« Quay lại

Chuyên san Khoa học xã hội &nhân văn số 1 và 2 năm 2017

Nguyễn Khắc Phê

Vậy là Xuân Đinh Dậu đã tới! Nghe tiếng gà gáy vang chào bình minh của một mùa Xuân mới bỗng nghĩ đến sự khởi đầu. Một công trình, một con người hay một chặng đường,... Sự khởi đầu bao giờ cũng ôm chứa những tư tưởng, dự định và hy vọng tốt lành mà trong quá trình thực hiện, trong những bước đi kế tiếp, vì sự "xô đẩy" của những thế lực này khác, vì sự "ô nhiễm" tất yếu của môi trường mà không một thực thể nào tránh được, những điều đó có thể biến dạng, rơi rụng đi ít nhiều.

Với đất nước Việt Nam, sự khởi đầu có ý nghĩa lịch sử là Cách mạng tháng 8 năm 1945 với bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình đã được sử sách nói đến nhiều và được đưa vào sách giáo khoa, nên hầu như ai cũng biết. Tuy vậy, cũng vào năm 1945 - Ất Dậu này, để xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng non trẻ trong tình thế éo le như "ngàn cân treo sợi tóc", Hồ Chủ tịch cũng có nhiều bài viết quan trọng khác nữa.

 Ất Dậu - Đinh Dậu, hơn bảy mươi năm đã qua, đất nước chúng ta cũng như cả hành tinh xanh đã có biết bao thay đổi và vừa trải qua một năm đầy những biến động bất ngờ, đến mức nhiều người thốt lên: "Mọi điều đều có thể xảy ra"! Mặc dù thế và cũng có thể nói, chính vì thế mà chúng ta cần nhắc lại những tư tưởng đẹp đẽ, những điều tâm huyết mà vị lãnh tụ anh minh của dân tộc đã gửi gắm vào thời kỳ đầu của cách mạng, như là một chiến binh qua bao trận mạc, trở về tắm gội nơi suối nguồn trong trẻo để trút bỏ bụi bặm đường trường, tiếp thêm sinh lực, xốc lại hành trang để vững bước lên chặng đường mới.

Trong tuyển tập các bài nói và viết cơ bản nhất của Hồ Chủ tịch được xuất bản ngay sau khi Người qua đời (Vì Độc lập tự do, vì Chủ nghĩa xã hội - NXB Sự thật, H - 1970), ngoài Tuyên ngôn độc lập, cũng có 4 bài nữa công bố năm 1945, trong đó bài "Hô hào nhân dân chống nạn đói" không ghi rõ ngày tháng, nhưng căn cứ vào sự kiện nạn đói Ất Dậu để lại hậu quả nặng nề cho chính quyền cách mạng non trẻ, có thể bài viết này được Hồ Chủ tịch thực hiện sớm nhất (có khi Người viết trước cả Tuyên ngôn độc lập). Hẳn sẽ có người nói: Bây giờ, Việt Nam xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới, lời "Hô hào nhân dân chống nạn đói" liệu còn ý nghĩa gì nữa? Xin thưa: Nạn đói càn quét mấy chục tỉnh miền Bắc năm 1945 đó là chuyện quá khứ, nhưng những năm gần đây, Nhà nước vẫn phải luôn xuất gạo dự trữ cứu đói một số vùng dân cư và trận lũ nhấn chìm mấy tỉnh miền Trung đã khiến hàng ngàn gia đình trắng tay; trong tình hình đó, tinh thần tương thân tương ái "vùng này san sẻ thức ăn cho vùng khác, đỡ đầu cho vùng khác… Chắc không ai thấy đồng bào chết đói mà nỡ lòng no ấm một mình" mà Hồ Chủ tịch nêu ra từ năm 1945 vẫn luôn phải được đề cao. Cuối năm vừa qua, báo chí đã nêu gương rất nhiều người, tuy không giàu có gì, đã nhiệt tình góp tiền gửi giúp bà con miền Trung; nhưng cũng không ít bữa tiệc thừa thãi sơn hào hải vị mở ra khắp các nhà hàng sang trọng, chính giữa lúc người dân Tân Hóa (Quảng Bình), Hương Khê (Hà Tĩnh) đang chới với trên nóc nhà ngóng thuyền cứu trợ mang mì tôm đến! Lại còn chuyện cán bộ xóm nơi này nơi kia đi thu lại tiền, hàng cứu trợ để "phân chia lại", khiến dân chúng bất bình. Từ năm Ất Dậu 72 năm trước, Hồ Chủ tịch đã viết: "Các Ủy ban phải có sáng kiến để tìm ra cách làm được việc mà không mất lòng dân. Nhất là đối với chữ CẦN, chữ KIỆM, chữ HY SINH, chữ CÔNG BẰNG(1) thì các Ủy ban phải thực hành trước, phải làm gương cho nhân dân".

Những dòng chữ quả đã xuất hiện từ "ngày xưa" nhưng nay nhắc lại vẫn nóng bỏng tính thời sự trước tình hình nhiều "Ủy ban" hiện nay suy thoái đến mức Trung ương Đảng phải cấp bách ra Nghị quyết 4 (khóa 12): "Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước"; mục 5 trong 9 loại suy thoái còn chỉ rõ: "Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân".

 Yêu cầu cán bộ "làm được việc mà không mất lòng dân", "làm gương cho nhân dân" cũng được Hồ Chủ tịch nhấn mạnh hơn nữa trong thư "Gửi các ủy ban nhân dân các Bộ, Tỉnh, Huyện và Làng" viết tháng 10/1945. Có lẽ đây là lần đầu tiên, vị lãnh đạo tối cao của dân tộc, dù chính quyền non trẻ vừa thành lập, đã mạnh mẽ và quyết liệt chỉ rõ những vấn đề rất cơ bản về trách nhiệm của người cầm quyền:"Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lí gì… Các cơ quan của Chính phủ, từ toàn quốc cho đến các làng đều là đầy tớ của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân…". Tiếp đó, Người nhấn mạnh:

Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm

Việc gì hại cho dân, ta phải hết sức tránh.

Đọc lại những dòng chữ này, nghĩ tới những vụ cán bộ đánh đập dân ngay giữa đường phố (gần nhất là vị vụ phó ở Hà Nội đấm vào mặt một lão tiến sĩ 76 tuổi cuối năm con Khỉ); rồi chuyện xả lũ, xây nhà máy xả chất độc bất chấp sinh mạng hàng ngàn, hàng vạn người dân, chúng ta không khỏi giật mình vì sự suy thoái, biến dạng của một số kẻ "đầy tớ của dân" thời nay và càng khâm phục sự tiên báo của Hồ Chủ tịch về nguy cơ "quyền lực làm tha hóa con người" đang "đe dọa tồn vong của chế độ", như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói với cử tri Hà Nội hôm 7/10/2016.

Cũng trong lá thư trên, Hồ Chủ tịch đã sớm chỉ ra những "lầm lỗi rất nặng nề" mà nhiều cán bộ phạm phải. Đó là: 1. Trái phép; 2. Cậy thế; 3. Hủ hóa; 4. Tư túng; 5. Chia rẽ; 6. Kiêu ngạo. Tiếp đó, Người cảnh báo: "Đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa… nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung".

Cuối thư, Người nhắc nhở "Chúng ta phải ghi sâu những chữ công bình, chính trực vào lòng".

Vấn đề thật là sáng rõ. Điều đáng suy nghĩ là vì sao từ Ất Dậu đến Đinh Dậu, 72 mùa Xuân đã qua, mà "Tình trạng suy thoái… có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn?" (Nghị quyết 4, khóa 12).

Mùa Xuân là mùa của hy vọng, mùa cây thay lá mới. Chúng ta hy vọng việc nhắc lại những tư tưởng đẹp đẽ, trong sáng đã xuất hiện tự buổi khởi đầu cách mạng sẽ góp phần thúc đẩy quyết tâm "đổi mới toàn diện" mà Đảng đã ghi vào Nghị quyết, hy vọng những người đang "cầm cân nẩy mực" lãnh đạo đất nước "phải có sáng kiến để tìm ra cách làm được việc mà không mất lòng dân" như Hồ Chủ tịch đã viết từ năm Ất Dậu - 1945, để mùa Xuân thực sự đến với mọi người, để dân tộc ta đủ sức vượt qua những trở ngại và cạm bẫy trong thế giới vẫn đầy những biến động phức tạp, khó lường như hiện nay.

 

Chú thích

(1). 4 từ in chữ lớn trong nguyên bản của NXB Sự thật.

Thái Kim Đỉnh

Nhân kỷ niệm 100 năm năm sinh của Người (1890 - 1990), Tổ chức Giáo dục Khoa học Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là "Vị anh hùng giải phóng dân tộc và là Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam"(1).

Ngay từ đầu thế kỷ XX, trong bài Gặp một chiến sĩ cộng sản quốc tế đăng trên Tạp chí Ngọn lửa nhỏ số tháng 12-1923, nhà thơ, nhà báo Xô-viết O. Mandenxtam đã viết: "... từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là nền văn hóa của tương lai...".

Trong cuộc đời ba mươi năm bôn ba hoạt động cách mạng, Bác Hồ của chúng ta đã sống và làm việc ở nhiều nước trên thế giới. Bác được đào luyện trong nôi văn hóa phương Đông cũng như văn hóa phương Tây; thấm nhuần tinh hoa văn hóa các dân tộc Á, Âu, nhất là những nền văn hóa lớn như Trung Hoa, Ấn Độ, Pháp, Nga… Nhưng trước hết, Bác là hiện thân của văn hóa Việt Nam - Phải chăng là nền văn hóa của tương lai mà Mandenxtam từng nói (?).

Chúng ta đều biết Bác là nhà báo, nhà văn, nhà thơ viết tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Hoa sành sỏi, đến già vẫn thuộc văn Huy-gô, thơ Puskin, tự coi mình là "học trò nhỏ của Tônxtôi". Trong Nhật ký trong tù có những bài Bác phỏng theo thơ Lý Bạch, Đỗ Mục… Nhưng Bác lại cũng thuộc và rành Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm… Bác thường dạy những cán bộ gần gũi học các tác phẩm ưu tú của dân tộc. Lần đi trên tàu biển từ Pháp về nước năm 1946, ngồi nói chuyện với các nhà trí thức cùng về theo Bác, các vị đều thưa là thuộc Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm. Bác hỏi bác sĩ Trần Hữu Tước: Trong Chinh phụ ngâm, chú thích câu nào nhất? Bác sĩ thưa: Cháu thích câu: Hướng dương lòng thiếp như hoa. Bác vừa đùa, vừa khen: "A, chú này chưa mất gốc". Bác cũng không quên ca dao, tục ngữ, và cả những vở tuồng bội cổ điển. Khi các diễn viên văn công Liên khu 4 hát dân ca Nghệ - Tĩnh cho Bác nghe, Bác còn nhắc các cô lời hát ru ngày xưa: Ru tam tam théc cho muồi… Cụ Lê Văn Hiến kể lại: Trong một cuộc họp Hội đồng Chính phủ ở Việt Bắc, giờ giải lao cụ lên hát đoạn tuồng cổ "Công chúa Trại Ba tự đấu tranh với bản thân để theo chồng là Tống Địch Thanh". Thấy cụ dừng lại, Bác bảo hát tiếp và nhắc luôn câu văn tuồng: Hữu tình mà hóa vô tình - Bơ vơ thê thiếp lênh đênh nỗi chàng

Bác không quên và luôn tôn trọng những phong tục tập quán cổ truyền tốt đẹp. Hồi ở Pháp, nhân ngày giỗ mẹ 22 tháng Chạp, Bác cũng làm cỗ xôi gà dâng lên bàn thờ để cúng. Một người bạn thủy thủ từ Boóc-đô lên thăm, cùng ở lại dự. Lễ xong, hai anh em ngồi vào bàn, ông vui miệng hỏi tại sao gà cúng giỗ lại cắm hoa râm bụt vào miệng? Bác cười, giải thích: "Gà ngậm hoa, sao lại nói là cắm". Chú không biết à, ông bà ta có câu Gà thờ giỗ cha gà ngậm ngọn trúc - Gà thờ giỗ mẹ gà ngậm hoa râm bụt. Lại khi hoạt động bí mật ở Việt Bắc, trong bản có một hội viên cứu quốc nữ qua đời, Bác gọi cán bộ địa phương là ông Dương Đại Lâm lên, hỏi: "Đoàn thể có tổ chức đến thăm viếng không?", "Tục lệ xưa ra sao?". Ông Lâm thưa: "Ai có tiền gạo thì mang tiền gạo, không thì bó củi bó đuốc, miễn là có lòng thương xót người chết". Bác hỏi thêm: "Có đọc văn tế không?". "Dạ, có thì hay lắm, nhưng hai ông tào (thầy cúng) hay chữ trong bản, một ông đi vắng, một ông rất khó tính...", Bác bảo chiều lên lấy… Nghe đọc bài văn tế, mọi người trầm trồ, hỏi: "Thầy tào nào mà làm hay thế?". "Văn của đồng chí già đó". "Ôi, đồng chí già cũng làm thầy tào được à?"… Năm 1947, cụ Nguyễn Văn Tố hy sinh, Bác Hồ lại làm bài văn tế theo thể phú ngày xưa đọc trong lễ truy điệu cụ.

Tết Nguyên đán là Tết cả, là lễ hội dân tộc lớn nhất trong một năm. Những nghi lễ, tập tục ngày Tết biểu hiện đậm nét văn hóa Việt Nam, văn hóa tâm linh, văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp, văn hóa nghệ thuật với các hoạt động văn nghệ (hoa đào, câu đối, sắc bùa, đi hát chúc v.v…), và văn hóa phục trang (quần áo Tết), văn hóa ẩm thực (bánh chưng, bánh tét, mâm ngũ quả, cỗ bàn…). Tất nhiên, hơn ai hết, Bác Hồ am hiểu sâu sắc ý nghĩa các lễ nghi, phong tục tết, và tâm lý của nhân dân ta đối với ngày Tết.

Ở chiến khu, Tết đến, Bác gói đồng tiền, đồng xu vào giấy hồng điều, mừng tuổi các cháu nhỏ, và đi chúc Tết các ông, bà già. Về Hà Nội, vào Tết Độc lập đầu tiên (1946), mới ngày 18 tháng Chạp, Bác đã hỏi ông Vũ Kỳ: "Chú cần xem sắp đến ngày Tết ông Táo chưa nhỉ?". Tối 30 Tết, Bác đi thăm và chúc Tết một số gia đình đồng bào Hà Nội, nhà nghèo, nhà vừa, nhà sang… Từ mười giờ đêm, trong bộ đồ nửa tỉnh nửa quê, áo the, khăn đóng, ngoài khoác áo dạ "ba-la-xuy" (Pardessus), cổ quàng khăn len (hóa trang để giữ bí mật), ông Vũ Kỳ - thư ký riêng, đưa Bác xuất hành, du Xuân: Ra hồ Hoàn Kiếm, vào đền Ngọc Sơn xem đồng bào đi hái lộc, rồi lên đền Bạch Mã… Sáng mồng một Tết, Bác lại bảo ông Kỳ lấy tờ giấy để Khai bút.

Từ đó, vào dịp Tết, có năm Bác đi chợ Tết, ra Đồng Xuân xem đồng bào mua bán, dừng lại bên phố xem ông đồ viết câu đối… Có năm Bác ghé vào chùa, đền ngắm cảnh. Nhưng không năm nào không đi chúc Tết đồng bào, chiến sĩ, Bác đến với mọi tầng lớp nhân dân, nhưng trước tiên đến những nhà nghèo. Về sau có điều kiện, vào dịp Tết, Bác đi thăm nhiều nơi… đơn vị bộ đội, nhà máy, hợp tác xã nông nghiệp…

Không quên lễ nghi, phong tục xưa, nhưng Bác Hồ lại tìm cách làm cho phù hợp với cuộc sống hiện đại chứ không nệ cổ. Đặc biệt, Bác đã sáng tạo nên những tục lệ mới chưa từng có.

Ta nhớ là năm nào Bác cũng có thư và thơ chúc Tết đồng bào. Bài thơ Chúc năm mới đầu tiên của Bác làm năm 1942, in trên báo Việt Nam Độc lập số 114, có đoạn:

… Chúc đồng bào ta đoàn kết mau,

Chúc Việt Minh ta càng tấn tới!

Chúc toàn quốc ta trong năm nay,

Cờ đỏ sao vàng bay phấp phới…

Nhưng lúc đó, bài thơ chưa được phổ biến rộng rãi, chưa mấy ai biết. Nói đến thư và thơ chúc Tết của Bác, thì phải nói bắt đầu từ Tết Bính Tuất, 1946, khi Bác đã là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Xin trích bài Nghe thư chúc Tết đầu tiên của Bác Hồ của nhà viết kịch Học Phi kể lại, đêm giao thừa năm ấy, ở nhà bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, có mặt một số trí thức học ở Pháp về.

"… Bỗng tiếng còi thành phố vang lên, rồi tiếng chuông trống đổ dồn, tiếng pháo nổ giòn giã khắp nơi. Bác sĩ Luyện vừa đứng dậy, vừa mở to radio vừa nói: "Hãy nghe Cụ Hồ Chí Minh chúc Tết đã". Tin Hồ Chủ tịch đọc thư chúc Tết đã được thông báo trên đài, mọi người đã biết, nên cùng im lặng ngồi chờ… Từ trong máy thu thanh phát ra bài nhạc Quốc ca, rồi đến tiếng nói ấm áp của Bác Hồ. Bác chúc Tết đồng bào ở trong nước, và kiều bào ở nước ngoài, chúc các cụ phụ lão, các cháu thanh, thiếu niên và nhi đồng, các chiến sĩ đang chiến đấu ở ngoài mặt trận. Bức thư kết thúc bằng bốn câu thơ lục bát:

Bao giờ kháng chiến thành công,

Chúng ta cùng uống một chung rượu đào.

Tết này ta tạm xa nhau,

Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy.

Không khí trong phòng lặng đi một lúc, rồi bác sĩ Luyện lên tiếng trước: "Từ khi biết làm người, chưa bao giờ tôi được nghe một vị nguyên thủ quốc gia chúc Tết dân…".

Bức thư này và hàng chục thư - thơ chúc Tết của Bác, trừ các chiến sĩ, đồng bào ở thành thị và những nơi có máy thu thanh được nghe; còn phần lớn đồng bào chỉ đọc trên báo, mãi đến Tết những năm 60, dần dần mới được nghe trực tiếp. Ngoài giọng đọc ấm áp của Bác, bài thơ còn được nghệ sĩ Trần Thị Tuyết ngâm, làm tăng thêm tình cảm…

Xuân Đinh Mùi (1967), Ủy ban Trung ương Mặt trận giải phóng miền Nam có sáng kiến thu lời chúc Tết của Bác vào băng tiếng, làm quà tặng một số gia đình trí thức tiêu biểu ở Sài Gòn. Nghe xong, nhà giáo Dương Minh Thới, thân sinh bà Dương Quỳnh Hoa, vô cùng xúc động, nói với các cán bộ Mặt trận: "Tôi xin thay mặt gia đình cảm ơn đoàn thể và anh em đã dành cho gia đình một món quà Xuân đặc biệt. Xin qua anh em, cho chúng tôi gửi lời kính chúc Bác Hồ sống lâu để lãnh đạo cuộc kháng chiến mau đến ngày thắng lợi".

"Thư chúc mừng năm mới" cuối cùng Bác viết là vào Xuân Mậu Thân (1968). Cuối thư, có bài thơ:

Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,

Thắng trận tin vui khắp nước nhà.

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,

Tiến lên!

    Toàn thắng ắt về ta!

Bác còn có bài thơ chữ Hán Mậu Thân xuân tiết viết vào 14-4-1968. Mùa Xuân Kỷ Dậu (1969) sức khỏe của Bác đã sút kém, nên Bác chỉ có bức điện bằng 4 câu thơ chúc Tết các đồng chí cán bộ đang công tác tại Pari mà thôi.

Hồi ấy, vào đêm giao thừa, đồng bào ta đều đón nghe thư và thơ chúc Tết của Bác, lâu ngày thành tục lệ mới. Về sau các vị chủ tịch nước kế nhiệm vẫn tiếp tục truyền thống tốt đẹp ấy. Vào giao thừa hàng năm, đồng bào ta vẫn đón nghe.

Thật ra thư - thơ chúc Tết chính là thông điệp đầu năm của nguyên thủ quốc gia. Bác Hồ đã khéo chọn một cách làm mới mẻ phù hợp với tâm lý nhân dân, sáng tạo nên một hình mẫu văn hóa Tết hiện đại, mà đậm đà bản sắc dân tộc.

Sáng tạo văn hóa Tết thứ hai của Bác Hồ là Tết trồng cây. Tôi muốn nhắc lại một sử liệu được chép trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư: "Mùa xuân Bính Ngọ, niên hiệu Thiên Phù Duệ Võ thứ 7 (1126), vua Lý Nhân Tông hạ lệnh cấm nhân dân mùa xuân không được chặt cây". Đó là Lệnh chỉ được ban bố cách đây ngót chín thế kỷ, khi khắp nước ta, kể cả ven kinh thành Thăng Long còn là rừng rậm. Đọc sử liệu này, người Việt Nam nào lại không kinh ngạc về tầm nhìn và tấm lòng của ông cha ta, và không đau xót vì cái nạn "lâm tặc" hủy diệt rừng ngày nay. Về sau, hương ước nhiều làng xã cũng có điều khoản cấm chặt phá cây rừng và cây trồng nơi công cộng. Việc trồng cây cũng đã được thực hiện từ xa xưa. Cùng với trồng ngũ cốc, rau quả, người ta trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây bóng mát, cây thuốc, cây cảnh… Cây tre, cây đa trở thành hình ảnh biểu tượng của làng xóm Việt Nam. Xoan, mít, bưởi, khế… là cây vườn quen thuộc. Sen, mai, đào là các loại quốc hoa. Nhiều giống cây trở thành đặc sản của từng vùng, miền như: Đào Sapa, nhãn Hưng Yên, cam Bố Hạ, Xã Đoài, bưởi Phúc Trạch, thông Đà Lạt, mai Huế, dừa Bình Định, Bến Tre, xoài, sầu riêng… của miệt vườn Nam bộ… Cây đa - mái đình, cây đa - giếng nước, cây mít - nhà ngói, rồi đào - liên - cúc - mai, tùng - trúc - cúc - mai… đi vào hội họa, điêu khắc… Cây gắn bó với người, nuôi sống người, che chở người, rừng che bộ đội, rừng vây quân thù… Người quý cây, chăm sóc vun bón cây…

Tiếp thu truyền thống tốt đẹp của dân tộc, Bác Hồ rất thích trồng cây. Từ khi hoạt động ở Thái Lan cho đến khi về nước làm việc ở chiến khu Việt Bắc, ở thủ đô Hà Nội, Bác đều không quên "tăng gia sản xuất" và trồng cây. Bác tự mình làm trước và kêu gọi mọi người cùng làm.

Ngày 28-1-1959, lấy bút danh Trần Lực, Bác viết bài Tết trồng cây đăng trên báo Nhân dân kêu gọi toàn dân hưởng ứng một tháng trồng cây, vào mùa Xuân (từ 6-1 đến 6-2-1960) nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng. Đợt trồng cây này gọi là "Tết trồng cây", mở đầu cho việc trồng cây quanh năm. Đồng bào ta náo nức hưởng ứng lời kêu gọi của Bác. Những "Đồi cây Bác Hồ", "Vườn cây Bác Hồ" phát triển khắp nơi. Từ ấy, "Tết trồng cây" được duy trì liên tục đến nay, trở thành một phong tục mới, một văn hóa Tết mới.

"Mùa Xuân là tết trồng cây,

Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân"

(Trích bài báo của Bác viết trong dịp Tết trồng cây, 1965).

Đối với Bác Hồ, trồng cây gây rừng không chỉ là "Thập niên chi kế" như lời Quản Trọng(2) - chính khách cổ đại Trung Hoa nói, không chỉ vì "có ích lợi to lớn cho kinh tế và quốc phòng" mà cao hơn là một tư tưởng nhân văn(3).

Ngày nay, nhân loại đang vất vả đối phó với sự biến đổi khí hậu toàn cầu, phấn đấu cho một trái đất xanh, ta càng nhận rõ tầm nhìn xa, nhận rõ tư tưởng lớn của Bác. Cùng với nhiều mặt khác, thế giới đánh giá rất cao phong trào trồng cây, "Tết trồng cây" của Việt Nam do Bác Hồ đề ra, khi tôn vinh "Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất".

 

Chú thích

(1). Nghị quyết của UNESCO viết bằng 6 thứ tiếng: Pháp, Anh, Ả-rập, Tây Ban Nha, Trung, Nga. Đoạn văn này, bản tiếng Pháp viết: "… Président Ho Chi Minh, héro de la libération nationale et éminent homme de culture du Viet Nam". Bản tiếng Anh viết: "… Ho Chi Minh, Vietnamese hero of national liberation and great man of culture". Nói "Hồ Chí Minh là nhà văn hóa thế giới" là không chính xác.

(2). Quản Trọng: tên là Di Ngô, tự là Trọng, người nước Tề đời Xuân Thu, làm Tướng quốc, giúp Tề Hoàn công dựng nên nghiệp bá. Câu của ông là: "Nhất niên chi kế mạc như thụ cốc, thập niên chi kế mạc như thụ mộc, Bách niên chi kế mạc như thụ nhân". Có lẽ chữ "thụ nhân" (trồng người) gốc từ đây.

(3). Có lần trong vườn Phủ Chủ tịch có cành cây mọc chìa ra đường đi. Các chiến sĩ bảo vệ muốn chặt đi cho rảnh. Bác ngăn lại và bảo: "Các chú đừng tưởng nó là cái cây thì muốn làm gì nó cũng được!" - Ý Bác là muốn nhắc nhở: Cái cây, cũng như con người, có quyền sống, và quyền ấy phải được tôn trọng.

Nguyễn Văn Toàn

Sinh thời, cứ mỗi độ Tết đến, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại đi thăm và chúc Tết nhân dân. Qua cảnh Tết ở mỗi nhà mà Bác biết được đời sống của nhân dân ra sao. Bác đến với nhân dân thật tự nhiên, quen thuộc, thân thiết như người cha trong gia đình. Như thường lệ, Tết Nguyên đán Đinh Dậu năm 1957, Bác đã đến với nhiều gia đình để chúc Tết và hỏi thăm tình hình đời sống của nhân dân.

Bác dặn: "Thương yêu giúp đỡ lẫn nhau"

Nhân dịp sắp đến Tết Nguyên đán Đinh Dậu 1957, Bác tặng một số quần áo do đồng bào các nơi biếu Người cho những anh chị em thương binh có thành tích công tác trong năm 1956. Bác cũng đã đọc thư chúc Tết đồng bào, cán bộ và chiến sĩ cả nước để Đài Tiếng nói Việt Nam ghi âm chuẩn bị phát vào đêm giao thừa. Bác cũng yêu cầu đồng chí Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội báo cáo chi tiết về tình hình chuẩn bị và mua sắm trong dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu của nhân dân thủ đô. Sau khi nghe báo cáo của đồng chí Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố, Bác về xã Tiến Bộ (nay là xã Phú Thụy, Gia Lâm) để kiểm tra thực tế và thăm nhân dân chuẩn bị Tết. Người thăm hỏi tình hình mua sắm chuẩn bị Tết của một gia đình nông dân và tỏ ý rất vui lòng khi thấy gia đình nào cũng có thịt, bánh chưng và hàng Tết.

Ngày 27-1-1957 (27 Tết Nguyên đán Đinh Dậu 1957), Bác gửi điện chúc Tết sinh viên, học sinh và các cháu thiếu nhi đang học tập tại các nước bạn nhân dịp năm mới Đinh Dậu. Người nhờ các em chuyển lời thăm hỏi tới các thầy giáo và nhân viên phục vụ. Cùng ngày, Bác gửi điện chúc Tết kiều bào nước ngoài nhân dịp năm mới Đinh Dậu, nhắc nhở kiều bào ta nên tăng cường tình hữu nghị với nhân dân địa phương.

Ngày 28-1-1957 (28 Tết Nguyên đán Đinh Dậu 1957), Bác tiếp đại biểu bà con nông dân xã Nhật Tân, ngoại thành Hà Nội đến chúc Tết Người. Cùng ngày, Bác tiếp ông Tổng lãnh sự Indonesia và phu nhân đến chúc Tết Người.

Sáng ngày 29-1-1957 (29 Tết Nguyên đán Đinh Dậu 1957), Bác cải trang như một cụ già ở quê ra thăm tình hình sắm Tết tại chợ Đồng Xuân (Hà Nội). Người ghé vào gian hàng mậu dịch bán hoa quả tươi hỏi mua một quả cam. Nhân viên bán hàng không bán và cho biết chỉ bán từ 1kg trở lên. Người tỏ vẻ không vui. Đến chiều Bác gọi điện cho Bộ Nội thương góp ý về phương thức bán hàng. Cùng ngày, tại Phủ Chủ tịch, Bác cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp các đại biểu quân đội, thương binh, quân nhân chuyển ngành có thành tích xuất sắc trong công tác năm 1956 đến chúc Tết Người nhân dịp năm mới Đinh Dậu. Khen ngợi anh chị em đã giữ vững truyền thống của quân đội, công tác tốt và có nhiều thành tích trong năm vừa qua, Người nhắc nhở: Trong điều kiện đất nước còn tạm thời bị chia làm hai miền, phải luôn luôn cảnh giác và sẵn sàng làm trọn mọi nhiệm vụ, giữ kỷ luật tốt; phải tăng cường tinh thần đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân và đoàn kết quốc tế, nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, gian khổ và thực hiện cần kiệm, chất phác. Về cuộc đấu tranh thống nhất Tổ quốc, Người khẳng định: đó là một cuộc cách mạng trường kỳ, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi, nếu chúng ta cố gắng, khắc phục khó khăn thì sẽ chóng giành thắng lợi; còn các cán bộ quân đội phải gương mẫu và chú ý chăm sóc đời sống chiến sĩ. Vào buổi tối, tại Câu lạc bộ Ba Đình (Hà Nội), Bác cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng dự buổi họp mặt nhân dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu của cán bộ, nhân viên cơ quan Phủ Thủ tướng. Người chúc sức khỏe năm mới và khen ngợi thành tích mà anh chị em cán bộ, nhân viên cơ quan Phủ Thủ tướng đã giành được trong năm qua; biểu dương cán bộ, bộ đội và nhân dân thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng đã có thành tích xuất sắc trong phong trào gửi tiền tiết kiệm. Người thông báo sẽ đặt giải thưởng xứng đáng để tặng thưởng những tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua này.

Theo đồng chí Ninh, cảnh vệ của Bác thì vào Tết Đinh Dậu năm 1957, đồng chí được vinh dự nhận nhiệm vụ đi với Bác đến chúc Tết một số gia đình. Sự việc này được đồng chí Ninh kể lại và được tác giả An Quân đưa vào cuốn sách "Theo Bác đi chiến dịch". Nhà xuất bản Văn học Giải phóng đã xuất bản cuốn sách này vào năm 1976.

Vào buổi sáng ngày 30-1-1957 (30 Tết Nguyên đán Đinh Dậu 1957), Bác tiếp Đoàn nghệ thuật bình kịch - Cáp Nhĩ Tân (Trung Quốc) tại Phủ Chủ tịch. Cùng ngày, Bác dự cuộc họp mặt cán bộ cao cấp và nhân sĩ, trí thức tiêu biểu mừng Xuân Đinh Dậu, do Trung ương Đảng tổ chức. Buổi chiều, Bác tiếp các đồng chí cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước tới chúc Tết Người. Buổi tối, Bác xem Đoàn bình kịch - Cáp Nhĩ Tân (Trung Quốc) biểu diễn buổi đầu tiên. Sau đó Bác đi thăm 5 gia đình công nhân ở khu lao động nhà máy điện Yên Phụ, nhà máy điện Bờ Hồ ở An Dương. Sau đó Bác đến thăm và chúc Tết một số gia đình ở phố Lò Đúc, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội: gia đình cụ Nguyễn Thị Khánh quê ở tỉnh Thừa Thiên, có sáu con đi bộ đội, trong đó có liệt sĩ Nguyễn Khắc Vĩ hy sinh trên chiến trường Điện Biên Phủ; gia đình đồng chí Phan Đăng Kỳ, cán bộ miền Nam tập kết; gia đình bà Thóc, góa bụa nghèo túng đang nuôi bốn con nhỏ.

Như một người thân trong đại gia đình công nhân, Bác cùng đón Tết với gia đình anh Nguyễn Văn Tảo và các gia đình công nhân khác của nhà máy điện Yên Phụ tại khu lao động vừa được xây dựng trên bãi rác Nghĩa Dũng cũ. Đêm giao thừa, cả khu lao động này như trong ngày hội với hai niềm vui lớn: được đón Tết trong các căn hộ mới ở khu lao động do Nhà máy xây, có đủ điện, nước sinh hoạt và được vinh dự đón Bác đến thăm. Bác chỉ vào nồi bánh chưng đang sôi của gia đình anh Tảo và hỏi cụ thể số lượng bánh, thịt mà từng hộ đã lo được trong Tết này và cả những khó khăn về đời sống, việc làm hiện nay. Bác rất vui trước những tiến bộ về đời sống, nhất là nhà ở của công nhân nhà máy và thân mật nhắc nhở mọi người: "Thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Cố gắng thi đua làm việc và thực hành tiết kiệm".

Ở một gia đình khác tại phố Lò Đúc, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Bác đã đến chúc Tết và căn dặn mọi người "nên có sự thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, thì Tết mới đoàn kết vui vẻ". Đồng chí Ninh kể lại: "Khoảng mười một giờ đêm, Bác đã thăm được tám nhà. Tới nhà thứ chín, xe dừng lại. Tôi chạy nhanh đến gõ cửa. Cửa mở, từ bên trong ánh đèn màu đỏ rực hắt ra và mùi hương, mùi hoa quả chín quyện lẫn với nhau ngào ngạt. Cả nhà đang sửa soạn đón giao thừa. Bà mẹ của gia đình khoảng ngoài 60 tuổi. Vành khăn nhung đen nhánh làm nổi bật mái tóc đã bạc. Nước da hồng hào làm tôn thêm khuôn mặt phúc hậu của bà. Bà đang ngồi trên giường cùng đàn cháu nhỏ. Tấm huân chương kháng chiến sáng ngời trên ngực, càng tăng thêm vẻ đẹp của tuổi già. Đây là bà mẹ có tới tám, chín người con trai, gái, dâu, rể tham gia bộ đội.

Khi tôi vào nhà, cả nhà đều nhìn ra. Tôi vừa kịp đứng sang một bên, Bác đã bước đến, toàn gia đình ai nấy đều ngẩn ra.

Mấy cháu nhỏ kêu lên ríu rít: "Bác Hồ! Bác Hồ! Bà ơi! Bác Hồ!". Bà mẹ luống cuống đứng dậy. Còn các con, có lẽ nhiều người đã được gặp Bác trong khi công tác, nhưng lúc này thấy Bác ngay ở nhà mình, lại càng cảm động. Qua nét mặt, cử chỉ không bình thường của các anh, các chị, tôi biết không ai nén được nỗi vui mừng và cũng không rõ mình sẽ phải làm gì bây giờ?...

          Khi Bác tới giữa nhà thăm hỏi gia đình về Tết, bà mẹ đang nhìn Bác, bỗng từ từ cúi đầu xuống và lâu lâu một chút, bà mới nói được nên lời:

- Ơn Bác, ơn Đảng, ơn Chính phủ; nhờ kháng chiến thắng lợi, gia đình nhà cháu hơn mười năm ly tán, Tết này các cháu mới về đông đủ đấy ạ! Tết năm ngoái, năm kia vẫn còn thiếu mấy cháu!

Trong khi Bác nói chuyện với gia đình, tôi đưa mắt nhìn kỹ gian nhà. Gian nhà khá rộng. Trên bàn thờ, một mâm ngũ quả vàng ối những cam, bưởi, chuối... từng chồng bánh chưng xếp đầy cả hai bên.

Bác đang nói chuyện chợt thoáng nhìn qua khung cửa bên trong, Bác thấy lấp ló một số người. Bác liền bước vào chúc Tết. Đó là một gia đình nghèo ở trong một chiếc buồng nối liền với dãy nhà bếp. Cả nhà, khi thấy Bác vào, đều luống cuống như gia đình bà mẹ ở nhà ngoài. Ông cụ chủ nhà chống gậy chừng trên năm mươi tuổi, nước da đen sạm, mặc chiếc áo màu nước dưa, vội vã chạy lại lấy tay với lấy chiếc ghế. Bác ra hiệu ngăn lại và thân mật bảo mọi người ngồi xuống gường. Người hỏi thăm sức khỏe, công việc làm ăn của gia đình. Trước sự ân cần của Bác, đôi môi ông mấp máy như muốn nói điều gì mà không sao nói được. Lúc ấy, những người ở gia đình nhà ngoài cũng vào cả trong sân. Bác trở ra thì cả hai gia đình đều hòa lại quanh Bác. Bác bảo mấy người con của gia đình nhà ngoài:

- Nhà ta tổ chức Tết khá đầy đủ, nhà trong ăn Tết còn thiếu thốn! Các cô, các chú nghĩ thế nào? Nên có sự thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, thì Tết mới đoàn kết vui vẻ chứ!

Như chợt tỉnh ra, bà mẹ và mấy người con vừa "vâng" một tiếng, thì các cô con dâu, con gái vội chạy lên nhà trên một lúc rồi mang bánh, mang giò xuống nhà dưới. Mấy chú bé cũng bảo nhau chia cho những chú bé nhà dưới mấy quả cam, vài chiếc pháo.

Sắp giao thừa rồi! Nhiều tiếng pháo đây đó đã nổ vang xa, xe chở Bác lướt nhanh về Phủ Chủ tịch, để Người kịp dự buổi mừng năm mới".

Bác dặn: "thực hành tiết kiệm"

Sáng ngày 31-1-1957 (Mồng một Tết Nguyên đán Đinh Dậu 1957), Bác gửi Thư chúc Tết đồng bào cả nước và kiều bào ta ở ngoài nước, toàn thể cán bộ, bộ đội và công an, các cụ phụ lão, thanh niên và nhi đồng. Người khẳng định rõ những thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, giữ vững trật tự trị an và củng cố quốc phòng... là nhờ sự cố gắng của toàn thể nhân dân ta, sự giúp đỡ của các nước anh em và chỉ ra nhiệm vụ của nhân dân ta trong năm mới:

Về kinh tế: Tăng gia sản xuất; thực hành tiết kiệm; nâng cao ý thức tự lực cánh sinh nhằm mục đích cải thiện dần mức sống vật chất và văn hóa của nhân dân.

Về chính trị: Thực hiện đúng Cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn kết toàn dân đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ thống nhất Tổ quốc. Tăng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, phát triển tình đoàn kết hữu nghị với các nước láng giềng và các nước khác để góp phần vào việc củng cố hòa bình thế giới.

Bác nhấn mạnh : "Tôi thân ái chúc đồng bào và cán bộ vui vẻ ăn Tết trong phong trào thi đua sản xuất và thực hành tiết kiệm".

Tiếp đó Bác về thăm và chúc Tết một số gia đình cơ sở cách mạng cũ ở thôn Phú Gia, Phú Thượng, Từ Liêm (nay là quận Tây Hồ, Hà Nội) như gia đình cụ Công Ngọc Phan, các gia đình ông Môn, bà Kinh, bà Phó Ái. Nói chuyện với nhân dân trong thôn, Bác chúc đồng bào đoàn kết, đoàn kết quân và dân, thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Sau đó Bác đến thăm và chúc Tết một đơn vị bộ đội bảo vệ Thủ đô, căn dặn cán bộ, chiến sỹ phải thực hiện đoàn kết nội bộ, đoàn kết nhân dân, luôn cảnh giác giữ gìn ý chí chiến đấu, tác phong và kỷ luật quân đội, tiết kiệm, giúp đỡ nhân dân, cố gắng học tập và rèn luyện.

Trong ngày Mồng một Tết hôm đó Bác còn đến thăm trại trẻ mồ côi Kim Đồng ở Thanh Oai, Hà Tây; thăm công trường xây dựng số 4 và thăm cảnh nhân dân Thủ đô vui đón Tết.

 

 

 


[1] Nhà nghiên cứu, Tp. Huế

Phong Lê

Văn kiện đầu tiên của Đảng chuyên về văn hóa, trong đó có văn học - nghệ thuật, đó là Đề cương về văn hóa Việt Nam - 1943(1). Một Đề cương về văn hóa Việt Nam - 1943 sau một Cương lĩnh chính trị… đã xuất hiện trong bí mật vào năm 1930.

ới Đề cương về văn hóa Việt Nam - 1943, văn hóa là một khái niệm có nội hàm rộng, bao gồm ba lĩnh vực: tư tưởng, học thuật, nghệ thuật. Bây giờ ta có hàng trăm định nghĩa về văn hóa. Ở thời điểm 1943, hiểu văn hóa ở ba phương diện: tư tưởng, học thuật, nghệ thuật tất nhiên là chưa đủ chiều rộng; nhưng lại có được một đường biên cụ thể cho sự hình dung. Đó là sự bao quát phạm vi hoạt động của người trí thức, của giới trí thức trên hai lĩnh vực cơ bản là khoa họcnghệ thuật.

Và, dẫu quan niệm về văn hóa là rộng hoặc hẹp, thì định hướng xuyên suốt của Đề cương vẫn là ở "ba nguyên tắc vận động của cuộc vận động văn hóa mới". Ba nguyên tắc xuất phát từ thực tiễn và đáp ứng rất kịp thời cho các nhu cầu bức thiết của thực tiễn. Đó là:

"a. Dân tộc hóa (chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa, khiến cho văn hóa Việt Nam phát triển độc lập);

b. Đại chúng hóa (chống mọi chủ trương, hành động làm cho văn hóa phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng);

c. Khoa học hóa (chống lại tất cả những cái gì làm cho văn hóa trái khoa học, phản tiến bộ)".

Ở đây, Dân tộc hóa là nguyên tắc được đặt ở vị trí số 1 trong Đề cương. Với nguyên tắc này, sự tiếp nhận của quần chúng, trước hết là các tầng lớp trí thức sẽ có ý nghĩa định hướng cho họ ở cả hai tư cách: tư cách người công dân, và tư cách người trí thức - nhà khoa học hoặc nghệ sĩ, trước một thời cuộc đang chuyển vào đêm trước cách mạng. Ở cả hai tư cách, người trí thức chỉ có thể chọn một con đường - con đường hướng về cách mạng, và tham gia cách mạng để cứu nước, trong đó có bản thân mình, và nghề nghiệp của mình. Trong tình thế khốn cùng của đất nước vào nửa đầu thập niên 1940 đang tiến tới cao trào Tổng khởi nghĩa, đồng thời là thảm cảnh hai triệu người chết đói, các tầng lớp trí thức cũng bị dồn đến thế cùng. Qua Đề cương về văn hóa Việt Nam - 1943, và với sự ra đời của Hội Văn hóa cứu quốc, gần như tuyệt đại bộ phận đội ngũ trí thức khoa học và nghệ thuật của dân tộc đều hướng về cách mạng.

Đại chúng hóa ở vị trí số 2. Và dẫu ở vị trí số 2 nó vẫn là nguyên tắc được đón nhận dễ dàng và có tác động sâu rộng đối với đời sống văn hóa, tinh thần nói chung và văn học - nghệ thuật nói riêng. Chính nhờ vào các kết quả của Đại chúng hóa mà ngay sau 1945, nền văn học - nghệ thuật dân tộc đã tạo được một chuyển đổi nhanh chóng để sớm có một gương mặt mới, một giọng điệu mới, thậm chí đến cả một thi pháp mới, trong sáng tác và tiếp nhận thơ, văn, nhạc, họa… sau những đỉnh cao đã đạt được trong văn chương, nghệ thuật, học thuật trước 1945.

Nhưng khi trình độ mọi mặt của quần chúng được nâng cao, trong và sau hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, khi nhu cầu giao lưu với thế giới đã được mở rộng thì nhận thức về đại chúng và yêu cầu đại chúng hóa phải được thay đổi. Có điều đáng tiếc là sự thay đổi về nguyên tắc đại chúng hóa là chậm, nhất là khi các bài học về văn nghệ Diên An và tư tưởng văn nghệ Mao Trạch Đông có hoàn cảnh thâm nhập khá sâu vào đời sống chính trị, văn hóa của ta. Sự thâm nhập đó quả có gây ra những ảnh hưởng tiêu cực, cản trở sự phát triển của văn nghệ bởi nó là nguồn tự nhiên dẫn đến căn bệnh công thức, sơ lược và tệ tô hồng, minh họa chủ trương, chính sách kéo dài cho đến hết thập niên 1960.

Trong bài phát biểu của đồng chí Trường Chinh - thay mặt Đảng đọc tại Đại hội văn nghệ Toàn quốc lần thứ II, năm 1962, ở Hà Nội, có tên: Tăng cường tính Đảng, đi sâu vào cuộc sống mới, để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng tốt hơn nữa, có đoạn: "Đề tài, chủ đề, cách thể hiện rõ ràng, đó là một biểu hiện của tính Đảng, và tính nhân dân trong văn nghệ ta (...). Nếu những điều quần chúng suy nghĩ sau khi thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật trái hẳn với chủ định của tác giả thì tác giả phải xem lại nội dung tư tưởng của tác phẩm, xem lại cách thể hiện của mình, nhất là xem chủ đề và lập trường tính Đảng có ăn khớp với nhau không?"(2).

Đây là sự nối dài nguyên tắc Đại chúng hóa ở thời điểm 1943 khi tuyệt đại đa số quần chúng còn chưa thoát nạn mù chữ, khiến cho người viết phải nhằm viết sao cho quần chúng dễ hiểu, dễ đọc. Phải từ hiệu quả của ý thức phục vụ mà trở lại kiểm điểm hiệu quả nghệ thuật. Nhưng khi trình độ công chúng đã lên cao, nhu cầu tinh thần của công chúng đã trở nên đa dạng thì tiêu chí đơn giản, rõ ràng trong đề tài, chủ đề và cách thể hiện sẽ không còn thích hợp; và khi yêu cầu đó lại gắn bó, hơn thế, lại là biểu hiện của tính đảng và tính nhân dân thì quả là khó tránh cản trở những tìm tòi, khám phá để có những cá tính sáng tạo, những phong cách riêng, nó chính là mục tiêu cuối cùng của nghệ thuật. Và như vậy, yêu cầu tự do trong sáng tạo nghệ thuật khó mở rộng được quy mô, thậm chí khó thực hiện được khiến cho nhiều "tai nạn" lớn nhỏ đã xảy ra, như đối với kịch Con nai đen của Nguyễn Đình Thi, tiểu thuyết Những người thợ mỏ của Võ Huy Tâm, truyện ngắn Con chó xấu xí của Kim Lân, Văn Ngan tướng công của Vũ Tú Nam, bút ký Tờ hoaTình rừng của Nguyễn Tuân...

Xin dẫn đoạn văn phê bình Con nai đen được nói đến trong báo cáo trên của Trường Chinh: "Nguyễn Đình Thi đã thành công trên nhiều lĩnh vực khác, nhưng về kịch thì Con nai đen đã quá thiên về cách thể hiện rắc rối, ly kỳ. Mặc dù ý định của tác giả là muốn nói lên cuộc đấu tranh giữa cái chân và cái giả, giữa cái chính và cái tà, và cuối cùng chân đã thắng giả, chính đã thắng tà, nhưng chủ đề đó đã phải thông qua một loạt tình tiết phức tạp, ngoắt ngoéo rất khó hiểu, cho nên sức truyền cảm của hình thức nghệ thuật đối với người xem đã bị hạn chế. Nhất là về mặt chính trị, điều không có lợi là vở kịch có thể làm cho người ta hiểu lầm về mặt này hay mặt kia".

Như vậy để được tự do, sáng tác phải đơn giản, dễ hiểu. Văn bản phải đơn nghĩa, chứ không thể đa nghĩa, tạo nhiều cách hiểu. Và tuyệt đối không được rơi vào "biểu tượng hai mặt" (équivoque), nó là sự kỵ húy lớn nhất; bởi theo những người lãnh đạo thì kẻ gian, các lực lượng thù địch thường sử dụng phương thức này để chống phá cách mạng!

Nguyên tắc Khoa học hóa là kết quả sự vận dụng chủ nghĩa Mác để phân tích lịch sử văn hóa dân tộc, và thực trạng văn hóa hiện thời. Từ đó đề ra phương hướng phát triển văn hóa "tân dân chủ". Nó muốn là công cụ cho nhận thức và hành động của các giới trí thức - để dứt khoát với quá khứ; để từ bỏ mọi tìm kiếm về tông phái mà hướng về tả thực và tả thực xã hội chủ nghĩa như là mục tiêu cao nhất, và duy nhất của văn hóa mới; để loại trừ các di hại của chế độ phong kiến, thuộc địa...

Thế nhưng, ở đây sự vận dụng chủ nghĩa Mác còn trong dạng sơ khai nên tính độc lập, dẫu là tương đối của thượng tầng kiến trúc và ý thức tinh thần lại chưa được chú ý một cách thấu đáo. Sự hạn chế trong tiếp nhận và vận dụng chủ nghĩa Mác còn được bộc lộ trong việc xác định các Công việc phải làm. Đó là:

"a. Tranh đấu về học thuật, tư tưởng (đánh tan những quan niệm sai lầm của triết học Âu, Á có ít nhiều ảnh hưởng tai hại ở ta: triết học Khổng, Mạnh, Đề Các (Descartes), Becson (Bergson), Căng (Kant), Nitsơ (Nietzsche), v.v... làm cho thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thắng.

b. Tranh đấu về tông phái văn nghệ (chống chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa tượng trưng... làm cho xu hướng tả thực xã hội chủ nghĩa thắng)".

Lấy nhận thức bây giờ, thậm chí không phải bây giờ mà sớm hơn những 50 năm - cũng sẽ thấy đây là một nhận thức không toàn diện, thậm chí là bất cập, vì trong hoàn cảnh chính trị và xã hội của ta lúc bấy giờ không thể có nhu cầu tiếp thu một cách toàn diện, thấu đáo các loại triết thuyết và các trường phái văn nghệ như đã dẫn trên vốn có lý do ra đời, tồn tại, và phát triển để làm nên diện mạo mới của nó trong lịch sử, văn hóa, văn học - nghệ thuật phương Tây thế kỷ XX.

Hơn 50 năm về trước - để trở lại thời điểm 1962, cũng trong bài phát biểu trên của Trường Chinh, có đoạn: "Chủ nghĩa hình thức đi tìm những cách biểu hiện cầu kỳ, khó hiểu để che đậy cho một nội dung nghèo nàn hoặc không hiện thực; chủ nghĩa tự nhiên quá thiên về những khía cạnh vụn vặt của cuộc sống hoặc ghi chép một cách nô lệ những điều tai nghe mắt thấy; những bệnh đó còn tồn tại trong một số tác phẩm của ta. Gần đây lại thấy vài biểu hiện không tốt, như "lai căng", xa rời tình cảm và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bắt chước nước ngoài một cách mù quáng và luyến tiếc nghệ thuật suy đồi của xã hội tư sản"(3).

Hiểu vì sao, cùng với các vụ, việc, diễn ra trong đời sống văn học, còn là sự phủ định gay gắt trào lưu văn học lãng mạn kể từ Phạm Thái, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà, đến Thơ mới, Tự lực văn đoàn; là sự phê phán chủ nghĩa tự nhiên ở Vũ Trọng Phụng, cùng với những gì gọi bằng hũ nút, lập dị, bế tắc của Xuân Thu nhã tập... Và như vậy, gần như một nửa di sản văn học nằm ngoài trào lưu hiện thực và cách mạng trước 1945 bị loại bỏ và bị phê phán, bởi cách hiểu và cách vận dụng nội dung khoa học hóa như trên.

*   *   *

Năm 1960 - ghi một dấu mốc quan trọng trong hành trình dân tộc. Đó là năm ra đời Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, đưa cuộc chiến đấu chống Mỹ lên một cục diện mới - cục diện cả nước chống Mỹ. Đồng thời, đó là năm Đảng Lao động Việt Nam tiến hành Đại hội lần thứ III công bố Cương lĩnh xây dựng Chủ nghĩa xã hội, và Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965).

Trong Cương lĩnh xây dựng Chủ nghĩa xã hội Đảng chủ trương tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng:

- Cách mạng quan hệ sản xuất.

- Cách mạng khoa học - kỹ thuật.

- Cách mạng tư tưởng - văn hóa.

Như vậy, ba cuộc cách mạng ở đây cũng là nhằm bao quát ba lĩnh vực chính trị - kinh tế và văn hóa như đã được đặt ra trong Đề cương về văn hóa Việt Nam - 1943.

Từ yêu cầu của Cách mạng tư tưởng - văn hóa mà có Đường lối văn nghệ. Đường lối này được đồng chí Trường Chinh trình bày trong bài phát biểu, thay mặt Đảng, trước Đại hội văn nghệ Toàn quốc lần thứ IV - tháng 12 - năm 1968, có tên Văn nghệ phải góp phần giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tiến tới thống nhất nước nhà, trong đó tác giả tổng kết và nêu lên 8 mục, được xem là "8 quan điểm cơ bản" - "những quan điểm làm cơ sở cho đường lối văn nghệ của Đảng", chiếm toàn bộ Phần I của bài phát biểu. Đó là:

"1. Văn nghệ là vũ khí sắc bén của giai cấp công nhân, của Đảng trong cuộc đấu tranh để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra.

2. Văn nghệ ta phải thực sự là nền văn nghệ của nhân dân.

3. Văn nghệ ta phải có tính chất dân tộc. Văn nghệ ta là văn nghệ của nhiều dân tộc ở nước ta.

4. Văn nghệ phản ánh hiện thực khách quan một cách cao đẹp, góp phần cải tạo hiện thực theo một lý tưởng nhất định.

5. Mục đích của văn nghệ ta đó là giáo dục con người mới.

6. Tiếp thu có phê phán những tinh hoa của văn nghệ dân tộc và những thành tựu tốt đẹp của văn nghệ thế giới xưa và nay.

7. Nắm vững phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa để sáng tác và phê bình.

8. Với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chúng ta xây dựng một nền văn hoá, văn nghệ cao đẹp nhất của loài người"(4).

Vậy là ở đây, qua 8 mục, bản báo cáo đã bao quát gần như đầy đủ những phạm vi cần quan tâm của lý luận văn nghệ (mácxít - lêninnít) gồm: chức năng và vai trò, đặc trưng và tính chất, mục đích và nhiệm vụ, phương pháp sáng tác, và mục tiêu xa của văn nghệ.

Bây giờ đọc lại, dễ nhận thấy ở đây có những mục vẫn đúng nhưng quá rộng hoặc quá hẹp; có những mục không còn thích hợp, cần phải bổ sung hoặc thay đổi.

Tôi chọn mốc 1968 để thấy sự tổng kết trên 8 mục như một cấu thành hoàn chỉnh Đường lối văn nghệ của Đảng mà tác giả Trường Chinh có trách nhiệm khởi thảo và phát biểu. Bởi từ sau 1968 cho đến khi ông qua đời, năm 1988, những bài nói và viết của Trường Chinh không còn mang tính chất tổng kết và vạch đường lối cho văn nghệ nói chung. Dường như, theo quan điểm của Trường Chinh, và cũng là theo sự tiếp thu của giới lý luận lúc ấy, một tổng kết gồm 8 mục như trong bài phát biểu năm 1968 là đầy đủ và không cần phải nói gì thêm. Một tổng kết như là một sự hoàn thiện cả một quá trình nhận thức, theo đuổi về các vấn đề văn hoá, văn nghệ cách mạng, theo quan điểm của Đảng, có khởi đầu từ Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943, ở một người trong gần nửa thế kỷ có trách nhiệm cao nhất thay mặt Đảng lãnh đạo, chỉ đạo văn học nghệ thuật.

Bộ tuyển của Trường Chinh: Bàn về văn hóa - nghệ thuật gồm 2 tập, Nxb. Văn học ấn hành năm 1986, tập hợp gần như tất cả những bài viết, bài nói quan trọng nhất của tác giả, từ 1938 đến 1984, với rất ít sửa chữa, chứng tỏ tác giả đã rất nhất quán và kiên định với các chủ kiến và ý kiến của mình.

Vậy là, sau 1945, và nhất là sau 1954, trong hoàn cảnh mới của cách mạng, việc xác định một Đường lối văn nghệ của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để đưa văn nghệ vào quỹ đạo chung của cách mạng. Với đường lối này, lý luận văn học phải bao quát một phạm vi rất rộng các vấn đề, trong đó có vấn đề tự do trong sáng tạo văn học - nghệ thuật, là khu vực trực tiếp nhận sự lãnh đạo của Đảng. Bởi nó gắn với yêu cầu giảng dạy văn học trong nhà trường và yêu cầu trang bị về lập trường, quan điểm cho đội ngũ công tác tuyên huấn và lý luận. Cùng với phê bình, nó phải là "một phương thức chỉ đạo của Đảng trên mặt trận văn nghệ"(5). Không kể nó nhằm phổ cập tri thức cho công chúng đông đảo, một công chúng lúc nào cũng cần được giáo dục, động viên để vươn lên đứng ở tuyến đầu các cao trào cách mạng. Nền lý luận văn học đó, một mặt phải xuất phát từ Chủ nghĩa Mác - Lênin, vốn đã được đúc kết và diễn giải trong các bộ sách giáo khoa về triết học, về mỹ học và lý luận văn học nghệ thuật, bởi các học giả mácxít chủ yếu ở Liên Xô; một mặt là Đường lối văn nghệ của Đảng, được xem là sự vận dụng cụ thể và sáng tạo các nguyên lý kinh điển Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam được thể hiện và đúc kết trong các văn kiện của Đảng và các bài nói, bài viết của những người thay mặt Đảng.

Lý luận văn học, trong đó có vấn đề tự do trong sáng tạo văn học - nghệ thuật, được hiểu như thế nên có vai trò rất quan trọng, thậm chí rất thiêng liêng. Là "một phương thức chỉ đạo của Đảng" nên nó không được phép sai. Nhất là sai về đường lối. Nếu đường lối cách mạng là mục tiêu toàn Đảng, toàn dân phải nhất tâm thực hiện, thì đường lối văn nghệ phải là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của các giới văn hóa, văn học - nghệ thuật. Do vậy mà một vi phạm dẫu nhỏ vào những nguyên tắc đó là không được phép. Chẳng hạn, Đảng chủ trương hướng về "cuộc sống mới, con người mới" thì bất kể ai (giới lý luận hoặc sáng tác) không thể đặt vấn đề: "Con người bình thường, cuộc sống bình thường"(6). Cái đời thường mà bây giờ ta quen nói, có một thời dài rất ít được nói, hoặc không được phép nói, mà phải là "đến với những nơi tiên tiến, sống với những con người tiên tiến"... Đảng yêu cầu phản ánh trung thành hiện thực cách mạng thì không thể kêu gọi "phá vỡ lôgic cuộc sống"(7) để xen vào một "lôgic nghệ thuật" viễn vông nào đó. Hiện thực cách mạng là anh hùng và cao đẹp thì không thể nhấn mạnh cái bi, hoặc quá đi sâu vào những hiện tượng phân thân, "đối mặt" ở con người(8)… Và nếu người viết còn đi xa hơn, sa vào lực hút của các trường phái lý luận văn học phương Tây gồm các dạng của Chủ nghĩa Hiện đại, như Suy đồi hoặc Tiền phong, Siêu thực hoặc Tượng trưng, Chủ nghĩa Cấu trúc hoặc Hiện sinh, Phê bình mới hoặc Tiểu thuyết mới; hoặc "ăn phải bả" của Chủ nghĩa Xét lại như bênh vực tính người siêu giai cấp, hoặc chủ trương chung sống hoà bình giữa các chế độ xã hội khác nhau… thì không chỉ tác phẩm mà các tác giả của nó cũng bị liên luỵ, có người phải bị treo bút trong cả một thời gian dài.

Trở lại với Đường lối văn nghệ của Đảng, ngoài mục 7: "Nắm vững phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa để sáng tác và phê bình", theo sự quan sát của tôi, gần như từ giữa thập niên 1990 đến nay, rất ít được giới lý luận nhắc đến, thì các mục khác cũng có những khía cạnh cần bàn. Chẳng hạn mục 1: "Văn nghệ là vũ khí sắc bén của giai cấp công nhân, của Đảng trong cuộc đấu tranh để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra". Đó là một cách đề cao, rất cao vai trò của văn học, nghệ thuật, đưa văn nghệ áp sát vào các mục tiêu chính trị (của một giai cấp, một Đảng cầm quyền); nhưng như vậy lại là sự thu hẹp đặc trưng và chức năng của văn nghệ, đưa văn nghệ vào một quỹ đạo có phần chật chội, không bao quát được toàn bộ sự sống tinh thần và tình cảm của con người.

Bởi có sự thực là tất cả những tác phẩm hay, những tuyệt tác để đời trong kho tàng văn học cổ điển như Truyện Kiều, Chí Phèo hoặc Số đỏ... đều chưa bao giờ được xem là một vũ khí, để chiến đấu cho một mục tiêu cụ thể nào đó của đời sống chính trị.

Mục 4: "Văn nghệ phản ánh hiện thực khách quan một cách cao đẹp, góp phần cải tạo hiện thực theo một lý tưởng nhất định".

Với mục 4 này thì tự do sáng tác khó có đất đai cho những ai nghiêng về việc phát hiện những mặt tối của hiện thực, những nỗi đau nhân sinh, những bi kịch của con người. Những "tai nạn nghề nghiệp" như đã dẫn ra ở trên là dành cho những ai không muốn minh họa cho chính sách, hoặc tô điểm cho hiện thực. Và quả là khó mà xác định "lý tưởng" của người viết, khi chính bản thân hiện thực cũng đang phải tìm ra lối đi trong những thử nghiệm không có hiệu quả hoặc thất bại, khiến chính Đảng cũng phải "sửa sai", hoặc "cởi trói"...

Sau mục 4 là mục 5: "Mục đích của văn nghệ ta là giáo dục con người mới". Đây là sự thu hẹp chức năng và vai trò của văn nghệ, khiến cho nó chỉ còn là một phương tiện để học tập và tuyên truyền. Trong khi đa chức năng mới là đích đến của mọi sáng tạo nghệ thuật đích thực; trong đó chức năng giải trí gần như là đang chi phối hoặc tràn ngập thị trường văn chương - nghệ thuật hiện nay.

Cuối cùng là mục 8: "Với Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản, chúng ta xây dựng một nền văn hóa, văn nghệ cao đẹp nhất của loài người". Đây là một khẳng định chủ quan, đúng ra chỉ là ao ước. Còn trong thực tiễn thì - thời Lê mạt đẻ ra Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương. Thời đầu Nguyễn đẻ ra Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát. Xã hội thuộc địa đẻ ra Thơ mới và Nam Cao, Vũ Trọng Phụng... Sinh thời, L. Tonxtôi không thích Sếchxpia, nhưng không có nghĩa là L. Tonxtôi vĩ đại hơn Sếchxpia. Sáng tạo nghệ thuật, có khác với khoa học, đòi hỏi sự độc đáo, sự đơn nhất, không theo quy luật sau phải hơn trước mà phải là khác trước. Nếu có một chủ nghĩa cộng sản hiện thực (không biết đến bao giờ?) thì nền văn học trong xã hội đó sẽ là khác, chứ không phải là nhất, so với mọi nơi và mọi thời.

*   *   *

Tình thế rồi sẽ thay đổi, từ Đại hội VI của Đảng - tháng 12-1986; với hai khẩu hiệu: "Lấy dân làm gốc", và "Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật". Đây là một cuộc "Sửa sai" lớn, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, văn học - nghệ thuật; dĩ nhiên yêu cầu tự do sáng tạo soi vào đấy sẽ phải nhận thức lại nhiều điều. "Cởi trói" trở thành một nhu cầu tự thân. Mà nói "cởi trói" tức là nói trước đây đã có nhiều buộc trói. Để có tự do hãy tự cứu mình trước khi "Trời cứu" (lời Nguyễn Văn Linh). Nhờ vậy yêu cầu tự do và phạm vi tự do mới được nới dần ra, để thoát ra khỏi các trói buộc, gần như lúc nào cũng bị xiết chặt, suốt hơn 30 năm. Một mùa gặt mở ra - mùa "tiền Đổi mới" trong mở đầu thập niên 1980, trổ ra được những khoảng trời, những cánh cửa cho những bức xúc của nhân dân và không khí thời đại tràn vào…

Từ Đổi mới (1986) chuyển sang Hội nhập (1995), cho đến cuối thập niên 1990 trở đi, văn học - nghệ thuật chuyển sang một thời kỳ mới với rất nhiều thay đổi trong đề tài - chủ đề, trong cảm hứng sáng tạo, trong thi pháp - bút pháp, trong cấu trúc nghệ thuật, trong văn bản ngôn từ... Đồng thời là sự nhận thức lại, đánh giá lại diện mạo lịch sử sau hơn một thế kỷ hiện đại hóa: nhiều án oan được giải tỏa; nhiều tên tuổi được khôi phục qua các dịp kỷ niệm nhân vào tuổi "trăm năm"; cùng nhiều giải - như giải Hồ Chí Minh và giải Nhà nước được trao hoặc truy tặng cho một số người từng bị tai nạn trước đây. Ít có các "vụ" "việc" xẩy ra. Bớt dần, tuy chưa phải đã hết hẳn, những quy chụp nặng nề đối với một số hiện tượng có sự phân rẽ hoặc khác nhau trong dư luận. Tự do sáng tạo vẫn còn những khía cạnh cần bàn, nhưng là bàn trên một bình diện mới. Đó là sự chấp nhận, hoặc tôn trọng mọi tìm tòi để có thể vừa đến được với cái riêng, cái khác - vốn là mục tiêu săn tìm ráo riết của một thế hệ trẻ, kể từ 8X, 9X trở đi - thế hệ không phải sống trong bối cảnh chiến tranh và tình thế bao cấp, vừa vẫn có thể đồng hành cùng nhau trước những mục tiêu chung khi quốc gia "hữu sự" như chủ quyền biển - đảo bị đe dọa, quốc nạn tham nhũng vẫn chưa hoặc rất khó bị đẩy lùi; vừa khẩn trương tham gia hội nhập, nhưng vẫn phải cảnh giác trước nguy cơ đánh mất bản sắc riêng của mình...

 

Chú thích

 (1) Các trích dẫn Đề cương... trong bài này, rút ở văn bản Đề cương về văn hóa Việt Nam, đăng trên Tiên phong số 1 (được xem là tái bản), ra ngày 10-11-1945.

(2) Sách Bàn về văn hóa, nghệ thuật; Tập II; Nxb. Văn học; 1986; tr.114, 115.

(3) Sách trên; tr.81.

(4) Sách trên; tr.

(5) Về phê bình văn học; Tạp chí Văn học số 11-1969.

(6) Tên một bài báo của Hoàng Trinh trên Tạp chí Văn học - 1965.

(7) Tên một bài báo của Mai Thúc Luân trên Báo Văn hóa - 1963.

(8) Tên một vở kịch của Nguyễn Khải đăng trên Tác phẩm mới - 1974.

Trương Công Anh

Trong tự nhiên và cả trong đời sống kinh tế - xã hội đều có vòng xoáy. Có vòng xoáy lên. Có vòng xoáy xuống.

Bầu khí quyển có vòng xoáy lên. Phạm vi nhỏ hẹp thì đó là "ma cụt đầu", là vòi rồng, là lốc. Phạm vi rộng lớn hơn thì đó là vùng áp thấp, là bão, là siêu bão.

Với thủy quyển lại có vòng xoáy xuống. Trên suối, trên sông khi có lũ lớn, và trên các vùng biển, đại dương bất cứ vật nào nằm vào vòng xoáy xuống này đều bị nhấn chìm.

Các vòng xoáy nói trên gây ra nhiều tai họa mà ta gọi là thiên tai.

Trong tự nhiên là vậy, trong đời sống kinh tế - xã hội cũng có những vòng xoáy. Cả vòng xoáy lên và vòng xoáy xuống. Khác chăng là các vòng xoáy này do chính con người tạo ra. Các vòng xoáy này hình thành trong mối quan hệ tương tác giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất, giữa kiến trúc thượng tầng với hạ tầng cơ sở.

Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, thượng tầng kiến trúc phù hợp với hạ tầng cơ sở thì có vòng xoáy lên. Nếu ngược lại thì sẽ là vòng xoáy xuống. Dòng xoáy lên thúc đẩy kinh tế và xã hội phát triển. Dòng xoáy xuống thì kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội. Thậm chí có thể dẫn đến sự sụp đổ của một chế độ. Những điều này đã được K. Mác đưa ra trong học thuyết kinh tế - chính trị của ông cách đây trên 100 năm. Điều này giải thích vì sao nước ta "đổi mới" lần nhất: thay đổi cơ chế, và bây giờ là "đổi mới" lần thứ hai: thay đổi thể chế.

Nhờ chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa - tập trung sang cơ chế thị trường, đất nước ta vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội ở những năm 80 của thế kỷ trước. Từ một nước chậm phát triển Việt Nam trở thành một nước đang phát triển, có thu nhập trung bình. Nay, phải xem lại việc xác lập thể chế mới là khâu đột phá đầu tiên trong 3 khâu đột phá để đưa đất nước đi tới mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, để có Dân giàu, Nước mạnh, Dân chủ, Công bằng, Văn minh.

Các vòng xoáy trong kinh tế - xã hội khác với các vòng xoáy trong tự nhiên còn ở chỗ, mỗi vòng xoáy lên có mặt thuận là thúc đẩy kinh tế - xã hội, đồng thời lại có mặt không thuận lợi, hay còn gọi là mặt trái, nó làm hư hỏng một số ai đó trong bộ máy nhà nước, một số ai đó được giao nắm và thực hiện quyền lực nhà nước.

*   *   *

Với nền kinh tế thị trường, nhà nước nào cũng tìm mọi cách thông qua hệ thống pháp luật, các văn bản hành chính nhà nước dưới luật, thông qua các hoạt động nội trị và ngoại giao để "mở đường" cho các doanh nghiệp làm ăn. Nhà nước làm như vậy là để kiến tạo nên nền tảng kinh tế cho chính mình, cho chế độ. Nói khác đi: Nhà nước cần có các doanh nghiệp mạnh và nhiều doanh nghiệp làm ăn có lãi. Điển hình về điều này là Hàn Quốc. Cho đến nay, bốn tập đoàn kinh tế hùng mạnh tạo nên trụ cột cho kinh tế Hàn Quốc, chỉ riêng Tập đoàn Sam Sung đã góp 20% GDP của nước này.

Nhà nước cần có các doanh nghiệp bao nhiêu thì các doanh nghiệp cần nhà nước bấy nhiêu. Các doanh nghiệp cần những điều luật, những quy định (dưới luật), những chính sách, những quyết định có lợi cho họ. Do đó, họ tìm cách để "tiếp cận" với nhà nước, các cơ quan nhà nước (cả lập pháp, hành pháp và tư pháp), thông qua những người đứng đầu. Điển hình cho điều này là Hoa Kỳ. Mỗi kỳ bầu tổng thống, bầu thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ, thống đốc bang,... các doanh nghiệp lớn đều sẵn sàng mở hầu bao bỏ tiền vào quỹ vận động tranh cử của ông này hay ông khác, bà nọ hoặc bà kia. Ở Việt Nam ta lâu nay các doanh nghiệp đều tìm hiểu nhiều cách để "tiếp cận" quan chức. Và, cách phổ biến nhất và cũng đang có hiệu quả nhất là hối lộ dưới nhiều biến tướng khác nhau.

Nói như vậy là để khẳng định rằng: mối quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp là một tất yếu khách quan. Trong mối quan hệ này sẽ xuất hiện vòng xoáy. Có cả xoáy thuận và xoáy nghịch. Xoáy thuận sẽ hình thành nếu như nhà nước đó là nhà nước kiến tạo - liêm chính, các quan chức nhà nước (bất kể nhỏ - to) nhất là những người đứng đầu, thực sự là công bộc của dân. Xoáy thuận sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững, nền tảng chính trị - kinh tế - xã hội của chế độ được củng cố ngày càng vững chắc. Ngược lại, vòng xoáy nghịch sẽ hình thành khi nhà nước đó thực chất là một nhà nước cai trị, độc quyền, một nhà nước bị các doanh nghiệp lớn, cực lớn lũng đoạn. Xoáy nghịch cũng hình thành cả khi nhà nước đó đang hướng tới nhà nước kiến tạo, liêm chính thể hiện trong hiến pháp và pháp luật, song, một bộ phận quan chức nhà nước, một bộ phận những người đứng đầu khi thực thi hiến pháp, pháp luật lại hoàn toàn không kiến tạo, không liêm chính. Một bộ phận quan chức này sẵn sàng bán tất cả, kể cả chế độ mà họ đang phục vụ cho bất kì ai muốn mua và cần mua. Xoáy nghịch là bản chất của các nhóm lợi ích mà lâu nay chúng ta đã nói. Xoáy nghịch có thể đưa kinh tế đi lên một lúc, một chừng mực nào đó, song về lâu về dài đó là nền kinh tế không bền vững. Còn về chính trị thì xoáy nghịch sớm muộn sẽ nhấn chìm chế độ vào hố tiêu vong.

Xoáy thuận, xoáy nghịch không chỉ khác nhau, ngược nhau về hậu quả kinh tế, chính trị, xã hội mà còn khác nhau về quá trình hình thành và tính chất của quá trình hình thành.

Nếu như xoáy thuận chỉ có thể hình thành bởi sự giác ngộ và bởi hành động tự giác ở mức kiên định nhất, ở mức cao nhất, và với cách làm quyết liệt nhất. Ngược lại xoáy nghịch hình thành hoàn toàn tự phát. Nó cứ thế hình thành, cứ thế tồn tại, cứ thế tác oai, tác quái nếu như không có cách, không có thuốc để "STOP" nó lại. Tất cả mọi căn bệnh và mọi kiểu suy thoái, mọi biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa hiện nay trong Đảng ta, Nhà nước ta được chỉ ra trong NQTW 4 khóa XI và Nghị quyết TW 4 khóa XII đều có nguồn gốc từ chính vòng xoáy nghịch này. Xoáy thuận phải xây mới có. Xoáy nghịch thì mặc nhiên có. Phải có xoáy thuận đủ mạnh mới xóa bỏ được xoáy nghịch. Cả xây xoáy thuận và bỏ xoáy nghịch đều cần giác ngộ cao, cần hành động tự giác.

*   *   *

Nhà nước là tổ chức quyền lực xã hội. Ngay sau khi xuất hiện đến nay, Nhà nước đã có mấy nghìn năm tuổi. Ngay từ khi xuất hiện Nhà nước đã có căn bệnh quyền lực. Biểu hiện của căn bệnh này nhiều, ít, nặng, nhẹ khác nhau ở từng kiểu nhà nước, ở từng thời điểm cụ thể. Song cũng có thể khẳng định rằng chưa có một kiểu nhà nước nào chữa trị được tận gốc và triệt nọc bệnh này. Đây là căn bệnh di truyền đồng thời là bệnh truyền nhiễm. Theo cách nói của Lênin thì chế độ xã hội cũ mất đi, nhưng không thể đào sâu chôn chặt nó, mà nó thối rữa ra, lây bệnh cho chế độ xã hội mới thay thế nó.

Để có một nhà nước kiến tạo, liêm chính cần có giác ngộ cao để chế ngự hiệu quả gen di truyền nằm ngay trong cơ thể nhà nước với tư cách là tổ chức quyền lực xã hội. Giác ngộ cao thể hiện ở bản chất của nhà nước mà ta xây dựng: Nhà nước của dân - do dân - vì dân. Bản chất ấy phải được thể hiện ở thể chế, ở tổ chức bộ máy, ở hiến pháphệ thống pháp luật, ở phẩm chất (phải gần như tuyệt đối) của đội ngũ công chức, trước hết ở những người đứng đầu, ở sự chỉ đạo, điều hành, ở cái quyền: "Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ" (lời của Hồ Chủ tịch, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5 - tr.60). Suy rộng ra là bất cứ quan chức nhà nước nào làm hại dân thì dân sẽ đuổi quan chức ấy, và cuối cùng là ở cơ chế kiểm tra, kiểm soát, giám sát từ trên xuống, từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong.

Một nhà nước kiến tạo, liêm chính, một đội ngũ công chức từ cấp cao nhất đến cơ sở liêm chính cần kiệm sẽ tạo ra trong thực tế đời sống xã hội vòng xoáy thuận trong quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp. Mọi doanh nghiệp dẫu lớn, dẫu nhỏ, dẫu của thành phần kinh tế nào cũng đều khởi nghiệp và hoạt động trong môi trường bình đẳng cạnh tranh lành mạnh. Trong môi trường ấy doanh nghiệp nào giỏi hơn, giỏi giữa thanh thiên bạch nhật chứ không phải giỏi "đi đêm" sẽ thắng. Và tất cả những doanh nghiệp sẽ thắng ấy sẽ làm nên chiến thắng cho kinh tế nước nhà trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Trong môi trường ấy, bất cứ nhóm lợi ích nào cũng đều bị bóp chết ngay từ trong trứng. Nhà nước lành mạnh, công chức lành mạnh, doanh nhân lành mạnh, xã hội lành mạnh, để vươn tới: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Vòng xoáy thuận mạnh như vậy, mới dẹp được vòng xoáy nghịch. Đó chính là lấy xây để chống.

Có vòng xoáy thuận, có môi trường cạnh tranh lành mạnh mới triệt tận gốc được căn bệnh quyền lực, mới ngăn chặn được mọi sự suy thoái, mọi sự biến chất, mọi kiểu tự diễn biến, tự chuyển hóa.

Nghị quyết TW 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện có hiệu quả đến đâu tùy thuộc vào nhận thức đúng đắn, vào sự giác ngộ cao, vào tính tự giác trong hành động của toàn Đảng, toàn dân ta, trước hết là ở tất cả những người đứng đầu từ Trung ương đến cơ sở. Cái lý là như vậy. 

Lê Văn Tùng

1. Văn hóa và tha hóa trong giới hạn của một cách nhận thức

1.1. Nội dung khái niệm văn hóa đã có hàng trăm cách hiểu. Mỗi cách hiểu đều có văn hóa của nó. Bài này không có mục đích bàn về nội dung của khái niệm, nhưng không thể khước từ cách nhận thức của người viết về khái niệm để dẫn đường cho việc tìm hiểu các quan hệ được nêu trong đầu đề.

Theo cách nghĩ hạn hẹp của chúng tôi, văn hóa trước hết phải được nhận thức ở cấp độ cao nhất nhưng cũng phổ quát nhất, vì nó có mặt và chỉ định chuẩn đánh giá của chúng ta về mọi lĩnh vực hoạt động, mọi biểu hiện, mọi thành tố… của cuộc sống con người. Cho nên ta nói: văn hóa giao thông, văn hóa thương mại, văn hóa công sở, văn hóa học đường, và cả văn hóa chính trị nữa… Đây là cách chúng tôi hiểu văn hóa ở cấp độ phạm trù. Theo đó, văn hóa là ý thức của con người về giá trị từ/của những sản phẩm vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra, nhận thức được trong toàn bộ hoạt động mà con người tương tác với tự nhiên, xã hội và với chính mình. Từ cách hiểu này, ta thường có phát ngôn bao hàm ý nghĩa đánh giá khi thì với phạm vi chung: cuộc sống có văn hóa, sống trong môi trường vô văn hóa...; khi thì với những hành vi ứng xử cụ thể: nói năng thiếu văn hóa, tiếp khách có văn hóa… Với cách hiểu này văn hóanền tảng giá trị của tất cả mọi hoạt động của con người. Theo đó hoạt động của ngành văn hóa chỉ là một trong cả hệ thống những hoạt động của một xã hội, và cũng được đánh giá từ chuẩn văn hóa. Vì vậy, không thể đồng nhất khái niệm văn hóa ở cấp phạm trù với ngành hoạt động văn hóa cụ thể.

1.2. Một sự phân biệt khác: Trong thực tiễn cuộc sống cũng như trong một số Từ điển, hai khái niệm văn hóavăn minh có lúc lẫn lộn với nhau. Thực ra đó là hai khái niệm có nội dung xác tín khác nhau, mặc dù chúng liên lạc với nhau hết sức chặt chẽ và nhiều lúc có thể dùng khái niệm này để nhận thức và đánh giá một hiện tượng đời sống từ điểm nhìn của khái niệm kia. Phân biệt rõ hai khái niệm, một mặt để có thể thấy liên hệ chuyển hóa biện chứng giữa chúng, mặt khác đồng thời tránh được cách nhìn đại khái đem hai khái niệm thay thế lẫn nhau làm triệt tiêu ý nghĩa và vai trò đặc thù của chúng.

Vậy, xin nêu một cách phân biệt: văn hóa thuộc phạm trù ý thức của con người về thế giới, còn văn minh lại định vị giới hạn nhận thức và chiếm lĩnh thế giới của con người. Theo đó, chỉ những phát kiến văn minh được con người, loài người ý thức là giá trị thì mới là phát kiến có văn hóa, là văn hóa. Đồng thời, một nền văn hóa có nền tảng giá trị sâu sắc vững bền dẫn đạo các hoạt động, các hành vi ứng xử có văn hóa của con người trong cuộc sống, ta đánh giá đó là một cuộc sống văn minh, một xã hội văn minh. Từ đó, có thể thấy không phải bao giờ cũng dùng thuật ngữ trình độ để chỉ định một cách phổ biến, toàn trị đối với văn hóa được. Một số từ điển đã sử dụng thuật ngữ trình độ khi diễn nghĩa văn hóa gây lẫn lộn với văn minh trong tư duy đánh giá, chẳng hạn: "Văn hóa là một hiện tượng xã hội tiêu biểu cho trình độ mà xã hội đạt được trong từng giai đoạn lịch sử: tiến bộ kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất và lao động, học vấn, khoa học"(1), và trong số "các chỉ tiêu quan trọng nhất về trình độ văn hóa… cần chú ý trình độ sử dụng những cải tiến kỹ thuật và những phát hiện khoa học trong sản xuất xã hội…"(2). Cách sử dụng thuật ngữ trình độ để giải nghĩa văn hóa như vậy đã cho thấy một sự vượt biên qua khái niệm văn minh. Và do đó sẽ có sự nhầm lẫn tư duy khi đánh giá các sự kiện đời sống. Từ điển tiếng Việt trong năm nghĩa của mục từ văn hóa cũng có hai nghĩa gắn văn hóa với "trình độ tri thức, kiến thức khoa học, trình độ sinh hoạt xã hội"(3).

Mặc dù giữa văn hóavăn minh có sự chuyển hóa biện chứng, nhưng trong tư duy đánh giá cần có sự loại biệt rõ ràng ở cấp độ hệ thống khi nhận định thực tại. Vậy: sự đánh giá từ điểm nhìn văn hóa là đánh giá về giá trị và sự đánh giá từ điểm nhìn văn minh là đánh giá về trình độ. Chúng ta từng biết trong lịch sử nước nhà và nhân loại, khi con người còn tồn tại trong trình độ văn minh thấp mà cuộc sống trong nhiều trường hợp vẫn đề xuất được những giá trị văn hóa độc đáo, có ý nghĩa phổ quát và lâu dài. Trong khi ở các xã hội có trình độ văn minh phát triển cao, cũng nhiều trường hợp văn minh bị lợi dụng, bị xô đẩy vào tình trạng phản văn hóa, chống lại văn hóa của dân tộc và nhân loại. Đó là nghịch lý trong sứ mệnh của văn minh. Nghĩa là lúc văn minh bị tha hóa.

1.3. Chữ "tha hóa" ngày trước ở ta ít dùng. Ta hay dùng chữ thoái hóa, hủ hóa, gần đây thêm chữ suy thoái để chỉ các hiện tượng hư nát, xuống cấp của chất lượng con người về các mặt: tư tưởng, đạo đức, lối sống… Đó đều là các biểu hiện đối phản với văn hóa, nghĩa là những biểu hiện ngược chiều với nhân tính, chống lại ý thức về giá trị của con người - chống lại văn hóa.

Thoái hóa, hủ hóa với rất nhiều biểu hiện tiêu cực, hư hỏng, xuống cấp của nhân cách vốn là những từ dễ hiểu, phổ thông cho mọi người, nhất là khi trình độ học vấn (một chỉ số của văn minh) của dân ta còn thấp (khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, hơn 90% dân số Việt Nam ta chưa biết chữ). Chính Bác Hồ khi cảnh báo và phê phán sự xuống cấp phẩm chất cách mạng ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trong các bức thư, bài báo vẫn thường dùng thuật ngữ hủ hóa, thoái hóa cùng các thói xấu và khuyết tật như là những bệnh chứng của chủ nghĩa cá nhân. Xét từ nguồn gốc, các bệnh chứng nguy hiểm đó đều bắt nguồn từ quá trình tha hóa của con người bao gồm cả các di căn từ "vết tích xấu xa, nguy hiểm của xã hội cũ"(4) và cả các bệnh lý mới xuất hiện trong cuộc sống mới.

Tha hóa là khái niệm có nội dung bao trùm mọi bệnh căn thù địch với con người, loài người. Khái niệm này xuất hiện đồng thời khi phương Tây bước sang nền sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường (từ đây viết tắt SXHH và KTTT). Ở ta, vì vậy tha hóa là khái niệm được dùng muộn hơn. Cho nên Bác Hồ trước đây chưa dùng nó để nói với cán bộ và nhân dân. Bác chỉ dùng những từ ngữ phổ thông mà người dân có thể nghe, dùng hàng ngày để chỉ sự xuống dốc của đạo đức xã hội: công thần, hủ hóa, kèn cựa hưởng thụ, muốn địa vị cao nhưng lại sợ trách nhiệm nặng, họ tự cao tự đại, chỉ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ, họ quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, tham ô, lãng phí(5)…. Tất cả các bệnh chứng nguy hiểm Bác chỉ ra thời đó, bây giờ cũng đang xuất hiện phổ biến và có xu hướng nguy hiểm hơn. Bởi vì thời ta sống đây, những bệnh chứng đó không chỉ do "xã hội cũ để lại" mà nó còn là sản phẩm nảy sinh từ một quy trình là hệ quả tiêu cực của nền SXHH và KTTT, một nền sản xuất và kinh tế nhân loại đã bước được ba thế kỷ, còn ta vẫn mới mẻ trong thời kỳ đầu - thời kỳ nói như Marx: "bùn và máu". Quy trình đó chính là quy trình tha hóa nhân tính nhân loại. Đây là bình diện tiêu cực xuất hiện bên cạnh những cải biến lớn lao và tích cực của nền SXHH và KTTT đã đẩy lịch sử nhân loại tiến lên xã hội văn minh hiện đại.

Bây giờ ở ta thuật ngữ tha hóa đã được sử dụng nhiều trong các ngôn bản (nói và viết) của các nhà chuyên môn và các nhân sự chức năng. Chẳng hạn nói: "Sự tha hóa quyền lực"(6). Nhưng có lẽ cần một sự hiểu theo cách phổ thông cho mọi người đều nhận được rộng rãi nội dung khái niệm để cảnh giác và đấu tranh chống các biểu hiện tha hóa, bảo vệ văn hóa của con người, dân tộc và nhân loại. Tha hóa nói về hiện tượng: những gì thuộc về con người, do con người sáng tạo ra lại biến thành, trở thành (hóa) những lực lượng, những thế lực ngoài con người (tha: đại từ ngôi ba, bên ngoài chủ thể) và quay lại thống trị con người, làm suy sụp nhân tính nhân loại. Một thí dụ nổi nét và phổ biến mà Marx đã sử dụng từ giữa thế kỷ XIX: đồng tiền trong nền SXHH và KTTT là do con người phát kiến, sáng tạo ra, nhưng do quy luật lợi nhuận của nền kinh tế ấy, đồng tiền đã bước ra khỏi phạm vi là sản phẩm sáng tạo của chủ thể con người, biến thành một sức mạnh vạn năng "có thể chiếm hữu mọi đối tượng"(7), cho nên nó là một thế lực thống trị, điều khiển con người, biến con người thành hàng hóa trong nền kinh tế thị trường: "… con người không chỉ với tính cách là hàng hóa, không những chỉ với tính cách là con người hàng hóa… với sự quy định của hàng hóa"… "con người là một thực thể mất tính chất người cả về mặt tinh thần lẫn thể xác"(8).

Một vài ý dẫn ra đó chưa phản ánh đầy đủ thái độ quyết liệt của Marx khi lên án sự tha hóa của xã hội và con người trong thế kỷ của ông dưới sức mạnh vạn năng của đồng tiền. Ông còn nhiệt thành trích dẫn và phân tích đoạn thơ dài của Shakespeare viết về đồng tiền: có vàng có tiền… "Đủ để biến đen thành trắng/ Xấu thành đẹp/ Mọi tội lỗi thành công lý/ Mọi cái thấp hèn thành cao quý/ Kẻ hèn nhát thành dũng sĩ"(9)…. Marx viết tiếp: "Cái mà tiền có thể mua là bản thân tôi, người chiếm hữu tiền. Lực lượng của tiền lớn thế nào thì lực lượng của tôi cũng lớn như thế. Thuộc tính của tiền là thuộc tính và lực lượng bản chất của tôi - kẻ chiếm hữu nó"(10).

Nền SXHH và KTTT đã là động lực thúc đẩy những phát kiến văn minh lớn lao làm thay đổi cuộc sống của nhân loại. Ý thức về lợi ích của văn minh là ý thức của con người về giá trị. Văn minh lúc đó là một giá trị văn hóa. Nhưng xã hội hiện đại cũng đã cho ta những dẫn chứng tiêu biểu cho sự tha hóa của văn minh từ những phát kiến khoa học công nghệ cao khi nó bị ly khai với ý thức văn hóa. Phát minh năng lượng nguyên tử và sức mạnh phóng xạ là một thành tựu vĩ đại của khoa học đã và đang mang lại lợi ích to lớn cho loài người. Nhưng phát minh này cũng từng bị các thế lực tàn bạo lợi dụng biến thành vũ khí tàn sát con người khủng khiếp chưa từng thấy trong lịch sử: với hai quả bom nguyên tử hồi tháng 8/1945 chỉ trong giây lát mười vạn sinh linh vô tội ở đất nước "mặt trời mọc" (Nhật Bản) đã không còn bao giờ được nhìn thấy mặt trời mọc trên quê hương họ nữa. Đó là chứng tích tàn bạo nhất của sự tha hóa của văn minh khoa học công nghệ tiến công vào nền tảng văn hóa nhân loại trong xã hội hiện đại. Và ngày nay, mối đe dọa hủy diệt của nó vẫn chưa thôi ám ảnh loài người.

2. Việt Nam ta tiến vào nền SXHH và KTTT muộn hơn phương Tây đến ba thế kỷ

2.1. Tuy vậy, từ những thế kỷ trước, đặc biệt thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, ở ta cũng đã xuất hiện những mầm mống sơ sinh của nền kinh tế ấy. Do yêu cầu giành giật đất đai và quyền lực, các thế lực thống trị chúa Trịnh đằng Ngoài, chúa Nguyễn đằng Trong lúc đó đều có những cải biến trong chính sách đối với kinh tế hàng hóa. Tầng lớp thương nhân Việt Nam được cấp "giấy khai sinh". Nhưng cả thương mại và thương nhân vẫn bị chính quyền phong kiến quản lý nghiệt ngã, cho nên chưa có nền kinh tế hàng hóa và đẳng cấp thương nhân độc lập như châu Âu cùng thời. Người ta thấy rằng: Không hề ngẫu nhiên khởi nghĩa chàng Lía, đặc biệt khởi nghĩa Tây Sơn đều khởi lên từ Bình Định - một trung tâm buôn bán lúc bấy giờ, và những cải cách của hoàng đế Quang Trung không phải không có âm vang của kinh tế hàng hóa buổi đầu. Cái buổi đầu ấy vừa tạo môi trường xã hội cho ý thức cá nhân nảy nở và cũng ngay lập tức bệnh lý tha hóa con người và xã hội cũng xuất hiện. Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều phản ánh sâu sắc cả một thế giới từ bản chất và xu hướng của nó là như vậy. Đồng tiền thương mại buổi sơ sinh vừa có vai trò tích cực vừa công nhiên thể hiện sức mạnh tha hóa của nó vì nó biến tất cả thành hàng hóa. Thành trì văn hóa truyền thống ngàn năm bắt đầu bị nã đạn.

Đầu thế kỷ XX, có một nền kinh tế thị trường hình thành trên đất nước ta. Sự thực, nó đã có những bước đi đầu ở giữa thế kỷ XIX khi người Pháp đặt được nền thống trị thực dân ở Nam kỳ. Hàng vạn tấn lúa gạo của Nam kỳ lúc đó, lần đầu tiên trong lịch sử trở thành hàng hóa. Đó là nền kinh tế thị trường tồn tại dưới dạng đặc biệt ở một thuộc địa: chỉ phát triển ở đô thị, bỏ rơi nông thôn lạc hậu; chỉ nhằm mục đích khai thác và thu về lợi nhuận cho chính quốc. Đó là nền kinh tế thị trường ở một nước mà dân tộc mất chủ quyền. Nhiều giá trị văn hóa dân tộc nghìn năm bị đảo ngược đau đớn trước sức mạnh tha hóa của nền kinh tế thị trường lai căng và lệ thuộc, cho dù có những tác động tích cực theo cách khách quan mà nó mang lại: con người cá nhân xuất hiện như một trào lưu văn hóa - ý thức, một nền học mới truyền đạt tri thức hiện đại và văn minh, ý niệm giao lưu và hội nhập nhân loại hình thành…

2.2. Gần cuối thế kỷ trước, sau hơn 115 năm cứu nước (1858 - 1975) ta mới bắt đầu hình thành một nền SXHH và KTTT trên đất nước độc lập thống nhất. Đó là điểm khác đặc biệt so với các trào lưu kinh tế thương mại trước đây. Đồng thời, cùng với nhân loại ngày nay, nền kinh tế thị trường ở ta cũng được nâng đỡ và tác động mạnh mẽ của sự phát triển khoa học và công nghệ hiện đại trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Từ góc nhìn lịch đại, có thể thấy sự chuyển hóa hơn hẳn của nền sản xuất và đời sống kinh tế xã hội nước ta hiện thời so với vài ba chục năm trước chứ chưa cần so với trước xa hơn nữa. Tuy vậy, không vì những biến đổi hơn hẳn quá khứ ấy mà chúng ta thiếu sự tỉnh táo, khách quan để tự thức nhận tình huống thời cuộc của chính mình khi xét theo góc nhìn đồng đại. Ở góc nhìn này, về cơ bản nền sản xuất và kinh tế của ta vẫn thuộc vào "bộ phận chậm tiến" của nhân loại. Trong lúc đó, những nghịch lý đầy tai ương của nền SXHH và KTTT ở thời kỳ đầu - thời kỳ "bùn và máu" - lại đang ngấm ngầm hoặc công khai tiến công vào các giá trị con người, làm sa sút nhân tính, tạo ra nguy cơ tàn phá nền tảng văn hóa dân tộc - cái nền tảng sức sống nội sinh của chủ thể dân tộc để hội nhập nhân loại vì một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Thời ta sống đây, những cải biến tiến bộ do nền SXHH và KTTT mang lại là dễ nhận thấy. Nhưng cũng không khó khăn gì để nhận ra hậu quả khôn lường do sức tha hóa con người mà nó đem đến. Sức tha hóa này ở thời ta còn ác liệt và tàn hại hơn nhiều so với thời sơ sinh, sơ phát của nó. Một bộ phận người dân trong đó có "bộ phận không nhỏ" là cán bộ lãnh đạo quản lý có lẽ đã "ý thức đầy đủ" về nhận định của Marx nhưng theo hướng ngược chiều: Marx thì chống lại, còn họ thì thuận theo: "Con người với sự quy định của hàng hóa", "tiền tệ có thuộc tính là có thể mua tất cả mọi cái"(11). Trước kia, thời Lê mạt quan chức từng được đưa ra để mua bán. Quan chức cũng là món hàng thuộc địa đầu thế kỷ XX: "Tri huyện lâu nay giá rẻ mà" cho nên "Ở phố hàng Song thật lắm quan" (Thơ Tú Xương). Đọc lại thế, tự nhiên ta bị ám ảnh bởi tình trạng "lắm quan" tại một cơ quan nọ ở một tỉnh kia vừa mới đây thôi.

Thời ta sống, bệnh lý tha hóa chứa một loại vi khuẩn đa năng có thể đục khoét tàn phá trên mọi lĩnh vực hoạt động của cơ thể quốc gia. Nền SXHH và KTTT mở ra chân trời rộng lớn để ta hội nhập nhân loại, mang về cho dân ta tri thức mới, công nghệ mới, trình độ văn minh hiện đại… Từ đó ta có thêm ý thức mới về giá trị văn hóa dân tộc do được bồi đắp thêm các giá trị nhân loại. Nhưng cùng một lúc, tiếp giao nhân loại cũng du nhập vào ta những loại vi khuẩn toàn cầu với đe dọa trước hết làm suy vi nền tảng văn hóa dân tộc đã xây đắp, chọn lọc qua hàng nghìn năm. Toàn cầu hóa quả thực đang đưa lại sự gia tăng của cải vật chất ở cả các nước tiên tiến và chậm tiến, đồng thời cũng nảy sinh khuynh hướng tôn thờ chủ nghĩa vị lợi ích kỷ, tạo môi trường cho nguy cơ đảo ngược các giá trị dân tộc và nhân loại.

Trong những lần tiếp giao nhân loại không bình đẳng trước kia, một số dân tộc và văn hóa của họ đã ra đi, chỉ còn là những ký ức tê tái trong tâm thức nhân loại. Chẳng hạn, dân tộc Lưu Cầu trên vùng biển Đông Bắc Á và một dân tộc khác ngay trong khu vực Đông Nam Á của chúng ta. Tiếp giao nhân loại không bình đẳng trong lịch sử được ghi nhận là những cuộc xâm lăng văn hóa mà Việt Nam ta từng hai lần là nạn nhân. Ngày nay, tiếp giao văn hóa là một tất yếu nhưng là một tất yếu bình đẳng trong quy luật kinh tế thị trường toàn cầu hóa. Tôi tán thành ý kiến của một người nghiên cứu văn hóa: "Toàn cầu hóa như một xu thế văn hóa"(12), nhưng không đồng ý với ông trong quan niệm có "Toàn cầu hóa về văn hóa"(13). Trong hội nhập văn hóa, cái mà nhân loại cần ở mọi dân tộc là các giá trị đặc thù, bản sắc văn hóa - nghĩa là nền tảng văn hóa của các dân tộc. Hội nhập văn hóa để nhân loại có một hệ giá trị văn hóa phong phú và đa dạng chứ không phải biến văn hóa nhân loại thành những thiết chế văn hóa độc chuẩn. Trong trường hợp này, lại sẽ xuất hiện những cuộc xâm lăng văn hóa mới, sự áp đặt văn hóa mới.

Mất nước về lãnh thổ, về chủ quyền kinh tế, chính trị rồi sẽ giành lại được nếu dân tộc còn một sinh lực văn hóa đủ mạnh để kháng cự. Nhưng mất đi nền tảng, bản sắc văn hóa của mình, dân tộc đó tận diệt hiểu theo cả nghĩa gián tiếp và trực tiếp của từ này.

Cái nguy cơ một dân tộc mất văn hóa ngày nay trong hội nhập nhân loại vẫn còn đó. Nguy cơ này ở ngay mỗi cá nhân chúng ta, kể cả người dân và người quản lý, lãnh đạo, nếu chúng ta tỏ ra cách biệt, lạnh lẽo với các giá trị văn hóa Việt Nam, nếu chúng ta để giảm sút lòng tin nơi quần chúng với những gì là cao cả, tốt đẹp mà chúng ta thường cổ vũ, nếu trường học của chúng ta xa rời mục tiêu đào tạo những con người biết phục vụ mà chỉ sản xuất ra những "sản phẩm" chỉ có trình độ hưởng thụ. Khi đó, đồng tiền sẽ thực sự thống trị tất cả và cháu con ta lớn lên với tâm hồn trinh trắng sẽ mỏi mắt đi tìm những giá trị mà đâu đâu cũng chỉ gặp những giá tiền.

                                                                            

 

 

Chú thích

(1), (2). Từ điển triết học (dịch của Liên Xô cũ), Nxb Sự thật, H.1976, tr.973.

(3). Hoàng Phê (chủ biên): Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, 2004, tr.1100.

(4), (5). Hồ Chí Minh: Đạo đức cách mạng (bút danh: Trần Lực), TC Học tập, số 12/1958.

(6). Phùng Hữu Phú: trong bài đăng báo Quân đội nhân dân, số 12/10/2016.

(7), (8), (10). Marx: Về văn học và nghệ thuật, Nxb Sự thật, H.1977, tr.81, 84.

(9). Marx trích dẫn thơ của Shakespeare trong Sđd, tr.82-83.

(11). Marx: Sđd, tr.81.

(12), (13). Nguyễn Trần Bạt: Văn hóa và con người, Nxb Hội Nhà văn, H.2011, tr.127. 

Lê Đình Cúc

Những năm gần đây, trước các hiện tượng phức tạp của xã hội, cùng với sự xuống cấp của văn hoá và giáo dục, tệ nạn xã hội phát triển tràn lan, cờ bạc, mại dâm, ma túy và tội phạm ở vị thành niên tăng cao. Nhiều người không khỏi lo lắng, thậm chí lo sợ. Những hiện tượng trên, thời nào cũng có, nhưng chưa bao giờ đáng báo động như hiện nay ở tính chất nghiêm trọng của nó.

Nhiều quan tâm và lo lắng của các bậc phụ huynh là có cơ sở, đặc biệt có những vấn đề tưởng như khó lý giải: vì sao trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, lớp cha anh trong hoàn cảnh khó khăn hơn nhiều, nhưng sống tốt đẹp hơn. Trước đây kinh tế chưa phát triển như bây giờ, vì sao nạn trộm cắp, cướp giật ít xảy ra, thanh niên không đua đòi càn quấy, gây gổ... Đặc biệt, trong những năm chiến tranh ác liệt, hàng triệu thanh niên đã xung phong ra trận giết thù, chấp nhận mọi hy sinh gian khổ. Thế mà bây giờ hòa bình, dù chưa giàu sang, nhưng phần lớn thanh niên đã được sống trong ấm no, đầy đủ thì lại có những thanh niên có lối sống, hành động đáng lên án như vậy... Trên góc độ văn hóa truyền thống mà xem xét giá trị của thanh niên: Họ đang ở đâu và sẽ đi về đâu, có đáng lo lắng như nhiều bậc phụ huynh đã phải kêu về "bọn trẻ" hay không?

Cũng chẳng phải ngày nay các bậc cao niên mới phát hiện ra lũ trẻ "hư hỗn", mà trước công nguyên đến gần 500 năm, nhà triết học vĩ đại Socrate đã từng than vãn "lũ trẻ ngày nay quen thói xa hoa, bọn chúng có cách cư xử chẳng hay ho gì cả, khinh thường uy tín, không tôn trọng người già. Con cãi lại cha mẹ, tham ăn, tục uống, làm khổ thầy giáo". Giống như là ông đang phàn nàn một bộ phận thanh niên Việt Nam ngày nay vậy.

Lịch sử phát triển của văn hóa nhân loại luôn luôn có sự kế thừa những giá trị hợp lý và có sự chối bỏ, trong đó có sự mâu thuẫn giữa các thế hệ. Có điều là "mâu thuẫn" này ngày càng xảy ra trên nhiều lĩnh vực đời sống hơn và tỏ ra gay gắt hơn. Lịch sử văn hóa cho thấy văn hóa không chỉ đổi mới theo thời gian mà tự nó bảo toàn nhờ tác động thông qua các thiết chế văn hóa xã hội (nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, làm cho quá trình bảo toàn và thay đổi xảy ra nhanh hoặc chậm, ít hoặc nhiều). Văn hóa sẽ truyền lại cho thế hệ mới những di sản của các thời đại trước (phong tục tập quán, truyền thống gia đình). Trong quá trình chuyển tiếp đó, có cái được tiếp nhận tương đối vững bền, có cái sẽ mai một và có phần bị gạt bỏ. Phần được thế hệ sau tiếp nhận là phần tinh túy và dễ thích nghi với nhu cầu của thế hệ mới.

Thanh niên tiếp nhận thành quả, kế thừa của cha anh nhưng có chọn lọc để phù hợp với thời đại của mình. Thanh niên liên kết với nhau cùng một thế hệ trong môi trường di sản văn hóa mà cha ông để lại và nếu thiếu chúng thì thanh niên không tồn tại và phát triển được. Thực ra, nếu không có sự loại bỏ thì thế hệ sau không thể phát triển được. Cùng lắm thì cũng chỉ bằng cha anh. Làm gì có "con hơn cha là nhà có phúc" được.

Các xã hội truyền thống Việt Nam từng phát triển chậm chạp. Chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm, mãi đến tận ngày nay tàn dư của nó vẫn còn ăn sâu trong tình cảm, tư tưởng của con người Việt Nam. Trong khi đó, chỉ trong vài chục năm trở lại đây, lối sống của thanh niên đang thay đổi dồn dập, quyết liệt. Chỉ xét về trang phục chẳng hạn, cái áo tứ thân, cái quần lá tọa, cái thắt lưng hoa lý đã tồn tại hàng nghìn năm trong cộng đồng làng xã lúa nước và văn hóa lũy tre xanh. Cái búi tóc củ hành có từ bao giờ không ai còn biết nữa, nhưng đến cụ Nguyễn Khuyến (thế kỷ trước) vẫn "Búi tóc củ hành, buông quần lá tọa" để "khóc vợ", vẫn là một hình tượng văn hóa rất nên thơ. Đến giữa thế kỷ này còn phổ biến ở đàn ông, và ngay bây giờ ở những vùng xa hoặc với những người cuối cùng của Nho học còn sót lại vẫn còn búi tóc ấy. Trong ca dao Việt Nam "cánh cò bay lả bay la" đã bay suốt mấy nghìn năm, mãi đến thơ Xuân Diệu cuối những năm 30 mới tìm bến đỗ: "Mây trắng về đâu bay gấp gấp/ Con cò trên ruộng cánh phân vân". Ngôn ngữ là thứ ít thay đổi nhất trong văn hoá. Ngày nay ta vẫn đọc và hiểu hết thơ Nguyễn Trãi viết từ thế kỷ XV. Trong câu thơ "Bui một tấc lòng ưu ái cũ/ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng", chỉ một từ Bui - (chỉ) là từ cổ phải tra từ điển. Tuyệt tác Truyện Kiều được Nguyễn Du viết từ thế kỷ XVIII, đến nay ai đọc cũng hiểu, cũng thuộc.

Văn hóa Việt Nam thế hệ trước truyền lại chủ yếu là qua kinh nghiệm và rất chậm chạp, có khi mất thời gian lâu dài làm cho mỗi cá nhân sống trong khoảnh khắc ấy không kịp nhận thấy. Trang phục, sinh hoạt văn hóa trong suốt hàng trăm năm trước không có sự cách chia rạch ròi: Văn hóa "người lớn" và văn hóa "thanh niên". Mọi người trong cộng đồng cùng để búi tóc búi tó (củ hành), cùng vận áo tứ thân, cùng cài tóc bằng trâm (thoa), bằng tre, bằng sừng (với tầng lớp dưới), bằng ngà, bằng vàng (với tầng lớp trên của xã hội), cùng vấn khăn trên đầu hoặc đội nón quai thao như nhau (có khác chỉ ở màu sắc, chất lượng, sự khác này không lớn). Trong ca nhạc chẳng hạn, hát dân ca như quan họ, phường vải đâu có chia làn điệu cho già và trẻ. Có khác chăng chỉ là chiếu hát là do thứ bậc ứng xử chứ không phải ở nội dung và hình thức âm nhạc. Bây giờ, có nhạc Tây, nhạc ta, lại nhạc trẻ, nhạc vàng, nhạc xanh: Rock, Blue, Jazz, Hiphop... cho từng thế hệ, lứa tuổi khác nhau. Ca múa, văn chương cũng vậy.

Về giáo dục, ngày ấy chưa xa, cả tổng mới có một mái trường, dăm ông thầy đồ với vài chục anh khóa. Ba năm có một kỳ thi, ông Tú, ông Tham tính bằng ngón tay, ông Nghè thì hiếm lắm. Ấy vậy mà bây giờ cứ mỗi xã ít nhất có một, hai trường phổ thông cơ sở, một huyện, một tỉnh con số trường phổ thông trung học lên tới con số chục và học sinh, sinh viên là con số triệu. Đến tiến sĩ (quan nghè) đã lên đến số vạn người. Khi tuyệt tác Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du ra đời, không biết Cụ chép làm mấy bản mà nay, mới có 200 năm, không ai tìm được bản gốc nào nữa để xem nguyên tác của Cụ ra sao, để đến nỗi con cháu cụ cứ cãi nhau chữ tác với chữ tộ. Ngày ấy cả Nghệ Tĩnh quê Cụ, đất hiếu học may ra có được chục xích đông đựng sách. Số sách của các bậc túc nho may lắm vài trăm cuốn là nhiều. Đến "Thần Siêu" (Nguyễn Văn Siêu), Thánh Quát (Cao Bá Quát) mà sách của các ông cũng chỉ lấy bồ mà đựng. Ông vua hay chữ Tự Đức ca ngợi: "Thế gian có 5 bồ chữ thì Cao Bá Quát chiếm 3 bồ". Hình ảnh các sỹ tử đi thi đầu thế kỷ trước cũng chỉ có một người gánh cho, một bên là túi nhỏ đựng sách vở, một bên là lều chõng cho anh khoá đi thi (Lều chõng của Ngô Tất Tố). Bây giờ, cả nước ta đã có hàng nghìn thư viện, mỗi gia đình của thanh niên trung bình cũng có hàng chục cuốn. Cả nước ta, số đầu sách là hàng chục triệu bản. Bên cạnh đó là "Xa lộ thông tin" (Network) và Internet cho phép trong nháy mắt mỗi người có thể truy cập được hàng nghìn trang sách. Chỉ với một USB đã có thể lưu giữ hàng chục cuốn sách. Chỉ với một ipad, một điện thoại di động con người dù bất cứ nơi đâu, dù ở tận hang sâu hay dưới đáy đại dương cũng có thể đọc sách. Chỉ cần nhấp chuột (click) là google cho ngay điều mình muốn biết.

Như thế để thấy cuộc sống vận động, thay đổi chất lượng, thay đổi nhịp độ tác động lên tâm lý, sinh lý, tạo nên đời sống văn hóa cho con người, đặc biệt cho thanh niên là những người nhạy cảm nhất của xã hội. Với nhịp độ của công nghiệp hóa sôi động, ào ạt ngày nay, đã tạo nên một nếp sống văn hóa khác thế hệ cha anh đã có. Đó là văn hóa tốc độ. Đẩy nhanh và đổi mới liên tục, nhu cầu đòi hỏi nhu cầu. Đó là đặc trưng của xã hội tiêu dùng hay xã hội thị trường hậu công nghiệp. Ngày trước, lao động thủ công, sản phẩm do cá nhân một người tạo ra. Sản phẩm ít, đơn lẻ (do vậy đồ cổ mới có giá trị, vì nó là duy nhất) khác với sản xuất công nghiệp, hàng hóa là hàng loạt. Con người cũng vậy, bởi nó là sản phẩm của đời sống xã hội. Chính C. Mác đã từng cho hay "Nói cho cùng, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội".

Trong xã hội nông nghiệp, lúa nước với cộng đồng làng xã của nước ta, thời gian cũng là khái niệm co dãn, tương đối, hết sức tùy tiện. Để chỉ thời gian luân chuyển trong năm, mùa xuân: "Thanh minh trong tiết tháng ba/ Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh"; mùa hè: "Cuối sân quyên đã gọi hè/ Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông"; mùa thu: "Sen tàn cúc lại nở hoa" (Nguyễn Du). Đến trai gái hẹn hò, đầu thế kỷ này còn "chờ em ăn dập miếng trầu em sang" (Nguyễn Bính). Ăn dập miếng trầu là mấy phút, mấy giờ? Thời gian bị co dãn, chậm chạp. Bây giờ chẳng có chàng trai cô gái nào hẹn người yêu mà lại hẹn kiểu đó. Nếu không đúng từng phút, không có lý do thì chàng, hoặc nàng phải đi ngay vì còn bận việc khác.

Xã hội công nghiệp và tiêu dùng hay là đời sống thời buổi thị trường này vừa dài vừa ngắn. Dài vì nó cho phép làm được vô số công việc trong 24 giờ mỗi ngày. Ngắn vì rất nghiêm nhặt, giờ nào việc ấy, chính xác từng phút. Cách mạng khoa học công nghệ và tin học làm cho đời sống thanh niên trở thành hệ thống cực kỳ năng động, kích thích và biến đổi triệt để các mối quan hệ và giao tiếp giữa con người với con người, nó kéo theo các hình thức ứng xử cũng thay đổi.

Trong văn hóa hiện đại, có sự thay đổi rất rõ rệt, dễ nhìn thấy, chúng thường xuyên phá bỏ truyền thống và xây dựng một biểu hiện văn hóa mới. Nhịp độ cuộc sống tăng nhanh tạo ra cảm giác về tính tạm bợ, thoáng qua của mọi thứ. Chiếc quạt mo của thằng Bờm đã sống bao nhiêu thế kỷ nhưng đến quạt "tai voi" hoặc "Orbita" của Liên Xô thì cũng chỉ lay lắt vài chục năm ở những gia đình thành thị. Bây giờ quạt Nhật, quạt Thái, quạt Trung Quốc, quạt Việt Nam đủ kiểu, mẫu mã thật đẹp, thật bền nhưng cùng lắm chỉ trụ được 1, 2 năm là phải thay đổi. Trong quá khứ sự "ăn chắc mặc bền" là tiêu chuẩn lý tưởng thì ngày nay tâm lý dùng rồi vứt bỏ ngay là "mốt" của thời đại. Điều này không chỉ áp dụng với hàng hóa mà cả đối với con người, với tư tưởng, khái niệm, lối sống. Lịch sử loài người đã có hàng triệu năm nhưng đến thế kỷ XX, có thể tính được trên ngón tay con số các trào lưu triết học và mỹ học. Nhưng chỉ từ thế kỷ Ánh sáng đến nay, con số đó đã gấp mấy chục lần của quá khứ. Ngày nay, triết học hiện đại phương Tây đang lôi kéo thế hệ trẻ vào vô vàn mê cung. Trong khi ấy thế hệ trẻ lại thường xuyên muốn tiếp nhận những cái mới.

 Biết tin vào đâu, tin ai, tin vào lý tưởng nào là điều không dễ đối với thanh niên phương Tây. Điều này chắc chắn thanh niên Việt Nam cũng có những nhu cầu đó. Qua cuộc cách mạng tin học và công nghệ, đặc biệt là cuối thế kỷ XX, với sự sụp đổ của phe xã hội chủ nghĩa, không chỉ là sự khủng hoảng của một hệ thống chính trị xã hội, của lý tưởng sống mà thế hệ cha anh họ đã đi theo. Con người - nhất là thế hệ trẻ trưởng thành trong một môi trường lành mạnh của giáo dục gia đình và xã hội đã thấy: Thế hệ cha anh có được một lý tưởng sống cao đẹp với những tấm gương đạo đức, hy sinh vì nước vì dân mà điển hình là Bác Hồ và những nhà lãnh đạo cùng thế hệ. Xung quanh họ là những người cha, người mẹ, là thầy cô giáo, là những đảng viên làm gương cho mọi người học tập, noi theo, trong số đó có người đã trở thành thần tượng cho cả thế hệ. Thanh niên Việt Nam hiện nay không có được những điều kiện ấy. Nhưng nhu cầu tâm lý của thanh niên là phải có tấm gương, thần tượng trong cuộc sống. Vì vậy, thật dễ hiểu khi ta thấy nhiều thanh, thiếu niên chờ đón một cầu thủ bóng đá hàng mấy tiếng đồng hồ dưới trời mưa tầm tã, hoặc tha thiết hôn chiếc ghế mà một ca sỹ, thần tượng của mình đã ngồi.

Kinh tế thị trường với những mặt tiêu cực của nó tác động vào lớp trẻ. Xác định một lý tưởng cho thanh niên bây giờ khó khăn hơn cách đây 30 năm. Xã hội nhìn nhận, đánh giá giá trị của con người cũng khác trước. Ai là hình mẫu lý tưởng? Người giàu có hay người học hành tử tế? Thế nào là người thành đạt? Việc thanh niên đi tìm bản thân mình và địa vị trong xã hội vừa dễ vừa rất khó. Năng động, nhạy bén của thanh niên tạo cho họ dễ trở nên giàu có. Bill Gate, ông vua tin học, được mệnh danh là giàu có nhất, khi đang ở tuổi thanh niên đã có bạc tỉ đô la. Michael Jackson, Maradona, Coperfin, Beckham, Mesi, Ronaldo... triệu phú khi chưa quá tuổi "tam thập". Ngày nay điều kiện để làm giàu là hết sức đa dạng. Người giàu không còn chỉ là những nhà tư bản. Tư bản đã chuyển sang cả những người có tài, diễn viên, người mẫu, cầu thủ thể thao và nghệ sĩ. Đến cái nghề văn chương "Lập thân tối hạ" ấy, ngày nay cũng có khối người giàu bằng chính văn chương. Một giải thưởng Nobel cũng đem về cho nhà văn những triệu đô la. Mặt khác, văn hóa thanh niên cũng thay đổi vì sự tăng tốc phát triển tâm lý, sinh lý theo độ dài lứa tuổi. Quỹ thời gian dôi ra. "Gái 30 tuổi đã toan về già" không còn đúng nữa, nữ thanh niên, nhất là phụ nữ trí thức, đến tuổi này mới lấy chồng. Ngày nay tuổi 50 với đàn ông mới là tuổi chín chắn (mới ngày nào tuổi này đã ngồi chiếu trên - lên lão). Tuổi thanh niên kéo dài đến 30 năm. Đời sống vật chất, tinh thần đầy đủ. Tuổi thọ trung bình tăng và thời kỳ "con nít" sớm chấm dứt hơn vì được tiếp xúc với xã hội nhiều qua các phương tiện thông tin đại chúng. Vậy là thời gian trang bị kiến thức, kinh nghiệm sống, nghề nghiệp của thanh niên cũng dài hơn. Phần lớn trong số họ chưa độc lập kinh tế và còn phụ thuộc vào gia đình, xã hội, nhưng nhiều khi họ không biết. Họ lớn lên nhưng chưa đủ khôn, chưa có địa vị trong xã hội và gia đình. Họ phát triển tâm lý, sinh lý nhưng tri thức và ý thức lại non nớt. Điều này cho thấy hiện tượng lớp trẻ bây giờ bị sa đà vào tình dục quá sớm, tệ nạn xã hội tăng lên là có lý do. Họ thừa thông tin nhưng thiếu tri thức và trí tuệ. Trong khi đó, các môi trường sinh hoạt của họ như Đoàn thanh niên, Hội sinh viên lại do người lớn lãnh đạo. Trường học do người lớn giáo dục, dạy dỗ thanh niên theo chuẩn mực định sẵn. Tâm lý thanh niên là muốn thoát khỏi sự kiểm soát bên ngoài, dễ bị kích động và lý tưởng hóa một số quan niệm sống như tình yêu, lý tưởng, cuộc đời... Họ bao giờ cũng muốn đạt đến tuyệt đối nhưng lại không kiên định do đó họ "quậy", "phá" bằng đủ mọi biểu hiện để chứng tỏ địa vị của mình, để mọi người chú ý đến sự tồn tại của mình. Lắm lúc để mọi người thừa nhận họ phải dùng đến mốt áo quần, giày mũ, cử chỉ, lời nói (tiếng lóng, chửi bậy) đua xe, ma túy, hay gần đây một nữ sinh đốt trường khi "câu" được 1.000 like. Những hiện tượng Bà Tưng, Lệ Rơi... cũng nằm trong trường hợp này. Cái lối ngông nghênh trong ứng xử, sự vi phạm đạo đức, đam mê tình dục, thích âm nhạc giật gân, ồn ào chẳng qua chỉ tạo nên giá trị phản văn hóa mà giới trẻ không biết.

Cơ hội để khẳng định mình rất nhiều nhưng không dễ dàng cho thanh niên. Tục ngữ ca dao Việt Nam "Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời". Để trở thành người giàu có, phải ba đời tích lũy lao động và buôn bán may ra mới đạt được. Hiện nay, người ta dễ làm giàu, và làm giàu nhanh chóng không qua con đường tích lũy tư bản. Nhìn vào những người lãnh đạo giàu có nhanh chóng không phải bằng tài năng mà bằng tham nhũng, ăn cắp. Thậm chí có những kẻ văn hóa chưa hết phổ thông nhưng lao vào buôn bán ma túy bỗng chốc thành tỉ phú rồi có thể sau đó là vào nhà tù hay ra pháp trường, tính sau. Cũng từ quảng cáo trên TV, báo chí, truyền thanh nhan nhản các lớp học làm giàu nhanh chóng chỉ trong vài tháng, hoặc thậm chí vài ngày hấp dẫn, lôi kéo nhiều thanh niên, sinh viên bán hàng đa cấp (và bị lừa). Có một số thanh niên chỉ nhìn thấy khía cạnh đó nên lao vào làm giàu bất chấp cả pháp luật và đạo lý. Tầng lớp thanh niên trí thức cũng nhiều người muốn khẳng định mình qua con đường làm giàu. Đội ngũ này cố học chữ nhưng với mục đích để làm giàu, để kiếm tiền là chính chứ không phải học để làm người, để làm khoa học nên họ chọn và đổ xô vào các trường, các khoa dễ kiếm tiền khi ra trường. Hiện tượng thanh niên, nhiều người thi vào các trường mà khi ra trường có thể kiếm được việc làm ngay... đông hơn hẳn các trường khoa học cơ bản là vì vậy. Nhưng cũng vì vậy mà cũng có rất nhiều sinh viên ra trường thất nghiệp, không có việc làm, "nhàn cư vi bất thiện", bổ sung họ vào đội ngũ những người quậy phá xã hội, bị kẻ xấu lợi dụng, xúi giục làm những việc không hay.

Xét toàn bộ vấn đề kinh tế xã hội và tâm lý thời đại, thanh niên Việt Nam như Bác Hồ đã nhận xét: "Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi người đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ" (Di chúc), nhìn chung không phải đang xấu đi, đáng lo lắng hơn mà họ đang sống trong một môi trường văn hóa đúng như đang có. Với tất cả mặt mạnh, mặt yếu và tất yếu thanh niên ta vừa tiếp thu vừa loại bỏ văn hóa truyền thống đúng như quy luật của văn hóa. Các bậc cha anh có lo lắng nhưng xin đừng lo sợ. Vấn đề là ở chỗ gia đình và những tổ chức xã hội cần có phương pháp giáo dục hợp lý, phù hợp quy luật để uốn nắn những cái thái quá của tuổi trẻ, phù hợp tương đối với văn hóa truyền thống của dân tộc và hội nhập, tiếp thu có chọn lọc văn hóa nhân loại, trong đó có phần đóng góp của văn hóa Việt Nam cho thế hệ thanh niên thế giới.      

Nguyễn Đăng Bằng

Thu hút đầu tư vào cả nước và từng địa phương là một xu thế tất yếu và mạnh mẽ diễn ra trong nhiều năm qua. Nghệ An là tỉnh đã trở thành điểm đến của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Mặc dầu đã đạt kết quả khả quan, nhưng hiệu quả chưa cao, chưa khai thác có hiệu quả tiềm năng và lợi thế của tỉnh. Ngay cả những dự án lớn, nhà đầu tư vẫn có thể bỏ cuộc. Để trở thành một điểm đến hấp dẫn Nghệ An cần phải có giải pháp mạnh, mang tính khác biệt và đột phá.

Tổng quan tình hình thu hút đầu tư vào Nghệ An giai đoạn 2011 đến 2015

Từ 2011 đến 2015, thu hút đầu tư là lĩnh vực được tỉnh đặc biệt quan tâm. Tỉnh đã chủ động xây dựng quy hoạch ngành, lĩnh vực phục vụ hoạt động xúc tiến đầu tư, mở rộng các hoạt động đối ngoại, nhờ đó nhiều dự án quan trọng làm tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội đã được cấp phép. Từ 2011 đến 2015 đã thu hút được 305 dự án với số vốn 53.000 tỷ đồng. Riêng năm 2015 tỉnh đã cấp mới cho 120 dự án tổng số vốn đăng ký là 88.380 tỷ đồng. Đặc biệt sau 7 lần gặp mặt các nhà đầu tư từ 2009 đến 2016 Nghệ An đã thu hút được 663 dự án với số vốn 230.000 tỷ đồng, trong đó có 626 dự án đầu tư trong nước với số vốn trên 70.000 tỷ đồng và 37 dự án FDI số vốn 158.000 tỷ đồng (tương đương 7200 triệu USD). Nhiều dự án lớn, công nghệ cao như là: Tập đoàn Masan - Trung tâm công nghiệp thực phẩm Masan: (Nam Cấm) diện tích 6,33 ha; vốn 1200 tỷ đồng. Dự kiến 2015 hoàn thành.

Trong năm 2016, nhiều dự án khác cũng được khởi công và đẩy nhanh tiến độ tại Nghệ An như: Nhà máy cấp nước thô cung cấp cho các nhà máy sản xuất nước sạch tại thành phố Vinh của Công ty CP cấp nước Sông Lam, công suất 200.000 m3/ngày đêm, diện tích sử dụng đất 0,3 ha, tổng mức đầu tư 496 tỷ đồng. Dự án đầu tư xây dựng bến số 5, số 6, thuộc bến cảng Cửa Lò của Công ty CP đầu tư xây dựng Tuấn Lộc, diện tích sử dụng đất 23,5 ha, tổng mức đầu tư 650 tỷ đồng. Dự án Nhà máy chế biến tinh bột sắn tại xã Hoa Sơn, huyện Anh Sơn của Công ty TNHH chế biến nông sản Hoa Sơn, diện tích sử dụng đất 21,8 ha, tổng mức đầu tư 224 tỷ đồng; xây dựng Nhà máy Tôn Hoa Sen 2 ở Quỳnh Lập (TX. Hoàng Mai)…

Tính lũy kế đến nay, trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 776 dự án đầu tư còn hiệu lực, gồm có 733 dự án đầu tư trong nước với 164.937 tỷ đồng và 43 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với 1,61 tỷ USD. Trong đó, có nhiều dự án lớn, sử dụng công nghệ cao đã đi vào hoạt động có hiệu quả, tạo nhiều việc làm, nộp ngân sách lớn như: Dự án chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa TH - True milk; Nhà máy bia Sài Gòn - Sông Lam; Thủy điện Bản Vẽ; Các nhà máy may và lắp ráp linh kiện điện tử của các nhà đầu tư Hàn Quốc, Nhật Bản...

Để tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, trong những năm qua Nghệ An đã xây dựng quy hoạch, đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Những năm gần đây, số đoàn các nhà đầu tư nước ngoài đến thăm và tìm hiểu cơ hội đầu tư tại tỉnh Nghệ An ngày càng nhiều. Và kết quả được ghi nhận bằng các thỏa thuận đầu tư và giấy chứng nhận đầu tư được cấp. Dự án: Xây dựng và kinh doanh hạ tầng Khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ của VSIP Nghệ An; Dự án Xây dựng và Kinh doanh hạ tầng khu D - Khu công nghiệp Nam Cấm; Nhà máy Tôn Hoa Sen; Trung tâm thương mại Nguyễn Kim; Dự án bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu chất lượng cao; các nhà máy xi măng; các dự án chăn nuôi bò sữa và nhà máy sữa công nghệ cao; các nhà máy sản xuất linh kiện, thiết bị, điện tử viễn thông Hitech BSE Việt Nam... Nhìn chung ở Nghệ An các dự án đầu tư ngày càng tăng cả về số lượng, quy mô và công nghệ.

 Môi trường đầu tư căn bản được cải thiện. Để tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, tỉnh quy hoạch và đẩy mạnh đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN), trong đó tập trung đầu tư phát triển Khu kinh tế Đông Nam. Hiện nay, địa giới Khu kinh tế Đông Nam được mở rộng bao gồm cả KCN Hoàng Mai, KCN Đông Hồi và toàn bộ diện tích dự án KCN, đô thị và dịch vụ VSIP. Cùng với đó, tại các địa phương trong tỉnh đã triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng 32 CCN với diện tích 467 ha. Nhờ đó đáp ứng kịp thời yêu cầu về vị trí, hạ tầng của nhà đầu tư. Với cơ sở hạ tầng tương đối đồng bộ, trong những năm gần đây, số đoàn các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến thăm và tìm hiểu cơ hội đầu tư ngày càng tăng.

 Bằng nhiều cơ chế, chính sách và sự chỉ đạo quyết liệt của tỉnh ủy, UBND tỉnh, nhiều dự án có quy mô lớn, làm nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội địa phương như tổ hợp liên doanh nhà thầu EPC do Doosan Hàn Quốc làm điều phối chính, cùng Tổng công ty lắp máy Việt Nam Lilama, Narime và các liên doanh trong nước thực hiện thiết kế, chế tạo thiết bị cho cả 2 tổ máy của Dự án nhiệt điện Quỳnh Lập 1 công suất 1.200 MW. Theo kế hoạch, Dự án Nhà máy nhiệt điện Quỳnh Lập 1 sẽ hoàn thành đi vào vận hành vào năm 2020. Mới đây, Tập đoàn POSCO Việt Nam Holdings đã vào Nghệ An tìm hiểu và đăng ký tiến hành nghiên cứu đầu tư Dự án Nhà máy nhiệt điện 2 tại Quỳnh Lập. Tập đoàn The   Vissai đã đầu tư cụm dự án gồm Công ty cổ phần xi măng Sông Lam. Dự án Nhà máy xi măng Sông Lam sẽ hoàn thành trong thời gian 18 tháng, Dự án Trạm nghiền xi măng (công suất 4 triệu tấn/năm) thực hiện 15 tháng và cảng biển chuyên dụng quốc tế xây dựng 18 tháng. Với quyết tâm tạo ra bước phát triển mới mạnh mẽ trong lĩnh vực sản xuất xi măng tại Nghệ An, Tập đoàn The Vissai quyết định nâng công suất của Nhà máy xi măng Sông Lam từ 900.000 tấn/năm lên 4 triệu tấn/năm. Quy hoạch mở rộng diện tích mỏ đá vôi, mỏ đá sét và đường vận chuyển nguyên liệu đá vôi từ mỏ về nhà máy cũng được Bộ Tư lệnh Quân khu 4, UBND tỉnh quan tâm, giải quyết.

 Dự án Khu công nghiệp VSIP Nghệ An do Tổng Công ty Becamex IDC (Việt Nam) và Sembcorp (Singapore) liên doanh làm chủ đầu tư với diện tích dự kiến là 1.475 ha, với tổng vốn đầu tư đăng ký giai đoạn 1 là 3.000 tỉ đồng. Một khi dự án được khởi công và đưa vào sử dụng, sẽ tạo nên thành công và gây tiếng vang lớn trên địa bàn tỉnh. Dự án trở thành "biểu tượng" hợp tác thành công nhất giữa Nghệ An và Singapore, là khu công nghiệp hình mẫu, có hạ tầng kỹ thuật hiện đại, thân thiện với môi trường; góp phần rất quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Nghệ An, đặc biệt là các doanh nghiệp đến từ Singapore. Trong điều kiện kinh tế thế giới đang giai đoạn suy thoái, vốn đầu tư trên cả nước giảm, những kết quả đạt được kể trên rất đáng ghi nhận. Một số nhà đầu tư lớn đến từ trong nước như Tôn Hoa Sen: Dự án cán thép, vốn đầu tư 2.300 tỷ đồng, diện tích 12 ha (Nam Cấm). Dự án trị giá 5.000 tỉ đồng Nhà máy Hoa Sen Nghệ An tại Khu công nghiệp Đông Hồi, xã Quỳnh Lập, thị xã Hoàng Mai là một dự án mới do Công ty TNHH MTV Hoa Sen Nghệ An đầu tư và xây dựng trên diện tích đất 35 ha. Khu công nghiệp Đông Hồi nằm ở phía Bắc Nghệ An và trong vùng kinh tế trọng điểm. Đây là địa điểm được đánh giá rất thuận lợi về xuất nhập nguyên vật liệu, dễ dàng vận chuyển hàng hóa sang Lào và Thái Lan, đặc biệt là vận chuyển bằng đường thủy.

Nhà máy Hoa Sen Nghệ An tại Khu công nghiệp Đông Hồi và Nhà máy Tôn Hoa Sen Nghệ An tại Khu công nghiệp Nam Cấm sau khi hoàn thành các giai đoạn và đi vào hoạt động sẽ góp phần tạo công ăn việc làm cho khoảng 1.000 lao động. Đồng thời, sẽ nâng cao năng lực sản xuất và khả năng cung cấp sản phẩm tôn, thép của Tập đoàn Hoa Sen, đặc biệt đáp ứng nhu cầu thị trường các tỉnh miền Trung và miền Bắc, tăng sản lượng xuất khẩu sang Lào, Thái Lan, Myanmar... Điều này sẽ góp phần đưa Tập đoàn Hoa Sen tiến gần đến mục tiêu đạt doanh thu 1 tỉ USD và hướng tới trở thành nhà cung cấp và phân phối vật liệu xây dựng hàng đầu Đông Nam Á.

Tập đoàn Becamex: Đầu tư xây dựng khu công nghiệp đô thị và dịch vụ, diện tích 1050 ha, tổng số vốn 3.000 tỷ đồng (giai đoạn 1). Tiếp tục thực hiện các dự án về cơ sở hạ tầng: Đường quốc lộ 1, đường 72 m nối Tp. Vinh - Cửa Lò tuy chưa hoàn thành song các bên liên quan kiên quyết làm xong trong 2016; 3 cầu vượt qua đường sắt ở thành phố Vinh đã hoàn thành đi vào hoạt động, giảm ách tắc giao thông, làm đẹp cho cảnh quan thành phố Vinh.

Cầu Bến Thủy 1 được chỉnh trang sang đẹp hơn. Cầu Bến Thủy 2 đáp ứng tốt nhu cầu lưu thông của các phương tiện trên đoạn đường 1 qua Nghệ An. Cầu Yên Xuân bắc qua sông Lam, nằm trên trục đường nối cửa khẩu Cầu Treo với thành phố Vinh tạo thành hành lang kinh tế Tây Nam của tỉnh. Dự kiến cuối năm 2017 cầu Cửa Hội nối cảng Xuân Hội (Hà Tĩnh) và cảng Cửa Lò (Nghệ An) thành vành đai kinh tế ven biển, kết hợp kinh tế biển và du lịch.

Mới nhất là khởi công xây dựng khách sạn vui chơi giải trí và biệt thự nghỉ dưỡng tại Cửa Lò do tập đoàn Vingroup làm chủ đầu tư, tổng số vốn 900 tỷ dự kiến quý 3/ 2017 đi vào hoạt động. Đó là chưa kể đến dự án chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa TH - true milk, đang trên đà mở rộng và phát triển. Ngoài ra còn có các cơ sở lắp ráp điện tử, ô tô của nhà đầu tư Nhật Bản, Hàn Quốc.

Trong những năm qua Nghệ An đã tích cực chủ động gặp mặt các nhà đầu tư như: Gặp mặt hàng năm với các nhà đầu tư trong và ngoài nước tại Tp. Vinh vào dịp đầu năm, nhằm quảng bá đầu tư, xúc tiến thương mại và du lịch; Gặp mặt các nhà đầu tư tại Hà Nội, Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh nhằm giới thiệu đầu tư Nghệ An, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm với các tỉnh thành công trong thu hút đầu tư nước ngoài. Lãnh đạo tỉnh đã tổ chức nhiều đoàn tham quan, đối thoại với các nhà đầu tư Nhật Bản, Hoa Kỳ, Anh, châu Âu… Sau các cuộc tiếp xúc là nhiều nhà đầu tư nước ngoài tìm đến Nghệ An để tìm kiếm cơ hội hợp tác. Tuy nhiên với vị trí địa lý và tài nguyên có hạn Nghệ An chưa trở thành địa chỉ hấp dẫn các nhà đầu tư.

Môi trường đầu tư đã được cải thiện đáng kể. Các thủ tục hành chính rườm rà đã được gỡ bỏ. Thời gian làm thủ tục cho dự án đầu tư giảm 2/ 3 thời gian so với trước. Việc công khai hóa các thủ tục và lập đường dây nóng giữa các nhà đầu tư và các cơ quan cấp tỉnh đã khai thông thông tin. Hiện tượng nhũng nhiễu các doanh nhiệp của các cơ quan chức năng của tỉnh đã giảm hẳn. Thái độ của người thi hành công vụ cởi mở, thân thiện hơn. Mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với cơ quan nhà nước các cấp được tăng lên. Nhờ đó chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh tăng lên nhiều bậc. Chi phí đầu tư giảm đáng kể. Một phần do ít phải đi lại giảm tốn kém. Chi phí và thời gian giải phóng mặt bằng đều giảm. Nếu trước đây có dự án phải mất hàng năm để giải phóng mặt bằng thì bây giờ chỉ còn hàng tháng. Có dự án chỉ cần 3 tháng đã giải phóng xong mặt bằng giao cho nhà đầu tư. Một số thủ tục hành chính trước đây bắt buộc bây giờ xóa bỏ vì thấy không cần thiết. Đội ngũ cán bộ trực tiếp làm việc với nhà đầu tư cởi mở và dễ gần hơn. Giữa doanh nghiệp và nhà nước không chỉ có tiếng nói chung mà còn đồng hành giải quyết khó khăn vướng mắc.

Một thuận lợi nữa là Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi đầu tư. Ngoài các ưu đãi được hưởng theo quy định của Chính phủ như Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp..., các dự án đầu tư vào Khu công nghiệp Nam Cấm còn được hưởng các ưu đãi riêng của tỉnh Nghệ An ban hành theo Quyết định số 57/2005/QĐ-UB ngày 10/05/2005 của UBND tỉnh Nghệ An.

Cụ thể bồi thường giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ sở hạ tầng, Công ty phát triển khu công nghiệp Nghệ An chịu trách nhiệm bồi thường, giải phóng mặt bằng, rà phá bom mìn vật nổ, san lấp và hoàn thiện cơ sở hạ tầng trên lô đất chủ đầu tư thuê để thực hiện dự án.

Hỗ trợ san nền: Nhà đầu tư tự san nền, được ngân sách tỉnh hỗ trợ 50% chi phí san nền theo dự toán được UBND tỉnh phê duyệt, nhưng không quá 1 tỷ đồng cho các dự án có vốn đầu tư dưới 50 tỷ đồng, 2 tỷ đồng cho các dự án có vốn đầu tư từ 51 - 100 tỷ đồng; 3 tỷ đồng cho các dự án có vốn đầu tư trên 100 tỷ đồng.

Giá thuê đất: Nhà đầu tư thuê đất đã có hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh, giá thuê đất là: 0,45 USD/m2/năm. Nhà đầu tư thuê đất trong điều kiện chưa san lấp và hoàn thiện hạ tầng, tự đầu tư san nền và xây dựng hạ tầng, giá thuê đất là: 0,06 USD m2/năm.

Trường hợp miễn tiền thuê đất: Các dự án đầu tư thuê đất đã san lấp và hoàn thiện hạ tầng được miễn tiền thuê đất nguyên thổ 5 năm đầu. Các dự án tự san nền và xây dựng hạ tầng được miễn tiền thuê đất nguyên thổ 10 năm đầu.

Đối với các doanh nghiệp đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư theo Nghị định 36/CP ngày 24/7/1997 của Chính phủ. Được hỗ trợ 100% kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng và rà phá bom mìn. Được xây dựng các công trình cấp điện, đường giao thông, cấp nước, thông tin liên lạc đến hàng rào khu công nghiệp. Được hỗ trợ 15 - 50% chi phí san lấp mặt bằng tuỳ theo từng dự án. Miễn tiền thuê đất 5 năm đầu.

Một số hạn chế

 -  Các dự án đầu tư vào nghệ An chủ yếu là dự án nhỏ, công nghệ ở tầm cỡ trung bình, năng lực tài chính của các nhà đầu tư thấp, ngành nghề đầu tư chưa hấp dẫn, tính cạnh tranh thấp. Ví dụ các dự án thép, xi măng, dệt, thủy điện, vừa lạc hậu công nghệ, vừa ô nhiễm môi trường. Chưa có tính đột phá, khác biệt về ngành nghề, địa điểm và chính sách nhằm tạo lợi thế cạnh tranh. Thu hút đầu tư ở Nghệ An vẫn chạy theo số lượng, chọn sản phẩm dễ làm, khó bán.

-  Hiệu quả đầu tư thấp cả về kinh tế và xã hội. Ví dụ chủ trương đầu tư một hệ thống chung cư cao cấp, trung tâm thương mại hiện đại chưa tính đến sức mua và tâm lý tiêu dùng. Hệ thống sân gôn, Resort Cửa Lò, xây dựng dở dang chậm tiến độ. Đường 72 m nối khu du lịch Cửa Lò với thành phố Vinh vẫn dở dang vì thiếu vốn. Nhiều nhà hàng, khách sạn hiện đại lần lượt được hoàn thành nhưng chưa khai thác, hoặc khai thác cầm chừng, gây lãng phí vốn và đất đai. Gần đây một số nhà ở giá rẻ cho sinh viên thuê ở khu vực phường Hưng Bình và Trung Đô, xây xong không có sinh viên thuê. Các dự án đầu tư chưa góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng hiện đại.

- Tính liên kết giữa các ngành, các vùng, các dự án chưa mạnh. Vẫn tồn tại tư tưởng mạnh ai nấy làm. Tỉnh đã có quy hoạch nhưng thực hiện quy hoạch chưa nghiêm túc. Nếu chạy được vốn là xây dựng, bất kể có phù hợp, hiệu quả hay không. Có một nghịch lý là dự án cũ chưa hoàn thành vì thiếu vốn song dự án mới đã triển khai. Chính sự đầu tư dàn trải, chồng chéo, đã gây nên lãng phí, chậm trễ, thất thoát.

- Vấn đề huy động vốn cho đầu tư gặp khó khăn, vì lãi suất ngân hàng vẫn cao, tài sản thế chấp không đủ. Nguồn vốn đầu tư chủ yếu trông chờ vốn nước ngoài và trái phiếu Chính phủ. Nguồn lực trong dân còn dồi dào nhưng không biết làm sao để huy động được. Tốc độ cổ phần hóa DNNN còn chậm. Nhiều DNNN chần chừ không muốn cổ phần hóa. Vấn đề thoái vốn nhà nước bằng cách cổ phần hóa DNNN rất chậm. Chưa khơi dậy tiềm năng phát triển DNTN, nhất là loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tỉnh chú trọng thu hút các nhà đầu tư bên ngoài, nhất là FDI, nhưng chưa chú trọng đúng mức doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp trong tỉnh.

Nguyên nhân

-  Tình hình kinh tế của tỉnh khó khăn, thu ngân sách đạt thấp, tiết kiệm thấp, quỹ đầu tư hạn hẹp, chủ yếu dựa vào vốn vay ODA và trái phiếu Chính phủ. Các hình thức đầu tư như hợp tác công tư, BOT, chưa được triển khai trên diện rộng, chỉ gói trong một số lĩnh vực như xây dựng, giao thông. Nghệ An không phải là địa bàn trọng điểm được Chính phủ ưu tiên đầu tư, vì thế vấn đề vốn lại càng khó khăn hơn.

- Trên bản đồ đầu tư, Nghệ An đang bị tụt hậu bởi hiệu ứng lấn át. Có thể ví "trâu chậm uống nước đục". Các tỉnh ở 2 đầu Bắc và Nam Nghệ An là Thanh Hoá và Hà Tĩnh đã có sự đột phá về xúc tiến đầu tư. Hiện nay các nhà đầu tư lớn trong nước và nước ngoài đã ra Thanh Hoá và vào Hà Tĩnh nhằm tận dụng các lợi thế về cảng biển, đường giao thông và công nghệ hiện đại. Nghệ An không thể thu hút được các dự án giống hoặc tương tự ở Hà Tĩnh và Thanh Hóa.

- Chiến lược và chính sách đầu tư ở Nghệ An chưa tạo được điểm nhấn mang tính đột phá, tính khác biệt, trái lại vẫn còn bị chi phối bởi hiệu ứng đám đông, bầy đàn trong thu hút đầu tư. Có thể nói Nghệ An chưa chuẩn bị sẵn sàng khi thời cơ đến, vì vậy luôn bị động làm người đi sau. Chúng tôi có cảm giác trong đầu tư lãnh đạo tỉnh Nghệ An luôn do dự chần chừ, tính toán quá kỹ càng về chi phí cơ hội, để mất cơ hội. 

- Môi trường đầu tư còn nhiều bất cập, cơ chế chưa thông thoáng "trên rải thảm, dưới rải đinh" thủ tục còn rườm rà, bộ máy quản lý cồng kềnh, chồng chéo, tính chuyên nghiệp chưa cao. Nguồn lao động chất lượng cao và phù hợp cho định hướng phát triển công nghệ hiện đại chưa được chuẩn bị, nên dù là đất học nhưng các dự án lớn vẫn tìm không ra lao động làm việc.

- Hạn chế của con người và văn hóa xứ Nghệ làm các nhà đầu tư quan ngại khi vào Nghệ An như cực đoan, cục bộ, hiếu thắng, tính cộng đồng cao, tính hợp tác hạn chế, mạnh ai nấy làm. Trong chính sách có nhiều tiến bộ nhưng triển khai thực hiện vẫn còn chậm, hiệu quả chưa cao, chưa có quyết sách để bứt phá. Có một nghịch lý là Nghệ An là quê hương cách mạng nhưng rất chậm tiếp thu cái mới, nặng tính bảo thủ. Nghệ An là đất học, nhiều người đỗ đạt nhưng lại thiếu lao động lành nghề, chuyên nghiệp, có kỹ năng cao. Ở đâu đó trong lãnh đạo còn còn tồn tại tư tưởng "rải thảm đỏ" đối doanh nghiệp nước ngoài, ngoại tỉnh, nhưng khắt khe chặt chẽ đối với doanh nghiệp, doanh nhân nội tỉnh.

Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư vào Nghệ An giai đoạn 2016 - 2020

Để trở thành một điểm đến hấp dẫn các nhà đầu tư, Nghệ An cần có giải pháp mạnh mang tính tăng tốc, bứt phá. Mặc dù đã đạt được kết quả khả quan trong xúc tiến đầu tư, nhưng trên thực tế, việc thu hút đầu tư vẫn chưa góp phần khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Vì vậy, thời gian tới tỉnh Nghệ An tiếp tục đẩy mạnh thu hút và nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư. Theo đó cần tập trung vào các giải pháp sau đây:

Thứ nhất, thu hút đầu tư phải đảm bảo tính hiệu quả cả về kinh tế, xã hội. Nếu cải thiện tốt cơ sở hạ tầng, phát triển tốt chất lượng nguồn nhân lực, cải cách mạnh mẽ về thủ tục hành chính và có khả năng giám sát tài chính theo kịp yêu cầu, thì chúng ta hoàn toàn có quyền lựa chọn các nhà đầu tư. Mặt khác, các dự án FDI luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, chính vì vậy, lực lượng công an cần phối hợp với các ngành chức năng, địa phương trong việc xác định tư cách pháp nhân, khả năng tài chính, trình độ công nghệ và năng lực thực hiện của các công ty nước ngoài có dự án hợp tác, đầu tư vào Nghệ An. Qua đó, tham mưu lựa chọn đối tác có năng lực tài chính, công nghệ cao và chủ động ngăn chặn kịp thời các đối tượng lợi dụng đầu tư để lừa đảo hoặc có hoạt động phương hại đến lợi ích kinh tế, an ninh của Nghệ An nói riêng và đất nước nói chung.

Thứ hai, cần có định hướng chiến lược thu hút đầu tư dài hạn, bền vững; cần thu hút có chọn lọc các dự án có thể phát huy các lợi thế của Nghệ An. Như khai thác và chế biến nguyên liệu như đá trắng, xi măng, nguyên liệu thủy hải sản, nguyên liệu sữa (bò sữa), hoa quả tươi. Theo đó cần định hướng thu hút các dự án sản xuất hàng xuất khẩu. Đặc biệt là các sản phẩm nằm trong Hiệp định TPP mà Nghệ An có thế mạnh. Đó là nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sạch, công nghệ thân thiện môi trường, sử dụng lao động lành nghề; không chạy theo các dự án tạo nhiều việc làm bằng lao động phổ thông; các dự án ô nhiễm môi trường, giá trị kinh tế thấp.

Thứ ba, thu hút đầu tư phải trên cơ sở quy hoạch tổng thể, chi tiết cho từng ngành, từng vùng, từng địa phương; khắc phục tư tưởng nóng vội, chủ quan, dễ dãi, đầu tư bằng mọi giá nhưng kém hiệu quả. Đầu tư phải gắn với định hướng, quy hoạch, không thể tùy tiện thay đổi theo yêu cầu của nhà đầu tư. Cố gắng đưa các dự án sản xuất công nghiệp ra xa thành phố Vinh. Dành quỹ đất ở thành phố để phát triển các khu chung cư cao cấp, khách sạn, nhà hàng. Đặc biệt chú ý dành đất nội thị để phát triển công viên, tăng diện tích cây xanh, diện tích trồng cỏ, trồng hoa, mở rộng đường khi dân cư thành phố tăng.

Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn, hiệu quả. Theo tinh thần của Chính phủ, xây dựng nhà nước kiến tạo, hỗ trợ chứ không bảo trợ, khơi dậy tinh thần tự chủ trong kinh doanh. Để khắc phục tình trạng độc quyền, cần thực hiện nghiêm phương thức đấu thầu công khai, minh bạch, hạn chế tối đa chỉ định thầu. Chỉ có cạnh tranh mới chọn được nhà đầu tư, nhà thầu có năng lực thực sự. Theo đó tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, mô hình hợp tác công tư, cổ phần hóa gắn với tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, để thu hút các nhà đầu tư lớn.

Thứ năm, tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến đầu tư nhất là đầu tư nước ngoài. Khai thác thị trường đầu tư ở Nhật Bản, EU và Mỹ. Đẩy mạnh thông tin quảng cáo hình ảnh của Nghệ An cho các nhà đầu tư tiềm năng. Đặc biệt quan tâm đến các nhà đầu tư người Nghệ An đã thành công ở nước ngoài và trong nước; khuyến khích Việt kiều đầu tư về nước, đặc biệt trong các ngành công nghệ thông tin, giáo dục, y tế.

Thứ sáu, thu hút đầu tư cần tập trung các dự án một số nhóm ngành trọng tâm. Về nhóm ngành công nghiệp cần chú trọng phát triển "Công nghiệp phụ trợ" như sản xuất linh kiện, phụ kiện, phụ liệu, cấu kiện, phụ tùng cung cấp cho các ngành điện tử, điện lạnh, ô tô, hóa dầu, điện công nghiệp, điện dân dụng.  

"Cơ khí chế tạo": Sản xuất và lắp ráp các loại máy móc phục vụ cho khu công nghiệp Vũng Áng và Nghi Sơn và một số dự án lớn; tiến tới hạn chế tối đa nhập khẩu thiết bị phục vụ dự án. "Vật liệu xây dựng cao cấp": Đây là lợi thế của Nghệ An, bởi vì nguyên liệu cho ngành xây dựng ở Nghệ An dồi dào. Nâng cao chất lượng các sản phẩm gạch lát, đá ốp lát, xi măng, sơn cao cấp, cửa, bàn ghế, kính xây dựng dân dụng, tôn… Về "Công nghiệp chế biến nông sản, lâm sản" cần phải phát triển mạnh nhằm nâng cao năng lực chế biến sản phẩm như tôm, cá, mực, nước mắm. Để sản phẩm Nghệ An đi vào thị trường thế giới cần sử dụng công nghệ cao trong chế biến sữa, đồ uống, mỹ phẩm... Về nhóm ngành dịch vụ, cần hướng vào dịch vụ thương mại, dịch vụ du lịch, dịch vụ tài chính ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ đào tạo lao động xuất khẩu nước ngoài.

Kết luận

Giai đoạn 2011 - 2015 Nghệ An đạt được các chỉ tiêu thu hút đầu tư từ nguồn vốn trong nước và nước ngoài. Nhiều dự án đã triển khai và mang lại hiệu quả tích cực. Hiện nay Nghệ An đang nỗ lực phấn đấu để đạt kết quả kinh tế - xã hội cao nhất trong giai đoạn 2016 - 2020, trong đó thu hút đầu tư là một nhiệm vụ quan trọng. Năm 2016, tình hình kinh tế trong nước và thế giới vẫn tiếp tục khó khăn, thách thức. Ở tầm vĩ mô, Nghệ An cần phải giải quyết tốt một số vấn đề như chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu kinh tế, cải cách thể chế kinh tế theo hướng tự do hóa kinh tế. Cải cách thủ tục hành chính và hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút các nhà đầu tư quốc tế, trong và ngoài tỉnh. Trong quá trình thu hút đầu tư, Nghệ An phải đổi mới cách làm, tạo ra sự khác biệt, vượt trội, đột phá mới hy vọng tạo chuyển biến mạnh mẽ, tích cực rõ nét hơn giai đoạn 2011 - 2015.

 

Tài liệu tham khảo

1. UBND tỉnh Nghệ An, số 263/ KH - UBND, Kế hoạch và xúc tiến đầu tư Nghệ An 2016.

2. UBND tỉnh Nghệ An, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Nghệ An giai đoạn 2011 - 2015.

3. Sở Kế hoạch và Đầu tư Nghệ An, 2014, Đề án "Tập trung thu hút đầu tư vào tỉnh Nghệ An đến năm 2020, giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh".

Doãn Trí Tuệ

Xây dựng nông thôn mới (NTM) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Một đất nước có gần 70% dân số sống ở nông thôn thì việc xây dựng NTM giàu đẹp hơn càng trở nên cấp thiết.

Không thể xây dựng NTM khi sản xuất nông nghiệp lạc hậu; đời sống vật chất, tinh thần của nhà nông không thể khá giả; khi hạ tầng kinh tế nông thôn thấp kém; khi ruộng đất nhỏ lẻ, phân tán và năng suất lao động thấp.

Vì vậy chủ trương xây dựng NTM với 19 tiêu chí được thể hiện đầy đủ các vấn đề về nông thôn, nông nghiệp và nông dân.

Không về đích NTM bằng mọi giá

Theo thông tin từ Bộ NN & PTNT tính đến ngày 25/8/2016 cả nước có 2.134 xã đạt 19 tiêu chí NTM, trong đó có 2.045 xã chính thức được công nhận xã NTM, chiếm 22,7% tổng số xã cả nước. Hiện có 53/63 tỉnh, thành phố nợ đọng xây dựng cơ bản thuộc chương trình NTM với số tiền gần 15.219 tỉ đồng. Riêng số xã đạt chuẩn NTM đã có 1.147 xã nợ đọng với tổng số nợ 7.138 tỉ đồng (bình quân mỗi xã nợ 6.238 triệu đồng).

Còn tại Nghệ An tính đến nay đã có 117 xã đạt chuẩn NTM, trong đó có 2 xã thuộc vùng 30a đạt chuẩn NTM đầu tiên.

Theo thống kê của Văn phòng điều phối NTM tỉnh Nghệ An, đến cuối tháng 04/2016 nợ đọng xây dựng cơ bản thuộc chương trình NTM là 887 tỉ đồng, trong đó nợ đọng các xã đã được công nhận đạt chuẩn NTM là 576 tỉ đồng. Điển hình một số xã có số nợ khá lớn như: huyện Đô Lương có xã Tân Sơn 3 tỉ đồng, xã Thái Sơn trên 8 tỉ đồng và xã Thịnh Sơn gần 10 tỉ đồng. Huyện Thanh Chương có xã Thanh Tiên nợ trên 7 tỉ đồng. Huyện Hưng Nguyên có xã Hưng Tiến nợ 14 tỉ đồng. Huyện Nghĩa Đàn có xã Nghĩa Long nợ 17 tỉ đồng. Huyện Tân Kỳ có xã Nghĩa Đồng nợ gần 20 tỉ đồng. Huyện Yên Thành có xã Sơn Thành nợ 23 tỉ đồng…

Để về đích sớm, không ít địa phương đã huy động tối đa sức dân, điển hình như ở xã Tân Sơn, huyện Đô Lương theo báo cáo kết quả huy động nguồn lực xây dựng NTM của xã đạt gần 156,5 tỉ đồng. Trong đó nhân dân đầu tư và đóng góp 76,35 tỉ đồng. Tính ra bình quân mỗi người dân trong 4 năm đã đóng góp gần 15 triệu đồng bao gồm cả hiến đất, ngày công lao động và cả đóng góp tiền mặt. Nếu tính số tiền phải đóng góp thực tế thì bình quân mỗi người dân ở xã Tân Sơn đã nộp 1,7 triệu đồng/4 năm.

Hay ở xã Thái Sơn cũng vậy, toàn xã có 7.485 nhân khẩu, tổng nguồn lực đã huy động để xây dựng NTM của xã là 124 tỉ đồng, trong đó nhân dân đóng góp hơn 83 tỉ đồng, chiếm 67%. Trừ các đối tượng được miễn giảm, toàn xã còn 5.100 nhân khẩu, bình quân mỗi người phải đóng góp xây dựng NTM với số tiền lên đến 16 triệu đồng.

Nợ đọng xây dựng NTM nhiều, theo lý giải của các địa phương là do trước khi thực hiện chương trình xây dựng NTM, các địa phương áp dụng Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ. Theo quyết định này, mức hỗ trợ là 100% cho 7 nội dung, gồm: quy hoạch, đào tạo, y tế, giáo dục, giao thông trục chính, nhà văn hóa và trụ sở làm việc của UBND xã. Với sự hỗ trợ như vậy, các địa phương đã cố gắng huy động các nguồn vốn tạm thời có thể huy động được để triển khai các hạng mục công trình, chờ ngân sách trả sau.

Thế nhưng, khi cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện chương trình MTQG về xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 thực hiện theo Quyết định 695/QĐ-TTg chỉ được hỗ trợ 100% từ nguồn ngân sách nhà nước cho các xã đặc biệt khó khăn, xã vùng xa, xã vùng sâu. Các xã còn lại chỉ được hỗ trợ 3 nội dung, gồm: quy hoạch, đào tạo, trụ sở UBND xã. Vì vậy các địa phương đã lâm vào cảnh nợ nần chồng chất như hiện nay. Nhưng cũng tại Quyết định 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ có quy định cơ chế huy động vốn của các địa phương, đó là cho phép HĐND tỉnh quy định tăng tỉ lệ vốn thu được từ đấu giá quyền sử dụng đất để thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn xã (sau khi đã trừ chi phí) để lại cho ngân sách xã ít nhất 70% để thực hiện xây dựng NTM.

Những kết quả đạt được qua việc thực hiện chương trình NTM rất đáng khích lệ. Điều đó chứng tỏ đây là một chủ trương lớn được lòng dân, đáp ứng mong mỏi, nguyện vọng của dân. Về nông thôn ngày nay thấy nhiều làng xã xanh, sạch, đẹp hơn; điện - đường khang trang hơn; thu nhập và đời sống của người dân được cải thiện. Tuy vậy, cần phân tích sâu sắc nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ đọng quá lớn về xây dựng cơ bản trong xây dựng NTM và cần có biện pháp xử lý nợ đọng thật hợp lý và tích cực. Đồng thời không vì nợ, không vì thành tích mà bắt dân phải đóng góp quá sức sẽ gây ra phản tác dụng trong xây dựng NTM.

Nông thôn mới phải thật sự mới

Bức tranh NTM không có nghĩa chỉ là đường làng được bê tông hóa sạch đẹp, điện sáng trưng, nhà trẻ và nhà văn hóa khang trang, trụ sở làm việc đàng hoàng, v.v… đó cũng là một nét mới ở bề mặt bức tranh.

Cái thật sự mới trong xây dựng NTM như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại hội nghị toàn quốc triển khai chương trình MTQG xây dựng NTM và phát động phong trào thi đua cả nước chung sức xây dựng NTM giai đoạn 2016 - 2020 khai mạc tại Hà Nội ngày 30/9/2016: "Phát hiện bản chất của NTM là thực sự nâng cao mức sống của người nông dân cả về vật chất và tinh thần. NTM phải có kết cấu hạ tầng tốt, cơ cấu kinh tế phù hợp, tổ chức sản xuất hợp lý, xây dựng cuộc sống của người dân tốt hơn, dân chủ, bình đẳng xã hội tốt hơn, giữ vững bản sắc văn hóa, bảo đảm môi trường, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn. Phải hiểu bản chất của NTM là như vậy, chứ không chỉ là các công trình xây dựng cơ bản". Thủ tướng lưu ý: việc công nhận, biểu dương, khen thưởng các xã, huyện đạt chuẩn NTM phải thực chất, khách quan tạo động lực thúc đẩy phong trào thi đua, không chạy theo thành tích. Vì vậy mọi ngành, mọi cấp đều phải có chương trình hành động phục vụ xây dựng NTM. NTM phải là nông thôn kiểu mẫu, gắn với việc đô thị hóa.

Như vậy mục tiêu xây dựng NTM trước hết là nâng cao mức sống của người nông dân cả về vật chất và tinh thần cao hơn trước khi chưa tiến hành xây dựng NTM. Đó chính là NTM phải thật sự mới, xây dựng NTM phải gắn với tái cơ cấu nông nghiệp. Tái cơ cấu nông nghiệp theo Quyết định số 899/QĐ.TTg của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 2039/CT-BNV-PTNT về việc triển khai đề án tái cơ cấu nông nghiệp tập trung vào trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp. Trong đó xây dựng NTM phải tiến hành quy hoạch và bố trí lại sản xuất cây, con theo hướng tập trung thành vùng hàng lớn, sản phẩm nhiều, chất lượng tốt, có sự liên kết với các doanh nghiệp để tìm kiếm thị trường bao tiêu sản phẩm cho nông dân.

Chừng nào còn tiếp tục sản xuất theo lối mòn cũ kỹ, manh mún, nhỏ lẻ, nhiều loại sản phẩm, để ăn thì thừa, để bán thì quá ít thì không thể có sản xuất hàng hóa, khó nâng cao đời sống của người nông dân. Phải mạnh dạn đổi mới sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa chất lượng cao, sản phẩm sạch, đó là hướng đi tất yếu hiện nay. Muốn vậy phải xác định cây, con có thế mạnh của mỗi vùng, mỗi địa phương. Ví dụ: Vùng lúa hàng hóa nên loại bỏ những giống lúa gạo chất lượng kém, thay vào đó là các giống lúa gạo chất lượng cao, thơm, ngon, dẻo, thị trường đang rất cần, xã hội đang có nhu cầu lớn. Hay ở vùng trung du, miền núi cây mía, cây cao su, cây cà phê… hiệu quả kém, giá trị thu nhập thấp, bà con nông dân nhiều nơi ở Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, vùng thượng Yên Thành... đang chuyển mạnh sang trồng cam Xã Đoài, cam V2 chất lượng cao đem lại giá trị thu nhập trên dưới 1 tỉ đồng/ha hiện nay v.v…

Trong nhiều cuộc họp giữa Bộ NN & PTNT với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bàn về nội dung xây dựng NTM, ông Nguyễn Thiện Nhân - Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đưa ra chủ trương mỗi làng, xã trên cơ sở lợi thế của địa phương nên tập trung sản xuất một sản phẩm hàng hóa chủ lực nào đó có chất lượng tốt, có sức cạnh tranh cao để giới thiệu, quảng bá cả thị trường trong và ngoài nước biết để tiêu thụ sản phẩm nhằm làm gia tăng thu nhập cho người nông dân.

Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2016 - 2020 theo Bộ trưởng Bộ NN & PTNT Nguyễn Xuân Cường - Phó trưởng Ban thường trực cho biết: … Trong giai đoạn 2016 - 2020 trọng tâm cần tập trung vào 4 nhóm nội dung chủ yếu là hoàn thiện cơ sở hạ tầng thiết yếu trên địa bàn xã. Thực hiện phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp; bảo vệ và cải thiện môi trường; giữ vững và tăng cường an toàn, an ninh trật tự trên địa bàn nông thôn. Dự kiến, tổng vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho việc thực hiện chương trình giai đoạn 2016 - 2020 là hơn 193.000 tỉ đồng.

Tại hội nghị phát động phong trào thi đua "cả nước chung sức xây dựng NTM", Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh: phong trào này phải dựa vào dân, phát huy sức sáng tạo của nhân dân bởi sức sáng tạo của nhân dân là vô tận, phải làm cho NTM phải thật sự mới.

Hà Đan

Dối với cư dân lấy nông nghiệp làm gốc như Việt Nam, bên cạnh trâu, chó, lợn… thì gà là vật nuôi quen thuộc. Gà được thuần hóa từ buổi bình minh của lịch sử, gắn bó với cuộc sống con người và có vai trò quan trọng. Không chỉ tồn tại như chiếc đồng hồ báo thức nơi miền quê yên ả với người nông dân lam lũ chân lấm tay bùn suốt mấy mươi thế kỷ, gà còn là lễ vật không thể thiếu trong đời sống tâm linh; là "nhân vật" đi về trong các huyền  thoại, cổ tích, thơ ca và có sức sống bền lâu trong dòng chảy văn hóa dân tộc.

Theo huyền thoại và cả những chứng tích từ khảo cổ học, chúng ta đã tìm thấy dấu tích của loại gia cầm này trên trống đồng Ngọc Lũ. Đến cuối thời đại Hùng Vương, gà lại xuất hiện trong truyền thuyết về An Dương Vương. Tương truyền, là người luôn chăm lo cho việc triều chính nên sau khi lên ngôi, vua không những lo toan cho việc mở mang bờ cõi mà còn phòng thủ đất nước. Vì vậy, vua sai người đi chọn đất đặt kinh đô và lệnh cho lính tráng cả nước về phục vụ việc xây thành. Ấy thế nhưng, thành xây đến đâu thì đất lở đến đấy. Rùa thần báo cho nhà vua biết ở núi Thất Diệu có một con gà trắng sống đến ngàn năm rồi hóa thành yêu tinh ẩn trong núi, nếu diệt được nó thì việc xây thành mới hoàn tất. Truyền thuyết trên cho thấy, gà đã dần đi vào đời sống tâm linh, liên quan đến tín ngưỡng thờ cúng của người Việt.

Trước khi An Dương Vương xây thành ốc, trong truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh, gà cũng được nhắc đến với tư cách một trong ba lễ vật thách cưới của Vua Hùng gồm: "Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao". Chưa hết, trong truyện cổ tích Tấm Cám, gà được nhân cách hóa thành người bạn thân thiết, biết ủng hộ cái thiện khi cất lên tiếng nói: Cục ta cục tác/ Cho ta nắm thóc/ Ta bới xương cho

Hình tượng gà còn được người xưa mượn để truyền tải những triết lý thâm sâu nhưng vô cùng sinh động trong câu chuyện Gà đẻ trứng vàng. Câu chuyện kể rằng có một đôi vợ chồng nhà nọ nuôi được con gà đẻ trứng vàng. Vì choáng ngợp và tham lam trước lợi nhuận béo bở mà gà mang lại, đôi vợ chồng đã bàn nhau mổ ngay con gà để lấy hết vàng ra. Kết quả là gà chết và vàng hết… Câu chuyện dí dỏm, hài hước về chú Gà đẻ trứng vàng đã phê phán lòng tham không đáy của con người trong cõi đời mênh mông vô tận.

Con gà gần gũi với người nông dân Việt Nam, quen thuộc và gắn bó mật thiết với cuộc sống hàng ngày nên bên cạnh hệ thống truyện kể dân gian, nó còn xuất hiện nhiều trong ca dao, tục ngữ để nhắc nhở, chê trách một điều gì đó hay lên án thói hư tật xấu của con người. Nói về sự ghen ghét và đố kỵ chúng ta có Con gà tức nhau tiếng gáy; nói về sự quẩn quanh, hèn kém, bất tài là Gà què ăn quẩn cối xay; nói về sự phản bội có Cõng rắn cắn gà nhà, Bán gà cho cáo… Về sự lằng nhằng ấp úng kém cỏi, không ăn khớp nhau trong giao tiếp thì người xưa đúc kết: Ông nói gà bà nói vịt, Như gà mắc tóc. Nói về thói dựa dẫm ỷ lại có Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng; người hay đưa chuyện đúng là Lép bép như gà mổ tép. Những ai tác phong chậm chạp, lề mề thường Ăn cơm gà gáy, cất binh nửa ngày. Bìm bịp bắt gà con là sự hống hách của kẻ mạnh với người yếu. Một tiền gà ba tiền thóc nói chuyện chi tiêu sử dụng việc gì không hợp lý, phần thu không bằng phần chi ban đầu. Ai keo kiệt thì Đãi cứt sáo lấy hạt đa, đãi cứt gà lấy hạt tấm. Những thứ nguy hiểm ở đời có Hàm chó, vó ngựa, cựa gà, ngà voi

Bên cạnh đó, dân gian cũng mượn hình tượng gà để khuyên nhủ con người ta về nếp ăn nét ở như: Trông gà bỏ thóc; Bụt trên tòa gà nào mổ mắt (ý nói mình không động chạm đến ai thì không ai trêu chọc, làm hại mình); Cáo già không ăn gà hàng xóm (người khôn ngoan từng trải không làm mất lòng người ở gần); Khôn ngoan đối đáp người ngoài/ Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau (anh em phải thương yêu đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau)…

Về dự báo thời tiết, chúng ta có: Mỡ gà thì gió, mỡ chó thì mưa; Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa. Khi đi chợ không được quên: Gà đen chân trắng, mẹ mắng cũng mua; còn Gà đen chân chì, mua gì giống ấy. Trong nghệ thuật ẩm thực: Vịt già gà non (vịt già ăn không tanh, gà non thịt béo mềm); Gà ba tháng vừa ăn, ngựa ba năm cưỡi được; Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm; Gà tơ xào với mướp già/ Vợ hai mươi mốt chồng đà sáu mươi; Con gà cục tác lá chanh/ Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi… Chớ ăn Ếch tháng ba, gà tháng bảy (thời điểm ếch và gà không ngon). Cơm chín tới, cải ngồng non, gái một con, gà ghẹ ổ chỉ những thức ăn vừa độ ngon nhất, người phụ nữ ở thời kỳ sung mãn nhất. Nếu được thưởng thức Cơm gà, cá gỏi thì thật là "món ngon nhớ lâu".

Ngoài nghệ thuật ngôn từ dân gian, trong nghệ thuật ngôn từ bác học, gà cũng không hề vắng bóng. Đây là khung cảnh Thúy Kiều trốn khỏi nhà Hoạn Thư:

Mịt mù cát dặm đồi cây

Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương

(Truyện Kiều)

Thật mịt mù, hoang vắng. Bao trùm lên tất cả là một âm thanh lẻ loi (tiếng gà), một túp lều quạnh quẽ, một ánh trăng soi dặm trường và một con người chạy trốn. "Tiếng gà" vừa như là nhân chứng, vừa là bạn đồng hành, lại rơi theo từng dấu giày in trên mặt cầu đẫm sương.

Gần một thế kỷ sau Nguyễn Du, gà lại đi về trong thơ Nguyễn Khuyến. Cụ Tam nguyên Yên Đổ dùng hình ảnh: Ao sâu nước cả khôn chài cá/ Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà… để nói về tấm lòng bè bạn. Gà còn xuất hiện trong thơ Hồ Chí Minh giữa những ngày tháng Người phải chịu cảnh lao tù nơi đất khách: Gà gáy một lần đêm chửa tan/ Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn/ Người đi cất bước trên đường thẳm/ Rát mặt đêm thu trận gió hàn (Giải đi sớm). Đến thời chúng ta bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trên đường hành quân xa, nữ sĩ Xuân Quỳnh nghe "Tiếng gà trưa" mà nhớ về những ngày thơ bé cùng tình cảm giữa bà và cháu, từ đó khắc sâu hơn tình yêu với đất nước quê hương: Trên đường hành quân xa/ Dừng chân bên xóm nhỏ/ Tiếng gà ai nhảy ổ/ Cục… cục tác cục ta/ Nghe xao động nắng trưa/ Nghe bàn chân đỡ mỏi/ Nghe gọi về tuổi thơ

Không chỉ trong những câu chuyện, những vần thơ… hình tượng gà trong điêu khắc, hội họa cũng không kém phần sinh động và giàu tính biểu cảm.

Người Việt Nam nói riêng và người phương Đông nói chung, trong đời sống văn hóa tinh thần thiên về yếu tố tâm linh và biểu tượng. Chính vì lý do này nên cây đa, bến nước, sân đình, cánh cò, bụi tre hoặc những vật nuôi rất đỗi bình dị đã trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật vô tận. Trong khoảng thời gian từ giữa thế kỷ 16 đến thế kỷ 18 khi văn hóa dân gian đạt được những thành tựu rực rỡ, chúng ta có mẫu đề gà được thể hiện nổi bật trong cảnh chọi gà ở đình Hòa An (Hà Nam), Cao Thượng (Bắc Ninh). Vẫn hình ảnh con gà được trang trí trên trán bia, như các bia Thụ Triều, Phật Tích (Bắc Ninh, đời Lê) với tên đất khắc kèm "Hỏa Kê trang" (ấp Gà Lửa) lưu ảnh của bộ lạc gà thuở xưa...

Và sẽ là thiếu sót nếu không nói đến hình tượng gà bay bổng trên các bức tranh dân gian kèm theo mong muốn về sự sinh sôi nảy nở như lời thơ tươi tắn của Hoàng Cầm:

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

(Bên kia sông Đuống)

Với tranh làng Hồ, hình tượng gà trống, mái đã đem lại vinh quang chói lọi cho nghệ thuật tranh dân gian với mảng đề tài về muông thú. Đến ngày nay, tranh vẫn vẹn nguyên giá trị bởi phía sau bức vẽ đó đâu chỉ là tranh gà mà là lời ngợi ca bà mẹ, ngợi ca cộng đồng trong lam lũ mà vẫn luôn chở che, đùm bọc, yêu thương và nương tựa vào nhau.

Bên cạnh tranh Đông Hồ, tranh gà Đại Cát cũng là "di sản hội họa dân gian" còn lưu lại với muôn đời bởi ẩn sâu trong đó là mơ ước ngàn đời của người dân Việt Nam xưa về một sự sinh sôi, nảy nở, con đàn cháu đống và sự vinh hiển, giàu sang ấm êm no đủ mỗi khi Tết đến Xuân về.

Nhân dịp đón Xuân mới Đinh Dậu 2017, thiết tưởng cũng nên nhắc tới thú chọi gà.

Không rõ chọi gà có từ bao giờ, chỉ biết đó là trò chơi phổ biến và hấp dẫn mọi tầng lớp trong xã hội, từ vua quan đến thứ dân. Chẳng thế mà thời Trần, trước hiểm họa bị quân Nguyên Mông xâm lược, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã phải cảnh báo các tướng sĩ quý tộc của mình về sự ham mê thú chơi này: Liệu giặc đến, thì cựa gà trống có đâm thủng áo giáp được chăng? (Hịch tướng sĩ)… Cho đến hôm nay, chọi gà vẫn là trò chơi được nhiều người tìm đến, để rồi vào dịp lễ Tết, một số làng xã không quên tổ chức các cuộc thi đấu để phân thắng bại. Mùa chọi gà vào tháng Giêng âm lịch cũng thường được tổ chức trong sự hoan nghênh nồng nhiệt của bà con trên khắp các vùng quê miền Bắc: Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc… và một số tỉnh Trung, Nam bộ.

"Thời gian đằng đẵng, không gian mênh mông". Mọi thứ cứ đến rồi lại đi theo quy luật của vũ trụ… Và cứ 12 năm một lần, chú gà lại hiện hữu trên tấm lịch tường gia đình như nuôi dưỡng và ấp ủ ước mơ giản dị mà chân thành ngàn đời của những người con đất Việt về sự sung mãn phồn thực, vui vẻ hạnh phúc, ấm no sum vầy… Bởi thế, hình tượng con gà luôn cất lên tiếng gáy trong tâm thức của ông cha và trở thành dấu ấn văn hóa khó quên trong đời sống người Việt. 

Trương Xuân Tiếu

Trong số những câu đối Nôm được truyền tụng của Hồ Xuân Hương (cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX) có một câu đối tết; câu đối ấy có hai vế như sau:

Tối ba mươi khép cánh kiền khôn, ních chặt lại kẻo ma vương bồng quỷ tới.

Sáng mồng một lỏng then tạo hoá, mở toang ra cho thiếu nữ đón xuân vào(1).

Bình luận về câu đối này, Nguyễn Lộc đã viết:

"Câu đối tết hình dung người chủ ngôi nhà (của nhân loại) ở đây là một cô gái và ngôi nhà là cả vũ trụ, cho nên tối ba mươi mới khép cánh kiền khôn để sáng mồng một lỏng then tạo hoá.

Trên các tờ lịch tết của ta ngày nay thường in ảnh những cô gái đẹp. Tôi không rõ ý niệm gắn liền mùa xuân với hình ảnh những cô gái đẹp ở ta có từ bao giờ? Phải chăng từ Hồ Xuân Hương? Nhà thơ thật là yêu đời. Tối ba mươi sợ ma vương bồng quỷ tới nên khép chặt cánh kiền khôn, không nói làm gì. Nhưng sáng mồng một Tết, ngày đầu của một năm mới với bao nhiêu hứa hẹn thì phải lỏng then tạo hoá, phải mở toang ra, mở hết cả các cánh cửa của ngôi nhà vũ trụ để "thiếu nữ đón xuân vào". Thiếu nữ với mùa xuân. Đó là hình ảnh tượng trưng cho sự sống, cho cái đẹp của muôn đời"(2).

Trong truyền khẩu dân gian Việt Nam có hai giai thoại liên quan đến câu đối tết của Hồ Xuân Hương:

Giai thoại thứ nhất: Chiều ba mươi Tết nọ, Tổng Cóc được Hồ Xuân Hương mời đến "Cổ Nguyệt đường" (ngôi nhà lá của Hồ Xuân Hương ven hồ Tây - Hà Nội) dự bữa cơm tất niên. Khi kết thúc, tiễn Tổng Cóc ra về, Hồ Xuân Hương đưa cho chàng mảnh giấy hồng điều ghi vế xướng của nàng: Tối ba mươi khép cánh kiền khôn, ních chặt lại kẻo ma vương bồng quỷ tới với yêu cầu sáng mai ngày đầu năm mới, mời chàng đến "xông đất" kèm theo vế đối.

Sáng mồng một, Tổng Cóc và người nhà mang theo lễ vật đến đứng đợi ngoài ngõ rất sớm. Sau tiếng nổ giòn giã của tràng pháo tết, Tổng Cóc cùng mọi người bước vào sân "Cổ Nguyệt đường". Hồ Xuân Hương và mẹ niềm nở ra chào đón Tổng Cóc. Khi cả hai bên chủ - khách thi lễ xong, Tổng Cóc bước lại gần Hồ Xuân Hương và trân trọng trao cho nàng vế đối viết trên giấy hồng điều: Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ đón xuân vào. Đọc xong vế đối, Hồ Xuân Hương mỉm cười phấn khởi mời chàng vào nhà dự lễ cúng sáng mồng một (ngày đầu tiên của năm mới). Về sau, Hồ Xuân Hương đã thuận làm vợ lẽ Tổng Cóc.

Giai thoại thứ hai: Có một đám cưới, sau khi kết thúc, mọi người ra về và trời cũng đã tối. Bố mẹ chú rể tiễn đôi tân hôn đến buồng hạnh phúc, rồi sau đó trở lại nơi nghỉ của mình. Chỉ còn lại hai người trước cửa buồng. Bỗng, cô dâu đứng chắn ngang cửa buồng và đọc vế xướng rồi yêu cầu chú rể phải đối được mới nhập phòng; vế xướng như sau: Hang Thiên Thai khép khóa động Đào, ních chặt lại kẻo chàng Lưu quen lối cũ. Sau một thoáng suy nghĩ, chú rể liền đọc ngay vế đối: Cửa Hàm Cốc lỏng then tạo hoá, mở toang ra cho ông Bái dẫn quân vào (vế xướng của cô dâu có dùng những địa danh, nhân danh trong thần thoại Trung Quốc: Thiên Thai, động Đào, chàng Lưu; tức là Lưu Thần. Vế đối của chú rể có dùng những địa danh, nhân danh trong lịch sử Trung Quốc: cửa Hàm Cốc, ông Bái; Bái công - Lưu Bang, vị hoàng đế khai sáng nhà Hán; tức là Hán Cao Tổ). Cô dâu mỉm cười mãn nguyện, hân hoan đón chàng rể vào buồng hạnh phúc để thành vợ chồng.

Như vậy, qua hai giai thoại kể trên, chúng ta thấy câu đối tết của Hồ Xuân Hương không chỉ thể hiện vẻ đẹp "thiếu nữ với mùa xuân", mà còn hàm ẩn cả vẻ đẹp tình yêu lứa đôi và vẻ đẹp hạnh phúc vợ chồng. Bởi thế, mỗi khi Tết đến xuân về, độc giả Việt Nam không thể không nhớ tới câu đối tết nổi tiếng của Hồ Xuân Hương - một tuyệt tác trong kho tàng câu đối Việt Nam.q

 

Chú thích

(1). Nguyễn Lộc tuyển và bình - Hồ Xuân Hương, thơ - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1986, Tr. 45.

(2). Nguyễn Lộc tuyển và bình, Sđd, Tr. 45.

Lê Tài Hòe

Suốt chiều dài thời gian trong lịch sử của xã hội phong kiến, hôn nhân truyền thống đã chi phối sâu sắc đến những chàng trai cô gái, để rồi níu kéo mọi người vào khuôn khổ lễ giáo, tuân theo các quy trình của  "Tam thư, Lục lễ" đối với mọi tầng lớp trong nhân dân.

Trật tự, kỷ cương xã hội được bó gọn trong mấy chữ:"Tam cương, ngũ thường" (ba kỷ cương, năm lẽ thường), "Quân - Thần, Phụ - Tử,  Phu - Phụ" (Vua - Tôi, Cha - Con, Vợ  -Chồng) và "Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín". Đó là nền tảng chính trị - đạo đức xã hội, là khuôn phép của bầy tôi, của bậc chính nhân quân tử, của lễ giáo và trật tự xã hội. Ai phạm đến "cương", đến trật tự đó đều bị xã hội lên án.

Quan hệ nam nữ trong xã hội bấy giờ, xét về "chuẩn mực đạo đức" là không được gần gũi nhau, phải thừa nhận quy định:"Nam nữ thụ thụ bất thân". Ai không thực hiện, đi ngược lại trật tự đó đều bị xem là kẻ "nghịch tử", "gái lăng loàn", "làm bại hoại gia phong"... Trong xã hội bấy giờ, những trường hợp chàng trai, cô gái tự do lựa chọn, tìm hiểu người yêu để đi đến hôn nhân đều bị dư luận khinh rẻ, không chấp nhận. Họ bị xem như một hành động phi đạo đức, một "thứ người bỏ đi".

Những rào cản tình yêu trai gái qua các định chế, tập quán và dư luận trong làng, trong họ… dưới góc nhìn tâm lý học, tình yêu lứa đôi bị cản trở, hôn nhân gia đình xưa kia thường thụ động, cuộc sống "phát triển" thiếu logic, "không tự nhiên"… đó cũng là những mâu thuẫn nội tại, những đặc điểm mang tính lịch sử với bao "nỗi niềm" trong xã hội bấy giờ.

Ngày nay mọi người dễ dàng đặt ra câu hỏi: sống trên đất Nghệ có phong cảnh non xanh nước biếc, lại được chan hòa trong tiếng hát Ví, hát Giặm nặng tình nghĩa lứa đôi… Vậy tại sao con trai, con gái lại cùng đồng hành được với các định chế hôn nhân ràng buộc của xã hội bấy giờ?

Cách đặt vấn đề đó quả là xác đáng, nhưng chưa dễ tìm được câu trả lời thỏa mãn, nhiều mâu thuẫn nội tại đã diễn ra trong lòng xã hội bấy giờ.

Có thể nói người Nghệ rất yêu thích ca hát và nhiều người biết hát. Nội dung lời hát chứa đựng "hàm lượng trí tuệ cao" càng cuốn hút nhiều người đi văn nghệ. Một đặc điểm nổi bật của con trai, con gái là lấy làn điệu dân ca Ví, Giặm làm phương tiện chuyển tải thay lời để nói lên nỗi niềm của mình.

Cất cao tiếng hát thổ lộ tấm lòng mình với chàng trai đang chăm lo đèn sách, cũng "chữ nghĩa" tam tứ, ngụ lục, cô gái không ngần ngại nói thẳng:

Yêu anh, tam tứ núi em cũng trèo

Ngũ lục giang em cũng lội

Bát cửu đèo em cũng qua.

Một cô gái khác lại mạnh dạn lên tiếng phản đối sự áp đặt về hôn nhân của gia đình, đấu tranh để bảo vệ cho tình yêu đôi lứa. Hành động của cô gái không hoa mỹ, dối trá mà mộc mạc dễ thương, thể hiện một mối tình thật chân thành mãnh liệt:

Cơm ăn hai bát, bát ăn bát để

Đũa so hai đôi, đôi đứng đôi nằm, 

Dẫu thầy mẹ có đánh đập chín chục một trăm

Đập rồi em lại dậy, vẫn nhất tâm lấy chàng.

Nội dung của lời ca nghe sao mà day dứt, da diết đến vậy. Vượt lên lễ giáo đương thời, cô gái đã không chấp nhận thói quen "cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy", mạnh dạn thổ lộ nỗi niềm của mình, sẵn sàng chịu đựng tất cả hình phạt để đến được với người con trai mà mình yêu mến.

Hành động cao thượng của cô gái qua tiếng hát có lẽ đó cũng là tiếng lòng của nhiều người trước áp lực ngăn cản tự do yêu đương đang diễn ra trong xã hội. Lễ giáo phong kiến và những ràng buộc của gia đình luôn là bức tường cản trở tình yêu đôi lứa, để mỗi người lại nghĩ về nhau trong nỗi bùi ngùi, thương nhớ.

Con người Nghệ một thuở, được nuôi dưỡng trong môi trường trọng văn chương chữ nghĩa, chan hòa với non nước hữu tình, đã mâu thuẫn sâu sắc với lệ làng theo cách hành xử hà khắc, phũ phàng với tình cảm yêu đương của những người con trai, con gái.

Trong kho tàng ca dao xứ Nghệ, quả khó nhận biết bài nào có trước bài nào có sau trong chuỗi thời gian năm tháng. Điều khác lạ là có những lời ca mà thi nhân dân gian đã sử dụng một loạt hệ thống biểu tượng nghệ thuật điêu luyện, đưa cái mơ hồ trừu tượng của tình yêu đôi lứa tan vỡ biểu đạt bằng những hình tượng sinh động, đẩy tình huống bi kịch đến độ tột cùng không thể đau đớn hơn nữa, trích dẫn dưới đây là một ví dụ:

 Anh đến dàn hoa thì hoa kia đã nở

Anh đến bến đò thì đò đã sang sông,

Đến duyên em thì em đã lấy chồng 

Hỏi em yêu anh như rứa (thế), có mặn nồng hay chăng?

Thi nhân dân gian đã khéo lựa chọn miêu tả nỗi đau thất tình bằng hàng loạt những nghịch cảnh trớ trêu: đến dàn hoa - đã nở; đến bến đò - đã sang sông; đến duyên em - đã lấy chồng. Những biểu trưng dẫn dụ thật đặc sắc nhưng gần gũi với mọi người càng ám gợi lên nét chung nhất là nỗi buồn vì thất vọng tình yêu mà ai cũng đã gặp. Lời ca diễn đạt nỗi buồn thất tình có sức lan tỏa rộng rãi, tác động đến tâm lí mọi người về bi kịch một mối tình nghe thật não ruột, xé lòng.

Thấu hiểu nỗi cô đơn thất vọng của chàng trai, cô gái cất lời ca giãi bày, phân bua trao lời trong nỗi niềm buồn tủi và quyến luyến:

Hoa đến thì, thì hoa phải nở

 Đò đầy người, thì đò phải sang sông,

 Đến duyên em, em phải lấy chồng

 Trách nhau chi rứa, cho cực lòng anh ơi…

Trong lời ca ai oán trách móc của chàng trai, tác giả dân gian đã dùng tới ba từ "đã" trong bốn câu ca để nói lên nỗi tuyệt vọng không thể cứu vãn của mối tình. Lên tiếng đáp lời, cô gái cũng ngậm ngùi mà chấp nhận bởi bốn câu trong lời ca cũng có đến ba từ "phải" - như một sự dằn lòng để đôi lứa cùng nhau chia sẽ sự phũ phàng của duyên phận. 

Có lẽ mặt trái của sự chia cắt, đổ vỡ về tình yêu đôi lứa (trong quá khứ) đã góp phần làm người nghe cảm nhận về dân ca xứ Nghệ phảng phất một nỗi buồn sâu thẳm. Về lời ca, nhiều bài đã đạt đến độ hàm súc cô đọng về ngôn từ, tạo ra sức dẫn dụ cuốn hút mà lan tỏa tới mọi người. Nhiều bài ca dao, dân ca mãi mãi là những viên ngọc quý, lung linh tỏa sáng đến muôn đời mai sau.

Trong thực tế xã hội, những mối tình "vụng trộm" đó chỉ là tiếng lòng, là tâm trạng nuối tiếc của lứa đôi yêu đương trong tâm tưởng. Những mối tình vượt ra ngoài vòng của lễ giáo phong kiến quả không nhiều. Tuy thế, sống trong bối cảnh xã hội đó cũng có những cô gái liều lĩnh, dám chấp nhận tất cả búa rìu của dư luận xã hội để đến với người mình yêu:

Tương tư, buồn bực trong mình

Sợ thầy, hãi mẹ làm thinh vui cười

Quên sầu thiếp gượng làm vui

Đồ huê nguyệt, sợ miệng cười thế gian.

Chuyển tải tâm trạng vui buồn của những đôi trai gái yêu đương lỡ làng vì không toại nguyện, vì bị ngăn cấm. Quả là dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ với chủ đề tình yêu đôi lứa đã để lại những áng văn chương bất hủ, nổi bật trên văn đàn thi ca cả nước.

Khi nghiên cứu về dân ca Nghệ Tĩnh, chúng tôi đã rút ra những đặc điểm cơ bản, độc đáo mà ít thấy ở các vùng quê khác, đó là:

- Người lao động trên vùng đất Nghệ Tĩnh ở nhiều nghề nghiệp khác nhau đã dùng dân ca Ví, Giặm làm "phương tiện thổ lộ" tâm tình cho mình. Điệu hát Ví quen thuộc đến mức được "gắn mác" theo tên gọi của từng loại hình lao động như ví Phường vải, ví Phường cỏ, ví Phường cấy, Ví phường nón, Ví đò đưa...

- Trong khoảng thời gian một ngày đêm (24/24h), trên địa bàn cư trú của người Việt ở xứ Nghệ, tiếng hát dân ca không có khoảng ngưng lặng, ngừng nghỉ mà tiếng hát trong lao động ở phường này chưa kết thúc thì tiếng hát ở các phường khác đã nổi lên.

- Hết ngày này qua tháng khác, sinh hoạt hát Ví, hát Giặm cứ diễn ra suốt quanh năm (12/12 tháng) trên đất Nghệ Tĩnh chứ không phải chỉ hát vào những dịp tết nhất, hội hè như một số vùng quê khác. 

- Con người Nghệ, lao động vất vả hay nhàn hạ, ở trong nhà hay ngoài đồng ruộng, trên sông nước hay trên núi rừng, ít nhiều đều thể hiện mình là một nghệ sĩ không chuyên về ca hát. Và cả cuộc đời của mỗi con người luôn được tắm mình trong âm nhạc, thi ca.

- Nhịp điệu, tiết tấu qua lời ca của điệu Ví, Giặm thường hàm súc về trí tuệ đã tạo ra âm hưởng du dương, trầm bổng nên không cần nhạc cụ hỗ trợ. Đó cũng là thuận lợi cho "tiếng lòng" của nam nữ có thể nói lên nỗi niềm của mình ở bất cứ lúc nào, nơi đâu.

Về hôn nhân đôi lứa, nói đi thì cũng phải nói lại. Trai gái được "tôi luyện" trong môi trường sống đầy chất thi ca lãng mạn đó tuy không mấy thuận lợi của tự do yêu đương, nhưng một bộ phận trong xã hội cũng đã trở thành khuôn mẫu của lễ giáo phong kiến. Thích ứng với xã hội bấy giờ, nhiều cô gái đoan trang cũng đã "quen" với sự cấm đoán, biết khéo léo né tránh tình cảm của chàng trai tỏ tình một cách tình tứ tế nhị, để rồi khép mình vào nề nếp gia phong của một thời phải thế:

- Đi đâu cho đổ mồ hôi

Chiếu trải không ngồi, trầu để không ăn?

- Thưa rằng bác mẹ tôi răn

Làm thân con gái chớ ăn trầu người.

v.v.

Trong cuộc sống thường nhật, sự ngăn trở phũ phàng làm cho những đôi trai gái gặp nhau dù chỉ mới quen qua miếng trầu cũng phải lựa lời từ chối, sợ sự đàm tiếu, cười chê của người đời:

"Miếng trầu nên dâu nhà người"(!)

Mối quan hệ trai gái bị gián cách, "không tự nhiên" này, lại được xem như những điều kiện chế tài, những khuôn phép nhất định ràng buộc con người theo một "trật tự bất biến" của xã hội đương đại.

 

 

 

 

Bùi Thiết

Dường như đã trở thành một thói quen, hay nói đúng hơn là một truyền thống bền vững, mà chưa biết rõ là từ bao giờ, cứ chờ cho đến năm hết, tết đến, xuân sang, trên khắp phố phường và những vùng quê văn vật khắp mọi miền quê, nhiều những ông đồ hay chữ, bày nghiên bút, giấy bản nhuộm điều, niềm nở đón người qua đường ghé xuống xin chữ. Người cho chữ là ông đồ túc nho và người xin chữ thường là những chủ nhà cầu mong những tin mừng và vận hội mới trong cuộc đời và đặc biệt là những nhà có người theo học, mong được con chữ của Thánh hiền, giáng ứng cho may mắn trong học hành thi cử. Khi xin được câu đối hay con chữ linh thiêng như ý, đem về nhà treo vào nơi trang trọng nhất, linh ứng nhất, dễ ngắm nhìn, dễ cầu nguyện thành đạt cho cuộc sống và cho học hành thi cử. Điều đó trở thành nét đẹp trong Văn hóa học của các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam ta từ nhiều thế kỷ nay, ngày càng được nối tiếp, thừa kế và phát huy đến cao độ.

Năm cũ sắp trôi qua, khi mọi nhà đã sắm sửa được cái tết về vật chất, nồi bánh chưng đang sôi, bàn thờ gia tiên đã mãn quả, ông Táo đang về trời, trẻ con nô nức pháo hoa áo mới, thì chủ nhà cũng không quên đi xin cho được câu đối - con chữ mang về để đón chào năm mới. Con chữ ngày tết đến với dân Việt từ lâu, những ghi chép của sử sách không đầy đủ, cách quãng, rất ít được thể hiện, để chúng ta tìm về, hiểu thấu một phong tục không thể vắng thiếu trong sinh hoạt truyền thống của cộng đồng. Cách đây gần trọn một thế kỷ, nhà thơ Vũ Đình Liên, một vị túc Nho, đã từng chứng kiến những ông đồ cứ tết đến xuân về bày mực tàu giấy đỏ để cho bàn dân thiên hạ đến xin chữ, rồi cũng thật buồn khi không còn ai đến xin chữ ông đồ nữa, và những ông đồ biến mất lúc nào không ai hay! Bài thơ Ông đồ như một hoài niệm vô cùng buồn và nhớ tiếc về ông đồ từng ngồi cho chữ trên phố cổ, về một phong tục đẹp đã bị mai một bởi trào lưu Tây hóa không gì cưỡng nổi. Xin đọc tiếp bài thơ:

Ông đồ  

Mỗi năm hoa đào nở                                                                                                               

Lại thấy ông đồ già  

Bày mực tàu giấy đỏ  

Bên phố đông người qua 

Bao nhiêu người thuê viết 

Tấm tắc ngợi khen tài   

Hoa tay thảo những nét  

Như phượng múa rồng bay 

Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu             

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu

Ông đồ vẫn ngồi đấy

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài trời mưa bụi bay

Năm nay đào lại nở  

Không thấy ông đồ xưa 

Những người muôn năm cũ 

 Hồn ở đâu bây giờ?

Tục xin chữ - cho chữ truyền thống bị lãng quên gần hết thế kỷ XX, bởi Nho học như là một cản trở cho công cuộc Tây hóa và kinh dinh đất nước. Những ông đồ cho chữ, những người xin chữ vắng đi khắp nơi từ thị thành đến thôn quê, cứ tưởng tục tập này sẽ bị chôn vùi không có cơ may tái xuất hiện trong đời sống đương đại.

Vậy mà hơn ¼ thế kỷ qua, sự trở lại một cách mãnh liệt của tục xin chữ - cho chữ, như làm dấy lên một trào lưu mới của học hành -thi cử, ai cũng mong muốn có được nhiều con chữ hơn để lập nghiệp khi vào đời. Trong đời sống hàng ngày của cộng đồng, ai cũng hiểu rằng mọi cố gắng của bản thân, sự lao động cần cù của mỗi người sẽ đưa lại cho họ nhiều kết quả tốt đẹp; song cái sự thật tệ hại, là ở chỗ, nhiều thành quả lao động là kết tinh không chỉ của lao động mà bằng may rủi nữa là đằng khác, chẳng hạn lúa trổ vào đúng mưa bão là phi tang cả một mùa làm ăn nhọc nhằn của nhà nông; cho nên cứ dịp xuân về vua chúa ở triều đình làm lễ Tịch điền, ở làng quê các lão nông làm lễ Xuống đồng, như để cầu mong trời đất phù hộ cho mùa màng bội thu. Đạo học cũng vậy, sự học là kết tinh của Thầy dạy tốt, trò học tốt, Không thầy đố mầy làm nên! Không ai phủ nhận điều đó, nhưng dạy tốt học tốt là chưa hoàn toàn, trong học hành thì đã đành, còn trong thi cử thì cần có sự may rủi. Từ bao đời nay, dân gian đã tổng kết sự thành đạt hay không của học hành - thi cử là: học tài - thi phận như khuyên răn rằng anh chớ cậy vào cái tài năng vốn có của anh, còn cái vận hạn (đỗ hay hỏng) của anh quyết định anh có đạt được hay không? Do đó người ta mới nghĩ ra cách đi xin chữ của Thánh hiền, như một sự bảo lãnh của Tiên thánh, khi sắp xếp cho con được ghé vào danh sách của những người thành đạt. Trước mỗi kỳ thi, không chỉ nắm vững kiến thức, mà còn phải dự liệu những may rủi trong thi cử, giữ gìn, kiêng kỵ khi xuất hành, kể cả giữ mồm giữ miệng trong giao tiếp và câu chữ trong bài vở… Một tổng kết có giá trị thực tiễn, là số người học giỏi thường đỗ đạt cao, tỷ lệ người hỏng (do may rủi) là không đáng kể; còn những người học không giỏi đỗ đạt rất ít, tỷ lệ người đỗ đạt (do may rủi), cũng chẳng bao nhiêu!

Tục xin chữ - cho chữ đầu năm đã và đang là một nét văn hóa đẹp. Cứ Tết đến xuân về, tại các thành phố lớn trong cả nước, đều có chọn những mạch đất Thánh hiền ngự trị để giành cho người cho chữ và người xin chữ, mà Văn Miếu - Quốc Tử giám Hà Nội là một điển hình. Sau lễ đưa tiễn ông Táo về trời (23 tháng Chạp), người ta đã rục rịch chuẩn bị mọi thứ cho ngày khai trương, tất nhiên cũng chỉ là chuẩn bị, một vài hoạt động cho chữ - xin chữ cho giao thừa đã được thực hiện; Nhưng tất cả phải chờ đến sau Tết, khi mọi nhà đã hoàn tất thủ tục tiễn đưa năm cũ, nghênh đón năm mới. Theo truyền thống dân tộc, thì lễ đón xuân sang đối với những người con hiếu thảo và học trò hiền là tôn vinh ba bậc: cha-mẹ-thầy, trong ba ngày tết thì: Mùng một Tết cha - Mùng hai Tết mẹ - Mùng ba Tết thầy. Thế là hết ba ngày tết một cách nhanh chóng, chung quanh với bậc sinh thành và thầy dạy dỗ.

Và tục xin chữ - cho chữ phải sau ngày lễ thầy. Nhiều hình ảnh ghi lại không khí nhộn nhịp xin chữ-cho chữ tại khu Văn Miếu Quốc Tử giám sau Tết Nguyên đán nhộn nhịp đến ngần nào! Mọi lứa tuổi, dù hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội nào đều có tâm nguyện xin chữ, cầu mong cho cuộc sống của mình, tùy theo mỗi hoàn cảnh mà xin được những chữ như ý, thỏa mãn nguyện vọng của mình; Nhưng đông đảo nhất vẫn là lứa tuổi học trò, đặc biệt là học sinh lớp 12, những tú tài tương lai mấp mé để trở thành những cử nhân trong vòng 5 năm tới. Các em thường đi thành tốp, hoặc theo cha mẹ, để bậc phụ huynh chứng kiến nghi thức trọng đại này, có khi chính cha mẹ chủ động và thuyết phục con em tiến hành một cách trọng thể tục xin chữ, mà cho đó là dấu hiệu của sự thành đạt sắp tới.

Có một sự thật là, người đi xin chữ, khi đứng trước người cho chữ, thường lúng túng, không biết nên xin thầy chữ gì? Thầy cũng ngỡ ngàng với người xin chữ, và cách duy nhất là người xin chữ nêu ý tưởng và mong muốn trong tương lai, từ đó người cho chữ tìm cho người xin chữ, những chữ có thể thích hợp, để thầy phóng bút. Theo truyền thống, thì chữ Hán được ưa thích nhất, bởi nghĩa sâu xa của nó; nhưng đến nay chữ Nôm cũng rất thông dụng trong tục xin chữ - cho chữ, và chữ Việt, bằng nhiều thể chữ đã và đang được những người xin chữ - cho chữ thể hiện.

Cùng với tục xin chữ - cho chữ truyền thống như chúng ta thấy, thì không chỉ trong dịp Tết Nguyên đán, mà trong bất cứ trường hợp nào có liên quan, người ta làm những thủ tục xin chữ mà không thể hiện bằng bút pháp nét chữ, đó là thắp một nén nhang trước đền thờ danh nhân Nho học, trước bia tiến sĩ, nhất là bia của các bậc trạng nguyên… khấn khứa thầm xin các vị độ trì cho sự nghiệp học hành thi cử của mình một cách hanh thông.

Là một nét đẹp của văn hóa truyền thống, màu sắc của sự may rủi, đan xen vào hoạt động trần tục, ai cũng biết là bất học bất tri lý, có nghĩa là không học thì ngu dốt, không học thì thi cử không nên thân, đừng nhờ cậy vào vận hạn làm chi! Song như ma ám, có người cứ mê muội vào đức tin, không biết mình có khả năng để thành đạt trong thi cử, đã làm những việc dại dột, hủy hoại thân phận mình một cách uổng phí! Con đường đi của chúng sinh, không chỉ có một là học hành - thi cử, không phải ai ai cũng theo học cho đến kỳ tài, điều đó chỉ giành cho một số ít, có tư chất hơn hẳn mọi người. Cho dù có sự phù giúp của Thánh nhân, nhưng cái đạo học và sau đó là thi cử, phải là cố gắng của mỗi thành viên, nhất là thế hệ học sinh, những chủ nhân tương lai của cộng đồng, hãy theo lời giáo huấn: Học! Học nữa! Học mãi!

Nguyễn Huy Khuyến

Vua Minh Mạng nổi tiếng hay thơ, sinh thời vua đã làm nhiều bài thơ được tập hợp và in trong Ngự chế thi. Số lượng đến cả ngàn bài, trong số đó nhiều bài đã được khắc trên các di tích ở Huế như điện Thái Hòa, Đại Cung Môn, Ngọ Môn, lăng Minh Mạng…

Mặc dù chính sự bận rộn, nhưng vua vẫn giành thời gian rỗi để làm thơ, viết văn. Chính vua Minh Mạng đã từng bộc bạch về quan điểm sáng tác của mình: Thơ trẫm làm không cần khéo léo, chỉ luôn miệng ngâm ra để nói chí mình thôi. Những bài ban cho ấy đều nói về việc kính trời lo dân, mong tạnh cầu mưa, để các khanh biết ý trẫm, không phải vụ lời văn hoa mà đua hay với văn sĩ đâu.

Dù chỉ là sáng tác trong khoảng 16 năm từ năm Đinh Hợi đến năm Canh Tý (1827 -1841), nhưng Toàn ngự thi là một thi tập đồ sộ. Khác với những thi tập khác của các nhà thơ mà ta được đọc trước đây, những bài thơ sáng tác đủ đề tài và ghi tháng năm sáng tác rõ ràng. Gần như một cuốn thực lục, vì những bài thơ còn được ghi chú rõ ràng, hoặc nêu lên lý do, hoặc để nhắc lại việc cũ, hoặc giải thích... Từ đó không những giúp chúng ta hiểu kỹ bài thơ hơn, mà qua đó có thể biết được hoàn cảnh, sự kiện vào lúc đương thời, hoặc tâm tư của người viết, những phần này thường không được ghi trong sử sách. Nhưng đó là những sự kiện chính xác, dưới nhận xét cùng đánh giá của người cầm quyền, nhờ đó ta khỏi ngộ nhận bởi những phán đoán nặng phần tưởng tượng cùng thêu dệt và võ đoán của bậc hậu thế.

Khi bề tôi dâng biểu cảm tạ vì được vua Minh Mạng ban thơ ngự chế, nhà vua đã dụ các bề tôi rằng: Các khanh đã tạ trước mặt ta là đủ rồi, cần gì làm biểu, chỉ thêm văn sức. Nếu ngẫm nghĩ những bài thơ ấy mà biết trẫm khó nhọc, thì nên cảm động mà thi thố mưu mô để giúp trẫm những việc không nghĩ đến, cho chính sự tốt đẹp, trong ngoài yên vui, thế là trẫm cho thơ mới không phải là vô ích, thì trẫm vui mừng biết là nhường nào. Nếu chỉ trang sức hư văn thì sợ văn võ trên dưới sẽ chơi đùa trễ nải, không bắt chước được thói Đường Ngu nối hát vui mừng thì cũng vô ích, trẫm chẳng khen đâu. Tự sau có thơ văn gì, không phải trần tạ nữa".

Theo chúng tôi, vua Minh Mạng không đặt nặng vấn đề thơ văn phải chau chuốt, hoa mĩ, công phu. Hơn nữa vua lại không tỏ ý tranh hay, tranh giỏi với các văn sĩ đương thời. Mặc dù vậy, đọc thơ vua chúng ta cảm nhận được thơ tuy không đóng vai trò quan trọng như việc quốc gia đại sự, song nó lại đúng và phù hợp với quan điểm làm thơ của Minh Mạng. Ông cho rằng các văn bản hành chính thì có thể do từ thần soạn thay vua, nhưng thơ văn vốn có gốc ở tâm, phát ra ở chí, nếu để người khác thay thế mình thì đâu còn là chí của mình. Do đó, đọc thơ ông thấy giản dị, dễ hiểu, ít điển tích điển cố. Nhận xét về thơ của mình, vua Minh Mạng đã hỏi Phan Bá Đạt rằng: "Thơ của trẫm so với thơ vua Lê Thánh Tông thế nào?". Đạt tâu: "Thơ vua Thánh Tông phần nhiều chỉ cốt điêu luyện; còn như thơ của thánh thượng làm, thì lấy ngay tình cảnh mà tả ra, cốt để phát minh đạo trị nước, lời lẽ thể cách lại thấy hùng hồn". Vua nói: "Vua tôi rỗi rãi, cùng nhau làm thơ không những để cùng mua vui, mà có khi cũng để ngụ ý khuyên răn nữa, chứ chẳng phải lấy thơ để làm khí cụ chính trị đâu".

Trong hơn 3000 bài thơ mà vua Minh Mạng sáng tác, chúng tôi thống kê và lựa chọn được 4 bài thơ có liên quan đến năm Dậu, đó là những bài thơ Tết Nguyên đán năm Đinh Dậu, hay tiết lập xuân năm Đinh Dậu viết thơ chúc mừng… Tất cả hiện lên trong thơ của vua thật sống động.

Không những hình ảnh con gà có trong thơ ngự chế mà ngay cả trên Cửu đỉnh (biểu tượng trường tồn của triều Nguyễn), hình ảnh con gà cũng được vua Minh Mạng cho khắc với dáng đứng oai hùng. Điều đó chứng tỏ, vua Minh Mạng rất coi trọng loài gia cầm này, xem nó là biểu tượng của đất nước nông nghiệp.

Nhân dịp năm Đinh Dậu, chúng tôi xin giới thiệu bốn bài thơ được tuyển tập trong ngự chế thi của vua.

Nguyên văn chữ Hán:

立春

千逢疆圉啟昌明

作噩支承萬物成

文教振興兵刀戢

乞漿得酒醉昇平

 

春至蕃釐被八埏

適除舊臘佈新年

預徵盜弭民安兆

昊眷邦家福壽全

青旛綵勝遶宮街

樂韻歌聲六律諧

夾路花迎蝴蝶從

春來萬彙盡知佳

Đinh Dậu lập xuân thiếp tử (tam thủ)

Thiên phùng cương ngữ khải xương mình,

Tác ngạc chi thừa vạn vật thành.

Văn giáo chấn hưng binh đao tập,

Khất tương đắc tửu túy thăng bình.

 

Xuân chí phồn li bị bát duyên,

Thích trừ cựu lạp bố tân niên.

Dự trưng đạo nhĩ dân an triệu,

Hạo quyến bang gia phúc thọ toàn.

Thanh phiên thái thắng nhiễu cung nhai,

Lạc vận ca thanh lục luật giai.

Hiệp lộ hoa nghênh hồ điệp túng,

Xuân lai vạn vựng tận tri giai.

Thiếp chúc mừng tiết lập xuân năm Đinh Dậu (ba bài)

Ngàn lần gặp được đất nước mở mang phát triển,

Năm Dậu nuôi dưỡng muôn vật.

Nền văn giáo được chấn hưng binh đao chấm dứt,

Lại được rượu uống say trong cảnh đất nước thái bình.

 

Xuân đến phúc lớn được ban đến tám cõi,

Thích hợp để bỏ năm cũ khắp nơi đón năm mới.

Dự báo trộm cướp ngừng lại dân chúng yên vui,

Nhờ trời cao phù giúp khắp nơi đều hưởng phúc hưởng thọ.

Sắc xanh tô điểm khắp đường lối trong cung,

Âm vận vui vẻ nhạc tấu sáu vần hòa hợp.

Đường hẹp hoa chào dập dìu bươm bướm bay,

Xuân đến muôn vật đều biết đến cái đẹp.

(Ngự chế thi tứ tập, quyển 10)

Qua ba bài thơ trên, có thể nhận thấy tâm trạng của nhà vua khi đất nước được mở mang phát triển, giáo hóa được chấn hưng, cơ đồ được thái bình. Bên cạnh đó là tâm trạng đón năm mới hào hứng khắp nơi, dân chúng yên vui.

條風徵美歲

瑞旭曜元辰

嘉泰兆民慶

陽和萬象新

垂裳牧百姓

恭已對群臣

穆矣君師職

良哉心膂親

衣冠森濟濟

劍佩肅彬彬

行慶奉慈壽

施恩法上旻

邇遐霑闓澤

中外樂同春

更願穹祇眷

年年錫祐頻        

Đinh Dậu Nguyên đán

Điều phong trưng mĩ tuế,

Thụy húc diệu nguyên thời.

Gia thái triệu dân khánh,

Dương hòa vạn tượng tân.

Thùy thường mục bách tính,

Cung dĩ đối quần thần.

Mục hĩ quân sư chức,

Lương tai tâm lữ thân.

Y quan sâm tế tế,

Kiếm bội túc bân bân.

Hạnh khánh phụng từ thọ,

Thi ân pháp thượng mân.

Nhĩ hà chiêm khải trạch,

Trung ngoại lạc đồng xuân.

Cánh nguyện khung kì quyến,

Niên niên tích hựu tần.

 Ngày đầu năm tết Đinh Dậu

Gió thuận năm được mùa,

Ánh sáng tốt lành chiếu rọi ngày đầu năm mới.

Đất nước thái bình muôn dân vui vẻ,

Nắng ấm thuận hòa muôn vật như mới.

Mặc áo cổn chăm sóc bách tính,

Quần thần cung kính.

Hòa mục chức vua thầy,

Tài giỏi thay có người phụ tá thân cận.

Mũ áo chỉnh tề đông đúc,

Đao kiếm ngay ngắn rực rỡ.

Tích đức hạnh để phụng sự từ mẫu,

Thi ân tuân theo phép của trời.

Xa gần được mở mang ân trạch,

Trong ngoài cùng vui xuân.

Lại mong trời cao nuôi dưỡng,

Để năm nào cũng được thần linh ban cho sự giúp đỡ.

Nếu như ở ba bài thơ trên là tâm trạng của vua Minh Mạng trong ngày năm mới, thì ở bài thơ này, với mong muốn hàng năm đều được mùa, mưa thuận gió hòa, bách tính yên vui. Nơi triều chính có người giỏi phụ tá, vua tôi hòa mục, noi theo phép trời, ban ân huệ khắp nơi để cho mọi người cùng vui đón mùa xuân.

Mặc dù người xưa nói "thi ngôn chí" nhưng có lẽ đối với vua Minh Mạng thơ chính là để răn mình, thơ là để kính trời, ái dân, xem việc tạnh, đoán việc mưa, xem xét khắp nơi để hiểu tình hình đất nước, đó cũng là quan điểm làm thơ xuyên xuốt trong thi tập của hoàng đế Minh Mạng.

Lê Quốc Hán

Xứ Nghệ quê tôi gồm hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, với ranh giới tự nhiên là con sông Lam. Không biết nó bắt nguồn từ dãy Trường Sơn trùng điệp hay từ Sao Khuê đổ xuống mà hai bên bờ sông anh hùng hào kiệt thời nào cũng chi chít và lấp lánh như sao đêm mùa hạ. Nhiều nhất là thi sĩ. Những bậc danh nhân, khoa bảng, võ tướng làm thơ đã đành, cả dân thường áo vải chân đất cũng trở thành thi sĩ vô danh nhiều không kể xiết. Vì vậy người dân quê tôi còn gọi sông Lam bằng cái tên trìu mến: Sông thơ.

Trên đất Việt Nam không ít những dòng sông thi ca như vậy.

Nhân  dịp Xuân về xin tâm sự đôi điều trăn trở về thơ

1. Thơ và thơ hay                                     

Trên thế gian này, có bao nhiêu người làm thơ và yêu thơ thì có xấp xỉ chừng ấy định nghĩa về thơ. Quan niệm về thơ hay không ít hơn là mấy.

Nói thế không đánh đồng giá trị các câu thơ, bài thơ, tác phẩm thơ. Phải có thước đo chung cho những sản phẩm siêu văn hóa này. Bởi vậy, Phong trong Kinh thi, Nhã ca trong Cựu ước, Iliát Ôđixê của Hôme… mới vượt qua hàng nghìn năm để sống trong tâm tưởng của mỗi người đến tận ngày nay. Tuy nhiên, những tác phẩm thơ lưu danh muôn đời quá ít. Tùy theo không gian và thời gian, dân tộc và thời đại mà xuất hiện những quan niệm thơ hay khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Các quan niệm này nảy sinh từ khả năng nhận thức (đối với thế giới tự nhiên và xã hội), trình độ văn hóa, tâm sinh lý của con người trong dân tộc ấy, trong thời đại ấy quy định, không phụ thuộc vào những thế lực bên ngoài.

Tôi thích cách ví von "thơ chảy giữa đôi bờ tình cảm và trí tuệ". Nếu A. Đơvinhi cho rằng "Thơ là cảm xúc đã kết tinh" thì Valêri lại khẳng định "Thơ là ngày hội của lý trí". Tuy nhiên không phải ở đâu có tình cảm và trí tuệ là có thơ. Khi trí tuệ hòa quyện với tình cảm, hồn tan vào xác, thực lồng với ảo thì mới tạo được môi trường cho thơ cất cánh. Nhưng cánh thơ bay được xa, được cao hay không không chỉ phụ thuộc vào tâm vào tài của người làm thơ mà còn  phụ thuộc vào may mắn nữa.

Do sự phát triển ngày càng cao của văn minh nhân loại mà yêu cầu thưởng thức thơ được nâng dần lên. Từ chỗ chỉ cần ý và lời tương hợp, người ta yêu cầu thơ phải có nhạc điệu hài hòa, rồi thi trung hữu họa (trong thơ có họa). Hơn 1300 năm trước, một trong ba cây đại thụ thời Thịnh Đường là Bạch Cư Dị quan niệm Thi giả, căn tình, miêu ngôn, hoa thanh, thực nghĩa (Tạm dịch: Thơ gốc ở tình, lời là cành, âm thanh là hoa, nghĩa là quả). Ngày nay, quan niệm về ý và lời, nhạc và họa trong thơ đã có nhiều thay đổi. May sao, do sự phát triển của công nghệ thông tin và sự mở rộng thông thương giữa các nước, quan niệm thơ hay của các dân tộc trong thế giới phẳng  này ngày càng hoàn thiện và xích lại gần nhau hơn.                                                

Theo Đề-các: Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại. Như thế, một cá thể muốn chứng minh mình đang có mặt trên đời, anh ta phải tư duy. Có hai loại tư duy phổ biến: tư duy lôgic và tư duy hình tượng. Nếu tư duy lôgic hướng vào dòng chảy sáng tạo khoa học kỹ thuật thì tư duy hình tượng thường hướng tới dòng chảy văn học nghệ thuật. Hai dòng chảy đó gặp nhau tạo thành dòng sông thi ca và đổ vào đại dương cái đẹp. Cái đẹp ở đây không chỉ có cát vàng và nước biếc, tôm cá và thủy sản mà còn lóng lánh ngọc trai; không chỉ có những vì sao lấp lánh trên trời mà cả những vì sao đằm mình dưới nước, không chỉ có ánh bình minh lung linh khi mặt trời lên mà còn sự kỳ ảo bí ẩn lúc mặt trời lặn xuống biển khơi. Đó là cái đẹp tâm linh nâng con người lên gần Thượng đế.                                                        

Tôi có người bạn thân là một nhà thơ trẻ. Anh tâm sự rằng ngoài ba tiêu chuẩn chân, thiện, mỹ để đánh giá một tác phẩm văn học nghệ thuật thiên hạ thường quên yếu tố kỳ. Nói riêng, một bài thơ được gọi là hay trước hết cần phải mới phải lạ. Ý tưởng mới lạ, tứ mới lạ, hình ảnh mới lạ, cấu trúc mới lạ, cách diễn đạt và từ ngữ phải mới lạ… Nghe qua thấy có lý, nhưng ngẫm kỹ có gì không ổn. Theo thời gian cái mới nào rồi chẳng cũ, cái gì lạ rồi chẳng quen. Một mặt, cái mới lạ mà kỳ quái, không chân, thiện, mỹ thì chẳng ai chấp nhận được. Mặt khác, trong mỹ cũng đã chứa yếu tố kỳ rồi. Những câu thơ tả cảnh dòng sông trong thơ Đường: tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây hay tả tình tương tư lưu luyến của đại thi hào Nguyễn Du: vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường… xuất hiện hàng trăm hàng nghìn năm rồi, giờ đọc vẫn thấy mỹ thấy kỳ đó sao. Vậy thiết nghĩ thước đo chân, thiện, mỹ  đủ cho thơ.

Tuy nhiên, mỗi nhà thơ không được tự lặp lại mình hay lặp lại người khác, dù thần tượng của mình. Đây là một yêu cầu khó, rất khó, nhưng nếu không vượt qua được cửa ải đó,  không nhảy qua được thác Vũ Môn đó, họ không thể thành nhà thơ theo đúng nghĩa của từ này. Nói thế không phải quan niệm rằng thi sĩ phải sống trên ốc đảo, không học tập ai. Nhà thơ phải như con ong hút nhụy trăm hoa về làm mật. Không có một nền văn hóa sâu rộng, một vốn sống dồi dào, không thể trở thành nhà thơ lớn. Niutơn vĩ đại từng thú nhận: "Sở dĩ tôi cao hơn Đềcác vì biết đứng trên vai những người khổng lồ" đó sao.   

2. Toán học và thi ca

Từ ngàn xư­a, toán học và thi ca đều có điểm xuất phát chung là hiện thực cuộc sống trên trái đất, nhờ đôi cánh tư­ởng tư­ợng mà bay lên trời cao của sự sáng tạo. Đây là hai món quà quý nhất mà thư­ợng đế ban tặng cho loài người từ thuở khai thiên lập địa, đến nỗi có một thời (chẳng hạn thời Hy Lạp cổ đại) quan niệm rằng chỉ có con ngư­ời thuộc dòng giống thần linh mới làm được thơ và hiểu được hình học. Khi đã ngự trên trời cao của sự sáng tạo, cả toán học và thi ca đều không quên hướng về quê hương mình là trái đất thân yêu, với khát vọng làm cho trái đất ngày một đẹp hơn, muôn loài sống trên trái đất ngày một tốt hơn. Thoạt nhìn, có vẻ toán học thường nghiêng đôi cánh về đời sống vật chất, còn thi ca lại nghiêng đôi cánh về đời sống tinh thần. Thật ra không phải hoàn toàn như vậy. Cả toán học và thi ca đều hướng tới đích là cái đẹp hoàn mỹ, nên trong lịch sử toán học không ít lần đã xuất hiện những lý thuyết rất trừu tượng, tưởng như không có mô hình thực sự nào trên trái đất kiểm chứng. Và trư­ờng phái thi ca nào quá xa rời đời sống vật chất cũng khó đồng hành lâu dài với loài ngư­ời, nếu không muốn nói là báo tử khi chư­a kịp làm giấy khai sinh.

Để xây dựng một lý thuyết mới trong toán học, người ta phải đưa ra định nghĩa các khái niệm một cách chính xác và một hệ tiên đề đầy đủ mà lý thuyết đó phải thừa nhận là đúng, rồi từ đó dùng tư duy lôgic để suy ra các kết quả khác (được gọi là mệnh đề, định lý, hệ quả...). Nhưng trong thi ca, hình như mọi khái niệm khó định nghĩa chính xác được như vậy, còn hệ tiên đề của mỗi thi sĩ (và mỗi độc giả?) được xây dựng khác nhau nên các kết quả thu được cũng khác nhau. Do đó định nghĩa Thơ là gì? Thế nào là thơ hay cũng chỉ dành riêng cho mỗi người, may lắm cho một lớp người có cùng cấu trúc sinh học và hoàn cảnh sống. Như chim trên trời, cá dưới nước, hoa trên đất, mỗi bài thơ có một sức hấp dẫn riêng. Ai đó từng nói: không có người phụ nữ nào xấu, chỉ có người phụ nữ không biết làm đẹp. Tôi mạo muội: không có bài thơ nào dở, chỉ có những người không biết thưởng thức nó mà thôi.

Toán học là sản phẩm của trí tuệ, thi ca là sản phẩm của tâm hồn. Toán học dùng tư duy lôgic làm công cụ chính để sáng tạo và thi ca lấy tư duy hình tượng để biểu hiện. Thật thế ­ư? Tôi dám đoán chắc rằng một ng­ười dù thông thái đến đâu, nếu không có một trái tim biết xúc cảm mãnh liệt không thể trở thành một nhà toán học đích thực, lại linh cảm rằng một người dù có tâm hồn nhạy cảm đa tình đến đâu nếu không có trí tuệ dẫn đường cũng khó trở thành một nhà thơ lớn. Lý thuyết toán học hiện đại chẳng phải là những sản phẩm tuyệt vời của tư duy hình tượng đó sao? Và những thi phẩm làm sao trường tồn với thời gian nếu trong nó không lấp lánh những ý chói lọi do ánh sáng trí tuệ chiếu vào?

Cùng một người cha có tên là đấng sáng tạo, toán học xem trí tuệ là mẫu thân, thi ca tôn thờ tâm hồn là mẹ hiền. Nhưng cũng như những sản phẩm văn hóa loài người tạo ra, theo thời gian cùng chung sống trên trái đất và trong lòng nhân loại, toán học và thi ca có những sự giao thoa sâu sắc và rộng lớn vô tình tạo nên một sợi dây vô hình nối kết chặt chẽ chúng với nhau.

Đào Tam Tỉnh

1. Hồ Xuân Hương (1772-1822), hiệu là Cổ Nguyệt đường, con gái Hồ Phi Diễn, quê gốc xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; trú tại phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận, sau dời đến thôn Tiên Thị, thành Thăng Long, nay ở quãng phố Lý Quốc Sư, thành phố Hà Nội. Bà thông minh, tài hoa, hay đi du ngoạn và rất gần gũi với quần chúng. Bà là bạn thơ của Dương Trí Tản và Nguyễn Du; Là nhà thơ phụ nữ tiêu biểu đạt đỉnh cao của thơ Nôm, được nhà thơ Xuân Diệu tôn vinh là "Bà chúa thơ Nôm". Theo sự đánh giá của Nham Giác Phu họ Phan, người cùng quận với nữ sĩ thì bà "Học rộng mà thuần thục, dùng chữ ít mà đầy đủ, từ mới lạ mà đẹp đẽ, thơ đúng phép mà văn hoá thực là một bậc tài nữ".

Câu đối tết:

- Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỉ tới;

Sáng mồng một lỏng then tạo hoá, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân vào.

- Chú thêm: Có bản ghi chữ "càn" là "kiền", "đưa" là "bồng" và "rước" là "đón".

Dán cổng trong dịp Tết

Tối ba mươi tống cựu, khép cánh càn khôn, một then đưa đẩy: khìn - khin - khít - khịt;

Sáng mồng một nghinh tân, mở lò tạo hoá, hai cánh banh ra: toác toạc - toàng - toang.

Gái Khán Xuân

Khi còn trẻ, nhà ở phường Khán Xuân, Xuân Hương có ra một vế:

Gái Khán Xuân, xuân xanh độ trăng tròn, khép cửa phòng xuân còn đợi nguyệt;

(Có 3 chữ xuân khác nghĩa nhau). Đã có nhiều người đối lại, nhưng có một vế, không rõ của ai, đối khá chỉnh cả về lời và ý:

Trai Đình Bảng, bảng vàng danh đệ nhất, mở bàn Khánh hạ vẫn chờ hoa (chỉ có hai chữ bảng).

2. Nguyễn Công Trứ (1778-1857), Tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hi Văn, quê làng Uy Viễn, nay thuộc xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân. Sinh ở Thái Bình (nơi cha Nguyễn Cống Tấn làm Tham tán Sơn Nam). Đậu Giải nguyên khoa Kỷ Mão - Gia Long 18 (1819). Làm quan qua các chức: Hành tẩu sử quán, Tri huyện Đường Hào, Lang trung bộ Lại, Tư nghiệp Quốc Tử Giám, Thiêm sự bộ Hình, Phủ Doãn Thừa Thiên… cho đến Thự Thượng thư Binh bộ. Từng làm Dinh điền sứ Nam Định, Ninh Bình, có công lập hai huyện Kim Sơn, Tiền Hải và hai tổng Hoàng Thư, Ninh Nhất (1829). Ông làm quan, thăng giáng chức nhiều lần. Đầu triều Tự Đức, ông xin về trí sĩ, kết thúc gần 30 năm làm quan (1820 - 1848). Nguyễn Công Trứ là nhân vật lịch sử xuất sắc đầu thế kỷ XIX, là nhà kinh bang tế thế, nhà văn hoá có nhiều đóng góp cho nền thơ ca và nghệ thuật hát ca trù Việt Nam. Ông được nhân dân Tiền Hải, Kim Sơn lập sinh từ thờ khi còn sống (1852).

1- Đuốc trời ngất một cây nêu, tối bữa ba mươi ri cũng tết;

Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mồng một rứa là xuân.

2- Có là bao, ba vạn sáu nghìn ngày được trăm bận tết;

Ước ước gì, một năm mười hai tháng cả bốn mùa xuân.

3- Mua pháo đốt chơi, để anh em nghe có tiếng;

Giật nêu đứng lại, cho làng nước biết không xiêu.

4- Mồng một tết, mồng hai tết, mồng ba tết, ờ tết;

Buổi sáng say, buổi trưa say, buổi chiều say, ờ say.

5- Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thẳng bần ra cửa;

Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông phúc vào nhà.

6- Chiều ba mươi công nợ rối canh tàn, ước những mười năm dồn lại một;

Sáng mồng một rượu trà tràn quí tị, trông cho ba bữa hoá ra mười.

7- Bàn một chiếc lăn chiêng, mặc sức tam dương khai khái;

Nhà hai gian bỏ trống, tha hồ ngũ phúc lâm môn.

8- Lúc ra Bắc, nhân đi chúc tết, viên quan Đề đốc ra vế:

Tối ba mươi ngày tết, pháo kêu, nêu cao chi hạ mứt, bánh mu rùa, nhân hành đánh bánh một, ba be rượu trắng uống phì phèo;

Ông đối lại:

Nhà Đề đốc là quan, rèm sưa, trầu én chi trung mặc, võng lá sắn, quân kiệu kéo hàng đôi, bốn búp lọng xanh trương phất phới.

3. Nguyễn Sĩ Cường (1833-1923), tên thật là Nguyễn Sĩ Biển, quê xã Cẩm Ngọc, trú xã Nghiêm Thắng, nay thuộc xã Đông Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Đậu Cử nhân thứ 5 khoa Canh Ngọ - Tự Đức 23 (1870). Làm quan: Huấn đạo Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên.

1- Mừng năm mới:

若教旦旦如元旦

便是人人盡好人

Nhược giao đán đán như nguyên đán;

Tiện thị nhân nhân tận hảo nhân.

Ví thử ngày nào cũng như là ngày đầu năm mới;

Thì mọi người đều là người tốt cả như nhau.

2. Câu đối tết:

Tết cũng là thường, thường cũng tết;

Xuân càng thêm tuổi, tuổi càng xuân.

3. Tự trào:

Tám chục niên hoa đà vẹn nợ;

Chín mươi xuân sắc hãy còn duyên.

4. Hồ Sĩ Sính (1860-1885), người xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. 17 tuổi đỗ Đầu xứ hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, nên còn gọi là Đầu xứ Sính. Ông là con của Huấn đạo Hồ Sĩ Cát, cháu Tiến sĩ Hồ Sĩ Tuần. Mất năm 1885 trong vụ xung đột lương giáo ở địa phương. Để lại một số tác phẩm, thơ Hán Nôm và câu đối.

Vịnh tết:

1- Tết nhà nghèo có cóc gì đâu, đánh vài be củ tỏi;

Khách còn nợ, đâm ương ra đó, nói ít chữ cà riềng.

2- Đêm ba mươi, trán chạm cột nêu, a a tết;

Sáng mồng một tai nghe tiếng pháo, à à xuân.

 

Phan Ngọc Đa

Theo truyền thuyết Trung Hoa, ngày đầu năm được gắn liền với ngày vía của Đức Phật Di Lặc nên còn được gọi là "ngày vía Đức Phật Di Lặc". Thuyết nhà Phật cho rằng Di Lặc là vị Bồ tát trong hiện tại cũng là vị Phật trong tương lai. Vì vậy, các phật tử trong ngày Tết thường chúc nhau "Ngày xuân tươi vui" hay "Kiết tường như ý" cũng lấy từ hình ảnh vị Bồ tát có nụ cười tươi tắn ấy...

Có dịp lên chùa, chúng ta chú ý sẽ thấy hình ảnh Đức Phật Di Lặc với tư thế ngồi thoải mái, vây quanh Ngài là sáu đứa trẻ đang đùa giỡn cùng với rất nhiều vàng bạc, châu báu. Theo truyền thuyết Phật giáo, ngày xưa Di Lặc đã hóa thân thành Bố Đai hòa thượng (hòa thượng túi vải), là một thiền tăng vui tươi. Đó cũng chính là mơ ước của con người luôn hướng tới một đời sống an lạc, vĩnh hằng.

Giai thoại Trung Hoa kể rằng, Bố Đai hòa thượng quê ở Minh Châu, Phong Hóa, thuộc vùng Triết Giang ngày nay. Di Lặc có thân hình mập mạp, trán hẹp, bụng phệ, nói năng, ăn, ngủ đều vô định, thường dùng gậy quảy một túi vải, hễ ai cúng gì thì cho vào túi. Ngài đi khắp thôn xóm thấy gì xin nấy, ăn không hết lại bỏ vào túi.

Thời bấy giờ người ta gọi Di Lặc "Trương đinh tử Bố Đai sư" tức là ông sư túi vải, có cây đinh dài. Có lần Ngài nằm trong tuyết mà không ướt mình, người đời thấy vậy cho Ngài là một nhân vật kỳ lạ. Điều kỳ lạ hơn, mỗi khi Ngài xin hàng hóa của ai, nhất định người đó buôn bán thuận lợi, nhanh chóng, đắt hàng. Khi trời sắp mưa, người ta thấy Ngài mang đôi guốc gỗ ẩm ướt đi buồn bã trên đường. Khi trời tạnh nắng, người ta lại thấy Di Lặc treo đôi guốc trên cầu nằm ngủ ngon lành.

Tuy nhiên, điều đó vẫn chỉ là huyền thoại. Trên thực tế chúng ta thấy Đức Phật Di Lặc được người Trung Hoa tôn thờ và lấy ngày mồng một Tết Nguyên đán làm ngày vía của Ngài. Điều này có một ý nghĩa đặc biệt. Đại bộ phận người dân của các nước châu Á rất xem trọng ngày đầu năm, xem đó là ngày chứa đựng đầy đủ ý nghĩa của cả năm cho nên mọi lời nói cử chỉ, hành động, ý niệm đều phải hết sức giữ gìn để suốt năm được may mắn, tốt đẹp.

Hình ảnh Đức Phật Di Lặc với nụ cười hiếm có luôn luôn là biểu tượng cho sự lạc quan mãn nguyện, tin tưởng, yêu mến cuộc sống. Qua nụ cười của Ngài, chúng ta có cảm giác rằng nụ cười ấy không bị giới hạn bởi không gian và không bao giờ tắt bởi thời gian. Nụ cười viên mãn này là biểu tượng cho ý tưởng cao cả của đạo Phật, con người hãy quên đi tất cả nhọc nhằn, vất vả, ưu phiền, hận thù trên đời, để cuộc sống chỉ còn lại nụ cười. Nụ cười là hoa thơm, là trái ngọt, là nhựa sống để ta phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, trắc trở. Nhờ có nụ cười mà con người có thể sống nhân từ hơn, đẹp hơn, bao dung hơn, cởi mở và hài hòa hơn. Nụ cười làm cho chúng ta khỏe mạnh, hạnh phúc, yêu đời hơn. Không vì gian nan mà nhụt chí, nản lòng. Trong đạo lý nhà Phật, nụ cười Di Lặc là một biểu tượng của tư tưởng lạc quan, trên đường tu hành, tin tưởng rằng mình sẽ đạt được thành quả viên mãn. Có lẽ vì vậy mà Đức Phật thích ca nói: "Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành", "tương lai hạ sanh Di Lặc tôn Phật". Ngài Di Lặc là hình ảnh tương lai. Nụ cười của Ngài là thứ mà mọi người đều cần, nó giống như một bí quyết trong lối sống, cách cư xử, giao tiếp hàng ngày để dẫn tới mọi thành công, như thang thuốc bổ vô giá cải thiện, nâng cao sức khỏe để sống ngày càng tốt hơn.

Nguyễn Tấn Tuấn

Tuổi Dậu trong lịch sử Việt Nam từ xưa tới nay có hàng ngàn danh sĩ, trí thức, nhà văn, nhà thơ, nhà quân sự tên tuổi lẫy lừng. Trong phạm vi một bài biên khảo các nhân vật tiêu biểu tuổi con gà, nhân dịp năm mới Đinh Dậu - 2017, tác giả chỉ mạn phép nêu 13 danh sĩ tiêu biểu tuổi Dậu của khắp ba miền Bắc - Trung - Nam, được người đời tôn vinh…

1. Thái Thuận: Sinh năm Tân Dậu, quê ở Bắc Ninh, là nhà thơ, danh sĩ thời Lê sơ, bút hiệu Lục Khê, Lã Đường. Lớn lên từ một gia đình có cha làm quan võ triều đình, ông theo đường khoa cử, đỗ tiến sĩ năm 1475, làm quan ở Hàn Lâm viện và Tham Chánh sứ Hải Dương. Nhiệt tình, lại nổi tiếng văn chương, ông trở thành một trong 28 thành viên của Hội thơ Tao Đàn trứ danh do vua Lê Thánh Tông sáng lập. Ông là thi sĩ xuất chúng của làng thơ Việt Nam đương thời, tác giả tập Lã Đường di thảo đặc sắc với 264 bài thơ về nhiều chủ đề, ngôn ngữ thơ ông khoáng đạt, độc đáo, được nhiều người ghi nhớ, truyền tụng.

2. Đoàn Thị Điểm (1705-1746): Sinh năm Ất Dậu, quê Hải Dương, nữ sĩ thời Lê mạt, bút hiệu Hồng Hà. Xinh đẹp, tài hoa, lại thuộc dòng dõi quý tộc, giỏi văn thơ, được triều đình cho làm Giáo thụ, dạy các cung tần, mỹ nữ. Năm 1739, đất nước loạn lạc, bà trở về quê và kết hôn với Tiến sĩ Nguyễn Kiều, cùng chồng dạy học và sáng tác. Bà để lại nhiều bài thơ tràn trề tình cảm, da diết, u hoài trong tập Truyền kỳ tân phả. Bản dịch tác phẩm Chinh phụ ngâm của bà được đánh giá là công trình dịch thuật từ thơ Hán ra thơ Nôm hoàn hảo nhất đến ngày nay.

3. Nguyễn Gia Thiều (1741-1789): Sinh năm Tân Dậu, quê Bắc Ninh, là nhà thơ, nhà văn hóa, danh thần thời Lê mạt, bút hiệu Tân Trai, Hy Tôn Tử, Như Ý Thiền Siêu Chân, Tân Thị Viện Tử, Sơn Thủy Nhân Hoa. Ông có cuộc sống rất bản lĩnh, văn võ song toàn, 18 tuổi đã làm Hiệu Úy, 30 tuổi làm Tổng binh, thống lĩnh quân đội, giúp vua dẹp loạn, an dân. Ông tinh thông văn học, triết học, sử học, âm nhạc, hội họa và kiến trúc. Là tác giả nhã nhạc cung đình. Tác giả bức tranh nổi tiếng Tống Sơn đồ. Về kiến trúc, ông được chúa Trịnh tin giao việc trang hoàng phủ chúa và điều khiển xây tháp chùa Thiên Tích. Về thơ ca, ông sáng tác Cung oán ngâm khúc và 3 tập thơ: Tân Trai thi tập, Tiền hậu thi tập, Tây Hồ thi tập.

4. Ngô Thì Chí (1753-1788): Sinh năm Quý Dậu, quê Hà Tây, là danh sĩ thời Lê mạt, bút hiệu Uyên Mật. Nhiều nghị lực, giỏi văn chương, đỗ hương tiến, làm quan đến chức Thiêm Thư Bình chương tỉnh sự, tận tụy phục vụ triều Lê. Ông dành nhiều thời gian dạy học, sáng tác thơ ca và nghiên cứu văn hóa, để lại các tác phẩm giá trị như: Quốc sử tiệp lục, Học thi thi tập, Học văn thi tập Hoàng Lê nhất thống chí.

5. Nguyễn Du (1765-1820): Sinh năm Ất Dậu, quê ở Hà Tĩnh, là danh sĩ thời Nguyễn sơ, bút hiệu Thanh Hiên. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ nhưng rất nghị lực, mẫn cảm, thông minh hơn người, làm quan triều Nguyễn, được thăng chức Hữu Tham tri Bộ lễ và từng dẫn đoàn đi sứ Trung Quốc năm 1813. Sáng tác Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục… Đặc biệt là tuyệt tác Truyện Kiều với thể thơ lục bát, ngôn ngữ tài hoa, tinh tế và thấm đẫm tinh thần nhân văn đã đưa ông trở thành thi sĩ vĩ đại nhất trong lịch sử thơ ca Việt Nam.

6. Trịnh Hoài Đức (1765-1825): Sinh năm Ất Dậu, quê Đồng Nai, nhà thơ, nhà sử học, danh thần thời Nguyễn sơ, bút hiệu Cấn Trai. Văn võ song toàn, phong thái mạnh mẽ, năm 1788 thi đỗ tiến sĩ rồi ra làm quan, được triều đình trọng dụng, phong tới Thượng thư Bộ lễ kiêm Bộ hình, Phó Tổng tài Quốc sử quán. Ông là nhân vật chính của Hội thơ Bình Dương nổi tiếng ở miền Nam với nhiều thi phẩm bình dị, phóng khoáng, được nhiều người ngưỡng mộ. Các tác phẩm giá trị như: Gia Định thành thông chí, Cấn Trai thi tập, Bắc sứ thi tập

7. Đặng Huy Trứ (1825-1874): Sinh năm Ất Dậu, quê ở Huế, là nhiếp ảnh gia, danh sĩ đời Thiệu Trị, Tự Đức, bút hiệu Hoàng Trung. Từ bé đã nổi tiếng thần đồng, thi đỗ Hương Nguyên, là quan thanh liêm của triều đình Huế, được thăng tới chức Ngự sử. Ông được triều đình Huế cử đi sứ nhiều nước như Trung Quốc, Thái Lan, Triều Tiên, có công đầu trong việc du nhập, truyền bá nghệ thuật nhiếp ảnh vào Việt Nam. Không chỉ là thủy tổ của ngành nhiếp ảnh nước ta, ông còn là tác giả của nhiều công trình văn thơ, lịch sử, triết luận quy mô như: Hoàng Trung thi văn sao, Khang Hy canh chức đồ, Tứ thập bát hiếu kỷ sự tân biên, Việt sử thanh huấn diễn nghĩa, Nữ giới diễn ca...

8. Nguyễn Trung Nguyệt (1909-1976): Sinh năm Kỷ Dậu, quê Bến Tre, là nữ sĩ cách mạng, bút danh Bảo Lương. Giàu năng khiếu văn chương. Sôi nổi, nhiệt tình yêu nước. Từ năm 1926, bà là thành viên Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, tham gia viết cho Báo Thanh Niên của Tổng bộ. Năm 1929, về nước hoạt động cách mạng, từng bị Pháp bắt giam. Bà để lại sự nghiệp văn thơ đồ sộ gồm nhiều bài chính luận và hơn 3.000 bài thơ đầy nhiệt huyết, lãng mạn, mang tính nhân văn, tính chiến đấu cao.

9. Nguyễn Đức Nguyên (1909-1982): Sinh năm Kỷ Dậu, quê Nghệ An, là nhà văn hóa, nhà phê bình văn học, bút danh Hoài Thanh. Lúc nhỏ học ở Vinh, Huế… sau làm việc và dạy học tại Huế, nhiệt tình nghiên cứu văn hóa dân tộc. Sau năm 1945, tham gia kháng chiến chống Pháp, Mỹ, đóng góp xuất sắc cho lĩnh vực văn học nghệ thuật cách mạng. Với ngòi bút đầy mạnh mẽ, hiện đại, sáng tạo, sắc sảo, ông được đánh giá là nhà phê bình văn học số một Việt Nam và là nhà nghiên cứu văn hóa kỳ cựu, thể hiện qua nhiều tác phẩm gây tiếng vang lớn: Văn chương và hành động; Thi nhân Việt Nam; Có một nền văn hóa Việt Nam; Nói chuyện thơ kháng chiến, Nam bộ mến yêu; Phê bình và tiểu luận; Phan Bội Châu; Chuyện thơ; Tuyển tập Hoài Thanh,…

10. Lưu Quang Thuận (1921-1981): Sinh năm Tân Dậu, quê Quảng Nam, nhà thơ, nhà soạn kịch. Sinh trưởng trong một gia đình trí thức, thuở nhỏ học ở Đà Nẵng, Huế. Từ năm 1937, vào Nam bộ, vừa mưu sinh vừa sáng tác văn chương đăng trên báo chí Sài Gòn. Năm 1943 ra Hà Nội, tiếp tục viết báo, làm thơ, soạn kịch. Từ năm 1946 tham gia kháng chiến, sáng lập Tạp chí Sân khấu và Nhà xuất bản Hoa Lư, từng làm Giám đốc Việt Nam thư ấn cục và công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam. Ông là nhà soạn kịch nổi tiếng với nhiều vở kịch thơ lịch sử đặc sắc, được khán thính giả hâm mộ: Lữ Gia, Yến Ly, Lê Lai đổi áo, Phượng Trì thôn, Kiều Công Tiễn, Tấm Cám, Người Hoa Lư, Mối tình Điện Biên… Ông cũng là thi sĩ với các tập thơ nổi tiếng như: Tóc thơm, Việt Nam yêu dấu, Mừng đất nước, Cám ơn thời gian

11. Bùi Đình Diệm (1921-1988): Sinh năm Tân Dậu, quê Hà Tây, nhà thơ, bút danh Quang Dũng. Năng động, yêu nước, tham gia Cách mạng tháng Tám rồi vào bộ đội chiến đấu khắp chiến trường Bắc bộ và say mê sáng tác thi ca. Bút pháp tài hoa, tình cảm sâu đậm với quê hương đất nước đã giúp ông tạo nên nhiều tác phẩm thơ tràn đầy lạc quan, lãng mạn, hùng tráng như: Tây Tiến, Đôi bờ, Đường trăng, Đôi mắt người Sơn Tây… Sau kháng chiến, ông về ngành văn hóa, cán bộ biên tập Nhà xuất bản Văn học. Các tập thơ: Một chặng đường Cao Bắc, Gương mặt Hồ Tây, Nhà đồi, Hoa lại vàng tháng chạp, Phiên chợ Bắc Hà, Mùa chim ngói dưới chân núi Ba Vì.

12. Bùi Xuân Phái (1921-1988): Sinh năm Tân Dậu, quê Hà Tây, họa sĩ sơn dầu. Xuất thân từ làng tranh Kim Hoàng, học ở Hà Nội, tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương năm 1945, chuyên vẽ tranh sơn dầu chủ đề phố phường. Là người sáng tạo, tranh vẽ của ông đều có nét dị biệt, mang đậm truyền thống nhưng rất hiện đại. Các bức Cánh võng, Văn Miếu, Ô Quan Chưởng, Phố cổ Hội An... đã được giới am tường nghệ thuật trong và ngoài nước đánh giá cao. Đề tài ông vẽ đã trở thành một trường phái hội họa đặc trưng của Việt Nam với tên Phố Phái.

13. Lưu Hữu Phước (1921-1989): Sinh năm Tân Dậu, quê ở Cần Thơ, là nhạc sĩ, viện sĩ, bút danh Huỳnh Minh Siêng. Lúc nhỏ học ở Cần Thơ, Sài Gòn, đến năm 1940 ra Hà Nội học Đại học Y Dược. Cách mạng tháng Tám 1945, ông vào Sài Gòn tham gia hoạt động văn hóa xã hội, sáng tác nhiều bài hát ca ngợi tinh thần quật khởi của dân tộc Việt Nam, cổ vũ lòng yêu nước trong thanh niên như: Hội nghị Diên Hồng, Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng, Hồn tử sĩ, Tiếng gọi thanh niên… Năm 1965 vào chiến trường Nam bộ, viết ca khúc Giải phóng miền Nam nổi tiếng, giữ chức Bộ trưởng Văn hóa - Thông tin trong Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam (1969). Sau năm 1975, làm Viện trưởng Viện Âm nhạc và năm 1986 được Viện Hàn lâm Nghệ thuật Đông Đức phong Viện sĩ Thông tấn âm nhạc.

Phạm Quang Ái

Gia tộc Nguyễn Đức lục chi ở xã Ích Hậu, huyện Lộc Hà là một trong số những danh gia vọng tộc lớn của xứ Nghệ nói chung, Hà Tĩnh nói riêng. Trải qua lịch sử hơn 600 năm, cùng với các cự tộc trong vùng, họ Nguyễn Đức lục chi đã góp phần to lớn trong việc xây dựng, bồi đắp nên nền văn hiến phồn thịnh nơi đây, làm cho Hà Tĩnh nổi tiếng là vùng "địa linh nhân kiệt".

Thủy tổ của dòng họ Nguyễn Đức lục chi là một hậu duệ trực hệ của Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải (1241-1294), một thân vương quý tộc nhà Trần, đã chạy vào đất Ích Hậu tránh sự tàn sát của Hồ Quý Ly, lập nên chi họ Trần tại đây.

Sang thế kỷ XV, gia tộc này đã trỗi dậy hiển hách khi sinh ra một bậc đại khoa là Hoàng giáp Trần Đức Mậu. Trần Đức Mậu sinh năm Tân Dậu (1441) và đỗ Hoàng giáp khoa thi năm Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ ba (1472), khi ông vừa tròn 32 tuổi. Trong năm thế kỷ đầu kỷ nguyên độc lập của quốc gia Đại Việt, kể từ khi nhà Lý lập Quốc tử giám (1075) và tổ chức thi cử, toàn trấn Nghệ An chỉ có 7 người giành được học vị cao quý này và Trần Đức Mậu là người thứ 7. Sau khi đỗ đạt, Trần Đức Mậu được bổ chức Hàn lâm viện Hiệu lý, sau thăng chức Đông các Hiệu thư, hàm Chánh lục phẩm, tước Lâm Mậu lang. Tương truyền, về sau, để tránh sự hiềm nghi của nhà vua và triều thần, ông đã cải tạo biệt phủ của mình ở quê thành một ngôi chùa, đặt tên là chùa Trường Xuân, cho nhân dân ba thôn xung quanh thờ cúng, vì vậy, chùa này còn có tục danh là chùa Ba Làng. Dân chúng nhớ công đức ông, về sau phối thờ ông ở gian thờ tổ. Ngôi chùa này bị phá bỏ trong Cải cách ruộng đất (1956).

Sau đó, một số con cháu Trần Đức Mậu lại đổi thành họ Nguyễn Đức, trong khi một số khác vẫn giữ tộc danh là họ Trần. Việc đổi họ, đến nay, còn có nhiều giả thuyết khác nhau, vẫn chưa xác định rõ nguyên nhân.

Đến thời Lê mạt, trong họ có vị hiển tổ là Đoan Trai công Nguyễn Đức Tạo, bằng năng lực và đức độ của mình, đã mở ra một chặng đường phát triển mới cho dòng họ. Nguyễn Đức Tạo tự là Đoan Trai, sinh vào năm Mậu Thân (1788). Vợ ông là bà Nguyễn Thị Hoa, tự Ngọc Liên, chắt trực hệ của Tể tướng Nguyễn Văn Giai, người cùng xã. Thời trẻ, Nguyễn Đức Tạo có được theo đòi bút nghiên một thời gian rồi ở nhà theo nghề nông trang, sau đi buôn và trở nên giàu có. Tuy là một nhà cự phú nhưng ông sống rất cần kiệm và giàu lòng nhân ái, thường dốc công, dốc của ra làm từ thiện để tích phúc cho con cháu. Ông còn tham gia làm tuần phòng, được triều đình bổ chức Tuần thám Hà Tĩnh, phụ trách công tác an ninh ba huyện Thạch Hà, Thiên Lộc, Nghi Xuân, có nhiều công trạng trong việc trị an trên địa bàn nên được nhân dân rất kính trọng, được triều đình nhiều lần ban thưởng. Đặc biệt, vào năm Tự Đức thứ 5 (1852), trong trấn gặp nạn đói to; tại nhiều địa phương, dân chúng kiệt quệ lương thực và đã có không ít người chết đói. Cùng với việc xuất tiền của riêng, Nguyễn Đức Tạo đã quyên góp được một số tiền rất lớn, tổ chức cứu tế cho dân suốt mấy tháng trời. Do công đức to lớn đó, ông được nhà vua ban tặng danh hiệu Nghĩa Dân (người dân có nghĩa khí) và trân trọng vinh thưởng cho tấm biển "Ân thưởng Nghĩa Dân" (tấm biển nay còn).

Nguyễn Đức Tạo có 6 người con trai, tất cả đều phương trưởng và phát triển thành 6 nhánh, tức là họ Nguyễn Đức lục chi ngày nay. Sinh thời, ngoài dương công âm phúc to lớn mà Đoan Trai công đã tạo lập cho dòng họ và nhân dân trong vùng, ông còn để lại cho con cháu một lời di huấn vô cùng quý báu:

          Ô hô! Thiên địa trường tồn,

          Bạc vàng dễ kiếm, người khôn khó tìm.

Lời di huấn đó là sự tổng kết cuộc đời cần mẫn, sáng tạo, dũng cảm và nhân đức của ông nhưng cũng là sự mở ra những truyền thống tốt đẹp cho một cự tộc về sau.

Quả đúng là "Hồng nguyên tuấn lưu" (Nguồn lớn thì dòng chảy mạnh)! Sau cụ Đoan Trai công Nguyễn Đức Tạo, vào đời thứ 4, dòng họ Nguyễn Đức lục chi lại sản sinh ra hai nhà chí sỹ yêu nước danh tiếng lừng lẫy đầu thế kỷ XX. Đó là Tú tài Nguyễn Hiệt Chi (1870-1935), tộc trưởng đời thứ tư và Liệt sỹ Nguyễn Hàng Chi (1885-1908).

Nguyễn Hiệt Chi từ nhỏ đã theo đuổi Nho học, từng tham gia hạch tỉnh đỗ đầu xứ, nhưng gặp buổi nước nhà loạn ly nên sau khi đậu Tú tài đã bỏ hẳn con đường khoa cử, tiếp xúc với tân thư, giao du mật thiết với các chí sỹ lớn đương thời như Phan Bội Châu, Đặng Nguyên Cẩn, Nguyễn Sinh Sắc, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp,…và tham gia phong trào Duy tân ngay từ đầu. Ông cũng là người sáng lập ra Công ty Liên Thành để kinh doanh lấy tiền ủng hộ phong trào Đông du, lập Liên Thành thư xã để cổ xuý việc đọc sách, mở mang dân trí; đồng sáng lập trường Dục Thanh (đều ở Phan Thiết), để thông qua việc dạy học cổ vũ lòng yêu nước và tuyên truyền tư tưởng chống Pháp cho thế hệ trẻ. Về sau, ông được bổ làm giáo sư Quốc học Huế, Quốc học Vinh và cùng một số học giả khác biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa cho nhà trường phổ thông Pháp - Việt mà đến nay vẫn còn giá trị. Ngoài ra, học giả Nguyễn Hiệt Chi còn sưu tầm, nghiên cứu và biên soạn các sách từ điển, ngữ pháp, địa chí, văn hoá dân gian,…Đó là những di sản quý giá mở đầu cho truyền thống học thuật, trước tác rực rỡ của dòng họ Nguyễn Đức lục chi trong hơn một thế kỷ qua. Và không thể không kể đến một di sản to lớn mà ông đã gây dựng nên cho gia tộc và nhân dân trong vùng là Mộng Thương thư trai (Thư viện Mộng Thương), một trong ba thư viện lớn đương thời ở xứ Nghệ. Cuối đời, vào khoảng năm 1928, ông đã tham gia Tân Việt cách mạng đảng, một trong ba tổ chức yêu nước và cách mạng tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Noi gương tiền nhân và đúc kết từ cuộc đời mình, danh sỹ Nguyễn Hiệt Chi đã để lại cho con cháu châm ngôn về đạo lý làm người: "Học tập, làm lụng ta ngó lên/Ăn mặc ta nhìn xuống". Cùng với di huấn của đức tổ Đoan Trai công, châm ngôn của Nguyễn Hiệt Chi đã được con cháu khắc vào bảng vàng trân trọng treo trong từ đường dòng họ.    

Có thể nói, Nguyễn Hiệt Chi là một nhà chí sỹ yêu nước và cách mạng có tầm cỡ, một nhà giáo dục lớn với một tư tưởng duy tân mạnh mẽ, một trình độ học thuật uyên bác và đức độ chuẩn mực của người thầy, đã có công đào tạo ra những thế hệ trí thức lớn cho đất nước, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp mở mang dân trí, chấn hưng dân khí, thúc đẩy phong trào yêu nước và đấu tranh giải phóng dân tộc sau này.

Liệt sỹ Nguyễn Hàng Chi là em ruột của chí sỹ, học giả Nguyễn Hiệt Chi. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học, truyền thống yêu nước thương dân, Nguyễn Hàng Chi đã từ bỏ khoa cử hủ bại đương thời, sớm tiếp thu những tư tưởng cách mạng của phương Tây, quả quyết đi theo tiếng gọi cứu nước, cứu nòi của các chí sỹ đàn anh, dũng cảm cầm đầu phong trào chống thuế Nghệ - Tĩnh (1908) và đã hy sinh oanh liệt dưới lưỡi đao tàn bạo của chính quyền thực dân - phong kiến. Trước lúc ra pháp trường, Nguyễn Hàng Chi còn gửi lại cho hậu thế niềm tin mãnh liệt vào sự trường tồn và phát triển của dân tộc, giống nòi trong những vần thơ tuyệt mệnh ngút trời tráng khí:

Dân trí, dân quyền chính khải hành/
Mã thương, Hoa bác dục tranh minh/
Phi thường xuất tự tầm thường sự/
Khô thụ tài bồi hoa diệc sinh.

Dịch thơ:

Dân quyền, dân trí mở rồi,

Súng Hoa, đạn Mã động trời Tây phương.

Trong tầm thường có phi thường,

Cây khô, chăm bón hoa hương thắm nồng.

              (PQA dịch thơ)

Người xưa nói: "Khai tất tiêu" (Mở ra ắt xán lạn). Từ Hoàng giáp Trần Đức Mậu đã mở ra một truyền thống văn hiến huy hoàng cho gia tộc và cho cả một vùng, được con cháu các đời kế tục vun trồng, phát huy. Và từ cội lớn, nguồn mạnh mà tiền nhân đã xây đắp, sau này, họ Nguyễn Đức lục chi còn sản sinh cho quê hương, đất nước nhiều nhân vật danh giá.

Trong số các hậu nhân nổi tiếng của Hoàng giáp Trần Đức Mậu, trước hết, phải kể đến Bác sỹ Nguyễn Kinh Chi, một thầy thuốc nổi tiếng của miền Trung, là Đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên và Thứ trưởng Bộ Y tế thời kỳ đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong hoạt động chuyên môn, học thuật ông là người có tinh thần thực nghiệp cao. Trước năm 1945, ông đã khảo sát và viết về tiềm năng du lịch và công nghệ Quảng Bình và cùng với em trai là Nguyễn Đổng Chi đi thực tế điền dã để viết nên công trình dân tộc học danh tiếng Mọi Kon-tum. Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã có tầm nhìn xa khi đề xuất cho chặt rừng cây canh-ki-na ở Lâm Đồng đem ra khu IV ngay từ cuối năm 1945 để dự phòng làm thuốc ký-ninh chữa sốt rét cho bộ đội; cũng như cho di chuyển an toàn bệnh viện hiện đại nhất của Huế ra Nghệ An trước khi Pháp đánh vào Thừa Thiên; lại có công xây dựng xưởng dụng cụ y tế ở Liên khu IV, làm ra ống tiêm và máy dập thuốc viên, một việc vô cùng khó khăn thời đó. Chính với những tri thức, kinh nghiệm thực tế và sự đam mê, ông là người đã chỉ dẫn, động viên con trai là PGS. Nguyễn Từ Chi đi vào con đường nghiên cứu dân tộc học. Trong cuộc sống, ông là người khảng khái, coi thường danh lợi, cốt sao giữ được nhân cách, chủ kiến của mình. Trong học thuật, Bác sỹ Nguyễn Kinh Chi trước tác không nhiều, nhưng ông là người tiếp bước thân phụ Nguyễn Hiệt Chi, phát huy mạnh mẽ truyền thống thực nghiệp, truyền thống văn hóa của gia tộc cho hàng con cháu kế tục.

Trong hàng con cháu của chí sỹ Nguyễn Hiệt Chi, người kế thừa và phát huy xuất sắc nhất truyền thống gia tộc là  học giả, nhà văn Nguyễn Đổng Chi (1915-1984). Thời trai trẻ, chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng cách mạng của thân phụ và truyền thống yêu nước thương dân của các bậc tiền nhân trong dòng họ, Nguyễn Đổng Chi, ngoài việc chăm chỉ đến trường học tập, đã sớm có ý thức tích cực nhập thế, theo đuổi con đường "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" của các nhà duy tân. Tuy xuất thân trong một gia đình thuộc tầng lớp trung lưu nhưng ông rất quan tâm đến đời sống bị áp bức, nghèo khổ của nhân dân lao động tầng lớp dưới trong xã hội thực dân - phong kiến. Ông mở Bình Ân dược phòng để chữa bệnh cho người nghèo, tổ chức các mô hình hoạt động kinh tế như dịch vụ buôn bán, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ để giúp dân có kế sinh nhai. Bên cạnh việc quan tâm đến "dân sinh", ông chú trọng việc "khai dân trí, chấn dân khí" bằng cách sưu tầm, biên soạn "Kho sách bạn trẻ", giới thiệu những tấm gương anh hùng cứu quốc, lao động sáng tạo của dân tộc và thế giới để khêu gợi lòng yêu nước, khích lệ ý chí kiên cường bất khuất, tinh thần xả thân vì cộng đồng cho thế hệ trẻ. Trong thời gian còn đi học ở Vinh, ông đã tham gia viết báo; sau đó, ông đã tập trung sưu tầm, nghiên cứu và thử bút trên nhiều lĩnh vực văn chương, học thuật. Năm 1934, khi mới 19 tuổi, Nguyễn Đổng Chi đã cùng anh trai là Bác sĩ Nguyễn Kinh Chi khảo cứu và viết sách Mọi Kon-tum, một công trình dân tộc học sâu sắc, mẫu mực về người Ba-na ở Tây Nguyên. Phóng sự Túp lều nát của ông xuất bản năm 1937, khi ông mới 22 tuổi, sau này, được các nhà nghiên cứu đánh giá là có những mặt còn xuất sắc hơn cả Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Năm 1943, công trình nghiên cứu về Đào Duy Từ của ông được giải khuyến khích của Học hội Alexandre de Rhodes. Đặc biệt, trong quãng thời gian này, cuốn sách Việt Nam cổ văn học sử (tập 1 - xuất bản năm 1941) của Nguyễn Đổng Chi được các học giả lớn lúc bấy giờ đánh giá cao và tư tưởng học thuật của ông trong công trình này về sau đã được các nhà văn học sử tiếp thu và phát triển sâu rộng.

Về hoạt động chính trị - xã hội, từ năm 1939, ông đã tham gia phong trào dân chủ phản đế, tham gia lãnh đạo Đoàn thanh niên cứu quốc Can Lộc, tổ chức Đội vũ trang giành chính quyền Can Lộc thành công ngày 15-8-1945, sớm nhất trong toàn quốc. Trong kháng chiến chống Pháp, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ công tác trong nhiều lĩnh vực như: báo chí, tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, kinh tài,... ở Liên khu IV. Từ 1955 đến 1975, ông lần lượt công tác ở Ban nghiên cứu Văn Sử Địa, Viện Sử học, là một trong 4 học giả thay mặt phía Việt Nam tiếp thu Viễn Đông Bác Cổ Pháp ở Hà Nội (1956-1957), tiếp đấy là thành viên Ban Cổ sử và Trưởng phòng Tư liệu Thư viện, khởi đầu việc xây dựng hệ thống thư mục chuyên đề về sử học, cùng các học giả khác hiệu đính nhiều công trình dịch thuật Hán Nôm quan trọng của Viện, rồi phát hiện di chỉ đồ đá cũ ở núi Đọ (1961). Sau 1975, ông từng là Trưởng ban Hán Nôm (tiền thân của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 1978), rồi Quyền Viện trrưởng Viện nghiên cứu Hán Nôm, cho đến 1981 thì xin chuyển sang làm chuyên viên nghiên cứu của Ban Văn hóa dân gian (tiền thân của Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian). Ông mất ngày 20 tháng 7 năm 1984 tại Hà Nội.

Năm 1980, Nguyễn Đổng Chi được phong học hàm Phó Giáo sư và 1984, được phong học hàm Giáo sư. Ông được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì và Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996.

Với một cuộc đời từng trải và hơn 50 năm cầm bút, Nguyễn Đổng Chi đã làm chủ biên, viết chung, viết riêng khoảng trên 30 đầu sách và hàng trăm bài báo khoa học công bố trong và ngoài nước. Phạm vi nghiên cứu, sáng tạo của Nguyễn Đổng Chi rất rộng, bao gồm: sáng tác văn học, nghiên cứu văn học viết, nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu Hán - Nôm, khảo cổ học, dân tộc học,... Ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp đột xuất, có tính chất mở đường hoặc đóng những mốc son trên con đường phát triển.

Cống hiến nổi nhất của ông là ở lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu văn học, văn hóa dân gian. Công trình đồ sộ nhất, có tầm cỡ nhất và được ghi nhận trong các công trình bách khoa thư quốc tế (Pháp, Đức, Mỹ...) là bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập 1957-1982). Một công trình khác là Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh cũng được giới nghiên cứu và biên soạn tài liệu về văn hóa nói chung, địa chí văn hóa nói riêng, xem là mẫu mực để noi theo.

Tiếp bước học giả, nhà văn hoá Nguyễn Đổng Chi, người cháu ruột của ông là PGS. Nguyễn Từ Chi (1925-1995), con trai Bác sĩ Nguyễn Kinh Chi, một Đại đội trưởng Vệ quốc đoàn Nam tiến, sau 1954 đã gần như hy sinh cả cuộc đời cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Ông là nhà dân tộc học hàng đầu của Việt Nam thế kỷ 20, chuyên gia về người Mường và làng xã người Việt, được giới dân tộc học thế giới biết tiếng. Ông còn được biết đến như một nhà nghiên cứu văn hóa, dịch giả, biên tập viên, một người thầy đáng kính. Tuyển tập Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người của ông đã trở thành bộ sách kinh điển về nghiên cứu văn hoá và dân tộc học ở Việt Nam, được tái bản nhiều lần, được các thế hệ nhà nghiên cứu dân tộc học Việt Nam kế thừa và gặt hái được nhiều thành tựu. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II (2000).

Con trai trưởng của GS. Nguyễn Đổng Chi là GS. Nguyễn Huệ Chi (sinh năm 1938), một chuyên gia hàng đầu về văn học Trung - cận đại Việt Nam, nguyên Trưởng ban Văn học Cổ - cận đại, nguyên Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Văn học Việt Nam và là Hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1984. Ông đã làm chủ biên, viết chung và viết riêng khoảng gần 30 đầu sách, công bố hàng trăm bài báo. Trong đó, đáng chú ý nhất là các công trình Thơ văn Lý - Trần, Nguyễn Trãi - khí phách và tinh hoa của dân tộc, Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam, Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù, Thi hào Nguyễn khuyến - đời và thơ, Cao Xuân Huy - tư tưởng phương Đông gợi những góc nhìn tham chiếu, Từ điển văn học (bộ mới) và Văn học cổ cận đại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật.

Bên cạnh hoạt động học thuật với rất nhiều thành tựu, Nguyễn Huệ Chi còn được mọi người biết đến ở tư cách là một trí thức trung trực, có trách nhiệm cao với đất nước và nhân dân, luôn quan tâm và có ý kiến phản biện thẳng thắn các vấn đề của xã hội. Âu đó cũng là sự thể hiện một cách sắc nét truyền thống yêu nước thương dân và cốt cách cứng cỏi của gia tộc. Về  các lĩnh vực hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế, chính trị - xã hội, trong dòng họ Nguyễn Đức lục chi, còn phải kể đến những tên tuổi như nhà giáo Nguyễn Lợi, Tri phủ Nguyễn Đức Trà, Kỹ sư Nguyễn Hưng Chi, PGS. Nguyễn Đức Vận, nhà giáo Nguyễn Đức Nga, PGS. Nguyễn Du Chi, nhà giáo -Tiến sỹ Nguyễn Đức Ân,...

Nhà giáo Nguyễn Lợi là hương sư dạy chữ Hán ở trường Phù Kim, nhà trường Nho học trong vùng, đào tạo nhiều thế hệ học trò giỏi về Hán - Nôm, trong đó có GS. Nguyễn Đổng Chi. Ông đã từng cộng tác với Nguyễn Đổng Chi biên dịch ra Quốc ngữ nhiều thư tịch Hán - Nôm có giá trị như Thối thực ký văn của Trương Quốc Dụng, gia phả và các thư tịch khác của dòng họ, như tập nhật ký Hy An niên phả,... Ông cũng là người kiên quyết đấu tranh chống lại những chủ trương ấu trĩ, tả khuynh trong việc phá bỏ các di tích văn hóa - lịch sử có giá trị trong địa phương khoảng đầu kháng chiến chống Pháp.

Tri phủ Nguyễn Đức Trà là một quan chức của chế độ thực dân - phong kiến nhưng sống liêm khiết, thức thời, hướng thiện và có lòng yêu nước thương dân. Trong cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông là một trong số rất ít quan chức đứng đầu một địa phương đã chủ động bàn giao chính quyền cho Việt Minh một cách êm đẹp; sau đó về quê, ông đã tích cực tham gia các hoạt động kháng chiến kiến quốc ở địa phương.

Kỹ sư Nguyễn Hưng Chi, tốt nghiệp trường Kỹ nghệ thực hành, ngành xây dựng, trước năm 1945,  cũng là một trí thức tham gia hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội. Trước năm 1945, ông đã viết sách Động vật đời tiền sử, một công trình nghiên cứu về cổ sinh học có giá trị được nhiều người biết đến. Trong kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động ở Liên khu V, có nhiều thành tích trong công tác kháng chiến kiến quốc. Hòa bình lập lại, ông là chuyên gia có tầm cỡ trong lĩnh vực khoa học - công nghệ và xây dựng công nghiệp. Ông còn để lại một tập hồi ký khá đặc sắc Nhớ lại và suy ngẫm chưa in.

Về võ nghiệp, dòng họ Nguyễn Đức lục chi có hai nhân vật nổi tiếng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc là Đại tá, nhà khoa học quân sự Nguyễn Đức Sao (1928-2013) và Đại tá, Anh hùng LLVTND Nguyễn Đức Hùng (1928-2012).

Đại tá Nguyễn Đức Sao, bí danh là Hoàng Minh Phương, xuất thân là một học sinh trung học, gắn bó với cuộc đời binh nghiệp hơn 40 năm và từ rất sớm, ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, lúc vừa tròn 18 tuổi. Trong kháng chiến chống Pháp, ông trực tiếp chiến đấu trên những mặt trận cam go, gian khổ, khốc liệt nhất, được kết nạp vào Đảng lúc 19 tuổi (1947). Ở tuổi 20, ông được điều ra chiến khu Việt Bắc để tham dự Đoàn cán bộ của Đảng sang học tập tại Trung Quốc (4/1949). Từ năm 1950 đến 1975, ông được phân công làm trợ lý cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp suốt 25 năm, rất được Đại tướng tin cẩn. Ngoài ra, ông còn là một nhà nghiên cứu quân sự có khả năng tổng hợp, tổng kết thực tiễn chiến tranh một cách sâu sắc, đã tham gia viết nhiều tài liệu lý luận quân sự có giá trị. Ông còn nhiều lần được tháp tùng và làm phiên dịch cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong các chuyến đi công cán nước ngoài, nhiều nhất là ở Trung Quốc. Chức vụ cao nhất ông đảm nhiệm trước khi nghỉ hưu là Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh quân tình nguyện ở Căm-pu-chia, kiêm Phó Cục trưởng Cục Khoa học quân sự, Bộ Tổng tham mưu, phụ trách cơ quan tiền phương của Cục.

Đại tá Nguyễn Đức Hùng, bí danh là Tư Chu, nguyên là chỉ huy trưởng của lực lượng Biệt động Sài Gòn - Gia Định trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Nguyễn Đức Hùng sinh ra trong gia đình nông dân nghèo, đông con, năm lên 8, ông đã phải lưu lạc vào Nha Trang kiếm sống, sau đó vào Sài Gòn tham gia cách mạng từ năm 1945. Ông được xem là một nhân vật huyền thoại của lực lượng biệt động Sài Gòn - Gia Định. Với nhiều thành tích trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước, ông đã được Nhà nước CHXHCN Việt Nam trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Có thể nói, so với các cự tộc khác trong xứ sở, họ Nguyễn Đức lục chi là một dòng họ văn võ song toàn, có nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống xã hội; có truyền thống bền bỉ về tinh thần yêu nước thương dân; tinh thần dũng liệt xả thân vì nghĩa lớn của quốc gia, dân tộc; tinh thần thực nghiệp, sáng tạo trong học tập và lao động; cốt cách cứng cỏi, bản lĩnh vững vàng trước mọi chao đảo của thế cuộc; cùng với những truyền thống đó là một quỹ gen thông minh, tài trí hơn người trong học thuật, trước tác. Đây cũng là một cự tộc còn bảo lưu được nhiều di sản văn hóa quý giá, nhiều di tích gắn với các nhân vật danh tiếng và các sự kiện lịch sử - văn hóa lớn của địa phương và quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay, không ít người cho rằng, những di sản, di tích của dòng họ Nguyễn Đức lục chi chưa được đánh giá, xếp hạng đúng tầm cũng như việc trùng tu, tôn tạo còn hạn chế, vì thế, chưa khai thác, phát huy được nhiều các giá trị tiềm tàng của chúng. 

Anh Hòa Trương

Các nhà tâm lý học khẳng định tiền bạc không những ảnh hưởng đến cách xử sự mà còn đến cả cơ thể chúng ta, thậm chí có những trường hợp gây ra tình trạng bị phụ thuộc.

Nhà tâm lý học Xinyue Zhou cùng với các cộng sự tại Đại học Tôn Dật Tiên (Trung Quốc) đã tiến hành thí nghiệm sau đây: Chọn hai nhóm tình nguyện tham gia, gồm 42 người mỗi nhóm. Cho nhóm thứ nhất đếm những tờ USD, nhóm kia đếm những tấm giấy có cùng kích thước. Đếm xong họ nhúng tay vào nước ở 430C trong 3 phút. Đối với một số đối tượng, nhiệt độ được cảm thấy có khi lên đến 500C. Sau đó, các đối tượng ghi cảm giác đau của mình theo một thang bậc từ 1 đến 9. Kết quả: những người đếm bạc thật thì cảm thấy ít đau hơn. Theo các nhà nghiên cứu thì năng lực giảm đau này là do cảm nhận vô thức về uy lực của tiền bạc. Vậy mối ràng buộc của chúng ta với tiền bạc là thuộc về lĩnh vực tâm thần cũng như về sinh học. Giáo sư tâm thần học Michel Sejoyeux trường Đại học Paris, giải thích: mỗi liên hệ của chúng ta với tiền bạc là một tác nhân tiết lộ nhân cách và quan hệ của chúng ta với thế giới. Tiền bạc cũng tác động đến chúng ta trong giao tiếp với người khác. Tại Đại học Minnesota (Mỹ) nữ tâm lý học Kathleen Vohs đã bảo 50 sinh viên hãy nghĩ đến tiền bạc. Hoặc bằng cách viết một tiểu luận có dùng các từ như "lương bổng", "sinh lợi". Hoặc quan sát một bức tranh lớn thể hiện các ngoại tệ, hoặc một ảnh có hình những tờ bạc. 50 sinh viên khác cũng đã viết và cũng đã quan sát những hình ảnh, nhưng chẳng liên quan gì đến tiền bạc. Sau đó, tất cả phải giải quyết một trò chơi ghép hình phức tạp, mà được phép giúp đỡ lẫn nhau. Cuối cuộc thí nghiệm, các sinh viên "mang ý nghĩa về tiền bạc trong đầu óc" đã phải chờ lâu hơn 70% trước khi phải nhờ viện trợ và đã mất ít hơn nửa thời gian để giúp các bạn. Như thế chứng tỏ rằng khi tiền bạc xen vào một mối liên hệ, thì nó sẽ sửa đổi mối liên hệ này.

Vào thời khủng hoảng, vàng lại có giá. Ảnh hưởng của tiền bạc đối với cách xử sự của chúng ta không phải chỉ mới đây đâu. Các vật dụng đầu tiên để trao đổi (muối, chè, da thuộc...) sớm được thay thế bằng những đồng tiền kim loại. Theo nhà sử học René Sédillot, con người chọn ưu tiên kim loại vì cho rằng chúng có quyền lực thần bí. Thật thế, đối với người Ai Cập vàng là máu thịt của Rã, thần Thái Dương. Về sau tiền bạc đã có cuộc tiến hóa, đi từ các kim loại quý đến các món tiền mà bản thân vật liệu chẳng có giá trị gì mấy. Giá trị của nó chỉ được nhà nước bảo đảm mà thôi, theo giải thích của nhà nữ phân tâm học Jllana Reiss Schimmel. Đấy là một cuộc tiến hóa đích thực của tâm trí: phải có lòng tin người khác thì một hệ thống tiền tệ phi vật thể mới có thể hoạt động được. Vả lại, vào thời khủng hoảng, các kim loại quý như vàng chẳng hạn, có vẻ an toàn hơn, thì lại được giá. Nhận thức về tiền bạc thay đổi tùy từng người. Thường được xem là có uy lực và đối với một số người, nó thể hiện sự thành đạt trong xã hội, do đó, nó cần phải được bày ra, đôi khi phô trương của cải quá mức. Nhà tâm lý học và tâm lý trị liệu Thierry Gallois nhận xét hành vi này thể hiện một sự "đánh giá thấp bản thân". Đối với những người khác, nó được dùng để biểu hiện tình thương yêu. Michel Lejoyeux bình luận: "Có những người thấy cần phải nhận tiền hoặc tặng tiền để có cảm tưởng mình được yêu thương, bởi vì hồi còn bé, bố mẹ thường biểu hiện lòng yêu thương bằng cách ấy". Với một cặp đôi nam nữ, tiền bạc có thể là vấn đề lãnh địa và thống trị, là đối tượng tranh chấp, thậm chí tan vỡ. Nó cũng có thể gây ý nghĩ tự thấy mình có tội: Tội vì nghèo túng hay vì giàu có. Theo Theierry Gallois, thì "tại các nước giàu, sự nghèo thường bị xem khinh, nhưng ở Pháp, thì lại đáng xấu hổ khi tỏ ra mình là người giàu có. Tại nước này, tiền bạc là điều cấm kỵ, thậm chí hơn cả tình dục". Đấy là do ảnh hưởng của đạo Cơ đốc từ xưa. Tại Mỹ nói về thu nhập của mình là chuyện rất bình thường và phổ biến, sự giàu có gây lòng ngưỡng mộ hơn, ít bị khinh rẻ và ít ngờ vực hơn ở Pháp: nếu ai đó thành đạt là do họ xứng đáng. Đạo tin lành của người Anglo - Soxon đánh giá cao món tiền thu nhập để sinh lợi và để chia sẻ.

Và thái độ chúng ta như thế nào đối với tiền bạc thì nó "không phụ thuộc vào thu nhập bằng phụ thuộc vào nhân cách của chúng ta" (Thierry Gallois). Có thể giàu có mà hà tiện, nghèo mà vung tay quá trán. Theo Freud tiền bạc tượng trưng cho cái "sở hữu". Phân tâm học phân biệt 3 giai đoạn tiến triển của cảm xúc, Jlana Reirs Schimmet giải thích. Giai đoạn miệng: cuộc sống của bé trải qua khoái cảm từ miệng và bầu vú mẹ. Đến giai đoạn khôn lớn, có thể xuất hiện nhu cầu gom góp tiền tuồng như mong muốn một bầu vú sữa bất tận. Giai đoạn trực tràng: đứa bé kiểm soát được cơ vòng và quyết định cho hay không cho điều mà mẹ yêu cầu, nhất là các chất phân.

Về mặt tiền bạc, giai đoạn này gần với sự nín nhịn: tôi cho hay không cho. Cuối cùng là giai đoạn sinh dục: đứa bé ý thức được sự tồn tại của người khác mà bản thân nó là bổ sung. Tại giai đoạn này, cách xử sự đối với tiền bạc trở nên hợp lý hơn, khi xem nó là một công cụ để trao đổi. Nhân cách của chúng ta là kết quả của ba giai đoạn ấy theo liều lượng khác nhau, tùy theo từng người. Theo Thierry Gallois thì thông thường nhất, tính cách ấy là một di sản của quá khứ của chúng ta, từ bố mẹ. Hoặc do bắt chước hoặc loại bỏ. Theo cung cách chúng đã trải qua cách xử sự như thế nào thời ấy, đám trẻ con có những bố mẹ phóng tay tiêu xài, có nhiều khả năng trở nên hoang phí hoặc ngược lại, hà tiện. Ngày nay, những người hà tiện không còn cất của ki cóp được trong tráp nữa, mà biến chúng thành những cổ phần chứng khoán hoặc vốn gửi ngân hàng. Cung cách mua sắm của chúng ta cũng đã tiến hóa. Michel Lejoyeux nhận thấy: "Tình trạng tiền bạc ngày càng trở nên ảo chỉ làm giải tỏa ức chế các ham muốn tiêu xài. Chi tiền bằng thẻ ngân hàng thì "vô tư" hơn là bằng tiền mặt".

Có khi mỗi ràng buộc của chúng ta với tiền bạc có thể đạt đến quy mô khiến nó trở thành bệnh hoạn. Tại các nước Anglo - Xaxon, các nhà tâm lý không ngừng kéo dài danh sách các cách xử sự cực đoan: của kẻ vay mượn hàng loạt, cũng sưu tập các thẻ tín dụng, của nhà tài chính bất tín nói dối cả với bạn đời về các khoản chi của mình; của người say công việc cứ muốn luôn làm thêm nữa để thu nhập hơn nữa, người cấp tiền sinh hoạt, thường là các phụ huynh hay cho con cái tiền, như vậy làm giảm ý muốn tự lập của chúng. Tuy vậy Michel Lejoyeux ôn hòa cho rằng "các lớp người này bao gồm các bệnh chứng không phải bao giờ cũng liên quan đến tiền bạc". Chẳng hạn người bất tín về tài chính chắc đã gặp những trục trặc trong việc trao đổi với bạn đời. Cung cấp cho con cái nhiều có thể là dấu hiệu của tính ham sở hữu quá mức. Tại Pháp, có 3 chứng bệnh về tiền bạc được công nhận: bệnh tiêu tiền liên miên; bệnh hà tiện ám ảnh và bệnh nghiện cờ bạc. Theo Michel Lejoyeux, bệnh tiêu xài liên miên có thể đạt đến những mức độ ít nhiều nghiêm trọng với từ 1 đến 6% người Pháp. Triệu chứng: một cơn sốt mua sắm hay xảy ra và không kiềm chế được. Bệnh mua sắm liên miên là một chứng nghiện như kiểu nghiện rượu mà thường dẫn đến nợ nần. Lòng ham muốn mua sắm có thể gây ra một cơn nghiện, chỉ có thể bình tĩnh lại khi bị đánh lừa. Hơn nữa theo Michel Lejoyeux "các đồ vật sắm về không được đem dùng. Người chỉ có nhu cầu thực hiện hành vi mua sắm mà thôi". Theo phân tâm học, chứng "thèm ăn" không đau này là dấu hiệu của một giai đoạn miệng đặc biệt no. Những người này cảm thấy xấu hổ và chỉ đi mua sắm một mình và che dấu các chi tiêu của mình, 80% trong bọn họ là nữ, 90% bị hoặc đã mắc chứng trầm cảm. Tại Mỹ, các nhóm phát ngôn đã được thành lập năm 1976 theo mô hình các Alcooliques Anonysues (người nghiệm rượu vô danh). Nhập vào Pháp từ 1989, hội các Desbiteurs Anonymes (các con nợ vô danh) tồn tại ở Paris. Marseille, Nanter, ete... các cơ quan chuyên môn về nghiện ngập như khoa tâm thần bệnh viện Bichat Claude Ben - nard, tại Paris cũng chăm sóc những bệnh nhân tiêu xài liên miên.

Chứng hà tiện ít liên quan hơn đến tính phụ thuộc. Theo Michel Lejoyeux, đây là một nét tâm lý gắn liền với nhân cách và chịu ảnh hưởng từ quá khứ. Là một dạng bi quan "biết rằng hôm nay mình có tiền bạc khá dồi dào, nhưng không thể ngăn được ý nghĩ mai đây sẽ không còn nữa". Tuy nhiên cũng có những người tiết kiệm quá mức, ham những món vải lẻ giảm giá. Tính bủn xỉn cực kỳ có thể do một rối loạn về ám ảnh. Thierry Gallois cho rằng "chỉ việc chi tiền, thậm chí cho vay cũng có thể gây nỗi đau thể xác cho người hà tiện. Tính hà tiện là một cơ chế bảo vệ cho những người có nhu cầu mạnh phải chế ngự môi trường". Trong học thuyết của Freud, sự kiềm chế này tượng trưng cho giai đoạn trực tràng. Theo Jlana - Reiss - Schimvrel "nỗi lo sợ bộc lộ hết mình không dính đến tiền bạc: người hà tiện thường ít nói về bản thân và cảm xúc của mình".

Những người nghiện cờ bạc ngày càng trẻ tuổi hơn với các trò chơi trực tuyến.

Nghiện cờ bạc là một trường hợp riêng: Tiền bạc là một nhân tố gián tiếp được đặt cược để hưởng những cảm giác mạnh. Theo Agathe Cognoc, nhà tâm lý học cho tổ chức SOS Joueurs (đám cờ bạc kêu cứu), thì "mọi người nghiện cờ bạc có hôm đánh được một món tiền rất lớn, đủ cho người ấy cảm thấy vui khoái vô cùng. Anh ta tiếp tục đánh, hi vọng sẽ còn thắng nữa". Thế rồi quỷ quái nào anh ta bị phụ thuộc. Người bị chứng nghiện cờ bạc, cuối cùng có những niềm tin duy tâm, nghĩ rằng mình có thể điều khiển được vận may. Dạng nghiện này phần lớn thấy ở nam giới. Với sự phát triển chơi bài Poker và các trò chơi trực tuyến, những con bạc liên miên này ngày càng "ít tuổi hơn" (Agathe Coguac). Nghiện ngập là kết quả của tình trạng loạn hoạt động của hệ đền bù: Một vùng của não xét đoán cái gì tốt, cái gì không tốt cho chúng ta, rồi biến một tác nhân kích thích thành khoái cảm. Trong các chất truyền dẫn, thần kinh có chất serotonine và chất dopomine, chúng kiểm soát được hệ ấy. Một số chuyên gia đã điều trị các chứng phụ thuộc về hành vi bằng các chất chống trầm cảm thường dùng để chống nghiệm ngập. Nếu tiền bạc đồng nghĩa với khoái cảm, thì đánh mất nó sẽ gây nỗi đau thể xác. Tại khoa hiện hình não, trung tâm        Welcome Trust tại London, bác sỹ Ben       Seymour đã cho 20 đối tượng nói về tiền bạc, trong lúc đó ông chụp hình hoạt động não của họ bằng IRM (Máy cộng hưởng từ): việc đánh mất tiền bạc, kích thích hoạt động các cơ chế liên quan đến sự phản ứng với nỗi đau đớn hay sợ hãi. Còn ở trường HEC (Cao học thương mại) Paris, nhà kinh tế học Barbara Briers kết luận rằng: đối với bộ não của chúng ta thì tiền bạc và thức ăn là cực kỳ gần nhau. Sau một loạt thí nghiệm và những tình nguyện viên đói hay no, bà nhận thấy rằng những người đói ít muốn cho ai tiền nhưng lại muốn nhận hơn nhiều tiền từ người khác. Ở đây, di truyền học cũng có vai trò của nó: theo các nhà nghiên cứu thuộc khoa tâm lý trường Đại học      Jerussalem (Do Thái) thì tính hào phóng tiền bạc một phần là bẩm sinh. Sau khi cho 200 người tham gia một đám đánh bạc, trong các đối tượng tự nguyện, có thể cho hay không cho tiền người khác, bác sĩ Ariel Knafo đã chú ý một nét di truyền nổi bật của những "con bạc hào phóng". Theo ông, lòng vị tha tài chính có thể một phần được quyết định bởi sự biến đổi của một gen có tên là AVPRIA, tác động lên sự sản xuất hormone tên là arginine vaso-pressine được biết có vai trò quan trọng trong mỗi quan hệ xã hội. Nó càng hoạt động mạnh thì con người càng có xu hướng gắn bó với người đồng loại, tức là cùng san sẻ của cải. Còn các nhân loại học Coren Apicella và các đồng sự tại ĐH. Harvard và ĐH. Stockholin về kinh tế (School of economics) đã yêu cầu 100 người tham gia một trò chơi nhẹ về đầu tư. Qua một cuộc thử nước bọt, các vị phụ trách đã nhận thấy những người có hàm lượng testostérone cao thì gặp nhiều bất trắc hơn về tài chính. Vậy đối với chúng ta tiền bạc chẳng phải là chuyện xu với hào. Nó có quyền lực lớn và thậm chí có thể nguy hiểm. Để tránh mắc phải tình trạng tiêu xài liên miên, không nhất thiết phải giảm tiêu tiền, mà nhất là phải biết chi tiêu hợp lý hơn, sắm cho mình thứ mình yêu thích hoặc thật sự cần thiết cho mình, đó là lời khuyên của Michel Lejoyeux. Và để tránh rơi vào tình trạng bủn xỉn quá khổ, có lẽ chỉ cần chấp nhận mình có đủ tiền để sống hôm nay trước khi lo lắng về một cuộc phá sản giả định.

Cuối cùng, bởi lẽ các cách xử sự của chúng ta hay lây lan, điều quan trọng là phải trao lại các giá trị lành mạnh cho con em chúng ta: Tiền bạc không phải là vấn đề cấm kị, nó đi vào cuộc sống thường nhật của chúng ta, nhưng không phải vì vậy mà được xem là mục tiêu tối hậu của một cuộc đời. Thierry Gallois nhấn mạnh "Người ta nói "kiếm sống" có nghĩa là kiếm tiền để sống bằng sức lao động của mình, nhưng không được đánh mất cuộc sống để kiếm tiền". Hay là sống chung với tiền bạc nên trở thành chuyện phổ biến thường ngày.q

HOAN CHÂU (dịch)

 

 

 

Hồ Thị Thủy - Hồ Mạnh Hà

Đền Chín Gian có từ bao giờ đó là điều cần phải tìm hiểu lâu dài. Song theo các già bản cho biết, đền được xây dựng vào thời gian Cầm Cần con của Cầm Lan thay cha làm Khẩu mường, kiêm Châu Hủa. Đó là những năm mường lớn Quỳ Châu thịnh vượng hơn cả: "Mỗi bước trâu đi là một chậu nòng nọc, mỗi khoảnh ruộng là một kho thóc vàng. Ở trong nhà, mỗi cái kén to bằng quả quéo, mỗi bắp tơ to băng quả bí, bên trái nhà treo chiêng, bên phải nhà để sanh đồng. Dưới sàn nhà, trâu đứng chật sàn, lợn gà nhung nhúc. Đi ra ngoài sân, chỗ nào cũng đụng phải sào phơi tơ, chỗ nào cũng vướng phải dây phơi bọc chăn thêu, phơi váy áo". Những năm đó, dân chúng làm ăn phát đạt, nên theo lời đề nghị của Cầm Cần, cả 9 mường góp công của làm đền Chín Gian để thờ Trời (Thẻn Phà), vì Trời cho mới được như vậy. Họ Cầm (Lo Kăm) cho rằng họ là con cháu của trời (vua Then). Đền làm xong, các mường (Poọng) các họ người Thái dắt trâu đến cúng, đến mừng, thành thông lệ, lễ cúng thường tổ chức rất lớn.

ruyền thuyết về quá trình hình thành

Theo các tư liệu điền dã và lời kể của ông Lô Văn Cần (Châu Hủa gốc), cho biết đền Chín Gian (Tến Cau Hong) được khởi dựng vào khoảng cuối thế kỷ XIV gắn với quá trình khai bản lập mường của dòng họ Lo Khăm. Dòng họ này thiên di từ khu vực miền núi Tây Bắc của Việt Nam qua Lào rồi dạt về vùng núi Phủ Quỳ. Nguyên xưa, đền được dựng ở Pú Chò Nhàng thuộc địa phận xã Châu Kim, huyện Quế Phong, sau đó chuyển đến đồi Póm Tên (núi đền). Lý do dời đền có nhiều khảo dị khác nhau, theo chúng tôi đó là sự kiện sụp đổ và suy tàn của mường thời bấy giờ.

Tương truyền, chúa mường lúc bấy giờ là Tạo Hiền, hậu duệ của Ló Ỳ. Ông là dòng dõi của hoàng tộc ở kinh đô Luông Pra Băng (Lào) bị người anh bức hại thả trôi sông, khi thi thể trôi về mường Quế thì được một đoàn quạ cứu sống. Biết ông là dòng dõi của hoàng tộc, nên người dân vùng đất này đã tôn ông làm Tạo mường. Và để ghi nhớ ơn cứu mạng của thần Quạ, Tạo Ló Ỳ đã đặt tên mường là "mường Cá Giá" nghĩa là mường "quạ chữa vết thương". Từ đó Tạo Ló Ỳ xây dựng vùng đất này thành một nơi hưng thịnh và mở rộng ra chín mường như ngày nay.

Từ khoảng thế kỷ XVIII trở về trước, đền Chín Gian được dựng trên một đỉnh núi cao gọi là Pú Chò Nhàng chủ yếu bằng vật liệu tranh, tre, nứa, thuộc phía Tây Bắc mường Tôn, cách bản Khoẳng xã Châu Kim hơn 2km. Truyền thuyết kể lại rằng: "Một hôm dân làng đang mở hội chín mường, trong khi các Mo thực hiện nghi thức tắm trâu ở bến Tà Khoẳng (một đoạn sông Nậm Giải), bỗng dưng có con rồng đến cuốn (Quái Mè Hảo) con trâu cái trắng của mường Tôn vào trong hang đá. Tạo mường cho rằng đây là điềm xấu, liền cho dân chúng giết trâu để lập đàn tế trời. Cả mường đang làm lễ tế trời, bỗng dưng mây đen kéo đến, sấm chớp mịt mùng. Hòn đá có cái hang mà rồng kéo trâu vào nứt ra thành 3 mảnh (hiện nay gọi là con Tạch Tà Khoẳng thuộc xã Châu Kim). Ngày hôm sau, từ đâu có một con quạ cổ khoang trắng bay đến đậu trên tảng đá bị sét đánh, sau đó bay lại miếng xương trâu trắng, bay lên bầu trời lượn 9 vòng, rồi bay thẳng xuống một ngọn đồi có tên Pú Pỏm thuộc bản Piếng Chào thả khúc xương trâu trắng xuống đó. Lấy làm điềm lạ, Tạo mường cho rằng thần linh, Thẻn Phà và Tổ tiên đã đồng ý chuyển đền về khu vực Châu Kim ngày nay, lập tức cả mường tập trung dựng đền tại nơi có khúc xương con trâu mà con Quạ khoang đã thả". Đền lúc này được xây dựng bằng tranh, tre, nứa, gỗ.

Căn cứ lịch trình thiên di của nguời Thái vào đất Nghệ An và các nguồn sử liệu dân tộc học, truyền thuyết dân gian được lưu truyền qua các câu chuyện về quá trình tạo bản lập mường của nhân vật Tạo Ló Ỳ và Cắm Lự - Cắm Lạn qua các bài dân ca dân tộc Thái ở Quế Phong, giới học giả cho rằng: đền Chín Gian đã có gần 700 năm, gắn liền với quá trình khai phá của cộng đồng dân cư người Thái để lập thành 9 mường. Mường Tôn được xem là mường chủ (mường gốc) của đồng bào Thái, đây cũng là trung tâm hành chính của các mường và là nơi thực hiện các nghi lễ tâm linh để cầu an, cầu phúc cho nhân dân chín mường.

Đến năm 1927, tri phủ Quỳ Châu, Sầm Văn Huyên, cho dân các mường khai thác gỗ lim trên rừng đem về tập trung tại bãi sông thuộc bản Piềng Pần, nay thuộc xã Châu Thắng để đẽo gỗ, sau đó vận chuyển bằng đường sông lên bến Tà Tạo để dựng lại ngôi đền hoàn toàn bằng gỗ lim, mái lợp tôn kiên cố.

Sau năm 1945, chế độ Châu Hủa bị bãi bỏ, các hoạt động thờ cúng tại đền Chín Gian không được duy trì nữa. Trải qua thời gian, chiến tranh, ngôi đền Chín Gian từ đó cũng bị xuống cấp nghiêm trọng. Năm 1994, đền chỉ còn là phế tích, Lễ hội đền Chín Gian cũng không còn được tổ chức nữa.

Năm 2005 thực hiện Nghị Quyết của Đảng bộ huyện Quế Phong và thể theo nguyện vọng của đồng bào các dân tộc huyện nhà, đền Chín Gian được tu bổ và phục hồi nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa và tồn tại cho đến hôm nay.

Truyền thuyết về những nhân vật được phối thờ tại đền

Thẻn Phà (Vua trời) và Náng Xỉ Đà (con gái trời)

Theo "Tục thờ thần và thần tích Nghệ An" (2000), của cố PGS. Ninh Viết Giao, Nxb Nghệ An và một số tài liệu điền dã của các nhà dân tộc học cho biết câu chuyện về Thẻn Phà và Náng Xỉ Đà là một câu chuyện có tính chất huyền thoại, được các già bản, già mường truyền vào tâm thức của người Thái Phủ Quỳ từ thế hệ này qua thế hệ khác như một "phổ ký truyền ngôn" về cội nguồn của dân tộc mình. Người Thái ở khu vực miền núi Tây - Bắc xứ Nghệ cho rằng: Trời là một thế lực siêu nhiên, trời có thể cho mùa màng tươi tốt, ấm no hạnh phúc, trời cũng có thể tạo ra thiên tai lũ lụt, hỏa hoạn. Vì vậy, đối với cư dân lấy nông nghiệp làm căn bản như đồng bào dân tộc Thái thì vấn đề thờ Trời (Thẻn phà) được xem là một lẽ tất nhiên và bổn phận của họ là phải tôn thờ trời, cúng trời để cầu mong cho mưa thuận gió hòa, tránh được các thiên tai. Người Thái Quế Phong, trong lịch sử hình thành và phát triển trên vùng đất này, cũng đã từng ý thức rằng, nhờ có Trời (Thẻn Phà) mà họ có được no ấm. Vì vậy, việc lập đền thờ và xem Thẻn Phà (Vua trời) là một đấng siêu nhiên tối cao của đồng bào Thái ở Quế Phong.

Truyền thuyết cũng nói về nhân vật Náng Xỉ Đà, người con gái của Thẻn Phà có nhiệm vụ xuống trần gian để thay cha mình thực thi các nhiệm vụ cai quản chín mường. Một hôm, Thẻn Phà sai Náng Xỉ Đà xuống mường đất để làm vợ của Khủn Tinh cai quản toàn bộ chín mường ở Quỳ Châu. Sự tích nói rằng, Trời (Phà Huồn) bắt Xỉ Đà và Khủn Tinh đầu thai xuống trần gian cùng một lúc. Xỉ Đà lanh lợi nên xuống trần gian trước, Khủn Tinh mải săn bắn, đến cánh đồng "Tổng Có" ở lại vui chơi với bọn con trai, gái dọc đường nên xuống sau. Vì vậy, lúc Khủn Tinh chào đời thì Xỉ Đà đã lớn tuổi. Nhưng có một điều kỳ lạ, từ khi mới lọt lòng Khủn Tinh chỉ biết khóc, mọi người không ai có thể làm cho Khủn Tinh thôi khóc. Mẹ Khủn Tinh lấy làm sợ hãi, liền cầm áo của con mình đi đến ông mo mường để nhờ ông mo bói thử, ông mo lấy gương soi vào áo nói rằng: "Phải cưới Xỉ Đà cho Khủn Tinh thì Khủn Tinh mới thôi khóc".

Nghe lời thầy mo, mẹ của Khủn Tinh trở về nhà, xin bản, xin mường cho Xỉ Đà lấy Khủn Tinh. Từ khi có Xỉ Đà trong nhà, Khủn Tinh không còn khóc nữa. Về nhà chồng, vì tuổi lớn hơn chồng rất nhiều nên hàng ngày Xỉ Đà phải cõng Khủn Tinh đi chơi, chăm lo cho chồng từ cái ăn đến cái mặc. Từ khi có Xỉ Đà về làm vợ, Khủn Tinh lớn nhanh như thổi, chẳng bao lâu đã trở thành một chàng trai khôi ngô, tuấn tú, khỏe mạnh, cưỡi ngựa giỏi, bắn cung tài. Chàng đã nhiều lần giúp bản mường tiêu diệt thú dữ, đánh giặc ngoại xâm. Không những thế, chàng còn xuống mường Nước, lên mường Trời làm những công việc mà xưa nay chưa có mường nào có thể làm được và Khủn Tinh đã có thể thay cha Khủn Tướng làm chủ tất cả các bản mường ở Quỳ Châu.

Trong thời gian Khủn Tinh làm chủ mường, phải đi chinh chiến thường xuyên, Náng Xỉ Đà ở nhà nuôi con, làm rẫy, hướng dẫn cho các cô gái trong mường cách trồng bông, kéo sợi, dệt vải, thêu thùa, làm thức ăn...

Khủn Tinh mải mê săn bắn và chinh chiến. Sau đó theo một cô gái khác ở mường Trời tên là Ảm Pin. Nàng Ảm Pin đã có người yêu là anh Cả con của một vị vua người Kinh. Khủn Tinh đã nhiều lần đánh nhau với anh Cả để chiếm đoạt Ảm Pin. Sau khi giành thắng lợi, Khủn Tinh đã đưa Ảm Pin về mường Trời. Phà Hườn biết chuyện, đã không cho Khủn Tinh về mường đất nữa.

Ở dưới mường Đất, mặc dù rất nhớ chồng nhớ vua Trời, nhưng vì thương yêu dân chúng, Náng Xỉ Đà đã quyết tâm ở lại mường Đất để hướng dẫn cho dân chín mường cách trồng trọt, dệt vải, chăn nuôi... Náng Xỉ Đà trở thành người mẹ xứ sở của đồng bào Thái ở Quỳ Châu. Sau khi bà qua đời, đồng bào Thái ở Quỳ Châu đã đem bà vào đền Chín Gian để thờ phụng và tôn bà là "Đức mẹ Xỉ Đà", tượng trưng cho sự chung thủy, hiền lành, cần mẫn, chịu thương chịu khó. Người Thái Quỳ Châu ngày nay vẫn luôn dạy con mình phải có những đức tính như Xỉ Đà (theo lời kể của mo Nam, mo Hòa ở Quế Phong).

Tạo Ló Ỳ

 Trong kho tàng truyện cổ dân gian của đồng bào Thái vùng đất mường Quỳ Châu còn lưu lại nhiều truyền thuyết, phổ biến nhất còn lưu truyền cho đến ngày nay về nhân vật Tạo Ló Ỳ được thờ phụng tại đền Chín Gian như sau: "Xưa kia, Tạo Mường ở Luông Phả Bàng (tức tỉnh Luông Phơ Ra Băng, Lào) đã sinh được 2 người con trai, người anh là Ló Ỳ, người em là Ló Ai. Cả hai anh em đều khôi ngô, tuấn tú và có sức vóc hơn người. Ló Ỳ vừa thông minh vừa đức độ, được Tạo cha chọn lựa để sau này kế ngôi. Ló Ai cũng là người khôn ngoan không kém anh trai mình, song lại là kẻ tham lam và đố kỵ. Thấy cha có ý định nhường ngôi cho anh, Ló Ai vô cùng bực tức, tìm mọi cơ hội để hãm hại anh trai của mình rồi vứt xác xuống sông. Xác Tạo Ló Ỳ cứ trôi theo dòng nước, từ Luông Phơ Ra Băng trôi về dòng sông Mã sau đó bị kẹt lại một khúc sông. May mắn đã được một con Quạ vô tình tiếp cho một liều thuốc tiên". Theo lái Cả giả (tức trường ca Quạ cứu) của đồng bào Thái, Quế Phong có đoạn như sau: "Cả đẳm chuống kỳ tòn, Cả đòn chuống giả" có nghĩa là: "Quạ đen rủ để mổ ruột, Quạ trắng rủ cứu chữa". Vô tình, được thuốc tiên, Ló Ỳ đã sống lại, sau đó đi lạc vào một vùng đất lạ xin ăn. Do vùng này là một vùng đất mới, cư dân lại thưa thớt, chưa có ai cai quản, khiến cho dân tình ở đây luôn loạn lạc bởi nạn cướp bóc. Thấy Ló Ỳ là một người khỏe mạnh, thông minh, tốt bụng, nhanh nhẹn, lại có nguồn gốc xuất thân từ gia đình dòng dõi, thường xuyên giúp dân đánh đuổi thú giữ và quân cướp bóc, bày cho nhân dân trồng trọt chăn nuôi. Đồng bào đã tôn Ló Ỳ làm Tạo, thay mặt nhân dân cai quản và khai bản lập mường. Từ khi có Tạo Ló Ỳ, bản mường trở nên phồn thịnh. Cũng để tỏ lòng biết ơn con Quạ đã cứu mình, Tạo Ló Ỳ đã đặt tên mường của mình là Mường Quạ cứu.

 Sau khi khai bản lập mường, hướng dẫn cho nhân dân vùng này làm nông nghiệp,... cuộc sống nhân dân được no đủ. Vì nhớ quê hương, cha mẹ, anh em, Tạo Ló Ỳ đã trao lại quyền cai quản cho một người khác và từ biệt mọi người để trở về quê cũ.

Trên đường tìm lại cố hương, Tạo Ló Ỳ đã bị lạc sang một vùng đất khác thuộc vùng đất Quế Phong ngày nay. Cũng giống như mường Quạ cứu, nhân dân ở đây cũng đang còn sơ khai, thưa thớt chưa có mường có bản vì chưa có ai đảm nhiệm vai trò làm Tạo. Trước yêu cầu của mọi người, Tạo Ló Ỳ đã ở lại giúp dân lập bản dựng mường và trở thành vị chúa đầu tiên ở đây. Dân ca Thái có câu ca nói về quá trình lập bản, lập mường của Tạo Ló Ỳ như sau:

 "Pựt ná phài mí mưởng,

Tành mướng phải mí Táo"

 Có nghĩa là:

"Khai ruộng phải có mương dẫn nước

Xây mường, lập bản phải có Tạo"

Từ khi có Tạo Ló Ỳ, vùng đất này ngày càng được mở rộng, thêm các mường mới. Mường do Tạo Ló Ỳ trực tiếp cai quản gọi là mường Tôn (mường gốc) có nghĩa là mường chủ. Mường chủ bao gồm: bản Piếng Chào, bản Đô, bản Giang xã Châu Kim, bản Đỏn Cớn xã Mường Nọc, bản Pỏi, Đỉn Đảnh xã Châu Thôn, Mường Chò Lè thuộc xã Tri Lễ.

Nhờ có công lao khai bản lập mường của Tạo Ló Ỳ, nên cuộc sống của các bản, mường đã trở nên khấm khá hơn. Để có thể tránh được những thiên tai và có chỗ thờ phụng vua Trời, Tạo mường và dân bản đã dựng một ngôi đền (Tến Xớ) ở mường Tôn, hàng năm tổ chức cúng tế, hiến trâu cho trời, cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.

Sau khi Tạo Ló Ỳ qua đời, để tỏ lòng biết ơn và kính trọng vị Tạo mường đã có công lập ra chín bản, mười mường, đồng bào Thái ở đây đã tôn ông thành một vị thần và thờ phụng trong đền Chín Gian.

Cắm Lự - Cắm Lạn

Người Tạo mường đầu tiên đến mường Nọc là cha con Cắm Lự, Cắm Lạn hùng cứ một phương thường gọi là vua áo đỏ. Phạm vi của Cắm Lạn bao gồm toàn bộ miền núi khu vực Quỳ Châu. Cắm Lự lập nghiệp ở mường Chiêng Ngám thuộc vùng Châu Tiến và Châu Bính ngày nay nhưng do hỏa hoạn, mường của Cắm Lự bị cháy thành tro, sau đó chuyển về mường Tôn. Cắm Lạn sinh được 4 con trai là Cắm Cần, Cắm Cật, Cắm Pinh và Cắm Pính và 2 người con gái. Trong số các người con trai của Cắm Lạn chỉ duy nhất Cắm Cần là có con trai nối dõi là Cắm Hiền. Khi lớn lên Cắm Hiền muốn lấy con của em gái cha mình ở mường Luộc là nàng Òn La nhưng không thành, sau đó Cắm Hiền lấy một người con gái Kinh một gia đình khá giàu có đang cai quản vùng đất Nghĩa Đàn. Từ khi về ở nhà chồng, cô gái luôn che kín mặt, không tiếp xúc với người ngoài và không cho ai nhìn thấy mặt con trai của mình kể cả ông nội của mình là Cắm Cần. Vì muốn nhìn thấy mặt cháu trai của con mình, Cắm Cần đã bày kế để được vào buồng nhìn mặt cháu. Vợ Cắm Hiền cho bố chồng mình có ý đồ không tốt, liền bỏ nhà về quê ngoại nói với cha ruột. Cha ruột của vợ Cắm Hiền liền cho quân lính lên đánh nhau với Cắm Cần. Cắm Cần thua trận phải đem cháu nội của mình là Tạo Xây chạy trốn vào khu vực rừng có tên là Hoọng Chờ Cờ để trốn. Khi mâu thuẫn giữa 2 nhà được giải quyết, Cắm Hiền lên Hoọng Chờ Cờ đón cha và con trai mình về. Khi về đến Pù Vai Nhàng ở bản Khoẳng thì Cắm Cần qua đời.

Sau khi Cắm Cần qua đời, để tưởng nhớ công lao của cha, chú, con nhà Cắm Cần và Cắm Lự, Cắm Lạn có công trong việc khai bản lập mường nên bà con người Thái ở đây vào phối thờ trong đền Chín Gian.

* *  *

Đền Chín Gian là công trình kiến trúc độc đáo, nơi thờ tự các vị thần có công khai bản lập mường. Cũng là nơi đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh, thăm viếng di tích, thể hiện truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn, phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc ở miền Tây xứ Nghệ.

Với lối kiến trúc độc đáo theo kiểu kiến trúc nhà sàn, kết hợp với các hạng mục công trình phụ trợ được sắp xếp từ thấp lên cao trên một quả đồi rộng rãi, thoáng đãng, tạo thành một quần thể kiến trúc có giá trị thưởng ngoạn cao. Bên cạnh đó, đền Chín Gian còn là nơi bảo lưu các giá trị truyền thống thể hiện bản sắc văn hóa địa phương.

 Trên thực tế đền Chín Gian đã trở thành địa điểm sinh hoạt văn hóa tâm linh, niềm tự hào của đồng bào các dân tộc huyện miền núi Quế Phong và là một trong những điểm đến thu hút du khách tham quan trong những dịp lễ hội.

Trần Lan

Về với những phiên chợ quê là về với những nét đẹp rất xưa trong truyền thống văn hóa dân tộc. Vào dịp cuối năm, được đi một phiên chợ quê mới cảm nhận hết được không khí xuân đang về. Và chợ Dùng của huyện Thanh Chương là một trong những chợ như thế!

Nằm cách trung tâm của huyện Thanh Chương khoảng 2 km, chợ Dùng là một trong những phiên chợ xưa nhất huyện. Chợ Dùng đã trở thành một cái tên nằm trong tiềm thức của rất nhiều thế hệ người con sinh ra và lớn lên ở Thanh Chương. Tuy nhiên không phải ai cũng biết vì sao chợ có tên gọi là "Dùng". Theo các bậc cao niên kể lại, xưa kia có bà cụ tên Dùng sinh sống bên cạnh chợ. Sau mỗi buổi chợ tan, bà thường quét dọn sạch sẽ, nghĩa cử của cụ được nhiều người cảm mến nên quen gọi chợ của bà Dùng, sau gọi luôn là chợ Dùng.

Chợ xuất hiện vào những năm 1930 -1931. Lúc đầu được nhóm họp ở ngã tư giáp giữa 2 làng Trung Phu Thượng và Trung Phu Hạ thuộc vùng đất của xã Thanh Đồng - tổng Đại Đồng khi xưa. Sau này việc buôn bán ở chợ ngày càng đông đúc, địa điểm họp chợ trở nên chật chội nên dân 2 làng đã chuyển chợ xuống điểm cây Gia (địa điểm của chợ thị trấn huyện ngày nay). Qua bao thăng trầm trong lịch sử, chợ Dùng đã gắn bó máu thịt với người dân thôn quê, cùng trải qua không biết bao nhiêu mùa xuân của đất nước và chứng kiến bao buồn vui của kiếp người.

Từ những buổi đầu hình thành, chợ Dùng là nơi nhóm họp của nhân dân trong phong trào đấu tranh Xô Viết. Vào buổi sáng ngày 01/9/1930, khi gà vừa gáy sang canh, chợ Dùng là nơi tập trung của hàng trăm người dân của 8 xã thuộc tổng Đại Đồng. Để từ đó, đoàn biểu tình với cờ hoa, biểu ngữ, trống khua đã ùn ùn như thác lũ, kết hợp với đoàn của tổng Cát Ngạn vượt sông Giăng, sông Trai nhập với tổng Võ Liệt và tổng Xuân Lâm tạo nên vòng vây đập phá Huyện đường, khiến cho tên Tri huyện Phan Sỹ Bàng cùng bọn lính tráng sợ hãi mà bỏ trốn, góp phần làm nên phong trào cách mạng 1930 - 1931 được ví như bão táp ở Thanh Chương mà sử sách còn mãi ghi "Kìa Bến Thủy đứng đầu dậy trước/ Nọ Thanh Chương tiếp bước đứng lên".  

Cuối năm 1931, khi phong trào tạm lắng, các tổ chức Đảng cũng rút vào hoạt động bí mật. Thực dân Pháp tăng cường thêm lực lượng, xây thêm các đồn canh và thiết lập hệ thống Bang tá từ huyện, tổng đến các làng, xã, lùng sục bắt bớ cán bộ, đảng viên, quần chúng cốt cán của cách mạng, gây nhiều cảnh tượng khủng khiếp trong nông thôn. Chợ Dùng lại là nơi chứng kiến nhiều sự mất mát, tang thương khi địch đưa cán bộ cộng sản ra cây Gia để xử bắn giữa chợ, hòng uy hiếp tinh thần bà con.

Trong kháng chiến chống Pháp, do có đặc thù về địa hình đồi núi, nhân dân ở đây lại có truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng, Thanh Chương trở thành một trong những địa bàn an toàn khu của tỉnh. Khu vực từ thị trấn đến xã Thanh Đồng là nơi tập trung các cơ quan ban ngành như Liên khu ủy 4, Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 4, Ủy ban Liên Việt, Sở Thông tin tuyên truyền, Ngân khố Liên khu 4, Kho bạc, Sở Giao thông công chính, các cơ quan Quân khu 4 từ Huế... Bằng tình cảm quân dân, gia đình của các cán bộ tản cư đều được nhân dân bố trí chỗ ăn ở đầy đủ, chủ yếu ở chung, ở ghép với bà con địa phương. Chợ Dùng lúc bấy giờ không chỉ là nơi giao thương của nhân dân quanh các xã mà còn có thể được xem là trung tâm giao thương của địa bàn Quân khu IV, phục vụ rộng rãi cho các cơ quan trọng và ngoài tỉnh về tản cư. Sau này, nhận thấy đây là vùng "đất lành chim đậu", nhiều bà con tản cư đã ở lại sinh sống, buôn bán tại chợ Dùng, gắn bó như quê hương thứ hai của mình.

Qua 7 lần di chuyển, nay chợ được họp ở gần trụ sở UBND xã Thanh Đồng, nằm trên tuyến Quốc lộ 46, liên huyện, liên xã hết sức thuận lợi. Tên gọi chợ Dùng vẫn được nhân dân lưu giữ đến ngày nay.

Bao mùa xuân lại về trên quê hương, chợ Dùng sau những lần di chuyển, giờ đã phần nào "thay da đổi thịt". Chợ đã được xây thành đình quán nền lát, mái lợp tôn xi măng, một số người có vốn chuyên sống bằng kinh doanh buôn bán đã cất nhà ở và mở những gian hàng quanh khu chợ, những dịch vụ như quán hớt tóc, lò rèn chuyên làm và sửa chữa nông cụ… sinh hoạt chợ trở nên đa dạng hơn trước song vẫn chủ yếu trao đổi, buôn bán những hàng đơn sơ của người dân bản địa như bó chè, mớ rau, củi, than, gà, vịt, chó, mèo, thịt bò, thịt lợn và có cả những món ăn dân dã nổi tiếng như cháo canh, bánh mướt Thanh Đồng, bánh khô của Thanh Tường, khoai lang Cầu Rộ... Đó còn là nơi giao thương của các làng nghề thủ công ở Đô Lương như nghề gốm Trù ú, lon, chum vại, niêu đất, heo đất nung được bày bán ở đây từ rất lâu, đến nay vẫn còn.

Cũng như bao chợ quê khác, chợ Dùng không họp liên tục các ngày trong tháng mà chỉ theo "phiên", gồm các ngày 4, 9, 14, 19, 24, 29 âm lịch hàng tháng. Không hẹn mà đến, cứ tới ngày, người ta mang ra chợ đủ thứ để mua bán trao đổi. Khi chưa có chợ thị trấn, mỗi phiên chợ Dùng thường rất đông. Bây giờ phiên chợ tuy có thưa thớt đi phần nào nhưng nét dân dã, mộc mạc thì vẫn còn vẹn nguyên.

Nếu như vào những phiên chợ vốn đã rôm rả thì đến những ngày giáp Tết, chợ trở nên đông vui gấp nhiều lần. Chợ đông nhất từ chiều 28, 29 Tết, mọi người í ới gọi nhau đi họp chợ. Khắp các ngả làng, người bưng, kẻ gánh hàng hóa kĩu kịt hướng về chợ Dùng. Họ nói cười tíu tít, râm ran, náo nức, đúng là "vui như Tết". Đặc biệt là những đứa trẻ hớn hở diện những bộ quần áo đẹp chờ bố mẹ dẫn đi chợ Tết, được ăn kẹo mật, bánh nếp, bánh vo, bánh mướt… mà đến cả sau này, khi đã trưởng thành, xa quê hương thì những hình ảnh cùng mẹ đi chợ Tết vẫn nỗi nhớ da diết về cả trong những giấc mơ.

Mỗi phiên chợ Dùng thường họp buổi sáng, 10h đã vãn khách nhưng vào những ngày giáp Tết, chợ sẽ họp cả ngày. Không ai tranh giành chỗ của ai, người bán sau tiếp nối người bán trước ngồi thành hàng dài. Ngoài những hộ bán trên nền chợ thì người bán còn họp trên bãi đất rộng với dăm ba cái lều thấp lợp rạ mỏng. Có khi chợ còn họp luôn cả ngoài lề Quốc lộ 46 với đầy đủ các mặt hàng quê hấp dẫn, níu chân cả khách vãng lai. Vì thế ai đi qua cũng muốn ghé chợ Dùng một lần, và ai đã đến chợ rồi thì không khỏi một lần vương vấn. Chợ bán đủ thứ nhưng chủ yếu là những sản vật, những thứ sẵn có ở nhà, từ mớ tôm, mớ tép, mớ rau đến mấy con gà, con vịt, thịt lợn... Có những bà, những mẹ đến chợ chỉ bán dăm ba lá trầu, quả cau, mấy nải chuối, vài cái chổi… để cho đỡ nhớ chợ. Riêng với ngày Tết, hầu như nhà nào cũng chuẩn bị chu đáo cho những vật phẩm đóng góp vào phiên chợ, từ nải chuối, những quả đu đủ, những quả dưa, cà, rau cải xanh mượt đến những con gà, con vịt béo tròn, mập mạp đều được chăm bón, nuôi thúc để kịp phục vụ cho những ngày Tết. Nếu món ăn vặt là mặt hàng hấp dẫn trẻ nhỏcác chị, các mẹ thì đâu đó trên nền chợ, cánh mày râu lại tụ tập vào một góc để được thưởng thức vị say của thuốc Lào - là loại thuốc hút đã thành truyền thống buôn bán và sản xuất xưa kia của làng Yên Phú (thuộc vùng đất Thanh Đồng ngày nay). Thương hiệu thuốc Lào của chợ Dùng vốn không chỉ có tiếng trong vùng mà từng theo chân người lính cụ Hồ có mặt ở khắp các chiến trường từ Điện Biên Phủ vào đến Liên khu 5 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc.

Ngày nay, nhu cầu vật chất thay đổi, cuộc sống người dân cũng khá hơn, nên ngoài những món quà quê, người buôn còn nhập hàng từ thành phố Vinh lên, nhờ đó các mặt hàng cũng trở nên rất phong phú, người dân cũng có nhiều sự lựa chọn cho gia đình để có cái tết đầy đủ, sung túc hơn. Bên cạnh những sản vật dân dã thì chó con cũng là một mặt hàng độc đáo riêng có ở chợ Dùng. Phiên chợ nào cũng có người từ các huyện Yên Thành, Đô Lương… đến đây mua chó con để đi bán các chợ trong tỉnh. Vào phiên chợ Tết, mặt hàng này vẫn không thể thiếu, hầu hết các gia đình trong vùng đem chó con đi chợ bán vì chó nhiều không nuôi nổi hoặc bán để lấy ít tiền sắm Tết, chứ họ không phải "kinh doanh". Sau một hồi ngã giá, cả người bán và mua rất vui vẻ. Theo lệ thì người bán sẽ bớt cho người mua một ít tiền, mà trong quan niệm dân gian là để làm vía cho chó con mau lớn.

Giáp Tết về với chợ Dùng không chỉ để mua bán mà còn là nơi để gặp gỡ nhau dịp cuối năm. Nhiều người đi chợ dịp này để mong có cơ hội được gặp gỡ, chuyện trò với bạn bè, người quen sau một năm bận rộn việc làm ăn. Thậm chí có cụ già lưng còng, tóc bạc phơ, miệng nhỏm nhẻm nhai trầu vẫn tranh thủ chút thời gian đến chợ chỉ đơn giản được nhìn ngắm, hỏi han người này người khác khiến cho bầu không khí ở chợ mỗi lúc một đông, thêm phần ấm áp, gần gũi. Đến chợ Dùng sẽ dễ dàng thấy cảnh kẻ bán - người mua trao đổi hết sức chân tình. Họ chẳng ngần ngại cho người mua nợ tiền đến phiên chợ sau, nhất là khi lâu ngày không gặp được người quen, họ lại sẵn sàng cho, biếu nhau mớ rau, túm quả mà không lấy một đồng... Hầu hết mọi người đều quen biết nhau, có khi khách mua đồ ăn, thức uống đều được nếm thử, ngon thì mua, không ngon lần sau ghé lại xem có khá hơn không chứ chẳng mấy khi có cảnh bon chen, giành giật hay nói thách.

 Chợ Dùng vào Tết còn có hương vị rất riêng, đó là mùi của hoa quả ngày Tết, mùi của hương trầm ngào ngạt, mùi của lá dong, mùi gừng sả phảng phất đâu đó và lấp lánh với đủ sắc màu của bóng bay, hàng mã, bánh trái..  Và lẫn trong tiếng gọi nhau í ới, ta còn được nghe thổ ngữ địa phương mà nếu không phải là người Thanh Chương, hẳn sẽ rất ngạc nhiên và thích thú. Đó có thể là tiếng trả giá "O ơi, con ga ni mái" (Cô ơi, con gà này giá bao nhiêu?) hay là tiếng tranh thủ hỏi han nhau giữa buổi chợ"Mới đi ghếnh ló vìa à!" (Ơ, mới đi gánh lúa về à?), "Ló nhà o năm ni được mái tạ" (lúa nhà cô năm nay được mấy tạ?), "Rọng nhà o reènh hẻn" (Ruộng nhà cô rành thích)...

Cứ như thế chợ Dùng gắn kết, gói ghém tình người, tình chợ theo tháng năm mà chẳng hề thay đổi. Cũng đã có biết bao đôi trai gái gặp gỡ, kết bạn và nên duyên chồng vợ từ những phiên chợ quê bình dị ấy! Và với nhiều người con xa quê, chợ Dùng đã trở thành kỷ niệm khó quên thuở ấu thơ, là hành trang mang theo khi rời quê mẹ. Cho nên, với người Thanh Chương, dù xa xôi cách mấy khi nhớ về quê nhà không thể nguôi nhớ về ngôi chợ quê dân dã này.

Xuân đang ngấp nghé về, chợ Dùng lại sắp sang cho một mùa mua bán mới, đong tình người đầy ấm áp. Đã không còn cảm thấy cái lành lạnh của những ngày cuối đông, không nhiều lắm sự hơn thấp về giá cả, lỗ lãi, người bán kẻ mua như quên thời gian, ai cũng mang chung một tâm trạng hưng phấn, vui vẻ. Phiên chợ quê ngày Tết sẽ kết thúc vào buổi trưa ngày 30 tháng Chạp, khép lại một năm cũ và mở ra một năm mới hứa hẹn sự thịnh vượng, ấm no cho quê hương.

Quảng Phước

Họ Nguyễn Lâm ở làng Kim Long, xã Thanh Tùng, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An là một dòng họ lớn, có truyền thống kế thế khoa bảng, nhiều đời cha con, bác cháu, anh em cùng đậu đạt. Theo thống kê sơ bộ, thời phong kiến, họ Nguyễn Lâm có 1 tiến sĩ, 04 phó bảng, 5 cử nhân, 14 tú tài và có người đậu đầu xứ, đầu huyện. Trong số những người con ưu tú của dòng họ, quan Giáo thụ Nguyễn Lâm Tuấn là người để lại nhiều giai thoại nổi tiếng. Đặc biệt là biệt tài đánh cờ được chúa Trịnh khen"rượu Mơ, cờ Tuấn".  

Theo gia phả họ Nguyễn Lâm, ông Nguyễn Lâm Tuấn (林濬) là con thứ ba của Hương cống Nguyễn Lâm Tế. Lúc nhỏ, ông còn có tên là Truật (). Sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng, được thừa hưởng sự giáo dục của các bậc cha chú đều là những vị túc Nho đại khoa (cha đậu Hương cống, bác là Tiến sĩ Nguyễn Lâm Thái, chú là quan Tam tràng (Phó bảng) Nguyễn Lâm Cung) nên từ nhỏ ông Nguyễn Lâm Tuấn đã nổi tiếng là người thông minh, hay chữ, hiểu sâu biết rộng. Nói về tài năng của ông Nguyễn Lâm Tuấn, gia phả chép lại như sau "thiếu tập bá thúc phụ chi giáo huấn, văn chương cơ trữ, đắc tự gia truyền, nghĩa lý uyên nguyên truyền vi thử phạm. Phương kỳ thiếu thời, thức giả hàm viết: giáp khôi môn địa, phục xuất tài hoa"(1), nghĩa là: lúc nhỏ được sự giáo huấn của cha, chú, bác nên văn chương lỗi lạc. Được tiếp nối truyền thống của gia đình, nghĩa lý thâm uyên truyền đời làm khuôn mẫu. Khi còn nhỏ, những bậc thức giả thường nói rằng: nhà khoa bảng sinh con tài hoa xuất chúng.  

Khoảng niên hiệu Cảnh Hưng (1740 - 1786) đời Lê Hiển Tông, ông thi Hương trúng Giải nguyên Hương cống(2). Năm sau, ông dự thi Hội và đậu Tam tràng(3). Ông được tuyển vào làm Giám sinh(4) trường Quốc tử giám ở Thăng Long. Sau đó, liên tiếp nhiều khoa thi Hội ông đều trúng Tam tràng và được bổ làm chức Nho học Huấn đạo phủ Gia Hưng, trấn Sơn Tây (nên thường gọi là ông Giáo Tuấn). Trong thời gian làm Huấn đạo ở phủ Gia Hưng, ông là một học quan có kiến thức uyên bác, tư cách mẫu mực, làm khuôn vàng thước ngọc chốn cửa Khổng sân Trình. Học trò của ông nhiều người thành danh(5). Ông luôn được học trò quý mến. Ông sáng tác rất nhiều thơ phú nhưng đến nay đều bị thất lạc, chỉ còn bài "Vịnh Tây uyển" còn lưu lại trong gia phả:

Nguyên văn:

欲熾阿磨火正燃

無端西宛闢遊天

山南鳥革宮羅絡

海北龍鱗院後先

點綴四辰花艶冶

賞遊千騎月嬋娟

異辰炤耀江都鏡

始信桃花不浪傳

Phiên âm: 

Dục xí a ma hỏa chính nhiên

Vô đoan Tây uyển tịch du thiên

Sơn Nam điểu cách cung la lạc

Hải Bắc long lân viện hậu tiên

Điểm xuyết tứ thời hoa diễm dã

Thưởng du thiên kỵ nguyệt thuyền quyên

Dị thời chiếu diệu giang đô kính

Thủy tín đào hoa bất lãng truyền.

Dịch thơ:

Đốt lửa bừng lên cho óng ả

Để vườn Tây uyển lộng trời xa

Núi Nam chim chóc vui chơi cảnh

Bể Bắc long lân lượn ven nhà

Trang điểm bốn mùa hoa thắm đượm

Nhởn nhơ nghìn thuở nguyệt quyên nga

Giang đô gương ấy thường soi sáng

Tin ở hoa đào chẳng nói ngoa.

Bài thơ đã thể hiện chí hướng của một con người cương trực, hiên ngang, hào hoa phong nhã, thích tự do phóng túng. Sau một thời gian làm học quan, ông đã xin cáo quan về quê dạy học để có điều kiện ngao du sơn thủy. Ông sành sỏi cả "cầm kỳ thi tửu" nhưng nổi tiếng nhất là tài chơi cờ tướng. Gia phả chép "đấu kỳ cao nhân nhất trứ thời, huề Cầm nhất trương, tửu nhất hồ, kỳ nhất cuộc, lạc dữ nhân đồng, duy nhật bất túc"(6), nghĩa là: ông chơi cờ cao tay, nức tiếng một thời, một cây đàn Cầm, một bầu rượu, một cuộc cờ, vui cùng mọi người, suốt ngày không hết.

Chính nhờ tài chơi cờ tướng mà ông đã giải cứu cho anh ruột khỏi vòng lao lý. Lúc bấy giờ, anh cả của ông là quan Thiếu Khanh tính tình hào hiệp, chơi đấu cờ với quan Thượng Quận công và bị thua liền mấy ván, nợ tới hàng ngàn quan tiền. Quan Thiếu Khanh lúng túng, liền giục nhạn đưa thư(7) nhắn em về Kinh cứu giúp. Ông Tuấn sắm sửa hành trang lên đường giúp anh. Tới Kinh đô, ông tự xưng là đầy tớ của quan Thiếu Khanh rồi tìm cớ vào đánh cờ hầu Thượng quận công. Ông đã đánh thắng, gỡ được nợ cho quan Thiếu Khanh và còn thắng thêm được 3, 4 ván. Thượng Quận công vô cùng ngạc nhiên và thốt lên rằng "tài đánh cờ của ta xưa nay không ai sánh kịp sao nay lại bị khốn thế này?". Lúc đó, ông mới chắp tay xin lỗi Thượng Quận công và thú thật: "Tôi là Ba tràng Tuấn, em ruột quan Thiếu Khanh, nghe tin anh bị thua cờ mắc nợ nên phải vờ làm đầy tớ để giúp anh, nay xin nói thật với quan lớn". Thượng Quận công biết ông Tuấn học tài, cờ giỏi nên kết bạn để cùng các quan trong triều đánh cờ tiêu dao. 

Người đương thời đều khen ông là cao thủ đánh cờ: "Trường An nhiêu nhất mã, thiên hạ cử song xa"(8) nghĩa là các kỳ tài ở kinh kỳ ông chấp một "mã", người trong thiên hạ ông chấp cả hai "xe". Nghe tiếng ông hay cờ, rất nhiều người đến thách đấu, trong đó có cả tên lái buôn người Trung Hoa xảo quyệt nhưng đều bị thất bại trước tài năng xuất chúng của ông.

Lúc bấy giờ, chúa Trịnh nghe tiếng ông Tuấn cao cờ bèn triệu ông vào phủ hầu cờ. Ông đánh cờ với chúa, chúa thua liên tiếp nhiều ván, chúa liền phán "Rượu Mơ, cờ Tuấn"(9) nghĩa là ngon nhất là rượu làng Mơ, giỏi cờ nhất nước Nam là ông Tuấn. Rượu làng Mơ chính là rượu làng Hoàng Mai - một làng thuộc Kẻ Mơ(10) ở cửa ngõ phía Nam kinh thành Thăng Long.

Kẻ Mơ xưa gồm bốn làng: Hoàng Mai có nghề nấu rượu nên gọi là Mơ Rượu, Hồng Mai hay Bạch Mai gọi là Mơ Thịt, Tương Mai gọi là Mơ Cơm và Mai Động gọi là Mơ Táo. Rượu làng Mơ ngon nổi tiếng khắp vùng từ xưa. Người ta không chỉ nấu rượu để sử dụng trong gia đình mà còn để cung cấp cho các vùng xung quanh. Và rượu ngon làng Mơ đã đi vào ca dao:

"Em là con gái Kẻ Mơ

Em đi bán rượu tình cờ gặp anh

Rượu ngon chẳng quản be sành

Áo rách khéo vá hơn lành vụng may"

Rượu làng Mơ không chỉ nổi tiếng trong dân gian mà còn được dùng để tiến vua. Loại rượu dùng tiến vua không phải là rượu bình thường, đó là "hoàng hoa tửu" (rượu hoa cúc vàng). Trong các sách địa chí cổ đều có nhắc đến đặc sản này như Ức Trai dư địa chí viết "Hoàng Mai có rượu cúc tiến vua", Đồng Khánh dư địa chí thì viết: "Hoàng Mai nấu rượu hoa", còn sách Đại Nam nhất thống chí viết "các xã Thụy Chương, Cương Vọng, Bình Vọng đều nấu rượu, duy rượu Hoàng Mai là ngon nhất". Cái đặc biệt của loại rượu hoa này là được chưng cất rất cầu kỳ từ hoa cúc, loài hoa nở rộ về mùa thu và được coi là biểu tượng của mùa thu. Nhưng không phải loại cúc nào cũng được dùng để nấu rượu mà phải là kim cúc (hoa cúc vàng, bông nhỏ, cánh bé). Trước đây, chỉ đến mùa thu mới có hoa cúc nên rượu cúc cũng chỉ được nấu vào mùa thu. Thú vui thưởng thức rượu hoa cúc đã đi vào thơ Đường: 

"Xuân du phương thảo địa,

Hạ thưởng lục hà trì,

Thu ẩm hoàng hoa tửu,

Đông ngâm bạch tuyết thi"

Dịch nghĩa:

Mùa xuân đi chơi trên đồng thơm

Mùa hạ thưởng thức ở đầm sen xanh

Mùa thu uống rượu ngâm hoa cúc vàng

Mùa đông ngâm thơ tuyết trắng.

     Trong cái se lạnh của gió thu, nhấm nháp chén rượu cúc thơm phảng phất, ấm nồng thì còn gì tuyệt diệu bằng. Cái tài chơi cờ của ông giáo Tuấn cũng nổi tiếng như rượu làng Mơ thơm phảng phất khắp kinh thành khiến ai cũng phải ngất ngây, mến mộ.

Cả đời ông giáo Tuấn gắn liền với chức học quan và sự nghiệp đào tạo nhân tài, không màng đến danh lợi và những bon chen chính trị chốn quan trường. Ông mất ngày mồng 6 tháng 9 (không rõ năm), mộ táng tại xứ Đầu Pheo(11). Sau khi ông mất, để tưởng nhớ một con người tài hoa, phong nhã và những cống hiến cho quê hương, đất nước, học trò và nhân dân đã lập đền thờ ông ở trong vườn cũ (nên gọi là đền Quan Giáo). Năm Khải Định thứ 2 (1917), ông được triều đình sắc phong là "Hiển Minh Linh Ứng, Dực bảo Trung hưng, Linh phù tôn thần" giao cho xã Thổ Hào, huyện Thanh Chương phụng sự. Đền thờ ông rất linh thiêng, nhân dân trong vùng cầu đảo nhiều điều linh ứng nên khách qua lại lễ bái rất đông. 

Nội dung sắc phong cho ông Nguyễn Lâm Tuấn như sau:

Phiên âm:

Sắc Nghệ An tỉnh, Thanh Chương huyện, Thổ Hào xã phụng sự Bản cảnh Hiển Minh Linh Ứng chi thần, Bản cảnh Yên Phong Dũng Mãnh Linh Ứng chi thần, nẫm trứ linh ứng. Tứ kim phi thừa cảnh mệnh, miến niệm thần hưu, quân trứ phong vi Dực bảo Trung hưng Linh phù Tôn thần. Chuẩn kỳ phụng sự, thứ cơ thần kỳ tướng hựu bảo ngã lê dân.  

Khâm tai!

Khải Định nhị niên tam nguyệt thập bát nhật.

     (Sắc mệnh chi bảo)

Dịch nghĩa:

Sắc cho xã Thổ Hào, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An thờ phụng thần Bản cảnh Hiển Minh Linh Ứng và thần Bản cảnh Yên Phong Dũng Mãnh Linh Ứng. Các thần đều linh ứng rõ rệt. Cho nên, nay trẫm cả vâng mệnh sáng, xa nghĩ ơn thần, đều trứ phong là Dực bảo Trung hưng Linh phù Tôn thần. Chuẩn cho thờ phụng. Ngõ hầu thần hãy giúp đỡ, che chở và bảo vệ cho dân ta.

Kính thay!

Ngày 18 tháng 3 năm Khải Định thứ 2 (1917).

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

 

Chú thích

(1). Gia phả họ Nguyễn Lâm, bản chữ Hán, trang 18, mặt b.

(2). Giải nguyên tức đỗ đầu. Hương cống thời Lê tức Cử nhân thời Nguyễn.

(3). Tam tràng thời Lê tương đương với Phó bảng thời Nguyễn.

(4). Giám sinh trường Quốc tử giám tức là sinh viên (học viên) của trường Quốc tử giám.

(5). Như ông Đặng Thông, Thái Côn Quý ở thôn Hoành Sơn, xã Nam Kim đều là những học trò giỏi của ông.

(6). Gia phả họ Nguyễn Lâm, bản chữ Hán, trang 19, mặt a.

(7). Nguyên văn là "hiệu trình thiên lý nhãn tín hồi thư".

(8). Gia phả họ Nguyễn Lâm bản chữ Hán, trang 19, mặt b. Bản chữ Quốc ngữ trang 18.

(9). Gia phả họ Nguyễn Lâm bản chữ Hán, trang 19, mặt b. Bản chữ Quốc ngữ trang 18.

(10). Nay thuộc quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

(11). Nay đã cải táng về nghĩa trang tập trung của họ Nguyễn Lâm.

Chu Trọng Huyến

Từ trước cho đến hết thời Lê, đối với sĩ tử Nghệ An không chỉ thi Hội mà cả thi Hương cũng đều phải ra Thăng Long. Đến thời Nguyễn, năm Gia Long thứ 6, là Đinh Mão (1807), mới có khoa thi Hương đầu tiên mở trên đất Nghệ, địa điểm đặt tại thành Vĩnh An, tức thành phố Vinh sau này, chủ yếu dành cho sĩ tử cư ngụ trên hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Năm 1908, người Pháp mở tại Vinh một nhà máy sửa chữa xe lửa, đặt trên nền đất của trạm giao thông cũ, nên nhân dân địa phương gọi nó là Nhà máy Trạm. Về sau, nhà máy ấy cần được mở rộng, nó choán sang một phần đất của địa điểm Trường Thi nên người Pháp gọi nó là Xưởng sửa chữa xe lửa Trường Thi (viết tắt là:"Atelier de Trương Thi")(1). Nói về Hương thí trên đất Nghệ, từ Đinh Mão đến năm cuối cùng là Mậu Ngọ (1918), có cả thảy 42 khoa thi, lấy đỗ 827 cử nhân. Ngoài ra, cùng thời gian, còn có 29 vị là người Nghệ An thi đỗ cử nhân ở các nơi khác, chủ yếu là tại trường thi Thừa Thiên. Số người Nghệ đỗ ở từng khoa thi của các năm Dậu thuộc tỉnh nhà mà bài này điểm qua, gồm các mục chủ yếu: tên người, xã, phủ (huyện), chức quan (nếu có).

Khoa Quý Dậu, năm Gia Long thứ 12 (1813):

Vũ Nhật Tân, Võ Liệt, Thanh Chương, Đốc học Hà Nội, rồi Tư nghiệp Quốc tử giám.

Phan Đình Trọng, Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu.

Hồ Phúc Tương, Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu.

Hoàng Văn Vân, Kim Khê, Nghi Lộc, Đốc học.

Nguyễn Thế Cát, Hoa Lâm, Đông Thành (lúc đó gồm cả Yên Thành, Diễn Châu và Quỳnh Lưu), Tri huyện, chết vì việc công, được truy thăng Tri phủ.

Lê Nguyên Huệ (sau đổi là Trung), Trung Cần, Thanh Chương (sau là Nam Đàn), Tổng đốc Bình - Phú.

Bùi Danh Củng, Thanh Tuyền, Nam Đàn, Tri huyện.

Vũ Huy Quýnh, An Tập, Đông Thành, Tham hiệp.

Nguyễn Duy Phiên, Công Trung, Đông Thành.

Khoa Ất Dậu, Minh Mệnh thứ 6 (1825):

Nguyễn Điều Mai, Xuân Ổ, Nam Đàn.

Nguyễn Đình Thưởng, Quỳnh Đôi, Đốc học.

Nguyễn Trọng Dực, Thanh Chương (về sau là Nam Đàn), Ngự sử, bị cách.

Nguyễn Liêm, Thịnh Lạc, Nam Đàn, Tri phủ.

Nguyễn Hoàng Tương, Hoàng Mai, Đông Thành, Lang trung.

Ngô Sĩ Tùng, Lý Trai, Đông Thành, Tri phủ.

Nguyễn Thành Hiến, Hoàng Xá, Thanh Chương.

Phạm Tư, Đặng Điền, Chân Lộc.

Nguyễn Huy Phan, Hoàng xá, Thanh Chương.

Nguyễn Huy Thuyên, Đặng Xá, Chân Lộc, Tri phủ bị đổi làm Giáo thụ, xin nghỉ.

Nguyễn Dũng Bân, Đông Luân, Nam Đàn.

Phạm Khắc Tuy, Tiên Lý, Đông Thành, Tri phủ.

Nguyễn Đức Diệu, Hoành Sơn, Nam Đàn.

Vũ Văn Dư, Hiếu Hợp, Chân Lộc, Giáo thụ, xin nghỉ.

Khoa Đinh Dậu, năm Minh Mệnh thứ 18 (1837):

Hồ Sĩ Tuần, Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, năm Giáp Thìn (1844) đỗ Tiến sĩ, Tuần phủ (mất ở nhiệm sở).

Vũ Văn Dật, Đan Nhiễm, Nam Đàn, Đốc học.

Nguyễn Côn, Dương Liễu, Nam Đàn.

Đinh Viết Thận, thường gọi là Đinh Nhật Thận, Thanh Liệu, Thanh Chương, Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1848), Tri phủ, có kết bạn với Cao Bá Quát nên bị bắt giam một thời gian.

Vũ Nguyên Doanh, Thanh Viên, Quỳnh Lưu, Phó bảng khoa Tân Sửu (1841), Án sát Gia Định.

Khoa Tân Dậu, Tự Đức thứ 14 (1861)(2):

Tôn Huy Thân, Võ Liệt, Thanh Chương, Viên ngoại lang.

Lê Huy Toản, Hạnh Lâm, Đông Thành, Tri huyện bị giáng sau làm Huấn đạo huyện Phù Ninh.

Trần Vỹ, Thọ Mai, Quỳnh Lưu, sau đỗ Phó bảng, làm Đốc học, bị giáng.

Hoàng Thế Trực, Võ Liệt, Thanh Chương.

Nguyễn Văn Bính, Nộn Hồ, Nam Đàn.

Vũ Nguyên Vinh, Văn Thai, Quỳnh Lưu (Đông Thành đã chia ra là: Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu), Thông phán, xin nghỉ.

Từ Khắc Bình, Hạ Khê, Hưng Nguyên, Tri huyện.

Nguyễn Tâm Đích, Vân Tụ, Yên Thành, Tri huyện, cáo về.

Hoàng Công Xán (sau đổi là Ngọc Liên), Đông Vực, Yên Thành, Tri châu.

Nguyễn Xuân Huyên, Đông Hướng, Yên Thành, Điển học (bị giáng).

Nguyễn Thế Mỹ (sau đổi là Tế Mỹ), Quỳnh Đôi, Thương biện.

Khoa Quý Dậu, Tự Đức 26 (1873):

Cao Huy Tuân, Phan Xá, Chân Lộc (sau đổi là Nghi Lộc), năm Kỷ Mão (1879) đỗ Phó bảng, vì việc nước bị hại.

Ngô Hữu Tạo, Mỹ Dụ, Hưng Nguyên, Viên ngoại lang.

Ngô Trung Tỉnh, Thái Xá, Diễn Châu, Tri huyện, cáo quan về.

Hồ Mậu Đồng, Phú Thanh, Quỳnh Lưu, Tri huyện, cáo quan.

Ngô Đức Tân, Cẩm Trường, Chân Lộc.

Nguyễn Hữu Chinh, Đông Hải, Chân Lộc, Hoàng giáp năm Kỷ Hợi, Biên tu Quốc sử quán.

Phan Huy Quán, Đào Viên, Yên Thành, Sơn phòng sứ.

Nguyễn Tường, Nghĩa Liệt, Thanh Chương.

Nguyễn Viết Đôn, Đại Đồng, Nam Đàn.

Đinh Xuân Trạch (sau đổi là Dương), Minh Hồ, Nam Đàn, Tri phủ cáo quan.

Nguyễn Trọng Tuân, Đức Nhuận, Thanh Chương.

Nguyễn Ước, Minh Hồ, Nam Đàn.

Lê Trọng Tiệp, Xuân Hồ, Nam Đàn, Tri phủ cáo quan.

Nguyễn Vỹ, Tràng Cát, Nam Đàn.

Trần Đăng Đạo, Hương Cần, Quỳnh Lưu.

Khoa Đinh Dậu (Thành Thái thứ 9,1887)(3):

Hồ Thúc Linh, Quỳnh Đôi, con của Phó bảng Hồ Bá Ôn.

Vũ Văn Tuấn, Lý Trai, Diễn Châu.

Mai Huy Dư, Giai Lạc, Yên Thành.

Nguyễn Đức Đàm (tức Giảng), Cẩm Trường, Nghi Lộc.

Nguyễn Thái Du, Yên Tứ, Lương Sơn (sau là Đô Lương).

Nguyễn Vỹ, Tiên Hội, Thanh Chương.

Nguyễn Tiên Du, Yên Dũng Thượng, Nghi Lộc.

Lê Xuân Mai, Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu.

Hồ Nhuận, Thiện Kỵ, Quỳnh Lưu.

Đặng Thọ Trưng, Kim Khê, Nghi Lộc.

Phạm Huy Lương, Phượng Cương, Nghi Lộc.

Lê Văn Tường, Kim Khê Thượng, Nghi Lộc.

Trần Văn Tiến (tên cũ là Trọng Khiêm), Hiến Lạng, Nam Đàn.

Nguyễn Thúc Đồng, Yên Dũng Thượng, Nghi Lộc.

Khoa này Nghệ An còn có các vị sau đây đỗ Cử nhân ở trường thi Thừa Thiên:

Nguyễn Thúc Đồng, Yên Dũng, Nghi Lộc.

Lê Huy Thản, Kim Khê Thượng, Nghi Lộc.

Ngô Khắc Vịnh, Mỹ Dụ, Hưng Nguyên.

Nguyễn Trọng Uyển, Xuân Hồ, Nam Đàn, Điển tịch, xin nghỉ.

Cao Xuân Xoang, Thịnh Mỹ, Diễn Châu...

Khoa Kỷ Dậu, Duy Tân thứ 3 (1909):

Phan Võ, Yên Nhân, Yên Thành, năm canh Tuất (1910) đỗ Phó bảng, Đốc học.

Nguyễn Xuân Xưởng, Dương Liễu, Nam Đàn, Giáo thụ.

Bùi Hữu Tuy, Thanh Thủy, Nam Đàn, năm Canh Tuất (1910) đỗ Tiến sĩ, Lang trung bộ Lại.

Trần Cần, Vĩnh Tuy, Yên Thành.

Hồ Sĩ Du, Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu.

Phạm Thâm, Trương Giáp, Yên Thành, Huấn đạo Nam Đàn.

Nguyễn Xuân Ích, Xuân Hồ, Nam Đàn.

Cao Hữu Hưng, Thịnh Mỹ, Diễn Châu.

Cao Huy Nhu, Vạn Lộc, Nghi Lộc, năm Bính Thìn (1916) đỗ Tiến sĩ.

Nguyễn Tài Triển, Xuân Hồ, Nam Đàn.

Nguyễn Cảnh Nhuận, Đức Thịnh, Nghi Lộc.

Nguyễn Khắc Niệm, Xuân Liễu, Nam Đàn, Tri huyện Tiên Phước (Quảng Nam).

Tạ Quang Viêm, Nam Kim, Nam Đàn .

Xem ra, các ông Cử đất Nghệ, rất ít vị được bổ làm quan cai trị. Mà nếu có thì phần đông là không được lòng các Chính phủ Pháp, Nam nên hoặc bị cách, hoặc cáo việc, xin về.

   

 

  Chú thích

(1).  Nay, tại thành phố Vinh có một đơn vị cư dân mang tên là "Phường Trường Thi".

(2). Đáng ra có khoa Kỷ Dậu (1849) nhưng vì vừa có khoa Mậu Thân (1848) là ân khoa.

(3). Không có khoa Ất Dậu (1885) vì đã có Ân khoa Giáp Thân (1884).  

Hoàng Ngọc Cương

1. Bối cảnh lịch sử

Bước vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, lịch sử Việt Nam có nhiều thay đổi quan trọng, đó là sự xác lập hệ thống cai trị của thực dân Pháp, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội, triều đình phong kiến đã mất đi vai trò lãnh đạo nhân dân và dẫn dắt bước đi của lịch sử dân tộc. Nằm trong quy luật biến đổi chung đó, nền giáo dục khoa cử Việt Nam cũng bắt buộc phải có những thay đổi để kịp thời "tiến kịp các nước văn minh". Chúng ta đều biết rằng, nền giáo dục khoa cử từ chương chữ Hán bộc lộ rõ nét và tận cùng những hạn chế, không hợp thời chính là vào những thập niên cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, song chế độ thực dân phong kiến vẫn duy trì. Gương Nhật Bản duy tân, Trung Quốc phế bỏ văn bát cổ đã truyền đến nước ta. Chính những người sĩ phu Việt Nam yêu nước đã hô hào phế bỏ khoa cử, đòi mở mang dân trí, chấn hưng dân khí, nuôi dưỡng dân tài. Chính điều này đã buộc chính quyền thực dân phong kiến phải có những hành vi điều chỉnh trong chính sách giáo dục.

Với hàng loạt những quyết định quan trọng của chính quyền thực dân Pháp và triều đình phong kiến, đã tạo điều kiện cho sự cải lương và dần dần đi đến chấm dứt hẳn nền giáo dục khoa cử tại Việt Nam. Ngày 27 - 04 - 1904 (Thành Thái năm thứ 16), ban hành nghị định thiết lập Nha Học chính Bắc kỳ. Tháng 2 năm 1906 (Thành Thái năm thứ 18), ban hành nghị định thiết lập Nghị học Hội đồng, cải định các khoản về phép học phép thi ở Bắc kỳ. Ngày 31- 05- 1906, phụng thượng dụ cải định Trung kỳ Học pháp. Cũng trong năm này, vào ngày 14 tháng 9, toàn quyền phụng dụ thi hành. Lại ngày 16 tháng 11 năm ấy, thống sứ Bắc kỳ tuân phụng các khoản của nghị định thượng dụ. Đó là thời kỳ biến đổi thứ nhất của học hiệu. Sau khoa thi Hương năm Bính Ngọ (1906) là thời kỳ cáo chung của văn bát cổ. Theo tấu chương ngày 06 tháng 7 năm 1906 (Thành Thái năm thứ 18) của Viện Cơ Mật về cải lương giáo dục và quy thức phép thi mà Nghị học Hội đồng thương nghĩ và đã được phê chuẩn.

Chương trình cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán kéo dài trong một quãng thời gian hơn một chục năm (từ 1906 đến 1919) với ba cấp học: Ấu học - Tiểu học - Trung học đã kết thúc bằng khoa thi Tiến sĩ cuối cùng trong lịch sử khoa cử chữ Hán ở Việt Nam - khoa Kỷ Mùi, niên hiệu Khải Định năm thứ tư, năm 1919. Một trong những tiền đề quan trọng để tạo điều kiện cho sự chấm dứt chế độ giáo dục khoa cử Việt Nam chính là Thánh dụ về việc bãi bỏ phép khoa cử của vua Khải Định ban ra ngày mùng 4 tháng 11 năm Khải Định thứ 3 (1918). Thánh dụ bãi bỏ phép khoa cử của vua Khải Định là dấu chấm hết cho nền giáo dục khoa cử Việt Nam, đặc ân cuối cùng mà triều đình ban cho các sĩ tử chính là khoa thi Tiến sĩ cuối cùng được tổ chức vào năm Khải Định thứ 4 (1919).

2. Đôi nét về khoa thi Tiến sĩ cuối cùng - Kỷ Mùi - Khải Định 4 (1919)

2.1. Tên gọi khoa thi

Khoa thi tiến sĩ năm Kỷ Mùi - Khải Định thứ 4 (1919) là khoa thi vẫn diễn ra theo đúng thông lệ quy định của triều đình. Nhưng đây là một khoa thi hết sức đặc biệt, vì khoa thi này là khoa thi tiến sĩ cuối cùng của chế độ khoa cử phong kiến Việt Nam. Và đặc biệt hơn là khoa thi này do chính nhà vua gia ơn và đặt tên cho khoa thi, đó là khoa "Ngự tứ ân khoa". Sách Khải Định chính yếu có chép về việc này như sau:

"Năm Khải Định thứ 4 (1919). Mùa Xuân, tháng Giêng, chuẩn lấy khoa thi Hội năm nay làm Ngự tứ ân khoa. Bấy giờ Bộ học đệ phiến trình về thể thức kỳ thi Hội năm nay tâu lên đợi chỉ. Vua phê rằng: Lần này là khoa thi Hội cuối cùng của triều đình, nên Trẫm muốn gia ân cho sinh viên sĩ tử khoa mục trong cả nước, hễ ai thông thạo cả hai thứ chữ Nho và chữ Pháp, thì trình qua Bộ học để xin vào ứng thí, lấy tên khoa là Ngự tứ ân khoa, để sau này lập ra Hội Hàn lâm. Truyền tuyển chọn quan Thư tịch để mở rộng đường cho kẻ sĩ. Truyền cho các quan Đại thần Cơ mật nghị bản ổn thỏa phúc tâu lên đợi chỉ(1)".

Như vậy, khoa thi tiến sĩ cuối cùng, Kỷ Mùi - Khải Định 4 (1919) là một khoa thi do chính nhà vua "gia ân cho sinh viên sĩ tử khoa mục trong cả nước", tên khoa là Ngự tứ ân khoa (Khoa thi vua đặc ân ban thêm).

2.2. Đối tượng dự thi

Vậy để được tham gia kỳ thi tiến sĩ cuối cùng này thì đối tượng dự thi bao gồm những ai? Cũng chính trong bài phê, vua Khải Định đã giới hạn đến đối tượng được tham dự kỳ thi này như sau: "Trẫm muốn gia ân cho sinh viên sĩ tử khoa mục trong cả nước, hễ ai thông thạo cả hai thứ chữ Nho và chữ Pháp, thì trình qua Bộ học để xin vào ứng thí"(2).

Như vậy, đối tượng dự thi là "những người thông thạo cả hai thứ chữ Nho và chữ Pháp". Nhưng sau đó, để mở rộng và thu hút thêm đối tượng dự thi thì "Viện Cơ mật đã có phiến trình tâu xin tại các tỉnh Trung kỳ, mỗi tỉnh xét cử hai người là Tú sĩ tại quê quán có thực tài đồng thời tinh thông cả chữ Nho và chữ Pháp đưa lên để Hoàng thượng tuyển chọn"(3).

Về vấn đề này, vua Khải Định đã phê rằng: "Đường khoa cử kén chọn nhân tài của nhà nước nay đã bắt đầu thực hiện cải lương. Trẫm cảm nghĩ đối với lớp cựu hiền thì đã hết đường tiến mà tân học lại chưa được thuần, hoài bão ôm ấp mãi mà không gặp thời. Khoa cử gần đây cũng có nhiều thiên tư, có người vì nghèo khó bức bách mà không được tới trường, hoặc có tới được trường thì lại không trúng ý quan. Lại có trường hợp tài học của quan lại không bằng được sinh viên, từ đó dẫn tới nhiều người suốt ngày ôm hận, mà nhà nước muốn giăng lưới tuyển tài như ngày xưa cũng không được. Nên cần để cho những người hiền bị bỏ sót trong dân đã hiểu được ý trẫm. Nay theo như lời trình xin trong tờ phiến thì tuy chưa hoàn toàn trúng với ý của trẫm, nhưng ý kiến bàn thêm đã nhất trí nên tạm chuẩn y cho"(4).

Điều này cho thấy, triều đình và vua Khải Định rất quan tâm đến việc mở rộng và tuyển chọn nhân tài thông qua khoa thi tiến sĩ cuối cùng này, đối tượng dự thi đã được mở rộng, từ những người nghèo khó bức bách, cho đến cả những vị Tú sĩ tại quê quán, miễn là họ có thực tài và đồng thời tinh thông cả chữ Nho và chữ Pháp, mặc dù "từ nay chợ văn chương thôi không họp nữa, ai còn gồng gánh nặng nhẹ quẩy về mà giờ xoay nghề khác… gồng nào gánh nấy đã vợi cả rồi, nên nghe tiếng trống, tuy không ai vui mà cũng chẳng ai buồn, ai cũng biết rằng buổi chợ này là buổi chợ chiều mà đồ hàng kia không còn phải là đồ hàng bán được trên thị trường thế giới"(5), và "Phủ thống sứ Bắc kỳ có nói trước cho Bộ học trong Kinh biết rằng người nào đỗ tiến sĩ hay phó bảng, tuy vẫn còn giữ các danh dự cũ mà không đủ quyền được bổ vào quan trường như trước nữa. Quan trường ngoài Bắc kỳ đã sửa đổi theo các chương trình học mới, không có ngạch nào riêng cho các ông nghè ông bảng sang năm"(6).

2.3. Lịch thi, phép thi và nội dung thi

Kỳ thi Hội cuối cùng này trong lịch sử khoa cử Việt Nam diễn ra như sau:

Ngày thi: 1/4/1919.

Ngày ra bảng trúng cách: 28/4/1919.

Ngày: 15/5/1919, thi Đình.

Trong khoa này, phép thi được sửa đổi như sau:

Trường thứ nhất: Văn sách 5 đạo. Kinh 1 đề; truyện 1 đề; thời vụ 1 đề; Nam sử 1 đề; sử Thái tây 1 đề.

Trường thứ hai: Chiếu 1 đề; biểu 1 đề; từ trát 1 đề.

Trường thứ ba: Toán pháp 2 đề; thiết vấn luận quốc ngữ 1 đề.

Trường thứ tư: Quốc ngữ dịch ra chữ Tây 1 đề; chữ Tây dịch ra chữ Hán 1 đề; luận chữ Tây 1 đề.

Người nào mà 4 trường hoặc 3 trường cộng lại được 40 điểm trở lên sẽ là trúng cách. Còn trường thi chữ Tây từ 1 điểm trở lên được tính là số lẻ.

Như vậy là trong kỳ thi này, thí sinh vừa thi bằng chữ Hán, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Các ngôn ngữ văn tự này đều được sử dụng ở phong cách viết. Sau đây là sự phân chia cách dùng ở các thể loại văn bài về mặt ngôn ngữ văn tự.

Hán văn dùng ở văn sách, chiếu, biểu, từ trát, chọn trong hai trường đầu (tức Đệ nhất trường và Đệ nhị trường).

Chữ Quốc ngữ được sử dụng ở các môn Toán, luận thiết vấn, dịch ra chữ Tây (tức Đệ tam trường).

Chữ Pháp, Pháp ngữ (chữ Tây) được sử dụng ở môn Quốc ngữ dịch ra chữ Tây, chữ Tây dịch ra chữ Hán, luận chữ Tây (tức Đệ tứ trường).

Như vậy ở hai trường sau (tức Đệ tam trường và Đệ tứ trường) dùng cả chữ Hán, Quốc ngữ và chữ Tây(7).

Trong kỳ Điện thí, vua thân hành ra đề sách vấn các Cống sĩ tại điện Cần chánh.

3. Các vị đại khoa xứ Nghệ đỗ trong kỳ thi tiến sĩ cuối cùng (1919)

Trong khoa thi tiến sĩ cuối cùng này, danh sách yết bảng cho biết có tổng số người đậu là 23 người, trong đó có 7 ông tiến sĩ và 16 ông phó bảng. Nhưng lẽ ra con số thi đậu sẽ không được như vậy nếu như không có sự "gia ân" của quan trường thi và nhà vua. Sách Khải Định chính yếu cho biết như sau:

"Mùa Hạ, tháng 4, kỳ thi Hội tiến hành xong xuôi, quan trường thi gia ân lấy thêm 3 quyển thi bị thiếu điểm. Bộ học tâu trình lên, vua phê rằng: Kỳ thi năm nay là khoa thi cuối cùng, đường khoa cử từ đây dứt hẳn. Trẫm nghĩ rằng quy chế cựu học đã không còn đáp ứng được điều mong muốn, trong khi con đường tương lai của tân học đang thênh thang mở rộng trước mặt. Lần này đặc cách gia ân cho sĩ tử được vào thi Hội là bởi trẫm thương những người cựu học khổ công đèn sách những mong được tuyển chọn ra làm quan. Nay quan trường thi tuân theo phép tắc mà chỉ hạn chế tuyển chọn số người như thế là đúng, nhưng lòng trẫm vẫn thấy thương xót người hiền mãi không thôi. Căn cứ vào thỉnh cầu của quan Bộ học xin gia ân lấy thêm 3 quyển thi là rất hợp, nhưng trẫm nghe nói vẫn còn 2 quyển nữa mà điểm số về văn về lý cũng không thấp hơn 3 quyển kia, vậy mà không được dự lấy thêm, như thế là chưa công minh. Vậy truyền lấy thêm cả 2 quyển này vào cộng làm 5 quyển dâng lên ngự lãm, đợi sẽ có chỉ gia ân riêng(8)".

Như vậy là có đến 5 quyển thi được quan trường thi và nhà vua xem xét gia ơn để chọn thêm, mặc dù chúng ta không biết trong số 23 người thi đậu đó, ai là những người thuộc diện "gia ơn" này, nhưng dù sao đó cũng là một trong những đặc ân và là vinh hạnh cho những ai thuộc trong số đó.

Trong kỳ thi này, lấy đỗ 7 ông tiến sĩ, 16 ông phó bảng. Trong tổng số 23 người đỗ lần này, thì riêng xứ Nghệ có đến 7 người, chiếm gần 30%. Và trong số 7 vị Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân thì xứ Nghệ có 1 vị, đó là Tiến sĩ Lê Văn Kỷ. Danh sách 7 vị người xứ Nghệ đỗ trong kỳ thi Tiến sĩ cuối cùng (1919) như sau(9):

Như vậy, trong số 7 người ở xứ Nghệ thi đỗ trong kỳ thi này thì có 1 người đỗ Tiến sĩ là Lê Văn Kỷ, 6 người còn lại đỗ Phó bảng. Và cũng trong 7 người thi đỗ nói trên thì có 3 người là Tú tài được dự thi, 4 người còn lại đều là cử nhân. Người đỗ nhỏ tuổi nhất là cụ Hà Văn Đại, đỗ năm 21 tuổi, người lớn tuổi nhất là cụ Trần Nguyễn Trinh, đỗ năm 39 tuổi.

4. Văn bài thi của một vị đại khoa xứ Nghệ

Trong rất nhiều các văn bài của sĩ tử xứ Nghệ, chúng tôi xin lựa chọn bài thi của Phó bảng Trần Nguyên Trinh, để chúng ta thấy được bài thi của một vị Phó bảng là như thế nào.

Nguyên văn:

擬 今 場 臣 奏 請 今 科 中 格 殿 試 後 恭 俟 國 朝 紀 念 節 拜 慶 俾 知 榮 感 疏 。

欽 差 文 會 試 場 臣 等 謹 奏 擬 請 緣 繇 恭 摺 具 奏 候 旨 事 。 竊 文 : 人 才 國 家 之 元 氣 , 科 目 士 子 之 坦 途 。 古 者 三 物 興 賢 , 四 科 取 士 。 博 求 於 科 場 中 ,將以黼黻皇猷,笙鏞政化,非 徒 為 炫 耀 也 。 奉 我 世 祖 高 皇 帝 創 業 艱 難 , 大 定 後 未 遑 他 務,首 開 鄉 試 科 。 嗣 此 而 明 命 年 間 會 試 , 嗣 德 年 間 殿 試 , 賢 路 廣 焉 。 迨 我 景 尊 純 皇 帝 中 興 伊 始 , 廣 闢 科 途 。 一 時 士 夫 預 入 格 者 , 鰲 頭 中 選 , 鴈 塔 題 名 ,其 榮 貴 為 何 如 。 數 百 年 來 待 士 之 恩 格 厚 矣 。 奉 我 皇 上 臨 御 來 茲 , 繼 志 述 事 。 念 祖 尊 締 造 艱 勞 , 以 有 今 日 倣 歐 美 文 明 國 例 , 以 嘉 隆 元 年 五 月 初 二 日 為 紀 念 節 。 是 日 為 紀 念 之 第 一 日 , 而 今 科 為 最 後 之 一 科 。 殿 試 期 又 與 紀 念 節 相 值 ,臣 等 謹 俟 至 日 拜 慶 , 俾 知 榮 感 。 多 士 詞 壇 白 戰 , 必 當 思 崑 崙 富 國 血 戰 之 殊 勞 , 筆 陣 爭 雄 , 當 深 念 南服 北 河 競 爭 之 武 烈 。 況 綠 袍 花 笏 , 世 路 之 榮 , 即 結 綵 懸 旗 , 國 恩 之 感 也 。 諸 士 日 將 有 天 下 國 家 之 責 。 既 幸 出 身 之 榮 顯 , 又 知 創 業 之 艱 難 , 則 以 身 對 於 國 界 者 , 逢 辰 若 此 , 報 德 謂 何 , 其 發 揚 國 粹 , 點 綴 國 花 , 前 程 未 可 量 也 。 所 有 臣 等 膚 淺 之 見 , 輒 敢 冒 昧 恭 摺 具 奏 , 候 奉 聖 裁 。 謹 奏 !  (陳 元 貞 )

P.Â. [Đề]: Nghĩ kim trường thần tấu thỉnh kim khoa trúng cách điện thí hậu, cung sĩ quốc triều kỷ niệm tiết bái khánh, tỷ tri vinh cảm sớ.

[Làm]: Khâm sai văn Hội thí trường thần đẳng cẩn tấu nghĩ thỉnh duyên dao cung triệp cụ tấu hậu chỉ sự. Thiết văn: Nhân tài, quốc gia chi nguyên khí. Khoa mục, sĩ tử chi thản đồ. Cổ giả, tam vật hưng hiền, tứ khoa thủ sĩ. Bác cầu ư khoa trường trung, tương dĩ phủ phất hoàng du, sinh dung chính hóa, phi đồ vi huyễn diệu dã.

Phụng ngã Thế tổ Cao hoàng đế, sáng nghiệp gian nan, đại định hậu, vị hoàng tha vụ, thủ khai Hương thí khoa. Tự thử nhi Minh Mệnh niên gian Hội thí. Tự Đức niên gian Điện thí. Hiền lộ quảng yên. Đãi ngã hoàng Cảnh tông Thuần hoàng đế, trung hung y thủy, quảng tịch khoa đồ. Nhất thời sĩ phu dự nhập cách giả, Ngao đầu trúng tuyển, Nhạn tháp đề danh. Kỳ vinh quý vi hà như? Sổ bách niên lai, đãi sĩ chi ân cách hậu hĩ. Phụng ngã hoàng thượng, lâm ngụ lai tư, kế chí thuật sự. Niệm tổ tông đế tạo gian lao, dĩ hữu kim nhật. Phỏng Âu Mỹ văn minh quốc lệ, dĩ Gia Long nguyên niên ngũ nguyệt sơ nhị nhật vi Kỷ niệm tiết. Thị nhật vi Kỷ niệm chi đệ nhất nhật. Nhi kim khoa vi tối hậu chi nhất khoa. Điện thí kỳ hựu dữ Kỷ niệm tiết tương trị. Thần đẳng cẩn sĩ chí nhật bái khánh, tỷ tri vinh cảm. Đa sĩ từ đàn bạch chiến, tất đương tư Côn Lôn, Phú Quốc huyết chiến chi thù lao. Bút trận tranh hùng, đương thâm niệm Nam phục Bắc Hà cạnh tranh chi vũ liệt. Huống lục bào hoa hốt, thế lộ chi vinh, tức kết thái huyền kỳ, quốc ân chi cảm dã. Chư sĩ tha nhật, tương hữu thiên hạ quốc gia chi trách. Ký hạnh xuất thân chi vinh hiển, hựu tri sáng nghiệp chi gian nan. Tắc dĩ thân đối ư quốc giới giả, phùng thời nhược thử, báo đức vị hà?Kỳ phát dương quốc túy, điểm xuyết quốc hoa. Tiền trình vị khả lượng dã. Sở hữu thần đẳng phu thiển chi kiến. Triếp cảm mạo muội, cung triệp cụ tấu. Hậu phụng thánh tài. Cẩn tấu!

Trần Nguyên Trinh.

Dịch nghĩa:

Bài sớ xin Hoàng Thượng cho những người trúng cách trường thi năm nay, qua kỳ Đình thí, được chờ dự lễ "Quốc triều kỷ niệm tiết" để tăng thêm phần vinh dự.

Khâm sai trong trường thi Hội, chúng thần cẩn tấu chờ xin chỉ dụ một việc như sau:

Trộm nghĩ, nhân tài là nguyên khí của quốc gia. Khoa mục là đường rộng cho sĩ tử. Thời cổ có "tam vật hưng hiền", "tứ khoa tuyển sĩ". Tìm rộng nơi khoa trường, cầu người theo lễ chế nhà vua, rung chuông cho giáo hóa. Những việc ấy không chỉ là đánh bóng tô điểm mà thôi. Kính nghĩ, Đức Thái tổ Cao hoàng đế triều ta, sáng nghiệp gian nan, sau cuộc thành công, chưa rỗi nghỉ mà lo ngay việc khác. Thoạt đầu mở khoa thi Hương(12). Từ đó cho đến những năm đời vua Minh Mệnh, lại có thêm khoa thi Hội(13). Những năm đời vua Tự Đức, lại có khoa Điện thí, đường cho người hiền rộng mở. Đến đời Đức Cảnh tông Thuần hoàng đế mở cuộc trung hưng, lại mở khoa trường. Sĩ phu một thời lại vào con đường khoa cử. Đầu ngao trúng tuyển, tháo nhạn đề danh. Sự vinh quy đó trang trọng đến mức nào. Mấy trăm năm lại đây, ơn triều đình cho kẻ sĩ trúng cách dày hậu đến mức nào.

Đức Hoàng thượng ta, lâm ngự đến giờ, kế chí thuật sự. Nghĩ tổ tông sáng nghiệp gian lao mới có hôm nay. Phỏng luật lệ các nước Âu Mĩ văn minh, lần đầu tiên quyết định lấy ngày mồng 2 tháng 5 năm Gia Long nguyên niên làm Tiết Kỷ Niệm(14) (Hưng Quốc khánh niệm tiết). Ấy là ngày kỷ niệm lần đầu tiên. Còn khoa thi này lại là khoa thi cuối cùng. Kỳ Điện thí khoa này lại đúng vào dịp Hưng Quốc khánh niệm tiết. Lũ chúng thần kính cẩn xin được chờ đến ngày lễ ấy lạy mừng, để cho tăng phần vinh dự. Để cho những kẻ trên từ bàn đàn giấy trắng luận bàn phải nhớ về những trận huyết chiến nơi Phú Quốc, Côn Lôn năm xưa. Trong cuộc bút trận tranh hùng cần nhớ đến Nam phục Bắc Hà cạnh tranh khốc liệt. Huống hồ, áo bào xanh, trâm hốt hoa, ấy là vinh dự tột cùng cho kẻ sĩ. Cờ treo trống mở, đó là vinh dự cảm nhận quốc ân sâu nặng. Các kẻ sĩ trong chốn trường thi này, đến một ngày nào đó, sẽ ra đời đảm trách công việc quốc gia. Đã may mình xuất thân nơi vinh hiển, cần phải hay thánh chúa sáng nghiệp buổi gian nan. Vì thế, cần phải đem thân mình phụng sự đất nước. Gặp thời chính là lúc này đây.

Thế nào gọi là báo đức? Hãy phát dương quốc túy, điểm xuyết quốc hoa. Tiền trình không sao diễn tả cho hết được.

Chúng thần kiến thức nông cạn, dám mạo muội cung chép ra đây, để chờ thánh xét. Cẩn tấu(15)!

Trần Nguyên Trinh.

5. Về hành trạng của một số ông nghè xứ Nghệ sau khi đỗ đạt

- Phó bảng Đặng Văn Hướng (1887 - 1954)

Đặng Văn Hướng (1887 - 1954), người làng Nho Lâm, xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông xuất thân trong một gia đình nổi tiếng khoa bảng và thanh thế ở vùng Nho Lâm(16). Cha của ông là cụ Hoàng giáp Đặng Văn Thụy, từng giữ chức Tế tửu Quốc tử giám, mẹ ông là cụ Cao Thị Bích, con gái của quan Đông các Đại học sĩ Cao Xuân Dục. Đặc biệt, ông cùng với người anh trai của mình là Đặng Văn Oánh cũng đỗ Phó bảng cùng khoa thi tiến sĩ cuối cùng này.

Đặng Văn Hướng thi đỗ Cử nhân khoa thi Hương năm Bính Ngọ (1906), và đỗ Phó bảng khoa Kỷ Mùi (1919), ông học tiếng Pháp và sau đó thi đỗ bằng Thành chung, nhờ am hiểu cả Pháp văn, Hán văn lẫn Quốc ngữ, cho nên về sau ông đã được bổ dụng làm Huấn đạo, rồi Giáo thụ phủ Diễn Châu, rồi thăng làm Tri phủ, Thị lang Bộ công, Tham tri Bộ hình, Tuần phủ tỉnh Hà Tĩnh.

Sinh thời, Đặng Văn Hướng là một người có tính cách thẳng thắn, trung thực, dám phê phán cả cấp trên của mình là các quan Tây, ông cũng là một người có tinh thần dân tộc mạnh mẽ. Ông không phải là một nhân vật "xu thời nịnh bợ quan Tây" để mong được thăng tiến và sung túc, mà ngược lại, với tinh thần dân tộc và tấm lòng yêu nước thiết tha, ông đã nhiệt tình tham gia vào phong trào của Việt Minh. Ông cùng với các nhân vật Trần Văn Cung, Lê Viết Lương lo toan cho cuộc sống của người dân, đối phó với những yêu sách của quân Nhật, đồng thời bí mật chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa tại Nghệ An. Ông đã cho thay những tên có xu hướng thân Nhật, thân Pháp bằng những người có tinh thần dân tộc và yêu nước, chính vì vậy mà đến khi Cách mạng tháng 8 nổ ra, cuộc chuyển giao cho chính quyền Cách mạng đã diễn ra rất thuận lợi.

Về sau, ông tham gia Việt Minh tại Liên khu 4, sau đó ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra giữ chức Bộ trưởng Không bộ, phụ trách vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh. Trong suốt thời gian từ sau Cách mạng tháng 8 cho đến những năm sau, ông đã cùng với những lãnh đạo ở các vùng Thanh - Nghệ đi khắp các nơi để kêu gọi, hiểu dụ đồng bào góp công, sóp sức cho công cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông mất năm 1954 tại quê nhà. Ông có người con trai là Đặng Văn Việt (sinh năm 1920), từng là Trung tá, Anh hùng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

- Phó bảng Nguyễn Xuân Đàm (1883 - 1953)

Nguyễn Xuân Đàm, hiệu Đông Khê, quê thôn Quần Ngọc, xã Đông Lâm, tổng Nga Khê, huyện Can Lộc (nay là xã Khánh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), thuộc đời thứ 4 của dòng họ Nguyễn Xuân. Sinh năm Quý Mùi (1883), hiệu là Đông Khê, thi đỗ Phó bảng năm Kỷ Mùi (1919). Từ năm 1920 - 1923 được triều đình nhà Nguyễn bổ làm giáo thụ Trường Quốc Tử Giám (Huế). Từ năm 1924 đến năm 1929 được bổ làm tri phủ Đông Sơn (Thanh Hóa). Từ năm 1930 đến năm 1935, giữ chức Tri phủ Tam Kỳ (Quang Nam). Từ năm 1936 đến năm 1940, triều đình Huế điều ông về làm Tri phủ Thăng Bình (Quảng Nam). Cuối năm 1943 được phong hàm Nhị phẩm và sau một thời gian thì về an trí tại quê nhà. Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, ông được chính quyền dân chủ nhân dân mời làm Ủy viên Ban Chấp hành Liên Việt tỉnh Hà Tĩnh kiêm Hội trưởng Hội Liên Việt huyện Can Lộc(17).

"Khi làm quan, ông là người đức độ, liêm khiết, thường giúp đỡ người nghèo. Nghỉ hưu, gia sản không có gì chỉ có một ngôi nhà lợp ngói và ít ruộng vườn. Về hưu, ông nghiên cứu y học, trị bệnh cứu người, thường đến tận nhà thăm người bệnh và kê đơn, bốc thuốc nên được người dân trong vùng quý mến. Ông là người đứng ra huy động nhân dân trong vùng, và đã bỏ nhiều công sức xây dựng, tôn tạo đình làng Quần Ngọc, khắc bia dựng đá tại đình"…

Vào ngày 5 tháng 4, Sở VHTT & DL Hà Tĩnh, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã trao bằng công nhận nhà thờ Phó bảng Nguyễn Xuân Đàm xã Khánh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.

- Phó bảng Hà Văn Đại (1896 - 1964)

Nho sĩ, nhà yêu nước và cách mạng Hà Văn Đại sinh năm 1896 tại xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh), đỗ Cử nhân năm Ất Mão (1915), đỗ Phó bảng năm Kỷ Mùi (1919); trước Cách mạng tháng Tám từng giữ chức Án sát Thanh Hóa, Tỉnh trưởng Hà Tĩnh; sau này từng làm Chánh án tỉnh Hà Tĩnh, Thẩm phán Tòa án nhân dân phúc thẩm Hà Nội và gia nhập Đảng Xã hội Việt Nam (1955), được Nhà nước Việt Nam tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì (1961)… Về cuối đời, trên tư cách nhà Hán học, Hà Văn Đại từng làm cộng tác viên của Viện Văn học, nghiên cứu văn học cổ cận đại Việt Nam và tham gia dịch thuật, biên soạn các sách như Thơ văn Nguyễn Thượng Hiền, Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn, Thơ văn yêu nước Việt Nam, Thơ văn Lý - Trần và dịch sách triết học Hiển học Khổng Mặc của nhóm Hầu Ngoại Lư - Triệu Kỷ Bân - Đỗ Quốc Tường (Trung Quốc)(18)

Nghiệm sinh 69 năm trên cõi đời, nhà yêu nước và cách mạng Phó bảng Hà Văn Đại đã trải qua nhiều thăng trầm, biến cố của lịch sử dân tộc nhưng trước sau vẫn thể hiện là một nhân cách trí thức trung thực, cao sang, suốt đời gắn với sự học, với sách vở và tri thức. Nói riêng trên lĩnh vực dịch thuật Hán Nôm, chỉ với việc dịch sách triết học Hiển học Khổng Mặc và tham gia dịch thơ văn của Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Xuân Ôn,… cũng đã là những đóng góp đặc biệt có ý nghĩa với khoa phiên dịch học và với chính nền văn hóa - văn học nước nhà(19).

6. Kết luận

Như vậy là trong khoa thi tiến sĩ cuối cùng này, sĩ tử xứ Nghệ đã tham gia với số người thi đỗ chiếm tới gần 30% trong tổng số những vị đỗ đạt. Điều đó thể hiện truyền thống hiếu học và học giỏi của sĩ tử xứ Nghệ, nơi đã cung cấp cho dân tộc nhiều nhà khoa bảng tài danh, nhiều kẻ sĩ đức độ, nhân cách lớn. Song, điều đặc biệt hơn là các sĩ tử xứ Nghệ không phải chỉ tham gia kỳ thi để mong đỗ đạt vì cái danh tiến sĩ. Mà hơn thế nữa, sau khi đỗ đạt, các vị tiến sĩ xứ Nghệ với khả năng và tài học của mình, đã được bổ nhiệm vào các chức vụ khác nhau, và trong số họ đã có những người còn tham gia cách mạng, cống hiến tài năng sở học cho dân tộc, chứ không phải khi thời thế đổi thay thì họ lui về ẩn dật hay bàng quan với thế sự đất nước, thật đúng như nhận xét của tác giả sách Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919): "… sĩ tử xứ Nghệ đã nhanh chóng hòa nhập và đi đầu phong trào đánh Pháp, cứu đất nước khỏi ách nô lệ. Đó chính là đạo lý cao đẹp nhất, sáng ngời nhất mà dân tộc ta mãi mãi ghi công"(20). q

 

 

 

 

 

Chú thích

(1). Dẫn theo: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh Khải Định chính yếu, Nguyễn Văn Nguyên dịch, Nxb Thời Đại - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2010, tr.418.

(2). Quốc sử quán triều Nguyễn, sđd, tr. 418.

(3). Quốc sử quán triều Nguyễn, sđd, tr. 418.

(4). Quốc sử quán triều Nguyễn, sđd, tr. 418.

(5). Nam phong tạp chí, số 12, 6/1918, tr. 325 (phần Quốc ngữ).

(6). Nam phong tạp chí, số 17, 11/1918.

(7). Phạm Văn Khoái (2010), Khoa thi Tiến sĩ cuối cùng trong lịch sử khoa cử Việt Nam (Kỷ Mùi, Khải Định năm thứ 4, 1919), Nxb ĐHQG Hà Nội, Hà Nội, tr. 101.

(8). Quốc sử quán triều Nguyễn, Sđd, tr. 419.

(9). Ngoài 7 vị là người xứ Nghệ, 16 vị còn lại là: (1) Nguyễn Phong Di, người huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa, đỗ năm 31 tuổi; (2) Trịnh Hữu Thăng, người Nam Định, đỗ năm 35 tuổi; (3) Nguyễn Cao Tiêu, người Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, đỗ năm 33 tuổi; (4) Bùi Hữu Hưu, người huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, đỗ năm 40 tuổi; (5) Vũ Khắc Triển, người làng Mỹ Lộc, tỉnh Quảng Bình, đỗ năm 37 tuổi; (6) Dương Thiệu Tường, người làng Vân Đình, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội), đỗ năm 25 tuổi; (7) Bùi Hữu Thứ, người làng An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, đỗ năm 31 tuổi; (8) Chu Văn Quyền, người làng An Lai, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, đỗ năm 33 tuổi; (9) Mai Chiểu, người làng Thạch Giản, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, đỗ năm 28 tuổi; (10) Phạm Đình Long, người làng An Tây, huyện Quế Sơn, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, đỗ năm 25 tuổi; (11) Lê Nguyên Lượng, người tổng An Mỹ, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, đỗ năm 25 tuổi; (12) Nguyễn Hà Hoành, người làng La Qua, tổng Hà Nông, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, đỗ năm 25 tuổi; (13) Lê Viết Tạo, làng Nguyệt Viên, huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, đỗ năm 44 tuổi; (14) Nguyễn Ngọc Hoàng, người thôn Tiến Lộc, tổng Kinh Doanh, phủ Ninh Thuận, tỉnh Khánh Hòa, đỗ năm 33 tuổi; (15) Nguyễn Cư, người làng Phù Chính, phủ Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, đỗ năm 21 tuổi; (16) Hoàng Yến, người làng Minh Hương, tổng Vĩnh Trị, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, đỗ năm 31 tuổi.

(10). Kể từ khoa thi năm Ất Sửu, quy định mỗi khoa lấy thêm những người có số điểm gần sát với hạng Đệ tam giáp, nhưng tách riêng thành một bảng phụ, gọi là Phó bảng. Như vậy Phó bảng cũng được chọn luôn trong kỳ thi đại khoa, nhưng về mặt quyền lợi đãi ngộ thì không được bằng những người đỗ chính bảng.

(11). Trong sách Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919), lại chép Đặng Văn Oánh làm "Giáo thụ huyện Yên Nhân". Hai chữ này, nguyên văn chữ Hán viết là 安仁. Theo chúng tôi nên đọc là An Nhơn, vì đây là tên hành chánh thuộc Bình Định. (Xem: Đào Tam Tỉnh, sđd, tr.184).

(12). Dưới thời vua Gia Long, phải đến năm Đinh Mão - Gia Long năm thứ 6 (1807) mới tổ chức được khoa thi Hương đầu tiên của triều Nguyễn, mà cũng chỉ tổ chức được ở những trường thuộc Bắc Hà và Nghệ An, Thanh Hóa. Và mãi cho đến năm Quý Dậu (1813) mới có khoa thi Hương đầu tiên ở Huế và Gia Định.

(13). Dưới thời vua Minh Mệnh, khoa thi Hội đầu tiên của triều Nguyễn mới được mở, đó là khoa thi năm Nhâm Ngọ - Minh Mệnh thứ 3 (1822), khoa thi này chỉ lấy đỗ có 8 vị Tiến sĩ.

(14). Về đặt ngày 2 tháng 5 làm tiết Kỷ Niệm, sách Khải Định chính yếu, sơ tập, quyển 1 có chép như sau: "Năm Khải Định thứ 4 (1919), tháng 4, chuẩn đặt tên gọi tôn kính ngày lễ Kỉ niệm là lễ Khánh niệm Hưng Quốc… Nước ta mới định đặt ra một ngày lễ Kỉ niệm, đó là ngày đầu tiên Thế tổ Cao hoàng đế triều ta khai sáng ra sự nghiệp lớn lao để lại cho muôn đời sau. Trẫm xét thấy thần dân khắp trong nước được tin ấy ai cũng hân hoan mừng rỡ tuân hành, thậm chí có nơi bỏ qua cả ngày tết Đoan dương để vui mừng tổ chức ngày Kỉ niệm này. Điều đó chứng tỏ đức trạch to lớn của Liệt thánh đã thấm đượm sâu sắc trong lòng dân chúng, cũng còn cho thấy tấm lòng thuần hậu của dân ta hướng tới văn minh và đức hóa của triều đình, khiến trẫm vô cùng mừng rỡ và càng thêm phần tin yêu. Nhưng nếu chỉ dùng hai chữ "Kỉ niệm" không thôi thì e lẫn lộn và chưa hợp với nguyện vọng của nhân dân. Để ghi lại ngày vui mừng và thể hiện lòng ghi tạc không quên thì chi bằng đặt cho một cái tên gọi đẹp đẽ để lưu truyền mãi mãi. Vì vậy hai chữ "Kỉ niệm" sẽ phong cách gọi ngày lễ Kỉ niệm Chính Trung mà tôn kính gọi là lễ Khánh niệm Hưng Quốc. Truyền thông lục cho khắp trong ngoài đều biết để tuân hành" (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh Khải Định chính yếu (bản dịch), Nxb Thời Đại, Hà Nội, tr.229 - 230.)

(15). Bản dịch của Phạm Văn Khoái, chúng tôi có chỉnh sửa một đôi chỗ.

(16). Xem thêm: Đào Tam Tỉnh (2000), "Họ Đặng Nho Lâm ba cha con đại khoa hai anh em đồng khoa", in trong Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919), Sở VHTT Nghệ An, 2000, tr. 164 - 165.

(17). Dẫn theo: Bảo tàng Hà Tĩnh (2013), Lý lịch di tích nhà thờ Nguyễn Xuân Đàm (xã Khánh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), Hồ Bách Khoa lập, tr.2.

(18). Xin xem mục từ số 39 - Hà Văn Đại, in trong Nhân vật lịch sử họ Hà Nghệ Tĩnh (Tư liệu phục vụ Hội thảo khoa học "Tướng quân Hà Mại và một số nhân vật tiêu biểu họ Hà Nghệ Tĩnh thời trung, cận đại). Tài liệu đánh máy, 2013, tr.78-82.

  (19). Thông tin bài viết về Phó bảng Hà Văn Đại, chúng tôi trích dẫn từ kết quả nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Kim Sơn trong bài viết: "Phó bảng Hà Văn Đại với những công trình dịch thuật". Tài liệu này được in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học "Tướng quân Hà Mại và một số nhân vật tiêu biểu họ Hà Nghệ Tĩnh thời trung, cận đại". Tài liệu đánh máy, 2013, tr.78-82. Bài viết này do bác Hà Văn Sĩ cung cấp cho chúng tôi. Nhân đây xin được gửi lời cảm ơn đến bác cùng tác giả bài viết.

(20). Đào Tam Tỉnh (2000), Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919), Sở VTTT Nghệ An, Nghệ An, tr. 55.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyen Khac Can, Pham Viet Thuc, Knowledge of Vietnam in the past through 700 pictures, Information and theory publishing house, Ha Noi, 1992.

2. Thái Kim Đỉnh, Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh (từ đời Trần đến đời Nguyễn), Hội Liên hiệp VHNT Hà Tĩnh, Hà Tĩnh, 2004.

3. Ninh Viết Giao, Từ điển nhân vật xứ Nghệ, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2008.

4. Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919), Sở VHTT Nghệ An xuất bản, Nghệ An, 2000.

5. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh Khải Định chính yếu, Nguyễn Văn Nguyên dịch, Nxb Thời Đại, Hà Nội, 2010.

6. Phạm Văn Khoái, Khoa thi Tiến sĩ cuối cùng trong lịch sử khoa cử Việt Nam (Kỷ Mùi, Khải Định năm thứ 4, 1919), Nxb ĐHQG Hà Nội, Hà Nội, 2010.

7. Lê Trọng Ngoạn, Ngô Văn Ban, Nguyễn Công Lý, Lược khảo và tra cứu về Học chế Quan chế ở Việt Nam từ 1945 về trước, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1997.

8. Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, In lần thứ 4, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1997.

9. Bùi Thiết, Từ điển Hà Tĩnh, Sở VHTT Hà Tĩnh xuất bản, Hà Tĩnh, 2000.

10. Ngô Đức Thọ (chủ biên), Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 - 1919, Nxb Văn học, Hà Nội, 2006.

11. Dương Bá Trạc, "Khảo cứu về sự thi ta", Tạp chí Nam Phong, IV, 5/1919, tr.373 - 385, 1919.

12. Tạp chí Nam Phong.

Hoàng Anh Tài

1. Vài nét về trang trại trên địa bàn Nghệ An

Theo Bách khoa toàn thư: "Trang trại hay nông trại, nông trang là một khu vực đất đai có diện tích tương đối rộng lớn (có thể bao gồm cả hồ, sông, đầm, đìa, rạch...), nằm ở vùng đồng quê, thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng của cá nhân, tổ chức dùng để sản xuất nông nghiệp, như trồng lúa, ngũ cốc, làm ruộng (gọi là điền trang), sản xuất lương thực, thực phẩm, chăn bò, chăn ngựa, chăn cừu, nuôi gà, dê, heo..., nuôi trồng thủy, hải sản, sản xuất sợi đay, bông... hoặc chuyên dụng cung cấp nguyên liệu cho các ngành nông nghiệp,công nghiệp và dịch vụ"(1).

Trên địa bàn Nghệ An, trang trại xuất hiện nhiều từ thời Lý, Trần:

Năm 1041, Lý Nhật Quang - con vua Lý Thái Tổ được cử vào làm Tri châu Nghệ An. Ông đã tổ chức khai mở được 5 châu, 22 trại, 56 sách. Số đất đai này tập trung dọc sông La, sông Lam, vùng Nam Kim (Nam Đàn), Cự Đồn (Con Cuông), vùng Khe Bố, Vĩnh Hòa (Tương Dương)(2), v.v. Ghi nhớ công ơn của Lý Nhật Quang, trên địa bàn tỉnh Nghệ An từng có tới 36 điểm thờ Ông làm thành hoàng làng.

Ở thời Trần (1225-1400), trang trại càng được khai mở nhiều hơn, do chính sách phong cấp điền trang, thái ấp cho các thân vương, quí tộc và những người có công lao lớn đối với vương triều Trần, hoặc để sản xuất lương thảo phục vụ cho triều đình trong các cuộc chống ngoại xâm:

- Tĩnh Quốc vương Trần Quốc Khang trong thời gian cai quản châu Diễn đã tổ chức nhân dân địa phương khai mở ra nhiều vệ sở (đồn điền).

Năm 1378, đời Trần Phế đế, Hồ Hồng làm chức Đội trưởng đã cùng các ông Nguyễn Thạc, Hoàng Khánh chiêu tập dân phu, mở mang đất đai, lập nên Thổ Đôi trang (tiền thân của làng Quỳnh Đôi nổi tiếng sau này).

Vào những năm cuối đời Trần, Hoàng hậu Trần Thị Ngọc Hào (vợ vua Trần Duệ Tông) đã cùng con gái là Công chúa Huy Chân và 572 tùy tùng tìm về quê ở huyện Thổ Hoàng (Hương Khê) cùng nhân dân địa phương khai phá đất đai, lập nên nhiều trang trại. Số ruộng đất do Bà tổ chức khai mở, sau này trở thành ruộng đất công làng xã lên tới 3.965 mẫu. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh (1418-1428), trang trại của Hoàng hậu Trần Thị Ngọc Hào là một trong những cơ sở cung cấp lương thảo cho nghĩa quân Lê Lợi.

Ở thời Hậu Trần, công cuộc khai mở điền trang cũng diễn ra dọc vùng hạ lưu sông Lam, từ Yên Lưu (Hưng Hòa) xuống tận Hói trại (Cửa Hội), mà người chủ xướng và tổ chức thực hiện là bà Vương Mẫu Phạm Thị Ngọc Dung.

Thần tích đền thờ Vương Mẫu tại xã Nghi Thái (huyện Nghi lộc), cho biết: Bà Phạm Thị Ngọc Dung (hậu duệ của Thành quốc công - thân phụ Tiến sĩ Phạm Huy), người làng Đức Hậu (nay thuộc phường Hưng Lộc - thành phố Vinh) được triều đình nhà Trần chọn làm nhũ mẫu cho Hoàng tử Trần Dực Tôn - con vua Trần Nghệ Tông (1370-1372). Về sau, Trần Dực Tôn lên ngôi vua, đổi gọi là Trần Duệ Tông (1373-1377). Cuối thời nhà Trần, do tình hình triều chính rối ren, bà Phạm Thị Ngọc Dung xin lui về sống ở quê nhà. Thấy cảnh dân tình điêu linh, bà đã tổ chức cho tùy tùng của mình cùng người dân trong vùng khai phá đất hoang, lập nên nhiều trang trại. Cảm công đức của Vương Mẫu, nhiều người xin được đổi sang họ Vương theo danh vị của Bà? Và lập đền thờ sau khi bà Phạm Thị Ngọc Dung qua đời, gọi là đền Vương Mẫu, (hoặc là đền Ô Gà). Tuy đền không còn đến ngày nay, nhưng nhiều bậc cao niên ở địa phương vẫn còn nhớ nội dung đôi câu liễn từng treo trong đền:

"Đức quân Trần cung thiên khải thánh

Quang khai Vương phố địa chung linh".

(Nghĩa là: Đức trùm cung Trần, trời sinh thánh/ Sáng mở phố Vương đất linh thiêng).

Trong số các thư tịch cổ liên quan đến đền Vương Mẫu, hiện còn lại bản sắc phong của vua Khải Định năm thứ 9 (?), với nội dung, như sau:

"Nghệ An tỉnh, Hưng Nguyên phủ, Đức Quang xã tòng tiền phụng sự, nguyên tặng Linh phù dực bảo trung hưng, Trần triều hiển thánh Vương mẫu Phạm Thị phu nhân tôn thần. Hỗ quốc, tỷ dân, nậm trứ linh ứng, tiết mông ban cấp sắc phong, chuẩn hứa phụng sự. Tứ kim chính trực. Trẫm tứ tuần đại khánh, kinh ban bảo chiếu đàm ân lễ long đăng trật; trước gia tặng Tinh uyển tôn thần. Đặc chuẩn.

Khải Định cửu niên, thất nguyệt, nhị thập ngũ nhật(3).

 Số ruộng đất do Bà khai mở được, theo thần phả đền Vương Mẫu thì ban đầu có trên 700 mẫu,14 xứ đồng. Số đất đai này trải dài theo dọc bờ tả ngạn sông Lam từ Yên Lưu (Hưng Hòa), qua Kiều Thái, Hải Côn (Nghi Thái), đến Cổ Đan (Phúc Thọ) xuống Lộc Châu, Lộc Hải (Nghi Hòa, Nghi Xuân, Nghi Hải). Nhiều địa danh còn lại đến ngày nay, như: Làng Lậm (Nghi Thái), chợ Trụ (Yên Lưu - Hưng Hòa), chợ Trại (Cổ Đan - Phúc Thọ), chợ Trang (Nghi Xuân - Cửa Hội), cầu Đồng Cùng, cầu Bàu Trổ, cầu Đồng Bồn, cầu Đồng Vợi, cầu Đồng Mực, cầu Đồng Toàn, cầu Hói Trại... trên trục đường Vinh - Cửa Hội đã gợi cho ta liên tưởng về một vùng đất xưa kia là trang trại của bà Vương Mẫu Phạm Thị Ngọc Dung.

Trang trại của bà Vương Mẫu không chỉ giúp cho bao người dân vùng hạ lưu sông Lam bớt đi sự nghèo đói, mà còn là nguồn cung cấp lương thảo cho nhà Hậu Trần tiến hành công cuộc kháng chiến chống ách đô hộ của nhà Minh đang diễn ra trên địa bàn Nghệ An và nhiều nơi thời bấy giờ. 

"Cảm công đức của Vương Mẫu, nhiều người xin được đổi sang họ Vương theo danh vị của Bà" (Trích nội dung thần phả). Trong bài phú Thúc ước của làng Lộc Thọ xưa cũng từng có câu:

"Xã Kiên Ngãi trải ngàn năm bền thiết thạch, hợp lòng lại phù Vương,

Dân Bắc hải xa mấy dặm, cách giang sơn, trở đầu về thu hộ".

Cũng có ý kiến cho rằng, tên các làng xưa: Ân Hậu, Đức Hậụ làng Lậm (Nghi Thái) - tương truyền là nơi từng đặt kho lậm chứa thóc lúa của bà Vương Mẫu, là sự ghi nhận của dân gian đối với công đức của Vương Mẫu Phạm Thị Ngọc Dung.

Từ thế kỷ XV trở về sau, công cuộc khai mở đất đai trên địa bàn Cửa Lò, Cửa Hội tiếp tục được đẩy mạnh. Trong đó, có vai trò to lớn của Nguyễn Xí, Nguyễn Sư Hồi; về sau là: Hoàng Thị Lê, Tri công Hoàng Khắc Dòng, Đô đốc tướng quân Phùng Phúc Kiều và tiên tổ của nhiều dòng họ sống trên địa bàn... Nhưng, hầu hết công cuộc khai mở đất đai từ sau thế kỷ XIV, đều gắn với việc hình thành làng xã, chứ không trở thành điền trang, thái ấp như ở thời Trần.

2. "Ba trang, bảy trại" vùng Cửa Hội

Liên quan đến "Ba trang, bảy trại" vùng Cửa Hội; bước đầu chúng tôi có một vài ý kiến, như sau:

Vùng Cửa Hội ngày nay là một dải đất, bao gồm các phường, xã: Nghi Hải, Nghi Hòa, Nghi Xuân, Phúc Thọ; dân cư, đất đai, địa giới hành chính... đã được phân định rạch ròi. Nhưng, trong tiến trình lịch sử, vùng này đã trải qua rất nhiều lần thay đổi về duyên cách địa lý và tên gọi các đơn vị hành chính.

Về kinh tế: Dưới góc độ lịch sử mà xem xét thì so với Cửa Lò, vùng đất Cửa Hội phát triển sớm hơn.

Nếu như Cửa Lò - Cửa Xá được biết đến từ khi Thái úy, Đô đốc, Thập nhị hải môn Nguyễn Sư Hồi tổ chức khai mở (vào khoảng cuối thế kỷ XV), thì Cửa Hội (cửa Đan Nhai, Hội Thống) đã được lịch sử ghi nhận là một thương cảng khá phát triển từ thời Trần (thế kỷ XII, XIII).

Về giao thương: Nếu như "Thượng đạo" là con đường núi nối xứ Nghệ (Nghệ An, Hà Tĩnh) với Lào và các miền trong nước, thì sông Lam đổ ra cửa Đan Nhai là con đường thủy thông ra biển đi tới nhiều miền trong và ngoài nước để thông thương với thế giới bên ngoài. Sử sách cũng ghi nhận: Nhiều thuyền buôn của Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Chân Lạp, Chà Và... từng đi qua Cửa Hội để đến với Phù Thạch phố - đô thị phồn hoa nổi tiếng một thời của xứ Nghệ vào khoảng thời gian cuối Trần đầu Lê. Cũng không ít lần, các quốc gia láng giềng đã đem quân theo đường biển vào Cửa Hội, ngược sông Lam tấn công vào đất Nghệ An. Các triều đại phong kiến nước ta từng cho đặt tại Cửa Hội một đồn trấn thủ làm nhiệm vụ kiểm soát thuyền bè ra vào.

Dựa vào môi trường thuận lợi ấy, vùng Cửa Hội không chỉ là địa bàn thuần túy kinh tế nông nghiệp, ngư nghiệp mà còn là vùng đất sớm phát triển "thương mại", với nhiều ngành nghề, như: Đánh cá, chế biến thủy hải sản, buôn bán, làm muối, vải vóc, tơ lụa và nhiều nghề thủ công truyền thống, như: đóng thuyền, buôn bán gỗ, làm bánh, đan lát... Suốt chiều dài lịch sử, vùng Cửa Hội luôn đóng vai trò là một trong những trung tâm kinh tế của xứ Nghệ (cùng với Phù Thạch ở thời Trần, Lê; Vĩnh Doanh thời cuối Lê đầu Nguyễn).

Sự phồn vinh, sầm uất của vùng biển Đan - Nhai - Cửa Hội đã làm xao lòng bao tao nhân, mặc khách và những vua chúa đã từng kinh lý qua nơi này. Phản ánh sự thanh bình của vùng cửa sông này vào những năm cuối thế kỷ XIX, Hoàng giáp Bùi Dương Lịch (1757-1828) từng có bài thơ Cửa Hội buồm về, như sau:

"Muôn khoảnh tà dương ráng ửng hồng

Thuyền về lớp lớp, hướng theo dòng.

Càng tôm vẩy vẩy chao lòng sóng,

Cánh bướm chờn vờn lóa mắt sông.

Ngàn Cả triều lên, nồm biển dậy,

Song Ngư nước lạnh, bóng chiều buông.

Thanh bình khúc sáo thuyền ai đó,

Trời biển thênh thênh, đẹp lạ lùng".

           (Dịch thơ: Võ Hồng Huy) 

 Về văn hóa, giáo dục:

Trên địa bàn Cửa Hội từng có nhiều dấu vết của văn hóa thời Lý Trần. Ngoài những đình, đền, chùa miếu có tên trong sử sách và ký ức dân gian thì đến nay, giới khảo cổ và nhiều người sưu tầm cổ vật đã phát hiện được nhiều cổ vật gốm, đồng... có niên đại Lý, Trần trở về trước từng ẩn dưới lòng sông, mặt đất, hoặc được nhiều gia đình trên địa bàn lưu giữ.

Tại thôn Lộc Trỉu, thuộc làng Cổ Đan xưa, (nay thuộc xóm 6, xã Phúc Thọ) từng có điện Đông Hải thờ Sát Hải đại vương Hoàng Tá Thốn, nổi tiếng một thời về sự linh thiêng và nguy nga, tráng lệ. Trên địa bàn còn có dòng họ Hoàng thờ Hoàng Khánh (cháu nội của Sát Hải đại vương Hoàng Tá Thốn) - người từng giữ chức Hành khiển quản thủ lộ Diễn Châu ở thời Trần. Phải chăng, trước khi ra lập nghiệp tại Thổ Đôi trang (Quỳnh Đôi - Quỳnh Lưu), quan Hành khiển Hoàng Khánh đã từng có những năm tháng gắn bó với vùng đất Cửa Hội và công trình tâm linh này có bàn tay tạo tác của Ông?

Cùng với họ Hoàng, họ Vương thì trên địa bàn Cửa Hội, còn có nhiều dòng họ khác cũng đã lập nghiệp hàng mấy trăm năm. Họ Trần có nhiều chi nhánh; trong đó một chi họ Trần tại Phúc Thọ có xuất xứ từ họ Trần của vua Trần Trùng Quang.

Trở lại với chủ đề: "Ba trang, bảy trại" ở vùng Cửa Hội.

Gần đây trong một vài bài viết, và lịch sử các phường, xã vùng Cửa Hội đã đề cập đến vấn đề này.

 Trong bài Làng Chính Vị, in trong Tạp chí Khoa học & Công nghệ Nghệ An, số 8/2015, ông Trần Hữu Đức đã đưa ra ý kiến: ... "vùng đất"Ba trang, bảy trại", nay thuộc làng Chính Vị, xã Nghi Xuân, huyện Nghi Lộc"(4).

Mặc dù, tác giả không chỉ rõ địa chỉ cụ thể của từng trang, trại, nhưng đây là một phát hiện khá lý thú; tuy nhiên, chưa thật hoàn toàn chính xác.

Theo chúng tôi: Căn cứ vào các địa danh: Đông trang, Cảnh trang và Mai trang từng có trên địa bàn, thì xã Nghi Xuân ngày nay, xưa là vùng đất "Ba trang", chứ không phải là "Ba trang, bảy trại", như ý kiến của tác giả.

 Tập sách Lịch sử Đảng bộ phường Nghi Hòa (1930-2005), cũng ghi nhận: "Cư dân Nghi Hòa đa phần đến lập nghiệp từ sau thế kỷ XV. Nhân dân thuộc cụm cư dân "Ba trang, bảy trại", do con của Cương quốc công Nguyễn Xí, là quận công Nguyễn Sư Hồi khai phá lập nên"(5).

Thiết nghĩ: Phường Nghi Hòa có thể thuộc vùng "Ba trang, bảy trại", bởi Nghi Hòa,, Nghi Xuân, Nghi Hải từng cùng một xã Ngư Hải xưa. Nhưng, nói: "Do con của Cương quốc công Nguyễn Xí, là quận công Nguyễn Sư Hồi khai phá lập nên" thì không chính xác.

Cũng có người cho biết: Dân cư "Ba trang" xưa đa phần làm nghề cất vó, chài lưới dọc sông Lam và ven biển Cửa Hội, đời sống kinh tế chật vật, việc học hành không mấy phát triển, thường bị cư dân các làng xã trong vùng xem thường, nên, không mấy người muốn nhận mình là dân "Ba trang"? Nếu điều đó có thực thì cũng là chuyện trong quá khứ; còn bây giờ, Nghi Xuân, Nghi Hải, Nghi Hòa đã và đang là vùng đất phát triển về nhiều mặt. 

Về "Bảy trại": Căn cứ vào các địa danh còn tồn tại đến ngày nay thì vùng "Bảy trại" không tập trung hoàn toàn ở một địa phương mà trải dài dọc bờ tả ngạn sông Lam, từ cầu Hói Trại lên cho đến rào Đừng (Đơờng) Hưng Hòa hiện nay; trên dải đất này còn khá nhiều địa danh liên quan đến "trại", như: Hói Trai, hói Trại, cầu Hói Trại, chợ Trại... Những giải ruộng: Đồng Cùng, Bàu Trổ, Đồng Bồn, Đồng Vợi, Đồng Mực, Đồng Toàn... trên trục đường Vinh - Cửa Hội cho thấy xưa kia đây là một địa bàn thuần nông, được hình thành bởi công cuộc khai mở trang trại do bà Vương Mẫu thực hiện vào cuối thời nhà Trần (thế kỷ XIV) và tiếp tục được khai phá, mở mang ở những thế kỷ sau đó. Thầy Trần Vân Nam 75 tuổi (nguyên giảng viên khoa Chính trị - Đại học Vinh) quê ở xã Phúc Thọ và nhiều bậc cao niên trong vùng cũng đồng quan điểm này.  

Trên đây là một vài khám phá bước đầu của chúng tôi về vùng đất "Ba trang, bảy trại". Mong nhận được những ý kiến, bổ sung, chỉ dẫn để có thêm những hiểu biết về vùng đất đang ngày một thay da, đổi thịt này.

 

 

Chú thích

(1). Bách khoa toàn thư mở Wikipedia tiếng Việt 11/11/2016.

(2). Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập I, tr. 288.

 (3). Đào Tam Tỉnh: Địa chí Nghi Lộc.

 (4). Tạp chí Khoa học & Công nghệ Nghệ An; số 8-2016; tr. 41.

  (5). Lịch sử Đảng bộ phường Nghi Hòa (1930-2005); Nxb Nghệ An 2009; tr.10. 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.