« Quay lại

Chuyên san Khoa học xã hội &nhân văn số 3 năm 2017

Đ/c Nguyễn Xuân Phúc

Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam

 

Trong thời gian gần đây, Nghệ An đã có những bước tiến trong việc thực hiện Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị, đó là đề cao tinh thần tự lực, tự cường, phấn đấu vươn lên của một tỉnh giàu truyền thống; Hình thức xúc tiến đầu tư phong phú hơn, bên cạnh truyền thống cũ là xúc tiến đầu tư tập trung, các đồng chí lãnh đạo tỉnh còn trực tiếp gặp các nhà đầu tư Thái Lan, Hàn Quốc, Úc, Nhật Bản và các nhà đầu tư lớn ở Việt Nam; Nhiều tập đoàn lớn có tên tuổi ở trong và ngoài nước đã đến Nghệ An tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư. Rất vui mừng vì nhiều tập đoàn kinh tế đã thỏa thuận ký kết đầu tư vào Nghệ An nhiều dự án với hàng nghìn tỷ đồng.

Qua theo dõi một số dự án cho thấy, sự tiến bộ của Nghệ An và nhà đầu tư trong việc xây dựng các dự án sản xuất là đã chú trọng bảo vệ môi trường với hướng phát triển cạnh tranh công nghiệp công nghệ cao. Điều đáng mừng là hạ tầng ở Nghệ An ngày càng hoàn thiện, có sân bay quốc tế, cảng biển quốc tế, có đường bộ cao tốc, sắp tới còn có đường sắt cao tốc nữa sẽ tạo đột phá trong sự phát triển kinh tế.

Bên cạnh đó, Nghệ An có tiềm năng về nguồn nhân lực, lao động dồi dào, hệ thống các trường đại học và dạy nghề chất lượng đào tạo khá tốt, đội ngũ trí thức, kỹ sư, cử nhân đông đảo. Có một điều đặc biệt đáng mừng nữa đó là con em người Nghệ An thành đạt ở nhiều nơi đã muốn trở về quê đầu tư, lao động. Trên địa bàn đã xuất hiện nhiều người giàu, người tài.

Nông thôn, miền núi của Nghệ An rộng lớn, chiếm ¾ diện tích toàn tỉnh cũng đã được Trung ương và tỉnh quan tâm đầu tư hơn với hàng loạt dự án được ký kết, đời sống của nhân dân các dân tộc ở miền núi ngày càng được cải thiện. Nhìn một cách tổng quát, trong những năm qua Nghệ An đã có nhiều đổi thay to lớn trên nhiều lĩnh vực, thay mặt Đảng và Nhà nước, xin được chúc mừng thành quả trên nhiều mặt của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh nhà cùng các doanh nghiệp đã đầu tư vào Nghệ An.

Tuy nhiên, phải nhìn nhận thẳng thắn rằng, Nghệ An vẫn là một tỉnh nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tuy có tiến bộ nhưng cơ cấu lao động ở nông thôn, miền núi vẫn chiếm tỷ lệ cao, trên 60%. Thu chưa đủ chi, vẫn phải dựa vào sự hỗ trợ của ngân sách Trung ương. Thu nhập bình quân của người dân xứ Nghệ còn thấp hơn mức bình quân của cả nước. Cải cách hành chính tuy có bước tiến nhưng chưa đạt yêu cầu. Môi trường kinh doanh, công nghệ thông tin, các ngành và các cấp chính quyền chưa thực sự phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Một câu hỏi lớn đặt ra là Nghệ An cần phải làm gì?

Thứ nhất, theo tôi, tỉnh cần phải nỗ lực hơn nữa, tự lực, tự cường vươn lên phát triển mạnh mẽ hơn. Tỉnh cần có quy hoạch tổng thể và quản lý tốt để không mâu thuẫn trong phát triển lâu dài như: công nghiệp cần bố trí vùng nào, du lịch ra sao, hạ tầng đi kèm, nguồn lực như thế nào,... để đạt hiệu quả. 

Thứ hai, tỉnh cần phải đặt vấn đề liên kết vùng, nhất là với Hà Tĩnh và Thanh Hóa. Tôi đồng ý với ý kiến là đi một mình thì nhanh nhưng cùng nhau đi sẽ được dài, xa hơn, bền vững hơn.

Thứ ba, Nghệ An phải tiếp tục cải cách đổi mới mạnh mẽ, hiện nay thứ hạng cạnh tranh của Nghệ An vẫn còn thấp so với những tỉnh, những vùng có điều kiện tương tự.

Thứ tư, nguồn lực và sức mạnh của Nghệ An gắn với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư như thế nào? Chúng ta phải hướng vào công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp công nghệ cao, du lịch chất lượng cao, công nghệ thông tin được phổ cập đến với mọi người dân. Nghệ An phải đón bắt cơ hội, tập trung cao độ cho phát triển trong thời kỳ mới.

Thứ năm, phải biết tiết kiệm tài nguyên, đất đai để sử dụng lâu dài, không phát triển quá nóng vội dẫn đến lãng phí, cần khai thác hiệu quả với chiến lược lâu dài. Và một câu hỏi, lợi thế so sánh các thế mạnh của Nghệ An trong nền kinh tế thị trường như thế nào? Nông nghiệp, du lịch, dược liệu, xi măng, công nghiệp phụ trợ, điện tử,… Nghệ An phải xác định được lợi thế cạnh tranh của mình trong nền kinh tế thị trường, từ đó tỉnh cần một chương trình hết sức cụ thể để xúc tiến kêu gọi doanh nghiệp vào đầu tư.

Thứ sáu, Nghệ An cần phải xã hội hóa mạnh mẽ nguồn lực, cả hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội, đặc biệt là thu hút đầu tư giá trị gia tăng cao. Tôi vui mừng được nghe ở Nghệ An đã có 9 bệnh viện lớn đều được xã hội hóa mạnh mẽ từ nguồn lực của nhân dân. Đó là một hướng đi tốt, để dành nguồn lực cho những việc khác, chứ không phải bất cứ đầu tư ở chỗ nào cũng dùng nguồn lực của Nhà nước, mà cần sự vào cuộc của doanh nghiệp, tư nhân và cả các hộ gia đình.

Thứ bảy, để đảm bảo cho phát triển, Nghệ An cần làm tốt công tác đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội… Quan tâm cụ thể hơn nữa đến đời sống người dân, nhất là người dân vùng nông thôn, miền núi.

Các doanh nghiệp cần phải làm gì đối với Nghệ An?

Thứ nhất, các nhà đầu tư cần phải có một chiến lược kinh doanh lâu dài đối với tỉnh, đừng để tình trạng "sớm nắng, chiều mưa", "lúc trồi, lúc sụt". Tầm nhìn của doanh nghiệp phải được thể hiện rõ ở chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu của doanh nghiệp đầu tư là gần 100 triệu dân Việt Nam, là thị trường quốc tế.

Thứ hai, vấn đề kinh tế và môi trường, chúng ta không nên đánh đổi để lấy lợi nhuận kinh tế mà làm ảnh hưởng đến môi trường lâu dài.

Thứ ba, doanh nghiệp phải đối xử với người lao động cho đúng mức, phải quan tâm đến chất lượng đời sống người lao động tốt hơn.

Thứ tư, các doanh nghiệp cần nói đi đôi với làm, ký kết rồi phải thực hiện.

Chính phủ phải làm gì để các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước yên tâm khi đầu tư vào Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng?

Thứ nhất, chúng tôi cam kết một Chính phủ liêm chính, kiến tạo, hành động để tạo mọi điều kiện cho các nhà đầu tư. Chính phủ bảo vệ quyền con người, quyền công dân như Hiến pháp năm 2013 mà Quốc hội đã thông qua, đặc biệt là bảo vệ quyền tài sản công dân. Chính phủ sẽ nỗ lực tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn. Điều này yêu cầu phải chuyển động cả hệ thống chính trị, các sở ngành vào cuộc tích cực hơn. Tinh thần đổi mới được Chính phủ chuyển mạnh từ nhận thức đến hành động.

Thứ hai, Chính phủ quyết tâm giữ vững kinh tế vĩ mô.

Thứ ba, Chính phủ giữ môi trường hòa bình, hữu nghị, thân thiện với mọi quốc gia trên cơ sở phát huy tự chủ, giữ vững độc lập. Để mọi thành phần kinh tế, kể cả FDI và doanh nghiệp trong nước yên tâm làm ăn. Chính phủ tiếp tục có cơ chế, thể chế, chính sách thiết thực cho các nhà đầu tư, như chính sách cho các khu công nghiệp, chính sách cho công nghiệp phụ trợ, nông nghiệp công nghệ cao, du lịch... Rất mong muốn Nghệ An là tỉnh đi đầu trong những lĩnh vực này.

Thứ tư, Chính phủ tiếp tục phát triển hạ tầng quan trọng, trong đó sẽ làm sớm cao tốc Vinh - Hà Nội, cao tốc Hà Nội - Viêng Chăn (Lào) qua cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy ở Nghệ An.

Tôi cho rằng "Thiên thời, địa lợi, nhân hòa" đang đến với Nghệ An, vì vậy chúng ta cùng đồng tâm hiệp lực xây dựng và phát triển Nghệ An trở thành tỉnh khá như sinh thời Bác Hồ hằng mong muốn, đóng góp chung vào sự phát triển của nước nhà.

Đ/c Nguyễn Xuân Đường

Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An

 

Trong những năm qua, tỉnh Nghệ An đã không ngừng nỗ lực để phát huy những tiềm năng, lợi thế về nguồn lực tự nhiên, con người và cơ sở hạ tầng để đưa quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng phát triển. Bên cạnh đó, được sự quan tâm, giúp đỡ của Trung ương và sự đồng hành của các doanh nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước nên kinh tế - xã hội của tỉnh nhà đã có nhiều khởi sắc.

Đặc biệt, sau 9 năm diễn ra Hội nghị gặp mặt các nhà đầu tư vào dịp đầu xuân, tỉnh Nghệ An đã từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường đầu tư, đã đồng hành để cùng tháo gỡ những khó khăn của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư lớn, có uy tín để cùng hợp tác và phát triển bền vững. Qua 9 lần đồng hành cùng Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam để tổ chức Gặp mặt các nhà đầu tư từ năm 2009 đến nay, Nghệ An đã thu hút được 804 dự án đầu tư, với tổng số vốn đăng ký hơn 261 nghìn tỷ đồng, trong đó: 758 dự án đầu tư trong nước, với hơn 101 nghìn tỷ đồng và 46 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với hơn 160 nghìn tỷ đồng. Chỉ tính riêng năm 2016, toàn tỉnh đã cấp mới 141 dự án, với tổng vốn đầu tư 35.441 tỷ đồng. Trong đó, có nhiều dự án lớn, sử dụng công nghệ cao đã đi vào hoạt động có hiệu quả, tạo được  việc làm và nộp ngân sách lớn, như: Dự án chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa TH - True milk; các nhà máy bia: Sài Gòn - Sông Lam, Hà Nội - Nghệ An; nhà máy Bao bì Sabeco; nhà máy Thủy điện Bản Vẽ, Thủy điện Hủa Na; nhà máy gỗ MDF; 2 nhà máy Tôn Hoa Sen; nhà máy xi măng Sông Lam 1, Sông Lam 2 của Tập đoàn xi măng The Vissai; nhà máy thức ăn chăn nuôi; nhà máy Chăn nuôi bò thịt và bò giống; trung tâm thực phẩm Masan miền Bắc; các nhà máy may và lắp ráp linh kiện điện tử của các nhà đầu tư từ Hàn Quốc, Nhật Bản; chuỗi hơn 10 khách sạn của Tập đoàn Mường Thanh; tổ hợp khách sạn, khu vui chơi giải trí và biệt thự nghỉ dưỡng Vinpearl Cửa Hội của Tập đoàn Vingroup,… Đặc biệt là dự án Khu Công nghiệp, đô thị và dịch vụ VSIP Nghệ An của Công ty Liên doanh TNHH Khu Công nghiệp Việt Nam - Singapore và Khu công nghiệp, đô thị Hemaraj của Tập đoàn Hemaraj (Thái Lan),... Bên cạnh đó, nhiều công trình hạ tầng quan trọng như: Sân bay, cảng biển, giao thông, điện, nước, viễn thông,... được đầu tư nâng cấp để hỗ trợ tốt nhất cho các nhà đầu tư thực hiện hiệu quả các dự án trên địa bàn tỉnh.

Với những kết quả to lớn sau 9 năm tổ chức Hội nghị gặp mặt các nhà đầu tư đã đặt nền móng quan trọng để Nghệ An thực hiện thành công Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị và mong muốn của Người là "Xây dựng quê hương Nghệ An phát triển toàn diện, phấn đấu trở thành tỉnh kiểu mẫu". Chính vì vậy, trong năm 2016, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã đạt nhiều kết quả tích cực: Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh tăng 7,5 %, cao hơn tốc độ tăng trưởng của những năm gần đây. Thu ngân sách đạt hơn 11 nghìn tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư xã hội năm 2016 đạt hơn 51 nghìn tỷ đồng. Sản lượng lương thực đạt hơn 1,25 triệu tấn - cao nhất từ trước đến nay; Có 2 đơn vị cấp huyện và 152 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng gần 10%; nhiều sản phẩm công nghiệp tăng cao như: Sữa tươi, xi măng, bia, gạch granit, điện thương phẩm; Lĩnh vực thương mại, du lịch, thông tin truyền thông, vận tải, điện, tài chính ngân hàng tiếp tục phát triển tốt. Lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Công tác y tế, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và đảm bảo an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm; Tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 9,5%, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Cải cách hành chính có bước tiến bộ; Quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

Từ những kết quả đạt được và thực tiễn công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chúng tôi nhận thức rằng: Để phát triển kinh tế nhanh, bền vững thì phải "Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư để thu hút đầu tư trong và ngoài nước, chú trọng phát triển một số ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng cao; phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp sạch, tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường". Chính vì vậy, công tác hỗ trợ các doanh nghiệp, các nhà đầu tư vào tìm hiểu, đầu tư và hoạt động hiệu quả đã trở thành nhiệm vụ chính trị quan trọng luôn được lãnh đạo tỉnh Nghệ An hết sức quan tâm và tập trung chỉ đạo.

Trong thời gian tới, chúng tôi cam kết triển khai đồng bộ 09 giải pháp cụ thể sau đây:

1. Đơn giản hóa thủ tục hành chính và rút ngắn thời gian cấp Giấy Chứng nhận đăng ký đầu tư trong thời gian là 03 ngày làm việc, kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư (trước đây là 5 ngày làm việc); cá biệt đối với hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Nhà đầu tư cần gấp chúng tôi có thể giải quyết ngay trong ngày làm việc.

2. Các hồ sơ đăng ký của doanh nghiệp qua mạng được giải quyết trong 02 ngày làm việc (giảm 33% thời gian so với quy định) và trả kết quả ngay trong ngày kể từ khi tiếp nhận hồ sơ bằng bản giấy tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Triển khai thực hiện dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 trong đăng ký doanh nghiệp, chuyển từ cơ chế đăng ký sang cơ chế phục vụ doanh nghiệp, nhà đầu tư.

3. Cải cách quy trình, hồ sơ và thủ tục nộp thuế và rút ngắn thời gian để các doanh nghiệp hoàn thành thủ tục nộp thuế. Duy trì tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện kê khai thuế điện tử đạt trên 95%, nộp thuế điện tử tối thiểu đạt 90%. Về thời gian giải phóng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu: Đối với hàng hóa không phải kiểm tra hồ sơ (tờ khai luồng xanh), thông quan tự động ngay lập tức; Đối với hàng hóa phải kiểm tra hồ sơ (tờ khai luồng vàng), giải quyết trung bình là 22 giờ/hồ sơ; Đối với hàng hóa phải kiểm tra hồ sơ, hàng hóa thực tế (tờ khai luồng đỏ), thời gian giải quyết là 15 ngày (trước đây thời gian giải quyết là 16,3 ngày).

4. Cắt giảm từ 20% - 50% thời gian giải quyết các thủ tục hành chính về đầu tư trong nước và đầu tư có vốn nước ngoài so với mục tiêu mà Nghị quyết 43 của Chính phủ đặt ra.

5. Tăng cường công khai, minh bạch, cập nhật và hướng dẫn rõ ràng; cam kết niêm yết công khai 100% thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư, kinh doanh và các quy hoạch của tỉnh, địa phương tại các cơ quan hành chính và trên các website của địa phương, đơn vị.

6. Phát huy tối đa hiệu quả hoạt động của chính quyền điện tử; khuyến khích doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính qua mạng; cắt giảm tối đa thời gian giải quyết thủ tục hành chính so với quy định.

7. Đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo bằng những giải pháp thiết thực, hiệu quả; đẩy mạnh hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua các hoạt động cụ thể.

8. Thúc đẩy mạnh mẽ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực về công nghệ thông tin, đáp ứng mọi nhu cầu tuyển dụng của các nhà đầu tư.

9. Chính quyền luôn sát cánh, đồng hành, giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.

Việc phấn đấu đưa Nghệ An trở thành "Tỉnh khá" như lời căn dặn của Bác Hồ trước lúc đi xa, không chỉ là mong ước của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh nhà, mà còn là mong muốn của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, của Quốc hội, của Chính phủ và của các Bộ, ngành Trung ương, của các địa phương và của cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân. Với tấm lòng vì quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, điều đó thể hiện bằng Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị và sự quan tâm, giúp đỡ của Trung ương và các doanh nghiệp trong suốt thời gian qua để Nghệ An có được như ngày hôm nay.

Với mong muốn Nghệ An thực sự trở thành điểm đến, điểm đầu tư có hiệu quả, chúng tôi đã và đang cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Vì vậy, chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được các ý kiến góp ý để làm tốt hơn nữa trong thời gian tới, góp phần xây dựng Nghệ An trở thành tỉnh khá trong khu vực phía Bắc; là trung tâm về tài chính, thương mại, du lịch, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, công nghiệp công nghệ cao của vùng Bắc Trung bộ theo Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị.

Đ/c Trương Đình Tuyển

Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An

 

Việt Nam là một nước đang phát triển và có nguồn nhân lực dồi dào, lao động rất cần cù. Trong những năm gần đây, nước ta đã tiến hành hội nhập sâu rộng, là nước ký nhiều hiệp định tự do nhất trong khu vực Đông Nam Á, ngay cả Singapore - một nước có nền kinh tế tự do cũng không có nhiều như Việt Nam. Hiện tại, chúng ta đang đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) gồm 16 nước trong đó có Australia. Nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hiện nay tuyên bố rất mạnh mẽ trong việc xây dựng kiến tạo phát triển đất nước. Điều đó chứng tỏ Đảng và Nhà nước Việt Nam đang rất quyết tâm xây dựng một thể chế hiện đại hội nhập quốc tế. Đó là lợi thế chung của Việt Nam.

Nghệ An là tỉnh có nhiều lợi thế nổi trội, là mảnh đất hiếu học, luôn là tỉnh đứng thứ 2 cả nước về số học sinh giỏi cấp quốc gia; cũng là một tỉnh có nhiều lao động đi xuất khẩu nước ngoài lớn nhất Việt Nam. Ý tưởng của Tập đoàn Mavin về việc kết nối người Việt Nam ở nước ngoài với nhà đầu tư nước ngoài tại Nghệ An là rất hay. Người Việt Nam lao động ở nước ngoài như Nhật Bản, Đài Loan có kỷ luật lao động rất tốt, trình độ tay nghề cũng cao vì họ được rèn luyện trong môi trường công nghiệp, trong xã hội công nghiệp. Theo tôi, tỉnh cần sớm triển khai ý tưởng này một cách bài bản như: theo dõi họ học ở đâu, làm nghề gì và họ về nước thời gian nào để có thể giới thiệu cho nhà đầu tư nước ngoài.

Hiện nay, Nghệ An đã có hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ như: cụm cảng biển, sân bay quốc tế, đường Quốc lộ 1 đang được nâng cấp ngày càng tốt hơn; đường mòn Hồ Chí Minh đi qua Nghệ An,... Bên cạnh đó, Nghệ An cũng là tỉnh có lợi thế về phát triển nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao.

Để thực hiện tốt công tác thu hút đầu tư, theo tôi tỉnh cần giải quyết tốt các việc sau:

Thứ nhất, cải thiện mạnh mẽ hơn nữa môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư. Không có lý do gì mà Nghệ An không thể nằm trong tốp khá về chỉ tiêu năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của cả nước. Bởi vì đây là việc không mất nhiều tiền cho tỉnh lại càng không mất nhiều tiền cho doanh nghiệp. Trong vài năm tới Nghệ An phải phấn đấu đứng đầu trong khu vực Bắc Trung bộ sau đó tiến lên tốp đầu của cả nước.

Thứ hai, cải cách mạnh mẽ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao. Đây là lĩnh vực mà theo tôi tỉnh nên chú trọng và đặc biệt quan tâm. Làm thế nào để tạo ra được sản phẩm nông nghiệp sạch từ đồng ruộng đến bàn ăn, từ trại chăn nuôi đến hộ dân, từ nguyên liệu đến giống, đến sản xuất, chế biến, phân phối, tiêu thụ,...; Ví dụ như lĩnh vực sản xuất thức ăn thì chúng ta phải tính làm sao vừa khai thác nguồn nguyên liệu tại chỗ, đỡ chi phí nhập khẩu, đỡ chi phí vận tải vừa cải thiện được đời sống của người nông dân. Theo tôi, tỉnh Nghệ An cần phải quan tâm đến tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng tạo những nguồn sản xuất lớn, công nghệ cao, liên kết thành chuỗi giá trị. Đây là xu hướng đang phát triển khá mạnh mẽ ở Việt Nam và cũng là lĩnh vực Nghệ An có nhiều tiềm năng, thế mạnh để tạo ra nguồn sản phẩm phong phú, đa dạng.

Để thực hiện điều đó, Nghệ An cần làm tốt các giải pháp sau:

Thứ nhất, làm tốt công tác bảo hộ nhà đầu tư, bảo hộ sản phẩm, thực hiện sở hữu trí tuệ cao. Đây là yêu cầu chính đáng của các doanh nghiệp trong việc bảo vệ sản phẩm cũng như bảo vệ chính họ tránh khỏi những rủi ro trong cạnh tranh với hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng. Hiện nay, các hiệp định kinh tế trên thế giới cũng yêu cầu cao đối với vấn đề này, và đây cũng là yêu cầu của chính nền kinh tế Việt Nam nếu như muốn phát triển mạnh mẽ và bền vững.

Thứ hai, đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh và môi trường đầu tư, đặc biệt là cải cách thể chế, tạo hành lang thông thoáng, cởi mở để các doanh nghiệp tham gia đầu tư kinh doanh. Thiết nghĩ, không có lý do gì mà Nghệ An không làm được điều đó, cán bộ ở Nghệ An không làm được điều đó. Nếu nói về trình độ, năng lực thì cán bộ ở Nghệ An hơn rất nhiều đội ngũ cán bộ ở các tỉnh miền núi khác như Lào Cai, Lai Châu,... Nhưng các tỉnh đó hiện nay phát triển rất mạnh, vượt bậc và đang đứng ở vị trí rất cao. Vì thế, không có lý do gì mà chúng ta không làm được như các tỉnh đó.

Thứ ba, tỉnh cần quyết liệt hơn nữa trong tái cơ cấu kinh tế, đặc biệt là tái cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp để có thể tạo ra được sản phẩm sạch như Tập đoàn Mavin đã nói. Đây là xu hướng lớn và đang phát triển rất mạnh ở Việt Nam.

Bên cạnh sự nỗ lực của chính quyền thì theo tôi nghĩ cái quan trọng nhất vẫn là sự vào cuộc, hành động thực sự của các doanh nghiệp FDI. Các nhà đầu tư cần nói là làm, thực hiện đúng những cam kết của mình khi đầu tư vào Nghệ An. Từ đó, Nghệ An mới phát triển và thực hiện được điều mà Bác Hồ mong muốn: phấn đấu để Nghệ An trở thành một tỉnh kiểu mẫu.

NGUYỄN THỊ THANH THANH*

 

Tóm tắt:

       Từ những thập niên 80 của thế kỉ XX, du lịch nông thôn đã trở nên phổ biến trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia châu Âu như Pháp, Đan Mạch, Hà Lan, Thụy Điển. Nhận thức được tầm quan trọng của nó với nền kinh tế cũng như xã hội của các vùng nông thôn nên sau đó hoạt động này đã được mở rộng đến tất cả các khu vực khác từ châu Mỹ đến châu Á. Tuy nhiên, ở Việt Nam, loại hình du lịch này còn khá mới mẻ và chưa được chú trọng đầu tư phát triển dù qua nghiên cứu cho thấy, chúng ta hoàn toàn có đủ tiềm năng và nên phát triển loại hình du lịch này. Bài báo tập trung nêu ra các tiềm năng phát triển du lịch nông thôn ở Việt Nam và chỉ rõ sự cần thiết của việc phát triển loại hình này ở nông thôn nước ta.

 

       Trước hết, phải khẳng định rằng Việt Nam là một đất nước có tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa phong phú. Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch ngày càng được Đảng và Nhà nước chú trọng, trong "Chiến lược phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn 2030" xác định các quan điểm: "phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm trọng điểm, chú trọng phát triển theo chiều sâu đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh; phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế quốc gia về yếu tố tự nhiên và văn hóa dân tộc, thế mạnh đặc trưng các vùng miền trong cả nước" [1].

Tuy nhiên, đánh giá quá trình phát triển du lịch Việt Nam, các chuyên gia luôn cho rằng sự phát triển của du lịch Việt Nam còn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, chưa khai thác được thế mạnh của từng địa phương. Đặc biệt, các sản phẩm du lịch của các địa phương chưa tạo được nét riêng, độc đáo, nhất là chưa khai thác tốt tiềm năng du lịch của một quốc gia gốc nông nghiệp trong khi nền sinh thái nông nghiệp của Việt Nam phát triển dựa trên nền sinh thái thiên nhiên có sự đa dạng sinh học vào bậc cao trên thế giới. Thêm vào đó, du lịch nông thôn đang trở thành một loại hình du lịch được các quốc gia trên thế giới chú ‎trọng đầu tư phát triển nhằm thay đổi bộ mặt kinh tế các vùng nông thôn, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tạo sinh kế mới cho cộng đồng cư dân nông thôn, về lâu dài giúp thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo giữa nông thôn và thành thị. Bài học kinh nghiệm từ phát triển du lịch nông thôn của các quốc gia khác được áp dụng tại một số điển hình ở Việt Nam bước đầu thành công đã chứng tỏ "phát triển du lịch nông thôn đang trở thành xu hướng chiến lược nhằm phát huy yếu tố cội rễ văn hóa dân tộc thấm đậm ở khắp các miền quê Việt Nam" [4]. Hơn thế, theo nhận định của chuyên gia, du lịch nông thôn có thể trở thành sản phẩm du lịch giúp Việt Nam đón được nhiều du khách hơn.

Vậy Việt Nam có đủ tiềm năng để phát triển du lịch nông thôn hay không? Và tại sao chúng ta cần phát triển loại hình du lịch này ở Việt Nam?

1.     Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn của Việt Nam

Trước hết, Việt Nam là một quốc gia có bề dày lịch sử phát triển nền sinh thái nông nghiệp dựa trên nền sinh thái thiên nhiên có tài nguyên đa dạng sinh học thuộc một trong 16 nước cao nhất thế giới. Đa dạng sinh học là chiếc nôi sống, nơi sản sinh ra các thảm phủ sinh thái tự nhiên cho việc phát triển và tồn tại bền vững một nền sinh thái nông nghiệp với các sản vật thiên nhiên độc đáo. Đó cũng là cái lõi chính để đặt nền móng cho việc phát triển các sản phẩm du lịch nông thôn bền vững đủ sức cạnh tranh trên th trường quốc tế ở một nước nông nghiệp như Việt Nam. Nông thôn Việt Nam được đánh giá rất có tiềm năng để phát triển du lịch.

Về tài nguyên: Ngoài tài nguyên tự nhiên như nhiều phong cảnh đẹp nhờ địa hình đa dạng với nhiều kiểu loại địa hình đồi núi, đồng bằng, vùng chiêm trũng, sông ngòi, kênh rạch, biển đảo, hang động cùng hệ động thực vật phong phú, nông thôn Việt Nam còn có nguồn tài nguyên văn hóa dồi dào với những phong tục tập quán truyền thống của các dân tộc, các hình thức diễn xướng dân gian hấp dẫn trong những lễ hội dân gian đầy màu sắc, các di tích lịch sử gắn với lịch sử hào hùng của dân tộc, những ngôi làng cổ - bảo tàng sống của lối sống nông thôn ở khắp ba miền Bắc Trung Nam…

Về con người: Chủ thể của nông thôn Việt Nam là những người nông dân chân chất, hiền lành, thân thiện và hiếu khách. Họ luôn thể hiện mong muốn được đón tiếp du khách và giới thiệu nền văn hóa, nét đẹp truyền thống của dân tộc mình.

Hơn thế nữa, nông thôn Việt Nam có rất nhiều làng nghề thủ công mỹ nghệ, như sản xuất đồ gốm sứ, hàng dệt, đồng, da, sơn mài, mây tre và nón... Theo tổng hợp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đến nay, cả nước có 4.575 làng có nghề với khoảng 900.000 hộ dân tham gia hoạt động và trên 22.000 doanh nghiệp, trong đó có 1.324 làng nghề và làng nghề truyền thống được công nhận. Số lượng làng nghề tập trung chủ yếu ở khu vực miền Bắc, trong đó 5 tỉnh có số lượng làng nghề nhiều nhất lần lượt là Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Dương và Thái Bình, chiếm 60% tổng số làng có nghề của cả nước. Những làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống đặc trưng của từng vùng miền, từng dân tộc chính là điểm hấp dẫn du khách đặc biệt là du khách quốc tế khi tới Việt Nam.

Qua khảo sát năm 2013 của của Cơ quan Hợp tác Quốc  tế Nhật Bản (JICA) và Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (ITDR) đã thực hiện trên 63 tỉnh thành thì cả nước có 121 khu vực nông thôn đang thực hiện, hoặc có tiềm năng thực hiện phát triển du lịch. Như vậy, tỉnh hoặc thành phố nào ở nước ta cũng có các làng nông nghiệp truyền thống với không gian làng xã sinh động và các cảnh quan đồng quê đẹp trữ tình có tiềm năng trở thành điểm du lịch nông thôn hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

2.     Sự cần thiết phát triển du lịch nông thôn ở Việt Nam

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê vào giữa thế kỷ trước, dân số nông thôn Việt Nam chiếm 88,4% (1950) và giảm xuống còn 69,6% vào năm 2010 (tương đương với kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009) [2] và tiếp tục giảm còn 68.06% năm 2012. Cho đến nay, tỷ lệ dân số sống ở nông thôn vẫn cao hơn tỷ lệ dân số sống ở thành thị và diện tích đất khu vực nông thôn vẫn chiếm tỷ lệ hơn 80% so với thành thị. Bên cạnh đó, qua khảo sát mức sống người dân năm 2012 do Tổng cục Thống kê - Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) tiến hành thì thu nhập trung bình của người dân thành thị là 3 triệu đồng/ tháng/ người trong khi người dân sống ở nông thôn là 1,6 triệu đồng/ tháng/ người. Và nếu so với số liệu thống kê mức sống 2 năm trước đó thì mức sống của người dân thành thị và nông thôn có khoảng cách khác biệt lớn, và khoảng cách giàu - nghèo gia tăng rõ rệt, năm 2012, nhóm hộ nghèo nhất có mức thu nhập là 512.000 đồng/tháng/người; nhóm hộ giàu nhất có mức thu nhập 4,8 triệu đồng/người/ tháng; tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn còn cao chiếm tới 22.1% trong khi tỷ lệ này ở thành thị chỉ chiếm 5.4%. Hệ quả tất yếu của vấn đề này là nạn di cư từ nông thôn ra thành phố, tạo ra áp lực dân số, việc làm, nạn thất nghiệp, tệ nạn xã hội, quá tải về dân số cho các đô thị lớn; Ngoài ra, một bộ phận cư dân nông thôn di cư đến những địa phương khác nhất là khu vực còn nhiều đất rừng hay khu vực có tài nguyên quý để khai thác, đốt rừng làm nương rẫy…[3].

Trong khi đó, trong thời gian gần đây, du lịch dần trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế nước ta, là ngành xuất khẩu tại chỗ thu ngoại tệ và tạo ra công ăn việc làm cho người dân, bằng chứng là khách du lịch trong nước và quốc tế liên tục tăng trưởng, đóng góp GDP từ du lịch cũng liên tục tăng. Tuy số lượng khách du lịch quốc tế tăng trưởng không mạnh do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng lượng khách du lịch nội địa thì tăng trưởng vô cùng mạnh mẽ, nếu năm 2001 chỉ có 11,7 triệu lượt khách thì sau 5 năm con số đó đã tăng lên 16 triệu lượt và tiếp tục tăng lên tới 28 triệu lượt năm 2010 và đạt 57 triệu lượt năm 2015, tăng hơn gấp đôi so với năm 2010. Trong số du khách này, số du khách là người dân thành thị có nhu cầu đi du lịch nông thôn nhằm trải nghiệm cuộc sống nông thôn, trở về với thiên nhiên và khám phá các nét đẹp văn hóa truyền thống tại các làng quê là rất lớn. Những điểm đến của các du khách này có xu hướng mở rộng, dịch chuyển từ các điểm du lịch nổi tiếng sang các vùng nông thôn, vùng núi, và các loại hình du lịch trải nghiệm cuộc sống nông thôn hay du lịch làng quê, du lịch làng nghề cuối tuần rất thu hút du khách đặc biệt là các bạn trẻ đi du lịch tự túc, đi theo nhóm hoặc gia đình.

Thực tế phát triển du lịch nông thôn tại 4 làng quê trong 7 điển hình phát triển du lịch nông thôn mà Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch nông thôn Việt Nam đưa ra cũng đã chứng tỏ rằng du lịch nông thôn có thể tạo ra nguồn thu nhập kinh tế mới cho khu vực nông thôn từ đó mang lại các lợi ích cho cộng đồng bằng việc cải thiện cơ sở hạ tầng, dịch vụ y tế, giáo dục nhờ nguồn thu từ du lịch đóng góp vào quỹ cộng đồng hay tăng cường giao lưu trao đổi văn hóa giữa cộng đồng và du khách cũng như nâng cao ý thức bảo tồn môi trường tự nhiên và văn hóa của cộng đồng.

Tên làng

Trước khi phát triển du lịch nông thôn

Kết quả sau phát triển du lịch nông thôn

Lợi ích

cho cộng đồng dân cư

Đường Lâm, Hà Nội

- Hoạt động du lịch tự phát của một vài hộ dân, không có ban quản lý du lịch (BQL DL), không thống kê được số lượng du khách.

- Du khách thiếu thông tin du lịch đầy đủ của cả làng.

- Lượng du khách ít, lẻ tẻ.

- Thu nhập từ du lịch không đáng kể. Vệ sinh môi trường không được chú ý.

 

- Không thu phí tham quan.

 - Nguy cơ không thể bảo tồn lối sống và các công trình kiến trúc cổ do người dân tự ý cải tạo.

 

 

- Các sản phẩm đặc sản (chè Kho, chè Lam, kẹo Lạc, kẹo Dồi,…) không nhãn mác, không chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP), sản xuất cầm chừng.

- Thành lập BQL DL Đường Lâm, kiểm soát và thống kê đầy đủ lượng khách.

- Lập bản đồ du lịch, tuyến du lịch trong tờ rơi phát cho du khách.

- Lượng du khách tăng dần hàng năm, 2012: trên 70.000 lượt đến 2013: trên 100.000 lượt.

- Thu nhập từ du lịch của các hộ dân làm du lịch tăng lên: có hộ tăng gấp đôi, có hộ tăng 10 lần. Vệ sinh môi trường được cải thiện.

- Thu phí tham quan.

 

- Công tác trùng tu di sản thành công với sự hỗ trợ của các chuyên gia, 5 công trình trùng tu đạt giải bảo tồn Di sản Văn hóa châu Á - Thái Bình Dương 2013.

- Các sản phẩm hiện có nhãn mác, có bao bì sản phẩm đẹp, chứng nhận VSATTP, được in trên bản đồ du lịch, lượng sản phẩm tiêu thụ tăng mạnh.

- Phí tham quan được tái đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng công cộng.

- Thu nhập từ du lịch của các hộ dân làm du lịch tăng lên: có hộ tăng gấp đôi, có hộ tăng 10 lần. Vệ sinh môi trường được cải thiện.

- Người dân có nhà cổ được hỗ trợ cả kinh phí và kĩ thuật để trùng tu nhà cổ.

- Hộ làm dịch vụ ăn uống được tập huấn về ẩm thực, vệ sinh, xếp hạng nhà hàng nông gia.

- Qua cuộc thi Sản vật Đường Lâm, nâng cao ý thức người dân về thiết kế đóng gói và chất lượng sản phẩm. Thu nhập từ việc bán các đặc sản tăng, mở rộng thị trường tiêu thụ, dần xây dựng được thương hiệu trên thị trường.

- Có bãi đỗ xe, hạn chế phương tiện lưu thông trong làng, cải thiện môi trường làng.

Phước Tích, Thừa Thiên Huế

- Nguy cơ mất nghề gốm truyền thống

- Suy thoái cộng đồng nông thôn, lớp trẻ ly hương.

- Người dân ly hương bỏ nhà trống.

 

- Các công trình kiến trúc bị xuống cấp.

 

- Nghề gốm đang trên đà khôi phục.

- Lớp trẻ tham gia dịch vụ du lịch tăng lên, sinh khí trở lại với làng.

- Nhà cổ bỏ trống được đầu tư thành Trung tâm thông tin du lịch

- Các công trình kiến  trúc cổ được nâng cấp, trở thành điểm tham quan cho du khách.

- Bắt đầu đón khách du lịch, có doanh thu từ du lịch (năm 2012 đón 540 khách, tổng lợi nhuận sau thuế thu được hơn 100 triệu đồng).

- Cơ sở vật chất phục vụ du lịch được đầu tư: bãi đỗ xe, nhà vệ sinh công cộng, đường đi lại giữa các điểm cung cấp dịch vụ du lịch.

- Các hộ nông dân tham gia du lịch có thêm thu nhập, lợi nhuận từ du lịch được phân chia theo quy chế từ BQL DL Phước Tích.

Thanh Toàn, Thừa Thiên Huế

- Đã có khách tham quan, chủ yếu là khách theo tour của các Responsible Travel Group (RTG), số lượng hạn chế

- Chỉ một số hộ dân được chọn cung cấp dịch vụ ăn uống và homestay có lợi ích.

- Tài nguyên du lịch chưa được khai thác hết

- Hạn chế thông tin dịch vụ du lịch cho khách du lịch đi lẻ.

- Các công ty du lịch đã xây dựng nhiều tour du lịch và bắt đầu gửi khách về.

- Thành lập BQL DL, các nhóm dịch vụ du lịch.

- Chính quyền và người dân địa phương chủ động phối hợp trong các hoạt động và dịch vụ du lịch

- Bản đồ Du lịch Thanh Toàn do BQL DL sử dụng quảng bá với các công ty du lịch và phát cho khách tham quan

- Du lịch mang lại lợi nhuận cho nhiều người hơn, cụ thể là các hộ dân tham gia cung cấp dịch vụ du lịch.

- Người dân tham gia phát triển sản phẩm du lịch, cung cấp dịch vụ du lịch một cách chủ động.

Đông Hòa Hiệp, Tiền Giang

- Đã có khách đến tham quan nhà cổ.

- Chỉ một vài hộ dân trong làng tham gia cung cấp dịch vụ du lịch.

- Điểm tham quan giới hạn: nhà ông Kiệt, ông Ba Đức.

- Chỉ một bộ phận người dân có lợi ích từ du lịch.

- Hỗ trợ người dân khởi nghiệp dịch vụ du lịch: Đưa thêm nhiều nhà cổ vào khai thác, phục vụ du khách.

- Xây dựng thành bản đồ du lịch, catalogue giới thiệu về làng cổ.

- Tổ chức FAM tour dành cho các công ty du lịch Việt Nam và Nhật Bản.

- Tổ chức lễ hội du lịch Cái Bè - Đông Hòa Hiệp góp phần quảng bá du lịch cho làng.

- Cơ sở hạ tầng được nâng cấp giúp khách dễ dàng tiếp cận điểm đến: cầu du lịch, đường, bến thuyền, cầu tàu vào các nhà cổ.

- Môi trường thiên nhiên được cải thiện.

- Ý thức bảo vệ, xây dựng cảnh quan của người dân được nâng cao.

- Lợi ích từ du lịch, lợi nhuận về kinh tế  phân chia cho nhiều người hơn.

 

Bảng 1: Một số điển hình phát triển du lịch nông thôn tại Việt Nam

      (Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch nông thôn Việt Nam)

Mặc dù, vẫn còn nhiều thách thức đặt ra cho loại hình du lịch này, nhưng qua các phân tích trên cho thấy, chúng ta hoàn toàn có khả năng phát triển du lịch nông thôn và loại hình du lịch này hứa hẹn sẽ đưa lại những tác động tích cực về cả kinh tế và xã hội cho nông thôn Việt Nam, góp phần thu hẹp khoảng cách nông thôn - thành thị và các mâu thuẫn xã hội khác nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

[1]. QĐ 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt "Chiến lược phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn 2030".

[2]. Tổng cục Thống kê (2010), Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.

 [3]. Tổng cục Thống kê (2014), Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình năm 2012, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.

[4]. Viện nghiên cứu phát triển Du lịch (2013), Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch nông thôn ở Việt Nam.

 

 

 

 

 

 

 

 



* Ths - Khoa Lịch sử, trường Đại học Vinh

Hà Thị Vinh Tâm

 

Trong kho tàng văn học dân gian của các dân tộc hẳn không thể thiếu đồng dao - "nét bút đầu tiên của các dân tộc viết lên trên những tâm hồn trắng tinh của trẻ thơ"(1). Đó là những bài hát có nội dung và hình thức phù hợp với trẻ em, dành riêng cho trẻ em và thường do chúng hát. Bởi vậy, đặc trưng chủ yếu của đồng dao là tính chất hồn nhiên, vô tư, mộc mạc. Chúng ta có thể thấy điều đó trong cách dùng số từ.

Số từ xuất hiện trong đồng dao với tần số khá cao. Khảo sát cuốn Kho tàng đồng dao Việt Nam do Trần Gia Linh tuyển chọn và giới thiệu, NXB Giáo dục, 2007 thấy trong 279 bài có 91 bài dùng số từ (xấp xỉ 33%). Ngữ cảnh sử dụng số từ, vị trí xuất hiện của từ loại này trong mỗi bài đồng dao rất đa dạng. Bài viết này nhằm làm rõ cách dùng số từ trong đồng dao, ý nghĩa và vai trò của nó trong việc biểu đạt nội dung tư tưởng cũng như góp phần tạo nên đặc trưng của thể loại này.

1. Ý nghĩa của số từ

1.1. Dùng số từ để gọi tên sự vật

Trẻ con thường ham hiểu biết về tự nhiên, xã hội. Các em khám phá thế giới rộng lớn xung quanh bằng cặp mắt ngạc nhiên, ngây thơ, ngộ nghĩnh với những câu hỏi: Vì sao? Thế nào? Ở đâu? Là gì? Hơn nữa, tâm hồn trẻ thơ có sự giao cảm đặc biệt với thiên nhiên. Bởi vậy trong đồng dao các em nhìn sự vật xung quanh trong quan hệ gần gũi, thân mật. Trong đầu óc non nớt của trẻ thơ bắt đầu hình thành khái niệm về sự vật. Có những số từ kết hợp với một danh từ tạo thành một tên gọi sự vật cụ thể. Ví dụ gọi tên các thứ lúa:

- Thừa chân đủ tay

   Là anh ba túc

- Biết rõ dài vắn

Là lúa ba sào.

1.2. Dùng số từ với ý nghĩa chỉ số lượng, trọng lượng, kích thước của sự vật

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Khánh nhận xét: "Đồng dao có tác dụng là thỏa mãn nhu cầu vui chơi và tập cho trẻ có một số tri thức để bước vào đời"(2). Một trong những tri thức quan trọng cần giáo dục các em đó là cách tính, đếm, đong, đo các sự vật.

1.2.1. Số từ chính xác: chiếm số lượng lớn. Tuy nhiên những số lớn hơn mười không nhiều, chủ yếu là các số từ: một, hai (đôi), ba xuất hiện với tần số cao. Điều này đã thể hiện phần nào cách tư duy đơn giản, rõ ràng của trẻ thơ:

Số một:

- Một bông lúa chăm

- Một con trâu nằm

- Một nhành củ tỏi

- Tôi đối một câu

- Ăn một quả na

- Một bầy se sẻ bịt mắt đưa cò

- Ngồi buồn đốt một đống rơm

- Không ngờ lại phải một đàn ri ri.

Số hai:

- Long hổ hai bên

- Hai tay ôm cột

- Ve trầy hai cánh

- Ô kìa con cua

  Có hai cái càng

- Hai cây đinh sắt

Thấy đôi chim sẻ đậu rồi lại bay.

    Số ba:

- Được ba bát đầy

- Ba đồng một cặp

- Bằng ba quả quýt

- Có hai hạt gạo với ba đồng tiền

- Mua về cho tao ba quả hồng.

1.2.2. Số từ mang tính chất ước lượng: Dường như những sự vật có số lượng, trọng lượng, kích thước lớn thì trong đồng dao đều sử dụng những số từ ước lượng. Bởi vì các em tiếp thu ngoại vật chủ yếu trực tiếp bằng ấn tượng, chứ không phải bằng tư duy lôgic:

- Bới năm ba lỗ

- Gạo năm ba thúng

- Nghé ăn bát ba

Nghé ăn bát bảy

- Nó cao bằng bốn bằng năm đầu người

- Một trăm hạt thóc

- Cây cao ngàn trượng

- Ba nghìn cái vẩy không mê vẩy nào.

1.3. Dùng số từ với ý nghĩa chỉ thời gian

Để nhận biết về thời gian phù hợp với nhận thức của trẻ thơ thì đồng dao sử dụng số từ kết hợp với đơn vị đo lường chỉ thời gian ngắn:

Canh:

- Về nằm lúc tối

Đến đầu năm canh

- Tánh hay chịu cực

Thức cả năm canh

Buổi:

- Một chiều tôi lại gốc chơi

Ngày (mồng):

- Hai mươi nó gặt

 Hai bốn nó cày

 Cày qua một ngày

- Mồng mười nước chảy

Ba mốt sáng trăng

    Tháng:

- Tháng năm đi cưới, tháng mười đi cheo

- Bước sang tháng sáu giá chân

Tháng bảy nằm trần bức đổ mồ hôi.

1.4. Dùng số từ với ý nghĩa chỉ không gian

Số từ kết hợp với những từ chỉ không gian gần gũi, thân thuộc:

- Nước chảy một chiều

- Bốn bề thành lũy thấp cao

- Súng bắn tứ phương

- Mẹ đi một quãng đường xa

- Thân thì mạnh mẽ một nơi vững vàng.

1.5. Dùng số từ đi kèm với từ chỉ trạng thái, tính chất, hành động

Từ chỉ tính chất, trạng thái là những động từ, tính từ. Sự kết hợp của số từ với những từ loại này trong đồng dao rất tự nhiên, linh hoạt: Số từ đứng trước hoặc đứng sau động từ, tính từ. Đó lại là những từ chỉ tính chất, trạng thái, hành động quen thuộc trong đời sống hằng ngày:

- Đánh một roi

  Đánh hai roi

- Ba thằng ba đấm

- Con ăn một, mẹ ăn hai

- Ăn mặc một màu.

1.6. Dùng số từ với ý nghĩa chỉ người

Trong đồng dao có cả một xã hội người đa dạng với nhiều kiểu người, loại người. Sự khác nhau của các kiểu người, loại người này chỉ thể hiện ở những đặc điểm bên ngoài đơn giản chứ không phải thể hiện ở những tính cách phức tạp, nhiều mâu thuẫn. Đây chính là những bài đồng dao dẫn dắt các em bước đầu tiếp xúc với xã hội. Khi chỉ người trong đồng dao sử dụng cả số từ chính xác và số từ ước lượng.

1.6.1. Số từ chính xác:

- Có một thợ cấy với hai thợ cày

- Một đứa cầm giùm

- Có một ông lão sống dai.

1.6.2. Số từ ước lượng

- Mấy đứa khôn đứa đợi đứa chờ

 Mấy đứa dại ăn rồi lại vất

- Mấy tay phong tình huê nguyệt

- Mấy tay hàng thịt

- Quảng Đông mấy gã

- Ruộng đồng mấy chú

- Đồng cốt mấy thầy.

1.7. Dùng số từ với ý chỉ thứ tự

Cách sắp xếp theo thứ tự thể hiện cách đánh giá một cách ngẫu nhiên, cảm tính của trẻ thơ đối với một sự việc cụ thể:

- Thìa la thìa lẩy

Con gái bảy nghề

Ngồi lê là một

Dựa cột là hai

Đánh bài là ba

Ăn quà là bốn

Trốn việc là năm

Hay nằm là sáu

Láu táu là bảy.

2. Vai trò của số từ

Sử dụng số từ để biểu đạt nội dung tư tưởng là hiện tượng phổ biến trong văn học dân gian. Tuy vậy, việc sử dụng số từ trong đồng dao lại có nhiều điểm đặc biệt. Cách sử dụng số từ trong đồng dao gắn liền với các trò chơi, với cách cảm nghĩ, cách nhìn đơn giản, hồn nhiên của trẻ thơ chứ không phải là sự biểu hiện tâm tư tình cảm thầm kín, phức tạp của người lớn như trong ca dao hay là sự đúc rút những kinh nghiệm lâu đời như trong tục ngữ.

2.1. Dùng số từ để nhấn mạnh

Dùng số từ trùng điệp:

- Thấy đôi rồng ấp

Thấy đôi rồng chầu.

- Hai tay cầm bốn tua nôi (…)

Hai tay kim chỉ thêu thùa.

Dùng số từ tăng tiến:

- Nói một, nói hai

- Đánh một roi

Đánh hai roi.

- Ông thầy ăn một

Bà cốt ăn hai.

- Một bàn tay đẹp

Hai bàn tay đẹp

Ba bàn tay đẹp.

2.2. Dùng số từ để làm các phép toán đơn giản: phép đếm, phép trừ, phép cộng,…

- Một ông sao sáng

Hai ông sáng sao

(…)

Mười ông sáng sao.

- Rồng rắn (con lên một, con lên hai, con lên ba,…, con lên mười).

- Cái cò chết tối hôm qua

Có hai hạt gạo với ba đồng tiền

Một đồng mua trống mua kèn

Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong

Một đồng mua mớ rau rong

Đem về thái nhỏ thờ vong con cò.

- Chuyền thẻ (đôi tôi, ba, bốn năm lên sáu, sáu củ ấu,…).

2.3. Dùng số từ để nhận biết thế giới tự nhiên xung quanh

Bằng trí tưởng tượng hồn nhiên, bất ngờ và sự quan sát cuộc sống một cách ngây thơ, chân thực các em đã tạo ra một thế giới hết sức sinh động, phong phú với nhiều âm thanh, hình dáng và sắc màu:

- Trăng mọc

Mồng một lưỡi trai

Mồng hai lá lúa

Mồng ba câu liêm

Mồng bốn lưỡi liềm…

- Mưa xuân, mưa bụi

Tháng giêng là tháng mưa xuân

Tháng hai mưa bụi dần dần mưa ra…

- Mười hai tháng gió

- Nắng

Tháng giêng là nắng hơi hơi

Tháng hai là nắng giữa trời nắng ra…

2.4. Dùng số từ để kể chuyện

Việc dùng số từ để kể tạo cho câu chuyện trở nên rành mạch, rõ ràng, cụ thể:

- Chín ông vua

Ông Nhất cầm cờ (…)

Ông Hai cầm liễn (…)

Ông Ba cầm cày (…)

Ông Tư cầm cọc (…)

Ông Năm cầm cân (…)

Ông Sáu lúc lắc

Ông Bảy lặc lè

Ông Tám bét nhè

Chạy sang ông Chín

Ông Chín trụn trịn

Trọc lóc bình vôi…

Tóm lại, việc sử dụng số từ trong đồng dao không chỉ đáp ứng nhu cầu của trẻ thơ trong việc bước đầu nhận thức thế giới xung quanh, có tác dụng rèn luyện tư duy cho các em mà còn có chức năng thẩm mỹ. Khảo sát hệ thống số từ trong đồng dao phần nào giúp chúng ta hiểu thêm về một thế giới tâm hồn tuổi thơ khác với thế giới tâm hồn của người lớn. Đúng như Viện sĩ Vavilốp từng nói: "có nhiều điểm giống nhau giữa cảm nghĩ của trẻ em, của người nguyên thủy và của thi sĩ"(3).

 

    Chú thích

(1). Tô Ngọc Thanh, Đồng dao với cuộc sống dân tộc Thái ở Tây Bắc, Tạp chí Văn học, Hà Nội, số 4/ 1974, tr. 11.

(2). Vũ Ngọc Khánh, Mấy điều ghi nhận về đồng dao Việt Nam, Tạp chí Văn học, Hà Nội, số 4/ 1974, tr. 3.

(3). Dẫn theo Trần Hòa Bình, Từ những bài đồng dao đến thơ cho các em hôm nay, Tạp chí Văn hóa dân gian, Hà Nội, số 1/1989.

 1. Dẫn nhập

1.1. Ngôn ngữ trên báo phát thanh và truyền hình là ngôn ngữ nói, bởi thông tin trên các báo này do giọng đọc, âm thanh và hình ảnh đưa lại, trong đó, giọng đọc (hay cách thể hiện) của xướng ngôn viên là chủ yếu. Do đó, xem xét tính hiệu quả trong truyền đạt thông tin của báo phát thanh - truyền hình không thể không chú ý vấn đề phát âm tiếng Việt. Phải quan tâm phát âm trong hoạt động nói, thêm nữa, cần phải đặt vấn đề phát âm tiếng Việt vì cũng như các ngôn ngữ khác, tiếng Việt gồm nhiều phương ngữ khác nhau.

1.2. Nhiều nhà Việt ngữ học đã khẳng định, tiếng Việt là một ngôn ngữ vừa thống nhất vừa đa dạng, thống nhất trong sự đa dạng. Tính đa dạng của tiếng Việt được thể hiện ở nhiều mặt biểu hiện, trong đó, biểu hiện trên các khu vực địa lý - dân cư là nổi bật nhất. Sự biểu hiện của tiếng Việt xét từ phương diện này gọi là phương ngữ. Sự khác nhau giữa các phương ngữ Việt về ngữ pháp là không đáng kể. Những kết quả nghiên cứu về từ vựng cũng cho thấy vốn từ và ngữ nghĩa của từ vựng các phương ngữ là có thể liệt kê được và không đủ làm nên sự khác biệt cho các phương ngữ. Làm nên cái riêng cho từng phương ngữ là mặt ngữ âm; cho nên, phương ngữ còn được gọi là giọng địa phương. Để khắc họa giọng nói của một vùng nào đó, người ta chủ yếu dựa vào đặc điểm ngữ âm chứ không phải đặc điểm từ vựng và/hoặc ngữ pháp.

1.3. Theo trực cảm bản ngữ của người Việt, tiếng Việt gồm có giọng Bắc, giọng Trung, giọng Nam, và còn có giọng Hà Nội, giọng Sài Gòn, giọng Huế, giọng Quảng, giọng Nghệ, v.v.. Bởi vì, ở mỗi vùng miền, đâu đâu người Việt cũng phát âm tiếng Việt theo giọng địa phương. Đối với tiếng Việt, yêu cầu thống nhất phát âm đã được đặt ra nhưng tiếng Việt là ngôn ngữ có nhiều phương ngữ với các giọng địa phương luôn có vai trò xã hội quan trọng. Do đó, giải quyết vấn đề phát âm tiếng Việt nói chung, phát âm tiếng Việt trên báo phát thanh - truyền hình nói riêng thực chất là xem xét các giọng địa phương.

2. Giọng địa phương và phát âm tiếng Việt trên báo phát thanh - truyền hình

2.1. Giọng địa phương và vấn đề phát âm tiếng Việt

Giọng địa phương hay giọng (nói) là cái riêng trong ngữ âm phương ngữ, là chủ yếu nói về mặt phát âm. Theo đó, giọng là sự tổng hoà của tất cả các đặc điểm ngữ âm làm nên tiếng nói của một vùng bên cạnh các đặc điểm về từ vựng và ngữ pháp. Theo tác giả Hoàng Tuệ: Giọng là tập hợp các yếu tố ngữ âm khác nhau đồng thời xuất hiện và đồng thời được tiếp nhận khi nghe [6, 313].

Qua giao tiếp, mọi người dễ dàng nhận ra các giọng địa phương. Nhưng người có kinh nghiệm giao tiếp và có hiểu biết ngữ âm học thì mới nghe được rành rẽ các yếu tố trong giọng địa phương, phân biệt giọng địa phương này với giọng địa phương khác qua so sánh và so sánh giọng địa phương với ngữ âm chung tiếng Việt. Trong cùng một giọng địa phương, không phải mọi người đều phát âm như nhau nên có những giọng cá nhân. Giọng cá nhân được hình thành từ các yếu tố sinh lý, vật lý của bộ máy cấu âm người nói. Giọng cá nhân còn được hình thành từ những trạng thái tâm lý nhất thời bên trong người nói.

Về phát âm tiếng Việt, dĩ nhiên liên quan đến việc xác định hệ thống âm tiêu chuẩn của tiếng Việt. Chúng tôi theo quan niệm, hệ thống âm tiêu chuẩn tiếng Việt phải là siêu địa phương, bao hàm một sự phân biệt tối đa như đã được phản ánh trong chính tả tiếng Việt; nghĩa là, gồm 6 thanh điệu, 21 âm đầu (phụ âm), 1 âm đệm (bán âm), 14 âm chính (nguyên âm), 10 âm cuối (phụ âm và bán âm). Các đơn vị âm đệm, âm chính, âm cuối thuộc phần vần - một bộ phận, cùng với âm đầu và thanh điệu trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt. Theo đó, vấn đề phát âm tiếng Việt cũng phải là siêu địa phương, bao hàm một sự phân biệt tối đa như được phản ánh trong chính tả tiếng Việt.

Xuống dưới, khi bàn về phát âm tiếng Việt qua các giọng địa phương trên báo phát thanh - truyền hình, chúng tôi sẽ xem xét từ ba bộ phận của âm tiết là âm đầu, phần vần (đoạn tính) và thanh điệu (siêu đoạn tính).

2.2. Vấn đề phát âm tiếng Việt trên báo phát thanh - truyền hình

Báo phát thanh (báo nói) và báo truyền hình (báo hình) là hai loại hình báo chí khác nhau, bởi người ta thường nói nghe đài, xem truyền hình. Tuy kênh giao tiếp là khác nhau nhưng hai loại hình báo chí này lại có điểm giống nhau cốt lõi đó là giọng đọc của xướng ngôn viên. Chúng tôi cho rằng việc xử lý giọng đọc của xướng ngôn viên trên báo phát thanh - truyền hình là vô cùng tinh tế, bởi đọc ở đây, nhìn chung, không hẳn là xướng đọc văn bản, nhưng cũng không phải là nói mà ở cái ranh giới giữa đọc và nói. Nghĩa là, giọng đọc của xướng ngôn viên không được đứt mạch, không có độ dư, không được sử dụng kết hợp các yếu tố phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ,… mà phải xử lý giọng đọc làm sao mỗi người trong hàng triệu khán, thính giả đều cảm thấy xướng ngôn viên đang nói cho riêng mình, như đang tâm sự với riêng mình.

Trở lại vấn đề phát âm tiếng Việt trên báo phát thanh - truyền hình, dĩ nhiên, các xướng ngôn viên phải phát âm theo hệ thống âm tiêu chuẩn của tiếng Việt như đã xác định ở trên. Nhưng do sự đa dạng của ngôn ngữ là một tất yếu, cho nên, công cụ giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt phải được xem xét, đó là vấn đề chuẩn mực hoá; trong đó, có chuẩn mực cách viết và chuẩn mực trong cách nói. Trong chuẩn mực hoá ngôn ngữ, chữ viết chuẩn hoá là chính tả, còn ngữ âm chuẩn hoá là chính âm. Tuy nhiên, chính tả có thể dễ dàng thống nhất trong toàn quốc, còn chính âm thường được xác định trong quan hệ được tính đến giữa nó với các biến thể có tính chất địa phương và tính chất cá nhân được chấp nhận. Nghĩa là, chuẩn hoá phát âm không có nghĩa là mọi người, mọi vùng miền đều phát âm như nhau, đều thống nhất phát âm chính âm tiếng Việt triệt để như chính tả mà là phát âm chính âm tiếng Việt theo các giọng địa phương và giọng cá nhân với những khác biệt được chấp nhận. Vậy là, cũng như các giáo viên dạy học ở nhà trường phổ thông và đại học, các xướng ngôn viên đài phát thanh và truyền hình thể hiện các nội dung thông tin báo chí bằng ngôn ngữ nói phải nói bằng ngôn ngữ toàn dân nhưng theo cách phát âm địa phương, giọng địa phương. Bởi vì, trên các phương tiện truyền thông nói riêng, trong giao tiếp nói chung không có việc loại trừ phương ngữ, không coi phương ngữ như là trạng thái hư hỏng, kém cỏi, cần phải loại bỏ như một thói quen có hại tới sự trong sáng của tiếng Việt. Mọi vấn đề, trong đó có vấn đề ngôn ngữ học đều phải xem xét trong từng hoàn cảnh cụ thể. Chẳng hạn, đối với Đài phát thanh và truyền hình Trung ương, xướng ngôn viên phát âm bằng giọng Hà Nội. Tiếng Hà Nội tuy được coi là có vị thế riêng nhưng dù sao cũng là một phương ngữ. Bởi vậy, các xướng ngôn viên có thể phát âm không phân biệt các âm đầu quặt lưỡi, tức là, không phân biệt tr/ch, s/x, r/d, gi; phát âm không phân biệt các cặp vần ươu/iêu, ưu/iu,... nhưng mọi người ở các địa phương khác đều nghe và hiểu được. Đối với các đài phát thanh - truyền hình các tỉnh, thành phố miền Nam, ở một mức độ nhất định vẫn chấp nhận cách phát âm địa phương những từ toàn dân như chánh trị (chính trị), chánh phủ (chính phủ), thống nhứt (thống nhất), cách mệnh (cách mạng),… hoặc phát âm những từ không tương ứng ngữ âm với từ toàn dân như heo (lợn), bắp (ngô), (vừng), trái cây (hoa quả),…; những cách phát âm địa phương này không chỉ trong vùng địa phương miền Nam mà mọi người ở các địa phương khác cũng đều nghe và hiểu như nhau. Đối với Đài phát thanh - truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, các xướng ngôn viên phát âm tiếng Việt bằng giọng Sài Gòn, với những khác biệt như không phân biệt các âm đầu v/d, gi, không có âm quặt lưỡi s (vì s/x phát âm như nhau, như giọng Hà Nội), thậm chí, không phân biệt các âm đầu h/c, k, q/g, gh, và cả không phân biệt thanh ngã và thanh hỏi thì người các địa phương khác cũng đều nghe và hiểu được. Mấy năm gần đây, Đài phát thanh - truyền hình Trung ương, bên cạnh các xướng ngôn viên phát âm giọng Hà Nội còn có các xướng ngôn viên phát âm giọng Sài Gòn và một vài giọng địa phương khác. Cách phát âm tiếng Việt kết hợp nhiều giọng địa phương của Đài Trung ương không hề cản trở sự giao tiếp, không gây khó hiểu đối với người nghe mà còn tạo nên sự đa dạng, sinh động và tươi mát trong các chương trình phát thanh và truyền hình. Còn nữa, không chỉ các đài phát thanh - truyền hình, các nhà lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương cũng đều phát âm theo giọng địa phương. Có thể lý giải thực tế này, nếu gọi hệ thống ngữ âm tiếng Việt là cái mã cố định làm cho các thành viên trong cộng đồng có thể sử dụng và dễ dàng giao tiếp với nhau thì những khác biệt ngữ âm quen dùng ở các giọng địa phương nhiều lắm chỉ là sự xê dịch trong một phạm vi nào đó những phẩm chất ngữ âm cấu thành một âm vị trong cái gọi là tiếng Việt toàn dân. Trong giao tiếp, với sự tự nhận thức của mình, người các địa phương nhận biết rất rõ sự khác biệt của giọng nói địa phương mình so với những địa phương khác. Điều đó nói lên rằng những sự khác biệt về ngữ âm là một thực tế nhưng đó là sự khác nhau nằm trong một mã cấu trúc của tiếng Việt. Do đó, các đài phát thanh - truyền hình địa phương phát âm tiếng Việt bằng giọng địa phương nhưng không được dùng thổ âm, nghĩa là những biến thái ngữ âm có tính đặc hữu địa phương mà lựa chọn cách phát âm trung gian giữa tiếng Việt toàn dân và phương ngữ, còn gọi là bán phương ngữ. Chẳng hạn, Đài Phát thanh - Truyền hình Nghệ An không thể phát âm tiếng Việt bằng giọng Nghi Lộc mà phải chọn giọng Vinh, còn Đài Phát thanh - Truyền hình Thừa Thiên - Huế phải chọn giọng Huế để thể hiện, v.v.. Bởi vì, giọng Vinh, giọng Huế,… là những bán phương ngữ; tuy là giọng địa phương nhưng có xu hướng nghiêng sang tiếng Việt toàn dân. Chọn phát âm tiếng Việt bằng giọng địa phương điển hình nhưng các xướng ngôn viên còn phải có sự tự điều chỉnh trong cách phát âm, trong giới hạn cho phép, vừa theo ngữ âm chuẩn mực của tiếng Việt (qua chuẩn chính tả), vừa kết hợp phát huy thế mạnh của giọng cá nhân để cho tiếng nói của mình hấp dẫn và có tính khu biệt cao nhất, làm cho thông tin báo chí dễ tiếp nhận nhất không chỉ cho khán, thính giả địa phương mà còn hướng tới cả trong và ngoài lãnh thổ.

2.3. Về một trường hợp cụ thể: giọng Nghệ trên Đài Phát thanh - Truyền hình Nghệ An

Mới đây, Đài Phát thanh - Truyền hình Nghệ An tổ chức kỷ niệm 60 năm phát thanh và 40 năm truyền hình. Là đài địa phương nhưng Đài Phát thanh - Truyền hình Nghệ An được đánh giá ngang tầm với đài khu vực; là đài địa phương đầu tiên phát sóng trên Vinasat nên diện phủ sóng rất rộng, được khán thính giả trong cả nước và một số nước ở châu Á thường xuyên theo dõi. Cũng như nhiều đài địa phương khác, Đài Phát thanh - Truyền hình Nghệ An phát âm tiếng Việt bằng giọng địa phương - giọng Nghệ. Trước khi bàn luận về vấn đề này, chúng tôi xác định vị trí của giọng Nghệ trong các vùng phương ngữ Việt.

Giọng Nghệ thuộc giọng miền Trung, thuộc vùng phương ngữ Bắc Trung bộ. Xét về ngữ âm, giọng miền Trung có các đặc điểm làm nên sự khác biệt so với các vùng phương ngữ khác. Theo Hoàng Thị Châu: Phương ngữ Trung có các đặc điểm ngữ âm: hệ thống thanh điệu có 5 thanh, khác hệ thống thanh điệu phương ngữ Bắc cả về số lượng lẫn chất lượng; có 23 phụ âm đầu, hơn phương ngữ Bắc ba phụ âm uốn lưỡi /T, S, Z/; trong hệ thống chung âm, đôi phụ âm /-ŋ, -k/ có thể kết hợp với các nguyên âm trước, giữa và sau [2, 93]. Như vậy, xét về danh sách âm vị, giọng Nghệ phản ánh một cách khá trọn vẹn các đặc điểm có ở phần đầu của âm tiết của phương ngữ miền Trung hơn hai vùng phương ngữ còn lại. Phần vần của giọng Nghệ cũng mang đặc điểm của giọng miền Trung. Không giống với giọng Bắc, giọng Nghệ phân biệt các vần ươu/iêu, ưu/iu, tận dụng các vần ưn - ưt, ưng - ưc và bảo lưu gần như trọn vẹn dạng tiếp hợp lỏng trong các vần uung - uuc, ôông - ôôc, oong - ooc, êêng - êêc, eeng - eec. Khác với giọng Nam, giọng Nghệ có số lượng vần phong phú và giữ lại trọn vẹn yếu tố phụ âm tính có ở kết vần; điều đó cho thấy giọng Nghệ thuộc giọng miền Trung, vùng phương ngữ Bắc Trung bộ. Hệ thống thanh điệu Nghệ mang màu sắc giọng miền Trung rõ nhất; đó là sự thể hiện các yếu tố siêu đoạn trong vùng âm vực hẹp [3]. Tính khu biệt của các thanh điệu giọng Nghệ không cao do sự nghèo nàn về đường nét và xu hướng hỗn nhập giữa các thanh như thanh nặng với thanh ngã, thanh nặng với thanh hỏi, thanh sắc với thanh hỏi,… Hầu như các thanh được thể hiện ở âm vực thấp, nghèo nàn về đường nét nên người các địa phương khác dễ dàng nhận ra tính chất trầm của hệ thống thanh điệu giọng Nghệ.

Tuy có sự phân biệt tối đa hệ thống âm đầu tiếng Việt nhưng xu hướng cấu âm của giọng Nghệ là tiêu biểu cho lối cấu âm miền Trung, nghĩa là, trong phát âm dường như nghiêng về chọn bộ vị cấu âm thích hợp cho phát âm các chiết đoạn nằm ở phần đầu âm tiết, tức âm đầu. Dường như, từ các âm (đầu) có chỗ cản tính từ răng đến gốc lưỡi bị gồ lên và nhích hẳn về phía sau làm cho phần cuối của khoang hầu, kèm theo đó là phần cuối của khoang miệng bị thu hẹp lại một cách đáng kể. Lối phát âm âm đầu như thế tức là thiên về cấu âm sâu khác hẳn với lối cấu âm cạn của giọng Bắc; ở đó, gốc lưỡi gần như không hoạt động (cả thân lưỡi tính từ sau đầu lưỡi đến gốc lưỡi gần như bất động). Lối cấu âm sâu của giọng Nghệ làm cho phần lớn các âm tiết bị phủ một màu tối, trầm đục hơn so với việc tận dụng khoang trước của miệng nên âm tiết có màu sáng và nhẹ hơn rất nhiều ở giọng Bắc [4]. Tóm lại, các nét đặc hữu địa phương thể hiện ở thanh điệu, âm đầu, phần vần của giọng Nghệ như trình bày ở trên làm cho giọng Nghệ mang màu sắc trầm nặng, trọ trẹ, đến nỗi một nhà thơ người Nghệ phải thảng thốt trong câu thơ Chỉ nghe giọng nói đã nghe nhọc nhằn (Nguyễn Bùi Vợi - Tiếng Nghệ).

Từ bao đời nay, người Nghệ nói tiếng Nghệ, tức là sử dụng những biến thể và dạng tồn tại của tiếng Việt trên khu vực địa phương. Cái thứ tiếng trầm nặng, trọ trẹ nhọc nhằn ấy lại là chất liệu để người Nghệ làm nên một kho tàng thơ ca dân gian phong phú và đặc sắc. Tiếng Nghệ còn được xác nhận là tinh hoa văn hoá xứ Nghệ; hiện tại vẫn đảm nhận và phát huy vai trò văn hoá - xã hội trên khu vực địa phương mà việc sử dụng giọng Nghệ trên Đài Phát thanh - Truyền hình Nghệ An là một minh chứng cụ thể. Giọng Nghệ gồm các biến dạng trên các khu vực địa lý hẹp hơn (thổ âm) như giọng Nghi Lộc, giọng Nam Đàn, giọng Thanh Chương, giọng Nho Lâm (Diễn Châu), giọng Vinh,… trong đó, giọng Vinh là điển hình nhất. Giọng Vinh, mặc dù có những khác biệt so với các giọng địa phương khác trên địa bàn nhưng không hề khác lạ với mã của tiếng Việt trong sự phát triển lịch sử của nó. Chúng tôi cho rằng, Vinh vẫn là một thổ âm, một bán phương ngữ, vừa góp phần khẳng định tính thống nhất cao, vừa thể hiện sự đa dạng của tiếng Việt trên các vùng/miền đất nước. Vì thế, như ở trên, chúng tôi khẳng định Đài Phát - Thanh truyền hình Nghệ An phải lấy giọng Vinh để phát âm; bởi trong giọng Nghệ, giọng Vinh là giọng chuẩn. Qua theo dõi, chúng tôi nhận thấy phát thanh viên Thu Hà (phát thanh), các biên tập viên Kim Ngân, Thanh Nga (truyền hình) phát âm giọng Vinh khá chuẩn, dễ nghe.

Tuy nhiên, muốn gia tăng hiệu quả truyền thông, tiếp tục khẳng định vị thế của một đài khu vực, theo chúng tôi, các xướng ngôn viên dùng giọng Vinh phát âm trên Đài Phát thanh - Truyền hình Nghệ An cần chú ý tự điều chỉnh mấy nội dung sau đây.

Thứ nhất, và là cốt lõi là điều chỉnh lối cấu âm địa phương. Lối cấu âm địa phương là tổng hoà của các đặc điểm khu biệt của tiếng Việt toàn dân và các đặc điểm riêng của mỗi vùng địa phương. Như đã trình bày, lối cấu âm của giọng Nghệ nói chung, giọng Vinh nói riêng là điển hình của lối cấu âm miền Trung; đó là lối cấu âm sâu do có sự chuyển dịch bộ vị cấu âm vào bên trong khoang miệng, làm cho khoang miệng và khoang hầu bị thu hẹp lại. Mà hình dáng và thể tích của hộp cộng hưởng (các khoang) quy định âm sắc của các âm. Do đó, muốn khắc phục âm điệu trầm đục, trọ trẹ, làm cho âm tiết trong ngữ lưu có màu sáng, nhẹ và vang hơn thì các xướng ngôn viên phải tận dụng tối đa khoang trước của miệng như cách phát âm của giọng Hà Nội.

Thứ hai, các xướng ngôn viên phải xử lý phù hợp và tinh tế cách phát âm phần đầu âm tiết (âm đầu) và các nét siêu đoạn (thanh điệu). Cố nhiên, điều này liên quan trực tiếp việc khắc phục lối cấu âm địa phương như đã trình bày. Về phát âm các âm đầu, một mặt, vẫn phát huy ưu thế giọng Vinh có sự phân biệt đầy đủ 21 âm đầu tiếng Việt, trong đó, có ba âm quặt lưỡi không có trong giọng Hà Nội, còn giọng Sài Gòn không phân biệt đầy đủ; mặt khác, không nghiêng về lựa chọn bộ vị cấu âm thích hợp mà phải kết hợp bộ vị với phương thức cấu âm để đảm bảo màu sắc các âm đầu như nó vốn có trong tiếng Việt chuẩn. Về phát âm các thanh điệu, ngoài đặc điểm rung dây thanh, cần phải tận dụng tối đa khoang cộng hưởng miệng để duy trì sự phân biệt các thanh về âm vực (cao/thấp) và đường nét (bằng phẳng/không bằng phẳng); nghĩa là thể hiện các cung bậc khác nhau của các nét siêu đoạn: âm vực trầm (thanh huyền, thanh hỏi, thanh nặng), âm vực bổng (thanh ngang, thanh ngã, thanh sắc).

Thứ ba, phát huy ưu thế, giọng Vinh có sự phân biệt tối đa hệ thống vần tiếng Việt (159 vần), tiếp tục thể hiện trọn vẹn nét phụ âm tính ở kết vần nhưng phải chú ý xử lý chính xác các dạng tiếp hợp (chặt/lỏng) giữa đỉnh vần và kết vần như trong vần của tiếng Việt chuẩn.

Thứ tư, các xướng ngôn viên vừa phát âm giọng Vinh theo các yêu cầu trên, vừa sử dụng kết hợp giọng cá nhân phù hợp để tạo sự giao cảm, đồng cảm giữa các vai giao tiếp trong hoạt động truyền thông.

3. Kết luận

Giao tiếp trên các phương tiện truyền thông nói chung, trên báo phát thanh - truyền hình nói riêng là một biểu hiện của giao tiếp mang tính chính thức xã hội. Do đó, vấn đề phát âm của các xướng ngôn viên là phải theo chuẩn mực phát âm của tiếng Việt toàn dân. Đối với tiếng Việt, yêu cầu chuẩn hoá và thống nhất phát âm đã được đặt ra nhưng tiếng Việt là ngôn ngữ có không ít phương ngữ với các giọng địa phương luôn có vai trò xã hội quan trọng. Vậy nên, giải quyết vấn đề phát âm tiếng Việt trên báo phát thanh truyền hình thực chất là xử lý các giọng địa phương, bởi lẽ, các đài phát thanh - truyền hình chủ yếu phát âm theo giọng địa phương. Giọng địa phương sử dụng trên báo phát thanh - truyền hình không hề ảnh hưởng đến giao tiếp là do hai nguyên nhân:

1/ Mỗi người Việt đều gắn bó sâu sắc với giọng địa phương quê hương, một sự gắn bó có ý nghĩa sinh thái nhân văn hết sức quan trọng;

2/ Chữ viết ghi âm tiếng Việt (Quốc ngữ) cùng với chính tả là siêu phương ngữ, nghĩa là không phải biểu hiện một giọng địa phương nào mà nó phản ánh đầy đủ hệ thống ngữ âm (âm vị) tiếng Việt. Chính sự thống nhất chính tả góp phần đảm bảo và duy trì tính thống nhất về phát âm.

Cũng như đài phát thanh - truyền hình nhiều địa phương khác, Đài Phát thanh - Truyền hình Nghệ An phát âm tiếng Việt bằng giọng địa phương, cụ thể là giọng Vinh. Dĩ nhiên, các xướng ngôn viên phát âm giọng Vinh với tất cả những nét tiêu biểu của giọng miền Trung nhưng cũng có sự tự điều chỉnh theo hướng phát huy những ưu thế, khắc phục một số hạn chế của lối cấu âm địa phương và hướng tới những kiểu cấu âm hợp lý hơn. Cùng với phát âm giọng địa phương, các giọng cá nhân cũng được phối hợp sử dụng một cách phù hợp, đó là một trong những nguyên tắc giao tiếp truyền thông của Đài Phát thanh - Truyền hình Nghệ An.

Tài liệu tham khảo

1. Phạm Xuân Cần (2015), "Người Nghệ nói tiếng Nghệ", trong cuốn Thương hiệu Nghệ, Nxb. Hội Nhà văn, H.

2. Hoàng Thị Châu (1989), Tiếng Việt trên các miền đất nước, Nxb. Khoa học Xã hội, H.

3. Hoàng Cao Cương (1989), "Thanh điệu Việt qua giọng địa phương trên cứ liệu Fo", Ngôn ngữ, số 4, 1-17.

4. Nguyễn Hoài Nguyên (2002), Miêu tả đặc trưng ngữ âm trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, Luận án Tiến sỹ Ngữ văn, Trường Đại học Vinh.

5. Thái Hữu Thịnh (2010), "Người Nghệ phải nói tiếng Nghệ", Văn hoá Nghệ An, số 74.

6. Hoàng Tuệ (1999), "Những vấn đề về phát âm tiếng Việt", trong cuốn Tiếng Việt trong trường học, Nxb. Giáo dục, H. 310-314.

Vi Tân Hợi

 

Trong vốn di sản văn hóa của người Thái, chữ viết của người Thái đã có từ lâu đời và đóng vai trò rất quan trọng, không thể thiếu trong đời sống của dân tộc Thái. Chữ Thái Lai Pao là một trong 5 hệ chữ Thái ở Việt Nam là chữ viết riêng của đồng bào Thái nhóm Tay Mương (Hàng Tổng) sinh sống ở thượng nguồn sông Cả (Nặm Pao) thuộc  phủ Tương Dương (gồm các huyện Tương Dương, Con Cuông, Kỳ Sơn). Chữ này còn có tên khác là Liệp Nặm (xuôi theo dòng nước).

Từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay đã có một số nhà khoa học như Michel Ferlus (Trung tâm Nghiên cứu khoa học Quc gia Pháp - CNRS), Trần Trí Dõi (Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn), NNƯT. Sầm Văn Bình (Quỳ Hợp, Nghệ An) và nhóm nghiên cứu bảo tồn chữ Thái Lai Pao của huyện Tương Dương, quá trình tiếp cận chữ Thái Lai Pao đã gặp phải một số khó khăn:

- Dng thức vật cht của ngôn ngữ Thái nhóm Tay Mương ở huyện Tương Dương là nhng quyển sách viết bằng chThái Lai Pao một mặt giấy do đồng bào cư dân vùng này tự chế (giấy dó), sau đó cuộn tròn lại, bỏ trong ng tre, na có nắp đậy cn thận. Hiện nay các loại sách này hầu như không tìm thấy trên địa bàn.

- Số người biết đọc, biết viết chThái hệ Lai Pao trên địa bàn còn rất ít, họ đều đã cao tuổi, sức yếu. Chữ Thái Lai Pao có nguy cơ biến mất cùng với sự ra đi của họ. Gần đây một số người tâm huyết trẻ tuổi đã biết đọc, biết viết thành thạo chữ Thái hệ Lai Pao nhờ sự truyn dạy của các nghệ nhân cao tuổi (số này cũng không nhiều).

- Từ trước tới nay chưa hề có một nghiên cứu cụ thể nào về chữ Lai Pao. Một số vùng, đồng bào Thái nhóm Tay Mương chưa quan tâm nhiều đến tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, chưa hình thành ý thức bảo tồn hệ chữ viết này.

- Cơ sở vật cht, phương tin, trang bị, tài liệu sử dụng cho vic dạy và học chThái hệ Lai Pao không có. Một số mô hình dạy và học xuất hiện trên địa bàn đều là tự phát trong cộng đồng, tuy có nhiều cố gắng nhưng gặp không ít khó khăn. Sau này huyện và Ban Dân tộc tỉnh có đầu tư cho việc mở lớp truyn dạy chữ Thái hệ Lai Pao, song còn manh mún, hiu quả hạn chế.

- Ngun nhân lực bảo đảm cho việc dy hc chThái hệ Lai Pao quá ít, một số chưa được bồi dưỡng nghip vụ sư phạm, còn hạn chế ở nhiều mặt.

Vượt qua rào cản của những khó khăn thách thức trên, các nhà nghiên cứu đã bắt tay vào công việc nghiên cứu, khai thác tư liệu trên địa bàn: dựa vào kết quả nghiên cứu các hệ chữ Thái khác trên cả nước (chữ Thái Mường Lò (n Bái), Mường Min (Quan Sơn, Thanh Hoá) và Sơn La, Điện Biên, Lai Châu…); căn cứ vào đặc điểm ngữ âm riêng của nhóm Thái Tay Mương, Nghệ An; căn cứ các văn bản sưu tầm được ghi chép theo kiểu phiên âm; tài liệu do một số người tâm huyết muốn bảo tồn chữ Thái hệ Lai Pao, họ đã ghi chép li cách đây hàng chục năm về trước; xin ý kiến, nhận xét của già làng về phạm vi sử dụng và tính đặc thù trong quá trình sử dụng chữ Thái... Tiếp cận các văn bản cổ in sao hoặc chụp ảnh để làm cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu tự dạng các chữ cái, các nguyên âm, phụ âm và các vần; tìm hiểu quy luật ghép vần để đọc được nội dung. Sau đó chia sẻ văn bản, trao đổi thông tin, tìm kiếm sự hỗ trợ từ phía các nhà chuyên môn và những người quan tâm khác thông qua mạng internet. Ngoài ra, họ còn tiếp cận thông qua việc giao lưu, trao đổi với già làng, những người am hiểu về các hệ chữ Thái để có nhận xét, tìm hiểu làm rõ sự khác biệt ở từng địa phương, nhất là sự khác biệt về tự dạng trong các văn bản cổ. Đồng thời tiếp cận qua hệ thống thư viện, bảo tàng, các phương tiện thông tin đại chúng, tham gia các hội thảo Chương trình Thái học, hội thảo về chữ Thái…

Năm 1912, Théodore Guignard (Pháp) đã tiếp cn chữ Liệp Nm thông qua 2 nhà tri thc Thái biết đọc và viết thành tho loi chữ này. T. Guinard đã cảnh báo: "Rất có thể sau hai nhà tri thức này, không còn một người nào đọc và viết được chữ Thái Lai Pao nữa và vì thế cần phải ngay lập tức tập hp li, có một sự truyền bá để nó không bị lãng quên"(1).

Năm 1991, Giáo sư Michel Ferlus vào Nghệ An, Quảng Bình để nghiên cứu nhóm ngôn ngữ Việt Mường. Ông rất quan tâm đến tiếng Thái và nhất là một số phương ngữ của tiếng Thái được sử dụng ở Nghệ An, trong đó có chữ Lai Pao, một kiểu chữ viết nổi tiếng được sử dụng rộng rãi vào đầu thế kỷ XX trở về trước ở huyện Tương Dương - NghAn nhưng từ đầu thế kỷ này không còn được sử dụng nữa. Tại huyện Tương Dương, GS. Michel Ferlus đã đến một số bản làng có người Thái sinh sng như Bản Lả, xã Lượng Minh; Xiêng Líp, xã Yên Hoà;… Tại đây, ông đã thu thp được một số bản viết tay, ghi chép li rồi đọc và dịch chúng. GS. Michel Ferlus nói: "Tôi đã nhiều lần đến Vit Nam, tôi đã tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu tại thực địa với đồng nghiệp của tôi, Phó Giáo sư Trần Chí Dõi. Tôi rt quan tâm đến tiếng Thái và nht là tiếng Thái được sử dụng Nghệ An. Có thể nói rằng chúng chưa bao giờ được nghiên cứu một cách nghiêm túc. Tôi thấy rằng, đây quả là một thiếu sót trong tổng thể nghiên cứu về dân tộc Thái. Chỉ riêng ở Việt Nam, nơi có khong hơn 1 triệu người Thái, đúng hơn là người nói tiếng Thái, chúng tôi đã tìm thấy khá nhiều kiểu chữ viết: Thnht là loại chThái của người Thái Đen, Thái Trng ở vùng Tây Bắc. Loại chữ thứ hai là chữ của người Thái Thanh hay Man Thanh ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An. Thứ ba là chữ của người Thái ở Quỳ Châu. Cuối cùng loại chữ thứ tư mà đây chính là điểm mạnh trong nghiên cứu của chúng tôi, đó là Lai Pao, loi chdo người Thái Hàng Tổng sống ở vùng Tương Dương, Nghệ An sử dụng. Chúng tôi đã có khá nhiều tài liệu ngay tại Vit Nam và ngay trong một số thư viện của Pháp. Hiện nay chúng tôi đang tiến hành đọc chúng và cũng không phải dễ dàng gì khi đọc và dịch lại những tài liệu này"(2).

Tiếp cận vi các văn bản cổ, ông tiến hành chụp nh bn viết tay sau đó phóng to ảnh lên bằng máy photocopy rồi scan lại, cuối cùng ông có được tổng số là 8 trang nhỏ. Theo GS. Michel Ferlus thì chữ Thái Lai Pao là dạng chữ được dùng trong một phạm vi lãnh thổ khá hẹp. Hiện nay số người biết đến loi chữ này không nhiều và nhng văn bản viết tay loại chữ này hiện còn rất ít. Theo tư liệu nghiên cứu điền dã tháng 5/1997, chữ Lai Pao có 26 chữ cái thể hiện âm đầu. Trong số này có 18 chữ cái thể hiện một âm đầu và 8 chữ cái thể hiện 4 âm đầu. Về chữ cái nguyên âm và vần, chữ Thái Lai Pao sử dụng 24 con chữ để thể hiện 16 nguyên âm và 5 vần. Những phát hiện này của Giáo sư Ferlus và đồng nghip đã góp phần không nhỏ cho việc nghiên cứu và bảo tồn chữ Thái Lai Pao.

Ông Lô Văn Thoại (1929-2011) là người Tương Dương đầu tiên nghiên cứu, tìm hiểu và khởi xướng truyn dạy chữ Thái hệ Lai Pao. Trong một lần đi công tác, tình cờ gặp một văn bản viết bằng một loại chữ rất lạ, linh cảm đây là chữ Thái cổ, chữ mà thời trước vẫn hay dùng, ông Thoại bấm bụng mua với cái giá gần 20 lạng bạc. Sau đó, ông đi tìm thầy để học chữ. Nghe mọi người nói rằng cả huyện Tương Dương lúc đó chỉ còn ông Hương Uẩn ở xã Yên Na là còn đọc được chữ Lai Pao. Thế nhưng chưa kịp tìm đến thì ông Hương Uẩn đã qua đời. Một lần rất tình cờ, nghe nói có một người ở xã Nga My còn biết đọc, ông lặn lội hai ngày đường lên xã Nga My, may mắn gặp được ông May Liêu.

Ông May Liêu hơn ông 2 tuổi nhưng biết đọc chữ cổ, trở thành vị cứu tinh đã giúp ông những bước đầu tiên học chữ này. Theo ông, chữ Lai Pao ít người biết đọc, biết viết nhưng nếu tìm được người dạy thì học nó không khó lắm. Chỉ qua mấy lần nghe ông May Liêu đọc và ghi chép cẩn thận ông đã có thể đọc được nội dung ghi trong tờ văn bản cổ. Đấy là một bản khế ước có nội dung ghi chép về một vụ mua bán đất, có từ thời vua Tự Đức.

Từ nhng văn bản cổ còn lưu được trong tủ sách gia đình, ông Lô Văn Thoại đã tập hp mẫu chữ cái, phân loại theo phụ âm, nguyên âm và một số ký tự khác. Theo kết quả khảo cứu của ông Lô Văn Thoại thì chữ Lai Pao cổ có tất cả 59 ký tự, trong đó có 20 cặp phụ âm, 19 nguyên âm và ký tự khác. Trong quá trình sử dụng chữ Lai Pao, ông Lô Văn Thoại và các cộng sự đã bổ sung thêm 8 ký tự (Ghó, Gho, Só, So, Ró, Ro, Tró, Tro) mượn các ký tự của tiếng Việt, đó là G, S, R, Tr để thuận lợi khi viết tên người hoặc địa danh.

Từ kết quả khảo cứu của mình, ông Lô Văn Thoại đã biên soạn tài liệu dạy chữ Lai Pao để dùng cho dòng họ của ông ở Bản Lả, xã Lượng Minh. Cuốn tài liệu này chdày hơn 20 trang viết tay, chủ yếu là bảng chữ cái, hệ thng dấu thanh (tô mái), cách ghép vần, đánh vn, hướng dn viết chữ cái, viết vần, viết câu,…

Sau khi gia đình chuyn vthị trấn Hoà Bình, năm 2005 ông đề đạt tâm nguyn của mình mong muốn được bảo tn chLai Pao. Tâm nguyn của ông được UBND huyện Tương Dương đồng ý bằng chủ trương "Phổ biến, truyn dy chThái Lai Pao" và giao cho ông Lương Bá Vin - Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin trực tiếp qun lý.

Sau đó, các ông Lô Văn Thoại, Kha Văn Hợi, Lương Bá Vin được gii thiu tham gia Hi tho Chương trình Thái học ở huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình. Sau khi nghe báo cáo kết quả Hội tho Chương trình Thái học, UBND huyn giao cho ông Lô Văn Thoi (Bản Lả), Lô Khăm Phi (Na Tng, xã Tam Thái), ông Vi Khăm Mun (bản Xiêng Líp, xã Yên Hoà) soạn tho Tài liệu dạy chLai Paotổ chức mở lớp, giao ông Lương Bá Vin - Trưởng phòng Văn hoá và Thông tin phụ trách. Lớp học đầu tiên, mở tại Hội trường huyện ủy Tương Dương vào tháng 12 năm 2005, có 36 học viên là cán bộ, giáo viên người dân tộc Thái công tác trên địa bàn huyện Tương Dương.

Cuốn Tài liệu dạy chữ Lai Pao dung lượng chỉ 53 trang viết tay trên giấy khổ A4, nội dung chủ yếu là giới thiệu về chữ cái, cách đánh vần, mẫu câu, mẫu tự,… Mặc dù cách thể hiện các quy luật của chLai Pao trong tài liệu còn giản đơn, nhưng cuốn tài liệu cũng đã phục vụ tích cực cho việc truyn dạy chữ Lai Pao trong suốt hơn 10 năm qua góp phần ngăn chn chLai Pao trôi vào lãng quên như số phận của bao di sản khác.

NNƯT. Vi Khăm Mun qua nhiều năm nghiên cứu, sưu tầm đã xây dựng được cuốn từ vựng hơn 1.000 từ, biên soạn lại Tài liệu dạy học chữ Thái hệ Lai Pao theo phương pháp của ông Lô Văn Thoại và cuốn Ngữ pháp chữ Thái Lai Pao. Ông Vi Tân Hợi, Lô May Hng đã nghiên cu các đặc trưng văn hóa, phong tục, tập quán và sưu tầm hàng chc truyn cổ tích, truyn thuyết, thn thoại, hàng trăm câu tục ngữ, hàng chục bài ca dao, dân ca, đồng dao dân tộc Thái phục vụ đắc lực cho việc dy hc chThái hệ Lai Pao trên địa bàn Tương Dương, Con Cuông và Kỳ Sơn.

Gần đây qua nhiều lần hội thảo, tham khảo ý kiến của các chuyên gia về chữ Thái như NNƯT. Sm Văn Bình (Quỳ Hợp), Vi Ngọc Chân (Quỳ Châu); các chuyên gia ở huyện Mai Châu (tỉnh Hoà Bình), tỉnh Sơn La, tỉnh Điện Biên và dựa trên quy luật, nguyên tắc xây dựng chữ Thái nói chung, các thành viên nhóm bảo tồn chữ Thái Lai Pao huyện Tương Dương đã cải tiến 8 ký tự mượn các chữ cái trong tiếng Việt như Ró, Ro (R), Só, So (S), Gó, Go (G) và Tró, Tro (Tr) để khác biệt chữ Việt và gần hơn vi chữ Thái nói chung và chữ Thái Lai Pao nói riêng.

NNƯT. Sầm Văn Bình ở bản Yên Luốm, xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp đã có thời gian khá dài nghiên cứu về chữ Thái Việt Nam, tham gia nhiều cuộc hội nghị, hội thảo ở nhiều địa phương trên cả nước do Chương trình Thái học Việt Nam và Trung tâm bảo tồn và phát triển tri thức bản địa dân tộc Thái tổ chức. Đã bảo vệ thành công Đề tài khoa học "Nghiên cứu, biên soạn tài liệu dạy học chữ Thái hệ Lai Tay ở huyện Quỳ Hợp" vào năm 2009.

Trong quá trình nghiên cứu chữ Thái Việt Nam nói chung và chữ Thái Lai Tay nói riêng, NNƯT. Sầm Văn Bình đã nghiên cứu về chữ Thái Lai Pao của huyện Tương Dương. Năm 2013, NNƯT. Sầm Văn Bình đã phối hợp vi NNƯT. Vi Khăm Mun (Tương Dương) tham khảo font chữ Thái Lai Pao do một số giáo viên dạy môn Tin học ở huyện Tương Dương đang làm dở dang để thiết kế font chữ Thái hệ Lai Pao đưa vào máy vi tính phục vụ cho việc biên soạn tài liệu dạy học và phục vụ nghiên cứu văn hoá Thái và phổ biến chữ Thái hệ Lai Pao trên các phương tiện thông tin đại chúng. Từ năm 2014-2015, NNƯT. Sầm Văn Bình trong quá trình nghiên cứu, biên soạn Từ điển tiếng Thái đã phối hợp với ThS, Nhà văn Vi Tân Hợi (Tương Dương) biên soạn Từ vựng tiếng Thái Tay Mương ở huyện Tương Dương.

Kết quả nghiên cứu của NNƯT. Sầm Văn Bình đã khắc phục một số hạn chế trong nghiên cứu và hướng dẫn học chữ Thái Lai Pao của các nghệ nhân huyện Tương Dương.

Từ năm 2005 lại đây, việc tổ chức dạy học chữ Thái hệ Lai Pao đã được khôi phục ở huyện Tương Dương và Con Cuông, là 2 địa phương có đông đồng bào Thái sinh sống trên lưu vực sông Cả (Nặm Pao). ChThái hệ Lai Pao cũng được thường xuyên tổ chức thi trong Lễ hội đền Vn - Cửa Rào - mt lễ hội văn hóa tâm linh truyn thng ở huyện Tương Dương.

 

Chú thích

 (1).  Giới thiệu về chữ Lai Pao của người Thái Tương Dương (Nghệ An) của GS.TS. Trần Trí Dõi, Trường Đại học KHXH và NV và M.Ferlus, Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp.

  (2). Theo: PS. Hành trình tìm chữ Lai Pao - VTV2-04/04/2001 của Đài Truyền hình Việt Nam.

Trần Văn Dũng

1. Đặt vấn đề 

 Vấn đề tăng độ tuổi nghỉ hưu được dư luận xã hội hết sức quan tâm và đã tạo nên một làn sóng tranh luận trái chiều. Sở dĩ các ý kiến còn thiếu tập trung bởi nhìn qua, hầu như mọi người đều có cái lí của mình mà từ một góc độ nào đó đều rất hợp lí. Lí lẽ cho việc đề nghị tăng độ tuổi nghỉ hưu thì nhiều, nhưng lí do chắc chỉ là một, đó là nguy cơ vỡ quỹ bảo hiểm xã hội. Chúng ta cần xem lại hai vấn đề: một là, có phải đây là giải pháp duy nhất để ngăn chặn nguy cơ này? Thứ hai, liệu điều trị căn bệnh này theo thang thuốc trên có làm cho cơ thể khỏe mạnh lên hay dẫn tới một số căn bệnh khác trầm trọng hơn? Chúng tôi chỉ xin trao đổi một vài ý kiến của vấn đề từ góc nhìn người làm công tác giáo dục.

2. Một số vấn đề đặt ra

2.1. Một vài vấn đề chung

Kéo dài thời gian làm việc của người lao động là một thực tế có tính khách quan, phổ biến đối với các quốc gia đang phát triển, thậm chí ở khá nhiều quốc gia có nền kinh tế và xã hội phát triển, bởi áp lực của vấn đề thiếu nhân lực lao động và yêu cầu của việc cân đối quỹ bảo hiểm xã hội. Với một quốc gia đang có tuổi thọ bình quân tăng nhanh như ở Việt Nam chúng ta thì vấn đề tăng độ tuổi nghỉ hưu có thể coi như một sự tất yếu, một việc không thể không làm. Có thể dẫn ra một số hệ quả của vấn đề như:

- Tuổi thọ bình quân tăng là kết quả của đời sống được nâng lên về nhiều phương diện, cả đời sống vật chất và tinh thần (theo thống kê của các ngành chức năng, tuổi thọ của người dân Việt Nam hiện được nâng lên trên 73 tuổi). Và bởi vậy, nhìn trên đại thể thì hầu như không có khó khăn gì đáng kể khi mỗi người có thể kéo dài thêm ít năm làm việc. Thậm chí, về phương diện nào đó, niềm vui công việc lại có tác động tích cực trở lại giúp cho đời sống tinh thần của người đó được nâng lên mà nếu như việc họ nghỉ hưu sớm có thể có những tác động ngược lại.

- Tăng độ tuổi nghỉ hưu sẽ tránh được sự lãng phí trong sử dụng nguồn lực lao động, đặc biệt đối với những người có trình độ chuyên môn cao, những người có chuyên môn đặc thù, nguồn đào tạo khó khăn và phải đầu tư tốn kém về nhiều phương diện trong đào tạo; những lao động làm việc trong những lĩnh vực nghề nghiệp đòi hỏi tích lũy nhiều kinh nghiệm, nhiều kỹ năng,... sức khỏe còn tốt, đang thực sự khát khao cống hiến và thực tế sẽ có được nhiều đóng góp cho quốc gia nếu họ có thêm những cơ hội từ chính những cơ sở pháp lí về lao động mang lại. 

- Tăng độ tuổi nghỉ hưu cũng đồng nghĩa với việc có thêm thời gian đóng góp cho quỹ bảo hiểm xã hội, một loại quỹ có vai trò tác động đến đại bộ phận người lao động và đồng thời cũng có thể nói hầu như không mấy quốc gia tránh được những khó khăn, bất cập trong việc duy trì, phát triển quỹ này trên con đường đi lên với nhiều áp lực như nước ta trong giai đoạn hiện nay. Tăng cường sự đóng góp vào nguồn quỹ này sẽ góp phần vào việc tháo gỡ những khó khăn chung cho ngân sách nhà nước và cho đời sống của chính người lao động. Theo thống kê của Bộ Lao động Thương binh & Xã hội, tỷ lệ người cao tuổi Việt Nam đang tăng nhanh, từ 6,9% dân số năm 1979 lên 10,5% hiện nay. Dự kiến đến 2050, Việt Nam có khoảng 10 triệu người cao tuổi. Với chính sách hiện hành thì dự báo tới năm 2050, quỹ lương hưu sẽ bắt đầu mất cân đối và từ năm 2051 quỹ này sẽ không đủ khả năng chi trả các chế độ. Một thực tế rõ ràng là nếu thời gian đóng bảo hiểm ngắn, trong khi thời gian hưởng bảo hiểm lại quá dài thì tất yếu sẽ dẫn đến mất cân đối cho quỹ này.

Lí giải cho vấn đề mất cân đối của quỹ lương hưu, một số chuyên gia lao động cho rằng, mức hưởng lương hưu của nước ta hiện nay tính theo tỷ lệ là khá cao (mức đóng BHXH của ta hiện là 35% thu nhập và mức hưởng BHXH tối đa là 75%), trong khi ở nhiều nước trên thế giới, mức hưởng BHXH chỉ từ 40-60%. Thực tế thì trong lúc nhà nước đang gặp khó khăn, thậm chí sẽ trở thành "nguy cơ" vỡ quỹ bảo hiểm xã hội thì đại bộ phận đời sống của những người về hưu vẫn đang rất vất vả bởi thu nhập còn khá thấp so với nhu cầu cuộc sống tối thiểu, chưa nói đến những trường hợp gặp hoạn nạn, bệnh tật, đau ốm dài ngày. Vì vậy, việc điều chỉnh theo hướng giảm bớt thu nhập về lương hưu nhằm giảm áp lực cho quỹ bảo hiểm xã hội không phải là giải pháp khả thi.    

Trở lại vấn đề đặt ra ở trên: phải chăng tăng độ tuổi nghỉ hưu là giải pháp duy nhất để ngăn chặn nguy cơ vỡ quỹ bảo hiểm xã hội? Đây là vấn đề lớn, liên quan đến tất cả các ngành, đến nhiều đối tượng xã hội mà chúng tôi không có khả năng để tranh luận. Tuy nhiên, theo cách nhìn nhận của chúng tôi, xét về nhiều phương diện, trong đó có vấn đề lịch sử và quá trình của ngành bảo hiểm xã hội nước ta thì tin chắc, đây không phải và không thể là nhân tố quyết định.

Thiết nghĩ, tăng độ tuổi nghỉ hưu là một đòi hỏi mang tính khách quan của một quốc gia trong giai đoạn người dân có tuổi thọ bình quân tăng khá cao và đã có dấu hiệu bắt đầu của quá trình già hóa dân số. Như vậy, việc tăng độ tuổi nghỉ hưu là nhằm ứng phó với thực trạng già hóa dân số trong tương lai gần, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực và cân đối được quỹ lương hưu. Chúng tôi đồng tình với ý kiến của ông Phạm Minh Huân, Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh & Xã hội phát biểu ngày 28/10/2016 về cơ sở của việc đề xuất tăng tuổi nghỉ hưu. Tuy nhiên, để thực hiện sự đòi hỏi đó, chúng ta cần quan tâm đến những nhân tố chủ quan, đó là vấn đề việc làm của người lao động nước ta đang trong thời kỳ dân số vàng; đó là thực tiễn của nền kinh tế chưa cho phép thu hút được cơ bản lực lượng lao động đang có; đó là thực tế một đội ngũ lao động vừa thiếu vừa thừa do năng lực và sự bất cập của nguồn cung ứng... Quy luật là khách quan nhưng cơ hội là điều cần phải tính đến. Liệu có phải thời điểm này là thời điểm thích hợp để chúng ta nâng độ tuổi nghỉ hưu?

Thật mâu thuẫn khi có người cho rằng, chúng ta tăng độ tuổi nghỉ hưu là để tận dụng cơ hội dân số vàng. Chẳng lẽ thời kỳ dân số vàng lại để cho những người có sức trẻ, sức khỏe, có trí tuệ phải thất nghiệp để rồi buộc chúng ta phải tiếp tục kéo dài thời gian làm việc cho những người bắt đầu có những vấn đề về sức khỏe do tuổi tác, với tư duy đã cũ, kiến thức lạc hậu, ngại học ngoại ngữ, khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ thông tin,... không còn phù hợp trên con đường phát triển đi lên. Thực tế, không ai lại tăng tuổi lao động trong thời kỳ dân số vàng. Cơ hội dân số vàng là cơ hội của quốc gia và cả cho người lao động. Đừng lấy ví dụ Nhật bản, Hàn Quốc để minh họa cho ý kiến chủ quan của ai đó. Hai quốc gia này người ta đã qua thời kỳ dân số vàng từ lâu và cũng đã từ lâu họ không còn tình trạng hàng trăm ngàn sinh viên ra trường không có việc làm như nước ta hiện nay. Một thực tế nữa là hai quốc gia này và một số quốc gia khác như Singapore chẳng hạn, nhà nước đang tìm mọi biện pháp để khuyến khích sinh đẻ nhằm chống sự sụt giảm dân số thì ở nước ta đang phải làm ngược lại. Chúng tôi cũng không đồng tình với quan điểm của Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Phạm Minh Huân cho rằng Việt Nam đang phát triển nên tương lai sẽ tạo ra nhiều việc làm và vì vậy, chính sách tăng tuổi hưu không ảnh hưởng đến lao động trẻ. Nếu nói sẽ tạo ra nhiều việc làm trong tương lai cũng như tăng độ tuổi nghỉ hưu trong tương lai thì chắc hẳn không có gì phải bàn nữa. Vấn đề đang tạo ra nhiều ý kiến tranh luận hiện nay nằm ở chỗ tương lai không phải là hiện tại.

Có thể nói rằng, đời sống kinh tế của đại bộ phận người dân đã được nâng lên đáng kể, kéo theo tuổi thọ bình quân của nước ta cũng được tăng nhanh. Tuy vậy, một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động trong một số lĩnh vực đặc thù, lao động ở các ngành nặng nhọc, độc hại như: xây dựng, khai thác mỏ, da giày, cơ khí, giao thông, khai thác mủ cao su, lao công… môi trường và điều kiện làm việc khắc nghiệt, áp lực công việc cao, thời gian làm việc cũng như địa điểm làm việc không ổn định thì kéo dài thêm thời gian làm việc lại trở thành thử thách không nhỏ, thậm chí là nỗi ám ảnh đối với họ. Qua khảo sát thực tế và phỏng vấn người lao động thì phần lớn các đối tượng này không những không đồng tình với việc tăng mà còn đề xuất nhà nước cần nghiên cứu và tính đến khả năng giảm thời gian công tác. Họ cho rằng, lao động ở những khu vực ngành nghề trên thì lý tưởng nhất là độ tuổi từ 20 đến 45, tối đa là đến 50. Vì vậy, điều quan trọng là khi đề xuất tăng độ tuổi nghỉ hưu cần phải xem xét đến yếu tố sức khỏe, ngành nghề, điều kiện môi trường làm việc của người lao động. Nếu tăng độ tuổi nghỉ hưu lên 62 với nam và 58-60 với nữ như dự kiến thì sẽ rất khó khăn bởi lúc ấy vấn đề sức khỏe sụt giảm sẽ kéo theo những hệ lụy khác, đó là hiệu suất lao động thấp, dễ bị mắc các bệnh nghề nghiệp, thời gian phải nghỉ việc do đau ốm tăng. Mà mỗi khi hiệu suất lao động giảm, hiệu quả kinh tế của các cơ quan, doanh nghiệp cũng sẽ giảm theo, và tất yếu sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề ngân sách nhà nước. Đó là chưa nói đến một số đối tượng lao động đặc thù khác như du lịch, hàng không, ngân hàng,... Những lĩnh vực này tuy không giống đặc trưng nghề nghiệp của một số loại hình lao động nói trên nhưng đều có điểm chung là phần lớn cần lực lượng lao động trẻ mà đối tượng chiếm tỷ lệ cao trong lực lượng lao động này là nữ. Họ cần năng lực, kinh nghiệm, sức khỏe, dung mạo của tuổi trẻ chứ không phải những kinh nghiệm đã trở thành một thứ chủ nghĩa, đã trở nên trì trệ, bảo thủ và lạc hậu, với hình thức không còn dễ coi... Bởi vậy, với những lĩnh vực hoạt động này, trừ những người đảm nhiệm các vị trí, chức danh lãnh đạo thì việc sắp xếp công ăn việc làm cho những người lao động trực tiếp có tuổi đời từ 40 trở lên đã là một thử thách không nhỏ đối với các nhà quản lí.

Một vấn đề nữa cũng rất đáng được lưu tâm là tăng độ tuổi nghỉ hưu có ảnh hưởng như thế nào đến cơ hội việc làm cho lao động trẻ. Thực tế là hiện nay, số lượng người lao động trẻ thất nghiệp đang không hề nhỏ. Sinh viên ra trường không có việc làm hoặc làm việc trái ngành nghề đào tạo đã tạo ra nhiều vấn đề xã hội hết sức nhức nhối. Ông Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, cho biết, 6 tháng đầu năm nay, 191.000 sinh viên ra trường chưa có việc làm. Ông cũng cho rằng "Nếu nâng tuổi nghỉ hưu thì người có năng lực, mới ra trường ngồi ở đâu. Chúng ta đang ở độ tuổi lao động sung sức song không để tình trạng chảy máu chất xám". Thiết nghĩ, chúng ta cần đánh giá tác động của việc điều chỉnh độ tuổi nghỉ hưu, cân đối thị trường lao động để tạo cơ hội cho lao động trẻ, lao động có chuyên môn cao. Nếu kéo dài thêm tuổi lao động như dự kiến thì trước mắt, cơ hội phát triển của những người trẻ tuổi sẽ thêm phần khó khăn, sẽ lãng phí nguồn lực lao động chất lượng cao, chưa nói đến việc khó tránh khỏi tư tưởng cực đoan dẫn đến nảy sinh các vấn đề tiêu cực trong xã hội. Xét về mặt kinh tế thì lương của người lao động đã đến tuổi nghỉ hưu như hiện nay ít nhất cũng gấp 2-3 lần lương khởi điểm của sinh viên mới ra trường, trong khi về một số lĩnh vực, hiệu suất lao động của những đối tượng này chưa hẳn đã hơn những lao động trẻ. Hơn nữa, nhiều hoạt động nghề nghiệp thay vì kinh nghiệm lại đòi hỏi sự nhạy bén, sáng tạo cũng như khả năng tiếp thu, vận dụng cái mới nhiều hơn. Vì vậy việc tăng độ tuổi nghỉ hưu cần được tính toán sao cho vừa khai thác tận dụng được chất xám, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ khoa học và cán bộ quản lí, kỹ năng, tay nghề của đội ngũ công nhân lành nghề… nhưng không làm lỡ hoặc mất cơ hội cống hiến của lớp trẻ. 

2.2. Một vài thực tiễn của vấn đề từ góc độ giáo dục

Chúng tôi không đủ khả năng để đánh giá một cách đầy đủ thực tế năng lực giáo viên phổ thông hiện nay. Tuy nhiên, từ thực tiễn nhiều năm làm công tác đào tạo giáo viên, có điều kiện tham gia nhiều chương trình của ngành, được thâm nhập khá nhiều ở giáo dục phổ thông, chúng tôi nhận thấy, một bộ phận không nhỏ giáo viên từ bậc học mầm non đến trung học cơ sở ở độ tuổi từ 40 trở lên vốn được đào tạo từ cao đẳng hoặc trung học sư phạm giai đoạn cuối thế kỷ trước trong điều kiện các trường sư phạm còn nhiều khó khăn cả về nhân lực và vật lực, chưa nói đến một bộ phận được đào tạo cấp tốc do một số địa bàn thiếu giáo viên trầm trọng ở thời điểm đó. Các đối tượng này sau đó cũng đã được "chuẩn hóa" theo nhiều hình thức khác nhau. Đặc biệt, phong trào đại học hóa phát triển như vũ bão trong một thời gian khá dài từ thập niên 90 của thế kỷ trước đến năm 2010 mới có dấu hiệu hạ nhiệt, với nhiều hình thức: chuyên tu, tại chức,... được tổ chức theo những phương thức đa dạng và uyển chuyển mà điểm nhấn là phương thức đào tạo từ xa, đã thu hút hàng vạn giáo viên tham gia. Các chiến dịch từ phong trào này của các cơ sở đào tạo giáo viên đã góp phần làm thay đổi cơ bản diện mạo nhân lực giáo dục phổ thông và giáo dục mầm non, mà đặc biệt là về phương diện bằng cấp. Có thể khẳng định, những kết quả từ các hình thức đào tạo trên là rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên về chất lượng của các sản phẩm được tạo ra từ các phong trào này, có lẽ bây giờ không còn là tâm điểm để chúng ta bàn luận nữa. Vấn đề đã được nhiều cuộc hội nghị tổng kết, đánh giá khá đầy đủ; dư luận xã hội cũng đã có nhiều phản ánh trái nhiều và đa số sự thiện cảm không nghiêng về cách làm của chúng ta; hơn nữa, đã có không ít ý kiến từ chính người học. Có thể mạnh dạn nói rằng, chất lượng đào tạo theo hình thức này đã không đem lại kết quả như kỳ vọng. Trình độ của giáo viên thuộc các đối tượng này được nâng lên ở mức độ khác nhau, song về cơ bản chưa tương xứng với bằng cấp mà họ có. Trong khi đó rất nhiều sinh viên sư phạm được đào tạo trong môi trường thuận lợi hơn, tiếp thu được nhiều tri thức hiện đại hơn, có khả năng để tiếp cận và triển khai những nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục mới một cách hiệu quả hơn nhưng khi tốt nghiệp ra trường lại không có cơ hội để cống hiến do các bậc cha chú,... đã có đủ bằng cấp, với nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp lại chưa đến tuổi về hưu để nhường chỗ cho họ.

Cùng với một số ngành dịch vụ như hàng không, du lịch, ngân hàng... thì giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông và giáo dục mầm non là một ngành đặc thù, đòi hỏi phải được trẻ hóa. Bên cạnh yếu tố hàng đầu là phẩm chất, năng lực thì yếu tố tuổi tác là cực kỳ quan trọng. Qua khảo sát người học, số học sinh càng nhỏ tuổi càng thích giáo viên trẻ và đẹp. Một giáo viên ở tuổi trên 50, đặc biệt là giáo viên nữ, với tác phong có dấu hiệu của sự chậm chạp, kèm theo mái tóc lốm đốm bạc không còn hấp dẫn đối với trẻ nhỏ nữa, trong khi đó, hầu hết giáo viên mầm non và khoảng 80% giáo viên tiểu học hiện nay là nữ. Có những phụ huynh đã từng thốt lên rằng: "Nói thật là trẻ mầm non không thích học những "bà giáo". Chúng vẫn gọi thế vì ở nông thôn với những mối quan hệ họ hàng nội ngoại đa số các cô giáo ở cái tuổi U50 là bà của các cháu, thậm chí là bà của bố mẹ các cháu. Con nhà tôi hôm vừa rồi đi học về nó nói con không thích học lớp của cụ đâu vì không được hát tiếng Anh". Ngay bản thân nhiều giáo viên ở lứa tuổi này cũng có tâm lí không muốn tiếp tục đứng lớp trong sự thiếu hào hứng của người học.

Giáo dục nước ta đang trên đường đổi mới một cách toàn diện. Nếu trong đội ngũ giáo viên có một tỷ lệ không nhỏ những thầy cô giáo tuổi cao, đào tạo theo kiểu phong trào như trên đang được coi là nòng cốt cho sự đổi mới mà thiếu những người thầy giáo được đào tạo trong môi trường sư phạm hiện đại thì khó có thể đi được đến mục tiêu trên con đường này.

3. Một vài đề xuất, kiến nghị        

Chúng ta không thể vì vấn đề khó khăn của quỹ bảo hiểm xã hội để rồi hy sinh chất lượng giáo dục, hay cụ thể là làm khó khăn hơn cho việc triển khai những mục tiêu của ngành. Muốn đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông, bên cạnh những nội dung chiến lược đã được thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng, các quyết sách của Nhà nước, theo chúng tôi trước hết ngành giáo dục phải được trẻ hóa đội ngũ; phải có một tỷ lệ đáng kể những giáo viên được đào tạo trong môi trường sư phạm hiện đại, tiếp thu được nhiều tri thức tiên tiến hơn, có khả năng để tiếp cận và triển khai những mục tiêu mang tính "tầm nhìn" của quốc gia, của ngành, những nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục mới.

Theo nhìn nhận của chúng tôi, với giáo dục phổ thông nước ta, nếu độ tuổi nghỉ hưu như hiện tại thì ít nhất 10 năm nữa mới có thể cân đối được số giáo viên đã, đang và sẽ được đào tạo như chỉ tiêu của Bộ Giáo dục & Đào tạo giao cho ngành sư phạm hiện nay. Và nếu như vậy, sớm nhất phải sau 5 năm nữa mới có thể bước vào thực hiện quá trình tăng dần độ tuổi nghỉ hưu. Quá trình này theo chúng tôi phải điều chỉnh trong thời gian khoảng 5 năm. Từ thực tế đòi hỏi của giáo dục phổ thông và giáo dục mầm non như đã đề cập ở trên, chúng tôi cho rằng độ tuổi nghỉ hưu của ngành giáo dục chưa nên thay đổi theo hướng tăng lên trong thời điểm này, đồng thời độ tuổi giữa nam và nữ vẫn nên duy trì một khoảng cách như vậy. Vừa qua, đã có nhiều nhà khoa học và cán bộ nữ đang nói nhiều về vấn đề bình đẳng giới cũng như sự cần thiết tăng độ tuổi nghỉ hưu nhằm tạo cơ hội cho các đối tượng này có điều kiện tiếp tục cống hiến. Thiết nghĩ, bình đẳng giới và đặc thù nghề nghiệp là hai phạm trù khác nhau. Nhà nước ta cũng đã có chủ trương tạo điều kiện cho những nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục (không phân biệt giới tính) được tiếp tục tham gia công tác chuyên môn dưới nhiều hình thức trong điều kiện các cơ quan, đơn vị đó có nhu cầu và cá nhân có điều kiện phù hợp về chuyên môn, sức khỏe, thời gian... được thể hiện cụ thể trong Điều 9, Nghị định Chính phủ số 141/2013/NĐ-CP, ngày 24/10/2013; Nghị định 40/2014/NĐ-CP, ngày 12/5/2014. Chúng tôi thấy, đại bộ phận các cơ sở hoạt động trong lĩnh vực khoa học, giáo dục & đào tạo đã triển khai thực hiện rất hiệu quả chủ trương này. Ngoài ra, những người thuộc diện nghỉ hưu trước thời điểm ban hành các Nghị định trên vẫn được các cơ sở có những hoạt động phù hợp ký hợp đồng làm việc dưới nhiều hình thức. Các đối tượng này tuy không còn tiếp tục đóng góp cho quỹ bảo hiểm xã hội, nhưng thay vào đó họ vẫn đóng góp cho nhà nước bằng thuế thu nhập cá nhân. Một hệ lụy nữa có thể kể đến là nếu tăng độ tuổi nghỉ hưu, tức đồng nghĩa với việc tăng độ tuổi làm công tác lãnh đạo, quản lí. Và như vậy có đi ngược lại mục tiêu trẻ hóa đội ngũ lãnh đạo, như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã từng nói: "đừng ngứa trên đầu mà gãi ở chân". 

Nguyễn Đình Chú

 

Trên Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An số 10 - 2016, trong bài viết "10 năm rồi với Trung tâm KHXH & NV quê ta", tôi có đề nghị "Chuyên san nên tăng tính chất tranh luận đúng nghĩa với văn hóa tranh luận trong đó lấy sự thuyết phục lẫn nhau làm chính chứ không phải sự thắng thua trước những vấn đề cấp thiết, trước yêu cầu xây dựng phát triển Nghệ An trở thành trung tâm của Bắc miền Trung mà nhà nước đã có chủ trương". Đề nghị này hẳn cũng là điều mà nhiều người muốn thế. Riêng tôi thì từ lâu vẫn đeo đuổi phương châm khoa học là Recherche nghĩa là phải tìm đi tìm lại, cứ thế mà tìm. Ai đó tự cho ý kiến của mình là tiếng nói cuối cùng thì tôi xin được coi đó là nhà khoa học nửa vời. Chưa nói là tôi còn có ý thức sâu sắc rằng thời đại bao cấp về tư tưởng, thời đại tư duy độc trị, áp đặt, trên bảo sao dưới nghe vậy, đã và đang phải nhường chỗ dần cho thời đại tư duy cá thể, độc lập, đối thoại, phản biện, thuyết phục. Từ ý thức này, tôi thấy thoải mái khi trên Chuyên san KHXH & NV Nghệ An  số 12 - 2016,  số Chào năm mới Đinh Dậu, đã có ngay bài "Có nên đề cao Lê Thánh Tông quá mức như thế không?"của hai sử gia Hồ Sỹ Hùy và Mai Phương Ngọc, tuy nêu vấn đề "có nên chăng" nhưng thực chất đã cho rằng tôi quá đề cao Lê Thánh Tông. Mở đầu bài viết, hai bạn đã dành cho những bài viết của tôi trong nhiều năm gần đây những lời khen đúng với điều tôi đã và đang cố gắng phấn đấu. Hai bạn coi tôi là gừng cay chính hiệu của xứ Nghệ. Không biết đã xứng đáng như thế chưa nhưng được tặng cho cái biệt hiệu đó thì tôi sướng lắm. Bởi các bạn biết đấy, tôi đã từ giã xứ Nghệ ra đi tới nay 63 năm, tuổi ta đã 89 và câu thơ của thi sĩ Tản Đà cũng đã vận vào tôi: "quê hương thì có cửa nhà thì không"... Nhưng xứ Nghệ vẫn vương vấn vấn vương hồn tôi không dứt để tôi tự hào, tôi yêu thương, tôi buồn vui với xứ Nghệ. Xin cảm ơn những lời tốt đẹp mà hai bạn đã dành cho tôi. Hoan nghênh thái độ thẳng thắn và trình độ kiến văn của hai bạn thể hiện ở bài viết để trao đổi với tôi. Hai bạn chưa cho độc giả biết rõ quan điểm tổng thể của cố GS. Trần Quốc Vượng về Lê Thánh Tông là thế nào nhưng trong khi dựa vào "đề nghị một cách nhìn khác" về Lê Thánh Tông và "giải ảo hiện thực lịch sử" về Lê Thánh Tông của  GS. Trần Quốc Vượng để trao đổi ý kiến với tôi mà có điểm vẫn không đồng tình với GS. Trần Quốc Vượng cũng là điều cần thiết. Sau đây, tôi sẽ nói rõ thêm những suy nghĩ của tôi khi viết về Lê Thánh Tông và nếu các bạn còn có ý kiến nữa thì cho biết để chúng ta cùng trao đổi thêm nhằm có được một cách nhìn chuẩn hơn về Lê Thánh Tông theo phương châm khoa học là Recherche.

Trước hết tôi muốn hai bạn biết qua một chút những gì tôi đã viết về Lê Thánh Tông để hiểu rõ tôi hơn. Không kể những chỗ viết lặt vặt có từ lâu, trong hơn mười năm qua, tôi đã có bốn bài viết hoặc liên quan hoặc trực tiếp về Lê Thánh Tông. Đầu tiên là bản tham luận tại Hội thảo khoa học quốc gia Kỷ niệm 500 năm ngày mất của Lê Thánh Tông do Trường Đại học KHXH & NV- ĐHQGHN tổ chức với sự cộng tác của Trường Đại học Sư phạm - ĐHQGHN và các Viện thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn quốc gia, có nhan đề "Người có công đầu trong việc tạo dựng vương triều Lê Thánh Tông"(1) (Người đó chính là vị Thủy tổ của tôi: Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí). Thứ hai là bản tham luận tại Hội thảo khoa học về Lê Thánh Tông do họ Lê ở Thăng Long và Hội Sử học Việt Nam tổ chức nhân dịp kỷ niệm Ngàn năm Thăng Long (2010) với ý đồ đề nghị Unesco công nhận Lê Thánh Tông là danh nhân văn hóa thế giới, có nhan đề "Đệ nhất minh quân Lê Thánh Tông - Nhà văn hóa lớn của đất nước Đại Việt"(2). Thứ ba là bài "Mối quan hệ giữa Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí với Đệ nhất minh quân Lê Thánh Tông - Một trường hợp đặc biệt"(3). Thứ tư là bản tham luận tại Hội thảo khoa học về Lê Thánh Tông do họ Lê toàn quốc và Hội Sử học Việt Nam tổ chức lần thứ hai trong năm 2016 cũng là chuẩn bị thêm cho việc đề nghị với Unesco tôn vinh Lê Thánh Tông, có nhan đề "Xin được nói thêm về vị trí của Đệ nhất minh quân Lê Thánh Tông trong lịch sử văn hóa dân tộc" mà hai sử gia Hồ Sỹ Hùy và Mai Phương Ngọc đã cho là tôi quá đề cao Lê Thánh Tông. Trong bốn bài viết này thì bài 1 và bài 3 là thuần về sử học. Còn bài 2 và bài 4 là thuộc phạm vi của văn hóa học. Tôi rất muốn hai bạn đọc cho cả hai bài này để biết rõ hơn tôi đã nghĩ và viết về tư cách văn hóa của Lê Thánh Tông đúng sai thế nào. Với tôi, bài viết sau là một sự tiếp nối nhằm nâng cấp thêm chút ít so với bài viết trước. Ở đây, tôi sẽ từ bài 2 và bài 4 này mà trao đổi với hai nhà sử học:

1. Góc nhìn: Kết quả nhận thức sự vật gì, đối tượng gì, trước hết đều liên quan tới góc nhìn. Cùng một sự vật vốn có một bản chất nhưng nhìn xuôi, nhìn ngược, nhìn trên, nhìn dưới, sẽ có các kết quả nhận thức khác nhau. Đó là điều mà khoa học tư duy, nói gọn là tư duy luận từng lưu ý. Muốn có kết quả cao trong nhận thức một sự vật, một hiện tượng, một nhân vật, phải từ nhiều góc nhìn để từ đó mà có sự chiếm lĩnh đích đáng bản chất của sự vật, hiện tượng, nhân vật. Trao đổi tranh luận học thuật với nhau, trước hết cũng phải thống nhất với nhau về góc nhìn sự vật, hiện tượng, nhân vật đó. Xin hai nhà sử học hãy nhìn lại xem giữa hai bạn và tôi trước nhân vật Lê Thánh Tông, trong cuộc trao đổi ý kiến này có gì khác nhau về góc nhìn không? Phải chăng, tôi thì từ góc nhìn văn hóa học. Còn với hai bạn là góc nhìn sử học. Trong khi giữa hai góc nhìn này có liên quan mật thiết với nhau và góc nhìn văn hóa học muốn có kết quả vững chắc, phải dựa vào thành quả của góc nhìn sử học dù nó không đơn giản, nhưng mỗi góc nhìn vẫn có tính biệt lập nhất định. Phải chăng là với góc nhìn sử học và hệ qui chiếu sử học thì điều quan trọng trước hết là phải nhìn cho hết mọi khía cạnh, mọi ngóc ngách của sự vật, của hiện tượng, của nhân vật để từ đó mà chỉ ra cho mọi người biết sự vật đó, hiện tượng đó, nhân vật đó là gì càng đầy đủ, toàn diện càng tốt. Trong yêu cầu toàn diện đầy đủ này có thể có văn hóa ở mức độ đáng nói. Trong thực tế, không phải nhân vật vĩ đại nào cũng có thành tựu văn hóa đáng nói. Trong khi với góc nhìn văn hóa học cùng hệ qui chiếu văn hóa học thì tất nhiên là phải dựa vào kết quả nhận thức đầy đủ đã được sử học cung cấp, nhưng không ngừng ở đó mà mục tiêu quan trọng riêng của nó là phải tìm ra những biểu hiện, những giá trị văn hóa ở các hiện tượng đó, ở các nhân vật đó. Với góc nhìn và hệ qui chiếu văn hóa học, bài Đệ nhất minh quân Lê Thánh Tông - Nhà văn hóa lớn của đất nước Đại Việt, bằng phương pháp logic, tôi đã chỉ ra những biểu hiện văn hóa sáng giá làm nên nhà văn hóa lớn Lê Thánh Tông. Đến bài Xin được nói thêm về vị trí văn hóa của Đệ nhất minh quân Lê Thánh Tông trong lịch sử văn hóa dân tộc là tiếp tục phương pháp logic kết hợp với phương pháp lịch sử để làm rõ hơn đặc trưng và vị trí của Lê Thánh Tông trong lịch sử văn hóa dân tộc. Rất mong được hai sử gia nhận ra điều đó ở tôi và thấy có chỗ nào chưa ổn thì chỉ rõ để tôi có thêm cơ hội thực thi công việc recherche cụ thể này.

2. Khoa học với đời sống: Đúng là khoa học thì phải triệt để, toàn diện, khách quan, sòng phẳng, mặc dù để có được như thế không dễ chút nào. Nhưng ở đây lại có vấn đề khoa học phục vụ đời sống trong đó có mục tiêu phục vụ và việc tuân theo những yêu cầu nhất định, thông thường. Điều gì cần nói, điều gì chưa cần nói, liều lượng cho những điều cần nói ở mức nào, đều phải tính toán. Như hai bạn đã biết, hai bài viết về nhà văn hóa lớn Lê Thánh Tông của tôi là nhằm phục vụ kế hoạch chuẩn bị cho việc đề nghị với Unesco công nhận Lê Thánh Tông là danh nhân văn hóa thế giới. Mà với tôi, đó là điều hoàn toàn đích đáng và cần thiết cho đất nước. Không dấu gì hai bạn, tôi có một niềm vui lớn là đã viết về nhiều danh nhân văn hóa của đất nước mà mấy vị tiêu biểu nhất thì đã nêu tên trong bài viết "Xin được nói thêm về Đệ nhất minh quân Lê Thánh Tông trong lịch sử văn hóa dân tộc" này. Và sau khi đã viết về những nhân vật đó, tôi cũng đã ngầm so sánh phẩm giá và vị trí khác biệt giữa các nhân vật mà từ đó thấy hậu thế chưa tranh thủ được sự tôn vinh của        Unesco với Lê Thánh Tông là một thiếu sót, với nhà vua đã đành, quan trọng hơn là với đất nước. Với tôi, vừa dựa vào những gì của sử sách xưa nay, vừa có sự tìm hiểu của mình, thì thấy ở Lê Thánh Tông nổi lên hai điều đáng tôn kính nhất: Một, đây là một ông vua trị vì đất nước 38 năm, đã đưa đất nước phát triển hùng cường ngang các nước hùng cường nhất trong khu vực và cũng được coi là thịnh vượng nhất của đất nước thời trung đại. Âm vang lịch sử của thời đại Lê Thánh Tông vẫn vọng lại trong văn chương khá rõ. Hai là ý kiến của cố học giả, nhà đạo học số một, nhà Đông phương học hiếm có của Việt Nam ta, GS. Cao Xuân Huy, đã coi Lê Thánh Tông cùng với Tự Đức là hai nhà tư tưởng lớn nhất của đất nước thời trung đại(4). Về ý kiến của GS. Cao Xuân Huy, dễ có người khó hiểu, chưa chấp nhận, nhất là với trường hợp vua Tự Đức. Riêng tôi thì không dám coi thường ý kiến của bậc đại sư của mình và đang muốn tiếp tục đi sâu tìm hiểu nữa với hy vọng mình không nông nổi trong khi tin theo ý kiến của thầy mình. Trong bài viết "Xin được nói thêm về Đệ nhất minh quân Lê Thánh Tông trong lịch sử văn hóa dân tộc", để mọi người cảm nhận sâu hơn tầm vóc phẩm giá và vị trí văn hóa lớn lao của Đệ nhất minh quân Lê Thánh Tông bằng cách vượt lên cách hiểu thông thường về chế độ phong kiến và về ông vua của chế độ phong kiến ở Việt Nam thời trung đại. Mà phải thấy rằng đây là phong kiến nhưng là phong kiến đức trị, là ông vua không hẳn là người có quyền uy tuyệt đối, tối thượng, tốt thì trăm họ được nhờ, xấu thì trăm họ phải chịu, mà là "thiên tử" (con Trời) "thế thiên hành đạo" (thay Trời thực hành đạo lý với muôn dân). Chế độ phong kiến đức trị cũng như bất cứ chế độ nào, cũng không thoát khỏi qui luật thiện ác tương tranh, nhưng vẫn có nhiều mặt tốt đệp mà thời gian đã lãng quên và bị một số lý thuyết từ đâu đó đến làm lu mờ, che khuất: Trong lý thuyết quân vương xưa, ông vua là "thiên tử" - con Trời mà ông Trời là biểu tượng siêu hình nhưng siêu hình không phải là vô nghĩa, không hẳn là tạo thần quyền để tăng thêm quân quyền. Ở đây, đúng là siêu hình nhưng ý nghĩa thực tiễn của nó lại vô cùng lớn lao. Cuối cùng, đúc kết lại, với tôi "Lê Thánh Tông là một bậc đế vương trong thời binh đã trở thành một đại danh nhân văn hóa. Văn hóa của bậc đế vương này là văn hóa phát triển, văn hóa thực tiễn, văn hóa trị bình thiên hạ, đưa đất nước lên độ hùng cường ngang các nước hùng cường trong khu vực đương thời. Ở bình diện này, đệ nhất minh quân là người số một". Trong sự đúc kết này, tôi sử dụng khái niệm văn hóa phát triển vốn là của Unesco thường dùng. Còn khái niệm văn hóa thực tiễn của tôi để nói ở Lê Thánh Tông là sự kết hợp đẹp giữa hai tư cách: một vị minh quân và một nhà văn hóa lớn, một ông vua trị bình thiên hạ có văn hóa, bằng văn hóa, khác với ông vua là nhà văn hóa lớn nhưng không trị bình được thiên hạ như vua Tự Đức chẳng hạn, cũng khác với ông vua có công lao vĩ đại là cứu được nước nhưng chưa phải là nhà văn hóa như vua Lê Thái Tổ, vua Quang Trung chẳng hạn. Với tôi, khoa học phục vụ đời sống với mục tiêu cụ thể ở trường hợp Lê Thánh Tông là như thế. Liệu hai bạn có khuyên tôi đưa cả những gì mà ông bạn quí quá cố của tôi - GS. Trần Quốc Vượng  đã giải ảo hiện thực lịch sử về Lê Thánh Tông như thế vào hai bài viết này không? Tôi không phải không biết một số điều mà ông bạn quá cố của tôi đã nói và trước đó sử sách ít nhiều cũng đã nói về Lê Thánh Tông nhưng vì mục tiêu của khoa học phục vụ đời sống trực tiếp là với Lê Thánh Tông nhưng cũng là với lợi ích đất nước trong trường hợp cụ thể này mà đã không nói đến. Còn ai đó, nếu không thừa nhận công lao của Lê Thánh Tông trong việc phát triển đất nước hùng cường nhất, không coi Lê Thánh Tông là một trong hai nhà tư tưởng lớn nhất của nước ta ở thời trung đại, thì có thể đưa vào những gì mà cố GS. Trần đã giải ảo hiện thực lịch sử để phản đối chuyện đề nghị Unesco vinh danh Lê Thánh Tông. Tôi tin hai bạn không thuộc trường hợp này. Tôi cũng tiếc, ông bạn quí của mình đã về thế giới bên kia, chứ không, tôi sẽ hỏi ông bạn rằng ông muốn sòng phẳng về công, tội của Lê Thánh Tông nhưng cuối cùng ông có công nhận Lê Thánh Tông là nhà văn hóa lớn của đất nước nữa không? Ông có đồng ý với việc đề nghị Unesco vinh danh Lê Thánh Tông không? Gần đây nhiều người nói đến thời kỳ "hậu hiện đại" và "hậu hậu hiện đại" thì ai có ý kiến của người ấy. Chân lý là thuộc cá nhân. Chẳng có chân lý chung. Với hậu hiện đại và hậu hậu hiện đại đó, tôi xin "kính nhi viễn chi". Tôi chỉ có phương châm khoa học là Recherche. Công việc Recherche của tôi về nhà văn hóa Lê Thánh Tông đến nay là thế.

3. Giá trị học và việc nhận thức về giá trị cuộc sống trong học thuật: Hai bài viết của tôi và bài trao đổi ý kiến của hai sử gia, dù tự giác hay chưa, đều đụng đến khoa học về giá trị, nói gọn là giá trị học mà ở nước ta thì chưa quen lắm nhưng trên thế giới thì nó đã và đang phát triển tích cực(5). Cứ nhìn vào cuộc sống của đất nước hôm nay theo góc nhìn giá trị học thì dễ biết vấn đề giá trị cuộc sống trong đó có giá trị văn hóa, giá trị nhân cách phức tạp biết chừng nào so với quá khứ. Để trao đổi với hai bạn sử gia, trong chuyện định giá Lê Thánh Tông, tôi thử nêu một số vấn đề này xem sao nhé!

Nhận thức giá trị trong mối tương quan giữa cái đúng và cái sai cụ thể ở trường hợp Lê Thánh Tông là thế nào cho thỏa đáng? Dễ thường có mấy đáp án: sai đúng lẫn lộn, đúng chính sai phụ, sai chính đúng phụ, đúng sai ngang nhau. Đáp án nào cũng tùy thuộc vào hoàn cảnh, góc nhìn, trình độ, tâm thế nhận thức vốn mang dấu ấn cá nhân với thiên hình vạn trạng và liên quan đến các quan điểm nhân sinh trong xã hội, đến vấn đề hệ ý thức của xã hội. Giữa ba chúng ta: tôi, GS. Trần Quốc Vượng, hai bạn Hồ Sỹ Hùy và Mai Phương Ngọc là đã có ba đáp án. Tôi thì vì mục tiêu phục vụ cụ thể đó mà chỉ đề cao mặt tốt. Cố GS. Trần thì vì yêu cầu giải ảo hiện thực lịch sử mà nói nhiều đến mặt trái. Còn hai bạn thì vừa khác tôi nhưng khác ở mức độ, vừa dựa vào cố GS. Trần trong khi đối thoại với tôi nhưng vẫn có điểm không đồng tình với GS. đúng không? Với tôi, không chỉ vì mục tiêu phục vụ việc đề nghị Unesco tôn vinh Lê Thánh Tông mà nói toàn điều tốt lành. Trong nhận thức chung về Lê Thánh Tông, tôi vẫn cho tốt là sự nổi bật tới mức không ai thay thế được mặt tốt đó của Ngài cũng như các vị khác đã có mặt tốt nổi trội mà Lê Thánh Tông cũng không thay thế được. Căn cứ của tôi để suy tôn Lê Thánh Tông là như thế. Tôi cũng biết Lê Thánh Tông có điều rất đáng chê là "hiếu sát" và "hiếu sắc" nhưng dù vậy thì vẫn không thể không đánh giá cao công lao vĩ đại của Ngài đối với đất nước, tầm vóc tư tưởng của Ngài trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Còn chuyện "hiếu sát", "hiếu dâm", hẵng nói ở các bậc đế vương xưa của nước ta cũng như trên thế giới, đâu có hiếm. Điều này hẳn hai bạn biết nhiều hơn tôi. Rõ ràng giữa tôi với ông bạn họ Trần khá khác nhau trong nhận thức về tương quan giữa mặt phải và mặt trái của Lê Thánh Tông. Còn giữa tôi với hai bạn thì cũng khác nhau nhưng chỉ ở mức độ mà thôi. Phải không? GS. Trần coi Lê Thánh Tông là "người xâm lược". Tôi đâu dám nói thế do thấy vấn đề địa chính trị không đơn giản chút nào khi phát ngôn. Chính hai bạn cũng chẳng nghĩ thế. Chưa nói là con số hơn 4 vạn người Chăm bị giết và mấy vạn người Chăm bị bắt làm tù binh được Lê Quí Đôn nói đến trong Đại Việt thông sử mà GS.Trần nhắc lại thì tôi vẫn muốn biết độ tin cậy đã đến đâu. Tôi chỉ biết năm 1445, Thủy tổ Nguyễn Xí của tôi cũng có mặt trong cuộc chiến với Chiêm Thành và sau đó thì chính con trai Ngài là Nguyễn Bá Sương được giao trách nhiệm quản lý tù bình không chỉ người Chiêm mà cả người Minh, ở quê tôi, đã thuần hóa họ, để họ thành công dân Đại Việt và thành hai chi dưỡng tử của Đại tộc Nguyễn Đình Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí. Còn đem chuyện hư đồn của hai ông vua đời cháu là Lê Uy Mục và Lê Tương Dực ra mà truy trách nhiệm từ bệnh hiếu sắc, hiếu dâm của Lê Thánh Tông như thế thì không biết khoa di truyền học sẽ có ý kiến thế nào? Tôi chỉ biết nói thế thì khác gì chủ nghĩa lý lịch, chủ nghĩa thành phần cách đây chưa lâu mà nay ai cũng thấy sự tai hại là thế nào cho cuộc sống của đất nước. Bảo Lê Thánh Tông không có "võ công" như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung thì quả thật tôi không hiểu nổi cách nghĩ này. Trong khi với tôi, rất mực kính trọng những anh hùng có "võ công" cứu nước nhưng cũng rất mực kính trọng và thèm khát anh hùng khai phá phát triển đất nước trong thời bình vì quá hiếm trong lịch sử dân tộc. Phan Bội Châu trong truyện Chân tướng quân viết về Hoàng Hoa Thám đã nói đến ba loại anh hùng dân tộc: dựng nước, giữ nước, cứu nước. Sao hậu thế là nhà khoa học lại quên loại anh hùng giữ nước? GS. Trần Quốc Vượng chê Lê Thánh Tông chịu ảnh hưởng Nho giáo mà "trọng nam khinh nữ", bắt vợ chịu tang chồng ba năm. Nhưng sao lại coi nhẹ hoặc bỏ qua những gì luật Hồng Đức đã dành cho phụ nữ mà trong bài viết Đệ nhất minh quân Lê Thánh Tông - Nhà văn hóa lớn của đất nước Đại Việt, trên cơ sở tổng kết về vấn đề phụ nữ qua văn học dân gian và văn học viết trước Lê Thánh Tông, theo phương pháp lịch sử và quan điểm văn hóa phát triển, tôi đã nhận định: Lê Thánh Tông là người Việt Nam đầu tiên có tư tưởng nữ quyền thì đúng hay sai? Sao hai bạn lại cho những gì của Lê Thánh Tông được tôi biểu dương đó chỉ là chuyện "nửa vời"? Chuyện lớn lao như thế mà cho là "nửa vời" ư? Còn nhiều điều có thể trao đổi với nhau. Nếu được gặp nhau mà nói chuyện với nhau cho ra nói thì vui nhỉ... Tôi chỉ muốn nói trước, cách lên án tư tưởng trọng nam khinh nữ của Nho giáo như lâu nay là còn có phần đơn giản hóa.

Nhân vấn đề trọng nam khinh nữ, tôi vẫn muốn hai bạn đọc kỹ những gì tôi đã viết ở bài Đệ nhất minh quân Lê Thánh Tông - Nhà văn hóa lớn của đất nước Đại Việt về việc Lê Thánh Tông với Nho giáo mà hai bạn đã dựa theo ý kiến của GS. Trần Quốc Vượng để không tán thành tôi. Hai bạn biết đấy, đụng đến chuyện này là đụng đến vấn đề Nho giáo nói chung mà về giá trị học là vô cùng phức tạp từ khi có cuộc đụng độ văn hóa Đông - Tây trong hai thế kỷ nay, không chỉ ở Việt Nam ta mà ở nhiều nước, nhất là trên quê hương của Nho giáo. Không dấu gì hai bạn, vốn xuất thân Nho gia ít nhiều có khoa bảng, thuở nhỏ, trước khi học trường Pháp Việt, đã có gần năm năm được cha nuôi hai thầy đồ Nghệ trong nhà để dạy cho chữ Hán. Hoàn cảnh đó dễ thường đã tạo cho tôi có chút gì đó là riêng trong việc cảm và nhận về Nho giáo chăng là không chỉ qua sách vở mà còn từ điệu sống, không khí gia đình, đặc biệt là phong thái cốt cách sống của người cha đại tôn đại kính của tôi. Sau này, suốt sáu chục năm hành nghề lại gắn với văn học, văn hóa trung đại trong đó có Nho giáo. Mà riêng về vấn đề Nho giáo thì ít nhiều đã có theo dõi tình hình trong và cả phần nào ngoài nước, cũng đã tham gia các hội thảo quốc gia kể cả quốc tế, lại có viết lách về Nho giáo, tuy thành tựu chưa là gì so với ông bạn quá cố, người Nghệ ta, là Trần Đình Hượu, nhưng cũng từ quá trình đánh vật đó với vấn đề Nho giáo mà tôi đề cao Lê Thánh Tông trong việc dựa vào Nho giáo để trị vì đất nước. Có thể ai đó không đồng ý, nhưng tôi thì tin rằng trong sự nghiệp phát triển đất nước hùng cường của nhà vua, nhất định có vai trò của Nho giáo cả ở hai mặt lợi và bất lợi. Mà theo quan điểm lịch sử cụ thể thì lợi là chính. Trước mắt chưa nói được gì hơn, chỉ mong hai bạn suy nghĩ cho một số vấn đề sau:

a. Từ ngày có cuộc đụng độ Đông - Tây thì bên cạnh sự nâng đỡ của phương Tây, cũng có sự áp đảo của phương Tây đối với phương Đông (trong đó có Việt Nam) trên phương diện văn hóa và tinh thần truyền thống. Có đúng thế không? Nếu đúng thì sự áp đảo đó liên quan đến số phận của Nho giáo thế nào?

b. Việc chính quyền thực dân Pháp thay chữ viết Hán Nôm bằng chữ Quốc ngữ Latinh hóa ở Việt Nam trong khi cả khu vực không một nước nào thay chữ viết thì bên cạnh cái được rất lớn mà ai cũng đã thấy nhưng cái mất cũng không nhỏ thì còn ít người thấy. Có đúng thế không? Hai bạn nghĩ gì về số phận của Nho giáo khi biết cố đạo Puginier là người do yêu cầu truyền giáo đã hăng hái khuyến khích chính quyền thực dân Pháp thay nhanh chữ Hán Nôm bằng chữ Quốc ngữ đã nói: "thay chữ viết là thay cả một nền văn hóa". Và năm 1943, Toàn quyền Đông Dương là Decoux còn nói: "Thay chữ Hán Nôm bằng chữ Quốc ngữ làm cho con cháu người Việt Nam không hiểu gì Tổ tiên của họ nữa"(6).

 c. Nếu đã qua sự suy nghĩ về các vấn đề nêu trên, dù ít dù nhiều rồi, thì liệu hai bạn có nghĩ là cần xem xét lại cái khuynh hướng phủ nhận Nho giáo ở nước ta từ đầu thế kỷ XX đến nay đặc biệt là thời nay trong đó có GS. Trần, kể cả hai bạn, dù ít dù nhiều không? Hai bạn nếu muốn biết rõ hơn quan điểm của tôi sau mấy chục năm đánh vật với vấn đề Nho giáo đến nay là thế nào để viết về Lê Thánh Tông như thế thì xin hãy vui lòng đọc các bài viết sau đây của tôi: 1. Sự áp đảo của phương Tây đối với phương Đông trên phương diện văn hóa và tinh thần truyền thống (Tham luận tại Hội thảo khoa học thuộc Chương trình khoa học quốc gia với chủ đề Con người với tư cách động lực và mục tiêu của sự phát triển, 1995)(7); Hôm nay với Nho giáo (Tham luận tại Hội thảo khoa học quốc tế do viện Nghiên cứu Harward Yenching - Hoa Kỳ phối hợp cùng viện Hán Nôm Việt Nam tổ chức tại Hà Nội năm 2004)(8); Để hiểu đúng giá trị đạo luân thường của Nho giáo (Tham luận tại Hội thảo khoa học quốc tế do Trường ĐH KHXH& NV - ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh tổ chức năm 2013 với chủ đề Đạo luân thường Nho giáo dưới góc nhìn xuyên văn hóa)(9); Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với Nho giáo(10)

Trong tranh luận học thuật cũng như trong cuộc sống nói chung, hiểu nhau hơn thì cũng gần nhau hơn, phải không hai bạn sử gia ơi! Chúc hai bạn một năm mới vui, có thêm thành quả khoa học sử học.

     

 

Chú thích

 1. Xem: Lê Thánh Tông (1442 - 1497), Con người và sự nghiệp, NXB ĐHQG HN 1997.

 2. Xem: Tạp chí Văn hóa Nghệ An số 288 ngày 10/3/2015.

3. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Họ Lê trên đất Thăng Long nhân dịp Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội 2010.

 4. Xem: Cao Xuân Huy: Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, NXB Văn học, 1994, trang 198.

5. Xem: Phạm Minh Hạc: Giá trị học - Cơ sở lí luận góp phần đúc kết, xây dựng giá trị chung của người Việt Nam thời nay, NXB Giáo dục Việt Nam 2010.

6. Xem: Tạp chí Đông Nam Á số 3 (20) 1995, Giáo trình văn hóa học đại cương và cơ sở của văn hóa Việt Nam - ĐHQGHN - NXB  Khoa học xã hội 1996; Tiếp thu văn nghệ nước ngoài. Kinh nghiệm Việt Nam thời hiện đại, NXB ĐHQGHN 2015.

7. Xem: Đạo Việt Nam dưới nhãn quan Trương Tửu, hup//vnmyblogyahoo.com/kinhphuctu.

8. Xem: Kỷ yếu của Hội thảo; Tạp chí Văn hóa Nghệ An số 63 (8/2005) và số 64 (9/2005). Viétstudies THD số ra ngày 14/7/2010.

10. Xem: Kỷ yếu của Hội thảo; Chuyên san KHXH & NV Nghệ An số 7- 2013.

11. Xem: Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, NXB Khoa học xã hội 1992; Tạp chí Văn hóa Nghệ An số 40 tháng 5-2003.    

Nguyễn Khắc Thuần

 

Nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh sinh ngày 20/10/1926, tại thôn Tường Xá, xã Đức Châu (huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh), ngụ tại số nhà 17, ngõ 12, đường Xuân Diệu, thành phố Hà Tĩnh. Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng, Hội viên Hội sử học Việt Nam, Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Nghệ Tĩnh; cộng tác viên Chuyên san KHXH&NV Nghệ An, đã từ trần lúc 2 giờ 15 phút ngày 4/2/2017 (8/1 âm lịch). Ông là cây đại thụ của văn hóa xứ Nghệ, đã để lại hơn 100 đầu sách, hàng trăm nghiên cứu về văn hóa xứ Nghệ. Vĩnh biệt ông, Chuyên san KHXH&NV Nghệ An xin gửi đến gia đình lời chia buồn sâu sắc và xin gửi đến bạn đọc bài viết "Thái Kim Đỉnh - Trầm tích đất Lam Hồng" như lời tri ân...

Ngày 4/2/2017, nhà nghiên cứu văn hóa xứ Nghệ Thái Kim Đỉnh ra đi vào cõi vĩnh hằng. Ở xa không về dự tang lễ ông, ngay tối hôm đó nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo đã viết trên Facebook mình bài thơ "Đi bộ cùng quá khứ". Bài thơ đã được hàng trăm lượt chia sẻ:

... Không xe máy, ô tô

Anh một đời đi bộ

Từ cổng tre ra phố

Chọn ngõ nhỏ làm quê

 

Đi bộ dọc vỉa hè

Đi bộ về xóm mạc

Đi bộ vào sử sách

Tim tứa máu bàn chân

 

Đi bộ dọc chiến tranh

Đi bộ lên nhiệm sở

Đi bộ cùng con chữ

Đi bộ cùng dân gian

Những cuốn sách xếp hàng

Có cuốn dày cuốn mỏng

Anh đã viết vạn trang

Vẫn chưa vơi khát vọng.

Chân dung ông đã được nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo chấm phá bằng nét độc đáo nhất là ông không biết đi xe đạp, chẳng có xe máy, ô tô, ở nhà cấp 4 làm gần 50 năm rồi, tuổi 90 vẫn lặng lẽ đi bộ đến mọi làng quê, góc phố quê hương chắt chiu gom góp báu vật văn hiến đất Hồng Lam, để lại cho đời hơn 100 đầu sách (đã và chưa xuất bản), hơn 1 vạn trang in về văn hóa xứ Nghệ.

Nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh sinh ngày 20/10/1926 tại làng Tường Xá (Đức Châu, Đức Thọ, Hà Tĩnh), ngụ tại số nhà 17, ngõ 12, đường Xuân Diệu, thành phố Hà Tĩnh trong một gia đình có truyền thống Nho học. Cha, ông nội ông đều là bậc túc nho, tinh thông văn hóa Đông - Tây, kim - cổ. Lớn lên trong môi trường ấy nên từ nhỏ tình yêu văn chương đã thấm sâu vào máu thịt ông. Thấy ông sáng dạ hơn người, lại chăm chỉ, cần cù, bác ruột ông là Thái Đình Kiên, một nho sinh giỏi chữ Hán, thông thạo chữ Tây đã đưa ông về nuôi ăn học. Thái Kim Đỉnh vừa được tiếp thu Kinh thi, Kinh thư, Trung dung, Luận ngữ vừa được tiếp cận với bao điều mới lạ trong Huy - gô, La - mác - tin... từ người bác ruột uyên bác của mình. Sau những năm học tại gia với bác, ông được bác mình gửi vào học ở Trường tổng, trường phủ rồi tiếp đến là trường tư thục Nghĩa Yên (Intitertioa San Josep de Nghia Yen) ,trường duy nhất tại Nghệ - Tĩnh có trình độ tương đương tiểu học, (tốt nghiệp trường này thì được thi lên trung học ở Huế). Trường do một cố đạo người Pháp tên là Lantrade làm Hiệu trưởng. Trường dạy bằng tiếng Pháp nhưng sau giờ học, học sinh phải chuyển ngữ thành tiếng Việt. Một lần, một người bạn chuyển ngữ bài học cẩu thả, thầy Hiệu trưởng nghiêm mặt chỉ trích:

- Anh kém tiếng Pháp còn được chứ kém tiếng Việt thì không thể nào tha thứ!

Câu nói đó đã ám ảnh Thái Kim Đỉnh suốt cuộc đời cầm bút.

Đang học dở dang thì nạn đói thập kỷ 1940 ập về. Nhà bác thiếu đói đứt bữa, bác gái lâm bệnh qua đời, Thái Kim Đỉnh phải bỏ học lần hồi theo cha lên mạn ngược mưu sinh. Thương đứa cháu thông minh hơn người đứt gánh sự học, người cậu ruột là Nguyễn Xuân Đính làm thông dịch viên kiêm bếp trưởng kiêm việc chú dịch chữ Hán cho một cặp vợ chồng người Pháp làm giáo học đã mang ông về nuôi. Kho sách đồ sộ của người cậu và vợ chồng ông bà giáo người Pháp đã tiếp lửa cho Thái Kim Đỉnh tiếp cận ngày càng sâu hơn văn hóa Đông - Tây, kim cổ.

Kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Thái Kim Đỉnh mang cả bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ đi kháng chiến. Năm 1946, ông được kết nạp Đoàn thanh niên cứu quốc, được giao nhiệm vụ làm Bí thư đoàn xã. Năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng và được điều lên làm cán bộ Phòng tuyên truyền huyện Đức Thọ, cũng từ đây sự nghiệp văn hóa của ông được khởi thảo. Với bút danh Vũ Hoàng, thơ ông xuất hiện thường xuyên trên các báo Trung ương và địa phương. Thơ ông mộc mạc, dung dị, đằm thắm tình người. Nhiều bài thơ, câu thơ của ông đọng mãi trong lòng người đọc:

Quê mình nước sóc tháng ba

Bọt bèo thì nổi, phù sa thì chìm!

Được tổ chức phân công làm nhiều việc: Ban liên lạc Bắc Trung bộ, Bưu điện Liên khu 4, thành viên Hội đồng cung cấp chiến dịch Trung Lào, Ban Chỉ huy đắp đê sông La... việc gì ông cũng tận tụy, chu đáo được tín nhiệm cao.

Năm 1954 ông được điều về Ty Thông tin Hà Tĩnh, con đường "học tại gia" của ooông lại mở ra trang mới. Nhà nghiên cứu Đoàn Đức Hoan, phụ trách đầu tiên của Thư viện Hà Tĩnh đã hướng dẫn ông đọc, ghi chép một cách hệ thống, toàn diện và một cơ may lớn trong đời là ông được ở cùng nhà thơ Thanh Minh, người thầy thông tuệ và mẫu mực (Hội trưởng đầu tiên của Hội Văn nghệ Hà Tĩnh). Như con cá kình gặp nước cả, bằng sự tích lũy công phu, dày dặn ông đi vào nghiên cứu văn hóa xứ Nghệ từ lúc nào chẳng hay. Ca trù Cổ Đạm, hát ví Trường Lưu, sắc bùa Kỳ Anh... bao di tích danh thắng, danh nhân,... xứ Nghệ đã được ông tiếp cận, đánh thức và chính những chất liệu văn hóa đặc sắc của xứ Nghệ này lại cảm hóa, thôi thúc ông làm việc quên thời gian.

Công chức mẫn cán thời bao cấp, ông nghèo đến tận cùng cái nghèo. Ăn cơm nhà bếp, nằm giường cá nhân, vợ chồng tằn tiện từng đồng xu để nuôi các con khôn lớn. Rồi vợ ông lại ra đi... bao nhiêu gian khó ập đến... vậy nhưng ngọn đèn dầu trong căn nhà lá vẫn thức thâu đêm. Đời ông chưa một lần sắm xe đạp, đồng hồ nói chi là những điều cao sang khác. Ngôi nhà ông ở ngõ 12 đường Xuân Diệu là một ngôi nhà cấp 4 lọt thỏm giữa một khu dân cư cao tầng, hiện đại. Đến đây nhiều người nói đùa: nhà ông là bảo tàng về nhà ở dân sinh  50 năm trước. Sống đạm bạc mà hết mình vì đồng nghiệp, vì sự nghiệp. Những ai đã đến với ông đều lưu lại trong tâm khảm mình hình ảnh một con người cẩn trọng, nghiêm khắc với chính mình nhưng lại hết sức rộng lòng với bạn bè, đồng nghiệp. Kho tư liệu chép tay đồ sộ hàng chục ngàn trang của ông, kho sách báo của nhà ông đã trở thành tài sản chung của giới nghiên cứu. Ai cần gì ông sẵn lòng, ai nhờ gì ông sẵn tâm giúp đỡ. Ông là người trao ý tưởng cho bao nghiên cứu, bao đầu sách của đồng nghiệp. Dấu ấn ông lặng lẽ giữa đời thường xô bồ, cát bụi. Vì thế những người yêu quý ông đều thích bài thơ "Người đi bộ cùng quá khứ" của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo.

Ba hai năm nghỉ hưu là ba hai năm ông lao động miệt mài dẫu một mắt hỏng do bệnh thiên đầu thống, mắt còn lại chỉ còn 1/2 sức nhìn. Năm 2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quyết định cho in "Tuyển tập Thái Kim Đỉnh". Trong hai năm cuối đời ông đã hoàn thành biên tập cho in 3 tập với hơn 2.200 trang in "Văn hóa dân gian Nghệ - Tĩnh", "Thơ văn quanh truyện Kiều", "Nửa thế kỷ văn nôm Nghệ - Tĩnh", viết xong cuốn sách thứ  104 "Bách thần sự tích" (khoảng 400 trang in) và biên tập sửa chữa xong 2 tập tiếp theo của bộ "Thái Kim Đỉnh tuyển tập", công bố hàng chục bài nghiên cứu khác trên các báo, tạp chí Trung ương, địa phương.

Lao động quên mình trong một tâm thế thảnh thơi không hề vương chút danh lợi, ngày 1/1/2017 ông còn khai bút năm Đinh Dậu:

Thế là ta đã chạm hôm nay        

Trời thả rông ta đến mãi này

Bữa một lưng cơm, còn khoái miệng

Ngày vài trang viết, vẫn chuyên tay

Bài nhài bệnh quấy, ngơ không biết

Rối rắm đời hành, giả chẳng hay

Trăm tuổi, trăm năm còn chín nữa

Thênh thang tháng tháng với ngày ngày.

Không học vị, chẳng học hàm chưa bao giờ được đến trường, đến lớp một cách hệ thống, bài bản, Thái Kim Đỉnh là một tấm gương tự học, học qua sách vở, học qua đồng nghiệp, bạn bè, học trong trường đời. Tiến sỹ Đặng Duy Báu, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã ví: Ông như cây rừng trên Ngàn Hống tự bám vào đất nâu để hóa trầm hương cho đời, cho quê hương đất nước.

Nhưng rồi quy luật sinh, lão, bệnh, tử nghiệt ngã đã đến với ông. Ông ra đi, cây cổ thụ ngã xuống trống vắng cả khoảng trời đất Hồng Lam. Xin mượn 4 câu thơ của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo để kết lại bài viết này:

Giờ trong cõi hư vô

Anh còn đi tìm chữ

Đi bộ vào quá khứ

Bóng đổ về tương lai.

Nguyễn Văn Đổng

Từ điểm đầu thuộc xã Nam Lộc, huyện Nam Đàn, đi theo tỉnh lộ 533 khoảng hơn 10 km, qua trung tâm xã Thanh Lâm khoảng 1 km và kéo dài đến cầu Kho, đó là đất làng cổ Liễu Nha - thuộc vùng hạ huyện Thanh Chương, quanh năm ruộng đồng chiêm khô không lấy gì làm màu mỡ, nhưng lại tự hào là vùng đất giàu truyền thống hiếu học và cách mạng. Cho đến ngày nay, làng vẫn còn lưu giữ nhiều nét cổ xưa với những giếng làng, đền chùa, miếu mạo, với những huyền tích núi bút, non nghiên,…

Làng kéo dài theo chân núi, sau lưng là núi, trước mặt là đồng, ở phía bên kia cánh đồng là dãy Kim Nghê và xa hơn nữa là dãy đại ngàn hùng vĩ. Làng Liễu Nha còn có tên là làng Nghè, sau này còn có tên là Lưỡng Nghi do được lập nên từ 2 xóm Nghi Văn và Nghi Xuân,... Chuyện kể rằng, ngày xưa, trong làng có người học giỏi, thi cử đậu đạt, trở thành "ông nghè", được vinh quy bái tổ, làm rạng cả làng. Từ đây, tên đất, tên làng, tên núi, tên khe hay đồng ruộng,… đều có danh xưng kèm theo là Nghè, như một cách ghi nhận, tôn vinh, lưu danh của dân gian. Giữa cánh đồng làng, kể cả về mùa mưa lũ, nổi lên trên sóng nước, vẫn còn đó hai mô đất, dấu tích của non Nghiên, núi Bút, được người xưa đắp nên để tượng trưng, nhắc nhở cho cháu con về truyền thống hiếu học của làng.

Làng xưa xây dựng nhiều đền, chùa. Dưới chân núi gần cánh "đồng Chùa", ngày trước đã từng tồn tại hai ngôi chùa. Chùa Em, ở phía trên với những bệ đá rêu phong. Chùa Anh ở phía dưới uy nghi với nhiều tượng phật, có sư trụ trì. Sát chân núi Nghè có đền Cao Sơn thờ đức Cao Sơn Đại vương với hai toà thượng, hạ, tượng quan Tả, quan Hữu oai phong, ẩn dưới 3 cây đa cổ thụ; dưới chế độ phong kiến, đền đã được các triều đại sắc phong. Thật tiếc là, trải qua dâu bể, những đền, chùa này đều đã bị đổ nát do mưa bão, do rêu phong thời gian và gần như bị "lãng quên" mất một thời gian khá dài do hoàn cảnh thực tế. Mãi sau này, bà con nơi đây mới phục dựng được một phần nào như là để lưu giữ dấu tích truyền thống của làng. Một số hiện vật cổ xưa còn lại của đền Cao Sơn như long ngai, sắc phong, bài vị, kiệu rước,… hoặc là được thỉnh về thờ ở nhà thờ của dòng họ lớn trong làng hoặc là đã bị thất lạc. Trên núi Họ, sau làng, thấp thoáng giữa cây rừng xanh ngắt là đền Lâm Si, thờ thần bản cảnh. Đứng trước cửa đền, phóng tầm mắt ra xa, nhìn bao quát làng xóm, núi non, ruộng Chọ, ruộng Nghè, khe Nghè… nhấp nhô, uốn lượn hữu tình. Một thời cũng chỉ còn dấu tích, nay đền Lâm Si đã được nhân dân địa phương phục dựng lại tương đối khang trang nhưng cũng chỉ ở quy mô rất nhỏ so với lịch sử. Di tích hai ngôi đền cổ nói trên, hiện là những địa điểm sinh hoạt văn hoá tâm linh của người dân trong làng cũng như nhiều vùng lân cận khác.

Ven làng, có đình Liễu Nha, ngoảnh mặt ra đồng, hướng nhìn non Nghiên, núi Bút, ngày xưa cũng gọi là đình Nghè. Theo các cụ cao niên, đình được xây dựng vào giữa thế kỷ XIX để thờ Thành hoàng làng và là nơi sinh hoạt của cộng đồng làng xã. Theo tư liệu lịch sử, đình Liễu Nha gồm đình thượng, 2 gian nằm dọc, gian sau cùng để hương án thờ tự; đình hạ 5 gian 2 hồi, 2 gian hai đầu, đặt 2 bục ghế cho quan viên văn, võ. Mỗi năm tại đình làng thường tổ chức cúng tế đầu xuân, cầu mong sức khỏe, mưa nắng thuận hoà, mùa màng tươi tốt. Trong làng có người đậu đạt, nơi đây sẽ diễn ra lễ vinh quy, và tổ chức khao làng của những nho sinh trúng tuyển. Những năm thuộc Pháp, đình làng là sân diễn của nhiều vở tuồng cổ, mang nội dung lịch sử, bồi đắp tinh thần yêu nước, căm thù giặc cho nhân dân… Sau thời gian dài vắng bóng đình xưa, năm 2011, đình Liễu Nha đã được người dân nơi đây, dưới sự kêu gọi của các bậc cao niên và sự ủng hộ của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, phục dựng được phần nào trong niềm mong đợi của bà con. Vẫn đình hạ, đình thượng tọa lạc trên vị trí xưa, có cổng nghê chầu khá đẹp, tất nhiên không được như xưa cả về quy mô và sự cổ kính, oai nghiêm. Đình thượng hiện không chỉ thờ Thành hoàng mà còn là nơi lưu danh, tưởng nhớ những anh hùng liệt sĩ của làng.

Làng Liễu Nha có 2 giếng cổ. Bên phải đình, dưới chân núi Nghè có giếng Côi. Bên trái đình, dưới chân núi Họ, gần đền Lâm Si có giếng Thống. Giếng làng tồn tại từ thuở xa xưa, là rốn mạch nước ngọt chảy từ trong núi, cung cấp nguồn nước chính cho làng. Mùa hạ bỏng rát gió Lào, dù mọi nơi khô hạn, héo khô, nhưng giếng làng vẫn không bao giờ cạn nước… Sau thời gian rơi vào quên lãng, nay giếng làng đã được người dân tu sửa, ghép đá, xây thành, lát nền sạch đẹp. Với người dân làng Nghè, giếng làng không chỉ là mỏ nước sạch phục vụ sinh hoạt, mà còn là nơi gặp gỡ, giao thân của tình làng nghĩa xóm.

Giữa làng có nhà thờ họ Nguyễn, nổi tiếng với những vị tiên hiền học rộng, những chiến sĩ cách mạng kiên cường bất khuất, có công lớn với dân, với nước trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc: Cụ cử - Giám sát ngự sử - Tham biện quân vụ Nguyễn Đức Lân, con trai Cụ - Giải nguyên - Hàn lâm viện kiểm tịch, Tham biện quân vụ, Chánh sứ sơn phòng Nguyễn Văn Chính; đến cháu nội Cụ - Phó Thủ tướng Nguyễn Côn; rồi người dâu hiền của dòng họ - Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, bà Tôn Thị Quế,… Nhà thờ họ Nguyễn đã từng là nơi hội họp bàn kế đánh giặc của các sĩ phu trong phong trào Cần vương, là nơi hoạt động bí mật của các tổ chức Tân Việt, Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Từ khi Đảng ra đời, nơi đây là địa điểm hội họp bí mật của các đảng viên, chiến sĩ cách mạng, là nơi in ấn, cất giấu tài liệu, khẩu hiệu đấu tranh của Đảng… Hiện nay, nhà thờ họ Nguyễn là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh, là nơi thăm viếng tưởng niệm của con cháu họ Nguyễn cũng như du khách gần xa. Con cháu dòng họ Nguyễn ngày nay tiếp tục phấn đấu vươn lên, kế tục truyền thống vẻ vang của ông, cha mình và góp sức xây dựng đất nước, quê hương.

Cụ Nguyễn Văn Tơng (96 tuổi), dù tuổi cao sức yếu, nhưng tiếng cười vẫn còn sảng khoái, với chòm râu bạc, đậm cái tình người và chất đất, chất nước nơi đây. Cụ cho biết, người làng chất phác, thuần hậu, chăm chỉ làm ăn; ngày mùa, tất bật lo toan, ngày ba tháng tám rảnh rang, ưa tuồng chèo tích cổ. Trong làng, ngoài đình, thường diễn ra tuồng Trưng Trắc, Trưng Nhị, người xem như hội; múa "gà người", nơi nơi huyên náo vui tươi. Mùa lụt, ruộng đồng ngập trong biển nước, người Liễu Nha vẫn chèo thuyền, bên nam, bên nữ, hát vè, hát đối vang vọng xóm làng. Những đêm gió mát trăng thanh, còn đi giao duyên với các làng gần, làng xa trong tổng…

Người Liễu Nha muôn đời vẫn vậy, dẫu cuộc sống còn lắm khó khăn, cứ vươn lên như lúa, sắn, ngô, khoai của vùng rốn lũ Bích Triều. Con cháu làng Nghè vẫn tiếp bước cha ông, như mong đợi của tiền nhân gửi gắm vào núi Bút, non Nghiên trước cánh đồng làng. Chẳng còn cảnh "Phàm như các chủ làng Nghè/ Đến mùa cày cấy ăn thuê mà rầu". Sân đình, giếng nước năm xưa, lại ấm tình thôn dã đồng quê, chất chứa, lắng sâu thêm, nét duyên làng cổ!

Trần Ngưỡng

Đền Cờn thuộc làng Phương Cần, phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An. Quá trình hình thành, phát triển của đền là sự tổng hoà giữa lịch sử và huyền thoại. Những câu chuyện sử sách ghi chép thì trong đó cũng mang nhiều chi tiết được khắc họa đầy vẻ hoang đường. Phải chăng những ngôi đền càng linh thiêng thì trong đó nó chứa đựng nhiều giai thoại về tâm linh bấy nhiêu? Và như thế đền đã thu hút, hấp dẫn sự tìm hiểu, khám phá và cầu tài, cầu lộc của người dân.

Trước hết hãy xem xét các địa hình, địa danh của đền và xung quanh đền Cờn. Đó là một vùng đất được gắn với những cái tên rất gợi, gắn với những câu chuyện lịch sử, huyền thoại. Trong vùng có hai gò cao thì được gọi là đồi Quạ và đồi Thằn Lằn. Đồi Thằn Lằn cũng có thể gọi là đồi Rồng và có một tên khác là Hùng Vương. Đồi Hùng Vương làm ta nhớ tới lịch sử vua Hùng. Đền Cờn dựng trên thế đầu Phượng hoàng, hai ngọn đồi giăng hai bên đền được ví là hai cánh Phượng. Phía Nam làng Phương Cần (Quỳnh Phương), là làng Thượng Lân, Hạ Lân (Quỳnh Liên). Tiếp đó có núi Quy Lĩnh thuộc làng Phú Lương (Quỳnh Lương). Quy Lĩnh tức là núi Rùa. Phương Cần có sông biển, đồi núi và các làng xung quanh đã tạo nên một mảnh đất Tứ linh có: Long, Lân, Qui, Phượng để trên đó là một đền Cờn uy nghi, linh thiêng. Thật là một vùng đất: sơn thuỷ hữu tình; vừa hùng tráng vừa nên thơ in đậm dấu vết lịch sử đã gợi bao thi tứ cho các khách làng thơ (Phó Giáo sư Ninh Viết Giao). Đại thi hào Nguyễn Du khi về đây đã để lại bài thơ:

Giao vọng Càn Hải Từ                                                                          Mang mang hải thuỷ tiếp thiên xu                          

                       Ẩn ước cô từ xuất tiểu chu (châu)

Cổ mộc hàn liên phù chữ mộ

Tinh yên thanh dẫn hải môn thu        

Hào thiêng tướng tướng đan tâm tận

              Phủ địa Quỳnh Nhai khối nhục vô                       

Tiểu nhĩ Minh Phi trường xuất tái        

    Tỳ bà bôi tửu khuyến thiên vu

Dịch thơ:

Xa trông đền Cờn

Mặt nước mênh mông bể lẫn trời

Ngôi đền thấp thoáng bãi ngoài khơi

Bến phù chiều tới cây man mác

Cửa bể thu dồn khói tả tơi

Khanh tướng uổng bao lòng tiết nghĩa

Quỳnh Nhai vùi khối thịt mồ côi!

Nực cười cho ả Minh Phi nhé

Rượu chuốc đàn ngân nịnh chúa hời.

(Phan Khắc Khoan Lê Thước dịch)

Đền Cờn đã được ba lần trùng tu, nâng cấp từ các triều đại Trần - Lê - Nguyễn để ngày càng to đẹp, kiến trúc tinh xảo mang bản sắc văn hoá Việt cách đây từ hơn 700 năm. Trong đền có nhiều đồ thờ, đồ tế khí rất quí được vua ban, được nhân dân nhiều nơi cung tiến và nhân địa phương quyên góp mua sắm. Đền được vua Trần Anh Tông phong thần là Quốc gia Nam hải đại Càn Thánh nương. Đền Cờn được tôn vinh là ngôi đền to đẹp linh thiêng nhất xứ Nghệ: Đền Cờn, đền Quả, Bạch Mã, Chiêu Trưng. Sự tàn phá của chiến tranh đã làm đền Cờn hư hỏng nặng. Sau khi đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, đền Cờn được tôn tạo lần thứ tư và được nhà nước công nhận là Di tích Văn hoá quốc gia.

Đền Cờn tọa lạc trên một vùng núi non, sông biển và nơi đây tướng quân Lý Nhật Quang cho xây cảng Xước, một trong những cảng biển lớn của đất nước làm nơi đồn trú và giao thương. Với đặc điểm đó, nhân dân địa phương mong ước có một sức mạnh to lớn nào đó chế ngự thiên tai, phù hộ quân lính nhà vua đi đánh giặc là chiến thắng; phù hộ cho nhân dân gặp được may mắn, tránh rủi ro trong cuộc sống mà cụ thể là: Đi biển, đi trẩy thì sóng yên, biển lặng được nhiều tôm cá, hàng hoá lưu thông may mắn; làm nông mưa gió thuận hoà được mùa ngô lúa; có nhà, có thuyền đi làm nghề, có lương thực để ăn. Đó là ước mơ rất giản dị của người lao động thời bấy giờ. Sức mạnh tối cao đó, theo các nhà khoa học là Nhiên thần, tức là thần Nước. Từ thờ thần Nước, một vị thần trong trí tưởng tượng (thờ gián tiếp), tiếp đến là thờ hai vật thể rất gần gũi với đời sống nhân dân địa phương là: Mộc thần (cây gỗ) và Cốc thần (hạt lúa). Đây là hai vị thần thờ trực tiếp. Gỗ để làm nhà, đóng thuyền. Lúa, lương thực nuôi sống bản thân mình. Dần dà theo thời gian, đền được các triều đại phong kiến và cả nhân dân lao động gắn vào những nhân vật huyền thoại; những anh hùng vì nước vì dân, cứu nhân độ thế để thờ và phối thờ. Và thế là đền Cờn thờ cả Nhiên thần và Nhân thần. Đó là một điểm đặc sắc của đền Cờn trong quan niệm thờ cúng như ở nhiều nơi trên đất Việt Nam.

Lễ chạy Ói có lẽ cũng xuất phát từ đó chăng? Chuyện kể rằng Cây gỗ thần trôi vào cửa Cờn, không được nhân dân ở đây chú ý, nên đã trôi vào vùng núi Quy Lĩnh (Phú Lương). Thấy cây gỗ lạ khi chặt vào thì có mùi hương toả ra và chảy máu, nhân dân Phú Lương cho là gỗ thần và vớt gỗ lên thờ. Sau đó, nhân dân làng Phú Lương ai khấn nguyện cây gỗ thì đều được như ý. Từ đó, Phú Lương làm ăn phát đạt. Bên cạnh đó Phương Cần thì lại xảy ra nhiều chuyện chẳng lành như người ốm đau, gia súc chết, ra khơi tôm cá không được nhiều. Thấy sự lạ đó, làng Phương Cần cho người xuống tìm hiểu. Khi biết rõ sự thật, đã bố trí trai tráng trong làng đi cướp gỗ thần về thờ. Dân Phú Lương mất gỗ đã làm đơn kiện từ huyện lên tận nhà vua nhưng không được. Một giả thiết thứ hai mang tính thực tiễn là ngày xưa núi Quy Lĩnh nhiều gỗ tốt, dân Phương Cần cần có gỗ làm nhà, đóng thuyền nên đã đi thuyền lên vùng núi Quy Lĩnh, Phú Lương để chặt gỗ. Thế là nhân dân hai xã có sự tranh giành nhau; bên này thì chặt gỗ; bên kia thì giữ không cho. Từ đó, hàng năm nhân dân Phương Cần (Quỳnh Phương) có lễ hội chạy Ói chăng?

Thần được thờ ở đền là Tứ vị Thánh nương cũng có nhiều giả thiết, mỗi sách ghi chép một cách khác nhau. Trước hết nhân vật chính của Tứ vị là: Thái hậu, Hoàng hậu, Cung phi hay Phu nhân? Các nhân vật phụ trong Tứ vị là ba người con gái, hay hai người con gái của vị trên kia và để thêm một nhân vật nữa là nhũ mẫu, ông sư, hoặc một người dân địa phương cho đủ Tứ vị. Nhân vật chính của Tứ vị nghe tin vua con chết đã nhảy xuống biển tự vẫn rồi trôi dạt vào cửa Cờn, hay bám thuyền rồi dạt vào cửa Cờn và sau đó nhảy xuống biển tử vẫn để giữ tiết trinh và các con cũng chết theo. Dẫu các giả thuyết có khác nhau thì ta cũng có thể khẳng định: Ở cửa Cờn đã xảy ra sự kiện về cái chết thảm thương của các bà hậu, bà chúa và các công chúa nước Tống là có thật và được nhân dân địa phương cứu vớt, nuôi dưỡng, chôn cất, đưa vào thờ trong đền. Từ đó, nhân dân nhận thấy đền linh thiêng hơn. Không những phù hộ cho dân mà thần đền đã giúp hai vị vua nước Việt đánh thắng giặc phương Nam là Trần Anh Tông và Lê Thánh Tông… Lịch sử còn chép lại: Nhiều năm mùa màng bị sâu keo, hạn hán, Tri huyện Quỳnh Lưu, Tổng đốc Nghệ An đã về đền Cờn cầu đảo và được trời ban mưa, cứu giúp mùa màng. Những điều đó là ngẫu nhiên, sự thật hay huyền thoại cũng xin được nêu ra để suy ngẫm. Sự linh thiêng và vị thế đền Cờn đã được khẳng định trong lịch sử dân tộc. Từ khi có đền Cờn thì đời vua nào cũng có sắc phong (theo sự tích đền Cờn). Tính từ đời vua Lê Thần Tông (1619-1628) đến năm 1945, sắc phong hiện còn 32 đạo. Các vị thần được thờ và phối thờ ở đền Cờn (đền Trong) như sau:

Thượng điện, nơi linh thiêng nhất, cửa điện chính thờ Tứ vị Thánh nương. Hai bên tả hữu thờ khúc gỗ và hạt lúa.

Trung điện thờ Quan Đệ Tam. Quan Đệ Tam là con trai thứ ba của vua Bát Hải Động Đình, được vua giao cai quản chốn Long Giai, thường cùng hai người em giáng trần đi khắp miền sông biển, phù hộ cho ngư dân và giúp vua đánh giặc.

Hạ điện thờ cộng đồng, thờ Tam tòa Thánh mẫu. Các nữ thần được thờ đại diện cho thiên nhiên như Mẹ Đất, Mẹ Nước, Mẹ Lúa; các nữ anh hùng Công chúa, Hoàng hậu, hay bà tổ làng nghề. Các vị thần vừa có quyền năng, vừa là người mẹ bao dung, che chở cho muôn dân.

Uy nghi trong ngôi nhà vàng là tượng vua Bát Hải Động Đình trong truyền thuyết dân gian từ thời lập quốc cách đây 4.000 năm. Gian bên phải thời Đức Thánh Trần (Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn) vị anh hùng dân tộc, tên tuổi lừng danh thế giới. Gian bên trái thờ Phật quan âm và Tam bảo Tôn Quan. Một cách phối thờ theo tín ngưỡng truyền thống Việt Nam.

Đền Ngoài: Đền tọa lạc trên núi Thằn Lằn (hòn Rắn); tên chữ là Hùng Vương, phía sau là núi Hạc, có rừng cây "Hạc cấm". Đền thờ Đế Bính và ba vị trung thần là Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu, Văn Thiên Tường. Trước đền là biển.

Quá trình thờ cúng và tế lễ hàng năm, đền Cờn được chắp nối thêm những câu chuyện huyền thoại, sự linh nghiệm trong tâm thức của nhân dân và được nhân lên khi các triều vua phong tước, tu bổ, nâng cấp đền.

Những giả thiết và sự hiện hữu các nhân vật lịch sử, vật thiêng được phối thờ trong đền theo quan điểm: Lập quốc, chống ngoại xâm, ổn định dân tình, dân tâm khi xã hội đang biến chuyển.

Con người ta tồn tại trên đời gồm có hai mặt: Đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Khi vật chất càng đầy đủ thì nhu cầu về đời sống tinh thần càng cao. Tâm linh là một nội dung lớn của đời sống tinh thần. Theo từ điển: Tâm linh cái trí tuệ tự có trong lòng người, khi  không giải thích được những hiện tượng bí ẩn trong thiên nhiên và trong cuộc sống thì con người tìm đến tâm linh, tức là tìm đến cái trí tuệ tự có của mình. Đó là sự tín ngưỡng vào một sức mạnh siêu phàm trong trời đất giúp giải thoát bế tắc. Hoặc là phù hộ sự may mắn trong cuộc sống.

Sự linh thiêng của đền được thể hiện trong lễ hội hàng năm. Từ khi được liệt vào hạng quốc tế, đền được triều đình cho tục lệ: Dân chuyên hầu hạ, phục dịch đền được miễn các loại thuế, không phải đi lính, đi phu và tạp dịch của Nhà nước. Có như vậy, nhân dân  mới có đủ điều kiện tổ chức lễ hội. Nhiều triều vua đã có chiếu, lệnh chỉ, luật lệ đối với việc tế lễ đền Cờn. Lễ hội kéo dài hơn một tháng, sau ngày Vạn thuyền mành đưa quan Phụng Sai về làng, từ trung tuần tháng Chạp cho đến 21 tháng Giêng âm lịch năm sau. Xin được khái quát ngắn gọn như sau:

Các lễ phụ diễn ra trong một tháng, từ 15 tháng Chạp đến 14 tháng Giêng năm sau. Từ 15 đến 20 tháng Chạp các giáp trong làng chuẩn bị các điều kiện cho lễ hội. Ngày 21 đến 25 tổ chức hội bơi thuyền, lễ chạy Ói. Đêm Giao thừa là lễ "cướp" đuốc, "cướp" nhang. Sáng mồng một tết là lễ đưa các đức thánh đi du xuân trong giang phận làng Phương Cần. Từ mồng 4 đến mồng 7 tháng Giêng là lễ tế trầu, tế trâu, tế bánh. 7 ngày tiếp theo là chuẩn bị cho lễ chính thức sau rằm.

Ngày 15 lễ "nghiệm quân", gồm các nghi lễ: Rước nước, mộc dục, gia quan.

Ngày 16: Lễ rước các Thánh ở đền Trong, đền Ngoài lên chùa Càn Long.

Ngày 17: Rước các Thánh từ các đền ra đình Chợ.

- Ngày 18: Đại tế tại đình Chợ.

- Ngày 19: Buổi sáng đại tế của các nữ quan. Vì thờ nữ thần nên có tế nữ quan. Buổi chiều ban phụng sự vào lễ tất rồi rước các thần đền nào về đền ấy.

- Ngày 20: Buổi sáng, tế yết tại đền Trong và đền Ngoài. Chiều đưa 2 con voi, 2 con ngựa ra đình tháng Ba bên cạnh đền Trong để chuẩn bị làm lễ phát tích.

- Ngày 21: Lễ phát tích, lễ quan trọng nhất trong lễ hội đền Cờn. Lễ rước Ngai với tàn, quạt, lọng, giáo, mác, bát bửu và cờ lệnh, cờ ngũ hành, có chiêng trống và một người vác biển khắc 3 chữ: Thượng thượng đẳng. Tiếp đến là đội gồm 32 nữ quan, sau là đội võ quan. Đoàn rước từ đền Cờn rước xuống, đoàn từ bãi Ói rước lên đến vụng Ngâm gặp nhau để làm lễ ngai chồng vào kiệu. Tế xong, rước thần về đình tháng Ba. Tiếp tục tế lễ, rồi đưa các thần ở đền nào về đền đó.

Lễ hội đền Cờn xưa trang nghiêm, phong phú, vui nhộn mang được bản sắc của một vùng sông biển trù phú với các câu chuyện lịch sử và huyền thoại. Nhân dân địa phương phấn khởi, tự nguyện tổ chức. Khách thập phương trong huyện, trong tỉnh, ngoài Bắc trong Nam đông đảo về dự hội. Khách đến với Lễ hội đền Cờn mỗi năm mỗi đông. Mọi người dự lễ đều mang một tâm tưởng tín ngưỡng mong các vị thần phù hộ cho mọi người trong cộng đồng, nhất là điều mình đã ước muốn trong năm tại đền thiêng. Khi mọi người đến với khuôn viên đền Cờn cũng thấy hoá thân nhập cuộc. Dù mệt mỏi đi xa nhưng khi đã "tắm gội" vào không gian thiêng của đền đều cảm thấy nhẹ nhàng tâm hồn vì được gần gũi các vị Thánh nương và các vị thần khác. Từ đó như có ma lực để người dân địa phương mong muốn lễ hội đến để đi làm lễ và chiêm bái đền Cờn.

Ngày nay, được sự quan tâm chỉ đạo của Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch Nghệ An, thị xã Hoàng Mai, xã Quỳnh Phương đã từng bước khôi phục lại Lễ hội đền Cờn sau hơn 40 năm gần như bị lãng quên. Tuy nhiên, Lễ hội chỉ diễn ra trong 2 ngày 20 và 21 tháng Giêng hàng năm. Bởi vì đất nước ta đang ở giai đoạn công nghiệp hóa; các cơ sở vật chất cho lễ hội được trang bị khá đầy đủ. Tại lễ chính các nghi thức đã được khôi phục cơ bản. Các trò chơi dân gian được duy trì. Hội đua thuyền được tổ chức giữa thanh niên Quỳnh Phương và các xã biển lân cận.

Lễ hội đền Cờn ngày nay khách đến dự lễ rất đông; không chỉ dân trong huyện, trong tỉnh mà có cả đông đảo nhân dân một vùng rộng lớn Thanh Hoá, Nam Định, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Thừa Thiên-Huế. Những ngày thường, nhất là vào các ngày cuối tuần, ngày mồng một, ngày rằm nhân dân từ nhiều nơi hành hương về chiêm bái đền Cờn ngày càng đông.                                Điều đó khẳng định sức sống lâu bền về hoạt động tinh thần của đền Cờn Quỳnh Phương, Hoàng Mai, Nghệ An.   

Hồ Thủy

 

Đô Lương dệt gấm thêu hoa

Quỳnh Đôi tơ lụa, thủ khoa ba đời

Hơn 635 năm thành lập, xã Quỳnh Đôi nổi tiếng với bề dày truyền thống hiếu học, thời phong kiến, làng Quỳnh Đôi đã nổi danh về thành tích đỗ đạt với 535 tú tài, 208 cử nhân, 4 phó bảng, 6 tiến sỹ, 2 hoàng giáp, 1 thám hoa, 1 bảng nhãn. Thậm chí, có những gia đình ở làng 3 cha con đều thi đậu. Thời Pháp thuộc, nơi đây là quê hương của Nguyễn Xuân Dương, Phạm Đình Tân - hai người đều đỗ thủ khoa trường ĐH Luật khoa ở Đông Dương. Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, Quỳnh Đôi có 3 viện sỹ, 13 giáo sư - phó giáo sư, 30 tiến sỹ, 48 thạc sỹ và hơn 1.000 cử nhân.

Từ nhiều nguồn sử liệu khác nhau, Quỳnh Đôi được ghi lại là "làng nằm ở phía Bắc huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, xưa là một vùng cây hoang, cỏ dại giáp sông Mai (gọi là sông Mõ), gần biển cửa Quèn là một trong ba cửa biển của huyện Quỳnh Lưu: Cửa Cờn (Càn), Cửa Quèn (Quyền), Cửa Thơi (Thai)". Quá trình thành lập, xây dựng và phát triển của làng Quỳnh gắn với ba dòng họ lớn là họ Hồ khai cơ, họ Hoàng lập cơ và họ Nguyễn triệu cơ, tính đến nay đã hơn 630 năm có lẻ. Từ một vùng đất hoang vu, cỏ dại mọc um tùm, ông tổ Hồ Kha từ Tiên Sinh qua Bào Đột đã biết nương tựa vào hướng sông, thế núi để khai mở địa vực, biến miền đất hoang vu thành một làng trù phú như hiện nay.

Năm 1378, Hồ Hồng, con trai cả của Hồ Kha, sau khi được cha giao lại đã cùng với Hoàng Khánh, Nguyễn Thạc tiếp tục sự nghiệp khai hoang lập làng, chiêu mộ nhân dân xây dựng làng Quỳnh ngày càng phát triển, trù phú.

Lịch sử hình thành đền Thần ở làng Quỳnh

Đền Thần, còn gọi là đền Hoàng làng là một công trình văn hóa tiêu biểu của làng Quỳnh, giữ một vài trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân làng Quỳnh vì sự linh thiêng được truyền tụng từ bao đời nay.

Đền Thần thờ "Mộc Lôi linh ứng - Thượng đẳng tôn thần". Đến bây giờ người dân làng Quỳnh vẫn kể cho nhau giai thoại về đền Thần. Phía trước đền Thần trước đây có địa điểm gọi là Bụi Cụt, ngôi đền được xây ở đó để thờ nhiên thần Mộc Lôi linh ứng. Tuy nhiên, một lần bị sét đánh ngôi đền cháy trụi nên dân làng đã chuyển về xây dựng tại địa điểm hiện nay vào năm 1845. Trong tâm thức của người dân làng Quỳnh, nhiên thần Mộc Lôi linh ứng có vị trí quan trọng, công đức của ngài không bao giờ kể xiết nhất là ở buổi đầu sơ khai lập làng với bao khó khăn, gian truân. Hiện nay, ngoài thờ Mộc Lôi linh ứng thì đền Thần còn phối thờ  bốn vị tổ họ Hồ, họ Hoàng và họ Nguyễn đã lập làng và phát triển Thổ Đôi Trang đó là Hồ Kha, Hồ Hồng, Hoàng Khánh và Nguyễn Thạc.

Để ghi nhớ công ơn khai cơ, lập nghiệp của các ông Hồ khai cơ, Hoàng lập cơ, Nguyễn triệu cơ, từ nhiều thế kỷ trước, dân làng Quỳnh Đôi đã tôn vinh các ông là Thành hoàng làng. Cả bốn ông Hồ Kha, Hồ Hồng, Hoàng Khánh, Nguyễn Thạc được các triều đại quân chủ ban sắc phong là Dực bảo trung hưng linh phù chi thần và sắc cho dân làng hương khói thờ phụng, được phối tế thờ tại đền Thần. Việc các triều đại quân chủ Việt Nam sắc phong cho các ông là Thành hoàng làng, giao cho dân phụng thờ và tế lễ theo điển chương chế độ nhà nước đã phần nào ghi nhận và khẳng định công lao của bốn ông đối với địa phương nói riêng và đối với sự phát triển của đất nước nói chung. Tên tuổi của các nhân vật lịch sử Hồ Kha, Hồ Hồng, Hoàng Khánh và Nguyễn Thạc cần được tôn vinh xứng đáng với những gì mà các ông đã cống hiến.

Căn cứ vào nội dung, ý nghĩa lịch sử - văn hóa và giá trị nghệ thuật của di tích đền Thần. Chính quyền ba cấp, xã - huyện - tỉnh và cơ quan văn hóa cấp huyện - tỉnh thống nhất đề nghị Bộ Văn hóa Thông tin và Thể thao ra quyết định công nhận di tích đền Thần là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia, nhằm bảo vệ một cách hiệu quả di sản văn hóa dân tộc. Ngày 31-10-2013, đền Thần được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích Lịch sử Quốc gia tại Quyết định số 3821/QĐ - BVHTTDL.

Lễ hội Kỳ Phúc ở làng Quỳnh

Lễ hội Kỳ Phúc được hiểu là lễ hội "rước kiệu mừng sinh nhật Thành hoàng làng" (hiểu theo nghĩa Hán Việt của từ Kỳ Phúc), cầu cho mưa thuận gió hòa, may mắn, no đủ đến mọi người dân. Đối với làng Quỳnh, Lễ hội Kỳ Phúc có giá trị lịch sử văn hóa truyền thống đặc trưng, thể hiện chiều sâu và độ dày về văn hóa cộng đồng, mang đậm bản sắc của một làng quê có lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển hơn 600 năm. Lễ hội cũng là dịp để con cháu trong cộng đồng các dòng họ tỏ lòng tri ân, tưởng nhớ tới công lao của các thế hệ cha ông đã có công khai cơ lập làng.

Lễ hội Kỳ Phúc làng Quỳnh tồn tại từ cách đây hàng trăm năm tại đền Thần với nhiều hoạt động lễ, hội phong phú và đa dạng, nhưng qua những thăng trầm, biến thiên của lịch sử, Lễ hội bị gián đoạn từ sau năm 1945 và đã thất truyền hơn 60 năm nay. Năm 2012, UBND xã Quỳnh Đôi đã phối hợp với Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam xây dựng kịch bản khôi phục Lễ hội Kỳ Phúc. Lễ hội Kỳ Phúc được phục dựng vừa mang đậm bản sắc của lễ hội truyền thống vừa pha trộn những nét văn hóa hiện đại phù hợp giai đoạn hiện nay đã thỏa tâm nguyện của đông đảo người dân làng Quỳnh, đáp ứng đời sống văn hóa tâm linh phong phú của người dân nơi đây.

Lễ hội Kỳ Phúc được diễn ra từ ngày 9 - 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm, được tổ chức tại đền Thần và sân đình làng với hai nội dung chính gồm phần lễ và phần hội.

Phần lễ là sự bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn của nhân dân đối với các vị Thành hoàng làng vì thế được tiến hành trong một không khí trang nghiêm và linh thiêng trước bàn thờ Thành hoàng.

Phần lễ bao gồm 6 lễ: Lễ khai quang - lễ yết cáo, lễ rước kiệu, lễ tạ, lễ cầu an, lễ dâng hương, lễ tất. Phần tế lễ tổ chức long trọng, trang nghiêm, thực hiện theo nghi lễ truyền thống thành kính, giữ gìn, bảo tồn nét đẹp văn hóa trong tế lễ. Lễ rước theo thứ tự mang tính truyền thống diễn tả được nét đẹp phong tục tập quán truyền thống của quê hương, biểu dương sức mạnh cộng đồng. Nét đặc sắc của phần lễ chính là phần diễn xướng treo thư họa viết những câu nổi tiếng ca ngợi làng Quỳnh Đôi, những vị tiến sỹ, văn nhân nổi tiếng của làng. Đặc biệt, phần diễn xướng treo chữ "Quỳnh" nhắc tới truyền thống hiếu học, lịch sử đỗ đạt và nghề làm thầy của làng Quỳnh.

Văn tế lễ Kỳ Phúc tại đền Thần có đoạn rằng: "Vào năm thứ 14, cụ Hồ Kha, Thái thủy tổ họ Hồ đã nhìn thấy ở vùng đất hoang sơ, mà nay là xã Quỳnh Đôi, một thế đất "địa linh nhân kiệt", nơi đây con cháu có thể hưởng được phúc lộc dài lâu và Cụ đã quyết định khai cơ, lập làng tại nơi đây. Sau đó, con trai trưởng của cụ là Hồ Hồng cùng các cụ Nguyễn Thạc và Hoàng Khánh đã về đây xây dựng nên Thổ Đôi trang, "đất lành chim đậu" không lâu sau các vị Thủy tổ họ Dương, họ Phan, họ Phạm và Thủy tổ nhiều dòng họ khác lần lượt tiếp nối nhau về tụ ở mảnh đất này, tạo nên một xóm làng trù phú đông vui.

Từ buổi khai cơ, dân làng Thổ Đôi Trang đã được Mộc Lôi linh ứng thượng đẳng tôn thần hiện về bảo hộ: Mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, học hành đỗ đạt, công đức của ngài không sao kể xiết. Thiết nghĩ:

Cây xanh tươi tự gốc

Nước trong đục tự nguồn

Nhờ sự phù hộ độ trì của vị thánh thần, nhờ phúc ấm của các vị tổ tiên, Thổ Đôi Trang, nay là xã Quỳnh Đôi đã liên tục phát triển theo dòng lịch sử, đời nào cũng có nhân tài kiệt xuất đóng góp vào sự hưng thịnh của đất nước ở tất cả các lĩnh vực khác nhau.

Ngày nay, đất nước đổi mới, quê hương Quỳnh Đôi no ấm, thanh bình. Nhớ ơn công đức trời biển của người xưa, con cháu Quỳnh Đôi nguyện theo lời dạy của tổ tiên, luôn bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa để tiếng thơm làng Quỳnh được lưu truyền mãi mãi, phát huy tinh thần đoàn kết, truyền thống cách mạng, hiếu học, lao động cần cù, sáng tạo để Quỳnh Đôi sánh vai cùng các địa phương làm rạng danh quê hương, đất nước...

Kính cáo trời đất

Kính cáo thần linh

Kính cáo tổ tiên

Phù hộ độ trì cho con cháu gần xa bình yên, mạnh khỏe, học hành thành đạt, thế nghiệp phồn vinh.

Phúc lộc an khang, gia đình no ấm

Quê hương đất nước phong đăng hòa cốc, quốc thái dân an.

Cẩn cáo!".

Cũng giống như các lễ hội khác trên khắp cả nước, phần hội tại Lễ hội Kỳ Phúc vừa mang tính dân gian vừa có tính hiện đại, hầu hết mọi người dân đều có thể tham gia như các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao và các trò chơi dân gian: biểu diễn môn võ thuật cổ truyền, đẩy gậy, kéo co, vật cù, bịt mắt đập niêu. Để lưu truyền và gìn giữ những nét đẹp truyền thống của lễ hội cho con cháu ngàn đời sau, ban tổ chức làng Quỳnh đã cố gắng tái hiện lại những trò chơi dân gian mang tính truyền thống đồng thời cắt gọt bớt những khâu rườm rà để nhân dân có thể dễ dàng tham gia. Tất cả những trò chơi trên đều mang ý nghĩa thiết thực, phần nào đó dựng lại khung cảnh cuộc sống của người dân làng Quỳnh xưa. Có tác dụng to lớn trong việc nhắc nhở con cháu ngày nay nhớ mãi những sinh hoạt truyền thống của ông cha trong làng để con cháu ngày nay và ngàn đời sau không bao giờ quên đi cội nguồn nơi mình sinh ra và lớn lên.

Sau Lễ Kỳ Phúc của làng được diễn ra, từ ngày mồng 10-15 tháng Giêng âm lịch, gần 40 dòng họ trong làng cũng lần lượt tổ chức Lễ tế tại các nhà thờ họ.

Có thể nói, Lễ hội Kỳ Phúc với nét huyền thoại và hiện thực đan xen đã tạo nên sự hấp dẫn hiếm có, không những đáp ứng được nhu cầu về tâm linh cho người dân làng Quỳnh mà còn thể hiện được nét đặc trưng phong tục tập quán của con người nơi đây. Thông qua lễ hội, các lớp thế hệ người dân làng Quỳnh sẽ phần nào hiểu được truyền thống của ông cha mình từ đó lưu giữ được những truyền thống tốt đẹp đó. Người dân đến với Lễ hội Kỳ Phúc như được thấy mình đang đứng trên cõi linh thiêng mênh mông, gạt đi những vụn vặt thường tình trong đời sống hàng ngày để thoải mái vui vầy trong những ngày hội xuân.

* Hội nghị Gặp mặt các nhà đầu tư Xuân Đinh Dậu 2017

Vừa qua, UBND tỉnh Nghệ An đã phối hợp với Ngân hàng BIDV tổ chức Hội nghị Gặp mặt các nhà đầu tư Xuân Đinh Dậu 2017.

Qua 8 lần tổ chức, Nghệ An đã thu hút được 804 dự án đầu tư, trong đó có 758 dự án đầu tư trong nước và 46 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng ký hơn 261.000 tỷ đồng. Nhiều công trình hạ tầng quan trọng như sân bay, cảng biển, giao thông, điện, nước, viễn thông... đã được đầu tư nâng cấp, để hỗ trợ tốt nhất cho nhà đầu tư thực hiện hiệu quả các dự án trên địa bàn tỉnh. Chỉ tính riêng năm 2016, toàn tỉnh đã cấp mới 141 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm là 35.441 tỷ đồng.

Ghi nhận những kết quả đạt được trong công tác xúc tiến đầu tư, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: Đây là cơ hội tốt để Nghệ An tạo bước đột phá trong phát triển nếu tận dụng tốt các cơ hội trên cơ sở một chiến lược phát triển tốt, bài bản, tầm nhìn dài hạn. Để tăng cường thu hút, tỉnh phải có tư duy, tầm nhìn mới, tạo môi trường thuận lợi để phát triển doanh nghiệp, cần phải đặt doanh nghiệp vào vị trí trung tâm của sự phát triển, xây dựng bộ máy hành chính phục vụ, kiến tạo, liêm chính, chăm lo đời sống của nhân dân.

Đồng chí Nguyễn Đắc Vinh nhấn mạnh: Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm của Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ, các bộ ban ngành, nhà đầu tư trong và ngoài nước. Nghệ An quyết tâm phát triển đột phá về mọi mặt, trở thành một tỉnh công nghiệp, là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Nghệ An luôn luôn đồng hành cùng doanh nghiệp, xem sự thành công của doanh nghiệp  là sự thành công của tỉnh, cam kết sẽ nỗ lực hết mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Khắc Lanh

* Nghệ An đối thoại với các doanh nghiệp FDI về chính sách đầu tư

Trong khuôn khổ Hội nghị Gặp mặt các nhà đầu tư Xuân Đinh Dậu 2017, chiều 18/02, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị đối thoại các doanh nghiệp FDI về các chính sách đầu tư của tỉnh Nghệ An. Các đồng chí: Đỗ Nhất Hoàng - Cục Trưởng Cục Đầu tư nước ngoài; Lê Ngọc Hoa - TUV, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì Hội nghị.

Tại hội nghị, đại diện các doanh nghiệp đánh giá cao quyết tâm cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng đã trao đổi, tìm hiểu về các chính sách ưu đãi đối với đầu tư các lĩnh vực như công nghệ giống, trung tâm nghiên cứu khoa học vật nuôi phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao; Quan tâm việc thành lập các cơ sở đào tạo ngôn ngữ nước ngoài; Chú trọng hơn nữa đến vấn đề môi trường, có các chế tài xử lý đối với doanh nghiệp vi phạm... 

Ghi nhận và tiếp thu các ý kiến tham gia trao đổi rất thẳng thắn, sâu sắc và tâm huyết của các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp FDI, đồng chí Lê Ngọc Hoa - Phó Chủ tịch UBND tỉnh  khẳng định  tỉnh sẽ tập trung cải cách thể chế; tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư trên địa bàn. Các vấn đề DN quan tâm, đồng chí chỉ đạo các ngành chức năng tiếp tục nghiên cứu và trả lời thỏa đáng.

Hồng Bắc

* Lễ bế giảng lớp Bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính và chuyên viên

Chiều ngày 19/2/2017, tại Trung tâm KHXH&NV Nghệ An, Học viện Hành chính Quốc gia, Bộ Nội vụ tổ chức Lễ bế giảng lớp Bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước chương trình Chuyên viên chính và Chuyên viên tại Nghệ An. Tới dự Lễ bế giảng có đồng chí Nguyễn Quốc Hồng - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV cùng toàn thể học viên hai lớp.

Trong thời gian hơn 2 tháng, các học viên đã được các thầy cô giáo truyền đạt hệ thống kiến thức cơ bản nhất về quản lý nhà nước ngạch Chuyên viên chính và Chuyên viên theo chương trình mới do Bộ Nội vụ ban hành. Kết thúc khóa học, 111/111 học viên đạt yêu cầu (100%), trong đó có 7 học viên lớp Chuyên viên chính và 5 học viên lớp Chuyên viên đạt thành tích cao được Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia tặng Giấy khen.

Phát biểu tại Lễ bế giảng, đồng chí Nguyễn Quốc Hồng mong rằng sau khi kết thúc khóa học, các học viên sẽ vận dụng các kiến thức đã được các thầy cô giáo giảng dạy vào thực tiễn nhằm giải quyết tốt hơn những vấn đề thuộc quản lý Nhà nước đang đặt ra ở các cơ quan đơn vị.

Phạm Khắc

* Chi bộ Trung tâm KHXH&NV Nghệ An tổ chức lễ kết nạp Đảng viên mới

Căn cứ Quyết định của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Nghệ An về việc kết nạp Đảng viên mới, chiều ngày 6/02/2017, tại Hội trường lớn Trung tâm, Chi bộ Trung tâm KHXH&NV Nghệ An đã long trọng tổ chức buổi lễ kết nạp cho 02 đồng chí Đảng viên mới gồm: Đ/c Nguyễn Thị Hồng Bắc - Biên tập viên Phòng Thông tin KHXH&NV và Đ/c Tăng Thị Tuyết Trinh -Nghiên cứu viên Phòng Xã hội học.

Với việc kết nạp 02 đảng viên mới, Chi bộ Trung tâm KHXH&NV Nghệ An có số lượng 14 đồng chí, trong đó có 11 đảng viên chính thức, 3 đảng viên dự bị. Đây là lực lượng quan trọng nhằm xây dựng Chi bộ trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao.

Đồng chí Nguyễn Quốc Hồng - Bí thư Chi bộ đã chúc mừng và giao nhiệm vụ cho các đồng chí đảng viên mới, bày tỏ mong muốn các đồng chí sẽ tiếp tục giữ gìn phẩm chất đạo đức, nhiệt tình trong công tác, phát huy năng lực hơn nữa để cùng chi bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Bên cạnh việc trao Quyết định kết nạp, đồng chí Bí thư Chi bộ đã phân công các đồng chí đảng viên chính thức trong chi bộ tiếp tục giúp đỡ, dìu dắt 02 đồng chí đảng viên mới trong thời gian thử thách 12 tháng.

Khắc Lanh

* Tổng hợp tin Lễ hội

Tưng bừng khai hội Hang Bua

Sáng ngày 17/2, Lễ hội Hang Bua đã được khai mạc tại Thẳm Bua, thuộc xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu. Đây là lễ hội lớn nhất trong năm, là dịp để người dân vùng đất Quỳ Châu hay còn gọi là mường Chiêng Ngam gửi gắm những nguyện vọng tâm linh và nhớ lại truyền thuyết về một lễ hội với những sắc màu huyền thoại.

Trước khi diễn ra lễ khai mạc, thầy mo đã làm lễ cúng tại đền thờ Thành hoàng Chiêng Ngam để ghi nhớ công ơn các vị tiền nhân đã có công khai bản lập mường đó là: Xiêu Bọ, Xiêu Ké và Xiêu Luông.

Ngay sau hồi trống khai hội, điệu cồng chiêng rộn ràng, văn nghệ, ca hát, nhảy sạp, khắc luống sôi động thu hút đông đảo du khách tham gia. Bên cạnh đó còn có một số hoạt động văn hóa khác như: thi văn hóa ẩm thực, thi cham rượu cần, thi cắm trại đẹp, thi viết chữ Thái, diễn xướng rượu cần kết hợp hát nhuôn, xuối giữa các câu lạc bộ văn hóa truyền thống; thi người đẹp Hang Bua…

Các hoạt động thể thao gồm bóng chuyền, bóng đá, bắn nỏ, đẩy gậy, kéo co, ném còn, đu quay, chơi tọ lẹ, đi cà kheo,… cũng diễn ra sôi nổi với sự tham gia hào hứng của bà con nhân dân và du khách.

Cầu Ngư - điểm nhấn tâm linh của Lễ hội đền Cờn

Cầu ngư là điểm nhấn tâm linh trong mùa lễ hội đền Cờn hàng năm. Đây cũng là phần lễ được bà con ngư dân và du khách thập phương đón đợi nhất trong mỗi dịp lễ đền Cờn.

Để thực hiện nghi lễ này, ngay từ sáng sớm ngày 21 tháng Giêng âm lịch, người dân địa phương và du khách tham gia vào các đoàn rước kiệu, rước voi, rước ngựa… di chuyển từ đền Cờn trong theo đường bộ. Từ bến lạch Cờn nhiều tàu cá được trang hoàng lộng lẫy di chuyển về phía Nam bãi biển Quỳnh Phương. Khi 2 đoàn rước gặp nhau, nghi thức lễ cầu Ngư được thực hiện. 

Dưới sự giao hòa thiêng liêng của đất trời và biển cả, những người đứng đầu thị xã, đội nghi lễ đền Cờn đã dâng tấm lòng thành với nhiều hiện vật do người dân tự tay làm ra, cầu cho mưa thuận gió hòa, một năm trời yên, biển lặng, đánh bắt nhiều hải sản, cầu lộc, cầu yên. Không chỉ có ngư dân, mà hàng ngàn du khách thập phương cũng đã hòa mình vào phần lễ thiêng này, với nhiều trải nghiệm khó quên.

Kết thúc lễ hội là lễ cầu yên, cầu tài, cầu lộc, lễ tạ ơn, bốc xăm, xem quẻ… với không khí tưng bừng của mùa Xuân, báo hiệu một năm mới tốt lành đã đến.

Khai hội đền Quả Sơn năm 2017    

Sáng 16/2, huyện Đô Lương tổ chức lễ hội Đền Quả Sơn năm 2017. Đền Quả Sơn thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang - con trai thứ 8 của vua Lý Công Uẩn, năm 1039 ông được vua cha giao cho vào cai quản vùng Hoan Châu - Nghệ An. Ông là người đã có công lớn trong đánh đuổi giặc ngoại xâm, mở mang bờ cõi vùng Hoan Châu xưa. Sau khi mất, Uy Minh Vương Lý Nhật Quang đã được nhân dân Nghệ An và Hà Tĩnh lập nhiều đền thờ để ghi công.

Trong những năm gần đây, huyện Đô Lương đã tập trung đầu tư tu bổ nâng cấp phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân và du khách, đồng thời là nơi giáo dục truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, xây dựng đất nước của các thế hệ cha ông. Đền Quả Sơn là điểm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn nhiều du khách.

Năm nay, huyện Đô Lương tổ chức lễ rước từ đền Quả Sơn theo đường thủy về tạ ơn tại chùa Bà Bụt xã Lam Sơn. Chiều cùng ngày sẽ là phần rước di tượng từ chùa Bà Bụt về lại đền Quả Sơn để làm lễ yên vị.

Đền Vạn Lộc vào hội năm 2017

Sáng ngày 12/2, tại phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò đã tổ chức lễ hội đền Vạn Lộc năm 2017 để tưởng nhớ đến Thái úy quận công Nguyễn Sư Hồi - Người chiêu dân lập ấp, lập nên làng Vạn Lộc xưa, Cửa Lò ngày nay.

Lễ hội năm nay diễn ra từ ngày 08 đến hết 12/02/2017, tức ngày 12 đến 16 tháng 1 năm Đinh Dậu. Phần lễ được địa phương tổ chức hết sức trang nghiêm, thể hiện lòng thành kính tới các bậc tiền nhân.

Phần hội diễn ra nhiều trò chơi dân gian như thi đấu cờ người, kéo co, đua thuyền, năm nay còn có hội thi chim và thả đèn hoa đăng tại sông Cấm đoạn trước Đền.

Những hoạt động này vừa tạo cho lễ hội thêm sinh động, vừa thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương tới dự.

* Hội nghị Gặp mặt các nhà đầu tư Xuân Đinh Dậu 2017

Vừa qua, UBND tỉnh Nghệ An đã phối hợp với Ngân hàng BIDV tổ chức Hội nghị Gặp mặt các nhà đầu tư Xuân Đinh Dậu 2017.

Qua 8 lần tổ chức, Nghệ An đã thu hút được 804 dự án đầu tư, trong đó có 758 dự án đầu tư trong nước và 46 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng ký hơn 261.000 tỷ đồng. Nhiều công trình hạ tầng quan trọng như sân bay, cảng biển, giao thông, điện, nước, viễn thông... đã được đầu tư nâng cấp, để hỗ trợ tốt nhất cho nhà đầu tư thực hiện hiệu quả các dự án trên địa bàn tỉnh. Chỉ tính riêng năm 2016, toàn tỉnh đã cấp mới 141 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm là 35.441 tỷ đồng.

Ghi nhận những kết quả đạt được trong công tác xúc tiến đầu tư, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: Đây là cơ hội tốt để Nghệ An tạo bước đột phá trong phát triển nếu tận dụng tốt các cơ hội trên cơ sở một chiến lược phát triển tốt, bài bản, tầm nhìn dài hạn. Để tăng cường thu hút, tỉnh phải có tư duy, tầm nhìn mới, tạo môi trường thuận lợi để phát triển doanh nghiệp, cần phải đặt doanh nghiệp vào vị trí trung tâm của sự phát triển, xây dựng bộ máy hành chính phục vụ, kiến tạo, liêm chính, chăm lo đời sống của nhân dân.

Đồng chí Nguyễn Đắc Vinh nhấn mạnh: Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm của Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ, các bộ ban ngành, nhà đầu tư trong và ngoài nước. Nghệ An quyết tâm phát triển đột phá về mọi mặt, trở thành một tỉnh công nghiệp, là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Nghệ An luôn luôn đồng hành cùng doanh nghiệp, xem sự thành công của doanh nghiệp  là sự thành công của tỉnh, cam kết sẽ nỗ lực hết mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Khắc Lanh

* Nghệ An đối thoại với các doanh nghiệp FDI về chính sách đầu tư

Trong khuôn khổ Hội nghị Gặp mặt các nhà đầu tư Xuân Đinh Dậu 2017, chiều 18/02, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị đối thoại các doanh nghiệp FDI về các chính sách đầu tư của tỉnh Nghệ An. Các đồng chí: Đỗ Nhất Hoàng - Cục Trưởng Cục Đầu tư nước ngoài; Lê Ngọc Hoa - TUV, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì Hội nghị.

Tại hội nghị, đại diện các doanh nghiệp đánh giá cao quyết tâm cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng đã trao đổi, tìm hiểu về các chính sách ưu đãi đối với đầu tư các lĩnh vực như công nghệ giống, trung tâm nghiên cứu khoa học vật nuôi phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao; Quan tâm việc thành lập các cơ sở đào tạo ngôn ngữ nước ngoài; Chú trọng hơn nữa đến vấn đề môi trường, có các chế tài xử lý đối với doanh nghiệp vi phạm... 

Ghi nhận và tiếp thu các ý kiến tham gia trao đổi rất thẳng thắn, sâu sắc và tâm huyết của các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp FDI, đồng chí Lê Ngọc Hoa - Phó Chủ tịch UBND tỉnh  khẳng định  tỉnh sẽ tập trung cải cách thể chế; tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư trên địa bàn. Các vấn đề DN quan tâm, đồng chí chỉ đạo các ngành chức năng tiếp tục nghiên cứu và trả lời thỏa đáng.

Hồng Bắc

* Lễ bế giảng lớp Bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính và chuyên viên

Chiều ngày 19/2/2017, tại Trung tâm KHXH&NV Nghệ An, Học viện Hành chính Quốc gia, Bộ Nội vụ tổ chức Lễ bế giảng lớp Bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước chương trình Chuyên viên chính và Chuyên viên tại Nghệ An. Tới dự Lễ bế giảng có đồng chí Nguyễn Quốc Hồng - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV cùng toàn thể học viên hai lớp.

Trong thời gian hơn 2 tháng, các học viên đã được các thầy cô giáo truyền đạt hệ thống kiến thức cơ bản nhất về quản lý nhà nước ngạch Chuyên viên chính và Chuyên viên theo chương trình mới do Bộ Nội vụ ban hành. Kết thúc khóa học, 111/111 học viên đạt yêu cầu (100%), trong đó có 7 học viên lớp Chuyên viên chính và 5 học viên lớp Chuyên viên đạt thành tích cao được Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia tặng Giấy khen.

Phát biểu tại Lễ bế giảng, đồng chí Nguyễn Quốc Hồng mong rằng sau khi kết thúc khóa học, các học viên sẽ vận dụng các kiến thức đã được các thầy cô giáo giảng dạy vào thực tiễn nhằm giải quyết tốt hơn những vấn đề thuộc quản lý Nhà nước đang đặt ra ở các cơ quan đơn vị.

Phạm Khắc

* Chi bộ Trung tâm KHXH&NV Nghệ An tổ chức lễ kết nạp Đảng viên mới

Căn cứ Quyết định của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Nghệ An về việc kết nạp Đảng viên mới, chiều ngày 6/02/2017, tại Hội trường lớn Trung tâm, Chi bộ Trung tâm KHXH&NV Nghệ An đã long trọng tổ chức buổi lễ kết nạp cho 02 đồng chí Đảng viên mới gồm: Đ/c Nguyễn Thị Hồng Bắc - Biên tập viên Phòng Thông tin KHXH&NV và Đ/c Tăng Thị Tuyết Trinh -Nghiên cứu viên Phòng Xã hội học.

Với việc kết nạp 02 đảng viên mới, Chi bộ Trung tâm KHXH&NV Nghệ An có số lượng 14 đồng chí, trong đó có 11 đảng viên chính thức, 3 đảng viên dự bị. Đây là lực lượng quan trọng nhằm xây dựng Chi bộ trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao.

Đồng chí Nguyễn Quốc Hồng - Bí thư Chi bộ đã chúc mừng và giao nhiệm vụ cho các đồng chí đảng viên mới, bày tỏ mong muốn các đồng chí sẽ tiếp tục giữ gìn phẩm chất đạo đức, nhiệt tình trong công tác, phát huy năng lực hơn nữa để cùng chi bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Bên cạnh việc trao Quyết định kết nạp, đồng chí Bí thư Chi bộ đã phân công các đồng chí đảng viên chính thức trong chi bộ tiếp tục giúp đỡ, dìu dắt 02 đồng chí đảng viên mới trong thời gian thử thách 12 tháng.

Khắc Lanh

* Tổng hợp tin Lễ hội

Tưng bừng khai hội Hang Bua

Sáng ngày 17/2, Lễ hội Hang Bua đã được khai mạc tại Thẳm Bua, thuộc xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu. Đây là lễ hội lớn nhất trong năm, là dịp để người dân vùng đất Quỳ Châu hay còn gọi là mường Chiêng Ngam gửi gắm những nguyện vọng tâm linh và nhớ lại truyền thuyết về một lễ hội với những sắc màu huyền thoại.

Trước khi diễn ra lễ khai mạc, thầy mo đã làm lễ cúng tại đền thờ Thành hoàng Chiêng Ngam để ghi nhớ công ơn các vị tiền nhân đã có công khai bản lập mường đó là: Xiêu Bọ, Xiêu Ké và Xiêu Luông.

Ngay sau hồi trống khai hội, điệu cồng chiêng rộn ràng, văn nghệ, ca hát, nhảy sạp, khắc luống sôi động thu hút đông đảo du khách tham gia. Bên cạnh đó còn có một số hoạt động văn hóa khác như: thi văn hóa ẩm thực, thi cham rượu cần, thi cắm trại đẹp, thi viết chữ Thái, diễn xướng rượu cần kết hợp hát nhuôn, xuối giữa các câu lạc bộ văn hóa truyền thống; thi người đẹp Hang Bua…

Các hoạt động thể thao gồm bóng chuyền, bóng đá, bắn nỏ, đẩy gậy, kéo co, ném còn, đu quay, chơi tọ lẹ, đi cà kheo,… cũng diễn ra sôi nổi với sự tham gia hào hứng của bà con nhân dân và du khách.

Cầu Ngư - điểm nhấn tâm linh của Lễ hội đền Cờn

Cầu ngư là điểm nhấn tâm linh trong mùa lễ hội đền Cờn hàng năm. Đây cũng là phần lễ được bà con ngư dân và du khách thập phương đón đợi nhất trong mỗi dịp lễ đền Cờn.

Để thực hiện nghi lễ này, ngay từ sáng sớm ngày 21 tháng Giêng âm lịch, người dân địa phương và du khách tham gia vào các đoàn rước kiệu, rước voi, rước ngựa… di chuyển từ đền Cờn trong theo đường bộ. Từ bến lạch Cờn nhiều tàu cá được trang hoàng lộng lẫy di chuyển về phía Nam bãi biển Quỳnh Phương. Khi 2 đoàn rước gặp nhau, nghi thức lễ cầu Ngư được thực hiện. 

Dưới sự giao hòa thiêng liêng của đất trời và biển cả, những người đứng đầu thị xã, đội nghi lễ đền Cờn đã dâng tấm lòng thành với nhiều hiện vật do người dân tự tay làm ra, cầu cho mưa thuận gió hòa, một năm trời yên, biển lặng, đánh bắt nhiều hải sản, cầu lộc, cầu yên. Không chỉ có ngư dân, mà hàng ngàn du khách thập phương cũng đã hòa mình vào phần lễ thiêng này, với nhiều trải nghiệm khó quên.

Kết thúc lễ hội là lễ cầu yên, cầu tài, cầu lộc, lễ tạ ơn, bốc xăm, xem quẻ… với không khí tưng bừng của mùa Xuân, báo hiệu một năm mới tốt lành đã đến.

Khai hội đền Quả Sơn năm 2017    

Sáng 16/2, huyện Đô Lương tổ chức lễ hội Đền Quả Sơn năm 2017. Đền Quả Sơn thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang - con trai thứ 8 của vua Lý Công Uẩn, năm 1039 ông được vua cha giao cho vào cai quản vùng Hoan Châu - Nghệ An. Ông là người đã có công lớn trong đánh đuổi giặc ngoại xâm, mở mang bờ cõi vùng Hoan Châu xưa. Sau khi mất, Uy Minh Vương Lý Nhật Quang đã được nhân dân Nghệ An và Hà Tĩnh lập nhiều đền thờ để ghi công.

Trong những năm gần đây, huyện Đô Lương đã tập trung đầu tư tu bổ nâng cấp phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân và du khách, đồng thời là nơi giáo dục truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, xây dựng đất nước của các thế hệ cha ông. Đền Quả Sơn là điểm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn nhiều du khách.

Năm nay, huyện Đô Lương tổ chức lễ rước từ đền Quả Sơn theo đường thủy về tạ ơn tại chùa Bà Bụt xã Lam Sơn. Chiều cùng ngày sẽ là phần rước di tượng từ chùa Bà Bụt về lại đền Quả Sơn để làm lễ yên vị.

Đền Vạn Lộc vào hội năm 2017

Sáng ngày 12/2, tại phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò đã tổ chức lễ hội đền Vạn Lộc năm 2017 để tưởng nhớ đến Thái úy quận công Nguyễn Sư Hồi - Người chiêu dân lập ấp, lập nên làng Vạn Lộc xưa, Cửa Lò ngày nay.

Lễ hội năm nay diễn ra từ ngày 08 đến hết 12/02/2017, tức ngày 12 đến 16 tháng 1 năm Đinh Dậu. Phần lễ được địa phương tổ chức hết sức trang nghiêm, thể hiện lòng thành kính tới các bậc tiền nhân.

Phần hội diễn ra nhiều trò chơi dân gian như thi đấu cờ người, kéo co, đua thuyền, năm nay còn có hội thi chim và thả đèn hoa đăng tại sông Cấm đoạn trước Đền.

Những hoạt động này vừa tạo cho lễ hội thêm sinh động, vừa thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương tới dự.

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.