« Quay lại

Chuyên san Khoa học xã hội &nhân văn số 12 năm 2016

Trần Quốc Thành - Nguyễn Thị Minh Tú

 

Năm 2016 là năm đầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và tiếp tục tập trung thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020. Được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh uỷ và UBND tỉnh, phát huy tinh thần lao động sáng tạo trong mọi hoạt động, công tác KH&CN đã đạt được một số kết quả ghi nhận.

1. Công tác tham mưu cơ chế, chính sách phục vụ QLNN: Tham mưu kịp thời cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành một số quyết định trong quản lý nhà nước như: Quy chế phân công và phối hợp trong quản lý chất lượng sản phẩm trên địa bàn, sửa đổi quyết định về giải sáng tạo KH-CN, quy định về định mức tài chính thực hiện các đề tài - dự án KH&CN, đặc biệt, tham mưu BCH Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết phát triển KH&CN giai đoạn 2016-2020, định hướng 2025.

2. Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tác động đến đời sống, sản xuất: Hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học đã hướng mạnh đến các doanh nghiệp và cơ sở để ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, đời sống. Tổng số đề tài, dự án KH&CN triển khai thực hiện do Sở quản lý trong năm 85, trong đó: chuyển tiếp 59 đề tài, dự án,;38/59 đề tài, dự án nghiệm thu trong năm 24 đề tài, dự án mới, 2 đề tài giai đoạn 2. Trong năm triển khai 5 dự án cấp quốc gia do Trung ương quản lý hiệu quả (03 dự án chương trình nông thôn miền núi; 01 dự án thuộc chương trình độc lập cấp nhà nước; 01 dự án thuộc chương trình bảo tồn quỹ gen). Một số kết quả nổi bật trên các lĩnh vực:

2.1. Trong lĩnh vực khoa học nông nghiệp

Đã tiến hành khảo nghiệm, thử nghiệm thành công một số loại cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt như: giống lúa thuần và lúa lai mới nhằm bổ sung và thay thế một số giống trong cơ cấu giống lúa hiện nay, giống lạc L27 có năng suất cao, giống gấc lai đen chất lượng tốt, cà chua trái vụ; du nhập giống mới lợn đen siêu đẻ. Một số sản phẩm đã được tập trung nghiên cứu theo chuỗi sản phẩm như trà hoa vàng, mú từn, sâm, chanh leo, lúa japonica, cam,...

Kết quả nghiên cứu khoa học được ứng dụng, nhân rộng mang lại hiệu quả cao: Nhân giống trám đen Thanh Chương ra diện rộng; bộ giống lúa chịu lạnh (Japonica) phù hợp điều kiện khí hậu huyện Quế Phong được tuyển chọn và bắt đầu sản xuất hàng hóa, giống chanh leo, cà chua múi, kỹ thuật nuôi trắm giòn, chép giòn được phát triển; mô hình nuôi cá rô phi lai xa dòng Israel, cá rô phi Đường nghiệp; công nghệ nuôi cá bằng lồng trên hồ thủy lợi, thủy điện (hiện nay nhân rộng rất tốt tại Hủa Na và Khe Bố)nghiên cứu sản xuất trà hòa tan, viên nang từ trà hoa vàng; nghiên cứu, ứng dụng thương mại hóa chế phẩm    Val-A trị bệnh khô vằn;…

Nhờ vậy, các hoạt động KH&CN đã góp phần nâng cao hiệu quả của sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, đưa tổng sản lượng lương thực cây có hạt cả năm đạt 1.206.000 tấn, đạt 100%, bằng 99,31% so với năm 2015.

2.2. Trong lĩnh vực khoa học y dược

Nghiên cứu, ứng dụng và phát triển một số kỹ thuật cao trong khám chữa bệnh: Can thiệp tim mạch, mổ tim hở, phẫu thuật sọ não, cột sống tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An; kỹ thuật lọc máu liên tục cứu sống nhiều bệnh nhi tình trạng bệnh rất nặng, đe dọa tử vong; kỹ thuật can thiệp tim mạch đối với bệnh nhi, chẩn đoán sàng lọc trước sinh tại Bệnh viện Sản nhi; hoàn thành việc đưa kỹ thuật mổ nội soi thường quy vào các bệnh viện tuyến huyện.

Đã nghiên cứu các mô hình bệnh tật nhằm góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân gồm: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học viêm gan B ở trẻ  0 - 16 tuổi; Đề xuất giải pháp quản lý, can thiệp tim bẩm sinh ở trẻ em dưới 16 tuổi; Nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh, các yếu tố nguy cơ và đề xuất các giải pháp can thiệp loãng xương ở người 40 tuổi trở lên tại thành phố Vinh; đề xuất giải pháp can thiệp viêm mũi dị ứng của học sinh trung học cơ sở lứa tuổi 11-14; một số giải pháp can thiệp viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại một số khu công nghiệp;...

Nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật mới trong điều trị một số bệnh: kỹ thuật chụp động mạch vành DSA, để nghiên cứu sự liên quan giữa bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu với tổn thương động mạch vành làm cơ sở cho công tác điều trị bệnh tim mạch; Nghiên cứu ứng dụng phương pháp phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú, nạo vét hạch hệ thống, phối hợp hóa trị liệu trong điều trị ung thư vú tại Bệnh viện Ung bướu.

 Đã ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh như: Ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử trong chẩn đoán bất thường phôi thai, bệnh di truyền, bệnh ung thư; ứng dụng công nghệ tế bào gốc, sản xuất cây dược liệu và thực phẩm chức năng; Nghiên cứu quy trình sản xuất một số sản phẩm từ cây chè hoa vàng góp phần điều trị một số bệnh; Ứng dụng công nghệ sinh học để xử lý nước thải y tế tại các bệnh viện.

2.3. Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn giúp cấp uỷ và chính quyền các cấp, các ngành hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở các ngành và của tỉnh. Trong năm đã đề xuất các giải pháp: Nghiên cứu những tác động của phong tục tập quán các đồng bào dân tộc thiểu số miền Tây Nghệ An đến phát triển kinh tế - xã hội; Nâng cao hiệu quả hoạt động của các lễ hội; Lập hồ sơ khoa học trình và được công nhận Lễ hội đền Chín Gian là di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia; Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng;…

Nghiên cứu KHXH&NV cũng đã tập trung vào việc xây dựng giáo trình, tài liệu phục vụ công tác đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng và phục vụ công tác giáo dục đào tạo như: Nghiên cứu đề xuất đáp ứng nhu cầu về tiêu chuẩn và số lượng của giáo viên trung học phổ thông; Nghiên cứu dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy, học tập dân ca trong trường học; Nghiên cứu tâm lý nghề nghiệp và định hướng đào tạo nghề cho học sinh phổ thông các huyện miền Tây;

Đã tập hợp được đội ngũ cán bộ nghiên cứu KHXH&NV, trong đó có những chuyên gia đầu ngành trong và ngoài tỉnh nghiên cứu những vấn đề về lĩnh vực: Lịch sử, văn hóa, xã hội học, kinh tế của tỉnh từ đó cung cấp các luận cứ khoa học (qua nghiên cứu), thực tiễn (qua điều tra) góp phần vào việc xây dựng những cơ chế, chính sách về nguồn nhân lực; bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa, tuyên truyền giáo dục truyền thống và tôn vinh giá trị văn hóa xứ Nghệ. Thông qua hội thảo khoa học đã góp phần phản biện và đề xuất những định hướng cho quá trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh.

2.4. Trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ

Công nghệ thông tin tập trung nghiên cứu một số phần mềm ứng dụng có hiệu quả như: Hệ thống đảm bảo an toàn thông tin cho cổng thông tin điện tử tỉnh; Mô hình ứng dụng chữ ký số; Phần mềm trong quản lý khám, chữa bệnh trong ngành y tế được tổ chức triển khai mạnh mẽ; Áp dụng CNTT hướng tới chính phủ điện tử - phần mềm HCM egove2.0; Áp dụng dịch vụ công mức độ 3; Xây dựng bản đồ cảnh báo ngập lụt phục vụ công tác chỉ huy phòng chống lũ lụt hạ du hồ chứa nước Vực Mấu;

Lĩnh vực môi trường: tập trung ứng dụng các công nghệ mới, hiện đại trong cảnh báo nguy cơ ngập lụt, đánh giá hiện trạng xả nước thải vào nguồn nước, rủi ro môi trường như: công nghệ viễn thám, công nghệ GIS, mô hình thủy văn, thủy lực thành lập bản đồ nguy cơ ngập lụt; thiết bị và phần mềm quan trắc tự động; nghiên cứu xây dựng bản đồ cảnh báo ngập lụt phục vụ công tác chỉ huy phòng chống lũ lụt hạ du hồ chứa nước Vực Mấu; mô hình xử lý và cung cấp nước sinh hoạt quy mô hộ gia đình tại vùng chưa có nước sạch trên địa bàn tỉnh; Đánh giá rủi ro môi trường tại vùng ven biển.

2.5. Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên

Tập trung bảo tồn, lưu giữ các nguồn gen thực vật (cây lương thực, ăn quả, rau màu, cây lâm nghiệp, dược liệu); nguồn gen vật nuôi; nguồn gen thủy sản. Nguồn gen nhiều loại cây trồng, vật nuôi quý hiếm đã được bảo tồn, khai thác và phát triển như cây mú từn tại huyện Quế Phong, trà hoa vàng, đẳng sâm, sâm    Puaxailaileng, quỹ gen trâu Thanh Chương, bò vàng Nghệ An; quỹ gen lợn đen Sao Va. Điều tra đa dạng sinh học khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt; Đánh giá nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu tại Vườn quốc gia Pù Mát và đề xuất biện pháp bảo tồn, khai thác hợp lý… nhằm phục vụ công tác khai thác và phát triển nhanh các nguồn gen thành sản phẩm thương mại, tập trung khai thác các nguồn gen có đặc điểm quý, giá trị kinh tế thành các giống bổ sung vào cơ cấu giống của tỉnh, tạo ra một số sản phẩm đặc thù, chủ lực của từng địa phương phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.

3. Hoạt động sáng kiến, sáng tạo KH-CN

Năm 2016, Câu lạc bộ sáng chế Nghệ An chính thức được thành lập và đi vào hoạt động, hỗ trợ phát triển phong trào sáng tạo, cải tiến KHKT, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận với các sáng chế, giải pháp hữu ích và công nghệ mới, qua đó thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp. Trong năm có 01 sáng chế được cấp bằng độc quyền sáng chế, đăng ký và được chấp nhận đơn cho 3 giải pháp hữu ích.

Năm 2016 lần đầu tiên đã tổ chức thành công Hội thi sáng tạo KH&CN dành cho thanh niên sinh viên và hỗ trợ khởi nghiệp cho 2 cá nhân có giải cao và có khả năng thương mại (kinh phí tài trợ 230 triệu của quỹ Alba).

4. Hoạt động quản lý nhà nước về KH&CN

4.1. Quản lý công nghệ, sở hữu trí tuệ và an toàn bức xạ

Chấn chỉnh và tăng cường công tác quản lý và quảng bá, phát triển các sản phẩm mang địa danh: Tham mưu ban hành chương trình Sở hữu trí tuệ trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến 2020; Tổ chức hội thảo khoa học về nhãn hiệu tập thể và chỉ dẫn địa lý. Chấn chỉnh công tác quản lý, quảng bá, phát triển chỉ dẫn địa lí cam Vinh, nhãn hiệu tập thể hương trầm Quỳ Châu, nhãn hiệu tập thể chè Nghệ An; nhãn hiệu chứng nhận nước mắm Vạn Phần. Xây dựng nhãn hiệu tập thể gà Thanh Chương góp phần tạo dựng thương hiệu cho sản phẩm Nghệ An.

Công tác quản lý công nghệ, phản biện, thẩm định, tư vấn công nghệ, an toàn bức xạ, hạt nhân ngày càng được chú trọng, quan tâm, đã tạo được sự chuyển biến về nhận thức của toàn xã hội. Đã tư vấn hướng dẫn cho 45 doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ đăng ký bảo hộ về sở hữu công nghiệp, đến nay có 696 đối tượng được bảo hộ, trong đó có 636 nhãn hiệu, 47 kiểu dáng, 4 giải pháp hữu ích và 9 sáng chế - Giúp cho nhiều doanh nghiệp xây dựng quảng bá thương hiệu.

4.2. Công tác chỉ đạo hoạt động KH&CN cấp huyện, ngành

Chỉ đạo 21 huyện, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò và thị xã Thái Hoà thực hiện tốt nhiệm vụ hoạt động KH&CN năm 2016, chỉ đạo các huyện, thành phố, thị xã tổ chức 76 cuộc hội thảo tư vấn; huy động các nguồn kinh phí khác nhau xây dựng trên 120 mô hình nhỏ trên địa bàn các huyện, trong đó có 23 mô hình từ nguồn ngân sách sự nghiệp KH&CN hỗ trợ, một số mô hình đạt hiệu quả tốt.

Thông qua nhiệm vụ hoạt động KH&CN, các huyện, thành, thị đã biên soạn được trên 95 quy trình kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản để cấp phát tới bà con nông dân. Ngoài ra, phối hợp với các đơn vị, trạm, trại trên địa bàn tổ chức trên 1.000 lớp tập huấn kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản cho hàng nghìn lượt người dân; chỉ đạo các huyện viết trên 70 tin, bài phản ánh các hoạt động KH&CN trên địa bàn huyện.

Tổ chức  thành công Hội thi Cán bộ quản lý khoa học và công nghệ cấp huyện năm 2016 với 21 cán bộ của 21 huyện, thành, thị tham gia dự thi và lựa chọn, trao giải thưởng cho 1 giải Nhất, 1 giải Nhì, 2 giải Ba và 3 giải Khuyến khích. Góp phần nâng cao nhận thức, vai trò và trách nhiệm của cán bộ trong tham mưu cho hoạt động KH&CN trên địa bàn.

4.3. Công tác Tiêu chuẩn đo lường chất lượng

Các doanh nghiệp quan tâm áp dụng tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm hàng hoá nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, đấu tranh chống sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, gian lận đo lường, bảo vệ quyền lợi của nhà sản xuất, kinh doanh chân chính và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Các cơ quan hành chính Nhà nước, các doanh nghiệp xây dựng và áp dụng HTQLCL tiên tiến đã có đóng góp tích cực cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa Nghệ An. Đã tiến hành cơ bản xong cài đặt chương trình IC; chủ động đề xuất và phối hợp triển khai kẹp chì đồng hồ tổng các cột bơm xăng dầu trên địa bàn tỉnh.

Công tác thông tin, tuyên truyền phổ biến pháp luật về TCĐLCL được tăng cường: Tổ chức tập huấn phổ biến Thông tư số 15/2015/TT-BKHCN ngày 25/8/2015 của Bộ KH&CN quy định về đo lường, chất lượng trong kinh doanh xăng, dầu tại thành phố Vinh, TX Thái Hòa, huyện Đô Lương với 500 người tham gia. Phối hợp các huyện hướng dẫn, tập huấn văn bản mới về TCĐLCL cho Anh Sơn, Thanh Chương, Đô Lương, Tương Dương, Hoàng Mai và TX Cửa Lò.

4.4. Công tác thanh tra, kiểm tra

Trong năm đã thực hiện 6 cuộc thanh tra chuyên ngành về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm hàng hóa và sở hữu công nghiệp đối với các cơ sở sử dụng phương tiện đo nhóm 2; Thanh tra các cơ sở kinh doanh xăng dầu; Thanh tra về thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của các huyện, thành thị; thanh tra đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ; thanh tra về TCĐLCL nhãn hàng hóa, mã số mã vạch và sở hữu công nghiệp đối với hàng đóng gói sẵn. Tổng số cơ sở đã thanh tra là 177 cơ sở, tổng số cơ sở vi phạm bị xử lý 42  với tổng số tiền xử phạt trên 246 triệu đồng. Qua các cuộc thanh tra, chủ động phát hiện các sai phạm và đã kịp thời xử lý nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý; đồng thời tăng cường hướng dẫn, tuyên truyền cho các cơ sở có liên quan các kiến thức thiết thực nhằm nâng cao nhận thức, tự giác thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật.

4.5. Công tác CCHC

Công tác CCHC được tăng cường với việc đi đầu áp dụng phần mềm chính quyền điện tử Egov, trong năm áp dụng thêm 5 thủ tục hành chính cấp độ 3 nâng tổng số lên 9 TTHC áp dụng mức độ 3.

Toàn ngành đã tích cực rà soát, rút gọn thời gian, công khai thủ tục, hồ sơ, lệ phí trong lĩnh khoa học và công nghệ. Tham mưu UBND tỉnh ban hành công bố 30 TTHC thuộc phạm vi quản lý ngành. Cơ quan Sở đã thực hiện nghiêm túc Hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008.

5. Truyền thông và thống kê KH&CN

Tổ chức các hội thảo cấp tỉnh để từ đó có định hướng, kết nối các doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn trong lĩnh vực KH&CN như Hội thảo về phát triển đô thị, Hội thảo trâu bò hàng hóa, Hội thảo chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể, Hội thảo quỹ gen có giá trị trên địa bàn.

Tổ chức thành công chuỗi sự kiện ngày KH&CN Việt Nam 18/5/2016: Hội nghị Cộng tác viên Truyền thông KH&CN Nghệ An; Tổ chức Hội thảo giới thiệu một số công nghệ, thiết bị, sáng chế và sản phẩm mới với 10 công trình, sản phẩm mới, sản phẩm mới được giới thiệu.

Các ấn phẩm thông tin của ngành được đổi mới về hình thức và nâng cao về chất lượng, cụ thể: Đã phát hành, cung cấp 12/12 số Tạp chí Thông tin Khoa học - Công nghệ; 12 số Chuyên san KHXH&NV Nghệ An và phát sóng 12 tạp chí truyền hình phổ biến tiến bộ KHKT trên đài PTTH tỉnh, đặc biệt đã đổi mới chất lượng các ấn phẩm và tổ chức các hội nghị bàn tròn tư vấn, phản biện các vấn đề xã hội bức xúc và có tính lan tỏa, phản biện cao.

Tham gia Chợ Công nghệ và Thiết bị Hà Nội 2016 có 6 gian hàng của 14 đơn vị giới thiệu, chào bán các CNTB, sản phẩm trong lĩnh vực trồng trọt, chế biến, nuôi trồng thủy sản, cơ khí và các sáng chế đã thu hút được sự quan tâm của gần hàng ngàn lượt khách tham quan, tìm kiếm, trao đổi, giao dịch mua bán công nghệ và thiết bị. Đặc biệt tại Techmart Hanoi 2016; Sáng chế tạo đặc ruột tre - Cty TNHH một thành viên Việt Bamboona có đối tác đã ký kết hợp đồng ghi nhớ chuyển giao công nghệ giá trị 10 tỷ đồng.

Công tác thống kê theo chỉ đạo và yêu cầu của Bộ KH&CN được đánh giá làm tốt và tích cực, trong năm tiến hành 2 cuộc thống kê về nghiên cứu, phát triển và hội nhập quốc tế cho 40 đơn vị có hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH&CN trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, tiến hành thống kê cấp tỉnh cho 53 đơn vị là viện, trường, trạm trại cung cấp số liệu về nhân lực, cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý về KH&CN.

6. Hợp tác KH-CN với các viện, trường và các sở ngành

Đã phối hợp với các viện, trường và các sở ngành trong việc huy động nguồn nhân lực trong việc tham gia vào các hội đồng xác định danh mục, hội đồng tuyển chọn và hội đồng đánh giá nghiệm thu các đề tài, dự án KH&CN cấp tỉnh.

Tiếp tục thực hiện các hợp tác ký kết với các viện, trường trong đề xuất ý tưởng nhiệm vụ KH&CN; mời các chuyên gia kết nối với các đơn vị, doanh nghiệp trong triển khai, thực hiện các nhiệm vụ KH&CN.

* Với những kết quả đạt được và tồn tại năm 2016, để hoạt động KH&CN tỉnh phát triển sâu rộng và vững chắc hơn, trong năm 2017 ngành khoa học & công nghệ tập trung nhiệm vụ trọng tâm:

1. Tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết, chính sách và chủ trương của Đảng, Nhà nước về KH&CN. Trong đó tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết của BCH Đảng bộ tỉnh về phát triển KH&CN.

2. Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

a. Trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghệ sinh học: Ưu tiên các nhiệm vụ KH&CN hỗ trợ tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Nghiên cứu, tiếp thu, ứng dụng CNSH, CNC trong chọn tạo, nhân giống cây, con có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, thích ứng với biến đổi khí hậu của vùng. Ứng dụng các tiến bộ KH&CN trong thu hoạch, chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản. Ưu tiên dự án sản xuất sản phẩm theo chuỗi giá trị. Ứng dụng công nghệ sinh học trong xử lý môi trường; sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; trong nuôi trồng, chế biến tảo, vi tảo, nấm. Ứng dụng tiến bộ KH&CN trong phát triển, khai thác và quản lý tài nguyên vùng miền tây Nghệ An, nhất là sản phẩm đặc sản hàng hóa. Bảo tồn quỹ gen.

b. Trong lĩnh vực y - dược: Tập trung nghiên cứu, ứng dụng các bài thuốc dân gian, cổ truyền phục vụ khám chữa bệnh trong nhân dân. Nghiên cứu, tiếp thu, ứng dụng CNSH, CNC trong sản xuất các loại dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng mang thương hiệu Nghệ An từ các loài cây thuốc có ở Nghệ An.

c. Hỗ trợ phát triển sản xuất các loại sản phẩm truyền thống và sản phẩm có lợi thế sản xuất hàng hóa của tỉnh Nghệ An. Nghiên cứu để áp dụng nhanh các tiến bộ khoa học và công nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất các sản phẩm truyền thống và các sản phẩm nông sản có lợi thế của tỉnh.

d. Trong vật liệu mới và tự động hóa, tập trung nghiên cứu sử dụng các vật liệu mới có tính năng kỹ thuật cao trong sản xuất công nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng, y tế; Ứng dụng công nghệ tổng hợp và tự động hóa trong trồng trọt và chăn nuôi.

e. Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn: Nghiên cứu tổng kết thực tiễn, nhất là trong lĩnh vực kinh tế hợp tác, tái cơ cấu nền kinh tế. Nghiên cứu về kinh tế vùng, các vùng kinh tế; các loại hình tổ chức kinh tế; phát triển các chuỗi sản phẩm trong nông nghiệp. Ưu tiên nghiên cứu hoàn thiện và phát triển hình thức hợp tác, liên kết trong tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị đối với các sản phẩm có lợi thế của tỉnh. Nghiên cứu, đề xuất giải pháp phát triển sinh kế cho người dân, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, môi trường khởi nghiệp, cải cách hành chính.

f. Các dự án đầu tư đổi mới công nghệ và ứng dụng công nghệ cao trong doanh nghiệp. Trong đó ưu tiên áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại để nâng cao năng lực và chất lượng chế biến nông, lâm, thủy sản.

g. Công nghệ thông tin tập trung: Phát triển các phần mềm ứng dụng, dịch vụ công và chính quyền điện tử theo chuẩn nhất quán, tích hợp thuận tiện các ứng dụng sẵn có và có thể liên thông kết nối với các ứng dụng. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai, đô thị.

3. Công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực.     

- Sàng lọc, lựa chọn, ưu tiên những đề tài nghiên cứu thiết thực, có chất lượng cao, ứng dụng có hiệu quả vào thực tiễn cuộc sống và sản xuất của doanh nghiệp, nhân dân: Nâng cao chất lượng đặt hàng nhiệm vụ KH&CN từ các sở, ban ngành, huyện và doanh nghiệp. Tạo được một số sản phẩm hàng hóa có chất lượng tốt, khối lượng lớn và thương hiệu mạnh từ KH&CN. Chú trọng đến nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm. Hướng chọn doanh nghiệp là chủ thể chính để đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng sẽ là một giải pháp tốt để huy động nguồn lực đầu tư cho KH&CN. Phối hợp, liên kết các cơ quan QLNN với các nhà khoa học, các doanh nghiệp, ngân hàng, HTX và các hộ nông nghiệp để xây dựng, phát triển ứng dụng đề tài KH&CN.

- Tham mưu ban hành Chương trình hành động thực hiện nghị quyết để triển khai các nhiệm vụ trọng tâm.

- Đẩy mạnh hoạt động đổi mới công nghệ, phát triển tài sản trí tuệ và bảo tồn, phát triển quỹ gen. Tham mưu và triển khai Đề án Khởi nghiệp quốc gia trên địa bàn tỉnh.

- Phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ngành của tỉnh và UBND các huyện, thành, thị trong nghiên cứu ứng dụng KH&CN: xây dựng phong trào nghiên cứu, sáng kiến và sáng tạo KH&CN. Phổ biến, hướng dẫn huyện tiếp cận sử dụng một số chính sách về KH&CN như chính sách ưu đãi trong chuyển đổi doanh nghiệp KH&CN, trong đổi mới công nghệ. Bàn giao các kết quả nghiên cứu, ứng dụng có hiệu quả để các ngành, huyện, thành, thị nhân rộng.

- Tăng cường phối hợp với các cấp, các ngành trong quản lý đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra xử lý nghiêm, kịp thời các vi phạm trong lĩnh vực TC-ĐL-CL; Chú trọng công tác sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm trong công tác phối hợp giữa các ngành.

4. Công tác truyền thông và thống kê KH&CN

- Tăng cường công tác truyền thông về KH&CN nhằm giới thiệu mô hình nghiên cứu khoa học có hiệu quả để các tổ chức, cá nhân và các doanh nghiệp tiếp cận, nghiên cứu ứng dụng và nhân rộng vào sản xuất và đời sống.

- Quan tâm truyền thông xuống cơ sở và có định hướng truyền thông.

- Đẩy mạnh công tác thống kê nhân lực và tiềm lực KH&CN trên địa bàn tỉnh phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo.

Nguyễn Quốc Hồng

Năm 2016 là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An: Chuẩn bị kỷ niệm 10 năm thành lập (4-2007 đến 4-2017), chuyển tiếp hoàn thành 4 đề tài khoa học cấp tỉnh và 3 nhiệm vụ khoa học (2 điều tra xã hội học và 1 cuộc hội thảo). Trong bối cảnh đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ nghiên cứu viên Trung tâm nỗ lực hoàn thành các nhiệm vụ được giao trong năm và các nhiệm vụ chuyển tiếp; Đồng thời chuẩn bị nội dung và các điều kiện cần thiết khác để tiến tới kỷ niệm 10 năm thành lập Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn.

1. Nghiên cứu các đề tài khoa học

Năm 2016, Trung tâm đã chủ trì và thực hiện kết thúc 4 đề tài chuyển tiếp 2015-2016, kết quả nghiên cứu được hội đồng khoa học đánh giá nghiệm thu: 1 đạt loại xuất sắc và 3 đạt loại khá.

Đề tài "Nghiên cứu đặc trưng văn hóa xứ Nghệ và giải pháp phát huy tinh hoa văn hóa xứ Nghệ nhằm phát triển kinh tế - xã hội Nghệ An bền vững", kết quả nghiên cứu đã lựa chọn được 7 tinh hoa văn hóa xứ Nghệ và đề xuất 2 nhóm giải pháp (nhóm giải pháp chung và nhóm giải pháp cho từng lĩnh vực) phát huy tinh hoa văn hóa xứ Nghệ nhằm phát triển kinh tế - xã hội Nghệ An bền vững.

Đề tài "Nghiên cứu những tác động của phong tục, tập quán các đồng bào dân tộc thiểu số miền Tây Nghệ An đến phát triển kinh tế - xã hội", kết quả nghiên cứu đề tài đã nêu ra được thực trạng các phong tục, tập quán trong sản xuất và trong đời sống; Đánh giá được tác động của phong tục tập quán cả tích cực lẫn tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời đề xuất được 4 nhóm giải pháp tầm vĩ mô, 5 nhóm giải pháp tầm vi mô và các giải pháp cụ thể đối với từng dân tộc thiểu số, 3 mô hình nhằm khai thác có hiệu quả các phong tục, tập quán phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội cho cộng đồng các dân tộc thiểu số ở miền Tây Nghệ An.

Đề tài "Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các lễ hội trên địa bàn tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2", kết quả nghiên cứu đề tài đã xây dựng "Đề án sửa đổi, nâng cấp lễ hội đền Chín Gian" và xuất bản cuốn sách "Đền Chín Gian - Di tích và lễ hội"; Đào tạo tập huấn cho đội ngũ cán bộ và nhân dân trên địa bàn, hướng dẫn quản lý và thực hành lễ hội; Thực hành lễ hội đền Chín Gian 2016 góp phần phát huy di sản văn hóa phi vật thể, gắn du lịch tâm linh với du lịch sinh thái miền Tây xứ Nghệ với mục đích phát triển kinh tế - văn hóa bền vững.

Đề tài "Nghiên cứu tâm lý nghề nghiệp và định hướng đào tạo nghề cho học sinh phổ thông các huyện miền Tây Nghệ An: Thực trạng và giải pháp". Đề tài đã nêu lên những đặc điểm về tâm lý của học sinh dân tộc thiểu số tác động đến định hướng nghề; đề xuất những định hướng cho học sinh chọn nghề phù hợp với khả năng, tâm lý của từng lứa tuổi, từng dân tộc trên địa bàn các huyện miền Tây Nghệ An.

Kết quả nghiên cứu các đề tài thuộc lĩnh vực KHXH & NV đã có những đóng góp nhất định trong việc tham mưu cho lãnh đạo tỉnh, góp phần cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn giúp cấp ủy và chính quyền các cấp hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

2. Nhiệm vụ khoa học

a. Hội thảo khoa học

Tham mưu, chuẩn bị nội dung cho tỉnh tổ chức 3 cuộc hội thảo khoa học gắn với yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh:

Hội thảo "Quá trình đô thị hóa ở Nghệ An: Những vấn đề thực tiễn và giải pháp phát triển";

Hội thảo "Xác lập quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể trên địa bàn tỉnh Nghệ An";

Hội Thảo "Phát triển chăn nuôi trâu, bò theo hướng sản xuất hàng hóa ở Nghệ An: Thực trạng và giải pháp".

Điểm mới trong việc tổ chức các cuộc hội thảo năm 2016 là ở chỗ: sau mỗi cuộc hội thảo, lãnh đạo tỉnh ra kết luận giao nhiệm vụ cho các ngành, địa phương triển khai các nội dung được bàn và thống nhất trong hội thảo. Thời gian thực hiện từng nội dung, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, từ đó các cuộc hội thảo có ý nghĩa thiết thực, gắn với thực tiễn từng ngành, từng địa phương.

Trước khi tiến hành hội thảo, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức các đoàn nghiên cứu khảo sát thực tế gồm các chuyên gia, các nhà khoa học được đặt bài tham luận. Do đó các tham luận nêu được tình hình thực tiễn từng vấn đề ở từng ngành, địa phương, giải pháp thực hiện có tính khả thi cao.

b.  Tổ chức điều tra dư luận xã hội

Năm 2016, Trung tâm đã hoàn thành 02 cuộc điều tra xã hội học về: "Thực trạng doanh nghiệp Nghệ An trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế". Kết quả điều tra khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế; nhận diện các vấn đề còn vướng mắc của doanh nghiệp về môi trường kinh doanh hiện tại. Đánh giá về nguồn lao động: số lượng, chất lượng; tuyển dụng; đào tạo; thu nhập và các chế độ. Một số kết quả sản xuất kinh doanh; đầu vào sản xuất; thị trường tiêu thụ; thiết bị máy móc công nghệ và việc chuyển giao công nghệ;...

Từ kết quả khảo sát, tham mưu cho lãnh đạo tỉnh các giải pháp phù hợp trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tham mưu cho tỉnh xây dựng một môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển bền vững, tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An.

Nhiệm vụ: "Thực trạng nguồn nhân lực ở tỉnh Nghệ An trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa". Điều tra trên các nội dung cơ bản: Quy mô nguồn nhân lực, cơ cấu nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực. Từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy nguồn nhân lực lao động ở Nghệ An trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Xây dựng nội dung đào tạo gắn với từng địa phương, từng vùng, miền cụ thể; đề xuất hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật; đưa người lao động đi đào tạo ở nước ngoài; đề nghị lãnh đạo tỉnh có những biện pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, v.v... Đồng thời, cần xác định rõ đối tượng đào tạo; Đề xuất xây dựng mô hình nhà trường kết hợp với doanh nghiệp, v.v...

Đồng thời trong năm Trung tâm thực hiện nhiệm vụ "Điều tra dư luận xã hội về công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiện nay": nhiệm vụ về công tác cải cách hành chính đã hoàn thành công tác điều tra, xử lý số liệu.

c. Xây dựng Kỷ yếu

Để tiến tới kỷ niệm 10 năm thành lập (11/4/2007 - 11/4/2017) Trung tâm đã xây dựng ấn phẩm: Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn - 10 năm xây dựng và phát triển (2007 - 2017). Đồng thời tuyển chọn trong 74 số Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An bài viết về các chủ đề: Văn hóa làng Nghệ An; Văn hóa các dân tộc thiểu số Nghệ An và Những vấn đề Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An để xuất bản 3 ấn phẩm gửi tới các tác giả và bạn đọc.

3. Thông tin khoa học xã hội và nhân văn

a. Hoạt động Chuyên san KHXH&NV

Năm 2016, Chuyên san đã xuất bản được 12 số đảm bảo tiến độ, chất lượng và yêu cầu đề ra. Nội dung mỗi số Chuyên san đều bám sát các vấn đề, sự kiện KT-XH. Đặc biệt từ số 10, Chuyên san đã có thêm chuyên mục bài viết hướng tới Kỷ niệm 10 năm thành lập Trung tâm với nội dung tổng kết các hoạt động, kết quả đạt được của Trung tâm trong thời gian qua và những cảm tưởng của cộng tác viên viết về Trung tâm.

Nội dung Bàn tròn trong Chuyên san tập hợp ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học, phản ánh những vấn đề có tính thời sự đang được dư luận quan tâm, phản ánh rõ các hoạt động trong thực tiễn cuộc sống và trong nghiên cứu KHXH&NV ở Nghệ An, một số lĩnh vực kinh tế - xã hội của vùng và của cả nước.

Về hình thức Chuyên san đã có cán bộ tự chế bản được maket. Luôn đổi mới, sáng tạo, nâng cao hình thức, chất lượng hình ảnh, chất lượng in ấn. Sử dụng các hình ảnh mới, có tính sự kiện, cử cán bộ đến tận địa bàn để chụp ảnh các sự kiện theo bài nhằm tăng tính thuyết phục cho bài viết.

b. Website KHXH&NV Nghệ An

Năm 2016, thực hiện Đề án Xây dựng trang Website khoa học xã hội và nhân văn. Đến nay, trang Website đã được hoàn thiện và Hội đồng khoa học tiến hành nghiệm thu. Tháng 10 năm 2016, trang Website đã được Sở TT&TT cấp giấy phép và đi vào hoạt động. Trang web cập nhật hàng ngày các tin, bài, sự kiện của tỉnh và của ngành KHXH&NV, đáp ứng nhanh nhu cầu cập nhật thông tin của độc giả hướng tới phát triển theo truyền thông điện tử.

d. Hoạt động Thư viện KHXH & NV

Thư viện truyền thống: Hiện tại, thư viện truyền thống đã thống kê, nhập dữ liệu hoàn thành tổng 642 đầu sách, được phân thành các lĩnh vực như: Văn hóa, lịch sử, văn học, kinh tế - xã hội học, địa chí, từ điển..., và gần 100 tạp chí, báo khoa học các thể loại. Trong đó, có nhiều đầu sách, công trình nghiên cứu có giá trị khoa học, văn hóa cao như bộ sách Nghệ An toàn chí (11/22 tập) khái quát đầy đủ văn hóa, kinh tế, xã hội con người xứ Nghệ; Lịch sử Nghệ An (2 tập),... và hàng chục đầu sách thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau.

Thư viện điện tử: thư viện điện tử Trung tâm đã được đầu tư đầy đủ trang thiết bị nội thất như: Hệ thống bàn ghế đọc sách, tủ đựng đồ cá nhân, kệ giá sách... Đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin như hệ thống mạng Lan, máy tính để bàn, máy pho tô, máy quét thẻ, v.v... Công tác tiếp quản chuyển giao công nghệ phần mềm quản lý thư viện và số hóa tài liệu đang được triển khai, bước đầu đã số hóa nhiều tài liệu và sách chuyên ngành. Đã tiến hành tập huấn cho cán bộ Trung tâm nghiệp vụ thư viện và chạy thử hệ thống đảm bảo thông suốt. Tuy nhiên, chưa thể tiến hành thanh lý dự án và bàn giao sử dụng vì nguồn kinh phí chưa được cấp đủ.

Năm 2016, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Những kết quả nghiên cứu của các đề tài khoa học, các cuộc hội thảo và điều tra xã hội học đã có những đóng góp nhất định vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, cung cấp thông tin cho lãnh đạo tỉnh tham khảo trong việc xây dựng các chính sách, cơ chế, tiến hành thực hiện nhiệm vụ. Với những kết quả đạt được, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn được hội đồng thi đua Sở Khoa học và Công nghệ xếp loại Tập thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đề nghị UBND tỉnh tặng Cờ thi đua đơn vị xuất sắc năm 2016.

 

Nguyễn Quốc Hồng

...

Cùng với việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của tỉnh giao như: Nghiên cứu các đề tài, dự án khoa học cấp tỉnh; tổ chức các cuộc hội thảo khoa học góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra; điều tra xã hội học cung cấp thông tin về dư luận xã hội trong việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh như: Dư luận xã hội về cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh Nghệ An năm 2011 - 2016; Sự hài lòng của du khách nội địa với điểm đến du lịch Cửa Lò; Sinh kế của các hộ dân tái định cư, mất đất trong quá trình công nghiệp hóa ở Nghệ An... và tham mưu ban hành các đề án, chính sách trong phát triển khoa học - công nghệ; Xã hội hóa hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ ở Nghệ An giai đoạn 2009 - 2015 có tính đến năm 2020; Chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư các dự án công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An...; Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tổ chức sưu tầm, biên soạn công bố 52 công trình về lịch sử, văn hóa của các địa phương, ngành trên địa bàn tỉnh.

3. Biên soạn, công bố các công trình lịch sử, văn hóa địa phương, ngành trên địa bàn tỉnh

Về lịch sử Đảng bộ phường, xã đã biên soạn, xuất bản 33 công trình: Lịch sử Đảng bộ xã Đông Hiếu - thị xã Thái Hòa; Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Tân Xuân - huyện Tân Kỳ; Lịch sử Đảng và nhân dân xã Nghĩa Thái - huyện Tân Kỳ; Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Thanh Đồng - huyện Thanh Chương; Lịch sử phường Lê Mao - thành phố Vinh; Lịch sử xã Liên Thành - huyện Yên Thành; Lịch sử xã Nghi Quang - huyện Nghi Lộc;...

Mảng lịch sử, địa chí các huyện, thành thị có: Địa chí thành phố Vinh; Anh Sơn trong dòng chảy lịch sử;...

Mảng lịch sử truyền thống các hội, ban, ngành cấp tỉnh có 6 công trình: Lịch sử Hội Nông dân Nghệ An; Lịch sử Ban Dân tộc Nghệ An; Lịch sử Giao thông Vận tải Nghệ An;...

Mảng lịch sử lực lượng vũ trang các huyện có 8 công trình: Lực lượng vũ trang huyện Tân Kỳ; Lực lượng vũ trang huyện Tương Dương; Lực lượng vũ trang huyện Anh Sơn; Lực lượng vũ trang huyện Con Cuông;...

Cùng với việc chủ trì biên soạn các công trình lịch sử văn hóa; Trung tâm KHXH&NV Nghệ An là cơ quan chủ trì tập hợp các chuyên gia, các nhà khoa học và tham gia với các nhà khoa học biên soạn các công trình: Lịch sử Nghệ An từ nguyên thủy đến năm 2005; bộ Nghệ An toàn chí (đã xuất bản 11 tập); bộ Lịch sử quân sự Nghệ An; Lịch sử Ngành nông nghiệp Nghệ An;... Đây là những công trình lớn về lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn của tỉnh. Đặc biệt là công trình Nghệ An toàn chí, là công trình đồ sộ nhất mà chưa có địa phương nào làm được. Công trình nhằm bảo tồn, lưu giữ di sản văn hóa đặc sắc, phong phú của các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Với 52 đầu sách công bố trong 10 năm hoạt động, Trung tâm KHXH&NV Nghệ An đã góp phần lưu giữ các giá trị văn hóa, lịch sử của các địa phương, ngành trên địa bàn tỉnh; đồng thời góp phần tuyên truyền giáo dục truyền thống của ngành, địa phương cho các thế hệ người dân trên các địa bàn; quảng bá và giới thiệu rộng rãi với nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế về hình ảnh quê hương xứ Nghệ.

4. Truyền thông KHXH và cơ sở vật chất Trung tâm KHXH&NV Nghệ An

* Chuyên san KHXH&NV: Sau 1 năm chuẩn bị nội dung, công tác tổ chức, nhân sự, khâu nối đội ngũ cộng tác viên, đến tháng 6 năm 2008, Chuyên san KHXH&NV Nghệ An xuất bản số đầu tiên. Năm 2008 phát hành 2 số. Đến nay, mỗi năm phát hành 12 số.

Chuyên san KHXH&NV NghệAn là diễn đàn tập hợp, quy tụ các nhà khoa học, quản lý trong và ngoài tỉnh để chia sẻ kinh nghiệm trong công tác: phổ biến, tuyên truyền, chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn về KHXH&NV vào đời sống và sản xuất. Bên cạnh đó, Chuyên san còn là phương tiện để quảng bá hình ảnh lịch sử, văn hóa, con người Nghệ An đến đông đảo bạn đọc trong và ngoài tỉnh. Thời gian qua, cùng với sự chuyển mình của hệ thống báo chí cả nước trước đòi hỏi của công chúng, Chuyên san đã không ngừng đổi mới về hình thức, nội dung cũng như chất lượng, công bố các kết quả nghiên cứu KHXH&NV trong và ngoài nước;… Nét nổi bật của Chuyên san là dành một thời lượng nhất định cho việc tạo diễn đàn tranh luận, thảo luận để làm sáng tỏ hơn những vấn đề còn đang bàn cãi, chưa thống nhất. Trên diễn đàn, đăng tải nhiều bài bình luận, đánh giá tác động của chủ trương, chính sách về các vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội quan trọng; bình luận, đánh giá của các chuyên gia về các chính sách, thực hiện mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, giới thiệu những kết quả nghiên cứu về KHXH&NV được ứng dụng vào đời sống. Đăng tải các bài viết về văn hóa, dân tộc, con người xứ Nghệ với những đóng góp to lớn cho quê hương, đất nước. 10 năm nhìn lại, nhiều bài viết đăng trên Chuyên san hàm chứa nội dung mang tính chuyên môn, học thuật cao, có giá trị. Những nỗ lực của Chuyên san đã được độc giả ghi nhận. Chủ đề bàn tròn "Tích hợp môn lịch sử nên hay không?" đăng tải trên Chuyên san đã đạt giải Ba Giải thưởng báo chí KH&CN Nghệ An năm 2016.

Bên cạnh tờ báo, bắt đầu từ năm 2015, Trung tâm có thêm trang Website Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An, đăng ký tên miền khxhnvnghean.gov.vn.

* Xây dựng trụ sở làm việc và thiết bị phục vụ nghiên cứu: Đây là một trong những khâu đột phá của Trung tâm. Nằm trong khuôn khổ Đề án "Nghiên cứu khoa học xã hội, tổng kết thực tiễn, xây dựng luận cứ khoa học cho các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN", cuối năm 2010, dự án xây dựng trụ sở làm việc Trung tâm đã triển khai xây dựng với diện tích 1.800m2 và các công trình phụ trợ.

Trụ sở làm việc của Trung tâm là một trong các công trình bề thế, khang trang, được trang bị đầy đủ các điều kiện làm việc, là nơi tổ chức các hoạt động KHXH&NV của các nhà khoa học trong và ngoài tỉnh. Trong điều kiện của một tỉnh còn nhiều khó khăn, việc đầu tư xây dựng trụ sở làm việc cho Trung tâm đã thể hiện sự quan tâm và niềm tin của cấp ủy, chính quyền tỉnh đối với sự nghiệp KH&CN nói chung và KHXH&NV nói riêng. Sau 14 tháng xây dựng, ngày 15/4/2012, công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Sự kiện khánh thành trụ sở làm việc Trung tâm KHXH&NV được bình chọn là 1 trong 10 sự kiện KH&CN nổi bật năm 2012.

* Xây dựng thư viện truyền thống và điện tử: Sau khi thành lập Trung tâm KHXH&NV thì Thư viện Trung tâm cũng dần được hình thành. Thời gian từ năm 2007 đến năm 2014, phương thức hoạt động chủ yếu là theo mô hình thư viện truyền thống, với 642 đầu sách các loại và gần 100 tạp chí, báo khoa học. Năm 2014, triển khai thực hiện Dự án "Xây dựng thư viện điện tử Trung tâm KHXH&NV". Từ đây, thư viện có một bước chuyển mạnh mẽ từ truyền thống đến hiện đại, từ thủ công đến tự động hóa. Dự án hoàn thành đã góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học của Trung tâm và bạn đọc.

Trong 10 năm xây dựng và phát triển, với những đóng góp to lớn đối với ngành khoa học và công nghệ, sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh nhà, Trung tâm đã đạt được nhiều thành tích và những phần thưởng cao quý: Thủ tướng Chính phủ tặng 01 Bằng khen, Ủy ban nhân dân tỉnh tặng 01 Cờ thi đua và 4 bằng khen, Đảng ủy Sở KH&CN tặng Giấy khen cho Chi bộ Trung tâm. Đây là nguồn cổ vũ, động viên, khích lệ cán bộ, viên chức đang và sẽ làm việc tại Trung tâm, tiếp thêm nhiệt huyết cho đội ngũ cán bộ, viên chức tích cực chủ động, sáng tạo phát huy hơn nữa những kết quả đã đạt được, phấn đấu thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển của Trung tâm, ngành khoa học và công nghệ và của tỉnh nhà.

Những thành tích và kết quả đạt được về mọi mặt trong 10 năm quả là rất đáng ghi nhận, tuy nhiên so với yêu cầu phát triển và đòi hỏi của xã hội vẫn còn nhiều hạn chế, đó là: Các công trình, nhiệm vụ đã triển khai có những nội dung chưa bám sát thực tiễn, tính ứng dụng còn thấp. Nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra và kỳ vọng lý giải một cách sáng tỏ nhưng chưa được nghiên cứu, lý giải thấu đáo như: Vì sao Nghệ An là một vùng "Địa linh nhân kiệt", giàu tiềm năng nhưng đến nay vẫn là tỉnh nghèo?; Chính sách thu hút nguồn lực người Nghệ xây dựng quê hương chưa được như mong muốn: Tại sao người Nghệ An khó phát triển, làm giàu trên chính quê hương mình?; Chưa mạnh dạn nghiên cứu các vấn đề mà Nghệ An đã và đang trăn trở; Thu hút đầu tư của tỉnh còn rất hạn chế so với tiềm năng; Vấn đề tôn giáo; Lực cản trong sự phát triển, v.v.

* Những bài học kinh nghiệm:

- KHXH&NV, nhất là ở địa phương phải luôn bám sát nhiệm vụ phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Lấy mục tiêu phát triển của tỉnh để định hướng và lựa chọn các nhiệm vụ khoa học, góp phần giải quyết những vấn đề bức thiết mà đời sống kinh tế - xã hội đặt ra.

- Gắn kết hoạt động nghiên cứu với hoạt động truyền thông và ứng dụng KHXH&NV vào cuộc sống. Mặc dù vẫn còn những hạn chế nhất định, nhưng hoạt động của Trung tâm trong 10 năm qua đã có sự gắn kết giữa nghiên cứu các đề tài, nhiệm vụ khoa học với tổ chức công tác truyền thông khoa học, thông qua Chuyên san KHXH&NV Nghệ An và trang điện tử KHXH&NV Nghệ An. Bên cạnh đó, Trung tâm cũng đã thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính ứng dụng, đưa kết quả nghiên cứu KHXH&NV ứng dụng vào cuộc sống. Nhờ vậy, thành tựu và kết quả nghiên cứu KHXH&NV không bị lãng phí mà từng bước được phát huy hiệu quả trong đời sống xã hội.

- Vừa trực tiếp nghiên cứu, vừa thực hiện nhiệm vụ khâu nối các chuyên gia, các nhà khoa học và các Viện, trường nghiên cứu KHXH&NV. Ngay từ ngày đầu thành lập, Trung tâm đã xác định phấn đấu trở thành một đơn vị nghiên cứu chuyên nghiệp về KHXH&NV ở Nghệ An và hướng tới có ảnh hưởng trong vùng Bắc Trung bộ. Đồng thời, Trung tâm cũng phải trở thành điểm hẹn và kết nối các đơn vị khoa học, các nhà khoa học trong và ngoài tỉnh. Trung tâm đã thể hiện vai trò kết nối thông qua các nhiệm vụ khoa học, như đề tài, dự án nghiên cứu hoặc qua các hội thảo khoa học, cũng như qua Chuyên san KHXH&NV Nghệ An. Thông qua vai trò kết nối đó, không những các nhiệm vụ khoa học được thực hiện tốt mà đội ngũ cán bộ của Trung tâm cũng có cơ hội được rèn luyện và trưởng thành, vị thế của Trung tâm cũng được nâng lên.

- Phát huy tính năng động, sáng tạo đoàn kết trong hoạt động của Trung tâm. Là một đơn vị sự nghiệp về khoa học công nghệ, nhưng trong 10 năm qua, Trung tâm luôn hướng hoạt động của mình ra xã hội, gắn với xã hội. Ngoài các nhiệm vụ do Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở KH&CN giao, Trung tâm đã tiếp cận các địa bàn trong tỉnh, các ngành biên soạn các công trình lịch sử, văn hóa. Tham gia các công trình KHXH&NV trên địa bàn các tỉnh trong khu vực. Liên kết với các trường đại học đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ làm công tác KHXH&NV nói riêng và công chức, viên chức một số cơ quan trong tỉnh. Liên kết với các viện nghiên cứu trong và ngoài tỉnh trong công tác nghiên cứu khoa học, tổ chức các nhiệm vụ khoa học của tỉnh.

Mười năm, đối với một tổ chức nghiên cứu chưa dài, song với những kết quả đạt được trên các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, truyền thông KHXH&NV sẽ là những tiền đề vững chắc để Trung tâm tiếp tục phát triển trong thời gian tới.

Phạm Xuân Hoàng

 

Tôi biết đến Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn (Chuyên san KHXH&NV) Nghệ An vào khoảng năm 2011 và nẩy sinh ý tưởng viết cho Chuyên san. Tháng 8 năm 2012, Chuyên san đăng bài viết đầu tiên của tôi với tựa đề "Hằng số tính cách người xứ Nghệ trong bối cảnh đất nước hội nhập" (ít lâu sau đó, Tạp chí Văn hóa Nghệ An điện tử cũng đăng bài này). Kể từ đó, thi thoảng tôi lại viết cho Chuyên san KHXH&NV Nghệ An. Không những thế tôi còn giới thiệu Chuyên san cho nhiều nhà nghiên cứu cùng biết, có thể họ cũng có sự quan tâm. Trong số này, có PGS.TS. Vương Toàn - nhà ngôn ngữ, nhà thư viện học, nhà Thái học ở Hà Nội cũng quan tâm và đã viết, đăng bài trên Chuyên san. 

Xin được cảm ơn Chuyên san KHXH&NV Nghệ An đã tạo điều kiện để cho người con xứ Nghệ xa quê như tôi, thông qua Chuyên san, được bày tỏ sự quan tâm với quê hương, cũng như những vấn đề của KHXH & NV xứ Nghệ.

Theo dõi Chuyên san KHXH&NV Nghệ An trong 5 năm qua, tôi có mấy nhận xét như sau:

1. Nội dung các bài viết trên Chuyên san KHXH&NV Nghệ An có hàm lượng tri thức khoa học cao, được lựa chọn nghiêm túc. Các vấn đề được đề cập khá đa dạng và từ nhiều góc độ khác nhau, chủ yếu quan tâm đến đất, người Nghệ An, văn hóa - xã hội Nghệ An trong lịch sử - hiện tại. Nhìn chung, các bài viết có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, có giá trị phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội Nghệ An, có ý nghĩa tham khảo đối với những người nghiên cứu sâu về xứ Nghệ cũng như những người quan tâm đến Nghệ An nói riêng và xứ Nghệ nói chung. Theo tôi, tuy là diễn đàn của một Sở Khoa học & Công nghệ ở địa phương nhưng Chuyên san KHXH&NV Nghệ An có dáng dấp, phong độ của một tạp chí ở tầm Trung ương. Đó là một điều rất đáng được ghi nhận.

2. Chuyên san KHXH&NV Nghệ An biết thu hút được đội ngũ cộng tác viên đông đảo với nhiều nhà khoa học đã thành danh, trong đó có không ít người có tâm huyết với xứ Nghệ, là con em hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hiện đang công tác mọi miền đất nước cũng như những người ở địa phương khác nhưng có sự quan tâm đối với xứ Nghệ.

3. Nhiều hội thảo/tọa đàm do Trung tâm KHXH & NV Nghệ An tổ chức, đồng tổ chức được giới thiệu trên Chuyên san đã bám sát những vấn đề thời sự nóng hổi của đất nước như đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo, việc tích hợp hay không đối với môn sử học, v.v..., thu hút được sự quan tâm và hoan nghênh của độc giả.

4. Công tác cộng tác viên như trả nhuận bút và gửi báo biếu được các biên tập viên của Chuyên san thực hiện khá cẩn thận, chu đáo, làm hài lòng những cộng tác viên và các tác giả cộng tác với Chuyên san.

Đó là những kết quả của Chuyên san đã đạt được, rất căn bản và quan trọng mà theo tôi, Chuyên san, rộng hơn là Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An nên tiếp tục phát huy. Và với những kết quả nói trên, tôi nghĩ Chuyên san có thể và xứng đáng trở thành diễn đàn khoa học tin cậy về xứ Nghệ.

Tuy nhiên, có một số điểm/mặt mà tôi cho rằng Chuyên san cần chú ý thay đổi hoặc cải tiến theo hướng hội nhập và hiện đại hơn, đó là: bìa in tuy có thiết kế nhưng còn đơn giản, giấy bìa nhanh bị dập, nát, bạc màu. Trang bìa 2 của Chuyên san còn màu mè, rối, chưa bắt mắt. Khổ giấy còn ở dạng khổ giấy báo chứ chưa phải khổ tạp chí; căn lề, mi trang còn đơn giản; số lượng các bài về lịch sử, văn hóa, văn học, còn chiếm dung lượng nhiều so với các bài viết về các vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội hiện thời.

Để hiện đại hóa, nâng tầm Chuyên san, đáp ứng yêu cầu đặt ra ngày càng cao (thuộc chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm KHXH &NV đang thực hiện), tôi xin có mấy ý kiến như sau:

Một là, tiếp tục nâng cấp Chuyên san, phấn đấu trở thành một tạp chí khoa học về văn hóa phát triển vùng xứ Nghệ, đặc biệt là diễn đàn của các nghiên cứu về "Nghệ học" của học giả trong và ngoài nước. Riêng "Nghệ học" bấy lâu là một ngành nhiều tiềm năng, cần được chú trọng phát triển. Phạm vi các bài viết đăng trên Chuyên san không chỉ là đề cập tới Nghệ An mà cả xứ Nghệ; giới thiệu cái hay, cái đẹp, những nét nổi bật và cả cái chưa được, hạn chế của kinh tế - xã hội, con người Nghệ An (và Hà Tĩnh) hiện nay.

Hai là, mở rộng thu hút đội ngũ cộng tác viên rộng rãi khắp cả nước, đặc biệt là cộng đồng giới nghiên cứu KHXH & NV là con em người Nghệ ở thủ đô Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, v.v... Chính lực lượng này hơn ai hết sẽ là những người có nhiều sự quan tâm, có những trăn trở với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có những ý kiến sát thực với tình hình kinh tế - xã hội của xứ Nghệ.

Ba là, tiếp tục kết nối tổ chức, đăng cai tổ chức các hội thảo/tọa đàm khoa học có liên quan đến Nghệ An và xứ Nghệ, lịch sử văn hóa con người xứ Nghệ; thực hiện các tọa đàm đi vào các vấn đề nóng của phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Nếu có điều kiện nên tổ chức gặp gỡ cộng tác viên tại Hà Nội, tại Nghệ An - những nơi có lực lượng nghiên cứu KHXH & NV thường xuyên và hùng hậu.

Bốn là, cân đối số lượng các bài viết về lịch sử, văn hóa truyền thống với các vấn đề thực tế đặt ra hiện nay, nên có mục giới thiệu các ấn phẩm có giá trị hoặc mới (sách, bài viết ...) về đất và người xứ Nghệ, về kinh tế - văn hóa xứ Nghệ.

Năm là, về phương diện kỹ thuật: nên thay đổi chất liệu trang bìa, trang bìa 2 nên để trắng giới thiệu các nội dung như của Chuyên san; mi trang, trình bày bắt mắt hơn, khổ trang chỉ nên tương đương với các tạp chí khoa học hiện hành. Nếu điều kiện cho phép, nên tăng số lượng trang lên 80 trang đến 100 trang/kỳ phát hành.

Sáu là, làm tốt hơn nữa công tác giới thiệu, quảng bá Chuyên san đến các thư viện tỉnh thành khắp cả nước, các trường đại học lớn có đào tạo các ngành  KHXH&NV. Hiện nay, ở Thư viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm KHXH&NV đã có mặt thường xuyên của Chuyên san.

Nhân kỷ niệm 10 năm thành lập và phát triển của Trung tâm KHXH&NV Nghệ An, với tư cách là một độc giả và là một cộng tác viên của Chuyên san, tôi chúc Chuyên san - diễn đàn của Trung tâm, rộng hơn là của KHXH&NV Nghệ An tiếp tục đổi mới và phát triển, có những đóng góp thiết thực và hiệu quả vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Nghệ An và xứ Nghệ; kính chúc đội ngũ các anh chị ở Trung tâm, trực tiếp là những người làm Chuyên san dồi dào sức khỏe, thành công và hạnh phúc.

Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020 và Quyết định số 52/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đến năm 2030, tầm nhìn 2050 đều xác định xây dựng thành phố Vinh thành trung tâm vùng Bắc Trung bộ. Trong thời gian tới, để thực hiện được nhiệm vụ trở thành trung tâm vùng Bắc Trung bộ mà Bộ Chính trị giao là một trách nhiệm hết sức nặng nề, cần phải có nhiều ý tưởng mang tính đột phá. Phóng viên Chuyên san KHXH&NV Nghệ An đã có cuộc trao đổi với ông Trần Ngọc Chính -  Nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng, Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam.

*     *

*

PV: Trong điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đến năm 2030, tầm nhìn 2050 được Chính phủ phê duyệt, không gian thành phố Vinh tiếp tục được mở rộng. Vậy theo ông trong thời gian tới cần định hướng phát triển không gian đô thị như thế nào để khai thác hết tiềm năng và lợi thế đang có?

Ông Trần Ngọc Chính: Xây dựng thành phố Vinh thành trung tâm vùng Bắc Trung bộ là nhiệm vụ quan trọng và đầy thử thách. Thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị là một công việc mà Đảng bộ và chính quyền tỉnh phải tổ chức triển khai toàn diện trong địa bàn Nghệ An mà thành phố Vinh là trung tâm.

Như vậy, việc triển khai công việc này phải chú trọng ở cả hai hướng: Phát triển kinh tế - xã hội của Nghệ An với chú trọng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Vinh. Cả hai hướng này phải bổ sung cho nhau và làm động lực cho sự phát triển của Nghệ An và thành phố Vinh.

Chúng ta cần phải thống nhất quan điểm: không gian đô thị Vinh với thị xã Cửa Lò là một không gian liên tục - Vinh là đô thị biển, đây là giá trị cốt lõi cho Vinh có sự phát triển kết nối về phía Đông, khai thác toàn bộ kinh tế biển (cảng, du lịch) làm phong phú và làm tăng thế mạnh và tính cạnh tranh đô thị so với nhiều đô thị biển Việt Nam.

Không chỉ dừng lại ở không gian biển, không gian kinh tế, không gian cho hoạt động văn hóa du lịch phải hướng về phía Tây, đặc biệt là làng Kim Liên - quê hương Bác Hồ kính yêu, một giá trị tinh thần và yếu tố lịch sử nhân văn mà chỉ ở Nghệ An mới có.

Sông Lam, con sông đã đi vào thi ca, niềm vui và hạnh phúc của nhân dân hai bờ sông với địa danh Nghệ An - Hà Tĩnh (sông Lam - núi Hồng Lĩnh). Khi xét đến các tiêu chí của Vinh cần phải cân nhắc và đặt vấn đề cho việc khai thác sông Lam đoạn qua Vinh và về phía Nam bên sông Lam có làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân còn có một con người vĩ đại: Nguyễn Du - Danh nhân văn hóa thế giới. Trong ý tưởng về giá trị văn hóa lịch sử, chúng ta có hai con người - hai biểu tượng Hồ Chí Minh và Nguyễn Du - Danh nhân văn hóa thế giới mà thành phố Vinh là đại diện.

PV: Để xây dựng thành phố Vinh trở thành trung tâm vùng Bắc Trung bộ về đầu mối giao thông, tài chính, thương mại, du lịch, văn hóa,... như Nghị quyết 26 - NQ/TW của Bộ Chính trị đã nêu, theo ông trong thời gian tới Nghệ An cần phải tập trung giải quyết những vấn đề gì?

Ông Trần Ngọc Chính: Đây là nội dung tổng hợp, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng là nhiệm vụ chiến lược, là công việc quan trọng của cả hệ thống chính trị trong chỉ đạo và hoạch định các mặt công tác. Trong đó, công tác quy hoạch xây dựng phát triển đô thị đóng vai trò trong việc tổ chức không gian lãnh thổ, tổ chức phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị - nông thôn, phát triển các khu chức năng của đô thị theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW để liên kết Vinh với Nghệ An và với toàn vùng.

- Trước hết phải xây dựng Vinh thành trung tâm đầu mối giao thông quan trọng của vùng và quốc tế. Đây là vấn đề tiên quyết để liên kết nhanh, kết nối với hạ tầng khung quốc gia bao gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không, cảng biển nhằm thu hút và có sức lan tỏa của hệ thống giao thông với các đầu mối quan trọng. Điều này có ý nghĩa thúc đẩy liên kết vùng. Về đường bộ, cần nâng cấp, hoàn thiện Quốc lộ 1A và cao tốc Bắc - Nam, hoàn thiện trục giao thông ven biển kết nối với cầu Cửa Hội qua Hà Tĩnh. Đầu mối giao thông tuyến Quốc lộ Bắc - Nam kết nối đường Quốc lộ Đông - Tây nối kết đường Hồ Chí Minh, đường lên cửa khẩu Thanh Thủy liên kết với Lào - Thái Lan - Myanma và các nước ASEAN. Hệ thống giao thông đối ngoại này liên kết với hệ thống giao thông đối ngoại thành phố Vinh và với cảng biển quốc tế Cửa Lò, cảng hàng không quốc tế Vinh và ga đường sắt quốc gia thành phố Vinh.

Về đường sắt, nâng cấp toàn tuyến, trong đó đường sắt hiện có và trong tương lai có tuyến đường sắt cao tốc xuyên quốc gia. Ga Vinh là ga quan trọng (về ga khách và ga hàng hóa). Xây dựng ga Vinh trở thành 1 trong 5 ga quan trọng hiện đại của Việt Nam (Hà Nội - Vinh - Đà Nẵng - Nha Trang - Sài Gòn). Từ ga Vinh có hệ thống lập tàu, đầu mối kỹ thuật kết nối với ga hàng hóa Cửa Lò và có thể kết nối với đường sắt phía Tây trong tương lai xa.

Về đường thủy, đô thị Vinh - Cửa Lò - Cửa Hội - sông Lam kết nối với hệ thống giao thông đường thủy và theo tuyến sông Cả, sông Con, quy hoạch và xây dựng cảng biển quốc tế Cửa Lò (cảng đầu mối quốc gia loại I) đạt đến 10 - 12 triệu tấn/năm (là cảng xuất nhập khẩu, cảng chuyên dụng container có nhiệm vụ quốc tế với Lào, Thái Lan,...). Đặc biệt chú ý phải có quy hoạch chi tiết và khoa học trong phân chia chức năng trong hệ thống cảng (bao gồm kho, bãi, bốc xếp, cầu cảng, hậu cảng) tránh việc gây ô nhiễm trong quá trình vận hành. Quan trọng nhất là ảnh hưởng nghiêm trọng đến khu du lịch nghỉ mát Cửa Lò. Nếu không tính toán quy hoạch tốt chúng ta sẽ trả giá, nhất là đánh mất tiềm năng du lịch khi mà Cửa Lò đang là thương hiệu tốt về nơi nghỉ biển lý tưởng của cả nước. Bên cạnh đó cần xây dựng cảng du khách Bến Thủy kết hợp khai thác sông Lam thành con sông du lịch văn hóa, lịch sử tâm linh cũng như kinh tế giao thông trên sông Lam.

Về đường hàng không, cần nâng cấp sân bay Vinh đến năm 2020 đạt cấp 4E cho khoảng 2,5 đến 3 triệu hành khách/năm phục vụ trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, hiện nay sân bay Vinh có vị trí khó phát triển vì nằm ngay trong lòng thành phố. Trong quy hoạch cần phải nghiên cứu kỹ về các mặt trong xây dựng như nhà cao tầng, tiếng ồn, trồng cây xanh (cần có nghiên cứu tìm địa điểm mới cho sân bay nếu có phương án so sánh tốt hơn).

- Hiện tại 6 tỉnh trong vùng cũng đều có trung tâm tài chính thương mại. Bởi vậy, Vinh phải có hướng quy hoạch tạo dựng được một trung tâm tài chính - thương mại có tầm vóc, tập trung được nhiều ngân hàng lớn có thương hiệu. Ngân hàng trong nước, ngân hàng nước ngoài phải là các đại diện có uy tín lớn. Trung tâm thương mại tài chính sầm uất, quy mô kết hợp cuộc sống đương đại và văn hóa truyền thống xứ Nghệ. Theo tôi, Vinh cần quy hoạch sắp xếp lại trục đường Quang Trung và Trần Phú mà trung tâm là chợ Vinh. Theo đường Quang Trung - Trần Phú xây dựng những tổ hợp thương mại lớn dạng Vincom của Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; xây dựng các ngân hàng có quy mô hiện đại tạo thành thành phố Tài chính - Ngân hàng - Thương mại.

- Để Vinh trở thành trung tâm về du lịch cần quy hoạch xây dựng Cửa Lò là khu du lịch biển đặc sắc, chất lượng với bãi biển chạy dài kết hợp với đảo Ngư tạo nên sự phong phú về không gian biển. Tại đây phải xây dựng nên các tổ hợp khách sạn 5 sao đẳng cấp, các khu resort có chất lượng và nhiều bãi tắm cho cộng đồng. Đô thị Vinh phải có quy hoạch hệ thống các khách sạn từ 4 - 7 sao đủ điều kiện cho các hoạt động văn hóa du lịch của quốc gia, quốc tế. Những công trình du lịch khác hỗ trợ cho khách trong việc khám phá, tham quan quê hương Nghệ An, nhất là tổ chức chuyến du lịch về thăm Kim Liên quê Bác. Phải có quy hoạch xây dựng đạt chất lượng quốc tế xứng đáng với tầm vóc của Bác Hồ trong việc đón tiếp và giới thiệu giáo dục truyền thống đầy ý nghĩa.

- Để trở thành trung tâm về văn hóa, Vinh phải có các hệ thống bảo tàng: Bào tàng lịch sử cách mạng, bảo tàng văn hóa ví giặm với nghệ thuật đặc sắc được UNESCO vinh danh, bảo tàng nghệ thuật,... Đặc biệt cần thiết xây dựng nhà hát dân ca kịch truyền thống và hiện đại - Nhà hát ví giặm Nghệ Tĩnh (như Bắc Ninh đã xây dựng nhà hát quan họ).

PV: Theo ông cần có những giải pháp gì để thực hiện được các nội dung như đã nêu ở trên?

Ông Trần Ngọc Chính: Theo tôi, giải pháp đầu tiên là cần phải có công tác quy hoạch phù hợp, chất lượng và phải tạo được vốn để triển khai vào từng công việc cụ thể. Trên cơ sở công tác quy hoạch (từ quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết rồi lập dự án đầu tư) về quỹ đất theo từng vị trí quy hoạch. Đất chính là tài sản, là nguồn tài chính lớn nhất cần phải được quản lý khai thác hợp lý nhằm tạo nguồn vốn quan trọng từ đất trong đầu tư phát triển.

Vinh phải được Chính phủ và tỉnh quan tâm xem xét có các cơ chế, chính sách, phân công phân quyền phù hợp, không thể chỉ xem các đô thị này như là một đơn vị hành chính cấp huyện, với cơ chế chính sách như các đơn vị hành chính cấp huyện khác mà phải có cơ chế chính sách riêng cho đô thị trung tâm cấp vùng, là đầu tàu cho quá trình đô thị hóa của một vùng lãnh thổ; Phải tập trung nguồn vốn, sức mạnh và nâng cao công tác chỉ đạo quản lý cho những đô thị này mà đô thị Vinh cần phải được ưu tiên nhất. Vinh cần được hưởng những ưu đãi trong việc tiếp nhận đầu tư, cơ chế giao nộp ngân sách phù hợp, thông thoáng, đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển Vinh là đô thị trung tâm vùng.

Chủ động và ưu tiên nguồn vốn ODA cho Vinh thông qua ngân hàng thế giới (WB), ngân hàng châu Á (ADB) và các tổ chức tín dụng lớn khác có uy tín, đặc biệt là các dự án về phát triển hạ tầng, giáo dục đào tạo nâng cao chất lượng quản lý đô thị thường trực được WB và ADB rất quan tâm.

Có chương trình quảng bá và xúc tiến đầu tư cho từng dự án, từng chương trình cụ thể theo quy hoạch tổng thể. Có thể sáng tạo Festival Vinh như Đà Nẵng có Festival pháo hoa, Đà Lạt có Festival hoa, Nha Trang có Festival biển,... chúng ta cần sáng tạo ra những giá trị tinh thần mang thương hiệu đặc sắc, có thể Festival ví giặm là một ví dụ.

Đội ngũ cán bộ phải được đào tạo chuyên sâu, được học hỏi nâng cao trình độ về quy hoạch và quản ý đô thị, được bố trí để tham quan học hỏi các đô thị trong nước và nước ngoài nhằm nâng cao kiến thức và trình độ quản lý trong quá trình phát triển thành phố.

PV: Thời gian từ nay đến năm 2020 chỉ còn khoảng hơn 3 năm là rất ngắn, vậy theo ông đô thị Vinh cần phải có lộ trình như thế nào để trở thành trung tâm của vùng Bắc Trung bộ như Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra?

Ông Trần Ngọc Chính: Trước mắt đến năm 2020, thời gian còn ngắn nhưng để phát triển Vinh thực sự trở thành trung tâm vùng, theo tôi chúng ta cần phấn đấu thực hiện tốt một số công việc trọng tâm sau:

- Rà soát, hoàn thiện các quy hoạch, đặc biệt là quy hoạch đô thị (quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, quy hoạch chuyên ngành hạ tầng, thiết kế đô thị các khu vực điểm nhấn,...), đồng thời phải có bản lĩnh để quản lý phát triển đô thị tuân thủ nghiêm theo quy hoạch đã định (không tùy tiện điều chỉnh).

- Thúc đẩy nhanh các dự án tiền đề có tính liên kết vùng (như đại lộ Vinh - Cửa Lò; cầu Cửa Hội qua sông Lam, cao tốc Viêng Chăn - Hà Nội trong đó có đoạn Viêng Chăn - Vinh qua cửa khẩu Thanh Thủy, cao tốc Hà Tĩnh - Vinh - Hà Nội, nâng cấp cảng Cửa Lò, sân bay Vinh,...).

- Tập trung xây dựng hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật đô thị Vinh, nhất là thoát nước, xử lý nước thải, từng bước ngầm hóa hệ thống cấp điện; các dự án bảo vệ và cải thiện môi trường (cây xanh, bảo vệ sông, hồ trong thành phố,...); bảo vệ nghiêm ngặt môi trường đô thị.

- Tập trung đổi mới, phát triển giáo dục đào tạo dạy nghề, tạo nguồn nhân lực đáp ứng; lưu ý thêm về kỹ năng (như ngoại ngữ, tin học, dạy nghề,...); đào tạo quản lý phát triển đô thị.

- Rà soát, đề xuất Chính phủ ban hành hoặc tỉnh ban hành các cơ chế chính sách đặc thù mở đường cho sự phát triển.

Lộ trình đến năm 2030 cần phải sớm định hình đô thị cấp vùng với đầy đủ các chức năng như Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị giao. Tùy theo từng nội dung và hoàn cảnh cụ thể để điều chỉnh các chức năng đô thị vùng vào các thời gian thích hợp. Phải xem xét từng thời gian với công việc thật khoa học, khách quan với ý chí quyết tâm nhưng không bằng mọi giá để Vinh phát triển toàn diện và bền vững.

Xin cảm ơn ông!

TRẦN THỊ LAN*

Miền Tây Nghệ An được xác định là một trong ba trung tâm kinh tế động lực của tỉnh Nghệ An, được Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Nghệ An ban hành tại Quyết định số 2355/QĐ-TTg, ngày 04/12/2013. Tuy nhiên, để đáp ứng những đòi hỏi mang tính chiến lược đó của tỉnh, khó khăn lớn nhất của các huyện miền Tây vẫn là giải quyết nguồn lao động dư thừa và nâng cao tay nghề cho đội ngũ lao động, nhất là lao động của các đồng bào dân tộc thiểu số. Phần đa lực lượng trong độ tuổi lao động đều tham gia sản xuất nông nghiệp tại địa phương, không có việc làm ổn định, trong khi đó, số lượng học sinh sau khi tốt nghiệp ra trường không có điều kiện học tiếp chiếm một số lượng rất lớn. Số học sinh có trình độ tiếp cận với với các nghề mang tính kỹ thuật hiện đại, công nghệ cao để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động ở các thành phố lớn và nước ngoài lại rất hạn chế.

Thực tế này đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ về công tác hướng nghiệp, nắm bắt tâm lý nghề nghiệp của học sinh, học viên để các em được chọn nghề đào tạo phù hợp với khả năng của mình. Xuất phát từ những thực tiễn đó, Trung tâm KHXH&NV được Sở KH&CN và UBND tỉnh Nghệ An đặt hàng, giao triển khai đề tài khoa học: Nghiên cứu tâm lý nghề nghiệp và định hướng đào tạo nghề cho học sinh phổ thông các huyện miền Tây Nghệ An: Thực trạng và giải pháp. Đề tài do Trung tâm KHXH&NV Nghệ An chủ trì; Tiến sĩ Trần Khắc Hoàn - Đại học sư phạm kỹ thuật Vinh làm chủ nhiệm .

1.     Thực trạng

Thực trạng về tâm lý nghề nghiệp mang tính chất đặc thù trong quá trình hướng nghiệp của học sinh phổ thông các huyện miền Tây Nghệ An.

Tâm lý biểu hiện ở mặt nhận thức: Việc hiểu biết đầy đủ về các thông tin của nghề bản thân lựa chọn là một điều kiện cần để cho họat động chọn nghề trở nên có căn cứ. Điểm qua các chỉ số trên cho thấy phần đông các em học sinh có biết về những đặc điểm của nghề chiếm 50,6%. Tuy nhiên, vẫn có đến 18,6% học sinh không hoặc hiểu biết rất ít về những đặc điểm của nghề bản thân lựa chọn. Có đến 30,7% chỉ nghe nói đến những thông tin trên, điều này chứng tỏ các em rất ít quan tâm đến việc tìm hiểu đặc điểm nghề.

Thực tế khảo sát đặt ra, học sinh không hào hứng tìm hiểu thông tin về thị trường lao động trong quá trình chọn nghề. Chỉ có 30,6% học sinh tích cực tìm hiểu nhu cầu thị trường lao động đối với nghề bản thân dự định lựa chọn; 39,7% học sinh tích cực tìm hiểu về khả năng và cơ hội tìm được việc làm của nghề dự định chọn. Trong khi đó, chỉ có 11,9% học sinh tích cực tìm hiểu thông tin liên quan đến sự định hướng phát triển của đất nước, địa phương để làm căn cứ cho quyết định lựa chọn.

 Tâm lý biểu hiện ở mặt thái độ: hầu hết các em có đánh giá đúng về tầm quan trọng của việc chọn nghề đối với bản thân và xã hội, có đến 78,6% học sinh cho rằng việc chọn nghề rất quan trọng, cần có suy nghĩ chín chắn. Số có thái độ đánh giá thiếu tích cực về ý nghĩa của hoạt động chọn nghề là không đáng kể, chỉ là 2,5%.

Tâm lý biểu hiện ở mặt hành vi: đa số học sinh có sự chủ động và nhận thấy đó là việc làm cần thiết chiếm 57%. Tuy nhiên, nhìn từ chiều ngược lại cho thấy vẫn còn có rất nhiều học sinh vì các lý do khác nhau mà buộc phải đưa ra các quyết định ngoài ý muốn của bản thân.

 Thực trạng hướng nghiệp, phân luồng trong các trường học.

 Thực trạng công tác hướng nghiệp: Về nội dung, giáo trình, phương pháp dạy học;  cơ sở vật chất; đội ngũ cán bộ giáo viên hướng nghiệp dạy nghề nhìn chung, đa số được các em học sinh đánh giá chất lượng hướng nghiệp và dạy nghề hiện nay trong nhà trường là bình thường. Tuy nhiên, nhìn từ chiều ngược lại số học sinh đánh giá là không tốt vẫn chiếm tỷ lệ khá cao lên đến 30,3%.

Thực trạng phân luồng học sinh: Kết quả năm học 2015 - 2016, Nghệ An có 3.698 thí sinh dự thi, trong đó có 61,79% là số dự thi tốt nghiệp và đăng ký xét tuyển vào các trường đại học, cao đẳng. Đây được xem là luồng chính. Luồng thứ 2, có đến 38,21% học sinh chỉ dự thi tốt nghiệp THPT, không đăng ký xét tuyển đại học, cao đẳng. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu chỉ có khoảng 20 - 27% trong số này đăng ký vào học các trường cao đẳng, trung cấp nghề.

Qua đó cho thấy, công tác phân luồng hiện nay đang gặp nhiều khó khăn, do học lực mức trung bình, kém chiếm đa số nên học sinh khó có thể duy trì được ở bậc học cao hơn, cao đẳng, đại học...

Thực trạng đào tạo nghề tại các huyện miền Tây Nghệ An.

Đa số các em vẫn lựa chọn con đường học xong THPT rồi học lên ÐH, CÐ và tìm kiếm việc làm chiếm 39,5%. Trong khi đó phương án học xong THPT rồi học nghề (CÐN, TCN) và tìm kiếm việc làm chỉ chiếm 16,9%.

Về số lượng tuyển sinh qua các năm của các trường ở các huyện miền Tây vẫn được duy trì khá ổn định. Mức độ tăng giảm giữa các năm là không đáng kể....

Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ở các huyện miền núi đạt 38% (trong đó, tỷ lệ lao động đào tạo bậc dạy nghề dưới 3 tháng và sơ cấp nghề còn chiếm tỷ lệ khá cao trong cơ cấu đào tạo nghề của tỉnh chiếm 81%, tỷ lệ đào tạo từ trung cấp nghề trở lên chỉ chiếm 18,9%). Tỷ lệ này thấp hơn đáng kể so với mức bình quân chung của cả tỉnh (55%).

Thực trạng mối liên hệ giữa nhà trường, cơ sở đào tạo nghề (GDNN) và các doanh nghiệp.

Trong những năm gần đây, ở các huyện miền Tây Nghệ An đã từng bước hình thành mối liên hệ giữa nhà trường, cơ sở GDNN và doanh nghiệp, tổ chức cá nhân để tổ chức các hoạt động hướng nghiệp, đào tạo nghề cho học sinh. Tuy nhiên, các mối liên hệ này còn gián đoạn, lỏng lẻo,…

Thực trạng công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đào tạo nghề.

Tỉnh đã và đang thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển nguồn nhân lực là người dân tộc thiểu số, gồm:

         -  Trường PTDTNT được ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách, lựa chọn bố trí cán bộ, giáo viên, nhân viên để đảm bảo việc nuôi, dạy học sinh. Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh của trường được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của Nhà nước.

- Thông tư liên tịch 109/TTLT- BTC-BGDDT, ngày 29/5/2009 về việc hướng dẫn một số chế độ tài chính đối với học sinh các trường  phổ thông dân tộc nội trú và các trường dự bị đại học dân tộc.

  - Học sinh bán trú lớp 4, lớp 5, lớp 6 được tỉnh hỗ trợ 90.000 đồng/học sinh/tháng và hưởng 9 tháng trong 1 năm theo Quyết định số 95/2005/QĐ-UBND ngày 04/8/2005 của UBND tỉnh Nghệ An.

- Chính sách hỗ trợ học sinh bán trú và trường phổ thông dân tộc bán trú (thực hiện Quyết định 85/2010/QĐ-TTg ngày 21/12/2010 của TTCP).

- Đặc biệt, theo Luật Giáo dục nghề nghiệp, từ tháng 7 năm 2015, người học nghề được hưởng nhiều ưu đãi trong miễn giảm học phí.

- Chính sách cử tuyển đối với học sinh dân tộc thiểu số.

 Đánh giá thực trạng sử dụng công nhân trong tỉnh.

Số lượng lao động và phân bố: Hiện nay số dân trong độ tuổi lao động ở tỉnh ta có hơn 2 triệu người, chiếm hơn 64%, trong đó, lao động nông thôn chiếm khoảng 70% tổng lực lượng lao động, là nơi cung cấp nhân lực cho các khu đô thị và khu công nghiệp. Đội ngũ lao động của tỉnh Nghệ An phân bố không đều theo vùng, miền. Phần lớn LLLĐ chất lượng cao đều tập trung chủ yếu ở một số trung tâm như thị xã Cửa Lò; huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu, TP. Vinh,...

Chất lượng đội ngũ lao động và khả năng đáp ứng của lao động trong các doanh nghiệp chỉ ở mức trung bình. Lao động làm việc tại các doanh nghiệp đã qua đào tạo mới chỉ chiếm tỷ lệ 52,3%. Số lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ lớn (47,7%), chủ yếu làm việc trong ngành may mặc, khai thác than, xây dựng công trình dân dụng, buôn bán... Đánh giá của các DN về chất lượng nguồn lao động hiện tại, cụ thể: 37,5% số DN cho rằng khả năng tư duy sáng tạo của người lao động chỉ ở mức trung bình và 12,5% số DN đánh giá ở mức kém; việc tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật chỉ ở mức trung bình với 41,2% số DN; trình độ hiểu biết pháp luật với 41,2% số DN ở mức trung bình và 5,9% kém...

Mức thu nhập trung bình của người lao động là 4.144.000 đồng/ người/ tháng. Đa số có mức thu nhập từ trên 3 đến 5 triệu (chiếm 55,5%), dưới 3 triệu chiếm 31,0% và 14% còn lại thu nhập từ 5 triệu trở lên (trong đó có một số lao động cao hơn 9 triệu/người/tháng). Mức thu nhập cao (từ 5 triệu trở lên) thuộc về các ngành: công nghiệp chế biến/ chế tạo, khai khoáng, sản xuất và phân phối điện, xây dựng, thương nghiệp và vận tải. Trong đó, cao nhất trong nhóm DN sản xuất là ngành sản xuất và phân phối điện và mức cao nhất trong nhóm DN kinh doanh dịch vụ là ngành vận tải và ngân hàng.

Thực trạng lao động khu vực miền Tây.

Lao động là người dân tộc thiểu số: Lực lượng lao động là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ khá lớn (xấp xỉ tỷ lệ lao động là người kinh) nhưng nhìn chung chất lượng rất thấp. Số lao động có trình độ học vấn tốt nghiệp phổ thông cơ sở trở lên chiếm khoảng 20% và số lao động có trình độ chuyên môn từ công nhân kỹ thuật trở lên chỉ chiếm khoảng 3-5% tổng số lao động trên địa bàn. Lao động chủ yếu là phổ thông, với các công việc thủ công, giản đơn. Năng suất, hiệu quả lao động còn đạt ở mức thấp, trình độ tay nghề, chuyên môn kỹ thuật, trình độ ngoại ngữ, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp còn hạn chế.

Nhu cầu sử dụng lao động, việc làm của các doanh nghiệp trong tỉnh.

Về cung lao động: Hiện nay, với khoảng 1.750,5 nghìn lao động (2015) và dự kiến khoảng 1.881,8 nghìn lao động (2020) trong độ tuổi lao động có nhu cầu làm việc, sẵn sàng tham gia lực lượng lao động khi có cơ hội.

Về cầu lao động: Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong những năm gần đây được cải thiện và tốt hơn năm trước. Có gần 1/2 doanh nghiệp giữ nguyên quy mô và hơn 1/3 doanh nghiệp tăng quy mô sản xuất. Doanh nghiệp đạt kết quả sản xuất kinh doanh tương đối khả quan cả về doanh thu và lợi nhuận (trước thuế). Số doanh nghiệp làm ăn có lãi (tăng doanh thu và lợi nhuận) đã phần nào cho thấy sự phục hồi và phát triển của cộng đồng doanh nghiệp(1).

Với tốc độ tăng trưởng GDP được xác định cho giai đoạn 2016 - 2020 thì tổng cầu lao động của nền kinh tế xác định tương ứng đến năm 2020 là 1.901 nghìn người.

2.     Giải pháp

Một số giải pháp về hướng nghiệp, phân luồng cho học sinh

- Hướng nghiệp: Về nhân sự, khuyến khích những giáo viên đã và đang tham gia dạy hướng nghiệp học thêm văn bằng 2 hoặc chứng chỉ nghiệp vụ về hướng nghiệp; Về lâu dài cần xem xét bố trí giáo viên chuyên môn đứng lớp, bởi vì đây là môn học quan trọng không chỉ đối với học sinh các huyện miền núi mà ngay cả với học sinh các huyện đồng bằng cũng vậy; Về chương trình học, tiếp tục hoàn thiện chương trình giáo dục hướng nghiệp chung cho học sinh phổ thông; Lập hsơ hưng nghip học sinh ngay từ những năm đầu cấp học THCS; Đa dạng các hình thức tổ chức GDHN;...

- Phân luồng: Phân luồng phải gắn với đào tạo nghề. Công tác hướng nghiệp phải được bắt đầu từ lớp 6. Khẩn trương thực hiện triệt để chủ trương sát nhập trung tâm công lập cấp huyện thành Trung tâm GDNN-GDTX (trước các huyện đồng bằng và thành phố Vinh). Xây dựng chương đào tạo nghề phù hợp với năng lực, trình độ của các em.

Các giải pháp về đào tạo nghề cho học sinh.

          Đề tài đặt ra mục tiêu đào tạo những nghề phù hợp với yêu cầu của thực tiễn như: Dạy nghề truyền thống để phục vụ sản xuất, phát triển kinh tế tại địa phương; Tập trung giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn bằng nhiều hình khác nhau, đặc biệt là đối với những học viên đã qua đào tạo nghề; Giới thiệu và quản lý chặt chẽ lao động trong các khu công nghiệp; Đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động sang các thị trường dễ tính với những nghề đơn giản: Đài Loan, Malayxia, Thái Lan - là những thị trường gần gũi, thân thiện với người Việt, phù hợp với người dân nông thôn; Có kế hoạch phát triển làng nghề hợp lý: Chú trọng phát triển các nghề, làng nghề vốn là thế mạnh của từng vùng, có chính sách rất ưu đãi đối với những người có công truyền bá và phát triển ngành nghề mới ở địa phương;...

Các giải pháp về quản lý:

Xây dựng quy hoạch dài hạn việc đào tạo nghề: Trên cơ sở các quy định của Nhà nước về đào tạo và thực tiễn của miền Tây để xây dựng quy hoạch từ hướng nghiệp đến đào tạo nghề đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất; Công tác phân luồng: Tăng cường công tác phân luồng theo Chỉ thị số 04 CT/TU ngày 25 tháng 4 năm 2016 của Ban thường vụ tỉnh ủy Nghệ An về tăng cường lãnh đạo thực hiện công tác phân luồng hướng nghiệp, giáo dục và đào tạo nghề học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2020; Xã hội hóa công tác dạy nghề: có cơ chế, chính sách tốt sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân đầu tư trí, tài, lực để phát triển các cơ sở đào tạo nghề rộng khắp, chuyển dần từ mô hình đào tạo đáp ứng về số lượng sang đáp ứng chất lượng và hiệu quả theo nhu cầu của xã hội; Thành lập Trung tâm dự báo và phát triển nguồn nhân lực cấp tỉnh: bổ sung chức năng, nhiệm vụ cho 1 đơn vị nghiên cứu trên địa bàn tỉnh để làm việc này, đáp ứng được về thông tin dự báo cũng như là phát triển nguồn nhân lực;...

Các giải pháp về tuyên tuyền nhằm nâng cao nhận thức.

Tuyên truyền về tầm quan trọng của GDHN cho học sinh với sự lựa chọn ngành nghề vừa phù hợp với cá nhân, điều kiện gia đình và đáp ứng như cầu lao động của huyện, tỉnh, cả nước; xóa bỏ tâm lý chuộng bằng cấp trong XH ngày nay: ĐH, CĐ không phải là con đường tiến thân duy nhất của học sinh.

Đối tượng tuyên truyền: học sinh, các bậc phụ huynh, các tổ chức xã hội khác, nhà trường.

          3. Xây dựng mô hình

Sau khi nghiên cứu, khảo sát thực trạng về tâm lý nghề nghiệp, hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh phổ thông các huyện miền Tây Nghệ An, trên cơ sở điều kiện phát triển kinh tế xã hội đặc thù, nhóm nghiên cứu đã đề xuất một số mô hình hướng nghiệp đào tạo nghề cho học sinh các huyện miền Tây.

+ Mô hình JST

Song song với học văn hóa ở trường trung học, trong cấu phần Giáo dục hướng nghiệp học sinh được tổ chức đào tạo một số kỹ năng nghề nghiệp.

 

+ Mô hình ST

 Hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh phổ thông miền Tây Nghệ An tốt nghiệp THCS tiếp tục học nghề ngắn hạn (sơ cấp nghề) và tham gia thị trường lao động tại địa phương. 

         

+ Mô hình LT

Hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh phổ thông miền Tây Nghệ An tốt nghiệp THCS tiếp tục học TC nghề và tham gia thị trường lao động ở các khu công nghiệp, khu chế xuất trong, ngoài tỉnh Nghệ An.

+ Mô hình MT:

                    Các mô hình hướng nghiệp đào tạo nghề cho học sinh trung học đề được thể hiện trong sơ đồ sau:

        Kết quả nghiên cứu của đề tài còn chưa phản ánh hết thực trạng cũng như đặc thù tâm lý nghề nghiệp của  giáo dục phổ thông các huyện miền Tây Nghệ An hiện nay, song với những gì đã đạt được,  hy vọng đề tài sẽ góp phần cung cấp những tư liệu quý về công tác tâm lý giáo dục hướng nghiệp, đào tạo nghề để UBND tỉnh, các sở ban ngành, cơ quan quản lí giáo dục, các trường phổ thông ứng dụng, cải tiến, xây dựng chương trình giáo dục hướng nghiệp đào tạo nghề, điều chỉnh trong các chính sách dạy nghề cho các đối tượng là học sinh các huyện miền núi. Đó cũng là nền tảng để phát triển nguồn nhân lực, là chìa khóa để phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền Tây bền vững./.

Chú thích:

(1)   Báo cáo nhiệm vụ "Thực trạng doanh nghiệp Nghệ An trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế".                                                                                     

LÊ ĐỨC THÔN

1. Đặt vấn đề

Không ít những câu chữ, chi tiết trong kiệt tác Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du trải qua hơn hai thế kỷ, đến nay vẫn còn gây nhiều tranh cãi về cách hiểu thế nào cho đúng. Ngay như tên một số nhân vật trong Truyện Kiều có văn bản in thế này, văn bản lại in thế khác. Câu hỏi cần được trả lời là: - Tên một số nhân vật trong Truyện Kiều (Nguyễn Du) viết thế nào là đúng? Tôi xin đưa ra kiến giải sau:

2. Nội dung kiến giải

2.1. Lập bảng đối chứng:

TT

Chi tiết để đối chứng

Văn bản để đối chứng

"Từ  điển Truyện Kiều" (TĐTrK) (Đào Duy Anh)

Ngữ văn 9 - tập 1

01

"Chú thích"

- "Giám sinh" "học trò học Quốc tử giám, nhưng giữa thời nhà Minh về sau thì người quyên lúa cho quan cũng được hàm giám sinh. Vd. Mã giám sinh 625; 805; 2385; 2889, tức người giám sinh họ Mã gọi tắt là Mã sinh." (08 dòng cuối-cột 01 - tr158).

- "Mã Giám Sinh: giám sinh họ Mã. Giám sinh là tên gọi học trò ở Quốc tử giám. trường lớn ở kinh đô thời xưa. Giám sinh cũng có khi chỉ chức giám sinh người ta mua của triều đình." (Dg17->19- tr98).

02

Tên nhân vật

- Mã giám sinh

- Thúc sinh

- Tú bà

- Bạc bà

- Mã  Giám Sinh (11 lần)

- Thúc Sinh (07 lần)

- Tú Bà (01 lần)

- Bạc bà (01 lần)

 

2.2. Nhận xét:

 Từ điển Truyện Kiều (TĐTrK) chú thích "giám sinh" (cụm danh từ chỉ nghề nghiệp, chức tước). Trong khi đó Ngữ văn 9 - tập 1 lại chú thích "Mã Giám Sinh" (danh từ riêng chỉ họ và tên nhân vật).

Cái khác (dẫn đến sai kiến thức) của Ngữ văn 9 (so với TĐTrK) ở chỗ Ngữ văn 9 - tập 1 nghiễm nhiên coi "Mã Giám Sinh" là tên nhân vật (danh từ riêng). Đem tên đầy đủ của một nhân vật để "chú thích" thành các sự việc chỉ nghề nghiệp; chức tước là một việc làm sai, không thể chấp nhận được!

 Những phần được trích từ Truyện Kiều vào Ngữ văn 9 - tập 1 đều ghi xuất xứ: "(Nguyễn Du, Truyện Kiều trong Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1974. Có tham khảo một số bản Truyện Kiều khác)". Vậy hãy đối chứng tên nhân vật trong TĐTrK và trong Ngữ văn 9:

- Tên nhân vật mà chúng ta đang bàn đến đây (trong TĐTrK) được viết thống nhất theo cách thức lấy họ của nhân vật gắn với nghề nghiệp; chức tước hoặc vai xã hội. ("Mã giám sinh" - giám sinh họ Mã; "Thúc sinh - học sinh họ Thúc; "Tú bà" - bà họ Tú; "Bạc bà" - bà họ Bạc). Ngữ văn 9 - tập 1, ngược lại, đã danh từ riêng hóa các cụm danh từ ("Mã giám sinh") thành "Mã Giám Sinh"; Thúc sinh" thành "Thúc Sinh"; "Tú bà" thành "Tú Bà"; "Bạc bà" thành "Bạc Bà").

Cơ sở giúp dựa vào để xác định "chú thích" cũng như viết tên nhân vật thế nào cho đúng phải từ chính tác phẩm (kết hợp ý kiến chủ quan và ý kiến tham khảo).

Các cơ sở như tác phẩm Truyện Kiều (Nguyễn Du); sách tham khảo (TĐTrK - Đào Duy Anh) về viết tên nhân vật gần như không được tác giả Ngữ văn 9 -  tập bám vào.

Xét về nội dung "chú thích": "Mã Giám Sinh" của Ngữ văn 9 - tập 1 có dựa theo TĐTrK nhưng đối tượng được chú thích lại khác. TĐTrK chú thích "Mã giám sinh" còn Ngữ văn 9 - tập 1 chú thích "Mã Giám Sinh" (như tôi đã chỉ ra ở trên). Bởi vậy tên nhiều nhân vật của hai sách này (về Truyện Kiều) cũng được viết khác nhau (tôi cũng đã chỉ ra).

Hai sách của các tác giả khác nhau chú thích về đối tượng khác nhau; viết tên các nhân vật (Truyện Kiều) khác nhau được lãnh đạo NXB Giáo dục Việt Nam cho: "Đây là quan điểm về vấn đề viết chính tả tên riêng"? Phải nói ngay, trong Truyện Kiều; "Mã giám sinh"; "Thúc sinh"; "Tú bà";… đâu phải là "tên riêng" (danh từ riêng)? Chẳng hạn nhân vật "Thúc sinh" có tên là "Kỳ Tâm họ Thúc" (Thúc Kỳ Tâm - câu 1276- Truyện Kiều) có nghề nghiệp là học sinh; có xuất thân "cũng nòi thư hương" (dòng dõi có học). Một nhân vật có họ tên đầy đủ, lai lịch rõ ràng sao có thể muốn viết tên thế nào thì viết?!

Vấn đề viết tên nhân vật ở đây không nằm trong "quan điểm về vấn đề viết chính tả tên riêng" như ý kiến khẳng định của NXB Giáo dục Việt Nam mà nó phụ thuộc vào thẩm định tác phẩm. Chẳng hạn muốn biết viết tên nhân vật "Thúc sinh" hay "Thúc Sinh" là đúng thì phải trả lời chính xác các câu hỏi:

- Nhân vật cứu nàng Kiều (Truyện Kiều - Nguyễn Du) ra khỏi lầu xanh của Tú bà có họ tên là gì? Trả lời: - "Kỳ Tâm họ Thúc" (tức Thúc Kỳ Tâm).

- Thúc Kỳ Tâm có nghề nghiệp gì? Trả lời: - Học trò ("Thúc sinh"; "Thúc sinh viên").

Vậy là đủ cơ sở để khẳng định viết tên nhân vật "Thúc sinh" như TĐTrK (Đào Duy Anh) là đúng còn viết "Thúc Sinh" như Ngữ văn 9 - tập 1 là không đúng.

3. Kết luận

3.1. Viết đúng tên nhân vật trong Truyện Kiều (Nguyễn Du) không chỉ thể hiện sự tôn trọng bản quyền tác giả mà còn góp phần giữ nguyên vẹn giá trị nội dung phản ánh của kiệt tác Truyện Kiều.

3.2. Mã giám sinh chứ không phải Mã Giám Sinh. Và cái tên Thúc sinh xuất hiện lần đầu trong Truyện Kiều ở câu 1303. Trong khi đó tên thật (đầy đủ cả họ tên) Thúc Kỳ Tâm xuất hiện từ câu 1276: "Kỳ Tâm họ Thúc cũng nòi thư hương", khi nhân vật này lần đầu tiên bước vào tác phẩm Truyện Kiều. Tác giả còn sử dụng các từ, cụm từ: sinh ("người học trò"); chàng Thúc; Thúc lang; Thúc sinh viên để chỉ nhân vật này. Bởi vậy Thúc sinh không thể là Thúc Sinh;…

Ý kiến của một vị lãnh đạo NXB Giáo dục Việt Nam dựa vào "ít nhất hai bài báo" và đưa ra "quan điểm" "phải hiểu tên những nhân vật này như Mã Giám Sinh, Thúc Sinh,… là những tên đã kết thành một khối chặt chẽ, cá thể hóa nhân vật"; rằng: "đây là quan điểm về vấn đề viết chính tả tên riêng" là áp đặt chủ quan, thiếu cơ sở khoa học. Mã giám sinh, Thúc sinh,…không phải là "tên riêng" (danh từ riêng). Mã giám sinh; Thúc sinh, Tú bà, Bạc bà đều là cụm danh từ. Cụm danh từ mà lại được cho là "đã kết thành một khối chặt chẽ" thành… danh từ riêng (tên nhân vật) thì kỳ quá!?

3.3. Xác định tên nhân vật sai dẫn đến hiểu sai lệch nội dung phản ánh của tác phẩm. Nếu mặc định nhân vật là Mã Giám Sinh, độc giả sẽ hiểu: trong Truyện Kiều (Nguyễn Du) có một nhân vật tên là Mã Giám Sinh thời trai trẻ, hắn là một khách làng chơi. "Quá niên trạc ngoại tứ tuần" hắn trở thành con buôn (buôn người) lừa lọc, xảo trá, bỉ ổi.

Nếu xác định nhân vật là Mã giám sinh, độc giả sẽ hiểu khác. Đại thi hào Nguyễn Du đã lên án, tố cáo xã hội phong kiến thời mọt ruỗng, đến cả những kẻ có chức tước hay những tên học ở trường danh tiếng (Quốc tử giám) cũng bị tha hóa, trở thành những kẻ buôn người thối tha, nhơ bẩn chứ đâu chỉ phơi bày bộ mặt bất lương của một tên Mã Giám Sinh cụ thể!? …

Tài liệu tham khảo:

1. Từ điển Truyện Kiều (Đào Duy Anh) - NXB Khoa học Xã hội - Hà Nội 1974.

2. Nguyễn Du - Truyện Kiều (Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú giải) - NXB Văn hóa - Thông tin - 2011.

3. Ngữ văn 9 - Tập 1 - NXB Giáo dục Việt Nam - 2016.

 

Chu Trọng Huyến

 

Có phải anh Nguyễn Tất Thành (hồi ấy mang tên là Nguyễn Sinh Côn) bị đuổi khỏi Quốc học Huế ngay sau ngày diễn ra cuộc biểu tình chống thuế ở Kinh đô, hồi tháng 5-1908(1) như các tài liệu sau đây:

William J.Duiker trong sách "Hồ Chí Minh" (Hyperion New York 2000, bản dịch của Phòng phiên dịch Bộ Ngoại giao tháng 5-2001, được in từ máy vi-tính khổ 24x16), tập I, trang 24 viết:

- Lúc chín giờ sáng (10-5-1908), một viên cảnh sát Pháp đã tới trường cùng một toán cảnh sát và hỏi về cậu "học sinh cao và đen" đã tham gia cuộc biểu tình ngày hôm trước. Khi thấy Thành đang ngồi phía cuối lớp, viên cảnh sát đã nhận ra Thành và nói: "Tôi có lệnh yêu cầu người có hành vi quấy rối này phải thôi học". Đó là ngày cuối cùng của Thành đến trường.

Chắc vì từ đó mà Hà Văn Thịnh trong bài "Nguyễn Tất Thành với Huế và phong trào Chống thuế năm 1908", đăng trên Tạp chí Sông Hương số 228, tháng 2-2008 đã viết là:

- Khi vào Huế, Nguyễn Tất Thành và anh trai thi đỗ vào trường Quốc học. Rồi lúc biểu tình nổ ra thì: "Ngày hôm sau (10-5-1908) vào lúc 9 giờ sáng, khi Nguyễn Tất Thành đang học tiết thứ ba thì một toán cảnh sát đến tận phòng học và viên đội trưởng đã tuyên bố rằng, người có hành vi quấy rối là Nguyễn Tất Thành phải thôi học. Đó là lần cuối cùng Nguyễn Tất Thành được chính thức ngồi học trong một lớp học".

Có phải các tác giả trên viết đúng?

Tất nhiên là người Pháp theo dõi một cách chặt chẽ về mọi cử chỉ của người học sinh Nguyễn Tất Thành. Nhưng họ làm việc theo thể thức hành chánh kín đáo chứ không phải sai bảo lính tráng hành động một cách hấp tấp, dễ dãi như Duiker và Hà Văn Thịnh viết. Ai đời, một viên đội trưởng cảnh sát mà lại có quyền "tuyên bố rằng, người có hành vi quấy rối là Nguyễn Tất Thành phải thôi học!". Hành động ấy chỉ diễn ra đối với người phạm pháp (hai năm rõ mười) ở ngoài đường, ngoài chợ. Còn đến nơi như tại lớp học của một nhà trường thì nhân viên cảnh sát không được làm như thế. Quyết định buộc "phải thôi học" hoặc đuổi khỏi trường đối với một học trò Quốc học trong hoàn cảnh bình thường là phải do người trên quyền của Hiệu trưởng trường ấy ký, rồi đại diện nhà trường có trách nhiệm công bố nó trước một lượng công chúng nhất định. Mà Hiệu trưởng và hầu hết giáo viên trường Quốc học Huế hồi đó là người Pháp. Chứ một anh đội cảnh sát (dù là dân Tây) cũng không có quyền ra lệnh đuổi (hay bắt) học trò khi người ta đang ngồi trong lớp.

Cũng cần biết, tên của anh Thành trong danh bạ nhà trường tại Huế hồi đó là: Nguyễn Sinh Côn. Và vì sao anh có tên gọi ấy?

Tên của anh trong sổ Khai sinh ở làng quê Kim Liên là Nguyễn Tất Thành (anh trai là Nguyễn Tất Đạt. Ý của hai cụ thân sinh là mong các con sẽ làm tốt những việc lớn trong cuộc đời họ). Còn tên thường gọi ở làng của Đạt là Khiêm và của Thành là Cung. "Khiêm" , "Cung" (2), hai chữ ấy hàm ý là khiêm nhường và cung kính. Đó là cách đặt tên theo lễ giáo của thuở trước. Khi ông Sắc lấy tên đi thi Hội là Huy, rồi đỗ Phó bảng thì theo tục lệ địa phương, trong xưng hô, con của các bậc đại khoa đều được tránh chữ húy (người Nghệ gọi là tên tục), cho nên "Cung" được gọi trệch thành "Công" (và "Khiêm" là "Khơm"). Vào Huế, cách phát âm ở trong ấy, giữa "Côn" và "Công" là khó phân biệt nên "Cung"  được gọi và cũng viết thành "Côn". Rồi ông Sắc cũng như cậu Thành cho rằng, gọi là Nguyễn Sinh Côn, như thế cũng được. Chữ Côn y, tiếng Hán có nghĩa là "anh", thì Cung cũng đã một thời được làm anh, khi bé Xin(3) đang còn ấy (chứ không phải cụ Sắc đặt tên con là "Côn" , tức một loại cá lớn, để mong con hóa thành "chim bằng" như lời bàn trong một số sách nào đó đã in!). Do vậy, trong danh bạ tại các nhà trường ở Huế cũng như trên các giấy tờ qua lại thuở bấy giờ, tên của anh Thành cũng được ghi là Nguyễn Sinh Côn. Tuy nhiên, trong bài viết này, chúng ta thống nhất viết tên anh là Nguyễn Tất Thành (trừ những lời trích dẫn).

Khi biểu tình chống thuế diễn ra tại Huế, anh Thành đang học ở trường nào? Các văn bản qua lại sau đây cho ta biết, bấy giờ anh chưa phải là học sinh Quốc học.

Nguyễn Huy Hoan viết trong bài "Một số sự kiện về thời niên thiếu của Nguyễn Tất Thành cần đính chính lại", in ở tập Kỷ yếu hội thảo khoa học Nguyễn Tất Thành ở Bình Định (KYHTKHNTTƠBĐ) viết là: "Khi 15 tuổi, Nguyễn Tất Thành cùng Nguyễn Tất Đạt theo cha vào Huế. Nguyễn Tất Đạt làm thợ máy in ở tòa Khâm sứ, còn Nguyễn Tất Thành tiếp tục học trường Pháp-Việt"(4). Và khi biểu tình nổ ra (thời gian học thuộc niên khóa 1907-1908), anh đang học lớp Ba (Sơ đẳng - Cours Élémentaire) tức lớp cuối ở Trường Tiểu học Pháp - Việt Đông Ba của tỉnh Thừa Thiên, đặt tại Huế. Năm học sau (1908-1909), anh xin sang học lớp Trung đẳng Tiểu học (Cours Moyen) ở trường Quốc học.

Nguyễn Đắc Xuân trên Báo Lao Động số Xuân Ất Dậu (2005) đã công bố bức thư của Su-kê (Chouquet), Hiệu trưởng Trường Quốc học Huế trả lời Khâm sứ Trung kỳ Lơ-vếch (Levecque) rằng: "Tiếp theo hồ sơ 526 đề ngày 4 tháng 8 năm nay của ngài, tôi hân hạnh báo cho ngài rõ là có thể tiếp nhận vào Quốc học, học sinh có tên Nguyễn Sinh Côn, người gốc Nghệ An, học sinh trường Pháp - Việt tỉnh Thừa Thiên".

Và chỉ có Nguyễn Sinh Côn chứ người anh của cậu không học Quốc học.

Cũng cần nói rõ về khái niệm Trường Quốc học hồi đó.

Ta biết, tính đến tháng 8-1908, cả nước chỉ Huế mới có một ngôi trường mang danh hiệu là Quốc học. Ở Nam kỳ, có Trường Bổn quốc (Collège ChasseLoup-Laubat) lập năm 1874 và Trường Mỹ Tho (Collège Mỹ Tho) lập năm 1879... Về sau, các trường ấy cũng dạy bậc trung học nhưng không gọi là Quốc học. Tại Bắc kỳ, ngày 9-12-1908 Toàn quyền Đông Dương Klô-bu-cốp-xki (Klobukowski) mới ra Nghị định cho lập tại Hà Nội một trường loại như thế, tức Trường Thành chung bảo hộ  (Collège du Protertorat sau này gọi là Trường Bưởi, vì đặt ở ngôi làng mang tên ấy, rồi về lâu, nó được mở rộng lên cả bậc đại học). Còn Quốc học Huế thì được thành lập sớm hơn, theo Quyết định của Toàn quyền Đông Dương   Rút-xô (Paul Armand Rousseau) ngày 23-10-1896, mà người cho thực thi là Khâm sứ Trung kỳ Bi-e-rơ (Ernest Albert Bierre). Bấy giờ, trường này do Ngô Đình Khả làm Trưởng giáo (sau này gọi là Hiệu trưởng) và Nguyễn Văn Mại làm Phụ tá trưởng giáo, về sau, người Pháp nắm các chức danh ấy. Đó là ngôi trường Trung học được lập sớm nhất ở cả Trung và Bắc kỳ. Mang tên Quốc học, chắc vì trường được đặt tại kinh sư. Về sau (trong thời Pháp thuộc) các trường là trung học công lập mở ở các tỉnh cũng được gọi là quốc học (theo tiếng nói của dân gian) như: Quốc học Vinh (lập năm 1920), Quốc học Quy Nhơn (lập năm 1921)... Còn từ 1908 cho đến nhiều năm sau, khi nói trường quốc học thì đó là Quốc học Huế.

Nguyễn Tất Thành được vào Quốc học Huế sau khi cậu đã hoàn thành bậc Sơ học (Cours Élémentaire) để lên lớp Nhì (cours Moyen). Có việc đó vì trong trường trung học (Collège) lúc bấy giờ có cả các lớp thuộc bậc Tiểu học (tức các trò trung học nhỏ tuổi - Petit collège), cách tổ chức ấy, cơ bản, được người Pháp duy trì cho mãi đến 1945.

Như thế là lúc xẩy ra biểu tình chống thuế tại Huế, anh Thành đang học lớp Ba ở Trường Pháp - Việt Đông Ba. Xong năm học đó, anh mới xin và được nhận vào Trường Quốc học. Tuy vậy, khi tham gia đấu tranh, anh đã lên 18, tức đã ở tuổi thành niên. Tuổi nhận vào cho học trò tại cả các trường công lập hồi ấy còn rộng.

Nhắc lại như thế để thấy rõ rằng, không phải sau khi cuộc biểu tình chống thuế diễn ra ở Huế một vài hôm thì anh Thành bị đuổi học. Mà mãi về sau, chuyện ấy cũng không xẩy ra.

Tài liệu của Pháp duy nhất có liên quan đến anh Thành trong thời gian ấy mà ta sưu tầm được là bức Công văn mật số 711 của Chánh mật thám Trung kỳ (ký ngày 12 tháng 11 năm 1923) gửi Tổng mật vụ thuộc Phủ toàn quyền Hà Nội về lai lịch của ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy. Trong đó, đoạn có liên quan đến anh Thành là: "... Personnellement, Nguyễn Sinh Huy n'a jamais été susperté pendant son séjour en Annam. Il fut réprimandé eu raison de la conduite de ses deux fils, alors élèves au collège Quốc học qui avaient tennu devant leurs maitres des propos anti-francai à l'occasion des manifestations populaires de 1908".

Tạm dịch: "Về cá nhân, trong thời gian ở Trung kỳ, Nguyễn Sinh Huy chưa bao giờ bị tình nghi. Ông ấy (có) bị khiển trách vì hạnh kiểm của hai con trai lúc bấy giờ là học sinh Trường Quốc học Huế. Hai người con này đã nói trước mặt thầy giáo những lời bài Pháp trong dịp dân chúng biểu tình năm 1908".

Lời báo cáo của Mật thám Trung kỳ nói trên là thiếu căn cứ. Nội dung ấy được viết vào năm 1923(5), tức 15 năm sau khi diễn ra cuộc biểu tình, thời gian đã làm nhòa đi rất nhiều về sự thật lịch sử trong dân gian. Mà vào mùa Xuân 1908, Nguyễn Tất Thành chưa phải là học sinh Quốc học và anh Đạt cũng không học tại trường ấy. Lời lẽ nói trên của Sở Mật thám Trung kỳ chỉ là cách kiếm cớ để nhà cầm quyền Pháp chú ý theo dõi Phó bảng Nguyễn Sinh Huy khi mà con trai nhỏ của ông đã là Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, người ra sức chống chủ nghĩa thực dân và chế độ thuộc địa, từng nhiều năm nổi tiếng tại Pháp và đã sang hoạt động tại Nga. Còn ông cựu tri huyện Huy thì đang được nhân dân Nam kỳ che chở. Bởi, bấy giờ, cụ chỉ là một "Ông thầy Huế" dạy học và làm thuốc giúp dân ở đồng bằng sông Cửu Long. Thứ nữa, nếu hồi kia, hai con của ông đã có thái độ như vậy với các giáo sư người Pháp thì sao khi sang niên khóa mới, năm 1908 ấy Nguyễn Sinh Côn lại được nhận vào Quốc học, nếu không phải là anh Thành đã tham gia biểu tình mà người Pháp cố tình chưa tính đến, cốt để theo dõi. Và, ông Phó bảng Huy thì sang năm sau (1909), từ chân Thừa biện (làm văn thư) ở Bộ lễ lại được thăng chức Tri huyện (mà hàm là tri phủ), là quan cai trị, đi nhậm chức tại huyện Bình Khê (tỉnh Bình Định).

Như thế là cả với bản báo cáo của Khâm sứ Trung kỳ nói trên, cũng không có chuyện anh Nguyễn Tất Thành bị đuổi khỏi Quốc học Huế sau khi tại Kinh đô nổ ra cuộc biểu tình chống thuế mà anh đã tham gia.

Biểu tình xong, sang năm mới, anh Thành được nhận vào Quốc học Huế với trình độ là lên lớp Nhì, theo như Công văn của Hiệu trưởng trường này trả lời Khâm sứ Trung kỳ mà ta đã biết. 

Trên Báo Lên Đàng xuất bản tại Sài Gòn năm 1947, Nguyễn Tài Tư viết: "Năm Canh Tuất, Duy Tân thứ tư (1910), cậu Nguyễn Tất Thành đã đỗ Thành Chung"(6).

Rõ ràng là Thành chưa đủ sức để thi mà lấy bằng đó nhưng anh học cho đến khi gần xong lớp Nhất niên khóa (1909-1910) của bậc Tiểu học trong Trường Quốc học thì bí mật rời Huế ra đi. Bởi thế về học lực của mình, sau này Hồ Chủ tịch cũng chỉ nhận là mình mới học xong lớp Nhì(7). Điều đó phù hợp với hồi ký của Giáo sư Lê Thước, còn lưu tại Viện Sử học - Hà Nội vào năm 1960, rằng: "Cuối năm học 1909 - 1910, tôi học ở Quốc học Huế. Trong giờ nghỉ, chúng tôi thấy một cậu học trò trạc độ 19, 20 tuổi còn học ở lớp dưới có lần đứng lên diễn thuyết. Cậu nói về nghĩa tự cường và nghĩa hợp quần rất sôi nổi... Mãi đến 1922 (hay 1923), báo "Courier Hải Phòng" của Pháp khi chỉ trích hành động của Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường thì có nhắc đến cả Nguyễn Ái Quốc. Ông Trần Kinh, bạn của tôi (hồi ở Đông Ba-Huế) nói cho tôi hay, Nguyễn Ái Quốc chính là người diễn thuyết ở Quốc học Huế năm 1910".

Mùa Xuân năm 1910 cũng là khi từ Huế, anh Nguyễn Tất Thành quyết định ra đi tìm đường cứu nước và bước hành trình đầu tiên của anh là lần đường đi về phía Nam của Tổ quốc.

 

Chú thích

(1). Về thời gian biểu tình chống thuế lan đến Thừa Thiên, Wikipédia viết: Đầu tháng 4, nhân dân Thừa Thiên biểu tình. Công sứ Pháp tỉnh Thừa Thiên là Gariod, Phó công sứ Boudineau liền điều lính nổ súng ngăn chặn. Bị cản trở, đoàn người bị áp bức liền xông lên đánh nhau với đội lính rồi bắt trói  viên Phó lãnh binh và bắt viên Phủ doãn phải dẫn đầu đoàn biểu tình (11-4)... Để cổ vũ phong trào, học sinh Quốc học và Trường Quốc tử giám còn đến đọc thơ ca, hò vè mang nội dung yêu nước...".

(2). Các chữ Hán trong bài viết này là do chúng tôi thêm vào cho rõ ý khi xét thấy cần thiết.

(3). Nguyễn Sinh Xin sinh năm 1910, tại Huế. Sau khi mẹ là bà Hoàng Thị Loan qua đời ở trong ấy thì cậu được đưa về quê, rồi không lâu thì cậu mất.

(4). Kỷ yếu do Tỉnh ủy Bình Định ấn hành, 2009, Tr.70.

(5). Bản báo cáo ấy, trên mục đề năm tháng ghi là "Huế, 21 Janvier 1920" nhưng ngày ký ở cuối thì lại là "Huế, le 12 Novembre 1923". Tất nhiên, người đọc chỉ căn cứ vào ngày ký. Và nơi lưu giữ là Trung tâm Lưu trữ II, tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 1982.

(6). Đỗ Quyên dẫn trong sách "Nguyễn Tất Thành ở Bình Định", Ban Tuyên giáoTỉnh ủy Bình Định in năm 2008, Tr.75.

(7). Nguyễn Huy Hoan trong bài đã dẫn viết rằng: "Tối ngày 27-8-1945, ông Vũ Kỳ được một số đồng chí lãnh đạo chọn làm thư ký giúp việc Bác. Để kiểm tra trình độ cán bộ, Bác đọc một bài tiếng Pháp cho đồng chí Kỳ viết... Sau khi xem lại, nhân đó Bác nói với ông Vũ Kỳ rằng: "Bác học chính thức trên ghế nhà trường chỉ hết lớp Nhì của bậc Tiểu học", KYHTKHNTTƠBĐ. Tr.72.

Lê Đức Hoàng

Cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu của Tưởng, vô hiệu hóa hoạt động chống phá của bọn tay sai, quét sạch lực lượng vũ trang phản động, giải phóng nhiều nơi, làm cho hậu phương của ta mở rộng, chính quyền nhân dân và mặt trận dân tộc được củng cố, giảm bớt được số lượng kẻ thù. Đó là tiền đề quan trọng, giúp chúng ta có thêm điều kiện tập trung vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược theo phương châm "toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh" và với quyết tâm "thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"(22), tiến đến chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

 

1. Chính quyền cách mạng nước ta vừa mới ra đời phải đối phó với muôn vàn khó khăn, thách thức. Bên trong, "giặc đói", "giặc dốt", "giặc nội phản" hoành hành, trong khi đó, ngân sách nhà nước trống rỗng, lạm phát tăng, lực lượng mỏng, thiếu kinh nghiệm quản lý. Bên ngoài, các thế lực đế quốc, thù địch, phản động cấu kết với bọn tay sai, nội phản, tìm cách bao vây, chống phá, hòng lật đổ chính quyền cách mạng, tái dựng ách thống trị của chúng. Từ vĩ tuyến 16 trở vào, có hơn 1 vạn quân Anh đang dung túng, giúp đỡ thực dân Pháp quay lại xâm lược Nam bộ và hơn 6 vạn quân Nhật đang chờ quân Đồng minh giải giáp, trong đó có một bộ phận tích cực giúp Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng ở Nam bộ. Từ vĩ tuyến 16 trở ra, có gần 20 vạn quân Tưởng dưới danh nghĩa làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật nhưng bản chất là thực hiện âm mưu tiêu diệt Đảng ta, phá tan tổ chức Việt Minh, giúp bọn phản động lật đổ chính quyền cách mạng, hòng thiết lập chính phủ tay sai phục vụ mưu đồ của chúng.

"Giặc đói", "giặc dốt", "giặc nội phản", "giặc ngoại xâm" cùng nhiều khó khăn khác đe dọa nghiêm trọng vận mệnh dân tộc, ảnh hưởng đến sự tồn vong nòi giống, tổ tiên ta. Làm thế nào để đưa nước nhà vượt qua tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", giữ vững chính quyền cách mạng, bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, đập tan bọn nội phản, chiến thắng giặc ngoại xâm đã trở thành yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi Đảng và Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kịp thời có quyết sách đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế. Trong đó, cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu của quân Tưởng và lực lượng tay sai, nội phản có ý nghĩa quan trọng, là tiền đề để chúng ta tập trung sức mạnh, chuẩn bị kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược.

2. Với kế hoạch "Hoa quân nhập Việt"(1) được chuẩn bị từ năm 1942 và được Hội nghị Pốtxđam tháng 7/1945 giao nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, Tưởng đã đem "nhiệm vụ có tính hợp pháp" để thực hiện "âm mưu bất hợp pháp", tích cực tập hợp quân và tay sai sẵn sàng nhập Việt. Ngày 15/8/1945, phát xít Nhật chính thức đầu hàng Đồng minh vô điều kiện thì ngày 18/8/1945, Tưởng cử Lư Hán làm Tư lệnh phương diện quân thứ nhất, chỉ đạo hơn 10 vạn quân đang đóng ở Vân Nam sẵn sàng nhập Việt. Đồng thời, Tưởng còn ra lệnh tổ chức hội nghị quân sự có mời đại diện của Mỹ tới dự và chuẩn bị tổ chức hội nghị đoàn cố vấn Hoa quân nhập Việt. Ngay lập tức, Lư Hán dự kiến thành lập một chính phủ quân sự có toàn quyền xử lý vấn đề giải giáp quân Nhật, trừ vấn đề ngoại giao sẽ do Tưởng nắm giữ. Giúp Lư Hán, có đoàn cố vấn tối cao gồm các chuyên gia về kinh tế, tiền tệ, đối ngoại, giao thông. Còn Tiêu Văn, một phó tướng của Trương Phát Khuê, từ lâu theo dõi vấn đề Việt Nam thì nay nhận nhiệm vụ "sắp xếp chế độ chính trị" tại miền Bắc Việt Nam(2).

Ngày 19/8/1945, Lư Hán cử người vào Việt Nam làm tiền trạm và ngày 21/8/1945 điện cho chỉ huy tối cao quân Nhật ở Việt Nam sang tỉnh Vân Nam tiếp nhận chủ trương "quân Tưởng vào Việt Nam giải giáp quân Nhật". Cuối tháng 8 đầu tháng 9/1945, quân Tưởng (gồm quân đoàn trung ương và địa phương) xuất phát từ tỉnh Vân Nam và Quảng Tây lần lượt kéo vào nước ta theo hai hướng: hướng đường bộ Lạng Sơn, Lào Cai và hướng đường thuỷ vào vùng Đông Bắc, Hải Phòng, Hội An(3). Từ phía tỉnh Vân Nam, quân đoàn 93 (là quân địa phương, gồm sư đoàn 20, 21 và 22) của Lư Hán tới Lào Cai, tiến dọc sông Hồng, đến Hà Nội ngày 10/9/1945. Quân đoàn 60 của Vân Nam tới miền Trung Việt Nam ngày 13/9/1945, chia nhau đóng từ Hội An của Quảng Nam trở ra Vinh (Nghệ An) đến Thanh Hóa, trong đó có một sư đoàn tiến sang Lào. Từ Quảng Tây, quân đoàn 62 (là quân trung ương) có tướng Tiêu Văn đi cùng, theo hướng từ Lạng Sơn, Cao Bằng xuống tới Hà Nội ngày 14/9/1945, chia nhau đóng dọc các trục giao thông ở Hà Nội và đồng bằng Bắc bộ. Quân đoàn 52 (quân trung ương) theo đường biển, tiến vào vùng Đông Bắc và Hải Phòng. Sau đó, "Tưởng còn điều thêm quân đoàn 53 được Mỹ trang bị khá hiện đại do Chu Phúc Thành chỉ huy sang để kiềm chế Lư Hán"(4). Cũng từ đầu tháng 9/1945, các tướng lĩnh của Tưởng lần lượt tới Hà Nội: Tiêu Văn, Chu Phúc Thành đến ngày 8/9/1945, Lư Hán đến ngày 11/9/1945, Trần Tu Hòa (thiếu tướng Bộ Tư lệnh lục quân) đến ngày 15/9/1945, Hà Ứng Khâm đến ngày 4/10/1945. Tính đến ngày 16/10/1945, việc quân Tưởng nhập cảnh Việt Nam hầu như hoàn tất(5).

Ngày 7/9/1945, Tưởng ra "phương án giải quyết vấn đề Việt Nam" khẳng định không tham vọng lãnh thổ Việt Nam nhưng quyết không để Pháp tái chiếm. Ngày 15/9/1945, Viện hành chính Trung Hoa dân quốc tổ chức hội nghị về việc quân Tưởng chiếm đóng ở Việt Nam, với sự tham gia của đại biểu Trung ương Quốc dân Đảng cùng các bộ, ngành: tài chính, ngoại giao, quân chính, kinh tế, giao thông, lương thực. Hội nghị đề ra 14 nguyên tắc, quy định nhiều vấn đề liên quan tới việc quân Tưởng giải giáp quân Nhật và trách nhiệm của các bên liên quan(6). Ngày 17/9/1945, Hà Ứng Khâm đưa ra 4 phương châm quan hệ với Pháp, trong đó khẳng định phía Bắc vĩ tuyến 16 là khu vực quản trị của Trung Hoa(7). Ngày 28/9/1945, Bộ Tư lệnh lục quân Trung Hoa dân quốc ra tuyên cáo, cố tình thanh minh việc quân Tưởng kéo vào Việt Nam để làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật chứ không phải đi áp bức Đông Dương. Đồng thời, yêu cầu giữ nguyên đơn vị hành chính của Việt Nam ở Bắc vĩ tuyến 16, tạm thời do quân đội Tưởng quản lý để bảo đảm hòa bình, an tâm phục vụ, nỗ lực công tác. Cùng ngày tại Hà Nội, Lư Hán chủ trì buổi Lễ ra mắt sự kiện Hoa quân nhập Việt, có đại biểu của Nhật, Pháp và Mỹ tới dự. Từ ngày 30/9/1945, Tưởng đã phái Hà Ứng Khâm sang Việt Nam trực tiếp chỉ đạo các hoạt động nhưng đến ngày 4/10/1945 y mới tới Hà Nội. Ngay lập tức, Hà Ứng Khâm chủ trì cuộc họp cùng Lư Há, Trần Tu Hòa, Lăng Kỳ Hàn…, đề ra 12 nội dung, nhấn mạnh thời hạn cuối cùng việc tước khí giới của Nhật là ngày 31/10/1945 và hạn tập trung tù binh Nhật trước ngày 10/11/1945; kinh phí cho nhập Việt trước mắt khoảng 2,4 tỷ đồng quan kim  (1 đồng đổi 7 đồng tiền Việt); có thái độ thân tình, hiếu hảo với Chính phủ lâm thời Việt Nam DCCH, "nếu không thể dùng công văn chính thức để giao thiệp thì tốt nhất là dùng Bị vong lục"(8).

Theo gót quân Tưởng là bọn tay sai Việt Cách do Nguyễn Hải Thần cầm đầu tiến vào theo đường Cao Bằng, Lạng Sơn, Móng Cái, tích cực quấy rối, rải truyền đơn khắp nơi chống phá Việt Minh, dựng điều thảo phạt Chính phủ Hồ Chí Minh. Bọn Việt Quốc do Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam cầm đầu theo đường Lào Cai, Hà Giang cũng ùa về nước. Chúng đi tới đâu là tìm cách lật đổ chính quyền của nhân dân ta tại đó; lập trụ sở, tập hợp bọn phản động ở địa phương, quấy nhiễu, phá phách, cướp bóc, giết người. Theo đó, các tổ chức chính trị thân Nhật như Đại Việt cách mạng đảng, Đại Việt duy tân đảng, Việt Nam phục quốc, Việt Nam quốc xã đảng, Thanh niên ái quốc đoàn... của Trần Trọng Kim, Trần Văn An, Nguyễn Văn Sâm, Ngô Đình Diệm cầm đầu ráo riết hoạt động. Bên cạnh đó còn có Đại Việt quốc dân đảng của Trương Tử Anh, Đại Việt Quốc gia liên minh của Nguyễn Thế Nghiệp, Đại Việt duy tân của Lý Đông Á cũng ra sức phô trương thanh thế và phá hoại cách mạng. Cùng với đó là lực lượng tay sai của Pháp và nội phản như Nguyễn Văn Hinh, Trần Văn Tý, Lê Văn Hoạch, Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Văn Tâm… mưu toan ngóc đầu dậy, chuẩn bị đón chủ cũ trở lại. Nguyễn Tấn Cường lập Đảng Nam kỳ, Nguyễn Văn Tỵ lập Đảng Đông Dương tự trị. Ngoài ra, còn có bọn Tờrốtkít như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Huỳnh Văn Phương… tăng cường hoạt động dưới chiêu bài "cách mạng triệt để", gieo rắc tư tưởng hoài nghi, bi quan, hô hào phá hoại mặt trận dân tộc thống nhất. Tay sai, lưu vong, nội phản cùng với gần 20 vạn quân Tưởng tạo thành một êkíp, kịch liệt chống phá cách mạng Việt Nam. Bọn chúng thực hiện âm mưu "tiêu diệt Đảng ta, phá tan tổ chức Việt Minh, hòng lật đổ chính quyền cách mạng để lập nên chính phủ phản động làm tay sai cho chúng"(9).

Thế nhưng quân Tưởng và bọn tay sai đã "trễ một chuyến tàu" trong hành trình hiện thực hóa âm mưu của mình vì Cách mạng tháng 8/1945 thành công và nước Việt Nam DCCH ra đời trước khi chúng kéo tới. Tưởng điều Lư Hán sang Việt Nam nhưng cũng là thực hiện âm mưu tước dần vây cánh của Long Vân. Tưởng cử Tiêu Văn sang Việt Nam với nhiệm vụ quan trọng nhất là đánh đổ Việt Minh, tiêu diệt Đảng Cộng sản nhưng Tiêu Văn không làm được và Lư Hán càng không làm được. Tưởng phải phái Hà Ứng Khâm sang nhưng đã quá muộn! Vì Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam được cải tổ thành Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã tổ chức được chính quyền ở hầu khắp cả nước nên Lư Hán, Tiêu Văn và các nhân vật khác không thể lập được chính phủ quân sự, đưa tay sai lên cầm quyền như dự tính mà buộc phải giao thiệp với Chính phủ Hồ Chí Minh. Song, chúng không từ bỏ âm mưu, vẫn tìm mọi cách phá hoại chính quyền cách mạng, chiếm đóng một số nơi trọng yếu, đưa ra nhiều yêu sách và móc nối, thương lượng với Pháp hòng bóp chết cách mạng Việt Nam.

3. Từ trên đường tiến đến Hà Nội, bọn Tưởng ngang nhiên tước khí giới của các đội tự vệ địa phương và giải tán các Ủy ban nhân dân cách mạng, bắt ta cung ứng lương thực, thực phẩm, nơi ăn chốn ở, vàng bạc, thậm chí cả gái và thuốc phiện. Chúng khiêu khích, quấy nhiễu, kích động bọn nội phản xung đột vũ trang với Quân giải phóng của ta và hòng cướp chính quyền các địa phương; đòi lưu hành tiền quan kim, giúp tay sai xây dựng lực lượng vũ trang, đóng quân và đặt trụ sở ở Hà Nội cùng nhiều nơi khác. Đến Hà Nội, Lư Hán lập tức đòi ta phải báo cáo quân số, tổ chức quân đội. Tiêu Văn đòi ta cải tổ Chính phủ, giành cho bọn tay sai những chức vụ quan trọng như thủ tướng, bộ trưởng quốc phòng, bộ trưởng ngoại giao. Thậm chí, Tiêu Văn còn gửi tối hậu thư đòi đưa các bộ trưởng là người của Đảng Cộng sản ra khỏi Chính phủ. Nhiều lần, chúng hăm dọa dùng vũ lực lật đổ chính quyền cách mạng, gây các vụ khiêu khích, bắt cóc cán bộ, khủng bố, cướp bóc, phá rối trật tự an ninh. Chúng xuất bản báo chí phản động, công khai tuyên truyền, xuyên tạc, nói xấu cách mạng. Trong giao dịch với ta, cả Lư Hán lẫn Tiêu Văn đều không dùng công hàm của Chính phủ Trung Hoa dân quốc, mà chỉ dùng Bị vong lục, không có tiêu đề tên nước với ý đồ không công nhận Chính phủ Việt Nam DCCH(10).

Khi tràn vào Bắc bộ, nhất là ở Hải Phòng và tràn vào miền Trung, nhất là ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Thừa Thiên - Huế, quân Tưởng giở trò ngổ ngáo, láo xược như những tên chỉ huy trùm sỏ đã làm ở Hà Nội. Chúng trắng trợn phá hoại với nhiều thủ đoạn, quấy phá, vơ vét, cướp bóc, hạch sách. Ở Thanh Hoá, một trung đoàn quân Tưởng toả ra chiếm các vị trí xung yếu tại thị xã, tập trận giả, đặt súng máy cảnh giới các ngả đường, kiểm soát người qua lại, tước vũ khí bất cứ ai, kể cả đồng chí Phó Chủ tịch tỉnh. Bọn Việt quốc, Việt cách cấu kết với bọn phản cách mạng, lôi kéo, lũng đoạn những người kém giác ngộ, xây dựng cơ sở phản động, chống đối chính quyền ta; tổ chức bắt cóc cán bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân, vừa để tống tiền, vừa hãm hại, gây rối loạn, đòi đưa bọn tay sai vào chính quyền tỉnh. Tại Nghệ An, Hà Tĩnh và một số nơi khác, hơn một vạn quân Tưởng do Khâu Bỉnh Thương chỉ huy, rải quân chiếm đóng nhiều nơi ở Vinh, cầu Cấm, cầu Yên Xuân, cửa Rào, Mường Xén (Nghệ An), Đức Thọ (Hà Tĩnh), kiểm soát nhiều tuyến giao thông quan trọng. Chúng đòi chính quyền các tỉnh dành những nơi trọng yếu làm chỗ đóng quân, như đòi đặt sở chỉ huy tại Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, đòi đóng quân tại Trường Nguyễn Công Trứ (Vinh), xúi giục thành lập Trường Trung học Hoa kiều, lập tổ chức vũ trang trá hình trong trường học. Chúng còn lạc quyên gây quỹ, in bạc giả, kích động một số học sinh và quần chúng biểu tình, chống chính quyền. Riêng ở xã Trường Sơn (Đức Thọ, Hà Tĩnh), chúng xúi giục bao vây trụ sở Ủy ban nhân dân, đòi giải quyết những yêu sách phi lý. Các tờ báo chứa đựng nội dung phản động do Việt Quốc phát hành ở Hà Nội, được chúng đưa vào phát tán khắp nơi. Tại Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, bọn Việt Quốc lập ra một số "chi bộ". Ở Quảng Trị, chúng kích động bọn Việt quốc chống phá chính quyền, ức hiếp, đánh đập nhân dân. Chúng cấm lực lượng vũ trang ta làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự, an ninh; đòi phải nộp vũ khí cho chúng. Sư đoàn quân Tưởng ở Nghệ An, Hà Tĩnh cũng như trung đoàn đóng ở Đồng Hới, Đông Hà, Huế đều là đội quân ô hợp, đi tới đâu, quấy nhiễu nhân dân tới đó. Tưởng còn tìm cách mặc cả với Pháp về việc để Pháp thế chân sau khi quân Tưởng rút về nước, dẫn đến ký kết Hiệp ước Hoa - Pháp tại Trùng Khánh ngày 28/2/1946. Ngày 8/3/1946, quân Pháp đổ bộ lên Hải Phòng, thế là thêm một cường quốc thuộc Đồng minh nữa đã lợi dụng cuộc chiến tranh chính nghĩa chống phát xít để trục lợi trên xương máu của nhân dân Việt Nam(11).

4. Đảng và Chính phủ ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời có chủ trương đúng đắn, sáng tạo, linh hoạt, tận dụng tối đa phương châm "dĩ bất biến ứng vạn biến" để đấu tranh thắng lợi âm mưu của quân Tưởng và tay sai, trừng trị nội phản. Chúng ta đã dùng đấu tranh ngoại giao, chủ trương tránh xung đột, đưa ra khẩu hiệu Hoa - Việt thân thiện, chủ động giao thiệp với tướng lĩnh của Tưởng; nhân nhượng có nguyên tắc cho Tưởng về một số phương diện bao gồm cả chính trị, kinh tế, quân sự, về Đảng, ngoại giao; hòa hoãn với Pháp để tìm cách đuổi Tưởng về nước; kiên quyết trấn áp bọn tay sai, nội phản, điển hình là vụ án số 7 phố Ôn Như Hầu(12).

Đặc biệt, với cương vị là người đứng đầu Chính phủ, ngày 8/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thông điệp tới Tưởng thể hiện tinh thần hòa hảo: "Quân đội Trung Hoa tới Yên Bái bị một bọn cướp công kích, bọn cướp lấy danh hiệu Việt Minh. Chính phủ lâm thời nước Việt Nam DCCH đã tức khắc phái quân đến giúp đỡ quân Trung Hoa và tiễu trừ bọn cướp"(13). Người đã chủ động nhiều lần gặp Lư Hán, Tiêu Văn và còn tổ chức quần chúng nhân dân biểu dương lực lượng, chào đón Hà Ứng Khâm khi y vừa tới Hà Nội, hô vang khẩu hiệu "Ủng hộ Chính phủ lâm thời", "Ủng hộ Việt Minh", "Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh"... Ngày 11/9/1945, Lư Hán tới Hà Nội thì hôm sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến gặp bày tỏ thiện chí hòa bình. Ngày 17/9/1925, Người đến gặp Lư Hán lần thứ hai và ngày 23/9/1945 đến gặp Lư Hán lần thứ ba, bày tỏ sự bất bình về việc quân Anh giúp đỡ quân Pháp quay lại xâm lược Việt Nam, đề nghị quân Tưởng không nên làm như vậy tại Bắc Việt Nam. Lư Hán tỏ vẻ đồng ý kèm theo điều kiện Việt Nam phải bảo đảm trị an cho quân Tưởng(14). Đối với Tiêu Văn, Chủ tịch Hồ Chí Minh nắm rõ lý lịch cũng như ý định của y khi sang Việt Nam, nhìn thấu những bất đồng trong nội bộ của họ, từ đó có những đối sách phù hợp. Khi Tiêu Văn tới Hà Nội thấy chính quyền ta đã thành lập nên rất bực bội. Lập tức, Bác Hồ chủ động đến thăm, giải thích rõ tình hình và đề nghị cùng hợp tác giải quyết mọi vấn đề. Người còn mời Tiêu Văn cùng vợ ăn cơm và tặng quà. Phát hiện thấy trong hàng ngũ quân Tưởng cũng có những sỹ quan binh lính bày tỏ đồng tình với cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh kịp thời ứng xử thiện chí để khuyến khích, động viên họ.

Ngày 22/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại có thư bày tỏ với Tưởng nguyện vọng đến Trùng Khánh gặp Tưởng và Bộ trưởng ngoại giao Trung Hoa dân quốc. Ngày 28/10/1945, Người có điện gửi Tưởng, kêu gọi "Tưởng ban bố lệnh chấm dứt tàn sát một dân tộc đang bảo vệ quyền chính đáng của mình…, công nhận nền độc lập hoàn toàn của nước Việt Nam DCCH"(15). Trong bài "Hoa - Việt thân thiện" đăng Báo Cứu quốc ngày 12/11/1945, Người khẳng định mối quan hệ tốt đẹp, "chẳng khác gì anh em, bà con một họ, một nhà, đồng cam cộng khổ", "phải thương yêu giúp đỡ nhau như anh em cốt nhục", "phải mật thiết đoàn kết để làm cho thực hiện chữ Hoa - Việt thân thiện"(16). Ngày 19/11/1945, Người ký với Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh 7 nguyên tắc hợp tác giữa Việt Minh với Việt Cách và Việt Quốc. Ngày 24/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Lê Tùng Sơn, Cù Huy Cận ký bản 6 điểm về "Tinh thành đoàn kết"(17) thì đến ngày 27/11/1945, Người viết bài "Hoa - Việt tinh thành đoàn kết", trong đó yêu cầu "phải giúp đỡ Hoa quân, phải bảo vệ Hoa kiều". Ngày 6/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh nhắc nhở: "Chúng ta, ai nấy đều vì quốc gia dân tộc, chớ không phải vì lợi ích cá nhân. Như vậy, bất luận thế nào, chúng ta cũng phải đoàn kết… Người cách mệnh đều quyết hy sinh cá nhân tư ý, mà tôn trọng công ý của nhân dân và đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích của các đảng phái"(18). Trong bài "Thế giới với Việt Nam" ngày 31/12/1945, Người chủ ý nhấn mạnh những câu nói của Tưởng Giới Thạch, Hà Ứng Khâm, Lư Hán, Tống Tử Văn, Bạch Sùng Hy, Đài vô tuyến Côn Minh… về tình đoàn kết, hữu nghị, giúp đỡ lẫn nhau của hai nước Hoa - Việt; về việc quân Tưởng chỉ làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật chứ không hề có dã tâm xâm lược lãnh thổ Việt Nam(19). Để hạn chế sự phá hoại của bọn phản động, ngày 23/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh 14 điều thoả thuận kèm 4 điều phụ lục, trong đó thống nhất cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu, chức vị của các đảng phái trong Chính phủ liên hiệp(20).

Đến ngày 31/3/1946, quân Tưởng vẫn chưa chịu rút hết về nước theo quy định tại Hiệp định Hoa - Pháp. Chúng cố tình gây ra những vụ xung đột giữa ta và Pháp như bắt cóc, ám sát binh lính và thường dân Pháp để có cớ kéo dài thời gian đóng quân. Cuộc tổng triệt phá quân Tưởng bắt đầu từ tháng 5 nhưng mãi tới ngày 18/9/1946 thì đơn vị cuối cùng của Tưởng mới rút khỏi Hải Phòng, chấm dứt thời kỳ "Hoa quân nhập Việt". Dân tộc ta bớt một kẻ thù ngoại xâm nguy hiểm, tập trung tiêu diệt bọn tay sai, nội phản để rảnh tay đối phó với thực dân Pháp.

Quân Tưởng rút, bọn tay sai mất chỗ dựa. Nguyễn Hải Thần phải bỏ chạy sang Trung Hoa. Những tên còn lại tìm cách thay thầy đổi chủ, cố tiếp tục chống phá cách mạng Việt Nam. Nguyễn Trường Tam chạy lên Vĩnh Yên cùng Vũ Hồng Khanh, Đỗ Đình Đạo tính chuyện tập hợp quân kéo về Hà Nội phối hợp với thực dân Pháp mưu đồ lật đổ chính quyền cách mạng nhưng cuối cùng bị ta đánh dạt phải chạy sang Trung Hoa(21). Lợi dụng quân Tưởng rút về nước, ta mở cuộc tiến công truy quyét bọn phản cách mạng từ Hà Nội và phụ cận lên Vĩnh Yên, Phú Thọ, sang Yên Bái, Lạng Sơn, Lào Cai, đánh tan lực lượng Quốc dân Đảng - một đảng chính trị phản động có thực lực nhất lúc bấy giờ, giải phóng những nơi bọn chúng từng chiếm đóng.

 

Chú thích

1. Chúng tôi sẽ có một bài viết riêng về kế hoạch "Quân hoa nhập Việt".

2. Dương Mạnh Vân: Quá trình quân Tưởng vào Việt Nam, Tạp chí Xuân Thu dân quốc, số 3/1996, tr.17, bản Trung văn.

3. Dương Mạnh Vân: Quá trình quân Tưởng vào Việt Nam, Tạp chí Xuân Thu dân quốc, số 3/1996, tr.18, bản Trung văn.

4. Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, tập 1, Nxb QĐNDVN, HN, 1994, tr.27.

5. Dương Mạnh Vân: Quá trình quân Tưởng vào Việt Nam, Tạp chí Xuân thu dân quốc, số 3/1996, tr.18, bản Trung văn.

6. Hoàng Quốc An, Tiêu Đức Hạo, Dương Lập Băng: Tuyển biên lịch sử quan hệ Trung - Việt thời cận đại, Nxb Nhân dân, Quảng Tây, 1988, tr.951-952, bản Trung văn. Vì giới hạn bài tham luận nên chúng tôi không đưa vào nội dung chi tiết của 14 nguyên tắc đó.

7. La Mẫn: Nhận thức và thực tiễn của Trung Quốc về vấn đền Việt Nam sau chiến tranh (1942-1946), Nghiên cứu lịch sử Trung Quốc, số tháng 5/2003, tr.80-81, bản Trung văn.

8. Hoàng Quốc An, Tiêu Đức Hạo, Dương Lập Băng: Tuyển biên lịch sử quan hệ Trung Việt thời cận đại, Nxb Nhân dân, Quảng Tây, 1988, tr.956-958, bản Trung văn.

9. Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, tập 1, Nxb QĐNDVN, HN, 1994, tr.40-41.

10. Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, tập 1, Nxb QĐNDVN, HN, 1994, tr.28. Bị vong lục là văn bản ngoại giao trình bày lịch sử một vấn đề để tranh thủ dư luận hay làm cơ sở cho bang giao.

11. Cách mạng tháng 8/1945 trong tiến trình lịch sử dân tộc, Nxb CTQG, HN, 2005, tr.282-283.

12. Bọn Việt Nam quốc dân Đảng bí mật bàn với Pháp âm mưu đảo chính lật đổ Chính phủ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng vạch ra kế hoạch: Lợi dụng quân Pháp tổ chức diễu binh mừng Ngày Quốc khánh (14/7/1946), khi đi qua Bắc bộ phủ, chúng sẽ ném lựu đạn để gây đổ máu. Với lý do này, Pháp đổ lỗi cho ta, vào Bắc bộ phủ bắt các thành viên Chính phủ, tuyên bố thành lập chính quyền mới của Quốc dân đảng, làm tay sai cho Pháp. Lực lương công an đã triệt phá bọn phản động Quốc dân Đảng tháng 7/1946, đánh tan cơ sở của chúng ở phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều), Hà Nội.

13. Hồ Chí Minh toàn tập, t.4, Nxb CTQG, HN, 2011, tr. 11.

14. Lý Gia Trung: Cuộc đời Hồ Chí Minh, Nxb Tri thức thế giới, Bắc Kinh, 2010, tr.127, bản Trung văn.

15. Hồ Chí Minh toàn tập, t.4, Nxb CTQG, HN, 2011, tr.87-88.

16. Hồ Chí Minh toàn tập, t.4, Nxb CTQG, HN, 2011, tr.110-111.

17. Hồ Chí Minh toàn tập, t.4, Nxb CTQG, HN, 2011, tr.574-576.

18. Hồ Chí Minh toàn tập, t.4, Nxb CTQG, HN, 2011, tr.132.

19. Hồ Chí Minh toàn tập, t.4, Nxb CTQG, HN, 2011, tr.149-150.

20. Hồ Chí Minh toàn tập, t.4, Nxb CTQG, HN, 2011, tr.577-579.

21. Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, tập 1, Nxb QĐNDVN, HN, 1994, tr.147.

22. Hồ Chí Minh toàn tập, t.4, Nxb CTQG, HN, 2011, tr.534.

Hồ Sỹ Hùy - Mai Phương Ngọc

Đọc những bài báo xuất hiện mấy năm gần đây của GS.NGND Nguyễn Đình Chú chúng tôi lại nhớ đến câu tục ngữ: "Gừng càng già càng cay". Hơn nữa, đây lại là "gừng xứ Nghệ" chính hiệu! Các bài viết của GS dường như bao giờ cũng lấp lánh những ý tưởng mới lạ, lại có sức hấp dẫn của văn và chiều sâu của triết. Xin được nói thêm về Đệ nhất minh quân Lê Thánh Tông trong lịch sử văn hóa dân tộc đăng trên Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An số 10/2016 cũng không ngoài thông lệ đó.

1. Quả thật, những chỗ GS luận về chế độ phong kiến đức trị với "triết lý giáo dục cao siêu đích đáng nhất mà xem ra về sau khó bằng được", về vị thiên tử thế thiên hành đạo nói chung thật sâu sắc! Đặc biệt viết về tư tưởng pháp quyền, kết hợp đức trị với pháp trị và phương thức tuyển chọn những người chấp chính của Lê Thánh Tông mà tư tưởng được Tiến sĩ Thân Nhân Trung (1419 - 1499) thể hiện trong danh ngôn bất hủ: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, rồi liên hệ đến câu nói của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gần đây: "Việc bổ dụng không phải để tìm người nhà mà là tìm người tài" chắc hẳn sẽ được đông đảo bạn đọc hết sức đồng tình. Lại nhớ đến những chuyện nhức nhối xôn xao dư luận hiện nay về chuyện "cả nhà làm quan, cả họ làm quan"… mới thấy giá trị của Luật hồi tỵ mà Lê Thánh Tông  là vị vua đầu tiên trong lịch sử nước ta đã ban hành và cho thực hiện cụ thể, nghiêm túc. Trong Bộ luật Hồng Đức, ông quy định những người thân: cha con, thầy trò, anh em, bạn bè cùng học, những người cùng quê… thì không được làm quan cùng một chỗ. Nếu ai gặp những trường hợp nói trên thì phải tâu báo lên triều đình và các cơ quan chức năng để bố trí chuyển đi chỗ khác.

 2. Viết về Lê Thánh Tông (1442 - 1497) các học giả xưa nay đều nhất loạt đề cao nhưng mức độ có khác nhau. Có lẽ các tác giả bộ Đại Việt sử ký toàn thư cùng với Đô Tổng tài Quốc sử quán Vũ Quỳnh (1452 - 1516) xưa và GS. NGND Nguyễn Đình Chú hiện nay là những người đưa Lê Thánh Tông lên đỉnh cao nhất. Nhưng sử gia thời Lê sơ vẫn có khen, có chê. Các tác giả Đại Việt sử ký toàn thư nhận định: "Vua sáng lập chế độ, văn vật khả quan, mở mang đất đai, cõi bờ khá rộng, thực là bậc vua anh hùng tài lược, dẫu Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không thể hơn được". Bên cạnh đó có phê phán: "Nhưng công trình thổ mộc vượt quá quy mô xưa, tình nghĩa anh em thiếu hẳn lòng nhân ái. Đó là chỗ kém vậy"(1). Vũ Quỳnh viết: "Vua tư trời cao siêu, anh minh quyết đoán, có hùng tài đại lược, võ giỏi văn hay, mà cái học của thánh hiền lại đặc biệt siêng năng, tay không lúc nào rời quyển sách. Các tập kinh, sử, các sách lịch, toán, các việc thánh thần, không có việc gì không bao quát tinh thông. Văn thơ thì vượt trên cả những khuôn mẫu của các văn thần… Quy mô xếp đặt công việc trung hưng, có thể sánh vai với Thiếu Khang nhà Hạ, nối gót được Tuyên Vương nhà Chu, mà khinh hẳn Quang Vũ nhà Hán, Hiến Tông nhà Đường là hạng dưới vậy". Đồng thời tác giả cũng chỉ ra nhược điểm: "Tiếc rằng vua nhiều phi tần quá, nên mắc bệnh nặng"(2). Còn GS.NGND Nguyễn Đình Chú chỉ một mực ca ngợi: "Đất nước Việt Nam trăm vạn lần yêu quý của chúng ta là một đất nước có "nền văn hiến đã lâu" trong đó có không biết bao nhiêu là danh nhân văn hóa với nhiều dạng thức, nhiều cấp độ. Trong đó có vua Lê Thánh Tông mà tính đặc thù là một bậc đế vương trong thời bình đã trở thành một đại danh nhân văn hóa… Ở bình diện này đệ nhất minh quân là số một. Không một đế vương nào sánh kịp… Tôi thiết tha đề nghị nhà nước ta sớm đề nghị UNESCO  tôn vinh Đệ nhất minh quân Lê Thánh Tông cùng Phật hoàng Trần Nhân Tông, Đại ái quốc Phan Bội Châu trên phạm vi thế giới như đã tôn vinh Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh, Nguyễn Du".

3. Tuy vậy, cố GS. NGƯT Trần Quốc Vượng (1934 - 2005) trong bài Về Lê Thánh Tông (1442 - 1497) (Mấy điều giải ảo hiện thực lịch sử Việt Nam thế kỷ XV)  lại "đề nghị một cách nhìn hơi khác". Theo ông, vua Lê Thánh Tông mấy điểm chính đáng phê phán  sau đây:

- "Vua Lê Thánh Tông là người hiếu sát, ngay đầu tiên là giết đại thần Lê Lăng người đã đón Cung vương, sau đó là giết Cung vương Khắc Xương (1476) là anh ruột", "người phong nhã, đạm bạc, ăn mặc chi dùng dè xẻn, chất phác như một Nho sinh" đã "cố ý từ chối ngôi vua" để cho em (Thánh Tông) làm vua. Sử thần nhà Lê mà còn dám bình luận Lê Thánh Tông "tình nghĩa anh em thiếu lòng nhân ái, đó là chỗ kém" (Toàn thư, tập III, tr.173 - TQVchú)(3).

 - "Cũng ông vua này là người hiếu sắc. Sử thần Vũ Quỳnh "dám" bình: "Vua nhiều phi tần quá nên mắc bệnh nặng" (Bệnh giang mai? TQV). Hoàng hậu Trường Lạc bị giam lâu ở cung khác, đến khi vua ốm nặng mới được đến hầu bệnh, bèn ngầm đem thuốc độc trong tay sờ vào chỗ lở loét, bệnh vua càng thêm nặng (rồi mất)… (Toàn thư, tr. 320 - TQV chú)…". Việc này nảy sinh nhiều chuyện, trong đó có chuyện dẫn đến hai ông vua đời cháu Lê Thánh Tông là Uy Mục (ở ngôi 1505 - 1509) người Minh gọi là vua Quỷ và Tương Dực (ở ngôi 1510 - 1516) người Minh gọi là vua Lợn. Tính hiếu sắc này chứng tỏ vua Lê Thánh Tông kém vua Trần Nhân Tông không biết bao nhiêu bậc!

- "Ai cũng biết và cũng ca ngợi chiến công Lê Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành lập thêm đạo Quảng Nam (từ Quảng Nam đến Phú Yên ngày nay) là đạo thứ 13 của nước Đại Việt. Song các sử gia "chính thống" lại "quên" hậu quả lịch sử "tiêu cực" của "chiến công" đó: Với "chiến dịch" này Lê Thánh Tông chém giết hơn 4 vạn thủ cấp, bắt sống hơn 3 vạn người Chăm, kể cả 2 anh em vua Chăm Trà Toàn Trà Toại cùng vợ con (Lê Quý Đôn: Đại Việt thông sử, Bản dịch in trong Lê Quý Đôn Toàn tập, Tập III, Nxb KHXH, tr.257 - TQVchú). Hiếu sát đến thế là cùng!...".

- "Điều quan trọng hơn nhiều và gây hậu quả nghiêm trọng ở thế kỷ XVI là việc nhà Lê mô phỏng triều Minh xây dựng một nền quân chủ - Nho giáo độc tôn, chuyên chế. Chẳng phải bỗng dưng mà tác giả Việt Nam Phật giáo sử luận lại hạ lời bình: Nhà Lê thắng Minh về quân sự nhưng lại thất bại với Minh về văn hóa!..." (Nguyễn Lang Việt Nam Phật giáo sử luận (2 tập), Lá Bối, Sài Gòn, 1974, Paris, 1977 -  chú thích của TQV).

- "Ai cũng biết những điều sau đây, chỉ xin nhắc lại để nhớ:

- Các vua Lý Trần sùng cả Phật - Nho - Đạo và rất khoan nhượng với tín ngưỡng đa thần dân gian.

- Vua Lê theo nhã nhạc, phẩm phục, tang lễ… Trung Hoa, cấm điệu hát dân gian lý liên (rí ren). Lê Thánh Tông đuổi chèo ra khỏi cung đình "vì hay châm biếm người trên" (1465). Ông mở rộng Văn Miếu - Quốc Tử Giám (1483 - 1484), thi Nho thường xuyên (nhưng muốn thi phải khai "căn cước" ông cha và phường chèo con hát không được thi (Lệnh năm 1462) -  chú thích của TQV), bắt chước Trung Hoa "bảng vàng bia đá đề danh" các ông tiến sĩ Nho (1484), mở rộng hoàng thành (1490), làm đình (1491), định lệ tế Khổng Tử (tế Đinh) Xuân Thu nhị kỳ ở các phủ huyện (1472), ép Sử quan, Sử viện phải cho xem nhật lịch-quốc sử (1467), một việc mà không vua nào được quyền xem…

Ấy thế nhưng lên ngôi mới được một năm, ông vua này đã ra lệnh cấm dân làm mới chùa Phật, quán Đạo. Hai năm sau, ông ra lệnh cấm các người làm nghề bói toán, đồng cốt cùng Thiền sư, Đạo sĩ toàn quốc từ nay về sau không được giao thiệp, chuyện trò với người trong cung đình" (Toàn thư, tập III, tr.180 và tr.186 - TQVchú).

- "Ông… hễ mở miệng hay hạ chiếu chỉ là trích dẫn đầy những Tứ thư, Ngũ kinh của Nho giáo Trung Hoa. Tinh thần khai phóng, cởi mở, "Tam giáo tịnh hành", "quốc gia mở nước tự có pháp độ riêng, không cần mô phỏng Đường Tống" của nhà Lý, nhà Trần đã biến mất. Chỉ còn lại sự độc chuyên tư tưởng Nho - Tống để độc quyền quân chủ. Thế lưỡng phân văn hóa giữa cung đình/ dân gian dần dà sâu sắc… Lê Thánh Tông cũng là người theo Nho giáo "trọng nam khinh nữ". Ông là người đầu tiên bắt vợ để tang chồng ba năm như để tang bố mẹ, theo kiểu cách Trung Hoa, từ năm đầu Hồng Đức (1470)…".

Cuối cùng, trong LỜI ĐÓNG, GS. Vượng viết: "Vua Lê Thánh Tông "võ giỏi văn hay"?

Võ công? Ngài đâu là anh hùng chống xâm lăng như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung? Ngài là một kẻ chinh phục, một người xâm lược. Là người mác - xít thuộc lòng câu của cụ Mác "Kẻ nào xâm phạm tự do của người khác thì kẻ ấy đâu có tự do", chả nhẽ ta đề cao người xâm lược và sự xâm lược?

Văn trị? Lê Quý Đôn bảo: Văn thời ngài là lối văn bóng bảy, đục gọt từng câu; Dương Quảng Hàm bảo: "Thơ Hồng Đức chịu ảnh hưởng thơ Tàu rất sâu; có nhiều cảnh và từ mượn ở thơ Tàu mà không hợp với nước ta"(4). Vậy giới văn nghệ "đổi mới" của nước ta giờ đây học tập và kế thừa truyền thống lối văn ấy chăng? Mà sự thực, sách giáo khoa văn chương mấy ai tuyển được mấy bài của văn thơ Ngài và của cái Hội Tao đàn của Ngài cho học sinh đọc và học?

Ý thức hệ? Ngài độc tôn Nho, bài Phật, Lão. Thời buổi này văn hóa trọng DÂN CHỦ, NHÂN VĂN, đề cao dân quyền, đề cao phụ nữ. Ta kế thừa Ngài được cái gì về Tư duy - Ý thức hệ?..."(5).

4. Qua mấy điểm đáng phê phán và lời đóng của GS. Trần Quốc Vượng, bạn đọc đủ thấy rõ việc suy tôn vua Lê Thánh Tông hết mức như GS. Nguyễn Đình Chú đã làm là chưa thỏa đáng. 

Tuy vậy, cũng cần nói rõ thêm:

- Ở điểm 1 và điểm 3, GS. Vượng phê phán tính hiếu sát, còn nhấn mạnh "hiếu sát đến thế là cùng" của vua Lê Thánh Tông, ta thấy ứng xử của ông vua này thua xa ứng xử của vua Trần Thái Tông với anh ruột Trần Liễu. Còn cuộc chiến tranh để mở rộng bờ cõi sử xưa tán dương mà GS. Trần Quốc Vượng lại phê phán thì phải xét kỹ hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Việc chinh phạt Chiêm Thành của Lê Thánh Tông hoàn toàn có lý do chính đáng, không thể đơn giản gọi vua là "người xâm lược" như GS. Trần Quốc Vượng. Vấn đề này chúng ta sẽ bàn vào một dịp khác, nhưng dẫu sao tính hiếu sát cũng là một tội ác không thể bào chữa! Cũng chinh phục phương Nam để an tâm đối phó với bọn bành trướng phía Bắc và mở nước, nhưng cách làm hữu nghị của vua Trần Nhân Tông đáng ca ngợi hơn nhiều! Năm 1293 ông nhường ngôi cho con, làm Thái Thượng Hoàng, được mấy năm thì rời cung điện xuất gia đầu Phật, rồi chu du các nơi, đến Chiêm Thành củng cố hòa hiếu, hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Chế Mân và vua Chiêm đã dâng 2 châu Ô, Lý làm đồ dẫn cưới (vùng đất Quảng Trị và Thừa Thiên Huế ngày nay). Lòng khoan dung của vua Trần Nhân Tông (và cả hai vua đầu triều Trần: Thái Tông, Thánh Tông) đối với tướng sĩ, cả với dân chúng, gia nô, nô tì trung thành với chủ, với đất nước; thái độ khoan hồng đối với tù binh trái ngược hoàn toàn với tính hiếu sát của vua Lê Thánh Tông! Tinh thần Hội nghị quý tộc Bình Than (1282), đặc biệt là Hội nghị bô lão Diên Hồng - được xem như "Hội nghị dân chủ" đầu tiên trong lịch sử nước ta do Thượng hoàng Trần Thánh Tông triệu tập vào tháng Chạp năm Thiệu Bảo 6 (1284, Dương lịch là đầu năm 1285) trái ngược hoàn toàn với tính độc đoán chuyên quyền của Lê Thánh Tông. Lại nữa, sử nhà Lê tuy đề cao vua hết lời, nhưng vẫn chỉ ra "chỗ kém" là: "công trình thổ mộc vượt quá quy mô xưa" mà GS. Trần Quốc Vượng chưa nhắc đến. Đó chính là chỗ làm nhọc sức dân, quên mất danh ngôn Trần Quốc Tuấn trả lời vua Trần Anh Tông lúc sắp mất: "khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc"(6). Sau này Lê Lợi, Nguyễn Trãi kế thừa được các chính sách tốt đẹp đó của các ông vua đầu triều Trần mới có thể "dân chúng bốn phương tụ họp", "binh  sĩ một dạ cha con" đánh đuổi quân Minh, viết nên bản Bình Ngô đại cáo bất hủ! Đến thời đại Hồ Chí Minh, Bác Hồ và Đảng ta đã kế thừa được các truyền thống tốt đẹp đó của cha ông để giành thắng lợi vĩ đại trong hai cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc(7)!

- Đặc biệt ở các điểm 4, 5, 6  cách nhìn của GS. Trần Quốc Vượng hoàn toàn trái ngược với GS. Nguyễn Đình Chú.  Nói ngắn gọn theo GS. Trần, chính sách khoan dung tôn giáo, tín ngưỡng thời Lý, thời Trần và độc lập tư tưởng "quốc gia mở nước tự có pháp độ riêng không cần mô phỏng Đường Tống" hơn hẳn quốc sách độc tôn tư tưởng Tống Nho để độc quyền quân chủ của nhà nước Lê sơ mà đỉnh cao nhất là thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497). Nhân đây, cũng xin bổ sung: Tuy văn hóa thời Trần khai phóng "tam giáo tịnh hành" độc lập, tự chủ nhưng nhà Minh đã rất kiêng nể. Ngay từ năm 1368 vua Minh Thái Tổ đã công nhận nước ta là "văn hiến chi bang"(8). Đây là tư liệu thành văn sớm nhất khẳng định nước ta là nước văn hiến (trái với quan niệm phổ biến lâu nay, coi chữ văn hiến lần đầu xuất hiện trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Câu: Thực vi văn hiến chi bang có bản dịch cũ: Vốn xưng nền văn hiến đã lâu mà GS. Nguyễn Đình Chú đã trích ở đoạn đầu bài viết là dịch không chuẩn xác, vì nước ta đã được công nhận chứ không phải tự xưng! Dịch đúng phải là: Thực là một nước văn hiến). Năm 1427 Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo đã nhấn mạnh 4 chữ này để lên án con cháu Minh Thái Tổ. Ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng dạy chúng ta kế thừa tư tưởng khoan dung tôn giáo, tín ngưỡng thời Lý, thời Trần; đâu có kế thừa gì được tư tưởng độc tôn Tống Nho thời Lê Thánh Tông!(9) Như vậy, làm sao chúng ta có thể tán thành nhận định của GS. Nguyễn Đình Chú trong đoạn kết: "… Văn hóa của bậc đế vương này là văn hóa phát triển, văn hóa thực tiễn, văn hóa trị bình thiên hạ, đưa đất nước lên độ hùng cường mọi mặt, ngang hàng các nước hùng cường trong khu vực đương thời. Ở bình diện này đệ nhất minh quân là số một. Không một đế vương nào sánh kịp".

- Trong mục 2.3 GS. Nguyễn Đình Chú lại viết: "Trong lịch sử giáo dục Việt Nam thuộc thời kỳ trung đại, nền giáo dục thời Lê Thánh Tông là phát triển nhất, vẻ vang nhất. Đặc biệt là đã có mầm mống dân chủ hóa". Khoa mục chí trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú cũng chép: "Cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn người công bằng, đời sau càng không thể theo kịp. Vì bấy giờ ra đề thi vụ ở hỗn hàm đại thể, không trộ bằng những câu hiếm, sách lạ, chọn người cốt lấy học rộng thực tài, không hạn định ở khuôn khổ mực thước, cho nên kẻ sĩ bấy giờ học được rộng rãi mà không cần phải tìm tòi tỉ mỉ, tài được đem ra ứng dụng mà không bị bỏ rơi. Bởi thế điển chương được đầy đủ, chính trị ngày càng thịnh hưng"(10).

Trong thực tế Lê Thánh Tông ở ngôi 38 năm (1460 - 1497), đã tổ chức đều đặn 3 năm 1 khoa (cả thảy12 khoa thi Hội trong đó khoa thi 1463 có 4.400 người dự thi, khoa thi 1475 có 3000 người dự thi), lấy đậu trên 500 Tiến sĩ, trong đó có 9 Trạng nguyên (trong tổng số hơn 3000 Tiến sĩ, 44 Trạng nguyên của lịch sử khoa cử Nho học nước ta (1075 - 1919)(11). Lại vinh danh Tiến sĩ bằng bảng vàng, bia đá, vinh quy bái tổ, Tiến sĩ hóa bộ máy quan lại, bắt các võ quan và con em họ phải "chữ nghĩa hóa", "văn hóa hóa" v.v… Đúng là xét ở số lượng và xét về hình thức thì quả "đời sau càng không thể theo kịp", "nền giáo dục thời Lê Thánh Tông là phát triển nhất". Nhưng còn chất lượng và nội dung mới là điều quyết định thì sao?

Theo Lê Quý Đôn thì: "Khoảng giữa niên hiệu Hồng Đức, tuyển chọn nhân tài, sĩ tử tập lối văn bóng bảy, đục gọt từng câu, mong sao được đỗ để ra làm quan. Nay muốn tìm lấy hạng người khí tiết khảng khái trong thời này xem ra có phần thưa thớt. Nhưng con đường bổng lộc đã mở ra, thì phương pháp thi cử cũng nghiêm ngặt, người điềm tĩnh được tiến lên, người cầu may bị sàng sảy, cho nên người tại chức ít thói cầu cạnh mà trong nước biết quý danh nghĩa. Đấy là một thời kỳ thay đổi".

Trong khi đó Lê Quý Đôn lại hết lời ca ngợi thời Trần: "Bởi vì nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hòa nhã mà có lễ độ, cho nên nhân vật trong một thời có chí khí tự lập, hào hiệp cao siêu, vững vàng vượt ra ngoài thói thường, làm rạng rỡ trong sử sách, trên không hổ với trời, dưới không thẹn với đất! Ôi như thế! Người đời sau còn có thể theo kịp thế nào được! Từ bản triều trở về sau phong độ ấy dần dần không được nghe thấy nữa"(12).

Như vậy theo Lê Quý Đôn thì Tiến sĩ thời Lê Thánh Tông tuy tuyển chọn qua thi cử nghiêm túc không phải là Tiến sĩ giấy, nhưng chỉ là những vị trau chuốt văn thơ mong đỗ để ra làm quan, kém xa kẻ sĩ thời Trần. Và ta thử hỏi, các Tiến sĩ, Trạng nguyên thời Lê Thánh Tông có gương mặt văn hóa tài đức nào khả dĩ sánh được với Chu Văn An thời Trần và Nguyễn Bỉnh Khiêm thời Mạc, nói gì việc sánh với Nguyễn Trãi thời Hồ và buổi đầu Lê sơ?!

- Trong thực tế nội dung học tập, thi cử thời Lê Thánh Tông như thế nào? Đó là nội dung Tống Nho bảo thủ với các tác phẩm kinh điển của Nho học Tứ thư, Ngũ Kinh qua chú giải của Trình Di, Trình Hạo & Chu Hy. Nói rằng: "Một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore trở thành con rồng là những nước về cơ bản không rơi vào tình trạng bài Nho, ngược lại biết lợi dụng tính năng của Nho giáo" (mục 2.1. b/) thì cần phải xem đó là tính năng Nho giáo thời nào? Tinh hoa Nho giáo chủ yếu ở Nho giáo nguyên thủy Khổng Mạnh, ở phái thực học Minh - Thanh chứ đâu phải ở Tống Nho(13)!

Sử quan chính thống của Lê Thánh Tông  là Ngô Sĩ Liên bình luận về việc Hồ Quý Ly soạn sách Minh đạo trong đó đề cao Chu Công trên Khổng Tử và coi các đại nho đời Tống như Chu Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy… tuy học rộng nhưng tài sơ, không sát tình hình thực tế, chỉ chuyên việc lấy cắp văn chương của người xưa; sau đó lại soạn sách Thi nghĩa bằng chữ Quốc ngữ (chữ Nôm), cùng bài tựa theo ý mình, không theo cách giải thích của Chu Hy (1130 - 1200), như sau:

"Chu tử sinh ở cuối đời Tống, kế tiếp công việc chú giải lục kinh của các nhà Nho Hán Đường, ngược dòng tìm nguồn, hiểu được ý nghĩa của thánh nhân ở các bộ kinh để lại, rõ được đạo thánh nhân ở lời huấn giải, vắt óc nghiền ngẫm, lý và tâm dung hợp. Ông giải thích thì tường tận, chỉ dẫn thì xa rộng, thực là tập đại thành của các tiên nho mà cũng là khuôn mẫu cho những kẻ hậu học. Huống chi lại  có Trình Tử xướng ở trước, và Chu Tử bổ sung những chỗ chưa hoàn hảo ở sau, thì nghĩa đã tinh lắm rồi. Người sau mà có trước tác, thì cũng chỉ là mở mang cho rộng thêm, tô chuốt cho bóng thêm, có thế mà thôi, sao lại được chê bai bàn cãi"(14).

 Như vậy, nội dung thi cử giáo dục thời Lê Thánh Tông so với thời Hồ (bỏ ám tả cổ văn, đưa thêm một kỳ thi viết và làm tính, đưa toán vào nội dung thi cử (1403), đưa tinh thần tự chủ vào học thuật (nêu 4 điểm ngờ đối với Luận ngữ và Khổng Tử…) thật ra là một bước thụt lùi. Chỗ mà Ngô Sĩ Liên phê phán Hồ Quý Ly chính là bộc lộ tư tưởng giáo điều bảo thủ của vua tôi Lê Thánh Tông chứ không phải là cái gì khác!

Còn nói thời Lê Thánh Tông "đã có mầm mống dân chủ hóa nền giáo dục" thì cũng cần phải tìm hiểu thêm. Chỉ xin nêu một dẫn chứng trong sử cũ: "Hồng Đức năm thứ 27 (1496)… Tháng 2. Thi hội các cử nhân trong nước. Lấy đỗ bọn Nguyễn Văn Huấn 43 người… Tháng 3… ngày 26, dẫn các sĩ nhân vào điện Kim Loan. Vua tự xem dung mạo từng người, lấy đỗ 30 người"(15). Theo Lê Quý Đôn thì "Thể lệ cũ, những người đã thi hội trúng cách vào thi đình, đều không đánh hỏng người nào cả, chỉ có khoa Bính Thìn (1496) năm Hồng Đức, thi hội lấy đỗ 41 người, nhà vua thân hành xem xét phân biệt, đánh hỏng 11 người, người thi hội đỗ thứ 2 là Nguyễn Văn Huấn tỉnh nam (?) bị xóa mất tên"(16).Vua chỉ xem dung mạo mà đánh hỏng 13 người (hay 11 người theo Lê Quý Đôn?), cả người đỗ thứ 2 thì quả độc đoán đến thế là cùng! Lại nữa, ép Sử quan, Sử viện cho xem nhật lịch - quốc sử (1467) - một việc mà không vua nào được quyền xem như GS. Trần Quốc Vượng đã nói ở điểm 5 thì dân chủ ở chỗ nào?

6. Trong tiểu mục 2.5 GS. Nguyễn Đình Chú viết: "Chính Đệ nhất minh quân Lê Thánh Tông qua Bộ luật Hồng Đức là người đầu tiên trong lịch sử văn hóa Việt Nam có tư tưởng nữ quyền một khi đã có luật quan hệ vợ chồng trong chuyện cưới hỏi, chuyện chăn gối, đặc biệt là chuyện tài sản. Kể cả chuyện thừa hưởng hương hỏa …". Trong mục 6 GS. Trần Quốc Vượng lại viết: "Lê Thánh Tông cũng là người chủ trương theo Nho giáo "trọng nam khinh nữ". Ông là người đầu tiên bắt vợ để tang chồng 3 năm như để tang bố mẹ, theo kiểu cách Trung Hoa, từ năm đầu Hồng Đức (1470)". Xem thế đủ biết, tư tưởng nữ quyền của Lê Thánh Tông cũng chỉ là nửa vời mà thôi!

 Người xưa nói: Yêu nhau cau sáu bổ ba/ Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười. Đánh giá một nhân vật lịch sử, dù người đó là ai, thường vì thiếu sử liệu nên các nhà nghiên cứu hiện đại khó lòng tránh khỏi chủ quan, nhận xét cảm tính, do đó có chỗ cần được trao đổi là điều dễ hiểu. Trên đây tôi chỉ cố gắng ghi lại một cách khách quan ý kiến của các vị Giáo sư khả kính và trích một số đoạn sử cũ để minh họa, có kèm lời bình vụng về của mình, hẳn khó lòng tránh khỏi sai sót. Rất mong được các vị và bạn đọc yêu quý rộng lòng lượng thứ!

 

Chú thích

(1) Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Văn hóa - Thông tin. H.2003, T.2, tr.609.

(2) Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.813 - 814.

(3) Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.719, tr. 631, tr. 662.

 (4) Ở một đoạn trước GS. Trần Quốc Vượng đã trích câu của Lê Quý Đôn như sau: "Khoảng giữa niên hiệu Hồng Đức (1470 - 1497), mở rộng khoa cử, tuyển nhiều nhân tài, sĩ tử tập lối văn bóng bảy, đục gọt từng câu, mong sao được đỗ để làm quan…" và chú: Lê Quý Đôn toàn tập, Tập II Nxb KHXH.H.1977, tr.259; trích câu của Dương Quảng Hàm: "Xem tập thơ (Hồng Đức quốc âm thi tập), ta nhận thấy thơ Nôm thời Hồng Đức ảnh hưởng thơ Tàu rất sâu: có nhiều cảnh và tứ mượn ở thơ Tàu mà một đôi khi không hợp với nước ta" và chú: Dương Quảng Hàm: Việt Nam văn học sử yếu, in lần 3.H.1951, tr98.   

(5) Trần Quốc Vượng: Về Lê Thánh Tông (1442 - 1497) (Mấy điều giải ảo hiện thực lịch sử Việt Nam thế kỷ XV) trong cuốn: Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, NXB Văn hóa Dân tộc, H.2000, tr. 772 - 792.

(6) Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr118.

(7) Xin xem: Hồ Sĩ Hùy: Để hiểu thêm chính sách vừa đánh vừa đàm của Hồ Chí Minh trong 2 cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp và Mỹ, Kỷ yếu Hội thảo khoa học toàn quốc: Thanh - Nghệ - Tĩnh với chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, Nxb KHXH, 2014; Đối sách vừa đánh, vừa đàm của Hồ Chí Minh trong 2 cuộc kháng chiến, Tạp chí Văn hóa Hà Tĩnh,  tháng 7/2014.

(8) Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi do Lý Tử Tấn viết thông luận, có đoạn: "Từ khi người Nguyên vào Trung Quốc, về sau thiên hạ biến thành nói tiếng Hồ, mặc áo Hồ. Không thay đổi thì chỉ có nước ta cùng họ Chu ở Kim Lăng, họ Triệu ở Kim Sơn mà thôi. Đến khi Thái tổ nhà Minh lên làm vua, sai Dịch Tế Dân sang thông hiếu, vua Dụ Tông sai Doãn Thuấn Thần sang cống thăm nhà Minh. Vua Minh úy lạo, hỏi thêm quốc sứ, khen phong tục, y phục vẫn giống như văn minh Trung Hoa, ban cho bài thơ Ngự chế rằng: "An Nam tế hữu Trần; Phong tục bất Nguyên nhân; Y quan Chu chế độ; Lễ nhạc Tống quân thần (An Nam có Trần thị, Phong tục chẳng theo Nguyên, Áo mũ Chu vẫn giữ,  Lễ nhạc Tống không quên). Rồi cho bốn chữ "Văn hiến chi bang" (là nước văn hiến) và nhắc sứ nước ta lên trên sứ Triều Tiên ba cấp..." (Về sự kiện trên, Minh sử và sử ta chép hơi khác nhau về tên các sứ thần. Dịch Tế Dân, Minh sử chép là Dịch Tế. Sứ thần của ta Minh sử chép là Đoàn Đễ, Lê An Thế. Toàn thư & Cương mục chép là Đào Như Đích; còn Dư địa chí lại chép là Doãn Thuấn Thần - chú thích của dịch giả Dư địa chí - Nguyễn Trãi Toàn tập, Nxb KHXH, H,1969, tr.618). Đây là đoạn thông luận mà Lý Tử Tấn chua cho phần chính văn của Nguyễn Trãi đang gián tiếp bàn về văn hiến, đoạn ấy cụ thể như sau: "Người trong nước không được bắt chước ngôn ngữ và y phục của các nước Ngô, Chiêm, Lào, Xiêm, Chân Lạp để làm loạn phong tục trong nước" (Nguyễn Trãi Toàn tập, Nxb KHXH. H,1969, tr.222 - 223).

(9) Xin xem: Hồ Sĩ Hùy: Tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An số 6, 12/2011; Khoa học và Công nghệ Quảng Trị tháng1/2014; Xưa và Nay số 454, tháng 12/2014.

(10) Dẫn lại theo Nguyễn Thế Long: Nho học ở Việt Nam Giáo dục & thi cử, Nxb Giáo dục, 1995, tr. 32.

(11) Nguyễn Thế Long: Nho học ở Việt Nam Giáo dục & thi cử, Sđd, tr.31- 32.

(12) Lê Quý Đôn Toàn tập, Tập II, Kiến văn tiểu lục, Nxb KHX, H, 1977, tr.259;

(13) Xin xem: Hồ Sĩ Hùy: Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với tinh hoa Nho giáo. Báo Hà Tĩnh cuối tuần 13/5/2011, Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An số 3, tháng 6/2011; www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa. Thứ 4, 27/4/2011 và nhiều trang mạng khác.

(14) Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.295-296.

(15)  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.806.

(16) Lê Quý Đôn Toàn tập, Tập II, Kiến văn tiểu lục, Nxb KHXH.H.1977, tr. 92. "Tham khảo Việt sử thông giám cương mục chép: thi hội lấy đỗ 43 người, vào thi đình đánh hỏng 13 người, chỉ lấy đỗ 30 tên (Chú thích của dịch giả Kiến văn tiểu lục). Như vậy, Toàn thư & Cương mục chép giống nhau, chắc Lê Quý Đôn chép nhầm!

Nguyễn Khắc Thuần

Ngày 14/11/2015, Viện Sử học, Sở VHTT&DL Hà Tĩnh, UBND huyện Hương Sơn Hà Tĩnh và gia tộc họ Đinh Nho (Sơn Hòa, Hương Sơn, Hà Tĩnh) tổ chức Hội thảo khoa học về Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn - một danh nhân lịch sử, văn hóa của vùng đất sơn thanh, thủy tú đất Hồng Lam và của đất nước Việt Nam.

Phủi đi lớp bụi thời gian 300 năm, nhiều vấn đề lớn về Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn đã được làm sáng tỏ nhưng cũng còn nhiều điều "...cần được tiếp tục nghiên cứu thêm"(1). Một trong những điều đó là chức quan của Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn trong thời gian ông được triều đình Lê - Trịnh "phụng sai Sơn Tây xứ".

Vì thế trên Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 10/2016, TS. Nguyễn Hữu Tâm đã có bài: "Góp thêm ý kiến về chức quan của Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn". Trong bài này ông khẳng định: "Vào tháng 8 năm Nhâm Ngọ (tức tháng 9/1702), Đinh Nho Hoàn được bổ dụng giữ chức Hiến sát sứ xứ Sơn Tây, hàm Chánh lục phẩm"(2). Cũng trong bài viết này TS. Nguyễn Hữu Tâm cho rằng trên Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 6/2016 trong bài "Sứ quan Đinh Nho Hoàn và Vua Khang Hy" chức quan của Đinh Nho Hoàn ở Sơn Tây tôi viết là "tham chính" là chưa chính xác(3).

Xin có đôi điều trao đổi lại với TS. Nguyễn Hữu Tâm:

Về cơ bản nội dung bài viết của TS. Nguyễn Hữu Tâm trên Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 10/2016 là nội dung tham luận của ông tại Hội thảo về Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn.   Trong tham luận này dẫu đã viện dẫn nhiều cổ thư nói về chế độ bổ dụng cho các Tiến sĩ sau khi thi đỗ của triều Lê - Trịnh để đi đến khẳng định chức quan ở Sơn Tây của Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn là "Hiến sát sứ xứ Sơn Tây với hàm Chánh lục phẩm" nhưng rất tiếc ý kiến này của ông chưa được sự đồng tình của nhiều người (trong đó có tôi) và đặc biệt là sự không đồng thuận của dòng họ Đinh Nho. Ngay tại Hội thảo, PGS.TS Tống Trần Tùng đã có ý kiến: "Cũng có tác giả dựa vào hệ thống quan chế và các quy định về khảo hạch, bổ dụng thời đó để khẳng định lúc này ông nhận chức Hiến sát sứ xứ Sơn Tây, hàm Chánh lục phẩm. Tất nhiên tất cả đó chỉ là phỏng đoán"(4).

Ủy viên Ban tổ chức, Ban nội dung Hội thảo, Biên tập nội dung cuốn "Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn thân thế và sự nghiệp", tộc trưởng họ Đinh Nho, cụ Đinh Quỳ cũng cho rằng: "Theo TS Nguyễn Hữu Tâm trong bài". Các chức quan của Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn" thì chức Hiến sát sứ. Nhưng cũng chỉ là phỏng đoán không có các cứ liệu lịch sử chính xác"(5).

Tham luận tại Hội thảo, Nhà nghiên cứu Phạm Hải (Trung tâm phả học Việt Nam) và Ths. Phan Đăng Thuận vẫn cho rằng: "Sự nghiệp quan trường của Cụ bắt đầu từ sau khi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (tức Hoàng Giáp) khoa Canh Thìn niên hiệu Chính Hòa thứ 21 (1700). Cụ làm hậu bổ Hàn lâm viện rồi Tham chính xứ Sơn Tây..."(6).

Bên lề Hội thảo, ý kiến của TS. Nguyễn Hữu Tâm được tranh luận sôi nổi, Ths. Đinh Nho Tài (ĐH Kỹ thuật Vinh) cho rằng: Học vấn và chức vụ là một vấn đề nhạy cảm, không phải lúc nào cũng tương đương, tương xứng, phải tùy người, tùy hoàn cảnh cụ thể, điều kiện cụ thể. Xưa đã vậy, nay vẫn vậy, cho nên dẫu bài viết của tiến sỹ Nguyễn Hữu Tâm rất hàn lâm, kinh viễn nhưng cũng chỉ mới tìm ra "cứ" (căn cứ) chưa tìm ra "chứng" (bằng chứng) vậy nên chưa có sự thuyết phục.

Một hậu duệ của Đinh Nho Hoàn, say sưa tìm hiểu về tổ tiên mình là Đinh Nho Cảnh (thành phố Vinh, Nghệ An) trăn trở: Tại sao trong "Bia cúng ruộng tự điền"(7), chức quan nào của Cụ cũng nêu đầy đủ, duy có thời kỳ Cụ ở Sơn Tây chỉ viết chung chung? Phải chăng có sự gập ghềnh nào đây nên Cụ không ghi cụ thể? Hơn nữa mới đăng khoa 2 năm đang làm Hậu bổ Hàn lâm viện chưa đủ thời gian "thử việc" như TS. Nguyễn Hữu Tâm đã trình bày trong tham luận sao cụ lại bị điều lên Sơn Tây? Chưa giải mã được các tình tiết này chưa thể khẳng định chức quan ở Sơn Tây của Cụ là Hiến sát sứ.

Việc con cháu trong dòng họ Đinh Nho chưa đồng tình với vấn đề TS. Nguyễn Hữu Tâm nêu ra còn có lý do sâu xa nữa. Đó là năm 2009 với sự giúp đỡ của ông Đinh Nho Liêm, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Nhà xuất bản Văn học đã ấn hành tập "Mặc Trai sứ tập"(8). Tiểu sử của Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn in trong tập này đã được ông Đinh Nho Liêm, PGS. TS. NGND Đinh Phạm Thái, PGS.TS Ngô Đức Thọ và nhà nghiên cứu văn hóa xứ Nghệ Thái Kim Đỉnh cùng họ tộc Đinh Nho cẩn thận xem xét, tra cứu và tại trang 11 "Mặc Trai sứ tập", PGS.TS Ngô Đức Thọ đã viết: "Như vậy, sau khi thi đỗ, Đinh Nho Hoàn làm Hậu bổ Hàn lâm viện khoảng 2 năm rồi được bổ chức Tham chính xứ Sơn Tây"(8).

PGS. TS Ngô Đức Thọ viết như vậy là "nói có sách". Sách đó là tập phả "Hương Yên phổ tự"(9) do Triều liệt đại phu Hàn lâm viện học sỹ Đinh Thái Lãng (Đinh Nho Lãng 1753 - 1809) viết cách đây hơn 200 năm họ Đinh Nho đang lưu giữ bản gốc. Đinh Nho Lãng cũng là một danh nhân văn hóa, học rộng, tài cao, được triều đình đắc dụng, là niềm tự hào không chỉ của họ tộc Đinh Nho mà của quê hương. Ông là chắt nội 4 đời của Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn (Đinh Nho Hoàn đời thứ 8, ông đời thứ 12). Trong "Hương Yên phổ tự" triều liệt đại phu Hàn lâm viện học sỹ Đinh Nho Lãng ghi rõ chức quan của Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn ở Sơn Tây là Tham chính (Nguyên bản câu này là: "Phụng sai làm Tham chính ở Sơn Tây, chính sự khoan bình, sỹ dân ai cũng tụng"(10) (ảnh bên).

Như vậy là đã rõ lý do vì sao dẫu đã hơn 1 năm TS. Nguyễn Hữu Tâm công bố nghiên cứu chức quan của Đinh Nho Hoàn ở Sơn Tây là "Hiến sát sứ" nhưng trong bài viết "Sứ quan Đinh Nho Hoàn và Vua Khang Hy" in trên Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An số tháng 6/2016 tôi vẫn viết chức quan của Đinh Nho Hoàn ở Sơn Tây là "Tham chính".

Xin khép lại vấn đề với lời cảm ơn chân thành những góp ý của ông về bài viết của tôi. Mong ông lượng thứ về một số sai sót và mong ông tiếp tục nghiên cứu tìm ra những cứ liệu lịch sử xác thực hơn để điều ông khẳng định về chức quan của Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn trong thời gian ở Sơn Tây là Hiến sát sứ có sự đồng thuận cao và trước hết là của con cháu họ Đinh Nho.

 

Chú thích

1. Đinh Quang Hải, Phát biểu tổng kết Hội thảo khoa học về danh nhân lịch sử - văn hóa Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn, Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn thân thế và sự nghiệp - NXB Hội Nhà văn - H. 2016 - tr 359.

2. Nguyễn Hữu Tâm, Góp thêm ý kiến về chức quan của Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn, Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số 10/2016, tr 48.

3. Nguyễn Khắc Thuần, Sứ quan Đinh Nho Hoàn và vua Khang Hy, Chuyên san KHXHNV Nghệ An số 6/2016, tr 60.

4. Tống Trần Tùng - Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn và văn Đền Gôi - "Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn thân thế và sự nghiệp" - Sđd - tr84.

5. Đinh Nho Quỳ - Chú thích - Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn thân thế và sự nghiệp, sđd, tr404.

6. Phạm Hải và Ths Phan Đăng Thuận - Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn tấm gương sáng về đạo đức người làm quan, Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn thân thế và sự nghiệp, sđd, tr79.

7. Ký trên bia cúng ruộng tự điền - Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn thân thế và sự nghiệp, sđd, tr402.

8. Ngô Đức Thọ, Mặc Trai sứ tập - NXB Văn học, H. 2009 - tr11.

9. Hương Yên phổ tự - gia phả họ Đinh Nho. Nguyên bản bằng chữ Hán. Bản gốc lưu tại Thư viện gia đình GS.TS.NGND Đinh Nho Chương. Bản chuyển ngữ của Thái Kim Đỉnh lưu tại Nhà thờ họ Đinh Nho Sơn Hòa, Hương Sơn, Hà Tĩnh.

10. Đinh Nho Lãng, Hương Yên Phổ tự, sđd, bản dịch trang 31.

Phan Bá Hàm - Nguyễn Tâm Cẩn

 

Đó là cụ cử nhân Trần Cần (1886 - 1946) hiệu là Quảng Trai, sinh ra và lớn lên ở làng Vĩnh Tuy tổng Quan Trung nay thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Cha là ông Trần Duy Chuyên thuộc đời thứ 8 họ Trần Duy đã bỏ nhiều công sức lo lắng cho việc học hành của con. Ông thường nhắc nhở cậu con trai: "Nhà ta nghèo, con phải toàn tâm toàn ý vào việc học, khoan hãy nghĩ đến những chuyện khác".

Ở giai đoạn cuối của phong trào Cần vương, ông Chuyên đang làm lý trưởng làng Vĩnh Tuy. Nhưng là người có lòng yêu nước, ông đã tìm mọi cách giúp đỡ, bao che cho các nghĩa sĩ hoạt động. Năm 1895 khi phong trào bị đàn áp, ông bị kết tội: "Dung túng cho hành động của bọn phỉ" và bị tống giam vào nhà lao Vinh. Vợ ông là bà Trần Thị Tình phải bán hết gia tài, ruộng đất để lo chạy chữa cho chồng và khi ông đã được ra tù thì gia đình cũng trở nên khánh kiệt. Những năm sau đó, ông bà phải cày mấy sào ruộng công điền và sống cảnh đi làm thuê, mót lúa, khoai... để kiếm sống và nuôi con.

Lớn lên trong hoàn cảnh như thế nhưng từ tuổi ấu thơ Trần Cần đã thể hiện là người có chí học tập và cha anh đã xin cho anh vào theo học ở một lớp tại trường làng. Không có tiền mua sách, tối đến anh phải mượn sách của bạn về nhà để học và gần như học đến đâu đều thông hiểu đến đó. Nhưng rồi chưa đầy ba năm đối với trò Cần, thầy đồ đã phải thừa nhận là "hết chữ" và khuyên mẹ anh nên vào làng Tràng Sơn xin cho anh học ở lớp thầy Tú Huấn, một thầy giỏi nổi tiếng vùng này. Đến lớp học mới, anh rất phấn khởi nên mặc dầu phải đi bộ cách xa bảy, tám cây số với mo cơm trưa chủ yếu là khoai nhưng anh đã theo học đầy đủ, kể cả những ngày mưa to gió lớn. Biết anh mồ côi cha, nhiều bữa bà chủ nuôi thầy đã tạo điều kiện để anh được ăn thêm cơm  trưa, nhưng để khỏi phiền hà đến thầy và gia chủ, anh đã ra điếm canh của xóm để nghỉ ngơi. Rồi khi đến tuổi 17, 18  thầy Tú đã liên hệ tổ chức một lớp học ở làng bên để anh vừa học, vừa đi dạy thêm, nhằm giảm bớt khó khăn cho gia đình.   

Ở huyện Yên Thành, thời gian cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, các trường học chữ Hán ở các tổng thường tổ chức các buổi tập văn, một hình thức luyện thi tập trung cho các sĩ tử. Địa điểm tập văn thường đặt ở những nơi có truyền thống hiếu học như ở làng Tràng Thành (nay thuộc xã Hoa Thành), làng Tràng Sơn (nay thuộc xã Sơn Thành), làng Liên Trì (nay thuộc xã Liên Thành)... Qua những lần tập văn như thế, tài học của anh đã được các thầy chú ý và nhất là kỳ thi sát hạch năm Mậu Thân (1908), bài văn của anh đã được nhiều thầy đánh giá cao.

Khoa thi hương(1) Kỷ Dậu (1909) anh đã ghi tên dự thi trong điều kiện kinh tế gia đình rất khó khăn. Tuy nhiên nhờ có tiếng học giỏi, chăm ngoan nên gia đình anh em trong dòng họ, trong làng cũng đã quyên góp được một ít tiền gạo giúp anh lên đường. Ngày xưa sĩ tử đi thi thường phải có vài ba người đi theo vác lều chõng, gánh đồ đạc và phục vụ ăn ở. Riêng anh vì không có tiền đi tàu hỏa từ ga Phủ Diễn vào Vinh, lại không có người đi theo nên phải tự gánh lều chõng đi tắt theo đường 534. Đến đò Phương Tích, chưa kịp qua đò thì trời cũng vừa chập tối. Theo lời giới thiệu của thầy Tú Huấn anh tìm vào nghỉ ở gia đình nhà nho Đỗ Văn Tuấn, một người bạn của thầy và ông Tuấn đã vui vẻ đón tiếp anh.

Nhưng rồi đến lúc ăn cơm anh lại xin phép xuống nhà dưới ngồi một mình. Bà chủ là một người phúc hậu, vô tình đi xuống thấy anh ăn cơm độn khoai với mấy con cá khô và mấy quả cà, đã gọi cô con gái lấy thêm thức ăn thịt cá cho anh. Đêm ấy bên ấm nước chè xanh, chủ khách trò chuyện văn chương đến khuya và anh đã được ngủ trên giường cao chiếu sạch. Không những thế, sáng mai bà chủ còn dậy sớm nấu cơm nếp, làm thịt gà để anh ăn no và còn gửi thêm một gói để ăn trưa. Hơn thế nữa, ông bà còn cho cô con gái gánh lều chõng đưa anh đi một quãng đường xa mới trở về.

Vào Vinh dự thi, anh đã ở trọ tại một quán nhỏ rẻ tiền. Sau khi vượt qua được tam trường, Trần Cần được chọn cùng với 24 người giỏi nhất trường thi vào phúc hạch(2) và kỳ thi này chỉ chấm hai ngày là xong. Tiếp đó là lễ xướng danh, treo bảng người đỗ. Bảng tú tài được treo tại trường thi. Anh được xếp đỗ cử nhân thứ sáu. Sau đó những người đỗ cử nhân đã được đón chào rất long trọng: tiếng loa báo tin dậy đất, cờ bay rợp trời. Các quan đại diện Triều đình và các quan chức trong tỉnh có mặt đầy đủ. Ở bên ngoài hàng rào, hàng nghìn người nô nức đến xem các vị tân khoa. Sau lễ xướng danh, các quan cử được nhận áo dài, khăn đóng do quan tỉnh ban cho. Một đoàn các cô gái đẹp vào múa hát và dâng rượu chúc mừng...

Yến tiệc xong đến lượt các nhà hàng có các quan tân cử ở trọ để dự thi đến rước về để ăn mừng. Họ tổ chức cỗ bàn linh đình để mời khách. Riêng Trần Cần, gia chủ mới mở cửa hàng, lại may mắn có khách đậu cử nhân nên số người đến mừng rất đông. Nghe nói sau này cửa hàng đó làm ăn rất phát đạt và gọi là hiệu Vĩnh Tiến.

Khi được tin anh đậu cử nhân, làng Vĩnh Tuy đã huy động rất nhiều thợ mộc đến làm một ngôi nhà mới khang trang để đón mừng. Mấy ngày sau họ Trần Duy đã cử người cùng anh vào Phương Tích để tạ ơn gia chủ.

Cùng năm đó anh đã vào Kinh đô Huế để dự thi hội(3). Ở Huế trước đó hai năm, năm 1907 đã có những biến động lớn về chính trị. Vua Thành Thái bị phế truất và bị đày đi xa, thực dân Pháp đưa con là vua Duy Tân lên nối ngôi khi mới 8 tuổi để dễ bề sai khiến... lòng người chưa ổn định. Trong buổi lễ khai mạc kỳ thi, lại thấy cảnh tượng "chướng tai gai mắt":

Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt

Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng

(thơ Tú Xương)

và bọn quan Tây, lính Tây ngồi trên cả các quan tứ trụ Triều đình, anh đã rất bức xúc và viết thư về hỏi ý kiến thầy Tú Huấn là có nên tiếp tục thi nữa hay không. Thầy gửi tin qua đường dây thép (điện thoại) vào với mấy chữ: "Ái quốc mạc vong tổ" nghĩa là: yêu nước thì không quên tổ tông. Nghe lời khuyên đó, anh liền cáo bệnh không thi nữa vì coi là sự ô nhục.

Quan cử Trần Cần đã hai lần được Triều đình bổ đi làm tri huyện. Lần thứ nhất ông đã chuẩn bị lên đường thì không may bị bệnh đậu mùa phải viết đơn xin ở nhà chữa bệnh. Lần thứ hai gặp phải hoàn cảnh mẹ già đã quá yếu. Nghĩ mình là con trai một nếu đi xa thì mẹ ở nhà rất vất vả và không biết "trái chín sẽ rơi rụng lúc nào" nên đành viết đơn xin cáo. Cũng có người cho rằng vì không muốn làm quan dưới chế độ thực dân nên ông đã tìm cách từ chối. Từ đó ông ở nhà chuyên lo làm nghề dạy học và sống hòa đồng giúp đỡ bà con xóm làng. 

Vốn xuất thân từ nghèo khó, thầy Cử đã hết lòng vì con em làng xã và rất thương yêu học trò nên chỉ một thời gian ngắn đã trở nên nổi tiếng. Hơn nữa các lớp học ở thôn quê thời xưa phần lớn các thầy là nhị trường, tam trường hoặc tú tài rất ít khi có thầy dạy là cử nhân, tiến sĩ nên học trò xa gần đến xin học rất đông và trong số họ đã không ít người thành đạt. Thầy đã được nhân dân trong vùng rất nể trọng, biết ơn và tin tưởng.

Cũng trong thời gian dạy học cụ Cử đã chủ biên cuốn Hương ước làng Vĩnh Tuy, một cuốn sách được nhiều người đánh giá cao, đã được nhiều vị lý trưởng trong vùng xem là "hình mẫu" để lập hương ước cho làng mình. Hương ước quy định rất nghiêm ngặt nhiều sinh hoạt của dân làng, nhất là việc bảo vệ các di tích văn hóa gắn với đời sống tâm linh của người dân như đình chùa, đền miếu, lèn đá... Việc vui chơi giải trí hương ước cũng quy định phải có chừng mực, nhất là tháng chạp, tháng giêng... để không ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Những kẻ trộm cắp, đánh bạc, uống rượu say càn quấy làm mất an ninh trật tự, trai gái quan hệ bất chính... đều bị làng phạt nặng. Nhờ thi hành tốt Hương ước nên đến năm Bảo Đại thứ 16 (1942), nhà vua đã tặng cho làng Vĩnh Tuy bốn chữ: "Thuần phong mỹ tục" và nền nếp đó được giữ gìn và phát triển mãi về sau.

Vào những năm đầu thập kỷ 20 của thế kỷ trước, là một trong ít người có học vị cao của huyện Yên Thành lúc bấy giờ, cụ cử Trần Cần được bầu làm Trưởng Văn sĩ hội tức là Hội trưởng Hội văn sĩ của tổng Quan Trung và cụ đã đảm nhận và làm tốt nhiệm vụ chăm lo việc học hành thi cử của con em trong tổng suốt hơn 30 năm cho đến những năm cuối đời. Cũng trong thời gian này, cụ đã có công đầu trong việc làm nhà Thánh và dựng bia Văn khoa của tổng Quan Trung ở làng Tràng Sơn. Nhà Thánh là nơi thờ thần Bạch Liêu(4) và các nhà khoa bảng của tổng. Còn tấm bia, theo các cụ ở làng Tràng Sơn kể là khá lớn thể tích hơn một mét khối, trên đó có ghi bài Văn bia và danh sách những người đỗ đạt, có bằng cấp từ hiệu sinh, tú tài trở lên của tổng Quan Trung từ xưa cho đến năm dựng bia. Tiếc rằng tư liệu văn hóa quý giá này đã không còn được giữ lại mà bia đã bị đập vỡ lấy đá nung vôi vào những năm 1950 - 1955 của thế kỷ trước!

Vừa dạy học, vừa làm việc của tổng, nhưng là người yêu nước thương dân, cụ Cử còn tham gia vào nhiều hoạt động của làng xã. Thấy nhiều gia đình nghèo khó, cụ đã cùng với các vị hào lý của làng Vĩnh Tuy đi quyên góp lập ra kho Nghĩa thương để cứu giúp người dân khi gặp khó khăn hoạn nạn. Quỹ kho có lúc đã lên đến tám trăm nồi lúa (mỗi nồi hơn 3 kg) và đã cứu giúp được nhiều gia đình nhất là thời kỳ Nhật bắt dân nhổ lúa trồng đay và nạn đói năm 1945. Ngoài ra trong các phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân địa phương như: thời kỳ Xô viết Nghệ Tĩnh, đấu tranh đòi giảm sưu thuế, đòi tự do dân chủ, vận động học chữ Quốc ngữ, đọc sách báo tiến bộ... cụ đều tham gia tích cực với vai trò như là cố vấn.

Về gia đình, sau khi từ Huế trở về, làng Vĩnh Tuy và dòng họ Trần Duy đã tổ chức lễ ăn hỏi và cưới cô Đỗ Thị Điệu, một cô gái khỏe, đẹp và có học, người mà trước đó mấy tháng đã gánh lều chõng và đưa tiễn ông vào Vinh. Cô Điệu là con gái nhà nho Đỗ Văn Tuấn ở làng Phương Tích, xã Khóa Khê, tổng Vân Trình, nay thuộc xã Nghi Phương, huyện Nghi Lộc. Bà là người vợ duy nhất đã suốt đời chung sống hạnh phúc với ông. Ông bà có 5 người con, trong đó người con trai cả là Trần Như Đán cũng là một nhà giáo suốt đời hết lòng vì "sự nghiệp trồng người" được nhân dân và các thế hệ học trò kính trọng. 

Cụ Cử mất năm 1946, hưởng thọ 70 tuổi để lại nhiều bài văn và nhiều câu đối hay. Chẳng hạn bài Chúc hộ từ là một bài chúc thọ bằng văn vần với gần trăm câu khi làng Vĩnh Tuy mở lễ mừng thọ đầu năm. Sau đây là một vài câu đối:

- Vũ trụ nhàn phân sự giai nho hữu dân, hữu xã,

Thông minh hữu sủng tuy tướng đế tác quân, tác sự.

Tạm dịch:

Trời đất đã chia, sách vở đã chép chuyện gì cũng có dân có xã,

Đời sau thông minh gốc học tập trở thành kẻ quân tử, người thầy.

Các cụ túc nho ở Yên Thành cũng có nhiều câu tặng cụ. Ví dụ cụ Trần Huấn ở làng Giai Lạc (nay thuộc xã Hậu Thành) đậu cử nhân trước cụ một khóa đã làm câu đối mừng khi cụ đăng khoa:

Nhân tinh ngộ ngã tam thu cúc,

Quân tử hoài nhân lục nguyệt liên.

Tạm dịch:  

Tình bạn gặp nhau uống ba chén rượu cúc,

Kẻ quân tử gặp nhau là ước vọng lớn như hoa sen tháng sáu.

Cụ cử nhân Trần Cần đã nêu một tấm gương sáng vượt khó học giỏi cho các thế hệ mai sau. Cụ cũng là người tri thức, người thầy yêu quê hương, yêu tổ quốc tha thiết, là nhà hoạt động xã hội hết lòng vì cộng đồng, suốt đời chăm lo việc học tập của con em trên quê hương và là niềm tự hào của nhân dân làng Vĩnh Tuy và xứ Nghệ.                                                              

 

Chú thích

(1), (3). Thi hương: Kỳ thi ba năm tổ chức một lần ở một số tỉnh để chọn người đậu tú tài, cử nhân. Thi hội tổ chức sau thi hương tại Kinh đô Huế. Chỉ những người đỗ cử nhân mới được dự thi để chọn tiến sĩ.

(2). Phúc hạch: Thi hương có bốn kỳ, kỳ cuối cùng gọi là phúc hạch để chọn cử nhân.  

(4). Bạch Liêu (1236 - 1315) là vị tổ khai khoa cho đất Nghệ An quê ở làng Thanh Đàm, xã Nguyên Xá, huyện Đông Thành, nay thuộc xã Mã Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ông đỗ Trạng nguyên năm Thiệu Long thứ 9 (1266) đời vua Trần Thánh Tông. Sau đó nhà vua đã ra chiếu chỉ mời vào triều nhận chức quan nhưng ông đã xin ở lại quê hương. Ông là môn khách (cương vị như quân sư) của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải và đã giúp chủ tướng thảo kế hoạch tuyển quân, tích trữ lương thảo, củng cố biên giới phía Nam (gọi là Biến pháp tam chương) góp phần quan trọng trong việc đánh thắng cánh quân Nguyên do Toa đô chỉ huy. Ông cũng được nhà vua cử tham gia đoàn sứ bộ sang Nguyên vào năm 1287. Bằng trí tuệ uyên bác và tài ngoại giao, ông đã góp phần tạo quan hệ hòa hiếu giữa hai nước sau chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ hai.

    Đậu Kỷ Luật

 

Tôi tâm đắc với câu nói chí lý của nhà thơ Chế Lan Viên: "Đúng là văn hóa dân gian có nhiều viên ngọc quý. Ta không được bỏ sót hạt nào, dù có cả đất, cát, sạn, nhưng biết lọc ra ta sẽ có được những viên ngọc quý giá trị".

Tôi nghĩ chúng ta phải khách quan và khiêm tốn mà nói rằng Dương Hồng Từ làm được như vậy. Tâm sự với bạn mới biết bạn có tâm và có tầm. Chưa trả món nợ cho đồng bào dân tộc thiểu số quê mình khi đương chức, thì về già - tuổi hưu phải "mau với chứ, vội vàng lên với chứ!". Dù vất vả gian nan vẫn đi tìm những viên ngọc quý cho quê mình, cho đời.

Dương Hồng Từ, một anh lính biên phòng ròng rã 14 năm trời (1960 - 1973) rồi chuyển ngành, học tại Nhạc viện Hà Nội và trở thành nhạc sỹ. Công tác tại Sở Văn hóa, Thông tin Nghệ An, về hưu được 3 năm anh in cuốn sách: Âm nhạc dân gian dân tộc Thái dày trên 300 trang. Có lẽ ở Nghệ An lần đầu có một công trình sưu tầm, nghiên cứu dày dặn về âm nhạc dân tộc Thái một cách bài bản, khoa học. Một cuốn sách công phu, chất lượng, đầy tâm huyết và trí tuệ như Nhạc sỹ Hồ Hữu Thới - Giám đốc Sở VHTT lúc bấy giờ nhận xét, giới thiệu.

Rồi yên lặng, tưởng đâu đến cái tuổi "cổ lai hy" rồi Dương Hồng Từ thả bút. Nào ngờ 3 năm tiếp tôi được đọc Âm nhạc dân gian dân tộc Mông, một cuốn sách in đẹp, bìa trang trọng, dày hơn cuốn trước (gần 400 trang). Chỉ việc trình làng 2 cuốn sách sưu tầm, nghiên cứu âm nhạc dân gian dân tộc thiểu số Nghệ An cũng đã là một chiến công không nhỏ. Có lẽ sau tác phẩm Âm nhạc dân gian xứ Nghệ (Lê Hàm chủ biên, Hoàng Thọ, Thanh Lưu) thì đây là cuốn sách nặng về lượng và chất. Riêng về âm nhạc dân gian dân tộc thiểu số của Nghệ An trong cuốn Âm nhạc dân gian xứ Nghệ do Hoàng Thọ viết khoảng 100 trang gồm cả 4 dân tộc Thái, Thổ, Mông, Khơ Mú, về số trang cho âm nhạc dân gian Mông cũng còn ít ỏi so với gia tài đồ sộ của nó. Lần này 2 tác giả Lê Hàm, Hoàng Thọ cũng đánh giá cao "rất tâm đắc với phát hiện tinh tế, đầy đủ và sâu sắc của Dương Hồng Từ".

Tôi không phải người "nội đạo" mà chỉ là anh lính biên phòng từ sau đánh Pháp 1954 gắn bó với đồng bào Mông, mang họ Mông Hoa để hoạt động (Cử PaKy) nên tôi yêu dân tộc Mông với lòng nể trọng, cảm phục bởi cái chất văn hóa đặc sắc của họ. Đời của anh lính cầm súng và lính cầm bút (ngôn ngữ dùng của Tướng văn hóa Nguyễn Sơn, Tư lệnh Khu IV 1947 - 1949) tôi có viết lách được chút ít cũng chủ yếu viết vì người Mông mà tôi yêu quý. Nay đọc Âm nhạc dân gian dân tộc Mông tôi càng quý tấm lòng và công sức của tác giả.

Xin tâm sự một chút: Có một sự trùng hợp là tác giả Doãn Thanh (Tây Bắc - dân tộc Tày) vốn là cựu chiến binh, chính trị viên phó huyện đội Văn Chấn thuộc Nghĩa Lộ trong đánh Pháp, là một tác giả có công lớn trong sưu tầm biên dịch dân ca Mông ở Tây Bắc, người được bà con Mông gọi là Ông Tiên mà tờ báo Le Currier Du Việt Nam số tháng 9 "Le Vrai Ông Tiên" theo cách gọi âu yếm và tôn vinh của người Mông. Và hẳn là bà con Mông Kỳ Sơn cũng có thể tặng danh hiệu Á Tiên cho Dương Hồng Từ (tôi sẽ kể lể sau đây). Nhà thơ Chế Lan Viên trong lời tựa cho cuốn sách Tuyển tập dân ca Mông của Doãn Thanh (Nxb Văn học và sau đó dịch ra tiếng Pháp) có viết: "… Nó càng quý vì chính nó vừa là văn hóa chính thống vừa là văn hóa nhân dân, vì ở xã hội nào chính cái văn hóa nhân dân ấy lại chính là văn hóa chính thống… Tuy chưa sưu tầm được là bao nhưng qua những gì chúng ta có được trong tay, nếu như chúng ta dày công nghiên cứu từ những tư liệu ấy cũng đã giúp ích rất nhiều cho sử học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, dân tộc học…".

Có tắm mình trong văn hóa Mông mới chiêm ngưỡng hết cái giá trị sâu xa của công trình; ta hiểu nó vì giá trị nghệ thuật đã đành, hơn thế còn vì tư liệu xã hội. Dương Hồng Từ gặp cái khó nhất trong khi đi thực tế là phải vật lộn với ngôn ngữ, dân ca, dân nhạc với biết bao dị bản truyền khẩu chứ đã có văn bản nào ghi lại, vì người Mông không có chữ hay như người già Mông nói người Mông xưa có chữ nhưng chạy giặc Hán, giặc Sã nên rơi mất chữ của tổ tiên.

Tiếng Mông khó hơn tiếng các dân tộc anh em trong vùng. Tiếng Việt có 26 phụ âm đứng đầu nguyên âm, tiếng Mông có 67 phụ âm và nguyên âm. Trong đó phụ âm đi đầu là 56, theo Từ điển Mèo - Việt của Nguyễn Văn Chỉnh có tới 25 phụ âm đôi, đặc biệt có 5 phụ âm 3 đi đầu: hnl, mfl, nkh, nkr, pth (những ngôn ngữ có phụ âm 3 đi đầu là những ngôn ngữ rất cổ).

Nghe người Mông nói mà như nghe hát vậy, giọng gãy khúc chập chùng núi thấp, núi cao; còn hát thì nào là tiếng hát mồ côi, tiếng hát tình yêu, tiếng hát làm dâu, tiếng hát cưới xin, tiếng hát cúng ma… Ngay trong tiếng hát tình yêu cũng có bao nhiêu loại: con gái hát cho con trai, con trai đáp con gái, các bài hát đàn ông với đàn bà (có chồng hoặc chồng bỏ), bài hát cho đàn bà góa, bài hát cho đàn ông góa… Khi sưu tầm các loại bài dân ca này phải chú ý đến thanh điệu. Tiếng Mông phổ biến có 8 thanh chính. Đồng âm là nhiều, khó khăn cho người sưu tầm khi dịch lời sao cho sát. Phải từ văn hóa Mông mà tìm ngôn ngữ Mông. Ngôn ngữ Mông thuộc loại đa thanh, Mông ở Nghệ An, vùng Kỳ Sơn sát Nọng Hét (Lào) lại còn phải phân biệt các phương ngữ Mông Trắng, Mông Hoa (theo chúng tôi tìm hiểu thì tiếng Mông Hoa cổ hơn Mông Trắng).

Những vấn đề phải lưu ý là tiếng Mông là ngôn ngữ đơn tiết không biến hình. Âm tiết tiếng Mông được nhận diện bởi bản chất đặc trưng có tính khu biệt: cách mở đầu (các phụ âm); âm sắc (nguyên âm); cao độ (thanh điệu). Theo GS. Phạm Đức Dương tiếng Mông Trắng có 7 thanh chia thành ba âm vực: cao ngang; cao có tắc họng; trung bình đi lên; trung bình đi ngang; trung bình đi xuống. Thấp có tắc ngang; thấp ngang. Là điều mà nhà nghiên cứu sưu tầm liên quan đến âm nhạc Mông phải lưu ý, xử lý chuẩn xác. Điều này Dương Hồng Từ có thuận lợi.

Cũng như bất cứ ngôn ngữ nào, tiếng Mông có một vốn từ cơ bản tương đối phản ánh mọi mặt đời sống văn hóa của họ... Qua lớp từ cơ bản đó chúng ta có thể tìm thấy những đặc trưng dân tộc, ngôn ngữ, văn hóa... cũng như quá trình phát triển lịch sử và những mối quan hệ tiếp xúc giữa người Mông với các dân tộc khác trong khu vực. Ví như người Hán dùng từ "tâm", người Việt dùng từ "lòng" để biểu thị mọi tình cảm, tính cách (con người thì người Mông dùng tư sa (sia) (gan).

Người Việt và người Mông đều coi mặt trăng là biểu tượng của nam, mặt trời là biểu tượng của nữ (Ông trăng mà lấy bà trời; chàng trăng, cô mặt trời). Tiếng Mông còn giữ được khá nguyên vẹn ba cặp từ nhân xưng mang sắc thái trung tính:

Ngôi thứ nhất: số ít (Cu) số nhiều (pí).

Ngôi thứ hai: số ít (Cò) số nhiều (nê).

Ngôi thứ ba: số ít (nư) số nhiều (nuơ).

Đó là cái phong phú của ngôn ngữ khi người sưu tầm tìm hiểu, nó thích thú nhưng cũng không dễ...

Tôi có đọc một vài cuốn sách in và trích dẫn về âm nhạc Mông, dân ca Mông ví dụ như: Địa chí huyện Tương Dương nêu điệu Xề Tằn Mường, Xến do khâu do ngai, xăng lê… thực ra không phải của Mông, chỉ nghe qua cũng đã thấy nhầm lẫn rồi. Có cuốn in 14 bài dân ca Mông nhưng thực ra chỉ có 9 bài thôi (5 bài là của Thái mất rồi). Cái khó của sưu tầm, chọn lọc âm nhạc Mông ở chỗ người đi sưu tầm phải thạo văn hóa Mông, nhất là ngôn ngữ Mông mà âm nhạc dân gian Mông về phân biệt ngôn ngữ lại khó hơn nhiều.

Bởi thế mà tôi đọc khá kỹ tác phẩm này của Dương Hồng Từ, không thấy có sai sót mà chỉ có thể trao đổi, bổ sung cho hoàn chỉnh hơn mà thôi. Mà cái không sai sót là một trong những yêu cầu khoa học rồi. Bề dày của anh lính biên phòng cộng với khi đã có nghề, rồi về hưu, nghiền ngẫm với cái tâm giúp anh trả món nợ cho bà con Mông mà anh đã được chăm sóc, đó là một biểu hiện văn hóa tri ân (tôi cũng nghĩ như anh Doãn Thanh vậy).

 Một năm anh Từ đi xe, đi bộ, len lỏi trong suối, trên núi rừng rẻo cao, dăm ba đợt; cứ mỗi đợt vài tuần lễ điền dã hẳn là vất vả biết bao nhiêu, lại rét ở nơi đây gấp nhiều lần rét ở Vinh. Là anh lính biên phòng thì gian khổ cũng đã quen, có nề chi. Vì say mê nên mới đến với âm nhạc dân gian Mông. Vì tình yêu, vì có Lu sia giông (tấm lòng tốt). 192 bài dân ca, dân nhạc sưu tầm, chọn lọc, sắp xếp khoa học, dễ cho tìm hiểu, sử dụng là một thành công rất đáng nể trọng, nể trọng hơn hết là tấm lòng tác giả dành cho dân ca một dân tộc mà vốn dân ca ấy đã và đang có nguy cơ mất mát vì nhiều lý do…

Phần khí nhạc phổ biến của người Mông ở Nghệ An, anh phân tích và miêu tả cụ thể: kèn lá, đàn môi, sáo dọc, sáo ngang, nhị, sáo ba lỗ, sáo gọi chim, phèng la, vòng lắc. Đặc biệt tác giả dành hơn 12 trang cho khèn Mông, tác giả phân tích cụ thể vị trí của từng ống khèn, cuối cùng là cách dạy và học khèn. Khèn Mông với các khèn Thái, Lào, Ba Na, Ê Đê, Giẻ Triêng… sẽ là đề tài cho một chuyên luận sâu sắc và đồ sộ. Hẳn ta sẽ rất tự hào về khèn Mông: Theo tài liệu Khảo cổ học Việt Nam thì ta đã tìm được người thổi khèn với tượng cao bốn phân rưỡi còn chiếc khèn cao 5 phân gồm ống khèn ghép vào 1 chiếc bầu cổ dài. Theo GS. Trần Văn Khê thì loại khèn đó ngày nay người Mông vẫn còn thổi. Có tài liệu còn cho biết khèn đó có cách đây 3000 năm. Học thổi khèn Mông, học nghe khèn Mông cũng nào có đơn giản. Đặc biệt nhưng câu hát khèn là nhưng câu nhạc chính, nòng cốt trong bài thể hiện tài năng của người chơi khèn Mông.

Dương Hồng Từ đã biết cách khai thác, sưu tầm dựa vào các nghệ nhân hiểu biết nhiều vốn dân nhạc, dân ca, có nhiều vốn sống để hệ thống, để miêu tả quá trình, diễn biến các sinh hoạt văn hóa nên đọc dễ hiểu, dễ nhớ nhất là trình tự trong đám cưới, đám tang…

Kết cấu công trình cân đối, từ văn hóa Mông nói chung để dẫn người đọc đến với âm nhạc dân gian dân tộc Mông. Tác giả đã công phu so sánh tìm ra sự giống nhau và khác nhau trong âm nhạc dân gian Tây Bắc (quê hương tổ tiên của người Mông ở Việt Nam) với âm nhạc dân gian Mông ở Nghệ An. 40 bức ảnh các nghệ nhân cung cấp tư liệu và giúp tác giả dịch lời ca là để cảm ơn và cũng cho người đọc một địa chỉ đáng tin cậy. Đặc biệt trong đó có 7 cụ già tuổi từ 80 - 90, có 2 cụ bà. Và may mắn cũng có ông bí thư đảng ủy tuổi đã 70 đã làm lãnh đạo xã 20 năm, ông là người đã mang chữ Mông từ Tây Bắc về cho người Mông ở Kỳ Sơn, ông am hiểu sâu sắc văn hóa Mông. Người già cung cấp tư liệu là của báu cho người đi sưu tầm, nhưng người đi sưu tầm cũng phải dày công, kiên trì vì sức khỏe, giọng nói, tai nghe của các cụ có còn tốt? Và có đủ minh mẫn không để cung cấp tư liệu và giải thích cho người sưu tầm những điều cần hỏi, cần biết.

Tôi lại vừa bất ngờ, vừa vui mừng khi Dương Hồng Từ trao cho tôi tập bản thảo "Văn hóa cổ truyền dân tộc Thổ ở Nghệ An". Cùng là anh lính núi rừng với nhau, duyên nợ với đồng bào dân tộc thiểu số, bạn Lào và miền Tây Nghệ An quê hương và ý hợp tâm đầu phải góp một cái gì cho cái mảnh đất đã hóa tâm hồn mình.

Dân tộc Thổ có nhiều tên gọi khác nhau ngoài tên tự gọi là: Người nhà làng, Mường, Con Kha, Xá Lá Vàng. Các địa phương: Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai, Li Hà, Tày Pọng thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường là những ngôn ngữ thuộc đại chi Môn - Khơ Me của hệ ngôn ngữ Nam Á (Autroasiatique). Nhóm ngôn ngữ Việt Mường gồm Kinh, Mường, Thổ, Chứt là bà con gần gũi với nhau là hậu duệ của một ngôn ngữ cổ xưa tiếng tiền Việt Mường (proto Việt Mường). Ví như gọi người thì tiếng Việt là Mọi, tiếng Thổ là Mọn, tiếng Cuối (Tân Thành) là kwơj, tiếng Đan Lai, Li Hà là Kin, tiếng Poọng là Kun (hai nhóm này vay mượn từ tiếng Thái).

Từ đó khi xem xét giao thoa, tiếp biến văn hóa ta dễ nhận ra những nét tương đồng, đặc biệt văn hóa Thổ rất gần với văn hóa Mường.

Cuốn sách lần này của tác giả công phu hơn, kỹ càng hơn ở chỗ khi giới thiệu lời thơ, bài ca tác giả đều viết 2 ngôn ngữ để tiện đối chiếu (nếu tìm hiểu ngôn ngữ Mường ta càng thấy rõ ví như Mọn có tới 80% tiếng nói giống nhau, hiểu nhau được).

Cuốn sách phong phú hấp dẫn ta với 7 mục lớn (trong đó có nhiều tiểu mục): Khái quát về địa lý và hình thành tộc người, đón tết vui xuân, lễ hội Bà Trầy, lễ hội nông nghiệp, hôn nhân, tang lễ. Phần tang lễ viết khá kỹ, có thể nói là đầy đủ nhiều nét đặc sắc giúp cho ta học tập, nghiên cứu. Văn nghệ dân gian Thổ đa dạng, ca dao tục ngữ phong phú, âm nhạc đã sưu tầm khá nhiều (chưa kể các bài cúng trong các phần trên mà tác giả đã ghi lại công phu đầy đủ, có ít tác giả nào lại ghi được nhiều như vậy).

Là một nhạc sỹ, tác giả có thuận lợi ghi đầy đủ lời dân tộc Thổ và phiên âm tiếng Việt cùng phần nhạc đầy đủ tổng cộng 11 bài; về các nhạc cụ 6 bài. Trong địa chí Tân Kỳ, Quỳ Hợp ta thấy có rất ít bài. Nét đẹp văn hóa tục "Kết bạn" coi nhau như anh em ruột rà, quý trọng nhau, cả với người Kinh ở xã khác nơi đồng bào Thổ sinh sống. Đến nay về Tân Kỳ, Nghĩa Đàn ta vẫn tìm hiểu được những gia đình kết bạn như vậy.

Trong hôn nhân có tục "Ngủ mái" rất nhân văn, trong sáng mà tác giả miêu tả, liên hệ tục này rất giống "ngủ duông" của dân tộc Kơ Tu ở Trường Sơn thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me một kiểu tự do tìm hiểu nhưng rất nghiêm ngặt vì sự ràng buộc của luật tục. "Ngủ mái" chỉ tìm thấy ở Thổ Cuối, Mọn, vùng Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ còn nhóm Thổ ở Con Cuông, Tương Dương không có tục này. Về phần tang lễ rất nhiều nét tương đồng văn hóa Mường và Thổ vùng khác: Đưa vong linh người quá cố đi thăm anh em, rồi ra bến nước để người quá cố nhớ đến nơi mình tắm mát lấy nước... gắn với quê hương, rồi lên trời xuống đất để biết nơi mình sẽ đến cuối đời. Trong quá trình tang lễ còn có cung đoạn Pườn (đọc truyện thơ "Hoa Tiêng Tiếng" như một trường ca, tương tự như mo trường ca sử thi "Đẻ đất đẻ nước" của người Mường (bây giờ gọi là của văn hóa Việt Mường). Phần tang lễ tác giả rất tỉ mỉ tìm hiểu các ông mo - một lớp tri thức Thổ am hiểu văn hóa Thổ nhất là phần tang lễ. Nếu ta chậm một chút sẽ vương vãi hết, thật cảm ơn tác giả đã tâm huyết ghi lại gần như đầy đủ (đọc qua các phần ta đều thấy có nhiều bài ghi lại bằng tiếng Thổ và phiên âm bằng tiếng Việt).

Quả là như con ong rừng cần mẫn tìm hoa hút mật, đưa vị ngọt cho đời; ai là người quê ta mà không hết lòng trân trọng một con người ở tuổi "cổ lai hy" vẫn mê say với văn hóa cổ truyền dân tộc mong để lại cho đời vật báu của văn hóa dân tộc.

Khi tìm hiểu văn hóa mặc của các dân tộc thì một chi tiết rất khác là: Chỉ người Thổ, người Chứt và người Mường đội khăn trắng là trang phục của họ thường ngày còn các dân tộc khác thì rất kiêng đội khăn trắng. Nói thêm một chút về trang sức của người Thổ nhất là người già và trẻ em, họ thường đeo vòng cổ, vòng tay bằng bạc, vừa để trang trí, vừa có tác dụng trừ tà ma, họ búi tóc, nhuộm răng đen, ăn trầu, xăm mình, xăm chữ. Xăm mình là một quan niệm tôn giáo đã có từ lâu của người Thổ. Họ quan niệm cánh tay chưa được xăm khi chết diêm vương sẽ lấy cánh tay làm cái "chống chạn" (cột chống hai đầu nhà). Con người sống ở thế giới bên kia sẽ không trọn vẹn, họ thường xăm ở tay các chữ: "bản mệnh trường sinh", "vương" chữ "thập ngoặc", những hình hoa chanh, hoa thị. Việc xăm chỉ được làm vào ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch, các ngày khác không được làm.

Đọc tác phẩm này tôi chỉ thấy phần văn hóa mặc còn sơ sài (cả y phục và trang sức), ngoài ra nên có phần kết luận chặt chẽ và dài hơn một ít để khẳng định sự đa dạng và phong phú của văn hóa cổ truyền của người Thổ. Thực ra ở tác phẩm cũng chủ yếu đề cập đến nhóm Mọn và Cuối mà thôi. Ta còn phải tiếp tục các nhóm khác cũng khá quan trọng và hấp dẫn cần nghiên cứu tiếp.

Tôi cũng nặng lòng với văn hóa cổ truyền dân tộc thiểu số ở tỉnh ta, đã xuất bản sách và một số khá nhiều bài nghiên cứu nhất là dân tộc Mông nhưng tập trung và dày dạn như Dương Hồng Từ thì tôi còn quá khiêm tốn. Ta cứ thử nghĩ với một lượng thời gian không nhiều mà Dương Hồng Từ trình làng 3 tác phẩm không hề thua em kém chị, nó đứng trong hàng Quốc gia là lẽ đương nhiên. Cả 3 tác phẩm đều là của báu, của quý.

Thiết nghĩ các nhà chuyên trách văn hóa nên có ý kiến trình lãnh đạo có phần thưởng xứng đáng cho tác giả và cần phổ biến rộng rãi trong các dân tộc thiểu số tỉnh ta, trong trường học, kể cả trong dân tộc Kinh. Đặc biệt đối với cán bộ làm công tác dân vận, công tác đoàn thể chính trị nên tìm hiểu kỹ để làm cho mọi người yêu quý hơn văn hóa dân tộc ngay tại quê mình trong thời đại xu thế toàn cầu hóa đang đến.

Xây dựng con người không gì bằng xây dựng giá trị văn hóa truyền thống của chúng ta để từ truyền thống tiến đến hiện đại.

Tôi biết Dương Hồng Từ sẽ ra tiếp tập nữa về dân tộc Thổ cũng nặng không kém mấy với tập trước. Tập này với 3.100 câu văn vần, dáng dấp của một trường ca sử thi của các dân tộc thiểu số nước ta, ví như "Đẻ đất đẻ nước" - Trường ca của người Mường (nói chung là Việt - Mường).

Dương Hồng Từ có ý định đi sưu tầm nghiên cứu tiếp Văn hóa dân gian Khơ Mú nếu điều kiện cho phép. Và quả là "tuy chưa sưu tầm được là bao nhưng qua những gì chủ ý ta có được trong tay, nếu như chúng ta dày công nghiên cứu từ những tư liệu ấy cũng đã giúp ích rất nhiều cho sử học, khảo cổ học, ngôn ngữ học...". Thật là hiếm có một người nào tâm huyết, xả thân cho văn hóa cổ truyền tỉnh nhà như vậy. Đã có văn hóa dân gian 3 dân tộc thiểu số Thái, Mông, Thổ và sẽ tiếp cận với văn hóa dân gian Khơ Mú nữa - tất nhiên tác giả đã có "vốn chừng mực nào đó rồi". Tôi được biết 2 tập về Văn hóa dân gian Thái và Mông được Hội Nhạc sỹ Việt Nam trao giải Nhì và Hội Văn học nghệ thuật Nghệ An trao giải Nhì Hồ Xuân Hương. Trân trọng chúc mừng Người đi tìm viên ngọc quý giá trị cho đời.

* Hội thảo khoa học "Nghiên cứu quy trình sản xuất một số sản phẩm từ cây chè hoa vàng tại Nghệ An"

Chiều ngày 8/12/2016, tại Công ty CP Dược - Vật tư Y tế Nghệ An đã diễn ra Hội thảo khoa học "Nghiên cứu quy trình sản xuất một số sản phẩm từ cây chè hoa vàng tại Nghệ An". Ông Hoàng Văn Hảo - Phó Giám đốc Sở Y tế chủ trì Hội thảo.

Tại buổi Hội thảo, đại diện nhóm thực hiện Đề tài đã báo cáo những kết quả thực hiện của Đề tài: Nghiên cứu phân tích đánh giá lựa chọn nguyên liệu trà hoa vàng để sản xuất trà hòa tan và viên nang cứng;  Xây dựng quy trình sản xuất trà hòa tan; Xây dựng quy trình sản xuất viên nang cứng; Phân tích đánh giá chất lượng sản phẩm, xây dựng công bố tiêu chuẩn cơ sở cho sản phẩm, xây dựng hệ thống nhãn mác, bao bì và tên thương mại cho sản phẩm.

Các đại biểu tham gia Hội thảo đã phát biểu về giá trị, tác dụng của trà hoa vàng qua nghiên cứu trong và ngoài, tìm hiểu các thành phần có trong trà hoa vàng. Ông Võ Đức Nhân - Phó Tổng Công ty Dược Vật tư y tế Hà Tĩnh bàn nhiều đến kỹ thuật sản xuất các sản phẩm hoa vàng. Cảm nhận của vai trò người sử dụng từ cảm quan đến mùi vị, tiêu chuẩn đánh giá về hàm lượng các thành phần có trong sản phẩm, tiêu chuẩn đề xuất hạn sử dụng... Tuy nhiên, trong báo cáo nên bỏ bớt thuyết minh quá trình bào chế. Nêu rõ cơ sở đề xuất liều dùng và cách tính giá thành sản phẩm...

Sau khi nghe các đại biểu phát biểu tham luận, DSCK II Trần Minh Tuệ - Chủ nhiệm đề tài trả lời nhưng vấn đề xung quanh quá trình thực hiện và sản phẩm của đề tài, giới thiệu sản phẩm.

Hải Yến

* Kỷ niệm 50 năm thành lập Hội và Hội thảo "50 năm sử học hiện đại Việt Nam"

Ngày 29 tháng 11 năm 2016, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã tổ chức Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (1996 - 2016).

Về dự Lễ kỷ niệm có các đồng chí: Trần Đại Quang - Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành trung ương Đảng - Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; Lê Khả Phiêu - Nguyễn Tổng Bí thư Ban Chấp hành trung ương Đảng và lãnh đạo các bộ, ban, ngành, địa phương trong nước.

Giáo sư - NGND Phan Huy Lê - Chủ tịch Hội đọc Báo cáo tổng kết 50 năm hoạt động của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang đọc bài phát biểu quan trọng tại buổi lễ. Cũng trong dịp này, Đảng và Nhà nước đã tặng huân chương Lao động hạng Nhất cho Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Huân chương Độc lập hạng 3 cho GS.NGND Phan Huy Lê và GS.NGND Đinh Xuân Lâm.

Sau lễ kỷ niệm Hội KHLS Việt Nam tiến hành cuộc Hội thảo "50 năm sử học hiện đại Việt Nam". Hội thảo đã nhận được 24 bản báo cáo khoa học chất lượng chuyên môn cao và tâm huyết của 24 tác giả tập trung vào 2 nội dung: Thông sử và những vấn đề chung nhấtTổng kết hoạt động lịch sử ngành, chuyên ngành và lịch sử địa phương.

Sau 2 sự kiện quan trọng của Hội KHLS Việt Nam, Ban Chấp hành Hội KHLS Việt Nam đã tổ chức Hội nghị lần thứ 2 - khóa VII. Hội nghị đã đánh giá kết quả hoạt động của hội từ sau Đại hội VII đến nay và thảo luận nội dung, nhiệm vụ hoạt động của Hội năm 2017.

Trong hội nghị này, BCH đã thực hiện Nghị quyết Đại hội để GS.NGND Phan Huy Lê nghỉ chức vụ Chủ tịch Hội và bầu PGS.TS Trần Đức Cường - Phó Chủ tịch làm Chủ tịch Hội khóa VII.

Quốc Hồng

* Khai giảng lớp Bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính và chuyên viên

Sáng ngày 19/11, tại Trung tâm KHXH&NV Nghệ An, Học viện Hành chính Quốc gia, Bộ Nội vụ tổ chức Lễ khai giảng lớp Bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính và chuyên viên tại Nghệ An.

Khóa học được tổ chức với mục tiêu nâng cao hơn nữa năng lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực, giúp các học viên thành thạo hơn trong công tác nghiệp vụ quản lý Nhà nước, gắn kết giữa lý luận và thực tiễn nhằm giải quyết tốt những vấn đề thuộc quản lý Nhà nước đang đặt ra ở các cơ quan đơn vị, địa phương, góp phần chuẩn hóa chất lượng cán bộ công chức thực hiện có hiệu quả nền hành chính công, là cơ sở để xây dựng một nền hành chính nhà nước ngày càng hiện đại hơn.

Tại buổi lễ, đại diện Học viện Hành chính khẳng định: Học viện có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ từ đào tạo, bồi dưỡng đến cấp chứng chỉ; Có đội ngũ cán bộ, giảng viên dày dạn kinh nghiệm với nhiều giáo sư, tiến sỹ khoa học đầu ngành. Do đó, sau khóa học, học viên sẽ nhận được nhiều kiến thức bổ ích để phục vụ công tác chuyên môn.

Ngay sau Lễ khai giảng, lớp học chính thức bước vào học tập các chuyên đề theo lịch đã đề ra.

Phạm Khắc

* Thấm đẫm ân tình trong miền ví, giặm

Vừa qua, Sở VHTT&DL Nghệ An phối hợp cùng Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản dân ca xứ Nghệ tổ chức chương trình biểu diễn nghệ thuật "Về miền ví, giặm" kỷ niệm 2 năm Dân ca Ví giặm Nghệ Tĩnh được vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Ngày 27/11/2014, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được tổ chức UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Hai năm qua, được sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ, Sở VHTT&DL cùng với sự vào cuộc của các cấp, các sở ban ngành, các cơ quan đơn vị, trường học, cộng đồng người dân trong và ngoài nước, Trung tâm Bảo tồn & Phát huy di sản dân ca xứ Nghệ đã có những hoạt động tích cực, nhằm giới thiệu, quảng bá dân ca Ví, giặm rộng rãi trong công chúng; khẳng định sức sống, sức lan tỏa mạnh mẽ của dân ca ví, giặm; khẳng định tình yêu và trách nhiệm của cộng đồng người Nghệ đối với di sản của cha ông để lại.

Chương trình nghệ thuật "Về miền ví, giặm" với những làn điệu ví giặm mang tâm hồn, tình yêu của người xứ Nghệ, do sự thể hiện của tập thể nghệ sĩ diễn viên, nhạc công Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản dân ca xứ Nghệ, các nghệ sĩ của đoàn NTQK4 và Đoàn Ca múa nhạc dân tộc miền núi Tỉnh Nghệ An, cùng các diễn viên nhí của CLB ví giặm Chồi xanh đã mang đến cho khán giả một chương trình nghệ thuật đặc sắc, tạo được một không gian ví, giặm nghĩa tình, lạc quan, tươi vui.

H.B (theo Đài truyền hình Nghệ An)

* Nghệ An: Quần thể cây quý được công nhận Cây di sản Việt Nam

     Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam vừa trao Bằng công nhận Cây di sản Việt Nam cho quần thể 56 cây sa mu dầu và 5 cây phay sừng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, huyện Quế Phong.

Theo khảo sát của Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, quần thể cây sa mu có tuổi đời hàng trăm năm tuổi, chạy dọc biên giới Việt - Lào, có thể chia thành 7 khu vực với số lượng lên đến hàng nghìn cây. Trong đó có những cây đường kính lên tới 3,7m, cao 50-60m. Tuy nhiên chỉ có 56 cây sa mu dầu và 5 cây phay sừng được vinh danh là Cây di sản Việt Nam. Hai loại cây này không chỉ có giá trị về mặt khoa học, về nguồn gen, cũng như về kinh tế mà nó còn tạo ra các ảnh hưởng về văn hóa, tâm linh gắn liền với cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số trên khu vực giáp biên.

Dịp này, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam đề nghị Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt và chính quyền địa phương có biện pháp chăm sóc, bảo vệ các cây di sản, tránh bị xâm hại.

P.V (theo báo Nghệ An)

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.