« Quay lại

Chuyên san Khoa học xã hội &nhân văn số 5/2017

VIẾT NHÂN NGÀY SINH LẦN THỨ 127 CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

GS. Phong Lê

Năm 2017 - kỷ niệm lần thứ 127 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là chẵn 100 năm Cách mạng tháng Mười Nga - 1917.

Là chẵn 90 năm ra đời tác phẩm Đường Kách mệnh(1) của Nguyễn Ái Quốc - 1927.

Cả hai sự kiện trên - một mang tầm nhân loại; và một đánh dấu bước chuyển quyết định của cách mạng Việt Nam đều có liên quan đến hành trình và tên tuổi của một người con vĩ đại của dân tộc Việt trong 30 năm xa xứ. Đó là Nguyễn Ái Quốc.

Rời quê hương năm 1911, sau một hành trình qua nhiều đại dương và xứ sở, vào mở đầu thập niên 1920, Nguyễn đã đến Paris - sào huyệt của chủ nghĩa tư bản hiện đại, và cũng là trung tâm của phong trào cách mạng vô sản thế giới. Chính ở đây đã diễn ra cuộc gặp gỡ lịch sử: Người thanh niên yêu nước mang họ Nguyễn này đã nói đến với bao sảng khoái cái giây phút tỏa sáng thần kỳ, khi, đang trong tăm tối của lịch sử dân tộc, anh gặp được ánh sáng tư tưởng Lênin trong Đề cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Sau này, khi nhớ lại giờ phút ấy, Nguyễn đã nói, đại ý: Được đọc Đề cương, anh sung sướng và cảm động xiết bao. Ngồi một mình trong buồng kín mà Nguyễn vẫn cứ nói to lên, như nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta. Đây là con đường giải phóng cho chúng ta...

Vào năm 1921, ở giây phút Nguyễn gặp Đề cương cách mạng dân tộc và thuộc địa của Lênin, Cách mạng tháng Mười chỉ mới thành công khoảng sau bốn năm; cuộc sống của nhân dân Nga vẫn còn bề bộn bao khó khăn ghê gớm trong bủa vây của thù trong, giặc ngoài. Nguyễn chưa biết gì về cuộc sống đó. Thế nhưng lòng yêu mến và sự ngưỡng mộ đối với Lênin và Cách mạng tháng Mười trong lòng Nguyễn đã được thắp sáng, để ba năm sau, vào ngày Lênin mất, Nguyễn sẽ là người công dân phương Đông, và là người Việt Nam số 1 viết những lời thống thiết nhất đưa tiễn Người - vị lãnh tụ không chỉ của nước Nga, mà còn là của toàn thế giới thuộc địa, trong đó có Việt Nam - Tổ quốc anh. Cùng với Yêu sách của nhân dân Việt Nam (1919), Đông Dương thức tỉnh (1921), những bài viết về Lênin vào năm 1924-1925 của Nguyễn Ái Quốc có thể xem là những tùy bút chính luận (và trữ tình) đầu tiên trong mở đầu văn học hiện đại - cách mạng Việt Nam. "Lênin đã mất! Tin này đến với mọi người như sét đánh ngang tai, truyền đi khắp các bình nguyên phì nhiêu ở châu Phi và các cánh đồng xanh tươi ở châu Á. Đúng là những người da đen và da vàng chưa thể biết Lênin là ai, nước Nga ở đâu? Bọn đế quốc thực dân cố ý bưng bít không cho họ biết. Sự ngu dốt là một trong những chỗ dựa chủ yếu của chế độ tư bản chủ nghĩa. Nhưng tất cả họ, từ những người nông dân Việt Nam đến những người dân săn bắn trong các rừng Đa - hô - mây, cũng đã thường nghe nói rằng ở một góc trời xa xăm có một dân tộc đã đánh đuổi được bọn chủ bóc lột họ và hiện đang tự quản lý lấy đất nước mình mà không cần đến bọn chủ và bọn toàn quyền. Họ cũng đã nghe nói rằng nước đó là nước Nga, rằng có những người dũng cảm, mà người dũng cảm nhất là Lênin"(2). Để rồi, ba năm sau, trong Đường Kách mệnh - văn kiện có ý nghĩa Cương lĩnh cho việc xây dựng một Đảng cách mạng (sẽ được thành lập vào năm 1930), Nguyễn Ái Quốc khẳng định: "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin".

Trở lại với lịch sử - từ 1924, ngày Lênin mất, Nguyễn đã rời Paris sang Matxcơva. Để từ đấy, nước Nga sẽ là địa chỉ quen thuộc, là môi trường sống, học tập, hoạt động của Nguyễn Ái Quốc; là nơi yên ổn nhất cho sự qua lại của Nguyễn trên các trục đường về phương Đông. Tất cả những tri thức về nước Nga mà Nguyễn Ái Quốc biết, rồi sẽ có dịp được Nguyễn Ái Quốc đưa vào một truyện kể có tên là Nhật ký chìm tàu. Một truyện kể - như truyện viễn tưởng đối với nhân dân Việt Nam lúc ấy, nhưng lại là hiện thực một trăm phần trăm đối với người viết ra nó. Nhật ký chìm tàu được viết bằng Quốc ngữ và chữ Nôm, vào năm 1930 - khi phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh ở quê hương Nguyễn vừa bị dập tắt. Nguyễn viết với mong muốn giữ vững lòng tin cho đồng bào, đồng chí trong nước, sau một cơn khủng bố trắng, qua những trang kể về nước Nga: "có chuyện lạ đời. Biến người nô lệ thành người tự do".

Với Nhật ký chìm tàu, lần đầu tiên trong lịch sử, người dân thuộc địa ở Việt Nam được biết đến nước Nga và nhân dân Nga qua một chuyện kể, với 24 chương, mỗi chương được mở đầu bằng hai câu lục bát, về những sự thật mắt thấy tai nghe; về thế giới người dân Nga, từ nô lệ đã thành người tự do. Thế giới của những cải tạo, hồi sinh và xây dựng. Thế giới của những điều kỳ diệu mọc lên như trong cổ tích nhưng không có chút nào hoang đường. Một thế giới mà sự đánh giá không phải không phức tạp, nhưng đối với Nguyễn Ái Quốc lúc ấy, như sau này Trần Dân Tiên kể lại, thì hoàn toàn sáng rõ: "Có những kẻ cho nước Nga là một địa ngục. Có những người thì bảo nước Nga là một thiên đường. Đối với ông Nguyễn, nước Nga nhất định không phải là một địa ngục, nhưng lúc bấy giờ cũng chưa phải là một thiên đường, mà là một nước đang xây dựng có nhiều ưu điểm, nhưng tất nhiên chưa kịp sửa chữa hết những khuyết điểm. Đây đó người ta còn thấy những vết thương do chiến tranh để lại như những cảnh trẻ mồ côi, thiếu nhà ở, thiếu lương thực. Song những vết thương đang hàn gắn dần dần. Khắp nơi người ta phấn khởi, hy sinh, hăng hái làm việc"(3).

Cuốn truyện được viết theo lối kể dân gian truyền thống, cho đồng bào quê hương, vào mở đầu những năm 30, sau cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Những đồng chí, đồng bào sống tuổi thanh niên vào buổi ấy, đến bây giờ chắc không còn ai. Chưa thấy hồi ký nào ghi rõ một đôi mẩu chuyện cụ thể về tác động và sức mạnh của cuốn sách. Chỉ biết bây giờ, bằng sự hồi phục lại từng mẩu, từng đoạn trong trí nhớ của những người còn sống sau đó, qua công sưu tầm và kể lại của nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao(4) chúng ta đã lại có Nhật ký chìm tàu. Nhưng nếu hiểu sau một cơn khủng bố trắng, với cái chết của hàng trăm chiến sĩ cách mạng, với sự bình địa, khai quang nhiều vùng…; nếu hiểu từ ấy Nhật ký chìm tàu phải chịu sự truy đuổi, lùng quét, thủ tiêu, để đến hôm nay chúng ta chỉ còn một mảnh trang bìa, cùng dòng chữ "phi mại phẩm" (không phải để bán), hẳn có thể hình dung được ít nhiều sự run sợ của chính quyền đế quốc, cùng tác động của cuốn sách ra sao.

Những gì ghi trên giấy có thể bị tẩy xóa. Nhưng những gì được lưu giữ trong tâm óc con người thì không kẻ thù nào tiêu diệt nổi. Do vậy dân tộc ta, nhân dân ta sẽ vĩnh viễn không quên Nhật ký chìm tàu.

Một thế giới mới đã mở ra với sự hiện diện đích thực của nó ở chính cuộc đời nơi trần thế này. Đó là nước Nga sau Cách mạng tháng Mười. Nước Nga với trí tuệ của Lênin, đến nước Nga với kết quả dựng xây, sáng tạo của hàng trăm triệu người lao động.

*  *  *

Nguyễn Ái Quốc không chỉ là tác giả hiện đại đầu tiên của Việt Nam viết về Cách mạng tháng Mười và Lênin, viết về những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Trong sự nghiệp viết của mình, Nguyễn còn là tác giả Việt Nam đầu tiên chịu ảnh hưởng của văn học Nga qua những gì đã được đọc, và tập viết những áng văn đầu tiên theo phong cách hiện đại trên các báo chí tiến bộ ở Paris; trong đó người mà Nguyễn chịu ảnh hưởng trực tiếp là Đại văn hào Lep Tonxtôi. Sự kiện này đã được Hồ Chí Minh kể lại cặn kẽ - trong một bài báo nhân kỷ niệm 50 năm ngày mất của                   L. Tonxtôi(5).

Hơn 10 năm sau Nhật ký chìm tàu, ở hang Pác Bó - Cao Bằng ông ké cách mạng có tên Già Thu là người đầu tiên lược dịch một số nội dung Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô ra tiếng Việt(6); và dăm năm sau đó, Nguyễn Du Kích - tức Chủ tịch Hồ Chí Minh, là người dịch cuốn truyện Tỉnh ủy bí mật của Phê-đô-rốp, cuốn sách trở thành giáo khoa cho cách đánh du kích, là cách đánh rất thích hợp và phổ biến trong chiến tranh nhân dân chống Pháp ở Việt Nam.

Như vậy là, không ai khác, ngoài Nguyễn Ái Quốc, rồi Hồ Chí Minh, đã là người đầu tiên viết văn chính luận, văn kể chuyện, về nước Nga Xô viết và Lênin; đã học tập văn học cổ điển Nga, và dịch tác phẩm văn học Nga... Những mối duyên gắn nối văn học Việt Nam với Cách mạng tháng Mười và văn học Nga đã có một lịch sử đáng nhớ gắn với tên tuổi một con người đứng ở vị trí khai sáng nền văn học cách mạng - hiện đại Việt Nam thế kỷ XX.

 

 

Chú thích

(1). Bị áp bức dân tộc liên hợp hội tuyên truyền bộ ấn hành, bản in lần đầu tiên tại Quảng Châu, năm 1927.

(2). Lênin và các dân tộc thuộc địa; In bằng tiếng Nga đầu tiên trên Tạp chí Đỏ, số 2-1925; Tổng tập văn học Việt Nam, tập 36; Nxb. Khoa học xã hội; H.; 1980; tr.447.

(3). Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật; H.; 1970; tr.59.

(4). Ninh Viết Giao sưu tầm và kể lại trên Tạp chí Văn học số 5-1971. Còn Niculin, như ông nói, từ 1958, ông "đã cầm trên tay Nhật ký chìm tàu của Bác Hồ", nơi kho Lưu trữ của Đảng Cộng sản Liên Xô (Tuổi trẻ chủ nhật; 4-2-1990).

 (5). Hồ Chí Minh, Báo Văn học (Liên Xô), ra ngày 19-11-1960.

(6). Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng, câu thứ ba trong bài thơ Tức cảnh Pác Bó, viết năm 1941.

XÂY DỰNG TRUNG TÂM KHXH&NV NGHỆ AN TRỞ THÀNH ĐẦU MỐI KHOA HỌC CỦA TỈNH, CỦA VÙNG

 

 

LTS:  Khoa học xã hội và nhân văn là một lĩnh vực tri thức đặc thù, là sản phẩm lao động nhận thức khoa học và sáng tạo mà chủ thể là con người (cá nhân hay tập thể). Nhận thức về vai trò của KHXH&NV ở mỗi giai đoạn, mỗi hoàn cảnh tuy có khác nhau nhưng đều không thể phủ nhận vai trò tác động của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội.

Kỷ niệm 10 năm Ngày thành lập Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An, Chuyên san KHXH&NV có cuộc trò chuyện với ông Trần Quốc Thành, Giám đốc Sở Khoa học & Công nghệ Nghệ An để có cái nhìn tổng quát, toàn diện hơn về vai trò của KHXH&NV cũng như những định hướng phát triển của Trung tâm trong thời gian tới. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

*   *   *

 

Phóng viên: Thưa ông, Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An được thành lập từ năm 2007, cho đến nay đã có nhiều hoạt động triển khai và đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Nhìn nhận một cách tổng quát thì ông đánh giá như thế nào? 

Ông Trần Quốc Thành: Trung tâm KHXH&NV Nghệ An được thành lập theo Quyết định số 32/2007/QĐ-UBND ngày 11/4/2007 của UBND tỉnh Nghệ An. 10 năm qua, phát huy vai trò đầu mối, Trung tâm bước đầu đã xác lập được những kết quả đáng ghi nhận:

Đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn giúp cấp uỷ và chính quyền các cấp, các ngành hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở các ngành và của tỉnh như: Nghiên cứu luận cứ khoa học cho việc phát triển đột phá kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015-2020 và tầm nhìn đến 2030 đã đưa ra những đánh giá khách quan, những tiềm năng, lợi thế thực sự của Nghệ An, từ đó đề xuất 10 sản phẩm chiến lược của Nghệ An đến năm 2020, xây dựng bộ tài liệu tham khảo để góp phần hoàn thiện văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII; Đã huy động nguồn lực người Nghệ ở trong và ngoài nước đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Nghệ An; Đã đề xuất bộ giải pháp góp phần xóa đói giảm nghèo ở miền Tây Nghệ An thông qua phát triển du lịch cộng đồng;...

Tập hợp được đội ngũ cán bộ nghiên cứu KHXH&NV, trong đó có những chuyên gia đầu ngành trong và ngoài tỉnh nghiên cứu những vấn đề về lĩnh vực: Lịch sử, văn hóa, xã hội học, kinh tế của tỉnh từ đó cung cấp các luận cứ khoa học (qua nghiên cứu), thực tiễn (qua điều tra) góp phần vào việc xây dựng những cơ chế, chính sách về nguồn nhân lực; bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa, tuyên truyền giáo dục truyền thống và tôn vinh giá trị văn hóa xứ nghệ. Thông qua hội thảo khoa học đã góp phần phản biện và đề xuất những định hướng cho quá trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh.

Các công trình, nhiệm vụ khoa học do Trung tâm chủ trì, triển khai bước đầu bám sát những vấn đề thực tiễn đặt ra như: lĩnh vực kinh tế, môi trường đầu tư, các ngành, vùng kinh tế, vấn đề dân tộc, xóa đói giảm nghèo... Đặc biệt là các công trình trong lĩnh vực văn hóa, lịch sử đã đi vào chiều sâu và toàn diện hơn, đặc biệt là 2 dự án Lịch sử Nghệ An từ nguyên thủy đến năm 2005Nghệ An toàn chí gồm 22 tập.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn bộc lộ những hạn chế như:

Nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn chỉ mới tập trung vào các lĩnh vực văn hóa, lịch sử mà chưa nghiên cứu toàn diện tri thức ở các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, giáo dục, quản lý, ngoại giao, tôn giáo, tín ngưỡng, tình hình các tộc người, dân tộc… các vấn đề để đảm bảo ổn định chính trị an ninh - quốc phòng trong điều kiện hiện đại, những vấn đề rất khó nắm bắt vì chúng đang trong quá trình biến động nhanh và phức tạp. Đây là những tiền đề, điều kiện không thể thiếu để xây dựng, thực hiện và hoàn thiện đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Do đó, chưa tổng kết được thực tiễn, chưa dự báo được xu hướng phát triển cũng như chưa cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối chính sách phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới hiện nay.

Thứ đến là nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn chưa góp tiếng nói quan trọng tham gia tư vấn, phản biện, giám định, chỉ ra các vướng mắc, hạn chế, thiếu sót, lý giải các nguyên nhân của tồn tại khách quan và chủ quan của các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, để từ đó đưa ra phương hướng, biện pháp đẩy nhanh tiến trình phát triển kinh tế - xã hội bền vững của tỉnh.

Ngoài ra, tính hiệu quả của các công trình nghiên cứu KHXH và NV chưa cao; chưa dám đi thẳng vào các vấn đề nổi cộm... Chức năng dự báo, tiên phong dẫn đường của KHXH và NV chưa thật nổi bật.

PV: Như ông đánh giá, bên cạnh những kết quả đạt được thì hoạt động nghiên cứu KHXH&NV trong những năm qua còn bộc lộ khá nhiều hạn chế, vậy theo ông nguyên nhân là gì?

Ông Trần Quốc Thành: Lý do của hạn chế đó bắt nguồn từ chủ quan cũng như khách quan:

Hiện nay số lượng, chất lượng, cơ cấu của đội ngũ làm công tác KHXH&NV còn chưa ngang tầm và chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của nghiên cứu khoa học. Trong khi đó, việc khâu nối với các chuyên gia, nhà khoa học, các viện, trường, đơn vị nghiên cứu còn chưa bài bản dẫn đến việc chưa khai thác thế mạnh của khoa học xã hội và nhân văn đối với sự phát triển của tỉnh.

Thêm vào đó là cơ chế quản lý, chính sách đãi ngộ KHXH&NV còn chưa tạo động lực hợp lý, chưa tương xứng. Rõ ràng để phát huy hơn nữa những đóng góp của KHXH&NV cũng như khắc phục những bất cập yếu kém hạn chế của nó rất cần sự quan tâm sâu sát hơn nữa của cả xã hội, mà trong đó chính sách Đảng và Nhà nước đóng vai trò then chốt.

Khoa học xã hội & nhân văn là ngành khoa học đặc thù, nên tính ứng dụng thực tiễn của nó có "độ trễ" khá lớn. Vì thế, đánh giá tác động của nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn vào thực tiễn không thể ngay tức thì mà phải hàng năm, có khi hàng chục năm.

Bên cạnh đó, công tác truyền thông sau nghiên cứu, phổ biến các chương trình sau nghiên cứu chưa được chú trọng, dẫn đến các kết quả nghiên cứu chưa đến được với người dân, chưa áp dụng hiệu quả vào thực tiễn.

PV: Để khắc phục những hạn chế đó, phát huy hơn nữa vai trò của khoa học xã hội và nhân văn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ đã có định hướng phát triển như thế nào đối với Trung tâm. Gắn với định hướng đó là giải pháp gì, thưa ông?

Ông Trần Quốc Thành: Lâu nay, việc xây dựng Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn phát triển theo mô hình như thế nào là một bài toán khó không chỉ đối với lãnh đạo Sở KH&CN mà còn đối với cả lãnh đạo tỉnh Nghệ An. Làm sao để Trung tâm vừa trở thành đầu mối hoạt động nghiên cứu KHXH&NV khâu nối với các viện, trường, đơn vị, cơ quan nghiên cứu, với các nhà khoa học trong và ngoài nước; vừa trở thành Viện nghiên cứu của tỉnh với đội ngũ cán bộ đủ năng lực giúp tỉnh trong hoạch định chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; tạo môi trường nhân văn cho kinh tế - xã hội phát triển bền vững.

Chúng ta có thể học tập mô hình Viện Kinh tế Xã hội của tỉnh Bình Định. Đây là một mô hình khá hay và hoạt động hiệu quả, nó là đầu mối lôi kéo các nhà khoa học trong nước, nước ngoài, kể cả những nhà khoa học đã đạt giải Nobel về tổ chức hội thảo, về hoạt động; có chức năng nghiên cứu, tham mưu, tư vấn cho Tỉnh uỷ, UBND tỉnh về định hướng, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh; nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể xây dựng Trung tâm theo tinh thần Nghị quyết 20 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng "Phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Bảo đảm cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước" trở thành Viện Nghiên cứu Kinh tế Xã hội của tỉnh, của khu vực.

Song song với đó sẽ quy hoạch Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An trở thành tờ tạp chí, cơ quan ngôn luận của Viện. 

Trước tiên, muốn làm được Trung tâm phải tự phải khẳng định mình, khẳng định được vai trò, vị trí trung tâm của mình trong hoạt động khoa học bằng những kết quả cụ thể. Để thực hiện được điều đó, Trung tâm phải ưu tiên thực hiện các việc sau:

Thứ nhất, tiếp tục phát huy vai trò đầu mối của mình, tăng cường khâu nối với các tỉnh, Viện nghiên cứu trong khu vực, cũng như trong cả nước; tăng cường phối hợp với các đơn vị, trường học, cơ quan nghiên cứu trên địa bàn như: Trường Đại học Vinh, Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Bắc Trung bộ, Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An, Hội Khoa học Lịch sử,... để từ đó "vươn tầm tay" của mình ra xa hơn, rộng hơn và sâu hơn. Tuy nhiên, để thực hiện được điều đó, Trung tâm phải đặt những vấn đề nghiên cứu của Nghệ An nằm trong bối cảnh của vùng, trong bối cảnh của cả nước để có được sự liên kết và phối hợp chặt chẽ.

Thứ hai, tăng cường nguồn lực, trong thời gian tới, Trung tâm cần tăng cường liên kết hợp tác đào tạo, truyền thông sau nghiên cứu để góp phần nâng cao dân khí, dân trí tạo ra nền tảng văn hóa tinh thần của xã hội, cung cấp bồi dưỡng các tố chất trí tuệ, tinh thần, tạo ra nguồn lực con người lao động mới đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, chú trọng phát triển số lượng cũng như chất lượng đội ngũ nghiên cứu KHXH&NV, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động KHXH&NV tỉnh nhà.

Thứ ba, ngoài phát huy những kết quả đạt được trong nghiên cứu lĩnh vực văn hóa, lịch sử,... Chú trọng nghiên cứu trên lĩnh vực kinh tế như: Khai thác các sản phẩm thế mạnh về cây con của tỉnh, chính sách thu hút đầu tư, phát triển kinh tế nông nghiệp công nghệ cao ở miền Tây Nghệ An,...; Về xã hội: Đánh giá, dự báo những tác động của sự phát triển kinh tế thị trường, hội nhập sâu rộng và sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ có những tác động gì đến đời sống xã hội;... Làm sao Trung tâm trở thành nòng cốt, đầu mối trong việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh trong thời gian tới.

Thứ tư, chú trọng hơn nữa công tác truyền thông sau nghiên cứu, để khắc phục dần "độ trễ" của KHXH&NV trong thực tiễn, đưa KHXH&NV đến gần với người dân và cuộc sống hơn. Để tăng cường công tác truyền thông cần xây dựng Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn trở thành tạp chí khoa học, đồng thời đẩy mạnh, chú trọng hơn nữa phát triển Website khoa học xã hội và nhân văn.

Thứ năm, theo định hướng phát triển, Trung tâm sẽ trở thành viện nghiên cứu, như vậy sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển việc nghiên cứu được cơ bản, chuyên sâu ở hầu hết các lĩnh vực, từ đó có thể đưa ra dự báo về các xu hướng vận động của kinh tế - xã hội tỉnh đặt trong bối cảnh của khu vực, của cả nước. Hơn nữa, nghiên cứu KHXH&NV cần kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để góp phần giúp cho quá trình phát triển tránh được nguy cơ đi chệch hướng của Đảng và Nhà nước. 

  Trân trọng cảm ơn ông! 

 

HỒ THỦY (Thực hiện)

 

TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN - LÀM GÌ ĐỂ CHUYỂN ĐỔI THÀNH CÔNG

Trương Công Anh

Kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn tỉnh ta, cũng là lúc kết thúc sự tồn tại của Trung tâm với tư cách là một "đơn vị sự nghiệp có thu", mở đầu cho sự tồn tại của Trung tâm với tư cách là đơn vị sự nghiệp tự chủ. Do vậy ngay tức thì đặt ra vấn đề: Liệu Trung tâm KHXH&NV Nghệ An có tồn tại hay không, và muốn tồn tại thì phải như thế nào?

Sau đây xin được có đôi điều trao đổi:

1. Là đơn vị sự nghiệp có thu hay đơn vị sự nghiệp tự chủ thì tỉnh vẫn cần có Trung tâm KHXH&NV vì hai lý do sau đây:

- Một địa phương hay một quốc gia muốn phát triển đều cần dựa vào những thành tựu của khoa học kĩ thuật và khoa học xã hội. Chỉ đơn độc khoa học kĩ thuật hay khoa học xã hội là không thể. Cả về lí luận lẫn thực tiễn đều minh chứng điều này.

- Muốn bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa tinh thần (hiểu theo nghĩa rộng) của một địa phương, một dân tộc không thể không có sự đóng góp mang tính quyết định của khoa học xã hội và nhân văn (chung và các chuyên ngành).

2. Trung tâm KHXH&NV là đơn vị sự nghiệp khoa học. Do đó khi chuyển từ đơn vị sự nghiệp có thu sang đơn vị sự nghiệp tự chủ đương nhiên phải "thị trường hóa" toàn bộ các khâu từ nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng,.. trong hoạt động của Trung tâm; phải tạo ra được thị trường khoa học trong mối quan hệ bán - mua, cung - cầu, trong việc xác định giá trị thực của hàng hóa khoa học (chung và mỗi hàng hóa cụ thể). Điều này đòi hỏi cả phía nhà nước (ở đây là chính quyền từ tỉnh đến cơ sở) lẫn bản thân Trung tâm phải chuyển đổi căn bản tư duy làm khoa học theo cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường.

3. Từ quan niệm trên, việc đầu tiên phải làm là xác định lại chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm với tư cách là đơn vị sản xuất, dịch vụ các sản phẩm hàng hóa khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Trên cơ sở đó thiết kế lại cơ cấu tổ chức, bộ máy, biên chế cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ đã xác định. Nói khác đi quá trình chuyển đổi từ đơn vị sự nghiệp có thu thành đơn vị sự nghiệp tự chủ cũng đồng thời là quá trình tổ chức lại Trung tâm KHXH&NV. Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nội vụ và Trung tâm có trách nhiệm làm việc này. Một mình Trung tâm không làm được việc này nhưng Trung tâm phải chủ động với tâm thế người làm chủ. Trung tâm không thể ngồi chờ, ỷ lại, dựa dẫm vào trên.

4. Thăm dò, khảo sát từng bước tạo lập thị trường cho các sản phẩm hàng hóa khoa học xã hội và nhân văn. Nói một cách đơn giản là phải tìm "cầu", tạo ra "cầu" cho các sản phẩm hàng hóa khoa học để đáp ứng. Trung tâm sẽ đưa ra thị trường cái mà mình có. Tìm được, tìm đúng, tìm đủ "cầu" để tính "cung", tức là để biết mình phải sản xuất, phải cung ứng, phải dịch vụ những sản phẩm hàng hóa khoa học gì, ở đâu, cho ai.

Thị trường hàng hóa khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn có nhiều điểm khác với hàng hóa thuộc lĩnh vực khoa học kĩ thuật. Thị trường này nằm nhiều ở các tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị xã hội chứ không nằm nhiều ở các doanh nghiệp. Cần nắm rất vững đặc điểm này để có hướng đi đúng khi tạo lập thị trường cho khoa học xã hội và nhân văn tỉnh nhà. Xin lưu ý rằng thị trường không chỉ trong tỉnh mà có thể ở các tỉnh lân cận. Và, đương nhiên Trung tâm cần có tổ chức và các hoạt động "tiếp thị" cần thiết để từng bước mở rộng thị trường của mình.

5. Với tư cách là đơn vị sự nghiệp khoa học tự chủ, Trung tâm cần đề xuất, kiến nghị để xác định đúng giá trị thực mà hàng hóa khoa học với nghĩa là sản phẩm của chất xám để tổ chức và người làm khoa học có thể sống được từ sản phẩm và dịch vụ sản phẩm của mình. Lưu ý là cho đến nay giá trị của các sản phẩm khoa học xã hội và nhân văn còn rất thấp so với giá trị thực của nó. Tổ chức và người làm khoa học chưa đủ sống với sản phẩm của mình.

Cùng với đó, phải thay đổi căn bản các quy định về thủ tục thanh quyết toán tài chính đối với các đề tài khoa học nói chung và khoa học xã hội và nhân văn nói riêng.

6. Từ một đơn vị sự nghiệp có thu chuyển thành một đơn vị sự nghiệp tự chủ là xu hướng tất yếu không thể khác. Song, với một đơn vị sự nghiệp khoa học, lại là KHXH&NV thì đó là việc rất mới mẻ. Do đó, quá trình chuyển đổi không thể ngay lập tức mà cần có bước đi phù hợp. Theo suy nghĩ của tôi, ít ra cũng cần 5-7 năm để Trung tâm có thể tự chủ 100%. Nghĩa là, theo thời gian, phần ngân sách nhà nước cấp sẽ giảm dần, phần ngân sách tự chủ tăng dần tương ứng.

Kết luận

- Trung tâm KHXH&NV Nghệ An phải tồn tại do yêu cầu khách quan. Để Nghệ An đổi mới, hội nhập và đi lên giàu mạnh, phải có và rất cần có sự đóng góp của khoa học nói chung và của KHXH&NV nói riêng.

- Để tồn tại và phát triển, bản thân Trung tâm phải tự đổi mới một cách căn bản và toàn diện. Chính quyền cấp tỉnh phải tạo các điều kiện cần và đủ cho cả quá trình chuyển đổi của Trung tâ

KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN NGHỆ AN - MƯỜI NĂM PHÁT TRIỂN VÀ MẤY GIỚI HẠN

Lê Văn Tùng

 

1. Khái niệm phát triển cũng như nhiều khái niệm ta thường sử dụng như truyền thống, chuyển hoá… vẫn tồn tại nhiều xu hướng nghĩa: bên cạnh các nghĩa trung gian, trung tính lại có hai nghĩa có xu hướng đối nghịch: có truyền thống tiến bộ mà vẫn có truyền thống lạc hậu, có sự chuyển hoá tích cực đi lên lại có sự chuyển hoá tiêu cực quay về bảo thủ. Khái niệm phát triển cũng vậy: có sự phát triển tiến bộ đi lên và cũng có sự phát triển đi xuống, suy đốn và tiêu vong. Mọi sự đánh giá theo các khái niệm nói trên nếu chỉ dùng chung chung, thiếu góc nhìn xác định, lập tức sẽ gây cách hiểu mơ hồ không khoa học, có thể dẫn tới những hệ luỵ, lẽ ra dễ dàng tránh khỏi nếu dùng một khái niệm khác đích đáng hơn.

Ở đây, chúng tôi sử dụng khái niệm phát triển từ góc nhìn là những biến chuyển theo hướng tích cực hợp quy luật tiến bộ của lịch sử trong hoạt động khoa học nói chung và KHXH&NV nói riêng. Mười năm qua, sự phát triển của KHXH&NV Nghệ An theo hướng đó đã góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới, giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội (KT - XH) và con người của cộng đồng nhiều tộc người ở xứ Nghệ.

2. Dấu ấn đầu tiên của sự phát triển KHXH&NV Nghệ An theo chúng tôi là sự kiện thành lập Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn năm 2007. Đó là một sự phát triển đột phá trong quan điểm, cách nhìn của giới lãnh đạo, quản lý cũng là của những người trực tiếp hoạt động khoa học và nhu cầu của cả cộng đồng vốn đã có những thao thức từ trước đó. Dấu ấn phát triển đó xuất hiện sau hai mươi năm đổi mới của đất nước, nơi một xứ sở mà theo các phán đoán Địa - Văn hoá là xứ sở của những tính cách người có những ưu điểm nổi trội đồng hành với những khuyết, nhược điểm độc đáo từ quán tính mạnh của các ưu điểm. Việc thành lập Trung tâm KHXH&NV Nghệ An cũng đồng thời là một trong những sự phát triển ghi nhận ý thức và nhận thức của cả cộng đồng Nghệ về chiều sâu của đổi mới ở đây. Mặt khác, kết quả hoạt động của Trung tâm KHXH&NV từ đó cũng góp phần phát triển và làm sáng những mặt ưu điểm, làm giảm sức cản cũng như "từ trường" của các nhược điểm trong tính cách Nghệ tạo điều kiện mở con đường thông thoáng giao tiếp cả nước và quốc tế, giúp các nhà doanh nghiệp bớt đi những mặc cảm, ám ảnh để tự tin hơn khi bước trên con đường về Nghệ An bàn chuyện hợp tác đầu tư sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội bền vững lâu dài.

Xét từ sự phát triển của bản thân khoa học, phương thức "cộng sinh" giữa các ngành khoa học vốn có từ lâu kể cả thế giới và Á Đông Việt Nam. Do giới hạn của quan niệm, nhận thức, của tư duy khoa học cũng có và do giới hạn của chế độ KT- XH thời cổ - trung đại cũng có, cho nên ở phương Tây và cổ Hy Lạp triết học và mỹ học và ngay cả với toán học cùng chung một "sàn diễn". Ở Việt Nam và Á Đông hàng nghìn năm tồn tại quan niệm Văn - Sử - Triết - Đạo đức - Luân lý học - Địa dư học… bất phân. Khi lịch sử KT-XH và tư duy phát triển, yêu cầu tất yếu là phải phân ngành khoa học càng hẹp càng hiệu quả. Mỗi ngành khoa học dần dần ý thức được đối tượng nghiên cứu và chức năng đặc trưng loại hình của mình, xu hướng phát triển chuyên biệt hoá loại hình nghiên cứu đã từng được Marx khẳng định từ giữa thế kỷ XIX: "Sẽ hoàn toàn không đúng nếu lấy một loại hình nào đó làm thước đo, tiêu chuẩn, môi trường của các loại hình khác" không thể bắt buộc loại hình này "phải từ bỏ chính mình" để chỉ được phép làm "chư hầu" cho một loại hình nào đó được(1).

Cố nhiên, chuyên biệt hoá loại hình nghiên cứu không phải là sự phát triển cực đoan của khoa học để các ngành hoàn toàn đối lập với nhau. Chuyên biệt hoá nhưng giữa các ngành - chẳng hạn giữa khoa học công nghệ với KHXH&NV, hay giữa các ngành hẹp hơn của KHXH&NV vẫn thể hiện rõ một tính cộng đồng nhất định về mặt văn hoá - nghĩa là tất cả đều xuất phát từ yêu cầu của con người, của cộng đồng người và mục đích cuối cùng cũng vì con người. Sự phát triển của khoa học và KHXH&NV Nghệ An trong một thập kỷ vừa qua rồi thể hiện rõ ý thức vừa chuyên biệt hoá vừa gắn bó mật thiết với nhau trong cộng đồng văn hoá Nghệ.

Thành tựu phát triển cụ thể cần kể đến đầu tiên là sự ra đời của Chuyên san KHXH&NV Nghệ An, mười năm qua ghi nhận cả sự mở rộng về quy mô và chiều sâu chất lượng. Còn nhớ những năm 70 thế kỷ trước cho đến thời điểm tách lại tỉnh, ấn phẩm khoa học ở xứ Nghệ chỉ có một tờ nguyệt san Thông tin Khoa học kỹ thuật Nghệ Tĩnh. Vậy mà 5 năm lại đây (kể từ 2013), Chuyên san KHXH&NV Nghệ An cũng đã là một tờ nguyệt san được xuất bản đều kỳ cạnh các tạp chí khoa học và văn hoá khác. Chuyên san KHXH&NV Nghệ An trong định hướng và trên thực tế đã lấy các vấn đề KT-XH và con người Nghệ An làm trung tâm, làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu. Đó là định hướng đúng và sự thực hiện cụ thể đã đáp đúng yêu cầu đó. Mặt khác, hướng khai thác vốn xưa, tìm về di sản xứ Nghệ cũng là một thành tựu trong việc giải phóng tiềm năng văn hoá của xứ sở. Sự phát triển tiến bộ của Chuyên san còn là sự thức dậy tiềm năng sáng tạo khoa học của nhiều thế hệ trí thức và công chúng trong tỉnh kết nối có hiệu quả với nhiều nhà khoa học người ngoài tỉnh và cả người Nghệ xa xứ. Quả thật Trung tâm và Chuyên san mười năm qua đã tạo được một tập hợp khoa học kỳ thú và ích dụng nhiều mặt cho tỉnh nhà.

Từ năm 2012, Trung tâm đã tham mưu với lãnh đạo tỉnh ký chương trình hợp tác nghiên cứu giữa UBND tỉnh và Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam (bấy giờ là Viện KHXH). Từ đó, Trung tâm đã kết nối với 10 viện nghiên cứu KHXH cấp Trung ương để có trên 30 chuyên gia từ các viện đó hợp tác nghiên cứu các vấn đề KHXH&NV Nghệ An.

Với việc chủ trì nghiên cứu và công bố 17 đề tài khoa học cấp Tỉnh, tổ chức 12 hội thảo khoa học và nhiều nhiệm vụ khoa học khác, cùng với việc xuất bản nhiều công trình nghiên cứu trong đó có Nghệ An toàn chíLịch sử Nghệ An, Trung tâm KHXH&NV đã góp phần thực sự đưa hình ảnh xứ Nghệ đến với công chúng cả nước và cả nước ngoài một cách cụ thể. Đó là những kết quả sinh động, mời gọi người khắp chốn đến cùng xứ Nghệ không chỉ để du lịch thoả tính hiếu kỳ mà còn để hợp tác làm ăn và mở rộng chân trời văn hoá.

Trong bài báo ngắn không thể nêu hết ý nghĩa của sự phát triển mười năm KHXH&NV Nghệ An. Ở đây, muốn nhấn mạnh một ý chung là: trong thế giới hội nhập và cạnh tranh của kinh tế thị trường, Trung tâm KHXH&NV Nghệ An mười năm qua đã đứng vững được trước bao nhiêu thách thức và rào cản. Thành tựu phát triển của nó cho phép các nhà khoa học, cộng tác viên có thể lạc quan tin tưởng vào triển vọng tốt đẹp hơn trong thời kỳ tới, nếu nó có đủ sức và được tạo điều kiện để vượt qua những giới hạn vốn đã tồn tại như những lực cản trong mười năm qua và cả thời kỳ sắp tới.

3. Những giới hạn tạo ra lực cản phát triển không chỉ ở hoạt động khoa học mà là phổ biến ở mọi ngành KT-XH trong thời kỳ đầu của đổi mới. Ở đây chỉ là nhận thức của một cá nhân có tham gia hoạt động khoa học về những giới hạn đặc thù đối với hoạt động khoa học, chưa kể rào cản chung như mọi ngành. Những giới hạn này có thể là từ quan niệm của một số nhân sự chức năng dẫn đến những tình huống không thuận lợi cho hoạt động KHXH&NV và cũng có thể là những hạn chế chủ quan của những người trực tiếp hoạt động khoa học.

Như chúng tôi đã có lần nêu vấn đề trong một số Chuyên san cách đây không lâu: rằng quan điểm, chủ trương chung đối với KHXH&NV là đúng đắn theo đường hướng của sự nghiệp đổi mới. Nhưng trong khi thực hiện, đây đó vẫn có những biểu hiện lệch pha, dị ứng với sự đúng đắn đó, và đó chỉ là biểu hiện của sự hạn chế về mặt trí tuệ và nhận thức chứ chưa đến mức một quan điểm ngược chiều. Nếu nhận thức ra thì mọi nhân sự cơ hữu đều có khả năng điều chỉnh theo chiều hướng đúng đắn.

3.1. Quan niệm máy móc về sự phát triển của khoa học phải tương ứng với điều kiện KT-XH. Do tính đặc thù của hoạt động khoa học - nhất là KHXH&NV - không nên hiểu tương ứng như là sự bằng nhau, là KT-XH thế nào thì khoa học cũng chỉ nên thế ấy, là khoa học không vượt quá điều kiện của KT-XH, thậm chí phải ráng chịu một điều kiện hoạt động thấp hơn các ngành khác vì nó (đặc biệt là KHXH&NV) không thấy đem lại một khoản lợi nhuận nào cụ thể để bù đắp vào vốn đầu tư.

Xin cùng hiểu rằng: nghiên cứu khoa học là đi tìm chân lý. Chân lý khoa học là sản phẩm của ngành hoạt động có đặc trưng loại hình riêng biệt không cùng tính chất với sản phẩm của các ngành kinh tế khác. Hành động nghiên cứu khoa học là một hành động văn hoá, nghĩa là nó mang lại trước hết một giá trị chứ chưa phải một giá tiền. Một giá tiền nó mang lại là có nhưng không phải ngay lập tức mà là ở thời gian phía sau khi chân lý khoa học làm lay chuyển, thay đổi tập quán cũ của xã hội, tìm đến những đổi thay tốt đẹp hơn. Vì vậy, chân lý khoa học không phải là "sự hạn chế chân lý vào cái gì thực tế có ích, có lợi" cụ thể, trực tiếp trước mắt. Quan niệm như vậy thực chất là sự phủ nhận của chủ nghĩa thực dụng vị lợi đối với chân lý khách quan của khoa học, biến khoa học thành "công cụ phục vụ cho sự chuyên quyền" của những tín đồ theo lợi ích nhóm, không quan tâm đến thực tiễn khách quan trong nhu cầu sự sống của cả cộng đồng.

Do đó, nên hiểu tương ứng như là sự đáp ứng của khoa học - khoa học phải sáng tạo, phải dẫn đạo cho sự giải phóng các điều kiện thấp kém, lạc hậu của sản xuất, mang lại các điều kiện tích cực hơn cho sự phát triển đi lên của KT-XH. Xét ở góc độ sự tiến bộ, khoa học phải được ưu tiên mọi điều kiện để đi trước một bước, chứ không phải cùng bước hoặc bước sau nền KT-XH. Còn nhớ một thời sau Cách mạng tháng Mười Nga, Lênin chủ trương: "Điện phải đi trước một bước". Nhưng rõ ràng muốn có điện thì khoa học về điện phải có điều kiện để đi trước hai ba bước.

Từ quan điểm đó đến việc áp dụng cơ chế tự chủ kinh tế đối với các đơn vị khoa học có lẽ phải linh hoạt hơn, nhất là với một đơn vị mới có mười năm hoạt động trong áp lực kinh tế thị trường như Trung tâm KHXH&NV Nghệ An. Nhiều trường đại học thực hiện cơ chế tự chủ kinh tế, dù có khó khăn nhưng vẫn có nhiều điều kiện thuận lợi vì họ có "khách hàng" thường xuyên và bắt buộc, họ có học phí do "khách hàng" sinh viên đóng tăng dần theo giá thị trường hàng năm. Vì vậy, áp dụng cơ chế tự chủ kinh tế đồng loạt và ngang hàng trong trường hợp này quả là thiếu quan điểm lịch sử.

3.2. Có một cách nhìn Nghệ An - xứ Nghệ như một "ốc đảo" văn hoá.

Ở trên, khi nói về thành tựu phát triển, Trung tâm và Chuyên san KHXH&NV đã nhắm vào các vấn đề của Nghệ An làm đối tượng chủ yếu, đó là định hướng và sự thực hiện định hướng đúng đắn. Nhưng khoa học, kinh tế, văn hoá của thời đại hội nhập không phải là vấn đề đơn độc, khép kín trong "bốn luỹ tre làng". Một vấn đề của địa phương thời này có thể ảnh hưởng tới địa phương khác. Những vấn đề chung của thời đại, của cả nước đang hiện thân và tác động mạnh mẽ vào từng địa phương. Đó là kiến văn biện chứng của khoa học và văn hoá ngày nay. Mọi sự quá thiên vị vào địa phương mình sẽ biến xứ mình thành một ốc đảo. Có thể tìm thấy rất ít bài nghiên cứu những vấn đề chung của đất nước, của thời đại trong các số Chuyên san. Cách nhìn "ốc đảo" chắc chắn sẽ là giới hạn chắn nẻo các giá trị của thời đại, của cả nước về với xứ Nghệ không chỉ vừa qua mà cả thời kỳ đang tới. Cần mở rộng cửa để đón nhận các giá trị mới làm giàu có thêm cho mình và dễ dàng bắt tay với bè bạn để hội nhập và đi lên.

3.3. Ưu tiên hàng đầu cho những vấn đề thực tiễn nhưng xem nhẹ lý luận cơ bản lại cũng là một giới hạn làm giảm sút hoặc triệt tiêu giá trị của thực tiễn. Thực tiễn là xuất phát điểm và là mục tiêu của khoa học. Nhưng thực tiễn phải được soi sáng dưới ánh sáng lý luận để nhận rõ tính quy luật của nó nhằm giúp con người có phương thức ứng xử hiệu quả nhất với những thực tiễn cụ thể. Hoạt động của Trung tâm KHXH&NV luôn định hướng vào thực tiễn là đúng đắn. Nhưng trong nhiều bài vở cụ thể, có triệu chứng thiếu cập nhật những phát hiện mới mẻ có giá trị của khoa học cơ bản, thiếu căn cứ lý luận xác đáng, cho nên thực tiễn được đề cập một cách hời hợt, cá biệt. Vì vậy, không thể dẫn xuất được hiệu quả KT-XH bền vững, lâu dài - vốn là yêu cầu hàng đầu của bất cứ dự án đầu tư sản xuất nào hiện nay. Thoát ly lý luận khoa học cũng không đủ khả năng khái quát thực tiễn thành các yếu tố lý luận mới. Từ đó, hiện tượng thực tiễn được công bố chỉ mới thuộc phạm vi tư liệu, trong giới hạn tư liệu, không hoặc chưa thể là các giải pháp khoa học thực sự. Tóm lại, cần phát hiện và nhìn thực tiễn bằng cái nhìn của lý luận khoa học mới mong tìm được con đường chuyển hoá từ lượng thành chất, từ hành động mô tả đến giải pháp khoa học cho thực tiễn.

3.4. Cách nay mấy năm chúng tôi thấy mừng cho xứ ta vì nghe rằng Trung tâm sẽ được phát triển trở thành một Viện nghiên cứu KHXH&NV trực thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam về chuyên môn. Với bề dày truyền thống, với tầm cỡ những vấn đề KHXH&NV hiện nay ở xứ Nghệ và Bắc Trung bộ, đề án đó là đề án khả thi, sẽ mang lại phạm vi hoạt động rộng lớn hơn, chất lượng hoạt động khoa học cao hơn và hiển nhiên hiệu quả khoa học đối với sự phát triển cũng cao hơn. Nhưng vì những giới hạn nào đó mà dự án vẫn chỉ là dự án cho đến nay. Mỗi người nghĩ tới một nguyên nhân, nhưng hẳn tất cả đều nghĩ do có những gấp khúc nào đó cho nên cái chi lưu KHXH & NV Nghệ An vẫn bị nghẽn dòng chưa nhập được vào đại giang khoa học của cả nước.

Cũng như vậy, nỗi chờ mong Chuyên san KHXH&NV trở thành một tạp chí khoa học như kế hoạch sáng suốt và có căn cứ khoa học từ ngày mở đầu(2) mà đến nay gần mười năm rồi Chuyên san vẫn chưa được cấp phép vượt phận. Lại cũng có những giới hạn ngoài khoa học nào đó.

Chắc còn nhiều giới hạn đã và đang có trước vận mệnh và sự phát triển của một đơn vị khoa học. Mấy điều thao thức ở trên nhiều khi có thể là phán đoán của cá nhân. Chỉ xin bạn đọc đồng cảm với tác giả nỗi khát vọng sao cho KHXH&NV trên xứ sở của chúng ta có được điều kiện hoạt động tương thích với tính chất đặc trưng loại hình của nó, để khoa học có thể góp phần hiệu quả hơn phát triển KT-XH và văn hoá ở Nghệ An nhằm hội nhập hài hoà với cả nước và thế giới.

Chú thích

(1). C.Marx - trong sách Về văn hoá và nghệ thuật - Nxb Sự thật - H.1977, tr.63.

(2). Lời nói đầu - Chuyên san KHXH&NV Nghệ An, số 1/2008, dòng 11 dưới lên.

TRUNG TÂM KHXH&NV NGHỆ AN - DẤU ẤN QUA 10 NĂM VÀ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN

 

Nhân dịp 10 năm thành lập Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An, phóng viên có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quốc Hồng - Giám đốc Trung tâm, về những kết quả đạt được, những tồn tại và mô hình sắp tới của Trung tâm. Sau đây là những chia sẻ của ông Nguyễn Quốc Hồng với bạn đọc Chuyên san.

*  *  *

 

P.V: Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An thuộc Sở Khoa học và Công nghệ đã bước sang tuổi thứ 10. Mười năm đối với một cơ sở nghiên cứu KHXH&NV hẳn là chưa dài, song với chức năng nghiên cứu những vấn đề về khoa học xã hội và nhân văn ở Nghệ An nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc lập quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; sưu tầm, nghiên cứu những di sản văn hóa, lịch sử của tỉnh, bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hóa xứ Nghệ. Ông có thể khái quát những kết quả đã làm được của Trung tâm trong 10 năm qua?

Ông Nguyễn Quốc Hồng: Trong bài cảm tưởng về chặng đường xây dựng và phát triển của GS.NGND Nguyễn Đình Chú viết về Trung tâm, câu mở đầu "Đúng là bóng câu qua cửa sổ. Mới đó đã 10 năm". Mười năm là quãng thời gian ngắn đối với một đơn vị nghiên cứu khoa học, như một đời người, chưa đến tuổi trưởng thành. Do vậy những việc làm được quả thực chưa phải là nhiều, những tồn tại không phải là ít và nhiều những vấn đề cần phải vượt qua để tiếp tục đi lên.

Kỷ niệm 10 năm thành lập là sự kiện để mọi người đánh giá lại quá trình hoạt động của Trung tâm và đặc biệt đây là dịp để đội ngũ cán bộ Trung tâm tự đánh giá mình, khẳng định mình và tiếp tục bước đi trong thời gian tới.

Những nội dung trên đã được trình bày khá đầy đủ trong cuốn Kỷ yếu Trung tâm KHXH&NV - 10 năm xây dựng và phát triển 2007-2017, trong khuôn khổ bài phỏng vấn này, tôi xin khái quát một số nội dung chính sau đây:

- Về nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn.

Với việc tổ chức nghiên cứu, công bố 17 đề tài khoa học cấp tỉnh trên hầu hết các lĩnh vực KHXH&NV: Kinh tế, văn hóa, giáo dục, lịch sử…. Tham mưu UBND tỉnh tổ chức 12 cuộc hội thảo khoa học với các nội dung, các vấn đề mà thực tiễn cuộc sống cũng như yêu cầu lãnh đạo tỉnh đặt ra cần phải lý giải trong công tác xây dựng chính sách và công tác quản lý, làm sáng tỏ thêm những vấn đề thực tiễn đặt ra trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tham mưu đề xuất, xây dựng 4 đề án, chính sách về thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, xã hội hóa các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KHCN, hỗ trợ đầu tư các dự án công nghệ cao,… được UBND tỉnh ban hành. Tổ chức thực hiện 6 nhiệm vụ điều tra xã hội về các lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính, nguồn nhân lực; doanh nghiệp, v.v.. Các đề tài, nhiệm vụ do cán bộ Trung tâm thực hiện, chất lượng ngày càng tốt hơn. Trong 17 đề tài đã được nghiệm thu chỉ có 1 đề tài đạt trung bình, còn lại là khá và xuất sắc.

- Kết quả về sưu tầm, nghiên cứu các công trình lịch sử, văn hóa của địa phương, các ngành là một trong các dấu ấn của Trung tâm trong 10 năm qua. Với 52 công trình sưu tầm, biên khảo, xuất bản trên các lĩnh vực: Địa chí, lịch sử, văn hóa,… đã được công bố là kết quả đáng trân trọng và góp phần vào việc văn bản hóa, bảo tồn và phát huy kho tàng văn hóa xứ Nghệ. Trong các công trình ấy phải kể đến bộ: Nghệ An toàn chí (22 tập, đã xuất bản 11 tập); Lịch sử Nghệ An từ nguyên thủy đến năm 2005Lịch sử quân sự Nghệ An từ 1930 đến 2010 có giá trị lớn về mặt tư liệu và học thuật.

- Đã xây dựng được mối quan hệ với các Viện nghiên cứu, một số trường đại học trong công tác nghiên cứu khoa học. Trung tâm đã thực sự trở thành nơi hội tụ, kết nối giữa các nhà quản lý với các nhà khoa học; giữa các nhà khoa học trong tỉnh với các nhà khoa học trong nước và quốc tế; giữa những người con quê hương đang sống, làm việc trên chính mảnh đất của mình với những người con của quê hương đang sống, làm việc trên mọi miền đất nước.

Cùng với công việc hội tụ và kết nối, đội ngũ cán bộ của Trung tâm cũng có bước trưởng thành. Trung tâm hiện nay có 18 cán bộ, trong đó có 14 biên chế, 4 hợp đồng, đang tiếp tục phương châm vừa làm vừa học, đảm nhận các nhiệm vụ do tỉnh giao.

- Trung tâm có một cơ ngơi làm việc khang trang, với một tòa nhà 5 tầng diện tích 1.800m2 và các công trình phụ trợ. Tiện nghi làm việc được trang bị đầy đủ, các phòng làm việc đều có điều hòa, cá nhân đều được trang bị máy tính và các dụng cụ cần thiết. Trung tâm có 1 thư viện điện tử và 1 thư viện sách để cán bộ trong và ngoài Trung tâm tra cứu; đến thời điểm này điều kiện làm việc của cán bộ Trung tâm là rất tốt.

P.V: Thưa ông, những kết quả trong 10 năm hoạt động mà ông vừa khát quát là rất ấn tượng. Dẫu đánh giá dưới góc độ nào thì cũng phải ghi nhận những thành tích của Trung tâm. Từ chỗ mới thành lập, điều kiện làm việc chưa hề có gì, công việc rất mới mẻ, cán bộ hầu hết mới ra trường, sau 10 năm đã đạt được những kết quả như vậy là đáng trân trọng. Chúng tôi muốn ông lý giải những nguyên nhân nào mà Trung tâm đạt được những kết quả trên?

Ông Nguyễn Quốc Hồng: Nguyên nhân đầu tiên là cán bộ Trung tâm ngay từ đầu thực hiện linh hoạt, hiệu quả phương châm vừa làm vừa học, "tầm sư học đạo". Kiên trì liên kết, hợp tác, tìm mọi sự giúp đỡ từ các viện nghiên cứu, các cơ quan, các trường đại học. Tranh thủ sự hợp tác, cộng tác của các nhà khoa học có tên tuổi trong lĩnh vực KHXH&NV. Cán bộ Trung tâm chịu khó trong công việc, đoàn kết cộng sự.

Thứ hai là sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư cơ sở vật chất của lãnh đạo tỉnh; đặc biệt là sự chỉ đạo, hỗ trợ trực tiếp của lãnh đạo Sở KH&CN tạo mọi điều kiện có thể để Trung tâm phát triển.

Thứ ba là sự cộng tác, giúp đỡ chân tình của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; Viện Kinh tế Việt Nam; Viện Sử học;… cùng với sự phối hợp, chia sẻ kinh nghiệm của các nhà khoa học là người Nghệ công tác tại các viện nghiên cứu ở Hà Nội, ở thành phố Hồ Chí Minh, Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An,…

Tất cả sự giúp đỡ, hợp tác, chia sẻ đã làm cho đội ngũ cán bộ Trung tâm tự tin trong thực hiện nhiệm vụ, học hỏi nhiều phương pháp nghiên cứu, tiếp cận tư liệu,… tạo nên "vốn" ban đầu cho nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Nhân dịp kỷ niệm này, thay mặt lãnh đạo Trung tâm, tôi xin gửi lời tri ân đến tất cả các vị lãnh đạo, nhà khoa học,... đã quan tâm và giúp đỡ Trung tâm trong thời gian qua.

P.V: Vừa rồi ông có trao đổi 10 năm những việc làm được của Trung tâm chưa phải là nhiều và những tồn tại cũng không phải là ít, ông có thể cho bạn đọc biết thêm những tồn tại của Trung tâm trong 10 năm xây dựng và phát triển?

Ông Nguyễn Quốc Hồng: Như tôi đã trình bày ở phần nguyên nhân của sự thành công, chính trong những nguyên nhân đó đã thấy được những tồn tại rồi.

- Thứ nhất là nguồn nhân lực: Với 18 cán bộ, trong đó chưa ai có bằng tiến sĩ, cao nhất chỉ mới là thạc sĩ, hầu hết là cán bộ trẻ, trẻ cả tuổi đời và tuổi nghề; thiếu kiến thức thực tế, phương pháp tiếp cận; Không ít cán bộ chưa tâm huyết, chưa chuyên sâu và thiếu chuyên nghiệp… Nếu đánh giá thực chất một cách sòng phẳng theo bất cứ tiêu chí nào đều khẳng định rằng nguồn nhân lực của Trung tâm còn yếu. Thiếu lực lượng "đầu đàn", chưa có sự kết nối liên tục giữa các thế hệ. Việc tuyển dụng, thu hút người tài gặp rất nhiều khó khăn, vả lại chính sách khuyến khích, đãi ngộ đối với những người làm khoa học trong đó có khoa học xã hội và nhân văn còn rất nhiều vấn đề phải bàn, nên có thu hút thì họ cũng không mặn mà về với Trung tâm. Mặt khác, môi trường hoạt động của Trung tâm thực sự chưa thật sôi động, năng động để khơi dậy sự đam mê, khát khao tìm tòi, nghiên cứu của đội ngũ cán bộ trẻ.

- Cơ sở vật chất có thể nói là rất đầy đủ, song vấn đề sử dụng còn hạn chế, chưa phát huy hiệu quả trong các lĩnh vực: khai thác tư liệu qua 2 thư viện của Trung tâm; Khai thác hiệu quả các hội trường lớn, nhỏ, các trang thiết bị,… để cơ sở vật chất đã được đầu tư vừa là nơi làm việc của Trung tâm, vừa là nơi sinh hoạt, giao lưu, kết nối các nhà khoa học xã hội và nhân văn trong tỉnh, trong tỉnh với cả nước tạo nên nơi hội tụ của các nhà khoa học.

- Các đề tài nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn chưa nhiều. Một số đề tài nghiên cứu chưa bám sát thực tiễn, chưa xuất phát từ yêu cầu thực tiễn để đề xuất. Một số vấn đề được lãnh đạo và nhân dân kỳ vọng làm sáng tỏ như: Tại sao người Nghệ An là khó làm giàu, phát triển trên chính quê hương? Nghệ An là tỉnh nhiều người tài, giàu tiềm năng nhưng mãi vẫn là tỉnh nghèo? Giải pháp chống tư tưởng trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên và nhân dân?... vẫn chưa được lý giải, trả lời một cách thỏa đáng. Những vấn đề đó nói lên một điều: những kết quả đạt được của Trung tâm trong 10 năm qua chưa đáp ứng được yêu cầu và mong mỏi của lãnh đạo và nhân dân trong tỉnh.

P.V: Thưa ông, sau Lễ kỷ niệm này, ông có suy nghĩ gì về mô hình phát triển sắp tới của Trung tâm? Bước đi sắp tới, mô hình của Trung tâm như thế nào để tiếp tục giữ vững và giành được những thành tích cao hơn trong thập niên tới?

Ông Nguyễn Quốc Hồng: Đây là vấn đề rất khó, không chỉ tôi mà anh em lãnh đạo Trung tâm và cả các đồng chí lãnh đạo Sở KH&CN cũng đang trăn trở cho Trung tâm.

Hiện nay, Trung tâm từ đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động theo quy định của pháp luật và chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Sở KH&CN Nghệ An đang chuyển sang đơn vị hoạt động tự chủ tự chịu trách nhiệm về tài chính theo NĐ 115 của Chính phủ. Tuy nhiên đây là mô hình mới và rất khó khăn trong hoạt động của Trung tâm KHXH&NV trong thời gian tới bởi tính đặc thù của lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

Nhận thức tầm quan trọng của lĩnh vực KHXH&NV trong sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh, hơn 10 năm trước, lãnh đạo tỉnh đã có chủ trương hình thành Viện Khoa học xã hội khu vực Bắc miền Trung tại Nghệ An, chủ trương này đã được đưa vào Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ 16 (2006)(1). Đến Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ 17 (2010), sau khi Trung tâm KHXH&NV thành lập được 3 năm, chủ trương thành lập Viện khoa học xã hội tiếp tục khẳng định "Nâng cao năng lực hoạt động của Trung tâm KHXH&NV thành Viện KHXH&NV tỉnh Nghệ An"(2).

Đến Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ 18 (2015), một lần nữa tiếp tục được khẳng định: "Tích cực xúc tiến để sớm hình thành phân viện nghiên cứu khoa học xã hội khu vực Bắc Trung bộ tại Nghệ An"(3).

Như vậy về mặt chủ trương thành lập Viện KHXH trực thuộc tỉnh đã được lãnh đạo tỉnh thống nhất đưa vào Nghị quyết ba kỳ đại hội. Vấn đề là triển khai thực hiện trong thực tế.

Kỷ niệm 10 năm thành lập, xây dựng và phát triển Trung tâm KXHH&NV xin kiến nghị lãnh đạo tỉnh chỉ đạo các ngành liên quan và Trung tâm KHXH&NV lập đề án nâng cấp Trung tâm lên Viện trực thuộc tỉnh với tên gọi Viện Kinh tế - Xã hội Nghệ An.

Sau 10 năm hoạt động, Trung tâm đã được tỉnh đầu tư xây dựng nên những tiền đề quan trọng để trở thành Viện trực thuộc tỉnh, đó là: Tiền đề về cơ sở vật chất; kinh nghiệm trong nghiên cứu các đề tài khoa học, trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khoa học như: Tham mưu tổ chức các cuộc hội thảo; điều tra xã hội học; xây dựng các đề án, chính sách. Đặc biệt là đã tạo lập được các mối quan hệ, liên kết trong nghiên cứu khoa học với các viện nghiên cứu, một số trường đại học và các nhà khoa học trong nước. Vấn đề còn lại là có một cơ chế đặc thù để thu hút một số nhà khoa học, nghiên cứu có trình độ cao (tiến sĩ, phó giáo sư,…) về công tác tại Viện. Như vậy, mô hình Viện Kinh tế - Xã hội Nghệ An sẽ làm tốt chức năng là cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, tổng kết thực tiễn, cung cấp những luận cứ khoa học cho lãnh đạo tỉnh xây dựng cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tới; Đồng thời tạo môi trường mới cho cán bộ Trung tâm phát huy khả năng của mình đóng góp nhiều hơn trong sự nghiệp phát triển tỉnh nhà trở thành Trung tâm kinh tế - xã hội của vùng Bắc Trung bộ.

P.V: Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này, hy vọng ý kiến của ông sẽ sớm trở thành hiện thực!

P.V (Thực hiện)

 

 

 

Chú thích

(1). Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, tháng 12/2006, trang 87.

(2). Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, tháng 12/2010, trang 67.

(3). Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, tháng 12/2015, trang 93.

XÁC LẬP, QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN NHÃN HIỆU TẬP THỂ CAM VINH - KẾT QUẢ VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

Hoàng Minh

Cam quả Nghệ An là một đặc sản lâu đời, có hương vị thơm, ngọt được nhiều người ưa chuộng; đó là sự kết tinh của ba yếu tố thiên - địa - nhân trên đất Nghệ An. Việc xây dựng cam quả Nghệ An mang nhãn hiệu "cam Vinh" nhằm nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh trên thị trường là rất cần thiết. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để người tiêu dùng ưa chuộng "cam Vinh" có thể mua được quả cam chính hiệu, rõ nguồn gốc, đảm bảo chất lượng, giá thành hợp lý, hương thơm đặc trưng... Điều đó đòi hỏi sự quan tâm của các cấp, các ngành và đặc biệt là sự nỗ lực của từng thành viên Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh. Ngày 31/5/2007, thương hiệu này đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Chứng nhận giấy đăng ký Chỉ dẫn địa lý "Vinh" cho sản phẩm cam quả của tỉnh Nghệ An theo QĐ số 368/QĐ-SHTT. Ba giống cam quả ở tỉnh Nghệ An được mang Chỉ dẫn địa lý "Vinh", đó là cam Xã Đoài, cam Vân Du và cam Sông Con được trồng trên địa bàn các xã Nghi Diên, Nghi Hoa (thuộc huyện Nghi Lộc), Hưng Trung (thuộc huyện Hưng Nguyên), Nghĩa Bình, Nghĩa Hiếu, Nghĩa Hồng, Nghĩa Lâm, Nghĩa Sơn (thuộc huyện Nghĩa Đàn), Minh Hợp (thuộc huyện Quỳ Hợp) và Tân An, Tân Long, Tân Phú (thuộc huyện Tân Kỳ).

Sau khi đón nhận Giấy chứng nhận đăng ký Chỉ dẫn địa lý "Vinh" cho sản phẩm cam quả, ngày 17/11/2010, tại Công ty Nông nghiệp Xuân Thành (huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An), Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã long trọng tổ chức Lễ đón nhận Văn bằng bảo hộ Chỉ dẫn địa lý "Vinh" dùng cho sản phẩm cam quả và Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An công bố Quyết định trao quyền sử dụng Chỉ dẫn địa lý này cho Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh.

Theo Cục Sở hữu trí tuệ, chỉ dẫn địa lý có thể là từ ngữ, tên gọi, dấu hiệu; biểu tượng; hình ảnh để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực: một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương mà hàng hóa được sản xuất ra từ đó. Cho đến nay cả nước có trên 20 sản phẩm nổi tiếng được cấp văn bằng bảo hộ thương hiệu, chỉ dẫn địa lý như: nước mắm Phú Quốc, bưởi Đoan Hùng, chè san tuyết Mộc Châu... Ở Nghệ An, "cam Vinh" là một trong những sản phẩm đầu tiên của tỉnh xây dựng thành công về thương hiệu và nó sẽ mở ra hướng mới cho người trồng cam.

Để phát triển một chỉ dẫn địa lý cần có thời gian, lộ trình và sự tham gia tích cực của những người sử dụng chỉ dẫn địa lý. Bên cạnh đó, việc xây dựng các điều kiện để quản lý chỉ dẫn địa lý cũng là việc làm vô cùng cần thiết. Việc xây dựng, cấp văn bằng chỉ dẫn địa lý cho một sản phẩm đã khó, nhưng việc quản lý, bảo đảm sử dụng chỉ dẫn địa lý thống nhất, đúng pháp luật và kiểm soát chất lượng để duy trì danh tiếng và uy tín của sản phẩm lại càng khó hơn, đặc biệt là khi cây cam được trồng ở nhiều địa phương khác nhau, trên địa bàn rộng.

Hiệp hội cam Vinh xác định đây là cơ hội để sản xuất tập trung hàng hóa lớn, đảm bảo quy hoạch, tạo ra vùng cam đúng theo chỉ dẫn địa lý mà nhà nước bảo hộ. Bên cạnh việc mở rộng diện tích thì việc nâng cao chất lượng sản phẩm phải đặt lên hàng đầu, có như thế mới cạnh tranh và giữ được thương hiệu trên thị trường.

Thành công nhất của bảo hộ chỉ dẫn địa lý là giá trị gia tăng ngày càng cao của sản phẩm hàng hóa. Trước và tại thời điểm Lễ đón nhận Văn bằng chứng nhận bảo hộ Chỉ dẫn địa lý Vinh cho sản phẩm cam quả của tỉnh Nghệ An, bình quân 1 kg cam Vinh trên địa bàn huyện Quỳ Hợp chỉ có giá 12.000 - 14.000 đ/kg, nhưng sau khi cấp Văn bằng Chỉ dẫn địa lý đã tăng lên từ 25.000-30.000đ/kg. Cá biệt có những năm tăng cao như năm 2012, 2013 bình quân 45.000đ/kg - 50.000đ/kg, đưa hiệu quả sử dụng đất từ 75-100 triệu đồng/ha lên 250-300 triệu đồng/ha. Có nhiều hécta tại vùng cam Công ty NN Xuân Thành đạt trên 1 tỷ đồng/năm.

Hiện nay, diện tích cam, quýt toàn tỉnh có trên 3.400 ha trong đó gần 2.000 ha diện tích cho sản phẩm. Bình quân mỗi năm cung ứng ra thị trường từ 25-30.000 tấn cam, quýt quả tươi. Riêng diện tích cam Vinh ở các huyện Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Thái Hòa, Tân Kỳ, Nghi Lộc có trên 1.500 ha, sản lượng bình quân đạt 14-15tấn/ha/năm. Cam thu hoạch đại trà vào trung tuần tháng 10 năm trước đến trung tuần tháng giêng năm sau. Cam Vinh với năng suất, chất lượng nổi trội đã mang lại thu nhập cao cho nhiều hội viên sản xuất và kinh doanh cam Vinh trên địa bàn toàn tỉnh. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay sản phẩm cam Vinh chủ yếu là tư thương đến giao dịch mua hàng tại lô (vườn) và bán đi các trung tâm đầu mối ở các thành phố lớn là chính. Các điểm đại lý bán cam Vinh trên địa bàn trong tỉnh và các thành phố lớn còn ít; Việc dán nhãn mác thương hiệu quá ít ỏi (xấp xỉ 20%). Một mặt do vai trò hạn chế trong công tác quản lý điều hành của hội viên Hiệp hội Sản xuất cam Vinh, mặt khác người tiêu dùng, người sản xuất chưa thực sự quan tâm đến nhãn hiệu, thương hiệu của sản phẩm. Do đó, chưa tạo ra chuỗi giá trị sản xuất khép kín, chưa kể đến việc quản lý chất lượng của hàng hóa, cũng như đầu ra, có nghĩa rằng nó đang có trạng thái trôi nổi, đây là điểm hạn chế nhất. Trong thời gian qua, để nâng cao chất lượng cũng như uy tín cam Vinh trên thị trường, Hiệp hội cam Vinh, CT TNHH MTV Nông nghiệp Xuân Thành đã thực hiện liên doanh, liên kết với các nhà khoa học, viện nghiên cứu như Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện Nông hóa Thổ nhưỡng, Viện Bảo vệ thực vật, Viện Cây ăn quả có múi Xuân Mai, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An,... chuyển giao nhiều tiến bộ khoa học trong sản xuất, đưa thêm nhiều giống mới để rải vụ như giống cam Mát, cam BH chín sớm, cam V2 chín muộn... Xúc tiến nhiều kênh thương mại; mở thêm nhiều đại lý bán sản phẩm cam Vinh trên các thành phố lớn; kết hợp với thổ nhưỡng, kinh nghiệm lao động, sự cần cù chịu khó của người trồng cam nên sản phẩm "cam Vinh" trong nhiều năm qua đã mang đến niềm vui, hạnh phúc cho nhiều hộ dân. Năm 2012, thương hiệu, nhãn hiệu cam Vinh đạt tốp 100 thương hiệu nhãn hiệu nổi tiếng. Năm 2014, cam Vinh đã đạt danh hiệu sản phẩm vàng nông nghiệp Việt Nam, danh hiệu sản phẩm người tiêu dùng tin dùng.

Có thể nói việc xác lập và bảo hộ Chỉ dẫn địa lý Vinh cho sản phẩm cam quả của tỉnh Nghệ An đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội theo nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra. Tuy vậy, trong xu thế hội nhập và phát triển, mặc dù hiệu quả cây cam, quýt đem lại ngày càng cao, quy mô phát triển ngày càng lớn nhưng thực tế đặt ra tính cạnh tranh của sản phẩm ngày càng gay gắt đòi hỏi việc quản lý và phát triển Chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể thương hiệu cam Vinh cần được củng cố và hoàn thiện.

Kiến nghị, đề xuất

1. Để ổn định và phát triển thương hiệu theo chỉ dẫn địa lý nhà nước nên có chính sách ổn định về mặt quy mô, diện tích, tạo điều kiện hỗ trợ về cơ chế chính sách trong xúc tiến về thương mại, bảo quản chế biến sản phẩm.

2. Nhãn hiệu, thương hiệu "cam Vinh" là sản phẩm nổi tiếng của tỉnh Nghệ An, đã có uy tín. Tuy vậy, do sản phẩm "cam Vinh" là sản phẩm mang nhãn hiệu thương hiệu tập thể của nhiều địa phương trong tỉnh như Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Nghi Lộc, Hưng Nguyên… nên trong nhiều năm qua vai trò quản lý của Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh gặp không ít khó khăn, hạn chế trong việc quản lý nhãn hiệu, thương hiệu. Do đó, trong thời gian tới, Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh kính đề nghị UBND tỉnh, các sở ban ngành liên quan cần quan tâm hơn nữa trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Hội cũng xin đề xuất: Nâng cấp Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh lên Hiệp hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh cấp tỉnh; Thành lập các hội sản xuất và kinh doanh cam Vinh các huyện, có con dấu riêng như cam Quỳ Hợp, cam Nghĩa Đàn, cam Tân Kỳ,... Có như thế thì sản phẩm, nhãn hiệu cam Vinh mới thực sự đứng vững trên thị trường trong nước và tiến tới xuất khẩu.

 

TẬP ĐOÀN TH  TRÊN HÀNH TRÌNH "PHỦ XANH" VIỆT NAM

Lê Huyền

 

Tập trung tạo ra những sản phẩm nông nghiệp đạt chất lượng và giá trị tốt nhất, TH đang vẽ lên những "mảng xanh" cho nền kinh tế cũng như nâng cao chất lượng sống của người dân Việt Nam.

Màu xanh của những trang trại nông sản mang tên TH

Năm 2012, trong một chuyến thăm trang trại bò sữa của Tập đoàn TH tại vùng đất đỏ Phủ Quỳ (thuộc huyện Nghĩa Đàn, miền Tây Nghệ An), nhìn từ camera của chiếc drone đang bay lượn trên cánh đồng rộng trên 8.100 ha, không ai nghĩ trước kia, nơi đây chỉ là mảnh đất cằn cỗi, đầy nắng và gió. Nó dường như đã được TH "phù phép" biến thành những "tấm thảm xanh" khổng lồ trên cao nguyên bao la này. Đây được coi như một trong những mô hình kiểu mẫu về ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp của Việt Nam.

Rồi từ dấu mốc đầu tiên ấy, "tấm thảm xanh" cứ lan rộng ra trên mảnh đất hình chữ S với hàng loạt các dự án nông nghiệp mang tầm cỡ quốc tế. Năm 2013, TH cho triển khai dự án rau sạch mang thương hiệu FVF được trồng trong nhà kính, cánh đồng mở hơn 100 ha ở Nghệ An và năm 2015 là mô hình tương tự rộng 200 ha ở Đà Lạt. Tiếp theo, TH khảo sát nhiều khu vực ở các tỉnh vùng núi phía Bắc với mục tiêu xây dựng vùng trồng nguyên liệu cho dự án dược liệu sạch TH Herbals.

Không chỉ dừng lại ở đó, đầu năm 2017, TH triển khai dự án "sản xuất rau củ quả hữu cơ và lúa chất lượng cao" có quy mô đầu tư khủng trên 3.000 tỷ đồng, diện tích sản xuất gần 3.000 ha trên mảnh đất "chị Hai năm tấn". Bà Thái Hương - Chủ tịch Tập đoàn TH cho biết: "Dự án này ở Thái Bình sẽ mở đầu một loạt dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Tập đoàn TH ở khu vực phía Bắc". Như vậy, với Tập đoàn TH sẽ còn rất nhiều "tấm thảm xanh" khác nối tiếp nhau tạo nên một màu xanh tươi đẹp cho nền nông nghiệp Việt Nam.

Màu xanh của sự bền vững

Không phải tự nhiên mà sản phẩm "made by TH" đang là 1 trong những mặt hàng nông sản hiếm hoi của Việt Nam đủ tiêu chuẩn để cạnh tranh được với các sản phẩm tới từ các nước phát triển hàng đầu như Mỹ, EU, Nhật Bản. Tất cả đều nằm ở phương châm "phát triển nông nghiệp xanh, sạch, bền vững bằng tài nguyên Việt, trí tuệ Việt và công nghệ cao" của Tập đoàn TH.

Nhìn lại 7 năm về trước, TH bắt đầu gây "bão" cho thị trường sữa Việt Nam khi triển khai Dự án "Chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa tại Phủ Quỳ" với tổng chi phí đầu tư 1,2 tỷ USD. Lúc đó, nhiều người cho rằng dự án này của bà Thái Hương là "chơi trội", là "điên rồ" khi bỏ ra một số tiền lớn đưa bò sữa ngoại vốn chỉ ưa khí hậu ôn đới về nuôi, chăm sóc trên mảnh đất Nghĩa Đàn toàn nắng lửa với gió Lào. Sẽ chẳng ai nghĩ, chỉ sau vài năm, cái ý tưởng điên rồ đó lại đưa TH từ con số 0 trở thành tập đoàn sữa có thị phần lớn thứ 2 Việt Nam, làm thay đổi hoàn toàn khái niệm sữa "tươi", sữa "sạch" và thúc đẩy các doanh nghiệp chế biến sữa phải cạnh tranh về chất lượng và quan tâm đến chăn nuôi bò sữa để phát triển nguyên liệu sữa tươi phục vụ người tiêu dùng trong nước.

Câu chuyện về làm sữa tươi của bà Thái Hương thời đó đến nay vẫn luôn là minh chứng cho sự đột phá trong cách làm nông nghiệp xanh. Mà sự đột phá đó nằm ở việc áp dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, điều mà các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa dám mạnh dạn đầu tư.

Trong một Hội nghị nông nghiệp Quốc tế, Bà Thái Hương khẳng định: "Công nghệ cao là chìa khóa vàng để phát triển nông nghiệp xanh, bền vững cho Việt Nam, giúp gia tăng sản lượng và chất lượng, gây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế".

Đúng như vậy, tại trang trại nuôi bò sữa TH, từ khâu làm đất, gieo trỉa, thu hoạch đến chế biến thức ăn đều được ứng dụng công nghệ tự động hóa và sử dụng phương tiện, biện pháp kỹ thuật cao. Hệ thống chuồng trại và công nghệ chăm sóc cho quy mô đàn hơn 45.000 bò sữa là một chuỗi kỹ thuật cao khác. Đàn bò được sống trong môi trường trong sạch và được chăm sóc như ở một "viện nghỉ dưỡng" khi vừa được ăn thức ăn dinh dưỡng vừa được nghe những bản nhạc của Moza, Bethoven.

Không chỉ tạo ra màu xanh bền vững cho sản phẩm sữa, TH tham vọng muốn tô thêm màu xanh ấy lên tất cả các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam. Với việc được Control Union chứng nhận Organic (hữu cơ) tiêu chuẩn châu Âu (EC 834/2007) và Mỹ (USDA-NOP) cho 37 loại rau sạch, 5 loại dược liệu sau khi vượt qua những kiểm định hết sức ngặt nghèo theo tiêu chuẩn hữu cơ cao nhất của Mỹ và châu Âu, TH ghi tên mình lên đầu danh sách những doanh nghiệp Việt Nam tiên phong trong việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế vào sản xuất rau, củ, quả.

Người đứng đầu tập đoàn TH gợi ý: "Khi thăm quan bất kỳ trang trại rau nào của TH, bạn có thể thưởng thức tất cả các loại rau sạch ở đó ngay tại vườn, điều đó thật thú vị".

Quả thực, nhìn cách mà TH tạo ra giá trị và chất lượng trên từng sản phẩm nông nghiệp của mình luôn khiến người ta cảm giác như đây là 1 Israel thứ 2 ở Việt Nam và công nghệ cao luôn đóng vai trò then chốt trong quá trình tạo ra giá trị ấy.

Những trang trại rau sạch của TH được sản xuất theo tiêu chuẩn Global GAP và tiêu chuẩn Organic (hữu cơ) theo hướng "5 không": Không phân bón hóa học, không thuốc bảo vệ thực vật hóa học, không kích thích tăng trưởng, không chất bảo quản và không giống biến đổi gen... Tiến trình sản xuất áp dụng quy trình kiểm soát dịch hại tổng hợp (nguồn giống được lựa chọn kỹ càng có sức đề kháng cao và không mang mầm bệnh; đất trồng, nước tưới an toàn; phương pháp canh tác khoa học có nhật ký hành trình theo dõi sát sao quá trình phát triển của cây cũng như thu hoạch, sơ chế, bảo quản và phân phối, luôn đạt yêu cầu cao về tính kỷ luật và tuân thủ). Trên mỗi sản phẩm đều có cam kết về chất lượng và nguồn gốc sản phẩm rõ ràng.

Có thể nói, cuộc cách mạng thực phẩm xanh mà TH tạo ra không chỉ hiện thực hóa "giấc mơ" được sử dụng thực phẩm sạch, ngon, an toàn của gần 100 triệu dân Việt Nam mà nó còn chỉ ra "áp dụng công nghệ cao" là phương thức duy nhất để nền nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững.

Tham vọng đưa "màu xanh" ra thế giới

Cuối tháng 11/2015 tại Diễn đàn Sữa quốc tế ở Liên bang Nga, diễn giả chính duy nhất đến từ Việt Nam, bà Thái Hương đã lại khiến 1.500 đại biểu đến từ 32 quốc gia phải kinh ngạc khi tuyên bố sẽ đầu tư một dự án trang trại bò sữa khổng lồ 2,7 tỷ đô la kéo dài 10 năm tại chính đất nước của người anh hùng "Pavel Korchagin" này.

Họ bất ngờ bởi từ một nước thuộc vùng trũng phát triển của bản đồ sữa thế giới, chỉ vài năm, Tập đoàn TH đã xác lập Kỷ lục châu Á về trang trại lớn nhất ứng dụng công nghệ cao. Và chưa đầy một năm sau, đã sẵn sàng trở thành nhà đầu tư quốc tế tầm cỡ.

Vùng trang trại dự kiến sẽ xây dựng tại Nga rộng đến 140.000 ha, với tổng đàn bò khoảng 350.000 con sẽ là "mảng xanh" đầu tiên của Việt Nam vẽ lên trên bản đồ thế giới. Khẳng định vị thế và tầm vóc của người Việt Nam trên trường quốc tế.

NHÀ THƠ XUÂN DIỆU NÓI VỀ GIẢNG

Phan Bá Hàm

 

Tháng 3 năm 1973, tại hội trường trường Cán bộ quản lý Bộ Giáo dục, nhà thơ lớn Xuân Diệu đã có buổi nói chuyện về giảng văn cho lớp cốt cán Ngữ văn ở các tỉnh miền Bắc. Chúng tôi xin ghi lại những ý kiến quan trọng của nhà thơ để bạn đọc tham khảo.

Theo yêu cầu của Bộ Giáo dục, hôm nay tôi xin trao đổi với các cô giáo, thầy giáo về vấn đề nên giảng văn như thế nào?

Vinh quang nào cũng có đau khổ. Giảng văn tốn nhiều "xương máu" lắm. Nói học sinh không yêu văn là nói xô bồ. Có thể các cháu không yêu văn dạy trong nhà trường vì ta dạy chưa hay đó thôi. Còn văn hay thì các cháu vẫn rất thích.

Ta có lúc lẫn lộn các phạm trù: đúng, tốt, hay. Đúng là chân lý: Không sai. Tốt là đạo đức: Không sai. Nhưng dạy đúng, dạy tốt vẫn làm trò ngủ gật.

Phải dạy hay tức là dạy cho học sinh mê ly, có thế các cháu mới yêu văn.

Cuộc sống rất cũ và cũng rất mới. Đứa trẻ đã có từ lâu đời nhưng đứa trẻ mới sinh, cha mẹ vẫn cho là kỳ quan của vũ trụ. Tác phẩm văn chương cũng thế. Truyện Kiều của Nguyễn Du cũ mà cũng rất mới. Mỗi lần đọc, ta lại phát hiện ra bao nhiêu điều kỳ diệu. Giảng văn phải thấy điều đó.

- Trước hết phải chuẩn bị "chiến trường".

Ai cũng phải khôn trong nghề của mình, còn có dại là ở chỗ khác. Thanh niên yêu nhau phải trò chuyện lúc chiều tà hay đêm trăng, đi giữa thanh thiên bạch nhật thì không tỏ tình yêu được. Giảng văn cũng phải tinh tế như trai gái yêu nhau.

Cô giáo trẻ mới ra nghề đọc văn là cứ muốn giảng ngay. Thế là thất bại, phải chuẩn bị "chiến trường" cho trận đánh của mình đã. Ví dụ dạy bài Bầm của Tố Hữu: Phải tìm hiểu nhà thơ viết trong hoàn cảnh nào? Năm 1947, lên chiến khu, anh Tố Hữu thương quần chúng rét. Anh làm bài thơ này ở đất Phú Thọ, nơi có nhiều lá cọ. Anh muốn cầm một tàu lá cọ che cho bà cụ trong mưa gió.

Nhà thơ muốn nâng bà mẹ hiền thành bà mẹ Tổ quốc. Bà mẹ sống 59 tuổi trong chế độ cũ, một năm trong chế độ dân chủ cộng hòa.

Phải cho học sinh đi tìm hiểu những bà mẹ từng sống qua hai chế độ để xem ngày xưa bà sống ra sao? Bà cảm ơn cháu lắm, có thể nói khổ chìm đầu, chìm óc. Từ đó mới thấm thía những câu thơ khi đem ra giảng.

Phải xem trình tự của bài:

Đi đâu mà vội mà vàng

Mà vấp phải đá, mà quàng phải dây?

Dạy văn đừng có nôn nóng như chạy việt dã. Phải xem trình tự của bài để phân tích cho ra cái hay của tác phẩm. Ví dụ đoạn Tú Bà đánh đập Kiều kết thúc bằng hai câu:

Thương ôi! Tài sắc bậc này

Một dao oan nghiệt đứt dây phong trần!

Thanh dấu huyền (yếu tố hình thức) của từ trần xét riêng ở từ trần không có nội dung ý nghĩa gì cả. Đặt vào hai câu lục bát ở trên vẫn chưa nói lên điều gì. Cần phải xem nó trong trình tự của đoạn thơ:

Màu hồ đã mất đi rồi

Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma

Con kia gả bán cho ta

Nhập gia cứ phải phép nhà tao đây

Lão kia có dở bài bây

Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe

Cớ sao chịu tốt một bề

Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao

Phải làm cho biết phép tao

Chập bì tiên, rắp sấn vào ra tay

Nàng rằng: "Trời thẳm đất dày

Thân này đã bỏ những ngày ra đi

Thôi thì thôi có tiếc gì"

Sẵn dao tay áo tức thì giở ra

Sợ gan nát ngọc liều hoa

Mụ còn trông mặt, nàng đà quá tay

Thương ôi! Tài sắc bậc nầy

Một dao oan nghiệt đứt dây phong trần!

Xét cả đoạn sẽ thấy một loạt từ cuối câu bát đều có thanh không dấu.

Nhưng đến câu bát cuối cùng, thanh dấu huyền bỗng hạ xuống như để khóc òa: Nàng Kiều chết thật rồi!

Sách "Trích giảng văn học" lớp 6 có dạy bài Mẹ Suốt của Tố Hữu. Người soạn sách đã quên trình tự của bài. Mở đầu là hai câu:

Lặng nghe mẹ kể ngày xưa

Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình

Và kết là hai câu:

Vui sao câu chuyện ân tình

Nắng trưa cồn cát Quảng Bình cũng say

Vậy mở đầu và kết thúc có hô ứng với nhau qua hình ảnh "cồn cát nắng trưa Quảng Bình". Thế mà Ban Tu thư lại bỏ đi hai câu đầu. Vậy thì ai mà hiểu được cái hay của hai câu kết?

- Hình tượng nghệ thuật: Làm văn chương là phải sáng tạo cho được những hình tượng. Hình tượng Hoàng hạc lâu, hình tượng nàng Kiều,… sống mãi với thời gian. Giảng văn là giảng hình tượng nghệ thuật. Phải lấy sự sống kiểm tra để làm cho học sinh thấy cái hay, cái đẹp của hình tượng. Như dạy Truyện Kiều:

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng

Dẫu lìa ngõ ý, còn vương tơ lòng

Kiều nói với Kim Trọng: đôi ta lìa nhau như ngó sen bẻ ra, vì em phải làm vợ người ta hai lần rồi. Ngó sen bẻ ra, giữa hai khúc còn những sợi tơ. Ai nỡ bẻ phựt cho đứt mối tình. Như vậy là hình tượng nghệ thuật của Nguyễn Du qua chi tiết này muốn nói cái quy luật của muôn đời: Tình yêu thứ nhất không ai quên nổi. Nguyễn Du hiểu lòng người đến thế! Thầy giáo, cô giáo phải giảng cho ra cái ẩn ý đó của nhà thi hào thì học sinh mới mê ly thơ Kiều. Sau này, Thế Lữ cũng lại viết:

Cái thủa ban đầu lưu luyến ấy

Ngàn năm chưa dễ đã ai quên!

- Nhạc điệu: Giảng văn, nhất là giảng thơ ca, phải rất chú trọng nhạc điệu. Một nhà thơ Pháp nói: Thơ là sự phân vân kéo dài giữa âm thanh và ý nghĩa. Những thi sĩ tài hoa đều rất giỏi trong việc sử dụng nhạc điệu.

Ví dụ trong bài "Tiếng hát đi đày", Tố Hữu viết:

Thông reo bờ suối rì rào

Chim chiều chiu chít ai nào kêu ai

Nhà thơ qua đèo An Khê, lên Tây Nguyên, ngồi trong xe hơi chờ tù cách mạng bịt kín. Anh yêu cuộc sống quá, quyến luyến quê hương đất nước quá.

Chim chiều chiu chít. Những thanh "ch" quyến luyến lạ thường! Chim ơi chim ta luyến nhà, luyến nước!

Có thể khi viết Tố Hữu vô tâm nhưng cầm bằng như hữu ý.

- Từ ngữ: Sợ nhất trong giảng văn là chuyện đọc phiên phiến, đọc ẩu, đọc vội rồi từ đó giảng sai. Nhà xuất bản Giáo dục có một tuyển thơ cho học sinh trong đó có bài "Bà cụ mù lòa" của Xuân Diệu. Ba chữ "đèo nợ non" được người soạn sách giải thích rằng: Nợ cao như núi, nợ chồng như non! Có nguy hiểm không? Đâu có phải, đây là mua lúa non, bán lúa non vì nghèo khổ mà. Sách báo ta in sai nhiều lắm.

- Bài thơ "Tiếng hát đi đày" của Tố Hữu có câu:

Người đi quần áo chen chân

Ở sao như lại quen thân từ nào

Bản in "Thơ Tố Hữu" năm 1946 in như thế. Có cháu học sinh hỏi tôi:

Quần áo chen chân là vô lý. Tôi nghĩ Tố Hữu có là nhà thơ hạng tư mới đi viết như thế; người đi giày, dép, cớ sao quần áo lại chen chân?

Tôi hỏi tác giả mới vỡ lẽ: Quấn áo, chen chân. Có ghê không? Mấy chục năm không chữa nổi cái sai của một từ. Nếu in vào giáo khoa, các cô, các thầy giảng ra làm sao?

Trong kháng chiến chống Pháp, anh Kinh Kha có bài thơ nói về chuyện gặt lúa. Bài này cũng được đem dạy trong các trường trung học hồi đó. Nhiều người ghi:

Lúa thơm, thơm ngát cánh đồng

Lúa sây hạt nặng, lúa cong mây chiều

Dựa vào đó, thầy cứ tán lúa cong mây chiều thì đẹp biết mấy, nhà thơ tài hoa biết mấy? Đến khi hỏi tác giả thì không phải như thế mà là:

Lúa sây hạt nặng, lúa cong mấy chiều.

Chỉ sai một cái dấu mà làm cho câu thơ vô nghĩa.

Các đồng chí hỏi tôi giảng ca dao thì có khác gì giảng thơ không? Tôi nghĩ ca dao là thơ dân gian, có nhiều câu rất hay. Vậy thì về cơ bản cũng như giảng thơ thôi, có khác chăng là chú ý tính dị bản.

Tóm lại, muốn giảng văn cho hay phải dạy từ trái tim dạy ra. Phải phát hiện cái ẩn ý tinh vi của tác giả. Tính tư tưởng hài hòa với tính nghệ thuật, nằm trong tính nghệ thuật. Thầy cô phải đọc rộng, biết nhiều. Phải hiểu cuộc sống.

Càng ngày công chúng càng đòi hỏi cao về văn chương. Cơm không ngon còn có thể ăn nhưng thơ không hay, không ai đọc. Hưởng thụ văn hóa cao hơn, khó hơn hưởng thụ vật chất. Ta đánh B 52 rất giỏi nhưng thơ viết về đánh B 52 chưa hay. Vậy thì quần chúng sẽ quên thơ thôi.

Xin chúc các cô, các thầy dồi dào sức khỏe và giảng văn thật hay, thật mê ly.

NHƯ LÀ GIẢI NOBEL KHOA HỌC CHO CÁC HỌC SINH TRUNG HỌC

Hoan Châu (dịch)

 

ISEF là cuộc thi quốc tế về sáng tạo khoa học lớn nhất cho học sinh trung học đã diễn ra vừa qua tại Los Angeles (Mỹ). 1700 thiên tài non trẻ toàn thế giới đã đến tham dự. Tất cả đều đã đạt giải xuất sắc tại nước mình nhờ một dự án nghiên cứu hoặc một sáng chế công nghệ. Khi tới nơi, các thí sinh được dẫn đến một khách sạn 35 tầng tại trung tâm thành phố. Lễ khai mạc được tổ chức rất hoành tráng trong một phòng họp mênh mông có 3 màn hình khổng lồ, với âm nhạc cực kỳ sôi nổi, đúng là một lễ hội khoa học quyến rũ và duyên dáng. Trong một phòng triển lãm vô cùng rộng lớn, mỗi đội thí sinh trình phát minh, sáng chế của mình trước công chúng, nhà báo và các nhà khoa học chuyên ngành làm ban giám khảo. Họ phải giải đáp các câu chất vấn, bằng tiếng Anh mà không được người lớn giúp đỡ bởi người lớn không có quyền tham dự cuộc đánh giá này.

Không khí và địa điểm tràn đầy những biểu hiện của trí sáng tạo. Chẳng hạn, cậu học sinh Ai Cập Abdullah, 17 tuổi đã gắn lên gọng kính một camera video nhỏ xíu để phát hiện ra các cử động của cặp mắt. Với thiết bị này, một người bị bại liệt có thể kiểm soát được một con chạy trên màn hình máy tính để viết, lướt, chơi trò chơi video… Cậu ta nói: "Máy của tôi rẻ hơn 200 lần các loại này hiện có trên thị trường". Xa hơn, đàng kia, Stefan và Octavia, người Rumani, 17 tuổi, cho chạy trên một mạch điện một chiếc xe nhỏ, chỉ nhờ vào dòng điện các tế bào thần kinh của họ, được thu qua chiếc mũ đội đầu có điện cực. Xa hơn nữa là Alexander, 19 tuổi, người Đan Mạch đã nung nấu giả thuyết về nguồn gốc ngoài trái đất của các axit amin; khi có mặt trên trái đất, các hóa chất này đã có vai trò chủ yếu trong việc hình thành sự sống.

Petra, 18 tuổi, ở ngay Los Angeles, ven bờ bãi biển, đã hy sinh năm nay nỗi đam mê môn "beach volley" (bóng chuyền bãi biển) để dành thì giờ nghiên cứu một gen (FOX P2) và ảnh hưởng của nó đến tiếng hót của một số loài chim, với mục đích hiểu thấu hơn các rối loạn ngôn ngữ của con người được gây ra do rối loạn hoạt động của gen ấy…

Màn cuối: Lễ bế mạc ngang tầm với các giải Oscar. Tổng các giải lên tới 50 triệu USD. Trao giải chiếm mất 3 giờ. "And the winner is… Nathan Han!" (tiếng Anh trong nguyên văn có nghĩa là: Và người thắng cuộc là Nathan Han). Đấy là một học sinh người Mỹ mới 15 tuổi thôi mà đã đoạt giải nhất 75.000 USD do sáng chế của mình: Một phần mềm thiết kế để nghiên cứu dễ dàng các đột biến của một gen gây ung thư vú.

Qui mô hoành tráng của cuộc thi này ngang với cuộc trao giải Nobel, chứng tỏ thế giới rất quan tâm và coi trọng khoa học và công nghệ và óc sáng tạo trong lĩnh vực này. Việc nghiên cứu khoa học đã được đặt ra ngay từ tuổi rất trẻ (từ tuổi 15, vào lớp đầu trung học), lứa tuổi đã bắt đầu chớm nở những thiên tài (thực ra có thể sớm hơn).

Ở nước ta, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Cảnh Toàn đã từng kêu gọi nghiên cứu khoa học ở bậc phổ thông, nhưng chỉ đối với giáo viên chứ chưa đề cập đến cho học sinh. Học sinh Việt Nam chịu thiệt thòi hơn các bạn nước ngoài vì thiếu thiết bị và điều kiện vật chất khác để nghiên cứu trong lúc trí tuệ không thua kém chút nào. Tình hình này đòi hỏi ngành giáo dục và đào tạo phải đổi mới, ngoài chương trình và phương pháp còn phải chú ý đổi mới công việc hướng nghiệp sao cho thật phù hợp tối ưu đối với mỗi thiên tư của học sinh.

Một cuộc đua tranh toàn thế giới

Năm 2014, 3 người được giải Nhất là: Nathan Han, 15 tuổi người Mỹ; Lennart Kleinwort, 15 tuổi, người Đức và Shamon Lee, 17 tuổi, người Singapore. Thành tích này phản ánh trình cao nhất về hiệu năng nghiên cứu khoa học của Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á. Hoa Kỳ vượt xa lên đầu. Nhưng các nước "nhỏ" giàu có như Thụy Điển và Singapore thì tỏ ra cố gắng vượt bậc và tỏ ra có óc sáng tạo đặc biệt.

Các nước công bố nhiều nhất những phát minh trên các tạp chí khoa học gồm có: Mỹ, Trung Quốc, vương quốc hợp nhất Anh, Đức, Nhật rồi đến Pháp (nguồn: SCLmago). Nếu đếm số giải Nobel khoa học của mỗi nước, thì Pháp đứng thứ 4 sau Mỹ, vương quốc Anh và Đức. Pháp đứng thứ 2 sau Mỹ về số huy chương Fields (được xem là giải Nobel Toán học).

Theo xếp hạng của Thượng Hải, được các nhà thẩm định Trung Quốc năm 1913 thì các đại học tốt nhất thế giới là của Hoa Kỳ: Harvard (nhất), Stanford (2) và Berkeley (3) rồi đến các đại học Anh quốc: Cambridge (5) và Oxford (10). Trường hạng nhất của Pháp Paris VI Pierre & Marie Curie đứng thứ 27. Pháp chỉ cách xếp hạng này không kể đến các viện nghiên cứu ngoài các đại học: CNRS (Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học là mạng lưới công các phòng thí nghiệm Pháp, đứng đầu mọi thiết chế nghiên cứu thế giới - theo bảng xếp hạng SCLmago).

Khả năng sáng chế các sản phẩm mới là một động lực của kinh tế, nó phụ thuộc vào việc nghiên cứu (công hoặc tư) và vào cả các doanh nghiệp. Năm 2013, sáng chế nhiều nhất là Thụy Sĩ, rồi đến Thụy Điển, vương quốc Anh, Hà Lan, Hoa Kỳ, Phần Lan và Hồng Kông. Bảng xếp hạng này đã được các nhà giám định thực hiện bằng cách đối chiếu trong 142 nước các khoản chi cho việc nghiên cứu, tính thịnh vượng của các doanh nghiệp, khả năng tài trợ chúng của các ngân hàng… Nước Pháp chiếm thứ 20, không hơn.

Một cuộc điều tra tầm cỡ gọi là PLSA đã được tiến hành năm 2012. Hơn 500.000 học sinh thuộc 65 nước đã được đánh giá về các môn đọc, khoa học và toán. Về khoa học và toán, các học sinh giỏi nhất thuộc về Trung Quốc (Thượng Hải, Hồng Kông), Sigapore, Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật Bản và các nước giàu có châu Âu (Liechtenstein, Thụy Sĩ, Hà Lan, Phần Lan,..). Pháp đứng thứ 25 về Toán và thứ 26 về khoa học, ấy là vì hệ thống giáo dục trường học quá bất bình đẳng, quá thiên chất lượng cao, không chú trọng nâng cao các môn khoa học trước các lớp trung học.q

HOAN CHÂU (dịch)

NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG TỪ ĐỒNG NGHĨA TRONG "HÁT GIẶM NGHỆ TĨNH"

GS.TS Đỗ Thị Kim Liên

 

1. Khái niệm từ đồng nghĩa

1.1. Định nghĩa

Trong tiếng Việt, từ đồng nghĩa được hiểu theo một số quan niệm như sau:

a. Quan tâm đến âm thanh khác nhau và có ít nhất một nét nghĩa (ý nghĩa) giống nhau.

Tác giả Đỗ Hữu Châu (1981) trong Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt cho rằng: "Hiện tượng đồng nghĩa là hiện tượng có nhiều mức độ tùy theo số lượng nét nghĩa chung trong các từ. Mức độ đồng nghĩa thấp nhất khi các từ có chung một nét nghĩa chung (nét nghĩa phạm trù). Số lượng các nét nghĩa đồng nhất tăng lên thì từ càng đồng nghĩa với nhau. Mức độ đồng nghĩa cao nhất khi các từ đã có tất cả các nét nghĩa hoặc đại bộ phận các nét nghĩa trùng nhau, chỉ khác một hoặc một vài nét nghĩa cụ thể nào đấy"[3, tr.184].

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp (1985) cho rằng: "Trong hệ thống ngôn ngữ, nói đến hiện tượng đồng nghĩa phải nói đến sự giống nhau của các nghĩa sở biểu. Vì vậy, từ đồng nghĩa là những từ gần nhau về ý nghĩa, nhưng khác nhau về âm thanh, biểu thị các sắc thái của một khái niệm" [5, tr.216].

Như vậy, cả hai tác giả Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp đều nhấn mạnh tiêu chí sự giống nhau về nét nghĩa (hoặc nghĩa sở biểu) khác nhau về âm thanh của từ đồng nghĩa. Chính vì vậy, đến năm 2013, nhóm tác giả Lê A, Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh đã trình bày rõ hơn, từ đồng nghĩa là từ khác nhau về âm thanh nhưng có chung ít nhất một nét nghĩa [1, tr.168].

b. Quan tâm đến âm thanh khác nhau, có từ loại như nhau, và có phân biệt với nhau về một vài sắc thái ý nghĩa (hoặc sắc thái phong cách).

 Theo nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Hoàng Trọng Phiến, Vũ Đức Nghiệu (1990) lại cho rằng, từ đồng nghĩa là các từ thuộc cùng một từ loại có ý nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau. Các nghĩa cơ bản của từ được coi là những đơn vị để so sánh giữa các từ đồng nghĩa từ vựng với nhau. Vì vậy, một từ đa nghĩa có thể tham gia vào một vài dãy đồng nghĩa. Những từ đồng nghĩa với nhau tập hợp lại thành một nhóm từ đồng nghĩa (hay nhóm đồng nghĩa, hay loạt đồng nghĩa). Trong mỗi dãy đồng nghĩa thường có một từ mang nghĩa chung, được dùng phổ biến trung hòa về một phong cách, được lấy làm cơ sở để tập hợp để so sánh, phân tích các từ khác, được gọi là từ trung tâm của dãy đồng nghĩa. Chẳng hạn trong nhóm từ: cha, bố, tía, thầy, cậu, bọ của tiếng Việt, từ cha được gọi là từ trung tâm của dãy đồng nghĩa. Vậy, "Từ đồng nghĩa là những từ tương đồng với nhau về nghĩa, khác nhau về âm thanh và có phân biệt với nhau về một vài sắc thái ngữ nghĩa hoặc sắc thái phong cách… nào đó; hoặc đồng thời cả hai" [4, tr.232].

Ý kiến của hướng thứ hai có điểm khác với hướng thứ nhất là: có cùng từ loại và phân biệt với nhau về một vài sắc thái ngữ nghĩa, hoặc sắc thái phong cách nào đó.

c. Quan tâm đến âm thanh khác nhau, ý nghĩa giống nhau.

Đại từ điển tiếng Việt (viết tắt ĐTĐTV) do Nguyễn Như Ý (chủ biên) cho rằng: Từ đồng nghĩa dt. Từ có nghĩa giống nhau nhưng khác vỏ ngữ âm: "đẹp", "xinh" là từ đồng nghĩa [8, tr.1705].

Trong ba hướng định nghĩa về từ đồng nghĩa trên thì hướng (c) rộng hơn trong cách quan niệm về nghĩa.

Cả ba hướng ý kiến trên mới chỉ dừng lại xem xét từ trong cấu tạo nội bộ (bên trong từ) hoặc sự khác nhau giữa từ này với từ kia, mà chưa đi sâu nghiên cứu sự hành chức của từ trong giao tiếp.

1.2. Đặc điểm của từ đồng nghĩa

Qua những định nghĩa trên có thể rút ra những đặc điểm của từ đồng nghĩa:

- Cùng từ loại.

- Có ít nhất một nét nghĩa chung (nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, hoặc có nhiều nét nghĩa chung biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái).

- Có sự hành chức như nhau, có thể thay thế cho nhau.

2. Phân loại từ đồng nghĩa

Có thể chia từ đồng nghĩa thành hai tiểu nhóm: Từ đồng nghĩa tuyệt đối và từ đồng nghĩa tương đối.

- Từ đồng nghĩa tuyệt đối: Là những từ đồng nhất về nghĩa biểu vật (cùng chỉ một sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan), nghĩa biểu niệm (cùng diễn đạt một nội dung khái niệm như nhau, có hầu hết các nét trùng nhau), nghĩa biểu thái (cùng có sắc thái biểu cảm như nhau) và có thể thay thế cho nhau, chỉ khác ở phạm vi sử dụng ở một số sắc thái: địa phương/ toàn dân; ngoại lai/ thuần Việt: xe lửa, tàu hỏa, xe hỏa; máy bay, tàu bay, phi cơ; điện thoại, dây nói, tê lê phôn.

- Từ đồng nghĩa tương đối: Gồm một số nét nghĩa trùng nhau, nhưng lại có một số nét khác nhau về phạm vi sắc thái tình cảm, về phạm vi sử dụng. Trong từ đồng nghĩa tương đối: có thể chia ra hai tiểu nhóm:

* Đồng nghĩa nhưng khác nhau về sắc thái biểu cảm, gồm: hy sinh, từ trần, qua đời, lìa đời, về chín suối, về suối vàng; bỏ mạng, toi mạng, mất mạng, toi, ngoẻo

* Đồng nghĩa nhưng khác nhau về sắc thái ý nghĩa (thường là khác nhau ở một số nét nghĩa về cấu trúc biểu niệm), về phạm vi sử dụng: rộng, rộng rãi, thênh thang, mênh mông, bao la, bát ngát (không gian); đoàn, đội, lũ, toán, bọn, tụi, bầy, đám, nhóm (đứng trước danh từ chỉ người, động vật); khóm, cụm, đám, túm, ôm, bó, nắm (đứng trước danh từ chỉ vật, chỉ thực vật, cây cối)…

3. Từ đồng nghĩa trong Hát giặm Nghệ - Tĩnh

3.1. Vai trò của từ địa phương trong giao tiếp

Trong thực tế, chúng ta vẫn bắt gặp nhà thơ, nhà văn sử dụng từ địa phương trong văn bản nghệ thuật. Một trong những nhà thơ có đóng góp trong việc sử dụng từ địa phương thành công là nhà thơ Tố Hữu. Ví dụ: Gan chi gan rứa, mẹ nờ/ Mẹ rằng: cứu nước mình chờ chi ai (Tố Hữu, Mẹ suốt); Rứa là hết! Chiều ni em đi mãi/ Còn mong chi ngày trở lại Phước ơi! (Tố Hữu, Đi đi em). Hoặc có thể bắt gặp việc sử dụng từ địa phương thành công qua một số nhà thơ khác, như: /- Đằng nớ vợ chưa? - Đằng nớ? - Tớ còn chờ độc lập/ Cả lũ cười vang bên ruộng bắp/ Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu/ Độc lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc (Hồng Nguyên, Nhớ);/ Chiếc xắc mây anh mang/ em nách mo cơm nếp (Trần Hữu Thung, Thăm lúa).

Tuy nhiên, điều chúng ta nhận thấy, các nhà thơ này đã sử dụng một số từ địa phương đứng bên cạnh những từ toàn dân, chúng tạo dấu ấn riêng, đặc sắc của con người ở mỗi vùng miền nhất định.

3.2. Về từ đồng nghĩa toàn dân và từ đồng nghĩa trong Hát giặm Nghệ Tĩnh

Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, điểm khác biệt của chủ nhân sáng tác là sáng tác tập thể, hoặc có thể lúc đầu là do các cá nhân sáng tác để hát, để đối đáp với nhau, nhưng vì truyền miệng qua người này, người khác, vai nam vai nữ trong những buổi hát đối đáp khác nhau, trên sông nước hay trên rừng, lúc đi thuyền buôn hay trèo đèo leo dốc đốn củi, lúc ở trên đồng ruộng lội bùn trong giá buốt tháng 11 hàng năm hay giữa cái nắng tháng 6, tháng 7 mùa hè... Vì vậy, qua thời gian, người nghe không phân biệt ai là cá nhân sáng tác. Người Nghệ Tĩnh đã để lại cách tổ chức lời thơ riêng, khác biệt không trùng với bất kì ai, không trùng với bất cứ vùng miền nào khác, đó là cấu tạo cặp giặm trong thể loại Hát giặm Nghệ Tĩnh. Với thể loại này, mỗi cặp giặm thường có 5 tiếng (hoặc 5 chữ), cấu trúc lặp lại nhưng có sự khác nhau từ một đến ba tiếng. Trong một bài ít nhất là một cặp giặm (Tiền nong vay không được/ Lúa khoai vay nỏ được), hoặc nhiều hơn thì có khoảng ba bốn cặp giặm, có khi có đến cả 12 cặp (bài Mời quí vị dạo chơi tỉnh nhà, tr.22-27). Đi sâu, chúng tôi thấy, trong cặp giặm của Hát giặm Nghệ tĩnh, người sáng tác thường sử dụng cặp từ đồng nghĩa, trong đó có đồng nghĩa giữa từ địa phương với từ toàn dân.

Theo nhà nghiên cứu Từ vựng học và Địa phương học Hoàng Trọng Canh(1), thì tác giả cho rằng, trong sử dụng, không bao giờ (xin nhắc lại không bao giờ) có từ đồng nghĩa tuyệt đối, bởi vì, trong sử dụng, từ mới bộc lộ một cách chính xác, tinh tế nghĩa của chúng. Có thể lấy một vài ví dụ như sau:

Thứ nhất, trong từ điển, chúng ta bắt gặp hai từ được xem là đồng nghĩa: quả/ trái (danh từ). Khi so sánh hai từ quả/ trái với nhau thì thấy, từ quả có 3 nghĩa: (1). Bộ phận của hoa do bầu nhụy phát triển mà thành, như: Cam sai quả; Ăn quả nhớ kẻ trồng cây; (2). Từng sự vật có hình tròn, hoặc hình khối, như: quả bóng, quả núi, quả lựu đạn; (3). Đồ dùng bằng gỗ, hình hộp, có nắp đậy. Còn từ trái lại có 2 nghĩa: (1). Quả, như: trái cây, trái bưởi, trái lựu đạn; (2). Mìn, như: gài trái [8, tr.1623].

Còn trong sử dụng, cặp từ quả/ trái có sắc thái nghĩa khác nhau: Từ quả trong quả địa cầu được dùng với sắc thái nghĩa: hình khối, vật chất, còn trái mang sắc thái nghĩa: chỉ tình cảm yêu thương, nặng về tình cảm. Vì thế, trong giao tiếp, chúng ta gặp: Trái tim người mẹ được sử dụng để chỉ sự yêu thương (tinh thần) mà không dùng quả tim người mẹ. Vậy, trường hợp trong câu thơ: Vì sao trái đất nặng ân tình/ Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh, Tố Hữu lại dùng từ trái đất? Trong trường hợp này, nhà thơ Tố Hữu đã dùng từ trái đất (hoán dụ) với nghĩa chỉ tình cảm yêu thương (tinh thần) của đồng bào miền Nam giành cho Bác Hồ chứ không phải nói đến quả đất địa lí.

Thứ hai, chúng ta bắt gặp hai từ đồng nghĩa như: chọn/ lựa (động từ) và so sánh chúng với nhau. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, động từ Lựa có nghĩa: (1). Chọn lấy những cái đúng với yêu cầu đặt ra: lựa hạt giống; (2). Liệu cho đúng, cho khéo léo để đạt kết quả tốt nhất: lựa lời mà nói; lựa theo chiều gió cho thuyền đi [tr.979]. Còn chọn có nghĩa: lựa tìm để lấy cái đạt yêu cầu nhất trong nhiều cái cùng loại: chọn giống; chọn mãi mới được cái vừa ý; kén cá chọn canh [8, tr.285].

Trong sử dụng, chọn có sắc thái nghĩa là chọn cái tốt để dùng (chọn mặt gửi vàng), còn lựa có sắc thái nghĩa thực hiện hành động trước nhiều sự vật để loại vật không đạt yêu cầu ra khỏi chủng loại. Ngày nay chúng ta nói: Đoàn chúng tôi chọn đến tham quan nước Anh chứ không nói: Đoàn chúng tôi lựa đến tham quan nước Anh. Như vậy, động từ chọn liên quan đến suy nghĩ để hành động, còn lựa lại liên quan đến hành động một việc cụ thể.

Thứ ba, kể cả hiện tượng hai từ tưởng như khác nhau mà lại có thể đồng nghĩa - đó là đồng nghĩa lâm thời. Trong ngữ cảnh sử dụng, chúng lâm thời chuyển nghĩa (mang nghĩa chuyển) tạo thành nghĩa hàm ẩn, như: Từ máy bay trong câu "Một tốp máy bay Mỹ lao đến ném bom xuống ngôi làng thân yêu của chúng tôi" có thể thay thế thành quạ sắt, diều hâu trong: Một đàn quạ sắt/ bầy diều hâu Mỹ…

3.3. Việc sử dụng cặp từ đồng nghĩa giữa từ địa phương với từ toàn dân trong Hát giặm Nghệ Tĩnh

a. Thống kê

Qua khảo sát 2 tập Hát giặm Nghệ Tĩnh, chúng tôi thu được 741 cặp giặm, trong mỗi cặp đều có sự khác biệt ít nhất là một từ và nhiều nhất là 3 từ. Tuy nhiên, điều đặc biệt là giữa hai từ khác biệt đó luôn có quan hệ trên trục hệ hình (trục lựa chọn), chúng tạo nên đặc điểm riêng, nổi trội, khác biệt của Hát giặm Nghệ Tĩnh khác với các thể loại dân ca khác ở những vùng miền khác. Mối liên kết trên trục dọc này được thể hiện ở cặp từ trái nghĩa, đồng nghĩa, liệt kê đồng loại, cùng trường nghĩa, tỉnh lược, đảo trật tự từ, từ ghép được tách thành hai từ đơn ở hai dòng khác nhau. Từ ở dòng thứ hai của cặp giặm khác với từ cùng vị trí ở dòng thứ nhất về nghĩa, được thể hiện qua bảng thống kê sau:

Qua thống kê ở bảng trên, chúng ta thấy, trong cặp giặm có hai từ xuất hiện ở hai dòng khác nhau nhưng có các quan hệ sau: (1) cùng trường nghĩa: 274, chiếm 36,97 %; (2) từ đồng nghĩa: 169, chiếm 22,8 %; (3) hai từ có quan hệ liệt kê: 136, chiếm 18,35%; (4) đảo vị trí từ ngữ: 86, chiếm 11,60%; (5) từ trái nghĩa: 38, chiếm 5,12%; (6) tách tiếng (cấu tạo từ) từ từ ghép thành từ đơn độc lập: 34, chiếm 5,12%; (7) rút bớt từ/ hoặc thêm từ: 14, chiếm 1,89%.

Như vậy, về số lượng, nhóm cùng trường nghĩa tạo nên sự khác nhau giữa hai dòng của cặp giặm chiếm số lượng nhiều nhất, nhiều thứ hai là sử dụng từ ngữ đồng nghĩa, ví dụ: Thi khoa cũng độ (đỗ)/ Thi khoa nào cũng độ (HGNT, t.2 tr.49) thì mô/ nào là cặp từ đồng nghĩa (đồng nghĩa từ địa phương với từ toàn dân). Nhóm thứ nhất cùng trường nghĩa đã được chúng tôi trình bày ở bài viết khác, sau đây, chúng tôi đi sâu phân tích nghệ thuật sử dụng từ đồng nghĩa của cặp giặm trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, đó là sử dụng từ đồng nghĩa địa phương Nghệ Tĩnh với từ toàn dân.

b. Vai trò của từ đồng nghĩa giữa từ địa phương với từ toàn dân trong cặp giặm

Việc sử dụng từ đồng nghĩa giữa từ địa phương với từ toàn dân (trong cặp giặm) trong Hát giặm Nghệ Tĩnh có những vai trò sau:

- Về chức năng, việc sử dụng từ đồng nghĩa giữa từ địa phương với từ toàn dân (trong cặp giặm) có vai trò kết nối hai dòng thơ.

Về vai trò kết nối, chúng ta thấy, giữa hai dòng thơ, hai từ đồng nghĩa góp phần liên kết về ngữ nghĩa và ngữ âm nhịp nhàng, âm tiết ở dòng trên thuộc âm vực cao (), ở dòng dước thuộc âm vực thấp (nào),  như: không/ nỏ; lưa/ còn; chi/ gì; mô/ nào

    Lấy tiền sắm áo

Lấy tiền nào sắm áo (Cởi áo đến ấm, tập 1, tr.153).

Hoặc:

Công lao chi mà kể

Công trạng mà kể (Vợ khuyên chồng bầu nghị viên, tập 2, tr.298).

Về vai trò nhấn mạnh, chúng ta thấy, việc sử dụng từ đồng nghĩa (nhắc lại nghĩa của từ lần thứ hai) có tác dụng nhấn mạnh điều mà người nói muốn thể hiện, như: ni/ này; chi/ gì; vô/ vào,… Ví dụ:

Không nghỉ ngơi một phút

Không một phút (Giữ lấy tổ quốc giữ lấy hòa bình, tập 1, tr.336).

Như vậy, việc sử dụng thành cặp đồng nghĩa (có sự lặp lại về nghĩa) nên có giá trị tạo nên sự nhấn mạnh của câu.

Vai trò nhấn mạnh này được bắt gặp trong những câu thơ sử dụng phép lặp nói chung. Trong bài thơ Ba mươi năm đời ta có Đảng của nhà thơ Tố Hữu, ta có:

Đảng ta đó, trăm tay nghìn mắt/ Đảng ta đây, xương sắt da đồng/ Đảng ta, muôn vạn công nông/ Đảng ta, muôn vạn tấm lòng niềm tin/ Đảng ta Mác - Lênin vĩ đại/ Lại hồi sinh, trả lại cho ta/ Trời ca, đất rộng bao la/ Bát cơm, tấm áo, hương hoa, hồn người (Nguồn, Nxb Giáo dục, 2003).

Thì việc lặp lại Đảng ta ở đoạn thơ trên tạo nên ý nghĩa nhấn mạnh: Đảng ta như có phép mầu nhiệm, có thể nghe hiểu thấu nỗi thống khổ cơ hàn của hàng triệu người dân, đã mang lại hạnh phúc no ấm cho dân.

Như vậy, phép lặp có hai chức năng: a) kết nối các bộ phận của câu, đoạn văn hoặc trong văn bản có liên quan với nhau, và b) đem lại những ý nghĩa tu từ để nhấn mạnh, gây cảm xúc, gây ấn tượng với người đọc, người nghe.

Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, việc sử dụng cặp từ đồng nghĩa (lặp) giữa từ địa phương và từ toàn dân cũng đảm bảo hai chức năng của phép lặp tu từ nói chung, đó là: liên kết và nhấn mạnh. Nhưng cặp giặm trong Hát giặm Nghệ Tĩnh lại có thêm chức năng thứ ba, đó là tuy đồng nghĩa (cùng nghĩa - mặt thứ nhất của tín hiệu) nhưng vỏ âm thanh của từ (mặt thứ hai - hình thức của tín hiệu) lại khác nhau nên tạo được sự khác biệt về hình thức một cách tinh tế, tạo cho câu thơ sinh động.

Ví dụ: Trăm cơn chi (gì) cũng khô,/ Ngàn cơn ông cũng đốt (Lên thiên đình xin trời mưa, tập 1, tr. 30); Trăm nghề chi không có không được,/ Vạn nghề không có không được (Kể chuyện trận lụt ở Hương Sơn năm Canh Tý, tập 1, tr. 35); Mi đến mần chi đó nữa,/ Mi đến mần đó nữa? (Kể chuyện trận lụt ở Hương Sơn năm Canh Tý, tập 1, tr. 37); Không việc chi việc khó/ Chẳng việc việc khó (Luận về đồng tiền, tập 1, 337) thì trong những ví dụ trên đại từ chi cũng có nghĩa như nhưng tránh lặp lại nặng nề.

b. Về ý nghĩa

Như chúng tôi đã trình bày ở mục 2.1, từ đồng nghĩa (từ địa phương và từ toàn dân) không có sự đồng nghĩa hoàn toàn mà có sự khác nhau về sắc thái nghĩa. Từ địa phương đã tạo nên sắc nghĩa gần gũi, tình cảm, thân thuộc giữa những con người xứ Nghệ. Còn từ toàn dân mang nghĩa khách quan, trung hòa. Trong tiếng Nghệ Tĩnh, chúng ta gặp từ nỏ đứng trước động từ, như: nỏ may (chẳng may); nỏ mần (chẳng làm), nỏ tày (chẳng bằng), nỏ trách (chẳng trách), nỏ ra răng (chẳng ra sao) thì từ nỏ thường được giải nghĩa là chẳng chứ ít khi được giải nghĩa là không [xem 2, tr.312]. Vì thế, khi ta nghe cô gái trả lời người con trai: "- Em có yêu anh không? - Em nỏ…" thì nghe đáng yêu, còn nếu trả lời "Em không" thì coi như chấm dứt.

Ví dụ: cặp từ đồng nghĩa nỏ/ không trong Hát giặm Nghệ Tĩnh:

Không đời như thế,

Nỏ đời nào như thế (Cuộc sống dưới ách nô lệ và cuộc sống độc lập, tập 2, tr.114).

 c. Về từ loại

Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, chúng tôi bắt gặp có các cặp từ đồng nghĩa về từ loại, gồm 5 dạng như sau: động từ với động từ; danh từ với danh từ; tính từ với tính từ; đại từ với đại từ; phụ từ với phụ từ. Riêng dạng đồng nghĩa số từ với số từ trong Hát giặm Nghệ Tĩnh thì có (nhị/ đôi; một/ nhất) nhưng không có từ đồng nghĩa địa phương với từ toàn dân. Chính vì vậy, tiếp theo, chúng tôi chỉ đi sâu phân tích đối với cặp đồng nghĩa giữa từ địa phương với từ toàn dân xét theo từ loại.

c1. Đồng nghĩa giữa từ địa phương với từ toàn dân là động từ. Đây là kiểu dạng được sử dụng nhiều nhất, như: vô/ vào, kinh/ sợ; thêm vào/ cộng vào; lưa/còn; cậy/ nhờ; cam/ đành; theo chân/ theo đòi; khai/ trình; giao/ nộp; qua/ về; ngong chừng/ tưởng chừng; viếng/ thăm; liệu/ lo...

Sau đây là một số ví dụ:

<1> Cha mới cam trong tâm

Mẹ mới đành trong dạ (Chữ rằng địa nghĩa tiên kinh, tập 1, tr.309).

Đây là cặp giặm trong bài "Chữ rằng địa nghĩa tiên kinh" nói về sự nuôi con vất vả, sự chịu đựng gian khổ, cam chịu cảnh nghèo đói để nuôi con trưởng thành của cha mẹ. Trong cặp giặm <1> này thì động từ cam, theo ĐTĐTV, có nghĩa: tự bằng lòng, ráng chịu, đành chấp nhận, ví dụ: Chết cũng cam; Dẫu rằng sấm sét, búa rìu cũng cam [tr.182]. Tuy nhiên từ cam vừa được dùng trong tiếng địa phương Nghệ Tĩnh (với nghĩa đành chấp nhận) vừa cả trong tiếng toàn dân. Còn đành là từ toàn dân, có 3 nghĩa: 1. Chấp thuận một cách miễn cưỡng, bắt buộc vì không thể khác hơn: đành chịu như vậy; 2. Nỡ đang tâm: Bỏ đi sao đành; 3. Vừa lòng: Chàng đành, phụ mẫu không đành cd [tr.471]. Trong ví dụ trên, đành được dùng với nghĩa 1.

<2> Gạo đang lưa tôi tím gan không nấu,

    Gạo đang còn, tôi bầm gan không nấu (Phận đàn bà con gái, tập 1, tr.267).

Cặp giặm VD <2> này được lấy từ bài "Phận đàn bà con gái" giúp chúng ta hiểu rằng chế độ phong kiến tạo ra một số người đàn ông lười lao động, phó mặc việc làm ăn vất vả, cực khổ cho vợ con, chỉ biết ăn ngon mặc đẹp, đèn sách chờ một ngày vinh hiển mà chẳng bao giờ đạt tới. Điều này gây sự phản ứng khó chịu cho người vợ đến mức "Gạo đang lưa tôi tím gan không nấu/ Gạo đang còn, tôi bầm gan không nấu", tôi chính là lời của người vợ. Trong cặp giặm, chúng ta gặp động từ lưa là từ địa phương với nghĩa còn thừa, còn dư ra: Của người ta biếu ăn không hết, còn lưa một ít thì bán bớt cũng được. Từ còn là từ toàn dân có nghĩa là chưa hết, chưa kết thúc: Kẻ còn người mất trong chiến tranh là chuyện bình thường; Chẳng còn gì để nói với nhau nữa [tr.979].

Bên cạnh hai ví dụ trên, chúng ta còn gặp những ví dụ khác: rừng xanh ẩn bóng/ Vào rừng xanh ẩn bóng (tập 2, tr.51); Thiếp mừng riêng trong dạ,/ Thiếp mừng thầm trong dạ (tập 1, tr.143); Nỡ ngồi an (yên) như thế!/ Nỡ ngồi nhìn như thế! (tập 2, tr.143).

c2. Đồng nghĩa giữa từ địa phương với từ toàn dân là danh từ

Với nhóm này, chúng ta gặp các cặp danh từ đồng nghĩa, như: Lang Sa/ Nam Triều; chỉ thời tiết: gió nam/ gió nồm; chỉ thời gian: canh khuya/ canh trường; chỉ miệng người: thế gian/ miệng đời; chỉ con vật: khái/ hùm; chỉ quyền lực: quyền nghi/ quyền hành; chỉ đồ vật trong gia đình: mâm/ mươn

<3> Đói, làng buôn ăn mâm thau

Giàu, thú quê ăn mươn(2) (mâm) ná (nứa).

Em như chiếc lá

Nằm lênh đênh giữa hồ

 Gặp trộ gió nồm đưa vô

Gặp trộ gió nam(3) đưa lại (Bỏ công em lấy chồng buôn bán miền Thanh, tập 1, tr.229).

Đoạn thơ này được trích từ bài "Bỏ công em lấy chồng buôn bán miền Thanh" nói lên nhận thức của một số phụ nữ vào giai đoạn lịch sử (đầu thế kỉ XIX) đã thay đổi. Bọn trọc phú ở nông thôn tuy giàu nhưng keo kiệt, làm giàu trên mồ hôi nước mắt của những người nông dân làm thuê một cách quá đáng. Vì vậy, chị em bắt đầu mơ ước được lấy chồng làm nghề "buôn". Chị em so sánh: Nếu lấy chồng làm nghề buôn thì dù "Đói, làng buôn ăn mâm thau" còn lấy chồng ở nông thôn làm ruộng thì "Giàu, thú quê ăn mươn(4) (mâm) ná (nứa)", tức ăn mâm đan bằng nan.

Thân phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến không còn do chính họ, gia đình họ mà lênh đênh, được ví như "chiếc bách giữa dòng", cho nên tác giả viết: Em như chiếc lá/ Nằm lênh đênh giữa hồ/ Gặp trộ gió nồm đưa vô/ Gặp trộ gió nam đưa lại.

Theo ĐTĐTV, gió nồm (dt) chỉ gió mát và ẩm ướt thổi từ phía Đông Nam tới ở Việt Nam, thường vào mùa hạ [8, tr.641]. Ở Nghệ Tĩnh còn gọi gió nồmgió nồm nam, trong ngữ cảnh này, vì sự ngắn gọn 5 âm tiết của thể hát giặm cũng như vần điệu của câu hát nên nói tắt thành gió Nam.

c3. Đồng nghĩa giữa từ địa phương với từ toàn dân là tính từ

Qua khảo sát, chúng tôi gặp các cặp tính từ đồng nghĩa, như: khoan thai/ dần dà; rân/ tràn; lo tròn/ vẹn toàn; lâu - xa/ dài; nhàu/ nát. Ví dụ:

<4> Kẻ tiền lưng đôi vạn

Kẻ tiền mặt ngàn sương

Mất một chữ tiền ngang

Kiếm nát trong bụi cơn (cây),

Kiếm nhàu trong bụi cỏ (Luận về đồng tiền, tập 1, tr.336)

Trong bài thơ "Luận về đồng tiền", chúng ta hiểu thái độ của người hát giặm là chống tư tưởng xu lợi, vì coi trọng đồng tiền thái quá, bị đồng tiền sai khiến, quên cả nhân phẩm, loạn cả phong tục lễ giáo. Trong cặp giặm <4> này, chúng ta gặp từ nhàu (tính từ) là từ địa phương đứng sau động từ kiếm có nghĩa: Người có nhiều tiền (tiền lưng đôi vạn/ tiền mặt ngà sương) chỉ rơi mất mấy trinh tiền lẻ nhưng tìm kiếm hết sức kĩ lưỡng, chi li làm cỏ cây nhàu nát do bị con người dẫm đạp lên nhiều lần. Còn từ nát (tính từ) có nghĩa: 1. Không giữ nguyên được hình thù như cũ, bị vụn, rời, hoặc mềm nhão; 2. Không giữ được trạng thái tốt, bị hư hại đến tồi tệ.

Hoặc ở cặp giặm sau, chúng ta cũng gặp cách sử dụng cặp từ đồng nghĩa giữa tiếng địa phương và tiếng toàn dân:

<5> Thấy những đá với gỗ

Chộ (thấy) săng lẻ(5) với kiền kiền(6)

Con chim hót, vượn rên

Con hùm kêu, mang toác,

Con khái (hổ) gầm, mang toác(7) (Đi phu Cửa Rào - Bài thứ hai, tập 2, tr.104).

Bài "Đi phu Cửa Rào" này xuất hiện trong thời kỳ bắt phu đi làm đường Cửa Rào. Người viết đã lột tả được cảnh bắt phu vô cùng tàn nhẫn thời bấy giờ, cũng như nỗi đau xót của những thân phận phải bỏ ruộng đất, xa lìa người thân ra đi vì cuộc khai phá bước đầu của Thực dân Pháp ở Đông Dương.

4. Đồng nghĩa giữa từ địa phương với từ toàn dân là đại từ, như: mô/ nào; sao rày/ sao đây; ni/ này; chi/ gì.

Về nhóm này, chúng ta gặp những ví dụ sau:

<6> Tính sao đây cho tiện

Tính sao rày cho tiện (Mẹ dòng than thở cùng con, tập 1, tr.294).

Hoặc:

<7> Cháy nhà mô nhà nấy

Cháy buồng trong, thềm ngoài,

Cháy sạch cả gia tài,

Có cái chi cũng cháy.

Có cơn (cây) cũng cháy (Kể chuyện giặc Pháp đốt làng Cẩm Trang, tập 2, tr, 86).

Đây là đoạn trích trong bài "Kể chuyện giặc Pháp đốt làng Cẩm Trang" năm 1886. Cẩm Trang nay thuộc xã Đức Trang, thuộc phủ Đức Thọ. Làng trù phú nhờ làm nghề đồ gốm và đốt gạch. Vâng theo lời hiệu triệu Cần vương, trai tráng làng Cẩm Trang đều đứng lên dưới cờ Phan Đình Phùng. Thực dân Pháp cho bọn cố đạo chiêu dụ thanh niên trai tráng trong làng nhưng vô hiệu quả nên chúng đã đốt làng để báo thù. Người sáng tác là một trong những nạn nhân trong làng đã phản ánh mối uất hận của nhân dân Cẩm Trang đối với bọn giặc cướp nước. Trong cặp giặm, người viết đã sử dụng cặp từ đồng nghĩa, trong đó có từ địa phương chi đồng nghĩa với từ toàn dân để nói tội ác của bọn giặc đốt hết mọi thứ trong làng.

Hoặc ở bài "Nghĩa quân Bang Ninh hạ thành Hà Tĩnh", người viết là Lê Trọng Đôn kể lại cuộc dấy quân do Lê Ninh lãnh đạo. Cuộc dấy quân này có hai mặt, mặt tốt là chống lại sự xâm lược của Thực dân Pháp nhưng mặt xấu là gây xung đột lương giáo làm cho nhân dân vô cùng cực khổ.

<8> Sức phu ứng chực,

Ra án ngự địa cầu

Nào tranh, củi, tre, dầu

Biết chừng hao tốn

Biết chừng nào hao tốn (Nghĩa quân Bang Ninh hạ thành Hà Tĩnh, tập 2, tr.77).

c5. Đồng nghĩa giữa từ địa phương với từ toàn dân là phụ từ, như: nỏ/ không (có khi gặp: không gì/ nỏ chi).

Qua thống kê, chúng tôi chỉ bắt gặp cặp giặm chứa hai phụ từ đồng nghĩa là không/ nỏ. Tuy chỉ có một cặp đồng nghĩa nhưng chúng lại xuất hiện đến 15 lần. Điều này nói lên ở Nghệ Tĩnh, từ địa phương và từ toàn dân đồng nghĩa cùng song song tồn tại, và chúng còn được đưa vào trong thơ. Ở những vùng miền khác, như Nam bộ thì người nói chỉ sử dụng một khả năng: từ địa phương. Ví dụ: Bắt con cá lóc nướng trui,/ Làm mâm rượu trắng đãi người phương xa [Ca dao Nam bộ; 475] thì từ địa phương Nam bộ nướng trui chỉ xuất hiện độc lập. Còn trong cặp giặm của Hát giặm Nghệ Tĩnh lại xuất hiện cả từ địa phương và từ toàn dân, như nỏ/ không.

<10> Mẹ mi này nghĩ lại,

Đừng dức lác (la mắng) mà rầy rà,

Tại thầy đóng hướng nhà,

Vợ chồng ta nỏ nhác (lười)

Đôi ta rày không nhác.

Ta cũng không say cờ bạc

Nỏ đằm thắm rượu chè (Đêm nằm nghĩ lại việc nhà, tập 1, tr.69).

Đoạn thơ này trích từ bài "Đêm nằm nghĩ lại việc nhà" kể về năm xảy ra nạn hạn hán mất mùa đã làm cho người dân Nghệ Tĩnh đói khổ. Tuy vậy, những người dân mất mát đó vẫn lạc quan, vẫn tin tưởng vào ngày vụ mùa bội thu, họ vẫn kiên trì xây dựng cuộc sống mới. Đoạn thơ là lời người chồng khuyên vợ "nghị lực" để tiếp tục lao động cho ngày mai tươi sáng.

Bên cạnh 5 nhóm đồng nghĩa ở cấp độ từ, chúng tôi còn gặp đồng nghĩa ở cấp độ ngữ, đó là đồng nghĩa giữa ngữ động từ, ngữ tính từ, ngữ danh từ địa phương Nghệ tĩnh với ngữ động từ, tính từ, danh từ toàn dân, như: rượt mình không/ thỏa mình trần; có làm chi/ có làm gì; chi vinh hơn/ nỏ chi bằng; công chi/ chuyện gì; ngồi yên - ngồi an/ ngồi nhìn; một khi/ một lần; mừng riêng/ mừng thầm. Do giới bạn của bài viết, chúng tôi chưa trình bày trong bài viết này được.

4. Kết luận

Từ thực tế phân tích nghệ thuật sử dụng từ đồng nghĩa qua cặp giặm trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, chúng tôi đi đến kết luận đây là tài năng, sự sáng tạo, tính sâu sắc nhưng tinh tế về ngôn ngữ của người dân Nghệ Tĩnh, họ đã sáng tạo ra một thể loại hát giặm, gần với ngôn ngữ nói hàng ngày nhưng lại mang đặc sắc riêng, không pha trộn vùng miền nào khác. Thể hát giặm chỉ là lời kể tâm tình của cá nhân ai đó với người nghe về những khó khăn, nghèo đói, sự chịu đựng gian khổ dưới ách thực dân, phong kiến, sự lam lũ chịu đựng mưa nắng trước thiên nhiên khắc nghiệt để kiếm miếng cơn manh áo mà lời ca thể hát giặm vẫn cất lên, bay bổng, vượt qua thời gian đến nay và mai sau vẫn còn đọng lại trong tâm trí của mọi tầng lớp người dân xứ Nghệ nói riêng, người dân Việt Nam nói chung.

 

Chú thích

(1). Hiện là PGS. TS, chủ nhiệm bộ môn Ngôn ngữ học, khoa Ngữ văn, đồng chủ nhiệm chuyên ngành đào tạo Cao học và NCS Ngôn ngữ Việt Nam, Đại học Vinh.

(2). (4). Mươn: có nghĩa là mâm nan.

(3). Gió nam: tức gió nồm nam.

(5). Săng lẻ: Một loại gỗ.

(6). Kiền kiền: Một loại gỗ tốt, cứng, hiếm có.

(7). Mang toác: Những hình tượng này dùng để nói lên chỗ rừng xanh núi thẳm, sào huyệt của thú rừng.

Tài liệu tham khảo

1. Lê A - Đỗ Xuân Thảo, Giáo trình tiếng Việt 2, Nxb ĐHSP, H, 2013.

2. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên), Phan Mậu Cảnh, Hoàng Trọng Canh, Nguyễn Hoài Nguyên, Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1999.

3. Đỗ Hữu Châu, Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H, 1981.

4. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng  Việt, Nxb Giáo dục, 1990.

 5. Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt, Nxb ĐH và THCN, H, 1985.

  6. Đỗ Thị Kim Liên, "Nghệ thuật sử dụng số từ phản ánh đặc trưng văn hóa xứ Nghệ trong Hát giặm Nghệ Tĩnh", Kỷ yếu HTKH Ngữ học trẻ, 2016.

7. Nguyễn Như Ý (chủ biên ), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, H, 1996.

8. Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2007.

9. Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Hát giặm Nghệ Tĩnh, tập 1, năm 1962, Hà Nội, Nxb Sử học; tập 2, 1963, Nxb Khoa học.

MỐI LƯƠNG DUYÊN GIỮA PHẬT GIÁO VỚI LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM

GS. Nguyễn Đình Chú

Lịch sử văn học Việt Nam đã phát triển trong sự ảnh hưởng của nhiều tôn giáo, nhiều học thuyết trong đó có Phật giáo với tư cách vừa là một tôn giáo vừa là một học thuyết. Yêu cầu tối đa của khoa văn học sử Việt Nam là khôi phục triệt để diện mạo văn học sử Việt Nam. Do đó, không thể không khôi phục diện mạo quan hệ giữa văn học Việt Nam với các tôn giáo và các học thuyết. Đây là một vấn đề rất lớn cũng có thể nói là cơ bản nhưng còn là một lỗ hổng đòi hỏi nhiều công sức của nhiều người, nhiều đơn vị khoa học liên quan đến khoa văn học sử Việt Nam. Hội thảo khoa học do Trung tâm nghiên cứu tôn giáo và khoa Ngữ văn của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức lần này với chủ đề Văn học Phật giáo Việt Nam là một sự kiện có ý nghĩa tiên phong và rất cần thiết.

Công cuộc khôi phục diện mạo văn học Phật giáo Việt Nam trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam cần được thực hiện theo hai hướng chính: tổng thể và bộ phận. Tổng thể là để có được cái nhìn bao quát của văn học Phật giáo trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam. Bộ phận là công việc đi sâu tái hiện diện mạo từng giai đoạn cụ thể, từng hiện tượng cụ thể của văn học Phật giáo trong lịch sử văn học Việt Nam. Kết quả nghiên cứu từ sự góp công của hai hướng nghiên cứu đó sẽ cho ta thành tựu nghiên cứu khôi phục diện mạo văn học Phật giáo trong lịch sử văn học Việt Nam.

Bản tham luận này chỉ xin bàn đến một vấn đề chung nhất là mối lương duyên giữa Phật giáo với lịch sử văn học Việt Nam. Mong rằng sẽ từ vấn đề chung nhất này mà tiến tới việc tái hiện diện mạo của văn học Phật giáo trong lịch sử văn học Việt Nam.

1. Sự khác biệt về con đường du nhập Việt Nam giữa Phật giáo và Nho giáo

Nho giáo du nhập vào Việt Nam bắt đầu từ thời nào thì đã rõ. Đó là thế kỷ thứ nhất của công nguyên trong cuộc xâm lăng Việt Nam của nhà Hán phong kiến Trung Hoa. Còn Phật giáo đầu tiên là lúc nào thì về học thuật không đơn giản. Bởi nó liên quan đến địa lý lịch sử Việt Nam trong đó có địa giới đất nước trên đường mở rộng cương vực lãnh thổ từ Bắc vào Nam không cùng một lúc. Một thời đã tưởng Bắc trước nghĩa là từ Ấn Độ qua Trung Hoa mà đến nhưng nay lại thấy không chừng Nam trước một khi còn là Phù Nam, Thủy Chân Lạp vốn theo đường biển thì gần với quê hương Phật giáo hơn. Chưa kể là chuyện Phật giáo vào Việt Nam bằng đường nào? Có thời chỉ nói từ phương Bắc. Nhưng nay thì còn nói từ phương Nam, qua Ai Lao mà đến. Tạm thời thì vẫn cho rằng Nho giáo và Phật giáo tuy trước sau có ly lai ít nhiều nhưng vẫn coi như cùng thời với nhau vào đầu công nguyên. Chuyện du nhập là thế, nhưng quan trọng hơn lại chính ở vấn đề đặc trưng bản chất của sự du nhập là cơ bản khác nhau giữa Nho giáo và Phật giáo mà đã ảnh hưởng khác nhau tới sự sống Việt Nam, văn hóa Việt Nam trong đó có văn học Việt Nam. Cụ thể là như sau: trong khi Nho giáo vào bằng cách theo sau chân đoàn quân xâm lược thì ngược lại Phật giáo vào Việt Nam bằng con đường dân sự tự nguyện. Sự tồn tại của Nho giáo và Phật giáo ở Việt Nam cũng rất khác nhau. Với Nho giáo là sự xâm nhập vào đời sống chính trị xã hội, vào công cuộc thiết chế hóa xã hội Việt Nam trong đó có mặt lợi và bất lợi cho Việt Nam. Trong khi Phật giáo vào Việt Nam tuy có lúc cũng tham gia vào đời sống chính trị của Việt Nam nhưng chủ yếu là với vai trò chăm lo, vun xới kể cả sự cứu rỗi đời sống tâm hồn tâm linh Việt Nam, đặc biệt là với quần chúng khổ đau của Việt Nam. Nó cũng có chuyện thiết chế hóa cuộc sống nhưng đó chỉ thuộc phạm vi giáo hội chứ không phải xã hội dù có ít nhiều liên quan với nhau. Nho giáo tồn tại trên đất nước ta ở thời trung đại theo hai qui luật. Một qui luật là gắn với cuộc xâm lăng của nhà Hán và các cuộc xâm lăng về sau của các thế lực phong kiến Trung Hoa. Một qui luật khác là thuộc tự thân của văn hóa trong đó có sự lan tỏa ảnh hưởng của một nền văn hóa lớn đối với các nền văn hóa thấp bé so với văn hóa Trung Hoa trong cùng khu vực. Bởi thế mà một khi kẻ xâm lược đã phải cút khỏi Việt Nam thì thứ văn hóa Trung Hoa gắn với xâm lược đó cũng đã phải cút theo. Nhưng với qui luật thứ hai thì kẻ xâm lược Trung Hoa cút rồi nhưng văn hóa Trung Hoa vẫn ở lại để nâng đỡ văn hóa Việt Nam phát triển. Thử hỏi nếu không có qui luật thứ hai này thì văn hóa Việt Nam trung đại trong đó có văn học Việt Nam trung đại làm sao có được như những gì đã có để con cháu Việt Nam đời đời tự hào. Tất nhiên, ở đây với Việt Nam ta lại có qui luật tiếp biến (acculation) và thoát Hán trên con đường phát triển văn hóa dân tộc, văn học dân tộc. Ở thời Pháp thuộc, các qui luật đó vẫn diễn ra như thế. Trong khi văn hóa Phật giáo với nước ta thì chỉ có qui luật thứ hai là tiếp nhận và tiếp biến theo yêu cầu xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc. Phật giáo đã đến mà trước sau chỉ để cùng dân tộc ta, văn hóa dân tộc ta đồng hành, phát triển. Lịch sử văn học Việt Nam đặc biệt là thời trung đại đã được thụ hưởng tính ưu việt của mối lương duyên đó của Phật giáo với Việt Nam vốn khác với Nho giáo.

2. Tính ưu việt và sự hạn chế của Phật giáo so với Nho giáo trong đời sống văn học Việt Nam

 Hãy nói trước về Nho giáo, mặc dù đụng đến Nho giáo là đụng đến vấn đề vô cùng phức tạp, không đơn giản chút nào trong tình hình học thuật. Chẳng phải là trong quá khứ, trên quê hương của Nho giáo cũng như ở nước Việt Nam ta, Nho giáo đã được tôn sùng hết mực. Nhưng từ ngày có cuộc đụng độ Đông Tây thì Nho giáo đã bị dồi lên dồi xuống đến thảm hại. Học giả Trần Trọng Kim là một trường hợp hiếm hoi, viết sách Nho giáo với một tâm thế, một bản lĩnh vững chãi, chỉ ra đâu là chỗ được đâu là chỗ chưa được của Nho giáo thì đã bị cụ Tú Phan Khôi phản bác điều này điều nọ một khi cụ đã ít nhiều thuộc khuynh hướng bài Nho. Đặc biệt đến thời đại mới thì học giả họ Trần còn bị lên án về tội phục hồi tư tưởng phong kiến lạc hậu phản động để phục vụ chế độ thực dân (!). Và có một luận điểm từng ngự trị tình hình học thuật ở miền Bắc rằng: Nho giáo là phản động. Dân tộc ta tồn tại được là nhờ chống được Nho giáo. Chịu ảnh hưởng luận điểm của vị có quyền cao chức trọng này mà đã có ý kiến cho rằng vào những năm 30 của thế kỷ XX, nhà đại chí sĩ Phan Bội Châu viết Khổng học đăng là hiện tượng "lại giống" vì trước đó Cụ đã từ bỏ Nho giáo khi trong bài thơ Xuất dương lưu biệt ( 1905) đã viết "Sách vở ích gì cho buổi ấy/ Hiền thánh còn đâu học cũng hoài". Nhưng xem ra, thời gian lại đang có chiều hướng ủng hộ Nho giáo. Theo đà tiến triển đó, có thể nói được rằng ưu điểm nổi bật nhất của Nho giáo là tinh thần nhập thế. Trong các học thuyết của nhân loại cổ kim Đông Tây, thiết tưởng, không một học thuyết nhập thế nào có tác dụng thực tiễn lớn lao và có sức sống bền vững bằng Nho giáo mặc dù Nho giáo vẫn có không ít hạn chế, vẫn cũng như bất cứ học thuyết nào, hay đến mấy, tích cực đến mấy, cũng không ôm hết mọi yêu cầu của cuộc sống nhân gian. Nói đến thành tựu của văn học Việt Nam thời trung đại, không ai không thấy, cả trên hai phương diện lý thuyết và thực tiễn sáng tác đều đã gắn bó với cuộc sống Việt Nam, con người Việt Nam. Thành tựu cơ bản và cao diệu mang giá trị hiện thực đó của văn học Việt Nam thời trung đại chẳng lẽ lại không liên quan gì với tinh thần nhập thế của Nho giáo. Trần Đình Hượu, vị chuyên gia hàng đầu về Nho giáo mà tôi rất kính nể đã cho rằng Nho giáo không thể dẫn đường cho văn học đến được với chủ nghĩa hiện thực. Tôi nghĩ khác, Nho giáo là thuộc văn hóa, phương Đông, triết học phương Đông vốn là sản phẩm của tư duy mang tính chất cầu tính (globale, sphèrique), chủ toàn, sao lại bắt nó phải nhập vào chủ nghĩa hiện thực của văn hóa phương Tây, triết học phương Tây, vốn thuộc kiểu tư duy tuyến tính (linếaire), chủ biệt, giàu khả năng phân tách (analytique) khác với tư duy phương Đông thiên về tư duy hỗn hợp        (syncrétique). Phải chăng khuynh hướng "dĩ Âu vi Trung" ít nhiều, đã và đang ngự trị nền học thuật của nước nhà mà có cách nghĩ về quan hệ giữa Nho giáo với chủ nghĩa hiện thực trong văn học như vậy. Nói rộng ra một chút như thế là để nói rằng Nho giáo, với tính chất nhập thế sâu đậm và ưu việt của nó đã là điều cần thiết đối với văn học Việt Nam. Dĩ nhiên hạn chế của Nho giáo đối với văn học mà trước hết là chưa phát hiện được con người cá thể (L' individu) vốn thuộc yêu cầu khám phá sâu nhất của sáng tác văn chương. Mặc dù Nho giáo đã rất coi trọng cái Tôi đạo lý với các mệnh đề như: độc thiện kỳ thân, quân tử thân kỳ độc, nhất nhật tam tỉnh ngô thân…

Tính ưu việt của Nho giáo cũng là từ bản chất nhập thế mà chăm lo vun xới bồi đắp đạo đức làm người mà xem ra cũng không một học thuyết nào của nhân loại đã có được như thế. Nền văn học nào thì cũng là sản phẩm của một môi sinh xã hội, liên quan đến một thể chế chính trị. Môi sinh của văn học Việt Nam thời trung đại là chế độ phong kiến Việt Nam mà từ lâu, với những người quen nhìn từ góc nhìn của lý thuyết hình thái xã hội của phương Tây một cách thô thiển thì hầu như chỉ thấy mặt tối mà ít thấy mặt sáng của nó. Không thấy nó là chế độ phong kiến nhưng là phong kiến đức trị trong đó có sự tích hợp giữa truyền thống đạo đức bản địa và học thuyết đức trị của Nho giáo, tích hợp giữa học thuyết đạo đức của Nho giáo với học thuyết đạo đức của Phật giáo trong mối quan hệ Tam giáo đồng nguyên, nên đã tạo được cho đất nước một bầu khí quyển đạo đức tốt lành và đậm đặc mặc dù vẫn không thoát được qui luật thiện ác tương tranh của cuộc sống nhân gian. Chính từ khí quyển đạo đức đó mà đất nước đã có được mẫu người quân tử, cao nữa là mẫu nhà Nho nghĩa khí đáng kính nể trong muôn đời, vốn là một bộ phận của lực lượng sáng tác trụ cột của văn học Việt Nam thời phong kiến đức trị trung đại, đậm đà chủ nghĩa nhân văn, nhân bản. Tất nhiên, đạo đức của Nho giáo cũng đã không thoát khỏi hạn chế ở phần nào là tính cứng nhắc trong các nguyên lý đạo đức nêu lên, ở quan điểm đối với phụ nữ, ở chỗ thiếu tính dân chủ, một phương diện cốt lõi của tinh thần nhân văn trong sự sống nhân loại dù cho đã có sự bù lại bằng đạo đức.

 Nho giáo là như vậy. Còn Phật giáo?

 - Trước hết với Phật giáo là một sự ám ảnh, một sự cảm nhận sâu sắc, nặng nề, bao quát mà không một tôn giáo, một học thuyết nào của nhân loại cổ kim Đông Tây có đến mức như thế là về sự đau khổ của loài người, của chúng sinh. Đời là bể khổ. Đời có đến bát khổ (tám sự khổ: sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, cầu không được là khổ, xa lìa người thân là khổ, gặp gỡ kẻ oán là khổ, thân tâm không điều hòa là khổ). Chính đây là giao điểm sâu keo nhất giữa Phật giáo với qui luật cơ bản nhất, nền tảng nhất trong muôn đời của sự kết tinh văn học của nhân loại cổ kim Đông Tây trong đó có văn học Việt Nam. Trong sự sống của nhân loại, với muôn đời, vẫn có vui có buồn, có hạnh phúc, có buồn đau và có văn chương nghệ thuật. Nhưng thử hỏi trong văn chương nghệ thuật dù có đủ vui buồn và sướng khổ, hạnh phúc và bất hạnh, nhưng độ kết duyên thì thiên về bên nào? Vui hay buồn? Sướng hay khổ? Hạnh phúc hay bất hạnh? Câu trả lời hẳn là với buồn hơn vui, với khổ hơn sướng, với bất hạnh hơn hạnh phúc. Tại sao vậy? Tại vì về hiện tượng luận tâm lý mà nói thì cái vui tự nó đã có sự phơi bày, hả hê, phát tỏa. Trong khi với cái buồn thì muốn thoát cũng không dễ gì thoát được. Uất nghẹn là đặc trưng bản chất của cái buồn, cái đau. Chưa nói là cái buồn đau thì bao giờ cũng thật trăm phần trăm. Trong khi cái vui thì xen với cái giả dối nào có ít. Câu thơ Kiều chẳng đã nói lên điều đó: Vui là vui gượng kẻo mà/ Ai tri âm đó mặn mà với ai. Trong văn chương, từ lý thuyết đến thực tiễn, chẳng phải thế ư? Về lý thuyết chỉ thấy nói:"Thi dĩ bi vi mỹ" (Thơ lấy cái buồn làm đẹp), "Khi trong lòng có điều uất phát ra thành lời, ấy là văn chương vậy". Đành là văn chương cũng nói, thậm chí nói nhiều đến cái vui, nhưng sao chưa thấy đâu nói "Thi dĩ hoan (lạc) vi mỹ". Hay "khi trong lòng vui hơn hớn phát ra thành lời ấy là văn chương vậy". Dĩ nhiên, trong văn chương cũng có chủ nghĩa lãng mạn, đặc biệt là lãng mạn cách mạng. Nhưng thành tựu của thứ văn chương đó chắc chắn là không địch nổi văn chương "dĩ bi vi mỹ". Chúng ta hiểu ý nhà văn Nguyễn Khải muốn nói gì khi ông viết bài "Cái thời lãng mạn". Thực tiễn văn chương, chỉ nói riêng văn chương Việt Nam ta chẳng phải thế ư? Có đủ buồn vui. Nhưng đỉnh cao diệu nhất là đâu? Nếu không phải là Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm (?), Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều... Duy có một đỉnh cao ngất đã kết tinh từ niềm vui chiến thắng hào hùng của dân tộc là Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi nhưng niềm vui ngút trời đó chẳng đã phải đi qua nỗi đau tày trời "Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn/ Vùi con đỏ xuống hầm sâu tai vạ" đó sao? Trong lịch sử văn chương Việt Nam ta, cũng có những văn phẩm reo vui nhưng lấy đâu ra tầm cỡ của Bình Ngô đại cáo - thiên cổ hùng văn. Cũng phải nói rộng dài một chút như thế để thấy trong cuộc giao duyên giữa Phật giáo và văn chương nói chung, văn chương Việt Nam nói riêng, trước nỗi đau nhân thế là một cuộc giao duyên không gì gắn bó sâu keo hơn.

- Với Phật giáo, từ sự ám ảnh nặng nề về nỗi khổ nhân gian là tình thương con người cũng bao la thăm thẳm trong đó có chứa cả tinh thần dân chủ mà thiết tưởng cũng không một tôn giáo nào, một học thuyết cổ kim Đông Tây nào sánh kịp. Chẳng phải bởi thế mà nhà khoa học vĩ đại nhất của thế kỷ XX, Anhxtanh, người châu Âu, năm 1947, đã nói với Thủ tướng Ấn Độ Nêrhu trên đất Hoa Kỳ: "nếu cần một tôn giáo cho cả vũ trụ thì không gì bằng Phật giáo"(1). Trong cuộc giao duyên với Phật giáo, văn chương nhờ đó mà có thêm một nền tảng vững chắc không gì bằng cho sự thăng hoa của văn chương trước hết là từ tình thương con người. Văn chương muốn có sự thăng hoa thì cần rất nhiều điều kiện, đặc biệt là phải có năng khiếu bẩm sinh trời cho nhưng nếu không có gốc rễ vững bền là tình thương con người thì lấy đâu ra thiên tài văn chương. Văn chương nhân loại cổ kim Đông Tây, văn chương Việt Nam ta xưa nay, chẳng phải là thế ư? Ai bác bỏ được qui luật này trừ khi không hiểu qui luật. Nguyễn Du là thiên tài văn chương của Việt Nam. Về quan niệm triết học của Nguyễn Du với những mệnh đề tài mệnh tương đố, tu là cõi phúc tình là giây oan, kể cả xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều… thì đâu của Nguyễn Du, đều lấy từ sách vở Trung Hoa, Ấn Độ cả đấy thôi. Và nếu so Nguyễn Du của Việt Nam với Sếchxpia của nước Anh thì Nguyễn đâu bằng về triết lý nhân sinh, nhưng về tình thương con người trong văn chương thì hỏi Nguyễn Du nào có thua Sếchxpia, kể cả bất cứ thiên tài nào của nhân loại. Tôi muốn nói: không có Phật giáo mang nặng tình thương con người bao la bát ngát như thế để kết duyên với truyền thống nhân ái bản địa Việt Nam thì dễ gì đã có thiên tài Nguyễn Du. Mà đâu chỉ với một Nguyễn Du. Điểm nổi bật nhất trong thành quả văn học Việt Nam thời trung đại là từ giá trị hiện thực mà trào dâng một chủ nghĩa nhân văn trong đó yếu tố cốt lõi là tình thương người thì đều từ cội nguồn đó.

-  Cũng đã nói, học thuyết nào có cao siêu diệu vợi đến đâu cũng không ôm hết cuộc sống nhân gian. Nó vẫn có hạn chế. Nho giáo đã thế. Phật giáo cũng thế. Phật giáo chuyên tâm cứu rỗi, giải thoát con người khỏi khổ đau, nhưng Phật giáo không lo được phần xác cho nhân quần trong khi muốn có phần xác thì lại phải hướng con người vào cuộc sống vật chất trần gian của nó để khám phá, phân tích, mổ xẻ, đấu tranh, tìm hạnh phúc. Chức năng của văn chương muôn đời vẫn phải xông pha vật lộn với miếng cơm, manh áo. Ở phương diện này, rõ ràng Phật giáo có hạn chế đối với văn chương.

3. Mối lương duyên giữa Phật giáo với văn chương so với Nho giáo từ góc nhìn tư duy luận

Phật giáo cũng như Nho giáo và văn chương đều là sản phẩm của tư duy, có phong cách tư duy riêng. Tư duy của văn chương vốn là thiên hình vạn trạng. Trong văn chương có bao nhiêu thể loại (genre littéraire) với bao nhiêu thể tài (forme littếraire) thì có bấy nhiêu trạng thái tư duy. Chưa nói là các trạng thái tư duy đó lại còn có sắc màu cá nhân, giới tính, lứa tuổi, trình độ văn hóa, dân tộc, khu vực Đông Tây… Tuy vậy, vẫn có nét chung của tư duy văn chương mà trước hết là văn chương mỹ học (littérature esthétique) là trạng thái cầu tính (globale, sphèrique) mang tính hỗn hợp (syncrétique) gồm các thành tố tư tưởng, ý thức, tiềm thức, tiền ý thức, cảm xúc, hữu thức, vô thức, hữu lý, phi lý… Tư duy Nho giáo nhìn chung là thiên về lý tính, về logic và gắn với bản chất nhập thế nên cũng thiên về hướng ngoại. Do đó nó tương/ thích và phù hợp với văn chương chính luận mà không phù hợp với thơ trữ tình vốn đòi hỏi cao nhất về thi tình, đặc biệt là thi hứng. Trong khi Phật giáo lấy chữ Tâm làm đầu thì tư duy lại thiên về hướng nội. Hướng nội là đi sâu vào cõi tâm linh vốn dĩ vô cùng phong phú, vô cùng huyền diệu, kể cả sự bí ẩn trong đời sống tinh thần, đời sống tâm thức của con người. Ở đây cũng là một hỗn hợp gồm có lý trí, cảm thức, vô thức, tiềm thức, tiền ý thức, tuệ giác, đốn ngộ, diệu ngộ, thiền định, nhập thiền… Một trạng thái tư duy bề thế, độc đáo như thế đã cho phép nói đến tâm lý học Phật giáo mà đó đây đã có ít nhiều thành tựu khoa học với những khái niệm đáng kể. Có thể nói tư duy Phật giáo gần gũi với tư duy văn chương, có lợi cho văn chương hơn so với tư duy Nho giáo. Dĩ nhiên, mối quan hệ giữa tư duy Phật giáo với văn chương còn phụ thuộc vào loại hình, loại thể văn chương. Với văn chương chính luận thuyết lý, tư duy Phật giáo hỗ trợ đắc lực trong việc nâng cao tính chất triết lý cao siêu hơn cả những gì mà Nho giáo đã hỗ trợ. Về thơ ca, tư duy Phật giáo với đặc trưng trực cảm, với khả năng thâm nhập đời sống tâm linh là rất thuận lợi. Dĩ nhiên, tư duy Phật giáo lại kém thua tư duy Nho giáo ở yêu cầu phân tích, mổ xé cuộc sống trần gian. Thêm nữa, cũng như Nho giáo với tinh thần phi ngã, Phật giáo với tinh thần vô ngã có phần còn triệt để hơn cả phi ngã của Nho giáo, đều là bất lợi cho văn chương vốn rất cần khám phá không chỉ thế giới con người cộng đồng mà còn là con người cá thể (L'individu).

4. Thoáng nhìn về văn học Phật giáo trong lịch sử văn học Việt Nam

4.1. Văn học Phật giáo là ngọn nguồn của văn học bác học, văn học viết Việt Nam: Mặc dù các sách văn học sử Việt Nam, kể cả các sách giáo khoa văn học trong nhà trường hiện thời vẫn nói văn học viết nước ta có từ thế kỷ thứ 10 nhưng Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử (1942) thì đã nói về Thời kỳ phát đoan của văn học cổ Việt Nam ở thời Bắc thuộc với ba sự kiện tác phẩm của Lý Cầm, Sĩ Nhiếp, Khương Công Phụ. Sau này, Lê Mạnh Thát, Thích Nhất Hạnh lại cho biết nhiều thêm là ở cuối thế kỷ thứ hai có Mâu Tử (Mâu Bác) không phải người Giao Chỉ nhưng đã sống và viết tác phẩm Lý hoặc luận trên đất Giao Chỉ. Ở thế kỷ thứ ba, có người Giao Chỉ là Đạo Thanh dịch Kinh Pháp Hoa tam muội nhân dịp nhà sư Chí Cương Lương Tiếp từ Ấn Độ sang Giao Chỉ; có các dịch phẩm: Kinh Bát thiên tụng bát nhã, Ngô phẩm (không còn) và các công trình biên soạn, biên tập: Lục độ yếu mục (không còn), Nê hoàn phạm bối (không còn), Lục độ tập kinh, Cựu tạp thi dụ kinh, Pháp cảnh kinh, Đạo thọ kinh… của Khương Tăng Hội, gốc người Khương Cư (vùng      Sogdiane nay là Udơbếch) tổ tiên trước đến sống ở Ấn Độ sau chuyển sang sống ở Giao Chỉ lấy vợ sinh ông. Ở thế kỷ thứ tư có tác phẩm Triệt tâm ký của Chí Hàm. Ở thế kỷ thứ năm có Cao Minh nhị Pháp sư đáp Giao Châu Lý Miễu nạn Phật bất kiến hình sự gồm sáu bức thư tranh luận về Phật pháp giữa hai nhà sư người Giao Chỉ là Đạo Cao và Pháp Minh cùng một vị quan người Trung Hoa là Lý Miễu. Ở thế kỷ thứ sáu có bài kệ của Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Pháp Hiền được chép lại trong Thiền uyển tập anh. Ở thế kỷ thứ bảy và tám có các tác phẩm Câu xá luận ký, Duy thức chí nguyện, Đại thừa bách pháp minh môn luận thuyết ký, Luận duyên sinh, bài thơ Thương Đạo Hy pháp sư của Đại Thừa Đăng…

Từ tình hình thư tịch đó trên đất Giao Chỉ ở thời Bắc thuộc, trước đây, trong bài Vị trí của văn hóa Phật giáo trong lịch sử văn hóa Việt Nam(2), tôi đã nêu kết luận: nếu văn hóa dân gian là ngọn nguồn của văn hóa Việt Nam thì văn hóa Phật giáo, chứ không phải văn hóa Nho giáo, đã là ngọn nguồn của văn hóa bác học Việt Nam. Cũng từ tình hình thư tịch đó, tôi cũng đã nêu hệ luận: văn học Phật giáo là ngọn nguồn của văn học bác học, văn học viết Việt Nam. Trước tôi, nhà cổ học Trần Văn Giáp cũng đã nói: Văn hóa cũng là văn học. Nói thế là căn cứ như sau:

a) Nguyên hợp - văn sử triết bất phân, văn sử bất phân - là đặc điểm của văn hóa sơ khai kể cả văn hóa thời trung đại dù đã có mầm mống phân tách. Hiện tượng văn tách khỏi sử, khỏi triết thì phải đến phạm trù văn hóa hiện đại dù cho trong văn vẫn có sử có triết nhưng sự hiện diện của sử, của triết ở đây không như ở văn học thời cổ trung đại.

b) Cũng từ tình hình thư tịch đó, từ góc nhìn văn học, đã có thể nói đến các thành tố của văn học Việt Nam thời Bắc thuộc bao gồm: chữ viết là chữ Hán đọc theo âm Hán Việt và bắt đầu có hiện tượng tá âm mà có người muốn coi đó là mầm mống đầu tiên của chữ Nôm về sau. Thời cổ đại này cũng có một vài dấu tích mà có người đã muốn cho đó là văn tự cổ của Việt Nam nhưng chẳng để lại gì là dấu tích văn học. Với văn học viết là chữ Hán đã có các thể loại văn học: kinh, kệ, sấm vĩ, thơ, luận thuyết, đối thoại, thư tín.

c) Về nội dung thì chủ yếu vẫn là nội dung tuyên giáo, hoằng dương Phật đạo, Phật pháp, Phật thuyết. Trong đó ít nhiều có sự tranh luận, tranh chấp với Nho giáo, Đạo giáo. Theo Nguyễn Đổng Chi thì cũng đã có một số nhà thơ Việt Nam sang Trung Hoa cùng xướng họa với các nhà thơ Trung Hoa đời Đường. Đặc biệt trong một thư tịch đã có mầm mống tư tưởng chống chủ nghĩa Đại Hán. Đã có hiện tượng dùng chữ viết ghi chuyện dân gian, trùng với một số chuyện sau này được ghi lại trong công trình Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi.

4.2. Văn học Phật giáo ở thời trung đại:

4.2.1. Nội hàm của khái niệm văn học Phật giáo: Văn học Phật giáo trước hết là văn học của các tăng lữ, của các Phật tử có nội dung trực tiếp thể hiện lý tưởng, tư tưởng, cảm hứng Phật đạo. Kể cả văn học của các tác giả tuy không phải tăng lữ, hoặc chưa hẳn là Phật tử nhưng tác phẩm vẫn thể hiện lý tưởng, cảm hứng Phật đạo một cách trực tiếp, ví như Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, Hương Sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh, hai vị có mặt trong cuộc đời chủ yếu vẫn với tư cách Nho gia. Ngoài ra cũng phải tính đến cả ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo trong những tác phẩm không thuộc văn học Phật giáo nhưng có ảnh hưởng của Phật giáo ví như Truyện Kiều của Nguyễn Du.

4.2.2. Văn học Phật giáo thời đại Lý Trần: Công trình Văn học Phật giáo thời Lý Trần - Diện mạo và đặc điểm của PGS.TS. Nguyễn Công Lý đã rất phong phú. Ở đây chỉ xin nêu một số điều cơ bản:

4.2.2.1. Đây là thời kỳ văn học của Nho gia đã có mặt bề thế hơn hẳn thời Bắc thuộc nhưng văn học Phật giáo vẫn là bộ phận chủ công của lịch sử văn học dân tộc. Nói chủ công là bởi tác gia làm nên thời đại văn học này, đặc biệt ở thời nhà Lý, phần lớn vẫn là các tăng lữ. Sang thời nhà Trần, tuy số lượng tác gia tăng lữ đã ít đi so với tác gia Nho học nhưng những tác gia Nho học này hầu hết vẫn chịu ảnh hưởng Phật đạo. Bởi thời đại Lý Trần là thời đại Tam giáo đồng nguyên, Nho - Phật - Đạo chung nhau tìm hiểu tiểu sử của các tác gia văn học có mặt trong bộ sách Văn thơ Lý Trần gồm ba tập của Viện Văn học sẽ thấy như thế.

 4.2.2.2. Văn học Phật giáo thời đại Lý Trần từ vai trò chủ công đã trở thành thời kỳ rực rỡ nhất trong lịch sử văn học Phật giáo Việt Nam, có nội dung tư tưởng cao diệu nhất trong lịch sử tư tưởng dân tộc. Nó là sản phẩm kết tinh, thăng hoa  của thời đại Phật giáo được coi như quốc giáo mà một đi không trở lại. Phật giáo thời này là quốc giáo nhưng không độc trị độc đạo mà là dựa theo Tam giáo  đồng nguyên nên đã có được như thế. Thành tựu văn học Phật giáo thời đại Lý Trần thể hiện chủ yếu trên hai thể loại triết lý và trữ tình. Có thể nói văn chương triết lý của Phật giáo thời đại Lý Trần đã đạt đến những giá trị triết lý, những quan niệm nhân sinh cao siêu diệu vợi nhất trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Đọc Khóa hư lục của Trần Thái Tông, nhất là Cư trần lạc đạo của Phật hoàng Trần Nhân Tông sẽ thấy như thế. Với nhân loại cũng vậy, về triết lý nhân sinh, hỏi có học thuyết nào hơn được Cư trần lạc đạo mà đây không chỉ là chuyện lý thuyết. Đây đã là chuyện được thực thi và để lại cho đất nước trong muôn đời một nhân vật lịch sử vĩ đại số 1 là chính tác giả của tác phẩm. Trong thơ trữ tình cũng thể hiện những quan điểm nhân sinh cao cả, những xúc cảm thanh cao diệu vợi đáng cho hậu thế thèm tiếc một khi đã để mai một trước sự áp đảo của văn hóa phương Tây trong cuộc đụng độ Tây Đông từ hai thế kỷ nay, kể cả lối sống thực dụng.

4.2.3. Văn học Phật giáo hậu Lý Trần

4.2.3.1. Sau thời đại Lý Trần là thời đại Hậu Lê, tiếp đến là thời đại Tây Sơn, thời đại nhà Nguyễn. Với các thời đại này, chế độ phong kiến Việt Nam trên đường trở thành chế độ phong kiến tập quyền, không thể không dựa vào Nho giáo. Do đó đội quân chủ lực của nền văn học Việt Nam đã thuộc về các văn sĩ Nho gia. Đến đây, Phật giáo đã nhường vị trí quốc giáo cho Nho giáo. Có điều là về cơ bản, nguyên lý Tam giáo đồng nguyên vẫn tồn tại với nền văn hóa Việt Nam.

4.2.3.2. Trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể đó, văn học Phật giáo đã lép vế so với văn học Nho giáo. Phật giáo do không ôm nổi cuộc sống trần gian nên đã phải nhường địa vị quốc giáo cho Nho giáo. Tuy vậy, Phật giáo vẫn là trầm tích văn hóa tâm linh vững chãi trong sự sống Việt Nam. Vẫn là cơ sở tạo hồn vía cho những kiệt tác văn học Việt Nam. Hãy trở lại với thiên tài Nguyễn Du để thấy Văn tế thập loại chúng sinh là gì? Chẳng phải đây là tác phẩm có tình thương không chỉ với cái phận đàn bà, với những cung tần mỹ nữ bị chơi hoa cho rữa nhụy dàn lại thôi nơi cung cấm, mà là cho - nói là mười nhưng thực tế là - tất cả mọi loại chúng sinh khổ đau nơi trần thế. Không có tình thương bao la bát ngát của Phật đạo nâng đỡ lấy đâu ra hồn vía đó của tác phẩm. Còn Truyện Kiều? Đúng là sản phẩm hợp lưu Tam giáo đồng nguyên. Ở đây có đủ Nho - Phật  -Đạo. Có Đạo (Lão) mà nồng độ cảm xúc thi ca bốc cao tỏa rộng. Còn Nho thì có người nói Nho là thuộc đạo đức trong tác phẩm và Phật là triết lý của tác phẩm. E không phải thế. Bởi Phật sao chỉ là triết lý mà không là đạo lý và Nho sao chỉ đạo lý mà không triết lý. Chính xác hơn là thế này chăng? Nho là hình hài. Phật là hồn vía, nói hình hài là bởi mở đầu tác phẩm rằng "Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau" thì câu chuyện của Truyện Kiều chẳng phải là thế sao. Nhưng nếu là thế thì dễ gì đã có kiệt tác thiên tài Truyện Kiều. Kiệt tác thiên tài này phải có hồn vía được chưng cất từ nỗi "đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung" trong muôn đời muôn nơi muôn thuở. Bởi lẽ ở cái phận đàn bà, về con người xã hội thì từng bước, từng bước được giải quyết tốt đẹp. Nhưng về con người thiên chức, dù y học hiện đại có cao siêu đến đâu cũng làm sao xóa sạch được nỗi vất vả. Còn về bài thơ Hương Sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh. Thì có phải đây là bài thơ tả cảnh hay nhất trong kho báu thơ tả cảnh Việt Nam xưa nay không? Mà cái hay tuyệt diệu ở đây lấy đâu ra nếu không có sự nâng đỡ từ nguồn cảm hứng Phật đạo: "Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái/ Lửng lơ khe suối cá nghe kinh/ Vẳng bên tai một tiếng chày kình/ Khách tang hải giật mình cơn ác mộng".

4.2.4. Văn học Phật giáo trong thời cận hiện đại:

4.2.4.1. Đến thời cận đại, trong cuộc đụng độ Đông Tây, bên cạnh sự nâng đỡ, có sự áp đảo của văn hóa phương Tây đối với văn hóa phương Đông. Văn hóa Việt Nam có chung trạng thái đó. Nho - Phật - Đạo đều xuống giá. Đặc biệt, Nho giáo thì bị hạ bệ. Một vài người có bản lĩnh muốn cứu đỡ mà không nổi. Phật giáo không đến nỗi như thế nhưng cũng không được như trước nữa. Dù đây đó có phong trào chấn hưng. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ở vùng kháng chiến, tiếp đến sau 1954 ở miền Bắc, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa vô thần từ phương Tây du nhập vào thì số phận của Nho - Phật là thế nào, mọi người đã rõ. Riêng ở những vùng tạm chiếm trước 1954 và miền Nam sau 1954, Nho - Phật vẫn được bảo tồn. Sau ngày thống nhất đất nước, xu hướng bài Nho đã và đang bị đẩy lùi. Đặc biệt là với Phật giáo thì khởi sắc hơn hẳn. Đó là hạnh phúc của đất nước.

4.2.4.2. Trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể thuộc thời cận hiện đại như thế, văn hóa Phật giáo cũng có số phận khác nhau trong từng không gian tồn tại của nó. Nhưng đến nay thì đã thuận chiều nhờ "ông thầy thời gian" tỉnh táo đã đẩy lùi được chủ nghĩa duy vật thô sơ, chủ nghĩa vô thần ấu trĩ. Ở thời hiện đại này, hẳn là phải cảm ơn nhân dân miền Nam không chỉ bảo tồn mà còn phát triển văn hóa Phật giáo để tạo đà chung cho cả nước sau ngày thống nhất. Do đó, đã có thể nói đến một nền văn hóa Phật giáo Việt Nam hiện đại bề thế với những tên tuổi sáng giá: Hòa thượng Thích Thành Từ, Hòa thượng Thích Minh Châu, Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Thiền sư Lê Mạnh Thát… Chưa dám nói về chất lượng nhưng về số lượng, khối lượng thì đúng là chưa bao giờ có được như thế. Còn văn học Phật giáo là thế nào ở thời cận, đặc biệt là hiện đại này? Xin thiết tha kính nhờ các bậc thức giả trả lời hộ. Ở đây chỉ có thể nói qua như sau: Văn học Phật giáo thời cận hiện đại này đã lại hòa nhập vào văn hóa Phật giáo cận hiện đại. Nhưng nó vẫn có phần tồn tại độc lập mà chủ yếu ở lãnh vực thơ ca. Đó là sản phẩm của một số thi sĩ có tên tuổi như Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Phạm Công Thiện… vốn là Phật tử. Con số Phật tử khác chưa có tên tuổi gì trên thi đàn nhưng vẫn dạt dào cảm hứng Phật đạo trong thơ ca thì hẳn là không ít. Chỉ tiếc là chưa có sự tập hợp để cho rõ diện mạo thơ ca Phật giáo thời hiện đại là thế nào. Gần đây, có hiện tượng thơ thiền của tác giả Hoàng Công Thuận gây dư chấn khá ồn ào trên một số thông tin đại chúng nhưng vẫn chưa biết nó là gì đây mà đã gây ra sự xôn xao nhất thời như thế.

Để kết thúc bài viết này, tôi xin nói lại ước vọng thiết tha của mình là trong khoa văn học sử Việt Nam, nếu muốn có thêm độ hoàn chỉnh về diện mạo, không thể không lấp bớt lỗ hổng bằng cách khôi phục các dòng văn học liên quan đến các học thuyết, các tôn giáo đã từng ảnh hướng sâu sắc đến văn học. Mà trước mắt cần ưu tiên văn học Phật giáo. PGS.TS Nguyễn Công Lý đã có công trình về văn học Phật giáo thời Lý Trần. Hy vọng một ngày không xa, sẽ có thêm công trình văn học Phật giáo trước thời đại Lý Trần, Văn học Phật giáo sau thời đại Lý Trần, Văn học Phật giáo thời cận hiện đại.

 

Chú thích

1. Theo Phạm Đức Dương, Giao lưu văn hóa Việt Nam và thế giới, Tạp chí Văn hóa Nghệ An số 152 ngày 10/7/2009.

2. Xem Nguyễn Đình Chú, Vị trí của văn hóa Phật giáo trong nền văn hóa Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học về Phật giáo châu Á tại Quảng Ninh 2013. Phật giáo với mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hiệp quốc, Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh 2014. Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An số 4/2014.

LỊCH THÁI ỨNG DỤNG

(Kỳ 2)

Quán Vi Miên - Vi Khăm Mun

...

4. Lịch Thái ứng dụng (ở Nghệ An)

4.1. Không moi lệch mư (bài tính lịch bằng ngón tay)

Bài này ứng dụng bằng cách chỉ cần giơ bàn tay phải ra là có thể tính tháng, ngày/chọn tháng, ngày được; không cần phải giấy tờ, bút mực; không cần phải có bảng lịch khắc trên mai rùa; hoặc bảng lịch khắc trên mảnh gỗ, v.v. Như vậy, người ta đi đâu, ở đâu cũng có thể tính lịch, xem lịch. Quy định như sau:

- Lấy ngày, tháng âm lịch làm "chuẩn".

- Dùng cơ số 8, tức là "Tá nham pẹt", 1 tháng có 3 chu kì, dư 6 - 7 ngày dự phòng.

- Bỏ không dùng ngón cái (ngón thứ 1), và ngón út (ngón thứ 5), còn lại ngón trỏ (ngón thứ 2), có 3 lóng, lóng thứ 1 (lóng gốc) tính từ dưới lên, gọi là "cớn cóng" mang số 1; Lóng thứ 2 gọi là "xườm cóng/xườm nôi" mang số 2; lóng thứ 3 gọi là "kím cóng" mang số 3; Chuyển sang ngón thứ 3 (ngón giữa), lóng thứ 3 gọi là "khóa hỏ", mang số 4; Chuyển sang ngón thứ 4, tính từ trên xuống, lóng thứ 3 gọi là "kím ngoai/kím xá", mang số 5; Lóng thứ 2 gọi là "xườm ngoai/xườm nôi", mang số 6; Lóng thứ 1 (gốc) gọi là "cớn xá", mang số 7; Vòng ngược lại ngón thứ 3 (ngón giữa), lóng thứ 1 (gốc), gọi là "khóa ngang", mang số 8; hết 1 chu kì (lóng thứ 2 của ngón này không dùng); Chu kì thứ 2, tính từ số 9 trở đi, ta có: ô (lóng) "cớn cóng" là số 9; "xườm cóng/xườm nôi" là số 10; ô (lóng) "kím cóng/kím nôi" là số 11; ô (lóng) "khóa hỏ" là số 12; ô (lóng) "kím ngoai/kím xá" là số 13; ô (lóng) "xườm ngoai/xườm nôi" là số 14; ô (lóng) "cớn xá" là số 15; ô (lóng) "khóa ngang" là số 16; hết chu kì thứ 2; Sang chu kì thứ 3, lại tính tiếp như vậy cho đến hết tháng (ấy).

Cụ thể bảng lịch như sau:

- Cớn cóng, số 1, tháng giêng, tháng lẻ.

- Xườm cóng/ Xườm nôi, số 2, tháng 2 & 3, tháng chẵn.

- Kím cóng/ Kím nôi, số 3, tháng 4, tháng lẻ.

- Khóa hỏ, số 4, tháng 5 & 6, tháng chẵn.

- Kím ngoai/ Kím xá, số 5, tháng 7, tháng lẻ.

- Xườm ngoai/ Xườm nôi, số 6, tháng 8 & 9, tháng chẵn.

- Cớn xá, số 7, tháng 10, tháng lẻ.

- Khóa ngang, số 8, tháng 11 & 12, tháng chẵn.

* Quan niệm/ tín ngưỡng về các tháng trong năm (đó) như sau:

- Tháng giêng là "cớn cóng", số 1, tháng lẻ (bướn khịch). Không làm đám cưới, có thể tổ chức lễ hội.

- Tháng 2 & 3 là "xườm cóng/xườm nôi", số 2, tháng chẵn (bướn khủ). Tổ chức đám cưới, tổ chức lễ hội.

- Tháng 4 gọi là "kím cóng/ kím nôi", số 3, tháng lẻ. Không tổ chức đám cưới.

- Tháng 5 & 6 gọi là "khóa hỏ", số 4, tháng chẵn. Tổ chức đám cưới, lễ hội. Nhưng kiêng ngày "khóa hỏ" không nên đi đường, hay bị trục trặc, rủi ro, chuyện không lành, không may… Có câu rằng: "Khóa hỏ bò pến páy tang" tức là: "Ngày "khóa hỏ" không nên đi đường".

- Tháng 7 gọi là "kím ngoai/ kím xá", số 5, tháng lẻ. Không tổ chức đám cưới. Có thể tổ chức lễ hội.

- Tháng 8 & 9 gọi là "xườm ngoai/ xườm nôi", số 6, tháng chẵn. Tổ chức đám cưới, lễ hội. 

- Tháng 10 gọi là "cớn xá", số 7, tháng lẻ. Không tổ chức đám cưới. Có thể tổ chức lễ hội.

- Tháng 11 & 12 gọi là "khóa ngang", số 8, tháng chẵn. Tổ chức đám cưới, lễ hội. Nhưng kiêng ngày "khóa ngang" không nên đi "làm khách", không tốt. Có câu rằng: "Khóa ngang bò pến páy khạch", nghĩa là: "Ngày "khóa ngang" không nên đi làm khách".

* Quan niệm/tín ngưỡng về các ngày trong tháng (đó) như sau:

- Ngày "cớn": Có tính chất bền vững, lâu dài; nhiều lời, lắm lời; có lấy được của người ta/người khác cũng phải "hết lời"; Người mới đến thắng người đã ở lâu (cũ); Con mới sinh "thắng" bố mẹ (Ngày xưa người ta phải "bán" cho đền, chùa); Ngày thờ cúng tổ tiên; Riêng "cớn cóng" là ngày "trong nhà", "công việc trong nhà"; Ngày "cớn xá" là ngày "bên ngoài", "công việc ma chay bên ngoài tộc họ".

- Ngày "xườm": Có tính chất là ngày đi làm ăn, buôn bán; Ngày sinh con trai, con gái (tốt); Làm vía (buộc vía), cầu may sức khỏe; Trong đó, ngày "xườm nôi" sinh con trai tốt; Ngày "xườm ngoai" sinh con gái tốt; Có câu rằng: "Nhinh xườm ngoai/ Chai xườm nôi", nghĩa là "Gái - (sinh) ngày "xườm ngoai" thì tốt/ Trai - (sinh) ngày "xườm nôi" thì hay". Ai sinh vào ngày nào (mang tên nào) thì nên chọn ngày ấy (mang tên ấy) mà đi đường, giải quyết công việc, sẽ trôi chảy, đạt kết quả tốt.

- Ngày "kím": Tính chất ngày này là khỏe mạnh, bình an; Nên chọn đi đường, đi làm khách, đi giải quyết công việc; Là ngày dễ hòa hợp, dễ tiếp xúc; Nhưng là ngày hơi non nớt, hơi bị "thế dưới", nhưng không sao; Là ngày người ta chọn làm vía (buộc vía) cho các thành viên trong gia đình; Ngày bình yên, vô sự, Ngày người xa đến ở trọ trong nhà cũng có thế ngang với chủ nhà, không ai "thắng" ai; Là ngày tốt.

- Ngày "khóa hỏ": Là ngày "gói trọn", tiền của ở yên trong túi, trong nhà, khó mà ra khỏi nhà; Là ngày đi xin, đi giải quyết công việc khó mà được, khó làm thành công; Khó vay được của người ta; Người ta khuyên không nên đi đường, đề phòng nguy hiểm (kiêng kị).

- Ngày "khóa ngang": Là ngày cứng rắn, ngang tàng, ngày của quan chức, kẻ có địa vị, có tiếng tăm trong xã hội; Quan chức "thắng", đè bẹp đối thủ, đối tác.   

4.2. Không moi lai nham (Bài xem ngày/giờ tốt/xấu)

Đây là bài xem ngày/ giờ tốt/ xấu trong tháng/ngày, mà chúng tôi đã trình bày ở trên; đó là bảng lịch chúng tôi tìm hiểu/sưu tầm ở phía Tây Bắc Nghệ An (huyện Quế Phong); nay chúng tôi bổ sung thêm phần "ý nghĩa" của lịch "Lai nham" mà chúng tôi đã tìm hiểu/sưu tầm được ở vùng Tây Nam Nghệ An (huyện Tương Dương) để có thêm tri thức bản địa của vùng này.

Bài ứng dụng ở đây theo cơ số 5 (Tá nham hà), chu kì ngày/ giờ; 1, 2, 3, 4, 5; rồi lại quay lại 6, 7, 8, v.v. cho đến hết tháng. Tính chất/tín ngưỡng của từng ngày/giờ như sau (bổ sung):

1. Nửng cẳm: Mố hế (xỉ xúm), Cá la (lém vảy), Phặt xả lí (tá pọt), Phôm ma (xóng húa ma), Phịt xả nú (tá tọc).

2. Xóng cẳm: Phịt xả nú (tá tọc), Mố hế (xỉ xúm), Cá la (lém vảy), Phặt xả lí (tá pọt), Phôm ma (xóng húa ma).

3. Xám cẳm: Phôm ma (xóng húa ma), Phịt xả nú (tá tọc), Mố hế (xỉ xúm), Cá la (lém vảy), Phặt xả lí (tá pọt).

4. Xỉ cẳm: Phặt xả lí (tá pọt), Phôm ma (xóng húa ma), Phịt xả nú (tá tọc), Mố hế (xỉ xúm), Cá la (lém vảy).

5. Hà cẳm: Cá la (lém vảy), Phặt xả lí (tá pọt), Phôm ma (xóng húa ma), Phịt xả nú (tá tọc), Mố hế (xỉ xúm). 

* Giải nghĩa/giải thích các giờ dưới đây:

- Giờ Mố hế (xỉ xúm): Kí hiệu trong bảng là "bốn chấm". Chọn đi đường, hoặc làm việc gì vào giờ này thường lắm lời, nhiều chuyện, tức là giờ số nhiều, số đông; cũng gọi là giờ "nà háo" nghĩa là giờ "mặt trắng", không được việc. 

- Giờ Cá la (lém vảy): Kí hiệu trong bảng là "dấu nhân/hai que chéo nhau". Xuất phát vào giờ này hay gặp may, thường hay được, nên đi.

- Giờ Tá bọt (mắt đui): Trong bảng không có kí hiệu gì, để trống. Đi vào giờ này không có gì, không được gì, không nên đi.

- Giờ Phôm ma (xóng húa ma): Hai đầu về, kí hiệu là "hai chấm". Giờ may mắn, hay được, thuận lợi mọi việc; nếu đi săn thường được 2 con mang về. Giờ này tốt, nên đi.

- Giờ Phịt xả nú (tá tọc): Giờ "một mắt", cũng gọi là "chơ nà đắm" (giờ mặt đen); không được như ý, không thỏa mãn, rất dễ tức giận, không được việc, không nên đi vào giờ này. Giờ này là giờ xấu, người ta thường đem người chết đi chôn. 

4.3. Không moi mẻ phởng (bài xem mình sống dựa vào con nào)

Sống phải có chỗ "dựa". Chỗ dựa tốt thì mình vững. Chỗ dựa không tốt thì mình yếu. Sang một năm mới/tuổi mới, thì việc đầu tiên là phải xem mình năm ấy sống dựa vào con vật gì, thì biết năm đó/tuổi đó mình sẽ như thế nào, nên làm gì, không nên làm gì (tất nhiên là phải còn kết hợp với các yếu tố khác nữa). Có bài "không moi" để xem mình dựa vào con vật gì; con vật đó cũng là "bùa hộ mệnh" của mình năm ấy/tuổi ấy. Bài này tính theo cơ số 7, như sau:

1. Khụt cỏ nau nẳng nỡng cằm phải búa lả pha (Phởng khụt)/ Đại bàng đậu cành cây sườn núi nhìn mọi nẻo (Dựa vào đại bàng), Chu kì ngày: 1, 9, 17, 25, 33, 41, 49, 57, 65, 73, 81, 89, 97, 105…

2. Á kha nê meo nẳng phưa phánh phằn (Phởng meo)/ Như con mèo ngồi quấn quýt bên mình (Dựa vào mèo), chu kì năm/tuổi: 2, 10, 18, 26, 34, 42, 50, 58, 66, 74, 82, 90, 98, 106...

3. Pắt xín cằm la chạc xí hén hẻ (Phởng la xạc ní)/ Con voi lớn đứng canh chừng phòng vệ (dựa vào voi), chu kì năm/ tuổi: 3, 11, 19, 27, 35, 43, 51, 59, 67, 75, 83, 91, 99, 107...

4. Ái khàu màu màu nẳng phàu hó lả đí (Phởng xứa)/ Con hổ gườm canh giữ ngôi chùa xa (Dựa vào hổ), chu kì năm/ tuổi: 4, 12, 20, 28, 36, 44, 52, 60, 68, 76, 84, 92, 100...

5. Pắt xín mẻ nạc kiều phăn đón (Phởng nạc)/ Rái cá đuôi quấn nghìn hòn đảo (Dựa vào rái cá), chu kì năm/tuổi: 5, 13, 21, 29, 37, 45, 53, 61, 69, 77, 85, 93, 101....

6. U dón cằm khô chón nú dủ (Phởng nú)/ Con chuột ẩn mình bụi bờ sinh sống (Dựa vào chuột), chu kì năm/ tuổi: 6, 14, 22, 30, 38, 46, 54, 62, 70, 78, 96, 104…

7. Chạng kín nhà cằm phải í xún (Phởng chạng)/ Voi ăn cỏ bên đồi ở đó (dựa vào voi), chu kì năm/ tuổi: 7, 15, 23, 31, 39, 47, 55, 63, 71, 79, 87, 95, 103…

8. Ngua kín nhà cằm phải í xá (Phởng ngua)/ Bò ăn cỏ bên đồi ở kia (dựa vào bò), chu kì năm/ tuổi: 8, 16, 24, 32, 40, 48, 56, 64, 72, 80, 88, 97, 105…

Người Thái tin rằng "số phận" con người thường "dựa" vào một con vật nào đó để "sống". Có câu rằng: "Thổ ài hại pí nị phởng ngua/ Húa bò tái, hóng xía mết xiềng", nghĩa là: "Số anh xấu, năm nay dựa bò/ Đầu không mất (chết), của cũng mất trắng". Nên phải "chọn" con vật để "dựa".

Theo đó, người Thái quan niệm:

- Số 1 là "khụt" (đại bàng), tốt, có may mắn.

- Số 2 là "mèo", làm ăn ít trúng quả, khó thành đạt trên đường công danh, ít gặp may mắn.

- Số 3 là "la chạc xí" (voi lớn), may "dày", liên tục. Voi cũng chia làm 8 bộ phận ứng với từng tuổi/chu kì tuổi. Số 1/chu kì 1 ứng với "mồm voi": Đủ ăn, không có dự trữ, đời sống chật vật, thiếu thốn. Số 2/chu kì 2 ứng với "bụng voi": Làm ít được nhiều, làm ăn son sẻ; trai dễ lấy vợ, gái dễ lấy chồng; vật chất dễ đến với mình. Số 3/chu kì 3 ứng với "chân trước" của voi: Thường mất của, cứu người, của đi thay người. Số 4/chu kì 4 ứng với "hậu môn" voi: Bản thân là "túi đựng tiền", làm ăn son sẻ, đời sống sung túc. Số 5/chu kì 5 ứng với "đỉnh đầu" voi: Tiến chắc, hay được lên chức (nếu làm quan), nói người ta nghe, đe người ta sợ. Số 6/chu kì 6 ứng với "lưng voi": Thủ quỹ tuyệt vời (tiền không ra khỏi nhà), sung sướng, vui vẻ, vui vầy cả năm. Số 7/chu kì 7 ứng với "chân sau" của voi: Hay bị ốm đau, hoạn nạn, hạn lớn, khó qua. Số 8/chu kì 8 ứng với "vòi" của voi: Cuộc sống suốt năm vất vả, không một ngày nghỉ ngơi, không có một giờ nghỉ, phải làm lụng vất vả quanh năm; cuộc sống chật vật khôn lường.     

- Số 4 là "con hổ", người ta hay ghét, hay bị trách, hay bị nói xấu sau lưng, kém may mắn.

- Số 5 là "nạc" (rái cá), táo bạo, chắc chắn, lớn về tài lộc, có sức khỏe, phát đạt, thắng lớn; là số tốt nhất trong 8 con số/chu kì.

- Số 6 là "con chuột", chạy quanh kiếm ăn suốt, không gặp may mắn.

- Số 7 là "voi ăn cỏ (khác voi lớn)", không may mắn, hay bị ốm đau lặt vặt, hay bị mất mát…

- Số 8 là "bò ăn cỏ", xấu nhất trong chu kì 8 con số.

Lịch chọn như trên đã ghi, tốt nhất là số 4/chu kì 4. Quy định khi tính: Nam bắt đầu từ số 4; Nữ bắt đầu từ số 8. Cách tính: dùng "lịch" bàn tay phải để tính (trực quan) [xem mục (1) ở trên].

4.4. Không moi hệt (bài xem điềm xấu)

Bài này như sau:

1. Nửng cẳm - Nà cảnh (Mồng 1 - Cẳng chân [từ đầu gối trở xuống bàn chân, phía đằng trước, cầu thủ bóng đá thường lót ống đồng để che]).

2. Xóng cẳm - Vảnh há (Mồng 2 - Háng).

3. Xám cẳm - Lung tá (Mồng 3 - Đằng ngoại).

4. Xỉ cẳm - Pỉ nọng (Mồng 4 - Đằng nội).

Bài này theo cơ số 4. Đếm hết chu kì 1 thì quay lại đếm chu kì 2, v.v. Một tháng chia làm 8 chu kì:

(1) Chu kì 1: Ngày 1, 2, 3, 4;

(2) Chu kì 2: Ngày 5, 6, 7, 8;

(3) Chu kì 3: Ngày 9, 10, 11, 12;

(4) Chu kì 4: Ngày 13, 14, 15, 16;

(5) Chu kì 5: Ngày 17, 18, 19, 20;

(6) Chu kì 6: Ngày 21, 22, 23, 24;

(7) Chu kì 7: Ngày 25, 26, 27, 28;

(8) Chu kì 8: Ngày 29, 30.

Quan niệm/ tín ngưỡng chung:

1. Bình thường mà gặp/thấy những con vật ít gặp/thấy, thì đó là "điềm xấu". Ví dụ: Ở trong nhà mà lại thấy chim rừng bay vào nhà, v.v.; Đi đường mà lại thấy "chim sa, cá nhảy", gặp gà rừng bay tạt qua trước mặt, v.v.; Vào rừng gặp con rúi "ngẳng" (sủa) mình, v.v. 

2. Những "điềm xấu" trên đây lại xẩy ra đúng vào những ngày "nà cảnh" (cẳng chân), như: 1, 5, 9, 13, 17, 21, 25, 29, thì tai họa sẽ "trực tiếp" giáng vào bản thân mình.

3. Những "điềm xấu" trên đây xẩy ra trong những ngày "vảnh há" (háng): 2, 6, 10, 14, 18, 22, 26, 30, tức là tai họa sẽ "gián tiếp" đổ vào những người trong gia đình mình.

4. Những "điềm xấu" trên đây trúng vào những ngày "lung tá" (đằng ngoại): 3, 7, 11, 15, 19, 23, 27, thì tai họa sẽ "gián tiếp" ập vào những người thuộc bên đằng ngoại.

5. Những "điềm xấu" trên đây xẩy ra trong những ngày "pỉ nọng" (anh em đằng nội): 4, 8, 12, 16, 20, 24, 28, thì tai họa sẽ giáng xuống "gián tiếp" vào anh em họ hàng đằng nội.

4.5. Không ết đong (bài làm đám cưới)

Trong việc cưới, người ta chọn ngày theo bài sau:

1. Nửng cẳm - Xáo đết phắc xở xạ (Mồng 1 - Gái hái rau bỏ giỏ).

2. Xóng cẳm - Xáo to ma há hươn (Mồng 2 - Gái hái đem về nhà)

3. Xám cẳm - Há hươn tực tỉ đí mi hẳng (Mồng 3 - Lấy chồng trúng nơi tốt, giàu có)

4. Xỉ cẳm - Chả pẳm lực nhinh chai (Mồng 4 - Đông đúc con gái trai).

5. Hà cẳm - Quai dủ thún chôm pẻ (Mồng 5 - Trâu dưới sàn sinh sôi).

6. Hốc cẳm - Nhùng nhằng đằng xưa hé dủ đống (Mồng 6 - Bùng nhùng như mảnh chài rừng ma).

7. Chết cẳm - Cống nang xàng hươn luống vạy pẩu (Mồng 7 - Công nàng dựng nhà to bỏ không).

8. Pẹt cẳm - Xàu đằng nà pợ mở cưn mưa (Mồng 8 - Xấu mặt cô dâu mới "lộn" về).

Như vậy, bài này theo cơ số 8; cứ 8 ngày là 1 chu kì; hết 8 ngày lại sang chu kì 2, v.v. cho đến hết tháng (ấy). Cụ thể như sau:

- Tuần 1/chu kỳ 1: Ngày mồng 1, mồng 2, mồng 3, mồng 4, mồng 5, mồng 6, mồng 7, mồng 8;

- Tuần 2/chu kỳ 2: Ngày mồng 9, mồng 10, ngày 11, ngày 12, ngày 13, ngày 14, ngày 15, ngày 16;

- Tuần 3/chu kỳ 3: Ngày 17, ngày 18, ngày 19, ngày 20, ngày 21, ngày 22, ngày 23, ngày 24;

- Dự phòng: Ngày 25, ngày 26, ngày 27, ngày 28, ngày 29, ngày 30.

Người ta chọn "ngày tốt" để tổ chức cưới xin (vào các ngày): 2, 3, 4, 10, 11, 12, 18, 19, 20, 26, 27, 28. Các ngày "tạm được", "bí" thì mới làm: 1, 5, 9, 13, 17, 21, 25, 29. Các "ngày xấu" không bao giờ làm:  6, 7, 8, 14, 15, 16, 22, 23, 24, 30.

Theo quan niệm/tín ngưỡng về tháng/ngày ở mục (1) ở trên, thì các ngày/chu kì tốt nhất là: 3, 4, 5 tổ chức đám cưới là tốt nhất, nên chọn; những ngày còn lại không nên chọn.

4.6. Không ết hươn xắp mẻ tuổi (bài làm nhà theo tuổi)

Bài này theo cơ số 8.

1. Nửng pí - Mun hươn nọi (1 tuổi - Lộc nhà nhỏ).

2. Xóng pí - Mun hươn luống (2 tuổi - Lộc nhà to).

3. Xám pí - Hang đáy kèo (3 tuổi - Bậc thang ngọc).

4. Xỉ pí - Thén kèo (4 tuổi - Lầu ngọc).

5. Hà pí - Hươn pìn (5 tuổi - Nhà lộn ngược).

6. Hốc pí - Hươn hảng (6 tuổi - Nhà hoang).

7. Chết pí - Hươn lông (7 tuổi - Nhà suy).

8. Pẹt pí - Xén cá tóm ki lượt (8 tuổi- Muôn quạ bâu ăn máu).

Tính theo cơ số 8, cả đời người - tối đa giả sử đến 144 tuổi - được 18 chu kì như sau: (Dưới đây chúng tôi viết rút gọn: T = tuổi [1 - 8], Ck = Chu kì [1- 18]):

- T: 1; Ck: 1, 9, 17, 25, 33, 41, 49, 57, 65, 73, 81, 89, 97, 105, 113, 121, 129, 137;

- T: 2; Ck: 10, 18, 26, 34, 42, 50, 58, 66, 74, 82, 90, 98, 106, 114, 122, 130, 138;

- T: 3; Ck: 11, 19, 27, 35, 43, 51, 59, 67, 75, 83, 91, 99, 107, 115 ,123, 131, 139;

- T: 4; Ck: 4, 12, 20, 28, 36, 44, 52, 60, 68, 70, 84, 92, 100, 108, 116, 124, 132, 140;

- T: 5; Ck: 5, 13, 21, 29, 37, 45, 53, 61, 69, 77, 85, 93, 101, 109, 117, 125, 133, 141;

- T: 6; Ck: 6, 14, 22, 30, 38, 46, 54, 62, 70,78, 86, 94, 102, 110, 118, 126, 134, 142;

- T: 7; Ck: 7, 15, 23, 31, 39, 47, 55, 63, 71, 79, 87, 95, 103, 111, 119, 127, 135, 143;

- T: 8; Ck: 8, 16, 24, 32, 40, 48, 56, 64, 72, 80, 88, 96, 104, 112, 120, 128, 136, 144.

Nguyên tắc/ quan niệm:

- Mới lập gia đình, mới làm nhà lần đầu, chọn làm nhà vào các tuổi "Mun hươn nọi - Lộc nhà nhỏ", tốt.

- Người nào đã có tiếng tăm, trung tuổi, đã làm nhà từ 2, 3 lần trở lên, chọn vào các tuổi "Mun hươn luống - Lộc nhà to", có tài lộc, sức khỏe.

- Người nào chọn làm nhà vào các tuổi "Hang đáy kèo - Bậc thang ngọc", được phúc lớn.

- Người nào chọn làm nhà vào các tuổi "Thén kèo - Lầu ngọc", thì được cái "đức độ" đến với gia đình.

- Người nào chọn làm nhà vào các tuổi "Hươn pìn - Nhà lộn ngược" thì không phát triển, không vươn lên được, quanh năm kiếm ăn cũng khó mà đủ.

- Người nào chọn làm nhà vào các tuổi "Hươn hảng - Nhà hoang" thì không tốt, làm cũng không được ở, không phải là nhà của mình.

- Người nào chọn làm nhà vào các tuổi "Hươn lông - Nhà suy" thì tất nhiên là không nên làm, có làm thì cũng sẽ chuốc lấy tai họa, khốn khó cái ăn cái mặc, ốm đau, bệnh tật quanh năm…

- Người nào chọn làm nhà vào các tuổi "Xén cá tóm ki lượt - Muôn quạ bâu ăn máu" thì nguy hiểm đến tính mạng, không an toàn, không yên ổn, gia đình bị xáo trộn, rối như tơ vò, gia đình chỉ chực bị tan hoang…

Như vậy, tốt nhất là nên làm nhà vào các tuổi/chu kì: 2, 3, 4; tránh làm nhà vào các tuổi/chu kì còn lại.

4.7. Không púc hươn (bài dựng nhà)

Bài này tính theo cơ số/chu kì 12.

1. Nửng cẳm - Xỉ xấu hốc (Mồng 1 - Bốn cột chôn).

2. Xóng cẳm - Hốc xấu tằng (Mồng 2 - Sáu cột dựng).

3. Xám cẳm - Bòng nặm ủn ki dến (Mồng 3 - Ống nước đun uống mát).

4. Xỉ cẳm - Ê hươn pướng pở mạy (Mồng 4 - Làm nhà thì tốn gỗ).

5. Hà cẳm - Ồm xày pở phí to (Mồng 5 - Đau ốm bởi ma húc).

6. Hốc cẳm - Một mó tằng cưn hủng (Mồng 6 - Mo khài cúng sáng đêm).

7. Chết cẳm - Phí chả cụm thà ki páng (Mồng 7 - Ma phù hộ đòi ăn lễ).

8. Pẹt cẳm - Phăn hang xù nang lẹp (Mồng 8 - Chặt máng chờ đựng xác).

9. Cầu cẳm - Nừng lầu kẹp ván phí (Mồng 9 - Cất rượu để cúng ma).

10. Xíp cẳm - Lầu háy hi chôm cạn (Mồng 10 - Chum rượu dài mừng nhạt).

11. Xíp ết - Hầu quàn pở khưới pánh (11 - Vào nhà, rể sửa sang).

12. Xíp xóng - Oàn khạch nhở ma hươn (12 - Rủ khách lớn về nhà).

Tính theo cơ số (12) này, một tháng được 3 chu kì:

(1) Chu kì 1: Ngày 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12;

(2) Chu kì 2: 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24;

(3) Chu kì 3: 25, 26, 27, 28, 29, 30.

Nguyên tắc/tín ngưỡng:

Người nào (chủ nhà/đàn ông) lần đầu tiên làm nhà thì chọn các ngày: 1, 13, 25, tức là chọn ô "bốn cột chôn" (dựng nhà được). Người nào làm nhà từ lần thứ 2 trở đi, chọn các ngày: 2, 14, 26, tức là chọn ô "sáu cột dựng" (dựng nhà tốt). Còn lại những ngày khác thì không chọn/tuyệt đối không dựng nhà. Cụ thể, các ngày: 3, 15, 27 nếu dựng nhà thì sẽ hay bị đau ốm, phải uống hết ống thuốc này đến ống thuốc khác, cho đến "ống thuốc lạnh tanh". Các ngày 5, 17, 29 nếu dựng nhà thì hay bị "ma ám, ma húc", tức cũng là hay đau ốm, bệnh tật… Dựng nhà vào các ngày 4, 16, 28 thì hay bị tốn gỗ, mất nhiều gỗ, vì gỗ hay "phản chủ", phải lấy gỗ khác. Dựng nhà vào các ngày: 6, 18, 30 thì cũng hay bị đau ốm, các thầy mo phải khài cúng, chữa bệnh thâu đêm. Dựng nhà vào các ngày: 7, 19 thì "ma chờ ăn cỗ", không tốt. Dựng nhà vào những ngày; 8, 20 thì nguy hiểm chết người (phải chặt máng/hòm để mai táng). Dựng nhà vào các ngày: 9, 21 thì phải nấu rượu cúng ma, đó cũng là "điềm xấu" của gia đình. Dựng nhà vào các ngày: 10, 22 thì khi nào cũng phải "mở rượu thết khách", do trong nhà có chuyện rắc rối, phải nhờ người ngoài can thiệp, xong phải cho họ uống rượu. Dựng nhà vào các ngày: 11, 23 là ngày con rể phải vào nhà để sửa chữa lại nhà, vì nhà "vừa qua đám tang", như vậy cũng cần phải tránh những ngày này. Dựng nhà vào các ngày: 12, 24 thì phải tiếp quan đến nhà giải quyết công việc (việc án), không hay.       

4.8. Không nặp cón hươn (bài đếm rui nhà)

Quan niệm: Khi làm nhà, việc bày rui cũng phải chú ý. Phải xem số rui trên một mái nhà là bao nhiêu. Nó chấm dứt (số cuối cùng) ở số nào. Trúng số tốt thì được tốt. Trúng số xấu thì được xấu. Vì vậy phải biết "tính" số rui, để tránh số "xấu". Bài xem lịch như sau:

1. Cón tộp (Rui gấp), không tốt, như cây rui gấp khúc, chuyện nhà trắc ẩn, nan giải.

2. Cón cải (Rui gác), không phát triển, mọi chuyện "bình bình", như rui "bắc ngang".

3. Cải hừn (Gác lên), tốt.

4. Cải lông (Bắc xuống), không tốt: suy, thụt lùi, làm ăn, sức khỏe, công danh, v.v. đi xuống.

5. Thống báng (Túi mang), không tốt, như đi kiếm ăn mà lại mang "túi rỗng" về nhà.

6. Hang hảy (Túi hẹp), không tốt, làm ăn vụn vặt, không phát triển được, như túi "hẹp" vậy.

7. Cón đày (Được rui), tạm được.

8. Cón xía (Rui mất), không được, chỉ toàn "mất" mà thôi.

9. Húa tái (Đầu chết), không tốt, nguy hiểm chết người.

10. Lực hòi (Đầy tớ), không được, chỉ làm đầy tớ người ta, đói kém, nghèo khó.

Tóm lại, trong các "số" trên đây, tốt nhất là số 3 (cải hừn = gác lên), làm ăn phát đạt, công danh thăng tiến, mọi người khỏe mạnh, v.v. Tạm được là số 7.

Khi bày rui thì phải đếm, dừng ở số/chu kì "3", hoặc số/chu kì "7", dựa vào bảng số/chu kì 10 sau đây:

- 1 (cón tộp), 11, 21, 31, 41, 51, 61, 71, 81, 91, 101, 111, 121, 131, 141,…  

- 2 (cón cải), 12, 22, 32, 42, 52, 62, 72, 82, 92, 112, 122, 132, 142, 152, …

- 3 (cải hừn), 13, 23, 33, 43, 53, 63, 73, 83, 93, 103, 113, 123, 133, 143,…

- 4 (cải lông), 14, 24, 34, 44, 54, 64, 74, 84, 94, 104, 114, 124, 134, 144,…

- 5 (thống báng), 15, 25, 35, 45, 55, 65, 75, 85, 95, 105, 115, 125, 135, …

- 6 (hang hảy), 16, 26, 36, 46, 56, 66, 76, 86, 96, 106, 116, 126, 136, 146,…

- 7 (cón đày), 17, 27, 37, 47, 57, 67, 77, 87, 97, 107, 117, 127, 137, 147,...

- 8 (cón xía), 18, 28, 38, 48, 58, 68, 78, 88, 98, 108, 118, 128, 138, 148,…

- 9 (húa tái), 19, 29, 39, 49, 59, 69, 79, 89, 99, 109, 119, 129, 139, 149, …

- 10 (lực hòi), 20, 30, 40, 50, 60, 70, 80, 90, 100, 110, 120, 130, 140, 150,…

5. Tổng kết

Các bài Lịch Thái ứng dụng trên đây trước hết áp dụng vào trong đời sống vật chất thiết thực của con người (10 bài, chiếm 1/3 tổng số, về việc làm nhà, kho lúa, chòi rẫy, chòi ruộng, chuồng lợn, ổ gà, cối, máng giã gạo, thuyền, giường). Còn lại là những bài về các nghi lễ quan trọng vào bậc nhất nhì của đời người như đám cưới, buộc vía, cúng nhà. Rồi những bài về mua sắm vật dụng cần thiết trong đời sống như nồi ninh/niễng để hông/đồ xôi, rau, măng; súng để săn thú; gươm để thực hành trong nghi lễ của Mo và đánh giặc gìn giữ bản mường; cân tiểu li để cân/đong vàng bạc; cho đến việc đi đường nói chung, đi thăm người ốm và đưa trẻ đi đường thăm thú bà con nói riêng.

Lịch Thái ứng dụng cũng có những bài có tính chất tín ngưỡng áp dụng vào việc xem/đo lộc người; xem điềm tốt/xấu; xem số phận/mệnh con người "dựa" vào con vật nào, v.v.

Lịch Thái ứng dụng có tính thực hành/thực tiễn rất cao, ở chỗ nó dễ thực hiện: Có thể dùng ngón tay, nắm tay để đo; đốt/lóng ngón tay để tính. Nó cũng rất linh hoạt khi áp dụng các "cơ số" để tính (từ cơ số nhỏ đến lớn, tùy bài); và vận dụng cả lịch Phật nữa.          

Ngày nay, lịch Thái vẫn được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày của cộng đồng, nhất là trong các việc trọng đại của từng người, từng gia đình, dòng họ, bản mường, như cưới xin, ma chay, dựng nhà, cúng bản, cúng mường, lễ hội, v.v.; một số nhóm người thì vận dụng lịch Thái trong các hoạt động có tính chất "nghề nghiệp" như đi săn, buôn bán, v.v.; bên cạnh âm lịch và dương lịch. 

 

Tài liệu tham khảo

1. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia/ http://vi.wikipedia.org/wiki/ Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Th%C3%A1i_(Vi%E1%BB%87t_Nam).

2. Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên), Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 487- 489.

3. Lò Văn Lả, Giới thiệu lịch Thái (phần 1), in trong Kỷ yếu Hội thảo Thái học lần thứ 1, Nxb. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1992, tr. 252-261;

4. Lò Văn Lả, Giới thiệu lịch Thái (phần 2), in trong Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam, Nxb. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1998, tr. 401- 414.

TRAO ĐỔI THÊM VỀ PHÁT ÂM TIẾNG NGHỆ TRÊN

 ĐÀI PT-TH NGHỆ AN

Thái Hữu Thịnh

 

Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An số 03/2017 đã đăng bài viết của tác giả Nguyễn Hoài Nguyên về  "Vấn đề phát âm tiếng Việt trên báo phát thanh - truyền hình". Trong đó, có đề cập đến trường hợp cụ thể: "Giọng Nghệ trên Đài Phát thanh Truyền hình Nghệ An".

Khi đọc bài viết này, chúng tôi thấy sáng tỏ, hiểu được thêm nhiều điều về ngôn ngữ học, nhất là về cấu trúc âm thanh, chất giọng, cách phát âm phương ngữ của từng người. Thật đồng tình khi thấy tác giả khẳng định phát thanh viên (PTV) "phải nói bằng ngôn ngữ toàn dân nhưng theo cách phát âm địa phương, giọng địa phương. Phải xử lý giọng đọc để làm sao mỗi người trong hàng triệu khán, thính giả đều cảm thấy xướng ngôn viên đang nói cho riêng mình, như đang tâm sự với riêng mình"...

Khi bàn đến vấn đề người Nghệ nói tiếng Nghệ, giọng nói, âm sắc ra sao, thì tác giả đã "khẳng định Đài Phát thanh Truyền hình Nghệ An phải lấy giọng Vinh để phát âm; bởi trong giọng Nghệ, giọng Vinh là giọng chuẩn". Cụ thể hơn, tác giả đã khen phát thanh viên Thu Hà (phát thanh), các biên tập viên Kim Ngân, Thanh Nga (truyền hình), "phát âm giọng Vinh khá chuẩn, dễ nghe...". Về điều này, chúng tôi chưa thật đồng tình, còn có đôi điều muốn trao đổi.

Ngày nay, việc dùng tiếng Nghệ trên đài phát thanh truyền hình (PTTH) tỉnh nhà là điều khẳng định, không bàn cãi. Nhưng việc lựa chọn tiếng Nghệ chuẩn bây giờ là như thế nào? Nếu cho rằng trong tiếng Nghệ, giọng Vinh là giọng chuẩn nhất - giọng Vinh hiện đại, với âm sắc Nghệ và từ phổ thông là nhẹ nhất, hay nhất, chuẩn xác nhất. Đài PTTH Nghệ An phải phát âm bằng giọng Vinh. Vậy giọng Vinh là giọng như thế nào? Đây là vấn đề người đọc chờ đợi, mà tác giả đang bỏ ngỏ!

Lâu nay trong bàn luận, khi nói đến giọng Bắc, chúng ta đều khẳng định giọng Hà Nội chính là giọng Bắc chuẩn, cũng như giọng Sài Gòn chính là giọng Nam bộ chuẩn. Điều này rất đúng, bởi xuất phát từ nhiều nguyên nhân sâu xa của người Việt đã sống lâu đời ở hai miền đất rộng lớn thuộc châu thổ sông Hồng và Nam bộ... Trong  bài viết này chúng tôi xin không bàn đến.

Riêng giọng Nghệ (Nghệ An và Hà Tĩnh) là giọng miền Trung, có đặc điểm khác biệt so với những vùng phương ngữ khác. Giọng Nghệ nặng mà trầm, ở nhiều vùng miền có âm điệu khác nhau, người nơi khác mới đến xứ Nghệ có nhận xét là: "Người Nghệ nói trọ trẹ". Thành phố Vinh trước đây là một vùng đất nhỏ ở trung tâm xứ Nghệ, mới được mở rộng về diện tích, dân cư tăng lên vài thập kỷ nay. Vì vậy người Vinh nói nhiều loại giọng: Giọng Nghi Lộc, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Thanh Chương, Diễn Châu, Quỳnh Lưu... và cả giọng một số huyện thuộc Hà Tĩnh như Nghi Xuân, Đức Thọ, Can Lộc...

 Vậy xác định giọng Vinh như thế nào? Chúng tôi cho rằng phần lớn những người sinh ra và lớn lên ở Vinh và những vùng lân cận (đặc biệt là thế hệ trẻ được gắn liền với việc đào tạo, rèn luyện, lựa chọn có bài bản), tự họ luôn có ý thức rèn luyện trong giao tiếp sinh hoạt cộng đồng, có âm thanh chất giọng phát ra ấm và nhẹ, mang bản sắc Văn hóa Hồng Lam với nét riêng lịch lãm, từ tốn. Người Nghệ, nói tiếng Vinh như người Huế nói tiếng Huế vậy, riêng biệt mà thân thương.

Trở lại vấn đề Đài PTTH Nghệ An nói tiếng Nghệ: Đây là câu chuyện mà trong nhiều năm nay dư luận xã hội vẫn đang rất quan tâm, đã có nhiều hội thảo, bàn luận, góp ý, kể cả ý kiến chỉ đạo của cấp trên từ Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, đến Văn phòng Ủy ban tỉnh... Theo chúng tôi cho đến nay các phát thanh viên (PTV), biên tập viên (BTV) của Đài PTTH Nghệ An vẫn chưa đạt được tiêu chí này "Đài ta chưa thu hút được khán giả phần lớn không phải là nội dung mà chủ yếu là hình thức thể hiện, diễn đạt. Những chương trình địa phương như: thời sự, dự báo thời tiết nhiều lúc PTV thực hiện chưa được tốt về diễn đạt, trong giọng nói còn những sai sót về âm điệu. Phần lớn cách phát âm là tiếng Nghệ pha giọng Bắc lơ lớ làm cho người nghe có cảm giác xa lạ, thiếu đi sự truyền cảm, thuyết phục"(1).

 Thậm chí có PTV nói còn sai dấu chính tả, nhấn nhá quá nhiều. Qua theo dõi chúng tôi xin chỉ ra một trường hợp cụ thể: phần lớn nữ  PTV đều nói dấu (hỏi) trong tiếng UBND (tỉnh), thành gần như dấu (nặng) là UBND (tịnh). Có nhiều ý kiến cho rằng Đài PTTH Nghệ An đang phát âm theo kiểu "tự pha tiếng!"; Nghệ không ra Nghệ, Bắc không ra Bắc, càng không thể nói là tiếng Hà Nội.

Người dân Nghệ An theo dõi Đài PTTH tỉnh nhà đều cho rằng họ không hiểu các PTV đang nói thứ tiếng gì? Người Nghệ sống xa xứ, khi nhớ nhà, muốn nghe tiếng nói quê hương, mở Đài PTTH Nghệ An, thì thấy buồn vì được nghe một giọng nói lai căng, không phải là giọng Nghệ. Một số người Hà Nội, người Bắc, đặc biệt người các tỉnh miền Trung, khi tôi hỏi, thì họ cũng lắc đầu; không hiểu các PTV, BTV Nghệ An đang nói giọng gì?... 

Dư luận thực sự bức xúc: Đêm 31/01/2015, tại Quảng trường Hồ Chí Minh - TP. Vinh, hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh đã phối hợp tổ chức buổi lễ quy mô, hoành tráng, để đón nhận Bằng công nhận "Dân ca Ví Giặm xứ Nghệ là Di sản Văn hóa phi vật thể của nhân loại" do UNESCO trao tặng. Với sự có mặt của nhiều đại diện quốc tế, chính phủ, các bộ trưởng, ban ngành trung ương, bạn bè gần xa và hàng ngàn người dân tham dự. Chương trình buổi lễ được phát trên sóng NTV, VTV1, VTV4…, truyền hình ảnh lễ đón nhận đến nhân dân cả nước và thế giới… Thật đáng buồn! Tiếng nói dẫn chương trình buổi lễ, lại không phải là tiếng Nghệ - tiếng mẹ đẻ, là hồn cốt, bản sắc quê hương đã sản sinh ra làn điệu dân ca Ví, Giặm này!

Tác giả Nguyễn Hoài Nguyên khen các PTV, BTV Đài PTTH Nghệ An lâu nay phát âm giọng Vinh khá chuẩn, dễ nghe. Nhưng thực tế, họ đã vận dụng, khai thác, cải biên, giọng Vinh, với âm sắc tiếng Nghệ, như đã nói ở trên. Chúng tôi xin mạnh dạn được trao đổi, chia sẻ khi nhận được khá nhiều ý kiến của các bạn bè đồng nghiệp đều thực sự băn khoăn về những vấn đề này!

Như vậy, ngày nay nhận diện, suy nghĩ như thế nào là giọng Nghệ chuẩn? Chúng ta đã có nhiều thực tế hết sức sinh động và thuyết phục, đó là: Ở Khu Di tích Kim Liên, tất cả các thuyết minh viên đều nói giọng Nghệ rõ ràng, ấm áp, truyền cảm. Du khách thập phương về thăm quê Bác, ai cũng thấy dễ hiểu, thu hút, cảm phục, xúc động, càng thêm thương nhớ Người!... Ngày sinh nhật Bác 19/5/2010, trên sóng cầu truyền hình: Hà Nội - Làng Sen (quê Bác), Bến Nhà Rồng (thành phố Hồ Chí  Minh), từ điểm cầu Làng Sen, MC Diệp Chi, người Nam Đàn, sống và lớn lên ở Vinh, nay công tác ở Đài Truyền hình Hà Nội, nói giọng Nghệ nhẹ nhàng, ấm áp mà sâu lắng, gợi bao niềm thương, nỗi nhớ về Bác, thu hút, hấp dẫn hơn cả tiếng Hà Nội, tiếng Sài Gòn… Xem vở ca kịch "Lời Người, lời của Nước non", của Đoàn Dân ca Nghệ An, phát trên sóng truyền hình VTV1, đồng bào cả nước đều bùi ngùi thương nhớ Bác đến rơi lệ, khi được thấy hình tượng, nghe giọng Nghệ của Bác hỏi thăm bà con xóm làng, vào dịp Người về thăm quê!...

Đài PTTH Nghệ An có những PTV như Hồng Hạnh, Lê Mai, Thu Hằng... nói tiếng Nghệ khá chân thật và truyền cảm; nhiều nghệ sỹ ưu tú, BTV giỏi, có vị thế ngang tầm với các đài khu vực. Là Đài PTTH địa phương đầu tiên được phát trên sóng Vinasat, diện phủ sóng rất rộng, được khán, thính giả trong cả nước, một số nước châu Á thường xuyên theo dõi.

"Người Nghệ dù sống ở quê hay xa xứ, đều tự hào về quê hương mình và thực sự yêu mến tiếng Nghệ. Nói tiếng Nghệ, với từ ngữ phổ thông mạch lạc, rõ ràng, có nét sắc sảo thuyết phục, là sở trường, là ý thức, là phong cách trao đổi, giao tiếp văn hoá của những người Nghệ từng trải nghiệm, lịch lãm. Tiếng Nghệ, bản sắc quê hương"(2) xứng đáng được đưa lên sóng truyền hình, ngang tầm với tiếng Hà Nội, tiếng Sài Gòn, tiếng Huế…

Người dân Nghệ An, tự hào về sự lớn mạnh của cả đất nước và quê hương Nghệ An. Trên sóng NTV, hầu như thường xuyên ngày nào cũng phát sóng chương trình "Bản sắc quê hương", "Quê mình xứ Nghệ"! Mong rằng với tiếng Nghệ, chúng ta phải hết sức cầu thị, tiếp tục phát huy đào tạo, rèn luyện, trau dồi để tiếng Nghệ ngày càng được trong sáng, ấm áp, dung dị như ý chí, tâm hồn người Nghệ.

 

 

Chú thích

 (1), (2).  Phan Tất: Tiếng Nghệ - Bản sắc quê hương, Chuyên san KHXH&NV số:7/2013.

CẶP MẶT XANH CỦA NHÀ ÁI QUỐC PHAN BỘI CHÂU

Pham Bá Hàm

Đã có rất nhiều học giả trong và ngoài nước viết về Phan Bội Châu, nhưng chưa mấy ai chú ý đến khả năng tiên tri tuyệt vời của nhà ái quốc vĩ đại này.

 Cụ có những dự đoán tài tình về tiền đồ của một số nhân vật trẻ tuổi ưu tú khi họ mới bắt đầu sự nghiệp, hoặc khi sự nghiệp còn gặp nhiều khó khăn. Quả thật, Cụ có cặp mắt xanh tuyệt vời, hay mượn cách nói của Đại thi hào Nguyễn Du, Cụ có khả năng: "Anh hùng đoán giữa trần ai mới già". Xin nêu 3 dẫn chứng:

1. Người đầu tiên nồng nhiệt cổ vũ nhà thơ Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử (1912 - 1940) là nhà thơ lớn, "một đỉnh cao lòa chói trong văn học của thế kỷ, thậm chí qua các thế kỷ" (Chế Lan Viên). Nhưng đó là chuyện về sau, còn vào các năm 1930 - 1931 chưa ai biết anh là ai.

Bấy giờ Phan Bội Châu bị giam lỏng ở Huế. Để có thể tâm tình với đồng bào, Cụ mở Mộng Du thi xã. Thơ các nơi gửi về rất nhiều, trong số đó cụ Phan tán thưởng nhất 3 bài: Gái ở chùa, Thức khuya, Chùa hoang của tác giả Phong Trần (một bút danh khác của Hàn Mặc Tử). Cụ họa vần cả 3 bài rồi gửi đăng ở Báo Tiếng dân với lời cổ vũ nồng nhiệt: "Từ về nước đến nay, được xem nhiều văn thơ quốc âm, song chưa gặp được bài nào hay đến thế. Hồng nam, nhạn bắc, ước ao có ngày được gặp gỡ để bắt tay nhau cười to một tiếng, ấy là thoả hồn thơ đó"(1).

Xin dẫn ra đây bài Thức khuya:

Non sông bốn mặt ngủ mơ màng

Thức chỉ mình ta dạ chẳng an.

Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối

Gió thu lọt cửa cọ mài chăn.

Khóc dùm thân thế hoa rơi lệ

Buồn giúp công danh dế dạo đàn.

Trỗi dậy nôm na vài điệu cũ

Và bài họa của cụ Phan:

Chợ lợi trường danh tớ chẳng màng

Sao ăn không ngọt, ngủ không an?

Trăm năm ngán đó tuồng dâu bể,

Muôn họ nhờ ai bạn chiếu chăn?

Cửa sấm gớm ghê người đánh trống,

Tai trâu mỏi mệt khách đưa đàn.

Lòng sen đằng đẵng tơ sen vướng,

Mưa gió bao phen gộc chẳng tàn!(2).

Cả bài xướng và bài họa đều tuân thủ niêm luật đường thi chặt chẽ mà lời lẽ lại thật trong sáng, hiện đại!

Lời cổ vũ của nhà chí sĩ được người đương thời suy tôn là bậc hay chữ nhất nước Nam, khiến từ đó hai tiếng Phong Trần lập tức được truyền đi trên cửa miệng khách văn chương và giới trí thức. Đối với Hàn Mặc Tử, những lời nồng ấm của cụ Phan khiến nhà thơ trẻ hết sức phấn khởi và thêm vững tin vào khả năng của mình.

Với lòng biết ơn chân thành, Hàn viết thư cho cụ Phan. Từ đó, hai người thư từ qua lại thân thiết. Cụ Phan còn tự chép thơ mình gửi cho Hàn và Hàn Mặc Tử có chịu ảnh hưởng thơ Cụ ít nhiều, tiêu biểu là các bài Nằm bệnh, Lều tranh ông Hoàng.

2. Lời đề từ khiêm tốn và sáng suốt

Năm 1931 bộ Hán - Việt từ điển của tác giả trẻ tuổi Đào Duy Anh (1904 - 1988) ra mắt bạn đọc. Bộ sách có lời đề từ trân trọng của người hiệu đính, bậc túc Nho Hãn Mạn Tử (một bút danh của cụ Phan Bội Châu): "…Bỉ nhân thường có ý vét túi, đổ rương, chứa năm lũy tháng, mong biên nên một bộ Hán Việt từ lâm… Nhưng khổ vì học ít, tài hèn, lòng giàu mà sức quá nghèo, nên nỗi ngày lần tháng lữa, tưởng bánh nhịn thèm.

May mắn thay! Gần đây gặp được người bạn thanh niên là ông Đào Duy Anh vừa biên soạn thành bộ Hán - Việt từ điển, toan cống hiến với đồng bào, bỉ nhân được tin mừng khuống, gấp tìm tuyển cảo đọc xem, thấy chú thích tinh tường,  phẫu giải minh bạch, tóm lặt hết từ ngữ thuộc về Hán văn mà Việt văn cần phải dùng đến cộng hơn bốn vạn điều.

Mới mẻ thay! Quý hóa thay! Khổ tâm nghị lực như Đào quân!..."(3).

  Nếu chúng ta chú ý: 84 năm đã trôi qua, tiếng Việt đã có nhiều bước hiện đại hóa, nhưng bộ Hán - Việt Từ điển vẫn có vị trí xứng đáng trong giới khoa học và tác giả của nó đã trở thành một học giả nổi tiếng cả trong và ngoài nước, được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000… Nếu chúng ta biết rằng người viết lời đề từ đó đã từng sử dụng tới 40 bút danh và tung hoành trên trường văn trận bút với đủ mọi thể loại; các tác phẩm về sau được tập hợp trong bộ Phan Bội Châu Toàn tập (10 tập đồ sộ, 6272 trang in khổ giấy lớn), chúng ta sẽ thấy lời đề từ đó sáng suốt và khiêm tốn dường bao!(4).

 3. Thánh đất Nam Đàn là ai?

Bác sĩ Nguyễn Kinh Chi là một người học trò cũ của Bác Hồ năm 1911 ở trường Dục Thanh kể rằng có lần tới thăm cụ Phan, bác sĩ đã hỏi về câu "Nam Đàn sinh Thánh" và cho rằng có lẽ "Thánh" là chỉ cụ Phan, thì cụ Phan cương quyết khước từ và nói: "Tôi đâu phải là Thánh. Thánh có rồi mà chưa về đó thôi……Sách nói đúng lắm:"Hậu sinh khả úy". Ông Nguyễn Ái Quốc rứa mà khôn hơn mình"(5).

Khoảng các năm 1936 - 1939, Đào Duy Anh và một người bạn là ông Thừa phái Trần Lê Hựu người làng Hoàng Trù, xã Chung Cự (nay là xã Kim Liên) thường đến thăm cụ Phan lúc đó hay sống trên một chiếc đò đậu dưới gốc sung bên bờ tả Hương Giang. Trong cuốn hồi ký Nhớ nghĩ chiều hôm Đào Duy Anh có kể lại câu chuyện giữa cụ Phan với người bạn trẻ đồng hương Nam Đàn này như sau:

Thưa Cụ! Từ trước đến nay, hễ lớp anh hùng chí sĩ nổi lên thì sớm hay muộn cũng bị bắt, bị tù, bị giết. Cho đến Cụ là niềm hy vọng trong mấy chục năm nay của quốc dân cuối cùng cũng bị bắt đem về giam lỏng ở đây, như thế thì còn mong gì nữa!

Ông không nên nghĩ thế. Đời hoạt động cách mạng của tôi, rốt cuộc là một thất bại lớn. Đó là bởi tôi tuy có lòng, mà thật bất tài. Nhưng dân tộc ta thế nào rồi cũng độc lập, nhất định phải thế. Hiện nay đã có người khác giỏi hơn lớp chúng tôi nhiều, đứng ra đảm đương công việc để làm tròn cái việc mà lớp chúng tôi không làm xong. Ông có nghe tiếng ông Nguyễn Ái Quốc không?

Có báo đăng ông Nguyễn Ái Quốc đã bị bắt và chết ở Hương Cảng cách đây hai ba năm rồi mà!

Không, tôi chắc ông Quốc vẫn còn. Mà ông ấy còn thì nước ta nhất định sẽ độc lập. Họ bắt tôi dễ chứ làm sao bắt được ông Quốc, mà có bắt đi nữa thì cũng phải thả thôi, vì ông ấy giỏi, lại có nhiều vây cánh và bè bạn ở khắp thế giới.

Thưa Cụ:"Bò Đái thất Thanh, Nam Đàn sinh Thánh", chẳng phải Thánh là Cụ hay sao? Cụ còn thất bại nữa là người khác!

Kể cái nghề cử tử thì tôi cũng có tiếng thật. Dân ta thường có thói trọng người văn học mà gán cho người ta tiếng nọ, tiếng kia. Nhưng nếu Nam Đàn có Thánh thật thì Thánh đó chính là ông Nguyễn Ái Quốc chứ không phải ai khác(6)

 Chưa đầy mười năm sau lời tiên tri đó đã trở thành sự thật. Cho hay, những tâm hồn lớn, trí tuệ lớn thường dễ hiểu nhau!

 

Chú thích

(1),(2). Hàn Mặc Tử - Thơ và đời, Nxb Văn học, H.1993, các tr.171, 16.

(3). Đào Duy Anh Hán - Việt từ điển Trường Thi, in lần thứ 3, 1957.

(4). Bộ Phan Bội Châu Toàn tập gồm 10 tập, do PGS. Chương Thâu sưu tầm, biên soạn, Nxb Thuận Hóa - Huế xuất bản năm 1990 gồm 4854 trang; được bổ sung, điều chỉnh và tái bản năm 2000 gồm 6272 trang.

(5). Xin xem: Người học trò cũ của Bác Hồ (Hồi ký của Nguyễn Kinh Chi, do Nguyễn Đình Soạn ghi). Báo Tổ Quốc, số 284, tháng 5/1970

(6). Đào Duy Anh:  Nhớ nghĩ chiều hôm, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2000.

* Nghệ An xúc tiến du lịch tại Trung Quốc

Chiều ngày 12/5, Tổng cục Du lịch Việt  và UBND tỉnh Nghệ An đã tổ chức Hội nghị Xúc tiến du lịch tại thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc.

Thông qua Hội nghị Xúc tiến du lịch, Tổng cục Du lịch và tỉnh Nghệ An quảng bá, giới thiệu những hình ảnh về con người, văn hoá, các điểm đến, sản phẩm du lịch, khu nghỉ dưỡng, các hình thức du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng ở Nghệ An, như Khu di tích Kim Liên, bãi biển Cửa Lò, Vườn quốc gia Pù Mát...

Đây là hoạt động nhằm thu hút, tăng lượng du khách các tỉnh miền Nam Trung Quốc - tiếp giáp với phía Bắc Việt Nam đến với du lịch Nghệ An. Qua đó, góp phần đẩy mạnh quan hệ hợp tác giữa tỉnh Nghệ An và tỉnh Quảng Tây trong lĩnh vực du lịch.

Cũng tại Hội nghị, Tổng cục Du lịch, tỉnh Nghệ An cùng các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn lớn của Việt Nam như Tập đoàn Mường Thanh, Vietnamtourism Hà Nội, Goftviet và các doanh nghiệp tại Nam Ninh đã tổ chức gian trưng bày, gặp gỡ và giới thiệu tiềm năng, thế mạnh, sản phẩm du lịch các tỉnh, các doanh nghiệp, chiếu phim du lịch Việt Nam, du lịch Nghệ An bằng tiếng Trung Quốc.

H.B

* Khai giảng lớp Bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính và chuyên viên

Sáng ngày 6/5, tại Trung tâm KHXH&NV Nghệ An, Học viện Hành chính Quốc gia, Bộ Nội vụ tổ chức Lễ khai giảng lớp Bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính và chuyên viên tại Nghệ An. Tham dự Lễ khai giảng có gần 50 học viên đến từ các cơ quan, ban ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Khóa học được tổ chức với mục tiêu nâng cao hơn nữa năng lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực, giúp các học viên thành thạo hơn trong công tác nghiệp vụ quản lý Nhà nước, gắn kết giữa lý luận và thực tiễn nhằm giải quyết tốt những vấn đề thuộc quản lý Nhà nước đang đặt ra ở các cơ quan đơn vị, địa phương, góp phần chuẩn hóa chất lượng cán bộ công chức, thực hiện có hiệu quả nền hành chính công, là cơ sở để xây dựng một nền hành chính Nhà nước ngày càng hiện đại hơn. Ngay sau Lễ khai giảng, lớp học chính thức bước vào học tập các chuyên đề theo lịch đã đề ra.

Phạm Khắc

* Hội thảo khoa học "Giải pháp chống tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên và nhân dân Nghệ An"

Chiều ngày 3/5, Trường Chính trị Nghệ An đã tổ chức Hội thảo khoa học "Giải pháp chống tư tưởng bảo thủ trông chờ ỷ lại trong cán bộ đảng viên và nhân dân ở Nghệ An". Tham dự có các nhà khoa học, chuyên gia và cán bộ giảng viên của nhà trường.

Hội thảo nhằm tiếp thu ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý, các cơ quan chuyên môn và các kết quả nghiên cứu có liên quan nhằm hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu khoa học tổng kết thực tiễn thực hiện Đề tài "Thực trạng và giải pháp chống tư tưởng bảo thủ trông chờ ỷ lại trong cán bộ Đảng viên và nhân dân Nghệ an".

Tại buổi Hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học đã góp ý, thảo luận vào 2 nhóm giải pháp: Nhóm giải pháp tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức nhằm chống tư tưởng bảo thủ, trông chờ ỷ lại trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ở Nghệ An; Nhóm giải pháp chống tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong hoạt động phát triển kinh tế - xã hội ở một số lĩnh vực vụ thể, ở một số nhóm người cụ thể.

Kết quả của Hội thảo góp phần tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh về chủ trương chính sách và những giải pháp hiệu quả trong việc đẩy nhanh sự phát triển bền vững của Tỉnh.

Khắc Lanh

* Cố PGS. Ninh Viết Giao vinh dự được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (năm 2016)

Nhà nghệ học số một - PGS Ninh Viết Giao vinh dự được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh lần thứ 5 (năm 2016) về văn học nghệ thuật lĩnh vực văn hóa dân gian do Chủ tịch nước Trần Quang Đại ký.

PGS Ninh Viết Giao sinh năm 1933, quê xã Hoằng Xuyên, Hoằng Hóa (Thanh Hóa), mất ngày 6.3.2014 tại Nghệ An. Ông có trên 50 năm dạy học, nghiên cứu, sưu tầm văn hóa dân gian xứ Nghệ. Ông được phong học hàm Phó Giáo sư năm 1984. 

PGS Ninh Viết Giao là người có công lớn trong việc lưu giữ và làm sáng tỏ các phương diện khác nhau của kho tàng văn hóa dân gian xứ Nghệ. 

Những công trình: Câu đố Việt Nam (1958), Hát phường vải (1961), Hát giặm Nghệ Tĩnh (viết chung với Nguyễn Đổng Chi) - 1962), Kho tàng truyện cổ dân gian xứ Nghệ (1993 - 1995), Thơ văn Xô Viết Nghệ Tĩnh (1971), Kho tàng vè xứ Nghệ (9 tập, 1999-2000)… đã trở thành những tài sản vô giá của văn hóa xứ Nghệ, là tài liệu tham khảo quan trọng không thể thiếu đối với bất cứ ai muốn tìm hiểu, nghiên cứu về văn hóa dân gian xứ Nghệ.

Với hơn 50 đầu sách về văn hóa xứ Nghệ - ông thực sự xứng đáng được người dân xứ Nghệ yêu mến gọi là "nhà Nghệ học số một". Bộ sách 9 tập "Vè xứ Nghệ" - được xuất bản lần đầu tiên tại Nhà xuất bản Nghệ An là công trình của PGS được xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Gia Hưng

* Mừng đón học sinh Nghệ An đạt giải Cuộc thi Olympic Vật lý châu Á

Vừa qua, tại Sân bay Vinh, Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An đã tổ chức lễ đón hai học sinh Nghệ An đạt giải trong cuộc thi Olympic Vật Lý Châu Á.

Đại diện lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, Trường THPT chuyên Phan Bội Châu và gia đình hai em Trần Hữu Bình Minh và Phan Tuấn Linh đã vui mừng đón chào 2 thí sinh trở về sau cuộc thi Olympic Vật Lý Châu Á lần thứ 18.

Cuộc thi Olympic Vật Lý Châu Á năm nay được tổ chức tại Cộng hòa Liên Bang Nga với sự tham gia của 153 thí sinh đến từ 22 nước và vùng lãnh thổ. Kết quả, 7/8 thí sinh của Việt Nam đã đạt giải thưởng, với 1 huy chương Vàng, 3 huy chương Bạc và 3 bằng khen.

Trong đó, Nghệ An có học sinh Trần Hữu Bình Minh, đạt huy chương Bạc và em Phan Tuấn Linh đạt bằng khen. Hai em đều là học sinh lớp 12 Trường THPT Chuyên Phan Bội Châu.

Với kết quả này, Trần Hữu Bình Minh và Phan Tuấn Linh tiếp tục được chọn vào đội tuyển Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Vật lý Quốc tế dự kiến tổ chức vào tháng 7 tại Indonesia.

Theo Đài PTTH Nghệ An

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.