« Quay lại

Chuyên san Khoa học xã hội & nhân văn số 4 năm 2017

Nguyễn Khắc Thuần

 

Ngày 21/1/1974, Thường vụ Đảng ủy Quân khu 4 và các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh có mặt tại Nhà Rồng (Sở Chỉ huy Bộ Quốc phòng) nhận nhiệm vụ đặc biệt. Thay mặt Bộ Chính trị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Đảng bộ quân và dân Quân khu 4: Huy động tổng lực sức mạnh của quân và dân trong Quân khu, bí mật chuẩn bị chiến trường, xây dựng hậu phương trực tiếp cho cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1975, thực hiện quyết tâm: giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc trong năm 1975. Cuối buổi, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đảng đến dự. Đồng chí niềm nở bắt tay từng người rồi nói:

- Bộ Chính trị đã phân công đồng chí Võ Nguyên Giáp giao nhiệm vụ, trực tiếp chỉ đạo, trực tiếp kiểm tra đôn đốc nhiệm vụ chiến lược xây dựng hậu phương trực tiếp Quân khu 4 cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Biết Khu 4, giặc Mỹ vừa ngừng ném bom, khó khăn chồng chất khó khăn nhưng đây là thời cơ chiến lược, nhiệm vụ chiến lược mong Đảng bộ, chiến sỹ và đồng bào Khu 4 đồng tâm, hiệp lực, tất cả cho chiến trường, tất cả cho trận đánh quyết định. Nhiệm vụ lớn, nặng nề nhưng lại rất khẩn trương và phải tuyệt đối bí mật.

Tranh thủ thời gian, trên đường về, Bí thư Khu ủy Vĩnh Lĩnh, Tỉnh ủy Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An rẽ lên Sở Chỉ huy Đại Huệ Quân khu 4 để tổ chức nghiên cứu nhiệm vụ và bàn kế hoạch thực hiện. Do yêu cầu tuyệt đối bí mật nên các cơ quan giúp việc không dự cuộc họp này. Kế hoạch A74 của Đảng ủy QK4 được xây dựng tỉ mỉ trong cuộc họp lịch sử này với 4 nhiệm vụ lớn.

* Dốc tổng lực, quân quyết thừa người

Nhiệm vụ chi viện sức người cho các chiến trường đã được Quân khu và các tỉnh trong Quân khu triển khai quyết liệt trong năm 1974 và quý I/1975. Quân khu tăng cường cán bộ xuống các tỉnh, tỉnh tăng cường cán bộ xuống các huyện, các xã, phường, thị trấn để tuyên truyền, giáo dục phát động phong trào thi đua tòng quân. Năm 1973, các tỉnh trong Quân khu đã bàn giao 19.500 quân nên lực lượng dự bị gần như đã cạn kiệt. Từ điểm đột phá huyện Diễn Châu, Quân khu và các tỉnh đã kịp thời rút kinh nghiệm, về các biện pháp huy động toàn bộ hệ thống chính trị cho nhiệm vụ chi viện sức người, sức của chiến trường đánh to, thắng lớn. Được phát động, nhân dân khắp các tỉnh trong quân khu đâu đâu cũng nô nức phong trào đăng ký ghi tên tòng quân. Hàng ngàn thanh niên chưa đủ 18 tuổi đã đăng ký tòng quân, các trường dại học chuyên nghiệp trung Quân khu, học sinh, sinh viên nô nức tòng quân. Phong trào "3 cử, 3 nguyện", "Nuôi quân trước lúc lên đường" (cho số thấp trước, nhẹ cân) lan tỏa khắp các địa phương. Năm 1974, các tỉnh trong Quân khu đã giao hơn 17.500 quân (vượt chỉ tiêu 1.300 quân) đúng thời gian quy định. Có hàng chục ngàn gia đình có 2 con tòng quân trong năm. Phát huy kết quả công tác tuyển quân năm 1974, năm 1975 chỉ trong một đợt đầu năm (tháng 2-3/1975) các địa phương đã giao 18.000 quân. Tỷ lệ nhập ngũ bằng 1,5% dân số. Đây là năm tuyển quân có số lượng cao nhất trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hai năm 1974, 1975, các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh đã huy động 35.500 quân bằng 3% dân số và hơn 14.000 thanh niên xung phong, 21.000 lượt dân công hỏa tuyến phục vụ các chiến trường. Ba tỉnh và khu vực Vĩnh Linh đều được Thủ tướng Chính phủ tặng cờ luân lưu "Đơn vị tuyển quân xuất sắc" ba năm 1973, 1974, 1975.

* Mặt đường là trận địa

Dự báo tần suất phương tiện, lực lượng hành quân vào Nam trong năm 1974, 1975 sẽ tăng từ 48 - 50 lần, Đảng ủy Quân khu đã chỉ đạo các địa phương trong quân khu liên tục mở chiến dịch đảm bảo giao thông vận tải, huy động mọi lực lượng lên mặt đường rà phá bom mìn sau chiến tranh, hàn gắn các cung đường, làm mới cầu, cống, bến, phà do bom Mỹ làm hư hỏng, mở thêm nhiều tuyến đường mới.

Công binh 3 thứ quân (chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ) đã tháo gỡ hơn 4 triệu quả bom các loại trên các trọng điểm giao thông quốc lộ 1A và 15A. Hơn sáu triệu lượt ngày công của bộ đội và nhân dân các địa phương đã được huy động để đào đắp 43 triệu m3 đất đá trên các cung đường hướng về Nam.

Quân khu huy động Trung đoàn 185 bộ đội địa phương Quảng Bình và Trung đoàn 273 Sư đoàn Sông Lam mở 21 km đường tránh phà Long Đại. Điều một tiểu đoàn của Trung đoàn 270 bổ sung cho CT71 mở đường 22C. Huy động lực lượng bộ đội địa phương và dân quân tự vệ, TNXP khu vực Vĩnh Long khôi phục 32 km đường nối với đường 1A với đường Trường Sơn Đông. Huy động tiểu đoàn 7 bộ đội địa phương Quảng Bình làm chủ công cùng các tổng đội TNXP làm mới 75km đường Rú Bung. Với tinh thần đường qua địa phương nào địa phương đó đảm nhiệm, cấp ủy các tỉnh, huyện cùng bám mặt đường để động viên cổ vũ nhân dân, dân quân, tự vệ, học sinh, ngày không giờ, tuần không thứ thi đua "Mở đường thắng lợi".

Đến tháng 7/1974, hệ thống giao thông chiến lược Bắc - Nam trên địa bàn Quân khu 4 đã hàn gắn các "vết thương" do hai cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ đánh phá, đảm bảo thông suốt trong mùa mưa.

Cùng với mở đường là các chiến dịch vận tải liên tục được mở. Tất cả các phương tiện vận tải ô tô, xe bò lốp, xe ba gác, vận tải biển được huy động để tập kết hàng hóa, vũ khí, súng đạn theo các binh đoàn vận tải của bộ đội, dân quân, TNXP, các đơn vị vận tải cơ giới của nhà nước suốt đêm ngày lăn bánh hướng về Nam. Hàng chục triệu tấn hàng hóa, vũ khí đạn đã đi qua các địa bàn Quân khu vào tập kết ở Vĩnh Linh, Quảng Trị, tạo chân hàng để Đoàn 559 vận chuyển tiếp vào các chiến trường, lượng hàng hóa vận chuyển qua Khu 4 bằng 146 lần năm 1973. Cùng với vận tải vào chiến trường, nhân dân và các lực lượng vũ trang Quân khu đã tạo được lượng vật chất dự trữ sẵn sàng chiến đấu, nội địa và chiến trường Lào, đảm bảo cho các đơn vị hoạt động trên đất liền là 15 ngày, hải đảo và các đơn vị tình nguyện ở Lào là 180 ngày. Ngoài ra còn có 1.815 tấn lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dự trữ chiến lược.

* Rèn tinh cán, luyện tinh quân cho chiến trường

Nhiệm vụ "Rèn tinh cán, luyện tinh quân" để bổ sung cho các chiến trường được Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu hết sức quan tâm. Kết hợp chặt chẽ giữa bồi dưỡng tại chức với tập trung trong năm 1974, Quân khu đã phát triển thêm 23.000 cán bộ cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn để đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng.

Tập trung đầu tư cho xây dựng đội ngũ cán bộ, đầu tư công tác giáo dục chính trị và huấn luyện chiến đấu, Quân khu dồn sức xây dựng 2 sư đoàn bộ binh thiện chiến là Sư đoàn 316 (đóng quân ở Tân Kỳ, Nghệ An) và Sư đoàn Sông Lam. Đổi mới chương trình huấn luyện, huấn luyện sát với thực tế chiến trường, huấn luyện kết hợp với diễn tập dã ngoại, thực binh, sẵn sàng chiến đấu cao "t=0", hai Sư đoàn 316 và 341 đã trở thành 2 điểm sáng về chất lượng huấn luyện sẵn sàng chiến đấu toàn diện của toàn quân. Đặc biệt là Đại đội 2, Trung đoàn 270, Sư đoàn Sông Lam đã trở thành điển hình tiên tiến, toàn diện được toàn quân phát động học tập và làm theo.

Đây là thời điểm phát triển lực lượng một cách khẩn trương với số lượng, quy mô lớn chưa từng có trong toàn quân. Nhiều đơn vị của Quân khu được Bộ Quốc phòng điều động làm nòng cốt để thành lập các đơn vị mới. Chỉ trong một thời gian ngắn, Quân khu đã xây dựng 2 tiểu đoàn thông tin bàn giao cho Bộ làm nòng cốt thành lập trung đoàn thông tin Quân đoàn 1 - quân đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội. Bàn giao 16 tiểu đoàn bộ binh cho Quân khu Trị Thiên, Quân khu 5, Quân khu 7, bàn giao một bệnh viện quân y cho Bộ Quốc phòng để thành lập Viện Quân y dã chiến Quân đoàn 2. Bàn giao 4 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp cho Quân khu Trị - Thiên - Huế và các trung đoàn thiết giáp mới thành lập của Bộ. Bàn giao 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn đặc công, 2 tiểu đoàn công binh, 3 tiểu đoàn pháo cao xạ, 3.100 nhân viên kỹ thuật để Bộ thành lập các đơn vị mới cho chiến dịch xuân 1975. Với tinh thần t = 0, các đơn vị nhận nhiệm vụ mới, người sẵn sàng, phương tiện sẵn sàng lên đường đúng thời gian quy định. Để tiếp tục chi viện tiền tuyến với quyết tâm sau bàn giao 15 ngày là đơn vị mới được kiện toàn, các trường đào tạo của quân khu đã mở hàng loạt các lớp đào tạo cấp tốc để đảm bảo số lượng nhân viên kỹ thuật cho các đơn vị mới thành lập sau bàn giao.

Nhờ nâng cao được chất lượng huấn luyện toàn diện nên các đơn vị của Quân khu tổ chức tham gia Chiến dịch tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1975 được lập càng xuất sắc. Sư đoàn 316 bí mật hành quân, bất ngờ xuất hiện ở chiến trường Tây Nguyên là đơn vị chủ lực, chủ công, nổ phát súng đầu tiên cho chiến dịch Tây Nguyên, điểm đột phá chiến lược của cuộc Tổng tiến công giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Sư đoàn Sông Lam đã trở thành Sư đoàn thép đập tan tuyến phòng ngự Xuân Lộc của Mỹ - Ngụy để đại quân tiến vào giải phóng Sài Gòn. Cả 2 sư đoàn từ Quân khu 4 ra đi trong Chiến dịch Hồ Chí Minh đều được tuyên dương đơn vị Anh hùng trong chiến đấu.

* Giúp Bạn tạo thế mới, lực mới

Đông Dương là một chiến trường nên trong lúc dồn tổng lực cho công tác chuẩn bị cho Chiến dịch tổng tấn công Xuân 1975, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 và các tỉnh trong Quân khu vẫn luôn xác định: Đoàn kết chặt chẽ với Đảng bộ, quân và dân Bạn đấu tranh buộc Mỹ và các thế lực phản động Lào phải thi hành các Hiệp định Viêng Chăn đã ký kết, tình huống nào cũng phải cùng Bạn đánh bại mọi cuộc lấn chiếm của địch bảo vệ và củng cố vùng giải phóng vững mạnh toàn diện, đồng thời phải tập trung nhanh chóng nâng cao chất lượng và sức chiến đấu của lực lượng tình nguyện. Trên cơ sở yêu cầu của Bạn, tăng cường lực lượng chuyên gia y tế, giáo dục, chuyên gia kinh tế của các tỉnh với các tỉnh Bạn kết nghĩa, tạo mọi điều kiện để Bạn phát triển vững chắc kinh tế, văn hóa, xã hội ở các địa bàn mới giải phóng.

Được Bộ Quốc phòng đồng ý, Quân khu hợp nhất Tiểu đoàn quân tình nguyện 43 của Tỉnh đội Nghệ An vào Trung đoàn 176. Đưa quân số quân tình nguyện lên 2.200 cán bộ, chiến sỹ và 260 chuyên gia. Sáp nhập Đoàn 128 vào Trung đoàn 176, tăng cường thêm biên chế xây dựng thành 4 tiểu đoàn bộ binh tình nguyện với quân số hơn 3.000. Kết hợp chặt chẽ với Bạn xây dựng các kế hoạch đánh địch lấn chiếm kết hợp với giúp Bạn huấn luyện, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng cơ sở củng cố chính quyền nhân dân các cấp. Củng cố các đơn vị chốt để giữ vững các vị trí chiến lược, đưa 3 tiểu đoàn bộ binh lên tuyến trước bố trí trên 3 hướng là Đường số 7, số 8 và Đường 12.

Giữa năm 1974, Quân ủy Trung ương giao thêm nhiệm vụ giúp Bạn ở địa bàn cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng cho Quân khu 4. Bàn giao Sư đoàn 31 cho Quân khu (đến ngày 1/8/1974) hoàn tất.

Với lực lượng 1 sư đoàn, 1 trung đoàn và gần 1.000 chuyên gia các ngành được bố trí theo thế chiến lược mới, lực lượng tình nguyện Quân khu 4 đã liên tục tổ chức các đợt hoạt động với hiệu quả cao, hoàn thành tốt nhiệm vụ củng cố chính quyền cách mạng ở huyện Mường Mộc, 7 xã 18 bản ở Noong Bốc cùng 5 xã 35 bản ở Thà Khẹc. Các đơn vị tình nguyện còn huy động 1.438 ca máy, 310.000 ngày công giúp Bạn sửa chữa đường 8A, 8B, mở thêm tuyến đường Căm Cớt đi Xa La Phu Khun (dài 54km), Căm Cớt đi Hin Bun để tiện cơ động lực lượng lên tuyến trước và vận chuyển hàng dân sinh. Trên hướng cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng, Sư đoàn 31 huy động 18.500 ngày công của 2 trung đoàn bộ binh và 3 đại đội trực thuộc, sửa chữa 156 km đường giao thông ở cánh đồng Chum. Huy động 60.000 ngày công mở 60km tuyến đường Lạt Luông đi Sảm Thông - Long Chẹng, bảo đảm giao thông suốt trên tuyến đường 7A và đường số 4 trong suốt mùa mưa.

Những ngày này Bạn gặp nhiều khó khăn về lương thực và vũ khí, quân khu đã nhanh chóng tổ chức lực lượng đảm bảo chiến trường C gồm Tiểu đoàn 32 và Trung đoàn 1 Nghệ An, binh trạm và 1 tiểu đoàn 14 công binh. Trong năm 1974, lực lượng vận tải này đã vận chuyển giúp Bạn 12.720 tấn hàng hóa các loại (vượt chỉ tiêu trên giao 400 tấn), kịp thời đáp ứng yêu cầu chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, ổn định đời sống nhân dân vùng mới giải phóng.

Được sự giúp đỡ của quân tình nguyện Quân khu 4, LLVT Pha Thét - Lào liên tiếp mở các đợt tấn công vào lực lượng phái hữu Viêng Chăn, đánh tan Lữ đoàn 2 Vàng Pao ở ngã ba Xa la Phu khun, buộc Vàng Pao phải bỏ sở chỉ huy chạy sang Thái, các lực lượng địch phải "tùy nghi di tản". Mở rộng địa bàn giải phóng tạo thế và lực mới để Bạn giành thắng lợi quyết định trong năm 1975.

* Xây dựng thế trận và lực lượng sẵn sàng chiến đấu tại chỗ

Với 4 nhiệm vụ trên 3 chiến trường, Đảng bộ các tỉnh trong Quân khu vừa dồn tổng lực cho nhiệm vụ chi viện chiến trường miền Nam, chiến trường Lào, vừa tập trung xây dựng hậu phương vững mạnh, toàn diện, sẵn sàng chiến đấu cao, thực hiện quyết tâm đánh thắng trận đầu nếu kẻ địch liều lĩnh đánh ra miền Bắc XHCN.

Nhiệm vụ tổ chức lại sản xuất sau chiến tranh đã được chỉ đạo chặt chẽ trên cơ sở kinh tế hợp tác xã. Chỉ trong năm 1974, hơn 80% diện tích sản xuất của các địa phương trong Quân khu đã được gieo trồng trở lại. Hàng loạt kỹ thuật canh tác mới được áp dụng để đưa năng suất lên cao. Nghệ An đã có 2 huyện là Yên Thành và Diễn Châu, Hà Tĩnh đã có 2 huyện Can Lộc và Đức Thọ đạt "huyện 5 tấn". Các mặt công nghiệp, thủ công nghiệp đều có bước phát triển mới. Văn hóa, giáo dục, y tế có thêm nhiều khởi sắc.

Quân khu và các địa phương đã tập trung bố trí lại lực lượng chiến đấu theo phương án: thua đau trên chiến trường Mỹ - Ngụy đánh ra miền Bắc. Các tỉnh đã kiện toàn củng cố được 13 đại đội, 148 trung đội súng máy cao xạ, 4 đại đội cao xạ 37 ly, 2 đại đội pháo bảo vệ bờ biển, 16 đại đội, 162 trung đội cơ động ở xã, cụm xã và huyện làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu 24/24.

Các đơn vị chủ lực được bố trí lại theo hướng tăng cường tiền duyên, ưu tiên trọng điểm để làm nòng cốt cho các phương án chiến đấu tại chỗ và chiến đấu dài ngày. Ngoài ra các tỉnh và quân khu còn kiện toàn 3 đoàn an dưỡng, 3 bệnh viện, đội điều trị quân y, xây dựng phương án cho 18 bệnh viện tuyến huyện và tỉnh sẵn sàng đón nhận cấp cứu, điều trị thương binh, bệnh binh từ chiến trường miền Nam chuyển ra, chiến trường Lào chuyển về.

Trong năm 1974, 3 lần Bộ Quốc phòng kiểm tra sẵn sàng chiến đấu, 100% các đơn vị, địa phương trong Quân khu đều được đánh giá hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

             *  *  *

Sôi động và quyết liệt là những năm tháng chuyển mình để trở thành một hậu phương trực tiếp cho Chiến dịch tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1975 của Đảng bộ, quân và dân Khu 4. Bốn nhiệm vụ: chi viện miền Nam, chi viện chiến trường Lào, đảm bảo giao thông chiến lược Bắc - Nam, bảo vệ miền Bắc XHCN; 3 chiến trường: chiến trường miền Bắc, miền Nam, chiến trường Lào, Đảng bộ, quân và dân Khu 4 đều lập công giòn giã. Khu 4 đã trở thành hậu phương tin cậy cho các chiến trường đánh to, thắng lớn.

Với những cố gắng không mệt mỏi của mình, Khu 4 xứng đáng với lời ngợi khen của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong tổng kết năm 1975: "Khu 4 đã làm tròn sứ mệnh hậu phương chiến dịch cho Chiến dịch tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Mỗi chiến công của quân dân cả nước trong chiến dịch này đều có sự đóng góp của hậu phương Khu 4"(1).

   

Chú thích

(1). Hồ sơ 468 - Ban lịch sử CTĐ, CTCT Quân khu 4.

Tư liệu tham khảo

1. Quân khu 4 lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), NXB QĐND - H - 1994.

2. Quân khu 4 lịch sử công tác Đảng, công tác chính trị 1954 - 1975, NXB QĐND - H - 2005.

3. Tổng kết chiến dịch Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Nguyễn Văn Thanh

 

Ngày 22/12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam được thành lập. Mặt trận là ngọn cờ tập hợp nhân sỹ, trí thức, đoàn kết liên minh công nông, phân hóa sâu sắc kẻ thù, tranh thủ mọi sự giúp đỡ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới (kể cả nhân dân Mỹ). Ngọn cờ đoàn kết, chống Mỹ của Mặt trận đã góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, cuộc "Đồng Khởi" (1959-1960) giáng đòn nặng nề vào chính sách thực dân mới của Mỹ ở miền Nam, làm lung lay tận gốc chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. "Đồng Khởi" còn là cột mốc đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam, chuyển cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Trong khí thế đó, ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời với bản Tuyên ngôn và Chương trình hành động 10 điểm, trong đó điểm thứ nhất nói rõ: "Ðánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chính quyền độc tài Ngô Ðình Diệm, tay sai của Mỹ, thành lập chính quyền liên minh dân tộc dân chủ"(1), lấy cờ nửa đỏ, nửa xanh với sao vàng năm cánh làm cờ Mặt trận, lấy bài hát Giải phóng miền Nam làm bài ca của Mặt trận. Bản đề cương của Xứ ủy Nam bộ của Đảng Lao động Việt Nam về đường lối cách mạng miền Nam là văn kiện đầu tiên của Đảng, trong đó đề ra những tư tưởng và vạch ra những chủ trương, chính sách để xây dựng và tổ chức Mặt trận Dân tộc thống nhất, đáp ứng được những yêu cầu khách quan đang đặt ra cho cách mạng Việt Nam. Bản đề cương chỉ rõ thực chất của việc xây dựng và tổ chức Mặt trận Dân tộc thống nhất là việc "bố trí các lực lượng trong dân tộc để đánh bại kẻ thù của dân tộc" và xác định đó "là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng ta hiện nay". Về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, bản đề cương xác định Mặt trận Dân tộc thống nhất phải có tính giai cấp rõ ràng nhưng lại phải "đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên hết".

Ngoài ra, những hình thức ngoài Mặt trận cũng được Đảng chỉ đạo xây dựng để thu hút mọi người dân có cảm tình với cách mạng, các tầng lớp trung lập, những người có khuynh hướng hòa bình... như việc thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, các tổ chức hội, các nhóm hoạt động... Những khẩu hiệu đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa bình trung lập... là những mục tiêu phù hợp thực sự thu hút các tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên, tín đồ các tôn giáo, ngoại kiều, tư sản dân tộc, lớp dưới trong bộ máy quân đội và chính quyền Việt Nam cộng hòa... vào cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược. Đó thực sự là một sáng tạo của đường lối đại đoàn kết toàn dân. Trong Đại hội Đại biểu Mặt trận tổ quốc Việt Nam lần thứ II (ngày 25-4-1961), Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao sự ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam: "Hiện nay trong cuộc đấu tranh anh dũng chống chế độ tàn bạo của Mỹ - Diệm, đồng bào ta ở miền Nam cũng có Mặt trận Dân tộc giải phóng với chương trình hành động thiết thực và phù hợp là nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Do đó, có thể đoán rằng đồng bào miền Nam nhất định sẽ thắng lợi, nước nhà nhất định sẽ thống nhất, Nam - Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà"(2).

Trong suốt những năm tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ - Ngụy, Mặt trận là người tổ chức và lãnh đạo các lực lượng yêu nước ở miền Nam, phối hợp với lực lượng vũ trang. Mặt trận lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị trên cả ba vùng, miền chiến lược với nhiều hình thức và phương pháp thích hợp. Những thắng lợi toàn diện của Mặt trận dân tộc giải phóng đã hình thành trên thực tế "3 tầng mặt trận", đó là: Mặt trận đại đoàn kết dân tộc; Mặt trận đoàn kết Việt - Miên - Lào và Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Đây là sự phát triển rực rỡ và là thắng lợi to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết.

Sau 7 năm hoạt động đầy thắng lợi, ngày 8-7-1967, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam họp đại hội bất thường, công bố cương lĩnh nhằm tranh thủ tất cả những lực lượng có thể tranh thủ, thu hút rộng rãi hơn những tầng lớp và cá nhân có khuynh hướng hòa bình trung lập, cô lập triệt để hàng ngũ Mỹ - Ngụy.

Cuộc chiến đấu của các chiến sĩ và đồng bào miền Nam trong 15 năm, kể từ ngày Mặt trận ra đời cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đã nêu bật vai trò và lực lượng quyết định, đường lối đúng đắn, công lao to lớn và uy tín sâu rộng của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Về vấn đề này, Nghị quyết của Thường vụ Trung ương Cục (số 12-NQNT, ngày 5-10-1969) cũng đã chỉ ra: "Trong cuộc kháng chiến ở miền Nam, Mặt trận có một vai trò lịch sử hết sức to lớn. Về mặt công khai, Mặt trận giải phóng là người tổ chức và là ngọn cờ động viên lãnh đạo nhân dân miền Nam trong cuộc chống Mỹ, cứu nước; cùng với Liên minh các Lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam và các đoàn thể, các tổ chức kháng chiến, Mặt trận là hậu thuẫn vững mạnh của chính quyền cách mạng; mặt khác sau khi Chính phủ cách mạng ra đời, Mặt trận giải phóng vẫn còn có vai trò quan trọng về mặt đối ngoại"(3).

Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là hình thức tổ chức Mặt trận dân tộc thống nhất phát triển đến đỉnh cao, tổng hợp toàn bộ kinh nghiệm của lịch sử. Mặt trận vận dụng hết sức sáng tạo vào điều kiện đấu tranh mới cực kỳ gian khổ, phức tạp chống đế quốc Mỹ tay sai, hoàn thành sứ mệnh vô cùng vinh quang, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là một điểm sáng trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân, của Đảng và Bác Hồ muôn vàn kính yêu. Khát vọng, niềm tin tất thắng và ý chí giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Người dặn lại trong bản Di chúc lịch sử: "Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà"(4) đã trở thành nguồn sức mạnh tinh thần to lớn cổ vũ đồng bào và chiến sĩ cả nước trong hành trình chiến đấu và chiến thắng. Góp phần to lớn làm nên chiến thắng mùa Xuân 1975, thống nhất đất nước.

 

Tài liệu tham khảo

(1). Chung một bóng cờ, NXB CTQG, Hà Nội, 1993, trang 958.

(2). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1996, trang 349

(3). Báo Đại đoàn kết điện tử, bài 9: Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam - Ngọn cờ đoàn kết, ngọn cờ chiến thắng, Ngô Quang Chính, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

(4). Toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Trẻ, năm 2007 tr. 52.

Nguyễn Văn Toàn

 

1. Đồng bào Khơ mú là dân tộc đã sinh sống lâu đời ở nước ta. Họ cư trú xen kẽ với các dân tộc khác, tập trung ở rẻo giữa và rẻo cao các tỉnh miền núi Tây Bắc và Tây Thanh - Nghệ, dọc biên giới Việt - Lào. Cũng như ở nhiều địa phương khác, người Khơ mú ở Nghệ An có các tên gọi khác nhau như: Tềnh, Phu Thênh, Tày Hạy. Tên tự gọi của đồng bào ở Nghệ An là Kưm mụ. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số Khơ mú cả nước có 72.929 người, tại Nghệ An có 35.670 người, chiếm 49 % dân số Khơ mú cả nước, phân bố tập trung tại các huyện: Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong; đông nhất là ở huyện Kỳ Sơn.

Là một trong những dân tộc có hàng ngàn năm lịch sử, người Khơ mú có bản sắc văn hóa rất phong phú, đa dạng trên các lĩnh vực. Trong đó, tín ngưỡng và sinh hoạt dòng họ của người Khơ mú ở Nghệ An có những đặc trưng riêng, rất độc đáo, giữ vai trò quan trọng trong đời sống gia đình, xã hội.

2. Người Khơ mú ở Nghệ An gọi dòng họ là tạk (ở Tây Bắc gọi là sinh). Theo quan niệm của đồng bào, tạk là cộng đồng bao gồm những người có chung quan hệ huyết thống tính theo dòng cha, cùng thờ chung vật tổ dòng họ (tô tem), có chung những kiêng kỵ về ông tổ, vật tổ nên không được phép kết hôn với nhau. Hiện nay, người Khơ mú ở Nghệ An có gần 20 dòng họ như: Moong, Lự, Cụt, Hoa, Ven, Chích... Khác với người Khơ mú ở Tây Bắc thường mang họ tiếng Thái (Quàng, Lò, Lường, Lèo, Tòng...), người Khơ mú ở Nghệ An gọi tên dòng họ theo tiếng dân tộc của mình như: Tmoong, Rvaikrlự, Hung, Oốc, Seo, Soong,…

Tổ chức và quan hệ dòng họ của người Khơ mú tương đối lỏng lẻo. Các dòng họ không có trưởng họ, không có các nghi lễ chung của dòng họ mà chỉ có nghi lễ thống nhất trong thờ cúng tổ tiên tại các hộ gia đình cùng dòng họ. Từ năm 2010, chính quyền và ban quản lý các bản đã chú ý phát huy quan hệ dòng họ ở người Khơ mú và bầu ra các trưởng họ. Từ khi dòng họ được tổ chức lại, việc chấp hành các quy ước làng bản, chủ trương chính sách và quan hệ dòng họ tốt hơn.

Tín ngưỡng và quan hệ dòng họ nổi bật của người Khơ mú ở Nghệ An thể hiện qua hai hình thức: những kiêng kỵ gắn liền với truyền tích liên quan đến vật tổ của dòng họ và các lễ thức thờ cúng ma nhà - hrôigang. Các tín ngưỡng này có sự khác biệt giữa các dòng họ, là đặc điểm riêng để nhận biết dòng họ và duy trì hôn nhân ngoài dòng họ. Mỗi dòng họ của người Khơ mú đều mang tên của một vật tổ, là một loài động vật, thực vật hoặc một vật vô tri vô giác; phổ biến là tên loài thú, tên chim hoặc tên một loài cây, như họ Moong có nghĩa là con chồn, họ Rvai là con hổ, họ Soong là cái rọ… Mỗi vật tổ dòng họ đều có một truyện kể về sự tích và những kiêng kỵ riêng biệt mà mỗi thành viên dòng họ phải tuân thủ. Những kiêng kỵ của dòng họ do cha mẹ truyền lại cho con cháu từ khi còn nhỏ. Người Khơ mú quy định rất chặt chẽ việc tiếp xúc với vật tổ. Khi thấy vật tổ, họ thường kính trọng và lùi ra xa, không bao giờ được phép săn bắn loài vật tổ của mình; khi thấy vật tổ qua đời, phải tổ chức chôn cất. Người Khơ mú kiêng không bao giờ ăn vật tổ. Theo đồng bào quan niệm, nếu ăn phải vật tổ sẽ bị đau bụng, rụng răng, nhanh già và giảm tuổi thọ, nếu chạm vào vật tổ sẽ bị bong chóc da tay.

Mỗi dòng họ bắt buộc phải kiêng kỵ vật tổ của dòng họ mình nhưng không phải kiêng vật tổ của dòng họ khác. Họ Moong có vật tổ là con chồn (Tmoong) nên người họ Moong kiêng không săn bắn và ăn thịt con chồn nhưng nếu chồn mắc bẫy vẫn có thể cho người họ khác ăn. Họ Rvai (Lự) kiêng không ăn thịt hổ nhưng vẫn có thể đuổi đánh hổ khi hổ đe dọa tính mạng và vật nuôi. Khi gặp hổ chết, người họ Rvai phải khóc than như tổ tiên của mình qua đời. Khi còn sống, người họ Rvai kiêng đắp chăn sặc sỡ như lông hổ. Họ Cụt (Cút) kiêng một loài cây rừng (cây guột), không được lấy cây này để làm bất cứ việc gì, khi phát rẫy có thể chặt nó nhưng kiêng không để nhựa ra tay sẽ bị lở tay, tróc da. Họ Soong (cái rọ) kiêng không cầm hay sờ vào cái rọ, không ăn các con vật nhốt trong rọ.

Mỗi dòng họ Khơ mú đều có một câu chuyện huyền thoại kể về nguồn gốc vật tổ và những kiêng kỵ liên quan. Chẳng hạn, người họ Moong nói rằng, việc mang tên và kiêng con chồn do truyền tích của dòng họ kể về con chồn đã bảo vệ người họ Moong trong một tai nạn nên khi nó chết đi người ta lấy con chồn làm họ để tỏ lòng biết ơn. Còn theo huyền thoại của dòng họ Cụt, ngày xưa, một người muốn đi qua con suối nhìn thấy cây guột nằm bắc ngang. Các con vật đều đi qua cây đó sang bờ bên kia. Ông ta bèn đi theo cây này nhưng đến giữa chừng thì cây bị gãy cụt làm ông ta rơi xuống suối chết. Con cháu đi tìm khắp nơi và khi nhìn thấy cảnh tượng này bèn kiêng kỵ cây guột và lấy cây đó làm tên dòng họ.

Mỗi dòng họ có nghi thức thờ cúng tổ tiên theo kiêng kỵ riêng mà chỉ người cùng dòng họ mới biết được. Hàng năm, các hộ gia đình người Khơ mú tiến hành nghi lễ thờ cúng ma nhà (hrôi gang) và ma tổ tiên (hrôi tạ dạ) theo trình tự và nghi thức mang tính thống nhất trong dòng họ có liên quan nhất định đến kiêng kỵ vật tổ dòng họ. Khi cúng ma nhà, người Khơ mú thường bắt chước một số động tác của loài vật tổ dòng họ với ý thức tự nhắc nhở và giáo dục những người trong dòng họ về nguồn gốc vật tổ của mình. Ma nhà, mà đại diện là bố mẹ đã mất sẽ bảo vệ cho gia đình con cháu trong cuộc sống. Người Khơ mú quan niệm rằng, ma nhà do bố mẹ đã mất biến thành cùng với ma tổ tiên (hrôi tạ dạ) sẽ phù trợ cho con cháu nên đồng bào thường tổ chức cúng ma nhà hàng năm để cầu mong tổ tiên che chở, giúp đỡ họ khi làm rẫy, đi rừng, chăn nuôi và bảo vệ sức khỏe.

Các dòng họ Khơ mú có sự khác nhau về thời gian tiến hành lễ cúng, lễ vật dâng cúng và vật dụng để đồ cúng. Họ Lự thường cúng bố mẹ, tổ tiên một lần vào tháng 12 (lịch Khơ mú) hàng năm, sau khi thu hoạch nương rẫy. Họ Moong và họ Cụt cúng hai lần vào dịp đầu năm mới và cuối năm. Dòng họ có vật tổ là con hổ nên lễ vật dâng cúng là con lợn trong khi các họ khác thường cúng bằng gà. Có dòng họ cúng ma nhà luân phiên hàng năm giữa những gia đình anh em trai nhưng hầu hết các dòng họ khác tiến hành cúng riêng từng hộ gia đình. Thời điểm cúng của họ Lự bắt đầu từ trưa sang chiều còn họ Moong, họ Cụt phải làm lễ cúng vào nửa đêm. Điểm chung ở các dòng họ là, đồng bào tiến hành lễ cúng tại bếp kiêng (nơi trú ngụ của tổ tiên) trong gian buồng của chủ nhà. Gian bếp này chỉ dùng để hông xôi và giết gà khi làm lễ cúng, không dùng nấu ăn hàng ngày và người ngoài không được vào. Nội dung các bài cúng nhằm tỏ lòng biết ơn tổ tiên, cầu mong tổ tiên ban cho sức khỏe và giúp đỡ con cháu làm ăn thuận lợi.

Nghi thức cúng tổ tiên có những đặc điểm theo qui định riêng của từng dòng họ và chi họ. Chẳng hạn, chi họ Moong thờ cúng con Tmoong moóc (chồn anh) thì lấy gà làm lễ cúng tổ tiên rồi gia đình ăn ngay tại bếp kiêng; chi họ thờ cúng con Tmoong phrê (chồn em) thì cúng tại bếp kiêng nhưng khi con cháu ăn phải chuyển ra gian nhà ngoài. Họ Cụt khi cúng tổ tiên chỉ lấy hai đùi gà, phần đầu và bộ lòng bày ra mâm cúng.

Khi các gia đình Khơ mú tiến hành cúng lễ thường đóng cửa, treo cành lá ở cầu thang nhà để báo hiệu và không cho người khác họ vào nhà. Bà con quan niệm, khi đang cúng mà người ngoài vào nhà, linh hồn tổ tiên sẽ bay đi mất và trách phạt con cháu. Khi đó, gia đình sẽ trách mắng và bắt phạt người lạ bằng lễ vật để làm lại lễ cúng cho tổ tiên. Chỉ riêng những gia đình thuộc dòng họ có vật tổ là con hổ, khi làm thịt con lợn và cúng lễ, chủ nhà không kiêng người ngoài mà còn mời dân bản đến dự lễ cúng và ăn uống.

Đối với người Khơ mú, tín ngưỡng dòng họ có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh, sinh hoạt dòng họ và cộng đồng. Nó chính là đặc trưng riêng để mọi người xác định quan hệ họ hàng, chi họ. Đồng bào có tục nhận họ hàng qua những tập tục thờ cúng riêng của dòng họ khi tiếp xúc với người cùng dân tộc trong các quan hệ xã hội. Khi đã nhận ra người họ hàng thông qua những nghi lễ và phong tục kiêng kỵ riêng của dòng họ, đồng bào coi nhau cùng một nguồn gốc vật tổ, đối xử như anh em ruột thịt, đi lại thăm hỏi và tương trợ nhau, nhất là vào các dịp đám cưới, tang ma, làm nhà mới, cúng vía hoặc đau ốm. Thông thường, các gia đình cùng dòng họ cư trú gần nhau trong bản, giúp đỡ nhau rất nhiều trong sản xuất (đổi công lao động, giúp nhau hạt giống...), trợ giúp trong đời sống sinh hoạt, cùng nhau tổ chức lễ tết, hội hè, v.v...

3. Những tín ngưỡng dòng họ của người Khơ mú chính là những dáng nét văn hóa tộc người đặc sắc thể hiện ở từng hình thức tín ngưỡng, các nghi thức và trình tự thờ cúng. Các nghi thức tín ngưỡng dòng họ của người Khơ mú cơ bản giống nhau về trình tự lễ thức nhưng khác nhau về thời gian và thời điểm tiến hành, về lễ vật hiến sinh dâng cúng. Sự phân biệt dòng họ và chi họ chủ yếu thông qua các kiêng kỵ và huyền thoại liên quan đến vật tổ, các "ký hiệu" cụ thể mang đặc trưng riêng theo qui định có tính luật tục trong lễ thức được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Những đặc thù dòng họ này ở người Khơ mú vừa cụ thể lại vừa phức tạp, đòi hỏi các thành viên dòng họ phải ghi nhớ để phân biệt giữa các dòng họ và các chi họ.

Tín ngưỡng và sinh hoạt dòng họ của người Khơ mú liên quan đến vật tổ mang tính truyền tích rất sâu đậm. Đó chính là các tín ngưỡng dân gian mang đậm dấu ấn tín ngưỡng của xã hội xa xưa như: tô tem giáo, đa thần giáo, thờ cúng tổ tiên. Nghi thức thờ cúng dòng họ của đồng bào Khơ mú có những kiêng kỵ, đặc trưng riêng rất độc đáo. Điều đó tạo nên niềm tin thành kính đối với tổ tiên, tràn đầy tinh thần "uống nước nhớ nguồn", có ý nghĩa giáo dục truyền thống gia đình và dòng họ, đóng vai trò cố kết tình cảm, củng cố mối quan hệ dòng họ và cộng đồng làng bản.

Tín ngưỡng dòng họ của đồng bào Khơ mú là hạt nhân cơ bản, là "chất keo" liên kết bền chặt trong dòng họ. Nó vừa đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh vừa góp phần cố kết quan hệ dòng họ và tộc người về tư tưởng, tình cảm và nhiều mối quan hệ khác trong đời sống xã hội. Trước hết, tín ngưỡng dòng họ của người Khơ mú là "tín hiệu" để các thành viên cùng dòng tộc nhận biết và gắn bó với nhau, có trách nhiệm giúp đỡ nhau. Đồng thời đó cũng là niềm tin tâm linh và luật tục được trao truyền qua các thế hệ. Tín ngưỡng dòng họ và quan hệ họ hàng không chỉ là chỗ dựa tinh thần và vật chất vững chắc mà còn đóng vai trò điều hòa mối quan hệ giữa các thành viên, các hộ gia đình thành viên và quan hệ cộng đồng khi có những bất hòa xảy ra. Các hộ gia đình cùng tín ngưỡng thờ tổ tiên có sự cố kết cao trong đời sống xã hội. Trong sản xuất, các gia đình anh em dòng họ thường làm đổi công giúp nhau. Khi gia đình ốm đau, hoạn nạn, họ hàng đến động viên, giúp đỡ vật chất và giúp canh tác nương rẫy. Người Khơ mú luôn cố gắng giải quyết những va chạm trong dòng họ một cách ổn thỏa bởi đồng bào quan niệm, việc trong họ để người ngoài biết sẽ bị cười chê.

Cuộc sống định cư trong thời kỳ đổi mới đã đem đến nhiều đổi thay trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội của người Khơ mú ở Nghệ An nhưng các dòng họ Khơ mú tại địa phương vẫn bảo tồn các hình thức tín ngưỡng mang đặc trưng văn hóa dòng họ. Nó vừa là một bộ phận văn hóa tộc người vừa mang bản sắc tộc người độc đáo. Các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng dòng họ của đồng bào Khơ mú ở Nghệ An chính là một loại hình văn hóa dân gian mang đậm chất nhân văn, tính giáo dục truyền thống, đồng thời phản ánh thế giới quan và lịch sử tộc người. Vì vậy, chính quyền và các ngành chức năng cần quan tâm định hướng sinh hoạt dòng họ để bảo tồn, phát huy các giá trị quan hệ dòng họ Khơ mú nhằm thiết thực góp phần xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư, xây dựng nông thôn mới hiện nay. Trước hết, ngành văn hóa cần tiến hành sưu tầm và lưu giữ đầy đủ các câu truyện huyền thoại về tô tem dòng họ, các lễ thức sinh hoạt tín ngưỡng dòng họ.

 

Tài liệu tham khảo

1. Huyện ủy - HĐND - UBND huyện Kỳ Sơn (1995), Đặc trưng văn hoá và truyền thống cách mạng các dân tộc ở Kỳ Sơn, Nghệ An, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

2. Nguyễn Văn Toàn (2014), Định canh định cư và biến đổi kinh tế - xã hội của người Khơ mú và người Hơ mông, Nxb. Thế giới, Hà Nội.

3. Đặng Nghiêm Vạn (1971), "Tàn dư văn hóa nguyên thủy liên quan đến dòng họ, gia đình, hôn nhân người Khơ mú (Vấn đề tô tem giáo)" trong sách Dân tộc, văn hóa, tôn giáo, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2001, tr. 850-885.

4. Đặng Nghiêm Vạn (1991), "Dòng họ, gia đình các dân tộc ít người trước sự phát triển hiện nay", Dân tộc học, (2), tr. 10-18.

5. Viện Dân tộc học (1999), Dân tộc Khơ mú ở Việt Nam, Nxb. Văn hoá Dân tộc, Hà Nội.

 

Kiều Nga

 

Nhằm góp phần tìm hiểu đặc trưng văn hoá của người Tày Poọng, mong muốn cung cấp cho những người quan tâm đến cộng đồng này, chúng tôi xin cung cấp tư liệu về một số phong tục tập quán của họ qua khảo sát, nghiên cứu ở bản Phồng (xã Tam Hợp, huyện Tương Dương, Nghệ An).

Theo các nhân chứng (cụ Viêng Văn Quyết, 80 tuổi; cụ Lô Văn Bình 85 tuổi; cụ Vi Hồng Tin 80 tuổi; ông Viêng Thanh Nghị 51 tuổi) là người Poọng ở bản Phồng (xã Tam Hợp, huyện Tương Dương, Nghệ An) cho biết: người Tày Poọng xưa khi còn sinh sống ở bên đất của Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào, họ được gọi là người Tày Côn Kha (người Xá), từ khi di cư quay về đây sinh sống trên đất (bản Phồng, xã Tam Hợp), họ được gọi là người Tày Poọng.

Từ xa xưa người Tày Poọng có truyền thống du canh du cư, sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy. Vì sống chủ yếu du canh du cư nên nhà sàn của người Tày Poọng thường nhỏ, được làm ba gian, bếp nấu ăn thường đặt ở gian giữa, mái lợp bằng tranh lá cỏ (trước khi làm nhà và sau khi hoàn thành họ đều làm lễ cúng, dù nhà sang hay nghèo thì lễ bắt buộc phải có: 4 bát nước, trầu cau, 1 cây sáp ong và 1 bình rượu trắng). Họ không có trang phục truyền thống riêng, mà thường ăn vận giống như các dân tộc người Thái.

Lễ cơm mới (ắn cờm bởi): Trước khi gieo hạt, người Tày Poọng sẽ làm lễ xin mùa màng bội thu. Lễ chuẩn bị gồm có: 1 vò rượu cần và 2 con lợn mang lên cúng ở khu vực rẫy do cả làng trực tiếp góp. Tới ngày thu hoạch mùa, cụ già làng có uy tín nhất sẽ được gặt trước, sau đó cả bản mới được phép gặt. Khi gặt, mỗi gia đình sẽ chọn lấy vài ba bông lúa đẹp nhất, đem về treo lên bếp lửa với ý nghĩa giữ hồn lúa, tránh tình trạng mất giống nòi, cầu mong vụ sau được mùa bội thu (nếu nhà nào lỡ bị chuột cắp mất mấy bông lúa đó thì phải tìm bông khác thay thế vào bởi nếu bị mất lúa tức là năm sau nhà đó sẽ bị mất mùa). Lúa gặt xong sẽ được họ kẹp phơi khô và cất vào kho. Sau mùa gặt, mỗi nhà sẽ tự làm cho mình một lễ cúng cơm mới trong gia đình (yêu cầu lễ phải có nếp xanh luộc chín, phơi khô, đâm thành gạo, hông lên cho chín). Lễ chuẩn bị gồm 1 bát muối, 1 bát nước lạnh và 1 hông xôi đặt dưới bàn thờ góc nhà.

Dịp lễ tết: Thường vào ngày 29/12 (ÂL), người Tày Poọng làm lễ mời tổ tiên về ăn tết, dù gia đình khó khăn đến đâu cũng phải có: 4 bát nước chè, muối, cơm và gà để cúng bàn thờ. Họ không có đêm giao thừa mà vào đêm 30 tết, nhà nhà bắt đầu thắp đèn, nấu bánh chưng suốt đêm; Sáng mùng 1 (ÂL) gia chủ sẽ ở nhà chờ người đến thăm để cầu may, lấy suôn sẻ (người đến chơi bắt buộc phải uống rượu không say không về). Cũng từ ngày mùng 1, già trẻ trai gái trong bản tổ chức vui chơi đánh khăng, chơi gỗ, ném coòng, đi cà kheo, đánh gù… và họ lần lượt tới từng nhà ăn tết cho đến mùng 5 là hết tết.

Trong tục cưới hỏi (Mìn đoóng): Ngày xưa, để kết tóc xe duyên, những ngày hội xuân, hội làng, trai bản có thể tâm sự với ba, bốn cô gái của bản. Cô nào thích thì chàng trai được mời tối đến nhà cô gái để "ngủ mái" hay còn gọi là "ngủ thăm". Nếu được cô gái ưng thuận, chàng trai tổ chức ăn hỏi ba lần, sau đó mới tổ chức đám cưới. Khi tổ chức lễ cưới, nhà trai phải chuẩn bị lễ vật gồm: hai con lợn, 300 cá mát, sáu gà, một chiếc váy, một áo, một khăn trùm đầu, một đôi chiếu, một đôi khăn thắt lưng, hai vòng tay bằng bạc, một bình vôi, một vò rượu siêu, ba ống nứa gạo nếp và củi đuốc... Vì đám cưới của tộc người Tày Poọng rất tốn kém nên nhiều chàng trai không có tiền cưới vợ, phải đi ở rể ba đến năm năm mới rước vợ về nhà mình.

 Ngày nay, lễ cưới của người Tày Poọng được đơn giản hoá hơn, cũng không có tục ở rể nữa. Thay bằng ông mối thì trong lễ cưới nhất thiết phải có ông Mo (ông mọ), yêu cầu ông Mo không phải là người trong họ. Con trai con gái trong bản đến tuổi thành niên thì được chủ động tìm hiểu nhau (với những cặp đôi mà có ý với nhau từ bé, người con trai Tày Poọng sẽ trông coi dần dần, không để chàng trai khác đến tìm hiểu cô gái của mình). Qua thời gian tìm hiểu, chàng trai về nhà báo cáo bố mẹ (ý mệ) để lo chuyện hôn nhân. Sau khi con trai thông báo đã chọn được bạn tình trăm năm, bố mẹ nhà trai chuẩn bị lễ và nhờ ông Mo sang thưa chuyện với nhà gái. Lễ yêu cầu phải là cặp đôi, thường gồm: 2 đĩa trầu cau, 2 chai rượu, 2 cắp cá. Trong lúc thưa chuyện, hai bên sẽ hẹn ngày sang xin cưới và hỏi phong tục tập quán của nhà gái. Trước khi diễn ra lễ cưới, nhà gái sẽ tổ chức bữa cơm gia đình, lúc này nhà trai phải đưa 1 con lợn đang sống sang cho nhà gái. Nhà trai phải tự mổ lợn, làm thức ăn để bày cỗ mời họ hàng nhà gái. Tiệc kết thúc, nhà trai sẽ ngỏ lời xin ngày đón cô dâu về. Trước lúc cô dâu về nhà chồng, nhà gái chuẩn bị tư trang cho cô dâu (tuỳ thuộc hoàn cảnh mà tư trang). Khi chàng trai đưa cô dâu về, để bước vào nhà, cô dâu phải được ông Mo làm lễ rửa chân bằng chậu nước có bỏ đồng bạc trong đó và đeo cho 1 cặp vòng bạc (với hàm ý đuổi mọi tà ma, không cho chúng bám lấy vết chân, quẫy nhiễu hạnh phúc hai vợ chồng). Ngày xưa người Tày Poọng rất kiêng kị trong chuyện cô dâu có bầu trước khi về nhà chồng, họ cho đó là việc xấu và sẽ bị đuổi ra khỏi làng. Nhưng ngày nay, hiện tượng có bầu trước khi cưới là chuyện họ không ngăn cấm được. Sau khi cưới xong, cô dâu và chú rể kiêng không về nhà gái trong 3 ngày. Ngày thứ 4 mới về lại mặt (plai xiếc chìng xiên xí: trả dấu chân dấu tay bố mẹ sinh thành), lễ gồm có: 1 con gà, 1 mâm xôi, 1 chai rượu. Tuy lễ cưới hỏi ngày nay đã có nhiều cách tân đổi mới, nhưng những nét truyền thống cơ bản trên vẫn duy trì truyền tải tới lớp con cháu của họ sau này.

Quy định con dâu: Trong gia đình người Tày Poọng ngày xưa, người con dâu trong gia đình chỉ được phép ra đến gian giữa nhà, không được phép bước chân vào gian thờ cúng và không được nằm trên giường; ngoài ra, trong nhà nếu bất cứ vật dụng gì hư hỏng (tính từ đầu gối người phụ nữ trở lên) thì họ không được đụng vào sửa chữa. Tuy nhiên, những quy định đó ngày nay chỉ còn tồn tại ở một số hộ gia đình (do quá trình du nhập nền văn hoá mới từ bên ngoài vào).

Khi sinh nở: người phụ nữ Tày Poọng phải ở trong buồng 3 ngày và phải làm bếp riêng trong buồng, không ăn chung bát đũa với mọi người trong gia đình, cơm và thức ăn đều được bỏ vào ống nứa vì sợ lây nhiễm bệnh lạ đến đứa trẻ mới sinh. Đặc biệt, từ khi bắt đầu sinh con cho đến về già, họ sẽ kiêng cả đời không được ăn cá da trơn, những con vật có mồm nhọn. Đứa trẻ mới sinh ra được bà đỡ đem xuống suối tắm nước lạnh liền và cho uống 1 ngụm nước lạnh, sau đó cho ăn cơm nếp nhai (quan điểm thử thách sinh tồn để thích nghi với rừng thiêng nước độc, lớn lên có thể chống chọi với thú dữ, ma thiêng). Ngày thứ 4 đứa trẻ được làm lễ buộc vía đen và đặt tên. Sau 3 ngày sinh nở, người phụ nữ Tày Poọng bắt đầu ra ngoài làm việc bình thường, mọi người có thể tới thăm mà không cần kiêng kị bất cứ điều gì.

Quan niệm về vía: Người Tày Poọng xem thế giới gồm ba tầng: trời, đất và nước. Trên trời có các loại thần linh (pá phạ); trên mặt đất có thần đất (má tít), ma rừng (ma cang xí), ma khe đá (ma kiền trò)...; dưới nước có ma nước (ma đạc), ma con rồng (tố khlụ)...; phía dưới mặt đất (âm phủ) là thế giới của những người lùn (con cùn tày me né). Đối với người sống, mỗi người đều có phần hồn vía (vai) và phần thể xác, trong đó hồn vía giữ vai trò trung tâm sự sống của con người. Người Tày Poọng cho rằng vía là phần vô hình, người thường không nhìn thấy được. Vía thường hay thoát ra khỏi cơ thể để lang thang quanh quẩn ở xung quanh thể xác con người. Nếu vía của ai đó mà bị thất lạc thì người đó sẽ bị bệnh tật, đau ốm và chết. Muốn để cho con người khoẻ mạnh thì phải buộc vía. Do vậy, từ khi mới sinh ra, trẻ con người Tày Poọng sẽ được ông Mo làm lễ buộc vía với niềm tin đứa trẻ được khoẻ mạnh suốt đời. Trong gia đình nào có người ốm đau, bệnh tật, họ cũng sẽ mời thầy Mo về làm vía (ngày xưa lễ vật làm vía cho trẻ em chỉ cần một con gà hoặc 1 con cá, nhưng nếu cho người già thì lễ phải là một con lợn). Con người chết, vía sẽ biến thành ma. Ma thường sống ở nhà mồ, thỉnh thoảng mới về nhà thăm nom và phù hộ cho con cháu.

Tập quán tang ma (Mìn mạ). Khi trong nhà có người tắt thở, người Tày Poọng tháo vách thưng ngay lập tức (nếu bố mất thì phải tháo vách trên gần bàn thờ, nếu mẹ hoặc con cái mất thì tháo vách bên dưới từ nửa nóc nhà trở xuống) để mở cửa cho hồn ma đi, không cho đi cửa chính. Sau đó, họ sẽ tiến hành đánh trống nhằm thông báo cho mọi người biết. Trong 3 ngày đó, con cháu của người chết sẽ không được tắm rửa, không được sang nhà khác, nhất là không được cầm dao và mọi công việc đều phải nhờ tới sự giúp đỡ của bà con làng xóm.

Bước tiếp theo, họ đặt thi hài trên sàn nhà, nơi gần bàn thờ tổ tiên, dọc theo nóc nhà. Tùy theo từng dòng họ mà có cách đặt người chết khác nhau (chẳng hạn như họ Viêng để chân người chết hướng về phía bếp, đầu hướng về phía đầu hồi nơi có bàn thờ tổ tiên; họ Vi để chân người chết hướng về phía đầu hồi có bàn thờ, đầu hướng về phía bếp,...). Khi đưa ma ra khỏi nhà, họ thường đưa ra theo phía đầu hồi, phía chân người chết và chỉ đi qua vách thưng đã tháo chứ không đi qua cửa chính. Trước khi đưa ma ra khỏi nhà, họ phải làm một cầu thang mới, với số bậc bước chân xuống cầu thang là 3 bậc.

Xưa kia vì quá nghèo khổ nên người Tày Poọng không có vải khâm liệm và dùng trong việc làm ma cho người chết, ngày nay, đời sống khá giả hơn nên họ đã tiến hành khâm liệm và mặc quần áo mới cho người chết. Tang phục của họ là áo quần trắng bằng vải xô, đeo khăn trắng. Một số nhà dùng hai con dao cắm cạnh thi thể người chết, một con ở phía đầu và một con ở phía chân; có nhà chỉ cắm một con dao ở phía đầu (thậm chí không cắm). Trên mỗi con dao thắp một ngọn đèn làm bằng giẻ rách tẩm sáp ong. Theo tập quán, người Tày Poọng đặt tất cả các loại nồi, niêu, bát đũa, mâm, gùi, giỏ... ngay bên cạnh thi thể người chết. Nhà khấm khá còn chia cho người quá cố cả những tài sản có giá trị trong nhà. Họ quan niệm, làm như thế là nhằm thông báo cho người chết biết, sau này thành ma, họ không quay trở về đòi con cháu. Khi đưa ma, những thứ đồ dùng chung của cả nhà thì để lại cho những người còn sống dùng, đồ đạc tư trang riêng của người chết sẽ đem theo, và đặt tại mộ trả họ.

Trong thời gian chưa đưa thi thể đi chôn, họ cúng cơm (lễ gồm 1 ống cơm lam, 1 con gà nướng và 1 bát nước) cho người chết vào các bữa ăn thường ngày, như khi họ còn sống. Nội dung lời khấn: Ông, bà (bố, mẹ) chết rồi, không sống lại được nữa, từ nay không ở nhà với vợ con nữa, tôi có ống cơm lam này, con gà này, bát nước này... mời ông, bà (bố mẹ) về ăn, rồi phù hộ cho con cháu,... Con gà ở lễ cúng cơm cứ để vậy, khi chôn cất xong sẽ đặt trên mộ (mời ăn trong vòng 3 ngày). 

Người Tày Poọng không để người chết lâu ngày trong nhà. Nếu chết lúc 5, 6 giờ sáng thì đến 9, 10 giờ phải đem đi chôn cất; chết vào 13, 14 giờ chiều thì khoảng vài 3 giờ sau phải đưa đi chôn; nếu người chết tắt thở vào ban đêm, đến sáng hôm sau đem đi chôn... Hiện nay, do ảnh hưởng các cộng đồng tộc người khác nên có nhiều trường hợp, họ để người chết trong nhà từ sáng đến chiều, thậm chí lâu hơn để đợi anh em, người thân...

Trước khi đưa đi chôn, người Tày Poọng có tập quán chọn giờ yên tĩnh, vắng lặng (plọt) đưa ma đi. Công việc này phải cần đến thầy mo cúng và xem giúp. Trước khi mang đi chôn, họ cúng cơm người chết một lần nữa. Ngày nay, họ dùng hòm để chôn người chết còn trước kia chỉ dùng chiếu quấn người chết (phúc sạt) và buộc 3 dây lạt cặp vào đòn gánh quấn thật chắc chỉ 2 người khiêng, đồng thời dỡ 3 phên tranh trên mái nhà, nơi hay đặt mâm cúng thờ để đưa ra che cho mộ. Nếu người chết là người của bản nhưng chết ở nơi xa (hoặc người chết là người nơi khác tới sống) thì lúc khiêng ma sẽ không cho đi qua bản mà phải đi vòng xung quanh bản.

Trong đám đưa ma, con trai cả đi trước dẫn đầu, sau đó là hai người khiêng thi hài, rồi đến con cháu và người mang các đồ vật cho người chết, sau cùng là những người đi đưa ma và trợ giúp các công việc chôn cất. Ở người Tày Poọng khi đưa ma, họ không dùng cờ hiệu và kèn trống. Theo tập quán, trên đường đưa người chết đi chôn, họ thường không nghỉ, nếu đường xa cần phải nghỉ thì yêu cầu đòn khiêng người chết luôn phải nằm trên vai 2 người khiêng.

Giống như người Thái, với người Tày Poọng khi đến nơi chôn cất, họ đặt thi thể xuống đất rồi dùng trứng gà chọn chỗ đào huyệt. Công việc này thường do một cụ già có kinh nghiệm đảm nhiệm. Người đó sẽ khấn thông báo ma người chết rồi tung hoặc ném một quả trứng lên cao để nó tự rơi xuống đất. Nội dung lời khấn: ông (bà) hãy chứng kiến, tôi lấy quả trứng này chọn nhà cho, nếu thích thì làm cho trứng vỡ, trường hợp không thích thì chọn chỗ khác... Nếu trứng rơi và vỡ ở chỗ nào thì đào huyệt ở chỗ đó. Trường hợp thấy trứng rơi mà không vỡ, khấn lại và ném tiếp quả trứng đó vào chỗ khác. Theo tập quán của người Tày Poọng, huyệt chôn người chết chỉ đào sâu bằng một vai và một tay, tức là sâu khoảng 2/3 sải tay (plạt) người lớn (khoảng 1m).

Khi chuẩn bị xong huyệt, họ hạ thi hài xuống. Lúc hạ huyệt họ không tổ chức cúng lễ và cũng không có kèn trống. Con trai hoặc con rể lấp đất trước, nếu con chết thì cha mẹ lấp đất trước, sau đó mọi người trợ giúp. Huyệt được lấp bằng mặt đất, không đắp thành nấm, sau đó cắm que xung quanh mộ theo dạng đan mắt cáo (phay ta pạt), rồi đặt ba phên tranh (mang theo từ nhà) lên làm mái. Nếu bố mẹ chết thì ba phên tranh này được tháo ở trên mái nhà đối diện với nơi có bàn thờ ma nhà, nếu cháu hoặc con dâu chết thì những tranh đó được lấy ở trên mái bếp. Cuối cùng, họ để cơm, nước và thức ăn ở cạnh mộ, các đồ dùng đã chia cho người chết thì đem đốt hoặc đập vỡ.

Trước khi đi về, tất cả mọi người có mặt trong lễ chôn cất đứng quanh mộ để ông mo gọi vía người sống về theo. Khi ra về, họ đi một mạch, không quay mặt nhìn lại mộ người chết (quan niệm không để ma người chết về theo). Về gần tới nhà họ xuống khe rửa chân tay, rửa những dụng cụ đã dùng vào việc chôn cất. Khi những người tham gia lễ chôn cất về đến nhà, ông mo sẽ đứng ở chân cầu thang, dùng hai chân con gà đang còn sống, cào vào vai của hai người đã khiêng thi hài ra huyệt. Sau đó, họ thịt con gà đó làm lễ cúng vía cho hai người khiêng. Cúng xong, hai người khiêng phải ăn hết con gà. Đồng thời, họ giết lợn làm vía cho những người còn sống. Theo phong tục, họ lấy gan con lợn đó chia làm hai hoặc ba phần, để đưa ra mộ cúng cùng các đồ ăn khác. Ngày đầu họ đưa cơm ra cúng tận mộ, ngày thứ hai đưa đi đặt cúng ở nửa đường rồi trở về, ngày thứ ba sẽ cúng cơm tại nhà.

Sau ba ngày, con cháu người quá cố sẽ làm vía buộc dây trắng ở tay cho đến lúc dây vía tự đứt mới thôi, được lợp lại phên nhà, sửa lại thưng, tắm rửa sạch sẽ, dọn dẹp nhà cửa. Từ đó, họ kiêng không đến và không được động chạm đến mộ nữa. Chính vì thế mà rừng ma của người Tày Poọng cây cối bao giờ cũng xanh tốt, mọc um tùm (người Tày Poọng không cúng lễ ba ngày, 50 ngày và 100 ngày, thậm chí là không làm giỗ hằng năm cho người đã khuất). Ngày nay, tập quán tang ma của người Tày Poọng đã thay đổi rất nhiều. Tuy vậy, các yếu tố truyền thống không vì thế mà bị mai một. Nó đang được họ cách tân cho phù hợp với hoàn cảnh của cuộc sống mới.

Trải qua nhiều thế kỷ du canh du cư, nghèo đói và bệnh tật, lang thang trong các cánh rừng biên giới Việt - Lào thuộc vùng giáp giới miền Tây Nghệ An, chúng ta dễ nhận thấy rằng, cuộc sống, phong tục tập quán của người Tày Poọng tương đối đơn giản. Tuy vậy, một số nét tập quán đó đã phần nào phản ánh các đặc trưng văn hoá truyền thống trong những bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể của họ.

LTS:  Trong thời gian qua, có khá nhiều lễ hội của đồng bào các dân tộc thiểu số được phục dựng ở miền núi Nghệ An, như: Lễ hội đền Chín gian (Quế Phong), Lễ hội đền Chiêng Ngam gắn với danh thắng hang Bua (Qùy Châu), Lễ hội Mường Ham, Lễ hội đền Choọng (Qùy Hợp), Lễ hội làng Vạc (Thái Hòa), Lễ hội Pu Nhạ Thầu (Kỳ Sơn), Lễ hội đền Vạn (Cửa Rào, Tương Dương), Lễ hội Môn Sơn (Con Cuông),... Thông qua các lễ hội này, nhiều giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số được bảo tồn và phát huy. Tuy nhiên việc phục dựng lại các lễ hội bộc lộ nhiều bất cập cần điều chỉnh cho phù hợp. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Lương Thanh Hải - Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Nghệ An.

 

Phóng viên: Hiện nay miền núi Nghệ An có 5 dân tộc thiểu số gồm Thái, Thổ, Khơ mú, Mông và Ơ đu cùng chung sống, mỗi dân tộc có một nét văn hóa riêng, rất đa dạng và phong phú, trong đó có các lễ hội, xin ông cho biết thêm những nét đặc sắc trong các lễ hội truyền thống của đồng bào?

 Ông Lương Thanh Hải: Ta phải khẳng định rằng, từ rất lâu đời vùng miền núi Nghệ An đã có một bộ phận cư dân đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống. Theo tài liệu của các nhà khảo cổ học, dân tộc học và sử sách ghi lại thì người Khơ mú, người Ơ đu là những nhóm cư dân đầu tiên cư trú ở vùng miền núi Nghệ An. Sau đó là người Thái, Thổ và người Mông. Nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng người Thái đã đến Nghệ An cách đây khoảng 10 thế kỷ. Do sinh sống từ lâu đời, trải qua nhiều thế kỷ, đồng bào các dân tộc đã tạo ra cho mình những bản sắc văn hóa riêng, cùng với những hoạt động sản xuất là những hoạt động tín ngưỡng tâm linh gắn với lễ hội ra đời. Bên cạnh đó, các dân tộc thiểu số ở Nghệ An có dân số đông nhưng lại ít thành phần dân tộc (5 dân tộc với khoảng 443 ngàn người), trong đó dân tộc Thái là đông nhất, sau đó là Thổ, Khơ mú, Mông, và dân tộc Ơ đu là ít nhất. Với từng cụm dân cư sống đông đúc và ở lâu đời thì rõ ràng đời sống văn hóa, đời sống tinh thần sẽ đậm nét hơn so với những nơi có nhiều thành phần dân tộc cùng chung sống mà mỗi dân tộc chỉ có một vài ngàn người.

Lễ hội của các đồng bào dân tộc thiểu số thường gắn với đời sống và tâm linh, như lễ hội cầu mùa của dân tộc Thái, nó vừa là lễ hội đời sống, vừa mang tính tâm linh, lễ hội mừng nhà mới của người Khơ mú cũng vậy. Các lễ hội mang tính tâm linh của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Nghệ An thường được tổ chức rất lớn như Lễ hội Xăng Khan - lễ hội phong sắc cho các thầy mo của dân tộc Thái, đặc biệt là trong các nghi lễ về vòng đời của con người. Người dân tộc Thái quan niệm trong vòng đời của họ ít nhất phải tổ chức được 7 lễ, từ lễ ra đời, lễ xin thêm tuổi, lễ giải hạn,... đến lễ lúc mất đi, người ta đều làm lễ rất lớn. Kể cả bố mẹ mất khi đã nhiều tuổi, con cháu trong nhà không chỉ tổ chức lễ thông thường mà còn tổ chức như một lễ hội. Đến nay ta thường thấy trong một số đám tang người Thái vẫn có các trò chơi như: tung còn, nhảy sạp, khắc luống, hát đối đáp,... Đối tượng thực hiện được quy định rất chặt chẽ, ai được làm việc đó. Lễ tang người chết của người Khơ mú cũng được tổ chức rất lớn, lễ đặt tên con đẻ, đặt tên con rể của người Mông cũng vậy.

Phóng viên: Trước sự giao thoa của các nền văn hóa, cùng với thời gian bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số đã bị mai một nhiều, các lễ hội cũng vậy. Theo ông việc phục dựng lại các lễ hội có ý nghĩa như thế nào đối với việc bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc?

Ông Lương Thanh Hải: Thông qua các hoạt động của lễ hội, giá trị văn hóa của các tộc người được bảo tồn và phát huy, như: nghệ thuật truyền thống của các dân tộc (hát đối đáp, dân ca, dân nhạc, dân vũ, các nhạc cụ truyền thống, những bài cúng...). Đồng bào Thái có lăm, khắp, nhuôn, xuối, khắc luống, cồng chiêng,...; Khơ Mú có tơm, tex,...; Mông có cự xia, lù tẩu, sua lồng, sua trà,...; Thổ có đu đu điềng điềng, tập tình tập tang, khai khai rế,...; Các nhạc cụ như cồng chiêng, khắc luống, khèn bè, sáo,... được trình bày thúc đẩy tinh thần sưu tầm, bảo tồn trong cộng đồng. Rồi các môn thể thao, các trò chơi dân gian như: ném còn, đẩy gậy, kéo co, bắn nỏ, đi cà kheo,... được lưu truyền. Lễ hội cũng là dịp mà trang phục các dân tộc trăm hoa khoe sắc, không chỉ ở trên sân khấu qua màn trình diễn trang phục các dân tộc, thi dệt thổ cẩm mà cả ở những người đi dự hội, xem hội.

Một điều đặc sắc nữa đó là thông qua lễ hội người ta đã phổ biến chữ viết của dân tộc mình. Ở Nghệ An chỉ có dân tộc Thái là dân tộc thiểu số có chữ viết. Ngày xưa do không có giấy, đồng bào thường viết trên một loại lá cây bằng mực nho, người Thái gọi là "Nắng Xứ Lan" - "Nắng Xứ" là chữ, "Lan" là lá cây Lan, họ đóng thành từng quyển có hai thanh nẹp hai đầu và có dây buộc ở giữa, nội dung phần nhiều là các bài cúng. Quyển sách bằng lá cây đó chủ yếu là các bài cúng dài mà không phải ai cũng có trí nhớ tốt nên trong các lễ hội người ta thường giở ra để đọc, qua đó bày cho con cháu học chữ, viết chữ. Sau này trong các lễ hội có các cuộc thi viết chữ là vì vậy.

Bên cạnh đó, ẩm thực của đồng bào các dân tộc rất đặc sắc, phù hợp với điều kiện sinh hoạt của đồng bào. Trước đây trong các lễ hội người ta quy định rất chặt chẽ, trong lễ nào phải có món nào, cá phải làm mấy món, và món đó quy định tùy từng gia đình, có thể 5 mâm, có thể 7 mâm, ít nhất cũng phải 3 mâm tùy theo đối tượng phải thờ cúng. Trong các lễ như Lễ Xăng Khan, lễ mừng thọ, lễ xin thêm tuổi, lễ giải hạn của dân tộc Thái đều có quy định món ăn và con cháu phải tự làm lấy, nhà nào cũng phải làm để xem nhà nào làm ngon hơn. Từ đó mà các món ẩm thực của đồng bào được tuyên truyền phổ biến.

Ngoài ra, thông qua lễ hội còn thúc đẩy các ngành nghề thủ công truyền thống phát triển như thổ cẩm, các sản phẩm mộc, gốm, mây tre đan,...

Thông qua các lễ hội, tính giáo dục với thế hệ trẻ rất cao qua các hình thức tổ chức, các bài cúng, các qui định, những điều răn, những điềm cấm... để giáo dục đạo đức, lối sống, nền nếp của gia đình, của con người đối với cộng đồng, với tự nhiên. Nên trong gia đình truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số thường có nhiều thế hệ cùng chung sống rất đoàn kết, ít khi xảy ra cãi cọ... Tục ngữ người Thái có câu "dạy chó mới dùng roi, dạy người chỉ dùng mắt".

Qua theo dõi tôi thấy lễ hội của đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An không có các hiện tượng xô đẩy, tranh giành, thậm chí là đánh nhau để cướp lộc, cướp ấn, hay chen lấn, dẫm đạp tranh nhau dâng lễ, thắp hương, khấn vái để đạt được mục đích cá nhân như một số lễ hội ở các vùng khác. Đây cũng có thể nói là một nét đẹp của đồng bào các dân tộc ở miền núi Nghệ An.

Phóng viên: Có thể nói hầu hết các lễ hội của đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi Nghệ An hiện nay chủ yếu là mới phục dựng lại, vì mới phục dựng lại nên không thể tránh khỏi "tam sao thất bản" nhất là trong hình thức lễ và hỗn tạp trong phần hội, nhiều chỗ đã bị biến tướng. Xin ông cho biết quan điểm của mình về vấn đề này?

Ông Lương Thanh Hải: Cần phải khẳng định rằng lễ hội của đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An rất phong phú và đa dạng, gắn với đời sống và tâm linh của đồng bào. Có thể nói việc phục dựng lại các lễ hội của đồng bào với quy mô lớn như ở Quế Phong có Lễ hội đền Chín Gian; ở Quỳ Châu có Lễ hội đền Chiêng Ngam gắn với danh thắng hang Bua; ở Quỳ Hợp có Lễ hội Mường Ham và Lễ hội đền Choọng; ở thị xã Thái Hòa có Lễ hội làng Vạc; ở Kỳ Sơn có Lễ hội Pu Nhạ Thầu; ở Tương Dương có Lễ hội đền Vạn; ở Con Cuông có Lễ hội Môn Sơn,... có ý nghĩa hết sức to lớn đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các tộc người. Tuy vậy, các lễ hội mới được phục dựng lại mà chúng ta thấy bây giờ chỉ mang tính cộng đồng cao chứ chưa hội tụ hết những bản sắc lễ hội của đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An.

 Phần lớn các lễ hội hiện nay được tổ chức theo kịch bản định sẵn dưới sự hướng dẫn của cơ quan văn hóa từ trên xuống nên thấy na ná nhau và giống các lễ hội của người Kinh, từ nội dung, hình thức đến chương trình của lễ hội. Phần nghi lễ thường có các nội dung: khai quang, yết cáo, lễ tế, lễ khai mạc, lễ rước, lễ tạ,... Phần hội cũng là hội diễn văn nghệ, thi đấu thể thao, hội trại, các trò chơi dân gian,... Thời gian tôi đang làm Chủ tịch huyện Tương Dương, huyện có chủ trương phục dựng lại Lễ hội đền Vạn ở Cửa Rào, tôi rất đồng tình nhưng sau khi xem kịch bản lễ hội tôi lại phản đối. Đã là lễ hội sao lại có kịch bản, trong phần lễ có một ông đứng bên cạnh hô: mo rửa tay, mo đánh trống, mo đánh chiêng, mo bắt đầu cúng,... Trong lễ hội truyền thống đền Vạn không có những chuyện như vậy. Nhưng phản đối không được vì không có kịch bản thì cấp trên không duyệt cho làm lễ hội.

Các lễ hội truyền thống của đồng bào không phải lễ hội nào cũng có nghi lễ rước, nhưng sau khi phục dựng lại thì hầu hết đều có nghi lễ này, cùng cái ngai, cái kiệu giống của người Kinh, cũng từng người khiêng như vậy. Đền Hồng Sơn, đền Quang Trung rước như thế nào thì đền Pu Nhạ Thầu, đền Vạn cũng rước như vậy,...

Trong phần hội một số nơi có những trò chơi bị biến tướng như quay sổ số, ném bóng ăn tiền,...

Phóng viên: Để các lễ hội vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần, tâm linh của người dân và bảo tồn, phát huy các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số vừa góp phần phát triển kinh tế cho địa phương, ngoài việc khắc phục những bất cập nêu trên, theo ông cần có thêm những giải pháp gì?

Ông Lương Thanh Hải: Hiện nay, lễ hội của đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An đều là lễ hội của Nhà nước, phụ thuộc vào kinh phí ngân sách Nhà nước. Do đó, các lễ hội bị hạn chế rất nhiều thứ như về quy mô, về thời gian, về số lượng người tham gia. Muốn bổ sung các nội dung gì đó của lễ hội đều phải được duyệt vì nó liên quan đến ngân sách.

Do vậy, để lễ hội đúng với thực chất của nó, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần, tâm linh của người dân và bảo tồn, phát huy các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số thì phải làm tốt hơn việc xã hội hóa để bà con đến đó một cách tự nguyện, người ta tự nguyên đóng góp cả của cải lẫn công sức của mình. Ví dụ như Lễ hội đền Chín Gian trước đây quy định mỗi mường phải mang đến một con trâu, người dân mường nào thì mường đó nộp tiền với nhau chứ làm gì có ngân sách Nhà nước. Còn nếu cứ phải chờ vào ngân sách Nhà nước thì Nhà nước cho làm cái gì thì mới làm được cái đó mà thôi.

Khi thực hiện phục dựng lại các lễ hội cần phải có các đề tài khoa học để nghiên cứu một cách nghiêm túc, xem xét những nội dung gì cần phục dựng, những nội dung gì cần loại trừ. Gần đây, Lễ hội đền Chín Gian ở Quế Phong được phục dựng lại khá thành công, tương đối giống với lễ hội truyền thống, đó là nhờ có đề tài nghiên cứu khoa học với các giai đoạn nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng vào thực tiễn.

Lễ hội gồm có hai phần, phần lễ và phần hội, theo tôi, để bảo tồn bản sắc văn hóa cho đồng bào thì phần lễ cần phải được thực hiện một cách nghiêm túc theo đúng truyền thống của đồng bào, không nên kịch bản hóa dẫn đến cứng nhắc, làm sai lệch các giá trị văn hóa. Còn phần hội ngoài việc giữ gìn một số nét đặc sắc thì vẫn có thể mở rộng thêm các loại hình khác, đừng bó hẹp vì hội chủ yếu là vui chơi, mà vui chơi thì có thể vui chơi theo cả truyền thống, cả hiện đại để thu hút mọi người tham gia góp phần quảng bá du lịch địa phương.

Xin cảm ơn ông!

KHẮC LANH (Thực hiện)

Nguyễn Thị Hiền

 

Cải cách hành chính được xem là khâu đột phá để xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả nhằm tạo điều kiện tốt cho người dân, doanh nghiệp, các nhà đầu tư tham gia vào các hoạt động kinh tế. Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An giao Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức cuộc điều tra xã hội học "Dư luận xã hội về công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiện nay" nhằm nắm bắt dư luận và tâm trạng xã hội của nhân dân về chất lượng cung cấp dịch vụ hành chính công và năng lực, đạo đức công vụ của cán bộ công chức, viên chức làm việc tại các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh... Trung tâm KHXH&NV được Sở giao chủ trì thực hiện cuộc điều tra.

Đối tượng điều tra là người dân, tổ chức và doanh nghiệp đã giải quyết thủ tục hành chính (đã hoàn thành và nhân kết quả) ở 6 lĩnh vực: thuế, thông quan, đất đai, xây dựng cơ bản, đầu tư và hành chính - tư pháp. Cuộc khảo sát được thực hiện ở các cơ quan hành chính nhà nước các cấp đóng tại 12/21 huyện, thị, thành trên địa bàn tỉnh, gồm: TP. Vinh, Hưng Nguyên, Cửa Lò, Nghi Lộc, Diễn Châu, TX. Hoàng Mai, Nam Đàn, Anh Sơn, Con Cuông, Nghĩa Đàn, TX. Thái Hòa và Quỳ Hợp. Phương pháp triển khai: phân tích tài liệu; phỏng vấn theo bảng hỏi với quy mô mẫu điều tra là 1.600 mẫu (người dân, tổ chức và doanh nghiệp); phỏng vấn sâu (nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý cấp huyện, lãnh đạo doanh nghiệp) và phương pháp chuyên gia (chuyên gia VCCI tỉnh Nghệ An phối hợp thực hiện và tổ chức hội thảo khoa học). Các thông tin thu thập được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0.

Đặc điểm của đối tượng được khảo sát:

Dữ liệu nghiên cứu được thực hiện với kích thước mẫu là N = 1.600. Tổng số phiếu điều tra phát ra là 1.600, số phiếu thu về hợp lệ và đưa vào phân tích là 1.576 (đạt tỷ lệ 98.5% số phiếu khảo sát). Trong đó: 426 mẫu lĩnh vực đất đai, 115 mẫu lĩnh vực xây dựng cơ bản, 98 mẫu lĩnh vực đầu tư, 415 mẫu lĩnh vực thuế, 116 mẫu lĩnh vực thông quan và 406 mẫu lĩnh vực hành chính - tư pháp.

Đối tượng điều tra phân theo 3 nhóm: 950 người dân, chiếm 60.3%; 145 tổ chức chiếm 9.2% và 481 DN chiếm 30.5%. Mẫu thu thập được với các đặc điểm: phân theo giới tính, nam chiếm 58.3% và nữ chiếm 41.7%. Đại đa số là dân tộc Kinh, chiếm 96.6% và các dân tộc khác chỉ chiếm 3.4%. Độ tuổi từ 15 trở lên được phân thành 4 lớp: từ 15 - 30 tuổi chiếm 23.7%, từ 31 đến 40 tuổi chiếm 31.3%, từ 41 đến 55 tuổi chiếm 30.5% và trên 55 tuổi chiếm 14.5%.

Mẫu khảo sát cũng được phân bổ có chú trọng đến hạn ngạch theo địa phương. Theo đó, TP. Vinh có tỷ lệ mẫu cao nhất (36.9%), các huyện còn lại có tỷ lệ mẫu khá đồng đều trên dưới 6%. Về cơ bản mẫu khảo sát đảm bảo tính đại diện của tổng thể nghiên cứu và độ tin cậy cần thiết của các kết quả phân tích thống kê.

Mức độ hài lòng của người dân, tổ chức và doanh nghiệp về chất lượng dịch vụ hành chính công tại các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh:

Kết quả tổng hợp cho thấy người dân, tổ chức và doanh nghiệp cơ bản, những người sử dụng dịch vụ hài lòng với chất lượng dịch vụ hành chính công tại các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh. Mức độ hài lòng nhìn chung ở 6 lĩnh vực đều đạt trên mức trung bình. Tuy nhiên mức độ hài lòng không đồng đều giữa các lĩnh vực, giữa đơn vị cung ứng dịch vụ các cấp. Dựa vào điểm số hài lòng trung bình, mức độ hài lòng của các lĩnh vực dịch vụ theo thứ tự giảm dần là: (1) Xây dựng cơ bản (3.66), (2) Hành chính - tư pháp (3.61), (3) Thuế (3.55), (4) Thông quan (3.40), (5) Đất đai (3.30), (6) Đầu tư (3.25). Như vậy, lĩnh vực đầu tư và đất đai được đánh giá thấp nhất.

Những kết quả đạt được:

Các cơ quan, các địa phương đã đầu tư xây dựng trụ sở làm việc, bố trí bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả (Một cửa) ở vị trí thuận tiện cũng như trang bị các điều kiện hỗ trợ theo quy định.

Việc niêm yết công khai các loại phí, lệ phí được các cơ quan, các ngành, các cấp thực hiện khá tốt; đồng thời thực hiện nghiêm túc việc thu phí, lệ phí theo quy định của Trung ương và UBND tỉnh.

Đại bộ phận đội ngũ cán bộ công chức các cấp, các ngành có tác phong làm việc tốt; thái độ phục vụ công dân lịch sự, niềm nở; hướng dẫn tận tình, đầy đủ; làm việc với tinh thần trách nhiệm cao; am hiểu chuyên môn nghiệp vụ.

Rút ngắn thời gian, giảm thời gian, chi phí đi lại của công dân, đặc biệt là việc áp dụng giao dịch qua mạng điện tử trong một số lĩnh vực.

Những tồn tại, hạn chế:

Tiếp cận thông tin của người dân về thủ tục hành chính còn hạn chế. Cơ sở vật chất và các điều kiện hỗ trợ chưa đáp ứng được nhu cầu cơ bản của công dân khi giao dịch hành chính, nhất là ở cấp xã.

Thủ tục và quy trình giải quyết hồ sơ thủ tục còn khá rườm rà, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư, đất đai. Tỷ lệ đánh giá hồ sơ thủ tục rườm rà, cần cải tiến thêm: lĩnh vực đầu tư là 46.9% và lĩnh vực đất đai là 50.5%.

Thời gian công dân chờ đợi giải quyết hồ sơ thủ tục khá lâu, vẫn phải đi lại nhiều lần. Tỷ lệ công dân phải đi lại để bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ còn khá cao, đặc biệt ở lĩnh vực đầu tư (bình quân 2.77 lần/1 hồ sơ, có 50.7% phải đến từ 3 lần trở lên), đất đai (tương ứng: 2.95 lần/1 hồ sơ và 56.5%), xây dựng cơ bản (tương ứng: 2.31 lần/1 hồ sơ và 21.3%).

Nhiều tổ chức, doanh nghiệp và người dân có tâm lý nhờ quen thân khi làm hồ sơ thủ tục (nhờ người quen, người có chức vụ can thiệp để làm cho nhanh).

Tình trạng "bồi dưỡng", "bôi trơn", "lót tay" tồn tại đáng kể trong giao dịch hành chính công. Tỷ lệ người dân, tổ chức, doanh nghiệp chi thêm các chi phí không chính thức: lĩnh vực đất đai 13.4%, lĩnh vực thông quan 19.1%, lĩnh vực xây dựng cơ bản 23.7%, lĩnh vực đầu tư 38.3%...

Một bộ phận cán bộ công chức thiếu năng lực, tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ chưa đúng mực (còn xảy ra tình trạng đi trễ, nghỉ sớm; hướng dẫn không rõ ràng, khó hiểu; cứng nhắc, nguyên tắc và tỏ ra nhũng nhiễu, gây khó dễ cho người dân và doanh nghiệp). Trong đó, đội ngũ cán bộ công chức thực thi công vụ ở lĩnh vực đất đai (tỷ lệ đánh giá về sự phục vụ của cán bộ công chức: 22.5% hướng dẫn không đầy đủ, khó hiểu; 7.7% xử lý công việc còn lúng túng; 6.5% đùn đẩy, né tránh trách nhiệm; 6.7% lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân), lĩnh vực đầu tư (29.9% hướng dẫn không đầy đủ, khó hiểu; 6.1% thiếu tinh thần trách nhiệm; 12.5% đùn đẩy, né tránh trách nhiệm; 28.7% lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi) và lĩnh vực thông quan (5.5% làm việc chậm trễ so với thời gian quy định; 8.6% hướng dẫn không đầy đủ, khó hiểu; 4.3% đùn đẩy, né tránh trách nhiệm; 9.6% lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi) vẫn chưa nhận được sự đánh giá cao của công dân.

Cơ chế tham gia giám sát của nhân dân với cơ quan hành chính nhà nước trong công tác cải cách hành chính chưa được thực hiện tốt.

Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:

Việc phân cấp, phân quyền và phân trách nhiệm chưa rõ ràng, chồng chéo lẫn nhau giữa các đơn vị từ cấp trung ương đến địa phương.

Người đứng đầu chưa làm tốt trách nhiệm trong công tác chỉ đạo, lãnh đạo cải cách hành chính.

Thiếu cơ chế tham gia giám sát của nhân dân.

Trình độ hiểu biết pháp luật của người dân về cải cách hành chính còn hạn chế.

Công tác tuyển dụng nhân sự chưa tốt.

Sự phối hợp giữa các ban ngành, cơ quan hữu quan chưa đồng bộ...

Từ kết quả điều tra xã hội học về mức độ hài lòng của người dân, tổ chức và doanh nghiệp về chất lượng dịch vụ hành chính công tại các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An, nhóm nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công trong thời gian tới như sau:

Nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ:

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về công tác cải cách hành chính, nhất là các thủ tục hành chính đến mọi tầng lớp nhân dân để các cá nhân, tổ chức biết và nắm rõ.

Thực hiện xây dựng chính quyền điện tử, hạn chế sự tiếp xúc của người dân, tổ chức, doanh nghiệp với cán bộ công chức thụ lý hồ sơ.

Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức:       Tuyển dụng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức "đúng người", "đúng việc" để đáp ứng tốt yêu cầu công việc, thông qua cơ chế thi tuyển, xét tuyển minh bạch, khách quan.    

Không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức định kỳ bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng thực thi công vụ, chấn chỉnh tác phong và thái độ phục vụ từ công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ tại bộ phận một cửa đến công chức, viên chức giải quyết hồ sơ của các phòng chuyên môn.

Xây dựng văn hóa cán bộ, công chức, viên chức. Bản thân mỗi cán bộ phải tự xây dựng văn hóa công chức phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Xây dựng giải thưởng "công chức, viên chức tiêu biểu".

Tăng cường giám sát chặt chẽ việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Kiểm tra thực hiện quy tắc ứng xử đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức theo kế hoạch và đột xuất không báo trước. Xử lý nghiêm cán bộ có hành vi nhũng nhiễu hoặc giải quyết chậm trễ hồ sơ của dân.

Thực hiện đánh giá cán bộ, công chức, viên chức (cán bộ chuyên môn và cán bộ lãnh đạo) theo kết quả thực thi công vụ một cách công khai, công bằng, toàn diện. Việc đánh giá cán bộ công chức, viên chức được thực hiện 2 lần/ năm (6 tháng 1 lần).

Cải cách thủ tục hành chính:

Thực hiện thường xuyên công khai và cập nhật đầy đủ, kịp thời các thủ tục hành chính đang có hiệu lực thi hành thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, đơn vị trên bảng niêm yết công khai (tại trụ sở) và Website/ trang thông tin điện tử của đơn vị theo đúng quy định.

Công khai những trường hợp đã được giải quyết, không/ chưa được giải quyết để người dân đối chiếu, soi xét minh bạch việc làm.

Lập phiếu hẹn công dân, ghi đầy đủ thông tin, đúng quy định; nghiêm chỉnh thực hiện giao biên lai thu phí, lệ phí.

Đa dạng hóa hình thức tiếp nhận và trả kết quả cho các tổ chức, cá nhân. Áp dụng rộng rãi việc trả kết quả giải quyết hồ sơ thủ tục qua dịch vụ bưu điện tại các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh và huyện.

Thực hiện xin lỗi (thư xin lỗi) tổ chức, cá nhân khi giải quyết hồ sơ trễ hẹn do lỗi chủ quan của đơn vị thụ lý, giải quyết hồ sơ. Trong thư xin lỗi ghi rõ lý do trễ hẹn và có chữ ký của lãnh đạo đơn vị.

Nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và ban hành văn bản:

Tiến hành rà soát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thống nhất thực hiện bộ thủ tục hành chính cấp tỉnh, huyện, xã.

Khi xây dựng văn bản liên quan đến chính sách của doanh nghiệp, mời hội và doanh nghiệp tham gia thảo luận để nâng cao chất lượng văn bản.

Phổ biến kịp thời, nhanh chóng các văn bản để các cá nhân, tổ chức nắm bắt được các thủ tục khi thực hiện.

Triển khai có hiệu quả các hoạt động kiểm tra và rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND các cấp ban hành, xử lý kịp thời các văn bản sau khi rà soát theo quy định.

Tăng cường vai trò giám sát của nhân dân trong cải cách hành chính:

Xây dựng cơ chế cụ thể để các tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia giám sát việc thực hiện công tác cải cách hành chính của các cơ quan.

Thực hiện đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo kết quả việc làm, trong đó công dân là chủ thể tham gia đánh giá.

Mở rộng hình thức, cách thức tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân, tổ chức và doanh nghiệp như: tăng cường đối thoại trực tiếp, làm thùng thư để lấy ý kiến góp ý từ bên ngoài đơn vị...

Các giải pháp khác:

Xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp huyện, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp ngành.

Phát huy hình thức gặp gỡ, đối thoại, giải quyết vướng mắc giữa chính quyền và doanh nghiệp (hiện nay thực hiện 1 tháng/ 1 lần); triển khai hình thức này tại cấp huyện.

Trên đây là những kết quả chủ yếu của cuộc điều tra, khảo sát mức độ hài lòng của người dân, tổ chức và doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ hành chính công của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh. Hy vọng những kết quả mà Trung tâm KHXH&NV đã khảo sát trong năm 2016 sẽ được các cơ quan quản lý sử dụng triệt để cho việc xây dựng, thực hiện các giải pháp quyết liệt nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ hành chính công, đem đến những con số khả quan hơn nữa về mức độ hài lòng của người dân, tổ chức và doanh nghiệp trong những năm tiếp theo. 

Lê Nguyên Cẩn

 

Vấn đề tiếp nhận văn học trở thành vấn đề thời sự mỗi khi nhu cầu đổi mới giảng dạy văn chương được đặt ra, nhất là khi việc học văn trở thành bắt buộc đối với đối tượng là học sinh phổ thông (thể hiện rõ qua việc môn văn là một trong hai môn thi tốt nghiệp bắt buộc). Đương nhiên, tại sao học sinh lại chán văn, lại không thích đọc văn hay rất ít đọc văn lại là câu hỏi lớn không dễ giải quyết trong một sớm một chiều. Bởi lẽ, để giải quyết câu hỏi đó cần phải nghiên cứu rất nhiều vấn đề liên quan chẳng hạn như thị hiếu văn chương của thời đại và lứa tuổi, tác phẩm văn học được đưa vào trong nhà trường và tính mục đích của việc lựa chọn ấy, tác phẩm và thể loại của tác phẩm… rất nhiều vấn đề sẽ được đặt ra hết sức nghiêm túc để giải quyết vấn đề trên. Bài viết này chỉ đề xuất một cách thức tiếp nhận tác phẩm văn chương để hướng tới cải tiến cách thức tiếp cận và khai thác tác phẩm văn chương trong nhà trường, để môn văn trở nên hấp dẫn hơn và hứng thú hơn và cũng vì thế chúng tôi không bàn rộng ra các vấn đề khác ít nhiều cũng liên quan tới vấn đề dạy văn và học văn trong nhà trường Việt Nam hiện nay.

Xét từ bình diện xã hội học -  lịch sử, vấn đề tiếp nhận có thể diễn ra trên ba bình diện: tiếp nhận tự nguyện, tiếp nhận cưỡng bức và tiếp nhận vừa tự nguyện vừa cưỡng bức. Ba hình thức tiếp nhận này đã diễn ra trong trường kì lịch sử của dân tộc. Sự tiếp nhận tự nguyện có thể dễ dàng nhận ra qua cách thức tiếp nhận Phật giáo của người Việt: từ tôn giáo nguyên thủy của mình, có thể hiểu nôm na là đạo ông bà, người Việt đã tiếp nhận các giáo lí của đạo Phật với một niềm thành kính vô song và Phật giáo đi vào đời sống của người Việt trong sự hòa đồng thân ái. Ta có thể thấy điều đó qua những câu ca dao: Gần chùa gọi Bụt bằng anh…, hay Gần chùa bế Bụt đi chơi… Việc tiếp nhận cưỡng bức diễn ra trong đời sống của cộng đồng người Việt bắt đầu từ thời kì Bắc thuộc mà trước hết là việc Sĩ Nhiếp mở trường dạy chữ Hán. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết người Việt cổ có chữ viết hay không, nhưng việc học chữ Hán dưới thời Bắc thuộc là bắt buộc, việc giao dịch hành chính bằng chữ Hán là đương nhiên. Tình hình cũng như vậy khi Pháp vào xâm lược và độ hộ Việt Nam. Cách tiếp nhận cưỡng bức này khi trở thành bất khả kháng thì dẫn tới hình thức tiếp nhận nửa tự nguyện nửa cưỡng bức: tự nguyện để tạo ra sự hòa đồng văn hóa, cưỡng bức do việc phải tiếp nhận để tồn tại. Việc tiếp nhận văn học cũng như vậy. Cho dù thích hay không thích, cho dù văn bản hay hay không hay, thú vị hay không thú vị, hợp thị hiếu hay không hợp thị hiếu thì người học vẫn cứ phải học, vẫn cứ phải đọc, vẫn phải tiếp nhận văn bản đó theo các cách trên. 

Việc tiếp nhận tác phẩm văn chương từ bình diện thi pháp học - lịch sử cũng góp phần mở rộng trường nhìn cho việc giảng dạy tác phẩm văn chương mà hiệu quả cải thiện chất lượng giảng dạy là có thể thấy được. Tuy nhiên, cách tiếp cận này cũng không giải quyết được mọi vấn đề đặt ra trong việc giảng dạy một tác phẩm văn chương. Ta sẽ xem xét một cách cụ thể bài Tức nước vỡ bờ trong chương trình Ngữ văn 8. Nếu sử dụng cách thức tiếp cận từ góc nhìn xã hội học - lịch sử, ta sẽ khai thác vấn đề sưu cao thuế nặng, sẽ đánh giá tính chất vô nhân đạo của thứ thuế thân, sự hống hách hay đàn áp thẳng tay của bọn cường hào lí dịch, v.v. và dẫn tới kết luận chính nghĩa thắng hung tàn, hay đơn giản hơn là ta thắng địch thua. Còn nếu sử dụng cách thức tiếp cận thi pháp học - lịch sử, thì ta sẽ có không gian nơi xảy ra sự kiện, các nhân vật tham gia hay có mặt trong sự kiện ấy, diễn biến của sự kiện hay thời gian của sự kiện, v.v… và kết luận được rút ra là gì thì lại tùy thuộc vào người giảng. Nói cách khác là các cách tiếp nhận tác phẩm văn học như trên đều đưa tới việc ngộ nhận hay áp đặt khiên cưỡng các kết luận (hay các giá trị) cho tác phẩm văn chương. Vậy thực chất vẻ đẹp của hình tượng chị Dậu trong đoạn trích đó là gì? Câu hỏi này sẽ không trả lời được nếu ta tách văn học nói chung, tác phẩm văn học nói riêng ra khỏi cội nguồn văn hóa mà nền văn học ấy hay tác phẩm văn học ấy ra đời. Từ đấy, theo chúng tôi, cách khai thác tác phẩm văn học có hiệu quả nhất hay mang lại hiệu quả đích thực chính là cách thức tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa mà vấn đề này chúng tôi đã trình bày trong chuyên luận Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa(1) và được mở rộng trong chuyên khảo Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa(2).

Bởi lẽ, văn học là một trong những dạng thức kết tinh tinh thần cao nhất của văn hóa dân tộc, cho nên việc giảng dạy tác phẩm văn chương không tách rời khỏi việc làm sáng tỏ các giá trị văn hóa mà tác phẩm văn học ấy có được hay chuyển tải. Đứng về phương diện này, phương châm văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí của người xưa không phải là vô lí hay giáo điều, cũng chẳng phải là sự ràng buộc, trói cánh hay chặt chân văn chương. Vấn đề là đạo mà văn học chuyển tải là đạo gì, giá trị văn hóa của đạo ấy là ở chỗ nào, đạo ấy là đạo của cộng đồng hay đạo của một người, là đạo của minh quân hay của hôn quân, v.v. Văn không tải đạo, thơ không nói chí đương nhiên sẽ không thành thơ hay thành văn. Tác phẩm văn học chân chính chuyển cho người đọc, cho các thế hệ kế tiếp bức thông điệp văn hóa của thời đại mà tác phẩm đó ra đời và kế thừa. Giảng dạy tác phẩm văn chương do đó, xét về bản chất là giảng dạy đạo lí làm người này, chứ không phải là giảng dạy kĩ thuật kể chuyện hay tán dương cách dùng từ, lối đặt câu. Các giá trị đạo lí làm người mà tác giả hướng tới sẽ qui định cách kể, cách dùng từ, qui định ngôi kể cũng như những vấn đề khác để tạo ra tác phẩm, nghĩa là nội dung nào sẽ có hình thức ấy và khi đó hình thức ấy sẽ là hình thức mang tính nội dung, có khả năng chuyển tải nội dung mà điều này ta có thể dễ dàng nhận thấy trước tiên qua các hình tượng con người mở đường trong văn học phương Tây: bằng hành động thực tiễn như Ulysse hay Robinson Crusoe..; bằng hành động mở đường khám phá chân lí nhận thức như Don Quijote, Hamlet, Faust… Cái hiện thực được đưa ra trong tác phẩm văn chương không phải là hiện thực mắt thấy tai nghe bởi như thế hiện thực ấy chỉ là hiện thực sao chép. Ngay cả khi Aristote nói nghệ thuật là mô phỏng thì cũng không phải và không nên hiểu là sự sao chép thuần túy. Mô phỏng của      Aristote là sự bắt chước một cách sáng tạo bởi văn học nghệ thuật là sáng tạo. Tác phẩm văn học nghệ thuật đưa ra các khả biến của cuộc đời, của hiện thực để thế chỗ cho một hiện thực đã xơ cứng hay đã được lịch sử hóa trong dòng thời gian. Cái thú vị của văn chương là ở tính khả biến này và mỗi thế hệ đến văn chương là để khai thác tính chất khả biến này để nhận thức rõ hơn bức thông điệp văn hóa mà tác phẩm văn chương chuyển tải. Vì thế đối với Hans-Robert Jauss, người sáng lập và đại diện chủ yếu của trường phái Konstanz thì mỹ học tiếp nhận có khát vọng trở thành một hình thức phân tích nhằm tạo ra sự chú ý về cặp tác giả - văn bản (auteur/ texte) khi hướng tới mối quan hệ văn bản - độc giả (texte/ lecteur) và vấn đề về mối quan hệ này đã được ông trình bày và lí giải trong công trình Về một mỹ học tiếp nhận (1972-1975)(3). Nói cách khác, mỹ học tiếp nhận thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa tác giả và văn bản mà tác giả tạo ra để trên cơ sở đó đi tới giải quyết mối quan hệ phái sinh: quan hệ giữa văn bản và người tiếp nhận. Chính vì thế trong việc tiếp nhận, vai trò của văn bản là vô cùng quan trọng. Chính tầm quan trọng này mà chúng tôi xác lập cách tiếp nhận mà chúng tôi định danh là tiếp nhận kí hiệu học - văn hóa (la réception sémiotique-culturelle).

Từ bình diện kí hiệu học - văn hóa, một văn bản văn học hiểu đơn giản là một văn bản được trích giảng trong chương trình Ngữ văn nói riêng (nói đơn giản là vì khái niệm văn bản cũng là một khái niệm chưa được hiểu đầy đủ và thống nhất hiện nay mà trong bài viết này chúng tôi chưa có thể bàn tới) hay một tác phẩm văn học nói chung trước hết là một tấm thảm ngôn từ được đan dệt bằng vô số các kí hiệu ngôn ngữ. Các kí hiệu ngôn ngữ vừa đồng thời thực hiện một trong hai chức năng: hoặc là cái biểu đạt hoặc là cái được biểu đạt hoặc đồng thời vừa cả hai chức năng đó. Các kí hiệu ngôn ngữ này mang trong nó những giá trị văn hóa một cộng đồng của một dân tộc với sự đa dạng và phong phú về mặt ngữ nghĩa. Mỗi từ khi đứng riêng hoặc được xếp vào trong từ điển thì tự thân chúng đã có và mang nghĩa từ điển theo qui ước cộng đồng rồi nhưng khi tham gia tạo dựng tấm thảm ngôn từ tạo ra văn bản, tạo ra tác phẩm từ mỗi từ như vậy lại có khả năng tạo sinh nghĩa mới, tạo ra những kí hiệu mang nghĩa mới.

Chẳng hạn: đó với đây không dây mà buộc, ta sẽ thấy đó đây hai từ chỉ địa điểm chỉ, không gian (đó ><đây) nhưng trong văn cảnh của câu ca dao này thì đó - đây không chỉ còn mang ý nghĩa không gian nữa mà đã khoác thêm vai trò chỉ trạng thái (chỉ người, chỉ hai đối tượng); đồng thời khi đặt đó trong quan hệ với đây thì cũng xác lập luôn một quan hệ ràng buộc mà quan hệ ràng buộc này gắn với quan hệ về giới, gắn với quan hệ tình cảm và đồng thời cũng tạo ra sự ràng buộc pháp lý, cho dù pháp lí ở đây là pháp lí của đất trời, của tình người, của cảm thức yêu đương. Từ đó, câu thứ hai sẽ tiếp nối câu thứ nhất và mở rộng hàm nghĩa của thông điệp: Ta với nường không thuốc mà say. Ở đây, đại từ ta vừa có tính chất khẳng định vị thế đàn ông của chủ thể trữ tình vừa có tính chất cảm xúc thăng hoa của chính chủ thể trữ tình này. Đại từ nàng được biến điệu thành nường để chỉ sự thăng hoa của cảm xúc đó qua biểu hiện của sự nâng niu âu yếm, nhưng vẫn có sự cách biệt đó - đây. Vì thế, câu ca dao trở thành hình thức giãi bày, trở thành hình thức trữ tình của chủ thể trữ tình. Như vậy việc tiếp nhận văn bản văn chương nói riêng hay tác phẩm văn học nói chung không còn là chuyện đọc theo cốt truyện, theo mạch kể hay mạch tả nữa mà bao quát hơn thế nhiều, bởi đọc ở đây - hay học văn chương ở đây - chính là việc giải mã các kí hiệu ngôn từ được sử dụng trong văn bản đó để tìm ra và thưởng thức các giá trị văn hóa ẩn chứa trong các kí hiệu ngôn từ ấy.

Chúng tôi sẽ không bàn nhiều về lí thuyết bởi lẽ các lí thuyết về kí hiệu học văn bản hay các lí thuyết về văn hóa thì rất nhiều mà mỗi công trình như vậy không phải giải quyết trọn vẹn mọi thứ mà cũng chỉ dừng ở từng cấp độ nhất định tùy thuộc mục tiêu mà tác giả công trình đó theo đuổi. Chúng tôi cũng không đề cập hay đi sâu vào vấn đề mã, mã hóa hay giải mã vì các vấn đề này đã được thể hiện trong các công trình đã nêu của chúng tôi. Nhưng để giản tiện chúng tôi sử dụng lại hệ qui chiếu năm mã mà Roland Barthes đưa ra trong cuốn S/Z khi ông phân tích truyện ngắn Sarrasine của H.de Balzac(4). Năm mã đó là: mã hành động, mã giải thích, mà nội hàm, mã tượng trưng và mã văn hóa. Roland Barthes cho rằng mọi tác phẩm văn học đều được cấu trúc từ năm mã này tạo thành tấm thảm ngôn từ có sức sống đặc biệt và có khả năng chuyển tải vô hạn, mà từ đó một trong những hệ quả văn chương dễ thấy là tính chất mở của tác phẩm văn học. Mọi tác phẩm văn học chân chính tự nó là một cấu trúc mở. Cách quan niệm và xử lí phân tích tác phẩm văn học theo năm mã mà Roland Barthes thực hiện trên truyện ngắn Sarrasine là một hình mẫu cho cách thức tiếp cận kí hiệu học - văn hóa.

Chúng tôi chỉ trình bày một vài ví dụ để làm sáng tỏ cách tiếp cận này. Ta sẽ lấy câu mở đầu tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài để phân tích: "Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô con gái ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa". Trước hết câu chuyện được kể ở đây được bắt đầu từ những câu chữ đầu tiên, bằng hình thức tự sự tâm tình có đôi chút giải thích: "Ai ở xa về"… Cách mở đầu này cho thấy vị thế của người kể chuyện (hay người dẫn chuyện cũng được): vị thế gần với nơi câu chuyện được kể xảy ra; đó là "nhà thống lí Pá Tra". Như vậy, việc "về" tự thân nó sẽ có một đích đến, nhưng đích đến này có tính chất bắt buộc, đó là "có việc". Giữa đích đến và người đến xuất hiện tính chất miễn cưỡng, tính chất ràng buộc pháp lí để gia trọng cho chức quyền của chủ nhân ngôi nhà nơi đích đến ấy: "nhà thống lí". Thống lí này có một cái tên: Pá Tra, cái tên này mang trong nó một giá trị, một uy quyền thống trị vì thế "ai ở xa về" thì không phải là về thăm mà về là bắt buộc vì "có việc" liên quan tới cái quyền uy thống trị này, hay chịu sức nặng của quyền uy này. Việc đến đã là bắt buộc, là không tự nhiên cũng không có ràng buộc tình cảm đã đành mà còn hơn thế còn bởi sự việc hay sự kiện luôn đập vào mắt người ta, đó là "thường thấy", nghĩa là sự kiện này không hiếm hoi, nếu không nói hẳn ra là thường xuyên, nếu không nói là luôn luôn quen thuộc đến mức trở thành "thường". Cái "thường thấy" này là một "cô con gái" được đặt cố định bên cạnh "tảng đá trước cửa", cạnh "tàu ngựa" với một công việc tự nó cũng phải mang tính chất cố định, đó là "quay sợi". Thủ thuật đánh lừa xuất hiện. Bên cạnh những vật vô tri vô giác như "tảng đá" hay "tàu ngựa" là một "cô gái" - ở đây là "cô" chứ không phải là bà hay chị, đại từ "cô" cho thấy độ tuổi của nhân vật - gắn với một công việc có thể phát ra âm thanh ("quay sợi") nhưng âm thanh ấy không phải là âm thanh lên bổng xuống trầm hay có âm điệu trữ tình nào mà nó gợi về một âm thanh của nỗi buồn triền miên mang đầy ám ảnh của "kẽo cà kẽo kẹt…" vọng về từ Tấm Cám. Cái "thường thấy" trở nên có sức nặng, bởi nó là thường xuyên, nó là liên tục, nó bắt buộc: một người con gái - độ tuổi ở đây rất quan trọng, độ tuổi này sẽ tạo ra giá trị tố cáo cho câu chuyện được kể sau này khi gắn nhân vật với cuộc hôn nhân gá nợ hay con dâu gạt nợ của nhà thống lí Pá Tra - được cố định cạnh những vật cố định, với một công việc cố định, tất yếu cái nhận biết đầu tiên đó là nỗi buồn của người con gái ấy. Như vậy, các kí hiệu ngôn ngữ được sử dụng ở đây đã tạo ra hình thức biểu đạt để diễn tả một thông điệp về thân phận của một con người, về vấn đề hạnh phúc và tuổi trẻ, về các phong tục tập quán, về sức mạnh quyền uy của thần quyền và quân quyền, v.v, nhưng cụm từ "cô con gái" cũng hàm chứa trong nó sức mạnh tiềm ẩn được hiểu theo quan niệm "gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu" để sau này nó sẽ trở thành sức mạnh quật khởi khi Mỵ - người con gái ấy - đứng lên thực hiện hành động cởi trói cho A Phủ để tự cởi trói cho số phận chính mình. Đương nhiên, sức mạnh tiềm ẩn ấy không phát triển theo qui tắc đi từ tự phát tới tự giác như vẫn thường được hiểu, mà sức mạnh tiềm ẩn này hoạt động theo nguyên tắc của mầm cây hay hạt quả: khi đã tiếp xúc với đất, khi tự nó đã hội tụ mọi yếu tố cần thiết, mầm cây hay hạt quả ấy sẽ tự đội đất chui lên mà không gì cản trở được sức vươn lên ấy. Sức mạnh tiềm ẩn này hoạt động theo nguyên tắc mà minh triết dân gian đã chỉ ra, đó là "con giun xéo lắm cũng quằn". Như vậy, câu đầu tiên của tác phẩm đã cho thấy tính chất văn hóa của thông điệp mà nhà văn muốn gửi tới cho độc giả, đồng thời cũng cho thấy sức mạnh của các kí hiệu ngôn từ khi chúng được đan dệt thành tấm lưới ngôn từ của tác phẩm văn chương, mà điều quan trọng là nó tạo ra cách tiếp nhận văn chương như bản thân tác phẩm văn chương vốn có.

Chúng tôi sẽ phân tích tiếp một dẫn chứng khác bằng đoạn mở đầu tác phẩm Miếng da lừa của H. de Balzac: "Khoảng cuối tháng mười năm ngoái một chàng thanh niên bước tới khu Hoàng cung vào lúc các sòng bạc mở cửa, theo đúng như pháp luật vẫn che chở một dục vọng vốn dĩ đánh thuế được. Chẳng ngập ngừng cho lắm, anh ta leo cầu thang lên cái sòng tên là sòng số 36"(5).

Tất nhiên quan hệ đầu tiên mà ta cảm nhận được đó là giữa ta và người kể chuyện đang có một mối liên hệ: người kể chuyện bắt đầu kể cho ta, bắt đầu dẫn dắt ta. Việc xác lập quan hệ này rất quan trọng tạo ra tâm thế tiếp nhận và đương nhiên là nó qui định tâm thế của người học văn hay dạy văn. Không có tâm thế này không đi vào tác phẩm được. Đoạn mở đầu tác phẩm Miếng da lừa này cũng cho thấy luôn phong cách của Balzac, trước hết là cách mở đầu bằng không - thời gian niên biểu: "khoảng cuối tháng mười năm ngoái", thời gian được cố định lại dưới hình thức thời gian quá khứ và được đặt trong quan hệ so sánh ngầm ẩn nhưng hiện hữu mà không phải là hư cấu: "năm ngoái - năm nay"/ quá khứ - hiện tại. Như vậy tại thời điểm hiện tại, người kể chuyện bình thản kể cho ta nghe câu chuyện đã xảy ra vào thời gian trước đó, thời gian được minh định là "tháng mười năm ngoái" và được ước định bằng "khoảng (environ)" như một thủ thuật đánh lừa để tạo ra ấn tượng người thực việc thực vốn rất dễ thấy trong các tác phẩm văn học phương Tây. Tác giả - người kể chuyện kể cho ta nghe câu chuyện về "một thanh niên" - một nhân vật được xác định rõ độ tuổi và giới tính ngay từ đầu - điều này quan trọng bởi nó sẽ qui định hành trạng của nhân vật, qui định cách thức ứng xử thẩm mỹ của nhân vật trong hoàn cảnh nhân vật được đặt vào hay được thể hiện. Không gian nơi nhân vật thực hiện hành động của mình là một địa chỉ rõ ràng với một chức năng cũng rất rõ ràng, đó là "khu Hoàng cung vào lúc các sòng bạc mở cửa" mà ở đây tính chất trang nghiêm của khu Hoàng cung được đặt vào một nhiệm vụ mới gắn với các "sòng bạc" mà bản thân các sòng bạc này cũng có tính chất "nghiêm trang" nếu không nói là "nghiêm trọng", nhưng về bản chất sự nghiêm trang của Hoàng cung như là một nơi gắn với quyền bính chức tước với lễ hội xa hoa, v.v…, thì "sòng bạc" ở ngay vị thế của Hoàng cung ấy cũng mang vẻ trang nghiêm đầy chết chóc của nó. Cái trang nghiêm của cổ xưa gắn với cái trang nghiêm của hiện tại cho thấy bản chất đích thực của xã hội mới và cho thấy sức mạnh mới của thời đại ấy, đó là sức mạnh của đồng tiền. Người thanh niên ấy đến sòng bạc để thực hiện một dục vọng của mình "theo đúng như pháp luật vẫn che chở một dục vọng vốn dĩ đánh thuế được". Như vậy thời đại mới gắn với cách thức tổ chức xã hội mới hiện ra trước mắt người nghe.

Hành trạng hay cách thức hành động của nhân vật cũng được bộc lộ liền sau đó: "Chẳng ngập ngừng cho lắm, anh ta leo cầu thang lên cái sòng tên là sòng số 36". Như vậy, nhân vật - mà cho đến lúc này ta cũng mới biết về độ tuổi về giới tính mà chưa biết danh tính của anh ta, tên nhân vật bao giờ cũng là một giá trị - đã hành động một cách dứt khoát. Tác giả miêu tả cho ta điều đó: "Chẳng ngập ngừng cho lắm", nhưng trong cái dứt khoát có cái không dứt khoát, bởi lẽ cụm từ "cho lắm" đã mách bảo ta điều này. Hành động của nhân vật không phải là bước lên mà là "leo", cho dù leo hay bước lên cũng đều hàm nghĩa đi lên cả nhưng leo - mà lại "leo cầu thang"- cho thấy tính chất nặng nề, tính chất khó nhọc của công việc mà người thanh niên đó đang tiến hành. Cầu thang mà lại phải "leo" cũng mang lại một ấn tượng khủng khiếp về cái không gian mà chàng thanh niên dấn thân vào. Anh ta có một đích đến, đó là "cái sòng có tên là sòng 36". Như vậy, kí hiệu 36 ở đây thông báo cho ta biết, nơi đây không chỉ có một sòng bạc mà có rất nhiều sòng bạc hay nói cách khác đánh bạc trở hành hình thức công khai được pháp luật bảo trợ dưới hình thức "đánh thuế"; đồng thời kí hiệu này cũng cho thấy người thanh niên này không chỉ lần đầu tiên đến đây mà đã đặt chân đến đây rất nhiều lần. Con số 36 có thể đã mang lại cho anh ta những vận may nhất định, có thể là sòng bạc phù hợp với túi tiền hay cách chơi của anh ta: sòng bạc 36 đã trở thành thân thuộc với anh ta. Nói cách khác, cuộc đời của anh ta đã nằm trong sự phán quyết của đồng tiền, của những cuộc đỏ đen nhưng điều quan trọng hơn cả là trong cái thế giới đồng tiền ấy anh ta là kẻ đã bán linh hồn cho quỷ sứ. Các câu mở đầu mà ta vừa phân tích ở đây mang lại cho ta một thông điệp về sinh hoạt văn hóa của xã hội Pháp thời Balzac. Vì câu chuyện mà tác giả kể cho ta nghe xảy ra vào "khoảng tháng mười năm ngoái", nên tính chất hiện thực nổi bật lên như một giá trị của tác phẩm, bởi vì nguyên tắc của sáng tác hiện thực chủ nghĩa là lấy bản thân đời sống để mô tả cuộc sống, là lấy hiện thực đang diễn ra để tái hiện các số phận và nhân vật nằm trong trường hiện thực ấy. Nói cách khác, việc phân tích hay tiếp nhận tác phẩm văn học từ góc độ kí hiệu học - văn hóa giúp ta đi sâu vào tác phẩm, không chỉ ở nội dung câu chuyện được kể, không chỉ ở cách kể hay không gian thời gian… mà còn là các giá trị văn hóa gắn với thời đại mà tác phẩm ra đời, là bút pháp hay phong cách của tác giả, là phẩm chất của trường phái hay trào lưu văn học mà tác giả và tác phẩm là một phần của trường phái hay trào lưu mà giới nghiên cứu đặt vào.

Từ đó, tiếp nhận văn học từ góc nhìn văn hóa hay cụ thể hơn từ góc độ kí hiệu học - văn hóa sẽ giúp ta thấy được tính chất đa trị của tác phẩm văn chương, giúp ta nắm bắt được chiều sâu của hình tượng, giúp ta hiểu được các giá trị văn hóa - như là hiện thân của cái mà cha ông vẫn gọi là "đạo"/văn dĩ tải đạo/ - và đó là một cách thức tiếp nhận khả dĩ mang lại sự đổi mới cho văn chương.

 

Tài liệu tham khảo

1. Lê Nguyên Cẩn: Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa, NXB Giáo dục 2008; Thông tin truyền thông 2011.

2. Lê Nguyên Cẩn: Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 2013. Loại sách ebook.

3. Hans-Robert Jauss: Pour une esthétique de la réception, Gallimard. Paris, 1978.

4. Roland Barthes: S/Z . Éd. du Seuil. Paris 1970.

5. Balzac: Tấn trò đời, tập 15, NXB Thế giới, Hà Nội 2001.

Đậu Kỷ Luật

Trang phục là một trong những yếu tố văn hóa của con người. Nó trở thành quan trọng đối với vẻ đẹp con người, chức năng thẩm mỹ cao.

Trang phục còn biểu hiện đặc trưng của một dân tộc do đặc điểm của các yếu tố đời sống tộc người như yếu tố địa lý tự nhiên, yếu tố kinh tế, yếu tố tâm lý... Bởi vậy, trang phục là một trong những dấu hiệu quan trọng để xác định tộc người. Nó liên quan đến đời sống tinh thần và cả đời sống tâm linh. Địa phương có nhiều nhóm dân tộc lại càng đa dạng.

Trang phục (y phục và trang sức) ở bài này chúng tôi chỉ xin được tìm hiểu một khía cạnh là nghệ thuật tạo hình trong văn hóa dân gian (folklore) dân tộc Thái ở địa phương.

Trong văn hóa dân tộc Thái, vải vóc chứa đựng 4 khái niệm:

1. Vật tượng trưng cho phái đẹp: Có trong thành ngữ Thái "Kinh đao khao lụa", thân hình cao thanh óng ánh trong từng dải lụa và nói lên cái nết của người đẹp:

"Muôn dệt muôn kin" (Vui làm vui ăn); "Muôn pin nay" (Vui quay xa thành sợi) và "Muôn quay lải" (Vui kéo sợi ươm tơ).

2. Vật dùng trong suốt cả cuộc đời: Lọt lòng mẹ đã cần đệm..., gả chồng cha mẹ dùng vải làm của hồi môn cho con gái. Trong mọi phong tục cúng, lễ bao giờ cũng phải bày 2 mâm "thóc gạo và vải vóc" (pan khảu, phan phải) trong tín ngưỡng phồn thực, tiếng Thái gọi là "làm tục nòi giống" (dệt hịn chưa phăn) thì hạt thóc và hạt bông được chọn làm vật tượng trưng. Khi con gái về nhà chồng, họ hàng chia cho hạt bông, hạt thóc về làm giống... Và cuối cùng vải vóc còn đóng vai trò quan trọng trong đám ma. Nó không những làm khăn, áo tang khâm liệm mà còn làm "cờ phướn" (cheo) của thân nhân chia phần cho người chết về "bên kia thế giới".

3. Vật tượng trưng cho sự giàu sang trong xã hội đúng như tục ngữ:

Ngân căm dú nẳng ải

(Tiền vàng ở nơi cha)

Phải pháy dú nẳng êm

(Vải vóc ở nơi mẹ)

Phảu tém cúm tém bem lỏ hăng

(Ai đầy cúm, đầy bem là giàu)

Phảu băng nả păng lăng lỏ khó

(Ai rách trước rách sau nghèo khó)

4. Vải vóc là văn hóa kỹ thuật: Người sản xuất phải trải qua quá trình học hỏi. Một là, trồng bông ra và biến bông thành vải. Hai là, biến vải thành các vật liệu tiêu dùng: quần, áo, váy, chăn, màn rèm, đệm,...

Trong nghề thêu dệt, các cô gái Thái nổi tiếng về đôi bàn tay khéo léo, đã được hình tượng hóa trong văn học dân gian: "vuốt thuôn như cuộn lá hành", "mềm mại như áng mây bay". Bởi vậy mới có câu ca độc đáo:

... "Úp bàn tay đã thành hoa văn

Ngửa bàn tay thành hoa với lá".

(Khuổm mư pến lái

Hai mử pên bóck)

Và sự sáng tạo các họa tiết hài hòa trong thổ cẩm là mẫu mực của người con gái "gái biết làm vải, trai biết đan chài" (nhinh hạ dệt phải, trái hụ san he).

Họa tiết thổ cẩm được sử dụng trong dệt chăn, thêu dệt mặt gối và khăn đội đầu, ghép các miếng vải màu thành mặt rèm... Trong quần áo phụ nữ cũng có những họa tiết hấp dẫn thể hiện tài nghệ của người phụ nữ Thái.

Có một điều thú vị là văn hóa phương Đông đã ăn sâu trong văn hóa Thái một cách tự nhiên. Phải luôn giữ mức quân bình của cái đong đưa giữa âm và dương. Nhưng cần chú trọng đến hai trạng thái quân bình là: quân bình tịnh và quân bình động.

Các họa tiết thổ cẩm phần lớn, theo cách gọi của các nhà mỹ học là hình "kỷ học". Đó là những đường vạch ngang nhỏ, chồng lên nhau hoặc chắp nối nhau thành cái đường viền đậm, dài hoặc gãy góc để tạo ra các hình tam giác, chữ nhật, vuông, thoi,... Các khối hình đó chắp nối sát nhau rất ăn khớp trên các đường viền, thẳng, chéo, ngang, dọc của chúng để tạo ra hai đường thẳng song song cắt nhau. Các khối hình cũng có thể không nối nhau theo kiểu bố cục cân xứng nên các đường viền hoa văn có thể chạy ngược chiều... Họa tiết thường dùng các loại màu tươi sáng rực rỡ với lối sử dụng màu tương phản như trắng - đen, mờ - đậm..., hai màu tôn nhau như đỏ - vàng, đỏ - xanh lá cây, xanh da trời - trắng... Đó là thực hiện quy luật âm, dương ta lại thấy hình thành hai bố cục:

Một là, bố cục phải kín hết chiều ngang của tấm vải nền, trong đó các loại hình hoa văn được xếp thành hình học tạo nên những đường băng. Cái đường băng hoa văn ấy lại được ghép sát nhau để phủ kín toàn bộ mặt thổ cẩm. Trên tấm thổ cẩm gấu váy Tày Mường thì cấu tạo hình quả trám nằm ngang thân váy và ngược lại Tày Thanh thì hoa văn trám xếp theo chiều dọc thân váy.

Hai là, bố cục thành băng hoặc từng mảng của nhóm hoa văn đặt trên màu nền của tấm vải, chẳng hạn như màu nền thân váy của người Tày Mường là đen, lại được thêu hoặc dệt lên những nhóm hoa văn chỉ màu. Trên tấm thổ cẩm Thái các mô típ hoa văn được phân chia thành mảng chính, mảng phụ một cách rõ rệt tạo dáng trong dệt và thêu thành những loại thực vật, động vật hoặc những điểm, nét... mà người ta đã cảm nhận được trong sự quan sát thế giới tự nhiên quanh mình để đưa vào thành họa tiết trang trí. Còn hai phần phụ ở 2 mép là những đường màu kẻ tường thành băng khép kín. Nhìn tấm thổ cẩm ấy, phần phụ được xem như những đường xoay trục quanh phần chính tạo ra một lực nam châm thu hút sự chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ nhân đem lại.

Sự thể hiện đồ án hoa văn tinh tế còn nổi lên trong cách sử dụng chỉ màu khá đặc sắc. Đó là cách sử dụng màu tương phản đối chọi nhau một cách tài tình. Đó chính là thống nhất trong âm dương: nước với cạn; sông với núi; đất với trời...

Trong đồ án hoa văn Thái ta còn thấy nổi lên nét trang trí đối xứng giữa hai mặt mâu thuẫn, thống nhất rõ rệt như cùng một hình, phải đặt ở bên phải - bên trái, trên - dưới, mưa - nắng...

Phải khẳng định rằng đây là cách nhìn thế giới trong sự tương quan giữa những vật đối lập trong thể thống nhất (quan niệm lưỡng phân, lưỡng hợp) trên những mẫu thêu đã thể hiện khá rõ cây cối phát triển trong khung cảnh đất - trời khá xung khắc. Có hoa đực (nhị đực) trên tấm thổ cẩm thường phải có hoa cái (nhị cái) rồi có quả....

Họa tiết trang trí thường lấy đề tài trong tự nhiên.

Xin nhắc đến một chi tiết là cây guột là loại cây được diễn tả khá đặc sắc trên khăn "Piêu".

Khăn Piêu làm bằng một sải vải nhuộm chàm màu đen. Người ta nhấn thêm một vài lần nước măng chua, nước vỏ cây ban để mặt vải ánh cứng, ánh sắc chàm đen. Các chị em dùng khăn Piêu để cuốn trên đầu che phòng khi nắng, khi rét và trang sức. Bởi vậy khăn được thêu thùa nhiều màu sắc khá công phu. Điều khác biệt và đặc sắc của khăn Piêu là ở những viền tròn, hình ngọn cây guột được cách điệu hóa thành chùm thêu nhiều màu giản dị, đính ở hai đầu Piêu, tiếng Thái gọi là "cút Piêu". Như vậy cây guột là hình tượng nghệ thuật để cấu tạo trong cách trang trí "khăn Piêu".

Cây guột non gắn với cuộc sống thường ngày, sâu sắc với các cô gái nơi thung lũng của quê hương lúa nước. Vào những ngày sau khi dọn xong nương để chuẩn bị gieo những chồi guột xinh xắn gọi là "cút lo ngong" đã mọc lên thành những ngọn xoáy trôn ốc đung đưa trước làn gió nắng hanh. Các cô nhẹ nhàng âu yếm trong chiếc khăn Piêu của mình, ngắt lấy những ngọn guột non về làm món rau đồ nộm giềng thật thơm ngon.

Những hoa cuộn và thêu chỉ màu gọi là Cút đính thành chùm ở mép đường viền hai đầu. Nếu chùm 3 thì gọi là Piêu cút xam và chùm 5 là Piêu cút hả. Theo quan niệm truyền thống hai số 3,5 là hạnh phúc vợ chồng trọn vẹn. Trong đó số chẵn 2, 4 tượng trưng hạnh phúc đôi lứa và 3, 5 chính là sự phát triển con cái - hệ quả và hạnh phúc. Ta liên hệ thấy quy luật âm dương của văn hóa Kinh dịch phương Đông, phải luôn luôn giữ cái đong đưa giữa âm và dương. Hai điểm trên rất quan trọng vì quân bình tịnhquân bình động.

Quân bình tịnh: là thứ quân bình của cái đung đưa đứng im lìm. Đó là cái tịnh của đạo, nhưng mà thực sự nó ngấm ngầm chỉ huy tất cả mọi biến động trên đời. Nó là thái cực tượng trưng bằng con số 1.

Quân bình động: là quân bình của cái đung đưa đang chuyển động, tượng trưng ở con số 3, con số của Hoàng Cực ở trong cung bát quái. Đó là cái Động của Đức, tức là "cái động trong cái tịnh". Số 5 là con số quân bình của hiện tượng. Dương và âm được điều hòa tỷ lệ 3/2 (gọi là con số tham thiên lưỡng địa).

Âm, dương đồng nhau, đó là quân bình tịnh. Trong biện tướng âm dương phải có cái thừa, cái thiếu"Không có gì thuần âm hay dương. Cũng không có cái gì thật quân bình, mặc dù quân bình là cốt tử của đạo Dịch. Âm hay dương bao giờ cũng phải có thừa hay thiếu, có vậy mới có động. Không vậy, vạn vật sẽ dừng lại dừng tại nơi điểm chết" (point mort).

Con số 5 là tổng số của con số 3 và con số 2. Con số 3 là con số của Thái dương, con số 2 là con số của Thiếu âm. Dương xướng âm họa: tinh thần phải làm chủ vật chất. Dương thắng, âm giáng là để giữ mức quân bình nhưng phần thắng phải cao hơn phần giáng mới thuận đạo, mới chuyển được sự vật trên đời. Nói rộng ra cách mạng là quân bình hóa âm dương chỉ được điều hòa chứ không có ý nghĩa trừ tuyệt âm để chỉ còn có dương đơn phương cô lập. Cách mạng là để lập lại quân bình của con số 5, con số "tham thiên lưỡng Địa" ở điểm Thái hòa, con số 5 là con số của hành Thổ tổng hợp âm dương (tứ tượng và các hành mộc, hỏa, kim, thủy), là con số "tham thiên lưỡng địa", con số sinh (dương) mà cũng là con số thành (âm) gồm cả âm dương điều hòa vốn tỷ lệ 3/2. Đó cũng chính là cái thâm thúy của tổ tiên người Thái xưa.

Con số 3 hợp với con số 2 thành con số 5 là con số tổng hợp âm dương. Nói thêm một chút về giá trị của sự chênh lệch âm dương (hay là sự tham thiên lưỡng địa).

Thánh nhân dựa vào hai con số 3 và 2 mà xem sự biến hóa của âm dương nhân đó mà tạo lập ra quẻ, phát huy được cương nhu mà chỉ ra các hào.

Theo Thu giang Nguyễn Duy Cần trong "Dịch học tinh hoa", Nxb. Tp Hồ Chí Minh, 1972, trang 255: có lẽ dựa vào "tham thiên lưỡng địa" mà có 2 nhà bác học Trung Hoa là Lý Chánh Đạo (Lee Tsung Dao) và Dương Chấn Ninh (Yang Chen Ninh) được giải Nobel về Lý học năm 1957. Vì bác cái luật "song tiến" mà lâu nay cho là vững vàng nhất. Có thời cho rằng khi bị phóng xạ, ly tử âm một bên, ly tưởng dương một bên cùng đồng nhau.

Qua thí nghiệm, lý luận thì "tham thiên lưỡng địa" (3/2) mới là đúng đắn quy luật. Như ta biết, phương Tây nghiên cứu ứng dụng Kinh dịch vào thực tiễn có kết quả lớn lao.

Kiểu để tóc của phụ nữ Thái cũng phân biệt khá rõ hai ngành đen và trắng. Khi chưa chồng nữ Thái đen búi tóc sau gáy (khót phôm), khi có chồng thì búi tóc ngược lên đỉnh đầu để hơi nghiêng về trái (tằng của), chồng chết trong thời gian để tang thì búi ở lưng chừng giữa đỉnh đầu với gáy gọi là "búi tóc kiêng" (khót phôm căm) hay "búi tóc bà góa" (khót phôm me mải), hết tang lại búi ngược như khi chồng còn sống.

Nữ Thái trắng thì không dùng tóc làm tín hiệu báo có hoặc không chồng mà chỉ búi đằng sau hay vấn trên đầu. Đặt ở đằng sau búi tó được hạ xuống thấp để lăn đi lăn lại trên vai tăng thêm nét sinh động của cơ thể.

Những con vật trên mặt thổ cẩm Thái thường là khỉ, rái cá, thuồng luồng.

Khỉ là điển hình hóa tâm thần của trẻ thơ. Nếu như lũ khỉ biết nối đuôi nhau từng đàn chuyển từ cây này qua cây khác thì trẻ thơ cũng chơi rồng rắn, tíu ta tíu tít đùa nghịch ngoài sân. Khi là vật khá hồn nhiên, nghịch ngợm có khác gì lắm đâu với những trẻ thơ ngây, thông minh, hóm hỉnh. Bởi vậy mặt chăn vẽ những họa tiết đàn khỉ đã gây cho người ta cảm giác tươi trẻ khác thường.

Rái cá là một trong những con vật tượng trưng cho lòng chung thủy. Nó còn là sự gắn bó lứa đôi. Trong cuộc sống hàng ngày người Thái thường ví những vợ chồng đi đâu không bao giờ vắng hai người là "vợ chồng rái cá" (tiếng Thái: Phua mia nạ). Hình rái cá được thể hiện cách điệu cân xứng giữa hai con đực và con cái sóng đôi khá hài hòa. Điều đó cũng nói lên sự đầm ấm của gia đình họ.

Con thuồng luồng nằm ngủ họa tiết trên mặt chăn là sự tượng hình về tình cảnh các bà mẹ Thái xưa. Cái khuôn mẫu vì hạnh phúc của các bà mẹ khi đó đã lắng đọng yên tĩnh của giấc mộng nằm kề bên người chồng lý tưởng. Đó chính là cha của những đứa con ngoan, niềm hy vọng lớn của bà mẹ. Điều này đối với họ đã trở thành niềm vui thú khó tả. Song, họ chỉ có thể gửi gắm tâm tư ấy trong thể hiện bằng tác phẩm dệt thành con vật được cách điệu trong giấc ngủ yên lành của nó là con thuồng luồng. Nhiều cốt truyện trong thần thoại lấy thuồng luồng làm nhân vật chính. Thuồng luồng người Thái gọi là "ngựa" - một loài bò sát sống dưới nước nhưng khi nó đến với xã hội lại trở thành một thứ "thần" biết biến hóa. Nó thường hóa thành những chàng trai tuấn tú đến quyến rũ các cô gái xinh đẹp. Nó cho cô ta nhiều của cải và cuối cùng cô ta sẽ có con với loài rắn kỳ quái đó. Song con của thuồng luồng bao giờ cũng là con trai tài giỏi, tuấn mã, thường có khí tiết giúp ích cho bản mường.

Nhân vật thuồng luồng cũng có thể là một cô gái xinh đẹp đủ sức quyến rũ một chàng thanh niên nghèo. Hai bên đã sống với nhau một thời gian để rồi sinh ra một đứa con khôn ngoan. Cuối cùng người thanh niên đó trở thành vị thủ lĩnh rất mực thương yêu bản mường. Mẹ của nó nhờ đó mà có cuộc sống tốt đẹp hơn xưa.

Hình tượng "thuồng luồng nằm ngủ" còn thể hiện tâm lý vị tha của người đàn bà đối với chồng con, họ được ví như con thuồng luồng khổng lồ nhưng nằm ngủ. Bà vẫn được đại diện cho phái đôn hậu, thương chồng, mến con. Điều đó bao giờ cũng là một sự vui sướng, một cách thầm kín trong trái tim của họ. Và tình cảm đó bà để lộ ra trong tấm thảm mặt chăn. Đó chính là do bàn tay mình tạo nên để đắp ấm cho chồng, con.

Ta còn thấy các họa tiết hoa văn trang trí trong kỹ thuật ghép các mảng màu khác nhau. Không chỉ trên khăn Piêu, mặt chăn, gấu váy... mà còn trên màn ngủ, gối... Bố cục hoa văn theo giải là chủ yếu. Có hình sao 8 cánh với nhiều biến thể khác nhau, ô trám xoắn ốc, hình rặng núi, gợn sóng nước, hình cây, động vật, nhất là hình con rồng, con chim... liên hệ trang trí của người Việt thời Đông Sơn cũng có những nét tương đồng.

Ta thấy mô típ trang trí nhà cửa của người Thái cũng thường theo một mẫu của thổ cẩm. Gốc của "khâu cút" là hai lá chắn làm bằng gỗ chủ để chặn những nơi trang thiên ở mép lợp đầu hồi, làm ván chắn gió cho mái nhà khỏi bung. Có lẽ người ta đã liên tưởng tới những chùm "hoa cút" đính trên những chiếc khăn Piêu. Và chiếc khăn Piêu che đầu cho chị em khỏi gió lạnh, nắng gắt... đồng thời trở thành vật trang trí trên đầu tôn vẻ đẹp duyên dáng của chị em, "khâu cút" cũng để làm chức năng là chắn gió cho mái nhà không bị tung và bắt đầu được tạc vẽ thành "chùm cút" quét vôi trắng nổi bật trên nền trời xanh, "chuôn cút" được gọi là "cút chùm" (cút pụa). Từ "khâu cút chùm" người ta bắt đầu vẽ hình hoa sen (tẻm lái bua) để tô đậm thêm vẻ đẹp của "chùm cút" ở trên đầu hồi. Nó xuất hiện ngay trong ca dao:

    ... "Khâu cút vẽ văn sen

         Đầu kèo vẽ văn én"

Thế là từ "cút lo ngong" (cây guột) khi đi vào họa tiết trang trí đã thành ra "cút piêu" và "khâu cút".

Nghệ thuật trang trí tạo hình được phong phú hấp dẫn là nhờ óc sáng tạo của người Thái cách điệu hóa theo quy luật tạo hình. Với cả trí tưởng tượng lãng mạn, thông minh và bàn tay vàng mà người phụ nữ Thái đã sáng tạo nên những tấm thổ cẩm có giá trị lớn lao. Nếu ta biết trân trọng phát huy giá trị các sản phẩm trong cuộc sống thì lợi ích về kinh tế hẳn không nhỏ.

Y phục của phụ nữ thể hiện nhiều nét tiêu biểu đặc sắc văn hóa của tộc người.

Y phục thường ngày của phụ nữ Thái Man Thanh ở xã Tam Hợp, Tương Dương, Nghệ An gồm áo, váy, thắt lưng.

Áo xửa khò là loại áo ngắn tứ thân không xẻ tà dài 41 cm, rộng 56 cm. Cổ áo may liền với nẹp áo tạo thành đường thẳng. Bên trong nẹp áo táp mảnh vải trắng tự dệt rộng 4cm, phía ngoài táp thêm mảnh vải đỏ, hai bên mép vải đỏ khâu thêm 2 đường vải trắng. Áo có 2 cúc đồng (mắc toòng), ống tay áo (khen xỉn) hẹp. Cổ tay áo mới thêm ba đoạn vải màu đen, màu chàm. Loại áo này nay chỉ mặc khi cúng tổ tiên và thực hiện các nghi lễ tôn giáo khác.

Váy thường ngày cũng có hoa văn chân váy. Váy dài 80 cm, gồm ba phần: cạp váy, thân váy, chân váy.

Cạp váy (hua xỉn) bằng vải thô nhuộm chàm nâu non, rộng 20 cm.

Thân váy (xỉn hốc) là một khổ vải dệt liền bằng sợi tơ tằm, nhuộm chàm. Thân váy có điểm thêm các sợi chỉ màu vàng tạo thành các vạch cách đều nhau ngang thân váy.

Chân váy (xỉn xeo) được thêu nhiều họa tiết hoa văn đẹp bằng chỉ xanh, vàng, đỏ, trắng,... Phần giáp thân váy là những bông hoa dâu da (hon hỏ) cách điệu, tiếp đó là hình hoa văn xương cá (tu pa) thêu bằng chỉ tơ tằm màu đen, chạy cắt ngang phía dưới là hình bờm con ngựa (kỏ mong mạ sảng), tiếp đến là hình xương rắn (xem lạc ngủ) chạy cắt ngang váy, phần dưới cùng là hoa văn quả trám nối nhau liên tiếp. Ngày xưa con gái nhà lang đạo giàu sang thì mặc váy hoa (xỉn mục hốc).

Thắt lưng (sai anh) của phụ nữ Thái Man Thanh còn giữ được nét đặc trưng của văn hóa Thái. Thắt lưng là 166 sợi dây màu trắng xe lại.

Thử phân tích con số 166 theo tìm hiểu Kinh dịch:

Tìm con số căn của 166

166 = 1 + 6 + 6 = 13

13 = 1 + 3  =  4

Con số 4 là con số căn của 166. Với cách này ta đi từ vật chất trở về tinh thần. Số âm (địa) thì có 2 số sinh là số 4 và số 2. Số 4 là số Thái âm thời sinh nhưng thiếu âm ở thời thành con số 1 và con số 3 là những con số thuộc dương, thuộc về lúc bình minh sáng chói của Thiếu dương và Thái dương.

Người phương Tây nghiên cứu trung bình mạch của người khỏe là 72 nhịp trong 1 phút, con số hô hấp là 18kỳ/ 1 phút. Tỷ lệ: 72/18 = 4/1. Con số 4 là tuyệt đẹp với cơ thể người.

Thắt lưng khi cuốn vào giống như các con sợi. Thắt lưng không chỉ giúp cho váy khỏi bị tuột, nó còn tô điểm thêm vẻ đẹp cho bộ áo váy. Loại thắt lưng này rất đặc trưng, nó khác thắt lưng của cá nhân khác.

Trong dịp hội hè, lễ tết thì phụ nữ Thái Man Thanh mặc loại váy hoa dệt bằng sợi tơ tằm nhuộm chàm và thêu hoa văn, váy dài 103cm, rộng 67 cm.

Cạp váy bằng sợi bông nhuộm màu nâu non, dài 40 cm. Họ rất kiêng mặc váy cạp màu trắng.

Thân váy dệt bằng sợi tơ tằm nhuộm màu chàm xen với tơ tằm nhuộm màu vàng tạo thành các vạch vàng chạy song song ngang thân váy. Trên thân váy còn có 10 đường vạch dệt bằng sợi màu trắng gọi là đường mục (tàng mục) chạy song song ngang thân váy nên váy có tên là xỉn mục.

Chân váy được thêu hoa văn dâu da kết hợp với tàng mục - hình mào con rồng, hình bờm ngựa, phía dưới là hoa văn hình quả trám.

Y phục thường ngày của phụ nữ nhóm Hàng tổng

Đặc sắc nhất là chân váy (tỉn xỉn), chân váy đẹp giá ngang bằng một tạ thóc.

Chân váy được dệt hoa văn rất công phu bằng chỉ tơ tằm đã nhuộm màu xanh, đỏ, tím, vàng, vàng thẫm... Chân váy đẹp được tạo nên bởi những bông hoa hướng dương, hoa ban xen các loài chim, bướm, các con vật tiêu biểu như rồng, hổ, hươu, nai, voi, cá sấu, hoa văn hình mặt tròn màu sắc rực rỡ.

Phần trên chân váy gọi là "khải tớp" được dệt bằng các loại chỉ màu khác nhau, đẹp, tính nghệ thuật cao. Phần dưới chân váy được gọi là "khải nọi" cũng được dệt bằng sợi màu khác nhau nhưng có sự phân biệt rõ ràng giữa "khải tớp" và "khải nọi".

Trên mặt "khải nọi" có dùng chỉ trắng thêu hình chữ đối diện liên tiếp đó chính là chân con nhái (tỉn khiết).

Mảng hoa văn quan trọng nhất trên chân váy là hình con cá sấu (ưa chỉ khe). Đồng bào cho rằng cá sấu thể hiện sự uy nghiêm của loài vật sống nơi biển cả mênh mông. Bên cạnh cá sấu là hình sóng nước, quả trám, cỏ cây, tảo, rêu... làm nổi bật uy nghi của hoa văn cá sấu.

Trang phục liên quan đến tín ngưỡng: Người Thái Nghệ An, chỉ các thầy mo cao tay và có uy tín mới có y phục riêng (mo tàng nhào, mo mường).

Áo hành lễ này là loại áo dài màu đen. Trên thân áo (cả phía trước, phía sau) người ta thêu thành hàng, thành lớp hình các con thú, các động vật thiêng như rồng, rắn, rết, chim phượng hoàng. Đặc biệt các con vật vô hình trong vũ trụ, trong đó có cả sao chổi (pô choạng pà). Loại áo này hiện nay đã mất. Những con vật thêu trên áo tượng trưng cho sức mạnh và tạo sự huyền bí cho thầy mo. Người có thể đi lại giữa đất và trời, giao dịch với các then ở vòm trời trong quá trình dẫn hồn người chết về với tổ tiên.

Một vấn đề cần quan tâm trong tìm hiểu nghiên cứu để biết sự tương đồng trong tư duy của người Thái và người Việt - Mường để biết sự gắn kết lịch sử từ cổ đại với thời Đông Sơn cách đây 2000 năm.

Có thể kể một vài họa tiết hoa văn liên quan truyền thống người Việt Đông Sơn: Voi trên kiến trúc gốm và đồ gỗ thì ở chùa Mật Tích có đôi voi là hiện thân chân lý tuyệt đối của đạo Phật. Ở lăng mộ và các đền thờ thì hình voi là biểu hiện sự quyền uy.

Trong đạo Bà La Môn voi là hiện thân của trí tuệ, như ở sự tích của Ghanesa là con của Siva do, một lần phạm lỗi với cha (thần có thân hình người và đầu voi) mà bị tội, được mẹ xin cho nên chỉ hóa thân mang đầu voi. Trong tư cách này Ghanesa là hiện thân của nguồn nước. Người ta còn coi con voi là biểu tượng của mưa, biểu hiện của mây, nó là chủ của nguồn nước. Nước là gốc của mọi nguồn hạnh phúc của nông nghiệp.

Rồng là sản phẩm chung của nhân loại.

Rồng đã theo đạo Phật vào đất Việt rồi hội với con rắn, chủ nguồn nước mà dẫn thành rồng Việt. Với chức năng đề cao sùng Phật đạo từ đó cũng đồng nhất với tôn trọng pháp lực của rồng. Đến thời Lê Hoàn thì nó là bản mệnh của vua và rồng phần nào đã đồng nhất với Vua. Rồng thời Lý, rồng thời Trần, rồng thời Lê Sơ, Mạc, Nguyễn.

Ở những ngôi đền linh thiêng, trong bức bình phong cũng thường đắp một con hổ đang bước xuống trên những bực đá gập ghềnh với tư cách này hổ là hiện thân của âm, biểu hiện của sức mạnh từng giới, nó là vật cạnh tranh của thần. Trong một trường hợp người ta còn thờ ngũ hổ để tượng trưng cho năm phương với hổ vàng ở giữa gọi là Trung phương, hổ đỏ là phương Nam, hổ xanh lá cây là phương Đông, hổ trắng là phương Tây, hổ đen là phương Bắc.

Hình tượng hoa văn hình hươu thường gặp trên trang phục người Mường (trên cạp váy) và hình ảnh hươu sao cũng là hình ảnh quen thuộc trong truyền thuyết người Thái và người Mường ở Việt Nam, là những dân tộc rất gần gũi với Đông Sơn nếu không nói là một trong cấu thành người Việt cổ Đông Sơn.

Trên trống đồng Ngọc Lũ ta thấy hoa văn chim vừa nhiều, vừa đẹp. Cả một vành hoa văn trang trí hình chim (vành thứ 10 kể từ tâm trống - Theo Trần Lâm Biền) gồm có 18 chim đang bay và 18 chim đang đứng. Chim gần gũi với người trồng lúa nước Việt cổ. Người Việt cổ yêu quý chim và kính trọng, nên nó được khắc họa hoa văn nhiều trên đồ đồng Đông Sơn.

Nhà sử học Đào Duy Anh coi chim đó là tô tem của người Việt; con chim trên trống đồng Ngọc Lũ được coi là Chim Lạc để gắn với một thời Việt xưa có Vua Hùng, chim là người gần gũi nhất trên đồng ruộng của những con dân Văn Lang xưa.

Đi tìm hiểu say mê hoa văn qua các thời kỳ của các tộc người trong quốc tộc Việt Nam ta cũng thấy quả là văn hóa thống nhất trong đa dạng thật phong phú và bền vững biết bao.

Apolline Guichet

 

Không có gen thông minh, trí tuệ, nhưng không phải ai cũng sinh ra với những thiên tử như nhau. Khoảng 60% IQ của chúng ta (hệ số trí năng) chắc phụ thuộc vào môi trường gia đình. Nhưng con số này cũng phải nhận định dè dặt bởi 3 lý do.

Không có gen thông minh, trí tuệ, nhưng không phải ai cũng sinh ra với những thiên tử như nhau. Khoảng 60% IQ của chúng ta (hệ số trí năng) chắc phụ thuộc vào môi trường gia đình. Nhưng con số này cũng phải nhận định dè dặt bởi 3 lý do.

1. Trong hệ số này không phân biệt được phần di truyền với phần xã hội gắn với môi trường gia đình và văn hóa nơi chú bé chào đời. Cũng có thể điều bí ẩn này chẳng bao giờ giải quyết được bởi môi trường đã tác động đến bé khi còn trong bụng mẹ. Thế thì quan trọng thế nào đây?

Người ta chấp nhận rằng tầm vóc một con người phụ thuộc vào gia đình và cả vào những nhân tố môi trường như chế độ ăn uống chẳng hạn, và cũng như thế đối với trí tuệ.

2. Con số này được xác định trên cơ sở khái niệm IQ nổi tiếng, một công cụ được các nhà tâm lý học sử dụng để lựa chọn trong một số trường hợp hướng nghiệp hoặc phát hiện một rối loạn phát triển (cần lưu ý nó chẳng liên quan gì đến các test (trắc nghiệm) trên Internet: nó kéo dài từ 3 đến 4 giờ, thường trong nhiều buổi). Nhưng IQ được xác định từ một quan niệm về trí tuệ đã có tuổi từ một thế kỷ và đã không theo kịp nhịp điệu các phát kiến khoa học. Vậy nó là một chỉ số nhưng không ước lượng được phạm vi rộng lớn của trí tuệ đang không ngừng tiến triển.

Con số 60% này chỉ ra rằng chúng ta hãy còn 40% các năng lực để mà phát triển trong suốt cuộc đời. Với quy mô một con người, thế thật là to lớn. Tin vui cho trí tuệ: người ta sinh ra không được bình đẳng về mặt này, nhưng có thể trở nên bình đẳng lắm chứ!

Một kho báu cần đánh thức

Đấy có lẽ là chìa khóa quan trọng nhất của trí tuệ. Có thể so sánh nó với các cơ bắp đang phát triển theo quá trình tập luyện: các nơ ron (tế bào thần kinh) càng được kích thích thì càng có tính năng cao. Ngược lại nếu không được hoạt động, chúng sẽ lâm vào trạng thái chập chờn, thao thức.

Bằng những lời đố, trò chơi, đọc sách cho nghe, đi tham quan... bố mẹ dần dần đánh thức các trung khu thần kinh trong bộ não các trẻ. Dần dần từng ít một, họ mở rộng phạm vi kiến thức của chúng, cho dù chúng không nhận được những kích thích như nhau tùy theo mỗi môi trường văn hóa - xã hội. Về sau ngoài bố mẹ còn có những người khác có thể đảm nhận công: thầy giáo, láng giềng, bạn thân... có thể tham gia trao đổi, bình luận... họ sẽ góp phần mở rộng sân "chơi" và suy ngẫm của ta. Cũng có thể đánh thức các trung khu khác của não bằng cách tiến hành một hoạt động mới, chẳng hạn như chơi piano, nó đòi hỏi phải tập trung trí óc, óc phân tích và tính mẫn tiệp. Một tài sản để khai thác "thiên tài đấy là 1% cảm hứng và 99% mồ hôi". Chúng ta dễ tin lời nói này, bởi tác giả của nó là Thomas    Edison nhà phát minh có 1.000 bằng sáng chế, trong đó có sáng chế máy hát và bóng đèn điện. Trường học là nơi đầu tiên để "học tập", phát triển các năng lực và tích lũy các kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực. Như vậy, một bảng điểm cao không hẳn là bằng chứng của trí thông minh. Có thể đạt được điểm số rất cao nhờ dựa vào bài "trí nhớ". Ta đã từng thấy những học sinh năng khiếu tuyệt vời mà kết quả học tập ở trường kém cỏi, bởi lẽ phải theo học một chương trình chán ngấy đối với chúng. Tuy nhiên, cũng nên biết rằng các trẻ sớm phát triển trí tuệ chỉ là thiểu số. Và sau hết, một bảng điểm trung bình chẳng thể ngăn cản sự xuất hiện ý tưởng thời đại, vào mấy năm sau đó. Một bảng ghi điểm học của Albort Einsein chiếu trên Internet không thể được xem là đặc biệt xuất sắc (cho dù không thể so sánh trường học ở thế kỷ XIX với trường học thời nay). Bên ngoài trường trung học, có hàng trăm, ngàn cách học, mà có khi ta không nhận biết được: chẳng hạn khi xem biểu diễn, hoặc cùng vào bếp núc với cha mẹ... và nếu bạn để tâm đến công việc, thì bạn vẫn không thôi bồi bổ cho một trí tuệ dù sao thì không thể hoạt động khống.

Các tài năng cần tăng cường

Cuối cùng, hiếm khi nói được rằng một ai đó thông minh vì mới phát hiện được hệ số trí năng IQ của người ấy. Đúng ra, phải là vì anh ta đã có một ý tưởng mà không ai có được trước đó, hoặc có người đã có ý tưởng ấy, nhưng chính nhân vật có IQ nói trên đã phát triển nó ra được. Tích lũy kiến thức là điều có ích lợi chỉ khi sử dụng chúng để thực hiện một ý tưởng, một dự án hay một mục đích.

Trí thông minh, đấy trước hết là thấu hiểu điều mình biết và vận dụng nó để giải quyết một vấn đề. Trong toán học cũng như trong đời sống thường ngày để tính độ dài khoảng cách từ điểm A đến điểm B, nhưng cũng phải tìm ra một kế hoạch B để đối phó với tình hình bất ngờ có thể xảy ra.

Trí thông minh vận dụng đến độ nhanh phản ứng, sức chú ý, trí nhớ, ngôn ngữ, tính toán, sự sắp xếp trật tự các thông tin nhận được, sự thể hiện của các từ và các khái niệm... Chỉ thiếu một trong các năng lực này thì không đủ để phát hiện trí thông minh của mình. Hãy lấy ngôn ngữ chẳng hạn làm ví dụ: các nhà hùng biện lỗi lạc có thể là rất thông minh và dùng các trí thức của mình để giúp cho thuật hùng biện. Nhưng cũng có những người khéo nói rõ được nhiều hơn điều họ thực sự hiểu biết. Nhà văn Anh Somerset Maugham có nói: "khả năng viện dẫn là một điều thay thế thuận tiện cho trí thông minh"; hoặc nôm na hơn "văn hóa giống như mứt, có càng ít thì người ta lại càng phát rộng ra (Franscoise Sagan). Để tăng cường trí thông minh, chỉ tích lũy trí thức là không đủ. Hãy tò mò, quan tâm đến người khác, biết quản lý khối lượng thông tin tràn đầy để chỉ giữ lại những thông tin giúp ta thông hiểu và tập luyện, đấy là những thái độ cần có để gợi mở tích cực bộ não của chúng ta.

Hoan Châu dịch

 Quán Vi Miên [*]

Vi Khăm Mun

                                                                   

1. Lời dẫn

Lịch của người Thái ở Việt Nam có thể bắt nguồn từ lịch của Vương triều Pagan (Miến Điện, 1044- 1287); truyền vào cộng đồng người Thái - Trung Quốc, rồi vào Tây Bắc, đến Nghệ An. So với Công lịch thì lịch Thái cách nhau 638 năm. Năm 2015 Ất Mùi, lịch Thái mới là năm 1377, và gọi là năm Hặp Một. Theo lịch này, mỗi năm chia làm 12 tháng, tháng lẻ là tháng đủ, mỗi tháng 30 ngày; tháng chẵn là tháng thiếu, mỗi tháng 29 ngày. Cứ 3 năm nhuận một lần cố định vào tháng 9; tháng giữa năm vào tháng 11 của nông lịch. Mỗi tháng chia làm 4 tuần, có tuần 7 ngày, có tuần 8 ngày. Hằng tháng từ ngày 24 đến ngày 29 hoặc 30 là tuần thứ 4. Lịch Thái hàng tháng lấy ngày mồng 1 âm lịch làm "gốc". Ví dụ năm nay ngày mồng 1 tháng 1 âm lịch, tức mồng 1 Tết Nguyên đán Ất Mùi là ngày 19 tháng 2 dương lịch, thì lịch Thái cũng gọi ngày đó là mồng 1 tháng 1, chứ không phải ngày 19 tháng 2. Nhưng tên gọi các ngày trong tháng thì lịch Thái có tên riêng. Ví dụ ngày mồng 1 Tết Nguyên đán Ất Mùi là ngày Bính Dần, thì ngày này lịch Thái gọi là ngày Hai Nhi, tính chất/tín ngưỡng nó cũng khác. Các tháng lịch Thái có tên riêng, tính chất/tín ngưỡng riêng.

Những vấn đề chung về lịch Thái chúng tôi đã viết trong một bài báo khác(1), ở đây chúng tôi chỉ xin nói về tính ứng dụng của nó trong cộng đồng người Thái ở Nghệ An.

2. Tính chất/tín ngưỡng về năm, tháng, ngày trong lịch Thái

2.1. Về năm, tức là về tuổi của con người

Một đời người, từng năm, từng lứa tuổi ứng với những tính chất/tín ngưỡng nhất định. Người ta cho rằng, (1) Nửng pí - Mun hươn nọi (1 tuổi - Lộc nhà nhỏ); Xóng pí - Mun hươn luống (2 tuổi - Lộc nhà to); Xám pí - Hang đáy kèo (3 tuổi - Bậc thang ngọc); Xỉ pí - Thén kèo (4 tuổi - Lầu ngọc); Hà pí - Hươn pìn (5 tuổi - Nhà lộn ngược); Hốc pí - Hươn hảng (6 tuổi - Nhà hoang); Chết pí - Hươn lông (7 tuổi - Nhà suy); Pẹt pí - Xén cá tóm ki lượt (8 tuổi- Muôn quạ bâu ăn máu). Hết 8 năm/tuổi, gọi là chu kì 1, lại quay lại chu kì 2, tính tiếp 9 tuổi trở lên, v.v. Như vậy, "bài" này tính theo cơ số 8, gọi là "tá nham pẹt". Một đời người, tính tối đa (đến 144 tuổi), "được" 18 chu kì. Về nguyên tắc: (1) Người mới lập gia đình, làm nhà lần đầu, thì chọn làm nhà vào các tuổi/chu kì "Mun hươn nọi - Lộc nhà nhỏ"; (2) Người nào đã có tiếng tăm, trung tuổi, đã làm nhà từ 2 lần trở lên, chọn làm nhà vào các tuổi/chu kì "Mun hươn luống - Lộc nhà to", sẽ có tài lộc, sức khỏe; (3) Người trung tuổi chọn làm nhà vào các tuổi/chu kì "Hang đáy kèo - Bậc thang ngọc", sẽ được phúc lớn; (4) Người nào chọn làm nhà vào các tuổi/chu kì "Thén kèo – Lầu ngọc", thì được cái "đức độ" đến với gia đình; (5) Người nào chọn làm nhà vào các tuổi/chu kì "Hươn pìn - Nhà lộn ngược" thì không phát triển, quanh năm kiếm ăn cũng khó mà đủ; (6) Người nào chọn làm nhà vào các tuổi/chu kì "Hươn hảng - Nhà hoang" thì không tốt, làm cũng không được ở, không phải là nhà của mình; (7) Người nào chọn làm nhà vào các tuổi/chu kì "Hươn lông - Nhà suy" thì tất nhiên là, sẽ chuốc lấy tai họa, khốn khó cái ăn cái mặc, ốm đau, bệnh tật quanh năm; (8) Người nào chọn làm nhà vào các tuổi/chu kì "Xén cá tóm ki lượt - Muôn quạ bâu ăn máu" thì nguy hiểm đến tính mạng, không an toàn, không yên ổn, gia đình bị xáo trộn luôn, rối như tơ vò, gia đình chỉ chực bị tan hoang…

Nắm được tính chất/tín ngưỡng về tuổi/chu kì tuổi rồi, còn xem năm đó (cụ thể) mình "dựa" vào con gì. Con vật đó như là bùa hộ mệnh của mình vậy. Bài xem con vật đó gọi là "Không moi mẻ phởng". Bài này cũng theo cơ số 8 (tá nham pẹt), như sau: (1) Khụt cỏ nau nẳng nỡng cằm phải búa lả pha (Phởng khụt)/ Đại bàng đậu cành cây sườn núi nhìn mọi nẻo (Dựa vào đại bàng), chu kì ngày: 1, 9, 17, 25, 33, 41, 49, 57, 65, 73, 81, 89, 97, 105…; (2) Á kha nê meo nẳng phưa phánh phằn (Phởng meo)/ Như con mèo ngồi quấn quýt bên mình (Dựa vào mèo), chu kì năm/tuổi: 2, 10, 18, 26, 34, 42, 50, 58, 66, 74, 82, 90, 98, 106...; (3) Pắt xín cằm la chạc xí hén hẻ (Phởng la xạc ní)/ Con voi lớn đứng canh chừng phòng vệ (Dựa vào voi), chu kì năm/tuổi: 3, 11, 19, 27, 35, 43, 51, 59, 67, 75, 83, 91, 99, 107...; (4) Ái khàu màu màu nẳng phàu hó lả đí (Phởng xứa)/ Con hổ gườm canh giữ ngôi chùa xa (Dựa vào hổ), chu kì năm/tuổi: 4, 12, 20, 28, 36, 44, 52, 60, 68, 76, 84, 92, 100...; (5) Pắt xín mẻ nạc kiều phăn đón (Phởng nạc)/ Rái cá đuôi quấn nghìn hòn đảo (Dựa vào rái cá), chu kì năm/tuổi: 5,13, 21, 29, 37, 45, 53, 61, 69, 77, 85, 93, 101....; (6) U dón cằm khô chón nú dủ (Phởng nú)/ Con chuột ẩn mình bụi bờ sinh sống (Dựa vào chuột), chu kì năm/tuổi: 6, 14, 22, 30, 38, 46, 54, 62, 70, 78, 96, 104…; (7) Chạng kín nhà cằm phải í xún (Phởng chạng)/ Voi ăn cỏ bên đồi ở đó (Dựa vào voi), chu kì năm/tuổi: 7, 15, 23, 31, 39, 47, 55, 63, 71, 79, 87, 95, 103…; (8) Ngua kín nhà cằm phải í xá (Phởng ngua)/ Bò ăn cỏ bên đồi ở kia (Dựa vào bò), chu kì năm/tuổi: 8, 16, 24, 32, 40, 48, 56, 64, 72, 80, 88, 97, 105… Người Thái tin rằng "số phận" con người thường "dựa" vào một con vật nào đó để "sống". Có câu rằng: "Thổ ài hại pí nị phởng ngua/ Húa bò tái, hóng xía mết xiềng", nghĩa là: "Số anh xấu, năm nay dựa bò/ Đầu không mất (chết), của cũng mất trắng". Nên phải "chọn" con vật để "dựa".

2.2. Về tháng

Về tháng, như trên đã nói, một năm có 12 tháng, tháng đủ, tháng thiếu, và tháng chẵn, tháng lẻ. Cụ thể: (1) Bướn ọọc/ bướn tốc (Trăng mọc/ trăng lặn). Chọn những ngày thượng tuần. Tránh những ngày hạ tuần; (2) Bướn khủ/ bướn khịch (tháng chẵn/ tháng lẻ). Chọn tháng chẵn. Tránh tháng lẻ. Các tháng chẵn (bướn khủ/ có đôi) theo "quan niệm" của người Thái là: 2, 3 (1 cặp); 5, 6 (1 cặp); 8, 9 (1 cặp); 11, 12 (1 cặp). Như vậy, 1 năm có 4 cặp "tháng" tốt. Các tháng lẻ (bướn khịch/ đơn côi) là: 1, 4, 7, 10, được xem là "xấu", không chọn làm đám cưới. Các thầy mo xem ngày (tháng) tốt xấu được gọi là "xay nghên" (thầy ngày), có cách tính tháng bằng "ngón tay" (theo quy định/quy ước) như sau: Xòe bàn tay phải ra, tính từ ngón cái sang ngón út, ta có: 1 (ngón cái), 2 (ngón trỏ), 3 (ngón giữa), 4 (ngón thứ 4), 5 (ngón út), trừ ngón cái (1) và ngón út (5) không dùng, còn lại các ngón (2, 3, 4) được tính như sau: Ngón thứ 2, có 3 lóng/đốt, tính từ dưới lên, lóng 1 là tháng 1; lóng 2 là các tháng 2, 3; lóng 3 là tháng 4. Ngón thứ 3, lóng 3 là các tháng 5, 6; bỏ qua lóng 2; lóng 1 là các tháng 11, 12. Ngón thứ 4, lóng 3 là tháng 7; lóng 2 là tháng 8, lóng 1 là tháng 10.

2.3. Về ngày

Ngày cúng có ngày chẵn, ngày lẻ. "Nghên khủ/ nghên khịch" (Ngày chẵn/ ngày lẻ), thì chọn ngày chẵn, tránh ngày lẻ (để làm công việc gì đó, nhất là việc trọng). Có ngày kỵ - "Nghên lổm/ nghên tông" (ngày kỵ), tránh ngày kỵ. Có ngày tốt/ ngày xấu - "Nghên khóa hỏ/ khóa ngang" (ngày tốt/ ngày xấu). Cụ thể, trong một tháng, các ngày tính theo "tuần/cơ số 8", như sau: (tuần 1/chu kỳ 1): mồng 1 (cớn cóóng), mồng 3 (xườm cóóng/xườm nôi), mồng 3 (kím cóóng/kím nôi), mồng 4 (khóa hỏ), mồng 5 (kím xá/kím ngoai), mồng 6 (xườm xá/xườm ngoai), mồng 7 (cớn xá/cớn ngoai), mồng 8 (khóa ngang); Tuần 2/chu kỳ 2 thì lại quay lại, tính như tuần 1/chu kỳ 1 ở trên), tiếp ngày mồng 9, 10, v.v. cho đến hết tháng. Người ta chọn những ngày "cớn cóóng", "xườm cóóng/xườm nôi", "kím cóóng/kím nôi", "kím xá/kím ngoai", "xườm xá/xườm ngoai", "cớn xá/cớn ngoai"; tránh những ngày "khóa hỏ" (gói trọn), "khóa ngang" (cứng rắn, ngang tàng) khi làm các công việc quan trọng.

2.4. Về giờ

Một ngày làm việc, tính từ mờ sáng cho đến tối mịt, theo lịch nông nghiệp từ xa xưa của người Thái, theo bây giờ là 12 giờ đồng hồ ban ngày, được tính như sau (bảng lịch 5 ô ngang dọc, tồng là 25 ô):

 

Mưa lắp (E)

 .

 ..

(trống)

 X

 ::

Xáy cại (D)

 ..

(trống)

 X

 ::

 .

Tá nghên tiểng (C)

 (trống)

 X

 ::

 .

 ..

Nham xái (B)

 X

 ::

 .

 ..

 

Nham chậu (A)

 ::

 .

 ..

(trống)

 X

           Ngày 1 2 3 4 5…

- Khoảng thời gian tính từ dưới lên, hàng dọc, như sau:

+ Buổi sớm (nham chậu), từ lúc tờ mờ sáng, đến lúc ráo sương trên mặt lá (khoảng 8 giờ).

+ Trưa (nham xái, đẹt tủa mương) nắng tràn khắp mọi nơi, đến ăn trưa.

+ Đứng bóng (tá nghên tiểng), mặt trời đứng bóng, đến xế chiều.

+ Chiều (xáy cại), xế chiều đến lúc mặt trời xuống đỉnh núi.

+ Chiều tối (mưa lắp), hoàng hôn và tối.

- Các ký hiệu ghi trong ô: 4 chấm [::] gọi là "Xỉ xúm", giờ bền vững, khỏe mạnh, đầy đủ, tốt. Dấu nhân [x] gọi là "Lém vảy", giờ nguy hiểm, tai họa, xấu. Ô trống [ ] giờ "Tá pọt", an toàn, vắng vẻ, vô sự, đại yên, tốt. Hai chấm [..] giờ "Xóng húa ma", thích hợp cho đi làm ăn, đàm phán, cưới hỏi, tốt. Một chấm [.] giờ "Nà đăm", buồn, tang tóc, không tốt.

- Ý nghĩa ký hiệu:

+ 1 chấm là "Nà đăm" (mặt đen), giờ xấu không nên làm gì.

+ 2 chấm là "Xóng húa ma" (2 đầu về), không cất tang, cải táng vào giờ này, đi kiếm ăn thì được.

+ 4 chấm là Xỉ xúm, giờ tốt vững bền, nên động thổ làm nhà, hoặc cưới hỏi.

+ Ô trống [ ] là đại yên, nhưng không đi kiếm ăn, đi buôn bán vào giờ này.       

+ Dấu nhân [x], là "Lém vảy", nguy hiểm, tai nạ, không nên khởi sự vào giờ này.

- Hàng ngang, tính ngày, hết 5 ngày (5 ô) của chu kì thứ 1, thì lại quay trở lại chu kì thứ 2, từ ngày 6, 7, v.v. trở đi; cho đến hết tháng (ấy).

- Những người thợ săn (ngày xưa) ban đêm có lịch riêng, chúng tôi không dẫn ra ở đây.

Như vậy, với lịch này, mọi người nắm được giờ nào tốt, giờ nào xấu, để làm việc/ứng dụng vào trong cuộc sống.

3. Cách, hay là phương tiện để ứng dụng lịch Thái

Một bộ lịch trải qua gần ngàn năm mà còn sống/lưu truyền trong dân gian, chắc chắn phải có "bí quyết' gì đó. Một trong những bí quyết đó, là đơn giản, tiện dụng. Lịch Thái có thể chỉ cần dùng 1 ngón tay, 1 nắm tay, 1 bàn tay là có thể "tính được". Những "cái đó" chúng tôi gọi là "cách/phương tiện".

3.1. Cách/phương tiện 1 - dùng 1 ngón tay cái (nịu mẻ)

Muốn đo những vật cần mua với kích thước nhỏ/ngắn để xem "lộc" của chúng mà quyết định mua hay không, như cân tiểu ly, lưỡi gươm, nồi ninh, v.v. thì chỉ cần dùng ngón tay cái để đo. Đầu tiên lấy que đo chiều dài vật đó. Sau đó dùng ngón tay cái để đo que đó xem được bao nhiêu "ngón tay" (đặt ngón tay vuông góc với que; dời ngón tay từ đầu này đến đầu kia của que xem hết/được bao nhiêu lần). Mỗi sự vật sẽ có một "cơ số" tương ứng để tính "lộc" của nó.

3.2. Cách/phương tiện 2 - dùng nắm tay (cắm)

Cũng để đo các sự vật trên, hoặc đo chiều cao của người, xem "lộc" người đó ra sao, thì có thể dùng đơn vị là "nắm tay" để đo. Cách làm là lấy que đo sự vật hoặc chiều cao con người đó, rồi dùng nắm tay (phải và trái) luân chuyển, đo cho hết cái que đó (cũng tức là chiều dài/cao của sự vật hoặc con người đó). Số đo dừng ở nắm tay thứ mấy, chẵn, lẻ ra sao, thì căn cứ vào tín ngưỡng về số đó mà "kết luận" về giá trị/"lộc" của sự vật/con người đó.

3.3. Cách/phương tiện 3 - dùng 1 bàn tay (phả mư)

Dùng bàn tay phải. Ví dụ dùng cơ số ở đây là số 8, tức là "Tá nham pẹt" (8 ô/lóng ngang dọc, tổng là 64 ô/lóng). Tính tháng thì 1 tháng được 3 chu kì, 24 ngày, dư 6 – 7 ngày dự phòng. Cách làm/tính: Bỏ không dùng ngón cái (ngón thứ 1), và ngón út (ngón thứ 5), còn lại ngón trỏ (ngón thứ 2), có 3 lóng, lóng thứ 1 (lóng gốc) tính từ dưới lên, gọi là "cớn cóng" mang số 1; lóng thứ 2 gọi là "xườm cóng/xườm nôi" mang số 2; lóng thứ 3 gọi là "kím cóng" mang số 3; Chuyển sang ngón thứ 3 (ngón giữa), lóng thứ 3 gọi là "khóa hỏ", mang số 4; Chuyển sang ngón thứ 4, tính từ trên xuống, lóng thứ 3 gọi là "kím ngoai/kím xá", mang số 5; lóng thứ 2 gọi là "xườm ngoai/xườm nôi", mang số 6; lóng thứ 1 (gốc) gọi là "cớn xá", mang số 7; Vòng ngược lại ngón thứ 3 (ngón giữa), lóng thứ 1 (gốc), gọi là "khóa ngang", mang số 8; hết 1 chu kì (lóng thứ 2 của ngón này không dùng); Chu kì thứ 2, tính từ số 9 trở đi, ta có: ô (lóng) "cớn cóng" là số 9; "xườm cóng/xườm nôi" là số 10; ô (lóng) "kím cóng/kím nôi" là số 11; ô (lóng) "khóa hỏ" là số 12; ô (lóng) "kím ngoai/kím xá" là số 13; ô (lóng) "xườm ngoai/xườm nôi" là số 14; ô (lóng) "cớn xá" là số 15; ô (lóng) "khóa ngang" là số 16; hết chu kì thứ 2; Sang chu kì thứ 3, lại tính tiếp như vậy cho đến hết tháng (ấy).

Cũng là dùng 1 bàn tay/ngón tay, người ta có thể "thiết kế" một bàng lịch cơ số 4, 5, 6, 7, v.v... thậm chí 13. Như vậy, dùng bàn tay/ngón tay đơn giản mà có vẻ "vạn năng". Chả vậy mà có đến 29 bài lịch Thái ứng dụng trong việc cưới, làm nhà, làm kho lúa, chuồng lợn, chòi rẫy, chòi ruộng, đếm rui nhà, đếm thang giường, đi đường, đi thăm người ốm, vào rừng chặt gỗ làm cối, làm máng giã gạo, làm thuyền, mua nồi ninh, cân tiểu ly, gươm, súng, v.v. cũng chỉ dùng đến mấy cách/phương tiện thô sơ trên đây.

Còn lại là các cách/ phương tiện kẻ ô trên mảnh gỗ, trên mai rùa, trên giấy, gọi là "tá nham", hiện đại hơn, chúng tôi đã giới thiệu, xin không nhắc lại nữa(2)...

(Còn nữa)

 

 


[*] Hội viên Hội văn nghệ dân gian Nghệ An

Phan Hữu Thịnh

 

Năm 1862, thực dân Pháp xâm lược hết Nam kỳ. Năm 1883 toàn bộ Bắc kỳ rơi vào tay thực dân Pháp. Tháng 7 năm 1885 kinh đô Huế thất thủ, đánh dấu một mốc lịch sử: nhân dân, đất nước ta rơi vào vòng nô lệ lầm than sau 457 năm độc lập (1428 - 1885).

Nhiều cuộc khởi nghĩa, nhiều cuộc vận động cứu nước đã diễn ra. Tuy lòng yêu nước có thừa, sự dũng cảm không thiếu nhưng do hạn chế về lịch sử nên cứ bị thất bại. Con đường cứu nước của dân tộc dường như đi vào ngõ cụt không có lối ra.

Nhưng lịch sử đã mở ra một đường hướng cứu nước mới bắt đầu từ ngày 3/2/1930, ngày ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bối cảnh của đất nước trên đây xin được thu nhỏ vào gia tộc Hồ Tùng Mậu ở làng Quỳnh Đôi dưới đây. Bằng những cứ liệu cụ thể, xin giải trình như sau:

1. Tháng 3/1883 giặc Pháp đánh thành Nam Định, Tổng đốc Vũ Trọng Bình bỏ thành chạy lấy người. Án sát Hồ Bá Ôn (ông nội của Hồ Tùng Mậu) cùng Đề đốc Lê Văn Điếm cầm quân chiến đấu đến cùng. Hồ Bá Ôn bị tử thương.

Tháng 12/1885, giặc Pháp đánh làng Quỳnh, một cứ điểm hưởng ứng hịch Cần vương. Hơn 80 nghĩa dũng quân hi sinh trong đó có một chỉ huy là ấm sinh Hồ Bá Trị (em ruột Hồ Bá Ôn).

Thế là phương thức giữ thành, giữ làng để giữ nước bị thất bại.

2. Vì thù nhà nợ nước, Trần Thị Trâm (bà Lụa) vợ Hồ Bá Trị và Hồ Bá Kiện (con Hồ Bá Ôn) cùng tham gia hoạt động hết mình cho cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng. Năm 1896 cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng bị dìm trong biển máu.

Thế là phương thức chiêu binh mãi mã, lập căn cứ dấy nghĩa để lấy lại non sông đất nước không thành.

3. Thua keo này bày keo khác, hai thím cháu bà Lụa và Hồ Bá Kiệm chuyển sang tham gia cuộc vận động Duy tân. Hồ Học Lãm, con bà Lụa, Đông du vào đầu năm 1906. Nhưng vào năm 1907, chính phủ của "nước mặt trời mọc" thông đồng với chính quyền của thực dân Pháp đã trục xuất toàn bộ du học sinh Việt Nam. Hồ Học Lãm phải chạy sang Trung Quốc.

Cũng vào năm 1907, Hồ Bá Kiện bị bắt ở Sơn Tây và bị giải về giam ở Lao Bảo. Tháng 9 năm 1945, Hồ Bá Kiện lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lao Bảo và ông đã hi sinh trong cuộc chiến đấu ở trên đất nước Lào.

Thế là phương thức vận động dân tộc dân chủ theo hướng tư sản và dựa vào nước ngoài bị tàn lụi.

4. Hồ Tùng Mậu sinh năm 1896, con Hồ Bá Kiện, đau lòng nhưng không nản lòng về những tổn thất của ông, cha. Ông trăn trở về đường hướng cứu nước vừa qua có gì sai đúng?

Trước những vấn đề: đánh ai, ai đánh, đánh để làm gì, đánh bằng cách nào, ông cảm thấy ông cha mình đã giải quyết chưa thỏa đáng. Về vấn đề đánh ai, đồng ý là đánh thực dân Pháp nhưng có chống phong kiến không? Vấn đề ai đánh, nếu là nhân dân thì từng lớp xã hội nào là chính và do ai lãnh đạo? Vấn đề đánh để làm gì, để cho nước nhà độc lập nhưng theo chế độ chính trị nào, quân chủ hay dân chủ? Vấn đề đánh bằng cách gì, có nên đánh bằng cách cũ để chống một kẻ thù mới không?... Trước những vấn đề đơn giản mà cơ bản ấy, ông cảm thấy cần thay đổi, nhưng thay đổi ra sao thì ông cũng thật tình chưa biết.

Giữa lúc ấy thì cuộc Cách mạng tháng 10 Nga vào năm 1917 nổ ra và thắng lợi, "Như ánh mặt trời rạng đông xua tan bóng tối" (Hồ Chí Minh), cuộc Cách mạng tháng 10 Nga không những cổ vũ giai cấp vô sản toàn thế giới mà còn thức tỉnh các dân tộc bị áp bức vùng dậy đấu tranh.

Tháng 3/1920, nhờ bà Lụa giới thiệu và đưa đường, Hồ Tùng Mậu sang Xiêm rồi sang Trung Quốc. Tại đây được chú Hồ Học Lãm nuôi dưỡng và bày vẽ, Hồ Tùng Mậu bước vào con đường cách mạng theo phương hướng mới. Ông tìm gặp những người đồng hương xứ Nghệ và hình thành một nhóm "Tứ Hồng" gồm: Hồng Thái, Hồng Phong, Hồng Sơn và Hồng Lĩnh (HTM). Họ cùng một số người khác lập ra tổ chức "Tam nhân đồng tâm xã" (Tam tâm xã) vào năm 1924. Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc từ Nga về Trung Quốc. Người đã gặp những người của tổ chức này và phát hiện ra Hồ Tùng Mậu người bạn trẻ đã từng chơi thân với nhau từ năm 1903 khi ra thăm làng Quỳnh. Người đã giác ngộ về chủ nghĩa Mác - Lê nin,... cho những anh em của tổ chức này và dưới sự chỉ đạo của Người, "Thanh niên cách mạng đồng chí hội" được thành lập vào tháng 5/1925. Đây là một tổ chức quá độ phù hợp về tầm nhận thức của những người yêu nước lúc bấy giờ. Từ đây Hồ Tùng Mậu là trợ thủ đắc lực cho Nguyễn Ái Quốc trong việc lãnh đạo Thanh niên cách mạng đồng chí hội, mở và tham gia giảng dạy các lớp huấn luyện thanh niên từ trong nước sang, vận động cho sự thống nhất các tổ chức cộng sản, bố trí và tham gia cuộc họp ngày 3/2/1930 để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó giữa Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tùng Mậu "thân thiết với nhau hơn anh em ruột, bao phen đồng cam cộng khổ như tay với chân" (Điếu văn của Hồ Chủ tịch).

Ngày 23/7/1951, trên đường đi công tác vào Liên khu 4, Hồ Tùng Mậu bị máy bay Pháp sát hại, thọ 55 tuổi.

Hoàng Anh

Thái Huy Bích

Hưng Nhân là xã được hình thành trên bãi bồi sông Lam. Cuối thế kỷ XIX trở về trước, vùng đất này thuộc địa bàn 3 huyện: Làng Phú Văn (trước gọi là Phú Đăng) thuộc xã Mỹ Tục, tổng Đô Yên, huyện Hưng Nguyên; Làng Phú Vinh thuộc xã Ngũ Lộc, tổng Thịnh Quả, huyện Đức Thọ, năm 1909 mới chuyển về tổng Văn Viên, huyện Hưng Nguyên; Làng Xuân Nha thuộc tổng Tam Xuân, huyện Nghi Xuân, năm 1912 mới chuyển về tổng Văn Viên. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, 3 làng Phú Văn, Phú Vinh và Xuân Nha nhập thành một xã gọi là xã Hồng Xuân. Sau vài lần đổi tên, từ 1954 đến nay gọi là xã Hưng Nhân.

Là vùng đất được hình thành từ các làng ven sông Lam có truyền thống Nho học. Từ thời hậu Lê và thời Nguyễn, làng Xuân Nha, Phú Vinh và Phú Văn đều có người đỗ đạt được nhà vua ban tặng thẻ bài, biển vàng... Theo bia văn hội và bia tư văn làng Xuân Nha thì triều vua Thiệu Trị (1841-1847), làng có 2 người đỗ đạt, đó ông Phạm Hữu Túc hiệu Tĩnh Trai đậu cử nhân vào khoa thi Đinh Vị (1847), tiếp đến ông Nguyễn Khắc Văn hiệu Nghiêu Du đậu tú tài. Đến thời vua Tự Đức (1848-1883), làng có ông Phạm Trung Tuyển (ông nội Phạm Hồng Thái) đậu cử nhân, được cử làm Huấn đạo phủ Hưng Nguyên. Ông được nhà vua tặng thẻ bài với nội dung: "Quốc sủng - gia phong - khai khoa - kế nghiệp". Đến thời vua Hàm Nghi, ông Phạm Thành Mỹ (bố Phạm Hồng Thái), được phong hàm "Bát phẩm"... Thời nhà Nguyễn, ở làng Phú Văn có ông Cao Văn đậu tú tài. Ông được làng Phú Văn cấp cho một vùng đất rộng 3 sào. Do vùng đất cây cối rậm rạp, ùm tùm nên nhân dân thường gọi là Lùm ông Văn (ngày nay vẫn còn). Làng Phú Vinh, có bà Nguyễn Thị Nhưng (còn có tên Nguyễn Thị Quai) làm dâu họ Hồ, làm nhiều việc nghĩa được Vua ban biển vàng "Lạc quyên nghĩa phụ" (hiện có bia đá ở nhà thờ họ Hồ). Hiện nay, ngoài những văn bia được nhân dân gìn giữ qua các thế hệ thì còn có gần 30 bản sắc phong của các triều đại phong kiến Việt Nam ban, cho phép dân làng được thờ các vị thần gồm nhân thần, sơn thần và thủy thần. Trong đó, thời Cảnh Hưng có 6 bản, thời Gia Long có 1 bản, thời Minh Mệnh có 3 bản, thời Thiệu Trị có 3 bản, thời Tự Đức có 5 bản, thời Thành Thái có 1 bản, thời Duy Tân có 3 bản, thời Khải Định 5 bản và thời Bảo Đại có 1 bản. Tất cả đều được lưu giữ tại quần thể đền Rậm làng Xuân Nha.

Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu một số tấm bia, được nhân dân trân giữ và hiện nay vẫn còn vẹn nguyên.

Bia văn hội làng Xuân Nha

In sao chữ Hán

吾道如一元之氣天理人心 有不容己者社文址上堂以紹治乙巳春起前

黎范進士 鄉薦先生對焉崇祀先哲甚盛舉也社士會因附入本錢置

債買田以供祀事顏回梅林祀典遍年以巳月中丁日致祭甫三歲舉人范有

肅秀才阮克聞踏破天荒嗣而泮登庠科名接武社之人相與喜曰社文運其

將亨乎乃謀諸邑老折耿田壹畝壹高為祀田以本會錢參百貫償之既乃構

( mờ 1 chữ ) 拜堂壹座戊午夏堂成會紳士徵余以記夫記以記其寔示不忘

以吾社文址既堂以增又田以供祀其為人心風俗至計關涉非細壽之石也

可且是堂界鴻山鳳嶺間今而浚吾社文風為鴻之軒鳳之舉此山俱傳將

使來者皆得志之回吾社蜚文英發儒淳之目今日如於是乎記

 (mặt sau)

祭田壹畝壹高在長沙 𡑱關貳處相連  東西南並夾公田北夾小路

係預會人等輪耕每年出祭錢貳拾貫玆限   

嗣德參拾壹年戊寅之秋七月望前   本會秀才范有造恭誌                      

乙亥科三甲同進士丁文質校正

本縣威遠秀才鄧維松謹書                     

鋟匠裴克表謹刻

Phiên âm: Xuân Nha thôn Văn hội bi kí (mặt trước)

Ngô đạo như nhất nguyên chi khí. Thiên lý nhân tâm hữu bất dung kỷ giả. Xã Văn chỉ thượng đường, dĩ Thiệu Trị Ất Tị xuân khởi, tiền Lê Phạm Tiến sĩ kỹ chư Hương tiến tiên đối yên sùng tự tiên triết thậm thịnh cử dã. Xã sĩ hội nhân phụ nhập bản tiền trí trái mãi điền dĩ.

Cung tự sự Nhan Hồi. Mai Lâm tự điển biến niên dĩ Tỵ nguyệt trung Đinh nhật trí tế. Phủ tam tuế Cử nhân Phạm Hữu Túc, tú tài Nguyễn Khắc Văn đạp phá thiên hoang, tự nhi phán đăng tường khóa danh. Tiếp Vũ xã chi nhân, tương dữ hỉ viết: Xã văn vận kỳ tương hanh hồ, nãi mưu chư ấp lão, chiết cảnh điền nhất mẫu, nhất cao, vi tự điền, dĩ bản Hội tiền tam bách quan thường chi. Ký nãi cấu tiền (mất một chữ) bái đường nhất tòa. Mậu Ngọ hạ, đường thành.

Hội thân sĩ trưng dư dĩ ký. Phù ký dĩ ký kỳ thực, nhị bất vong dã ngô xã Văn chỉ ký đường dĩ tăng hựu đường dĩ cung chi thạch dã. Khả thả thị đường giới Hồng sơn Phượng lĩnh gian, kim nhi tuấn, ngô xã văn phong vi hồng chi hiên, phượng chi cử. Thử sơn câu truyền tương sử lai giả, giai đắc chí chi hồi. Ngô xã phi văn anh phái, Nho thuần chi mục, kim nhật như ư thị hồ ký (hết mặt trước).

Tế điền nhất mẫu nhất cao tại Trường Sa, Cồn Quán nhị xứ tương liên. Đông, Tây, Nam tịnh giáp công điền, Bắc giáp tiểu lộ.

Hệ dự hội nhân đẳng luân canh, mỗi niên xuất tế tiền nhị tập quan tư hạn.

Tự Đức tam thập nhất niên Mậu Dần chi thu thất nguyệt vọng tiền.

Bản hội tú tài Phạm Hữu Tạo cung chí

Ất Hợi khoa Tam giáp Đồng tiến sĩ Đinh Văn Chất hiệu chính.

Bản huyện Uy Viễn Tú tài Đặng Duy Tùng cẩn thư.

Xâm tượng Bùi Khắc Cẩn khắc (hết mặt sau).

Dịch nghĩa: Bia văn hội làng Xuân Nha (mặt trước)

Đạo thánh hiền như là một nguyên khí tự nhiên. Lòng người sao có thể không theo. Xã ta xây dựng Nhà thánh để thờ các bậc Thánh hiền, phụ tế Tiến sĩ triều Lê họ Phạm(1) và những người trong xã thi đậu cử nhân. Tòa thượng được làm vào mùa xuân năm Ất Tỵ triều vua Thiệu Trị (1845). Hội văn nhân đó góp tiền mua ruộng để cung cho việc tế tự Nhân Hồi(2). Hội văn Mai Lâm, theo tự điển, tiến hành tế lễ chính vào ngày có can Đinh thuộc trung tuần tháng Tỵ(3).

Mới ba năm sau khi làm nhà Thánh, liên tiếp có hai người đậu đạt. Đó là cử nhân Phạm Hữu Túc và tú tài Nguyễn Khắc Văn. Người dân trong xã Tiếp Vũ vui mừng nói với nhau rằng: "Thời vận tốt đẹp đã đến rồi chăng". Các cụ phụ lão trong làng chọn vùng đất sáng sủa cắt lấy một mẫu một sào làm ruộng tế. Hội văn đóng góp 3 trăm quan tiền để làm thêm một nhà bãi đường, hoàn thành vào mùa hạ năm Mậu Ngọ (1858). Thân sĩ trong hội mời tôi đến để viết văn bia, ghi lại sự thực để khỏi quên.

Nhà thánh đã có thêm bãi đường, lại được cung ruộng để tế tự. Nhân tâm, phong tục cho đến những điều liên quan là không nhỏ và bền vững. Chỉ có thể nói thêm về nhà thánh, có địa thế nằm giữa dãy núi Hồng Lĩnh và núi Phượng Hoàng. Nó giúp văn hóa làng ta cất cánh, như chim hồng, chim phượng bay lên đỉnh núi, không chỉ ngày nay mà truyền đến mai sau. Hi vọng xã ta văn hóa phát triển, nhân tài đậu đạt đông đảo bắt đầu từ đây. Nhân đó mà có bài ký (hết mặt trước).

Ruộng tế một mẫu một sào liền nhau tại hai xứ Trường Sa và Cồn Quán. Đông Tây Nam đều giáp ruộng công, Bắc giáp con đường nhỏ, giao cho người trong hội Văn thay nhau canh tác, mỗi năm đến hạn xuất 20 quan tiền tế.

Ngày rằm tháng 7, mùa thu năm Mậu Dần triều vua Tự Đức thứ 31 (1878).

Tú tài Phạm Hữu Tạo, người trong hội, viết bài ký.

Tiến sĩ khoa Ất Hợi Đinh Văn Chất hiệu chính.

Tú tài Đặng Duy Tùng, người làng Uy Viễn cùng huyện, viết chữ.

Thợ khắc Bùi Khắc Biểu khắc chữ(4).

2. Bia văn từ làng Phú Vinh  

In sao chữ Hán

富榮文祠碑

藍江之左鴻嶺鳳山之間富榮邑在焉有文祠二座舊矣癸亥夏邑以其火且壞也謀徙僱拱木而新之葺以一瓦暨又增設左右宇二祔前黎奉進士暨諸鄉薦校生垣墉閈閭視昔有焉一相吉則影享之托也工竣適余自郡學過此邑人候焉匆書年月詢所以信之意則曰是役也人同心恩義婦胡老娘與其子百戶德培德植割貲泰力成之也費千計皆耿諸其宮中又續供田土二畝邑嘉之願誌余惟夫推崇聖哲一事前輩以謂心理之不可泯者奚求堅於石此一辰也今異學寢熾簧惑之說半天下富榮邑山河邑也成此義事出於邑之義婦之門使天下盡然吾邑之犰為勝負那天之欲壽其文視諸此 邑是則可傳也遂書               

嗣德十六年癸亥冬十一月吉   

賜癸丑科第一甲探花及第翰林院侍講受乂安省督學南山阮可庵  字豁如謹撰

清化布政使春亭黎亮拔暈仲潤正

(mặt sau)      文祠記銘

太平尚文文祉遍天下其在富榮邑者前同邑之人經始之而今之廢而復脩者則義門胡氏二子百戶德培德桓稟于母義婦以成其人之志也祠昔在邑

左頗湫隘乃卜遷其亭之北有鳳山左鴻嶺面藍江之浮磯為上下堂各一左右廡二葺以瓦墻以傳所費千餘又供 土田二畝以脩歲事奧區規式煥然

一新今世之通尊者五道之外有佛有那鮮好尚異端惟情所女鎮吾道在天

地間而其理其於人之一心世教頗明民得興行若胡氏著亦惟其情之所安云已爾卵心曰其中坦然而無求也其異乎異端之求之攻之歟吾知其心之所在矣欲世世子孫有德有造庶幾充閭以增式廓此則家門之光而吾道扶持之功用也今鳩工適成而徵言於子則其志可知矣為之銘曰

 矗矗 有廟     邑閭之光     粲粲采物    山川之光    相左爾松    作宝肯構    厥惟充閭        啟迪爾後     母曰子子    蠱克家    民四以託     予憂如何    

繄惟鄉土        文藪奕奕     匪今自今   日增式廓

 皇朝嗣德丙寅春正月望後一日

 賜壬戌科第二甲進士出身翰林院侍講學士參辨內閣事務清州小

蘇林阮懦夫有立謹撰               

宜春縣貳達社秀才鄧維楹敬書

Phiên âm

               Phú Vinh văn từ bi

 Lam giang chi tả, Hồng Lĩnh Phượng sơn chi gian, Phú Vinh ấp tại yên, hữu văn từ nhị toà cựu hỹ. Quý Hợi hạ ấp dĩ kỳ hoả thả hoại dã, mưu tỉ cố củng mộc nhi tân chi, tập dĩ nhất ngoã, ký hựu tăng thiết tả hữu vũ nhị phụ, tiền Lê phụng Tiến sĩ ký chư Hương tiến Hiệu sinh. Viên dung hãn lư thị tích hữu yên. Nhất tương cát tắc ảnh hưởng chi thác dã. Công thuân, thích dư tự quận học quá thử ấp, nhân hậu yên, thông thư niên nguyệt, tuân sở dĩ tín chi ý, tắc viết: thị dịch dã, nhân đồng tâm ân nghĩa phụ Hồ lão nương, dữ kỳ tử Bá hộ đức bồi, đức thực, cát ti thái lực thành chi dã. Phí thiên kế giai cảnh chư kỳ cung trung, hựu tục cung điền thổ nhị mẫu. Ấp gia chi nguyện chí, dư duy phù suy sùng Thánh triết, nhất sự tiền bối dĩ vị tâm lý chi bất khả mẫn giả, hề cầu kiên ư thạch. Thử nhất thần dã kim dị học tẩm xí hoàng hoặc chi thuyết bán thiên hạ. Phú Vinh ấp sơn hà… ấp dã, thành thử nghĩa sự xuất ư ấp chi nghĩa phụ chi môn, sử thiên hạ tận nhiên. Ngô ấp chi… vi thắng phụ. Na thiên chi dục thọ kỳ văn thị chư thử ấp, thị tắc khả truyền dã toại thư.

Tự Đức thập lục niên Quý Hợi đông thập nhất nguyệt cát nhật.

Tứ Quý Sửu khoa Đệ nhất giáp Thám hoa cập đệ Hàn lâm viện thị giảng thụ Nghệ An tỉnh Đốc học Nam Sơn Nguyễn Khả Am tự Khoát Như cẩn soạn.

Thanh Hoá Bố chánh sứ Xuân Đình Lê Lượng Bạt Vựng Trọng nhuận chính.

Văn từ ký minh (mặt sau)      

Thái bình thượng văn, văn chỉ biến thiên hạ. Kỳ tại Phú Vinh ấp giả tiền đồng ấp chi nhân, kinh thuỷ chi nhi kim chi phế, nhi phục tu giả tắc nghĩa môn, Hồ thị nhị tử Bá hộ đức bồi đức hoàn, bẩm vu mẫu nghĩa phụ, dĩ thành kỳ nhân chi chí dã. Từ tích tại ấp tả, phả tiểu ải, nãi bốc thiên kỳ đình chi bắc, hữu Phượng sơn tả Hồng Lĩnh diện Lam Giang chi phù ky, vi thượng hạ đường, các nhất tả hữu vũ nhị, tập dĩ ngoã, tường dĩ truyền, sở phí thiên dư, hựu cung thổ điền nhị mẫu, dĩ tu tuế sự. Áo khu quy thức, hoán nhiên nhất tân. Kim thế chi thông tôn giả ngũ đạo chi ngoại hữu Phật hữu na tiển hiếu thượng dị đoan, duy tình sở nhữ trấn ngô đạo tại thiên địa gian nhi kỳ lý kỳ ư nhân chi nhất tâm, thế giáo phả minh dân đắc hứng hành nhược hồ thị trứ diệc duy kỳ tĩnh chi sở an, vân dĩ  nhĩ. Noãn tâm viết kỳ trung thản nhiên nhi vô cầu dã. Kỳ dị hồ dị đoan chi cầu chi công chi dư. Ngô tri kỳ tâm chi sở tại hỹ. Dục thế thế tử tôn hữu đức hữu tạo, thứ ky sung lư, dĩ tăng thức khuếch thử, tắc gia môn chi quang chi, ngô đạo phù trì chi công dụng dã. Kim cưu công thích thành nhi trưng ngôn ư tử, tắc kỳ chí khả tri hỹ. Vi chi minh viết: Súc súc hữu miếu. Ấp lư chi quang. Xán xán thái vật. Sơn xuyên chi quang. Tương tả nhĩ tùng. Tác bảo khẳng cấu. Quyết duy sung lư. Khải địch nhĩ hậu. Mẫu viết tử tử. Cán cổ khắc gia. Dân tứ dĩ thác. Dư ưu như hà. Ê duy hương thổ. Văn tẩu dịch dịch. Phỉ kim tự kim. Nhật tăng thức khuếch.

Hoàng triều Tự Đức Bính Dần xuân chính nguyệt vọng hậu nhất nhật.

Tứ Nhâm Tuất khoa Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân Hàn lâm viện thị giảng học sĩ Tham biện nội các sự vụ Thanh châu Tiểu Tô Lâm Nguyễn Nọa Phu Hữu Lập cẩn soạn.

Nghi Xuân huyện Nhị Đạt xã Tú tài Đặng Duy Doanh kính thư.  

Dịch nghĩa

Bia văn từ làng Phú Vinh     

Làng Phú Vinh nằm bên tả ngạn sông Lam, khoảng giữa núi Hồng Lĩnh và núi Phượng Hoàng. Làng từng có Nhà thánh hai toà, mùa hạ năm Quý Hợi (1863) trong ấp xảy ra hoả hoạn bị hư hại. Nhân dân làng Phú Vinh quyết định chuyển dời Nhà thánh, thuê người mua những cây gỗ lớn về làm lại và lợp ngói thay tranh, rồi còn làm thêm hai phòng tả vu và hữu vu, để nhân dân thờ phụng Tiến sĩ và những người trong làng đậu Cử nhân, Tú tài. Kích cỡ các bờ tường và các cửa đều giữ nguyên như cũ. Từ đó đến nay mọi việc đều diễn ra tốt đẹp. Cả làng đều được hưởng phúc lộc.

Sau khi công việc hoàn thành, nhân lúc tôi từ trường học trong huyện qua đây, người dân tin tưởng mong chờ từ lâu, nhờ tôi viết bài văn bia này. Nhân dân đồng lòng biết ơn bà con dâu họ Hồ giàu nhân nghĩa và người con trai của bà được ban danh hiệu Bá hộ(5) đã bỏ ra rất nhiều tiền của và công sức để hoàn thành Nhà thánh. Số tiền mà hai mẹ con bỏ ra đều kê rõ ở trong Nhà thánh. Hai mẹ con bà còn hiến hai mẫu ruộng để làm ruộng tế. Dân làng rất khen ngợi và mong muốn ghi lại công đức mẹ con bà.

Tôi nghĩ, phàm đã tôn sùng các bậc hiền triết là quy luật tâm lý mà người xưa cho rằng sẽ tồn tại muôn đời, cần gì phải tìm ở tấm bia đá này. Nay các học thuyết khác thường dùng những lời hoa mỹ để mê hoặc và đánh lừa nhiều người trong thiên hạ.

Làng Phú Vinh nằm ở vùng sông núi cho nên một việc nghĩa xuất hiện ở nhà nghĩa phụ trong làng ấy, khiến thiên hạ hết sức khâm phục… (mất 4 chữ) ai hơn ai kém còn nhờ ở trời. Ai muốn sống thọ, sống tốt đẹp hãy noi gương người làng này. Như thế gương tốt mới lan truyền rộng khắp.

Ngày tốt tháng 11 mùa đông năm Quý Hợi, niên hiệu Tự Đức thứ 16 (1863).

Thám hoa khoa Quý Sửu, Hàn lâm viện thị giảng, Đốc học tỉnh Nghệ An Nguyễn Khoát Như, hiệu Nam Sơn, Khả Am soạn(6).

Bố chánh sứ Thanh Hoá Lê Lượng Bạt hiệu Xuân Đình, Vựng Trọng nhuận chính(7).                   

Bài minh (Mặt sau

Thời thái bình thì chuộng văn. Nhà thánh được tạo dựng khắp nơi. Làng Phú Vinh trước đây đã làm nhà Thánh, nay bị hư hại. May nhờ nhà họ Hồ, hai người con trai là Bá hộ vâng theo lời mẹ, làm việc nghĩa, nêu gương về đạo đức được dân ghi ơn.

Nhà Thánh trước ở bên trái làng trên vùng đất khá thấp, bèn bói quẻ lành, dời sang hướng bắc, nơi đất bằng phẳng bên trái có núi Hồng Lĩnh, bên phải có núi Phượng Hoàng, trước mắt có hòn đá nổi nơi dòng Sông Lam (Phù Thạch - ND). Thượng điện và hạ điện, hai bên có tả vu và hữu vu đều lợp ngói xây tường, phí tổn hơn ngàn quan, lại còn cung hai mẫu ruộng đất làm ruộng tế. Khu đất sâu kín trước đây nay đẹp tươi sáng sủa.

Ngày nay đạo ngũ thường(8) được phổ biến khắp nơi. Ngoài ra còn có đạo Phật, một số ít chuộng mê tín dị đoan. Có một thứ đạo được người dân ưa chuộng là tình nghĩa. Nó tự nhiên giữa trời đất mà cái bản tính của nó nằm trong lòng người. Lý lẽ răn dạy khá rõ ràng được dân chúng tin theo. Nhà họ Hồ có một tấm gương được ngưỡng mộ cũng do tình nghĩa mà được vậy. Mầm mống của tình nghĩa xuất phát từ sự thanh thản và ít tham vọng. Nhọc công theo đuổi những điều mê tín dị đoan chẳng phải kỳ dị sao! Chỉ có tự lòng ta mới biết rõ ra. Mong sao cháu con đời đời sống có đức, làm nhiều việc thiện mang lại giàu có cho làng để tăng thêm gương tốt. Mở rộng tình nghĩa thì gia thanh thêm sáng mà đạo của ta càng phát huy công dụng.

Nay nhà thánh đã làm xong, nhưng những lời răn dạy phải dùng tâm trí suy ngẫm lâu dài mới hiểu hết. Vậy có thơ rằng:        

Sừng sững đền miếu      

Mẹ khuyên con cái

Phong quang xóm làng.

Giữ được đạo nhà,

Cảnh vật rực rỡ   

Việc dân uỷ thác

Sông núi huy hoàng.                           

Phải biết lo xa.

Rừng thông bên trái      

Quê hương tươi đẹp,

Lọng ngọc trời ban

Đông đúc rộn ràng

Gia đình rạng rỡ

Muôn đời mãi mãi

Nhớ ngày gian nan.

Càng đẹp càng sang.   

Ngày 16 tháng giêng xuân Bính Dần triều vua Tự Đức (1866).

Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, Hàn lâm viện thị giảng Học sĩ Tham biện nội các sự vụ Thanh Châu Tiểu Tô Lâm, Nguyễn Hữu Lập hiệu Nọa Phu soạn(9).

Tú tài Đặng Duy Doanh, xã Nhị Đạt, huyện Nghi Xuân viết chữ(10).

3. Bia không đề của họ Hồ

In sao chữ Hán:    

善有半有滿也滿則投也大至其身榮以及其子孫而善祿無量焉我族阮孺人貫母也少閒泳迨相我知事公勤且敬公受二子幼益刻苦以持家家焉二斗秤惟守泰陽拙業戒十盜以故餞于貲性樂善延師課子外立祖堂脩先塋

置祭田祭錢器辰察族之貧病溫恤之於鄉常假貸之不德飲食之不役遇劫連輒最力推鮮累千百不厭美哉共利之為悅 共合之為安德人哉福基隆矣

往歲飢朝議開新河以工代賑   孺人捐貲錢粟三千助焉事聞詔富二子百戶

賜冠服各一副免其孫六年徭再加賞使民富壽銀錢四十二枚旌以扁顏曰

樂捐義婦既領孺人顧二子屋而藏焉榮君賜且山 逵也於是聚族謀飾賀祖

造庭階稱曰窈聞陰德有陽投隱行有照名今于我孺人見之掉換榜高望之不覺惑昔羨今焉我族來處此六七世矣基祖中捷軍千戶侯始以族大泊神策軍中營効軍都 尉在才伯先相公克篤其慶敷遺後人庥列先妣相之施濟

功德載家乘非一會孺人做得無量功德以成先知事之志培列先積慶之餘門戶煜然增先所謂施之滿披之大非與盛哉富貴福澤天后之君戎之今而後子孫能滋樹之則吾古月光大之祥臣未可量小言所以為世世券曰無忘也至若脩神祠理亭字置祭錢薦祀儀祀器与架橋梁扦圯壕孺人生平施捨已備文祠 碑仙福寺鐘記不題

嗣德拾五年壬戌夏五月貳拾五日         仝族恭記

Phiên âm

Thiện hữu bán hữu mãn dã. Mãn tắc đầu dã. Đại chí kỳ thân vinh, dĩ cập kỳ tử tôn nhi thiện lộc vô lượng yên. Ngã tộc Nguyễn nhụ nhân quán mẫu dã, thiếu nhàn vịnh, đãi tướng ngã Tri sự công, cần thả kính công. Thụ nhị tử ấu, ích khắc khổ, dĩ trì gia gia yên. Nhị đấu xứng duy thủ thái dương chuyết nghiệp, giới thập đạo dĩ cố tiễn vu ti. Tính lạc thiện, diên sư khoá tử, ngoại lập tổ đường, tu tiên doanh, trí tế điền, tế tiền khí thần sát tộc chi bần, bệnh ôn, tuất chi. Ư hương thường giá thải chi, bất đức ẩm thực chi bất dịch ngộ kiếp, liên triếp tối lực thôi tiên luỹ thiên bách bất yếm. Mỹ tai! Cộng lợi chi vi duyệt, cộng hợp chi vi an. Đức nhân tai! Phúc cơ long hỹ. Vãng tuế cơ, triều nghị khai tân hà, dĩ công đại chẩn. Nhụ nhân quyên tư, tiền túc tam thiên, trợ yên. Sự văn chiếu phú nhị tử, Bá hộ tứ quan phục, các nhất phó miễn kỳ tôn lục niên dao, tái gia thưởng "sử dân phú thọ" ngân tiền, tứ thập nhị  mai tinh, dĩ biển nhan viết "lạc quyên nghĩa phụ". Ký lãnh nhụ nhân cố nhị tử, ốc nhi tàng yên. Vinh quân tứ thả xoa quỳ dã. Ư thị tụ tộc mưu sức hạ tổ tạo đình giai xưng viết: Yểu văn "âm đức hữu dương đầu, ẩn hạnh hữu chiếu danh". Kim vu, ngã nhụ nhân kiến chi điệu hoán bảng cao. Vọng chi bất giác hoặc tích tiễn. Kim yên, ngã tộc lai xứ thử, lục thất thế hĩ. Cơ tổ trung tiệp quân Thiên hộ hầu, thuỷ dĩ tộc đại bạc. Thần sách Quân Trung doanh hiệu Quân đô uý. Tại Tài Bá, tiên tướng công khắc đốc kỳ khánh, phu di hậu nhân hưu liệt. Tiên tỉ tướng chi thí tế công đức tải gia thừa phi nhất hội. Nhụ nhân tố đắc vô lượng công đức, dĩ thành tiên tri sự chi chí, bồi liệt tiên tích khánh chi dư. Môn hộ dục nhiên, tăng tiên sở vị thí chi, mãn phi chi đại, phi dữ thịnh tai! Phú quý phúc trạch thiên hậu chi quân nhung. Chi kim nhi hậu, tử tôn năng tư thụ chi, tắc ngô Cổ Nguyệt quang đại chi tường, thần vị khả lượng tiểu ngôn sở dĩ vi thế thế khoán viết: Vô vong dã. Chí nhược tu thần từ, lý đình tự, trí tế điền, tế tiền tiến tự nghi, tự khí dữ giá kiều lương, hãn di hào. Nhụ nhân sinh bình thí xả dĩ bị văn từ bi, Tiên Phúc tự chung, ký bất đề.

Tự Đức thập ngũ niên Nhâm Tuất hạ ngũ nguyệt nhị thập ngũ nhật.    

Đồng tộc cung ký.

Dịch nghĩa: Bia không tên tại nhà thờ họ Hồ   

Tính thiện của con người có vơi có đầy. Khi đầy thì san sẻ cho người khác. Người còn nhỏ có tính thiện đến khi giàu có, con cái đề huề mà thiện tâm vẫn dồi dào thì phúc lành vô biên. Họ Hồ ta có bà con dâu người họ Nguyễn, cùng quê mẹ, lúc nhỏ thường ra ngụp lặn nơi dòng sông. Lớn lên bà giúp việc cho người chồng làm quan Tri sự một cách cần cù và cung kính. Khi hai con còn nhỏ bà sống khắc khổ, đảm đang mọi việc chăm lo cho gia đình, cân bằng giữa một bên là việc công, một bên là việc tư; lấy sự hoà hợp làm phương tiện để đề phòng trộm cắp, giữ gìn tiền bạc của cải. Bà thích làm việc thiện, rước thầy về dạy học cho con, tu tạo lăng mộ tổ tiên, cung tiến ruộng tế và sắm đồ tế khí. Xem xét trong họ những ai nghèo khổ, bệnh tật thì thăm hỏi, giúp đỡ. Trong làng ai gặp hoạn nạn thì tận lực cứu giúp. Sống với dân làng rộng lượng khoan dung. Đẹp đẽ thay! Làm trăm ngàn việc thiện mà không biết chán. Nhân đức thay! Cùng hưởng lợi để được sống vui vẻ, cùng hoà hợp để được sống bình an. Bà chăm cho cội phúc to lớn và đẹp đẽ. Có một năm mất mùa, nạn đói hoành hành, triều đình tổ chức đào sông để dùng tiền công mà cứu đói cho dân. Bà quyên tiền của và thóc lúa được ba ngàn thạch(11) để cứu giúp. Vua ban thưởng cho bà một đồng bạc có 4 chữ "Sử dân phú thọ" (làm cho dân giàu có, sống thọ) cùng với 42 cây cờ và một tấm biển đề "Lạc quyên nghĩa phụ" (người phụ nữ góp nhiều tiền của giúp dân). Hai con trai của bà được Triều đình ban thưởng danh hiệu Bá hộ và mũ áo. Các cháu được miễn tạp dịch trong 6 năm. Họ tiến hành sửa sang nhà thờ tổ. Treo tấm bảng ghi là "Từng nghe: Ân huệ kín đáo đem lại tươi sáng, phẩm hạnh ẩn tàng rạng ngời danh thơm"(12). Bà xem xong bảo cất tấm bảng ấy. Bà nói rằng: nay được sống dư thừa mà không biết xưa buồn bã vì nghèo túng hay sao!

Họ ta đến đất này đã 6, 7 đời nay. Thuỷ tổ là người thuộc dòng họ lớn, làm đến chức Thiên hộ(13), trong đạo quân thắng trận trở về, đến đây thì ở lại. Cụ được phong Thần hiệu là "Quân Trung doanh hiệu Quân đô uý". Từ xưa đến nay Ngài dốc lòng ban phúc lành cho dân. Vợ của Ngài là người cần cù và đức hạnh, hay giúp đỡ người khó khăn hoạn nạn.

Lại nói về bà con dâu họ Hồ, do làm được nhiều việc thiện đã trở thành tấm gương cho mọi người. Cần biết rằng, các bậc tiên tổ ta tích trữ phúc đức, gia thanh rạng rỡ, ban ân huệ rộng khắp, chia sẻ nhiều của cải cho dân làng. Chẳng phải nhờ đó mà nay có được sự thịnh vượng hay sao! Đủ cả phú, quý, phúc, trạch. Bà nội ta đức hạnh dày dặn, ông nội ta ân huệ lớn lao. Từ nay về sau con cháu ra công chăm bón công đức để họ Hồ được hưởng phúc lộc dồi dào.

Do hiểu biết còn có hạn xin viết đôi điều ngắn gọn để con cháu đời đời biết ơn công lao tổ tiên đã từng tôn tạo đền thờ, chăm lo ruộng tế, tiền tế, dâng đồ tiến cúng, nghi lễ thờ tự và sắm sửa các đồ tế khí khác.

Bà con dâu họ Hồ nổi tiếng khi còn sống đã quan tâm sắm chuông chùa Tiên Phúc, làm bia Văn từ làng Phú Vinh và bia nhà thờ họ ghi bài ký không tên này(14).

Ngày 25 tháng 5,  mùa hạ Nhâm Tuất năm Tự Đức thứ 15 (1862)

Người cùng họ viết bài ký. q

 

Chú thích

1. Có thể là ông Phạm Ngữ quê huyện Nghi Xuân, đậu tiến sĩ năm 1463.

2. Nhan Hồi là học trò quý nhất trong số ba ngàn học trò của Khổng Tử.

3. Tức là một ngày âm lịch có tên là Đinh Hợi, Đinh Sửu hay Đinh gì đó trong vòng 10 ngày giữa tháng Tỵ, tức là tháng 4 (Khổng Tử mất vào tháng 4 năm 479 trước Công nguyên).

4. Bia làm bằng đá tốt, cao 125cm. Trán bia hình bán nguyệt, chạm mặt trời và mây. Thân bia có kích thước 70 x 50 x 15 (cm). Phần khắc chữ có kích thước 60 x 40 (cm), hai mặt đều có chữ. Nét chữ rõ dễ đọc. Mặt trước có tiêu đề như trên. Mặt sau ghi ruộng tế không có tiêu đề. Tổng cộng hai mặt khoảng 400 chữ. Nhà thánh bị hỏng, bia đặt tại đền Rậm xã Hưng Nhân.                                                                       

5. Bách hộ (Bá hộ) là chức quan võ thời Lê. Thời Nguyễn dùng làm phẩm hàm cấp cho người giàu có.

6. Thám hoa Nguyễn Đức Đạt người làng Hoành Sơn (huyện Nam Đàn).

7. Cử nhân Lê Lượng Bạt người làng Xuân Tình (Nghi Thịnh, Nghi Lộc).

8. "Ngũ đạo" là Đạo ngũ thường bao gồm: nhân, nghĩa, lễ , trí, tín.

9. Tiến sĩ Nguyễn Hữu Lập người làng Trung Cần (Nam Trung, Nam Đàn).

10.  Bia làm bằng đá tốt, khắc chữ hai mặt. Toàn bia cao 125cm. Trán bia hình bán nguyệt, chạm hoa văn tinh xảo hình mặt trời và mây. Thân bia kích thước 90x 60x15 (cm). Riêng diện tích viết chữ 70x50 (cm). Hai mặt bia đều có tiêu đề, chạm chữ nổi. Tổng cộng hai mặt gần 800 chữ. Những chỗ có dấu (…) là do chữ mờ khó đọc. Nhà thánh bị hỏng, bia được đem về đặt tại nhà thờ họ Hồ, xóm 4 xã Hưng Nhân.

1. 1 thạch tương đương 10kg.

12. Dịch câu "Thiết văn: Âm đức hữu dương đầu, ẩn hạnh hữu chiếu danh".

13. Thiên hộ là chức quan võ, thời Lê trật Chánh ngũ phẩm.

14.  Giai thoại về bà con dâu họ Hồ: Thầy Hồ Hoà, một thầy giáo về hưu năm nay 72 tuổi kể lại câu chuyện truyền miệng trong họ như sau:  Cụ tổ 5 đời là Hồ Đức Nhưng có người vợ cùng làng là Nguyễn Thị Quai. Sinh nhiều con, không may ông mất sớm, bà ở vậy tần tảo nuôi con và làm ăn lương thiện. Một hôm đi xúc hến ở bãi bồi ven sông Lam bà thấy một hòn đá lớn lăn vào nhủi. Bà bê đá quẳng ra. Một lát sau lại chính hòn đá ấy lăn vào nhủi. Bà lại quẳng ra. Điều lạ lùng là mặc dù đã tránh nơi quăng hòn đá, nó vẫn lăn vào nhủi. Thấy lạ, bà quyết định mang hòn đá về để góc nhà, định bụng làm hòn dằn vại cà. Một hôm đi làm về muộn, bà cất cuốc vào góc nhà. Một vệt sáng vàng choé loé ra khi lưỡi cuốc chạm hòn đá. Bà bảo các con đem đèn soi kĩ thì ra hòn đá lạ lùng kia chính là một cục vàng rất lớn.

Bà trở nên giàu có nhất vùng. Nhưng số vàng ấy bà không chỉ giành riêng cho gia đình mà còn làm nhiều việc nghĩa như xây dựng nhà thờ họ, đền chùa, đường sá, giúp đỡ người nghèo. Năm 1859, bà được Vua ban biển vàng "Lạc quyên nghĩa phụ". Tấm biển sơn son thiếp vàng hiện còn treo ở nhà thờ họ Hồ.

Bia này làm bằng đá tốt cao 130 cm, trán bia hình bán nguyệt chạm mặt trời và mây. Thân bia có kích thước 80 x 60 x 15 (cm). Phần khắc chữ có kích thước 60 x 40 (cm). Bia chỉ có một mặt, tổng cộng khoảng 500 chữ. Bia đặt tại nhà thờ họ Hồ, xóm 4, xã Hưng Nhân trong vườn thầy Hồ Hoà.      

 

 

 

Tài liệu tham khảo:

1. Di tích lịch sử Nhà thờ họ Phạm - Hưng Nhân.

2. Hồ sơ đề nghị tuyên dương đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho cán bộ - nhân dân và lực lượng vũ trang xã Hưng Nhân. Tài liệu lưu tại văn phòng Đảng ủy xã Hưng Nhân.

3. Địa chí văn hóa Hưng Nguyên, Ninh Viết Giao (chủ biên), Thái Huy Bích, NXB KHXH Hà Nội, 2009.

4. Di sản Hán Nôm ở huyện Hưng Nguyên, Thái Huy Bích & Nguyễn Đình Vân (Sưu tầm và dịch), NXB Nghệ An - 2016.

5. Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Hưng Nhân (1930-2010), Hoàng Anh, Nguyễn Thị Trang Nhung, NXB Nghệ An, 2011.

Nguyễn Huy Khuyến

Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du không những được nhiều tầng lớp nhân dân tiếp nhận như món ăn tinh thần vô giá mà đã ăn sâu bám rễ vào đời sống văn hóa tinh thần của người Việt. Có biết bao nhiêu người dân không hề biết mặt chữ Nôm hay chữ Quốc ngữ mà vẫn đọc thuộc vanh vách từng câu Kiều. Đó chính là bởi cốt chuyện và ngôn ngữ do tác giả sử dụng có vần có điệu nên dễ đọc và dễ nhớ. Không chỉ có tiếp nhận Truyện Kiều, có rất nhiều tao nhân mặc khách, thi nhân đã dựa vào cốt truyện để làm thơ vịnh về thân phận của nàng Kiều như là để cảm thông, chia sẻ với kiếp hồng nhan nhưng bạc phận. Nhân dịp kỷ niệm 250 năm ngày sinh của Nguyễn Du, chúng tôi xin được giới thiệu một văn bản có tựa đề Thúy Kiều thi bằng chữ Nôm, từ đó khẳng định sức sống và  sự lan tỏa của Truyện Kiều còn lay động trong tâm hồn của người Việt.

Văn bản này chép 20 hồi, mỗi hồi tương ứng với một bài thơ thất ngôn bát cú. Văn bản翠翹詩Thuý Kiều thi, kí hiệu R.1957, được sao chép năm 保大貳年柒月拾五日抄籙 Bảo Đại nhị niên thất nguyệt thập ngũ nhật sao lục (1927) không rõ tác giả, khổ 27 x 16 cm. Hiện lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam. Nội dung được chia làm 2 phần: Phần 1: Chép Thúy Kiều thi 翠翹詩: Đầu sách chép bài "Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường 佳人不是到錢塘..." [của Phạm Quý Thích 范貴適],  tiếp sau là 20 hồi từ Đệ nhất hồi 第一回 đến Đệ nhị thập hồi 第二十回 đều có cốt truyện được diễn giải bằng 20 bài thơ Nôm vịnh cuộc đời Thuý Kiều 翠翹.

Phần 1: Lời đề thơ và phần tổng kết cuộc đời Thúy Kiều

佳人不是到錢塘,

半世煙花債未償.

玉面豈應埋水國,

冰心自可對金郎.

斷腸夢裡 根緣了,

薄命琴終怨恨長.

一片才情千古累,

新聲到底為誰傷

Quốc âm dĩ hạ (từ đây trở đi là phần Quốc âm, chữ Nôm)

Một kiếp yên hoa một ngón đàn,

Quân thân vì truyện hóa lan man.

Đất bồi dạ hiếu không Kim Trọng,

Báo đáp hồn trung có Thổ Quan.

Phận đẹp lẽ chừa đeo bạc mệnh,

Duyên may khôn yếm chỉ hồng nhan.

Yên nhà yên nước thân là gái,

Mười mấy năm trời thế mới ngoan.  

Phần 2: Cuộc đời Thúy Kiều qua 20 bài thơ

Đệ nhất hồi (hồi thứ nhất)

Vui xuân vui cả thiếu chi nơi,

Riêng để sầu xuân gặp gỡ chơi.

Thương kẻ dấu giày in mặt đất,

Nhớ ai màu áo nhiễm da trời.

Khóc cùng cây cỏ chừng y phận.

Cười mấy non sông muốn ngượng lời,

Nào khách ba sinh người chín suối,

Biết lòng ai chửa hỡi ai ơi.

Đệ nhị hồi (hồi thứ 2)

Rằng trong gặp gỡ lúc vô tình,

Ai biết rằng ai lại quẩn quanh.

Trên ghế mười bài mê mẩn bướm,

Bên thoi một lối thẩn thơ oanh.

Cỏ hoa như họa màu sương trắng,

Sương tuyết dường in vẻ mắt xanh.

Ơ cái chiêm bao mà có nhiệm,

Hoài công đeo đẳng khách ba sinh.

Đệ tam hồi (hồi thứ 3)

Quạt ước trâm thề chuốt mấy ai,

Tấc lòng trinh phận giám đơn sai.

Cầu sương chung lối tình không cạn,

Tiệc ngọc thâu đêm dạ chẳng phai.

Tường miên nhẽ nặng lời đá tạc,

Song the đon đả truyện hoa nài.

Nước non dầu có duyên sau nhẽ,

Giá thiếp danh chàng vẹn cả hai.

Đệ tứ hồi (hồi thứ 4)

Vì đâu bạc bội nát gan vàng,

Non nước thề xưa dở dở giang.

Hiếu thứ trăm đường giành chị gánh,

Tình này một khối mặc em mang.

Tóc tơ đường Bắc lòng man mát,

Sương tuyết tường Đông mặt bẽ bàng,

Ví cái duyên ai ai sớm biết.

Truyện đêm hôm nọ tiếc chi chàng. 

Đệ ngũ hồi (hồi thứ 5)

Trêu ngươi chi mấy khách chương đài,

Một mối tình riêng nỡ chẻ hai.

Mưa thảm ngậm ngùi duyên mới cũ,

Mưa sầu tầm tã nỗi trong ngoài.

Hồn còn mang nặng lời sơn hải,

Nghĩa chửa đền xong truyện trúc mai.

Kinh Bắc lều Tây gần cách mấy,

Vui ai riêng để mối sầu ai.

Đệ lục hồi (hồi thứ 6)

Tơ chỉ vì ai đạt truyền ra,

Má hồng mặt thiết chẳng buông tha.

Ngậm ngùi lửa đốt lòng con trẻ,

Vơ vét vàng nhai miệng một già.

Chín chữ cao sâu hai tấc cỏ,

Trăm năm trong đục một tờ hoa.

Thôi thôi lấy hiếu làm trung vậy,

Quan thế như mà đã có nha.   

Đệ thất hồi (hồi thứ 7)

Mùi chuông đỉnh ấy giống tanh hôi,

Ngượng ngập thưa ra sợ hứa mô.

Xin nhớ lời con duyên chắp nối,

Cũng liều mình thiếp bước pha phôi.

Hàm ơn tang tử (1)chưa đền nửa,

Kiếp mặt phong trần muốn rạch đôi.

Nông nỗi chàng Kim như có hỏi,

Đóa trà mi đó đã phong rồi.

Đệ bát hồi (hồi thứ 8)

Chót thẹn lời xưa với núi sông,

Mưa chiền nắng dữ cũng hoài công.

Nay đeo tay áo khuôn mệnh bạc,

Nọ thưở gặp xuân hãm má hồng.

Bình thủy đã nhắm duyên từ trước,

Yên hoa lại mặc nở vào trong.

Kiếp này con tạo xoay cho chán,

Cho chán rồi ra cũng một chồng.

Đệ cửu hồi (hồi thứ 9)

Phương tiện này ai đã mở đường,

Có thương sao chẳng vẹn lòng thương.

Đinh ninh gác nguyệt tiên đề chữ,

Tan tác rừng thu ngựa gãy cương.

Ngoảnh lại thêm xa lời sắt đá.

Trông ra càng thẹn mặt phong sương,

Ô hay trẻ tạo làm sao thế.

Quanh quẩn lầu xanh cũng một phường.

Đệ thập hồi (hồi thứ 10)

Má phấn lầu xanh chuốc mấy cầu,

Phũ phàng ai trước dỗ ai sau.

Mảnh tiên cậu bướm chưa phù phép,

Con sách nhà ma đã khô đầu.

Già dẫn khôn phần lời trách phải,

Trẻ thơ nào bạc nghĩa nông sâu.

Lạ cho học đạo ông mày trắng,

Bày cái trò chơi xỏ lẫn nhau.

Đệ thập nhất hồi (hồi thứ 11)

Tưởng những bà tơ thói nhẽ ngươi,

Cớ sao lối một lại mai mười.

Tình xưa nghĩ đến ăn năn khóc,

Duyên mới trông ra khúc khích cười.

Nhớ cảnh hãy khoan năm vận họa,

Yêu hoa xin chữ một màu tươi.

Phong trần thế thế phong lưu thế,

Trong áng bình khang đã mấy người.

Đệ thập nhị hồi (hồi thứ 12)

Mặt phấn suy nên truyện lọc lừa,

Tình càng dan díu nết càng ưa.

Mượn điều xẹn trúc xe mau ruổi,

Nhờ cái duyên đằng gió thổi đưa.

Hòa chén nâng tay thầy tớ trước,

Công tư vẹn nghĩa sắt cầm xưa.

Chủ trương còn nỗi nhà trong đấy,

Mừng chộm cho ai đã biết chưa

Đệ thập tam hồi (hồi thứ 13)

Tưởng cái nhân duyên cũng trộm mừng,

Nửa còn nghe lệnh nửa trông chừng.

Xót người sân dưới lòng pha muối,

Hoài kẻ nhà trong miệng ngập ngừng.

Đã quyết một bề xin lấy chọn,

Nào ngờ trăm giọng kín như băng.

Quan tha nẻo biết còn mờ nhẽ,

Ai khảo mà ai đã giám xưng.

Đệ thập tứ hồi (hồi thứ 14)

Lâu đài nào ấy tính danh chi,

Giấc mộng mơ màng nửa tín nghi.

Giây thắm buộc chân khi xuống lệnh,

Áo xanh thêu lũ lúc ra uy.

Rượu mời trên tiệc mùi cay đắng,

Đàn gảy ngoài hiên tiếng búa ghì.

Ai ấy cắm râu ngồi đấy mãi.

Vừa ra sao lại gấp vào chi.     

Đệ thập ngũ hồi (hồi thứ 15)

Thuở kiếp đa mang thuở phúc này,

Thôi thôi thôi thế cũng là may.

Đã đem chân bước miền cây gốc,

Thời gửi thân vào áng cỏ cây.

Nén hẳn lòng trần câu kệ độc,

Khua tan niệm tục tiếng chuông lay.

Xuất gia phiếm hỏi từ bao nhẽ,

Tiểu mạn lâu rồi tiểu mới trai.

Đệ thập lục hồi (hồi thứ 16)

Nhà quen đâu có thói ghen ngầm,

Thiếp đấy chàng đây nào ngậm tăm.

Gác nguyệt lẻn chân khi kệ viết,

Am mây nương bóng lúc thơ ngâm.

Đã e nỗi khách lòng sâu sắc,

Lại thẹn duyên chàng truyện bỗng thầm.

Thuở kiếp hai lần tu chẳng cực,

Hay là phật nể chửa khai tâm.

Đệ thập thất hồi (hồi thứ 17)

Thuở kiếp chân tu mấy chẳng tròn,

Cũng liệu may thay phận con con.

Hãi hùng nhà bạc người khuê các,

Dan díu lầu xanh khách nước non.

Hai chữ sắc không lòng đã chuyển,

Một lời tâm phúc dạ không mòn.

Châu đài có phải rằng tiên lộ,

Đem cái đâu sòng đổi phấn son.

Đệ thập bát hồi (hồi thứ 18)

Trướng hùm rộng mở giữa vòng quân,

Bắt lũ năm nào nạp dưới sân.

Lẫm liệt trả thù gươm một lưỡi,

Núi non tạ nghĩa bạc nghìn cân.

Nhà mà chi trách tu vô hạnh,

Đạo phật nào quên kẻ có nhân.

Biết mặt nhau chưa ai đố nhẽ,

Kỹ tàn kỹ tản kỹ uy ân.

Đệ thập cửu hồi (hồi thứ 19)

Đem thân bách chiến gác ra ngoài,

Trung hiếu tôn rằng vẹn cả hai.

Cuốn giáp trước hiên hùm mắc hiểm,

Treo châu mặt nước cá vướng chài.

Mấy tầng tử khí lay không chuyển,

Một mảnh hồng nhan rữa chẳng phai.

Chín suối uy linh chàng có biết,

Cơ trời nào phải truyện nghe ai.

Đệ nhị thập hồi (hồi thứ 20)

Cái nỡ phong trần chửa rạch không,

Mảy may còn gặp lối bên sông.

Trên đàn công đức nồi hương át,

Dưới tiệc đoàn viên chén rượu nồng.

Thấy mặt đã nghe lời khấn nguyện,

Nhẽ lòng lại ép chuyện riêng chung.

Phong lưu cho bõ phong trần trước,

Đem áo Già Lam đính chỉ hồng.      

Cuộc đời Vương Thúy Kiều được một nhà thơ nào đó đúc kết trong 20 bài thơ Nôm thật sự chưa lột tả hết được những bi kịch đắng cay cuộc đời của nàng phải trải qua. Tuy nhiên, cái kết cuối cùng chính là sự sum vầy, đoàn tụ sau bao năm lưu lạc. Chữ hiếu, chữ tình cuối cùng đều được vẹn toàn cả hai. 

* Hội nghị góp ý Dự thảo Hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo năm 2017

UBND tỉnh vừa tổ chức họp lấy ý kiến về Dự thảo kế hoạch "Hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Nghệ An giai đoạn 2017-2020". Đồng chí Huỳnh Thanh Điền - Phó chủ tịch UBND tỉnh chủ trì.

Hầu hết ý kiến của đại biểu đều thống nhất với nội dung của dự thảo đưa ra như: Chú trọng tuyên truyền thông qua việc xây dựng các chuyên mục, chuyên đề, các cuộc thi về hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên các kênh truyền thông chính thống; Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng về đổi mới khởi nghiệp; xây dựng các cơ chế chính sách nhất là quỹ hỗ trợ khởi nghiệp. Đối tượng được hỗ trợ là: học sinh - sinh viên, các cá nhân nhóm cá nhân, có dự án khởi nghiệp, doanh nghiệp khởi nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình sản xuất, kinh doanh mới; ưu tiên các dự án thuộc lĩnh vực tiềm năng, thế mạnh trong phát triển KTXH: cơ khí tự động hoá; điện tử công nghệ thông tin, công nghiệp công nghệ cao,... được ưu tiên hàng đầu.

Kết luận tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Huỳnh Thanh Điền yêu cầu Sở Khoa học & Công nghệ - đơn vị soạn thảo kế hoạch tiếp thu các ý kiến góp ý của đại biểu đồng thời bám vào QĐ 844 của Chính phủ để cụ thể hóa các nội dung, phần việc thực hiện cũng như dự trù kinh phí hỗ trợ cho từng năm từ nay đến 2020, tăng cường xã hội hóa, xây dựng quỹ phát triển khoa học công nghệ để hỗ trợ các dự án khởi nghiệp; Thành lập vườn ươm khoa học công nghệ.

Linh Nhi

* Tăng cường truyền thông về khoa học & công nghệ

Đó là nội dung của buổi làm việc giữa Sở KH&CN và Báo Nghệ An vào chiều 13/4/2017. Tại buổi làm việc, lãnh đạo hai đơn vị đã cùng thảo luận và ký kết chương trình phối hợp tuyên truyền về KH&CN giai đoạn 2017-2020.

Đại diện lãnh đạo Sở KH&CN và Báo Nghệ An đã có những đánh giá cụ thể về công tác phối hợp truyền thông KH&CN giữa hai đơn vị thời gian qua. Theo đó, trong năm 2016, Báo Nghệ An đã thực hiện và đăng tải trên 40 tin, bài viết về hoạt động trong lĩnh vực KH&CN trên ấn phẩm báo in; một số tin, bài về hoạt động của ngành trên Báo Nghệ An điện tử. Tuy nhiên, khâu tuyên truyền về KH&CN vẫn đang còn chừng mực, chưa tạo ra sự đột phá. Một trong những nguyên nhân là chưa có cơ chế phối hợp tuyên truyền hiệu quả giữa hai cơ quan.

Dựa trên quan điểm việc tăng cường công tác truyền thông KH&CN có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển đời sống và kinh tế - xã hội, đại diện lãnh đạo Sở KH&CN và Báo Nghệ An đã thống nhất thông qua chương trình kế hoạch phối hợp tuyên truyền về KH&CN giai đoạn 2017-2020. Dự kiến trong năm 2017, hoạt động phối hợp sẽ được tập trung ở các nội dung như: Tuyên truyền đưa Nghị quyết số 06 NQ/TU ngày 14/12/2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển KH&CN giai đoạn 2016-2020, định hướng 2025 đi vào cuộc sống; Xây dựng Nghệ An thành trung tâm KH&CN vùng Bắc Trung bộ, trọng tâm là nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao các thành tựu KH&CN, đào tạo nguồn nhân lực KH&CN phục vụ sản xuất và đời sống, góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa; Tuyên truyền về các đề tài, dự án trên lĩnh vực KHXH&NV, hiệu quả các chương trình đề án, các cơ chế chính sách đã được phê duyệt, qua đó khẳng định đóng góp của ngành KH&CN vào việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà.

Huyền Trang

* Gặp gỡ giữa doanh nghiệp với thanh niên là chủ các mô hình sản xuất giỏi

Trung tâm Hỗ trợ phát triển thanh niên - Tỉnh đoàn Nghệ An vừa tổ chức chương trình gặp gỡ giữa doanh nghiệp với thanh niên là chủ các mô hình sản xuất giỏi năm 2017. Tham dự có đại diện các sở, ngành cấp tỉnh, các doanh nghiệp cùng đông đảo đoàn viên thanh niên.

Tại diễn đàn, nhiều ý kiến tham gia thảo luận cũng đã nêu lên những mong muốn được hỗ trợ về vốn, khoa học công nghệ, hỗ trợ bao tiêu sản phẩm; kiến nghị, đề xuất những nội dung liên quan đến việc thực hiện các chủ trương, chính sách khởi nghiệp của chính phủ dành cho thanh niên.

Đại diện các cấp ngành, doanh nghiệp đã lắng nghe chia sẻ, trao đổi và cam kết sẽ tạo sự kết nối nhiều hơn nữa để hỗ trợ các mô hình sản xuất theo hướng bền vững và hiệu quả hơn.

Đây là chương trình nhằm tạo cơ hội cho thanh niên nâng cao chất lượng sản xuất, từng bước trở thành những doanh nghiệp có quy mô đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế.

P.V (Theo Đài PT-TH Nghệ An)

* 70% số thí sinh ở Nghệ An đăng ký thi tổ hợp môn KHXH

Tính đến thời điểm hiện nay, tỉnh Nghệ An đã có 30.165 hồ sơ đăng ký dự thi THPT Quốc gia năm 2017. Đáng chú ý, năm nay số thí sinh đăng ký các môn thi tự chọn là môn KHXH tăng cao hơn nhiều so với năm 2016.

Kết quả tổng hợp ban đầu, ngoài ba môn bắt buộc là Toán, Văn, Ngoại ngữ thì số thí sinh đăng ký tổ hợp môn KHXH cao hơn năm ngoái, chiếm gần 70% (gần gấp đôi so với năm 2016). Cụ thể, số thí sinh đăng ký tổ hợp môn KHTN gồm môn Vật lý là: hơn 12.500 em, Hóa học: 12.660 em, môn Sinh học: hơn 11.800 em. Trong khi tổ hợp môn KHXH, môn Lịch sử có  khoảng 19.570 em, môn Địa lý: hơn 19.300 em, môn GDCD là gần 18.000 nguyện vọng.

Đến thời điểm này, có hơn 10.500 em đăng ký chỉ thi tốt nghiệp, 17.630 em đăng ký thi tốt nghiệp và tuyển sinh vào các trường đại học và  hơn 2.000 đăng ký tuyển sinh vào các trường đại học (chủ yếu là thí sinh tự do).

H.T

* Phát triển cam Vinh theo hướng đặc sản

Tại Hội nghị "Khai thác, phát triển và quản lý chỉ dẫn địa lý cam Vinh" được UBND tỉnh Nghệ An tổ chức sáng ngày 12/4/2017, vấn đề xác định hướng phát triển lâu dài và hiệu quả cho sản phẩm cam Vinh được thảo luận nghiêm túc, thẳng thắn.

Cam Vinh là sản phẩm nông sản hàng hóa đầu tiên của Nghệ An xây dựng thành công CDĐL và trở thành tài sản quốc gia được nhà nước bảo hộ trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Theo báo cáo của Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An, tổng diện tích trồng cam thuộc chỉ dẫn địa lý là 1.681ha thuộc 5 huyện: Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ với ba giống cam Xã Đoài, Vân Du, Sông Con. Hiệu quả kinh tế mang lại từ cây cam là không thể phủ nhận, nhất là trong hai năm gần đây, nhưng bên cạnh đó cũng nảy sinh nhiều vấn đề như: chất lượng, giá cả không đồng đều giữa các vùng trồng cam, giữa các giống cam; vấn đề trà trộn cam từ các địa phương khác và từ Trung Quốc vào gắn mác cam Vinh; vấn đề sử dụng thuốc bảo vệ thực vật… đặt ra yêu cầu cần phải quản lý chặt chẽ từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ cam.

Phát biểu tại Hội nghị, các ý kiến đều thống nhất cần sự vào cuộc mạnh mẽ của các cấp, ngành quản lý nhà nước đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn, đồng thời tìm giải pháp phát huy, phát triển chỉ dẫn địa lý cam Vinh để giữ gìn, bảo vệ một trong những tài sản quý của tỉnh.

Kết luận tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Xuân Đường - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo phát triển cam Vinh theo hướng đặc sản vì đây không chỉ là loại cây cho giá trị kinh tế cao mà còn là sản phẩm mang giá trị văn hóa, truyền thống, là danh dự, niềm tự hào của tỉnh.

Lê Hiền

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.