hạn chế mà Bác Hồ đã chỉ ra. Câu hỏi: Vì sao Nghệ An là tỉnh lớn, dân cần cù, giàu tài nguyên, vị trí địa lý thuận lợi mà tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm hơn so với các tỉnh khác trong khu vực (Thanh Hóa, Hà Tĩnh)?

          Là do: Chưa cân đối được ngân sách hàng năm (tổng thu NS đạt 60% tổng chi NS); Chưa có ngành công nghiệp mũi nhọn, mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế; Đầu tư vào Nghệ An (nhất là đầu tư nước ngoài) qui mô nhỏ, vốn mỏng, công nghệ thấp, đầu tư núp bóng; Nông nghiệp chưa  có sản phẩm cạnh tranh cao, chưa tương xứng với tiềm năng đất đai, rừng, biển, nhất là miền Tây Nghệ An. Chủ trương đúng nhưng thiếu giải pháp mạnh; Cơ sở hạ tầng tuy phát triển nhanh nhưng thiếu đồng bộ, thiếu tầm nhìn dài hạn; Chưa chú trọng phát triển, ứng dụng công nghệ cao trong đầu tư phát triển. Có rất nhiều dự án nhưng do công nghệ thấp nên sản phẩm làm ra thiếu tính cạnh tranh cao; Chiến lược dài hạn còn thiếu, quy hoạch không ổn định, chính sách chưa đủ mạnh kích thích tăng trưởng kinh tế; Tình trạng tham nhũng nhất là trong lĩnh vực đất đai chậm bị đẩy lùi, gây bức xúc trong dư luận.

          Nguyên nhân:

          Tư duy lãnh đạo của Nghệ An thiếu tính đột phá, mạnh mẽ, quyết đoán, vì thế Nghệ An bỏ lỡ nhiều cơ hội đầu tư mà đến nay rất khó để đối sánh được với Thanh Hóa và Hà Tĩnh. Theo cách nói của các chuyên gia là Nghệ An quá cầu toàn. Chúng ta đang ở trong kỷ nguyên số, cách mạng công nghiệp 4.0, thời gian cũng là một thước đo thiệt - hơn. Sớm hơn 1 ngày đã khác, còn chậm hơn 1 ngày thì chúng ta hoàn toàn thất bại. Tại sao Trung Quốc có thể làm và thông qua luật chỉ trong vòng 3 tháng, còn Tổng thống Mỹ có thể thông qua được 1 luật sau khi ngủ dậy? Nếu chúng ta không thay đổi tư duy theo kiểu xếp hàng hoặc chính trị hóa các quan hệ xã hội như hiện nay thì rất nguy hiểm.

          Nền hành chính của Nghệ An cồng kềnh và kém hiệu quả. Nếu chúng ta chậm đổi mới thích ứng với cơ chế thị trường thì sẽ khó làm doanh nghiệp hài lòng. So với một số tỉnh lân cận, một số công chức hành chính của chúng ta như các ông vua con, sách nhiễu, gây khó khăn, chậm trễ trong giải quyết các thủ tục hành chính, lơ là trong thi hành công vụ. Công tác kế hoạch, quy hoạch chưa thật sự hợp lý, thiếu tính khả thi. Vì vậy đầu tư không hiệu quả. Thường xuyên điều chỉnh quy hoạch vì thiếu các điều kiện thực hiện nó, hoặc bị lợi ích nhóm chi phối.

Tiềm năng con người và công nghệ khai thác chưa hiệu quả. Bác Hồ nói người Nghệ An cần cù, yêu nước. Chưa lúc nào Bác nói người Nghệ An thông minh, càng không nói "địa linh nhân kiệt". Câu chữ của Bác dùng có ý tứ, cân nhắc. Không nên nói nhiều về sự thông minh tài giỏi của người Nghệ An. Nói Nghệ An rất nhiều người tài thế mà tại sao ở Nghệ An không phát huy được? Theo tôi chủ yếu là do thiếu cơ chế, chính sách phù hợp, thiếu quyết tâm chiến lược của người đứng đầu.

          Môi trường tự nhiên xã hội cũng là một nhân tố gây khó dễ cho Nghệ An: Thời tiết khắc nghiệt, nắng gió, mưa bão nhiều, dẫn đến chi phí sản xuất quá cao.

 

3. Ông Trần Quốc Thành - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An:

Phát triển lực lượng doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển chưa thực sự là nhiệm vụ trọng yếu của các cấp chính quyền mà đang nặng về xem doanh nghiệp là đối tượng quản lý

          Cho đến hôm nay (năm 2020) việc Nghệ An có bước phát triển vượt bậc so với chính mình thì bất cứ ai cũng đều cảm nhận được.

          Nhưng so với tiềm năng và mong mỏi thì ai cũng băn khoăn, nuối tiếc. Rằng một vùng đất rộng, nhiều tiềm năng, đa dạng thổ nhưỡng, địa hình; vùng đất với nhiều người giỏi, tài năng,.. Sao vẫn chưa giàu? Vẫn chưa đạt như Bác Hồ mong muốn?

          Nguyên nhân thì nhiều và đã được đánh giá ở nhiều cuộc tổng kết, hội thảo, ở đây tôi chỉ tiếp cận một góc cạnh nhỏ đó là: Doanh nghiệp.

          Bất kỳ ở đâu, nếu doanh nghiệp ít hoặc nhỏ thì nếu có nguồn lực đổ vào, quyết tâm chính trị đến đâu thì cũng chỉ ở mức xoá đói giảm nghèo và từ từ khá lên mà thôi! Vì suy cho cùng, doanh nghiệp là chủ thể của nền kinh tế. Doanh nghiệp là nơi tổ chức sản xuất hàng hoá, tạo sản phẩm giá trị gia tăng, là nơi tạo việc làm, là nơi đóng góp ngân sách, thậm chí hỗ trợ cả an sinh xã hội, là đầu tàu dẫn dắt nông dân, hộ kinh doanh cá thể và kể cả làng nghề tiểu thủ công nghiệp…

Muốn làm giàu thì phải có lực lượng doanh nghiệp mạnh và đông.

          Tuy nhiên, lực lượng doanh nghiệp của Nghệ An rất ít mà còn yếu nữa. Theo số liệu thống kê, luỹ kế đến đầu năm 2020, Nghệ An có 23.039 doanh nghiệp đăng ký, trong đó đang hoạt động gần 13.000 doanh nghiệp. Nếu tính bình quân ta thấy ở tỉnh ta, cứ 254 người mới có 01 doanh nghiệp (đang hoạt động). Nhìn sang tỉnh bạn (những tỉnh tạm gọi là khá giàu): Bình Dương có 44.600 doanh nghiệp đăng ký và 30.900 doanh nghiệp đang hoạt động, bình quân 71 người/doanh nghiệp; Bắc Ninh có 16.240 doanh nghiệp đang hoạt động, bình quân 80 người/doanh nghiệp. Như vậy, bình quân đầu người thì các tỉnh bạn gấp trên 03 lần Nghệ An. Nếu nhìn sâu hơn ta còn thấy, ở Bình Dương số doanh nghiệp hoạt động chiếm 69% số đăng ký (tương đương thế giới) so với 56,4% của Nghệ An.

Từ đó, ta thấy được gốc của vấn đề. Mặc dù rằng mọi so sánh đều khập khiễng! Trong khi đó, Nghệ An chưa có một chương trình cụ thể về phát triển doanh nghiệp mà đang còn nằm ở các nhiệm vụ, chương trình, đề án khác nhau và tương tự thế các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cũng nằm rải rác, thậm chí có người còn cho rằng đang thiếu bình đẳng! Phát triển lực lượng doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển chưa thực sự là nhiệm vụ trọng yếu của các cấp chính quyền mà đang nặng về coi doanh nghiệp là đối tượng quản lý.

          Chúng ta đang xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2020 - 2030 và tầm nhìn 2045. Một vấn đề cốt lõi nhằm thực hiện được tầm nhìn, mục tiêu dài hạn thì rất cần tỉnh xây dựng Chương trình phát triển lực lượng doanh nghiệp trên tinh thần thực hiện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ 2017. Trong đó tập trung một số vấn đề sau:

          Kiến nghị Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết phát triển doanh nghiệp tỉnh Nghệ An  giai đoạn 2020 - 2030 để chỉ đạo toàn bộ hệ thống vào cuộc. Trong đó cần nhấn mạnh để mọi cán bộ đảng viên nhận thức sâu sắc nhiệm vụ xây dựng lực lượng doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển là nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên. Doanh nghiệp vừa là đối tác, vừa là đối tượng quản lý của chính quyền các cấp. Định hướng chương trình chính sách, cơ chế hỗ trợ phát triển doanh nghiệp. Mục tiêu phát triển lực lượng doanh nghiệp.

          Xây dựng mục tiêu số lượng doanh nghiệp đến năm 2025, 2030 theo tiêu chí bình quân đầu người để có quyết tâm chính trị cao. Nên chăng đưa mục tiêu đến năm 2025 bình quân 150 người có 1 doanh nghiệp đang hoạt động (khoảng 20.000 doanh nghiệp), đến năm 2030 là bình quân 100 người có 1 doanh nghiệp hoạt động.

          Muốn vậy, trước hết cần rà lại lực lượng hộ kinh doanh cá thể để hỗ trợ nâng họ thành doanh nghiệp. Nghệ An có khoảng 27.000 hộ kinh doanh cá thể hoạt động rất hiệu quả đóng góp trên 30% GRDP. Đây là nguồn cực kỳ quan trọng có thể nâng lên thành doanh nghiệp. Vấn đề là hỗ trợ họ như thế nào để họ muốn lớn lên! Và phải tìm hiểu kỹ vì sao họ không muốn lớn về hình thức?!

Cần kích hoạt mạnh hơn nữa để mọi người khởi nghiệp và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở tất cả các lĩnh vực, mọi tầng lớp, nhất là ở giới trẻ khởi nghiệp ở chính quê hương mình.

          Để thực hiện mục tiêu trên rất cần tỉnh tiến hành giao chỉ tiêu cho từng huyện, thành, thị hàng năm và 5 năm. Bởi vấn đề hỗ trợ thành lập và quản trị rất cần Nhà nước (có thể thông qua Hội doanh nghiệp).

Trên cơ sở Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, tỉnh cần xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ để xây dựng lực lượng doanh nghiệp, trong đó hỗ trợ tách bạch từng nhóm như sau:

          + Hỗ trợ xúc tiến thành lập: tư vấn, đào tạo tập huấn, tuyên truyền, vận động,..

          + Hỗ trợ sau khi thành lập: thuế, phí, vốn, tiếp cận đất đai, công nghệ, đào tạo nhân lực… Chính sách này cần nhắm vào đối tượng doanh nghiệp trẻ dưới 5 tuổi (đây là giai đoạn dễ bị phá sản).

          + Hỗ trợ doanh nghiệp phát triển: đây là đối tượng trên 5 tuổi để họ tiếp tục đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm sáng tạo, phát triển thị trường,... Cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn tham gia thực hiện đầu tư công, dịch vụ công,…

Hội doanh nghiệp Nghệ An cần phát huy vai trò của mình trong chức năng hỗ trợ doanh nghiệp thành viên phát triển, đồng thời hỗ trợ đầu tư dẫn dắt các doanh nghiệp khởi nghiệp. Chính quyền cần có cơ chế ủy thác cho Hội thực hiện các dịch vụ công  hỗ trợ doanh nghiệp theo chính sách.

          Tỉnh cần sớm hình thành Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển doanh nghiệp (bao gồm cả khởi nghiệp và có thể thực hiện theo cơ chế công - tư, Hội doanh nghiệp có thể điều hành).

          Định kỳ (có thể 1 - 2 tuần/1 lần) lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo huyện gặp gỡ doanh nhân để lắng nghe, tháo gỡ.

          Đổi mới công tác thu hút đầu tư một cách chuyên nghiệp bài bản. Trên cơ sở định hướng cơ cấu kinh tế xã hội cần thu hút có trọng điểm một số đối tác nhà đầu tư chiến lược để tạo sự bứt phá, lan tỏa, là đầu kéo lực lượng doanh nghiệp.

Cải cách hành chính theo hướng phục vụ doanh nghiệp, phục vụ nhân dân. Sớm đưa vào hoạt động Trung tâm hành chính công cấp tỉnh, cấp huyện với ứng dụng công nghệ thông tin nhằm giám sát, lưu vết, định ngày xử lý của các chuyên viên, trưởng phòng, lãnh đạo ở mọi thủ tục.

          Có cơ chế để doanh nghiệp đánh giá các sở, ngành, huyện và thậm chí kể cả lãnh đạo, chuyên viên để khen thưởng, xử phạt kịp thời, cũng như để biết mà sửa chữa, sắp xếp lại.

          Thực hiện các chính sách đó đối với doanh nghiệp thì sẽ góp phần đưa tỉnh Nghệ An trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc như mong muốn của Bác Hồ.

 

4. Ông Trương Công Anh - Nguyên Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy:

Đã "mở", Nghệ An càng phải "mở" mạnh hơn, rộng hơn; cả mở lòng, mở tâm, mở trí

          Cho đến hôm nay (năm 2020) Nghệ An vẫn chưa trở thành tỉnh khá như mong muốn của Bác Hồ, vì sao? Có thể về những lẽ sau đây:

          Về khách quan:

          Điều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế khó lớn hơn, nhiều hơn so với thuận lợi. Trên tất cả các yếu tố về địa lý tự nhiên nếu so sánh Nghệ An với Thanh Hóa - Hà Tĩnh thì hầu như không có "lợi thế so sánh" nào rõ rệt (trừ diện tích lớn hơn và có vùng đất đỏ bazan).

          Điều kiện xã hội (hay môi trường xã hội) do lịch sử để lại không mấy "thuận" để phát triển kinh tế hàng hóa lớn, kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế "mở", hội nhập,… Nói cách khác, Nghệ An bị "trôi" và tự "trôi" quá lâu, quá chặt trong nền sản xuất nhỏ tự túc tự cấp; trong kinh tế kế hoạch hóa, tập trung (mà ta hay nói là quan liêu bao cấp).

Điểm xuất phát của Nghệ An (và cả Thanh Hóa - Hà Tĩnh) thấp. Cơ sở hạ tầng (cả cứng và mềm) chưa đáp ứng được yêu cầu để phát triển nhanh, bền vững. Nguồn lực (tài chính) để đầu tư chủ yếu dựa vào ngân sách trung ương, dựa vào vốn đầu tư bên ngoài. Vốn đầu tư tại nội tỉnh (từ nguồn vốn trung ương đến ngân sách tỉnh) hạn hẹp.

          Về chủ quan:

          Ở mức độ nào đó, "ta" nhìn nhận "ta" hơi lệch giữa mạnh với yếu, giữa thuận lợi với không thuận lợi, giữa tích cực với hạn chế của điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và con người Nghệ An. Hơi quá nhấn mạnh điểm mạnh, điều thuận, mặt tích cực. Ngược lại hơi thiếu nhận ra những trở lực (có khi là vô hình) của điểm yếu, điều không thuận, mặt hạn chế. "Ta" nhìn nhận "ta" hơi lệch như trên dẫn đến một thực tế (trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành) là không quan tâm ở mức tối thiểu cần thiết tháo gỡ các rào cản những trở lực để tiến lên.

          - Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Nghệ An chưa có khát vọng ở mức cần thiết để chiến thắng nghèo nàn - lạc hậu.

          - Các nguyên nhân về đội ngũ cán bộ:  "Người đứng đầu" tỉnh, huyện chưa thật tâm huyết với tỉnh, với huyện. Cán bộ người địa phương phần đông hướng về Hà Nội, về Vinh. Cán bộ trung ương "luân chuyển" về tỉnh, cán bộ tỉnh "luân chuyển" về huyện phần đông lo "tròn" để lại về trung ương, lại về tỉnh là chính. Còn lo gì cho tỉnh, cho huyện thì không rõ. Từ sau Đại hội đảng bộ tỉnh đến nay, "Người đứng đầu" tỉnh thay đổi quá nhanh, quá nhiều. Nhất là cán bộ do trung ương "luân chuyển" về (ở khía cạnh này theo tôi trung ương có một phần trách nhiệm).

          Nghệ An không thiếu những chương trình, dự án,… để thúc đẩy phát triển về kinh tế - xã hội, càng không thiếu quy hoạch ngành, lãnh thổ, cây, con chủ lực,… Nhưng hiệu quả thực hiện các chương trình, dự án, quy hoạch,… ấy lại không như mong muốn. Có nhiều lý do, nhưng lý do chính là Nghệ An rất thiếu một đội ngũ cán bộ đồng bộ, đủ tâm, đủ trí để chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án, quy hoạch,... ấy. Nói cách khác khi xây dựng chương trình, dự án, quy hoạch ta mới chỉ đưa ra các giải pháp về cơ chế, về chính sách, về nguồn lực đầu tư mà không hề có giải pháp về đội ngũ cán bộ tương ứng và tương xứng.

Để khắc phục những hạn chế đó, theo tôi: Bằng nhiều cách thức để khơi dậy, nuôi dưỡng, và thổi bùng lên khát vọng Nghệ An trong khát vọng dân tộc.

          Đã "mở", Nghệ An càng phải "mở" mạnh hơn, rộng hơn; cả mở lòng, mở tâm, mở trí. Mở để tự cởi trói. Mở để đưa vào thêm nhiều cái mới (thay cho cái cũ không còn phù hợp). Mở để hút thêm nguồn lực (hiểu theo nghĩa rộng) từ ngoài vào.

          Xây dựng đội ngũ cán bộ (cán bộ hiểu theo nghĩa đầy đủ nhất), tương ứng tương xứng (qua sử dụng, bồi dưỡng, đào tạo,…) với các chương trình, dự án… phát triển kinh tế - xã hội cho 5-10 năm tới ở phạm vi toàn tỉnh và cả ở phạm vi vùng miền.

          5. Ông Nguyễn Khắc An - Hiệu trưởng Trường Trung học Kinh tế Kỹ thuật Vinh:

          Mỗi khi chúng ta còn lấy sự tăng trưởng theo mô hình "Năm sau cao hơn năm trước" làm thỏa mãn thành tích thì lúc ấy danh hiệu tỉnh khá vẫn là một đích đến ngoài tầm

          Theo cách hiểu thông dụng thì "khá" nằm trên mức trung bình, còn "khá nhất" chắc lại phải cao hơn một cấp độ nữa. Như vậy khi Bác nói "Nghệ An trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc" có lẽ là Bác đang muốn tỉnh nhà nằm trong tốp đầu. Từ cách suy luận như vậy, chúng ta có thể tạm phân chia thành 3 giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất, thực hiện lộ trình đi từ nghèo lên mức trung bình. Giai đoạn thứ hai, thực hiện lộ trình từ trung bình lên khá. Cuối cùng là thực hiện lộ trình từ khá lên nhóm khá nhất.

          Trước hết xin được đặt câu hỏi rằng chúng ta đã "khá" được đến đâu? Nghệ An đang ở vị trí nào trên bản đồ kinh tế xã hội "miền Bắc"? Công bằng mà nói, những thập kỷ gần đây Nghệ An chúng ta đã có những bước tiến dài trên tất cả các lĩnh vực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 5 năm 2006 - 2010 đạt 9,75%. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 7,89%. Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2015 - 2018 tương đương 8%/năm. Riêng năm 2019 (cũng là năm cao nhất) GRDP tăng trưởng đạt 9,03%; GRDP bình quân đầu người năm 2019 đạt 43,08 triệu đồng. Như vậy trong vòng 15 năm lại nay kinh tế Nghệ An liên tục tăng trưởng khá, cao hơn mức trung bình cả nước. Đặc biệt cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng từ 77,62% năm 2018 lên 78,64% năm 2019; tỷ trọng khu vực nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 22,38% năm 2018 xuống còn 21,36% năm 2019.

          Bên cạnh kinh tế thì trên tất cả các lĩnh vực, trong các báo cáo đều thể hiện hết sức khả quan. Văn hóa xã hội có nhiều chuyển biến tích cực. An ninh quốc phòng được giữ vững. Cải cách hành chính có nhiều tiến bộ…  Theo báo cáo thì 27 trên 27 chỉ tiêu đề ra đều đạt và vượt. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đã vươn lên đứng thứ 19 cả nước. Rõ ràng đó là những điểm sáng tích cực cho bức tranh kinh tế xã hội tỉnh nhà. Chỉ tiếc duy nhất một điều: Nghệ An vẫn chưa trở thành tỉnh khá.

          Lâu nay hình như người dân chúng ta chỉ nhắc đến sự tăng trưởng lạc quan của mình trong một trạng thái tĩnh. Nghĩa là đang so sánh chúng ta với chính chúng ta, quên mất rằng, trong lúc chúng ta lớn lên thì các địa phương khác cũng trưởng thành. Chúng ta so sánh trục dọc mà quên mất trục ngang. Mỗi khi chúng ta còn lấy sự tăng trưởng theo mô hình "Năm sau cao hơn năm trước" làm thỏa mãn thành tích thì lúc ấy danh hiệu tỉnh khá vẫn là một đích đến ngoài tầm. Thử một chút so sánh nhỏ thôi: Theo như báo cáo của tỉnh Hà Tĩnh tại phiên làm việc với Thủ tướng Chính phủ ngày 4/ 3/ 2020, thì năm 2019 Hà Tĩnh tăng trưởng gần 11%, đứng thứ 2 khu vực Bắc Trung bộ; quy mô nền kinh tế đạt gấp 1,5 lần so năm 2015; thu nhập bình quân đầu người đạt 62 triệu đồng/năm. Còn theo báo cáo được trình bày tại kỳ họp HĐND tỉnh Thanh Hóa thì năm 2019 tỉnh này có tốc độ tăng trưởng (GRDP) đạt tới 17,15%. Như vậy trong lúc chúng ta tăng trưởng 9% thì Hà Tĩnh 11% và Thanh Hóa 17%. Xét về tăng trưởng thì rõ ràng hai người hàng xóm của chúng ta "khá" hơn rất nhiều. Đấy là chưa so sánh với tốp đầu, nếu  lấy (GRDP) bình quân đầu người của chúng ta (xấp xỉ 40 triệu) mà so sánh với tỉnh "khá nhất" của miền Bắc là Bắc Ninh (150 triệu) thì chúng ta mới chỉ bằng khoảng một phần tư thôi. Một khoảng cách quá xa trong lúc mình tiến lên thì các tỉnh bạn cũng không dừng lại "chờ".

          Từ vài phép so sánh đơn giản trên đây cũng đủ cho chúng ta khẳng định, Nghệ An không thể trở thành tỉnh khá nếu không có những cú bứt phát thần kỳ. Rất tiếc đó là điều mà cả nỗ lực lẫn năng lực của chúng ta mấy chục năm qua đều chưa chạm đến điểm cuối cùng. Chúng ta vẫn thường nghe: "Nghệ An như một quốc gia thu nhỏ. Nghệ An có rất nhiều lợi thế, con người xứ Nghệ thông minh, cần cù, chịu thương chịu khó. Nghệ An có cảng biển, ga tàu, sân bay, bãi tắm, có cả di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại… Nghệ An là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, là quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu...". Đó là cách chúng ta lâu nay nhìn về lợi thế. Lợi thế vô cùng quan trọng nhưng không phải là yếu tố quyết định. Không bỏ hoang lợi thế, nhưng nếu ỷ lại vào lợi thế, coi lợi thế như bảo bối không phải con đường phẳng phiu để đi đến thành công. Chúng ta biết 70% lãnh thổ đất nước Israel là sa mạc, nhưng cũng 70% lượng nước sử dụng của đất nước này là đến từ nguồn tái chế. Nền nông nghiệp diệu kỳ của đất nước diệu kỳ Israel chống lại mọi lý thuyết về lợi thế. Tất nhiên rồi, chúng ta không phải là Israel bởi vì chúng ta có nhiều lợi thế hơn họ.

          Tôi đã từng đọc đâu đó các văn bản nói về những tồn tại hạn chế, đại ý: "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế từng ngành, từng lĩnh vực, từng vùng còn chậm, chưa phát huy được lợi thế, tiềm năng của từng vùng, chưa theo kịp sự biến động nhanh của thị trường trong và ngoài nước; nhiều tiềm năng chưa được khai thác tốt; trình độ công nghệ và năng lực tiếp nhận chuyển giao công nghệ nhìn chung còn yếu kém; hạ tầng kinh tế xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển; quản lý quy hoạch chưa tốt; cải thiện môi trường thu hút đầu tư chuyển biến chậm; chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu; cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính chưa đồng bộ…".

          Chúng ta gọi tên các nhược điểm, nhưng lại thiếu phương pháp khắc phục nó. Biên độ của thay đổi đôi khi tùy thuộc vào biên độ của kỳ vọng. Một cuộc bứt phá ra khỏi cái tư duy "năm sau cao hơn năm trước" hình như vẫn đâu đó bên ngoài những giải pháp căn cơ. 10 chữ: "Khơi trong, hút ngoài, đoàn kết, tiến công, tăng tốc" là phát biểu của một đồng chí lãnh đạo tỉnh nhà cách đây tròn 18 năm. Nếu hôm nay ai đó nói lại câu này thì khả năng sai vẫn rất ít. "Khơi trong, hút ngoài" tức là khai thác lợi thế, "đoàn kết" là môi trường, "tiến công, tăng tốc" là quyết tâm chính trị. Gọi đúng rồi mà vẫn không "khá" lên được là tại sao? Mọi thành công vẫn từ con người. Câu chuyện "minh chủ" một lần nữa xin được nhắc đến. Chắc chắn cán bộ tỉnh nhà không hề bất tài, nhưng bất ổn định (theo nghĩa ổn định vị trí công tác). Để có được một Đà Nẵng đáng sống như hôm nay thì lãnh đạo ở đó là đồng chí Nguyễn Bá Thanh nhận nhiệm vụ chủ tịch năm 1996 và rời Đà Nẵng với cương vị Bí thư năm 2013. Còn Nghệ An chúng ta thì lại khác. Những cán bộ có tâm có tài của tỉnh nhà lần lượt được TW điều động. Vinh dự cho tỉnh lớn bao nhiêu thì cũng thiệt thòi cho tỉnh nhiều bấy nhiêu. Hình như đã có một bài viết nào đó thống kê rằng 12 năm mà Nghệ An có tới 5 bí thư Tỉnh ủy. Và từ năm 2013 đến nay thì Nghệ An cũng đã có thêm ít nhất 2 đồng chí bí thư mới.

          Đã hơn 50 năm Bác đi xa, tâm nguyện cuối cùng của Người vẫn còn nguyên vẹn đó. Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần xác định đây là món nợ có giá trị lớn lao mà không được phép gia hạn thêm nữa. Riêng cá nhân tôi thì mong sao trong vòng 10 năm tới, tức là trong thập kỷ những năm 20 của thế kỷ 21 này chúng ta trả được cả "gốc" lẫn "lãi". Hai nhiệm kỳ bứt tốc để rồi đến dịp kỷ niệm 140 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An vinh dự báo công rằng đã hoàn thành tâm nguyện của Người.

          Lần này các đồng chí chủ trì của tỉnh nhà còn rất trẻ, được Đảng bộ và nhân dân đặt rất nhiều kỳ vọng. Mong sao các đồng chí có đủ thời gian, tâm huyết viết tiếp hành trình dở dang mấy chục năm qua. Nghệ An có nhiều lợi thế, nhưng giá trị nhất vẫn là tố chất con người. Sống dậy tiềm năng, hồi sinh sức mạnh, đổi mới giải pháp, trọng dụng nhân tài... Hãy thổi vào mỗi một người dân tinh thần bứt tốc để tăng trưởng. Chúng ta có đầy đủ sức mạnh nội sinh. Có lẽ cần một tinh thần cách mạng thực sự. Nếu quyết tâm chúng ta sẽ làm được, chúng ta sẽ đưa Nghệ An trở thành tỉnh "khá" mà không nhất thiết phải biến Nghệ An thành một tỉnh… khác.

 

6. Đại tá Nguyễn Khắc Thuần - Cựu chiến binh, nhà nghiên cứu Tp. Vinh:

Nhìn thẳng vào yếu, kém trong quản lý nhà nước về văn hóa để văn hóa thực sự là mục tiêu và động lực phát triển

          Nghị quyết trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã chỉ rõ: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Quán triệt tư tưởng đó năm qua với quan điểm xuyên suốt: Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người mới, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội đã được đại hội Đảng bộ tỉnh các nhiệm kỳ gần đây hết sức quan tâm, chú trọng và có nhiều biện pháp quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Nhờ vậy trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng chúng ta đã thu nhiều kết quả đáng kích lệ nhưng cũng bộc lộ nhiều yếu kém trong lãnh đạo chỉ đạo và tổ chức thực hiện, quản lý nhà nước về văn hóa dẫn đến môi trường văn hóa còn nhiều tồn tại bất cập. Cho nên với tinh thần "… ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất của miền Bắc" như lời Bác Hồ căn dặn 50 năm trước đã đến lúc chúng ta phải nhìn thẳng vào những hạn chế đó và tìm ra những giải pháp khắc phục khả thi.

          Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An các nhiệm kỳ vừa qua đã chỉ ra những hạn chế về lĩnh vực văn hóa, khắc phục còn chậm, biện pháp chưa đúng tầm, quyết liệt việc xây dựng và phát triển văn hóa mới tiến hành chủ yếu trong lĩnh vực văn hóa chưa tác động sâu rộng gắn bó chặt chẽ với kinh tế và chính trị, các hoạt động kinh tế nhất là của khu vực ngoài nhà nước và các khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thường ít hoặc chưa đạt được quan tâm đúng mức tới vai trò văn hóa trong phát triển. Nhiều dự án, chương trình phát triển kinh tế còn nặng về tính lợi ích kinh tế, coi nhẹ yếu tố văn hóa. Nền công nghiệp văn hóa phát triển còn chậm, hạ tầng kỹ thuật lạc hậu. Những thành tựu và tiến bộ đạt được về xây dựng đời sống văn hóa, con người văn hóa chưa tương xứng với phát triển và thiếu độ vững chắc. Những biểu hiện suy thoái đạo đức, lối sống, "nhạt Đảng, phai đoàn, mờ chính trị" phai nhạt lý tưởng, ý chí, niềm tin còn khá phổ biến. Nhiều tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, cờ bạc, bói toán… có chiều hướng gia tăng. Thói giả dối, bệnh thành tích, chạy chọt đang có xu hướng lan rộng. Nhiệm vụ xây dựng con người mới Nghệ An trong thời kỳ CNH, HĐH chưa tạo được sự chuyển biến rõ rệt cả về thể chất và tinh thần. Hiện tượng coi thường luật pháp, bạo hành trong gia đình, trường học, bệnh viện, cách ứng xử văn hóa nơi công cộng nhất là văn hóa trong giao thông, văn hóa trong gián cách xã hội những ngày chống dịch Covid - 19 vừa qua đang làm nhức nhối xã hội. Môi trường văn hóa trên mạng Internet, các trang mạng xã hội, blog cá nhân đang tạo ra những giá trị văn hóa ảo độc hại, chi phối mạnh mẽ đời sống tinh thần của người dân, nhất là giới trẻ.

          Tình trạng trên có nhiều nguyên nhân nhưng quan trọng nhất thuộc về chủ quan đó là sự buông lỏng quản lý của không ít cơ  quan chịu trách nhiệm về quản lý và bảo vệ văn hóa, sự thiếu hụt nhận thức về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của văn hóa trong phát triển.

          Từ những nhận thức trên vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa để văn hóa thực sự là mục tiêu và động lực tạo nên sự biến đổi to lớn trong đời sống xã hội, giữ vững sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội - quốc phòng - an ninh đất nước. Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng cần phải có những giải pháp quyết liệt, đồng bộ, căn cơ hơn, hiệu quả hơn nhằm xây dựng con người Việt Nam, con người xứ Nghệ phát triển toàn diện trong một môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú.

Cho nên, cấp ủy, chính quyền các cấp, hệ thống chính trị trong tỉnh cần nhìn thẳng vào những hạn chế về văn hóa, cả trong lãnh đạo chỉ đạo và tổ chức thực hiện, tập trung khắc phục nhanh, triệt để những thiếu sót, hạn chế, xây dựng các chuẩn mực đạo đức, hành vi ứng xử mà điểm khởi đầu là văn hóa trong lãnh đạo quản lý, văn hóa kinh doanh, sản xuất, chuẩn mực về văn hóa ứng xử trên các lĩnh vực đời sống xã hội (giữa con người với con người, giữa con người và tự nhiên) trong đó văn hóa nêu gương là cốt lõi. Phải có những giải pháp mạnh, đồng bộ tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, tinh thần trách nhiệm và tính chuyên nghiệp cao, có đạo đức lối sống văn hóa trong thực thi công vụ, phòng chống tham nhũng hiệu quả.

          Đã đến lúc chúng ta cần chú trọng hoàn thiện các thể chế nhằm khai thác tối đa hiệu quả kinh tế đối với các giá trị văn hóa, di sản văn hóa. Đầu tư thỏa đáng cả về nhân lực, vật lực nhằm bảo vệ, tôn tạo, nâng cao, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống xứ Nghệ, văn hóa các tộc người miền Tây Nghệ An. Quá trình xây dựng, thẩm định, phê duyệt các chương trình, dự án đầu tư cần phải đảm bảo lồng ghép và cân nhắc về phát triển bền vững nhất là văn hóa và môi trường, môi sinh. Kinh tế phát triển thì yếu tố văn hóa, hàm lượng văn hóa, nền công nghiệp văn hóa trong các hoạt động kinh tế-xã hội cần được nâng lên một cách đồng bộ tương xứng, hài hòa.

 

7. Ông Bùi Đình Sâm - Nguyên Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Nghệ An:

Nghệ An 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Nhận thức sâu sắc và những giải pháp mạnh mẽ, hiệu quả hơn

          Bức thư đầu tiên (17/9/1945) và bức thư cuối cùng (21/7/1969) Người gửi cho quê hương Nghệ An, trong đó nêu ra một số nội dung chủ yếu:

          Về đối tượng: Bác gửi cho hết thảy các tổ chức, cá nhân đồng chí, đồng bào, bộ đội, các giới, già, trẻ, gái, trai, tôn giáo, các lĩnh vực, các ngành,...

          Về nội dung, gồm:

          Những lời dặn dò, đặc biệt Bức thư cuối cùng (21/7/1969) là tâm niệm, lời chỉ dẫn, ước nguyện thiết tha, niềm tin tưởng lớn lao, tình cảm sâu đậm, nghĩa tình mà Người dành cho quê hương. Đây được coi như là bản Di chúc Người dành riêng cho quê hương.

          Khẳng định truyền thống của quê hương, cần giữ gìn và phát huy, đồng thời Bác yêu cầu phải có kế hoạch, biện pháp để không ngừng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

          Bác vui mừng cổ vũ, động viên tỉnh nhà giành được nhiều thắng lợi, đồng thời Bác thẳng thắn chân tình phê bình những thiếu sót, khuyết điểm mắc phải. Đặc biệt, Bác dặn dò việc tăng cường đoàn kết (Bài nói chuyện Hội nghị đại biểu nhân dân Nghệ An 14/6/19567, Bác nhắc 12 lần chữ "đoàn kết"; Bài nói chuyện 15/6/1957 với cán bộ, đảng viên Hà Tĩnh, Bác nhắc chữ "đoàn kết": 10 lần) và phải thực hiện dân chủ rộng rãi với nhân dân; Quan tâm sâu sắc đến sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh nhà, các cụ phụ lão...; Không ngừng phát triển giáo dục, đào tạo và thường xuyên chăm sóc, bồi dưỡng cách mạng cho thế hệ trẻ; Phải chú ý thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô, tham nhũng; Mong muốn cho Nghệ An mau trở thành tỉnh kiểu mẫu. Bác viết: "Nghệ An là một tỉnh rộng lớn, có tài nguyên phong phú, có nhân dân cần cù lao động và rất cách mạng. Rất mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc" (Trích Thư gửi Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Lao động Việt Nam tỉnh Nghệ An, Hà Nội 21/7/1969).

          Những mong muốn của Bác đã được các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra Nghị quyết, nhưng thực hiện chưa thành công. Mong muốn của Bác về Nghệ An "mau trở thành tỉnh khá của miền Bắc" chưa thành hiện thực, theo tôi có nhiều nguyên nhân, trong đó có:

          Nghệ An chưa có sự phát triển đột phá về kinh tế, nhất là kinh tế đầu tư. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của Nghệ An; Tuy có đường lối đúng, nhưng lãnh đạo, chỉ đạo chưa quyết liệt, liên tục, thường xuyên. Lãnh đạo, nhất là người đứng đầu thường thay đổi (Trung bình hơn 2 năm/ 1 đồng chí). Điều đó làm cho sự liên tục, tâm huyết, thực hiện ý tưởng... bị gián đoạn dẫn đến hiệu quả không cao. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa đạt mục tiêu đại hội đề ra. Công nghiệp, xây dựng gặp nhiều khó khăn. Một số dự án triển khai còn chậm so với dự kiến.

          Chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế về tự nhiên và con người Nghệ An trong và ngoài tỉnh. Năng lực làm việc của lãnh đạo, công, viên chức còn ở mức trung bình. Chỉ số cạnh tranh một số sản phẩm còn khiêm tốn.

          Công tác xây dựng đảng và hệ thống chính trị còn bất cập, hạn chế.

          Để thực hiện thành công tâm nguyện của Bác, trong thời gian tới Nghệ An cần có những giải pháp sau: Đảng bộ và nhân dân Nghệ An cần ý thức sâu sắc những lời căn dặn của Bác Hồ qua các thư, bài viết, bài nói của Người, đặc biệt là Bức thư ngày 21/7/1969. Tiếp tục thực hiện Thông báo 55 - TB/TW của BCT về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 26 của BCT, ngày 30/7/2013, về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Nghệ An đến năm 2020; Tạo sự đột phá về kinh tế nhất là kinh tế đầu tư (như Thanh Hóa, Hà Tĩnh); Chú trọng phát triển vùng sâu, vùng xa giảm hộ nghèo... bảo đảm giảm nghèo bền vững trên địa bàn toàn tỉnh; Phát huy tiềm năng, lợi thế so sánh, coi trọng phát triển doanh nghiệp, tăng cường xuất khẩu hàng hóa, xuất khẩu lao động; Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, nhất là đối với một bộ phận cán bộ có chức có quyền, các lĩnh vực nhạy cảm: đất đai, tài chính.

          Xây dựng đội ngũ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu gắn với Nghệ An, đủ thời gian trải nghiệm (ít nhất trọn 1 khóa). Thường xuyên giáo dục viên chức, công chức thực sự có phẩm chất, năng lực, gương. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

TÒA SOẠN

 

Thủy Hồ

Nề nếp suy nghĩ và hoạt động của mỗi người trong các gia đình, dòng họ từ nhiều đời đã đúc rút, tạo dựng nên phong cách bất thành văn trong việc xây dựng, sử dụng nhà ở của từng cộng đồng người. Nghệ An là vùng đất cổ, tài nguyên phong phú nhưng khí hậu khắc nghiệt, nhiều thiên tai địch họa. Trải qua hàng nghìn năm sinh sống ở hầu khắp các vùng đất ở Nghệ An, quanh năm phải đối mặt với mưa dầm, lũ lụt, gió Lào,… đã làm cho người Kinh có cách suy nghĩ tạo dựng nên những công trình kiến trúc phù hợp với phong thổ để có khả năng tồn tại lâu dài. Cách làm nhà truyền thống được tích lũy qua nhiều đời đã trở thành phong cách trong cộng đồng làng xã của người Kinh.

Để xây dựng được ngôi nhà, sử dụng chúng cho phù hợp với hoàn cảnh của mình, người Kinh phải tuân thủ, vận dụng sáng tạo những phần việc mang tính nguyên tắc đã được quy định theo phong tục riêng. Nề nếp được bắt đầu từ việc chọn đất, chọn hướng, chọn vật liệu, chọn ngày dựng nhà,… cho đến khi ngôi nhà được hình thành thì cách bài trí, sử dụng chúng cũng được cân nhắc kỹ lưỡng. Những gia đình nào tùy tiện phá lễ sẽ bị xem là báng bổ thần linh, bị cộng đồng dè bỉu, có nguy cơ không thể phát triển lâu dài được.

Mặc dù tuân thủ theo những nguyên tắc bất thành văn, nhưng cấu trúc ngôi nhà truyền thống của người Kinh được xây dựng tùy thuộc vào từng địa bàn cư trú, vào địa hình, khí hậu, phương thức sản xuất của từng vùng. Do đó nhà ở truyền thống của người Kinh có rất nhiều loại, gồm: Nhà tre có 2 kiểu nhà là nhà cột chôn và nhà cột kê; nhà gỗ có 3 kiểu nhà: nhà kèo, nhà chữ đinh, nhà xóc nách; Nhà ngói (nhà xây tường, khung gỗ, lợp mái) nhà tứ trụ, nhà tiền trụ hậu lẫm, nhà ba lòng, nhà hạ chạn (còn gọi là nhà cánh chạn),…

1. Nhà tre

Nhà tre hay còn gọi là nhà tranh vách đất, gồm có hai loại là nhà cột chôn và nhà cột kê. Trước đây, khi cuộc sống của người dân còn nghèo khổ, bần cùng thì nhà tre là loại nhà phổ biến nhất của người Kinh vì được xây dựng bằng các nguyên liệu sẵn có ở địa phương, trong đó nguyên liệu chủ yếu là tre, đất, đá, tranh, rạ… Cho nên, chỉ cần khoảng mấy chục cây tre, mấy trăm bó nứa, mấy chục bó rạ, đất đá,... thì đã có ngôi nhà tre đơn giản để ở. Việc làm tre đơn giản nên hầu như người đàn ông trong gia đình nào cũng nằm lòng kỹ thuật làm nhà.

Nhà cột chôn

Gọi là nhà cột chôn vì tất cả cột chính của ngôi nhà đều được chôn dưới đất với độ sâu khoảng 40-50cm. Tre là nguyên liệu chủ đạo của loại nhà này. Trước đây, tre được trồng rất nhiều do đó việc lựa chọn nguyên liệu này rất dễ dàng. Tre được chọn làm nhà thường là tre già, thân to thẳng, nhặt mắt,… Để tăng độ bền chắc của nguyên liệu, người Kinh thường đem tre ngâm dưới nước hoặc dưới bùn một thời gian để tre trở nên bền chắc, ít mối mọt và chống được mưa gió; mây giang thì đem gác bếp. Độ bền vững của nhà tre không cao vì ngoài bộ phận kèo có đục lỗ thì các bộ phận khác của khung nhà đều được buộc bằng dây lạt, hoặc dây mây. Thông thường nhà tre chỉ tồn tại được 5-6 năm, đó là chưa kể nếu gặp những cơn bão lớn, thì chỉ một trận gió cũng có thể cuốn bay nhà. Nhà tre thường được làm theo bố cục gian lẻ, hoặc là một gian hai hồi, hoặc là ba gian hai hồi,… tùy theo điều kiện của từng gia đình. Mái nhà được lợp bằng cỏ tranh hoặc rạ, có những vùng bán sơn địa như ở Quỳnh Lưu thì lợp bằng tranh săng. Cỏ tranh, rạ sau khi cắt về đem phơi khô đánh thành tranh rồi lợp, hay khi làm khung của mái nhà xong, phủ rạ lên rồi dùng dây lạt hoặc dây mây buộc chặt vào khung của mái nhà. Bức vách của nhà tre được làm từ những thanh tre chẻ đều, đan dày lại sau đó cột chặt vào các cột vách bằng dây lạt, hoặc dây mây. Sau khi làm bức vách, người Kinh trộn kỹ đất bùn với rơm khô và một phần nhỏ phân trâu bò rồi trát lên các bức vách của ngôi nhà. Ở một số nơi vùng ven biển, người dân còn dùng thứ vữa bằng vôi vỏ sò hến, nghiền nát, rây kỹ, trộn với cát, mật mía xấu, rơm nếp...

 Hai bên hồi thường được người dân sử dụng để cất, giữ các vật dụng, đồ dùng hay dụng cụ sản xuất như: cối xay lúa, cái cày, liềm,… Những khi mùa vụ thì hồi cũng là nơi để người nông dân để lúa trước khi trục lấy hạt.

 Nhà cột kê

Nguyên liệu, cách làm và bố cục nhà cột kê cũng giống nhà cột chôn. Tuy nhiên, các cột chính trong nhà được kê trên một viên đá hoặc khúc gỗ vuông chứ không chôn xuống đất như nhà cột chôn. Độ bền chắc của nhà cột kê cao hơn nhà cột chôn vì khi làm người ta đục lỗ cột, lỗ kèo rồi cho con xỏ vào cấu tạo nên vì nhà, tạo được độ chắc chắn. Các bộ phận khác như đòn nóc, đòn tay khi dựng mới dùng dây lạt, dây mây buộc vào kèo nhà, buộc rui vào đòn tay. Các bộ phận cần thiết khác cũng được cấu tạo như thế.

Thông thường những ngôi nhà được làm từ nguyên liệu tre mái trước mái sau đều hạ rất thấp, nên người Kinh có câu "vào bái nhà, ra bái ngõ" là vì thế. Trước cửa ra vào của ngôi nhà thường được chủ nhà trang trí rèm cửa. Rèm cửa được đan bằng tre vót nhỏ, hoặc bằng tranh giúp cho ngôi nhà mát hơn vào mùa hè, ấm áp hơn vào mùa đông, đồng thời cũng kín đáo hơn. Những gia đình khá giả thường đan rèm cửa cầu kỳ hơn, với những hoa văn họa tiết độc đáo, thậm chí còn có rèm chính, rèm phụ như một cách trang trí ngôi nhà, nhưng đối với những gia đình khó khăn có khi rèm cửa thay cho cửa ra vào, thậm chí có những ngôi nhà không có cả cửa cũng không có luôn cả rèm để che chắn, chỉ cài vài thanh gỗ nhỏ ngăn không cho người ngoài vào.

2. Nhà gỗ

Gọi là nhà gỗ nhưng trước đây, do điều kiện sống còn nhiều khó khăn nên chủ yếu là nhà gỗ lợp tranh, nhiều bộ phận khác của ngôi nhà cũng đều được làm bằng tre, đất, tranh, rạ,... Gỗ làm nhà cũng chỉ là những loại cây được trồng trong vườn hoặc xung quanh nhà như: mít, xoan, nhãn,... Gia đình nào có điều kiện thì có thể sử dụng những loại gỗ tốt hơn như đinh, lim, sến,…

Theo kinh nghiệm ngàn năm sống ở đồng bằng có nhiều cây cối thì người Kinh thường chọn những loại cây mọc trong vườn, hoặc ở gần nhà như mít, xoan, nhãn, tre,… để sử dụng làm khung nhà. Họ chọn những cây có tuổi từ 5-6 năm, chặt cây (đào cả gốc) đem về phạt cành cưa ngọn và đem ngâm dưới nước (ao, hồ) nhằm diệt trừ mối mọt, giảm mùi hăng của nhựa cây và tạo độ bền chắc. Gỗ sau khi ngẫm kỹ dưới nước, vớt lên đẽo, xẻ thành các cột, kèo, xà, hạ, rui, mè,… làm hệ thống xương chính của ngôi nhà.

Ở những vùng bán sơn địa hoặc gần rừng như Quỳnh Lưu, Thanh Chương, Đô Lương, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn (Phủ Quỳ xưa),… thì người dân thường lên rừng chặt cây về làm nhà. Để chuẩn bị cho việc làm nhà, những lúc nông nhàn, họ rủ nhau đi "lấy cây" và thường chọn những loại cây gỗ tốt như: lim, sến, táu, chò,… về giữ trữ, chờ khi đủ điều kiện, chọn được ngày lành tháng tốt mới dựng nhà. Nhà gỗ của người Kinh có 3 loại: nhà kèo, nhà xóc nách và nhà chữ đinh.

Nhà kèo

Đối với loại nhà này số lượng gỗ hay tre chiếm phần lớn trong hệ thống xương chính của ngôi nhà, nhà to hay nhà nhỏ phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện kinh tế của từng gia đình. Nhưng hầu hết các hộ gia đình làm nhà kèo thì chỉ có cột nhà được làm bằng gỗ, được ăn mộng với nhau một cách chắc chắn, còn lại các bộ phận khác như kèo, quá giang, rui, mè,… đều làm bằng tre, nhà cũng được thưng phên, vách đất và lợp bằng tranh như nhà tre.

Nhà kèo thường được cấu tạo 2 gian 3 vì, hoặc 3 gian 4 vì; mỗi vì thường có 2 cột chính và 2 cột phụ; trường hợp mỗi vì có 2 cột chính thì ở giữa quá giang, làm một cột trốn để giao với hai kèo ở nóc nhà và có đòn chống ở hai bên kèo; trường hợp nếu vì có 3 cột thì trốn cột giữa và làm kèo kiểu có xà thượng. Nhà kèo được làm khá chắc chắn vì các mối nối giữa kèo, quá giang đều đục lỗ và có con xỏ, các bộ phận khác giữa các khớp nối được buộc lại với nhau bằng dây lạt, hoặc dây mây.

Nhà chữ đinh

"Nhà chữ đinh, đình tứ trụ", câu thành ngữ của dân gian cũng đủ cho chúng ta biết đến sự phổ biến của kiểu nhà chữ đinh lúc bấy giờ, nhất là ở vùng đồng bằng như Quỳnh Lưu, thành phố Vinh (xưa),… Ưu điểm của nhà chữ đinh là tiết kiệm được gỗ, dễ lấy mực, dễ làm và tận dụng được các nguyên vật liệu, người ta có thể làm nhà từ tre, mét là những nguyên liệu sẵn có lúc bây giờ. Gọi là nhà chữ đinh vì nó có cột cái đứng giữa nền nhà thẳng theo hướng nóc, đỡ lấy đầu hay bắp quả giống như chữ đinh.

Đối với nhà chữ đinh, mỗi vì có ba cột: một cột cái ở giữa và hai cột quân ở hai bên. Phía trên cột được kết nối với văng và kèo bằng các con xỏ tròn. Chỉ có vì nhà được dựng ở đầu hồi hoặc dựng trong nhà để ngăn cách giữa nhà trong và nhà ngoài thì mới có cột cái, còn các vì khác người ta thay cột cái bằng các cột trụ đặt lên các đấu để tránh vướng víu và làm chật không gian bên trong của ngôi nhà. Đấu ở đây là một mảnh gỗ dày hình chữ nhật được đặt lên văng để đỡ cột trụ. Với nhà chữ đinh, mỗi vì kèo có bốn lỉa (bốn chiếc) gọi là bộ kèo hộp hay kèo cưa. Phía trên nóc, bốn lỉa kèo được liên kết với nhau bằng một con xỏ đặc biệt ở giữa vuông, hai bên tròn để cố định 4 lỉa kèo, gọi là giằng xay. Phía trên giằng xay là được thượng ốc (đòn giông) được vít chặt với kèo qua giằng xay.

Các đường xà vuông góc với văng được đục mộng lắp vào đầu cột ở các vì. Mỗi gian có 3 đường xà: đường trên cao nối hai cột trụ gọi là xà thượng, hai đường dưới nối hai cột quân gọi là xà hạ.

Nhà chữ đinh được làm kiên cố vì phần gỗ nhiều hơn nhà kèo, tường bao xung quanh của ngôi nhà thường được xây bằng đá. Đây là kiểu nhà phân bố theo một căn ngang (-) và một căn xuôi (j), tức đòn giông nhà trên và đòn giông nhà dưới thẳng góc nhau, tạo thành dạng giống như chữ đinh (j). Nhà chữ đinh xây tương đối có kỹ thuật, phần mái có nhà lợp bằng tranh, rạ nhưng cũng có những gia đình lợp bằng ngói. Nếu lợp bằng tranh rạ thì người ta dùng lát tre dài để nẹp rui vào hoành, tranh được buộc vào các thanh rui bằng dây lạt hoặc tre còn non, một đầu được vót nhọn. Nếu được lợp bằng ngói thì đường nẹp là các đường mè. Ngày xưa thường dùng nói vảy với hai loại là ngói âm và ngói dương. Nếu dùng ngói dương thì ngói dương khi lợp được ngoắc vào các đường mè rải (ngói dương có được điểm khi đúc đã có các khấc), các đường mè rải được đóng bằng các đinh dày. Còn nếu lợp bằng ngói âm thì các đường mè được gọi là mà đón. Mè đón để nẹp rui vào hoành và cũng để giữ ngói âm.

Nhà xóc nách

Giống với kiểu nhà kèo, nhưng nhà xóc nách có các vì trốn cột con ở phía sau nhà mà thay vào đó bằng một đoạn xà nách nối liền cột giữa với tường hậu tạo sự vững chắc cho toàn bộ xương chính của ngôi nhà. Nhà xóc nách không có kho ở phía trên nên khiến cho ngôi nhà thấp, đơn điệu và nặng nề hơn. Nhiều nơi, nhà xóc nách được ưa chuộng và xây dựng khá phổ biến. Tuy nhiên, ở Nghệ An, nhà xóc nách chỉ thấy ở các huyện đồng bằng như Diễn Châu, Nghi Lộc, thành phố Vinh, Hưng Nguyên, Quỳnh Lưu,…

Với nhà xóc nách, thường được xây thềm, cửa ra vào được che bằng tấm phên, cót, nhà nào có điều kiện thì làm bằng gỗ. Tuy là nhà gỗ nhưng thời kỳ này, do điều kiện còn khó khăn nên nhà xây thấp và mái nhà còn lợp tranh rạ, các bộ phận xương chính của ngôi nhà như cột nhà, quá giang, vì kèo được làm bằng gỗ còn các bộ phận khác thì vẫn làm bằng tre mà thôi.                                                                                    

3 Nhà ngói

Nhà ngói truyền thống của người Kinh ở Nghệ An thường là các kiểu nhà tiền trụ, tứ trụ, hạ chạn,... Các kiểu nhà này chủ yếu đều được làm bằng gỗ. Trước cách mạng, những gia đình làm nhà ngói thường là những gia đình khá giả, nhà quan lại, chức sắc,… vì làm nhà ngói khá tốn kém, mà nguyên vật liệu làm nhà ngói lúc bấy giờ rất hiếm và đắt đỏ. Khi làm nhà, tùy vào điều kiện kinh tế mà gia chủ có thể làm một lúc cả nhà lớn và nhà ngang, hoặc nhà lớn trước cùng với chái bếp che tạm để nấu nướng. Nhà ngang sẽ được làm sau khi đủ điều kiện kinh tế.

Cấu trúc các kiểu nhà này tương đối giống nhau, các gian nhà thường được chọn theo số lẻ, gian giữa hoặc gian bên phải thường rộng rãi hơn vì đây là gian chính (rộng lòng, rộng bụng). Khi chọn gian nhà gia chủ thường chọn gian lẻ (3, 5,… gian), kích thước cũng số lẻ vì người Kinh quan niệm số lẻ là số tiến, số chẵn là số hòa, nếu làm nhà số hòa thì gia chủ sẽ không phát triển, mở rộng được, nếu số lẻ thì gia chủ sẽ làm ăn phát đạt, thịnh vượng. Kích thước mái nhà thường mái trước ngắn hơn mái sau, vì mái trước ngắn sẽ làm cho ngôi nhà thoáng đãng, bớt âm u, ẩm tối.

Nhà ngói thường được làm vững chãi, bền chắc nhằm đối phó với sự khắc nghiệt của thiên tai, bão lũ, tuy nhiên cũng thể hiện rất rõ khí phách, tính cách vững chãi, mạnh mẽ của con người xứ Nghệ.

 Nhà tiền trụ

Về kết cấu, kiểu nhà tiền trụ thường có bộ khung bằng gỗ, vì nhà được thiết kế theo kiểu kèo đơn, kèo đôi hoặc thượng kèo, hạ kèo. Những gia đình nào khấm khá hơn thì làm nhà có vì kiểu chuyền chụp. Loại nhà làm bằng gỗ theo kiểu này có ưu điểm là kết cấu vững chắc nhưng có hạn chế là nhiều cột, vừa tốn gỗ vừa chật gian nhà, không gian sử dụng lại không được rộng rãi. Riêng cấu tạo nhà tiền trụ của những vùng sống ven sông thì người Kinh nghĩ ra được một nề nếp khá chuẩn mực, khi cắt bớt thân cột cái, thường là ở vị trí vì thứ hai và thứ ba (nhà tiền trụ) hoặc ở cả 4 cột cái phía trước (nhà tứ trụ) của bộ vì kèo, chỉ còn một đoạn cột (cột bồng) đặt trên các "đường hạ" chống đỡ phần mái. Cách xử lý này vừa khiến cho bộ khung nhà tiết kiệm được gỗ làm cột cái vừa làm cho lòng nhà rộng thêm, không gian trong ngôi nhà được mở rộng.

Nhà tứ trụ

Kiểu nhà này có nhiều loại khác nhau, tùy theo từng vùng miền, chẳng hạn như: Quỳnh Lưu nhà tứ trụ có các kiểu "mẹ tròn con vuông", "mẹ vuông con tròn", "mẹ vuông con vuông"; hay ở khu vực thành phố Vinh xưa có hai dạng "tiền trụ hậu lẫm" hay còn gọi "tiền trụ hậu chạn" và "nhà ngoại trụ nội chạn". Tuy có nhiều cách gọi khác nhau nhưng kiểu cấu tạo thì ở các vùng miền gần như giống nhau đều được xây theo các gian lẻ 3 gian 2 hồi, hoặc 5 gian 2 hồi; mỗi gian có hai vì, mỗi vì bốn cột.

Ưu điểm của loại nhà này là cân đối, dễ trang trí, nhìn đẹp hơn các kiểu nhà khác, các đền, chùa, đình, nhà thờ,... thường được làm theo kiểu nhà tứ trụ. Kiểu nhà tứ trụ thường được chủ nhà trang trí khá cầu kì tại những vị trí quan trọng như đường xà, đường hạ ở gian chính của ngôi nhà với hình thù long, ly, quy, phượng,… được chạm trổ tinh xảo, đòi hỏi trình độ tay nghề cao.

Với nhà tứ trụ thì mỗi vì có hai cột cái và hai cột quân. Cột cái đỡ kèo ở hai đầu cánh quả. Khác với kiểu nhà tiền trụ, cột cái giữa nhà được trốn đi bằng cách thay hai cột cái bằng hai cột trụ đặt lên hai cái đấu, nằm trên văng suốt nhằm tạo cho không gian ngôi nhà thoáng đãng và rộng rãi hơn. Như vậy, vì dấu cột cái đi nên mỗi gian hai vì có bốn cột trụ nên kiểu nhà này mới có tên là "nhà tứ trụ". Khác với nhà chữ đinh, bốn lỉa kèo hộp được thay bằng hai đường gọi là đường giao nguyên (hay dò nguyên), do đó, đường hoành không gác lên các lá lỉa như nhà chữ đinh mà gác lên đường giao nguyên. Đường giao nguyên thường được làm bằng các loại gỗ tốt nhưng dễ chạm trổ như đinh hương, dổi, de, mít,... vì đường giao nguyên được chia làm ba phần và được thợ chạm trổ hình rồng, phượng, chim muông, hoa lá,...

Nhà hạ chạn

Cấu tạo của nhà hạ chạn cũng tương tự như nhà tiền trụ và tứ trụ, nhưng các đường hạ nối kết theo chiều ngang của vì kèo được đặt ở phía dưới. Phần xà liên kết giữa các vì với nhau tạo thành bộ khung ở phía trên. Nếu chỉ nhìn đơn thuần ở cách xếp đặt vị trí thì thấy cấu tạo của loại nhà này khá đơn giản. Nhưng nếu tìm hiểu kĩ mới thấy cách làm này khá khoa học và mang tính ứng dụng thực tiễn cao.

Đối với nhà hạ, đường văng được thay bằng đường hạ chạy suốt từ mũi kèo mái trước ra mũi kèo mái sau, xuyên qua cả cột. Do đó, cột nhà phải to hơn, đường hạ thường thấp và dài hơn văng. Đồng thời hai cột quân chống đỡ lên kèo ở vị trí hai đầu đường hạ. Còn hai cột cái đỡ kèo ở vị trí hai đầu cánh quả mà đối với nhà hạ chạn gọi là khấu. Mỗi gian nhà hạ chạn thường có 5 đường xà, trong đó 4 đường xà thường được sàm với hai cột cái hoặc cột trụ, một xà được sàm vào cột quân ở hàng sau gọi là xà tử. Ở nhà hạn chạn, cột cái chỉ dựng ở phía trước còn phía sau người ta thường thay cột cái bằng cột trụ đặt lên các đấu giúp cho ngôi nhà trở nên rộng rãi hơn.

Ngoài những kiểu nhà phổ biến trên thì nhà ngói của người Kinh còn có các kiểu nhà ba lòng, nhà xóc nách xà luôn, nhà ngoại trụ nội chạn, nhà tiền trụ hậu lẫm,…

Trải qua nhiều thời gian, nhiều thế kỷ, với bao thăng trầm lịch sử cho đến ngày nay, mặc dù cuộc sống hiện đại khiến cấu trúc ngôi nhà của người Nghệ đã ít nhiều thay đổi, song cốt cách, tinh thần của người Nghệ gửi vào kiến trúc những ngôi nhà truyền thống vẫn không có gì thay đổi, đó là văn hóa quý báu của Nghệ An, là những giọt mật chắt lọc ra từ khối óc thông minh, đôi mắt tinh đời, những bàn tay tài giỏi, khéo léo của nhiều thế hệ truyền lại. Đó cũng chính là tâm hồn, là một góc đi về của mỗi con người, là cội nguồn dân tộc, là sức sống lâu bền mãnh liệt của người xứ Nghệ.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Đổng Chi (chủ biên), Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An - Vinh, 1995.

3. Nguyễn Đình Lộc, Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An, Nxb Nghệ An, 1993

4. Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký, Nxb KHXH, Hà Nội, 1993.

5. Nguyễn Nhã Bản, Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh (trên dẫn luận ngôn ngữ), Nxb Nghệ An, 2001.

6. Phạm Đức Dương, Nguyễn Bá Thịnh, Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Gia phong xứ Nghệ trong bối cảnh đất nước đổi mới", Nxb Nghệ An, 2005.

7. Ninh Viết Giao, Địa chí văn hóa Hưng Nguyên, Nhà xuất bản Nghệ An.

8. Ninh Viết Giao, Địa chí văn hóa Quỳnh Lưu, Nhà xuất bản Nghệ An.

9. Ninh Viết Giao, Địa chí huyện Quỳ Hợp, Nhà xuất bản Nghệ An, 2003

 

Chu Trọng Huyến

"Lúc này đã là trí thức yêu nước thì phải nhận trách nhiệm trước lịch sử".

Đó là câu đầu tiên Hồ Chủ tịch nói với Giáo sư Nguyễn Xiển khi ông được gặp Người.

Nguyễn Xiển sinh năm 1907 tại thành phố Vinh. Cụ nội rồi đến thân phụ của ông đều đỗ Cử nhân (Hán học). Hồi là học sinh Quốc học Vinh, Nguyễn Xiển rất giỏi Toán. Sau khi đỗ Thành chung, ông ra học ban Tú tài ở Trường Bưởi. Là một học sinh xuất sắc, ông được cấp bổng sang học tại Đại học Tuluzơ - Pháp. Về nước, Nguyễn Xiển làm công việc dạy học. Ông đã tham gia biểu tình chống lại việc nhà nước Bảo hộ vì họ trả lương cho giáo sư người Việt quá rẻ so với các ông thầy người Pháp. Sau đó, Nguyễn Xiển được chuyển sang làm việc ở ngành Khí tượng vì khi ở Pháp, ông đã học giỏi phần chuyên môn này. Với công việc ấy, ông có tiền lương gấp ba lần so với một giáo sư người bản xứ. Do vậy, ông càng thương các trí thức và nhân dân lao động nước mình. Bốn năm sau, ông được cử làm Trưởng đài Phủ Liễn (đặt ở tỉnh Kiến An) là cơ sở Thiên văn lớn nhất Đông Dương thời đó.

Về phần đất nước và dân tộc, qua một quá trình vận động cách mạng và đấu tranh vũ trang để đánh đuổi Nhật - Pháp tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, ngày 16/8/1945, Quốc dân đại hội họp ở Tân Trào (Tuyên Quang), cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng tức Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngày 18/8/1945, khởi nghĩa thắng lợi ở một số tỉnh tại Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Ngày 22/8/1945, Nguyễn Xiển cùng Hồ Hữu Tường, Nguyễn Văn Huyên, Ngụy Như Kon Tum đánh điện vào Huế yêu cầu Bảo Đại thoái vị, để cho Việt Minh thành lập chính quyền tại Thừa Thiên, nhằm tránh nội chiến.

Thời gian còn ở chiến khu, Đảng ta đã vừa lãnh đạo đấu tranh giải phóng vừa lo bổ sung cán bộ có tâm, có tài vào bộ máy Nhà nước. Khi Ủy ban Dân tộc giải phóng đã về Hà Nội, Giáo sư Nguyễn Xiển, một trí thức yêu nước được mời ra để tham gia vào Chính phủ lâm thời. Cụ Nguyễn Văn Tố bấy giờ là Bộ trưởng Bộ Cứu tế khuyên ông nên nhận phụ trách một bộ trong Chính phủ. Ông Nguyễn Xiển cảm ơn nhưng xin từ chối vì chỉ muốn hoạt động khoa học. Ông Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ biết thế đã mời Nguyễn Xiển đến gặp vào ngày 24/8/1945 và khuyên ông nhận làm Bộ trưởng Bộ Giao thông - Công chính vì ông Xiển đã đỗ bằng Cao đẳng thuộc ngành này tại Pháp. Nguyễn Xiển cũng không nhận mà tiến cử kỹ sư Đào Trọng Kim vào chức vụ ấy.

Biết được những thông tin đó, cụ Hồ Chí Minh mời Nguyễn Xiển đến gặp. Và Người đã nói với ông rằng: "Khắp nước có nhiều người vừa thoát nạn mù chữ nhưng cũng đã nhận nhiệm vụ mà họ chưa từng biết. Vậy mà vị Giám đốc Đài Thiên văn Phù Liễn hiện đại nhất Đông Nam Á lại cứ cho mình không biết làm việc hay sao. Lúc này đã là trí thức yêu nước thì phải nhận trách nhiệm trước lịch sử".

Về việc được tiếp kiến Hồ Chủ tịch, Nguyễn Xiển nói là, mãi tới lúc bấy giờ ông mới biết, Người đích thực là cụ Nguyễn Ái Quốc - nhân vật huyền thoại mà trước kia, ở trong quê, ông chỉ hình dung qua sự đồn đại của các nhà tri thức yêu nước và nhân dân lao động. Ông cũng chưa bao giờ được xem ảnh của Người, cho dù hồi học ở Trường Bưởi ông đã đọc các tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc trên các sách báo do các bạn cùng tâm huyết bí mật chuyền tay cho nhau.

Và bấy giờ, khi được gặp, ông được nghe vị Chủ tịch Chính phủ lâm thời nói rất ngắn gọn như vậy. Và Người bảo thêm: "Nếu chú không nhận làm Bộ trưởng thì phải làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Bắc bộ".

Nhà khoa học Nguyễn Xiển thưa là mình không có kinh nghiệm lãnh đạo. Nhưng Bác Hồ bảo là chú đã làm công chức trong bộ máy chuyên môn của Pháp nên có kinh nghiệm nhiều hơn một số anh em cách mạng. Vả lại, chú sẽ không phải làm việc một mình mà có một số cán bộ chính trị và chuyên môn giúp đỡ.

Nguyễn Xiển kể lại như vậy rồi nói: Trước những lý lẽ sáng suốt và giản dị ấy, trước thái độ tin cậy ấy, ông không còn lý do gì để từ chối nữa.

Hôm sau, ngày 28/8/1945, ngày mà Hà Tiên, tỉnh cuối cùng khởi nghĩa thắng lợi, kết thúc công việc giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám trên cả nước, là thời điểm chính quyền Cách mạng lâm thời đổi thành chính quyền Nhân dân. Ấy cũng là ngày Chính phủ ký quyết định thành lập Ủy ban Nhân dân Bắc bộ do Nguyễn Xiển làm Chủ tịch.

Mười ngày sau đó, Giáo sư Nguyễn Xiển trình lên vị Chủ tịch nước Bản kế hoạch hộ đê mới, vừa dễ có hiệu quả, vừa tiết kiệm được cho dân. Xem xong rồi gặp lại Giáo sư, Người cười, tin tưởng và nói vui: "Vị thầu khoán giúp dân chống lụt theo cách này là yêu nước".

Sau ngày Tổng tuyển cử, Giáo sư Nguyễn Xiển giữ các chức vụ: Đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VIII, Bộ trưởng Bộ Cứu tế (nay là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), Phó Chủ tịch Quốc hội từ khóa II đến khóa VII, Tổng Thư ký Đảng Xã hội Việt Nam (từ năm 1956 cho đến khi đảng này hoàn thành nhiệm vụ và tuyên bố tự giải tán, 1988)… Bất cứ với cương vị công tác nào ông cũng hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ của mình.

Nhớ là ngày 22/2/1948, Giáo sư Nguyễn Xiển đã gửi thư lên cụ Hồ với lời nhận xét về những khuyết điểm trong đạo đức và tác phong công tác của một số cán bộ Mặt trận Việt Minh, Hồ Chủ tịch đã ghi ý kiến của mình vào bên lề của bức thư, rằng: "Việt (tức Hoàng Quốc Việt), những điều trong thư này không phải là quá đáng. Vậy, chú và chú Thọ (Lê Đức Thọ) phải cùng bàn và tìm cách sửa chữa ngay".

Vào buổi cuối đời, nhà khoa học Nguyễn Xiển tâm sự là ông "Một lòng thực sự kính, thương, tin tưởng Bác Hồ cả đời hy sinh vì dân vì nước, chân thành nhận khuyết điểm về Cải cách ruộng đất trước nhân dân để sửa chữa... Chỉ có lực lượng cách mạng của cụ Hồ mới đứng mũi chịu sào, đi đầu và làm nòng cốt trong cuộc đấu tranh phức tạp, trường kỳ gian khổ và anh dũng của dân tộc để chống ngoại xâm, giải phóng, thống nhất đất nước, kể cả với nông dân". Buổi sinh thời, Giáo sư Nguyễn Xiển thường nhắc lại rằng, Hồ Chủ tịch giao cho công việc gì, ông làm nấy, chẳng từ nan. Từ hàn đê, chống lũ lụt, dự báo thời tiết, dạy học và nghiên cứu phổ biến khoa học kỹ thuật… cho đến cứu tế xã hội, công tác mặt trận, quốc hội, đối ngoại. Vì Người đã nói với tinh thần:  "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách" , . Một con người rất đỗi bình thường còn vậy, huống gì mình có được học hành, có được đoàn thể và nhân dân động viên, giúp đỡ!".

Nguyễn Xiển là đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VIII. Trong đó, có nhiều khóa, ông giữ cương vị Phó chủ tịch. Từ 1955 đến 1959, ông là Bộ trưởng Bộ Cứu tế - Xã hội. Từ 1960 -1976, ông làm Giám đốc Nha khí tượng - Thủy văn, Phó Chủ tịch Ủy ban Khoa học Nhà nước. Ông qua đời năm 1997, hưởng thọ 90 tuổi.

Ông được nhận nhiều giải thưởng cao quý: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về Khoa học - Kỹ thuật.

Ngoài thành phố quê hương, tên của ông được đặt cho một con đường ở khu Trần Thành Ngọ, thị xã Kiến An, thành phố Hải Phòng và một quãng trên con đường vành đai Thanh Xuân, Hà Nội.

 

Lê Phan

Trang phục truyền thống dân tộc, xưa nay vẫn là một đề tài khó, nhưng cũng đầy hấp dẫn và bí ẩn. Đó cũng là đề tài mà bao người yêu mến văn hóa truyền thống đều khắc khoải, vì lẽ muốn hiểu rõ hơn về bản sắc cha ông, về cội nguồn văn hóa, thì tiếp cận qua con đường tìm hiểu trang phục xưa vẫn là một trong những cách thức khả thi nhất. Từ trang phục, có thể cung cấp rất nhiều thông tin quan trọng về thẩm mỹ quan, nhân sinh quan và các giá trị tư tưởng khác của người đời xưa, một cách rõ ràng, cụ thể và chân thực. Bao năm nay, người viết bài tập trung tìm hiểu về trang phục truyền thống, và muốn chia sẻ những hiểu biết và tìm tòi của bản thân mình tới tất cả mọi độc giả, cũng là vì lẽ đó. Bài viết dưới đây về trang phục cô dâu, nằm trong loạt bài sơ khảo về trang phục truyền thống người Việt.

Văn hóa truyền thống người Việt coi trọng việc hôn lễ. Người Việt thường có câu nói, "hôn nhân đại sự", cưới gả là chuyện quan trọng của đời người, cả đời chỉ có một lần. Vì thế, lề lối ăn mặc tất cũng không đơn giản qua loa, mà có nhiều vấn đề để cần bàn đến.

Sách "Phong tục Việt Nam" của Phan Kế Bính đề cập rằng: "Các cô gái sắp lấy chồng, ai nấy đều lo sắm quần áo cưới. Quần áo cưới của chú rể cũng như cô dâu không giống quần áo mặc thường ngày... Bộ quần áo cưới của cô dâu cũng khác bộ quần áo ngày thường và cô dâu tỉnh với cô dâu quê ăn mặc không giống nhau". Những ghi chép quan trọng này cho thấy trang phục cưới của cô dâu Việt xưa không đơn thuần giống trang phục ngày thường, mà có những cách thức, lề lối riêng biệt về cách ăn mặc.

Vậy, trang phục cưới của cô dâu xưa có những đặc điểm gì riêng biệt, khác với lối trang phục tứ thân, năm thân mặc thường ngày mà người thời nay vẫn hay nhắc tới? Và màu sắc y phục tân nương liệu có điểm gì đáng chú ý hay không? Liệu y phục cưới cô dâu Việt có khác biệt với y phục cưới của các nền văn hóa khác, đặc biệt là với Trung Quốc, một quốc gia có nền văn hóa rất gần gũi với Việt Nam?

Trong thời đại hiện đại, nhất là vào thời gian sau khi mở cửa, đổi mới đất nước cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, văn hóa nước ngoài ồ ạt du nhập vào Việt Nam thông qua nhiều con đường: kinh tế, chính trị, và giải trí. Trong khi văn hóa phương Tây được coi là chuẩn mực của nhịp sống hiện đại, thì văn hóa Trung Hoa lại được người dân Việt Nam cực kỳ yêu thích qua phim ảnh, nhất là dòng phim cổ trang. Đám cưới người Việt thời hiện đại cũng vì thế mà chịu ảnh hưởng rõ nét của hai luồng văn hóa này: nếu không mặc màu trắng như cô dâu phương Tây, thì cũng là màu đỏ theo phong cách đám cưới Trung Quốc. Có thể nói, văn hóa từ tâm khảm mà ra, vì tiếp xúc với văn hóa bên ngoài lâu ngày, nên cũng không lạ khi có nhiều người Việt hình thành quan niệm cố hữu rằng: trang phục người Việt không phải màu đỏ như cô dâu Trung Quốc, thì cũng phải màu trắng như cô dâu phương Tây.

Thế nhưng, theo rất nhiều bằng chứng mà người viết bài thu thập được, cả bằng thư tịch lẫn bằng hồi ức dân gian, thì màu áo truyền thống phổ biến ở đám cưới thời xưa (ít nhất thời thời Nguyễn) nói chung, cô dâu Việt nói riêng, lại không phải màu đỏ, cũng không phải màu trắng, mà lại là màu xanh! Riêng trong bài viết này, người viết xin trích dẫn lại các thư tịch, sách vở có đề cập đến màu sắc cô dâu Việt thời xưa, cho thấy rõ nhận định đã nói ở trên.

Theo sách "Trang phục Việt Nam" của nhà nghiên cứu trang phục Đoàn Thị Tình: "cô dâu miền Bắc vào ngày cưới tóc vấn đuôi gà, đầu khăn gài con bướm bạc, cổ đeo kiềng bạc, chuỗi hạt vàng, lưng đeo xà tích, váy sồi đen, mặc áo mớ ba, bên ngoài mặc áo the đen, trong là áo hồng và áo xanh. Cô dâu các miền khác cũng có lối ăn mặc tương tự, nhưng có một số tiểu tiết khác biệt. Cô dâu miền Trung và miền Nam chải lật búi tóc, thay vì vấn đuôi gà. Cô dâu miền Trung có thể mặc lồng hai áo năm thân, bên trong là màu đỏ hoặc hồng điều, bên ngoài là áo vân màu xanh chàm (cũng có thể mặc thêm áo the đen bên ngoài thành áo mớ ba), mặc quần trắng".

Về áo cưới cô dâu miền Nam, sách "Nhà ở - Trang phục - Ăn uống của các dân tộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long" của tác giả Phan Thị Yến Tuyết, xuất bản năm 1993, trang 66 cụ ghi chép cụ thể hơn như sau: "Vào lễ cưới, trang phục của cô dâu chú rể vùng Gia Định trước kia và vùng ĐBSCL hiện nay có những diễn biến theo phong tục và quan điểm thẩm mỹ, thời trang. Cho đến đầu thế kỷ XX... cô dâu mặc áo vân đen mỏng, quần đũi màu hồng sậm, cổ đeo xâu chuỗi hổ phách "hạt to bằng ngón tay cái", hai tai xỏ đôi bông búp bạc. Dâu và rể đều khoác bên ngoài áo thụng rộng xanh, lót màu cánh sen, khi ra sân có cặp lọng che. Trong những gia đình theo tục cũ, trang phục của cô dâu và chú rể đều là áo cặp.

… Có thể "áo cặp" là phong tục chỉ sự "đủ đôi đủ cặp" trong lễ cưới, vì ngày trước ở vùng Gia Định có thời cô dâu, chú rể ngoài "áo cặp" còn mặc "quần cặp". Áo cặp tức áo song khai, cô dâu dùng áo the lót gấm hồng, chú rể dùng hàng the lót gấm xanh có dệt chữ "thọ" nhỏ (chữ thọ lớn chỉ dùng cho người lớn tuổi). Chiếc áo dài của cô dâu, chú rể mặc bên ngoài người ta gọi là áo thụng. Đó là chiếc áo dài và rộng so với áo dài mặc bên trong, tay áo thụng cũng rất dài và rộng, cửa tay áo có khi lên đến 30 cm. Áo thụng thường được may bằng vải gấm dày, màu lục sậm, xanh sậm hoặc xanh lam có dệt hoa văn. Ngày trước, cô dâu chú rể tầng lớp bình dân ở ĐBSCL có khi mặc áo cặp, đội nón, đội khăn nhưng đi chân đất, không mang giày dép".

Còn theo bài viết "Gam màu đặc trưng của phục trang xứ Huế" trên trang báo Nét Cố Đô thì cô dâu Huế mặc áo cặp điều lục, đồng thời giải thích điều là màu đỏ, lục là màu xanh.

Như vậy, qua các ghi chép đã trích dẫn, ta có thể thấy trang phục cô dâu Việt ở ba miền tương đối thống nhất, đều chuộng dùng màu xanh. Miền Trung, miền Nam thường mặc kèm áo xanh ngoài với áo hồng bên trong tạo thành áo cặp lục điều, còn miền Bắc có thể khoác thêm áo the đen bên ngoài, gọi là áo mớ ba.

Vậy tục lệ dùng áo xanh này phổ biến ở mức nào? Theo sách "Hôn lễ - Lễ tục cưới gả", trang 31: "Tục lệ của người Tàu, nàng dâu mới không có mặc áo rộng xanh như ta (tức người Việt), mà lại mặc áo hồng bào, có đội mão, và che quạt trước mặt mà đi ra". Ở đây, tác giả có đề cập rằng cô dâu Việt mặc áo rộng xanh, đối lập với cô dâu Trung Quốc mặc áo đỏ (hồng bào - hồng trong hán tự là đỏ, bào là áo rộng, áo khoác ngoài). Bìa ngoài của sách cũng vẽ cô dâu chú rể mặc áo xanh, thống nhất với nhận định trong sách. Điều này góp phần cho thấy rõ thêm sự phổ biến khá rộng rãi của áo màu xanh trong đám cưới Việt, cụ thể là cho cô dâu, hơn nữa còn là một dạng màu tiêu biểu cho văn hoá hôn lễ xưa của ta, đến mức được tác giả sử dụng để đối sánh với hôn lễ Trung Quốc.

Vậy màu xanh trong hôn lễ có ý nghĩa gì? Tại sao thời xưa, chí ít là vào thời Nguyễn, lại phổ biến màu sắc này và dùng nó như một nét biểu trưng cho hôn lễ Việt? Sách "Đất lề quê thói" của Nhất Thanh có hé lộ một góc nhìn, lí giải về điều này: "Trong quan trường người ta tha thiết với cái áo thụng xanh bao nhiêu thì bọn trưởng giả học làm sang càng ra sức theo đòi bấy nhiêu. Đã nhiều phen đôi bên cha mẹ lấy làm hãnh diện có dâu rể khăn vành dây áo thụng xanh, lễ sống hai lạy trên chiếu cạp điều trải giữa nhà. Trịnh trọng cao sang là ở cái áo thụng kia, họ nghĩ như vậy… Ôi! Thụng xanh!".

Như thế, màu xanh được chuộng dùng trong đám cưới, là vì văn hóa người Việt thời đó cho rằng màu xanh là màu quý phái, cao sang, xứng hợp cho một ngày lễ trọng đại như ngày cưới vậy.

Ngoài màu xanh, thì trang phục truyền thống cô dâu Việt vẫn có thể mang các màu sắc khác, như màu hồng, màu đen (đã đề cập), màu tím, màu vàng… Song trong khuôn khổ bài viết, ở đây người viết chỉ nói đến màu xanh, là màu biểu trưng, còn các màu sắc khác thì xin phép được đề cập sau nếu có điều kiện.

Người đời vẫn có câu: người con gái, đẹp nhất là khi xuất giá theo chồng. Các cô dâu dù ở đâu cũng vậy, đến ngày cưới luôn muốn trang điểm thật đẹp, mặc lên người những chiếc áo lộng lẫy, nhằm lưu dấu cái ngày trọng đại nhất của cuộc đời mình, để rồi khi đôi vợ chồng đã răng long đầu bạc, hãy còn nhớ mãi những ngày tháng son sắt, nhớ mãi giờ khắc đôi lứa sánh duyên bước bên nhau.

Người con gái Việt trong ngày cưới, hẳn cũng không phải ngoại lệ, họ khoác lên mình những bộ trang phục đặc biệt nhất trong đời: những bộ y phục tinh mỹ mà cũng mang đậm những giá trị văn hóa, thắm đượm hồn dân tộc. Cũng vì lẽ ấy, mà ta không thể không đoái hoài đến y phục tân nương, khi đã thực sự muốn tìm về cái hồn cốt văn hóa của ngàn xưa. Và cũng vì lẽ ấy, mới thấy những ghi chép tường tận, tỉ mỉ, cùng những tranh ảnh sống động, trực quan, giúp ta hình dung rõ nét về y phục cưới của người Việt này, thật đáng quý lắm thay. Hy vọng rằng, sẽ không còn lâu nữa, người Việt Nam chúng ta cũng có thể tái hiện lại sắc màu truyền thống của cha ông trong đám cưới của mình.

 

Nguyễn Thụy Phương

Cuộc khủng hoảng đa diện bắt đầu từ lĩnh vực sức khỏe - y tế này đã tác động nhanh đến kinh tế, tài chính, sản xuất và mọi mặt đời sống xã hội trên toàn cầu ở mức kỷ lục. Nhưng nó cũng khiến các chính phủ phải lựa chọn, đặt ra các giải pháp mới, mà có thể sẽ gây nên những hiệu ứng dây chuyền khác. Lúc này, các ngành KHXH&NV có thể giúp trả lời những câu hỏi gì?

 Có lẽ đây cũng là cuộc khủng hoảng mà bên cạnh những tư vấn về y khoa thì tiếng nói của ngành KHXH&NV thực sự được lắng nghe và tham chiếu để đưa ra các quyết định chính sách phù hợp. Kể từ khi lệnh cách ly và phong tỏa ban ra ở các quốc gia, những bài xã luận, bình luận và phỏng vấn các nhà nghiên cứu KHXH&NV (sử học, xã hội học, nhân chủng học, tâm lý học, kinh tế học, truyền thông…) lại xuất hiện đều đặn mỗi ngày trên các phương tiện truyền thông toàn cầu (Lidewij Edelkoort, chuyên gia dự đoán xu hướng (trend forecaster) người Hà Lan, Yuval Noah Harari, nhà sử học người Israel, nhà xã hội học và triết học người Pháp Dominique Méda, kinh tế gia người Pháp Thomas Piketty...). Đài báo giúp độc giả đọc và phân tích lại những công trình của ngành nhân chủng học để nhìn nhận lại tiến trình lịch sử nhân loại gắn mốc với những đại dịch, như Claude Lévi-Strauss về mối liên hệ giữa loài người và động vật gây nên dịch bệnh, Frédéric Keck và James Scott về mặt trái của các nền văn minh và toàn cầu hóa gây ra đại dịch…

Trong bối cảnh không đề phòng và chuẩn bị trước đại dịch này, một trong các biện pháp nước Pháp thi hành ngay là thiết lập một ủy ban khoa học (gồm 11 chuyên gia, bác sỹ và nhà nghiên cứu) cố vấn cho Tổng thống, Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Y tế. Lần đầu tiên, tại Pháp, KHXH&NV với đặc điểm đa và liên ngành được huy động để tham gia trận chiến này trong việc nhận định, đánh giá, phân tích, hướng dẫn và khuyến cáo các cơ quan công quyền trong việc xử lý khủng hoảng.

Ứng phó và quyết định trong tình huống chưa từng có tiền lệ

Chưa bao giờ số lượng người mắc dịch tăng mạnh, số lượng người tử vong tăng nhanh, chưa bao giờ có tình trạng cả một quốc gia hay nhiều thành phố của một quốc gia bị phong tỏa, nhiều biên giới quốc gia bị chặn cả đường bộ lẫn hàng không, chưa khi nào toàn bộ hệ thống trường học toàn quốc khép cổng, cũng chưa từng toàn bộ cơ quan công sở đóng cửa, cũng chưa từng xảy ra tình huống làm việc từ xa lên đến hàng chục triệu người…

Trong bối cảnh của những "chưa từng có tiền lệ" này, chính phủ và các thiết chế công quyền tại Pháp đồng lòng chung sức với các nhà khoa học. Nhưng mỗi bên phải giữ đúng vai trò của mình, tạo nên một phân giới giữa quyết định chính trị và chuyên môn khoa học, như vậy mới giữ được sự độc lập của khoa học và tính trách nhiệm của chính trị.

KHXH&NV đóng góp như thế nào?

 Tuy nhiên, cùng với sức khỏe cộng đồng thì hàng loạt các vấn đề xã hội như liên kết xã hội, bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc, môi trường sinh thái, chính trị, quản trị, tín ngưỡng, lãnh thổ, lưu thông kinh tế... tức là gần như toàn bộ mọi mặt hoạt động của xã hội đang bị con virus này tác động và chất vấn. Và chỉ có các ngành KHXH&NV mới có thể đưa ra các kịch bản, tình huống, phân tích lẽ thiệt hơn, đánh giá tác động tới các nhóm để tư vấn cho chính phủ.

Cách ly và phong tỏa diện rộng đang và sẽ tác động đến vấn đề tâm lý và tinh thần của toàn dân từ trẻ nhỏ đến người già: gây ra stress, lo lắng, sợ hãi, hoảng loạn…, tùy mức độ nặng nhẹ ở từng cá nhân. Tử vong nhanh và nhiều, ban đầu là những người vốn mắc bệnh, giờ đến cả người trẻ khỏe, khiến cho vấn đề tín ngưỡng, tâm linh và tôn giáo cũng cần được lưu tâm khi đại dịch đi qua. Còn ở trong cơn dịch thì việc cấp bách hơn là xử lý thi thể ra sao với dân sự (nhà lễ tang), quân đội (vận chuyển) và cả các nghi lễ tang (hỏa táng hay chôn cất)…

Nếu như các bác sỹ nói rằng phong tỏa là chiến thuật để ngăn chặn dịch thì các nhà xã hội học và tâm lý học lên tiếng ở phương diện khác về các hệ quả của chiến thuật này để chính phủ có cái nhìn toàn cảnh, điều chỉnh chính sách sao cho giảm bớt các hệ quả không đáng có. Phong tỏa là cần thiết nhằm chặn đứng Covid-19 nhưng cũng làm tăng lên bất bình đẳng xã hội giữa các tầng lớp dân chúng, tăng nguy cơ cho những người yếu thế (phụ nữ bị bạo hành, người khuyết tật, vô gia cư, người già cô đơn, người nhập cư hay tù nhân…). Ngoài ra, bất bình đẳng không như nhau ở mỗi độ tuổi, mỗi giai tầng hay mỗi địa bàn sống. Vì vậy, các nhà xã hội học phải phân tích được sự tiếp nhận và phản ứng với Covid-19 ở trong dân chúng, về việc tán thành - tuân thủ hay không của họ trước các biện pháp của chính phủ. Các nhà khoa học xã hội cũng phải tính đến hệ quả tâm lý của các biện pháp đó. Ví dụ, hệ quả của phong tỏa sẽ như thế nào với mỗi cá nhân (đến tâm lý và công việc…), gia đình (trông trẻ, dạy trẻ, chơi với trẻ, trẻ nhỏ cũng khác với trẻ đang lớn…), các nhóm nghề nghiệp (y tế, tài chính, giao thông, dịch vụ…), quần chúng (tương trợ - đoàn kết láng giềng, giữa các thế hệ hay liên kết xã hội…). Từ đó để "đánh động" nhà cầm quyền trước khi những quyết định chính trị được ban ra: rằng biện pháp này hay biện pháp kia sẽ tác động đến từng bộ phận trong xã hội như thế nào? 

Trong trận đại dịch này nhiều phân tích của các nhà khoa học xã hội đã chỉ ra đây có thể là "thời cơ" ra đời rất nhiều giải pháp kiểm soát người dân nhân danh kiểm soát dịch bệnh, là cái cớ để các chính quyền tăng cường giám sát người dân.

Đối với nhà xã hội học Antonio Casilli, việc phong tỏa này tác động hoàn toàn trái ngược nhau ở hai đối tượng lao động: những người làm việc tại gia và những người làm việc tại chỗ (thu ngân hay giao hàng…). Bất bình đẳng rất rõ khi một bên bạn thuộc tầng lớp trung lưu, có nguồn tài chính vững, căn hộ rộng 120m² ở thủ đô, hoặc có thêm ngôi nhà thứ hai ở nông thôn, vườn rộng 500m², thì làm việc tại gia với điện thoại smartphone và máy tính xách tay lại trở thành khoảng thời gian rút lui và giãn cách khỏi đời sống xã hội (social disconnection), giải trí và thư giãn bên người thân. Nhưng bên kia, nếu bạn thuộc tầng lớp bình dân, làm những nghề nằm ở cuối dây chuyền sản xuất và cung ứng (last miles jobs) như bán hàng, giao hàng, vận chuyển hàng thì trong tình cảnh này họ vẫn phải đi làm, khả năng lây và truyền bệnh vừa dễ vừa nhanh. Từ vài năm trở lại đây, đặc thù công việc đã biến họ trở thành người lao động tự do bấp bênh, bị "Uber hóa". Giới công đoàn đã cảnh báo những tình huống thảm kịch có thể rơi vào đầu những người lao động này nếu mất việc, hết lương, không được hưởng quyền lợi của người lao động bình thường.

Đây là lần đầu tiên 43% dân số toàn cầu (7,8 tỉ dân) bị "giam lỏng" tại nhà. Đặc điểm căn bản nhất là sự cách ly nhóm, tức là theo từng hộ gia đình. Theo nhà triết học Olivier Remaud, sự cách ly này bắt buộc các thành viên phải thiết lập một trật tự mới, phải biết tương tác và có khả năng thương lượng. Tôn trọng, độ lượng và tương trợ là những tiêu chí cần có để duy trì sự chung sống khép kín sao cho êm ấm trong nhiều tuần. Nếu không, chỉ nêu ra ví dụ sau là chúng ta có thể thấy bất bình đẳng giới và bất bình đẳng xã hội đè nặng lên vai người phụ nữ. Phụ nữ vừa phải làm việc tại gia, vừa phải chăm con, cho con học bài, chợ búa, cơm nước… thì quãng thời gian cách ly này quả là cực hình. Sau tuần đầu tiên phong toả, các tổ chức nữ quyền ở Pháp cho biết tình trạng phụ nữ bị chồng đánh tăng 34%. Chính phủ đã chỉ thị hiệu thuốc (thay vì cảnh sát như mọi khi) tiếp nhận phụ nữ bị hành hung.

Theo nhà tâm lý học Catherine Tourette-Turgis, "cách ly lên quá 10 ngày có thể gây ra những hội chứng stress hậu chấn thương", nghĩa là nó có thể biểu hiện thành những căng thẳng, lo lắng, chán nản, mất ngủ, rối loạn tiêu hóa, nghiện… Lúc đó, chúng ta cần được chăm sóc sức khỏe tinh thần nhờ bác sỹ tâm lý hoặc những trợ giúp xã hội trong và sau thời kỳ cách ly. Bản thân xã hội cũng điều chế ra "kháng thể" cho chính mình - cơ chế tự điều chỉnh để vượt qua khủng hoảng bằng tinh thần đoàn kết và tương trợ láng giềng và liên thế hệ. Các nhà sử học, nhân loại học, xã hội học, tâm lý học, kinh tế học với những chuyên ngành hẹp như xử lý và quản trị trong khủng hoảng, nhân đạo, tâm lý học đám đông, quản trị thiết chế, được huy động để lý giải và tìm ra giải pháp thoát khủng hoảng.

Hậu đại dịch: Điều gì sẽ tới?

 Khi đại dịch đi qua, cơn stress kinh tế sẽ phủ ngay lên đầu tất cả chúng ta, từ người đi làm đến các ông chủ: phải lấy lại tiền, lợi nhuận, công suất đã bị giảm sụt hay mất đi trong nhiều tuần. Lúc đó, KHXH&NV, đặc biệt những chuyên ngành kinh tế học, chính trị học, truyền thông..., phải tiếp tục truy vấn và tư duy lại toàn bộ hệ thống để đối mặt với những cuộc khủng hoảng mới.

Phục hồi kinh tế là việc ưu tiên số một của các chính phủ khi đại dịch kết thúc. Chỉ riêng với nước Pháp, và chỉ tính riêng hai lĩnh vực, công nghiệp sản xuất ô tô và công nghiệp dược phẩm phụ thuộc rất lớn vào Trung Quốc. Theo nhà kinh tế học Thomas Piketty, đại dịch đi qua sẽ là lúc phải tìm ra những tiêu chí mới cho nền quản trị kinh tế toàn cầu. Sự phụ thuộc vào nguồn - nơi sản xuất, chuỗi vận chuyển hàng hóa, phương thức tiêu thụ buộc chúng ta phải nghĩ đến việc tái công nghiệp hóa, giải toàn cầu hóa (deglobalization) và tái lãnh thổ hóa dây chuyền sản xuất. Tiêu dùng và thói quen tiêu dùng cũng phải thay đổi, chí ít như mua và tiêu thụ sản phẩm địa phương, tại chỗ, hạn chế tiêu thụ đại trà. Sản xuất và tiêu dùng phải được đặt trong mối tương quan với môi trường và sinh thái. Công nghệ và truyền thông cũng sẽ thay đổi diện mạo và bước vào kỷ nguyên mới của riêng mình sau đại dịch Covid-19. Làm việc từ xa chắc chắn không còn là thể nghiệm mà trở nên đại trà và tạo nên thói quen làm việc mới. Giáo dục trực tuyến cũng sẽ được dân chủ hóa.

Nhiều năm trở lại đây, các nước dân chủ phương Tây phải đối mặt liên tục với khủng bố, xử lý khủng hoảng và tình thế cấp bách nên các chính phủ thiết chặt các quyền công dân và tăng quyền kiểm soát của công quyền. Giới trí thức và luật pháp nhìn thấy rõ những mối nguy về nhân quyền và dân chủ trong các biện pháp này vì nhà nước có thể viện cớ "chống khủng bố" hay "giải quyết khủng hoảng" để nhắm vào mục đích khác. Trong trận đại dịch này, nhiều phân tích của các nhà khoa học xã hội càng cho thấy nguy cơ đó rõ ràng hơn bao giờ hết. Như Harari đã chỉ ra, đây có thể là "thời cơ" ra đời rất nhiều giải pháp kiểm soát người dân nhân danh kiểm soát dịch bệnh, là cái cớ để các chính quyền tăng cường giám sát người dân. Do đó, để cứu lấy cái sinh thể xã hội thì quyền tranh luận, phản biện và tố giác của mọi công dân phải luôn được duy trì.

Các chính phủ, trong đại họa virus này, đều đang thấm thía một điều: phải đầu tư tài chính và cơ sở vật chất cho nền y tế công và nghiên cứu khoa học cơ bản. Nhưng nghiên cứu, không có nghĩa là chỉ hiểu được độc lực mạnh yếu của con virus mà còn phải hiểu được chính cái sinh thể xã hội này và hành vi con người, phải có cái nhìn toàn diện về xã hội. Đây không thể bị coi là hai ngành dịch vụ hay ngành sản xuất buộc phải đem lại kết quả tức thì và vì lợi ích trước mắt. Nếu không, nhân loại sẽ phải đối mặt với đại họa mới mang tính toàn cầu mà nhiều nhà khoa học đã dự báo trước: thảm họa khí hậu, hạn hán, cháy rừng, ngập lụt, hung bạo cũng không kém gì một con virus.

Nếu thiếu nghiên cứu để rút ra các bài học quản lý, loài người sẽ "lỡ hẹn" tiếp với Lịch sử!

Paris, tháng 3/2020

(Theo Tạp chí Tia sáng)

 

* 4 tháng đầu năm hơn 3.600 tỷ đồng đầu tư vào Nghệ An

Trong 4 tháng đầu năm 2019, Nghệ An đã cấp mới (chấp thuận chủ trương đầu tư/cấp giấy chứng nhận đầu tư) cho 19 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký 1.675 tỷ đồng; điều chỉnh 18 lượt dự án, trong đó 5 dự án điều chỉnh tổng vốn đầu tư (tăng 1.999,13 tỷ đồng).

Các dự án đầu tư được cấp mới chủ yếu đến từ các doanh nghiệp trong nước. Trong đó, phân loại theo địa bàn thì đầu tư ngoài khu kinh tế và các khu công nghiệp có 15 dự án/971,81 tỷ đồng (chiếm 78,95% về số lượng dự án và 58,02% về tổng mức đầu tư); Đầu tư trong khu kinh tế và các khu công nghiệp thì cấp mới cho 4 dự án/ 703,2 tỷ đồng (chiếm 21,05% về số lượng dự án và 41,98% về tổng mức đầu tư).

Phân loại theo hình thức đầu tư tỉnh đã cấp mới cho 18 dự án/1.491 tỷ đồng (chiếm 94,74% về số lượng dự án và 89,01% về tổng mức đầu tư) cho các nhà đầu tư trong nước. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có 1 dự án được cấp mới với số vốn 8 triệu USD (chiếm 5,26% về số lượng dự án và 10,99% về tổng mức đầu tư).

Phân loại theo lĩnh vực đầu tư: Lĩnh vực công nghiệp, xây dựng thu hút được 4 dự án/208,06 tỷ đồng (chiếm 21,05% về số lượng dự án và 12,42% về tổng mức đầu tư); Lĩnh vực dịch vụ thu hút 13 dự án/1.203,18 tỷ đồng (chiếm 68,42% về số lượng dự án và 71,83% về tổng mức đầu tư). Lĩnh vực nông nghiệp thu hút được 2 dự án/263,77 tỷ đồng (chiếm 10,53% về số lượng dự án và 15,75% về tổng mức đầu tư).

Tỉnh cũng đã tập trung rà soát các dự án chậm tiến độ; từ đầu năm đến nay, đã chấm dứt hoạt động đối với 6 dự án với tổng diện tích đất 163,31 ha, đưa tổng số dự án bị thu hồi đến nay là 174 dự án.

P.V (Theo Báo Nghệ An)

* Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An: Hỗ trợ dung dịch hoạt hóa điện hóa khử trùng phục vụ phòng chống dịch Covid - 19

Trước diễn biến vô cùng phức tạp của dịch viêm đường hô hấp cấp do virus corona chủng mới gây ra, để chung tay cùng đẩy lùi dịch bệnh, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An đã hỗ trợ dung dịch hoạt hóa điện hóa (Anolyte) cho các bệnh viện, điểm cách ly ở Nghệ An.

Với sự ủng hỗ của các doanh nghiệp, tổ chức, hiện tại, Sở đã trao được số lượng lớn dung dịch hoạt hóa điện hóa (anolit) cho các bệnh viện, điểm cách ly, cụ thể: Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh 150 lít để sử dụng phun khủ trùng tại các điểm cách ly trên địa bàn; Bệnh Viện ĐKKV Tây Bắc Tỉnh Nghệ An 100 lít; Bộ đội biên phòng tỉnh 200 lít phục vụ phòng chống dịch Covid nơi tuyến đầu biên giới; Bàn giao dung dịch cho Tỉnh đội Nghệ An để hỗ trợ tỉnh Xiêng Khoảng  (CHND Lào).

Hồ Thủy

* Nghiên cứu, thiết kế lắp đặt Buồng khử khuẩn di động phòng trừ dịch bệnh COVID-19 tại Nghệ An

Dưới sự tư vấn của Tiến sĩ Nguyễn Văn Khải, Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Nghệ An phối hợp với Trường Cao đẳng Kỹ thuật Việt Hàn sản xuất sản phẩm buồng khử khuẩn toàn thân sản xuất bằng công nghệ sốc nhiệt kết hợp phun hơi dung dịch hoạt hóa điên hóa.

Chức năng chính của Buồng khử khuẩn di động: Diệt khuẩn cho người, đồ vật khi có tiếp xúc với môi trường bên ngoài. Buồng có chức năng tự động phát hiện người, vật vào vị trí, tự động thổi khí nóng trong thời gian đủ làm nóng toàn bộ người hoặc vật, sau đó sẽ phun dung dịch muốn dưới dạng sương để diệt khuẩn trong thời gian tối ưu để đảm bảo tỷ lệ diệt khuẩn là cao nhất.

Đã có 02 Buồng khử khuẩn di động được đặt tại khu vực cách ly của Bệnh viện đa khoa Nghệ An, Khu cách ly Khoa Quân sự - ĐH Vinh. Hiện nay, Công ty CP tự động hóa và xây lắp điện SNT (61 Nguyễn Cảnh Hoan - Quán Bàu - Tp Vinh) tài trợ chống dịch Covid 01 Buồng khử khuẩn toàn thân di động. Sản phẩm này được giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh sử dụng tại các điểm cách ly trên địa bàn.

Ngô Hoàng Linh

* Đa dạng thực vật bậc cao Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt - Một cuốn sách quý về đa dạng sinh học và công tác bảo tồn, phát triển nguồn gen

Các nghiên cứu gần đây nhất đã phát hiện ở Pù Hoạt có nhiều loài mới cho cả Việt Nam và thế giới (Huyết rồng Pù Hoạt, Chân danh Pù Hoạt, Riềng nhiều hoa). Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn mang tính chất nhỏ lẻ, rời rạc không tương xứng với giá trị đa dang sinh học có ở Pù Hoạt.

Xuất phát từ những lý do trên, nhóm tác giả do Tiến sĩ Nguyễn Anh Dũng, Thạc sĩ Trần Quốc Thành và Thạc sĩ Hoàng Xuân Trường đồng chủ biên đã biên soạn cuốn Đa dạng thực vật bậc cao Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt nhằm thống kê các kết quả nghiên cứu về đa dạng thực vật ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt từ trước đến nay, giúp đánh giá được tính đa dạng và những giá trị của khu hệ này, đồng thời làm tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo để bảo tồn, khai thác, phát triển hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên thực vật nơi đây.

Sách dày 120 trang và 50 trang phụ bản (hình ảnh một số loài thực vật bậc cao ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt), khuôn khổ 20x28cm, số lượng in1.100 cuốn, được Nhà xuất bản Nghệ An ấn hành vào quý IV/2019. Ngoài phần Lời giới thiệu và Mở đầu, nội dung chính của cuốn sách gồm 5 chương: Chương 1: Tổng quan về đa dạng thực vật bậc cao; Chương 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt; Chương 3: Đa dạng hệ thực vật bậc cao Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt; Chương 4: Đa dạng về giá trị sử dụng của thực vật Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt; Chương 5: Sự suy giảm đa dạng thực vật ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt và các giải pháp bảo tồn, quản lý, khai thác bền vững.

Phạm Ngọc Chi

 

 


 

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.