« Quay lại

Chuyên san Khoa học xã hội &nhân văn số 6 năm 2017

Nguyễn Khắc Thuần

 

Cõi thiêng trong tim Bác

Cuối tháng 5/1957, Bác cho mời đồng chí Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) lên gặp. Bác ân cần:

- Chú chuẩn bị cho Bác vào thăm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Vĩnh Linh trong tháng 6. Tiện thể Bác về thăm nhà. Xa quê 50 năm rồi! Chú cũng mấy chục năm không về quê rồi nhỉ! Lần này đi "ghé" với Bác luôn.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn lễ phép thưa:

- Chúng cháu đã làm kế hoạch để Bác thay mặt Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đi thăm, cảm ơn các nước bạn bè, anh em đã giúp đỡ nhân dân ta trong kháng chiến vào cuối tháng 6. Để đảm bảo sức khỏe cho Bác, xin phép được chuyển chuyến đi này vào tháng 8/1957.

Bác mỉm cười:

- Trước lúc đi đâu xa, làm việc lớn, cha ông ta thường đưa cháu con về bái lạy tổ tiên, cầu mong phù hộ độ trì cho công việc thuận lợi. Nay ta cũng làm vậy! Quê hương là cõi thiêng mà! Chú không phải lo cho sức khỏe Bác đâu.

Soạn thảo kế hoạch xong, Bộ trưởng lên báo cáo Bác. Lịch trình được xếp: ngày 12 và 13/6 Bác thăm Thanh Hóa, ngày 14 và 15/6 Bác thăm Nghệ An, cán bộ chiến sỹ Liên khu 4, về thăm quê Kim Liên, 16/6 bác thăm Hà Tĩnh, ngày 17 và 18/6 Bác thăm Quảng Bình (mời đại biểu Vĩnh Linh ra để Bác gặp). Vừa xem lịch trình vừa bấm đốt ngón tay nhẩm tính, Bác lấy bút đỏ chuyển ngày về thăm  Kim Liên vào sáng 16. Bác nhẹ nhàng:

- Chú xếp lịch chú ý ngày mà không chú ý thứ. 16/6 mới là ngày chủ nhật.

Lời nhắc của Bác làm Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn nhớ lại: năm 1946 khi tiếp chị Thanh từ Nghệ An ra Hà Nội thăm, Bác cũng tiếp vào sáng chủ nhật.

Bác của chúng ta là thế đó: dù đi đâu, làm gì quê hương trong tim Người là một cõi thiêng nhưng công, tư phân minh để nghĩa tình thêm sáng trong, đẹp đẽ.(1)

Chiếc khăn tắm của Bác

Chiều 14/6/1957, Bác về đến Nhà khách Tỉnh ủy Nghệ An. Tranh thủ lúc đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Bí thư Liên khu ủy và đồng chí Nguyễn Trường Khoát, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An nói chuyện cùng Bác, đồng chí Trần Quốc Hoàn kiểm tra nhà tắm. Thấy đã đặt sẵn hai chậu nước, hai miếng xà phòng và khăn tắm. Ông nhắc đồng chí cán bộ văn phòng tỉnh ủy cất đi một chậu, một miếng xà phòng và khăn tắm, rồi gọi người phục vụ Bác mang khăn tắm Bác vào. Đó là một chiếc khăn rất cũ đã mòn cả bông, giữa khăn có một đường khâu dài. Biết đồng chí cán bộ văn phòng Tỉnh ủy Nghệ An ái ngại khi nhìn chiếc khăn tắm này, ông nói:

- Chiếc khăn này Bác dùng bảy tám năm rồi nhưng Bác không cho thay, rách thì Bác dùng chỉ khâu lại. Bởi theo Bác cũ mà còn dùng được thì cứ dùng để tiết kiệm. Bác của chúng ta là thế đó! Suốt một đời cần kiệm bởi theo Người: "Nó đều là đồng tiền, bát gạo của dân góp lại, mà nước ta là nước nông nghiệp còn lạc hậu, làm nên hột ló dân ta còn khổ cực trăm đường"(2).

Bác tiếp đoàn chuyên gia Liên Xô

Theo lịch tối 14/6, Bác gặp đoàn chuyên gia Liên Xô đang giúp ta xây dựng Nhà máy điện Vinh. 17 giờ, Bác bách bộ vào kiểm tra hội trường.

Bác hỏi Bí thư Nguyễn Trường Khoát:

- Có bao nhiêu khách?

- Thưa Bác 40 chuyên gia Liên Xô, 20 cán bộ Trung ương và tỉnh.

Chỉ vào chiếc ghế gụ đặt giữa hội trường Bác hỏi:

- Có đủ 60 chiếc ghế gụ này không?

- Thưa Bác, chỉ có 4 chiếc trong phòng khách, chúng cháu mang đến một chiếc, toàn cơ quan đang ngồi ghế băng ạ.

- Chú cất chiếc ghế gụ này đi, Bác ngồi chung ghế băng với mọi người.

Nhìn 2 chiếc quạt trần trong hội trường, Bác lại hỏi:

- Hai chiếc quạt này có đủ mát cho 60 người không? Các bạn Liên Xô ở xứ lạnh không chịu được nóng nực như ta đâu! Chú cho người sang thương nghiệp mua 60 chiếc quạt giấy. Không đủ quạt giấy thì quạt lá cọ, mo cau cũng được nhưng phải đủ mỗi người một chiếc để tự quạt.

Từ lúc đón đoàn chuyên gia đến hết buổi gặp, tối đó Bác dùng tiếng Nga nói chuyện với các đồng chí chuyên gia Liên Xô. Đồng chí phiên dịch phải làm một việc ngược lại với nghi thức ngoại giao là chuyển ngữ tiếng Nga Bác nói sang tiếng Việt. Bác ân cần thăm hỏi các chuyên gia, cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Đảng và nhân dân Liên Xô. Bác mong các chuyên gia vừa lao động vừa giảng dạy cho công nhân Việt Nam.

Buổi gặp kết thúc rồi mà các đồng chí chuyên gia Liên Xô vẫn bịn rịn vây quanh Bác không muốn chia tay. Đồng chí trưởng đoàn thưa với Bác:

- Thưa Bác, Người cho chúng cháu được giữ lại chiếc quạt này để kỷ niệm về Hồ Chí Minh, kỷ niệm về Việt Nam.

Người âu yếm mỉm cười đồng ý, thân mật ôm hôn tiễn biệt từng chuyên gia. Nhiều đồng chí ra khỏi hội trường còn quay lại nhìn Người dùng dằng lưu luyến tạm biệt(3).

Các chú làm khổ Bác!

Sáng 14/6/1957, Bác nói chuyện với hội nghị cán bộ toàn tỉnh. Mờ sáng Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Trường Khoát và Chính ủy Liên khu 4, Chu Huy Mân sang nhà khách đón Bác. Bác hỏi Bí thư Nguyễn Trường Khoát:

- Nghe nói các chú mổ con bò để đón Bác?

Biết không giấu được, đồng chí Nguyễn Trường Khoát thưa:

- Thực phẩm ở Vinh khan hiếm nên các cháu làm con bò để có thịt tươi.

Bác không vui:

- Các chú làm khổ Bác rồi! Mình Bác và mấy chú trong đoàn ăn răng hết con bò? Làm Bác mang tiếng về thăm quê bắt nhân dân phải cung phụng. Thế thì khác gì vua chúa ngày xưa! Thôi đã lỡ thịt ra rồi thì trưa nay chú phải mời các cụ cao tuổi dự hội nghị ăn cơm cùng Bác.

Bữa cơm trưa hôm đó Bác đi một vòng khắp lượt nhà bếp Tỉnh ủy, bắt tay chúc sức khỏe từng người, ân cần nói chuyện với mọi người:

Hôm nay Tỉnh ủy có mổ con bò để đón Bác. Rứa là cụ Hồ ăn hết một con bò của dân choa! Không chỉ riêng ở Nghệ An mà nạn chè chén đang lan tràn, trông có trên xuống là dưới mổ bò, mổ lợn. Vì vậy tôi đề nghị Tỉnh ủy mời các Cụ ăn cơm đoàn kết để giúp cụ Hồ ăn hết một con bò. Mong sao chuyện này không xảy ra nữa! Đảng kêu gọi tiết kiệm để xây dựng CNXH thì Đảng viên tiết kiệm trước làm gương(4).

Đinh ninh lời Bác

Về thăm quê lần thứ nhất, Bác đề nghị Tỉnh ủy cho Bác gặp mặt các lão thành, cán bộ chủ chốt của Tỉnh. Người rất vui và biểu dương cán bộ đã làm được 3 điều tốt là: "... Đoàn kết được nhân dân và lãnh đạo nhân dân phục vụ kháng chiến đến thắng lợi. Tích cực cùng nhân dân công tác để thực hiện kế hoạch năm 1956. Sau cải cách ruộng đất đã cố gắng đoàn kết để sửa sai". Bác chỉ rõ: có 3 điều tốt đó là do "... đại đa số cán bộ đã chịu khổ, chịu khó để hoàn thành nhiệm vụ". Về khuyết điểm Bác nêu "5 khuyết điểm" đó là: 1. "... Đoàn kết nội bộ, đoàn kết giữa Đảng viên cũ và Đảng viên mới, giữa cán bộ trong Đảng và cán bộ ngoài Đảng, giữa cấp trên và cấp dưới đang còn nhiều thiếu sót"; 2. Trong cán bộ, đảng viên còn suy bì đãi ngộ, tư tưởng địa vị; 3. Cán bộ đảng viên ngồi lo không biết tiền đồ của mình ra sao? 4; Tư tưởng sợ khó. 5. Còn một số đảng viên, cán bộ đang xa xỉ, tham ô, lãng phí, không biết tiếc tiền của công, không biết tiếc của cải do nước mắt đồng bào làm ra". Về nhiệm vụ trước mắt Bác nêu rõ: "1. Đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; 2. Ra sức củng cố chính quyền nhân dân, củng cố các tổ chức của nhân dân ở các địa phương; 3. Cán bộ, đảng viên, đoàn viên phải làm nhiệm vụ thiêng liêng nhất là quan tâm lo lắng đến đời sống nhân dân; 4. Muốn tiến bộ phải học tập; 5. Trong xây dựng Đảng và xây dựng đội ngũ phải chú trọng phê bình và tự phê bình". Cuối buổi nói chuyện Bác ân cần: "Giao nhiệm vụ thì phải có thưởng, có phạt. Bác để lại cho Tỉnh ủy 100 huy hiệu để các ngành, các cô, các chú bầu ra người có công để thưởng"(5).

60 năm đã trôi qua nhưng những lời căn dặn ân tình của Người năm ấy vẫn còn nguyên giá trị cho công cuộc dựng xây hôm nay.

Được Bác sát hạch

Ngày 15/6/1957, từ Hà Tĩnh ra, Bác ghé thăm cán bộ chiến sỹ Liên khu 4. Chính ủy Chu Huy Mân và Tư lệnh Nguyễn Đôn sang bờ phà Bến Thủy đón Bác.

Bác không vào cổng chính mà vào cổng phụ đi thẳng tới nhà bếp. Mấy đồng chí nuôi quân đang làm việc bất ngờ được gặp Bác ai cũng sững sờ, sung sướng. Bác thân mật bắt tay từng người rồi hỏi một chiến sỹ nuôi quân:

- Chú làm anh nuôi có được huấn luyện bắn súng không?

Chiến sỹ nuôi quân cảm động ấp úng thưa:

- Thưa Bác có ạ!

- Thế kiểm tra bắn súng được xếp loại nào?

- Thưa Bác bộ phận nuôi quân chúng cháu được xếp loại khá ạ!

Bác cười rất vui:

- Các chú bắn súng đều khá sao không "bắn" được mấy con ruồi này?

Biết Bác phê bình công tác vệ sinh còn yếu, một chiến sỹ thưa với Bác:

- Thưa Bác, chúng cháu nhận khuyết điểm công tác vệ sinh phòng bệnh còn yếu. Chúng cháu xin khắc phục ngay.

Bác cười ân cần:

- Biết sai, biết sửa là tốt. Nhà bếp phải luôn luôn gọn gàng, sạch sẽ để đảm bảo sức khỏe cho đồng đội.

Rời nhà bếp, Bác đi ra phía sau vào kiểm tra nhà vệ sinh. Vừa đi Bác vừa nói với Chính ủy Chu Huy Mân:

- Kỷ luật quân đội là tự giác, nghiêm minh. Nhà vệ sinh là nơi chỉ mình biết việc mình làm. Phải chăm lo giáo dục anh em từ những điều nhỏ nhất ấy.

Ghé vào phòng giao ban Quân khu, nghe Tư lệnh Quân khu Nguyễn Đôn báo cáo tình hình, Bác rất vui vì cán bộ chiến sỹ đang tự lực cánh sinh xây dựng được nhiều doanh trại, Bác hỏi:

- Toàn bộ cơ quan quân khu đã làm được bao nhiêu nhà? Bao nhiêu gian?

Tư lệnh Nguyễn Đôn liếc mắt nhìn "cầu cứu" Chính ủy Chu Huy Mân... không ai trả lời được câu hỏi này của Bác!

Nghe báo cáo về sẵn sàng chiến đấu, về tình hình giới tuyến (vĩ tuyến 17 ở Vĩnh Linh), Bác hỏi:

- Từ Cửa Tùng lên biên giới Việt - Lào dài bao km? Đi qua bao nhiêu làng, xóm?

Cũng không ai trả lời được câu hỏi này.

Chính ủy Chu Huy Mân đứng dậy thưa với Bác:

- Chúng cháu nhận khuyết điểm lớn, tác phong công tác chưa tỉ mỉ, cẩn thận, chúng cháu sẽ kiểm điểm kỹ về khuyết điểm này để khắc phục kịp thời.

Bác cười độ lượng:

- Đã là cán bộ quân sự thì tác phong phải hết sức tỉ mỉ, từ việc lớn đến việc nhỏ đều phải nắm chắc. Chú Mân đã nhận rồi! Đây là khuyết điểm lớn, cần khắc phục nhanh.

50 năm ấy biết bao nhiêu tình

Sáng chủ nhật 16/6/1957, Bác Hồ về thăm quê lần thứ nhất. Thắp hương nhà thờ họ, Bác rơm rớm nước mắt. Người đứng lặng rất lâu trước anh linh tiên tổ.

Rời nhà thờ họ, Bác đi về phía nhà mình, qua nếp nhà khách của khu di tích vừa xây dựng xong (nay là doanh trại đơn vị Công an bảo vệ Di tích), Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Trường Khoát mời Bác vào, Bác cười nói với mọi người:

- Nhà khách để đón khách, Bác về nhà cụ Phó bảng chớ!

Thấy tấm bảng treo: "Nhà Bác Hồ", Bác nói với mọi người:

- Đây là nhà cụ Phó bảng chứ!

Mấy đồng chí lãnh đạo Ty Văn hóa Thông tin, Khu di tích giật mình vì sự sai sót khi đặt bảng dẫn tích.

Đến mép vườn, Bác trầm ngâm ngắm nhìn một lúc rồi bảo:

- Ngõ vào nhà cụ Phó bảng lối này.

Thì ra lại một điều sai sót nữa!

Thăm mái nhà tranh của mẹ cha xưa, nơi Bác từng sống từ năm 11 tuổi đến 16 tuổi, Bác bồi hồi, xúc động. Người vẫn nhớ như in từng đồ vật trong nhà, từng gốc ổi, hàng cau, bụi chuối, luống khoai lang, dãy chè mận hảo... 50 năm xa quê nhưng những kỷ vật đó vẫn in sâu trong tâm thức Người. Và cũng nhờ sự chỉ dẫn của Bác mà Khu di tích Kim Liên đã mở lại lối vào nhà Bác, có giải pháp mỹ thuật thích hợp để đưa những hiện vật lịch sử trong nội thất căn nhà này về đúng với nguyên bản.

Ra phía sau nhà, một cụ già hàng xóm bước ra chào Bác và hỏi:

- Bác còn nhớ tôi không?

Bác lấy tay vỗ trán một lúc rồi nói:

- Có phải Điền không?

Ông Hoàng Điền sung sướng chạy lại ôm chầm lấy người bạn chăn trâu, cắt cỏ, thả diều thuở ấu thơ, xúc động khóc nức nở.

Sau đó Bác ra nói chuyện với đồng bào, mở đầu bằng câu tập Kiều:

Quê hương nghĩa trọng tình sâu

Năm mươi năm ấy, biết bao nhiêu tình!

Người căn dặn: "Kim Liên phải trở thành xã kiểu mẫu". Nhiều người xúc động không kìm được nước mắt trước tình cảm quê hương sâu đậm của Bác.

Bác Hồ và bà con Vân Kiều, Pa Kô

Sáng 17/6/1957, Bác Hồ vào thăm Quảng Bình, Vĩnh Linh. Bắt tay đoàn đại biểu quân dân chính Đảng ra đón Người, Bác Hồ dang hai tay ôm choàng lấy người đàn ông đen như hòn than vận quần áo dân tộc thiểu số. Người ân cần:

- Người anh em ở Quảng Bình hay Vĩnh Linh.

- Thưa Bác! Cháu là Hồ Ray người dân tộc Vân Kiều, xã Vĩnh Ô, hiện nay công tác ở Ban Miền núi khu vực Vĩnh Linh.

Bác nói với Hồ Ray và cũng là nói với mọi người:

- Lần này Bác chưa vào được Vĩnh Linh nhưng dứt khoát lần sau Bác sẽ vào thăm nhân dân Vĩnh Linh, thăm những người anh em Vân Kiều.

Nghe Bác nói Hồ Ray như mở cờ trong bụng bởi ngày tiễn Hồ Ray xuống Hồ Xá (thị trấn Vĩnh Linh), các già làng Vân Kiều đã giao cho Ray một việc: Mày đi làm cán bộ có dịp mày gặp cụ Hồ phải thưa với Cụ năm 1946, khi bầu cử Quốc Hội khóa 1 bộ đội đã đặt họ Hồ cho tộc người Vân Kiều, Pa Kô. Sau đó ngày 26/6/1946 già làng các bản đã tụ tập nhau về chân núi Coóc Tăng làm lễ đâm trâu, cắt máu ăn thề, nguyện đời đời người Pa Kô, Vân Kiều trung thành với cách mạng, với Bác Hồ. Mày phải thay mặt bà con xin phép Cụ cho bà con được mang họ Cụ. Thế mà bây giờ gặp Bác, Hồ Ray không phải xin phép mà đã được bác gọi là "người anh em" nghĩa là Bác đã biết chuyện này và chấp nhận chuyện này, Bác đã xem bà con Vân Kiều, Pa Kô là người anh em. Cái bụng của Bác đã biết, đã ưng điều này rồi.

Một niềm vui bất ngờ nữa lại đến với Hồ Ray. Tối đó, Người cho xe đón Hồ Ray và đồng chí Hoàng Đức Sản, Chủ tịch khu vực Vĩnh Linh đến Nhà khách sư đoàn 325 để gặp Bác.

Bác gửi cho Hồ Ray 100 chiếc gương soi phía sau có in tấm bản đồ Việt Nam và 100 bánh xà phòng thơm. Người ân cần:

- Chú Sản và chú Ray chuyển cho những người anh em Vân Kiều, Pa Kô món quà nhỏ này của Bác. Nói với bà con phải đoàn kết trong bản, đoàn kết trong khu thật tốt, chăm lo xây dựng đời sống mới để góp phần đấu tranh thống nhất nước nhà.

Hồ Ray nghẹn ngào không nói nên lời, may có Chủ tịch Hoàng Đức Sản thưa hộ:

- Ta không phải xin Bác cho mang họ Hồ nữa. Bác biết lâu rồi. Bác rất vui vì có thêm những bà con anh em cùng họ trên đại ngàn. Người gửi gương soi để tấm lòng người Vân Kiều, Pa Kô luôn trong sáng như gương. Người gửi xà phòng thơm để người Vân Kiều, Pa Kô bản làng Vân Kiều, Pa Kô luôn thơm thảo. Cái nhớp, cái xấu phải ra khỏi bản để bản làng luôn thơm tho.

60 năm đã trôi qua. Những người mang họ của Bác trên đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ đã làm tròn lời hứa với Bác ngày nào.

 

Chú thích

 (1), (2). Ghi theo lời kể của Đại tướng Chu Huy Mân với Ban chỉ đạo phim truyền thống Quân khu 4, lưu: Ban Lịch sử công tác Đảng, công tác Chính trị QK4.

(3). Báo Nhân dân ngày 18/5/1990.

(4), (5). Ghi theo lời kể của Đại tướng Chu Huy Mân với Ban nội dung Bảo tàng QK4 (lưu Bảo tàng QK4).

(6). Bác Hồ với LLVT QK4, NXB QĐND, 2000, trang 43 - 48

(7) Hồ sơ lưu Bảo tàng Sư đoàn 325, Quân đoàn 2.

Lê Đức Hoàng

1. Tuy số lượng bài viết, bài nói chuyện của Hồ Chí Minh về chủ đề kinh tế không nhiều nhưng Người chỉ ra nhiều nội dung quan trọng về con đường phát triển kinh tế thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam. Đó là kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu, nhưng kinh tế quốc doanh luôn đóng vai trò chủ đạo. Người không chỉ khẳng định tính tất yếu phải tiến hành công nghiệp hóa mà còn yêu cầu phải ưu tiên, coi trọng phát triển nông nghiệp, xây dựng cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp hợp lý và gắn phát triển kinh tế với thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu trong điều hành, quản lý.

Nhiều luận điểm về kinh tế của Hồ Chí Minh nêu ra cách đây hơn nửa thế kỷ nhưng hiện nay vẫn nguyên giá trị, trở thành điểm cốt lõi trong chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước: kinh tế thị trường định hướng XHCN "có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế"(1). Tiếc rằng, có thời gian dài, chúng ta chưa quan tâm nghiên cứu đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế nhiều thành phần để vận dụng vào thực tiễn Việt Nam. Thậm chí, có lúc chúng ta còn làm trái ngược với tư tưởng của Người về kinh tế, dẫn tới khuynh hướng muốn xóa bỏ ngay thành phần kinh tế tư nhân, chỉ quan tâm phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Song, từ Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986 đến nay, chúng ta có nhận thức và hành động sát với quan điểm của Hồ Chí Minh về kinh tế, coi nền kinh tế nhiều thành phần là đặc thù của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Từ đó, đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, cho phép và khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể trong những ngành nghề, lĩnh vực nhất định.

2. Tìm hiểu các bài viết, bài nói chuyện của Hồ Chí Minh, đặc biệt là Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam (ngày 11/4/1946), Thường thức chính trị (tháng 9/1953), Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I nước Việt Nam DCCH (tháng 12/1959)..., chúng ta thấy tư tưởng của Người về kinh tế nhiều thành phần có một số vấn đề chính sau đây:

Một là, về tính tất yếu của kinh tế nhiều thành phần. Hồ Chí Minh sớm xác định sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân thì "áp dụng những nguyên tắc tân chính sách kinh tế"(2) cho giai đoạn cách mạng XHCN, tức là Chính sách kinh tế mới như của Lênin đã áp dụng ở nước Nga Xô viết từ năm 1921. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, căn cứ vào đặc điểm nước ta là từ một nước thuộc địa nửa phong kiến quá độ đi lên CNXH với sức sản xuất yếu, đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân còn thấp, Hồ Chí Minh xác định xây dựng kinh tế là "nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài". Bởi vì: "Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ"(3); "Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi. Vì vậy cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được"(4).

Năm 1946, khi đang ở thăm nước Pháp, có nhà báo phỏng vấn về thời gian Việt Nam đạt đến chủ nghĩa cộng sản, Hồ Chí Minh trả lời: "Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình. Ở nước chúng tôi, những điều kiện ấy chưa có đủ"(5). Đến năm 1953, Người khẳng định: "Tùy hoàn cảnh mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau. Có nước thì đi thẳng đến CNXH (cộng sản) như Liên Xô. Có nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên CNXH (cộng sản) như các nước Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam ta…"(6). Đối với nước ta, mục đích "kháng chiến để đập tan ách đế quốc, phong kiến, giải phóng dân tộc, làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất thực sự, thực hiện chế độ dân chủ mới, tiến tới CNXH và chủ nghĩa cộng sản"(7). Theo cách diễn đạt đó của Hồ Chí Minh, chúng ta có thể hiểu chế độ dân chủ mới là thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam như hiện nay ta vẫn gọi.

Khi miền Bắc nước ta đi lên xây dựng CNXH, trở thành hậu phương lớn ra sức chi viện cho chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hồ Chí Minh vạch rõ: "Đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của CNXH, đưa miền Bắc tiến dần lên CNXH, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng XHCN, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài"(8).

Theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, trên con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, phải thực hiện "chế độ dân chủ mới". Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau là: kinh tế quốc doanh, các hợp tác xã, kinh tế của cá nhân, tư bản của tư nhân, tư bản của nhà nước; trong đó, "kinh tế quốc doanh là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên, kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng CNXH chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản"(9). Như vậy, sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là tất yếu khách quan.

Hai là, về các hình thức sở hữu kinh tế. Từ năm 1959, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Trong nước ta hiện nay có những hình thức sở hữu chính về tư liệu sản xuất như sau: (1) Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân. (2) Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động. (3) Sở hữu của người lao động riêng lẻ. (4) Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản. Người cũng căn dặn, "mục đích của chế độ ta là xoá bỏ các hình thức sở hữu không XHCN, làm cho nền kinh tế gồm nhiều thành phần phức tạp trở nên một nền kinh tế thuần nhất, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể". Trong đó, "kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu của toàn dân, nó lãnh đạo nền kinh tế quốc dân và Nhà nước phải đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên". Còn "kinh tế hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động; nhà nước đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ cho nó phát triển". Chúng ta phải phát triển thành phần kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho CNXH và thúc đẩy việc cải tạo XHCN. Hợp tác hoá nông nghiệp là khâu chính thúc đẩy công cuộc cải tạo XHCN ở miền Bắc. Kinh nghiệm qua thực tiễn chứng tỏ rằng hợp tác hoá nông nghiệp ở nước ta cần phải trải qua hình thức tổ đổi công và hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Đó là việc rất cần thiết. Chúng ta phát triển từng bước vững chắc tổ đổi công và hợp tác xã thì hợp tác hoá nông nghiệp nhất định thành công. Đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác, nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện. Đối với những nhà tư sản công thương, nhà nước không xoá bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của nhà nước. Đồng thời, nhà nước khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo CNXH bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác. Nhà nước lãnh đạo hoạt động kinh tế theo một kế hoạch thống nhất. Nhà nước dùng cơ quan của mình và dựa vào công đoàn, hợp tác xã, các tổ chức khác của nhân dân lao động để xây dựng và thực hiện kế hoạch kinh tế(10)

Ba là, về các thành phần kinh tế. Năm 1953, Hồ Chí Minh chỉ rõ ở vùng tự do của ta còn tồn tại 6 thành phần kinh tế là: (1) Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô. (2) Kinh tế quốc doanh, có tính chất CNXH. (3) Các hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp, có tính chất nửa CNXH. (4) Kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ, họ thường tự túc, ít có gì bán và cũng ít khi mua gì. (5) Kinh tế tư bản của tư nhân. (6) Kinh tế tư bản quốc gia. Trong loại này, tư bản của tư nhân là chủ nghĩa tư bản. Tư bản của Nhà nước là CNXH(11).

Nhưng về lâu dài, để phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, Hồ Chí Minh chỉ ra 5 loại kinh tế khác nhau, đó là:  "A- Kinh tế quốc doanh (thuộc CNXH, vì nó là của chung của nhân dân). B - Các hợp tác xã (nó là nửa CNXH, và sẽ tiến đến CNXH). C - Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa CNXH). D - Tư bản của tư nhân. E - Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh). Trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng CNXH chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản"(12). Có thể nói, đây chính là nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN mà chúng ta đang thực hiện.

Bốn là, về chính sách kinh tế nhiều thành phần. Để xây dựng và phát triển nền kinh tế có nhiều thành phần như trên, Hồ Chí Minh đưa ra chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ gồm bốn điểm mấu chốt sau đây:

(1) Công tư đều lợi. Kinh tế quốc doanh là công. Nó là nền tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới. Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó và nhân dân ta phải ủng hộ nó. Đối với những người phá hoại nó, trộm cắp của công, khai gian lậu thuế, thì phải trừng trị. Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ. Đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế nước nhà. Cho nên Chính phủ cần giúp họ phát triển. Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân.

(2) Chủ thợ đều lợi. Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột. Nhưng Chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay. Chính phủ phải bảo vệ lợi quyền của công nhân. Đồng thời, vì lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ được số lợi hợp lý, không yêu cầu quá mức. Chủ và thợ đều tự giác tự động, tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên.

(3) Công nông giúp nhau. Công nhân ra sức sản xuất nông cụ và các thứ cần dùng khác, để cung cấp cho nông dân. Nông dân thì ra sức tăng gia sản xuất, để cung cấp lương thực và các thứ nguyên liệu cho công nhân. Do đó mà càng thắt chặt liên minh giữa công nông.

(4) Lưu thông trong ngoài. Ta ra sức khai lâm thổ sản để bán cho các nước bạn và để mua những thứ ta cần dùng. Các nước bạn mua những thứ ta đưa ra và bán cho ta những hàng hóa ta chưa chế tạo được. Đó là chính sách mậu dịch, giúp đỡ lẫn nhau rất có lợi cho kinh tế ta. Bốn chính sách ấy là mấu chốt để phát triển kinh tế của nước ta(13).

Hồ Chí Minh cũng có quan điểm khách quan với kinh tế tư bản tư nhân trong nước vì nhìn thấy đặc điểm riêng của giai cấp tư sản Việt Nam. Đó là "giai cấp tư sản ở ta thì họ có xu hướng chống đế quốc, có xu hướng yêu nước", cho nên, "nếu mình thuyết phục khéo, lãnh đạo khéo, họ có thể hướng theo CNXH"(14). Bên cạnh đó, Người cũng rất quan tâm đến việc làm ăn, phát triển kinh tế để đầu tư về nước của Việt kiều: "Các bạn, người buôn bán, kinh doanh, tiểu thương, tiểu chủ, công nhân và trí thức, đã chung sống với nhân dân Việt Nam. Các bạn đã khai cơ lập nghiệp ở Việt Nam. Những hoạt động chính đáng về kinh tế và văn hóa của các bạn cũng có lợi cho Việt Nam. Vì vậy tôi khuyên các bạn: Các bạn cứ yên lòng làm ăn như thường. Nhân dân và Chính phủ Việt Nam sẽ giúp đỡ và bảo hộ các bạn"(15).

Năm là, về giải pháp phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN.

 (1) Phát triển kinh tế đi đôi với quản lý có hiệu quả và thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Người chỉ rõ: "Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là con đường đi đến xây dựng thắng lợi CNXH, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc"(16) và "sản xuất mà không tiết kiệm thì khác nào gió vào nhà trống"(17). Người cũng căn dặn, trong phát triển kinh tế phải chống ba căn bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu là những "giặc nội xâm" - đồng minh với giặc ngoại xâm, "là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ". Loại kẻ thù này "khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta", "làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta", "phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và của nhân dân. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám"(18). Hồ Chí Minh cũng căn dặn nhiều điều về cách thức quản lý kinh tế, phân phối sản phẩm sao cho công bằng để kích thích động lực phát triển. Ví như, không nên chia phần tốt cho vợ, con mình còn phần xấu thì chia cho người khác; phải thật minh bạch tất cả các khoản chi, khoản thu; ban quản trị không được tư túi, tiêu xài mà không báo cáo.

(2) Ưu tiên phát triển kinh tế nông nghiệp nhưng phải xây dựng cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp hợp lý. Trong thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam ngày 11/4/1946, Người viết: "Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu, nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì cần phải có hợp tác xã"(19). Nên từ ngày đầu toàn quốc kháng chiến, Hồ Chí Minh đã xác định, để kháng chiến chóng thành công thì phải tích cực phát triển nông nghiệp làm cơ sở, làm hậu phương cho tiền tuyến lớn. Đến năm 1949, Người chỉ rõ: "Mặt trận kinh tế gồm có công nghệ, buôn bán, nông nghiệp. Ngành nào cũng quan trọng cả. Nhưng lúc này quan trọng nhất là nông nghiệp, vì "có thực mới vực được đạo". Có đủ cơm ăn, áo mặc cho bộ đội và nhân dân thì kháng chiến mới mau thắng lợi, thống nhất và độc lập mới thành công"(20).

Tại Hội nghị Bộ Chính trị ngày 10/12/1954 để bàn về phát triển kinh tế, Người nói: "Ta cho nông nghiệp là quan trọng và ưu tiên, rồi tiến đến thủ công nghiệp, sau mới đến công nghiệp nặng"(21). Bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Người nhắc nhở: "Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính. Nếu không phát triển nông nghiệp thì không có cơ sở để phát triển công nghiệp vì nông nghiệp cung cấp nguyên liệu, lương thực cho công nghiệp và tiêu thụ hàng hoá của công nghiệp làm ra"(22).

Theo Người, "công nghiệp và nông nghiệp như hai chân của con người. Hai chân có mạnh thì đi mới vững chắc. Nông nghiệp không phát triển thì công nghiệp cũng không phát triển được. Ngược lại, không có công nghiệp thì nông nghiệp cũng khó khăn. Công nghiệp và nông nghiệp quan hệ với nhau rất khăng khít"(23), "Nền kinh tế XHCN có hai chân là công nghiệp và nông nghiệp..., hai chân không đều nhau, không thể bước mạnh được"(24). Cho nên, công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khỏe và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích. Thế là thực hiện liên minh công nông để xây dựng CNXH, xây dựng đời sống ấm no, sung sướng cho nhân dân(25).

(3) Phải đề cao vai trò làm chủ của nhân dân, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên; khuyến khích lợi ích cá nhân hợp pháp và kích thích lợi ích vật chất như thưởng, phạt phân minh. Để tạo động lực cho nền kinh tế, phát huy quyền làm chủ trong lao động, sản xuất và phân phối, Người đề ra phương pháp: "Làm khoán là ích chung và lại lợi riêng. Công nhân sản xuất ra nhiều vải, cố gắng nhiều, hưởng được nhiều; làm khoán tốt thích hợp và công bằng dưới chế độ ta hiện nay"(26). Đối với phân phối thì: "Làm tốt, làm nhiều: hưởng nhiều; làm xấu, làm ít: hưởng ít, có khi phải bồi thường lại cho Nhà nước. Chính phủ không phát lương cho người ngồi ăn không"(27). Trong điều hành, quản lý kinh tế, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị có vai trò cực kỳ quan trọng, đặc biệt là tránh để thất thoát, lãng phí của công.

(4) Mở cửa nền kinh tế, phải có kế hoạch sản xuất và tiết kiệm, hài hòa, đều có lợi. Từ năm 1919, Người đã viết: "Xét về nguyên tắc tiến bộ chung thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế; văn minh chỉ có lợi cho các quan hệ quốc tế mở rộng và tăng cường"(28). Tư tưởng này về sau được cụ thể hóa trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc: "Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực…, dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình…, mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế…, chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế…"(29).

Về mặt tổ chức, sản xuất, quản lý kinh tế, Người chỉ rõ: Kế hoạch sản xuất và tiết kiệm là kế hoạch dân chủ, nghĩa là từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, nghĩa là Chính phủ Trung ương có kế hoạch cho toàn quốc, địa phương căn cứ vào kế hoạch toàn quốc mà đặt kế hoạch thích hợp với địa phương, cho đến mỗi ngành, mỗi gia đình, mỗi người có kế hoạch riêng của mình, ăn khớp với kế hoạch chung. Cán bộ phải biết lao động và phải tham gia lao động; người lao động phải biết quản lý và tham gia quản lý. Thực hiện nguyên tắc phân phối công bằng, hợp lý làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng, những người già yếu, tàn tật sẽ được nhà nước giúp đỡ chăm nom. Các quan hệ lợi ích phải được giải quyết hài hòa, cá nhân và tập thể, nhà nước và nhân dân phải đều có lợi.

3. Việc nghiên cứu đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế sẽ cung cấp thêm những luận điểm quan trọng, làm cơ sở cho Đảng ta hoàn thiện đường lối kinh tế thị trường định hướng XHCN; giúp nhà nước ta có thêm luận cứ khoa học để hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật nhằm tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển đảm bảo định hướng XHCN. Đảng và Nhà nước ta đang từng bước hoàn thiện thể chế nhằm phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; xây dựng cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng tỷ trọng và số lượng lao động công nghiệp - dịch vụ ngày càng mở rộng, còn tỷ trọng và số lượng lao động nông nghiệp ngày càng thu hẹp. Mặc dù vậy, do đặc điểm về điều kiện nước ta nên nông nghiệp vẫn giữ vị trí quan trọng. Do đó, quan điểm của Hồ Chí Minh lấy "nông nghiệp làm gốc" vẫn còn nguyên giá trị. Bởi vậy, chúng ta phải nghiên cứu kỹ tư tưởng của Người để triển khai vào thực tế Việt Nam trong quá trình xây dựng nông thôn mới hiện nay.

Từ xu thế của thế giới, từ quan điểm coi trọng công nghiệp bên cạnh nông nghiệp của Hồ Chí Minh, chúng ta quan tâm phát triển công nghiệp, phát huy mọi khả năng nội lực, tích cực thu hút đầu tư nước ngoài, xây dựng nhiều nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Đồng thời, tích cực mở cửa nền kinh tế để bắt nhịp với xu thế của thời đại, tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, kêu gọi đầu tư, liên kết, liên doanh, hợp tác phát triển kinh tế.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chủ tịch về kinh tế nhiều thành phần, cần bảo đảm dân chủ trong kinh tế gắn liền với dân chủ trong chính trị, văn hóa, xã hội. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN gắn liền với xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và nền văn hóa XHCN tiên tiến, đậm đà bản sắc Việt Nam. Đồng thời, tạo hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật phù hợp, bảo đảm giải quyết hài hòa các quan hệ về lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế của các thành phần kinh tế, các giai cấp, tầng lớp xã hội, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, giữa chủ và thợ, giữa lợi ích của công nhân, nông dân, trí thức, doanh nghiệp và lợi ích của nhà nước, lợi ích trước mắt và lâu dài, lợi ích quốc gia và quốc tế. 

 

 

Chú thích

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, HN, 2011, tr.103.

2. Theo PGS.TS Hoàng Trang, trong bài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam.

3. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, HN, 2011, tr.175.

4. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 9, tr.518.

5. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 4, tr.315.

6. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 8, tr.293.

7. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 8, tr.216.

8. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 12, tr.411- 412.

9. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 8, tr.293-294.

10. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 12, tr.372-373.

11. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 8, tr.266.

12. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 8, tr.293-294

13. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 8, tr.267.      

14. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 10, tr.391.

15. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 9, tr.80.

16. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập14, tr.311.

17. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 13, tr.70.

18. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 7, tr.357-358

19. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 4, tr.246.

20. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 6, tr.212.

21. Chủ tịch Hồ Chí Minh với những sự kiện trong tháng 12 qua các năm (1890-1969), trang web của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

22. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd,Tập 12, tr.635.

23. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 13, tr.469.

24. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 12, tr.162.

25. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 13, tr.376.

26. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 10, tr. 537-538.

27. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tâp 10, tr.534.

28. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd , Tập 1, tr.9.

29. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 4, tr.523.

 

Trần Hữu Vinh

 

Ông Bùi Sĩ Đôi, sinh ngày 17 tháng 7 năm 1930 tại làng Yên Sở xã Diễn Đồng, cha là cụ Bùi Siêu, gốc làng Hậu Luật, xã Diễn Bình, Diễn Châu, Nghệ An, mẹ là cụ Võ Thị Khương, em gái cụ Võ Nguyên Hiến (nguyên Bí thư xứ uỷ Trung kỳ, UVTƯ Đảng khoá 1, Thường vụ Tỉnh uỷ). Cụ Võ Thị Khương cũng là một cán bộ địa phương hoạt động từ những năm trước Cách mạng tháng Tám. Ông Bùi Sĩ Đôi trải qua nhiều chức vụ ở Văn phòng Tỉnh uỷ Nghệ An, Trưởng Ty Thuỷ lợi Nghệ An… Ông có vinh dự 6 lần được gặp Bác Hồ. Những lần gặp Bác đều được ông ghi lại trong cuốn hồi kí: "Chuyện kể: Sáu lần được gặp Bác Hồ (1951 - 1961)".

Vào một ngày cuối tháng Tư năm 2016, chúng tôi gặp ông Ngô Như Tuỳ, hiện ở xóm 1 xã Diễn Xuân, Diễn Châu, Nghệ An, được nghe ông kể chuyện về cuộc đời một cán bộ Ty Thuỷ lợi Nghệ An những năm 1960 - ông Bùi Sĩ Đôi, người có vinh dự 6 lần được gặp Bác. Không chỉ được gặp Bác mà ông Đôi còn được Bác ân tình hỏi chuyện, có những chuyến công tác cùng Bác nhân những lần Bác về thăm quê hương Nghệ An.

Ông Ngô Như Tuỳ nói: "Tôi là em rể của ông Đôi, tôi ít hơn 6 tuổi, hai anh em cùng trang lứa, cùng thoát ly và tham gia kháng chiến nên rất hiểu và quý nhau. Tôi cũng vinh dự được giữ những cuốn hồi kí của ông. Về hưu, anh em thường xuyên gặp gỡ, nói chuyện với nhau nên tôi rất hiểu con người ông cũng như biết rằng những lần gặp Bác có ý nghĩa như thế nào trong cuộc đời ông. Bây giờ những cuốn hồi kí ông để lại là tài sản tinh thần của gia đình, dòng họ". Nói rồi ông đưa ra tập hồi kí gồm 5 cuốn của ông Bùi Sĩ Đôi kể về cuộc đời hoạt động mình.

Từ năm 15 tuổi ông Đôi đã tham gia phụ trách thiếu nhi thôn xã, sau đó công tác ở Huyện đoàn Diễn Châu từ năm 1947 - 1949. Từ năm 1949 - 1950 học tại Học viện Lục quân Trần Quốc Tuấn, năm 1951 - 1952 chuyển về Sư đoàn 304, trải qua nhiều chức vụ như: Phó Bí thư huyện đoàn Diễn Châu (1953), Đội phó Đội giảm tô (1954), cán bộ huấn học (1955-1956), Thư kí Tỉnh uỷ Nghệ An (1956-1957), Phó Văn phòng Tỉnh uỷ - Phó Ban sửa sai (1957-1960), Chánh Văn phòng Tỉnh uỷ khoá VI (1961), về sau ông là Tỉnh uỷ viên, Trưởng ty Thuỷ lợi Nghệ An (1961 - 1975), Ủy viên UB Nông nghiệp Nghệ Tĩnh (1975 - 1986), nghỉ hưu năm 1986, mất năm 2012. Trong quá trình công tác ông được nhiều Huân, Huy chương của Đảng và Nhà nước trao tặng, 12 năm là chiến sĩ thi đua cấp tỉnh.

Những cuốn hồi kí ông Đôi để lại chủ yếu bằng thơ, phía sau là chú thích khá chi tiết về con người, sự kiện, sau này ông còn viết thêm phụ lục ghi rõ ngày tháng năm, sự việc, con người nên rất đầy đủ và chi tiết. Trong cuốn "Chuyện kể: Sáu lần được gặp Bác Hồ", ông kể lại:

Lần thứ nhất:

Tại Tuyên Quang, ngày 28 tháng 2 năm 1951, sau khi học xong trường Lục quân Trần Quốc Tuấn và được điều về F304, đơn vị chúng tôi được thông báo đón Bác và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới thăm. Mọi người tập hợp đông đủ, chỉnh tề từ trước, khi Đại tá Hoàng Minh Thảo, Sư trưởng Sư đoàn 304 chưa kịp nói gì thì các chiến sĩ đã hò reo vang dậy núi rừng: "Hoan hô Bác Hồ… Bác Hồ", "Hoan hô Đại tướng"… Lúc ấy tôi may mắn được đứng đầu hàng ngũ, tai nghe mắt thấy mà cứ tưởng đang mơ, anh em ai cũng muốn nhìn Bác thật rõ nên chen nhau. Bác xuống ngựa, cất khăn che mặt (do bí mật, cần phải kín đáo) đi đến bên cạnh các chiến sĩ và nói: "các cháu hãy ngồi xuống đi, không cần giới thiệu, cũng không cần lễ nghi đâu". Rồi Bác bước lên bục đất, giơ tay vẫy chào mọi người. Chúng tôi đều nhìn rõ Bác: mái tóc hoa râm, mặc quần áo ka - ki, đi dép cao su, bước đi nhanh nhẹn. Bác bảo: "Bác cháu ta cùng nhau hát Bài ca kết đoàn nhé", hát xong các chiến sĩ tặng Bác những bông hoa rừng tươi thắm, Bác nói tiếp: "Các cháu giỏi lắm, rồi Tây sẽ phải thua thôi, nay mai các cháu lên đường đánh Tây, phá Nguỵ, trừ gian diệt tề, cố gắng giúp dân tản cư trở về, tăng gia lao động sản xuất chống đói thật tốt". Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp lời mong anh em chiến sĩ nghe lời Bác dặn, Đại tướng báo tin Sư đoàn 304 nay vinh dự mang tên Đại đoàn Vinh Quang. Lúc ấy các chiến sĩ ta bật dậy reo hò, Bác nói to với các chiến sĩ: "Đại đoàn Vinh Quang ra đời các chiến sĩ là những người vinh quang, các cháu, liệu mình có làm được không nào?". Chiến sĩ ta đồng thành hô to: "thưa Bác, làm được ạ, làm được ạ". Đó là kỉ niệm đầu tiên gặp Bác, sau nhiều lần tôi được gặp Bác nhưng ấn tượng ấy không bao giờ phai trong kí ức tôi.

Lần thứ hai(1):

Sau cải cách ruộng đất (1956), Trung ương Đảng đã nhận ra sai lầm, Đảng chủ trương công khai xin lỗi toàn dân, Bác trực tiếp đứng ra điều hành việc sửa sai. Bác cử đồng chí Nguyễn Chí Thanh vào Nghệ - Tĩnh làm công tác sửa sai đồng thời Bác mời một đoàn cán bộ cũ (năm 1930 - 1931) ra Hà Nội gặp Bác bàn bạc công việc sửa sai ở tỉnh nhà. Ông Võ Nguyên Hiến (còn gọi là ông chắt Kế), TV Tỉnh uỷ, Trưởng Ban kiểm tra Tỉnh uỷ bị đấu tố quy oan vừa được phục hồi, được cử làm Trưởng Ban sửa sai tỉnh dẫn đầu đoàn, tôi cũng đã được minh oan và được đề bạt làm Phó Văn phòng Tỉnh uỷ, Phó Ban sửa sai tỉnh tổ chức chuyến đi và làm thư kí đoàn. Khoảng 10 giờ sáng ngày 10 tháng 5 năm 1957, xe đoàn đến cổng Phủ Chủ tịch, mọi người xuống xe đã thấy Bác đứng chờ ở cửa một phòng họp nhỏ phía đông, mọi người ào tới vây quanh Bác, không ai cầm được nước mắt, Bác cũng rưng rưng nói luôn: "đã lâu lắm rồi nay mới được gặp lại, tôi rất mừng được đón các cụ, các đồng chí, xin mời vào phòng nghỉ ngơi rồi ta làm việc". Khi mọi người đã an tọa, cậu Kế lần lượt giới thiệu các thành viên trong đoàn, Bác quay sang cậu Kế, chỉ tay về phía tôi hỏi: "Anh Kế, thế chú này là ai? Làm gì trong đoàn ta?", cậu Kế trả lời: "Báo cáo anh, anh còn nhớ con bé 3 tuổi hồi năm 1905, tôi và anh dắt tay nó, cõng nó đi chơi quanh làng Hậu Luật không?"(2). Dừng lại một lúc Bác nói: "Nhớ quá đi chứ, con bé Khương, em gái của anh chứ gì?", cậu Kế nói tiếp: "Nó tên là Bùi Sĩ Đôi, con trai thứ hai của con Khương, cháu tôi, hiện là Phó Văn phòng Tỉnh uỷ, Phó Ban sửa sai của tỉnh, đi theo làm thư kí cho đoàn". Bác "ồ" lên một tiếng rất vui nói: "chú Đôi con cô Khương ư?", lát sau Bác vỗ vai tôi hỏi: "Thế bố mẹ cháu giờ ở đâu, làm gì, có khoẻ không? Cho Bác gửi lời hỏi thăm nhé". Tôi quá xúc động không biết nói gì hơn chỉ nói: "Xin cảm ơn Bác".

Chiều ngày 10 và cả ngày 11 tháng 5, Bác làm việc với đoàn, khi tổng kết Bác nêu nhiều nội dung quan trọng, cấp bách để sửa sai, Bác nói: "làm cách mạng không thể tránh được sai lầm, thiếu sót, không sợ sai mà chỉ sợ không thấy được sai, không quyết tâm sửa sai, cần sửa sai kịp thời nhưng không sửa đúng thành sai, sửa sai này lại phạm sai khác". Sau đó Bác mời các cụ cùng Bác ăn cơm, xem phim. Sáng ngày 12 tháng 5, đoàn vào chào tạm biệt, Bác rất vui tiễn đoàn ra về.

Lần thứ 3:

Đó là dịp Bác về thăm quê ngày 14 tháng 6 năm 1957(3). Đoàn người ra tận sân bay đón Bác, Bác bảo về thăm quê không nên đón rước linh đình. Hôm Bác về Nam Đàn (ngày 16 tháng 6 - PV), Bác thoăn thoắt đi về phía nhà bếp, ra thăm chuồng lợn, vườn rau, ao cá… ghé vào từng nhà chung quanh sau đó mới ra văn phòng, đến đâu Bác cũng ân cần hỏi thăm mọi người. Lúc đó anh Vũ Kỳ (thư kí riêng của Bác), anh Nguyễn Sĩ Quế (Chủ tịch UB hành chính Tỉnh ủy - PV) đi cùng mời Bác về phòng khách nghỉ. Về phòng, Bác xem đồng hồ thấy còn một tiếng nữa Bác bảo đi gặp Khu uỷ, Tỉnh uỷ vẫn còn kịp. Vào Bác nói: "Trung ương đã đồng ý để Bác đi thăm các nước anh em, bè bạn, chuyển lời cảm ơn đã giúp ta đánh thắng thực dân, giúp xây dựng miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà nên trước lúc ra đi Bác tranh thủ về thăm nhà, thăm quê, các chú cho Bác tự nhiên, là người nhà chớ làm phiền nhân dân". Hai ngày tiếp theo làm việc rất khẩn trương: Bác gặp Tỉnh uỷ, Khu uỷ bàn bạc việc sản xuất, đời sống, trị an, quốc phòng, gặp gỡ các cụ lão thành, về làng Chùa, làng Sen, dâng hương trước tổ tiên ông bà, dự mít tinh ở Kim Liên, thăm nhà máy điện, nhà máy cơ khí ở Vinh, thăm trường Sư phạm miền núi ở Hưng Bình, cuối cùng dự mít tinh ở thành phố Vinh.

Lần thứ tư:

Tôi được gặp Bác tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, tháng 9 năm 1960. Tôi là đại biểu dự khuyết của Đoàn đại biểu Nghệ An kiêm Thư kí đoàn lo mọi văn kiện, hồ sơ, số liệu, luận văn... phục vụ đoàn đại biểu dự đại hội. Trong dịp này, ngoài được gặp Bác ở hội trường Đại hội, tôi còn được gặp Bác hôm trước ngày khai mạc một ngày. Số là Văn phòng Tỉnh uỷ giao cho tôi gặp anh Vũ Kỳ biếu Bác một vò tương Nam Đàn, một hũ nước mắm Vạn Phần, một lon cà pháo muối tỏi gừng. Tôi và anh Kỳ nói chuyện chưa xong, từ trên nhà sàn Bác gọi xuống: "Chú Đôi ra đó phải không, có mang cho Bác nước mắm, tương, cà phải không? Đoàn tỉnh ta ra họp có đủ không?". Rồi ba bác cháu cười vui vẻ. Đây là một lần gặp gỡ Bác rất thân mật trong cuộc đời tôi.

Lần thứ 5:

Đó là trong dịp Hội nghị thuỷ lợi miền Bắc lần thứ 5 tại Hưng Yên đầu tháng 2 năm 1961. Về dự Hội nghị do trung ương triệu tập có các Bộ trưởng, Bí thư tỉnh uỷ, Chủ tịch, Giám đốc Ty Thuỷ lợi các tỉnh, các nhà khoa học, anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua 2 ngành thuỷ - nông… tất cả hơn ngàn người. Ngày đầu đoàn thăm đồng, thăm cống Xuân Quang, kênh Bắc Hưng Hải… Ngày hôm sau vào họp, Bộ trưởng Hà Kế Tấn báo tin Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến làm việc một buổi. Bác đến, mọi người vỗ tay hồi lâu không dứt, Bác vẫy tay cho mọi người ngồi xuống, Bác thông báo nội dung chương trình làm việc: "Thủ tướng phát biểu trước, Bộ trưởng báo cáo tổng kết thi đua sau, Bí thư Hưng Yên báo cáo kinh nghiệm làm thuỷ lợi, chống hạn, làm mùa; Chủ tịch Hải Dương báo cáo kinh nghiệm tổ chức lao động, cải tiến công cụ thuỷ lợi; cuối cùng là khen thưởng, phát động thi đua, Bác sẽ làm Chủ tọa, được chưa nào?". Mọi người đồng thanh "được rồi ạ, nhất trí ạ". Thủ tướng Phạm Văn Đồng phân tích những bài học hay, nêu nhiệm vụ thời gian tới (1961-1965) thuỷ lợi phải chuyển xoay thế nào, phát động phong trào thuỷ lợi hoá, hợp tác hoá gắn kết ra sao, các ngành, các cấp phải phối hợp thế nào. Bộ trưởng Hà Kế Tấn báo cáo tổng kết phong trào 3 năm (1958 - 1960), tỉnh nào khá giỏi, tỉnh nào yếu kém, vì sao? Đề ra chỉ tiêu, kế hoạch, tiêu chuẩn thi đua, phát động cao trào thuỷ lợi 5 năm giai đoạn 1960 - 1965. Sau khi nghỉ giải lao, mọi người trở lại và Bác bắt nhịp hát Bài ca kết đoàn. Bác tóm tắt tổng kết Hội nghị, trao phần thưởng, trao cờ thi đua cho tỉnh Hải Dương. Bác nói: "Có khen thì phải có chê, 3 tỉnh yếu kém thuộc về Thanh, Nghệ, Tĩnh". Bỗng nhiên Bác gọi: "Đoàn Nghệ An mô rồi?", tôi đứng dậy cất lời: "Thưa Bác, có cháu đây ạ". Bác nói: "Hai, ba năm qua, tỉnh ta làm thuỷ lợi quá kém nên sản xuất, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Vài tháng gần đây tỉnh đã mở chiến dịch thuỷ lợi gọi là tiếng trống Xô Viết, bước đầu có kết quả, thế là tốt nhưng không được chủ quan, thoả mãn". Rồi Bác chỉ tay vào cờ thi đua và nói: "6 tháng tới, Nghệ An "choa" có hứa thi đua để được điền tên vào cờ không?". Lúc ấy bao ánh mắt nhìn vào, bao nhiêu tiếng cười vang lên làm tôi đứng như trời trồng, vừa vui vừa thẹn, tôi cũng trấn tĩnh và mạnh dạn nói: "Thưa Bác, thưa hội nghị, cháu xin thay mặt Tỉnh uỷ, Uỷ ban và nhân dân Nghệ An xin hứa quyết tâm thi đua để đạt được như lời Bác dạy và sự đồng tình cổ vũ của hội nghị ạ". Bác lại nói: "Chú Đôi còn trẻ, mới được cử sang làm Trưởng ty Thuỷ lợi mấy tháng, làm được như vậy là tốt nhưng phải cố gắng hơn nữa, chú về báo cáo với tỉnh, với nhân dân để tiếp tục duy trì phong trào hiện nay, tiến lên cao trào". Bác dứt lời hội nghị ào ào vỗ tay. Đây là lần thứ 5 tôi được gặp Bác, có cả trách nhiệm và niềm vui, cả hổ thẹn xen lẫn tự hào, quyết tâm…

Lần thứ 6:

Tôi lại được gặp Bác nhân dịp Bác về thăm quê lần thứ 2 từ ngày 8 đến 10 tháng 12 năm 1961. Sáng ngày 8 tháng 12 tại sân bay Yên Đại, cả rừng người, rừng cờ chờ đón Bác. Đoàn đại biểu tỉnh nhà ra đón Bác ai nấy tay bắt, miệng cười. Cậu Kế, bác Lê Nhu (nguyên Chủ tịch UB kháng chiến tỉnh - PV), ôm lấy Bác, Bác cầm lấy cà vạt bác Nhu giật giật mà rằng: "Anh đẹp lão lắm, khéo mà bà nhà ghen đấy", mọi người cười vui vẻ. Ngay chiều hôm ấy Bác đi thăm Quân khu IV và Trường Đại học Sư phạm Vinh, tối về dự mít tinh công nhân viên chức thành phố, sáng hôm sau đi thăm nông trường Đông Hiếu, xã Nghĩa Quang (Nghĩa Đàn), thăm hợp tác xã điển hình Vĩnh Thành (Yên Thành), khi máy bay hạ cánh ở Đồi Mây, Bác liền đi thẳng vào một nhà dân. Chủ nhà là một bà già và một cháu nhỏ ở trong một căn nhà xiêu vẹo, trong nhà chỉ có một chiếc chõng tre và vài ba cái nồi đất để nấu nướng. Nhìn gia cảnh bà cụ, Bác và mọi người ai nấy rưng rưng, Bác ngồi xổm an ủi, động viên bà cụ, hiểu ý Bác, anh Kỳ trao quà cho cụ. Bác quay lại dặn dò các đồng chí cán bộ cùng đi: "cả huyện, cả xã phải chăm lo cho người nghèo". Sau đó Bác thăm trại nuôi heo, thăm đồng 5 tấn, vườn ươm, thăm cầu cống, kênh mương, trường học... Tại sân vận động Đồi Mây, hàng ngàn người đứng chờ đón Bác, tay vẫy cờ hoa hô lớn: "Bác Hồ muôn năm"… "Hồ Chủ tịch muôn năm"... Bác về Vinh khi thành phố đã lên đèn, sau giờ cơm tối Bác lại lên hội trường làm việc với Tỉnh uỷ 3 giờ liền. Ngày thứ ba Bác mới về nơi sinh thành thăm làng Sen, làng Chùa, núi Chung, thắp hương mộ mẹ, mộ anh, chị xong mới về nhà. Hôm ấy có đoàn văn công tỉnh đến góp vui cùng Bác, bà con và họ hàng thân tộc nội ngoại vây quanh lấy Người nói chuyện. Bác hỏi: "Cán bộ trẻ xã mình có rành rỏi trong công việc không bà con?", một cụ đảng viên lâu năm thưa: "các anh ấy tốt nhưng có lúc quá hăng". Bác cười hà hà: "tre già măng mọc, nhưng phải lo mà uốn cho măng mọc thẳng, con hơn cha là nhà có phúc kia mà, không lẽ ta nói: này măng, sao mày lại mọc quá tre rồi ư?", mọi người cười khoan khoái trong lòng. Buổi chiều cuối cùng, tỉnh tổ chức mít tinh lớn đón Bác, hàng ngàn người tới dự, có đủ đại biểu các cấp, ban ngành… Trên lễ đài Bác vẫy tay chào mọi người, tiếng vỗ tay, hò reo không ngớt, giọng Bác ấm cúng, Bác giao nhiệm vụ rõ ràng: "Xây dựng Nghệ An trở thành tỉnh kiểu mẫu mọi mặt của miền Bắc, phải đoàn kết hơn nữa, cao trào thuỷ lợi phải luôn dẫn đầu, mỗi người làm việc bằng hai, có thế mới nhanh giàu...". Kết thúc buổi mít tinh Bác lại bắt nhịp Bài ca kết đoàn.

Vậy là sáu lần trong cuộc đời vinh dự được gặp Bác, người cán bộ của Đảng bộ tỉnh Nghệ An năm nào giờ đã thành người thiên cổ, những câu chuyện rất ý nghĩa về Bác mà ông ghi lại trong cuốn hồi kí gửi lại cho con cháu vẫn chưa được mấy ai biết đến. Chúng tôi muốn được cùng ông chia sẻ những cảm xúc khó quên, những giây phút hạnh phúc và ý nghĩa trong cuộc đời ông để những câu chuyện ấy trở thành những bài học bổ ích về nhân cách Bác Hồ.

 

Chú thích

 (1). Ở lần thứ 2 gặp Bác, chúng tôi thuật lại trên cơ sở nhật kí thơ (thực chất là những câu vần vè khá dài) của cụ Đôi, kết hợp lời kể bổ sung của ông Ngô Như Tuỳ về những lần trực tiếp nghe cụ Đôi kể chuyện. Những lần gặp khác chỉ thuật lại theo nội dung nhật kí.

(2). Ngày Bác về thăm quê tháng 6 năm 1957 nhiều tài liệu ghi lại khác nhau, hầu hết ghi từ 14 đến 16 tháng 6, trong hồi kí cụ Bùi Sĩ Đôi ghi là ngày 12 tháng 5, có thể cụ Đôi nhớ không chính xác nên chúng tôi sửa lại chi tiết này.

(3). Bác Hồ và cậu Kế (ông Võ Nguyên Hiến) cùng tuổi, là bạn, gặp nhau từ năm 1905 khi Bác và cụ Nguyễn Sinh Sắc về làng Hậu Luật, đến ở nhà cụ Võ Khắc Tích, một nhà Nho yêu nước, bố ông Kế.

Sau hơn 10 năm thực hiện Quyết định số 239/2005/QĐ-TTg ngày 30/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ, thành phố Vinh đã có được một diện mạo, vai trò, vị thế mới đối với tỉnh Nghệ An và vùng Bắc Trung bộ. Tuy vậy, kết quả phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Vinh trong những năm qua vẫn chưa đạt được như mong muốn của Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà, một số lĩnh vực như giáo dục - đào tạo, y tế, tài chính - tín dụng - ngân hàng, thương mại, công nghệ thông tin,... đang từng bước hình thành yếu tố trung tâm vùng nhưng chưa rõ nét, phạm vi, mức độ ảnh hưởng, tác động lan tỏa của Vinh đối với vùng còn hạn chế, chưa tương xứng với vai trò, vị thế mà Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định số 2468 của Thủ tướng Chính phủ đặt ra cho thành phố.

Trước tình hình đó, ngày 20/5/2017, UBND tỉnh Nghệ An cùng với Viện Kinh tế Việt Nam tổ chức cuộc Hội thảo "Thành phố Vinh trong giai đoạn mới: Tầm nhìn, định hướng chiến lược và giải pháp phát triển" nhằm phân tích, đánh giá thực trạng, những tồn tại, rút ra bài học kinh nghiệm; nhận diện bối cảnh phát triển và các yếu tố tác động đến sự phát triển, từ đó xác lập được tầm nhìn, định hướng các mục tiêu phát triển cho thành phố Vinh trong giai đoạn tới. Chuyên san KHXH&NV Nghệ An xin lược trích một số ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học trình bày tại hội thảo.

1. PGS.TS Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam: "Xác định tầm nhìn phát triển cho thành phố Vinh là xác định tầm nhìn phát triển cho Nghệ An"

Thủ phủ của một địa phương (tỉnh, vùng) luôn là tọa độ đặt ra "trần giới hạn phát triển" cho địa phương đó. Thủ phủ không "cao" thì cả địa phương và vùng không thể cao; Thủ phủ cao đến đâu thì mở ra giới hạn phát triển cho địa phương và vùng đến đó. Có nghĩa là: "Trần" phát triển của Vinh về nguyên tắc định ra "giới hạn trần" phát triển cho Nghệ An (và cho cả vùng Bắc Trung bộ - nếu Vinh được lựa chọn và xác định là "thủ phủ" của vùng). Do đó, xác định tầm nhìn phát triển cho thành phố Vinh là xác định tầm nhìn phát triển cho Nghệ An (và vùng). Lâu nay Nghệ An chậm phát triển, khó phát triển có phải một phần quan trọng là do Vinh chậm và khó phát triển? Do hạn chế trong tầm nhìn và tư duy phát triển đối với Thành phố Vinh? Mở tầm phát triển cho Vinh có thể là yếu tố mở đường mang tính quyết định, giúp khai thông tầm nhìn phát triển cho cả Nghệ An? Thúc đẩy Vinh phát triển sẽ tạo động lực và cơ hội phát triển mạnh mẽ cho Nghệ An (và vùng Bắc Trung bộ)? 

Nghị quyết 26/NQ-TW của Bộ Chính trị là một cơ hội phát triển lớn cho Nghệ An - cũng là cho vùng Bắc Trung bộ, bởi Nghị quyết 26/NQ-TW đã nâng tầm phát triển của Vinh: từ thủ phủ tỉnh lên thủ phủ vùng. Mở thế phát triển: thế phát triển của Vinh là cộng hưởng thế Nghệ An với thế vùng Bắc Trung bộ (đặc biệt là thế Trung tâm liên kết quốc tế của vùng); Định vị lại chức năng: Vinh không chỉ "gánh" chức năng tỉnh mà còn "gánh" chức năng Vùng, hàm ý về quy mô và đẳng cấp chức năng, ví dụ Vinh phải đảm nhiệm chức năng Trung tâm liên kết và hội nhập phát triển vùng, chức năng Trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao, Trung tâm đổi mới - sáng tạo của vùng; Vinh cần những năng lực, điều kiện, cơ chế và "quyền hạn" mới để thực hiện chức năng; Vinh xác lập lại "tư thế" trong quan hệ với các đô thị vùng và cả nước, trong không gian cạnh tranh, hội nhập quốc tế của vùng; Tạo năng lực: tầm phát triển mới tạo thế mới trong thu hút các nguồn lực phát triển - nguồn lực cho thủ phủ vùng - quốc gia chứ không chỉ cho thủ phủ tỉnh - địa phương, tăng sức hội tụ các điều kiện phát triển, và tập trung nguồn lực.

2. Ông Hồ Xuân Hùng – Nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT: "Phát triển Vinh trong mối quan hệ tổng thể của tỉnh Nghệ An, có tính đến mối quan hệ trực tiếp các huyện phụ cận"

Phải phát triển thành phố Vinh - đô thị loại I thuộc tỉnh xứng tầm đầu tàu tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh và có sức chi phối ảnh hưởng sự tăng trưởng của vùng. Để đạt được như vậy phải phát triển Vinh trong mối quan hệ tổng thể của tỉnh Nghệ An, có tính đến mối quan hệ trực tiếp các huyện phụ cận: Cửa Lò, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nam Đàn… và các huyện Bắc Hà Tĩnh, đặc biệt là Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương Sơn. Trong quy hoạch kể cả không gian và quy hoạch hạ tầng, dân cư, văn hóa - thể dục - thể thao, thương mại … Từ khu du lịch, thương mại Cửa Lò, Cửa Hội đến khu Công nghiệp Nam Cấm, Bắc Vinh, khu công - nông nghiệp, du lịch Hưng Nguyên, Nam Đàn, Nghi Lộc đều trong quy hoạch liên thông quy hoạch mở của Vinh và được kết nối với 3 huyện bắc Hà Tĩnh. Sao cho đến năm 2030 dân số ban đêm của Vinh có từ 9 trăm - 1 triệu người; dân số ban ngày khoảng 1,1 - 1,2 triệu. Đặc biệt quan tâm quy hoạch không gian, hạ tầng trong mối liên kết: Vinh - Cửa Lò để Vinh trở thành một thành phố biển (hai trong một). Rà soát để điều chỉnh lại quy hoạch 9 xã thuộc thành phố và các xã Nam Nghi Lộc, Đông Hưng Nguyên để có được sự hiện đại của phố trong làng và vẻ đẹp thanh bình của làng trong phố, là cơ sở lâu dài để giãn mật độ dân số ở trung tâm Vinh. Mặt khác tạo cơ sở phát triển nông nghiệp và dịch vụ, du lịch cho đô thị.

3. Ông Trần Ngọc Chính - Nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng: "Xây dựng thành phố Vinh trở thành đô thị hiện đại, đặc sắc và đáng sống"

Việc xây dựng Vinh thành trung tâm vùng Bắc Trung bộ là nhiệm vụ quan trọng và đầy thử thách. Quá trình thực hiện phải chú trọng ở cả 2 hướng: Phát triển kinh tế, xã hội của cả tỉnh Nghệ An gắn với trung tâm thành phố Vinh. Không gian đô thị Vinh với không gian thị xã Cửa Lò là một không gian liên tục, đây là giá trị cốt lõi cho thành phố có sự phát triển kết nối về phía Đông, khai thác toàn bộ kinh tế biển (cảng biển, du lịch, dịch vụ...) làm tăng thế mạnh và tính cạnh tranh của Vinh so với nhiều đô thị khác của Việt Nam. Quá trình phát triển, thành phố Vinh cũng cần phải cân nhắc và đặt vấn đề cho việc khai thác sông Lam đoạn qua Vinh gắn với bờ phía Nam có làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh), quê hương Nguyễn Du - Danh nhân văn hóa thế giới. Như vậy, khi phát triển và kết nối, Vinh sẽ trở thành đô thị hiện đại, một đô thị đáng sống, có biển, sông với bề dày lịch sử, văn hóa đặc sắc.

4. TS. Lê Xuân Sang - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam: "Cần tập trung phát triển ngành công nghệ thông tin".

Trong lựa chọn ưu tiên để phát triển, thành phố Vinh cần tập trung phát triển ngành công nghệ thông tin. Đối với ngành này, nguy cơ tụt hạng trong xếp hạng phát triển công nghệ thông tin là không nhỏ, đồng nghĩa với tuột mất cơ hội thu hút đầu tư từ bên ngoài cho ngành này. Việc Đà Nẵng bắt đầu quá tải mặt bằng cho phát triển công nghệ thông tin là cơ hội tốt cho thành phố Vinh thu hút đầu tư bên ngoài. Cơ hội khác là cơ cấu dân số vàng hiện tại của thành phố. Trước hết cần chi tiết hóa các đề án, chính sách và pháp luật liên quan về công nghệ thông tin đã ban hành. Để tránh nguy cơ tụt hạng và nắm bắt các cơ hội mới, cần tăng cường nguồn lực cho thành phố phát triển công nghiệp phần mềm thông qua thực hiện các giải pháp sau: (1) huy động từ các nguồn vốn ngân sách, ODA thành lập thí điểm một vườn ươm công nghệ phần mềm (tham khảo kinh nghiệm TP.HCM, Cần Thơ, Đà Nẵng) tại một trường đại học phù hợp ở Vinh (ví dụ, Đại học Vinh); và (2) nỗ lực lớn hơn trong xúc tiến thu hút các Công ty đa quốc gia (MNC) lớn (ví dụ từ Mỹ (ví dụ, Intel), doanh nghiệp Hàn Quốc, Nhật Bản hoặc Ấn Độ) vào hoạt động tại Vinh, tạo đầu tàu - sức lan tỏa và là nền tảng phát triển công nghệ thông tin, phần mềm và chuỗi liên kết kinh doanh, đào tạo nhân lực trên địa bàn Vinh/Nghệ An và cả Bắc Trung Bộ. Xử lý những vướng mắc trong thành lập và đi vào hoạt động Công viên phần mềm trên thành phố Vinh.

5. Ông Trần Quốc Thành - Giám đốc Sở KH&CN Nghệ An: "Định hướng Thành phố Vinh trở thành trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo gắn với cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ"

Cần định hướng Vinh trở thành trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo gắn với cuộc cách mạng 4.0 về khoa học và công nghệ. Thành phố Vinh cần có một không gian, một cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp như về vốn, hỗ trợ pháp lý, vấn đề đào tạo, sở hữu trí tuệ,... Đồng thời, thành phố Vinh cần đi đầu trong phong trào phát động khởi nghiệp và xây dựng quỹ hỗ trợ khởi nghiệp, vì nếu không có bàn tay của Nhà nước trong thời điểm đầu thì cũng rất khó trong việc kêu gọi các quỹ hỗ trợ khởi nghiệp. Sở Khoa học và Công nghệ mong muốn được phối hợp với thành phố Vinh trong phong trào phát động khởi nghiệp sáng tạo trên địa bàn tỉnh Nghệ An mà bước đầu là thành phố Vinh.

6. PGS. TS Nguyễn Đình Long - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chính sách và chiến lược PTNT: "Phát triển thành phố Vinh trong kết nối đô thị nông thôn hiện đại"

Phát triển thành phố Vinh trong sự kết nối đô thị nông thôn hiện đại là một tất yếu trong quá trình phát triển. Trong giai đoạn tới, tỉnh Nghệ An cần tập trung mọi nguồn lực cho phát triển đồng bộ, hiện đại cơ sở hạ tầng, trong đó sớm hiện thực hóa "3 quốc tế" là sân bay quốc tế, cảng biển quốc tế và đường bộ quốc tế để tạo điều kiện và tăng khả năng kết nối và phát huy cơ sở hạ tầng thành phố cho phát triển kinh tế - xã hội; Tập trung hoàn thiện và nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn, kết nối với đô thị. Phát triển các khu đô thị mới và xây dựng nông thôn mới tiếp cận các tiêu chí đô thị, để đảm bảo đủ điều kiện và tiêu chí hội nhập vào các bước phát triển của thành phố Vinh theo hướng là đô thị hiện đại; Tiếp tục đổi mới thể chế và chính sách nhằm giải phóng và phát huy các nguồn lực, nhằm thu hút các nguồn lực xã hội và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn, nông nghiệp theo các chuỗi giá trị nông sản hiện đại/ đẳng cấp có giá trị gia tăng cao; Nâng cao chất lượng nguồn lực nhằm tạo ra những thay đổi căn bản trong tuy duy phát triển và khả năng tiếp cận tới nền kinh tế hiện đại.

7. Ông Nguyễn Quốc Hồng - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An: "Quan trọng nhất là phải có nguồn nhân lực để thực hiện tầm nhìn, định hướng chiến lược ntrong phát triển thành phố Vinh"

Chúng ta đã có nhiều văn bản xác định tầm nhìn, chiến lược phát triển, giải pháp phát triển để Vinh đạt được mục tiêu là Trung tâm, thủ phủ của vùng Bắc Trung bộ, nhưng vấn đề đặt ra là ở chỗ: ai làm và lấy gì để làm? Tôi xin có một số ý kiến nhỏ để góp thêm vào vấn đề ai làm.

Cần phải nhận diện nguồn nhân lực chất lượng cao của Vinh, cả đội ngũ quản lý, cán bộ nghiệp vụ và công nhân giỏi, lành nghề tuy số lượng đông (chiếm 50% dân số thành phố) nhưng chất lượng chưa cao, nhiều năng lực chưa đáp ứng yêu cầu công việc. Để góp phần khắc phục tình trạng trên, tôi xin đề xuất 3 việc sau:

Thứ nhất: Tỉnh và thành phố tập trung đầu tư mọi nguồn lực để nâng cấp hoặc xây dựng một trường dạy nghề đẳng cấp quốc tế, để thu hút, đào tạo một đội ngũ công nhân có tay nghề cao, ít nhất là các nước trong khu vực công nhận để trước hết cung cấp nguồn nhân lực cho thành phố sau là tỉnh và khu vực. Các nghề đào tạo phải gắn với cơ cấu ngành, lĩnh vực kinh tế của thành phố như: dịch vụ du lịch, công nghệ thông tin, điện tử....

Thứ hai: Cần phải có cuộc rà soát, đánh giá lại một cách khách quan, nghiêm túc đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ trong các cơ quan công quyền để bố trí đúng vị trí của từng người, để đào tạo lại và thậm chí chuyển sang làm những việc khác. Đây là việc làm cần thiết để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các cơ quan công quyền.

Thứ ba: Tỉnh xây dựng hoặc phân cấp cho thành phố xây dựng chính sách đặc thù thu hút những người tài thực sự trên các lĩnh vực quản lý, xây dựng chiến lược, chính sách phát triển, công nghệ cao, chuyên gia kinh tế,... Chính sách đặc thù thu hút nguồn lực "đẳng cấp" phải đáp ứng được niềm tin, sự hấp dẫn của môi trường làm việc và khơi dậy tình cảm và trách nhiệm của đội ngũ chuyên gia đối với sự phát triển của thành phố.

8. Ông Nguyễn Đắc Vinh - UV TW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An: "Phát triển thành phố Vinh đặt trong bối cảnh và sự phát triển của Việt Nam, khu vực và thế giới"

Chúng ta phải nhìn ra được quy luật phát triển thành phố Vinh đặt trong bối cảnh và sự phát triển của Việt Nam, khu vực và thế giới để từ đó chúng ta có định hướng phát triển. Khâu đầu tiên là thành phố Vinh phải được quy hoạch tốt, và trên thực tế tỉnh Nghệ An đã có quy hoạch để phát triển thành phố Vinh trong tương lai. Trong quy hoạch chung, UBND tỉnh đã chỉ thị không cho xây dựng thêm các nhà cao tầng để tránh hiện tượng quá tải cho thành phố, ưu tiên mở rộng trục Vinh - Cửa Lò và đường ven sông Lam tạo ra không gian phát triển thành phố Vinh thoáng đãng hơn, vừa hiện đại vừa hài hòa. Trong năm 2017, tỉnh sẽ khởi công đại lộ Vinh - Cửa Lò và dự kiến hoàn thành trong năm 2018, về quy hoạch 2 bên đại lộ, Tập đoàn BRG đã nhận lời giúp tỉnh xây dựng quy hoạch chi tiết. Có thể trong tương lai, trụ sở hành chính của thành phố Vinh sẽ chuyển về đại lộ Vinh - Cửa Lò để tạo ra động lực phát triển cho khu vực này. Sau khi thực hiện xong đại lộ Vinh - Cửa Lò, tỉnh sẽ tiếp tục quy hoạch tuyến xen sông Lam. Về phía Tây và phía Bắc thành phố, tỉnh đang cho quy hoạch vùng Vinh – Nam Đàn, trong đó có Khu công nghiệp VSIP, khu công nghiệp Hemaraj đang hoàn thiện mặt bằng và kêu gọi đầu tư. Về phía Đông, hướng đến đô thị tiến dần ra biển, tỉnh đang kêu gọi Tập đoàn FLC đầu tư vào khu vực gần Bãi Lữ để trở thành khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp. Cảng hàng không quốc tế Vinh đang được tỉnh quy hoạch xây dựng thêm một đường băng thứ hai hướng ra biển; cảng biển quốc tế Cửa Lò dự kiện hoàn thành trong năm 2017; Về giao thông đường bộ quốc tế, tỉnh cũng đã đầu tư tuyến đường bộ Vinh - Thanh Thủy - Viêng Chăn cũng là cơ hội để thu hút đầu tư phát triển du lịch, dịch vụ từ Lào và các nước Đông Nam Á. Tất cả không gian này có thể là không gian thành phố Vinh trong tương lai.

Có thể nói tỉnh Nghệ An đang quyết liệt xây dựng quy hoạch và thực hiện quy hoạch để thành phố Vinh trở thành trung tâm kinh tế - xã hội của vùng Bắc Trung bộ như Quyết định số 2468/QĐ-TTg ngày 29/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển thành phố Vinh thành trung tâm kinh tế, xã hội vùng Bắc Trung bộ đến năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Đậu Kỷ Luật

 

Chuyện cũ đã 71 năm (1946 -  2017) mà rất thời sự với ứng xử vấn đề BIỂN ĐÔNG hiện nay.

Ngày 2 - 7 - 1946, khi Hồ Chủ tịch sang Pháp với tư cách là thượng khách của nước Pháp nổi tiếng lúc bấy giờ là đáp từ của Người trong buổi chiêu đãi của chính phủ Pháp (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, tr.143 - 144): "Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: "Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân"... Với sự tin cậy lẫn nhau, những dân tộc tự do và bình đẳng vẫn có thể giải quyết những vấn đề khó khăn nhất".

Nếu lúc bấy giờ nhà cầm quyền thực dân Pháp chịu nghe Hồ Chí Minh cái triết lý gốc ấy của phương Đông nằm ngay trong triết lý phương Tây trong ngôn ngữ Pháp: "Nefaits pas à autrui ceque tu ne vousdrais pas qu'on te fêt" nghĩa là: đừng làm với người khác điều mà anh không muốn người khác làm với mình. Thì cũng hệt như Khổng Tử dạy: điều gì mình không muốn thì đừng có làm với người khác.

Ấy vậy mà người Pháp không muốn làm nô lệ cho Đức quốc xã nhưng lại bắt Việt Nam - một nước độc lập (như Tuyên ngôn độc lập ngày 2 - 9 - 1945 mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình vang khắp năm châu bốn bể) trở thành một nước nô lệ. Thật là trái với triết lý Đông - Tây, trái với Đạo trời.

Khổng Tử dạy học trò mình rằng ngàn lời vạn tiếng vẫn quy về một chữ "Thứ", dạy người làm người nhớ rằng điều mình không muốn đừng có áp đặt cho người khác. Trong sách "Lễ ký" và sách "Trung dung" của đạo Nho cũng nói như vậy.

Nói giản đơn là chúng ta không muốn bị lừa gạt, thì chúng ta không thể đi lừa gạt người khác. Chúng ta không thích bị người khác đánh, bị người khác chửi mắng, thì chúng ta không thể đánh và chửi mắng người khác. Chúng ta chỉ cần đem lòng so với lòng, đem việc người khác để xem, tức là có thể làm được "Thứ".

Điều phàm là dục vọng, nén mình, thực hành thì đúng Lễ. Những gì trái với Lễ thì không nhìn, những gì trái với Lễ thì không nghe, những gì trái với Lễ thì không nói, những gì trái với Lễ thì không làm.

Nhà cầm quyền Pháp lúc ấy không chịu làm.

Khổng Tử cũng như các nhà hiền triết phương Tây cũng đã nói: trị thiên hạ, quốc gia có 9 điều cần, trong đó 2 điều đặc biệt lưu ý: hòa thiện với các nước xa xôi thì bốn phương quy phục, thương yêu các nước chư hầu thì thiên hạ lo sợ. Đó là cách ứng xử với "Thứ" hợp với đạo thì mọi việc tốt đẹp.

Khổng Tử và Socrate, hai bậc hiền triết, hai vị phúc thần của nhân loại đã từng dạy cho loài người cách khéo dùng lẽ phải. Hai vị đã sáng tạo ra luân lý học, phát minh Đạo Nhân từ "Lẽ phải là duy nhất". Đông và Tây đều xây dựng một "Kiểu mẫu làm người" mà phương Đông gọi là "Quân tử", còn phương Tây gọi là "Chính nhân". Nhà cầm quyền Pháp lúc bấy giờ hoặc là không biết nhiều, hoặc có thể biết nhiều mà không học được, hoặc có thể học được mà không thi hành được chỉ vì lòng tham vô độ của cá lớn nuốt cá bé. Hẳn là người Pháp đã mếch lòng "La vérité nous pique" hay theo ngôn ngữ Tàu: Trung ngôn nghịch nhĩ.

Hồ Chí Minh nói thẳng, không nói nhiều, vì thực hiện ngạn ngữ Pháp "L'honnète home n'a qu'une parole": Quân tử nhất ngôn chính là tư tưởng "thà chết tự do chứ nhất định không chịu làm nô lệ" của dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh khởi xướng.

Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một, kiên trì đường lối lẽ phải là duy nhất. Bởi Hồ Chí Minh phải kêu gọi đồng bào cả nước: "Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước" (Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4 - tr.480). Và đã làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, làm cho thực dân Pháp xâm lược ở Việt Nam và toàn Đông Dương thất bại khủng khiếp và hoang mang tột độ.

Đòn đau và nhớ đời. Sau này bại tướng Na Va đã có lời sám hối chua cay trong hồi ký của mình. Lúc này họ mới sáng ra cái học thuyết từ phương Tây mà sự công bằng, bình đẳng là một đạo lý hàng đầu cũng như trong học thuyết Khổng Tử của phương Đông. Thực ra Đông và Tây đã gặp nhau từ lâu rồi, chứ không phải như ngày xưa, trong bài diễn văn nguy hiểm, sai lầm phát biểu làm chấn động cả dư luận toàn cầu của một văn hào Anh   Rudyard Kipling là: "Đông và Tây không bao giờ gặp nhau".

Xin thưa rằng Nhân mà Hồ Chí Minh đúng là cốt cách của Việt Nam trong ứng xử của một dân tộc anh hùng mà cũng rất khiêm nhường. Để bây giờ khép lại quá khứ, mở cửa làm bạn với tất cả hoàn cầu. Quả là cốt cách Việt Nam.

Chuyện thứ hai là nhật ký sang Pháp của Hồ Chủ tịch ngày 4 - 7 - 1946 khi Bác được mời đi viếng lăng vua Napoléon: "... Napoléon là một vị tướng có đại tài, đánh đâu thắng đó. Từ địa vị một quân nhân thường, làm đến tổng thống, từ tổng thống nhảy lên làm hoàng đế. Làm hoàng đế cũng chưa đủ, còn muốn làm chúa cả thế giới. Các nước hợp sức đánh lại. Kết quả ông Na bị thua... Nếu ông Na biết dè dặt không tham muốn quá, thì chắc lúc đó nước Pháp cũng không đến nỗi vì chiến tranh mà chết người hại của. Mà ông Na cũng giữ được địa vị thiên tử trong một nước giàu mạnh ở châu Âu. Nhưng ông Na đã làm con người, lại còn muốn làm cả giời. Kết quả bị thất bại. Xưa nay những người vì Không tri túc (chừng mực) mà thất bại. Thế mà đời sau không biết nhớ kinh nghiệm đời xưa".

Người đời sau hẳn đã đọc tập thơ "Les Châtiments" của thi hào V. Huygô tả trận    Waterlo, nơi hoàng đế Napoléon trong một ngày đã chôn vùi cả một đời đầy chiến công rực rỡ để rồi sẽ bước lên đường biệt xứ đến tận đảo S'te He'lène. Lúc tình thế nguy kịch đến cực điểm, hoàng đế phải cho đạo vệ binh ra tiếp chiến, nhưng những đoàn quân anh hùng ấy cũng lần lượt bỏ thây nơi chiến trận thê thảm.

Cái điều "không tri túc" có nghĩa là "thiếu chừng mực". Cho nên mới hay "biết đủ" biết đúng mức, hoặc biết "điều độ" là lẽ phải ở đời mà người Việt Nam từ trẻ đến già nhắc nhau làm theo lập nên chiến công rực rỡ xưa, nay.

Nhớ lại cuối năm 1923, qua câu chuyện với Nguyễn Ái Quốc tại Matxcơva, nhà thơ Ôxip Mácđen Sơtam đã nhận ra rằng: Việt Nam là một dân tộc chuộng sự điều độ và ghét thái quá.

Đi viếng mộ ông Na, Hồ Chủ tịch chỉ chê ông một điều là "không tri túc" nên mới nên cơ sự đau xót này. Và chính nhà cầm quyền thực dân Pháp đã trở lại xâm lược Việt Nam chỉ vì "không tri túc" mà Hồ Chí Minh đã nhiều lần giảng giải, mong muốn có lúc nhân nhượng, nhưng họ lấn tới để họ thất bại như ông Na hoàng đế của họ xưa.

Một điều cần nói lại ở đây là Việt Nam vốn là dân tộc đậm đà văn hóa tri ân biết phân biệt thực dân Pháp xâm lược hoàn toàn khác với nhân dân Pháp thông minh, đức độ có rất nhiều chính nhân trong quần chúng lao động nghèo khổ. Những nhà khoa học có công với Việt Nam đều được ghi nhận, không bao giờ quên ơn họ. Đối với nhiều nước khác cũng vậy, tổ tiên họ đã có lần gây hấn, giày xéo đất nước Việt Nam của con Lạc cháu Hồng ngàn năm văn hiến, nhưng Việt Nam bao giờ cũng phân biệt kẻ đi xâm lược và nhân dân nước họ.

Văn hóa tri ân là một đặc tính, một đặc sắc của bản sắc, bản lĩnh Việt Nam ngày chỉ càng đậm đặc thêm. Vì thế mà Việt Nam càng ngày càng nhiều bạn bè chí cốt, làm bạn với tất cả các nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh - một vĩ nhân, danh nhân văn hóa. Cái mà Việt Nam - Hồ Chí Minh - đã vận dụng văn hóa truyền thống phương Đông nhuần nhuyễn kết hợp văn hóa phương Tây càng sâu sắc thêm để làm nên chiến thắng lẫy lừng. Từ người dân thường đến nhà lãnh đạo cao nhất trong các thời kỳ đều tâm đắc và thực hành, chính từ Tri túc của Lão Tử được vận dụng và phát triển. Có thể tóm tắt "Tri túc, tri chỉ" trong sách Lão Tử tinh hoa của Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1977: hai chữ "tri chỉ, tri túc" là then chốt đạo xử thế của Lão Tử, mà cũng là vấn đề khó nhất.

Ta để ý chủ trương của Lão Tử là Đạo. Đạo tức là cái luật Quân bình của vũ trụ, chi phối cả vạn vật, không cho ta có quyền làm một cái gì thái quá. Đạo, chủ trương và bao trùm vạn vật, luôn luôn có mặt trong tất cả mọi sự vật. Nó có phận sự điều chỉnh lại những cái gì thái quá, vượt mức trung, hễ "cao thì ép xuống, thấp thì nâng lên, dư thì bớt đi, hụt thì bù vào".

Trong đạo xử thế, quan trọng nhất là vấn đề thị phi, thiện ác. Sao là phải, sao là quấy, sao là lành, sao là dữ? Lão Tử cho rằng: "Thiên hạ đều biết tốt là tốt thì đã có xấu rồi; đều biết lành là lành thì đã có cái chẳng lành rồi. Bởi vậy, có và không cùng sinh. Khó và dễ cùng thành. Ngắn và dài cùng sánh. Cao và thấp cùng chiều. Trước và sau cùng theo"... (Chương II. Đạo đức kinh).

Rồi ông lại nói "phản giả đạo chi động". Cái động của Đạo là phản biến: phải biến thành cái quấy, cái lành thành cái dữ, cái vinh biến thành cái nhục...

He'raclite - triết gia Hy Lạp, sinh ở Ephèse 546 (540?) và mất khoảng 480 trước Tây lịch Kỷ nguyên, cũng nói: "C'est la même chose qui habite en nous: lavie et la mort, la veille et le sommeil, la jeunesse et la vieillesse. Ces derniers en se transformant de viennent les premiers, et lespremters, en se transformant de nouvơau, deviernent les derniers" (Cũng chỉ là sự vật ở nơi ta: Sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già. Những cái sau này chỉ biến động thành những cái trước kia, và những cái trước kia khi phản biến lại trở thành những cái sau này). Ông lại nói: "Le froid devient, chaud, le chaud froid, l' humide sec le sec humide" (Lạnh trở thành nóng, nóng trở thành lạnh, ướt trở thành khô, khô trở thành ướt), như Kinh dịch bảo "vật cực tắc phản, vật cùng tắc biến" nhưng hễ biến thì biến thành cái mâu thuẫn của nó, tức là hễ "dương cực" thì "âm sinh", "âm cực" thì "dương sinh" như trong Kinh dịch đã nói, đó là cái luật của Tự nhiên của Đạo đừng vượt mực trung để thành cái Quấy. Đó là "biết dừng lại", "tri chỉ" vì đã biết đến đâu là đủ... "tri túc". Nhớ nhất câu "tri túc, chi túc": biết đủ và biết dừng lại nơi đó; đó là tất cả sự khôn ngoan, sáng suốt của con người.

Thái quá cũng như bất cập, đều không hay cả? Nhưng theo Lão Tử, thì thà bất cập còn hơn thái quá vì thái quá bao giờ cũng nguy hiểm. Bất cập thì còn phát triển mạnh thêm và gây nhiều hứng thú, còn thái quá thì dọn đường cho sự phản biến ngược lại với kết quả mình mong muốn: "tương dục phế chi tất cố hưng chi" (Chương 36).

Hai mẩu chuyện của Hồ Chủ tịch tại Pari - Pháp 1946 cũng đã chứng minh cho triết lý phương Đông gặp triết lý phương Tây trong ứng xử các vấn đề phức tạp, đặc biệt là vấn đề biển Đông tranh chấp hiện nay.

Ta không theo quan điểm của Pháp gia mà tiêu biểu là Hàn Phi cực đoan về "cái uy của cây roi" và "hàm thiếc" trong trị ngựa, rồi kêu gào dùng uy quyền với chính sách đối ngoại "cùng binh độc vũ" tức là chỉ dựa vào vũ lực, đe dọa dùng vũ lực và theo đuổi chiến tranh.

Xin ghi tóm tắt Chương 30: Thuyết kiến trong sách Trang Tử - Trí tuệ của tự nhiên (Nxb Đồng Nai, 1996): "Chư hầu thấy vua Triệu đắm mình trong sự mê muội của kiếm thuật, cho rằng có cơ hội này thì nghĩ đến việc cướp đoạt đất đai của Triệu quốc. Sau khi Thái tử của vua Triệu biết được việc này, bèn bàn với quần thần đồng tình chọn mời Trang Tử đến. Trang Tử được Thái tử cho hay lòng dạ của Đại vương chỉ có kiếm khách. Ngoài kiếm khách không biết đến ai đâu, và cũng không tiếp ai cả.

Mời được Trang Tử, Thái tử cho sắm một bộ trang phục kiếm khách để đi gặp Triệu Vương. Nhìn vào mặt Trang Tử ngông nghêng, ngạo mạn, bỗng lòng dạ Triệu Vương thích thú kỳ lạ và hỏi ngay: "Kiếm thuật của nhà ngươi đẹp chứ?". Trang Tử chững chạc thưa: "Kiếm thuật của ta ngàn dặm trở vào không ai có thể cản được. Nếu như mà có kẻ ngăn cản được thì chỉ trong vòng mươi bước ta có thể hạ thủ đối phương". Triệu Vương mừng quá khen: "Vậy ông là vô địch thiên hạ rồi!".

Thế là bảy ngày liền, Triệu Vương chọn những tay kiếm giỏi đọ sức nảy lửa để chọn người tài. Chết và bị thương đến sáu bảy mươi người. Cuối cùng chọn ra được 5 tay kiếm cao siêu nhất để đọ kiếm với Trang Tử.

Trước khi vào đấu, Trang Tử trình bày với Đại vương:

"Kiếm của tôi có ba loại: kiếm của thiên tử, kiếm của chư hầu, kiếm của thứ dân.

Kiếm của thiên tử là dùng Yên Khê (nước suối của Yên quốc) rửa kiếm, dùng thạch thành (đá của thành quách) làm mũi kiếm, lấy Thái sơn của Tề quốc làm sống kiếm, lấy nước Tấn, nước Ngụy làm lưỡi kiếm, lấy đất Chiêu và Tống làm vòng kiếm, lấy nước Hàn, nước Ngụy làm cán kiếm, lấy Tử Di (người vợ) làm bao kiếm, lấy Bột Hải làm tua kiếm. Cây kiếm này khi tuốt khỏi, hướng lên không gian có thể chặt mây trời, hướng xuống dưới có thể chặt đứt mọi gốc rễ, thì không ai mà không khâm phục.

Kiếm chư hầu lấy sự thông minh dũng cảm của con người làm mũi kiếm, lấy người hiền lành làm lưỡi kiếm, lấy người trung như thánh hiền làm khâu kiếm, lấy người hào kiệt làm cán kiếm. Loại kiếm này nhất dùng, tứ cảnh binh phục, như sấm sét chấn động bốn phương.

Kiếm thứ dân là đầu óc rối bời, nói chuyện thì ngông nghênh hồ đồ, khi đọ kiếm, mũi kiếm để sát chân mây. Loại kiếm này một khi ra tay, trên thì chém thủ cấp của địch, dưới thì đâm vào tim của địch, chẳng khác chút nào với chọi gà. Bỗng chốc tính mạng mất đi, đối với nhà nước thì không còn khả năng phòng thủ nữa.

Hiện giờ Đại vương ta đang thích thứ kiếm này của kẻ thứ dân, tôi thấy quả là tội nghiệp".

Nghe xong, sắc mặt của Triệu Vương như kẻ chết rồi, ngồi đó mà bất tỉnh nhân sự. Hồi lâu mới tỉnh lại và giữ được bình tĩnh dần.

Và rồi Đại vương bước lên đại điện, phán với các kiếm khách rằng: "chuyện đọ kiếm hôm nay đến đây chấm dứt, cho phép các ngươi lui ra hết!".

Từ đấy về sau Triệu Vương không hề bàn đến kiếm thuật nữa, ba tháng liền không bước ra cung ngoài, lo cho sự êm ái yên bình bên trong".

Chuyện của Trang Tử trên đây muốn nhắc nhở "kiếm thuật thương thân!"; Tiểu đạo thương thân, không thể coi là chỗ dựa, người đời khắc sâu điều này để tự răn mình trong suy ngẫm và hành động. Bởi vì các tay kiếm trên đây, Đại vương không đoái hoài đến họ nữa. Và họ cũng tự sát để bài học cho đời.

Bài học cho Đông và Tây, cho hôm nay và cho cả mai sau. Điều mà Hồ Chí Minh đã nói trước đây là chỉ chê Napoléon có một điều là không biết đủ, không biết dừng mà thôi! Không bao giờ "cùng đinh độc vũ" trong chính sách đối ngoại.

Ngày nay, một Đông Nam Á gắn với biển thì đã rõ ràng. Một vùng Đông Nam Á ở biển Đông rộng lớn, tạo cho Đông Nam Á phát triển toàn cộng đồng. Sự liên kết văn hóa Đông Nam Á về biển, "tiến ra biển" là một thực tế khách quan. Một sự xâm lăng của bên ngoài vào vùng biển Đông Nam Á dù chỉ của một nước cũng phương hại đến toàn vùng, thậm chí cả quốc tế nữa do vị trí biển của Đông Nam Á. Thạo đường biển là thế mạnh của cư dân Đông Nam Á, dòng họ Sailandra ở Sumatơra (thế kỷ IX, X) cũng đã phát triển ưu thế buôn bán đường biển lên tận Trung Quốc sang đến bờ biển Coromandel (ở vịnh Bengan, Ấn Độ) dựng lên vương quốc Srivijiaya, một cường quốc mặt biển Đông Nam Á thời bấy giờ.

Theo thư tịch cổ Trung Hoa, mãi cuối thời Đường Trung Hoa mới có thuyền ra biển khơi.

Nói về biển thì hầu khắp các nước Đông Nam Á lục địa và hải đảo đều có những huyền thoại, huyền tích (Mytha le gende) thấm đẫm chất huyền. Ví như huyền thoại của Việt Nam "Con Rồng cháu Tiên" (xem thêm "Biển Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á - Bắt đầu từ huyền thoại"; Đậu Kỷ Luật, "Hồn của lúa", Nxb. Nghệ An, 2016).

Quan điểm của Việt Nam ta là hợp tácđấu tranh bảo vệ chủ quyền biển của mình như chủ trương của ASEAN nỗ lực duy trì đoàn kết. ASEAN cần phát huy đoàn kết, thống nhất và vai trò trung tâm, đóng góp vào duy trì hòa bình, ổn định, kêu gọi kiềm chế và tạo môi trường thuận lợi cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp. Biển Đông cũng chính là phép thử đối với sự thống nhất và vai trò trung tâm của ASEAN tạo môi trường thuận lợi để các nước giải quyết hòa bình tranh chấp, phù hợp với pháp luật quốc tế và công ước Luật Biển của Liên hợp quốc 1982...

Ta có một lịch sử của biển Đông Nam Á, của Việt Nam, ta có Luật Biển quốc tế mà công ước các nước đã ký kết năm 1982. Ta xây dựng mối quan hệ bạn bè tốt, đối tác tốt và cả đồng chí tốt nữa chứ... Đâu cũng trở về với chân lý "kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân", "tri túc" mà Hồ Chí Minh đã nhắc lại ở Pháp năm 1946.

Bản lĩnh và nhân cách Việt Nam "Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo" là xuất phát của mọi ứng xử của Đảng ta, của nhân dân ta, Nhà nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường "dĩ bất biến, ứng vạn biến". Lấy cái tâm, cái thiện làm gốc cho mọi ứng xử. Biểu hiện Nhân cách Việt Nam. Nhân cách ấy với lối ứng xử thông minh tuyệt vời của chúng ta qua quá trình lịch sử một nước nhỏ thắng nước mạnh, nước lớn đã chứng minh cho nhân cách, bản lĩnh Việt Nam qua chống phong kiến phản động phương Bắc đến chống thực dân xâm lược Pháp đến chống Mỹ cứu nước, trong đánh và đàm, biết đủ, biết dừng và vận dụng triết lý phương Đông vào hoàn cảnh Việt Nam một cách sáng tạo. Mà thời hiện đại là Hồ Chí Minh, người tiêu biểu nhất của nhân cách Việt Nam, chuộng sự điều độ và không xử sự thái quá trong ứng xử mọi mối quan hệ.

Triết lý Đạo Khổng và triết lý phương Tây đều theo đúng một nguyên tắc đạo đức: "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân" - "Nefaits pas à autrui ceque tu ne vousdrais pas qu'on te fêt".  

Trong 109 công trình sáng tạo gửi về Ban tổ chức Giải thưởng Sáng tạo Khoa học & Công Nghệ Nghệ An năm 2017, đã có 43 công trình đạt giải thuộc các lĩnh vực y tế, nông nghiệp, công nghiệp, công nghệ thông tin, tiểu thủ công nghiệp, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

Giải đặc biệt năm nay được trao cho công trình "Nghiên cứu, sưu tầm biên soạn tài liệu và tổ chức dạy học chữ Thái hệ Lai Tay" của tác giả Sầm Văn Bình ở xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp, Nghệ An. Đây là công trình được đánh giá có ý nghĩa lớn trong việc bảo tồn chữ Thái hệ Lai Tay, góp phần gìn giữ và phát huy văn hoá dân tộc Thái.

Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn có cuộc trao đổi với tác giả công trình, xin giới thiệu tới bạn đọc.

 

*   *

*

PV: Trước tiên, xin chúc mừng ông đã nhận giải thưởng danh giá nhất của ngành khoa học tỉnh nhà. Vậy cơ duyên nào đã đưa ông đến với việc tìm hiểu, nghiên cứu và đạt giải thưởng cao về chữ Thái Lai Tay, thưa ông?

Kỹ sư Sầm Văn Bình: Rất cảm ơn Tòa soạn đã quan tâm.

Phải nói là tìm hiểu, nghiên cứu chữ Thái Lai Tay không phải là cơ duyên mà là "nghiệp" đã vận vào và sẽ đi suốt cuộc đời tôi. Trước đây tôi vốn đã ham tìm hiểu về văn hóa dân tộc mình, đặc biệt là về hệ chữ Thái. Khi còn trẻ, một đôi lần tôi nhìn thấy chữ Thái qua các trang sách cổ còn lưu lại ở một số nhà dân trong bản, nhưng lúc đó chỉ xem chứ chưa hiểu cũng như chưa định hình được sẽ tìm hiểu và khám phá nó như thế nào.

Sau khi tốt nghiệp Đại học Hàng hải, vì điều kiện gia đình khó khăn, tôi không tìm được công việc phù hợp với ngành nghề mình đã học, đành ở nhà lăn lộn với nhiều nghề để kiếm sống: làm nương, làm công nhân ở các mỏ đá, tham gia làm quặng vàng, thiếc. Tuy vất vả nhưng niềm đam mê tìm hiểu chữ Thái vẫn luôn thường trực trong tôi, luôn ý thức tìm các cuốn sách cổ để đọc và cố gắng giải mã. Tuy nhiên, mãi sau này, từ câu nói của bố tôi mới khiến tôi sực tỉnh và tìm ra hướng nghiên cứu cho mình: Văn hóa, phong tục của dân tộc Thái trước sau gì cũng bị mất đi nếu không có chữ viết để lưu giữ lại. Tôi nhận thấy các bài hát dân ca, các bài cúng trong đám ma, đám cưới, tại các lễ hội,... rất dài, nếu chỉ lưu truyền bằng miệng, thì dễ bị mất đi hoặc "tam sao thất bản", phải có chữ viết mới có thể bảo tồn và lưu truyền được lâu dài, chính xác. Tuy nhiên, thời gian đó, chữ viết của người Thái gần như bị lãng quên dù nó là một kho báu linh thiêng nhất, có tuổi đời trên dưới cả ngàn năm, đầy ắp những tinh hoa văn hoá mang đậm bản sắc của dân tộc Thái. Toàn tỉnh Nghệ An hiện có 281.400 người Thái, nhưng số người còn biết chữ Thái chỉ đủ tính trên đầu ngón tay, phần đông đều đã bước sang tuổi "xưa nay hiếm", còn thế hệ trẻ chẳng ai lưu tâm bảo tồn nét bản sắc ấy. Thấy rõ thực trạng đó, tôi bắt đầu vạch ra cho mình hướng tìm tòi, khám phá chữ Thái Lai Tay.

PV: Như ông đã nói thì ông có niềm đam mê tìm hiểu, nghiên cứu chữ Thái từ rất sớm, có phải ngay từ đầu ông đã thấy rõ vai trò quan trọng của nó đối với văn hóa dân tộc Thái?

Kỹ sư Sầm Văn Bình: Người Thái họ xem chữ viết như một tài sản tinh thần quý báu hơn cả của cải, vật chất và họ không dễ dàng cho mượn. Nếu cán bộ văn hóa đi sưu tầm, muốn mượn cuốn sách chữ Thái đi photo thì hầu như các gia đình họ không cho. Vì luôn xem chữ viết là "cổ vật" do cha ông để lại nên khi lấy ra khỏi nơi cất giữ họ phải cúng tổ tiên để xin phép, nếu có điều kiện thì mâm cỗ rượu thịt, còn không thì cũng phải có rượu, hương nhang, trầu cau để thông báo. Không chỉ lúc lấy ra mà khi cất vào họ cũng phải thắp hương xin phép được cất vào chỗ cũ. Nói như thế để biết được tầm quan trọng cũng như sự quý giá của chữ Thái đối với đời sống của người Thái như thế nào.

Trước đây, người Thái thường dùng chữ viết để ghi chép các văn bản, các bài hát dân ca của dân tộc mình, các khế ước mua bán,... Hiện nay, còn rất nhiều văn bản lưu lại là giấy chứng nhận phong chức cho các lý trưởng, ông tổng được viết bằng chữ Thái cổ. Có nhiều văn bản còn nguyên con dấu của chính quyền Đông Dương, ghi chép bằng nhiều ngôn ngữ như chữ Pháp, chữ Việt và chữ Thái. Người Thái họ giữ gìn các văn bản đó rất kỹ càng và cẩn thận.

Cũng giống như tiếng Việt, chữ Thái như là hồn cốt của văn hóa dân tộc Thái vậy, nó góp phần bảo tồn, lưu giữ các phong tục tập quán cũng như bản sắc của dân tộc. Ví dụ như các bài hát dân ca, bài cúng, bài làm vía,... của dân tộc Thái rất dài, có những bài dài đến 4.000 câu, nếu chỉ dựa vào trí nhớ của con người thì rất khó chính xác và khó lưu giữ được lâu dài. Do đó, việc bảo tồn và phục dựng lại chữ Thái là điều rất cần thiết và cấp bách.

PV: Vậy ông đã tiến hành nghiên cứu và bảo tồn chữ Thái Lai Tay như thế nào, thưa ông?

Kỹ sư Sầm Văn Bình: Yêu thích và mày mò tìm hiểu về chữ Thái Lai Tay từ sớm, nhưng mãi đến năm 2003, tôi có mượn được cuốn sách chữ Thái ở Sơn La tại Thư viện huyện Quỳ Hợp, trong đó tác giả trình bày một bên là chữ Thái, một bên là chữ Việt để so sánh, lúc đó tôi mới nảy ý tưởng tìm hiểu một cách khoa học nhất về chữ Thái, có sự đối sánh với tiếng Việt.

Đầu tiên, tôi tìm hiểu xem chữ Thái và chữ Việt nó liên quan đến nhau như thế nào rồi cố gắng chuyển tiếng Việt sang tiếng Thái, sau đó so sánh tiếng Thái Nghệ An với tiếng Thái ở Sơn La để xem nó như thế nào và có thể xếp nó vào cái gì? Rồi lại tìm hiểu xem nó khác nhau ra sao?... Từ đó, tôi vỡ vạc ra được rất nhiều điều. Tuy nhiên, nghiên cứu về chữ Thái không phải là dễ, nhất là chữ Thái Lai Tay. Chữ Thái gồm nhiều hệ chữ khác nhau, có hệ Lai Tay, hệ Lai Xứ, hệ Lai Peo,... Theo cách hiểu chung nhất "lai" có nghĩa là một mảng tập hợp các đường nét hoặc hoa văn hàm chứa được một giá trị nhất định (về thông tin, về kết cấu, về màu sắc…). Theo đó, các đường vân tay, chỉ tay trên lòng bàn tay được gọi là "lai mư"; các mảng màu và đường nét hoa văn trên các tấm vải dệt hoặc thổ cẩm được gọi tương ứng là "lai pha", "lai màn"; hoa văn trong lòng rổ, rá, thúng… được tạo nên bởi cách đan cài các thanh nan ngang dọc được gọi là "lai đông"… Và một bản sách có ghi các chữ Thái cổ trong đó thì được gọi là "phờ lai" hoặc "pựn lai"- có nghĩa là một thực thể bền vững có chứa đựng "lai" ở bên trong. Như vậy, rõ ràng là ngoài hình ảnh đơn thuần được tạo bởi các mảng đường nét hữu hình, "lai" còn tiềm ẩn cả sức mạnh trí tuệ và khả năng sáng tạo là những thứ không dễ gì nhìn thấy và nắm bắt được. Nói như thế để biết tìm hiểu, nói đúng hơn là giải mã về chữ Thái rất khó, tôi phải mày mò, tìm tòi, chụp ảnh, viết lại, rồi rà từng ký tự để so sánh xem chữ Thái Nghệ An và chữ Thái Sơn La nó khác nhau như thế nào?

Từ năm 2006 - 2010, tôi đã dồn tâm huyết và hoàn chỉnh bộ sách "Hướng dẫn học chữ Thái hệ Lai Tay", gồm 2 tập. Tập 1 dày 108 trang, với 21 bài học có hệ thống rất khoa học từ giản đơn đến phức tạp. Song song và tiếp theo hai cuốn sách được coi như giáo trình này, tôi còn hoàn chỉnh 5 cuốn sách khác là: "Hệ chữ Lai - xứ Mường Ham"; "Hệ chữ Lai - xứ Thanh Hoá"; "Hệ chữ Lai - xứ Mường Mùn"; "Hệ chữ Lai - xứ Mường Muỗi"; "Hệ chữ Lai Pao"; "Lịch sử hình thành và phát triển Mường Ham" (viết chung với Thái Tâm).

Sau khi xuất bản bộ tài liệu, tôi nhận được phản hồi tốt, nhiều người đọc đón nhận và ủng hộ. Tuy nhiên, tôi nghĩ để phổ biến được tài liệu đến với bà con dân bản, tôi đã quyết định thành lập Câu lạc bộ học chữ Thái Lai Tay tại xã Châu Cường, Quỳ Hợp. Thêm một lần nữa khiến tôi bất ngờ là số người tham gia Câu lạc bộ khá đông và số lượng ngày càng tăng lên. Đều đặn hàng năm, CLB tổ chức lớp học chữ Thái và đến nay số lượng học viên được học chữ Thái lên đến vài trăm người. Đối tượng học viên bao gồm cả cán bộ, công chức, bộ đội, học sinh phổ thông... Đến thời điểm này, chữ Thái Qùy Châu cũng đã được đưa vào Trung tâm giáo dục thường xuyên dạy cho đối tượng cán bộ công chức làm việc ở địa bàn có người Thái sinh sống (TTGDTX huyện Con Cuông, TTGDTX huyện Qùy Hợp và TTGDTX tỉnh Nghệ An).

Không dừng lại đó, năm 2009, tôi được cán bộ Phòng Công thương huyện Quỳ Hợp hướng dẫn tham gia đề tài khoa học cấp tỉnh về chữ Thái Lai Tay có tên "Nghiên cứu, biên soạn Tài liệu và tổ chức dạy học chữ Thái hệ Lai - Tay ở huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An" do tôi làm chủ nhiệm. Đề tài đã được nghiệm thu và xếp loại xuất sắc, tỉnh cho phép triển khai giai đoạn 2. May mắn hơn nữa là Đề tài của tôi đã được nhận Giải đặc biệt tại Giải thưởng Sáng tạo KH&CN năm 2017. 

PV: Giải đặc biệt tại Giải thưởng Sáng tạo KH&CN năm 2017 đã là mục đích cuối cùng chưa, thưa ông?

Kỹ sư Sầm Văn Bình: Với tôi, giải thưởng là kết quả công sức mà tôi đã dày công trong những năm qua, chứ không phải đích đến cuối cùng. Thành công của đề tài tôi thực hiện chỉ mới trong phạm vi nhỏ hẹp của huyện Quỳ Hợp, mà cái mong muốn của tôi là tất cả đồng bào dân tộc Thái ai ai cũng được học chữ Thái, ai ai cũng biết đọc thông viết thạo chữ viết của dân tộc mình.

Nhu cầu học chữ Thái của bà con rất lớn, con số hàng trăm học viên đã học so với số bà con đang mong ngóng được học là rất ít. Có những khi mình mở lớp học được ở bản này mà bản khác không mở được là bà con họ phản ứng rất mạnh, họ còn đòi kiện vì huyện không công bằng, thậm chí bà con còn đòi góp tiền, góp của, góp công để tổ chức lớp học. Tuy nhiên, việc mở các lớp học tiếng Thái còn phải được sự đồng thuận của các cơ quan ban ngành, một mình tôi không tự quyết định được. Nên, mong muốn lớn nhất của tôi vẫn là mở được nhiều lớp học hơn nữa, không chỉ ở huyện Quỳ Hợp, mà cả các huyện miền núi khác của tỉnh Nghệ An.

Thời gian tới, huyện Quỳ Hợp sẽ phối hợp với Sở Văn hóa & Thể thao Nghệ An xây dựng hồ sơ trình Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch công nhận chữ Thái Lai Tay là di sản vật thể cấp quốc gia. Nếu chữ Thái Lai Tay trở thành di sản phi vật thể cấp quốc gia thì sức lan truyền của nó đến với cộng đồng lớn hơn, trong tỉnh, trong cả nước, thậm chí cả nước ngoài, đặc biệt là sự quan tâm của cộng đồng người Thái ở nước ngoài. Để làm được điều đó theo tôi cần sự quan tâm, vào cuộc nhiều hơn nữa các cấp ngành liên quan; đặc biệt là sự tham gia của truyền thông tỉnh nhà.

Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

 

HỒ THỦY (Thực hiện)

Nguyễn Quốc Hồng

 

Ngày 21/4/2012, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và UBND tỉnh Nghệ An đã ký thỏa thuận hợp tác nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực về khoa học xã hội. Sau 5 năm triển khai thực hiện đã đạt được những kết quả quan trọng đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An.

Hợp tác nghiên cứu khoa học và triển khai các nhiệm vụ khoa học:

Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã đặt hàng Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam tổ chức thực hiện một số chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học với sự tham gia của các nhà khoa học, nhà quản lý Nghệ An.

- Đề tài: "Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 - 2020 và tầm nhìn đến 2030", do GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng - Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam làm chủ nhiệm. Đề tài được nghiệm thu năm 2015.

- Đề tài: "Huy động nguồn lực người xứ Nghệ ở trong và ngoài nước đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An", do PGS.TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam làm chủ nhiệm. Đề tài được nghiệm thu năm 2015.

Kết quả nghiên cứu 2 đề tài khoa học trên đã đưa ra những luận cứ khoa học quan trọng giúp các đồng chí lãnh đạo tỉnh xây dựng các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội; chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao; đặc biệt cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng báo cáo chính trị Đại hội 18 Đảng bộ tỉnh.

Cùng với việc chủ trì nghiên cứu các đề tài khoa học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã cử nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu tham gia, tham luận tại các hội thảo khoa học do tỉnh Nghệ An tổ chức, trong đó phải kể đến các cuộc hội thảo:

- "Những giải pháp thực hiện có hiệu quả đề án phát triển kinh tế - xã hội miền Tây tỉnh Nghệ An" (năm 2008);

- Hội thảo khoa học: "Những giải pháp phát triển kinh tế biển, đảo ở Nghệ An giai đoạn 2009 - 2020" (năm 2009);

- "Phát triển các khu, cụm công nghiệp Nghệ An: Thực trạng và giải pháp" (năm 2011);

- "Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Nghệ An thông qua bộ chỉ số PCI" (tháng 6/2012). v.v.

Tham luận của các chuyên gia từ Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã đóng góp quan trọng cho sự thành công của các cuộc Hội thảo. Từ đó cung cấp cứ liệu, tầm nhìn mới trong việc xây dựng chính sách phát triển các sở, ban, ngành và lãnh đạo chính quyền tỉnh Nghệ An trong chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội.

Trong 5 năm, từ 2012 - 2017, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và các viện trực thuộc đã phối hợp với UBND tỉnh tổ chức các cuộc hội thảo cấp quốc gia trên các lĩnh vực lịch sử, văn hóa, kinh tế của Nghệ An và vùng Trung bộ.

- "Di sản văn hóa và di sản thiên nhiên khu vực Bắc miền Trung: bảo tồn và phát huy giá trị";

- "Khởi nghĩa Hoan Châu và vai trò của Mai Thúc Loan trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc";

- "Phát triển du lịch vùng Bắc - Nam - Trung bộ";

- "Phát triển Nghệ An đến năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ của Bộ Chính trị"; 

- Hội thảo "Thành phố Vinh trong giai đoạn mới: tầm nhìn, định hướng chiến lược và giải pháp phát triển".

Các hội thảo khoa học đã bám sát thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của Nghệ An; Đánh giá khách quan những thành tựu, những hạn chế trong quá trình phát triển, phân tích sâu sắc những nguyên nhân của thành công và hạn chế; đề xuất những chính sách phù hợp với tiềm năng, lợi thế của các vùng, miền, ngành trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tại các hội thảo, đã có nhiều ý kiến của nhà khoa học, nhà nghiên cứu với những quan điểm khoa học sâu sắc gợi mở, tư vấn cho các đồng chí lãnh đạo tỉnh trong công tác chỉ đạo, điều hành, hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Đã gợi mở tầm nhìn mới trong chiến lược phát triển của Nghệ An, quy luật phát triển của Nghệ An phải được đặt trong bối cảnh và sự phát triển của Việt Nam, khu vực và toàn cầu. Từ đó xác định chiến lược phát triển đúng, phù hợp với xu thế thời đại.

Ngoài kết quả về nghiên cứu, tổ chức các hội thảo khoa học; nội dung phối hợp tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ cũng đạt được kết quả đáng ghi nhận.

Từ 2012 - 2017, Học viện Khoa học Xã hội trực thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã đào tạo 308 thạc sĩ và 107 nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành: Kinh tế, Luật, Văn hóa, Lịch sử, Dân tộc học cho Nghệ An. Những kết quả đó đã bổ sung thêm nguồn nhân lực chất lượng cao cho các trường cao đẳng, đại học và các cơ quan nghiên cứu trên địa bàn.

Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã phối hợp với tỉnh Nghệ An kết nối và duy trì hợp tác với các đơn vị nghiên cứu trực thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và các cơ quan nghiên cứu của Trung ương như: Viện Kinh tế Việt Nam, Viện Sử học, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Thông tin KHXH, Viện Khoa học Xã hội vùng Trung bộ, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương,... và hàng chục nhà nghiên cứu đầu ngành trong các lĩnh vực kinh tế, lịch sử, văn hóa... Sự kết nối, hỗ trợ nguồn lực của Viện Hàn lâm KHXH đã giúp Nghệ An nguồn nhân lực trong việc tổ chức nghiên cứu một số đề tài quy mô lớn có hàm lượng khoa học cao, đồng thời khắc phục sự thiếu hụt của đội ngũ cán bộ nghiên cứu, nhất là các chuyên gia đầu ngành.

Từ những kết quả trên, có thể khẳng định rằng:

- Sau 5 năm thực hiện thỏa thuận hợp tác, các hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tỉnh Nghệ An được triển khai đúng hướng, có trọng tâm hơn. Một số đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu có hàm lượng khoa học cao, bước đầu đã phát huy hiệu quả, đặc biệt là chuyển biến trong việc thay đổi nhận thức, phương pháp tiếp cận vai trò, vị trí của khoa học xã hội trong phát triển toàn diện ở địa phương, quốc gia, từ đó tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Một số công trình, dự án nghiên cứu quy mô lớn có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cao như: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 - 2020 và tầm nhìn đến 2030; Chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút đầu tư của tỉnh tạo chuyển biến quan trọng trong các lĩnh vực, nhất là môi trường đầu tư, môi trường xã hội và nhân văn được cải thiện tốt hơn.

Thông qua học tập, trao đổi và làm việc với các chuyên gia, nhà khoa học đến từ Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã giúp nâng cao nhận thức, phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu khoa học cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu KHXH của tỉnh Nghệ An, từng bước trưởng thành, tự tin hơn trong công tác nghiên cứu. Đặc biệt, bên cạnh những nhà nghiên cứu đã thành danh thông qua các hoạt động hợp tác cụ thể bước đầu đã hình thành đội ngũ nghiên cứu viên trẻ ở Trường Đại học Vinh, Trung tâm KHXH&NV và một số đơn vị nghiên cứu khác, tạo cầu nối chuyển giao thế hệ trong nghiên cứu KHXH&NV trên địa bàn tỉnh. Mặt khác, từ các đề tài mang tính thực tiễn, những cuộc hội thảo xuất phát từ thực tiễn, giải quyết các yêu cầu thực tiễn đặt ra tạo điều kiện cho các nhà khoa học, các chuyên gia của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam có thêm thực tiễn, gắn thực tiễn với lý luận, lý luận với thực tiễn trong nghiên cứu khoa học.

Những vấn đề đặt ra trong 5 năm tới (2017 - 2022)

Nghệ An đang triển khai mọi nguồn lực để thực hiện thành công Nghị quyết 26 NQ/TW ngày 30/7/2013 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020 với mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, KH&CN… của vùng Bắc - Trung bộ. Để góp phần thực hiện được mục tiêu trên, trong 5 năm tới đặt ra những nội dung mới trong hợp tác nghiên cứu giữa Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và tỉnh Nghệ An.

Trước hết, tỉnh Nghệ An và Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam sớm triển khai công trình: Tập hợp, phân loại các kết quả nghiên cứu lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn về Nghệ An từ trước đến nay. Từ đó đánh giá, phân loại từng công trình để sử dụng, ứng dụng, tính hiệu quả của các công trình trong thực tiễn. Những nội dung chưa được nghiên cứu, hoặc đã nghiên cứu nhưng kết quả không còn phù hợp cần phải nghiên cứu, hoặc tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, rộng hơn. Như vậy, chương trình hợp tác nghiên cứu tới sẽ không trùng lặp, mặt khác sẽ sử dụng phát huy kết quả đã nghiên cứu một cách tốt nhất.

 Hợp tác nghiên cứu thành lập Hội đồng tư vấn cao cấp về kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An (thành viên là các nhà khoa học, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp có năng lực tâm huyết và kinh nghiệm ở trong và ngoài tỉnh), để tư vấn cho lãnh đạo tỉnh trong việc chỉ đạo, điều hành, hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An.

 Tỉnh Nghệ An và Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đầu tư các nguồn lực: Cơ sở dữ liệu trong nghiên cứu, tư liệu, cơ sở vật chất, đặc biệt là nguồn nhân lực trình độ cao để: Nâng cấp Trung tâm KHXH&NV Nghệ An thành Viện Kinh tế - Xã hội vùng Bắc Trung bộ (hoặc Nghệ An). Viện có chức năng nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, đề xuất, xây dựng chiến lược, chính sách phát triển kinh tế - xã hội Nghệ An và chiến lược liên kết vùng để phát triển.

Hai bên cùng hợp tác với các nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu đề xuất thực hiện các đề tài, dự án cấp Quốc gia về các vấn đề văn hóa, kinh tế, con người Nghệ An, vùng. Trước mắt đề xuất chương trình nghiên cứu về nhân cách con người xứ Nghệ thế kỷ XXI, đánh giá những mặt mạnh, những hạn chế từ đó gắn với nội dung đào tạo cho thế hệ người xứ Nghệ hiện nay từ bậc tiểu học đến trung học phổ thông. Từ đó xây dựng các mô hình trong đào tạo, trong hoạt động thực tiễn.

 Xây dựng chương trình nghiên cứu tổng thể về khoa học xã hội và nhân văn tỉnh Nghệ An, đặc biệt là những vấn đề như: Tôn giáo và công tác tôn giáo ở Nghệ An; Về kinh tế vùng và các vùng kinh tế; Các loại hình tổ chức kinh tế; Du lịch; Phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình xây dựng các chuỗi sản phẩm trong nông nghiệp; Văn hóa các dân tộc trên địa bàn tỉnh Nghệ An cùng với chương trình nghiên cứu tổng thể, đặc biệt những đề tài nghiên cứu về vùng, miền, nhất là miền Tây Nghệ An.

Nguyễn Tâm Cẩn

 

Những ngày nghỉ hè đang diễn ra với học sinh phổ thông. Cha mẹ và gia đình đã sắp xếp để con em làm những gì trong thời gian nghỉ này?

hường thì cứ mỗi mùa hoa phượng nở, các vị phụ huynh lại lo cho con em mình nơi học thêm. Vấn đề là thời gian và mức độ học, không nên quá thiên về thành tích và đừng biến những ngày hè thành học kỳ ba nặng nề, để các em còn có thời gian được nghỉ ngơi, tập bơi lội và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí lành mạnh khác sau 9 tháng học hành căng thẳng. 

Điều muốn nói ở đây là với thời gian nghỉ hè hơn hai tháng, chúng ta cần tính đến sự phát triển toàn diện của con em, trong đó yếu tố sức khỏe cũng không kém phần quan trọng.  Những năm qua ở một số thành phố ngư�ời ta đã tổ chức các lớp: võ thuật, bóng bàn, bóng rổ, quần vợt, nhạc, họa… và đã thu hút nhiều học sinh, kể cả nông thôn đến học. Nên chăng ở các thị xã, thị trấn, huyện đoàn có thể phối hợp với ngành TDTT tổ chức những lớp như vậy. Tham dự các khóa học này trong hè đối với các em là rất bổ ích, nhất là những em có năng khiếu nếu được phát hiện càng sớm càng tốt để gia đình và nhà trường có hướng giúp các em phát triển. Bởi vậy đối với các bậc phụ huynh, điều quan trọng là cần phải cân nhắc tìm hiểu sở thích và năng khiếu của con em mình, rồi cần tính toán đến điều kiện và khả năng tài chính… cũng như quỹ thời gian không phải là nhiều để đề ra được một lịch hè hợp lý và không chỉ của một năm. 

Một vấn đề quan trọng cần phải được chú ý đến, đó là tạo điều kiện để các em được học bơi. Lợi ích của bơi lội ai cũng dễ nhận thấy: bơi là môn thể thao giúp cho con người phát triển toàn diện, cân đối. Nó cũng giúp bộ máy hô hấp, tuần hoàn… của người ta phát triển và phòng chống một số bệnh tật như vẹo cột sống, kém ăn, một số bệnh về tim mạch… Đặc biệt biết bơi tức là các em đã trang bị cho mình một thứ vũ khí phòng vệ quan trọng khi gặp phải thiên tai lũ lụt, khi tham gia các hoạt động gắn với sông nước. Nhất là đối với nước ta, một nước nhiệt đới lắm sông hồ, bờ biển dài và cũng nhiều bão lụt. Bài học đau lòng về vụ đắm đò ở Chôm Lôm (Nghệ An), Quảng Nam trước đây và gần đây nhất ngày 15/4/2016, chín học sinh THCS đã chết đuối tại Quảng Ngãi cùng nhiều vụ học sinh chết đuối khác là những hồi chuông cảnh báo nhà trường và các bậc cha mẹ phải khẩn trương dạy bơi lội cho các em. Mặt khác bơi lội giỏi cũng là chuẩn bị cho các em về sau, khi thi vào đại học, cao đẳng có thể chọn ngành hàng hải, ngành thủy sản… những ngành có nhiều em thích, có nhiều tiềm năng nhưng các em không dám đăng ký, không dám nạp hồ sơ…  chỉ vì không biết bơi. 

Để giúp các em tập bơi, các trung tâm thể dục thể thao cần tổ chức những lớp học bơi trong dịp hè và thông báo rộng rãi để học sinh biết. Ở các thành phố cần phát triển những mô hình như Trường Thể thao Thiếu niên 10/10 Hà Nội mà trước đây trên ti vi đã nhiều lần giới thiệu. Còn ở nông thôn có thể từng gia đình hoặc nhiều nhà kết hợp đưa các em đi học bơi ở các sông hồ, đập nước có sự hướng dẫn kèm cặp của người lớn giỏi bơi lội và cũng nên tập cho các em khi còn ở tuổi thiếu niên, nhi đồng. Một hình thức nữa là đưa các em đi tắm biển, qua đó từng bước tập bơi cho các em. Qua các hoạt động này nên kết hợp truyền tải đến các em các kỹ năng phòng tránh đuối nước.

Ngoài ra cũng nên có kế hoạch để học sinh được đọc một số cuốn sách: các sách được trích học trong sách giáo khoa cần đọc cả tác phẩm đã đành, các em cũng nên được đọc một số cuốn sách hay phù hợp với tâm lý lứa tuổi. Cần nhớ rằng mặc dù hiện nay có nhiều "kênh" để thu nhận thông tin như tivi, mạng internet, sử dụng điện thoại thông minh, đọc báo, nghe đài, nghe nói chuyện chuyên đề… nhưng theo nhiều nhà sư phạm, đọc sách vẫn là sở thích của nhiều người và rất cần phát triển ở các em. Khi học xong phổ thông, để thi cử học lên hay khi tốt nghiệp đại học, cao đẳng bước vào đời những em ham đọc sách báo, hiểu biết nhiều vẫn có một lợi thế không nhỏ. Trong những năm gần đây, nhiều thư viện tỉnh, huyện đã có phòng đọc đón chờ học sinh trong dịp hè.

Một điểm nữa là đối với những gia đình sống xa quê hương hay ở thành phố, nghỉ hè cũng nên giành một số ngày đưa con em về sinh sống ở quê chăm sóc ông bà, thăm hỏi anh em, người thân… và cũng nên tạo điều kiện cho chúng tham gia các công tác lao động chân tay, đồng ruộng hoặc làm quen với một số nghề đơn giản. Tình hình chung hiện nay là nhiều học sinh rất ngại lao động chân tay và có thể đây là một trong những nguyên nhân làm cho bài toán "thừa thầy thiếu thợ" trở nên khó giải đối với các nhà quản lý giáo dục. Mặt khác các em cũng chưa nhận thức được những lợi ích to lớn do lao động chân tay hợp với điều kiện sức khỏe mang lại. Đó là chưa kể qua lao động chân tay các em sẽ được rèn luyện và giáo dục về nhiều mặt. 

Với chương trình học như hiện nay, vào năm học mới học sinh sẽ rất bận. Nghỉ hè là dịp tốt để bổ sung những khiếm khuyết cho các em. Tùy điều kiện gia đình và khả năng của từng em, trong mỗi dịp hè, các bậc phụ huynh cần có chương trình để giúp các em vừa được nghỉ hè, vừa tận dụng những ngày nghỉ để học tập và tham gia các hoạt động, nhất là các hoạt động xã hội như: tham quan tu bổ các di tích lịch sử địa phương, tham gia các hoạt động làm sạch môi trường, góp phần xây dựng nông thôn mới, giúp đỡ các gia đình thương binh liệt sĩ, giúp đỡ người già neo đơn, người tàn tật… nếu như các cơ sở đoàn địa phương và nhà  trường kết hợp tổ chức được. Còn ở những nơi có điều kiện, với sự hướng dẫn của giáo viên có thể cho các em tham gia một số đề tài khoa học (chẳng hạn về nông nghiệp). Qua đó vừa củng cố kiến thức đã học, vừa giáo dục các em tác phong công nghiệp và phương pháp tư duy khoa học, những vấn đề rất cần thiết cho mỗi học sinh sau này khi các em bước vào đời.

Nguyễn Thị Loan

 

Văn hóa là sản phẩm của điều kiện kinh tế - xã hội. Điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi thì văn hóa tất nhiên sẽ có những biến đổi để thích ứng. Tính cách người xứ Nghệ nói chung, người Nghệ An nói riêng là kết quả của quá trình lịch sử - tự nhiên, do vậy những nét ưu trội về văn hóa, tính cách người Nghệ là một hằng số mà người Nghệ An có quyền tự hào, song cũng có những nét tính cách dễ bị phê phán ở người Nghệ như: tự mãn, hẹp hòi, bảo thủ, cục bộ địa phương, kinh nghiệm chủ nghĩa... là những nét ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ và sự phát triển của người Nghệ.

1. Những nét tính cách nổi bật của con người Nghệ An

Có thể khái quát "những nét tính cách sóng đôi 2 mặt" trong sự tồn tại của một chỉnh thể ở người Nghệ An như sau:

- Quyết liệt, trung dũng, tiên phong trong cách mạng, trong hành động thực tiễn nhưng cũng thường nóng vội chủ quan, thiếu mềm dẻo.

Con người Nghệ giàu lý tưởng, ý chí và nghị lực. Khi đã xác định hướng đi cho bản thân và cộng đồng, người Nghệ thường kiên quyết đấu tranh để bảo vệ nó, biết tập trung đức trung dũng, nghị lực, chí khẳng khái, tính cần mẫn cho thực hiện lý tưởng. Họ không chịu nhân nhượng và thường quyết liệt không chấp nhận những ai không đồng quan điểm, đi ngược lại lợi ích, danh dự cộng đồng, tập thể, quốc gia; không ưng, không đồng tình là sẵn sàng "phủi khu đứng dậy", bất hợp tác. Trung dũng, quyết liệt, tiên phong đã bồi đắp cho người Nghệ lòng tự tin, ý chí tiến thủ. Họ dám nhìn thẳng vào hiểm nguy, không chịu khuất phục trước mọi uy vũ, quyền lực. Họ thường nhìn đời, nhìn người, nhìn thói ton hót, nịnh bợ, nhìn những kẻ "rởm" hãnh tiến, trưởng giả học làm sang, những thói xấu... bằng con mắt khinh bạc. Ưu điểm đó khi "cực đoan" thường phải chịu những "khoản phụ phí" là những hạn chế, nhược điểm.

Quyết liệt, tiên phong thường "đi đầu dậy trước", thường nêu gương điển hình, sáng tạo nhiều cái mới nên con người Nghệ lại dễ rơi vào nóng vội chủ quan, thiếu uyển chuyển, thiếu hài hòa, ít mềm dẻo, khó cởi mở, có lúc đố kỵ, hẹp hòi, cố chấp, nguyên tắc cứng nhắc, quan liêu, gia trưởng... Những hạn chế và nhược điểm ấy, đây đó nhiều lúc đã hạn chế hiệu quả, làm chậm bước đi và kìm tỏa nguồn lực con người rất đáng quý của người Nghệ khi bước vào kinh tế thị trường, mở cửa hòa nhập để phát triển.

- Cần kiệm, chịu khổ, chịu khó nên thường dẫn đến tâm lý bảo thủ, cam chịu, thích nghi nhiều hơn cải tiến, cải biến, ít khả năng và cung cách tiếp thị mềm dẻo, linh hoạt.

Cuộc sống đã tạo buộc và rèn dựng cho phẩm cách của con người Nghệ đức tính siêng năng chịu khổ, chịu khó "một nắng hai sương", "đầu tắt mặt tối", lam lũ, tần tảo đối mặt với "đất trời" để kiếm sống và phát triển. Siêng làm, cố làm, siêng học, cố học, chịu khó, chịu khổ nên người Nghệ thông minh, tinh nhạy. Người Nghệ "cần" đến "cần mẫn".

Khó khăn trong đời sống đã hun đúc cho người Nghệ đức tính "kiệm", tiết kiệm - tằn tiện, chắt lót "ăn buổi mai để cổ (củ) khoai buổi túi (tối)", biết trù tính, căn cơ, dành dụm trong cuộc sống. Cho nên có người đánh giá người Nghệ "kiệm ước" không phải không có lý.

Tuy vậy, "món phụ phí" phải chịu của "cực đoan" ưu điểm này là tâm lý cam chịu, bảo thủ, không dám "đảo ngược" tìm cải tiến mà nặng về thích nghi, "chịu khó" trong "chịu khổ" chứ ít chịu khó trong bươn chải tìm nghề, tìm cách làm, tìm kỹ thuật, tìm công nghệ mới để cải biến hoàn cảnh sống, ít mềm mỏng, uyển chuyển trong tiếp thị và giao tiếp, nhất là trong kinh tế thị trường, kinh tế tri thức của thời đại mới.

- Hiếu học, khổ học nhưng yếu về "hành".

Truyền thống hiếu học, khổ học là một giá trị được khẳng định trong hệ thống tổng khắp giá trị truyền thống văn hóa xứ Nghệ. Vấn đề là phải tìm ra mặt yếu, hạn chế, những "phụ phí" phải chịu để tìm hướng khắc phục. Hiếu học, khổ học nhưng người Nghệ thường nặng về "chữ nghĩa", triết lý nhân sinh, đạo đức, học để thành danh, để "làm quan", để "làm cán bộ", để có bằng... Lối học "thiếu hành" đó hiện phải đối mặt với một nền kinh tế thị trường - hàng hóa, nền kinh tế tri thức trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, yêu cầu một lối học đòi hỏi phải "hành" vào thực tiễn, đòi hỏi cao về công nghệ, về khoa học kỹ thuật, về tay nghề, về khả năng marketing của kinh tế thị trường, hiện đại hóa và công nghiệp hóa.

 Phải đào tạo một đội ngũ nhân lực theo yêu cầu mới trực tiếp gắn bó với sản xuất kinh doanh trong một nền kinh tế nhiều thành phần là đòi hỏi bức thiết của tỉnh nhà trước yêu cầu phát triển.

- Sống khảng khái, thực tế, trọng danh dự nhưng dễ tự ái, hay cố chấp, ít tự phê bình và khó tiếp thu phê bình.

Người Nghệ thường "cứng đầu" trước các thế lực bạo tàn, thiên tai, địch họa, uy vũ và cường quyền; sỹ diện ngay trong cảnh nghèo khổ, chịu thiếu thốn để thanh thản, nhìn vinh hiển, lợi lộc bằng con mắt khinh bạc, thác trong chứ không chịu sống đục "thà chết ngoài bể hơn nằm kề lộ tru mẹp", "một miếng trửa làng hơn một sàng xó bếp". Nguyễn Sỹ Đại - Tiến sỹ, nhà báo người Nghệ đã nhận xét: "người Nghệ cứng rắn, quyết không sợ cường quyền, không sợ thiệt thòi, nhưng bên cạnh đó lại cứng nhắc trong ứng xử. "Choa rứa", ai muốn gì, mặc! Người Bắc bộ mềm dẻo, linh hoạt, chịu nhún nhường; Sáu, bảy mươi tuổi vẫn gọi người trẻ là "bác" và xưng "em". Phần vì hiếu khách, phần vì muốn làm đẹp lòng người khác, miễn là có lợi cho em. Cũng người miền Trung, như Huế chẳng hạn vẫn có một nếp nghĩ "thông thoáng" từ xưa... để ứng xử trong đời sống "nói với Bụt thì phải có hương hoa, nói với người ta thì phải có trầu rượu" (Nghĩ về tính cách người xứ Nghệ - Tạp chí Văn hoá Nghệ An số 42 - tháng 9 năm 2003).

Đối mặt với nền kinh tế thị trường, kinh tế tri thức đa chiều, đa phương, toàn cầu hóa như một xu thế tất yếu để phát triển đòi hỏi người Nghệ phải tìm phạm trù của cái "vinh" trong sự cởi mở, mềm dẻo, uyển chuyển để vượt qua "cái nghèo" trở thành "một tỉnh trung tâm của miền Bắc Trung bộ".

Bảo tồn và phát huy, kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống văn hoá Nghệ An và tính cách con người xứ Nghệ là quá trình của yêu cầu phát triển và chính là điều kiện tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội và con người Nghệ An trong thời kỳ mới.

2. Phát huy giá trị văn hoá truyền thống và tính cách con người Nghệ An trước yêu cầu mới

- Chuyển nội dung yêu quê hương đất nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng thành trí tuệ, ý chí tự cường, nghị lực và tâm huyết khám phá, giải phóng mọi nguồn lực của quê hương.

Mục đích chính là để "khơi trong, hút ngoài", tăng tốc chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa sớm đưa Nghệ An thoát khỏi một tỉnh nghèo.

+ Chuyển những quan niệm, giá trị và lề thói của nền kinh tế tiểu nông, sản xuất nhỏ tự cấp tự túc, khép kín của tổ chức làng, xã; của chế độ quan liêu bao cấp, ỷ lại, "xin, cho"… của nền kinh tế chỉ huy sang tư duy của nền sản xuất hàng hóa công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo cơ chế thị trường với xu thế mở cửa, giao lưu, hợp tác, đa dạng, đa phương hóa, toàn cầu hóa. Ý nghĩa cách mạng sâu sắc của quá trình chuyển đổi đó thực chất là sự giải thể cấu trúc cũ không phù hợp thiết lập cấu trúc của nền kinh tế mới.

+ Chuyển giá trị văn hóa cao đẹp của tình yêu quê hương, gắn bó với ruộng đồng, sông nước, đầu tắt mặt tối, một nắng hai sương, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, bươi đất lặt cỏ, cần mẫn và lam lũ khai thiên lập địa tạo lập và phát triển cuộc sống của xứ Nghệ thành ý chí tự lực tự cường, không chịu nhục vì đói nghèo, dám nghĩ, dám làm ăn lớn để chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, của từng địa bàn, của từng hộ gia đình - tế bào của xã hội, đổi mới cơ cấu thu nhập tăng trưởng nhanh kinh tế.

+ Chuyển trí thông minh, kiên cường, dũng cảm, xả thân, đi đầu dậy trước của mảnh đất "phên dậu" của đất nước bao đời sang tinh thần dũng cảm, trí thông minh trong việc lựa chọn các phương án mới để chuyển dịch nền kinh tế - xã hội có hiệu quả nhất, nhanh nhất; dám và biết "đi đầu dậy trước" trên mặt trận phát triển kinh tế - xã hội.

- Chuyển những giá trị nhân đạo, nhân văn cao đẹp của con người Nghệ phù hợp với nền kinh tế thị trường.

+ Chuyển dịch, bổ sung và phát triển những tình cảm nhân văn cao đẹp của người Nghệ: sống trọng nghĩa tình, thương người, "lá lành đùm lá rách"… sống khảng khái, thuỷ chung vào điều kiện mới biết hợp tác, mở cửa, giúp và cổ vũ nhau làm giàu chính đáng, phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng sống; khắc phục lối sống vị kỷ, khép kín, đố kỵ, bảo thủ, ỷ lại, tâm lý "cào bằng", níu kéo…

- Phát huy truyền thống sắp xếp "rành mạch" thang bảng những giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt là những giá trị đạo đức đã tạo nên bản sắc của người Nghệ bao đời, trở nên uyển chuyển, mềm dẻo và linh hoạt hơn trong nền kinh tế - xã hội đổi mới:

+ Quan niệm trọng nông, khinh thương trước đây, bước vào yêu cầu công nghiệp hoá, đa dạng và đa phương hóa của nền kinh tế thị trường là không còn phù hợp. Phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có tư duy uyển chuyển, năng động trong nền kinh tế thị trường.

Chịu khổ, chịu khó, tiết kiệm, chắt lót trong chi dùng, nhưng không cam chịu đói nghèo, dám nghĩ, dám làm, biết nghĩ, biết làm "mở cửa" để làm ăn lớn.

Kiên cường, dũng cảm, giàu bản lĩnh và ý chí nhưng không quá "cứng cỏi" đến bảo thủ, đến khó tiếp thu trước yêu cầu thích ứng nhanh, uyển chuyển, mềm dẻo, "biết người" để "biết mình"… trong cơ chế mới của kinh tế thị trường.

+ Người Nghệ hiếu học, tôn sư trọng đạo, biết tôn vinh người có công với làng với nước, quý trọng người hiền tài… Đó là những giá trị nhân văn cao đẹp nhưng sự nghiệp đổi mới đòi hỏi phải bổ sung và phát triển nội dung của những giá trị đó:

Phải nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo ở các ngành học, bậc học nhằm góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài chuyển nhanh chất và lượng nguồn nhân lực của tỉnh nhà.

Phải đổi mới nội dung phương thức dạy và học, đáp ứng yêu cầu, nội dung và gia tốc phát triển của thời đại mới. "Ông đồ Nghệ" với "bồ chữ nghĩa" thông thái rất quan tâm đến dạy chữ và dạy người. "Học trò" Nghệ khổ học, đọc "vỡ chữ và nghĩa" thiên kinh vạn quyển nhưng ít tri thức thực tiễn, ít khả năng "hành" trong cuộc sống. Cần phải đổi mới nội dung dạy và học gắn bó hơn nữa với khoa học công nghệ, với khả năng "hành" trong thực tiễn để đào tạo được một đội ngũ trí thức, lao động có trình độ học vấn và trình độ tổ chức thực tiễn cao.

- Bảo tồn và phát huy, kế thừa và phát triển những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể quý báu của quê hương phục vụ sự nghiệp đổi mới.

+ Là mảnh đất cổ đã trải qua các nền văn minh của nhân loại trong quá khứ, người Nghệ đã để lại một di sản văn hóa vật thể phong phú, đa dạng cần kế tục, phát huy và phát triển trên nhiều lĩnh vực của đời sống:

Ruộng đồng, rừng núi, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hoá…

Kiến trúc nhà cửa, cấu trúc dân cư và văn hóa cộng đồng làng, xã.

Trang phục và văn hoá ẩm thực đặc sắc…

+ Di sản văn hóa phi vật thể giàu bản sắc và phong phú:

Kiểu cấu trúc ngôn ngữ, hệ thống từ vựng và âm luật độc đáo.

Nét riêng về lối sống, nếp sống trong cưới, tang, lễ hội, sinh hoạt và ứng xử văn hóa.

Di sản đồ sộ văn hóa dân gian và văn học thành văn.

Phải tổng kiểm kê lại di sản văn hóa mang đậm bản sắc và sức mạnh của vùng văn hoá xứ Nghệ để biết quê hương và con người vùng này có gì và thiếu gì trong hành trang đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì sự nghiệp "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Dòng chảy trở về cội nguồn văn hóa dân tộc, bản sắc quê hương và sự quyết liệt điều chỉnh, bổ sung, tiếp biến những thiếu hụt trong truyền thống văn hóa và tính cách con người Nghệ An trong sự nghiệp đổi mới quê hương (cả mặt được và cả những va vấp, hạn chế) đã và đang làm giàu có thêm sức mạnh của "hành trang" đi tới của vùng quê và con người xứ Nghệ.

3. Một số ý kiến về phát huy phẩm chất tốt đẹp của người Nghệ trong bối cảnh đất nước hội nhập

Đất nước hôm nay đang trên đà đổi mới và hội nhập, sâu rộng hơn với nhiều quốc gia trên thế giới. Lẽ đương nhiên người Nghệ cũng có sự đổi mới và hội nhập nằm trong trào lưu chung của đất nước, đồng thời vẫn thể hiện những bản ngã của mình. Người Nghệ cũng sẽ tiếp nhận được nhiều cái hay, cái đẹp, đồng thời cũng phải chấp nhận ở mức độ nhất định những "cái dở" từ bên ngoài mang lại. Ở đây nhân tố con người, đặc biệt những con người có cơ hội đi ra khỏi địa phương, những người có cơ hội giao lưu, học hỏi đóng vai trò quan trọng trong sự tiếp nhận đổi mới và hội nhập của người Nghệ.

Phát huy những giá trị truyền thống để phát triển đó là một nguyên lý của mọi cộng đồng người. Người Việt Nam nói chung, người Nghệ nói riêng cần phải nhìn nhận nghiêm túc khoa học về vấn đề này, để tận dụng lợi thế "tiềm năng sẵn có" của mình. Theo chúng tôi, người Nghệ hôm nay cần:

Một là, cần ý thức được sức mạnh văn hóa truyền thống để từ đó coi trọng, tôn vinh, tạo điều kiện để các nhân tố điển hình được nẩy nở, phát huy. Vì văn hóa bao giờ cũng được biểu hiện thông qua tấm gương văn hóa (nhà văn hóa, không gian văn hóa, vật thể văn hóa...).

Hai là, xóa bỏ những tập tính xấu, cởi mở đón nhận văn hóa bốn phương, khắc phục những điểm yếu trong tính cách để thích nghi theo hướng hiện đại, chuẩn mực, văn minh.

Ba là, chú trọng phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện để con em học hành làm vẻ vang truyền thống quê hương, cần có chính sách khuyến khích những nhân sĩ trí thức xứ Nghệ trở về bằng nhiều cách khác nhau, giúp đỡ quê hương.

Bốn là, tạo dựng các tượng đài danh nhân, các nhà văn hóa, vườn danh nhân,... để các thế hệ sau noi theo học hỏi, nhân lên sức mạnh truyền thống của quê hương (lòng tự hào, tự tôn cũng là một động lực thúc đẩy sự phát triển rất mạnh mẽ).

Trong thời đại toàn cầu hóa, phát triển kinh tế và văn hóa trên cơ sở ổn định chính trị - xã hội là những nội dung cơ bản để đi tới bến bờ hạnh phúc, văn minh, tiến bộ. Để làm được điều này, người Nghệ An chỉ có thể trên cơ sở khai thác hiệu quả nội lực văn hóa của mình, đó cũng là một cách để bồi đắp, khẳng định những hằng số văn hóa xứ Nghệ bao đời, không những thế còn nâng văn hóa ấy lên một tầm cao mới góp phần xây dựng Nghệ An ngày càng phát triển đi lên.

Phạm Quang Ái

 

Tóm tắt: Phần quan trọng nhất, có giá trị văn hoá - thẩm mỹ lớn nhất trong dân ca ví - giặm là ca từ. Và trong ca từ thì hệ thống biểu trưng là mạng lưới "bóng bán dẫn" tích tụ năng lượng, khả năng sinh nghĩa của thành phần văn học. Tiểu luận này tìm hiểu hệ thống biểu tượng trong dân ca ví giặm với ba loại chính của nó là: biểu tượng văn hoá; biểu tượng nghệ thuật và biểu tượng ngôn từ nghệ thuật. Trong văn hoá dân gian xứ Nghệ nói chung, dân ca ví - giặm nói riêng, ba loại biểu tượng này có tính chất kết hợp, tương tác và chuyển hoá cho nhau để tạo nên những giá trị biểu trưng phong phú, sâu sắc.

I. "Người xứ Nghệ thích thơ ca, thích hát, có thể còn hơn cả thích kể chuyện". Đó là một nhận xét khá thú vị trong sách Địa chí Văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh, phần viết về Thơ - ca - nhạc - dân gian(1).

Quả đúng như vậy. Chỉ nói riêng về phần lời, nếu đem so sánh những gì đã được các nhà Nghệ học sưu tầm và xuất bản từ trước đến bây giờ, thì các vựng tập về thơ ca dân gian (với 9 tập vè(2), 2 tập ca dao có độ dày hàng chục ngàn trang in(3)) nhiều hơn hàng chục lần so với các vựng tập về truyện kể (Bộ Kho tàng truyện cổ dân gian xứ Nghệ, 4 tập với khoảng 2000 trang in(4)) cả về độ dài của lời lẫn số lượng đơn vị tác phẩm.

Người xứ Nghệ yêu thơ, thích ca hát và thơ ca nhạc xứ Nghệ, từ dân gian đến bác học, đều làm say lòng người. Thơ ca bác học thì xưa nay chưa ai vượt qua được kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du. Và dân ca ví - giặm xứ Nghệ đã từng cuốn hút các tao nhân mặc khách, anh hùng chí sĩ vào những cuộc hát thâu đêm. Vả chăng, Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, Mai đình mộng ký của Nguyễn Huy Hổ, Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng như rất nhiều áng thi ca nổi tiếng cổ kim được nuôi dưỡng trên mảnh đất màu mỡ của sinh hoạt văn nghệ dân gian xứ sở núi Hồng sông Lam đều là những sản phẩm ít nhiều được chưng cất từ câu ví lời giặm.    

Cái gì đã làm nên sức hấp dẫn của dân ca ví - giặm xứ Nghệ? Đó, trước hết là cuộc sống, tâm hồn, tính cách, bản lĩnh của người dân nơi đây. Đồng chí Lê Duẩn từng phát biểu: "Dân ca Nghệ Tĩnh giàu tình thương và lẽ phải", nhà thơ Tố Hữu cũng đã nhận xét: "Dân ca Nghệ Tĩnh dễ đi sâu vào lòng người" và Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng thì cho rằng, dân ca Nghệ Tĩnh là "... hay nhất thế giới"(5)... Tuy nhiên, khi đi sâu vào phân tích ca dao, dân ca xứ Nghệ, nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất với nhau rằng, bên cạnh làn điệu, thành phần hấp dẫn nhất, có giá trị nhất của nó là lời ca. Và trong các yếu tố cấu thành ca từ của giặm - ví, hệ thống biểu tượng đóng một vai trò rất quan trọng.

II. Nếu như cuộc sống của chúng ta được bao bọc bởi một ký hiệu quyển thì cũng đồng nghĩa với việc chúng ta đang sống trong/bằng thế giới của những biểu tượng. Bởi tất cả các ký hiệu đều có tư cách là những biểu tượng và các biểu tượng cũng đều có tư cách là những ký hiệu. Trong đó, có những biểu tượng trừu tượng có tính chất tinh thần được biểu hiện bằng những ký hiệu cụ thể. Với tư cách là một hệ thống ký hiệu, ngôn ngữ khi thực hiện chức năng thông báo - thẩm mỹ đã hình thành nên những hình thể đặc biệt, đó là những biểu tượng có giá trị biểu trưng.

Vậy biểu tượng là gì?

Biểu tượng (symbol) vốn có một phạm vi tồn tại rất sâu rộng trong nền văn hóa và đời  sống văn hóa của một dân tộc. Theo         Ju.Lotman, thuật ngữ symbol là một trong những từ có nhiều nghĩa nhất trong hệ thống các khoa học về kí hiệu(6) . Trong các văn bản tiếng Việt liên quan đến lĩnh vực khoa học này, từ "symbol" thường được dịch là tượng trưng, biểu trưng, biểu tượng, phù hiệu, kí hiệu. Thậm chí, có lúc người ta dịch nó bằng một cụm từ là: hình ảnh/hình tượng tượng trưng. Nhưng xét kỹ trong quá trình sử dụng, hiện nay, các tác giả người Việt hay sử dụng từ biểu tượng hoặc biểu trưng để dịch thuật ngữ     symbol. Theo nhà nghiên cứu Đinh Hồng Hải, thì... "symbol symbolus trong tiếng La Mã và symbolon trong tiếng Hy Lạp": "Biểu tượng" có tính đa nghĩa nhưng chúng ta có thể chia làm hai nghĩa chính là biểu hìnhbiểu ý. Biểu tượng trong tiếng Việt là một từ gốc Hán được dùng khá trừu tượng"(7). Theo Từ điển Tiếng Việt, biểu tượng (danh từ) có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là: "hình ảnh tượng trưng", nghĩa thứ hai là: "hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt"(8). Còn từ biểu trưng, từ điển này chú như sau: "Biểu trưng đg (và d.): Biểu hiện một cách tượng trưng và tiêu biểu nhất. Con rồng là biểu trưng cho một tín ngưỡng. Những biểu trưng của nghệ thuật nguyên thuỷ"(9). Theo nội dung định nghĩa này của Từ điển tiếng Việt thì biểu trưng cũng là biểu tượng nhưng là một dạng biểu tượng tiêu biểu. Trên một quan điểm như vậy, tác giả Đoàn Văn Chúc cũng cho rằng, biểu trưng là một trong những dạng thức tồn tại điển hình của biểu tượng. Ông giải thích khái niệm này như sau: "Biểu trưng: "trưng" là điềm, là dấu hiệu cho phép nhận thấy. Như thanh gươm và cái cân là những biểu trưng của công lý (châu Âu); con rắn quấn quanh cái cốc là biểu trưng của ngành y dược (con rắn: sự cẩn trọng, cái cốc: sự điều chế thuốc men); cây vương trượng ở châu Âu là biểu trưng của vương quyền, v.v… Trong trường hợp biểu trưng, người ta thấy các vật được chọn làm hình ảnh tự thân chúng có nghĩa gần gũi hay có khi chồng khớp với giá trị được diễn đạt, mà người ta có thể lĩnh hội được bằng một sự tương ứng loại suy tương đối dễ dàng, trực tiếp (như thanh gươm: uy quyền sinh sát, cái cân: sự công minh; chim bồ câu: sự hòa hợp, dễ gần.v.v...). Trong khi ấy, sự lĩnh hội ý nghĩa (tức giá trị) của biểu tượng là gẫy khúc và phức tạp hơn nhiều..."(10). Tuy nhiên, trong thực tế phiên dịch và sử dụng khái niệm, từ biểu trưng ngoài việc được dùng để dịch từ symbol, nó còn được dùng để dịch từ logo. Từ điển Wikipedia đã định nghĩa từ logo như sau: "Biểu trưng hay logo là một yếu tố đồ họa (kí hiệu, chữ biểu thị, biểu tượng, hình tượng...) kết hợp với cách thức thể hiện nó tạo thành: một nhãn hiệu hay thương hiệu, hình ảnh đại diện cho một công ty hay các tổ chức phi thương mại, hình ảnh biểu thị một sự kiện, một cuộc thi, một phong trào hay một cá nhân nào đó. Thông thường, biểu trưng được chủ thể công nhận ngay sau khi nó được thiết kế xong và mặc nhiên có bản quyền, ít xảy ra trường hợp một biểu trưng tồn tại một thời gian dài mà không hoặc chưa có bản quyền. Trong hoạt động quảng bá, biểu trưng không phải là thương hiệu, tuy nhiên nó là ấn tượng bên ngoài để dễ nhận ra thương hiệu"(11). Như vậy, logo là những ký hiệu thiên về biểu hình và nội dung mà nó biểu đạt hoàn toàn được mặc định theo quy ước, người tiếp nhận không được phép hiểu khác ý đồ của tác giả và nó được dùng làm biểu hiện đại diện cho một tổ chức kinh tế - xã hội nào đó. Tuy được xác định trong một phạm vi hẹp như vậy, nhưng nét nghĩa chính của logo khá gần gũi với khái niệm biểu trưng trong các tài liệu đã nói trên.

Trong bài viết ngắn này, chúng tôi không có điều kiện đi sâu vào khảo sát và giới thuyết đầy đủ về khái niệm công cụ này. Do đó, chúng tôi quan niệm rằng, biểu trưng là một dạng của biểu tượng nhưng có giá trị tượng trưng đặc định về một phạm vi, lĩnh vực của đời sống văn hoá một cộng đồng nào đấy; còn biểu tượng là những định danh được biểu trưng hoá trong quá trình giao tiếp xã hội. Như vậy biểu tượng là khái niệm có nội hàm rộng hơn, bao gồm tất cả những ký hiệu được sử dụng trong đời sống xã hội con người. Trong ca dao, dân ca nói chung, dân ca ví - giặm xứ Nghệ nói riêng, xét từ tổng thể nguyên hợp các thành tố cũng như riêng về ca từ đều hình thành nên những biểu tượng của chúng trong quá trình diễn xướng. Riêng về phần lời ca, dân ca ví - giặm trong quá trình sinh thành và hành chức, do có sự tham gia sâu đậm của yếu tố văn hóa, văn chương bác học từ lực lượng nho sĩ nên xuất hiện và lưu hành khá nhiều biểu tượng vốn có nguồn gốc từ điển tích sách vở. Nhìn chung, hệ thống biểu tượng trong văn hoá dân gian nói chung, trong dân ca ví - giặm nói riêng, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc tác động đến đời sống tinh thần của cộng đồng xứ sở.   

Nguồn dẫn liệu về dân ca ví - giặm mà chúng tôi sử dụng trong bài viết này là lấy từ 2 vựng tập quan trọng sau đây:

- Hát phường vải, Ninh Viết Giao sưu tầm và biên soạn, NXB VH-TT, H, 2002;

- Kho tàng ca dao xứ Nghệ, Ninh Viết Giao (Chủ biên), NXB Nghệ An, 1996.

Khảo sát nguồn tư liệu dân ca từ hai công trình nói trên, chúng tôi thấy hệ thống biểu tượng trong dân ca ví - giặm xứ Nghệ, về cơ bản, có thể phân thành ba loại sau đây:

1. Các biểu trưng văn hoá

Biểu tượng văn hoá là những thực thể vật chất hoặc tinh thần (sự vật, hành động, ý niệm…) có khả năng biểu hiện những ý nghĩa rộng hơn chính hình thức cảm tính của nó, tồn tại trong một tập hợp, một hệ thống đặc trưng cho những nền văn hoá nhất định: nghi lễ, hành vi kiêng kỵ, thần linh, trang phục… Biểu tượng văn hoá bao gồm cả những biến thể vật thể (các ngành nghệ thuật như kiến trúc, hội hoạ, điêu khắc…) và phi vật thể (tín ngưỡng, lễ hội, phong tục, văn học).

Trong dân ca ví - giặm, đây là các biểu tượng xuất phát từ phong tục tập quán người Việt Nam, quan niệm dân gian, tín ngưỡng dân gian. Cụ thể, đó là những biểu tượng được lẩy ra từ các địa danh vốn gắn với những huyền thoại xa xưa của người Việt Nghệ như: núi Hồng - sông Lam, núi Tùng - sông La, núi Sạc - sông Cài. Những biểu trưng này tồn tại thành cặp vừa xác định vị trí sống vừa xác định không gian văn hoá của quần cư: hoặc, đó là các bản thể tự nhiên như nhật nguyệt, tinh tú (mặt trăng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai,...); hoặc, đó là các biểu trưng có tính chất vũ trụ luận như vuông - tròn, trời - đất,.. các biểu trưng phồn thực, các biểu trưng nghi lễ như trầu - cau, các biểu trưng đặc định về không gian văn hoá như cây đa - bến nước - sân đình, tứ linh,..

Trong các biểu tượng văn hoá của người Nghệ, biểu tượng quan trọng nhất là núi Hồng sông Lam. Đây là cặp núi sông đã đi vào huyền thoại với câu chuyện ông Khổng Lồ đào núi, xẻ sông. Trong lịch sử xa xưa, thời mông muội, ký ức người Việt cổ, vịnh Hà Tĩnh đã được ghi lại ấn tượng sâu đậm nhất về một dãy núi chắn ngang trước mặt con người hướng biển, che chở cho con người tránh gió bão của biển Đông. Vì vậy, người Việt cổ ở đây đã gắn cho núi Hồng nhiều huyền thoại như thuở xa xưa có 100 con chim phượng hoàng (hoặc chim hồng) về đậu nhưng núi chỉ có 99 đỉnh nên một con phải lẻ bầy. Mỗi đỉnh núi, triền dốc, truông trẹm, khe suối đều gắn với những truyền thuyết về sự lao động và sáng tạo văn hoá - lịch sử của con người nơi đây. Bởi thế, xung quanh núi Hồng, người ta đã sưu tầm được rất nhiều huyền thoại, truyền thuyết gắn với các nhân vật huyền thoại, huyền sử, truyền thuyết, tôn giáo, lịch sử như ông Đùng bà Đà, Kinh Dương Vương, công chúa Diệu Thiện, Nguyễn Xí, cố Bu (Phan Bô),... Từ điển       Wikipedia đã viết về núi Hồng - sông Lam như sau:

"Núi Hồng Lĩnh tên Nôm là Ngàn Hống hay Rú Hôống, cũng đọc là Hống, tên chữ là Hồng Sơn (núi Hồng) hay Hồng Lĩnh, là dãy núi nổi tiếng nhất Hà Tĩnh. Cùng với sông Lam, núi Hồng Lĩnh được xem là biểu tượng hồn thiêng sông núi của xứ Nghệ... Nổi tiếng của Hồng Lĩnh là bề dày của các di sản văn hoá - lịch sử, từ các di tích như: Đỉnh Tháp Cờ, nơi hoàng tử, con Mai Thúc Loan xây căn cứ, núi Lầu có hành cung của Lý Thánh Tông, lũy Đá của Ngô Quảng nổi lên chống Pháp và nhiều huyền thoại, truyền thuyết liên quan đến núi Hồng như: Ông Đùng xếp núi, truyền thuyết về kinh đô của Vua Hùng... và với 7 sắc phong và 1 công lệnh thời Lê, cùng với biết bao nhiêu giai thoại, thần thoại khác. Nơi đây có khoảng 100 ngôi chùa và đền miếu. Có ngôi rất cổ như: chùa Hương Tích, chùa Chân Tiên, nơi vẫn còn dấu chân người và chân ngựa trên tảng đá (gắn với truyền thuyết Tiên giáng trần). Cụm Quần thể di tích lịch sử văn hóa Tiên Sơn đã được nhà nước xếp hạng di tích cấp tỉnh vào đầu năm 2012 và đang hoàn tất hồ sơ kiến trúc nghệ thuật đề nghị bộ VHTT DL xếp hạng cấp Quốc gia năm 2013 [Rú Tiên] Chùa Tiên Sơn, Đền Thánh, Miếu Bà Chúa kho, Đền Tiên,Tứ phủ Trần Triều,Tam tòa thánh mẫu. Theo đó hàng năm lễ hội Tiên Sơn khai hội vào ngày 15/tháng giêng âm lịch. Quy mô lớn trang nghiêm trịnh trọng hoành tráng để phục vụ du khách du xuân đi hội Tiên Sơn"... (wikipedia.org/wiki/Núi_Hồng_Lĩnh), "Sông Lam, (tên gọi khác ở Việt Nam là sông Rum, Ngàn Cả hay Sông Cả, ở Lào là Nam Khan), là một trong 2 con sông lớn nhất ở Bắc Trung bộ Việt Nam. Sông bắt nguồn từ cao nguyên Xiengkhuang, Lào. Phần chảy trên lãnh thổ Lào gọi là Nam Khan. Phần chính của dòng sông chảy qua Nghệ An, phần cuối của sông Lam hợp lưu với sông La từ Hà Tĩnh, tạo thành ranh giới của Nghệ An và Hà Tĩnh đổ ra biển tại cửa Hội. Cụ thể, trên lãnh thổ Việt Nam, nó chảy qua địa phận huyện Kì Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Đô Lương, Nam Đàn, giữa các huyện Thanh Chương, Hưng Nguyên, thành phố Vinh, Nghi Lộc của tỉnh Nghệ An rồi vào Đức Thọ, Nghi Xuân, thị xã Hồng Lĩnh của tỉnh Hà Tĩnh trước khi đổ ra vịnh Bắc bộ... Cùng với núi Hồng Lĩnh, sông Lam được xem là biểu tượng của xứ Nghệ. Hai bên dòng sông Lam có những làng văn hóa của Nghệ An và Hà Tĩnh như Yên Hồ (Đức Thọ), Tiên Điền, Uy Viễn (Nghi Xuân), Trung Lương (Thị xã Hồng Lĩnh), Trung Cần, Hoành Sơn, làng Kim Liên (Nam Đàn) tạo nên một vùng văn hóa Lam Hồng."... (wikipedia.org/wiki/Sông_Lam).

Từ huyền thoại, thần thoại, truyền thuyết, tín ngưỡng, núi Hồng sông Lam đi vào thơ ca dân gian, văn chương bác học và được bồi đắp rất nhiều tầng lớp nghĩa để trở thành một biểu tượng văn hoá tiêu biểu của người Việt Nghệ.

Khi nghiên cứu về các địa danh văn hoá trong thơ ca dân gian, nhiều tác giả cho rằng, các địa danh này muốn được biểu tượng hoá, tức là có giá trị tượng trưng, tất yếu phải được tu từ hoá, tức là phải thông qua các phép chuyển nghĩa tu từ như hoán dụ, ẩn dụ, thì mới được coi là các biểu tượng. Tuy nhiên, theo GS Nguyễn Xuân Kính, "Trong mảng ca dao phản ánh tình yêu quê hương đất nước, phản ánh danh lam thắng cảnh, đặc sản, thể hiện truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm hầu như không có văn bản biểu hiện (tức là loại văn bản xây dựng bằng ẩn dụ, hoán dụ tu từ-PQA)"(12). Mặt khác, theo GS Trần Đình Sử, dẫn ý của V. Koginov, thì từ lâu người ta đã công nhận rằng tên gọi địa lý, nhất là những tên gọi ít quen thuộc, có khả năng tạo ra một thứ ma thuật âm thanh và nhiều nhà thơ đầu thế kỷ XX (Nga-PQA) đều sùng bái thủ pháp này(13). Điều mà V. Koginov gọi là "ma thuật âm thanh" chính là hiệu ứng tu từ có giá trị biểu trưng của việc nhắc lại các địa danh nhiều lần trong các diễn ngôn văn học. Nhưng hiệu ứng này trong các diễn ngôn văn học viết, ít nhiều có khác với trong văn học dân gian. Trong văn học viết, nó chỉ có giá trị gợi lên cái cảm giác vang vọng, rộng mở về không - thời gian; còn trong thơ ca dân gian, nó có giá trị biểu trưng đích thực, gợi lên những ký ức văn hoá cùng với những xúc cảm tương ứng.

Bởi vậy, trong lời ăn tiếng nói hằng ngày và trong thơ ca dân gian, các địa danh không cần xuất hiện trong một biểu thức tu từ nào, mà chỉ cần nhắc đến chúng, thì đã gợi lên trong tâm thức dân bản địa cả một không gian văn hoá với một cảm xúc tự hào, xao xuyến. Do đó, với địa danh núi Hồng sông Lam, khi xuất hiện trong dân ca ví - giặm, thì hoặc là gợi lên niềm tự hào, ngưỡng vọng về công lao xây dựng giang sơn, lãnh thổ của tiền nhân:

Núi Hồng ai đắp mà cao,

Sông Lam ai bới, ai đào mà sâu.

Hoặc về sự hiển đạt của một dòng họ:

Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây,

Sông Rum hết nước họ này hết quan.

Hoặc về tinh thần đấu tranh bảo vệ quê hương, đất nước:

- Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây,

Sông Lam hết nước thì mới để Tây đóng đồn.

- Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây,

Sông Lam hết nước thù này mới nguôi.

- Bao giờ Hồng Lĩnh thành cồn,

Sông Lam hết nước mới hết nguồn đấu tranh.

Biết bao chàng trai, cô gái đã từng lấy núi Hồng sông Lam để tình tự, thề nguyền với nhau:

- Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây,

Sông Lam hết nước thì đó với đây mới hết tình.

Nội dung, ý nghĩa cụ thể mà những câu ví trên đây biểu đạt là khác nhau, nhưng những ý nghĩa đó bao giờ cũng được đặt trên cái ngữ cảnh văn hoá mà địa danh núi Hồng sông Lam đã gợi ra và ý nghĩa được mở rộng cũng trên cơ sở cái ngữ cảnh văn hoá đó. Thậm chí, trong một câu ví của người lao động nhằm bộc lộ sự căm giận những kẻ giàu có mà bất nhân, thâm độc, khi có sự hiện diện của địa danh Hồng Sơn, cũng gợi lên cái không gian văn hoá của xứ sở:

Nhất cao là núi Hồng Sơn,

Nhất thâm là bọn bất nhân nhà giàu.

Xứ Nghệ là đất cổ nước non nhà bao đời được mệnh danh là địa linh nhân kiệt"...núi sông hùng vĩ ở Nghệ Tĩnh chỗ nào cũng gắn với lịch sử. Thắng cảnh lồng trong kỳ tích, kỳ tích tô thêm ý nghĩa của thắng cảnh, làm cho thắng cảnh có linh hồn. Cái đẹp của thiên nhiên hoà trong cái đẹp của những chiến công trong lịch sử; bên cạnh lòng phơi phới lâng lâng là niềm tự hào, kính trọng"(14). Bởi vậy, không chỉ có núi Hồng sông Lam là biểu trưng văn hoá điển hình (đã được khắc trên cửu đỉnh của triều Nguyễn) mà các núi sông, truông, trẹm, lèn, động, dốc, khe, suối, bến, bãi, ghềnh thác, vực,... trong xứ, hễ có liên quan ít nhiều với những kỳ tích, truyền thuyết về quá trình dựng nước và giữ nước của người dân nơi đây thì bao giờ cũng được hiện diện như là những biểu tượng văn hoá trong dân ca ví - giặm:

- Ai lên chốn đó Vụ Quang,

Nhớ khi Tây tả, cụ Phan dựng cờ.

- Trèo lên trên đỉnh Kim Nhan,

Quân reo Bồ Ải, sóng tràn Khả Lưu.

- Tam Thai rú bạc ai xây,

Kim Nghê ai đắp, hồ Mây ai đào.

- Dưới bến Tam Soa sương trùm sóng vỗ,

Trên ngọn Tùng Sơn thông vũ gió gào.

  Cánh buồm ngược gió lao đao,

Hận chìm đáy nước, hờn cao ngút trời.

(Đoạn thơ của kịch gia Phan Lương Hảo đã được dân gian hoá)

Không chỉ có các địa danh gắn liền với các sự kiện văn hoá - lịch sử mà đến các địa danh gắn với vẻ đẹp một vùng quê, vẻ đẹp tự nhiên hoà trong vẻ đẹp của truyền thống lao động cần cù và sáng tạo văn hoá, cũng luôn gợi lên những ý nghĩa biểu trưng:

- Trai Đông Thái, gái Yên Hồ,

Gặp nhau xây dựng cơ đồ cũng nên.

- Muốn ăn cơm nếp độ chà,

Muốn lấy vợ đẹp thì ra Yên Hồ.

- Thượng, Hạ là đất thanh nhàn,

Khuyên em về Thượng, Hạ cùng lập đàng bán buôn...

 

Chú thích

(1), (5) Nguyễn Đổng Chi (Chủ biên), Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh, NXB Nghệ An, 1995, tái bản 2010; tr. 259;

(2) Ninh Viết Giao (Chủ biên), Kho tàng truyện cổ dân gian xứ Nghệ, 4 tập, NXB Nghệ An; 1993-1995;

(3) Ninh Viết Giao (Chủ biên), Kho tàng vè xứ Nghệ, 9 tập, NXB Nghệ An, 1999-2000;

(4) Ninh Viết Giao (Chủ biên), Kho tàng ca dao xứ Nghệ, 2 tập, NXB Nghệ An, 1996;

(6) Ju.Lotman, Biểu tượng trong hệ thống văn hóa, bản dịch của Trần Đình Sử, http://phebinhvanhoc.com.vn/?p=4979;

(7) Đinh Hồng Hải, Cấu trúc luận trong nghiên cứu biểu tượng, www.vanchuongviet.org;

(8) Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển ngôn ngữ xuất bản, H, 1992; tr.80;

(9) Hoàng Phê (Chủ biên), TLĐD; tr.81

(10) Đoàn Văn Chúc, Văn hoá học, www.vanhoahoc.vn;

(11) Theo wikipedia.org/wiki/Biểu_trưng

(12) Nguyễn Xuân Kính, Thi pháp ca dao, NXB ĐHQG H, 2004; tr. 126;

(13) Trần Đình Sử, Thi pháp thơ Tố Hữu,  NXB Tác phẩm mới, H,1987; tr. 283-284;

(14) Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Ca dao Nghệ Tĩnh, Sở VHTT Nghệ Tĩnh xuất bản, 1984; tr.47;

 

Nguyễn Đình Trung

 

Trên Báo An ninh cuối tuần số 187 tháng 3/2017, tác giả Ngô Minh đăng bài "Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm và 16 chữ vàng ròng". Tiêu đề bài viết là về 16 chữ vàng, nhưng tác giả lại chủ yếu viết về lai lịch, thân thế, sự nghiệp của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm, còn về 16 chữ  thì chỉ dành viết 1/3 bài. Tuy vậy, tác giả cũng đã phân tích, chỉ rõ về xuất xứ, nội dung, ý nghĩa, giá trị của Tứ tôn châm. Tôi rất thích bài viết và xin lược trích nội dung cơ bản phần viết về Tứ tôn châm để độc giả nghiên cứu, tìm hiểu thêm như sau:

          (Tôn tộc đại quy)

            (Tôn lộc đại suy)

            (Tôn tài đại thịnh)

             (Tôn nịnh đại nguy)

"… Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đại Vinh ở Huế dịch: Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp; Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan; Tôn trọng tài năng ắt đại phồn thịnh; Tôn trọng siểm nịnh ắt đại suy vong.

Theo sách, trong cuộc gặp gỡ với các tiến sĩ tân khoa (sau khi cụ Nguyễn Khắc Niêm thi đỗ đại khoa), vua Thành Thái đề nghị mỗi vị góp kế sách để phục hưng quốc gia. Kế sách của cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm được cô đúc trong 4 câu trên (Tứ tôn châm). Thế mới biết vị vua trẻ Thành Thái đã biết dùng trí thức như thế nào, càng hiểu thêm bản lĩnh của cụ Nguyễn Khắc Niêm, trước vua đã nói thẳng thắn những lời thông thái của mình, dù có thể bị xem là "khinh khi"...

... Châm là răn. Bốn điều răn, có 16 chữ gồm 04 chữ Tôn, 04 chữ Đại và 08 chữ đối nhau: Tộc, Lộc, Tài, Nịnh đối với Quy, Nguy, Thịnh, Suy - thành một câu châm ngôn ứng xử của vua, của người lãnh đạo đất nước mọi thời đại, có thể phân tích, giảng giải thành cả tập sách dày; là phương châm "trị quốc" của bất cứ triều đại tiến bộ nào. Tôn tộc đại quy - là đề cao sự đoàn kết dân tộc. Tôn tộc tức mọi người phải quy về một mối là dân tộc, Tổ quốc, nòi giống lên trên hết. Có được sự đồng lòng đó thì nhất định làm được mọi việc, chiến thắng mọi kẻ thù...; Tôn lộc đại nguy - ý của cụ Hoàng không phải xem thường sự phát triển của đất nước giàu có, vì dân giàu nước mới mạnh, mà "tôn lộc" ở đây là nói người làm quan mà đặt lợi lộc của mình, "lợi ích nhóm" mình lên trên lợi ích dân tộc, lợi ích cộng đồng, thì đó là lúc nguy nan đang đến với đất nước. Vì lúc đó lẽ công bằng bị vi phạm, tham nhũng hoành hành, bè phái, phe nhóm trong chính quyền sinh sôi, nảy nở. Tôn tài đại thịnh - vì "hiền tài là nguyên khí của quốc gia" - đó là một chân lý vĩnh hằng. Coi thường trí thức, gạt tầng lớp trí thức ra ngoài hành trình của đất nước, nhất định đất nước suy vong. Trí thức thường là những người có cá tính, không phải loại người "gọi dạ, bảo vâng", lại là những người hay nêu ý kiến phản biện (không biết phản biện không phải là trí thức), nên hay làm cho lãnh đạo ghét. Người lãnh đạo giỏi là người biết trọng tài năng, tập hợp nhân tài phục vụ quốc gia, lúc đó đất nước mới vững mạnh lên được. Tôn nịnh đại suy - cũng là một chân lý lịch sử. Ở triều đại nào cũng có vô số người nịnh hót. Người lãnh đạo đa phần lại thích nghe bọn xum xoe, nịnh bợ, biến phải thành trái, biến người tốt thành người xấu. Vì vậy người lãnh đạo phải là người đủ cương trực, đủ trình độ, đủ nhạy cảm mới nhận ra kẻ nịnh để lánh xa, người trung để gần gũi…..".

Tứ tôn châm viết bằng chữ Nho. Mà chữ Nho, chữ Hán, theo tôi được biết là  ý nghĩa rất rộng và ở rất nhiều góc độ khác nhau, rất phức tạp, nên nếu để phân tích, giảng giải Tứ tôn châm như tác giả Ngô Minh nói là "thành cả một tập sách dày" cũng chưa thỏa, nhất là dịch thơ, phú, châm… ví dụ như bản dịch của Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đại Vinh ở trên thực ra cũng mới chỉ khái quát nội dung và ý nghĩa của Tứ ngôn châm, chứ chưa thỏa, nhất là khi dịch chữ Tôn lộc và tôn nịnh, cụ Trần Đại Vinh đều dịch nghĩa là "Tôn trọng"; nguyên bản của Tứ tôn châm là "tôn nịnh đại nguy", nên dịch nghĩa là "đất nước đến lúc nguy nan" "tôn lộc đại suy" thì nên dịch nghĩa là "đất nước đang đến thời suy tàn" thì đúng và hợp lý hơn. Bởi thế, ngoài nội dung, ý nghĩa Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đại Vinh đã dịch và tác giả Ngô Minh đã phân tích, giảng giải, tôi xin mạn phép bàn luận, góp thêm vài điều, nhất là liên hệ thêm trong lúc Đảng ta đã ban hành và đang tiến hành chỉ đạo triển khai kiểm điểm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) về "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" và Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XII) "về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ" (Gọi chung là 02 Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI và khóa XII). Tôi thiết nghĩ tuy kiến thức của tôi còn hạn chế, nhưng cũng cần thiết.

Trong bài, tác giả Ngô Minh giải nghĩa châm và châm ngôn là răn, còn theo sách châm ngôn được định nghĩa đại ý là "Một câu nói ngắn gọn, khúc triết, súc tích, minh bạch nhờ sự anthithèse - đối ngẫu (hay tương phản) và so sánh mà sinh ra linh động…, phương pháp giáo dục của người Phương Đông là luôn lặp đi lặp lại tư tưởng khôn ngoan, thực tế dưới một hình thức làm cho nó gắn chặt vào tư tưởng". Tứ ngôn châm của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm cũng thế, và đã trở thành phương thức giáo dục, ứng xử không chỉ với vua và người lãnh đạo đất nước mọi thời đại mà còn với tất cả mọi người.

Trong chữ Hán, chữ Nho và âm Hán Việt có nhiều chữ đồng âm khác nghĩa, mỗi chữ lại có nhiều nghĩa khác nhau tùy từng trường hợp, từng ngữ cảnh; ở đây ta chỉ bàn các chữ, các nghĩa liên quan đến Tứ tôn châm như sau: Chữ Tôn ngoài tôn trọng như tác giả Ngô Minh giải nghĩa, thì Tôn còn có nghĩa là tôn chuộng (yêu, thích), tôn sùng (sùng bái, suy tôn, tôn kính, coi nặng, coi trọng, chú trọng), tôn phục, tôn ty, tôn nghiêm…; chữ Đại ngoài ý nghĩa thường gặp là lớn còn có ý nghĩa là hoàn toàn, sâu rộng, nhất, rất, vô cùng, cũng có nghĩa là nhất định, chắc chắn và có khi ở thời quá khứ, hiện tại và cả tương lai…; chữ Tộc ngoài chỉ dân tộc, đất nước, Tộc còn chỉ một dòng họ hoặc một tộc người...; chữ Lộc, ngoài nghĩa thường chỉ "không tốt lắm" là bổng lộc (giành cho những người làm quan và phải ở vị trí nhất định mới có) còn có nghĩa "tương đối tốt" là phúc lộc (sự phát triển, sự giàu có của đất nước, là dân giàu nước mạnh (theo tác giả Ngô Minh) và có lẽ giành cho những người làm việc thiện, việc tử tế xứng đáng và đương nhiên được hưởng); chữ Quy như nghĩa của tác giả phân tích rất hay, nhưng còn nghĩa là chuẩn mực, quy ước, tầm cỡ và quy mô, quy chế, quy định; còn có thể suy rộng và cao hơn là hiến pháp, là pháp luật; chữ Tài có tài phiệt và tiền tài… (có thể gần nghĩa với bổng lộc trong Tứ tôn châm), nhưng chữ Tài trong Tứ tôn châm là tài năng, nhân tài, hiền tài, tài trí; chữ Suy ở mức độ thấp là suy yếu, cao hơn là suy tàn và thậm chí là suy vong…; chữ Thịnh ngoài nghĩa là thịnh vượng, giàu mạnh… còn có nghĩa là rộng, cao, to, lớn, nhiều, phát triển…; chữ Nguy ở mức độ thấp là nguy cơ, nguy hại, cao hơn là nguy cấp, nguy kịch, thậm chí có thể nói là nguy vong; còn chữ Nịnh thì có dễ hiểu hơn là nịnh bợ, nịnh hót…

Từ đó, tôi xin bàn thêm, góp thêm một vài ý như sau: Tôn tộc đại quy còn có nghĩa là tất cả mọi người, không phân biệt thành phần dân tộc, tôn giáo, mọi gia đình, mọi dòng họ (đều là tế bào của xã hội) đều yêu mến, suy tôn, sự tôn ty trật tự, sự tôn nghiêm và thượng tôn pháp luật, không ai có quyền đứng trên pháp luật... nếu đã thế (nếu đang thế và sẽ như thế) thì khối đại đoàn kết dân tộc mới bền chắc, đất nước mới yên bình, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội mới được đảm bảo, nhân dân mới hạnh phúc…; Tôn lộc đại suy, tôn nịnh đại nguy (Tác giả Ngô Minh viết khi phân tích trong bài là Tôn lộc đại nguy, tôn nịnh đại suy) có nghĩa khi đám quan lại, quan tham của một triều đại, một chế độ nào đó chỉ tôn sùng, coi nặng, coi trọng bổng lộc, tiền tài, xem thường cái thiện, sự tử tế; thích được và luôn nịnh bợ, nịnh hót, mơn trớn, không thích, không trọng lời và con người ngay thẳng v.v. thì đó là lúc đất nước, chế độ đang nguy nan, đang bên bờ vực của sự suy tàn; xét trong tình hình hiện nay, khi BCH Trung ương Đảng phải ban hành 02 Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI và khóa XII) thì Đảng đã nhận diện rõ ràng có một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, cán bộ lãnh đạo đã và đang sa vào tệ tôn lộc tôn nịnh.

Chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, hành động quyết liệt của những người đứng đầu Đảng, Chính phủ (cái "đầu tàu") trong thời gian qua là thể hiện sự "tôn tộc, tôn tài" nhằm ngăn chặn nạn "tôn lộc, tôn nịnh", nhưng thiết nghĩ "đầu tàu" dù có quyết tâm, có mạnh đến đâu mà các "toa tàu" (bọn tôn lộc, tôn nịnh) bị cũ nát, hư hỏng, sét rỉ thì liệu đầu tàu có kéo nổi? Việc triển khai thực hiện 02 Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI và khóa XII) nếu không thực chất, không hiệu quả như mong muốn, nạn "Tôn lộc, tôn nịnh" của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, cán bộ lãnh đạo không giảm, không được đấu tranh ngăn chặn và xử lý nghiêm minh thì bộ phận lớn là những cán bộ đảng viên, nhân dân luôn "Tôn tộc, tôn tài" sẽ bị tác động, ảnh hưởng, sẽ giảm đi (số lượng và niềm tin) và rồi sẽ bị kéo đi về đâu? Trong kiểm điểm Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) nếu còn biểu hiện "phê" nhau "có khuyết điểm rất lớn là chưa nhận hết… ưu điểm", hay "khuyết điểm lớn nhất là nhận nhiều… khuyết điểm" (Cũng có thể các bên không đủ năng lực, trình độ để nhận biết thiện ý, ẩn ý trong nội dung, phương thức phê bình và tự phê bình) và nếu khuyết điểm qua phê bình và tự phê bình mới chỉ phát hiện những khuyết điểm nhỏ trong những biểu hiện nêu trong 02 Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI và khóa XII), còn những khuyết điểm lớn và nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng thì chưa có cán bộ nào tự phê bình, tự nhận hay qua phê bình phát hiện được, dẫn đến tình trạng chức vẫn được thăng thần tốc, lộc vẫn tăng nghìn tỷ…. Nếu trong xã hội còn có biểu hiện những kẻ thuộc mẫu "Hòa Đại Nhân" luôn nịnh hót, biết "cúng lộc" thì được coi là biết điều, được ưu ái, được đánh giá cao, là "đồng chí tốt", còn những "Lưu Gù", người có cá tính, yêu Tổ quốc, chỉ biết "tôn tộc, tôn tài", "bất tôn lộc, bất tôn nịnh", không chịu "gọi dạ, bảo vâng", chỉ biết tận tụy với công việc, không có mấy "Ệ"… ngược lại bị ghét bỏ... thì tình trạng đó chắc chắn sẽ bị các thế lực thù địch nước ngoài, các tổ chức, cá nhân phản động và các đối tượng cực đoan, chống đối bằng mọi cách lôi kéo, lợi dụng để chống phá quyết liệt, gây rối ANTT, gây ra cuộc "cách mạng đường phố" để lật đổ chính quyền, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và sẽ làm cho đất nước, chế độ lâm vào thời kỳ suy tàn nguy nan. Tác giả Ngô Minh cho rằng "người lãnh đạo phải là người đủ cương trực, đủ trình độ, đủ nhạy cảm mới nhận ra kẻ nịnh để lánh xa, người trung để gần gũi". Thật ra, đã là lãnh đạo mọi thời đại nói chung và thời nay nói riêng không mấy ai không đủ trình độ, không đủ nhạy cảm để nhận ra kẻ nịnh và người trung (nếu không nhận ra thì chỉ có thể là loại cán bộ lãnh đạo được bổ nhiệm "đúng quy trình" nhưng sai tiêu chuẩn, sai đối tượng), mà cái chính là vì không đủ cương trực, nên đã tự biến mình thành người "vừa câm, vừa điếc lại vừa đui mù" (tàn và phế) hoặc những kẻ "vừa ăn cướp vừa la làng", cố tình không nhận ra mà thôi, những kẻ đó ở bất cứ thời đại nào, chế độ nào thì cũng đích thị là những tên phản dân, hại nước, đáng bị lên án, đáng bị trừng trị.

Trong bài "Bảo vệ chủ quyền biển đảo trong bối cảnh mới" đăng trên Tạp chí Thế giới toàn cảnh, số 83 tháng 3 năm 2017, PGS, TS Lê Văn Cương nói về 3 nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh của một quốc gia (Cũng bao hàm Tứ tôn châm): "(1) Có chiến lược chính sách đối nội, đối ngoại đúng đắn và với bộ máy thực sự trong sạch, vững mạnh, nhất là ở cấp hoạch định và chỉ đạo quyết sách quốc gia; (2) Có sự đồng thuận trong xã hội với ý chí "triệu người như một" của toàn dân và (3) Có sức mạnh vật chất cần thiết (kinh tế, quốc phòng…). Trong  hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, Việt Nam hội tụ đủ 3 nhân tố cơ bản nói trên, nhờ đó dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác…".

Qua mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử, mọi lãnh đạo, cán bộ đảng viên, người dân chỉ cần nhìn thẳng vào sự thật và trả lời câu hỏi: Thời kỳ đó, giai đoạn lịch sử đó đất nước, chế độ, con người có hội tụ đầy đủ 3 nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh như PGS, TS Lê Văn Cương nêu ra hay không, hoặc suy ngẫm qua Tứ tôn châm của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm cũng có thể nhận diện đất nước, chế độ đang ở thời kỳ nào đại quy, đại thịnh hay đại nguy, đại suy theo quy luật thịnh - suy, tồn - vong của lịch sử, để tự cảnh giác, tự răn mình.

Trong Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) ở nhóm 3 về các biểu hiện "tự diễn biến" - 自演变, "tự chuyển hóa" - 自轉化 nếu phân tích, giảng nghĩa chữ Tự -ở đây là tự mình, tự thân mang tính cá nhân thì người ta thường cho rằng cá nhân mỗi cán bộ đảng viên, mỗi người tự mình không chịu học hỏi, không chịu rèn luyện, không chịu phấn đấu… nên dẫn đến bị tha hóa, bị biến chất thành người xấu, chống đối, đi ngược lại quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước... Nhưng theo tôi quy luật cuộc sống rất ít khi do "Tự", mà luôn có sự tương hỗ - 相互 (tác động, kích thích, ảnh hưởng) của môi trường, của các tác nhân khác... ví dụ sự cháy phải là sự kết hợp của 3 yếu tố: Chất cháy, nguồn nhiệt và ô xi. Nếu thiếu 1 trong 3 yếu tố này thì không thể xảy ra sự cháy hay như người ta thường nói là "không có lửa làm sao có khói". Do đó để bị "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" theo tôi trước hết yếu tố quan trọng đúng là do bản thân mỗi người không chịu học hỏi, rèn luyện, phấn đấu... nên dẫn đến bị tha hóa, biến chất; bên cạnh đó còn có việc bị các thế lực thù địch, bọn phản động lợi dụng hoàn cảnh, điều kiện để tác động, lôi kéo, dụ dỗ; và sự tác động, ảnh hưởng từ những "tấm gương tồi" của nạn "tôn lộc, tôn nịnh, bất tôn tộc, bất tôn tài", những kẻ chỉ biết hô hào hãy "làm như tôi nói, đừng làm như tôi làm"… làm cho cán bộ đảng viên, nhân dân mất niềm tin. Nhận thức đầy đủ điều này Trung ương Đảng, Chính phủ sẽ có sự nghiên cứu bổ sung, chỉ đạo toàn diện hơn việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) nói riêng và lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nói chung.

Xin phép bàn vài lời và nêu vài ý kiến để mọi người nghiên cứu, tham khảo và mong được tiếp tục trao đổi. 

Trần Thị Lan - Lê Thị Hiếu

 

Sự biến đổi về vai trò của phụ nữ trong đời sống gia đình

Khi đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, ngư dân miền biển Cửa Lò chỉ sắm được thuyền nhỏ, đàn ông ở đây chỉ đánh bắt cá tôm quanh quẩn gần bờ. Buổi sáng đi biển, chiều đã có mặt ở nhà. Hầu như chuyện gì trong gia đình đều có người chồng cáng đáng.

Sau này, khi kinh tế khấm khá hơn, người dân sắm được tàu thuyền lớn có thể vươn thẳng ra khơi, và kéo theo đó là những chuyến đi biển kéo dài hơn, có khi cả tháng trời. Mọi việc lớn nhỏ trong nhà một tay người phụ nữ lo liệu, vun vén, song vai trò của người phụ nữ vẫn là phụ, kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào chồng. Và nếu chẳng may rủi ro, giông bão ập đến với người chồng, thì những người phụ nữ sẽ dễ bị gục ngã, có người chỉ biết gắng gượng nuôi con trong đói nghèo, vất vả muôn đường.

 Trải qua bao nhiêu năm, những nỗi đau, nỗi mất mát và cả những khó khăn chất chồng trong cuộc sống đã dạy cho người phụ nữ miền biển nơi đây ngày càng cứng cỏi, vững vàng và chủ động hơn. Thậm chí, những người phụ nữ có chồng ra khơi còn âm thầm chuẩn bị tâm lý và xác định được vai trò "làm chủ gia đình" trong trường hợp xảy ra "tình huống xấu". Nếu chẳng may thiếu vắng chồng, nhiều phụ nữ chấp nhận ở vậy, làm lụng nuôi con.

Ngày nay, phần lớn phụ nữ làng biển đã thoát khỏi cái bóng "vọng phu", sống dựa dẫm vào chồng. Khi những người đàn ông vươn khơi, chị em ở nhà cũng tảo tần mưu sinh lo toan cuộc sống, trở thành điểm tựa để chồng con yên tâm bám biển.

  Chính sự thay đổi của hoàn cảnh xã hội và ý thức làm chủ cuộc sống đã làm biến đổi vai trò của người phụ nữ trong đời sống gia đình.

Khảo sát cho thấy có đến 80% số phụ nữ trong gia đình nắm giữ tài chính, quyết định chi tiêu trong gia đình. Phụ nữ toàn quyền trong việc mua sắm lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm hàng ngày phục vụ cho gia đình. Họ là người quyết định nội dung bữa ăn, phân bố chi tiêu hàng ngày cho các thành viên trong gia đình (điểm này, giống với phụ nữ trong gia đình truyền thống). Riêng việc quyết định mua sắm các đồ gia dụng có giá trị trong gia đình có sự tham gia của người phụ nữ ngày càng cao. Thậm chí việc quyết định xây nhà hay mua sắm những vật dụng có giá trị lớn đều có tiếng nói, đóng góp tài chính của người phụ nữ.

Bảng 1. Quyền quyết định của thành viên trong gia đình theo từng phường

Có thể thấy trong mỗi công việc, trong gia đình cả vợ và chồng đều có quyền quyết định như nhau, điều này chứng tỏ có xu hướng bình đẳng trong gia đình. Những việc lớn như dựng vợ gả chồng cho con cái (60%), mua sắm vật dụng đắt tiền (54%), phân chia tài sản cho con (51%)... đều có sự tham gia góp ý và quyết định của hai vợ chồng.

Trong đời sống vợ chồng, trước đây, thị xã Cửa Lò là địa bàn thường xuyên xảy ra rất nhiều trường hợp bạo hành gia đình, trong đó nạn nhân chủ yếu là nữ, từ 16 - 59 tuổi (chiếm 85%), hình thức chủ yếu là bạo lực. Tuy nhiên, con số này chưa hẳn đã phản ánh đúng thực tế, trong khi các hình thức bạo hành kinh tế và bạo lực tình dục thường ít bị phát giác do hành vi vi phạm biểu hiện không rõ ràng; nhiều trường hợp các nạn nhân che giấu, âm thầm chịu đựng, không muốn công khai. Sở dĩ có cảnh "cơm không lành, canh không ngọt" là ngoài tư tưởng đàn bà sống phụ thuộc vào chồng, không có tiếng nói trong gia đình còn do đặc thù của nghề biển. Đàn ông ngoài thời gian đi biển hàng tháng trời thì chủ yếu ở nhà, ai thuê gì làm nấy, tháng đói, tháng no. Cuộc sống vẫn bị cái nghèo đeo bám, dẫn đến chán nản, sa vào rượu chè, đánh đập vợ con vô cớ. Trong khi đó người phụ nữ yếu đuối lại chỉ biết cam chịu những trận đòn như cơm bữa của những người chồng vũ phu. Không chỉ bị hành hạ về thể xác mà còn cả về tinh thần với những lời lăng mạ hết sức nặng nề.

Bên cạnh đó, tư tưởng trọng nam khinh nữ ở vùng biển ngày xưa cũng ăn sâu bám rễ vào người dân nơi đây. Quan niệm phải có con trai để nối dõi theo nghề biển cha ông đã trở thành điều bắt buộc trong mỗi gia đình, dẫn đến tình trạng đông con, thiếu ăn quanh năm. Con trai lớn lên theo nghề bố, con gái chỉ được học hết lớp 7. Đa phần là do trong tư tưởng của  nhiều gia đình nghĩ, học cũng chẳng để làm gì, đành ở nhà lao động sản xuất, đến năm 18 tuổi thì lấy chồng. Cứ như thế, tất thảy cuốn vào vòng luẩn quẩn mưu sinh, đói nghèo.

Ngày nay, các ban, ngành đã thể hiện được trách nhiệm của mình trong phòng chống bạo hành giới. Từ năm 2006, được sự hỗ trợ về mặt tài chính của Quỹ Ford, Trung tâm sáng kiến và sức khỏe (CCIHP) đã triển khai dự án "Mô hình lồng ghép phòng chống bạo hành giới dựa vào y tế và cộng đồng" tại thị xã Cửa Lò. Sau hơn 10 năm thực hiện, dự án này đã thực sự đem lại hiệu quả thiết thực, không chỉ hàn gắn nhiều gia đình đang đứng trước nguy cơ tan vỡ mà còn giúp nam giới thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi nhằm ngăn chặn, đẩy lùi bạo hành trong gia đình.

Các CLB "Nam giới trách nhiệm", "Phụ nữ tự lực" được tổ chức tại các phường như: Nghi Thu, Nghi Hương, Nghi Hòa, Nghi Thủy, Thu Thủy, Nghi Tân, Nghi Hải trên địa bàn thị xã nhằm chia sẻ, giúp đỡ các nạn nhân đồng thời khuyên nhủ, răn đe các trường hợp có hành vi bạo hành. Điểm mới và nổi bật của mô hình này so với các hoạt động khác là sự tham gia tích cực của 2 phía, phía bị bạo hành và phía bạo hành. Kết quả, những người đàn ông tham gia đã phần nào từ bỏ rượu chè, chấm dứt được cảnh bạo lực gia đình, vợ chồng đồng lòng phát triển kinh tế, xây dựng gia đình hạnh phúc. Còn chị em cũng phần nào hiểu rõ trách nhiệm làm vợ, làm mẹ của mình, mạnh dạn đấu tranh, nói ra những suy nghĩ vốn đã chất chứa lâu nay.

Bên cạnh vun đắp đời sống vợ chồng, người mẹ, người vợ vùng biển bây giờ còn rất chú trọng đến việc học hành của con cái, xây dựng kế hoạch hóa gia đình. Vắng bóng người trụ cột, chị em miền biển lại tìm đến nhau, chia sẻ kinh nghiệm làm vợ, làm mẹ, giúp nhau "nuôi con khỏe, dạy con ngoan". Họ chia sẻ:"Ngày xưa, con em dân biển nghỉ học sớm lắm, cứ học đến hết cấp 2 là bỏ học, con gái đi lấy chồng, con trai lại theo bố, theo anh em ra biển. Nhưng bây giờ, chúng tôi cố cho con học hành đến nơi đến chốn. Rồi sau này, có kiếm cái nghề gì đó đi làm, chứ đi biển cả bố, cả con vất vả lắm, ở nhà cứ lo thấp thỏm". Họ còn biết lập quỹ khuyến học, để một mai trong tương lai không xa trẻ em ở đây có điều kiện vươn lên, đỗ đạt vào các trường đại học, cao đẳng, thoát khỏi sự khắc nghiệt của nghề đi biển. Họ đã từng gửi gắm ước mơ vào biển, nay lại gửi vào con cái, âu đó cũng là lẽ thường tình.

Trải qua các giai đoạn lịch sử thì vai trò của hai nửa thế giới đã có những biến đổi theo chiều hướng tốt hơn. Sự phát triển kinh tế ở đây, trực tiếp là kinh tế du lịch đã thay đổi tư duy, nhận thức của những ngư dân ven biển theo hướng tích cực hơn, mối quan hệ của người đàn ông và người phụ nữ cũng đang ngày càng xích lại gần nhau trong đời sống gia đình.

2. Biến đổi về vai trò người phụ nữ trong kinh tế gia đình và kinh doanh

Theo cố Giáo sư Trần Quốc Vượng thì: ở xã hội nào dù là thời nguyên thủy hay xã hội có giai cấp người phụ nữ là người tham gia đầy đủ vào tất cả các khâu lao động trong xã hội và gia đình họ vẫn luôn giữ vai trò quan trọng của người đàn bà, người mẹ trong gia đình và xã hội… Chính sự tiến bộ của loài người cùng sự cởi mở của xã hội mà phái yếu đã và đang khẳng định khả năng và vị trí của mình, họ đang cùng với phái mạnh chia sẻ những trách nhiệm lớn lao, góp phần vun đắp đời sống tinh thần, người phụ nữ còn đang tiến mạnh và tiến vững chắc trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội.

Trước đây, miền biển Cửa Lò chủ yếu là các làng chài nhỏ, nơi đại bộ phận đàn ông làm nghề đánh cá biển, phụ nữ thì lấy việc buôn thúng, bán mẹt làm kế sinh nhai. Theo bà Hương (75 tuổi, phường Nghi Thủy), từng có nhiều năm tham gia buôn bán: Từ trước tới đây, hầu hết đàn ông trong làng đều tham gia đi biển, phụ nữ ở nhà lo con cái, cơm nước, chờ các chuyến thuyền về. Khi thuyền cập bến, phụ nữ trong làng đã chờ sẵn, phân loại từng mớ cá, đem đi bán tại các chợ quê trên địa bàn huyện Nghi Lộc và một số vùng lân cận [TG khảo sát ngày 5/2/2015].

Nay về với Cửa Lò, cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, giảm nông - lâm  nghiệp. Thị xã đã thúc đẩy mạnh việc phát triển kinh tế du lịch, đặc biệt chú trọng thu hút các loại hình dịch vụ, các dự án du lịch cao cấp và mở rộng không gian đô thị du lịch. Và vì thế, phụ nữ bây giờ cũng trở nên thức thời. Không còn cái cảnh chiều chiều vò võ ôm con ra biển ngóng chồng trở về. Bây giờ họ đều tìm cho mình một công việc nhất định, thu nhập ít hoặc nhiều nhưng chẳng ai chịu ngồi chơi không. Người thì làm công nhân, người thì buôn bán, không có việc nữa thì đi làm thuê, làm mướn, chạy chợ, vá lưới thuê, thậm chí có chị còn làm khuân vác trên bến cá. Có nhiều lúc chồng không kiếm được bạn đi biển, các chị lại "làm bạn" đi biển cùng chồng. Có chị em còn tự sắm cho mình chiếc ghe nhỏ mưu sinh, khi thì chở tấm lưới, khi thì chở cá cho các chủ tàu. Gánh nặng kinh tế gia đình, họ không còn để một mình người chồng phải gánh vác.

Người phụ nữ miền biển bây giờ đã biết chủ động hơn trong cuộc sống, không quá phụ thuộc vào những chuyến đi may rủi của chồng con, thậm chí có người rất thành công. Nhiều phụ nữ tiếp tục giữ vai trò của mình trong buôn bán các sản phẩm từ biển. Tại phường Nghi Tân, Nghi Thủy có tới 88% sản phẩm đánh bắt được từ biển do phụ nữ trực tiếp đem đi phân phối tại các chợ quê. Điều đó chứng tỏ người phụ nữ có vai trò rất lớn trong việc tiêu thụ sản phẩm từ biển. Đặc biệt trong những năm gần đây, khi nghề cấp đông ở Cửa Lò ngày càng phát triển, nhiều chị em đã nắm bắt được nhu cầu, phát huy tiềm năng lợi thế của quê hương và vươn lên làm giàu từ đó. Những người phụ nữ có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh, đều trải qua một quá trình tích lũy vốn lâu dài dưới nhiều hình thức khác nhau. Họ thường gom vốn thu mua khối lượng lớn các hải sản để tích trữ, khi thị trường khan hiếm họ đem bán, thu về lợi nhuận lớn. Đây là một trong những cách tích lũy vốn tốt cho gia đình.

 Chị Liên (45t - phường Nghi Thủy) cho biết: Những sản phẩm đàn ông đánh bắt từ biển về, một phần được chị em vận chuyển tiêu thụ tại các chợ quê, phần còn lại dùng để chế biến nước mắm, làm ruốc, làm hải sản khô, phục vụ du khách vào mùa du lịch. Hầu hết các thuyền đều được chị em tiêu thụ hết trong ngày [TG khảo sát ngày 7/2/2015]. Những nguồn thu được từ buôn bán cũng như trong các chuyến đi biển đều được người phụ nữ tính toán rất kỹ lưỡng sao cho có lợi nhuận tốt nhất. Người đàn ông trong gia đình không thể tính toán được lời lỗ từ sau mỗi chuyến đi biển. Ở đây người phụ nữ thường đứng ra cung ứng nguồn vật tư đi biển. Vì thế vai trò của người phụ nữ trong gia đình không chỉ dừng lại việc chi tiêu trong sinh hoạt hằng ngày mà còn mở rộng các nguồn kinh phí lớn hơn hỗ trợ đắc lực cho công việc làm ăn của người chồng.

Tại phường Nghi Thủy, có đến 58% phụ nữ tham gia hoạt động buôn bán, dịch vụ du lịch. Riêng phụ nữ khối 5, khối 9 phường Nghi Thủy nổi tiếng giỏi buôn bán, làm kinh tế. Khi được tiếp xúc với chị Nguyên (khối 5 phường Nghi Thủy), mới thấy hết khả năng và vai trò tạo lập vốn của người phụ nữ trong làm kinh tế: Cách đây 10 năm ngoài một số vốn có được do tích lũy, chị đã vay thêm vốn ngân hàng và người thân để đầu tư xây kho đông lạnh phát triển kinh tế gia đình. Với sự nỗ lực không ngừng kho đông lạnh của chị đã giải quyết việc làm cho 5 lao động trong phường, trừ chi phí thu nhập bình quân từ 20 - 30 triệu đồng/ tháng.

Ngoài việc trực tiếp tham gia lao động sản xuất, buôn bán tạo thu nhập, phụ nữ còn là người tổ chức, động viên, tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình tham gia hoạt động kinh tế, tăng thu nhập cho gia đình và đảm nhiệm vai trò của người giữ tay hòm chìa khóa trong gia đình.      

Bảng 2. Vai trò của vợ, chồng trong tạo nguồn thu nhập cho gia đình

Với lợi thế ngày nay là địa bàn phát triển mạnh về du lịch, Cửa Lò đang tập trung đầu tư vào dịch vụ lưu trú và kinh doanh các mặt hàng ăn uống. Ngoài việc đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất khang trang, nâng cao chất lượng các sản phẩm hiện có thì văn hóa ứng xử, giao tiếp với khách hàng được chị em chú trọng. Đa phần chị em phụ nữ đều tự ý thức nâng cao trình độ, kiến thức kinh doanh. Để tồn tại và phát triển điều tất yếu là họ phải thích ứng và học hỏi văn hóa kinh doanh, sự tế nhị, khéo léo trong giao tiếp, biết gạn lọc những yếu tố "tiểu nông" để làm phương tiện thúc đẩy hiệu quả kinh tế. Chị Yến (46t, chủ nhà hàng hải sản) cho biết: Trước khi làm kinh doanh tôi chủ yếu làm ngư nghiệp, khi thị xã phát triển tôi mua mảnh đất ở khu Trung tâm để kinh doanh buôn bán. Chuyển sang làm kinh doanh áp lực hơn, bản thân phải thay đổi mọi thứ để thích ứng với môi trường mới. Trước đây khi làm nông nghiệp ít phải lo nghĩ nhiều, hầu như không phải học chi thêm, cứ thế mà làm thôi! Nhưng từ khi chuyển sang kinh doanh nhiều cái phải học hỏi, học cách kinh doanh, cách tiếp cận khách hàng, cách giao tiếp, phát triển bản thân..., biết phức tạp rứa mà vẫn phải học, không thì không tồn tại được!

Văn hóa ứng xử trong kinh doanh không những giúp người phụ nữ thu hút được nhiều khách hàng, tiêu thụ được nhiều sản phẩm, có thu nhập ổn định mà còn khẳng định vị thế của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội.

Rời vùng biển đầy gió, dáng những người phụ nữ với làn da sạm nắng vẫn lam lũ, vất vả nhưng nụ cười lại rạng ngời. Cửa Lò đang bước vào mùa du lịch mới, ta lại thấy trong đó những niềm tin mới mẻ vào cuộc sống khi người phụ nữ đã vươn lên làm chủ cuộc đời. Và ngoài kia, những cơn bão biển, hay giông bão cuộc đời cũng không thể nào đánh gục được những người phụ nữ đầy rắn rỏi và nghị lực ấy.

Hồ Sỹ Hùy

 

Quang Đạm là một nhà báo nổi tiếng, một học giả có nhiều công lao với cách mạng nhưng còn rất ít được nhân dân quê hương biết đến. Bài viết này bước đầu cung cấp một số tư liệu.

1. Từ truyền thống độc đáo của gia đình

Ông sinh ngày 1/9/1913 tại làng Hoành Sơn, nay thuộc xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong một gia đình khoa bảng. Họ tên thật của ông là Tạ Quang Đệ. Ông nội là Cử nhân Tạ Quang Oánh (đậu năm 1891) nhưng không ra làm quan. Thân phụ là Tạ Quang Diễm (1884 - 1925) vốn là học trò xuất sắc của cụ Phó bảng Đặng Nguyên Cẩn (1867 - 1923), đậu cử nhân năm 1910, từng làm Giáo thụ phủ Tam Kỳ (Quảng Nam). Sau khi chính quyền thực dân bãi bỏ thi cử Nho học (1919), ông chuyển sang dạy chữ Hán và Việt văn cho một vài trường tiểu học. Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Đào (1885 - 1975), cháu nội Thám hoa Nguyễn Đức Đạt (1825 - 1887) dạy nữ công và có thơ đăng rải rác trên các tờ Tiếng dân, Phụ nữ Thời đàm với bút danh Sầm Phố. Anh ruột ông là nhà bác học nổi tiếng, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp: GS. Tạ Quang Bửu (1910 - 1986)(1).

Họ Tạ có 3 truyền thống được giữ gìn suốt hơn 10 đời. Một là truyền thống "gia học" (học tại nhà, cha dạy con chứ không học trường lớp nào). Trong nhà thờ họ có bức hoành phi Phụ giáo tử đăng khoa (cha dạy con thi đỗ). Truyền thống thứ 2 là đàn ông không ai lấy hai vợ. Thứ 3 là trong nếp sống gia đình không thờ cúng quỷ thần, chỉ thờ cúng tổ tiên, ông bà và cha mẹ mà thôi(2).

Đó là những truyền thống hiếm có của một dòng họ khoa bảng danh giá trong xã hội phong kiến thực dân xưa. Cũng cần nói thêm: dù gia đình ông và cha đều đỗ cử nhân nhưng nhà vẫn rất nghèo. Sau này GS. Tạ Quang Bửu kể: "Bố tôi mất ngày mồng 6/4 âm lịchBố tôi mắc bệnh lao vì cảnh nhà túng bấn, khi qua đời chẳng có gì để lại cho mẹ tôi ngoài… vài trăm đồng bạc nợ! Các chủ nợ có ý đợi tôi sau này đỗ đạt ra làm quan rồi thì họ sẽ đòi nợ, hoặc sẽ "bắt" tôi phải "cưới" con gái họ!"(3).

2. Đến những nẻo gập ghềnh hoạn lộ

Năm 1926 học xong tiểu học, đúng lúc phong trào đòi thả cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Châu Trinh đang sôi nổi trên cả nước, Tạ Quang Đệ tham gia bãi khóa theo lời kêu gọi của Võ Nguyên Giáp và Phan Thanh là hai học sinh giỏi đang học trường Quốc học Huế. Phong trào bị đàn áp, anh bỏ về quê. Cũng năm đó, người anh ruột là Tạ Quang Bửu thi đỗ thứ nhì bậc thành chung, (người đỗ đầu là Hoàng Xuân Hãn), rồi ra Hà Nội vào học trường Trung học Bảo hộ (Trường Bưởi). Lúc Phan Bội Châu an trí ở Huế, bà mẹ quyết định đưa anh đến nương nhờ cửa cụ, vừa làm học trò học thêm chữ Hán vừa làm thư ký cho cụ (Phan Bội Châu là học trò của ông nội bà). Chính nhờ được gần gũi ông già Bến Ngự gần một năm mà kiến thức Hán văn và lịch sử dân tộc của Tạ Quang Đệ được nâng lên rất nhiều. Ở đây anh thường giúp cụ Phan viết những bài báo tiếng Việt cho tờ Tiếng dân - tờ báo Quốc ngữ đầu tiên ở Trung kỳ do Cụ Huỳnh Thúc Kháng chủ trương. Hiện nay, tại nhà kỷ niệm Phan Bội Châu ở Huế, tấm hình Quang Đệ chụp chung với Cụ vẫn còn được lưu giữ. Sau đó, Tạ Quang Đệ thi đỗ vào trường Quốc Tử giám, đến năm 1932 tốt nghiệp được bổ làm Thừa phái ở huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa (4), rồi chuyển sang làm Lục sự chuyên lo việc lập và giữ giấy tờ sổ sách ở tòa án địa phương. Từ sau năm 1937 anh tham gia phong trào Hướng đạo do các Tổng ủy viên Tạ Quang Bửu, Hoàng Đạo Thúy phụ trách. Phong trào này có những hoạt động nhằm rèn luyện cho thanh niên, nhất là lớp trí thức trẻ tính tự lực, tháo vát, lòng ham thích làm việc tốt. Khoảng năm 1941 anh đã là thầy giáo huấn luyện cho các Hướng đạo sinh. Nhiều Hướng đạo sinh lần lượt gia nhập Việt Minh. Trước Tổng khởi nghĩa tháng Tám/1945 khá lâu, từ một "đề nghị" nào đó của đoàn thể, Tổng đốc Thanh Hóa Hà Văn Đại bổ Tạ Quang Đệ làm Tri phủ Hà Trung - vùng đất giáp ranh Thanh Hóa - Ninh Bình, là nơi có chiến khu Hòa - Ninh - Thanh (Hòa Bình - Ninh Bình - Thanh Hóa), rồi chiến khu Ngọc Trạo. Vừa thừa hành chức phận, anh vừa tìm mọi cách tiếp xúc với các cá nhân và tổ chức cách mạng. Trước ngày Cách mạng bùng nổ, anh đã liên hệ với Việt Minh, bàn giao con dấu, sổ sách, vũ khí… ngay sau đó ra Hà Nội dạy ở trường Thăng Long, rồi nhận công tác ở phòng tham mưu do Hoàng Văn Thái làm Trưởng phòng. Ngày 3/9/1945 Trưởng ban liên lạc của phòng tham mưu Hoàng Đạo Thúy chỉ định Tạ Quang Đệ làm Tổ trưởng tổ mật mã, trực tiếp chỉ đạo xây dựng và tổ chức phòng mật mã. Anh đã cùng đồng nghiệp thiết kế luật mật mã mới về vô tuyến điện được áp dụng trong toàn quân và được coi là một trong những người sáng lập ngành Mật mã Việt Nam(5).

Từ tháng 5/1946 Tạ Quang Đệ làm Thư ký riêng cho Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp. Kháng chiến bùng nổ lại về làm việc tại văn phòng đồng chí Trường Chinh ở Chiến khu Việt Bắc. Ngày 10/5/1947 được kết nạp vào Đảng, người giới thiệu là  2 vị: Trường Chinh và Mười Hương, (ông Mười Hương sau này từng là Phó ban Tổ chức Trung ương Đảng). Tháng 12-1947 được chỉ định tham gia Ban Tuyên huấn Trung ương, làm Ủy viên Ban biên tập tờ Sự thật - cơ quan ngôn luận của Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác do Trường Chinh phụ trách. Năm 1950 được bầu vào ủy viên Ban Chấp hành Hội những người viết báo Việt Nam - tiền thân của Hội Nhà báo Việt Nam. Đầu năm 1951 tham gia Ban Biên tập báo Nhân dân - cơ quan ngôn luận của Đảng Lao động Việt Nam vừa ra hoạt động công khai (số đầu tiên ra ngày 11/3/1951) và công tác ở đó cho đến ngày nghỉ hưu (9/1979)(6).

Điểm qua các bản tiểu sử thông thường của Quang Đạm ngỡ như bước đường đi theo cách mạng của một quan chức cũ khá hanh thông. Sự thật "nói vậy mà không phải vậy"!

Vào cuối những năm 60 thế kỷ trước, Quang Đạm bị tố cáo là thời làm Thừa phái ở Thiệu Hóa đã từng "dẫn các nhà chức trách lùng bắt cộng sản". Theo lời Quang Đạm kể cho Thủy Trường - một học sinh cũ của ông thời Hướng đạo: "có việc ấy, nhưng đáng lẽ dẫn đường đi đến thôn, nơi có cộng sản họp, mình lại cho ô tô bóp còi, đi vòng vèo để cộng sản biết mà chạy thoát". Quang Đạm bị chi bộ khai trừ, lưu Đảng "bằng miệng", lương bị hạ và không được giao công tác. Cả gia đình ông hết sức đau lòng nhưng chưa tìm ra cách nào minh oan. Tuy vậy, vào những năm 70, 80 ông lại được mời tham gia một số hội nghị, hội thảo có giấy ghi rõ là chỉ giành riêng cho cán bộ cao cấp và lại được nhắc đến nhiều với tư cách một cây bút chính luận tài năng và uyên bác. Vào những năm 90 con trai ông là Tiến sĩ, kỹ sư chế tạo máy Tạ Quang Ngọc (sinh năm 1944) đã trở thành Thứ trưởng, rồi Bộ trưởng Bộ Thủy sản (từ 1996 - 2007), Ủy viên BCH Trung ương Đảng (khóa 8: 1996 - 2001, khóa 9: 2001 - 2006)). Khoảng năm 2000 - 2001 khi Quang Đạm đã về với tổ tiên, chính ông Mười Hương đã tìm mọi cách khôi phục danh dự cho người được chính ông giới thiệu vào Đảng từ năm 1947, nhưng khi ông và cả Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đến văn phòng Ban Tổ chức Trung ương tìm lại quyết định khai trừ Quang Đạm bằng văn bản thì hoàn toàn không có "quyết định miệng không có thủ tục khai trừ, chi bộ - liên chi bộ họp bao giờ, bao nhiêu đảng viên dự, chủ tịch, thư ký là ai ký vào…tất cả đều không có. Đã không có thì làm sao phục hồi được"(7).

3. Và một số đóng góp nổi bật

Đóng góp của Quang Đạm chủ yếu ở lĩnh vực báo chí. Ông đến với nghề báo rất ngẫu nhiên. Ông kể: "… Anh Trường Chinh bảo: Hôm nay là ngày thành lập Đảng (3/2/1947) mỗi đồng chí viết 1 bài cho báo liếp. Mọi người rất phấn khởi, hào hứng viết. Tôi cũng viết 1 bài. Điều này có ý nghĩa như một bước ngoặt trong cuộc đời tôi. Khi dán lên anh Trường Chinh đi xem hết lượt từng bài một, kỹ lắm. Đến bài tôi, anh đứng xem một chốc rồi bảo: "Bài này được". Thôi, anh phụ trách tờ báo liếp này"(8). Sau đó Trường Chinh quyết định đưa Quang Đạm vào Ban Biên tập tờ Sự thật dù lúc đó ông chưa là đảng viên. Một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời làm báo của ông là lần ông được gặp Bác Hồ khi còn làm ở báo Sự thật. Bác hỏi: "Chú làm gì? Trước chú có viết báo không?"... ... "Trước cháu làm hướng đạo, thời kỳ ở Cục Thông tin Bộ Tổng tham mưu, cháu làm mật mã". Bác nói: "Trước chú làm mật mã tức là chú viết cái gì mà ai không nắm được luật thì không hiểu được, không đọc được, không sử dụng được. Bây giờ làm báo Sự thật thì chú phải làm ngược lại. Chú phải viết thế nào cho ai cũng hiểu được". Lời Bác dặn: "Chú phải viết thế nào cho ai cũng hiểu được" khiến ông "nhớ mãi và thường suy nghĩ để làm cho đúng như thế"(9).

Buổi đầu viết bài trên tờ Sự thật ông ghép tên mình với tên 2 con đầu: Lam Ngọc Đệ hay nói lái là Lê Ngọc Đạm, hoặc tên 3 con: Điền Ngọc Lam hay Đàm Ngọc Liên làm bút danh. Một lần bản thảo gửi đến tòa soạn bị ướt nước mưa, bút danh Lê Ngọc Đạm chỉ còn đọc được chữ Đạm, thợ nhà in biết tác giả bài báo là Tạ Quang Đệ, bèn ghép thêm chữ Quang vào, từ đó bút danh Quang Đạm xuất hiện. Khi về báo Nhân dân, hầu như ông chỉ ký là Quang Đạm, hoặc QĐ. 

Giai đoạn viết báo Sự thật (1947 - 1950) Quang Đạm nổi tiếng với loạt bài luận chiến về quan điểm "Tư pháp với nhà nước", tranh luận với luật sư Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Đình Hòe (1912 - 2011) và 1 số người khác viết bài đăng trên tờ Độc lập - cơ quan ngôn luận của Đảng Dân chủ. Giai đoạn 1954 - 1960 nhờ có tri thức uyên bác Quang Đạm viết nhiều bài lý luận sắc sảo như các bài phê phán nhóm Nhân văn Giai phẩm: Quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, Giữ vững nguyên tắc dân chủ của chúng ta. Đặc biệt là một bài dài đăng suốt một tuần trên báo Nhân dân vào cuối năm 1957: Quan điểm báo chí vô sản và quan điểm báo chí tư sản, sau đó được tập hợp thành tài liệu giảng dạy cho cán bộ, đảng viên, dùng để đấu tranh trên mặt trận báo chí, tư tưởng.

Tiếp đó, vào những năm 60, cuộc đấu tranh với những người không đồng chính kiến diễn ra sôi nổi trên địa hạt văn học nghệ thuật và cả chính trị, tư tưởng. Quang Đạm có bài Đập nát chủ nghĩa xét lại hiện đại phê phán tư tưởng hữu khuynh, vạch mặt những kẻ cơ hội lợi dụng danh nghĩa cách mạng để chống phá cách mạng.

Các tác phẩm báo chí xuất sắc của Quang Đạm về sau được tập hợp trong cuốn Một nghề đáng quý (Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2011), có độ dày non một ngàn trang, gồm trên 50 bài của tác giả và một số bài viết, cảm tưởng của người thân, bạn bè, đồng nghiệp về cuộc đời, sự nghiệp báo chí, đạo đức, nhân cách của ông. Ở đây có những dòng tâm tình xúc động qua các bài: Một cuộc đời làm báo; Con đường báo chí theo Trường Chinh. Lại có bài có tính chất tổng kết một giai đoạn báo chí nước ta như: Báo chí Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám; hay khẳng định một chặng đường phấn đấu của báo Nhân dân như bài Hai mươi năm phấn đấu vẻ vang và những bài học kinh nghiệm. Là một học giả uyên bác, ông có những bài viết sâu sắc về văn hóa như Về văn trong văn hóa; về lịch sử như: Lịch sử, sử học, sử ký; về ngôn ngữ như Một số suy nghĩ về cuốn "Từ điển tiếng Việt", Một vài suy nghĩ sau khi đọc cuốn "Chuẩn mực hóa và công thức hóa cấu trúc câu văn". Đáng chú ý nhất là bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là kinh nghiệm nghề nghiệp quý báu đúc rút một đời của một nhà báo lão thành. Ông còn có một loạt bài về tư tưởng, triết học mang tính khoa học cao như: Từ "Chiếu dời đô" đến "Tuyên ngôn độc lập"; Tư tưởng Nguyễn Trãi và tinh hoa Việt Nam; Chủ nghĩa xã hội không tưởng của "Thánh hiền" Nho giáo và Chủ nghĩa xã hội khoa học của người cộng sản Hồ Chí Minh.v.v…

Quang Đạm rất xứng đáng là tấm gương sáng cho các nhà báo và cả những người cầm bút nói chung, đúng như nhận định của nhà báo lão thành Hoàng Tùng (1920 - 2010), nguyên Tổng Biên tập báo Nhân dân, nguyên Bí thư BCH Trung ương Đảng: "Đọc Quang Đạm ai cũng thấy phong cách một người viết nghiêm túc từ chiều sâu nội dung, kết cấu, ngôn ngữ, chính tả, chấm câu, xuống dòng…Phải là một người có trình độ học vấn cao, ý thức trách nhiệm đầy đủ trước người đọc mới có thể làm được như vậy. Ngày nay mặt bằng trí thức của xã hội ta đã khác ngày xưa rất nhiều, song phong cách, ý thức trách nhiệm của người viết báo vẫn phải như Quang Đạm"(10).

Có thể xem Một nghề đáng quý là bản tổng kết cuộc đời một nhà báo tài năng say mê nghề nghiệp, có cái tâm trong sáng và tấm lòng tha thiết yêu mến quê hương đất nước.    

Những năm 80 Quang Đạm còn tham gia biên soạn từ điển. Ông là đồng tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ xuất bản báo chí Nga, Anh, Việt, (Nxb Khoa học Xã hội, 1982); dịch các tác phẩm kinh điển và nghiên cứu Nho giáo: viết cuốn Nho giáo xưa và nay. Trước khi tác phẩm này được xuất bản, bài Nho giáo và gia đình đã được đưa vào sách Nho giáo xưa và nay do Vũ Khiêu chủ biên (Nxb Khoa học Xã hội, H.1991) và được dư luận chú ý. Cũng năm 1991, Nxb Khoa học Xã hội xuất bản cuốn Đại học - Trung dung do Quang Đạm dịch.

Mãi đến năm 1994, Nxb. Văn hóa mới cho ra mắt bạn đọc tác phẩm Nho giáo xưa và nay của Quang Đạm. Năm 2001 sách lại được Nxb Văn hóa Thông tin tái bản. Cho đến nay, việc nghiên cứu Nho giáo, Nho học và ảnh hưởng của nó đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội nước ta vẫn đang là vấn đề thời sự. Có thể một số nhận định của tác giả về các mặt tiến bộ và lỗi thời của Nho giáo còn cần phải điều chỉnh, nhưng cách đặt vấn đề của ông là chuẩn xác. Đó là việc chỉ ra mặt hạn chế của Nho giáo không phải để "truy tố", "bắt đền" mà để nhìn rõ và loại trừ tận gốc một cách khách quan và khoa học những hậu quả cụ thể của nó trong hệ tư tưởng và trong cuộc sống; cũng như chỉ ra mặt tích cực không phải để "truy tặng" "khen thưởng" nó mà để giữ gìn và phát huy nhằm thúc đẩy sự nghiệp cách mạng tiến lên.

Nho giáo xưa và nay có những trang phân tích thấu đáo vai trò Nho giáo trong việc giáo dục con người nói chung và việc giáo dục con cái trong gia đình nói riêng, đặc biệt là bài Con người Nho giáo thuở trước và con người Việt Nam hiện nay. Tác giả còn có những kiến giải độc đáo và sâu sắc. Chẳng hạn, ông coi từ "nước" tương đương với từ "gia". "Gia" vốn chỉ tương đương với từ "nhà" trong tiếng Việt. Nhưng trong lịch sử Trung Hoa cổ đại đã từng tồn tại những nước nhỏ do các quan đại phu cai trị và được gọi là "gia". Nếu theo nghĩa này, khái niệm "nước"  và khái niệm "gia" gần như đồng nhất. Ngoài ra còn dùng từ ghép quốc gia để chỉ nước. Theo ông "Nhà là chỗ đứng vững chắc cần phải giữ vững trong mọi quan hệ giữa con người mình với đất nước và thiên hạ đó là một điểm rất cơ bản của hệ tư tưởng Nho giáo(11). Ý kiến này xác định rõ ràng chân lý của đạo Nho khi coi nhà là gốc của nước và thiên hạ. Hơn nữa, luận điểm "nhà là gốc của nước" thể hiện tính giai cấp rõ nét. Nho giáo không quan tâm tới mọi nhà, mọi gia đình trong nước, mà chỉ chú ý đến nhà của giai cấp thống trị (gia đình và gia tộc lớn: đại gia, thế gia)…

Quang Đạm còn là một bậc thầy được bao thế hệ sinh viên báo chí quý mến. Từ năm 1949 ông dạy môn ngôn ngữ báo chí cho lớp viết báo Huỳnh Thúc Kháng. Đầu những năm 1950 ông tiếp tục lên lớp tại trường Tuyên huấn Trung ương (nay là Phân viện Báo chí và Tuyên truyền). Tập bài giảng Quan điểm báo chí của ông là một trong số rất ít giáo trình, tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ báo chí đầu tiên ở nước ta. Ông còn được mời tới giảng bài và nói chuyện tại nhiều trung tâm khoa học lớn của miền Bắc và được Hoàng Tùng cùng nhiều nhà báo khác suy tôn là pho "từ điển sống".

4. Thay lời kết

Bình sinh Quang Đạm luôn sống giản dị, cần cù học tập và công tác, mặc dù một thời gian dài chịu oan trái, ông vẫn một lòng một dạ trung thành với Đảng, với Bác Hồ và đã đem hết sức mình cống hiến cho cách mạng. Có được thành tựu, ông thấm thía công ơn của Đảng, trước hết là sự dìu dắt của hai đồng chí Trường Chinh và Mười Hương. Ông cũng vô cùng biết ơn người bạn đời của mình: bà Nguyễn Thị Sâm. Đây là lời ông tâm sự với người con gái út, kỹ sư Tạ Thị Điền: "Nếu gọi là may mắn, thì may mắn nhất đời cậu là có được mợ con (các con ông gọi cha mẹ là cậu mợ - HSH chú)… Mợ con, người bạn đời chung thủy, người bạn tâm tình cùng chia sẻ vui buồn, chăm lo động viên cậu cả cuộc đời. Mợ con, người phụ nữ dịu hiền và có đặc điểm khác biệt mà ít người phụ nữ khác có được, là đức hi sinh, không toan tính một điều gì cho riêng mình, tất cả vì người khác, vì gia đình, vì chồng con, mợ con xứng đáng với lời khen của mọi người"(12). Người ta nói tử vi nhà báo Quang Đạm là "thân cư thê". Thật ra thì mọi người đàn ông ít nhiều thành đạt hầu như đều thân cư thê cả!

Chú thích

(1), (3). Theo Hàm Châu (2002): Tạ Quang Bửu - Người thầy công tâm và thông thái trong sách: Người trí thức quê hương, tập 1, Nxb Giáo dục, tr.10-12. Dương Kỳ Anh: Học giả, nhà báo Quang Đạm: "từ điển sống" Việt Nam. Văn nghệ Công an online 13-7-2015.

(2). Dương Kỳ Anh: Học giả, nhà báo Quang Đạm: "từ điển sống" Việt Nam. Tài liệu đã dẫn.

(4).Theo Hàm Châu, Dương Kỳ Anh (tài liệu đã dẫn) & Thủy Trường: Từ một "vụ án" đã sáng tỏ đăng trên Blog Pham Ton tuần 2/10/2012… Thừa Phái là viên chức giúp việc ở phủ, huyện; có 8 hạng: hạng nhất hàm chánh thất phẩm, hạng nhì tòng thất phẩm, giảm dần cho đến hạng sáu là tòng cửu phẩm, hạng 7, 8 chưa được phong hàm.

(5). Nhờ những đóng góp này mà tháng 6/2001 gia đình ông đã được vinh dự đón nhận Bằng chứng nhận  Giải thưởng Nhà nước về Khoa học & Công nghệ) (Theo Mõ Làng: tiengmolang,blogspot. Com/2009/04/quang-dam-nha-bao-hoc-gia.html; & Thủy Trường: Từ một "vụ án" đã sáng tỏ đăng trên Blog Pham Ton tuần 2/10/2012…).

6). daitudien.net/lích-su/lich-su-ve-quang-dam,html.

(7). Thủy Trường: Từ một "vụ án" đã sáng tỏ đăng trên Blog Pham Ton tuần 2/10/2012.

(8). Quang Đạm (2011): Một nghề đáng quý, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật,H. 2011, tr.164.

(9) (10). Quang Đạm (2011): Một nghề đáng quý, Sđd, tr.165, tr.809.

(11). Quang Đạm(1994): Nho giáo xưa và nay, Nxb Văn hóa, tr.166.

(12). Dẫn lại theo Dương Kỳ Anh: Học giả, nhà báo Quang Đạm: "từ điển sống" Việt Nam, Tài liệu đã dẫn.

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.