« Quay lại

Chuyên san Khoa học xã hội &nhân văn số 7 năm 2017

THÁNH CA TRUÔNG BỒN VÀ GIÁ TRỊ CỦA HI SINH

Lê Văn Tùng

 

"Nói đến chiến thắng mà chỉ bằng những lời long trọng và những tràng pháo hoa, thì chỉ làm nhỏ bé đi, hạ thấp đi giá trị của chiến thắng. Chiến thắng là vĩ đại, chính bởi vì con đường dẫn tới đó mỗi lúc lại phải đi qua một bi kịch của con người".

Tôi thật sự đồng cảm với cách nhìn của nhà văn Xvetlana  Alechxievich qua lời văn trên (nữ nhà văn người Nga đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Liên Xô - 1985) để cùng bạn, đọc tập truyện ký Thánh ca Truông Bồn của nhà văn Việt Nam - Trần Huy Quang (Nxb Phụ nữ - 2012).

Bằng cái nhìn nghệ thuật độc đáo của mình, nhà văn dẫn người đọc vào thế giới nhân vật từ một thời khắc đặc biệt: 6 giờ 10 phút ngày 31/10/1968. Sáng đầu đông "trời bàng bạc mây trắng" chắc mặt trời chưa kịp mọc. Nói một thời khắc mà thực ra chỉ trong vài giây đồng hồ khi loạt bom tọa độ đầu tiên trong ngày bất ngờ giáng xuống Truông Bồn từ máy bay Mỹ và 13 người con gái, con trai trẻ tuổi đã không còn bao giờ được nhìn thấy mặt trời mọc trên quê hương họ nữa.

Nhà văn Trần Huy Quang mở đầu cuốn truyện của mình bằng chính cái thời khắc đó. Năm con số và năm danh từ chỉ thời gian tưởng như đơn giản và vô hồn ấy in trọn trên cả trang nhất của cuốn truyện: "6 giờ 10 phút ngày 31 tháng 10 năm 1968". Cái mở đầu độc đáo này khó có thể thấy trong bất cứ cuốn truyện nào ta từng đọc. Không phải nhà văn muốn "lạ hoá" một kiểu mở truyện có tính hình thức đơn thuần, mà chính là vì trong cái nhìn nghệ thuật của anh thời khắc đó là điểm nhìn thời gian cực kỳ hệ trọng, nó sẽ mở ra toàn bộ góc nhìn của tác phẩm. Đó là thời khắc cuối cùng đánh dấu chung kết của 13 số phận con người, nhưng lại cũng là thời khắc đầu tiên mở ra những giá trị nhân văn bất tử, sinh thành mãi mãi trong tâm hồn và sự sống của đồng loại. Thời khắc đó trở thành điểm nhìn thời gian thiêng liêng với cái nhìn vừa đau thương vừa ngưỡng vọng của tác giả, nên cuốn truyện mới là Thánh ca - thánh ca về một huyền thoại.

Cuốn truyện ký này là một cuốn truyện ký tư liệu. Văn học tư liệu có sức mạnh riêng của nó. Đó là sức mạnh của tính chân thực thuần khiết. Nó thoả mãn nơi người đọc khát vọng về sự thật cuộc đời, về những giá trị không bị bịa đặt, không bị đánh bóng. Văn học tư liệu có thể tìm đến trong nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ký, hồi ký, nhật ký… Có những tác phẩm ghi lại tức thời tư liệu của hiện thực (như các truyện và ký viết trên đường ra trận thời chiến tranh, hoặc các cuốn nhật ký chiến tranh được tìm ra sau này như Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, Nhật ký Nguyễn Văn Thạc…). Có những tác phẩm nhiều năm sau, nhiều chục năm sau mới ghi lại tư liệu thời dĩ vãng qua ký ức của con người. Thánh ca Truông Bồn thuộc loại này.

Trong ký ức con người ta, nỗi khổ và niềm vui nhân loại của kiếp người vốn để lại dấu ấn rõ nét trên chân dung từng cá thể đương đại. Nhưng nỗi khổ, niềm đau thương của bi kịch thường ám ảnh lâu dài nhất, có khi là vĩnh cửu trong ký ức của con người. Thuật ngữ bi kịch dùng ở đây theo ý nghĩa của khoa Mỹ học, không theo nghĩa thông tục tuỳ tiện. Bi kịch hiểu ở đây là những mất mát, niềm bất hạnh, nỗi thống khổ và cái chết của những con người chiến đấu cho những lý tưởng văn hoá cao đẹp của dân tộc và nhân loại. Nỗi đau xót và niềm tiếc thương mà những bi kịch đó lưu lại trong ký ức con người không phải là những tình cảm rên xiết, bi lụy, bi thảm mà là những tình cảm tích cực, có ý nghĩa thanh lọc tâm hồn, làm sáng nhân cách và đề cao cái vinh dự làm Người trên mặt đất này. Ký ức về bi kịch theo nghĩa đó là loại ký ức văn hoá - một loại di sản văn hoá phi vật thể, mà trong cuộc sống xô bồ thực dụng hôm nay có khi người ta tàn nhẫn lãng quên. Ký ức chiến tranh vệ quốc là giá trị văn hoá phi vật thể quý giá đó. Nhà văn Trần Huy Quang với nhiều tháng ngày lặn lội, tìm gặp từng gia đình liệt sĩ, những người thân yêu ruột thịt, những bạn bè thời tuổi trẻ, đặc biệt là những bạn chiến đấu của các liệt sĩ may mắn đi qua chiến tranh còn được sống tới ngày hôm nay. Anh đã ghi lại trung thành ký ức của họ, những dòng ký ức như còn thấm đầy nước mắt của người kể. Thánh ca Truông Bồn vừa là hành trình ký ức của những người thân liệt sĩ, vừa là hành trình văn hoá của nhà văn trở về dĩ vãng 43 năm trước, vì chính anh lúc ấy cũng là người trong cuộc, bước chân vào chiến tranh là anh lính pháo binh rồi trở thành một trong những người chỉ huy TNXP trên các nẻo đường máu lửa của khu Bốn.

Những dòng ký ức văn hoá trong cuốn sách này là ký ức về sự thật của chiến tranh. Tôi không còn nhớ rõ người nào đã viết: Trong một cuộc chiến tranh, kẻ bị sát thương đầu tiên chính là SỰ THẬT. Quả vậy, văn học thời chiến chưa có điều kiện để viết được đầy đủ sự thật chiến tranh. Một phần lớn sự thật ấy còn bị khuất lấp theo thời gian, như những chiến hào, những hố bom bị đất đá và cây cỏ lấp đầy. Sự thật ấy được cất dấu trong ký ức thầm lặng của những con người "biết hy sinh nên chẳng nhiều lời". Công lao của nhà văn sau bao nhiêu thao thức thời hậu chiến là đã đem ký ức riêng của mỗi người kết nối lại và chia sẻ cùng cộng đồng để ký ức riêng trở thành ký ức cộng đồng, để cho một thời khắc sẽ trở thành mãi mãi.

Một trong những sự thật chiến tranh đọng sâu trong ký ức con người chính là những bi kịch của đồng đội, của người thân ngã xuống vì lý tưởng văn hoá của dân tộc và nhân dân. Văn học hậu chiến nói chung, truyện và tiểu thuyết của Trần Huy Quang nói riêng khai thác sâu vào hướng này cũng là hoàn toàn dễ hiểu: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Bến không chồng (Dương Hướng), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Chiếc lục lạc (Nguyễn Quang Lập),… Trần Huy Quang trước Thánh ca Truông Bồn đã có Những cô gái Đồng Lộc, Nước mắt đỏ,

Có một thời (những năm 60, 70 thế kỷ trước), ở ta xuất hiện một quan niệm ấu trĩ trong lý luận và nghiên cứu văn học: Rằng văn học chiến tranh cách mạng Việt Nam không có và cũng không chấp nhận cái bi kịch, rằng những ngày ra trận chỉ có thể là những "ngày vui" với "rộn rã bờ tre từng hồi trống giục" náo nức hùng tráng với những con "đường ra trận mùa này đẹp lắm". Đó cũng là sự thật chiến tranh, cái sự thật một nửa dễ nhận thấy. Cách nhìn hồn nhiên một chiều này chưa thể nhận ra được tận đáy chiều sâu lý tưởng văn hoá của dân tộc mình trong chiến tranh. Xin hãy nghĩ về những người phụ nữ ra trận. Bộ mặt gớm guốc và tàn bạo của chiến tranh không hề mang một sắc nét nào trên khuôn mặt phụ nữ. Chém giết không phải là thiên chức của phụ nữ. Thiên chức của phụ nữ là sản sinh, nuôi dưỡng và sáng tạo cuộc sống. Do đó, NHÂN TỪ mới là khuôn mặt đích thực, là phẩm chất đặc trưng, là định mệnh, là mục đích cuối cùng của cuộc đời người phụ nữ. Nhưng rồi đến họ cũng phải tham gia chiến tranh. Trong lịch sử dân tộc này, đã từng có những phụ nữ ra trận: Trưng Trắc, Trưng Nhị, Triệu Thị Trinh, Bùi Thị Xuân,… Hiển nhiên, đó là những trường hợp đặc biệt. Đến thời hiện đại, trong cuộc chiến tranh vệ quốc 30 năm (1946-1975) có thể kể đến hàng chục vạn người con gái Việt Nam đã ra trận làm đủ mọi công việc của chiến tranh và không biết bao nhiêu ngàn chị em đã ngã xuống, đã hy sinh cả tuổi trẻ, sắc đẹp, tình yêu và khát vọng thực hiện thiên chức của mình. Cuộc ra trận và hy sinh của những người phụ nữ là luận chứng thuyết phục nhất để hiểu chiều sâu lý tưởng văn hoá của dân tộc này khi đứng lên làm chiến tranh. Cúi xin linh hồn hai liệt sĩ Trần Văn Hạp và Cao Ngọc Hoà để được nói về sự hy sinh của 11 người phụ nữ ở Truông Bồn.

Trước khi bước vào chiến tranh, họ là những cô gái trẻ chưa ai học hết cấp hai, hầu hết chỉ 17 - 18 tuổi. Cô gái trẻ nhất cho đến thời khắc định mệnh 6 giờ 10 phút ấy mới chỉ có 17 tuổi 3 tháng 14 ngày, nghĩa là khi đi TNXP, bước vào toạ độ lửa Truông Bồn, em còn ở tuổi 16. Đó là liệt sĩ Nguyễn Thị Hoài. Họ đi vào chiến tranh hoàn toàn tự nguyện. Chưa đủ tuổi chăng? Nguyễn Thị Văn nói với cán bộ tuyển quân khi người này nhìn hồ sơ thấy Văn mới hơn 16 tuổi bảo em về đi học: "Em 17 tuổi, em tình nguyện xin đi đánh giặc chứ em có đi nghĩa vụ đâu mà bắt phải đủ 18". Giản dị vậy mà không có cái "lý" nào bắt bẻ được vì đó là lẽ sống không chỉ riêng em, các em mà là lẽ sống của cả một dân tộc khi kẻ thù buộc ta "đứng lên cầm khẩu súng". Một dân tộc canh tác lúa nước luôn khao khát sự yên lành để cày cấy và kiếm sống trên mảnh đất của mình. Hoà bình và nhân ái trong độc lập tự do là lý tưởng văn hoá của dân tộc ấy. Chiến tranh không phải là lẽ sống của người Việt ta, nhưng khi quân xâm lăng đã "dọc ngang trên bầu trời, bom và rocket đã nổ trên những cánh đồng ngô đang ra hoa", đã dội xuống những ngôi làng yên ả, cày xới mồ mả tổ tiên ta thì còn ai có thể ngồi yên được "Con trai ra trận vào chiến trường gần hết thì đến lượt con gái cũng ra trận". Đó là cuộc chiến tranh bắt buộc để cứu lấy giống nòi, để bảo tồn dân tộc. Nhà văn không thể không diễn tả cái hồn nhiên hồ hởi của những người con gái ra trận, lăn xả dưới một trời bom đạn, nhiều lần bị bom vùi dưới mặt đất tan nát như mặt đất thời hồng hoang tiền sử, rồi lần lượt bới đất đứng lên và cất tiếng cười giòn giã. Ngay cả đến cái chết họ cũng nghĩ đến nó một cách hồn nhiên. Cô Đang bảo đùa với bạn như một "di chúc" dí dỏm về việc chia tài sản "khi mô tau chết". Ở nơi cái chết và gian nguy vây bủa bốn bề mà niềm vui sống tuổi trẻ không bao giờ bị dập tắt ở họ. Tuy nhiên, đây là ký ức đau thương của người thân về họ, cho nên trong cuốn truyện này tiếng khóc và nước mắt xuất hiện nhiều hơn. Đó là tiếng khóc của mẹ trong đêm cuối cùng tiễn con gái ra trận, là tiếng khóc của người con gái xót thương cha mẹ già, là tiếng khóc của Phúc khóc thương bốn mẹ con chị chủ nhà bị bom tan nát hết. Nước mắt của người chị dâu Hoàng Thị Nhung khóc em chồng suốt hơn bốn mươi năm mỗi khi đến ngày giỗ "vẫn cứ khóc như hồi Nhung mới mất. Em tôi xương không, thịt không, em tôi không còn chút gì gọi là có. Cũng máu thịt xương da cha mẹ sinh ra mà em tôi tan nát không còn chút gì". Tiếng khóc của Võ, em trai chị Nguyễn Thị Văn đi bộ đội về, lặn lội lên Truông Bồn tìm mộ chị. Nhưng chị Văn của em có mộ riêng đâu. Cả 7 người chỉ còn một cánh tay và một ít da thịt chôn chung một mộ. Nhiều lắm, tiếng khóc và nước mắt thấm đẫm cả cuốn truyện.

Niềm tiếc thương trong sáng của người đọc càng trong sáng hơn khi ta đọc đến những trang truyện kể về 6 cô gái và 1 chàng trai đã hết nhiệm kỳ TNXP, đã có giấy báo đi học chuyên nghiệp hoặc về quê làm lễ cưới, đã làm xong thủ tục ra quân và tối qua đơn vị đã tổ chức liên hoan chia tay. Vậy mà sáng hôm đó, thay vì lên đường đến trường hoặc về quê thực hiện những dự định tương lai cho cá nhân mình thì họ lại tự nguyện ra trận, vì nghĩ rằng ngày mai bắt đầu ngưng bắn tạm thời, chắc chắn hôm nay quân thù sẽ đánh Truông Bồn khốc liệt nhất. Tình quyến luyến với đồng đội, ý thức phải góp phần cứu lấy Truông Bồn và những con đường ra tiền tuyến, họ đòi ra trận buổi cuối cùng cũng giản dị và hồn nhiên như cuộc đời của họ: "Làm một buổi cuối cùng thật đẹp, cho thật xứng đáng là buổi làm chia tay với đồng đội". Tự nguyện xung phong ra trận, nhưng là tự nguyện "đến đúng chỗ nguy hiểm nhất, nơi cửa tử, nơi hút bom" của Truông Bồn. Và tất cả họ đã ngã xuống, "thi hài họ như biến thành không khí, chỉ còn để lại nửa vành nón và một cánh tay. Chắc tất cả đã biến thành khói, thành gió, thành mây để bay mãi trong trời đất Truông Bồn".

Sự hy sinh của họ là sự hy sinh "hai lần anh hùng" - lời văn của tác giả chính là tiếng nói nội tâm của những người đồng đội may mắn còn sống trở lại Truông Bồn để "thương tiếc và ngưỡng mộ nhân cách làm người cao cả" của các em, các bạn. Họ cũng tha thiết gửi gắm lời "cầu mong những người đã qua chiến tranh hay chưa biết đến chiến tranh, dù sống ở đâu, thị thành hay thôn dã, hãy nghĩ về những nhân cách đang nằm lại dưới mảnh đất Truông Bồn này và cả khắp nơi trên đất nước này mà sống để cho những người ngã xuống không phải đau lòng".

 Mười ba chân dung liệt sĩ được tác giả thể hiện bằng một giọng văn trầm cảm, không cao trào rực rỡ, không chói lói ồn ào; có khi lại lắng xuống, lặng đi trong niềm thổn thức xé lòng của người kể và người viết. Trầm cảm cho nên âm ba của nó vọng sâu vào tâm thức của con người. Đó là giọng của thánh ca mà ta từng thành tâm kính ngưỡng mỗi khi vào nhà thờ, đền miếu trong những ngày lễ trọng. Mỗi chân dung - mỗi cái chết hy sinh, là một số phận riêng, có tiếng vọng riêng. Nhưng từ những mối giao liên của lịch sử và văn hoá, những tiếng vọng riêng đó cộng hưởng với nhau thành một tiếng vọng nhân loại diễn đạt cái lý do tồn tại vĩnh hằng của một dân tộc: Độc lập - Tự do. Tiếng vọng đó phát ra từ một "tình huống thế giới", để "bày tỏ cả một thế giới", để đánh thức lương tri của con người hãy cảnh giác với những cuộc chiến tranh chống lại loài người và dân tộc.

Cuộc chiến tranh ấy đã bị giết chết cách nay 42 năm. Và 43 năm, sau thời khắc cuối cùng của 13 liệt sĩ Truông Bồn, cuốn truyện ký Thánh ca Truông Bồn giúp tầm mắt của ta vượt khỏi những gì khuất lấp để ta trở về một thời máu lửa, cho ta có lại được một cái nhìn về sự thật của chiến tranh, cho tâm hồn ta được cảm động và thanh lọc trong bi kịch đau thương và anh dũng. Cái hữu hạn của những cuộc đời trẻ tuổi sau thời khắc định mệnh ấy nhường chỗ cho cái vô hạn cô đơn của những linh hồn không còn thân xác để đi về. Nhưng chính chúng ta - những người đang sống - lại được thụ hưởng cái giá trị vĩnh hằng từ sự xả thân anh dũng đó.

Thánh ca Truông Bồn, vì vậy, là những suy tưởng thiêng liêng, thành kính không phải với những cá thể siêu phàm vượt ngoài tầm quan sát của hiện thực nhân loại như các thánh nhân trong thần thoại, truyền kỳ, mà là với những cá thể nhân loại bình thường mang tính NGƯỜI thuần khiết và toàn vẹn. Do đó, ngày nay, ai từ chối tính người để ngày đêm vục lặn trong dòng sông danh lợi đầy bùn, máu và nước mắt thì không thể có cơ hội đọc hiểu được Thánh ca Truông Bồn.

NGHĨ VỀ NGÀY TRI ÂN THƯƠNG BINH LIỆT SĨ 27/7!

Nguyễn Văn Đổng

 

Những cuộc chiến tranh vệ quốc đã đi qua và sự yên bình của đất nước đã kéo dài hơn 40 năm nay, nhưng những đau thương mất mát mà các cuộc chiến tranh giữ nước để lại thì không gì bù đắp được. Bởi vậy mà, hàng năm, cứ đến dịp 27-7, nhân dân cả nước lại tưởng nhớ về những người lính đã không tiếc máu xương vì nền độc lập tự do của Tổ quốc!

Tinh thần xả thân vì nước của đồng bào ta vốn đã tỏa sáng ngay từ thời vua Hùng dựng nước, trải qua hàng nghìn năm đấu tranh giữ nước, từ thời Bà Trưng, Bà Triệu, thời Đinh, Lý, Trần, Lê,… tinh thần ấy luôn được phát huy mạnh mẽ qua những cuộc đấu tranh bảo vệ bờ cõi trước giặc xâm lược phương Bắc. Những cuộc khởi nghĩa đánh tan hàng chục vạn quân giặc xâm lược ỷ đông hiếp yếu, làm cho chúng hoảng sợ tháo chạy về nước rồi mà vẫn còn "tim đập chân run", như trong "Bình Ngô đại cáo" đã từng tổng kết. Hay như đoàn quân của vua Quang Trung thần tốc và bách chiến bách thắng, đánh cho quân xâm lược nhà Thanh "không còn mảnh giáp" che thân; bại trận, bỏ chạy ngay từ khi chưa kịp hiểu vì sao, chỉ có thể khiếp đảm mà thốt lên rằng "tướng thì như trên trời rơi xuống, quân thì như từ dưới đất chui lên". Rồi các nghĩa sĩ Cần Giuộc, tuy không giành thắng lợi trước quân đội viễn chinh Pháp, nhưng vẫn làm cho  "mã tà, ma ní hồn kinh",… 

Còn sức mạnh của những người lính trong thời đại Hồ Chí Minh là sự kết hợp giữa sức mạnh truyền thống và lý tưởng của thời đại. Họ chính là hiện thân của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại mới; là một trong những hình tượng đẹp nhất của lịch sử dân tộc. Trong cuộc chiến đấu vệ quốc này, nhiều chiến sĩ, đồng bào ta đã bị thương, nhiều người vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường. Rồi đã thành truyền thống, nhân dân ta đã dành tình yêu thương của mình chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sĩ, bệnh binh một cách tận tình, chu đáo hàng chục năm nay. Ngày 27/7 là dịp nhân dân Việt Nam hướng về những liệt sĩ đã khuất, biết ơn và trân trọng những thương binh anh dũng trong chiến đấu, cần cù sáng tạo trong cuộc sống hôm nay. Đây cũng là dịp để chúng ta nhớ về những trang sử hào hùng của cha ông, ghi ơn và tự nhắc nhở mình "Hãy sống sao cho xứng với những người đã khuất!".

Nhân dịp toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang thiết thực kỷ niệm 70 năm Ngày thương binh liệt sĩ, xin được nhắc lại để mọi người cùng nhớ về sự ra đời của Ngày thương binh liệt sĩ 27/7: Tháng 6 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ chọn một ngày trong năm làm Ngày thương binh để đồng bào cả nước có dịp tỏ lòng hiếu nghĩa và yêu mến thương binh. Đầu tháng 7, Ban vận động tổ chức Ngày thương binh được thành lập, xác định mục đích yêu cầu và lựa chọn thời gian. Cuối cùng, ngày 27/7 được lựa chọn vì có nhiều con số 7, tương đối dễ nhớ. Vào 6 giờ chiều ngày 27/7/1947, tại xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên), lễ mít tinh công bố Ngày thương binh toàn quốc đã diễn ra. Tham gia mít tinh có đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Tổng Hội Phụ nữ cứu quốc, Cục Chính trị quân đội quốc gia Việt Nam (nay là Tổng cục Chính trị, Quân đội nhân dân Việt Nam), Nha thông tin tuyên truyền cùng đông đảo nhân dân huyện Đại Từ. Sau khi xem xét, hội nghị đã nhất trí lấy ngày 27/7 làm Ngày thương binh toàn quốc, đó là dịp để đồng bào "tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh". Kể từ đó, ngày 27/7 được xem là Ngày thương binh toàn quốc. Từ năm 1955 đến nay "Ngày thương binh toàn quốc" được đổi thành "Ngày thương binh liệt sĩ" và tên gọi đó được trân trọng lưu giữ cho đến ngày nay, trở thành ngày ghi nhớ công ơn của cả dân tộc!

Sau 30/4/1975, đất nước hòa bình thống nhất, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân cùng đồng lòng, gắng sức hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng và phát triển đất nước. Nhưng chúng ta cũng đã phải mất hơn mười năm để lựa chọn và quyết định đúng con đường để vận hành nền kinh tế xã hội, đảm bảo quốc kế dân sinh, đưa dân tộc và đất nước tiến lên giàu mạnh, dân chủ,... Ngày nay, sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta không những chỉ vượt qua nghèo nàn, lạc hậu mà còn đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, nhân dân ngày càng giàu mạnh, đất nước ngày càng có vị thế vững vàng trên trường quốc tế.

Tuy vậy, nỗi đau chiến tranh vẫn còn đó, rất nhiều những người thương binh vẫn nhức nhối cơn đau mỗi khi trái gió trở trời, rất nhiều những vong hồn liệt sĩ vẫn bơ vơ nơi núi rừng hiu quạnh hay lạnh cóng dưới những lòng sông, lòng hồ và rất nhiều những mẹ già đến hôm nay rồi vẫn mòn mỏi ngóng tin con! Chúng ta không được phép quên, mà ngược lại, đất nước ngày càng giàu mạnh thì Đảng, Nhà nước và mỗi người dân càng phải trân trọng, giữ gìn những thành quả cách mạng, trân trọng giữ gìn và tri ân các thế hệ cha anh đã không tiếc máu xương, xả thân vì nước!

Tiếp tục tìm kiếm, cất bốc hài cốt liệt sĩ, tôn tạo, sửa sang, hương khói các nghĩa trang liệt sĩ; chăm lo, đãi ngộ xứng đáng cho thương binh và thân nhân liệt sĩ! Đó chính là đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" đã được hun đúc trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc ta từ thời mở cõi, qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước!

Bằng hết tâm sức, mỗi người dân Việt hãy chung lòng cùng Đảng, Nhà nước, góp phần dựng xây đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, tươi đẹp hơn như Bác Hồ kính yêu hằng mong mỏi và lớp lớp cha anh đã chiến đấu, hy sinh vì giống nòi dân tộc! Chúng tôi tin rằng, mỗi thương binh đều luôn khắc ghi lời Bác, "tàn nhưng không phế", luôn là tấm gương sáng, giáo dục thế hệ đi sau gắng sức học tập, công tác và mỗi anh linh liệt sĩ vẫn dõi theo và phù giúp cho tiền đồ dân tộc.

Tháng 6 vừa qua, chúng tôi có dịp hành hương về nguồn, viếng Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, Nghĩa trang liệt sĩ Đường 9 và thăm viếng Di tích thành cổ Quảng Trị; nghe giọng nói thiết tha, truyền cảm của thuyết minh viên giữa tiếng nhạc trầm hùng, lay động tâm can của "Hồn tử sĩ"; trong lảng vảng khói hương giữa núi non trùng điệp và miên man sóng nước trên dòng sông Thạch Hãn, chúng tôi dường như thấy được hương hồn các anh hùng liệt sĩ vẫn đang cùng giữ yên bờ cõi, như "Lời người bên sông" vẫn vang vọng thiết tha...

Không chỉ thế, được nghe lại câu chuyện của Liệt sĩ Lê Văn Huỳnh(1) - một người chiến sĩ biết trước ba tháng về ngày mình sẽ hy sinh và chỉ đường cho người vợ tìm đúng nơi mình nằm sau 30 năm - chúng tôi còn tin rằng, anh linh của các anh không chỉ "vỗ yên bờ…" mà sẽ còn có thể giám sát, cảnh tỉnh những kẻ lầm đường lạc lối, hay những phần tử thoái hóa, biến chất, hại nước hại dân, làm chậm bước tiến của đất nước, của dân tộc Việt Nam anh hùng!

                                                                                 

Chú thích

(1). Lá thư cuối cùng của anh Lê Văn Huỳnh viết cho bố mẹ và vợ được gửi từ ngày 11/9/1972, trong đó anh dự cảm rõ mình sẽ hy sinh vào 02/01/1973 khi đang đưa hàng vượt sông Thạch Hãn, trong thư anh chỉ rõ cho vợ anh, chị Đặng Thị Xơ, về vị trí mộ anh và câu chuyện diễn ra đúng như vậy. Dù mãi đến năm 2002 vợ anh mới có điều kiện đi tìm mộ anh theo di thư của anh để lại.

 

MINH TRIẾT HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN GIÁO

Lê Hoàn

Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội ra đời và phát triển hàng ngàn năm nay, quá trình tồn tại và phát triển của tôn giáo ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của nhiều quốc gia. Những năm gần đây, tôn giáo đang phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia và đang đặt ra nhiều vấn đề cần được lý giải trên cơ sở khoa học. Vì vậy, tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là cơ sở để nâng cao nhận thức, cách giải quyết các vấn đề tôn giáo hiện nay, đặc biệt là vô hiệu âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch.

Từ thời cổ, Việt Nam  đã có các hình thức thực hành tôn giáo. Các trang trí trên trống đồng Đông Sơn đã phản ánh nghi lễ tôn giáo thời ấy.

Ảnh hưởng sâu sắc và chịu sự chi phối của địa chính trị nên lịch sử hình thành, phát triển của tôn giáo Việt Nam gắn liền với nền văn minh Trung Hoa, Ấn Độ, gắn liền với các cuộc chiến tranh xâm lược của các thế lực ngoại bang. Tuy phát sinh, du nhập, phát triển bằng nhiều con đường khác nhau, vào những thời điểm lịch sử khác nhau nhưng cộng sinh trong môi trường văn hóa Việt - một môi trường có tính cố kết cộng đồng cao, nhân ái, khoan dung nên các tôn giáo ở Việt Nam đều có tính hòa đồng, đan xen, tiếp biến, không kỳ thị, tranh chấp, xung đột lớn. Các làng, bản, xóm, ấp, khu phố, cư dân của nhiều tôn giáo cùng chung sống hòa thuận theo đạo lý tình làng, nghĩa nước, dòng họ và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.

Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, Việt Nam hiện nay có 95% số dân có thực hành tôn giáo. Riêng tôn giáo có 40 tổ chức đã được nhà nước công nhận, cấp phép hoạt động với khoảng gần 30 triệu tín đồ, 83.069 chức sắc, 250.940 chức việc, 46 cơ sở đào tạo chức, 25.847 cơ sở thờ tự(1).

Tôn giáo ở Việt Nam được xếp vào cấp độ tâm lý tôn giáo. Gia nhập chủ yếu do lan truyền, vận động, lôi kéo, dụ dỗ. Ý thức tôn giáo, trình độ giáo lý, giáo luật của nhiều tín đồ còn hạn chế, chịu sự chi phối (ít, nhiều) của tín ngưỡng truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn thờ các linh nhân Việt Nam là những bậc khai quốc (vua Hùng, mẫu Âu Cơ), các anh hùng có công với nước bên cạnh các linh nhân ngoại như chúa Giê su, Phật Thích Ca, Quan Thế Âm Bồ Tát… các tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam có hiện tượng đan xen, vay, mượn nghi lễ của nhau. Đạo Tổ tiên vừa cúng khấn như Đạo Lão vừa chọn ngày mồng một, ngày rằm thực hành nghi lễ cúng bái như đạo Phật. Trên bàn thờ của đạo Cao Đài thờ Khổng Tử, Lão Tử, Đức Phật, Chúa Giê su, Khương Tử Nha. Người Công giáo cũng thắp hương khấn vái trước linh cữu người đã mất, lấy giấy ghi điều khấn nguyện trước bàn thờ đức Mẹ rồi đốt đi như tục cúng tổ tiên. Tâm lý người Việt Nam cũng chi phối cả niềm tin tôn giáo, trong đạo Công giáo. Ở phương Tây chỉ thờ Chúa nhưng ở Việt Nam thờ cả Đức Mẹ Ma-ri-a. Phật giáo bên cạnh thờ Phật tổ là Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát.

Chưa bao giờ bức tranh tôn giáo lại đa dạng, nhiều sắc màu, pha trộn ánh sáng và bóng tối như hiện nay. Số lượng tôn giáo, tín đồ tăng nhanh đặc biệt là sau hội nhập, mở cửa nhiều tôn giáo mới đã tiến đến Việt Nam. Thành phần xã hội gia nhập các tôn giáo cũng có nhiều biến động, tỷ lệ tri thức, học sinh, sinh viên, viên chức gia tăng. Quy mô phát triển làm cho các cơ sở thờ tự được làm mới, tu sửa quy mô ngày càng to hơn, sắc màu sặc sỡ nhưng tính mỹ thuật và bản sắc văn hóa Việt mất dần. Sự phát triển nhanh các cơ sở tôn giáo ở các địa phận miền núi, biên giới, khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nghệ An, Tây Nam bộ đang đặt ra nhiều vấn đề phát sinh về trật tự, an ninh chính trị, an toàn xã hội.

Thực tế phát triển của các tôn giáo với nhiều khuynh hướng, xu thế khác nhau trong những năm gần đây cho thấy: Tôn giáo không mất đi như nhiều dự báo khoa học của thế kỷ trước mà trái lại phát triển với tốc độ nhanh, diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều biến động, khó lường.

Vì thế, tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là một điều rất cần thiết hiện nay, góp phần nâng cao nhận thức, quan điểm, cách giải quyết các vấn đề về tôn giáo đặc biệt là vô hiệu sự lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Trong phiên họp Chính phủ đầu tiên (3/9/1945), giữa bộn bề thù trong, giặc ngoài, nạn đói hoành hành, hàng trăm công việc khẩn trương cần kíp đang đặt lên vai cho Chính phủ mới, Bác Hồ vẫn đề nghị thông qua tuyên bố: "Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết"(2). Tuyên bố này của Chính phủ đã tạo điều kiện pháp lý để bà con có tôn giáo yên tâm hành đạo, là cơ sở để bà con vững tin vào tương lai, tiền đồ của tôn giáo mình trong chế độ mới. Vượt lên một chính sách cụ thể để đoàn kết toàn dân phụng sự kháng chiến, đây còn là sự thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về nhân quyền. Lý giải về vấn đề này Người đã nói: Trước khi theo một tôn giáo nào thì họ đã là người Việt Nam, chung cội nguồn, chung số phận và đều có lòng yêu nước nồng nàn. Lòng yêu nước nồng nàn là sợi chỉ đỏ gắn kết mọi người có đạo hay không có đạo thân ái, đoàn kết để làm tròn nghĩa vụ công dân, nghĩa vụ người có đạo.

Ai cũng biết Chủ tịch Hồ Chí Minh là người cộng sản và chính Người đã nhiều lần nói rõ thế giới quan duy vật của mình: "Tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật", "Chủ nghĩa duy linh và chủ nghĩa duy vật là trái ngược nhau"(3). Thế nhưng khác với nhiều người Mác-xít trên thế giới, Hồ Chí Minh không khai thác những điều khác biệt trong thế giới quan giữa chủ nghĩa duy vật và tôn giáo mà Người tìm ra giá trị nhân văn cốt lõi nhất nơi các tôn giáo, đó là lòng yêu nước để cổ vũ, khích lệ đồng bào các tôn giáo nêu cao, phát huy giá trị thiêng liêng chung nhất đó để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phụng sự kháng chiến, kiến quốc...

Chủ trương lớn này của Người được Người tiếp tục cụ thể hóa thành sắc lệnh, nghị định để các tôn giáo có cơ sở pháp lý bảo vệ việc hành đạo chính đáng của mình. Ngày 28/1/1945, Người ký Sắc lệnh: "Bảo toàn tất cả các cổ tích Việt Nam, cấm phá hủy các đền thờ, miếu mạo, các cổ vật có ích cho đất nước"(4). Nhờ Sắc lệnh này mà các cơ sở thờ tự của các tôn giáo không những không bị phá hủy mà còn được tôn tạo thêm. Nô-en đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bác hân hoan gửi thư cho đồng bào công giáo: "Đồng bào công giáo ta làm lễ Nô-en một cách vui sướng trong nước Việt Nam độc lập, tự do…", "Cách đây 1945 năm trước, một vị thánh nhân Đức chúa Giê su đã ra đời. Suốt đời Ngài chỉ hy sinh phấn đấu cho tự do, dân chủ. Từ ngày Ngài giáng sinh đến nay đã gần 2000 năm nhưng tinh thần nhân ái của Ngài chẳng những không phai nhạt mà tỏa ra khắp, thấm sâu vào. Nếu Đức Chúa sinh vào thời đại chúng ta và đặt mình vào nỗi đau khổ của người đương thời chắc Ngài sẽ là một người XHCN đi tìm đường cứu khổ cho loài người"(5).

Với tầm cao minh triết của một nhà tư tưởng thời đại, Hồ Chí Minh là người đầu tiên phát hiện ra sự tương đồng văn hóa, tiếp nhận đầy đủ giá trị thiện, mỹ, cốt lõi nhân văn của các tôn giáo để các tôn giáo đoàn kết chặt chẽ cùng nhau. Người còn tìm ra sự tương đồng, tương thích giữa các tôn giáo với chủ nghĩa Mác để tôn giáo hòa hợp trong điều kiện mới của lịch sử. Người viết: "Chúa Giê su dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa. Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Giê su có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giê su, Các Mác, Phật Thích Ca, Tôn Dật Tiên chẳng những có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên cõi đời này, nếu họ hợp lại một chỗ tôi tin rằng họ sẽ sống với nhau hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy…"(6).

Từ việc tìm ra mẫu số chung cho người Việt Nam có tôn giáo hay không tôn giáo là lòng yêu nước, từ việc tìm ra nét tương đồng văn hóa, nhân văn giữa các tôn giáo với nhau, giữa các tôn giáo với chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh đã kêu gọi xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, kêu gọi đồng bào có tôn giáo hăng hái phụng sự kháng chiến, kiến quốc. Người luôn đặt niềm tin vào đồng bào các tôn giáo. Bầu cử Quốc hội khóa I, Người kêu gọi: "Không kể tôn giáo, giàu, nghèo, nòi giống, giai cấp, đảng phái miễn là người có tài, có đức đều có quyền ra ứng cử để gánh vác việc nước nhà". Lời nói đi đôi với việc làm, Người tiến cử Linh mục Phạm Bá Trực ra ứng cử và giới thiệu ông làm Phó Chủ tịch Quốc hội. Người viết thư mời Linh mục Lê Hữu Từ (giáo xứ Phát Diệm) ra làm Cố vấn tôn giáo cho Chính phủ và kết tình bằng hữu thân mến với Linh mục. Ngày Linh mục Phạm Bá Trực qua đời, Người gửi điện chia buồn ghi nhận những việc làm vì nước vì dân kết hợp hài hòa giữa lòng bác ái của Chúa trời với truyền thống yêu nước của tổ tiên Linh mục "Linh mục là một nhà tận tụy yêu nước đã kết hợp đạo đức, bác ái theo lời Chúa dạy với tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc"(7). Chỉ đạo biên soạn Hiến pháp đầu tiên của nước nhà 1946, Hồ Chủ tịch nhắc nhở luật sư Phan Anh: "Công dân Việt Nam có quyền tự do, tín ngưỡng. Phải được đưa vào Hiến pháp. Đó là quyền của con người"(8) và bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước đã khẳng định điều đó. Đây là một sự "Pháp luật hóa bảo hộ tôn giáo, điều mà ban đầu đồng bào có đạo không tin rằng sẽ có ở một quốc gia cộng sản"(9).

Thực hiện Hiến pháp lần thứ nhất của Nhà nước, ngày 12/8/1946, Bác Hồ ký Sắc lệnh đồng ý việc thành lập Liên đoàn công giáo Việt Nam(10). Người còn trực tiếp giúp đỡ xây dựng trụ sở tại Nhà thờ lớn Hà Nội để tổ chức của bà con công giáo sớm đi vào hoạt động.

Có luật pháp chưa đủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ khi tiếp xúc với đồng bào các tôn giáo, nhất là những người làm tôn giáo vận phải thật sự tôn trọng tín ngưỡng của nhân dân. Và điều này còn được ghi rõ trong Mệnh lệnh của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành ngày 9/9/1952: "Chính quyền, quân đội, đoàn thể phải tôn trọng tự do tín ngưỡng, phong tục tập quán của đồng bào"(11). Tinh thần của Mệnh lệnh này cũng nói lên quan điểm: công tác tôn giáo là nhiệm vụ của mọi người, của hệ thống chính trị. Vì vậy ở nhiều hội nghị, tập huấn cán bộ quân dân, chính đảng, mặt trận… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến nhiệm vụ tôn giáo vận là một việc làm thường xuyên liên tục, tránh thái độ định kiến hẹp hòi. Người xem việc định kiến hẹp hòi là kẻ thù rất đáng sợ "Nó phá hoại từ bên trong phá ra". Người viết: "Tư tưởng hẹp hòi thì hành động cũng hẹp hòi; tư tưởng hẹp hòi thì nhiều thù, ít bạn (như vận động tôn giáo)", Người phê phán quan điểm sai lầm định kiến cho rằng "đồng bào công giáo là lạc hậu, là khó vận động"(12). Người nhắc nhở cả những điều cụ thể như cán bộ khi vào nhà những người có đạo không được nằm trước bàn thờ, khi nói chuyện, tuyên truyền chính sách phải thật thận trọng, ý tứ. Người không đồng tình với việc nhiều cán bộ chỉ lo vận động bà con có tôn giáo tham gia kháng chiến còn việc "đẹp đạo" thì cứ thản nhiên mặc dân tự lo. Người cho rằng đây là một việc làm thiếu biện chứng bởi có "tốt đời" mới "đẹp đạo" và ngược lại. Đi đến đâu Người cũng sâu sát tìm ra những điển hình để khen ngợi. Về thăm Thanh Hóa (1957), Người biểu dương khen thưởng đồng chí Lý An không chỉ khéo vận động bà con mà còn biết giúp bà con trang trí nô-en đẹp hơn. Nói chuyện với cán bộ tỉnh Nam Định, Người biểu dương chị Nguyễn Thị Kim "đi sát đồng bào có đạo, hiểu rõ tâm trạng của quần chúng, giúp đỡ quần chúng giải đáp những thắc mắc". Hiến pháp nhà nước tuyên bố mọi người bình đẳng trước pháp luật nhưng thực tế khi giải quyết những vấn đề cụ thể của tôn giáo Người lại rất uyển chuyển. Vụ làng Vân Hải (Phát Diệm) giáo dân gây rối, Người gửi thư cho Đức cha Lê Hữu Từ: "... Tôi tin rằng Đức cha lấy tự cảnh công dân, Cố vấn tối cao của Chính phủ, bạn thân của tôi mà giải thích cho nhân dân hiểu rõ chính sách của chúng ta, khuyên giải bà con, vận động bà con tham gia kháng chiến…". Giải quyết vụ việc êm đẹp, Người còn cử cụ Vũ Đình Huỳnh vào tận nơi vấn an bà con và nói rõ: "Đó là do lòng khoan hồng của Chính phủ và sự tận tâm của cha Từ"(13).

Những vụ lộn xộn ở các địa bàn có tôn giáo được Người chỉ rõ nguyên nhân: "Một đằng có những người công giáo nhẹ dạ, cả tin. Đằng khác có những cán bộ cấp thấp của Chính phủ thiếu tế nhị rồi những kẻ gây rối lợi dụng hai yếu tố trên nhằm tạo ra bầu không khí căng thẳng". Người chỉ rõ cách khắc phục: "Một đằng chúng ta phải giải thích cho đồng bào công giáo hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ như Đức cha đã làm. Đằng khác cần giáo dục cán bộ của Chính phủ như bản thân tôi đang làm. Như thế thì bọn gây rối không thể chia rẽ chúng ta và sự đoàn kết toàn dân sẽ được thực hiện"(14).

Làm tôn giáo vận theo Hồ Chí Minh là phát động đồng bào có đạo nhưng phát động phong trào thì phải nghiên cứu kỹ càng để phù hợp với giáo lý, giáo luật của tôn giáo, có thế thì phong trào mới sâu rộng. Những phong trào "Diệt giặc đói, diệt giặc dốt", "Mùa đông binh sỹ…" mà Người trực tiếp phát động đúng với giáo lý "thương người như thể thương thân" của công giáo, "lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha" của Phật giáo nên được các tín đồ hưởng ứng nhiệt thành.

Người nhắc nhở những người đi làm tôn giáo vận phải luôn luôn am hiểu giáo lý, giáo luật để khi tiếp xúc với đồng bào mới nói được ngôn ngữ tôn giáo của họ. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương về điều này. Minh triết của Hồ Chí Minh về hành xử tôn giáo giản dị mà rất thiêng liêng vì nó phù hợp với văn hóa tôn giáo: Với Phật giáo: "Đạo pháp - dân tộc - XHCN", với Công giáo: "Sống phúc âm trong lòng dân tộc", với đạo Cao Đài: "Chấn hưng nền đạo gắn bó với dân tộc", với tôn giáo nói chung: "Tốt đời, đẹp đạo"… Người đã đi xa nhưng những lời Người đã trở thành tôn chỉ, mục đích hành đạo cho bà con có đạo theo đúng tin thần của giáo lý, giáo luật và pháp luật của Nhà nước.

Làm công tác tôn giáo là luôn phải quan tâm đến mọi sự kiện liên quan đến đồng bào các tôn giáo. Ngay từ ngày đầu thành lập nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến với đồng bào có đạo, Người chia vui với linh mục Nguyễn Duy Lộc khi ông ra vùng giải phóng tham gia kháng chiến (1946), chia buồn sâu sắc với các giáo mục, giáo dân ở Vinh bị thương do chiến tranh (1968), các bài điếu linh mục Phạm Bá Trực (1954) hay thư gửi bác sĩ Vũ Đình Trung có con hy sinh (1947) là những áng văn xúc động thấm đượm tình người. Người luôn quan tâm đến mọi nhu cầu vật chất, tinh thần, văn  hóa tâm linh của bà con có đạo, khen thưởng, biểu dương kịp thời những giáo sỹ, tín đồ có thành tích xuất sắc. Người chia sẻ những hoạn nạn gian nan của những bà con gặp phải.

Và Người cũng hết sức nghiêm khắc với những ai lợi dụng tôn giáo để phá hoại sự nghiệp cách mạng. Người chỉ đạo xây dựng và ký Sắc lệnh 234 (14/6/1955), trong đó nêu rõ: "Pháp luật sẽ trừng trị kẻ nào mượn danh tôn giáo để phá hoại hòa bình thống nhất, độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm tự do tín ngưỡng của người khác hoặc làm trái pháp luật"(15).

Minh triết Hồ Chí Minh về tôn giáo là những chỉ dẫn tuyệt vời mà ngày nay chúng ta đang phải tiếp tục học tập và làm theo. Người là một tấm gương mẫu mực của một cán bộ làm công tác tôn giáo, lôi cuốn được đồng bào các tôn giáo đồng hành cùng dân tộc bằng đường lối đúng đắn, bằng những hiểu biết sâu rộng giáo lý, giáo luật của mình.

 

    Chú thích

 (1). Các số liệu về Tôn giáo trong phần này lần theo trang thông tin điện tử "Ban Tôn giáo Chính phủ".

(2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14), (15). Hồ Chí Minh và tôn giáo. NXB Sự thật,  H-2008.

Tài liệu tham khảo

1. Tôn giáo đương đại, NXB TP HCM, 2001.

2. Tôn giáo ở Việt Nam, NXB CTQG H . 2004.

3. Tạp chí Cộng sản số 1/2017.

 

CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 4

Tòa soạn

 

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã trở thành từ khóa được lặp đi lặp lại trên các phương tiện thông tin đại chúng và cả trên diễn đàn một số hội thảo, hội nghị lớn trong toàn quốc. Để hiểu thêm về quá trình hình thành, khái niệm và những tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đối với các nước trên thế giới; Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn lược thuật từ một số các tài liệu chính thống giới thiệu để bạn đọc theo dõi.

Bối cảnh ra đời

Trong bộ Tư bản, C.Mác đã nhận xét "Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào với những tư liệu lao động nào"(1). Đó chính là những đặc trưng phản ánh sự khác biệt giữa các cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) mà lịch sử nhân loại đã trải qua.

Trong quá trình tiến hóa, nhân loại đã diễn ra nhiều cuộc CMCN với sự xuất hiện các công nghệ mới và phương pháp nhận thực thế giới dẫn đến sự thay đổi sâu sắc trong các hệ thống kinh tế và cấu trúc xã hội.

Cuộc CMCN lần thứ Nhất diễn ra từ khoảng năm 1760 đến 1840 với việc xây dựng các tuyến đường sắt. Đặc biệt năm 1769 James Watt tìm ra nguyên tắc của máy hơi nước, đến năm 1784 áp dụng vào công xưởng một cách hoàn thiện mở ra thời kỳ sản xuất cơ khí. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Nhất đã bùng nổ ở Anh sau đó sang các nước châu Âu, đến tận Hoa kỳ đánh dấu "Lao động bằng máy móc đã thắng lao động chân tay(2) bởi: máy hơi nước, vật liệu, năng lượng mới, máy dệt, tàu hỏa, tàu thủy, chạy bằng hơi nước.

Cuộc CMCN lần thứ 2 bắt đầu khoảng năm 1870 đến Chiến tranh thế giới lần thứ Nhất (1914 - 1918) với sự xuất hiện của ngành điện, hóa học, sản xuất ô tô, điện thoại, bóng điện, sóng điện từ… Đặc trưng của cuộc CMCN lần thứ 2 là chuyển sang nền sản xuất mới trên cơ sở điện, cơ khí và sang giai đoạn tự động hóa cục bộ trong sản xuất. Đặc biệt là biến khoa học thành một ngành lao động đặc biệt.

Cuộc CMCN lần thứ 3 xuất hiện vào những năm 60 của thế kỷ XX với sự ra đời và lan tỏa của công nghệ thông tin (CNTT), sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất.

Cuộc CMCN lần thứ 3 được gọi là cuộc cách mạng máy tính hay cách mạng số. Sự khác biệt của cuộc CMCN lần thứ 3 với hai cuộc CMCN trước là sự thay thế phần lớn và hầu hết chức năng lao động con người bằng các thiết bị máy móc và tự động hóa trong quá trình sản xuất.

Cuộc CMCN lần thứ 4 đang được hình thành trên nền tảng của CMCN lần thứ 3, đó là cuộc cách mạng số, đã bắt đầu xuất hiện từ giữa thế kỷ trước. Cuộc cách mạng này có đặc trưng là sự kết hợp các công nghệ giúp xóa nhòa ranh giới giữa các lĩnh vực, số hóa và sinh học.

Chúng ta đang ở giai đoạn đầu của cuộc CMCN lần thứ 4, được xây dựng dựa trên cuộc cách mạng số, đặc trưng bởi Internet ngày càng  phổ biến, bởi các cảm biến nhỏ và mạnh hơn với giá thành rẻ hơn, bởi trí tuệ nhân tạo. Các công nghệ số với phần cứng máy tính, phần mềm và hệ thống mạng đang trở nên ngày càng phức tạp hơn, được tích hợp nhiều hơn và vì vậy đang làm biến đổi xã hội và nền kinh tế toàn cầu.

Cuộc CMCN lần thứ 4 không chỉ là về các máy móc hệ thống thông minh và được kết nối, mà còn có phạm vi rộng lớn hơn nhiều. Đồng thời là các làn sóng của những đột phá xa hơn trong các lĩnh vực khác nhau từ mã hóa chuỗi gen cho tới công nghệ nano, từ các năng lượng tái tạo tới tính toán lượng tử. Cuộc CMCN lần thứ 4 là sự dung hợp của các công nghệ này và sự tương tác của chúng trên các lĩnh vực vật lý, số và sinh học, làm cho cuộc CMCN lần thứ 4 về cơ bản khác với  các cuộc cách mạng trước đó.

Khái niệm về CMCN lần thứ 4 - công nghiệp 4.0

Ngày 20/1/2016 diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) lần thứ 46 đã chính thức khai mạc tại thành phố Davos Klosters của Thụy Sỹ với chủ đề "Cuộc CMCN lần thứ 4" thu hút sự tham dự của 40 nguyên thủ quốc gia và hơn 2.500 quan khách từ hơn 100 quốc gia. Khái niệm cuộc CMCN lần thứ 4 hay công nghiệp 4.0 đã được làm rõ tại diễn đàn này.

Theo GS. Klaus Schwab, Chủ tịch diễn đàn kinh tế Thế giới thì cuộc CMCN  lần thứ 4 là một thuật ngữ bao gồm một loạt các công nghệ tự động hóa hiện đại trao đổi dữ liệu và chế tạo. Cuộc CMCN lần thứ 4 được định nghĩa là "một cụm thuật ngữ cho các công nghệ và khái niệm của tổ chức trong chuỗi giá trị" đi cùng với các hệ thống vật lý trong không gian ảo, Internet kết nối vạn vật và    Internet của các dịch vụ.

Bản chất của CMCN lần thứ 4 là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất, nhấn mạnh những công nghệ đang và sẽ có tác động lớn nhất là công nghệ in 3D, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, người máy.

Cuộc CMCN lần thứ 4 hay công nghiệp 4.0 là xu hướng hiện tại của tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất. Nó bao gồm các hệ thống mạng vật lý, mạng     Internet kết nối vạn vật và điện toán đám mây.

Công nghiệp 4.0 tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo ra các "nhà máy thông minh" hay "nhà máy số". Trong các nhà máy thông minh này các hệ thống vật lý không gian ảo sẽ giám sát các quá trình vật lý, tạo ra một bản sao ảo của thế giới vật lý. Với IoT các hệ thống vật lý không gian ảo này tương tác với nhau và với con người theo thời gian thực, và thông qua IoS thì người dùng sẽ được tham gia  vào chuỗi giá trị thông qua việc sử dụng các dịch vụ này.

Đặc trưng của công nghiệp 4.0 là các hệ thống sản xuất thực - ảo lần đầu tiên được TS. Jame Truchat, Giám đốc điều hành của       National Instruments, giới thiệu vào năm 2006. Trong đó các "sản phẩm thông minh" gắn đầy cảm biến báo cho máy móc biết chúng cần được xử lý như thế nào.

Các động lực cho CMCN lần thứ 4

Những động lực chính của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 là sự thay đổi trong kỳ vọng của người tiêu dùng (sản phẩm theo yêu cầu và giao hàng theo thời gian Internet) cùng với sự hội tụ của các công nghệ mới như IoT, robot cộng tác, cùng làm với người, in ấn 3D và điện toán đám mây, cùng sự xuất hiện các mô hình kinh doanh mới. Thế giới đang chứng kiến hàng loạt những đột phá khoa học và tiến bộ công nghệ, đây là những xu hướng và động lực dẫn dắt cuộc CMCN lần thứ 4.

Các xu thế lớn của công nghệ có thể được chia thành 3 nhóm: vật lý/ hữu hình, kỹ thuật số và sinh học. Cả ba đều liên quan chặt chẽ với nhau và với các công nghệ khác để đem lại lợi ích cho nhau dựa vào những khám phá và tiến bộ của từng nhóm.

* Vật lý/ hữu hình

Bốn đại diện chính của xu hướng lớn về phát triển công nghệ dễ nhận thấy là:

Xe tự lái: Những xe ô tô này xử lý một lượng lớn dữ liệu cảm biến từ các radar, máy ảnh, máy đo khoảng cách bằng siêu âm, GPS và bản đồ được gắn trên xe để điều hướng các tuyến đường đi qua các tình huống giao thông phức tạp và thay đổi nhanh chóng hơn mà không cần bất kỳ sự tham gia nào của con người.

Hiện nay xe hơi tự lái đang từng bước chiếm ưu thế đồng thời xuất hiện nhiều kiểu phương tiện tự lái khác bao gồm xe tải, thiết bị bay không người lái, máy bay và tàu thủy. Cùng với quá trình phát triển của cảm biến và trí tuệ nhân tạo (AI), khả năng của các phương tiện tự hành này cũng được cải thiện với tốc độ nhanh chóng.

Công nghệ in 3D: Hay được gọi là chế tạo cộng, in 3D bao gồm việc tạo ra một đối tượng vật lý bằng cách in theo các lớp từ một bản vẽ hay một mô hình 3D có trước. Công nghệ này khác hoàn toàn so với chế tạo trừ, lấy đi các vật liệu thừa từ phôi ban đầu cho đến khi thu được hình dạng mong muốn. Ngược lại công nghệ in 3D bắt đầu với vật liệu rời và sau đó tạo ra một sản phẩm ở dạng ba chiều từ mẫu kỹ thuật số.

Khoa học robot cao cấp: Ngày nay các robot đang được sử dụng ngày càng nhiều ở tất cả các lĩnh vực từ nông nghiệp chính xác cho đến ngành y tế. Sự phát triển nhanh công nghệ robot làm cho sự hợp tác giữa người và máy móc sớm trở thành hiện thực. Hơn nữa do các tiến bộ công nghệ khác, robot đang trở nên thích nghi và linh hoạt hơn so với thiết kế cấu trúc và chức năng của nó được lấy cảm hứng từ các cấu trúc sinh học phức tạp.

Vật liệu mới: Về tổng thể chúng nhẹ hơn, bền hơn những vật liệu hiện nay và có thể tái chế và dễ thích ứng. Hiện nay có các ứng dụng cho các vật liệu thông minh tự phục hồi hoặc tự làm sạch, các kim loại có khả năng khôi phục lại hình dạng ban đầu, gốm sứ và pha lê biến áp lực thành năng lượng và nhiều vật liệu khác nữa.

* Kỹ thuật số:

Từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, sự hội tụ giữa ứng dụng vật lý và ứng dụng kỹ thuật số là sự xuất hiện IoT. Mô tả đơn giản nhất, có thể coi IoT là mối quan hệ giữa vạn vật (các sản phẩm, dịch vụ, địa điểm...) và con người thông qua các công nghệ kết nối và các nền tảng khác nhau.

Không giống như các cuộc cách mạng trước thường diễn ra theo xu hướng phát minh mới làm mờ đi phát minh cũ, IoT được tin là sẽ tạo cơ hội cho tất cả các ngành nghề đều được hưởng lợi. IoT gia tăng cũng có nghĩa là việc truyền tải dữ liệu và giao tiếp qua Internet tăng lên.

 * Sinh học:

Trong những năm gần đây chúng ta đã và đang chứng kiến sự thành công trong việc giảm chi phí và dễ dàng hơn trong việc giải trình bộ gen và mới đây là việc kích hoạt hay chỉnh sửa gen. Trước đây phải mất hơn 10 năm, với chi phí 2,7 tỉ USD để hoàn thành dự án hệ gen người. Hiện nay, một gen có thể được giải mã trong vài giờ với chi phí không tới một ngàn USD. Với sức mạnh của máy tính, các nhà khoa học không còn phải dùng phương pháp thử, sai và thử lại, thay vào đó họ thử nghiệm cách thức mà các biến dị gen gây ra các bệnh lý đặc thù.

Cơ hội và thách thức

Cuộc CMCN lần thứ 4 được đánh giá sẽ vượt ra khỏi quy mô công xưởng, nhà máy sản xuất các sản phẩm, doanh nghiệp khi vạn vật được kết nối bởi Internet. Trong quá trình kết nối không những tất cả máy móc thiết bị trong công xưởng được kết nối với nhau thông qua Internet, rất nhiều cảm biến cũng đồng thời được lắp đặt để thu thập dữ liệu. Cách làm này giúp máy móc có thể "giao tiếp" với nhau mà không cần sự có mặt của con người. Các dây chuyền sản xuất sẽ được vận hành tự động một cách thích hợp. Ngoài ra, các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm phụ trợ cũng sẽ được kết nối với doanh nghiệp lắp ráp, doanh nghiệp vận chuyển, cửa hàng phân phối và tiêu thụ để thành một thể thống nhất. Điều này cũng có nghĩa là cuộc CMCN 4.0 lần này không chỉ hướng tới tăng năng suất và giảm lao động. Khi lượng thông tin trao đổi sẽ tăng lên một cách chóng mặt sẽ xuất hiện 3 sự thay đổi lớn.

Thứ nhất, thời đại sản xuất một sản phẩm với số lượng lớn sẽ dần kết thúc, thay vào đó là khả năng tiếp nhận nhu cầu của khách hàng và truyền tới công xưởng sản xuất ngay trong thời gian thực. Các dây chuyền sản xuất sẽ tự động kết hợp với nhau để sản xuất đơn chiếc mới mức giá thấp như hiện nay. Đây gọi là thời đại sản xuất hàng loạt sản phẩm đơn chiếc theo nhu cầu của khách hàng.

Thứ hai, sự thay đổi trong khái niệm thay đổi thiết kế mới của sản phẩm như ô tô, xe máy. Hiện nay giá trị gia tăng của ngành sản xuất phụ thuộc chủ yếu vào việc gia công vật liệu như kim loại thành sản phẩm, đưa vào đó phần mềm hoặc hệ thống điều khiển. Tuy nhiên trong tương lai hệ thống kết nối Internet sẽ thu thập nhu cầu của khách hàng, dựa trên cơ sở đó nhà sản xuất sẽ chỉ cập nhật phần mềm để lên đời sản phẩm như những chiếc điện thoại thông minh hiện nay.

Thứ ba, thế giới sẽ chứng kiến một cuộc lật đổ ngoạn mục của các doanh nghiệp CNTT, khi họ biến các doanh nghiệp sản xuất trở thành "tay sai" cho mình. Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp sản xuất đang chủ động phát triển sản phẩm cho riêng mình, và vai trò của các doanh nghiệp CNTT chỉ là hỗ trợ. Tuy nhiên với khả năng thu thập và phân tích dữ liệu các doanh nghiệp CNTT sẽ nắm được nhu cầu của khách hàng và tự đưa ra được sản phẩm tương ứng. Sau đó họ sẽ thuê doanh nghiệp sản xuất làm sản phẩm giúp mình. Vì thế thời đại của một "cuộc đảo chính" trong nền sản xuất đang tới gần.

Giống như các cuộc cách mạng trước đó, cuộc CMCN lần thứ 4 sẽ nâng cao mức thu thập toàn cầu và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân trên toàn thế giới.

Cuộc CMCN lần thứ 4 sẽ tạo ra các lợi ích hết sức to lớn. Người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ cuộc CMCN này. Cuộc CMCN lần thứ 4 tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới với chi phí không đáng kể phục vụ người tiêu dùng. Gọi taxi, đặt vé máy bay, mua một sản phẩm, thực hiện thanh toán, nghe nhạc hay xem phim đều có thể được thực hiện từ xa, Internet, điện thoại thông minh và hàng ngàn các ứng dụng đang làm cho cuộc sống của con người trở nên dễ dàng hơn và năng suất hơn.

Trong tương lai, sáng tạo công nghệ cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi diệu kỳ từ phía cung với những lợi ích lâu dài về hiệu quả và năng suất. Chi phí giao thông vận tải và thông tin liên lạc sẽ giảm xuống, hậu cần và các chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ trở nên hiệu quả hơn, và các chi phí thương mại sẽ giảm, tất cả những điều đó sẽ giúp mở rộng thị trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Cũng với những thay đổi ấy cuộc CMCN lần thứ 4 có thể mang lại sự bất bình đẳng lớn hơn, đặc biệt là ở khả năng phá vỡ thị trường lao động. Khi tự động hóa thay thế con người trong toàn bộ nền kinh tế, người lao động sẽ bị dư thừa và điều đó làm trầm trọng hơn khoảng cách giữa lợi nhuận so với đồng vốn và lợi nhuận so với sức lao động. Mặt khác xét về tổng thể các công việc an toàn và thu nhập cao hơn có thể sẽ gia tăng sau khi công nghệ thay thế dần con người.

Ngoài lĩnh vực kinh tế, sự bất bình đẳng là mối quan tâm xã hội lớn nhất gắn liền với Cuộc CMCN lần thứ 4. Những người hưởng lợi lớn nhất của sự đổi mới có xu hướng là các nhà cung cấp vốn trí tuệ và vật chất, những nhà sáng tạo, các cổ đông và nhà đầu tư chênh lệch tăng lên về sự giàu có giữa những người phụ thuộc vào vốn và với lao động. Nhu cầu lao động có tay nghề cao tăng trong khi nhu cầu đối với người lao động ít được đào tạo và kỹ năng thấp giảm. Kết quả là một thị trường việc làm với nhu cầu cao ở hai đầu cao và thấp, nhưng trống rỗng ở khúc giữa.

Sản xuất công nghiệp phát triển với tốc độ chóng mặt phải đối mặt với những thách thức rất lớn. Những nhà sản xuất phải liên tục nâng cao hiệu quả, đáp ứng ngay lập tức đến sự thay đổi của thị trường và đáp ứng nhu cầu sản phẩm hơn bao giờ hết. Các nhà máy trong tương lai phải linh hoạt hơn và thông minh hơn. Chìa khóa của những thách thức này nằm trong tự động hóa.

 

Chú thích

(1). C.Mác, Tư bản, quyển thứ nhất, NXB Sự thật, HN, 1973, tập 1, trang 338.

(2). Vũ Dương Ninh - Nguyễn Văn Hồng, Lịch sử thế giới cận đại, NXB Giáo dục, 2004, trang 37.

Tài liệu tham khảo

1. C.Mác, Tư bản, quyển thứ nhất, NXB. Sự thật, Hà Nội, 1973.

2. Nguyễn Anh Thái (Chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2005.

3. Vũ Dương Ninh - Nguyễn Văn Hồng, Lịch sử thế giới cận đại, NXB Giáo dục, Hà Nội - 2004

4. Tập thể các tác giả Trung Quốc, Dự báo thế kỷ XXI, NXB Thống kê, Hà Nội, 1989.

5. Thomas L.Frie Dman, Thế giới phẳng, NXB Trẻ, TP. HCM, 2006.

6. Bộ KH&CN - Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, Khoa học công nghệ kinh tế, số 8/2006.

Quá trình di cư của người Kinh lên miền núi phía Tây Nghệ An

và tác động của nó với đời sống văn hóa tộc người

BÙI MINH ĐẠO*

Trong hơn nửa thế kỳ qua, người Kinh di cư lên miền núi Nghệ An ngày càng nhiều. Cùng với đó là những tác động to lớn của nó đến đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, những nghiên cứu về quá trình di cư của người Kinh cũng như những ảnh hưởng   của nó đang còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu nhận thức và xây dựng chính sách phát triển. Nó vẫn còn là vùng trống quan trọng trong quá trình khám phá và nghiên cứu miền núi Nghệ An.

1. Quá trình di cư của người Kinh lên miền núi phía Tây Nghệ An

Sự di dân của người Kinh lên miền núi Nghệ An không còn là vấn đề mới trong các nghiên cứu dân tộc học, tuy nhiên, ở các mức độ khác nhau, vấn đề này còn cần phải tìm hiểu có hệ thống hơn, cởi mở hơn, tránh cái nhìn tiến hóa luận thuần túy đã ngự trị một thời trong đầu óc nhiều người. Quy lại lịch sử, các ngành khảo cổ học, dân tộc học đã cố gắng tìm kiếm những cứ liệu về nguồn gốc của các cộng đồng đang sống ở miền núi Nghệ An, hay tìm về nhóm cư dân gốc ở đây. Nhưng gần như chưa đủ cứ liệu để đi đến kết luận có sức thuyết phục về quan hệ giữa người Kinh với tổ tiên của một số cộng đồng đang sinh sống trong khu vực này. Tuy nhiên, đã có khá nhiều tài liệu về các nhóm người Kinh chuyển lên miền núi sinh sống trong thời kỳ phong kiến đã được đề cập. Đó là những nhóm người Kinh được triều đình cử lên xây dựng chính quyền cai trị hay các tướng lĩnh, quân nhân được cử lên biên ải để phòng thủ, chống lại sự xâm lăng của quân Ai Lao, sau đó xây dựng gia đình và sinh sống lại đây. Nói chung, từ giữa thế kỷ XX trở về trước, đã có nhiều nhóm người Kinh từ miền xuôi lên miền núi sinh sống theo các con đường khác như từ quan quân triều đình đi lên làm nghĩa vụ, các nhóm đi buôn bán, hoặc vì loạn lạc mà bỏ lên đây, hoặc chạy trốn kẻ thù truy giết trong những cuộc nổi dậy ở miền xuôi. Nhưng ảnh hưởng của người Kinh đến các cộng đồng khác ở khu vực này tuy có nhưng chưa sâu sắc. Từ giữa thế kỷ XX trở lại đây, xuất hiện những luồng di cư mạnh mẽ của người Kinh lên miền núi Nghệ An, cùng với đó là hàng loạt chính sách của nhà nước đã làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa của các dân tộc thiểu số. Có thể coi đây là quá trình tác động của người Kinh lên vùng miền núi Nghệ An và nó làm thay đổi căn bản nền văn hóa truyền thống của các cộng đồng dân tộc khác. Xin điểm lại quá trình di cư của người Kinh từ miền xuôi từ sau kháng chiến chống Pháp 1954 đến nay.

Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, Nghệ An bắt đầu công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, cải tạo xã hội. Bên cạnh khôi phục kinh tế ở miền xuôi thì việc xây dựng các lâm trường quốc doanh để khai thác lâm nghiệp ở miền núi trở thành một vấn đề quan trọng. Cuối 1954 lâm trường Khe Kiền ra đời và đi vào khai thác gỗ phục vụ xây dựng đường sắt Hà Nội - Vinh. Sang 1955, các lâm trường mới như Trịnh Môn, Bãi Phủ, Đông Hiếu, Tây Hiếu, Sông Con... cũng đi vào hoạt động. Tiếp theo đó là công cuộc cải cách dân chủ ở miền núi và đưa cư dân miền xuôi lên miền núi phát triển kinh tế(1). Để thực hiện những công việc này, nhà nước đã điều động hàng ngàn cán bộ, quân nhân và dân công lên miền núi để phát triển kinh tế, mở đầu cho quá trình chuyển cư lên miền núi làm kinh tế mới.

Tháng 4/1959, Tỉnh ủy Nghệ An ra Nghị quyết về đẩy mạnh phong trào xây dựng tổ đổi công và hợp tác xã, mà chủ yếu tập trung vào khu vực miền núi, kết hợp với công cuộc cải cách dân chủ ở miền núi. Đây là tiền đề quan trọng để đưa dân miền xuôi lên. Cuối 1959, Tỉnh ủy ra Nghị quyết về "Tăng cường lực lượng, củng cố quốc phòng an ninh", trong đó nhấn mạnh "trọng tâm là xây dựng các nông trường phía Tây Nghệ An, do lực lượng quân đội chuyển sang làm nồng cốt; mở rộng mạng lưới giao thông vận tải, thông tin liên lạc giữa các vùng, mà quan trọng nhất là tuyến đường số 7 và đường số 48..."(2). Lực lượng quân đội chuyển sang làm lâm, nông nghiệp chủ yếu là người Kinh. Và việc mở rộng giao thông, thông tin liên lạc theo tinh thần nghị quyết cũng tạo điều kiện cho sự di dân lên miền núi.

Tháng 8/1963, Đảng bộ Nghệ An tổ chức Đại hội lần thứ 11 ở Vinh đã thông qua những nội dung chính của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất cũng như việc lãnh đạo xây dựng, phát triển tỉnh nhà và phục vụ kháng chiến chống Mỹ. Trong đó có nội dung quan trọng liên quan đến miền núi là tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động "Đồng bào miền xuôi tham gia phát triển kinh tế miền núi"(3). Từ giữa những năm 1960, số lượng di cư của người Kinh lên miền núi Nghệ An tăng vọt, bao gồm cả sự di dân theo chủ trương nhà nước và di dân tự do. Tính đến năm 1978, chính quyền Nghệ Tĩnh đã đưa hơn 30 vạn người miền xuôi đi khai hoang, xây dựng các vùng kinh tế mới ở miền núi Nghệ An (và một số địa phương ở miền núi Hà Tĩnh sau khi nhập tỉnh năm 1975). Trên đà đó, lãnh đạo tỉnh còn đưa ra kế hoạch từ 1979-1985 sẽ di chuyển 80 vạn người đi xây dựng các vùng kinh tế mới, trong đó có 50 vạn đi ra ngoài tỉnh mà chủ yếu là vào Tây Nguyên và 30 vạn người lên vùng miền núi nội tỉnh. Đầu năm 1979, Tỉnh ủy còn ra Nghị quyết số 169 "Về việc chuyển dân đi xây dựng vùng kinh tế mới" để tiếp tục nhìn nhận lại và thực hiện chính sách di dân lên miền núi(4). Bên cạnh di dân theo chủ trương nhà nước thì còn một số lượng lớn người Kinh từ miền xuôi di dân tự phát lên miền núi do thiên tai lũ lụt hoặc đi tìm cuộc sống mới bớt khó khăn hơn. Điều đó khiến cho việc thống kê số lượng người Kinh lên miền núi giai đoạn này khá khó khăn. Theo thống kê của Ban Dân tộc và Miền núi Nghệ An, thì đến đầu những năm 1990, số lượng người Kinh ở miền núi khoảng gần 300 nghìn người và chiếm gần 50% dân số miền núi, năm 2009 tăng lên hơn 700 nghìn người và chiếm 62% dân số miền núi (tính cả thị xã Thái Hòa và huyện Thanh Chương).

Dân số người Kinh ở các huyện miền núi Nghệ An(5)

Huyện

Dân số người Kinh (nhân khẩu)

1992

2009

Kỳ Sơn

2.157

3.579

Tương Dương

5.624

8.926

Con Cuông

18.884

20.335

Quỳ Châu

10.186

8.942

Quế Phong

4.019

6.545

Quỳ Hợp

47.162

60.480

Nghĩa Đàn

121.664

92.016

Tân Kỳ

84.488

109.193

Anh Sơn

2.977

106.199

Tổng

297.161

416.215

 

Những số liệu trên cho thấy, số lượng người Kinh từ miền xuôi di cư lên miền núi Nghệ An vẫn tiếp tục tăng lên nhanh chóng trong giai đoạn từ giữa những năm 1960 đến nay, và họ cư trú bên cạnh các cộng đồng dân tộc thiểu số tạo nên sự cư trú xen kẽ nhiều tộc người với nhau. Nhưng phương thức sản xuất, vị thế xã hội cũng như bản sắc văn hóa của người Kinh khác nhiều so với các cộng đồng còn lại nên đã có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển miền núi. Một trong những hệ quả quan trọng của vấn đề này là gây nên sự biến đổi văn hóa của các cộng đồng dân tộc thiểu số.

2. Tác động của quá trình di cư của người Kinh lên miền núi đối với văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số

Trước hết, cần khẳng định rằng sự xuất hiện của người Kinh ở miền núi Nghệ An đã tạo ra những làn gió mới trong sự phát triển của các cộng đồng dân tộc thiểu số. Người Kinh lên miền núi cũng đã đưa hơi thở của cuộc sống hiện đại lên với các cộng đồng dân tộc thiểu số. Người Kinh là nhân tố làm thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ hơn và góp phần vào việc thúc đẩy tư duy kinh tế thị trường của người thiểu số. Càng phát triển, người dân tộc thiểu số càng chứng tỏ họ không hoàn toàn chịu sự áp đặt của người Kinh hay những nhà làm chính sách, mà góc độ nào đó, đã tự mình lựa chọn con đường chủ động tiếp nhận các ảnh hưởng từ người Kinh, tiếp nhận các giá trị văn hóa của người Kinh để tạo ra cơ hội phát triển. Và đến một mức độ cao hơn, họ còn mong muốn "chính thống hóa" nhiều hoạt động văn hóa, xã hội. Ví dụ như trong các lễ hội, người dân tộc thiểu số đã chấp nhận thực hiện các quy định của chính quyền nhà nước để tổ chức theo kịch bản do các nhà quản lý đưa ra, dù nhiều khi nó chưa hẳn đã phù hợp với cuộc sống cộng đồng. Có những nơi, như ở Bản Cắm, xã Tri Lễ (Quế Phong) trước đây người dân tổ chức lễ cơm mới của cả bản sau khi gặt lúa xong (vào cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10 dương lịch) nhưng hiện nay đang muốn ghép vào tổ chức cùng với tết độc lập ngày 2/9, thời điểm mà người dân vẫn chưa thu hoạch lúa xong.

Người Kinh lên miền núi cũng tạo điều kiện quan trọng cho quá trình hiện đại hóa miền núi, làm cho cơ sở hạ tầng vật chất không ngừng được tăng lên, đời sống của tất cả các cộng đồng được nâng cao, tiếp cận với cuộc sống hiện đại hơn. Bằng chứng là điện, đường, trường, trạm ở miền núi được xây dựng nhiều hơn, các con đường huyết mạch quan trọng không ngừng được mở rộng và nâng cấp. Hệ thống chợ và kinh tế thị trường không ngừng phát triển mạnh, đưa người dân hòa nhập nhiều hơn vào xã hội tiêu thụ với sự cung ứng của thị trường, được hưởng thụ các thành tựu của khoa học công nghệ với các đồ dùng hiện đại như tivi, tủ lạnh, máy giặt, nồi cơm điện, xe máy, điện thoại di động... Sức sản xuất cũng được cải thiện với sự xuất hiện của các máy móc như máy cày, máy kéo,... làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng. Người Kinh chiếm dụng những vị trí thuận lợi trong các hoạt động trao đổi buôn bán như ở các thị trấn, thị tứ, các vùng tụ cư ven các trục đường giao thông lớn. Từ đây, họ làm trung chuyển lưu thông hàng hóa giữa miền núi với miền xuôi, giữa các cộng đồng tộc người khác nhau với người Kinh. Họ thu mua lâm thổ sản, hàng đặc sản từ các cộng đồng dân tộc thiểu số và mang về xuôi bán, đồng thời mang các nhu yếu phẩm dưới xuôi lên bán cho đồng bào thiểu số. Vai trò của nhóm người Kinh này ngày càng lớn và nhu cầu giao tiếp giữa các cộng đồng khác với họ ngày càng cao là một trong những động lực làm cho các cộng đồng khác học tiếng Kinh nhiều hơn. Khi tiếng Kinh phổ biến sẽ kéo theo nhiều thay đổi khác trong đời sống văn hóa và quan hệ giữa các cộng đồng với nhau cũng như với người Kinh. Ví dụ trước đây người Khơ Mú khá phụ thuộc vào người Thái, họ học tiếng Thái để giao tiếp, trao đổi và bị coi như tầng lớp thấp so với người Thái. Nhưng khi xuất hiện người Kinh, người Khơ Mú có một vị thế độc lập hơn so với người Thái khi cả hai cộng đồng này tiến hành những giao tiếp, trao đổi với người Kinh. Tuy nhiên, một hệ quả khác lại xuất hiện là hầu hết các cộng đồng này lại chịu ảnh hưởng và lệ thuộc nhiều vào quan hệ với người Kinh trong chuỗi hàng hóa kinh tế thị trường. Người Kinh xuất hiện không những tạo ra nhiều mối quan hệ về hôn nhân với các cộng đồng khác mà còn gắn kết quan hệ hôn nhân giữa các cộng đồng khác với nhau. Đó là môi trường để trong hơn 200 hộ gia đình ở Bản Ang (Tương Dương) có đến 27 cặp vợ chồng là quan hệ hôn nhân giữa hai tộc người.

Sự xuất hiện của người Kinh và chiếm ưu thế trong cơ cấu chính quyền địa phương, đặc biệt là chính quyền cấp huyện ở miền núi đã tác động nhiều đến đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số. Trong kháng chiến hay thời bao cấp, đời sống dân trí ở miền núi thấp thì cán bộ chủ chốt ở các huyện, một số nơi là cấp xã phần lớn là người Kinh. Gần đây, một mặt có chủ trương cần bằng cán bộ địa phương theo hướng bình đẳng giữa các tộc người, mặt khác trình độ học vấn của một bộ phận dân tộc thiểu số được nâng cao, nên tỷ lệ cán bộ người dân tộc trong cơ cấu chính quyền địa phương đã tăng lên. Nhưng khó mà phủ nhận ảnh hưởng của lớp cán bộ người Kinh dưới xuôi lên miền núi. Họ vừa là cầu nối, tham mưu cho các cấp lớn hơn trong việc hoạch định chính sách, vừa là những người trực tiếp thực hiện các chính sách đó. Điều đó làm ảnh hưởng nhiều đến các thiết chế văn hóa, xã hội truyền thống của người dân tộc thiểu số. Nhiều nét văn hóa truyền thống bị coi là hủ tục, lạc hậu, mê tín dị đoan... nên bị cấm đoán, loại bỏ. Bên cạnh đó lại du nhập các yếu tố văn hóa của người Kinh (được coi là hiện đại hơn) vào tạo ra quá trình lai ghép, biến đổi văn hóa nhưng kết quả là gốc không ra gốc mà ngọn chẳng thành ngọn. Trong gần một thập niên trở lại đây, khi bắt đầu quá trình nhìn nhận lại vấn đề này, các nhà quản lý và những người làm công tác nghiên cứu lại quá đề cao bản sắc văn hóa của các cộng đồng. Điều này vừa làm cho văn hóa truyền thống các cộng đồng được tôn trọng và tạo điều kiện để lưu giữ, bảo tồn. Nhưng tuyệt đối hóa quan điểm này cũng trở thành vật cản lớn trong quá trình phát triển khi bỏ qua mong muốn tiếp thu, hội nhập về văn hóa của các cộng đồng.

Một vấn đề quan trọng nữa là việc người Kinh lên miền núi và chiếm dụng các nguồn tài nguyên quan trọng đã gây ảnh hưởng nặng nề đến đời sống văn hóa các tộc người ở miền núi. Trong quá trình xây dựng kinh tế mới, thành lập các lâm trường, nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An cũng là quá trình quốc hữu hóa các nguồn tài nguyên quan trọng như rừng, nguồn nước, đất đai... Mà những nguồn tài nguyên này vốn là bệ đỡ làm nguồn cho các thiết chế văn hóa, xã hội của các cộng đồng sinh sống lâu năm ở đây. Các lâm trường quốc doanh mà cán bộ, công nhân chủ yếu là người Kinh từ miền xuôi lên chính là đối tượng chặt phá rừng nhiều nhất ở miền núi Nghệ An. Lúc đầu là thực hiện chỉ tiêu kế hoạch khai thác ghỗ để phục vụ các công trình xây dựng như đường sắt, nhà máy, xí nghiệp... rồi sau đó mở rộng ra với nhiều nhu cầu khác khiến những cánh rừng già, rừng đầu nguồn dần dần bị tiêu diệt. Theo thống kê, lúc đỉnh điểm mỗi năm khai thác hàng vạn mét khối gỗ từ các lâm trường. Các cộng đồng dân tộc có chặt cây làm nhà, đốt rừng làm rẫy trong hàng chục năm cũng không bằng một lâm trường khai thác trong một năm. Mà rừng là cái nôi của văn hóa cộng đồng ở miền núi, khi rừng mất thì các thiết chế văn hóa cũng thay đổi. Tiếp theo là việc quản lý và khai thác nguồn nước thượng nguồn các dòng sông, nhất là việc xây dựng tràn lan các nhà máy thủy điện làm thay đổi tính chất và cả địa lý các dòng chảy, từ đó làm thay đổi thiết chế văn hóa của các cộng đồng. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của người Kinh và kéo theo đó là phương thức sản xuất ở miền xuôi lên miền núi cũng làm thay đổi đời sống của người miền núi.

Sự tiếp nhận ảnh hưởng của người Kinh ở vùng miền núi trong bối cảnh hệ giá trị truyền thống văn hóa tộc người bị đứt gãy cũng gây nhiều hệ quả nhất định. Đây là tác nhân quan trọng tạo nên tình trạng lưng chừng về văn hóa của một bộ phận trẻ tuổi người dân tộc thiểu số khi họ không còn lưu giữ được giá trị truyền thống nhưng cũng không thay đổi hẳn theo các giá trị hiện đại của người Kinh. Đó là những biểu hiện của việc phát triển bằng cách đánh đổi hệ giá trị truyền thống và lợi ích của tương lai, vốn không chỉ ở miền núi Nghệ An mà cả Việt Nam và các nước đang phát triển nói chung đều vướng phải.

Tóm lại, trong khoảng một nửa thế kỷ qua, người Kinh ở miền xuôi không ngừng di cư lên miền núi Nghệ An đã và đang gây nhiều ảnh hưởng đến đời sống văn hóa của các cộng đồng dân tộc khác. Đó là hệ quả của việc di cư ồ ạt, thiếu kế hoạch dài hạn và thiếu cơ sở khoa học, không chỉ gây sức ép cho các nền văn hóa ở nơi di cư đến mà còn tăng sức ép lên các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Những năm tháng hô hào "Đồng bào miền xuôi chung tay phát triển miền núi" với "niềm kiêu hãnh của những người có trình độ văn hóa bậc cao đi giúp đỡ những người kém phát triển" qua đi thì cũng cần phải nhìn nhận lại những ảnh hưởng cả mặt tích cực và tiêu cực. Phải nhìn bằng những nghiên cứu cụ thể, xác đáng nhằm tạo cơ sở cho những hoạch định chiến lược phát triển bền vững và lành mạnh. Phát triển ở chỗ phải hòa hợp: từ con người với tự nhiên đến con người với con người, chứ không phải là sự ban phát.

Chú thích:

(1). Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, tập II (1954-1975), tr. 45. Nxb Nghệ An, 1999.

(2). Tài liệu đã dẫn, trang 73.

(3). Tài liệu đã dẫn, trang 113.

(4). Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, tập III (1975-2005), tr. 41-43. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008.

(5). Tổng hợp theo Nguyễn Đình Lộc: "Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An", Nxb Nghệ An, 2009. tr. 112.



* NCS Khoa Nhân học, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội.

CHỨC NĂNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA VĂN HỌC NHÌN TỪ GÓC ĐỘ KÝ HIỆU HỌC VĂN BẢN TRONG "CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA" CỦA NGUYỄN MINH CHÂU

Lê Nguyên Cẩn

 

Khi khảo sát tác phẩm văn học, ta thường tập trung nhấn mạnh các chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ (la fonction cognitive, éducative, esthétique) và ở một mức độ khác là chức năng giải trí (la fonction d'amuser) của văn chương, tức là về mặt hình thức ta nhấn mạnh tính chất nêu gương (montrer un exemple) hiện hình qua cách thức biểu dương ca ngợi; tính chất noi gương (suivre l'exemple) như là cách thức tán dương xưng tụng; hay theo gương (poursuivre un exemple) như là cách thức tiếp nối kế thừa, mà thực chất các hình thức cũng như các chức năng này thì mọi loại hình nghệ thuật, chẳng hạn hội họa, nghệ thuật tạo hình, điêu khắc, thậm chí cả kiến trúc hay xa hơn là các lĩnh vực như sử học (tạo thành bài học lịch sử), đạo đức học (bài học đạo đức), tâm lí học (bài học tâm lý) đều có. Ta thường ít chú ý tới chức năng phản biện xã hội (la fonction de refléchir sur la société - la fonction refléchive de la société) của văn chương - cái chức năng xác lập và quy định tính văn học của tác phẩm văn chương. Bài viết tập trung lý giải chức năng phản biện xã hội của văn học thông qua việc phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu từ góc độ kí hiệu học văn bản.

    Trước hết, xét về mặt bản chất, chức năng phản biện xã hội của tác phẩm văn học là cách thức tư duy lật đi lật lại, trên cơ sở lập luận phản bác, tranh biện, trao đổi hoặc thân tình cởi mở hoặc đối lập gay gắt…, là cách thức đặt lại, xem xét lại những vấn đề vốn đã quen thuộc, vốn đã được coi là chân lý (về nhân cách, lối sống, đạo đức nhân sinh hay về thân phận con người) nổi cộm trong một trạng huống lịch sử, gắn với giai đoạn giao thời, với thời kỳ bước ngoặt hoặc thời điểm đứt gãy của tiến trình vận động lịch sử, nói chung là những vấn đề xã hội nổi bật lên trong điều kiện hay hoàn cảnh lịch sử có vấn đề. Nó là sự nhận thức lại các vấn đề nhân sinh trên bình diện xã hội học hay triết học, mỹ học hay đạo đức học, nhưng ở một mức độ cao về cả tầm rộng lẫn chiều sâu của vấn đề nhân tình thế thái được đưa ra trong tác phẩm. Sự nhận thức lại này là hết sức quan trọng, bởi lẽ đối tượng phản ánh của văn chương mãi mãi không phải là cái gì khác ngoài con người và cuộc đời của nó trong các thăng trầm của lịch sử, mãi mãi là con người hay nhân loại nói chung và thân phận của nó trong dòng đời lên thác xuống ghềnh bất tận mà để vượt thoát khỏi trạng huống hay hoàn cảnh thì không thể không nhận thức lại vấn đề tồn sinh của bản thể con người. Sự nhận thức lại với tư cách là tác nhân thực hiện chức năng phản biện xã hội, vừa có tính khẳng định vừa mang tính phủ định, nhưng có quan hệ biện chứng chặt chẽ, khẳng định để phủ định và phủ định để khẳng định một cách chắc chắn hơn. Chức năng phản biện xã hội của văn học thông qua hình thức tranh biện thuận nghịch, trong thuận có nghịch trong nghịch có thuận, thuận nghịch đảo chiều cho nhau, tương tác và tương hỗ lẫn nhau tạo ra hình thức gián cách - xa lạ hóa rất độc đáo trong nghệ thuật tự sự, khiến cho sự phản biện xã hội trở thành sự phản biện chính mình và sự phản biện chính mình cũng là cách thức phản biện xã hội. Trong vị thế này, chức năng phản biện xã hội của văn học thực hiện nhiệm vụ mở đường hướng đạo, góp phần thức tỉnh dẫn đường cho chính con người ở mỗi thời đại.

Trong một tác phẩm văn học, chức năng phản biện xã hội hiện hình trong cách thức tổ chức nhân vật của tác phẩm, cách thức bố trí xếp đặt nhân vật trong trường đối thoại vừa giữa các nhân vật với nhau vừa giữa các nhân vật với độc giả, liên quan tới cách nhìn của tác giả với vấn đề được nêu ra, tới cách nhìn của nhân vật khi bị đặt trong hoàn cảnh, tới cách nhìn của độc giả khi tiếp nhận câu chuyện được kể. Vì tác phẩm văn học là một văn bản kí hiệu hóa hay nói cách khác mỗi tác phẩm văn học đều là những văn bản kí hiệu, cho nên việc xem xét chức năng phản biện xã hội của văn chương không tách rời khỏi hệ thống các kí hiệu tạo thành văn bản. Tính chất phản biện xã hội của văn học không tách rời tính luận đề của tác phẩm, thể hiện trong vấn đề mà tác phẩm đặt ra cho độc giả và thời đại, thường được hé lộ qua tiêu đề các tác phẩm chẳng hạn: Những người khốn khổ của V.Hugo, Chiến tranh và hòa bình của L.Tonstoi, Tội ác và trừng phạt của F.Dostoievski,… Ở những tác phẩm luận đề, tức là trực tiếp hay gián tiếp thực hiện chức năng phản biện xã hội thì tính luận đề mà tác phẩm đưa ra đóng vai trò quan trọng và tính luận đề này được đặt ra như một giả thiết để biện minh hay để phản bác, gắn liền với một trạng huống hay một hoàn cảnh để từ đó vấn đề được đưa ra có được tầm bao quát lớn. Chính tính luận đề này tạo ra giá trị cho tác phẩm chứ không phải từ tình huống truyện, bởi lẽ câu chuyện được kể (l'histoire) nào mà chẳng bắt đầu từ một tình huống nhất định, được gửi gắm trong các incipit - các câu mở đầu tạo thành điểm xuất phát của mạch kể, dẫn dắt lời kể, xác lập hành trang cho câu chuyện được kể mà trong Chiếc thuyền ngoài xa thì ý định làm cuốn lịch cho năm mới không theo cách làm cũ mòn của vị trưởng phòng đóng vai trò khởi đầu này.

Để có thể tiến hành phân tích một văn bản văn học, từ góc độ kí hiệu học cần phải minh định và xác lập một cách hiểu tổng quát về kí hiệu học. Điểm thứ hai cần xác định là tính chất của một văn bản văn học. Các văn bản chính là cách thức phản ánh của nghĩa, liên quan chặt chẽ tới khả năng miêu tả nghĩa của kí hiệu. Một văn bản phải được xây dựng hay phải dựa vào một hình thức lô-gic nhất định. Bản thân mỗi văn bản là một cấu trúc nghệ thuật hay một tập hợp mang nghĩa, vì vậy việc phân tích hay đọc theo kí hiệu học chính là việc tìm kiếm qui luật tạo nghĩa của cấu trúc hay tập hợp này. Khi xem xét từ bình diện qui luật kiến tạo nghĩa thì việc phân tích văn bản mới nằm trên bình diện kí hiệu học, còn nếu xem xét cách thức xếp đặt bố trí các từ các câu… thì việc phân tích đó thuộc bình diện ngôn ngữ học. Vấn đề thứ ba liên quan tới cách thức phân tích văn bản văn học từ góc độ kí hiệu học là xem xét văn bản như một diễn ngôn - discours, mà để thực hiện được điều này thì cần nắm được các hình thể từ tiêu biểu. Hình thể từ là những nét, những hình thái hay các cách xếp đặt… theo đó ngôn ngữ sẽ tránh được cách thể hiện giản đơn thông tục, tức là tránh được ít nhiều cách dùng từ theo nghĩa đen hay nghĩa sát từ. Từ đó, việc phân tích văn bản văn học từ góc độ kí hiệu thực chất là phân tích các hình thể từ để khám phá các tri thức về thế giới và về con người ở mức độ khái quát. Một hình thể từ có ba chiều kích: có tính chất của tác nhân hành động, có tính chất không gian và có tính chất thời gian. Các hình thể từ sẽ đóng vai trò khớp nối các nhân vật trong tác phẩm, khớp nối các không gian và kết nối thời gian. Các kiểu khớp nối liên quan đến các hình thể từ sẽ tạo ra các đồng vị hay tạo ra độ chệch của văn bản. Thông thường, khoa học về kí hiệu trước hết dựa trên các từ, các âm vị hình vị, các hình ảnh, hình tượng, câu, mệnh đề dạng câu… mà vì thế nhiều công trình phân tích kí hiệu học từ dạng thức này rất gần với cách thức phân tích ngôn ngữ học, với phong cách học. Cũng cần mở rộng việc hiểu kí hiệu học trong văn bản ngôn từ ở cấp độ các quan điểm hay chung hơn là các quan niệm về con người và cuộc đời. Từ góc độ này, việc lý giải chức năng phản biện xã hội của các tác phẩm văn học mang tính luận đề, kể cả truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu sẽ trở nên dễ dàng và cụ thể hơn.

Câu chuyện gặp gỡ giữa nghệ sĩ Phùng và người đàn bà hàng chài cũng như để biết được gia cảnh của người đàn bà đó, là hoàn toàn bất ngờ, nếu không nói là ngẫu nhiên, bởi lẽ Phùng chỉ là người đi thực hiện nhiệm vụ mà vị trưởng phòng  - "người sâu sắc, lại cũng lắm sáng kiến"(1), người "tỏ ý không bằng lòng với cách làm ăn từ trước tới giờ", người đã đi tới quyết định "bỏ cái lối mỗi thứ một tý" - đồng nghĩa với lối làm ăn manh mún, cò con, theo hình thức canh tác mảnh vụn vốn rất phổ biến ở thời kì mà truyện ngắn này được viết ra (Tập Bến quê được xuất bản năm 1985, thời kì mà nhu cầu đổi mới tự thân đang vận động sôi sục) - để làm một "bộ sưu tập chuyên đề, 12 tháng là 12 bức ảnh nghệ thuật về thuyền và biển. Không có người. Hoàn toàn tĩnh vật". Việc xóa bỏ lối làm lịch nghệ thuật kiểu cũ, về mặt nguyên tắc, chính là sự đổi mới, là sự ý thức cần thiết phải đổi mới, là làm thay đổi nếp suy nghĩ cũ, đây cũng chính là chỗ Nguyễn Minh Châu nhanh nhạy nắm bắt và chỉ ra quy luật vận động của lịch sử và đó chính là sự nhận thức có tính phản biện xã hội. Quyết định của vị trưởng phòng mở ra chuyến công tác dài một tháng trời của nghệ sĩ Phùng với yêu cầu là phải chụp cho được "một cảnh buổi sáng có sương" trong thời tiết tháng bảy khi chỉ có "bão táp với biển động", còn "muốn lấy sương thì phải nghĩ từ tháng ba cơ".

Việc trao đổi thì cứ trao đổi cho mọi điều sáng tỏ hơn, còn trong thâm tâm, Phùng đã nhận thức được một giá trị, bởi sự phản biện cũng chính là để tạo ra nhận thức: "Ở đời cái gì cũng thế, con người bản tính vốn lười biếng, đôi khi mình hãy cứ để cho mình rơi vào hoàn cảnh bị ép buộc phải làm, không khéo lại được một cái gì", mà ta có thể hiểu ra một chân lý ở đây liên quan tới phạm trù nghệ thuật với cuộc sống, đó là trong cuộc đời cái Đẹp tự nó không tìm tới ta mà muốn có cái Đẹp, ta phải tự thân vận động đi tìm nó. Chân lý này đã được xác lập trong kiệt tác Faust của Goethe khi nhân vật Faust thực hiện chuyến hành trình đi tìm người đẹp Hélène trong cõi âm mù mịt. Đây cũng là hình thức tự mình phản biện chính mình, tự mình vượt thoát bản ngã của mình. Về mặt thực tiễn, Phùng còn có "ý muốn trở về thăm một vùng chiến trường cũ" nơi Phùng có "thằng bạn vừa là đồng hương, vừa là đồng đội đã từng mười năm ở với nhau trên rừng A So" mà hiện người bạn ấy "đang làm một thứ công tác… nghiêm túc đến mức chẳng ai có thể tưởng tượng chính hắn lại có thể làm nổi". Người bạn ấy là Đẩu, chánh án toà án huyện. Cũng chính tại nơi vừa là chiến trường cũ, vừa là nơi gặp lại bạn cũ, Phùng đã thực hiện được nhiệm vụ mà vị trưởng phòng giao phó một cách may mắn trong một cuộc đụng đầu cũng đầy ngẫu nhiên, bất ngờ với gia đình người đàn bà hàng chài.

Bức ảnh chụp chiếc thuyền ngoài xa trong thời điểm bình minh trên biển thể hiện cách nhìn của nghệ sĩ Phùng, nhìn đời qua lăng kính nghệ thuật theo cách ảo hóa cái thực. Cách nhìn nghệ sĩ của Phùng cũng là cách thức nghệ thuật bất tử hóa một thời điểm vận động của cuộc sống. Chính vì thế : "Trong giây phút bối rối đó, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn", bởi lẽ "bản thân cái đẹp chính là đạo đức". Cái được bất tử hóa đó tạo ra cảm giác bình yên trong khoảnh khắc bởi cái bình yên đó đang nằm trên nền tảng của sự bất yên - sự chuyển động vĩnh cửu của biển cả. Vì thế khi chiếc thuyền ngoài xa  trở thành chiếc thuyền gần bờ thì một sự thực phũ phàng xuất hiện, tạo thành khả năng tri nhận nghệ thuật trong tính đích thực hay xác thực của bản thân nghệ thuật và tạo ra hình thức phản biện xã hội của nghệ thuật nói chung. Cách nhìn mang tính nghệ thuật này, một mặt vừa mang tính lý tưởng, mặt khác vừa cho thấy tính chất dễ dãi một chiều trong cách nhìn con người và cuộc đời.

 Cách nhìn này phù hợp với cách nhìn của Đẩu, người được coi là "vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển", thể hiện qua cách thức xử lý vụ việc của người đàn bà hàng chài, cách nhìn mang dáng dấp và phong cách của xã hội ước mơ lý tưởng nơi ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được sống tự do sung sướng, ai cũng được học hành. Cả hai cách nhìn của Phùng và của Đẩu đều mang tính lý tưởng duy ý chí được chỉ ra trong nhận xét phản biện của người đàn bà hàng chài: "Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu phải là người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc…". Một sự thực hay chân lý hiển nhiên là: "đám đàn bà ở thuyền chúng tôi cần phải có một người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa...". Cái nhìn giản đơn nhưng thực đến vô cùng của người đàn bà hàng chài, bởi trong cuộc đời ai cũng cần có nửa thứ hai khác giới của riêng mình, đã làm thay đổi vị thế của người đàn bà đó, từ chỗ là người bị phán xử, bà ta trở thành người phán quyết, quyết định số mệnh và thân phận của mình. Cả ba cách nhìn này đều phản biện lẫn nhau nhưng tôn tạo bổ sung cho nhau để làm sáng tỏ chân lý cuộc đời, để tìm ra đường đi nước bước và cách thức ứng xử phù hợp đạo lý trong thực tiễn cuộc sống.

Các nhân vật trong truyện ngắn này được bố trí xếp đặt một cách nghệ thuật và có ý đồ, dưới hình thức các nhân vật có tên và các nhân vật không tên. Xét về phương diện kí hiệu học, các nhân vật có tên thường gắn liền với một giá trị đã được tường minh. Trong truyện ngắn này số nhân vật có tên không nhiều, chỉ có ba người. Người thứ nhất là Đẩu, chánh án tòa án, người được coi là "vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển", đồng thời cũng là nhân vật gắn với cách nhìn lý tưởng nhưng duy ý chí về một xã hội công bằng, người với người hòa thuận. Người thứ hai là nghệ sĩ Phùng, nghệ sĩ nhiếp ảnh, người có cái nhìn lãng mạn, nhìn cuộc đời qua mắt lưới, và do đó cũng có phẩm chất hiệp sĩ của mình - theo kiểu "kiến ngãi bất vi vô dõng dã" - qua việc xông vào cứu người đàn bà hàng chài khi bà ta bị lão đàn ông đánh. Người thứ ba là "thằng Phác, cái thằng con từ tính khí đến mặt mũi giống như lột ra từ cái lão đàn ông đã từng hành hạ mụ". Thằng Phác là bản sao của "lão đàn ông" và được người đàn bà hàng chài yêu quý nhất trong số những đứa con của mình. Tại sao lại như vậy? Đây là một mắt xích của hình thức phản biện xã hội chất chứa trong truyện ngắn này.

Số nhân vật còn lại là các nhân vật không tên, và mỗi nhân vật đều mang một giá trị riêng hiện hình qua tính chất kí hiệu của cách thức định danh. Trước hết là "vị trưởng phòng", người phụ trách một công việc mà xét từ phương diện kí hiệu học thì có rất nhiều điều để suy nghĩ, đó là công việc làm lịch mới mỗi năm, hay nói cách khác là người kiến tạo thời gian, người đã tạo cơ hội cho Phùng bất tử hóa được một khoảnh khắc của cuộc đời. Người thứ hai là "cô y tá của cơ quan tòa án huyện", với đặc điểm nhân thân khá cụ thể "một cô gái chưa chồng, đã luống tuổi và béo phục phịch", "người vừa băng lại vết thương cho tôi", "vừa kể bằng tất cả giọng phẫn nộ thói tàn nhẫn của dân đàn ông đánh cá trong vùng địa phương này" mà qua đây, ta ngầm hiểu việc hành xử thô bạo của đàn ông đối với đàn bà ở xứ này không phải là ít. Người thứ ba là "ông lão đã ngoài sáu mươi mà vẫn đang còn đeo đuổi nghề sơn tràng", như một cách nhìn ái ngại khi đặt nhu cầu sống còn qua công việc nặng nhọc trong tương quan với tuổi tác. Ngoài ra còn "các bác ở xưởng đóng thuyền", còn một "đám người đã được phân công làm công việc xua cá vào lưới, phần nhiều đàn bà, trẻ con" - loại nhân vật đám đông, đóng vai trò làm nền cho bối cảnh của câu chuyện được kể.

Trong số các nhân vật không tên thì hai nhân vật quan trọng nhất, trung tâm của câu chuyện được kể: đó là "lão đàn ông" và "mụ - người đàn bà" mà cách định danh mang đậm tính chất kí hiệu học: một đại từ nhân xưng (lão, mụ, người) được kết hợp với một danh từ chung chỉ giới, chỉ loại hạng (đàn ông, đàn bà). Sự kết hợp này tạo ra hình thức biểu nghĩa, có khả năng tạo sinh nghĩa rất lớn. Các đại từ: "lão", "mụ" đều mang hai nét nghĩa: một nghĩa châm biếm, mỉa mai, khinh rẻ (lão ấy, mụ ấy…); một nghĩa khiêm nhường, tôn trọng (kiểu Lão Hạc, mười hai bà mụ) nhưng không hiện hình thành một danh tính cụ thể. Đây là thủ pháp làm nhòe mờ nhân vật, bởi lẽ trong giấy triệu tập người đàn bà hay lão đàn ông, lên tòa án huyện thì các nhân vật đó mặc nhiên phải có danh tính, tức là phải có tên, là một ông một bà cụ thể, không thể nhầm lẫn, hay đổi thay thế chỗ được. Cách thức làm nhòe mờ bằng cách xóa tên nhân vật này đã tạo ra kiểu nhân vật "thân phận", kiểu nhân vật có phận mà không có danh, có thân mà không có dạng (ta thường gặp dưới hình thức được gọi là vô danh hay mất tăm mất dạng).

Hai nhân vật này xét từ phương diện phân tâm học thì đều là các nhân vật chấn thương tinh thần (người chồng) hoặc vừa chấn thương vừa lưỡng hóa nhân cách (người vợ). Kiểu nhân vật chấn thương tinh thần thường mang trong mình nỗi ám ảnh về sự bất hạnh của mình là do người khác mang lại, vì người khác giàu cho nên mình nghèo. Cách quan niệm thiển cận này dẫn lão tới hành vi cuồng bạo, tàn nhẫn, biến lão thành "lão đàn ông vũ phu" lấy việc hành hạ vợ làm niềm an ủi hay thú vui trong triền miên đau khổ. Hắn hoàn toàn không biết rằng hắn nghèo là bởi hắn không biết cách để thoát nghèo, hắn không biết cách để làm giàu. Còn nhân vật Mụ - Người đàn bà là kiểu nhân vật kép, vừa là nhân vật chấn thương tinh thần vừa là nhân vật lưỡng hóa nhân cách: "Từ nhỏ tuổi tôi đã là một đứa con gái xấu, lại rỗ mặt, sau một bận lên đậu mùa. Hồi bấy giờ nhà tôi còn khá giả, nhà tôi trước ở trong cái phố này. Cũng vì xấu, trong phố không ai lấy, tôi có mang với một anh con trai một nhà hàng chài giữa phá hay lên nhà tôi mua bả về đan lưới. Lão chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi".

Cái xấu về hình thức của mụ - người đàn bà ấy vừa là xấu bẩm sinh (đứa con gái xấu), vừa là xấu do bệnh như là một định mệnh (lại rỗ mặt), kèm theo đó là cái xấu do sự tự nguyện hiến mình (tôi có mang…). Các đại từ "mụ" hay "người" gắn với nhân vật này thường được thể hiện qua cửa miệng của Phùng. Khi kể, nhân vật Phùng sử dụng đại từ "người" còn khi tả, Phùng sử dụng đại từ "mụ". Cách sử dụng các đại từ nhân xưng của nhân vật Phùng cũng như cách gọi chồng của nhân vật mụ - người đàn bà (lão chồng tôi, anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm) tạo thành hình thức tự sự - tự thú rất phổ biến trong văn học hiện đại. Đó là hình thức tự kể đa thức đa giọng - vừa kể về mình vừa kể về người, vừa nói về mình nhưng trong cái nói về mình ấy lại được dùng để nói tới người khác, tạo thành hình thức chiêm nghiệm hay cách thức phản biện, nhận diện lẽ thường biến của cuộc đời. Kiểu nhân vật chấn thương tinh thần và lưỡng hóa nhân cách hiện hình trong truyện ngắn này là một sáng tạo và là một đóng góp độc đáo của ngòi bút Nguyễn Minh Châu.

Cặp nhân vật "lão đàn ông" - "mụ - người đàn bà" này có với nhau cả "một đặng sắp con" nhưng chỉ hai đứa được xuất hiện trong câu chuyện được kể, đó là "thằng Phác", bản sao của "lão đàn ông" nhưng là kí ức hoài niệm về anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, người sẽ trở thành lão chồng tôi sau này của người đàn bà hàng chài. Chính vì thằng Phác là hiện thân của kí ức hoài niệm cho nên người đàn bà hàng chài yêu thương nó nhất, bởi nó vừa là hiện thân của tình yêu dâng hiến tự nguyện, vừa là kỷ niệm của thời con gái xa xưa mà cho dù có xấu thì người con gái ấy cũng đã tìm được mảnh đời thứ hai của mình. Người đàn bà hàng chài trân trọng kí ức hoài niệm ấy, bà ta sống, chấp nhận chịu đựng tất cả mọi khó khăn gian khổ, mọi đau đớn hy sinh cho kí ức hoài niệm - cái tạo nên động lực sống trong con người ấy. Thằng Phác trở thành người bảo vệ người che chở cho bà, với một cá tính "nó còn có mặt ở dưới biển này thì mẹ nó không bị đánh" - cá tính kế thừa không phải từ ai khác mà chính từ lão đàn ông - kẻ thường xuyên đánh mẹ nó. Có gì mâu thuẫn chăng? Không, chắc cái lão đàn ông ấy cũng thể hiện khí phách như vậy khi nhận sự dâng hiến tình yêu của người đàn bà xấu - rỗ mặt, mà khi rơi vào trạng thái bất đắc chí, lão đàn ông ấy sẽ phải nói ra: "Mày chết đi cho ông nhờ" và tiến thêm một bước nữa là: "Chúng mày chết đi cho ông nhờ".

Một đứa con nữa cũng xuất hiện hai lần trong câu chuyện được kể, nhưng không có tên hay không được xác định danh xưng, đó là "đứa con gái trạc 14, 15 tuổi. Đấy là trông vóc người và mái tóc xõa ngang vai - chứ cũng có thể con gái vùng biển ở cái vóc dạng ấy, chỉ mới 12, 13 tuổi. Nó mềm mại và nhanh như một con vượn đen tuyền trong bộ quần áo đen ướt rượt bó sát vào người". Lần xuất hiện đầu tiên của nó trong truyện ngắn là bám sát theo thằng Phác, "đè ngửa thằng bé ra giữa bãi cát" và "rút ra được từ trong cạp quần đùi của thằng bé" "một con dao găm". Đứa con gái này đã chặn đứng hành vi manh động của thằng Phác, cái thằng "có thể làm điều gì dại dột đối với bố nó" mà vì thế "mụ đã phải gửi nó lên rừng nhờ bố mình nuôi". Lần thứ hai, đứa con gái này xuất hiện khi cùng đi với mẹ lên tòa án huyện và được miêu tả rất trân trọng: "Thiếu nữ mảnh dẻ trong tấm áo cánh màu tím nhạt" với "cặp mắt của đứa trẻ lên năm", "một cặp mắt đen của chiếc thuyền mới đóng" mà "giá như sau này cần một vai như kiểu nàng tiên cá thì nhất thiết phải chọn người thiếu nữ này. Tôi tự hỏi chẳng lẽ cái nhan sắc đang độ trẻ con như đúc từ trời biển trong suốt nên thơ này lại được tách ra từ da thịt của người đàn bà hàng chài xấu xí và đau khổ?". Một nhân vật không được định danh nhưng cả trong hai trạng thái xuất hiện đều mang vẻ đẹp khác thường, vẻ đẹp của sự bất khuất trong nhẫn nhục và vẻ đẹp của sự bao dung nhân hậu mang tính nữ nói chung và là phẩm chất của người đàn bà hàng chài nói riêng. Vẻ đẹp tiềm ẩn ấy hiện ra trong tấm ảnh chụp được -  tấm ảnh trở thành tờ lịch báo hiệu năm mới, trở thành bức tranh treo tường trong mỗi gia đình.

Cách miêu tả hai đứa con của gia đình này cũng tạo ra tính chất phản biện xã hội, tạo ra các góc nhìn nhân vật từ đó xác lập giọng điệu tác phẩm, quy định hình thức tự sự - tự thú mà nổi bật hơn cả là tự sự - tự thú của nhân vật Phùng. Nhân vật Phùng, một mặt vừa tổng kết những nhận thức có được qua trải nghiệm cuộc đời, mặt khác còn lên tiếng đánh giá, tự thú, rút ra bài học, không kiêu hãnh mà tự thú thật lòng hay tự biện bạch. Tâm trạng chính, giọng điệu chính là không khí tự sự - tự thú và cũng là một phẩm chất nội dung. Ý nghĩa của tự sự - tự thú là nắm bắt hay ghi nhận sự tự biến đổi, chứ không phải tái tạo cái đã diễn ra. Tự sự - tự thú chính là tự quan sát chính mình, ở đó, tự biện bạch thay cho hành động. Tự sự - tự thú xác lập chức năng phản biện xã hội cho câu chuyện được kể, giúp độc giả nhận thức bằng chính sự tự thức tỉnh khi nhận diện cuộc đời và các số phận trong cuộc đời ấy. Chức năng phản biện xã hội có tính chất xây dựng trên cơ sở tư duy lại một cách sáng tạo các chất liệu cuộc sống đã có, để xây dựng sự thật chứ không minh họa cho sự thật, từ đó mở rộng giới hạn hiện thực đời sống.

Cái hay của truyện ngắn này không phải là câu chuyện về số phận trớ trêu của người đàn bà hàng chài, bởi lẽ nồi tròn úp vung tròn, nồi méo úp vung méo nhưng ở đây nồi méo lại úp vung tròn thì sự vênh vẹo là điều tất yếu, mà là cách thức phản biện xã hội thông qua một cuộc đời cụ thể, cho thấy một hiện thực sâu sắc hơn, một hiện thực có cả tầm rộng để mà nhìn nhận, có cả tầm sâu để mà suy ngẫm. Phản biện xã hội, trước hết là sự phản biện - sự tư duy lại - sự nhận thức lại chính bản thân mình của mỗi độc giả, để từ đó cuộc đời có những ứng xử nhân văn hơn, để cuộc đời trở nên có văn hóa và văn minh hơn. Cách hành xử của lão đàn ông với mụ - người đàn bà và cách hành xử của thằng Phác và đứa con gái - người thiếu nữ, tạo ra các hình thức phản bác tranh biện với nhau, để trong bức ảnh có "ánh hồng hồng của sương mai" kia mãi mãi vẫn nguyên vẹn "người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch" - người đàn bà có vẻ đẹp bao dung nhân hậu, biết nhận về mình mọi nỗi bất hạnh để dành lại cho đời, cho những đứa con niềm vui hạnh phúc mà "vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no". Một chân lý giản dị đẹp đến ngỡ ngàng.

 

 

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Minh Châu: Chiếc thuyền ngoài xa, in trong tập Bến quê, Tác phẩm mới, Hội Nhà Văn Việt Nam, Hà Nội, 1985, trang 69-85. Các trích dẫn về truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa đều lấy từ tài liệu này.

 

GIÁO DỤC LỊCH SỬ TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI

Trần Trung Hiếu

 

Công cuộc Đổi mới đã trải qua hơn ba mươi năm với nhiều thành tựu trong các lĩnh vực của đời sống. Công tác giáo dục đạt được nhiều kết quả, cung cấp nguồn lao động có chất lượng phục vụ tiến trình công nghiệp hóa theo hướng hiện đại. Nghị quyết 29 của Đảng (khóa XI) về "đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo" đã xác định: "Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ, dạy nghề. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học"(1).

Đại hội lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam (2016) một lần nữa nhấn mạnh: "Đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng mở, hội nhập, xây dựng xã hội học tập, phát huy toàn diện năng lực, thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn trọng pháp luật và trách nhiệm công dân"(2).

Trên cơ sở những định hướng cơ bản trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai Đề án "Đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015" và hiện đang triển khai việc lấy ý kiến cho "Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2017". Trong đó nhấn mạnh chương trình chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực, không chạy theo khối lượng tri thức mà chú ý khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, động cơ… vào giải quyết các tình huống trong cuộc sống hàng ngày. Vấn đề giảng dạy môn lịch sử theo định hướng tiếp cận năng lực học sinh cần đổi mới như thế nào trong bối cảnh thế giới đang chuyển động hiện nay?

1. Xác định đúng vị trí của môn Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông

Trong nền giáo dục phổ thông, tất cả các môn học đều có vị trí và vai trò của nó, đều góp phần trang bị hệ thống tri thức cho học sinh, đào tạo năng lực mang tính phổ thông cho thế hệ trẻ. Vì vậy, không nên phân biệt "môn chính, môn phụ". Môn Lịch sử không chỉ trang bị kiến thức cần thiết về lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới mà còn góp phần quan trọng vào việc bồi dưỡng lòng yêu quê hương, tinh thần yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, thái độ tôn trọng các giá trị lịch sử văn hóa của nhân loại, hình thành nhân cách và bản lĩnh con người, ý thức trách nhiệm của công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thế hệ trẻ lớn lên qua giáo dục phổ thông mà không yêu mến lịch sử, thiếu vốn hiểu biết cần thiết về lịch sử, về văn hóa dân tộc và nhân loại, không có niềm tự tin dân tộc thì làm sao có thể hoàn thiện phẩm chất của người công dân Việt Nam?

Vì vậy, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, trong bối cảnh thế giới hội nhập và toàn cầu hóa đang chuyển động, vấn đề chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ bị đe dọa thì môn Lịch sử càng phải đặt đúng vị thế và chức năng của nó trong hệ thống giáo dục phổ thông. Đó là vấn đề then chốt đầu tiên để đổi mới và nâng cao việc dạy và học môn lịch sử. GS. Trần Văn Giàu đã từng nói: "Có thể qua lịch sử mà học được biết bao chuyện: người làm quan, người làm dân, người làm chính trị đều học được trong lịch sử. Có thể giỏi về Sử mà không phải là thánh hiền, nhưng không có thánh hiền nào dốt về Sử cả"(3). Nhìn ra các nước phát triển, môn Lịch sử luôn được coi trọng trong chương trình giáo dục phổ thông. Ở nước Pháp, Lịch sử được coi là một trong 3 môn cơ bản cốt lõi gồm Toán học, tiếng Pháp, Lịch sử. Ở Mỹ, Canada người muốn nhập quốc tịch phải được kiểm tra về ngôn ngữ và lịch sử nước đó.

2. Bảo đảm tính khách quan, khoa học và thiết thực trong chương trình và sách giáo khoa Lịch sử

Sách giáo khoa Lịch sử chính là bước khởi đầu tạo cơ sở cho việc đổi mới về dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực.

Tuy nhiên, trong nhiều năm qua sách giáo khoa môn Lịch sử ở trường phổ thông tồn tại nhiều bất cập về chương trình, nội dung, cấu trúc và cách thể hiện… Đây chính  là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng sa sút trong dạy và học lịch sử. Vì vậy, cần có cách nhìn mới, cách tiếp cận mới trong việc kết nối giữa Sử học với giáo dục lịch sử trong biên soạn sách giáo khoa và giảng dạy môn Lịch sử.

Một trong những hạn chế lớn hiện nay của sách giáo khoa Lịch sử ở trường phổ thông là tập trung vào việc trình bày, liệt kê quá nhiều kiến thức dẫn đến cách dạy của giáo viên đi theo hướng ôm đồm nhiều sự kiện, làm suy giảm tính khoa học của môn Sử, hạn chế năng lực suy luận và vận dụng vào cuộc sống.

Vì vậy, việc biên soạn sách giáo khoa sắp tới cần được thay đổi từ định hướng tiếp cận kiến thức sang định hướng phát huy năng lực của học sinh, không chạy theo khối lượng tri thức mà chú ý khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng nhận thức lịch sử vào giải quyết các tình huống trong cuộc sống hàng ngày của học sinh.

Thay vào công việc quen thuộc là trình bày những kiến thức vừa hàn lâm, vừa dày đặc sự kiện ngày tháng năm, sách giáo khoa mới nên lựa chọn một số nội dung cơ bản, thiết thực, gần gũi với cuộc sống. Sách giáo khoa vừa là tài liệu cung cấp nội dung lịch sử, vừa là nơi khởi đầu kích thích sự tìm tòi kiến thức từ các nguồn khác nhau. Qua đó, giúp cho học sinh có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới; góp phần hình thành ở học sinh quan điểm chung một cách khoa học, biện chứng; giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, truyền thống dân tộc, bồi dưỡng năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội. Học sinh cần nắm được những sự kiện tiêu biểu, những bước phát triển chủ yếu, những chuyển biến quan trọng của lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam. Chú trọng đến những nội dung quan trọng nhất để hiểu biết về quá trình phát triển của lịch sử loài người, những nền văn minh, những mô hình xã hội tiêu biểu, các sự kiện lịch sử thế giới có ảnh hưởng lớn, liên quan đến lịch sử dân tộc. Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu giáo dục của môn Lịch sử không dừng lại ở kiến thức mà điều quan trọng là làm sao những kiến thức đó thấm sâu vào nhận thức của học sinh, biến thành hiểu biết của chính các em.

Ở phần lịch sử thế giới, cần có cách nhìn nhận lại một số vấn đề trong mối quan hệ tương tác với lịch sử dân tộc một cách biện chứng theo định hướng phát triển năng lực. Chúng ta cần minh định rằng, học lịch sử thế giới chứ không phải là lịch sử các nước trên thế giới, không nên đi sâu từng nước mà nêu những điển hình trên bình diện toàn cục. Theo chúng tôi, sách giáo khoa nên có cách tiếp cận từ góc độ lịch sử văn minh và lịch sử quan hệ quốc tế. Học về lịch sử các nền văn minh, học sinh biết và hiểu quá trình loài người tạo dựng nên những nền văn minh rực rỡ, những nét đặc sắc của văn minh từng khu vực, từng quốc gia và tác động của các nền văn minh đó trong tiến trình phát triển của thế giới. Học lịch sử quan hệ quốc tế với những diễn biến phức tạp và đan xen nhau giữa các nước trong thế giới luôn biến động sẽ thấy được sự tương tác đối với lịch sử dân tộc qua từng thời kỳ. Những kiến thức đó sẽ giúp học sinh nhận thức, suy luận và vận dụng vào việc nhìn nhận các sự kiện đang diễn ra, gắn với lịch sử dân tộc để thấy vị thế và đối sách của quốc gia trước những diễn biến trong khu vực và trên thế giới.

Về phần lịch sử Việt Nam, cần có nhiều sự thay đổi trong cách dùng những từ ngữ, thuật ngữ thiếu khách quan, phản ánh chưa đầy đủ, phân tích chưa công bằng bản chất của sự kiện lịch sử. Nhiều bài giảng trong phần lịch sử Việt Nam hiện đại bị áp đặt trong cách nhận định và phê phán. Học sinh sẽ vô cùng "ngán" khi các thầy cô cứ tuân thủ máy móc kiểu tư duy "ta lúc nào cũng thắng, địch lúc nào cũng thua", "CNXH là tuyệt vời, ưu việt còn CNTB là thối nát, xấu xa"… Cứ kết thúc mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch trong các cuộc kháng chiến, bao giờ cũng thống kê các con số cụ thể về sự thiệt hại, thương vong của địch nhưng không thấy sự thống kê về phía quân đội, nhân dân ta. Có lẽ nào chúng ta giành thắng lợi cho độc lập, cho giải phóng lại đơn giản vậy sao? Còn một khoảng trống lớn về lịch sử xác lập chủ quyền biển đảo, thiếu vắng những sự kiện đấu tranh bảo vệ biên giới Tây - Nam và biên giới phía Bắc, bảo vệ các đảo và vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa. Sách giáo khoa bộ mới nhất thiết phải khắc phục thiếu sót này, có thể dành một chương riêng biệt về "Cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới đất liền và hải đảo".

Nói tóm lại, chương trình môn học và nội dung sách giáo khoa cần xây dựng trên tinh thần tinh giản, thiết thực, có sức hấp dẫn, phù hợp với khả năng nhận thức, năng lực tư duy và tâm lý lứa tuổi.

3. Đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử theo định hướng phát triển năng lực

Song hành với việc đổi mới nội dung và chương trình sách giáo khoa theo hướng phát triển năng lực, sử học và việc giáo dục lịch sử cần được kết nối một cách khoa học trong phương pháp dạy học Lịch sử. Thực tiễn cho thấy, giáo dục lịch sử chỉ đạt được hiệu quả khi dựa trên các kỹ năng, phương pháp của sử học. Nói một cách đơn giản là học Sử để làm gì, từ đó cần học những gì và học như thế nào?

Trong giáo dục hiện đại, mục tiêu đào tạo con người, trước hết là đào tạo về năng lực tư duy và hành động. Với chức năng bồi dưỡng và phát triển năng lực cho học sinh, môn Lịch sử ngoài mối quan hệ tích hợp với các môn học khác còn giữ một vai trò quan trọng. Việc trang bị vốn hiểu biết về lịch sử cần được chọn lọc phù hợp với mục tiêu và đặc điểm tâm lý theo lứa tuổi và cấp học, từ đó bồi dưỡng nhân cách, bản lĩnh, cách ứng xử của học sinh.

Kiến thức lịch sử không phải là tất cả và cũng không phải là mục tiêu cuối cùng, nhưng là nền tảng của giáo dục môn Lịch sử. Xét theo nghĩa rộng, lịch sử là quá trình vận động trong không gian, thời gian  của cuộc sống con người trên quy mô thế giới - lịch sử thế giới, hay trong phạm vi một quốc gia - lịch sử dân tộc.

Sự áp đặt của giáo viên đối với học sinh trong quá trình học tập, việc cố nhồi nhét một nhận thức lịch sử được lập trình sẵn đã và đang khiến cho những tiết học lịch sử trở nên nhàm chán, khiên cưỡng và nặng nề. Học sinh gần như tiếp nhận kiến thức một cách thụ động, ít có cơ hội để phát triển năng lực và tư duy sáng tạo.

Học sinh ngày nay có may mắn được sử dụng những thành tựu của công nghệ thông tin để nắm bắt, tiếp thu những tri thức mới. Các em sẽ vô cùng chán nản khi đến từng tiết học Sử, giáo viên tuân thủ cách truyền đạt kiến thức trong sách giáo khoa và sử dụng phương pháp "đọc - chép". Điều này bắt nguồn từ chủ trương một thời được áp dụng rộng rãi, coi "Sách giáo khoa là pháp lệnh", buộc giáo viên phải tuân thủ chặt chẽ nội dung trong sách.

Có thể nói, đứng trước quá trình hội nhập quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin cùng với yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử theo định hướng phát triển năng lực, đội ngũ giáo viên giảng dạy môn Lịch sử ở phổ thông phải không ngừng kết hợp và đa dạng hóa các phương pháp giảng dạy một cách linh hoạt trong từng bài giảng, từng tiết học theo phương châm lấy học sinh làm trung tâm.

Muốn đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực, điều cốt lõi đầu tiên chính tùy thuộc vào vai trò và năng lực của mỗi giáo viên dạy Sử. Để đạt yêu cầu này, theo chúng tôi nên có một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của môn Sử cho chính giáo viên lịch sử, cán bộ quản lý và phụ huynh học sinh.

Thực trạng vấn đề dạy, học và thi môn lịch sử trong nhiều năm qua đã gióng lên hồi chuông "báo động" cho ngành giáo dục đào tạo, cho những người có trách nhiệm. Trong nhiều năm, môn Sử luôn bị coi là "môn phụ" dù nó vẫn là một trong 3 môn thi đại học khối C (Văn - Sử - Địa). Trong tình hình đó, không ít giáo viên dạy Sử cảm thấy "tự ti" về môn dạy của mình, chưa thực sự thấy được tầm quan trọng đặc biệt đối với phát triển toàn diện nhân cách của người học. Cần nghiên cứu, đánh giá khách quan thực trạng này, đi tìm nguyên nhân tại sao môn Sử bị học sinh, phụ huynh đánh giá thấp, không thích học, không lựa chọn đó là môn thi như các môn khoa học khác. Cần đẩy mạnh công tác giáo dục cho học sinh về tầm quan trọng của môn Sử bằng vốn kiến thức, kỹ năng sư phạm trong từng tiết dạy.

Thứ hai, từng bước nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên Lịch sử.

Muốn làm được điều đó, cần rà soát và chuẩn hóa về chuyên môn trong đội ngũ giáo viên, nhất là những giáo viên đang giảng dạy ở các vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn. Song song với quá trình chuẩn hóa về mặt trình độ, năng lực chuyên môn là việc tạo điều kiện giúp họ có cơ hội tham gia các đợt tập huấn, chuyên đề về kiến thức và kỹ năng dạy học lịch sử. Giáo viên cần chủ động khơi gợi sự sáng tạo của học sinh cùng tham gia các phương tiện trực quan, đồ dùng học tập phục vụ cho tiết học. Có một thực tế là ở trường nào có giáo viên dạy giỏi thì nơi đó có nhiều học sinh ham thích học sử và giành được giải cao trong các kỳ thi quốc gia. Điều đó khẳng định vai trò và ảnh hưởng của các thầy cô dạy giỏi đối với lòng ham thích của học sinh đối với môn Sử.

Thứ ba, tăng cường đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là vận dụng hiệu quả công nghệ thông tin vào giảng dạy môn Sử.

Sách giáo khoa môn Lịch sử phổ thông hiện nay có nhiều bất cập về cách thức tiếp cận vấn đề. Một số thiếu sót các kiến thức cơ bản vẫn chưa kịp bổ sung. Trong khi đó, nhiều thông tin, kiến thức về lịch sử từ các trang mạng xã hội được cập nhật hàng ngày. Vì vậy, để dạy Sử theo chủ trương "tích hợp" các kiến thức liên môn, bản thân các giáo viên Sử cần tận dụng hiệu quả công nghệ thông tin để thu nạp và xử lý thông tin, khai thác những kiến thức liên quan làm cho những bài giảng lịch sử trở nên sâu sắc hơn, sinh động hơn và hứng thú hơn. Đương nhiên cần có sự chọn lọc cẩn thận trong các thông tin trên mạng, còn có nhiều sự kiện chưa được kiểm chứng. Để làm được điều đó, đội ngũ giáo viên Sử cần luôn trau dồi, học hỏi kinh nghiệm, vận dụng kỹ năng trong nghiên cứu và giảng dạy để đạt được mục tiêu chung của môn học, nâng cao tính khoa học và có sức hấp dẫn để làm cho học sinh yêu thích môn học.

Thứ tư, đáp ứng cơ bản yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện dạy học và đời sống giáo viên.

Do điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay còn nhiều khó khăn nên chất lượng giáo dục của các vùng miền, các địa phương chưa đồng đều. Ở nhiều trường học thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc dạy và học còn nghèo nàn, thiếu thốn. Cần từng bước đầu tư các phương tiện dạy học như Internet, máy chiếu, màn hình… từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc do các nguồn xã hội hóa giáo dục.

Một thực tế là đời sống của giáo viên phổ thông nói chung còn gặp nhiều khó khăn. Cần có những chính sách quan tâm, đãi ngộ hợp lý, khen thưởng kịp thời và nhân rộng những điển hình những giáo viên có nhiều thành tích trong giảng dạy, bồi dưỡng học sinh thi tốt nghiệp, thi đại học, thi học sinh giỏi các cấp. Các trường cần xây dựng môi trường làm việc tích cực để giáo viên có thể cống hiến tâm huyết, trí tuệ và khả năng cho việc đổi mới việc giảng dạy môn Sử.

Đồng thời, việc đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá, thi cử cũng có ý nghĩa quan trọng đến việc khuyến khích dạy và học Sử, đem lại kết quả khả quan hơn hiện nay.

Việc đổi mới vấn đề dạy và học môn Lịch sử trong thời kỳ hội nhập quốc tế là một công việc phức tạp, không chỉ là nhiệm vụ của các nhà giáo dục lịch sử, của giới sử học mà là vấn đề được cả xã hội quan tâm. Đổi mới là xu thế tất yếu, phù hợp với quy luật phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thực trạng của dạy học Lịch sử trong thời gian qua đặt ra nhiều vấn đề cần phải thay đổi từ nội dung và chương trình sách giáo khoa đến phương pháp dạy học và cách thi cử. Nhân tố quan trọng cũng là nhân vật trung tâm của quá trình đổi mới chính là các thầy cô giáo với tinh thần trách nhiệm, năng lực tư duy và tài năng sư phạm. Họ chính là những người có sứ mệnh lớn lao đối với xã hội và có trí tuệ cùng khả năng tiến hành công cuộc đổi mới trong ngành giáo dục.

 

 

Chú thích

(1). Nghị quyết 29-NQ/TW năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: https://www.google.com/search?q=ngh%E1%BB%8B+quy%E1%BA%BFt+29+%C4%91%E1%BB %95i+m%E1%BB%9Bi+gi%C3%A1o+d%E1%BB%A5c.

(2). ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2016, tr. 296.

(3). Nhiều tác giả: Trần Văn Giàu - Dấu ấn trăm năm. Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2015, tr. 280.

HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG TRONG DÂN CA VÍ, GIẶM XỨ NGHỆ

(Kỳ 2)

 

Phạm Quang Ái

 

Tóm tắt: Phần quan trọng nhất, có giá trị văn hoá - thẩm mỹ lớn nhất trong dân ca ví - giặm là ca từ. Và trong ca từ thì hệ thống biểu trưng là mạng lưới "bóng bán dẫn" tích tụ năng lượng, khả năng sinh nghĩa của thành phần văn học. Tiểu luận này tìm hiểu hệ thống biểu tượng trong dân ca ví giặm với ba loại chính của nó là: biểu tượng văn hoá; biểu tượng nghệ thuật và biểu tượng ngôn từ nghệ thuật. Trong văn hoá dân gian xứ Nghệ nói chung, dân ca ví - giặm nói riêng, ba loại biểu tượng này có tính chất kết hợp, tương tác và chuyển hoá cho nhau để tạo nên những giá trị biểu trưng phong phú, sâu sắc.

...

2. Biểu tượng nghệ thuật

Biểu tượng nghệ thuật bao gồm các biến thể loại hình của biểu tượng văn hoá trong những ngành nghệ thuật khác nhau (hội họa, âm nhạc, văn học). Bên cạnh các biểu tượng văn hoá về quê hương, xứ sở, chúng ta thấy, trong dân ca ví - giặm xuất hiện nhiều các biểu tượng nghệ thuật có nguồn gốc từ văn hoá, văn học bác học.                               

Khảo sát dân ca ví giặm các địa phương trong xứ Nghệ, chúng tôi nhận thấy nơi nào có truyền thống văn hiến cao thì nơi đó ắt là có sự xuất hiện đậm nét của các biểu tượng văn hóa - thẩm mỹ trong lời ca. Xét trong sự phân lập bộ phận, thì trong ví, nhất là ví phường vải, biểu tượng xuất hiện nhiều hơn trong giặm. Sở dĩ có hiện tượng này là vì trong sinh hoạt hát ví có sự tham gia ứng diễn của các nho sĩ nhiều hơn trong giặm. Vì thế, trong ví xuất hiện khá nhiều biểu tượng vốn có nguồn gốc từ văn học, nghệ thuật bác học; những biểu tượng này thường mang trong mình chúng nhiều lớp nghĩa chồng lên nhau do các văn cảnh cấp cho trong quá trình hành chức. Đó là những thi liệu như: tùng, trúc, cúc, mai, đào, liễu, rồng, mây, hạc, phượng, bướm, hoa,...; các điển tích Hán học như: hồ điệp - trang sinh, mộng hoàng lương, vai Tử Lộ - bầu Nhan Uyên, khách viễn phương, lâu đài Tần cung...; các nhân vật truyện Nôm như Thuý Kiều, Kim Trọng, Phạm Tải - Ngọc Hoa, Nguyệt Nga - Vân Tiên...

- Chốn này vui vẻ tưng bừng,

Hạc nghe tiếng phượng xa chừng tới chơi;

- Dập dìu bướm lượn vườn hoa,

Vườn người bướm lượn, vườn ta bướm vờn;

- Dừng xa khoan kéo ơi phường,

Hình như có khách viễn phương tới nhà.

- Dừng xe đứng bánh mái ngoài,

Lắng tai nghe tiếng lâu đài Tần cung.

- Dừng xa khoan kéo ai ơi,

Hình như ong bướm tới chơi vườn đào;

- Đi mô lơ láo rứa ai,

Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm;

- Bấy lâu liễu bắc đào đông,

Tự nhiên thiên lý tương phùng là đây;

Bây giờ rồng lại kháp mây,

Nhờ tay tạo hoá, đó đây vuông tròn.

- Bóng ai thấp thoáng cửa đình,

Hình như Dương Lễ, Lưu Bình đến chơi.

- Em đang giấc mộng hoàng lương,

Ông tơ hồng thức dậy có khách văn chương tới nhà.

Đặc biệt, các nhân vật chính diện điển hình trong kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du như Thuý Kiều, Kim Trọng được đưa vào các câu ví phường vải như là những biểu tượng nghệ thuật với một tần suất cao. Trong trường hợp này, nhân vật văn học đã từ tư cách một điển tích, do hình tượng thấm sâu vào tâm thức cộng đồng đã trở thành sự tượng trưng cho tình yêu chung thuỷ, cao đẹp:

- Em đây vốn thật Thuý Kiều,

Nhớ chàng Kim Trọng sớm chiều ngẩn ngơ;

- Sen xa hồ sen khô hồ cạn,

Bá xa tùng, bá ngả tùng nghiêng,

Anh xa em như bến xa thuyền,

Như Thuý Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên cho tái hồi.

- Bóng ai thấp thoáng vườn hoa,

Hình như Kim Trọng đến nhà Kiều Vân;

- Đêm khuya trời lạnh sương im,

Tai nghe tiếng nhạc chàng Kim tới gần.

Vui xuân ta ví cho kiêu (cao)

Tình Trọng nghĩa Kiều vấn vít, bâng khuâng.

Rõ ràng, trong những câu ví này, hai nhân vật Kim Trọng và Thuý Kiều đã trở thành một biểu tượng độc lập, không phụ thuộc vào ngữ cảnh, nên nó chẳng cần phải thông qua một phép chuyển nghĩa nào cả.

Trong một số câu ví, chúng ta thấy có sự kết hợp rất thú vị giữa các biểu tượng văn hoá cổ sơ xuất phát từ huyền thoại với các biểu tượng nghệ thuật xuất phát từ danh tác văn chương bác học:

- Bước xuống sông Lam tìm con cá lội,

Lên núi Hồng Lĩnh hái một trái sim,

Có thương nhau nên mới đi tìm,

Bây giờ kháp mặt như Kim kháp Kiều.

3. Biểu tượng ngôn từ nghệ thuật

 Theo tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa, biểu tượng ngôn từ nghệ thuật là "Các biểu tượng nghệ thuật được cấu tạo lại thông qua tín hiệu ngôn ngữ trong văn học. Trong phạm vi ngôn ngữ văn học, các biểu tượng tâm lý, biểu tượng văn hoá đều được chuyển thành các từ biểu tượng",... "Về mặt chất liệu biểu tượng ngôn từ là sự tín hiệu hoá các hình thức vật chất cụ thể (sự vật, trạng thái, hành động) và các ý niệm trừu tượng trong đời sống tinh thần của con nguời qua hệ thống âm thanh ngôn ngữ". Và "cấu trúc ngôn từ của tác phẩm văn học có thể xem như một tổng thể các tín hiệu thẩm mỹ trong đó đóng vai trò quan trọng thuộc về các từ - biểu tượng với tư cách là những điểm nhấn trong tổng thể đó(15).

Ngoài các thi liệu văn chương bác học mà chúng tôi đã dẫn ở trên, từ các biểu tượng văn hoá gốc đã tạo ra các ngữ cảnh văn hoá để cho các nghệ sĩ dân gian sáng tạo nên các ẩn dụ biểu tượng, được dùng như những biểu tượng văn hoá đích thực trong các ngữ cảnh khác nhau. Đó chính là các từ ngữ chỉ những bộ phận thân thể con người; vật dụng thường ngày; gia súc, gia cầm; các sinh vật tự nhiên, các hiện tượng tự nhiên quen thuộc, đã đi vào các câu ví, lời giặm thông qua các phép chuyển nghĩa hoặc được cấu trúc hoá dựa trên các ngữ cảnh văn hoá được gọi về từ các biểu tượng văn hoá gốc để trở thành các ký hiệu có tư cách là những biểu tượng ngôn từ nghệ thuật:

- Khi nháy mắt khi nhện sa

Khi chuột rích trong nhà,

Khi khách kêu ngoài ngõ,

Tay em quay xa đủng đỉnh,

Tay em cầm chìa khoá động đào,

Bước năm lần cửa ra chào bạn quen.

Chỉ một câu ví trên, chúng ta đã thấy có đến 5 biểu thức ngôn từ có tư cách là những biểu tượng. Nháy mắt, nhện sa, chuột rích, chim khách kêu là những hiện tượng tâm linh xuất phát từ tín ngưỡng dân gian; chìa khoá động đào, năm lần cửa là những điển tích có nguồn gốc từ văn chương bác học.

Có thể dẫn thêm:

- Lâu ngày xáp mặt khách hảo cầu,

Hai tay bưng hộp phù lưu (trầu) ra chào.

- Mấy khi khách tới vườn đào,

Trăm hoa mủm mỉm ra chào đông quân;

- Mận chào tùng, cúc, liễu, mai,

Mận chào đào thắm một vài ba câu.

Đó là chưa tính đến hằng hà sa số các thành ngữ, tục ngữ có tính cách biểu tượng được dùng trong các câu ví điệu giặm đã được GS. Nguyễn Nhã Bản tập hợp phần nào trong công trình khoa học của ông(16). Các biểu thức ngôn ngữ có tính cách biểu tượng nghệ thuật ngôn từ này vốn xuất phát từ hai nguồn:

Trước hết, đó là những đơn vị thành ngữ, tục ngữ quen thuộc, tồn tại độc lập trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, được gia nhập vào ca dao như là một biểu thức vừa có chức năng cấu trúc hoá vừa có giá trị biểu tượng. Nó có thể xuất hiện trong nhiều đơn vị ca từ khác nhau:

- Giờ đây cá chậu chim lồng,

Nhớ thương con nén bên lòng con ơi;

- Sá bao cá chậu chim lồng;

Hễ người quân tử cố cùng mới nên;

- Chim xa lồng còn nhớ người tìm sâu bắt chấu,

Cá xa chậu nhớ công người múc nước thả bèo;

Lời thề hai chữ sơn keo,

Một vì duyên, hai vì nợ, ba nữa anh thấy  nghèo, anh xa.

Thứ đến, là các biểu thức ngôn ngữ có giá trị biểu tượng nhưng vốn không phải là các đơn vị thành ngữ, tục ngữ quen thuộc, nhưng do nó được cấu trúc dựa trên tính đối xứng nên lâm thời trong ngữ cảnh câu ví mà nó có ý nghĩa của một biểu tượng. Từ đó, do câu ví đi vào cuộc sống mà biểu thức ngôn ngữ đó trở nên như là một đơn vị thành ngữ, tục ngữ:

 - Người ta chân dép chân dày,

Em đây làm lụng cả ngày lấm chân;

- Ai lên chợ Thái buôn chè,

Để tui buôn ấm ngồi kề một bên,

Chè ngon nấu với ấm bền,

Chè ngon được nước, ấm bền được lâu.

Trong hệ thống các biểu tượng trong dân ca ví - giặm xứ Nghệ, các biểu tượng ngôn từ nghệ thuật chiếm một khối lượng đồ sộ nhất. Xét về tiềm năng, thì tất cả các ký hiệu ngôn từ đều có thể trở thành những biểu tượng. Nhưng trong thực tế, sự hình thành các biểu tượng gắn với những phương thức và ngữ cảnh văn hoá phong phú, phức tạp. Cho nên, việc xét xem các biểu thức ngôn từ nào là những biểu tượng không phải dễ dàng gì. Vì thế, khi xét, cần dò xem, biểu thức đó có phải là ký hiệu được dẫn xuất từ những ngữ cảnh văn hoá nguồn, kể cả các biểu thức được hình thành từ các phép chuyển nghĩa tu từ.        

III. Hệ thống biểu tượng trong ví - giặm xứ Nghệ có tính cách điệu cao và có tính phổ quát sâu rộng. Phần lớn là những biểu tượng thẩm mỹ-văn hóa vừa chứa đựng những nội dung sinh hoạt văn hóa tinh thần phong phú, độc đáo của các địa phương vừa thể hiện tính thống nhất cao ở những đặc điểm chung của tính cách văn hóa của con người xứ Nghệ. Hệ thống biểu tượng đó lại vừa có sự hòa kết nhuần nhị của hai dòng văn hóa, văn hóa bác học và văn hóa dân gian, trong nền văn hóa xứ sở, vừa thể hiện tính đối kháng văn hóa một cách biện chứng của một cộng đồng người sống ở một vị trí địa - chính trị, địa - văn hóa đặc biệt, vị trí phên dậu về lịch sử - chính trị và là vị trí ngoại biên về văn hóa.

Khảo sát hệ thống biểu tượng trong dân ca ví - giặm xứ Nghệ sẽ giúp chúng ta thấy được tính phong phú, độc đáo trong sinh hoạt văn hóa của người Nghệ, đồng thời cũng giúp chúng ta hiểu được, lý giải được sức sống, sự năng sản của loại dân ca này trong nền văn hóa và đời sống văn hóa xứ Nghệ cũng như những đóng góp to lớn của nền văn hóa này đối với việc xây dựng nền văn hóa dân tộc qua mỗi thời kỳ.

 

Chú thích

(15) Nguyễn Thị Ngân Hoa, Tìm hiểu những nhân tố tác động đến quá trình biến đổi ý nghĩa của biểu tượng trong ngôn ngữ nghệ thuật, Tạp chí Ngôn ngữ, H, số 10, 2006; tr 35- 44.

(16) Nguyễn Nhã Bản, Cuộc sống của thành ngữ, tục ngữ trong kho tàng ca dao người Việt, NXB Nghệ An, 2003.

 

 

 

 

 

 

 

TẾ TỬU, TƯ NGHIỆP QUỐC TỬ GIÁM LÀ NGƯỜI NGHỆ AN

Quảng Phước

 

1. Đặt vấn đề

Nho học được truyền vào nước ta từ thời Bắc thuộc nhưng thực sự được chú trọng từ cuối thời Trần và phát triển rực rỡ nhất vào thời Lê, Nguyễn. Tuy nhiên từ buổi đầu độc lập, các triều đại phong kiến Việt Nam đã quan tâm đến việc học hành, đào tạo nhân tài cho đất nước. Ngay từ thời Lý Thánh Tông, niên hiệu Thần Vũ thứ 2 (1070), nhà vua đã cho xây dựng Văn miếu, đắp tượng để thờ Khổng Tử, Chu Công và các vị tiên triết của Đạo Nho, đồng thời làm nơi học tập cho Hoàng Thái tử - người sẽ kế vị trong tương lai. Đây được coi là dấu mốc đầu tiên cho thấy việc nhà nước coi trọng Nho học, mặc dầu lúc này Phật giáo đang ở vị trí độc tôn.

Đến niên hiệu Anh Vũ Chiêu Thắng thứ nhất (1076), vua Lý Nhân Tông đã cho xây dựng Quốc tử giám bên cạnh Văn miếu để cho con em hoàng tộc và con em các quan đại thần vào học. Đây là trường đại học đầu tiên của nước ta và duy nhất suốt thời phong kiến. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong sự phát triển của nền giáo dục nước nhà. Các triều đại sau này vẫn tiếp tục phát triển, và mở rộng Quốc tử giám. Đến thời Trần thì phạm vi tuyển sinh của Quốc tử giám không còn bó hẹp trong khuôn khổ hoàng gia và quý tộc quan lại mà mở rộng ra cả con em của thường dân có lực học xuất sắc. Từ đó, Quốc tử giám trở thành nơi hội tụ tinh hoa trí tuệ của cả quốc gia. Những người được học tập ở Quốc tử giám là những người xuất sắc, được "tiến cống" từ khắp mọi miền của đất nước. Vì vậy, những người truyền thụ kiến thức cho các sinh viên của Quốc tử giám phải là những bậc cự Nho đức trọng, tài năng trác việt, và cũng được tuyển chọn trong số những người giỏi nhất. Người đứng đầu Quốc tử giám gọi là Tế tửu (tức Hiệu trưởng), tiếp đến là Tư nghiệp (tức Hiệu phó), họ là những người ươm mầm và bồi dưỡng cho "nguyên khí quốc gia", nhiều người trong số họ đã trở thành những bậc thầy của muôn đời.            

Nghệ An là vùng đất có bề dày truyền thống học hành, khoa bảng lâu đời. Suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, mảnh đất xứ Nghệ đã sản sinh ra không biết bao nhiêu ông nghè, ông cống. Các ông nghè xứ Nghệ nhiều người từng giữ chức vụ học quan, như Huấn đạo (110 vị), Giáo thụ (28 vị), Đốc học (33 vị)… để đào tạo ra những nhân tài cho đất nước. Có nhiều người giữ chức Hàn lâm và dạy học ở Quốc tử giám như Nguyễn Đức Đạt, Hồ Sĩ Tạo, Hồ Thiện Huệ, Cao Bá Tuyên. Đặc biệt, một số nhà khoa bảng Nghệ An vinh dự được mời vào triều để dạy cho Thái tử và con em hoàng tộc, như Ngô Trí Hòa, Hồ Sĩ Dương, Hồ Sĩ Tông, Nguyễn Xuân Giao, Phan Thúc Trực, Cao Xuân Dục, Hoàng Hà, Đinh Nhật Thận, Hồ Phi Cơ, Nguyễn Trí Danh… Trong số đó, có nhiều người là Tế tửu, Tư nghiệp Quốc tử giám. Từ xưa, thương hiệu "Thầy đồ Nghệ" đã trở nên nức danh khắp trong Nam ngoài Bắc. Bởi họ "đạo thông thiên địa, học bác cổ kim" (đạo thông cả trời đất, học rộng khắp xưa nay), tiết tháo, có tình nghĩa và đào tạo được nhiều người thành danh, cái quan trọng nhất họ không chỉ là bậc "kinh sư" (thầy dạy chữ) mà còn là bậc "nhân sư" (thầy dạy làm người).    

2. Tế tửu Quốc tử giám là người Nghệ An

Theo thống kê chưa đầy đủ, Nghệ An có 10 người từng giữ chức Tế tửu Quốc tử giám từ triều Lê đến triều Nguyễn. Họ hầu hết là những nhà đại khoa bảng nức danh một thời, là những bậc văn thần trụ cột của triều đình. Có những trường hợp cha là Tế tửu, con là Tư nghiệp như Nguyễn Phùng Thời (cha, Tế tửu) và Nguyễn Bá Quýnh (con, Tư nghiệp); hay trường hợp cả ba Tế tửu người cùng làng như Hồ Yên Ninh, Lê Nguyên Trung, Lê Bá Đôn đều là người làng Trung Cần, trong đó Lê Nguyên Trung và Lê Bá Đôn là hai ông cháu - thật không hổ thẹn "quan Trung Cần, dân Dương Liễu (Trung Cần là đất nhiều quan, Dương Liễu dân kiên cường); hay ông nhạc và con rể cùng làm Tế tửu như trường hợp của Cao Xuân Dục (Thượng thư Bộ học, kiêm quản Quốc tử giám) và con rể là Đặng Văn Thụy (Tế tửu Quốc tử giám). Trong số 10 vị Tế tửu Quốc tử giám trên thì 03 vị triều Lê tức Tế tửu Quốc tử giám Thăng Long, và 07 vị triều Nguyễn tức Tế tửu Quốc tử giám Huế.    

2.1. Ngô Trí Hòa (1564 - 1625)(1)

Người xã Lý Trai, nay là xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu. Khoa Nhâm Thìn niên hiệu Quang Hưng 15 (1592) đời Lê Thế Tông, hai cha con Ngô Trí Tri, Ngô Trí Hòa cùng đậu đồng khoa. Ngô Trí Hòa, 28 tuổi đậu Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp), Ngô Trí Tri, 56 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ. Vua Lê Thế Tông đã ban tặng bức trướng cho hai cha con vinh quy bái tổ đề 10 chữ vàng "Khoa danh thiên hạ hữu, phụ tử thế gian vô" nghĩa là: Đậu đại khoa trong thiên hạ có nhiều người, nhưng cha con cùng đậu một khoa thì thế gian chưa thấy bao giờ. Đây là hiện tượng độc nhất vô nhị trong lịch sử khoa cử Việt Nam. Bài ký trên bia Tiến sĩ khoa thi đó đã ghi lại hiện tượng này như một biểu tượng của triều đại thái bình, thịnh trị: "Ai nấy đều lấy làm sung sướng được trông thấy cảnh ấy, đời thái bình dưới triều vua thánh, có cha con cùng đỗ một khoa, thực là một hội văn minh tốt đẹp"(2). Ông được bổ nhiệm làm Án sát sứ Sơn Tây, được Thành Tổ Triết Vương Trịnh Tùng triệu về kinh làm Đô cấp sự Lại khoa bàn chính sự ở phủ chúa, thăng Hữu thị lang bộ Hình, ra làm kỷ lục ở trấn Thanh Hoa. Năm Giáp Thìn niên hiệu Hoằng Định [1604], được triệu về kinh thăng Hữu thị lang bộ Lại, tước Phú Lộc bá. Năm Bính Ngọ [1606] làm Chánh sứ sang nhà Minh. Mùa Đông năm Mậu Thân [1608], vì có công đi sứ được thăng Thượng thư bộ Hộ, rồi sai kiêm chức Tế tửu Quốc tử giám(3). Năm Canh Tuất [1610] thăng tước Phú Xuân hầu. Mùa Đông năm Mậu Ngọ [1618], ông làm tờ khải trình chúa Trịnh điều trần 6 việc: 

Xin sửa đức chính để cầu mệnh trời giúp

Xin đè nén kẻ quyền hào để nuôi sức dân

Xin cấm phú dịch phiền hà để đời sống nhân dân được đầy đủ

Xin bớt xa xỉ để của cải nhân dân được thừa thãi

Xin dẹp trộm cướp để dân được yên

Xin sửa sang quân chính để bảo vệ tính mạng cho dân

Triết vương Trịnh Tùng khen hay và làm theo.

Năm Quý Hợi niên hiệu Vĩnh Tộ [1623], giặc Xuân gây loạn, trộm cướp nổi lên nhiều nơi. Lê Thần Tông sau khi về kinh, cho ông làm Đốc thị, cùng với Thống lĩnh Trịnh Cối đi dẹp yên Sơn Tây, khi về được thêm chức Thái bảo, phong Hiệp mưu Tá lý Dực vận Tán trị công thần.

 "Ông học vấn hơn người, chính thuật có thừa, trải khắp trong ngoài [đối xử] chỗ nào cũng vừa; công lao tiếng tăm rõ rệt. Lại là bậc danh thần của ba triều, cha con đồng khoa, phúc nhà lâu dài, càng là việc xưa nay ít thấy"(4).

Sau khi ông mất được triều đình tặng tước Xuân Quận công. Con trai của ông là Ngô Sĩ Vinh đỗ Tiến sĩ khoa Bính Tuất [1646], cháu năm đời của ông là Ngô Công Trạc và Ngô Hưng Giáo đều đỗ Tiến sĩ.

2.2. Nguyễn Phùng Thời (1685 - 1754)(5)

Người xã Hoa Lâm, tổng Xuân Lâm, huyện Nam Đường, nay là xã Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương. Ông sinh trưởng trong một gia đình hàn Nho, nổi tiếng thông minh, học giỏi từ nhỏ. Khoa thi Hội năm Ất Mùi niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715) đời Lê Dụ Tông, ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Ông làm quan trải qua các chức: Giám sát Ngự sử đạo Lạng Sơn, Thiêm đô Ngự sử, Hình bộ Hữu Thị lang, hành Lễ bộ Tả Thị lang, tước Lâm Xuyên bá. Năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736) đời vua Lê Ý Tông, ông được cử giữ chức Tế tửu Quốc tử giám. Hiện nay tại nhà thờ còn lưu giữ sắc phong chức Tế tửu cho ông.

Phiên âm:

Sắc Hoằng tín Đại phu, Hàn lâm viện Thị độc, Tu thận doãn, trung tuyển Nguyễn Phùng Thời. Vi hữu tâm thuật cán sự, khác địch trung cần. Phụng Đại Nguyên soái Thống quốc chính Thượng sư Thái phụ Thông đức Anh nghị Thánh công Uy vương chỉ chuẩn, hữu triều thần thiêm nghị, ứng thăng Tế tửu chức. Khả vi Triều liệt Đại phu, Quốc tử giám Tế tửu, Khuông mỹ Thiếu doãn trung chế.

Cố sắc!

Vĩnh Hựu nhị niên tam nguyệt sơ tam nhật.

    (Sắc mệnh chi bảo)

Tạm dịch:

Sắc cho Hoằng tín Đại phu, Hàn lâm viện Thị độc, Tu thận doãn, trung tuyển Nguyễn Phùng Thời. Vì có tâm làm việc mẫn cán, cung kính giữ đạo trung cần. Kính vâng chỉ chuẩn của Đại Nguyên soái Thống quốc chính Thượng sư Thái phụ Thông đức Anh nghị Thánh công Uy vương [Trịnh Giang] và có triều thần nghị bàn, nên được thăng chức Tế tửu. Đáng làm Triều liệt Đại phu, Tế tửu Quốc tử giám, Khuông mỹ Thiếu doãn, trung chế.

Cho nên ban sắc!

Ngày mồng 3 tháng 3 năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736)

    (Sắc mệnh chi bảo)

Năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749) đời vua Lê Hiển Tông, ông được thăng làm Tả Thị lang bộ Hình tước Lâm Xuyên hầu. Trong thời gian ông làm Tả Thị lang bộ Hình, ông được triều đình cử làm trưởng sứ bộ sang Trung Quốc giải quyết tranh chấp biên giới ở vùng núi Tụ Long nơi có mỏ đồng. Công việc thắng lợi, ông về triều rồi xin nghỉ hưu.

Năm Cảnh Hưng thứ 15 (1754) ông qua đời, được truy phong Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Công bộ Thượng thư và được ban thụy là  Đoan Nghị Trụ Quốc thượng giai. Sau khi mất, ông được phong làm phúc thần, các triều đại đều ban sắc phong.

   2.3. Chu Phúc Cổn (1655 - 1743)(6) 

Ông người làng Tam Khôi, xã Diễn Trường, huyện Diễn Châu. Thuở nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, ham học. Lớn lên hiểu biết rộng, hay chữ, đối đáp nhanh nhẹn, được nhân dân trong vùng kính phục, quý mến gọi là "thần đồng". Năm Tân Dậu niên hiệu Chính Hòa thứ hai (Lê Hy Tông, 1681), ông thi Hương và đậu Hương cống lúc 26 tuổi. Năm Ất Sửu niên hiệu Chính Hòa thứ 6 (Lê Hy Tông, 1685), ông thi đậu Tam trường, được bổ nhiệm làm chức Tri huyện tại Châu Phúc, Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Sau đó, ông được thăng Cẩn sự Tá lang. Ông tiếp tục đi thi và đậu tiếp 8 khoa Tam trường (tổng cộng là 9 khoa Tam trường) được người đời ca tụng là thần nhân. Đến năm Kỷ Sửu niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 5 (Lê Dụ Tông, 1709) ông được thăng chức Tế tửu Quốc tử giám.

Năm 1716, ông về hưu, mở trường dạy học tại quê nhà, học trò theo học rất đông, nhiều người học trò của ông sau này đã thành danh. Ông còn chiêu tập dân nghèo khai hoang cày cấy, thành lập xóm làng, hiệu gọi là Xóm Đồn (sau này là làng Tam Khôi). Ngày 9 tháng 4 năm Quí Hợi niên hiệu Cảnh Hưng thứ 4 (1743), ông Chu Phúc Cổn tạ thế tại quê nhà và được nhân dân lập đền thờ. Ông là người tài cao, đức độ, một vị quan tận trung với triều đình, tận hiếu với nhân dân nên ông đã được vua Lê Hiển Tông ban thưởng 08 chữ vàng "Tiền triều khanh tướng, bản ấp gia tiên". Và cấp cho ông 1 mẫu 8 sào làm đất hương hỏa, giao cho dân thôn phụng sự. Hiện nay, tại nhà thờ họ Chu Phúc còn lưu giữ được hai đạo sắc phong thần của triều Nguyễn:

Sắc thứ nhất:

Phiên âm:

Sắc Nghệ An tỉnh, Đông Thành huyện, Hoàng Trường xã, Tam Khôi thôn phụng sự Lê triều Tế tửu Chu tướng công chi thần. Nẫm trứ linh ứng, hướng lai vị hữu dự phong. Tứ kim phi thừa cảnh mệnh, miến niệm thần hưu, trứ phong vi Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần. Chuẩn nhưng cựu phụng sự. Thần kỳ tướng hựu bảo ngã lê dân.

 Khâm tai!   

Thành Thái thập ngũ niên thập nhất nguyệt nhị thập lục nhật (Sắc mệnh chi bảo)

Tạm dịch:

Sắc cho thôn Tam Khôi, xã Hoàng Trường, huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An thờ phụng thần Chu tướng công vốn là Tế tửu Quốc tử giám triều Lê. Linh ứng đã lâu, trước nay chưa được ban cấp sắc phong. Cho nên, nay trẫm nối tiếp nghiệp lớn, xa nghĩ ơn thần, trứ phong là Dực bảo Trung hưng Linh phù. Chuẩn cho thờ phụng như cũ. Thần hãy ban ơn giúp đỡ và giữ gìn cho dân ta!

Kính thay!

Ngày 26 tháng 11 năm Thành Thái 15 [1903] (Sắc mệnh chi bảo)

Sắc thứ hai:

Phiên âm:

Sắc Nghệ An tỉnh, Diễn Châu phủ, Tam Khôi thôn tòng tiền phụng sự nguyên tặng linh phù Dực bảo trung hưng Lê triều Tế tửu Chu tướng công tôn thần. Hộ quốc tý dân, nẫm trứ linh ứng, tiết mông ban cấp sắc phong chuẩn hứa phụng sự. Trứ kim chính trị Trẫm tứ tuần đại khánh tiết, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật, trứ gia tặng Đoan túc tôn thần. Đặc chuẩn phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển.

Khâm tai!

Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật (Sắc mệnh chi bảo)

Tạm dịch:

Sắc cho thôn Tam Khôi, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo như trước thờ phụng thần Chu tướng công Tế tửu Quốc tử giám triều Lê vốn được tặng là Linh phù Dực bảo Trung hưng. Thần giúp đỡ đất nước, che chở nhân dân, linh ứng đã lâu, nhiều lần được ban cấp sắc phong chuẩn cho thờ phụng. Cho nên, nay đúng dịp lễ tứ tuần đại khánh của trẫm (mừng thọ 40 tuổi của vua Khải Định), kính ban chiếu báu, lễ lớn tăng thêm phẩm trật, trứ gia tặng là Đoan túc tôn thần. Đặc chuẩn cho thờ phụng, dùng để ghi nhớ ngày mừng của đất nước mà làm sáng tỏ điển thờ.

Kính thay!

Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 [1924] (Sắc mệnh chi bảo)

2.4. Hồ Yên Ninh(7)

Người làng Trung Cần nay là xã Nam Trung, huyện Nam Đàn. Ông là Giám sinh Quốc tử giám. Sau làm quan đến Quang tiến Vinh lộc Đại phu, kiêm Tế tửu Quốc tử giám

2.5. Lê Nguyên Trung(8)

Người làng Trung Cần, nay là xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, đậu Cử nhân khoa Quý Dậu niên hiệu Gia Long thứ 12 (1813), làm Thự Tuần phủ Hưng Hóa, thăng Tổng đốc Bình Định, sau được triệu về kinh bổ nhiệm làm Tế tửu Quốc tử giám. Ông là người nổi tiếng thanh liêm. Khi còn làm Thự Tuần phủ Hưng Hóa, ông dâng sớ xin phong kín mỏ vàng, có người đem số vàng to đến cầu cạnh nhưng ông không động lòng, được vua khen là liêm khiết. Ông làm việc công bằng, giản dị, được lòng dân, có tiếng là chính trị giỏi.

2.6. Lê Bá Đôn(9)

Người làng Trung Cần, nay là xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, đậu Giải nguyên khoa Đinh Mão niên hiệu Tự Đức thứ 20 (1867), là cháu của Lê Nguyên Trung, cha là Lê Nguyên Khái đỗ Cử nhân năm 1818, con là Lê Bá Hoan đỗ Tiến sĩ năm 1891.

Năm Tự Đức thứ 29 (1876), ông làm Tri huyện An Định. Gặp năm đói kém, ông cố sức trù liệu phát chẩn giúp dân, được triệu về kinh bổ nhiệm chức Chủ sự bộ Lễ, thăng chức Lang trung.

Năm thứ Tự Đức thứ 36 (1883), sung làm Đổng lý sở Tu thư, được thụ hàm Thị độc học sĩ, trải lĩnh chức Đốc học Quảng Trị, Bình Định.

Năm Ất Dậu niên hiệu Đồng Khánh (1885), ông lĩnh chức Tư nghiệp Quốc tử giám, rồi thăng Tế tửu Quốc tử giám, đổi thụ hàm Hồng lô tự khanh.

Đầu thời Thành Thái, ông nhiều lần được điều đi làm Đốc học tỉnh Bình Định, tỉnh Thanh Hóa.

Lê Bá Đôn làm quan liêm cần, học rộng, thông biết nhiều những lời của nhà địa lý, trước tác có tập "Địa lý tiệp yếu".

2.7. Trần Đình Phong (1843 - 1919)(10)

Người xóm Lũy, xã Thanh Khê nay là xã Mã Thành, huyện Yên Thành. Ông đậu hai lần Tú tài vào năm Tự Đức thứ 21 (1868) và năm Tự Đức thứ 23 (1870). Khoa Bính Tý niên hiệu Tự Đức thứ 29 (1876), ông đỗ Cử nhân. Năm Tự Đức thứ 32 (1879) triều đình mở ân khoa, Trần Đình Phong thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân. Sau đó, ông được phong tước Hàn lâm sơ phụ, phụ trách biên tu lịch lý rồi bổ làm tri phủ Kiến An, kiêm lý cả huyện Bình Giang. 

Năm 1885, mẹ mất, Trần Đình Phong xin về chịu tang mẹ và nghỉ lại quê, mở lớp dạy học, định xin trí sĩ.

Năm Mậu Tuất (1898) vua Thành Thái xuống chỉ thăng ông làm Đốc học tỉnh Quảng Nam. Năm Canh Tý (1900) Trần Đình Phong được cử làm Phó Chủ khảo kỳ thi Hương tại Thanh Hoá. 

Năm Ất Tỵ (1905), Trần Đình Phong được thăng Tế tửu Quốc tử giám và được phong Quang lộc tự khanh. Năm Mậu Thân niên hiệu Duy Tân năm thứ 2 (1908), ông được bổ làm Biên tu Quốc sử. Tháng giêng năm Kỷ Dậu (1919) Trần Đình Phong lâm bệnh và mất tại Huế.

Cuộc đời Trần Đình Phong phần lớn gắn bó với chức học quan và đó cũng là điều mà ông tâm đắc nhất. Ông dồn hết tâm huyết của mình cho sự nghiệp đào tạo nhân tài. Ông là thầy dạy của Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Phạm Liễu, Nguyễn Đình Hiến, Phan Quang và nhiều nhân sĩ nổi tiếng khác.

2.8. Cao Xuân Dục (1842 - 1923)(11)

Người làng Thịnh Mỹ, tổng Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, nay là xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu. Ông tên tự là Tử Phát, hiệu là Long Cương, xuất thân trong một gia tộc lớn, có truyền thống khoa bảng. Nổi tiếng thông minh, hiếu học từ nhỏ. Song tới tận khoa thi Bính Tý năm Tự Đức thứ 29 (1876), ông mới đỗ Cử nhân. Năm sau (1877), ông lại trượt trong khoa thi Hội. Tuy con đường khoa cử của ông không cao lắm nhưng ông là một người có trí tuệ uyên thâm, tài cao học rộng, thông kim bác cổ. Con đường quan lộ của ông trải qua nhiều chức vụ khác nhau từ thấp đến cao, đã thể hiện rõ vai trò của một vị quan cần mẫn, trách nhiệm, có năng lực và liên tục được thăng chức. Đặc biệt ông rất quan tâm đến văn hóa, giáo dục. Ông được phong chức Tổng tài Quốc sử quán, chủ trì việc biên soạn nhiều bộ quốc sử quan trọng như Đại Nam thực lục chính biên, Quốc triều toát yếu, Đại Nam nhất thống chí… Ông còn được phong chức Thượng thư Bộ học, kiêm quản Quốc tử giám, tức là Bộ trưởng Bộ Giáo dục đầu tiên của nước ta, kiêm quản luôn cả trường Quốc tử giám (cũng tương đương với Tế tửu). Ông đã có nhiều cải cách trong cách dạy, học và thi cử nhằm duy trì nền tảng văn trị và giáo dục của đất nước trước nguy cơ "mất gốc" trong buổi giao thời, mặt khác thể hiện một tư duy cấp tiến "hội nhập": "cổ kim tham khảo lẫn nhau, Á Âu cùng chung trí thức", coi trọng cả Hán ngữ, Quốc ngữ, Pháp ngữ, nhận thức rõ vai trò của giáo dục "muốn khơi dân trí trước hết phải bằng con đường học thuật". Ông còn mở cả thư viện tư nhân tức "Long Cương thư viện" để lưu trữ sách vở. Nhiều bộ sách quý của nước ta còn lưu giữ được đến nay là nhờ Long Cương thư viện của ông. Ông xứng đáng là một nhà văn hóa, một nhà giáo dục lớn của dân tộc thời cận đại.  

2.9. Đặng Văn Thụy (1858 - 1936)(12)

Người làng Nho Lâm nay là xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu. Ông tên tự là Mã Phong, hiệu là Mộng Long. Ông đậu Đình nguyên Hoàng giáp khoa thi Hội năm Giáp Thìn niên hiệu Thành Thái thứ 16 (1904). Cả cuộc đời ông gắn bó với chức học quan, lúc đầu làm Huấn đạo huyện Nông Cống, rồi Giáo thụ Diễn Châu. Sau được triệu về kinh giữ chức Tư nghiệp Quốc tử giám, sung Tư thư cục. Năm 1908, ông được thăng lên làm Tế tửu Quốc tử giám. Theo gia phả họ Đặng Nho Lâm, ông đã dâng sớ lên nhà vua đề nghị cải cách giáo dục. Vì ngoài trường Quốc học duy nhất ở kinh đô, còn nhiều trường mở ra ở cả nước nhưng không phải trường nào mở ra cũng dạy tốt cả. Đến nay, chưa tìm lại được những cải cách giáo dục mà ông viết, nhưng những tâm đắc ông đã ghi chép thành lời trong Mã Sơn văn thảo như sau:

Nhân sinh tính thiện dữ Nghiêu đồng

Dưỡng thánh nguyên tư trách thánh công.

Bất độc bất đạt sư phụ quá,

Giáo nhi bất học trách đồng mông.

Tạm dịch:

Người ta sinh ra tính thiện ngang với vua Nghiêu

Nuôi dưỡng được bản chất thánh nhân là công của thánh nhân.

Không dạy, không dỗ là lỗi của thầy, của cha

Dạy mà không học là lỗi của học trò.

Năm 1914, ông cáo quan về quê. Tổng cộng ông làm học quan 31 năm (1883 - 1914). Sau khi cáo quan về quê, nhà của ông trở thành nơi chứa nhiều loại sách quý, ông vẫn tiếp tục dạy học và đào tạo được nhiều học trò thành danh, trong đó có Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm. Ông nổi tiếng là một nhà Nho đức độ, một nhà giáo uyên thâm, nghiêm khắc nhưng cũng rất hóm hỉnh.

Tác phẩm của ông có: Nho sĩ cuồng ngâm (thơ), Quốc tử giám tư hương ca (thơ, văn), Mộng Long tuyết mộng sử (sử), Mã Sơn văn thảo (văn), Khuyến nông ca (thơ), Di huấn ca, Phục Ba đồng trụ luận… Ông còn tham gia hiệu đính Quốc triều hương khoa lục, Quốc triều khoa bảng lục của Cao Xuân Dục, tham gia biên soạn và hiệu đính Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam liệt truyện tiền biên.    

2.10. Lê Văn Miến (1873 - 1943)(13)

Người làng Kim Khê nay là xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc. Lê Văn Miến từng đi du học ở Pháp, theo học trường Cao đẳng Mỹ thuật Pari. Sau về làm Đốc học ở trường Pháp - Việt tại Vinh, được thăng làm Tế tửu Quốc tử giám ở Huế. Trong thời gian đang làm Đốc học ở Vinh, ông thường đến Văn miếu tỉnh đàm đạo chuyện thơ văn. Ông tham gia tổ chức Hoan Châu học chính, một chi nhánh của Đông kinh nghĩa thục (1904 - 1906). Lấy cảm hứng từ các buổi bình văn ở Văn miếu Vinh, ông vẽ bức tranh "Bình văn", nhằm thức tỉnh và động viên tinh thần hiếu học, yêu nước của thanh niên thời bấy giờ. "Bình văn" là bức tranh sơn dầu nổi tiếng đầu tiên của ngành hội họa hiện đại Việt Nam, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. 

3. Tư nghiệp Quốc tử giám là người Nghệ An

Theo thống kê chưa đầy đủ, Nghệ An có 07 vị Tư nghiệp Quốc tử giám, trong đó 02 vị Tư nghiệp thời Lê, 05 vị Tư nghiệp thời Nguyễn. Họ là những người xuất thân từ khoa cử, trí tuệ uyên thâm, có người trải nhiều chức với nhiều cương vị khác nhau nhưng cũng có người cả đời gắn bó với chức học quan. Tuy nhiên dù làm ở vị trí nào họ vẫn luôn là những vị quan thanh liêm, được học trò quý mến, nhân dân tin yêu.  

3.1. Từ Bá Cơ (1683 - ?)(14)

Quê ở xã Phượng Quế, nay là xã Liên Phượng, huyện Thường Tín, Hà Nội, di cư vào làng Hạ Khê, nay thuộc xã Nam Cường, huyện Nam Đàn, 30 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 8 (1712) đời vua Lê Dụ Tông. Ông được bổ nhiệm là Tư nghiệp Quốc tử giám, nổi tiếng thanh liêm, hay chữ. Em trai ông là Từ Trọng Đĩnh đậu Tiến sĩ khoa Tân Sửu niên hiệu Bảo Thái thứ 2 (1721), làm quan đến Giám sát ngự sử. Hiện nay, các sắc phong của hai ông còn lưu giữ tại nhà thờ ở xã Nam Cường, huyện Nam Đàn. 

3.2. Nguyễn Bá Quýnh (1710 - 1772)(15)

Người xã Hoa Lâm, nay là xã Ngọc Sơn,  huyện Thanh Chương, là con của Tế tửu Nguyễn Phùng Thời. Ông đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ năm 24 tuổi, khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức thứ 2 (1733) đời Lê Thuần Tông, làm quan Tư nghiệp Quốc tử giám, kiêm Đông các Đại học sĩ.

3.3. Phan Hữu Tính (1774 - 1831)(16)

Người xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, 48 tuổi đậu giải Nguyên thi Hương khoa Tân Tị niên hiệu Minh Mệnh thứ 2 (1821), 49 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Nhâm Ngọ niên hiệu Minh Mệnh thứ 3 (1822). Ông sơ thụ Hàn Lâm, bổ nhiệm chức Tri phủ phủ Định Viễn, thăng Đốc học tỉnh Định Tường.

Năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), ông được triệu về kinh làm Lang trung bộ Lại, Thự Thiêm sự, rồi chuyển sang Tư nghiệp Quốc tử giám.

Năm Minh Mệnh thứ 10 (1829), ông được bổ nhiệm Lang trung bộ Binh, theo làm việc tại Tào công ở Bắc Thành. Lúc việc công nhàn rỗi, Phan Hữu Tính thích cùng với sĩ nhân vui thưởng văn thơ. Ông tại chức 2 năm thì mất, hưởng dương 58 tuổi.

Phan Hữu Tính thuở nhỏ thông minh, nhớ lâu, khi làm quan trong sạch, giản dị không khác gì người học trò nghèo. Tế tửu Phạm Đình Hổ cùng làm việc với ông nhận xét rằng: "ta thấy Tính là người hòa với mọi người mà không hùa theo, cùng với mọi người mà có chí thú riêng. Ngày thường thì tin thực, lúc lâm sự thì chắc chắn không thể thay đổi. Trước sau rèn dạy học trò, nhiều người thành đạt".

3.4. Vũ Duy Tân (1783 - 1848)(17)

Người xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tên húy là Dực, tên tự là Duy Tân, tên hiệu là Thanh Phái, là học trò của Tiến sĩ Bùi Tồn Am (tức Bùi Dương Lịch). Ông đậu Cử nhân khoa Quý Dậu niên hiệu Gia Long thứ 12 (1813). Ông giữ nhiều chức vụ khác nhau, lúc thăng lúc giáng: Tri huyện Thiên Lộc, Tri huyện Hưng Nguyên, Tri phủ Diễn Châu, Huấn đạo Lệ Thủy, Giáo thụ Quảng Bình, Học chính Quốc tử giám, thăng Tri phủ Hà Trung, thăng Viên ngoại bộ Công, Ngự sử Quảng Nam, Quảng Ngãi, Giáo thụ Đức Thọ, Đốc học Sơn Tây, Hà Nội. v.v

Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) được Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên là Nguyễn Đăng Giai tiến cử vào chức Án sát Lang trung, triều đình xét thấy ông là bậc mô phạm nho nhã nên lại tiến cử làm Tư nghiệp Quốc tử giám. Ông nhậm chức, các môn sinh đến chúc mừng nhưng chẳng được bao lâu thì lâm bệnh phải về nghỉ. Môn sinh của ông có nhiều người đậu đạt cao từ Thám hoa, Cát sĩ, Hoàng giáp, Tiến sĩ, Phó bảng, Cử nhân, Tú tài... như Thám hoa Phan Thúc Trực; Tiến sĩ Nguyễn Cửu Trường, Trịnh Đình Thái, Nguyễn Khắc Tần; Đệ tam giáp Nguyễn Thanh Oai, Nguyễn Minh, Phạm Quang Mãn; Cử nhân Phạm Đình Trán, Đoàn Danh Dương...  

Vũ Duy Tân trị nhậm ở đâu cũng "đều lập điều ước rõ ràng, lấy việc trọng luân thường, sửa tính nết làm đầu. Lúc nhàn rỗi thường cùng học trò giảng tập. Trước sau lĩnh chức học chính, người đến học thành đạt nhiều".

3.5. Phạm Hữu Nghi(18)

Tên tự là Trọng Vũ, tên hiệu là Đạm Trai. Năm Minh Mạng thứ 2, đỗ Cử nhân, lúc đầu được bổ nhiệm chức Điển bạ, thăng dần đến chức Tu soạn, sung chức Hành nhân sứ bộ đi sứ nhà Thanh. Khi về, vì việc đệ trạm không hợp lệ bị cách chức nhưng cho lấy công chuộc tội, rồi phái đi công cán ở Giang Lưu Ba. Sau đó, được khôi phục làm chức Tư vụ, thăng chức Chủ sự; trải làm quan Tri phủ 3 phủ An Nhân, Hoài Đức, Hoài Nhân. Vì có tiếng là văn hạnh, được thăng chức Thị giảng, sung Tán thiện, đổi làm chức Tư nghiệp Quốc tử giám, thăng bổ chức Án sát sứ Nghệ An. Chưa bao lâu, đổi vào kinh, thăng Quang Lộc tự khanh, sung Quốc sử quán Toản tu. Đầu năm Tự Đức (1848), ứng chế làm bài phú "Nguyệt trung quế" nổi tiếng, thăng thụ Hữu Tham tri bộ Lễ, sung làm nhật giảng quan ở Kinh diên.

Năm Tự Đức thứ 7 (1854), ông tâu xin kiểm xét từ năm Gia Long thứ nhất (1802) cho đến năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), phàm các văn thể như sắc mệnh, chiếu cáo tiên biểu, thư, sớ, bi kí, lộ bố và tán tụng, tự bạt do các thần công nghĩ soạn ra, chọn bài nào hay hơn cả, chia từng môn, định từng loại, biên chép vào thành tập nhan đề là "Đại Nam văn uyển thống biên", để cho điển chương thời thịnh trị, lưu truyền lâu dài. Vua khen là phải, sai ông trông coi việc làm. Khi biên thành tập được 76 quyển, gồm có 1.421 bài.

Năm Tự Đức thứ 15 (1862), ông xin nghỉ hưu, vua ban cho bạc lụa, mũ áo để ưu đãi. Tháng 3 năm ấy, ông mất, thọ 66 tuổi. Tin báo tang đến triều đình, vua ban thêm cho 500 quan tiền.

Phạm Hữu Nghi thông kinh bác sử, học rộng tài cao, lúc mới sung làm hành nhân, có làm tập "Sứ Yên tùng vịnh", danh sĩ ở Trung Quốc cũng đều khen thưởng. Lại có tập thơ "Đạm Trai" lưu hành ở đời. Ông thường quan tâm đến quê hương. Khi đang ở làng, bị nạn bãi sông lở, ông bèn họp người làng, bàn xin ruộng của xã Thẩm Lĩnh để cho dân ở. Đến nay dân làng còn nhớ ơn. Con là Phạm Hữu Trác, Phạm Hữu Gia đều làm bát phẩm bộ Binh; cháu là Phạm Hữu Liệu đậu Tiến sĩ năm Thành Thái thứ 10 (1898). 

3.6. Văn Đức Giai (1807 - 1864)(19)

Người xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tên tự là Phú Mỹ, còn một tên là Văn Đức Khuê, 37 tuổi đậu Cử nhân khoa Quý Mão niên hiệu Thiệu Trị thứ 3 (1843), 38 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Giáp Thìn niên hiệu Thiệu Trị thứ 4 (1844), vì mẹ già xin về quê phụng dưỡng.

Năm Tự Đức thứ nhất (1848), ông được bổ làm chức Biên tu, lĩnh Đốc học Quảng Bình. Năm Tự Đức thứ 12 (1859), ông được triệu về kinh làm Hình bộ Viên ngoại lang. Sang năm sau đổi làm Hàn lâm viện Thị độc, lĩnh Tư nghiệp Quốc tử giám, rồi thăng Thự Thị độc học sĩ, lĩnh chức Phó sứ đi Yên Kinh (Bắc Kinh, Trung Quốc).   

Ông nổi tiếng là người cương trực, thanh liêm, cho dù những người quan cao chức lớn nhưng làm việc sai trái ông đều dâng sớ đàn hặc. Tháng 2 năm Tự Đức thứ 14 (1861), ông được triều đình cho mộ binh chống Pháp và tòng chinh quân thứ Gia Định. Ngày 5/6/1864 (năm Tự Đức thứ 17), trong một trận giao tranh với giặc ở Quảng Yên, ông đã tuẫn tiết, được triều đình truy tặng chức Bố chánh sứ, và được thờ ở Trung Nghĩa từ tại Kinh đô.

3.7. Cao Trọng Sính(20)

Người xã Nho Lâm, huyện Đông Thành nay là xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu. Ông đậu Cử nhân khoa Đình Mùi niên hiệu Thiệu Trị thứ 7 (1847). Ông làm quan trải nhiều nơi, nhiều chức: Huấn đạo, Giáo thụ, Tri huyện, Tư nghiệp, Lang trung, Đốc học, Án sát…

Năm Tự Đức thứ 17 (1864), ông được bổ nhiệm làm Tư nghiệp Quốc tử giám, sau đó chuyển sang làm Lang trung bộ Binh. Một thời gian ông được bổ nhiệm chức Đốc học Bình Định, rồi chuyển sang Đốc học Bình Thuận, rất được học trò và nhân dân yêu quý. Triều đình thấy ông làm quan rất được lòng dân nên cho thăng chức Thị giảng học sĩ, lãnh chức Án sát tỉnh Bình Thuận.

"Trọng Sính là người tính nết điềm đạm, hòa nhã, giản dị và gìn giữ với mọi người, lòng rất ham được dạy dỗ những kẻ hậu học. Làm giáo chức nhiều nơi, nhà luôn túng thiếu, vẫn bình thản như không vậy. Học trò, nhiều người thành đạt có kẻ làm đến tư mục một phương".

4. Kết luận

Suốt mười thế kỷ tồn tại, Quốc tử giám đã đào tạo ra hàng ngàn nhân tài cho đất nước. Các vị Tế tửu và Tư nghiệp với vai trò là những người đứng đầu trường đại học duy nhất của quốc gia đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giáo dục nước nhà. Trong số đó, mảnh đất Nghệ An đã "sản sinh" cho Quốc tử giám 10 vị Tế tửu, 7 vị Tư nghiệp. Họ không chỉ uyên thâm về kiến thức kinh điển, là nhà giáo mẫu mực, thương yêu học trò, tận tụy hết mình vì sự nghiệp hun đúc "nguyên khí quốc gia" mà còn thể hiện tài năng về nhiều mặt như ngoại giao giỏi, chính trị tài như Ngô Trí Hòa, Nguyễn Phùng Thời, Chu Phúc Cổn, Văn Đức Giai, Phạm Hữu Nghi; thậm chí có người còn cầm quân đánh trận như Văn Đức Giai; là tác gia văn học, sử học có tiếng, nhà cải cách giáo dục, như Ngô Trí Hòa, Trần Đình Phong, Cao Xuân Dục, Đặng Văn Thụy. Những cống hiến của họ góp phần tô thắm thêm truyền thống tốt đẹp của quê hương, nối tiếp sự nghiệp trồng người của tiên Nho, xứng đáng là những bậc thầy của muôn thuở. 

 

Chú thích

1. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2008, t.315,316.

2. Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An, Nxb Nghệ An, Vinh, 2005, tr.462. 

3. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, sđd, tr 315.

4. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, sđd, tr 316.

5. Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An, sđd, 210; Sắc phong lưu tại nhà thờ.

6. Khoa bảng Nghệ An, sđd, tr. 379; Sắc phong, gia phả lưu tại nhà thờ họ Chu và gia phả họ Chu xã Diễn Trường, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

7. Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An, sđd, trang 412.

8. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, tập 3, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2006; Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An, sđd, trang 63, 256.

9. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, sđd; Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An, sđd, trang 63, 254; Ninh Viết Giao (chủ biên), Văn bia Nghệ An, Nxb Nghệ An, Vinh, 2004, trang 86.

10. Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An, sđd, trang 63, 221; Ninh Viết Giao, Từ điển nhân vật xứ Nghệ, Nxb Tổng hợp TPHCM, 2008, trang 615, 616. 

11. Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An, sđd, trang 63; Ninh Viết Giao, Từ điển nhân vật xứ Nghệ, sđd, trang 115, 116.

12. Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An, sđd, trang 50, 63; Ninh Viết Giao, Từ điển nhân vật xứ Nghệ, sđd, trang 166, 167; Ninh Viết Giao, Diễn Châu 1380 năm Lịch sử - văn hóa - nhân vật, NXb Nghệ An, Vinh, 2007, trang 351, 352.

13. Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An, sđd, trang 63, 75, 76.

14. Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An, sđd, trang 63, 227.

15. Huyện ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ huyện Thanh Chương, Thanh Chương xưa và nay, Nxb KHXH, Hà Nội, 2010, trang 510; Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An, sđd, trang 63, 178, 204.

16. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, sđd; Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An, sđd, trang 63, 219.

17. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, sđd; Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An, sđd, trang 63, 310; Thanh Chương xưa và nay, sđd, trang 481, 482, 483.

18. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, sđd.

19. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, sđd; Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An, sđd, trang 63, 222; Ninh Viết Giao, Từ điển nhân vật xứ Nghệ, sđd, tr 666, 667, 668. 

20. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, tập 4, Nxb Thuận Hóa, 2006; Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An, sđd, trang 63, 238; Ninh Viết Giao, Diễn Châu 1380 lịch sử - văn hóa - nhân vật, sđd, trang 342.

MỘT VÀI Ý KIẾN VỀ CÂU ĐỐI TẠI TAM QUAN ĐỀN ÔNG HOÀN MƯỜI

Trần Tử Quang

 

Đầu năm 2016, UBND huyện Hưng Nguyên phối hợp cùng Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch tỉnh Nghệ An tổ chức sáng tác câu đối ở Tam quan của Di tích lịch sử đền Ông Hoàng Mười (xóm Xuân Am, xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên). Sau khi tổ chức họp Hội đồng khoa học ngành, Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch đã thống nhất ý kiến chọn khắc 3 câu đối lên Tam quan mới xây dựng, cụ thể như sau:

Câu 1:

Nguyên văn:

鴻嶺鍾英濯濯靈聲輝聖德

藍江毓秀洋洋正氣顯神功

Phiên âm:

Hồng Lĩnh chung anh, trạc trạc linh thanh huy Thánh đức

Lam Giang dục tú, dương dương chính khí hiển Thần công

Dịch nghĩa:

Núi Hồng hun đúc tinh anh, rờ rỡ linh thiêng làm rạng Thánh đức

Sông Lam nuôi dưỡng tinh tú, lồng lộng chính khí làm rõ Thần công

Câu 2:

Nguyên văn:

洞廷水國真皇子

南越黎朝勇將軍

Phiên âm:

Động Đình thủy quốc chân hoàng tử

Nam Việt Lê triều dũng tướng quân

Dịch nghĩa:

Chân hoàng tử của thủy quốc Động Đình.

Dũng tướng quân của triều Lê nước Nam Việt

Câu 3:

Nguyên văn:

三岐鶴嘴皆勝景

勇決藍江是營都

Phiên âm:

Tam Kỳ, Hạc Chủy giai thắng cảnh

Dũng Quyết Lam Giang thị doanh đô

Dịch nghĩa:

Tam Kỳ, Mỏ Hạc đều thắng cảnh

Dũng Quyết, Lam Giang là dinh đô

Nội dung các câu đối trên không trùng lặp với các câu đối đã khắc tại những di tích có thờ Ông Hoàng Mười ở những địa phương khác, nhằm tạo được dấu ấn riêng biệt tương ứng với vị thế của di tích lịch sử đền Ông Hoàng Mười tại huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, làm tăng thêm vẻ trang nghiêm, cổ kính cho không gian di tích. Tuy nhiên, một số du khách gần xa trong mùa lễ hội đầu xuân sau khi thưởng lãm những đôi câu đối này lại chia sẻ không ít băn khoăn về nội dung và một số vấn đề liên quan khác. Đặc biệt, trên Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An số 9/2016, tác giả Bùi Văn Chất (CLB Hán Nôm Nghệ An) có bài viết: "Đôi điều cảm nhận về 3 câu đối tại đền Ông Hoàng Mười (Hưng Nguyên)" (1) bày tỏ sự góp ý thiết thực để xây dựng một nội dung hoàn thiện và đúng đắn hơn.

Thông qua bài viết này, chúng tôi với tư cách là những người xây dựng những câu đối trên, muốn trao đổi lại một số vấn đề nhằm làm sáng tỏ nội dung, đồng thời cũng mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp khác trên tinh thần khoa học để thu được những ý kiến đúng đắn và chuẩn xác nhất. Vì vậy, chúng tôi xin trao đổi cụ thể như sau:

Cặp câu đối thứ 2        

Nguyên văn:

洞廷水國真皇子

南越黎朝勇將軍

Phiên âm:

Động Đình thủy quốc chân hoàng tử

Nam Việt Lê triều dũng tướng quân

Dịch nghĩa:

Chân hoàng tử của thủy quốc Động Đình

Dũng tướng quân của triều Lê nước Nam Việt

Ở vế 1,  tác giả Bùi Văn Chất cho rằng "Mỏ Hạc linh từ thuộc Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, được anh linh Đệ Thập Hoàng tử chiếu giám lai lâm, là hồng phúc của Ngài ban cho muôn dân, nơi đắc địa này. Hiển tích của thánh thần chói ngời uy đức, dẫu không ngợi ca linh thanh của đấng tôn thân vẫn thịnh. Tuy nhiên, để "tương xứng với vị thế của di tích trong đời sống tâm linh của nhân dân và du khách", việc dẫn dụ điển tích vào đây là cần thiết. Song, là truyền thuyết, lại được xưng là "chân hoàng tử" có phù hợp không (?)" (2).

Việc xưng Ông Hoàng Mười là "Chân hoàng tử" theo chúng tôi là phù hợp và hoàn toàn đúng đắn. Bởi theo sách Đạo Mẫu Việt Nam của Giáo sư Ngô Đức Thịnh (đây được xem là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về đạo Mẫu tại Việt Nam hiện nay) thì  nhân vật Ông Hoàng Mười là hoàng tử thứ 10 của vua cha Bát Hải Động Đình. Vì vậy, đã là con của vua, thì việc gọi Hoàng tử có gì là sai, và "Chân hoàng tử" cũng không có gì sai cả. Tác giả cho rằng Ông Hoàng Mười là nhân vật truyền thuyết, nên xưng  "Chân" (chân nghĩa là thật) là không phù hợp. Vậy, Lạc Long Quân và Âu Cơ cũng đều là những nhân vật huyền thoại, không hề có thực, vậy tại sao cả dân tộc chúng ta lại tôn xưng với niềm kính trọng bậc nhất bằng 2 từ "Quốc tổ"? Và câu chuyện trăm trứng đẻ trăm con giữa họ cũng nhuốm màu hoang đường, tại sao đất nước chúng ta lại ghi nhận đó là câu chuyện về cội nguồn dân tộc.

Ở vế 2, tác giả Bùi Văn Chất cho rằng: "Nam Việt/ Lê triều: Nam Việt là quốc hiệu của nước ta thời nhà Triệu (207T-191T): tồn tại 16 năm, định đô trên đất Phiên Ngung (nay là thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc). Từ ấy về sau, trải hơn 4000 năm lịch sử, nước ta lần lượt mang nhiều quốc hiệu khác nhau: Các triều đại: Lê - Lý - Trần - Lê đều mang quốc hiệu Đại Việt, định đô trên đất Thăng Long. Vậy "Nam Việt/ Lê triều" là một sự nhầm lẫn đáng tiếc (!)"(3).

Theo chúng tôi, "Nam Việt/ Lê triều" trên câu đối tại Tam quan di tích hiện nay không phải là một sự nhầm lẫn đáng tiếc. Bởi, "trải hơn 4000 năm lịch sử, nước ta lần lượt mang nhiều quốc hiệu khác nhau: Các triều đại: Lê - Lý - Trần - Lê đều mang quốc hiệu Đại Việt" nhưng không vì thế mà nước ta lại không dùng những quốc hiệu khác, trong đó có Nam Việt. Chúng ta biết rằng nước ta đến thời nhà Đinh, người đứng đầu đất nước ta mới thực sự vươn tới đỉnh cao ngôi vị và danh hiệu, khẳng định vị thế vững chắc của quốc gia độc lập và  thống nhất. Đặc biệt, với vị thế đó đã buộc các điển lễ và sách phong của các triều đại Trung Hoa phải công nhận nước ta là một nước độc lập. Từ Đinh Tiên Hoàng trở về sau, người đứng đầu nhà nước không còn xưng là "Vương" hay "Tiết độ sứ" nữa mà đều xưng Đế để tỏ chính thống và ngang hàng với nhà nước phong kiến Trung quốc. Đinh Tiên Hoàng là vị hoàng đế đặt nền móng sáng lập nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên ở Việt Nam. Vì thế ông chính là người mở nền chính thống cho các triều đại phong kiến trong lịch sử. Điểm nổi bật của ông là đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt (chứ chưa phải là Đại Việt như tác giả Bùi Văn Chất đã nói ở trên) và phong cho Đinh Liễn (người con trai từng được ông cử làm con tin ở triều đình Cổ Loa trong suốt 15 năm rồi cùng đánh dẹp 12 sứ quân cũng như thay thế ông trong việc bang giao với Trung Hoa) chức "Nam Việt vương" để khẳng định uy quyền hoàng đế của một quốc gia độc lập. Nam Việt vương được hiểu là vị vương của nước Nam Việt, tuy không phải để chỉ quốc hiệu, nhưng cũng đủ để cho thấy "Nam Việt" không phải chỉ thời Triệu Đà mới có.

Tuy rằng "Đại Việt" là quốc hiệu chính thống và được sử dụng lâu dài nhất trong lịch sử nước ta, nhưng trong nhiều thư tịch cổ lại cho thấy rất nhiều trường hợp không dùng quốc hiệu đó. Các văn bản cổ cho ta thấy việc sử dụng quốc hiệu qua các triều đại ở nước ta rất phong phú:

Trong tác phẩm "Thiện vị chiếu" (tác giả khuyết danh, thời Lý - Trần) có câu:

自古南越帝王治天下者有矣唯我李受天眷命奄有四海列聖相承二百餘年

Phiên âm: "Tự cổ Nam Việt đế vương trị thiên hạ giả hữu hĩ. Duy ngã Lý thụ thiên quyến mệnh, yêm hữu tứ hải, liệt thánh tương thừa, nhị bách dư niên...".

Tạm dịch: Từ xưa nước Nam Việt đã có các bậc đế vương trị vì thiên hạ. Riêng nhà Lý ta nhận mệnh trời thương mến, làm chủ bốn biển, các vị thánh vương truyền nối đã hơn hai trăm năm...".

Ở tác phẩm này, tác giả đã sử dụng "Nam Việt" để chỉ quốc hiệu nước ta.

Trong bài văn bia của Hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn khắc năm Khai Hựu thứ 7 (1335) trên vách núi Trầm Hương (nay thuộc Con Cuông, Nghệ An) kỷ niệm chiến công của Thái thượng hoàng Trần Minh Tông trước quân Ai Lao có câu:

皇越陳朝第六帝章堯文晢太上皇帝受天眷命奄有中夏薄海內外罔不臣服

Phiên âm: Hoàng Việt Trần triều đệ lục đế, Chương Nghiêu Văn triết Thái thượng hoàng đế thụ thiên quyến mệnh, yêm hữu trung hạ, bạc hải nội ngoại võng bất thần phục...

Dịch nghĩa: Đời vua thứ 6 triều Trần nước Hoàng Việt, Thái thượng hoàng đế Chương Nghiêu Văn triết nhận mệnh trời thương mến, làm chủ cõi trung hạ, khắp trong đất ngoài bể không đâu không thần phục...

Ở tác phẩm này, Hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn lại sử dụng "Hoàng Việt" để chỉ quốc hiệu nước ta.

Danh sĩ Hồ Tông Thốc trong một tác phẩm sử học nổi tiếng của mình lại dùng "Việt Nam" để chỉ quốc hiệu nước ta, thể hiện ở tác phẩm "Việt Nam thế chí" (nay chỉ còn bài tựa). 

Hồ Quý Ly trong bài thơ "Đáp Bắc nhân vấn An Nam phong tục" để trả lời người phương Bắc về phong tục của nước ta, lại dùng quốc hiệu nước ta là An Nam.

Đặc biệt, nhiều danh nhân nước ta lúc bấy giờ còn dùng "Trung quốc" để chỉ nước ta.

Vua Trần Thái Tông trong tác phẩm Khóa hư lục có câu: "Người được sinh ra ở Trung quốc, có đủ sáu căn, há chẳng quý lắm sao".

Danh sĩ Hồ Tông Thốc trong bài minh về chùa Báo Ân Núi Non Nước có câu: "Ôi! Phật pháp từ khi vào Trung quốc tới nay, thắng địa trong non sông thiên hạ như ngọn núi này đều thuộc về nhà Phật".

Bậc anh hùng dân tộc -  vua Lê Thái Tổ trong bài dụ ban cho cả nước vào tháng 8 năm 1426 có câu: "Giặc còn ở Trung quốc, dân chúng còn chưa yên".

Văn bia "Đại Việt Lam Sơn Dụ lăng bi" tại lăng vua Lê Hiến Tông trong Khu di tích Lam Kinh có câu: "Trung quốc vững mạnh, ngoại di khiếp hãi"

Bức thư của chúa Trịnh Tráng gửi cho Toàn quyền Đông Ấn Hà Lan tại Batavia vào năm 1637, có đoạn viết: "Nay ta có ý mong quý quan tiết chế của quý quốc Ô Lan kết giao với ta. Trên danh nghĩa chân chính, hai nước đùm bọc thương yêu, mãi đến muôn đời. Vậy cắt cử hoặc hai ba tàu, hoặc hai trăm lính thiện xạ đến Trung quốc ta, lấy đó làm tin".

Đặc biệt hơn, "Nam Việt" còn được vua Gia Long chọn làm quốc hiệu sau khi đã thống nhất được đất nước. Quốc sử di biên ghi rõ:

先是欽使阮吉至清奉国書求封清帝許之又請改安南國成南越國清帝不許但訐改為越南國

Dịch nghĩa: Trước đó Khâm sứ Nguyễn Cát sang Thanh mang quốc thư cầu phong, Hoàng đế nhà Thanh chấp thuận. Lại xin đổi [quốc hiệu] An Nam thành Nam Việt. Hoàng đế nhà Thanh không đồng ý. Nhưng lại cho đổi thành Việt Nam. Vì vậy, Nam Việt, không hẳn là một quốc hiệu, mà chỉ là một cách gọi chung nước ta thời xưa, và cũng không phải chỉ thời Triệu Đà mới có và dùng đến. Ở trong đôi câu đối trên, chúng tôi chủ ý dùng "Nam Việt", mà ko muốn dùng Đại Việt, Việt Nam, bởi Đại Việt hay Việt Nam là quốc hiệu chính thống và được dùng xuyên suốt của nhiều triều đại (nhà nước) nước ta và thường gắn liền với các nhân vật lịch sử có thật được ghi chép rõ ràng trong chính sử; trong khi đó nhân vật Ông Hoàng Mười là nhân vật đã được truyền thuyết hóa lịch sử, nên dùng Nam Việt sẽ hay hơn cả, bởi nó sẽ dung hòa được giữa lịch sử và huyền thoại, tạo hình ảnh nhân vật Ông Hoàng Mười trở nên lung linh, vi diệu.

Tác giả cho rằng gắn Ông Hoàng Mười với "Lê Triều" là nhầm lẫn đáng tiếc. Theo chúng tôi là không, bởi tín ngưỡng đạo Mẫu nói chung và Ông Hoàng Mười nói riêng được hình thành dưới triều đại nhà Lê (Hậu Lê). Ông Hoàng Mười lại được xem là hóa thân của nhiều vị danh nhân nổi tiếng thời Lê như Lê Khôi, Nguyễn Xí. Hơn nữa, một câu đối cũ tại di tích hiện nay vẫn cho rằng ông Hoàng Mười là người thời Lê:

黎朝顯赫忠良將

南國芳名上等神

"Lê triều hiển hách Trung lương tướng;

Nam Quốc phương danh Thượng đẳng thần"

Câu thứ 3

Nguyên văn:

三岐鶴嘴皆勝景

勇決藍江是營都

Phiên âm:

Tam Kỳ, Hạc Chủy giai thắng cảnh

Dũng Quyết Lam Giang thị doanh đô

Dịch nghĩa:

Tam Kỳ, Mỏ Hạc đều thắng cảnh

Dũng Quyết, Lam Giang là dinh đô

Ở đây, tác giả Bùi Văn Chất cho rằng "đây là câu nêu lên địa danh nơi Đền tọa lạc, không lẫn với đền Củi Hà Tĩnh, song lại thất luật trắc bằng" 5 nhưng lại không nêu rõ thất luật ở chỗ nào? Tuy nhiên, việc thất luật bằng trắc cũng là một điều bình thường trong việc sáng tác văn học. Các danh sĩ nổi tiếng xưa nay, khi sáng tác họ không quá câu nệ vào niêm luật nhưng lại làm nên được rất nhiều tác phẩm bất hủ, ví dụ như tác phẩm Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu. 

Tác giả lại cho rằng: "Mỏ Hạc là danh từ riêng mà người đời trước đã giữ nguyên và gắn thêm 2 từ Hán Việt: "linh từ" để chỉ ngôi đền thiêng của bản xã. Thiết nghĩ, câu này được viết bằng tiếng Việt cho mọi người dễ hiểu có hơn chăng". Chúng tôi cho rằng, việc "Mỏ Hạc" dịch thành "Hạc Chủy" là phù hợp, bởi trong tổng thể câu đối chữ Hán, phải có tính cân xứng. Nếu đã dùng một địa danh bằng âm Nôm thì vế bên kia cũng phải như vậy. Ở câu đối này, vế kia là "Dũng Quyết, Lam Giang" đều là âm Hán Việt được dung quen thuộc thì vế bên này cũng phải dịch thành Hạc Chủy để cân xứng. Việc dịch sang âm Hán Việt và chữ Hán như vậy là điều thường thấy.  

Những địa danh nổi tiếng trên mảnh đất xứ Nghệ đều có hai tên gọi, một bằng âm Việt, một bằng âm Hán, ví như sông Rum được dịch thành Lam Giang, Ngàn Hống được dịch thành Hồng Lĩnh, núi con Mèo được dịch thành Miêu Sơn, núi Chuông được dịch thành Chung Sơn, núi Phướn được dịch thành Phạn Sơn, núi Gấu được dịch thành Hùng Sơn, núi Vạc Lớn được dịch thành Đại Hoạch sơn, núi Đầu Rồng được dịch thành Long Thủ sơn, núi Mềm được dịch thành Nhuyễn Sơn, núi Sắt được dịch thành Thiết Sơn... Đặc biệt, hai quần đảo ngoài khơi xa, là bộ phận lãnh hải thiêng liêng của máu thịt tổ quốc được dân gian xứ Đàng Trong gọi với cái tên Nôm là Bãi Cát Vàng. Nhưng, nó vẫn được các Nho sĩ Đàng Ngoài dịch sang từ Hán Việt là Hoàng Sa hay Hoàng Sa chử.

Ngay cả như Ông Hoàng Mười, trong bài vị vẫn được dịch sang âm Hán Việt là Đệ Thập Hoàng Tử. Vì vậy, dịch "Mỏ Hạc" thành "Hạc Chủy" cũng là điều hợp lý.

Việc sử dụng câu đối chữ Hán tại di tích đền Ông Hoàng Mười càng làm tăng thêm nét cổ kính và sự uy linh của di tích lịch sử lâu đời này. Xưa nay, làm câu đối là một việc làm rất khó. Chúng tôi khi xây dựng nên những câu đối này cũng nhận thấy được trách nhiệm lớn lao đó mà hết sức nghiêm túc trong công việc. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện không thể tránh khỏi những sai sót. Thông qua bài viết này, chúng tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp trên tinh thần khoa học để thu được những ý kiến đúng đắn và chuẩn xác nhất.

 

Tài liệu tham khảo     

1. Bùi Văn Chất (2016), Đôi điều cảm nhận về 3 câu đối tại đền Ông Hoàng Mười (Hưng Nguyên), Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An, số 9, trang 42 - 52.

2. Bùi Văn Chất, bđd trang 44.

3. Bùi Văn Chất, bđd trang 45.

4. Phan Thúc Trực (2010), Quốc sử di biên, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, trang 668.

5. Bùi Văn Chất, bđd trang 51.

 

ANH HÙNG CÙ CHÍNH LAN TÔ ĐẸP THÊM TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH CỦA XỨ NGHỆ

Trương Quế Phương

 

Theo sự hướng dẫn của đồng chí cán bộ Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hòa Bình, chúng tôi đến thăm Di tích lịch sử cách mạng - nơi đồng chí Cù Chính Lan đã tiêu diệt xe tăng của quân đội Pháp, tại dốc Giang Mỗ, trên đường số 6, cách thị xã Hòa Bình 8 km. Sự kiện chiến thắng lịch sử oai hùng và quả cảm của anh hùng Cù Chính Lan đã làm nức lòng quân và dân cả nước.

Cù Chính Lan tên thật là Cù Văn Mấu, sinh năm Canh Ngọ (1930) trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Quỳnh Đôi (nay là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An), mảnh đất có truyền thống yêu nước và khoa bảng. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, làng Quỳnh là địa phương có phong trào đấu tranh mạnh mẽ và số đảng viên đông nhất lúc bấy giờ (17 đồng chí đảng viên trong một Chi bộ đầu tiên). Khi thực dân Pháp khủng bố trắng thì làng Quỳnh cũng là một trong số những địa phương bị đàn áp khủng bố, bắn giết, bắt bớ tù đày nhiều nhất. Năm lên 4 tuổi, Cù Chính Lan đã phải mồ côi mẹ. Tuổi trẻ của anh qua đi trong đói nghèo và bất hạnh, phải đi ở qua hai nhà địa chủ trong làng. Cuộc đời đói nghèo, thiếu thốn cả về vật chất lẫn tình cảm của người mẹ hiền đã tôi luyện cho Cù Chính Lan một đức tính lầm lỳ, chịu thương, chịu khó, cần cù, nhẫn nại, tháo vát và tự lực cánh sinh nhưng giàu lòng thương người nghèo cùng cảnh. Tuy thân phận là người ở, làm thuê cuốc mướn kiếm sống qua ngày, nhưng Cù Chính Lan lại rất cứng rắn, khảng khái và can đảm. Anh căm ghét và không chịu khuất phục trước bọn cường hào, lý trưởng, tham nhũng, đục khoét, ức hiếp dân lành, luôn thương cảm và bênh vực cho những người côi cút, bất hạnh.

Từ năm 1936 đến năm 1939, trong thời kỳ Mặt trận dân chủ, quê hương làng Quỳnh có nhiều hoạt động văn hóa thật vui do các anh Hồ Mỹ Xuyên, Hoàng Nhật Tân, chị Hồ Thị Nhung, v.v tổ chức. Cù Chính Lan cùng bạn bè trang lứa thường rủ nhau ra đình làng Quỳnh Đôi(1) xem các anh chị tổ chức diễn văn nghệ, chơi đá bóng vào dịp Tết cổ truyền dân tộc. Cù Chính Lan rất mê nghe bà Trần Thị Trâm và các bậc lão thành kể chuyện đánh giặc của nhân dân làng Quỳnh từ phong trào Cần vương, phong trào Đông Du và thời kỳ Đảng Cộng sản lãnh đạo năm 1930 - 1931. Với tinh thần yêu nước và căm thù giặc, Cù Chính Lan rất khâm phục và tự hào về những người yêu nước và cách mạng ở làng Quỳnh. Vì yêu nước, không đội trời chung với lũ cướp nước, những người con trung hiếu của mảnh đất văn vật làng Quỳnh Đôi như cụ Hồ Bá Ôn, Hồ Bá Trị, Hồ Bá Kiện đã lãnh đạo các cuộc đấu tranh chống Pháp và đã anh dũng hy sinh vì quê hương đất nước. Noi gương các vị tiền bối, lớp lớp thanh niên làng Quỳnh Đôi lại lên đường đi xuất dương theo tiếng gọi cứu nước của cụ Phan Bội Châu, tiêu biểu nhất là cụ Hồ Học Lãm và Hồ Tùng Mậu, họ đã góp phần làm rạng danh mảnh đất làng Quỳnh trên đất khách quê người. Những tấm gương đấu tranh và hy sinh của các bậc cha, chú trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931, được mọi người kể lại, đã nhen nhóm lên trong trái tim của Cù Chính Lan một hoài bão lớn. Đó là sự khát khao được góp phần đền đáp những người có công với nước, trả thù bọn cướp nước xâm lược. So với bạn bè chăn trâu cắt cỏ cùng lứa tuổi, Cù Chính Lan là người sáng dạ, hoạt bát, hiếu động và từng trải.

Năm 1942, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh do Hồ Chí Minh sáng lập, quê hương làng Quỳnh có nhiều khởi sắc. Tuy còn nhỏ, nhưng Cù Chính Lan và bạn bè thiếu niên trong làng bị cuốn hút theo phong trào chung của cuộc cách mạng trong giai đoạn mới. Những buổi đi chăn trâu, những đêm trăng sáng, Cù Chính Lan thường rủ các bạn tổ chức tập trận giả. Thời gian này anh Hồ Mỹ Xuyên thường xuyên vắng nhà, thỉnh thoảng mới ghé về qua nhà. Biết anh về, Cù Chính Lan cùng bạn bè kéo đến nhà bà Thảo để được nghe anh Hồ Mỹ Xuyên kể nhiều chuyện đấu tranh ở Việt Bắc, gương chiến đấu và hy sinh anh dũng của đồng chí Phùng Chí Kiên. Các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam kỳ và binh biến Đô Lương. Cù Chính Lan say sưa nghe chuyện và mong ước có một ngày trong tương lai, anh được cầm súng đi đánh giặc, bảo vệ Tổ quốc để cho mọi người dân nghèo như gia đình anh và bà con làng xóm thoát khỏi ách áp bức, bóc lột.

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Hưởng ứng lời kêu gọi thiêng liêng của Người, cả dân tộc Việt Nam nhất tề đứng lên, tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Cù Chính Lan lúc này đã 17 tuổi, trở thành một thanh niên khỏe mạnh, hoạt bát, đầy sức sống và nghị lực. Mỗi lần ông Hồ Tùng Mậu và Hồ Mỹ Xuyên có dịp đi công tác ghé về thăm nhà, Cù Chính Lan thường tìm đến hỏi thăm tin tức và để được nghe những mẩu chuyện về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân đánh Pháp, đuổi Nhật năm 1945 để giành độc lập cho dân tộc. Cù Chính Lan luôn nhận được sự động viên khích lệ của hai cha con ông Hồ Tùng Mậu và Hồ Mỹ Xuyên, cùng các bậc cha, chú trong làng.

 Sau Tết Nguyên đán năm Đinh Hợi (1947), hưởng ứng lời kêu gọi cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cù Chính Lan hăng hái tòng quân lên đường đánh giặc cứu nước. Sau hơn một năm phấn đấu, rèn luyện trong quân đội nhân dân Việt Nam, 18 tuổi, Cù Chính Lan được vinh dự kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, anh được đề bạt làm Tiểu đội trưởng. Cù Chính Lan trở thành một cán bộ quân đội chỉ huy mưu trí, dũng cảm, lãnh đạo các chiến sỹ lập nhiều chiến công xuất sắc, góp phần làm rạng danh truyền thống Anh hùng của "Anh bộ đội cụ Hồ" trong 9 năm kháng chiến chống Pháp.

Vào cuối năm 1951, Tướng Đờ Lát, Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương quyết định mở cuộc hành quân quy mô lớn đánh chiếm thị xã Hòa Bình, là vùng tự do phía Tây Bắc của khu căn cứ cách mạng. Trước tình hình khẩn cấp đó, ngày 24-11-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã họp, ra Chỉ thị số 22/CT.TW về nhiệm vụ và quyết tâm phải "Phá tan cuộc tiến công Hòa Bình của địch". Với mục đích tiêu diệt sinh lực địch ở chiến trường Hòa Bình và đẩy mạnh cuộc chiến tranh du kích của toàn dân trong cả nước.

Để động viên và khích lệ tinh thần chiến đấu lập công trên các chiến trường mà trọng điểm là chiến dịch Đông Xuân 1951 - 1952 ở Hòa Bình, Bác Hồ đã gửi thư cho lực lượng vũ trang nhân dân. Trong bức thư Bác đã nhấn mạnh:

  "... Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là một cơ hội rất tốt cho ta. Nhưng tuyệt đối chớ chủ quan khinh địch. Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp nhau chặt chẽ để tiêu diệt sinh lực địch, để đánh tan kế hoạch Thu - Đông của chúng.

Bác đang để giành giải thưởng đặc biệt cho bộ đội nào và chiến sỹ nào lập công to nhất. Bác chờ nhiều báo cáo thắng trận của các chú"(2).

Không phụ lòng tin, mong đợi và trông chờ của Bác Hồ kính yêu, trong chiến dịch Hòa Bình, đồng chí Cù Chính Lan đã làm được điều mà Bác Hồ và toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta mong đợi. Với chiến công hiển hách, lẫy lừng "Anh hùng Cù Chính Lan đánh xe tăng trên đường số 6". Tin vui thắng trận đã vang dội khắp các chiến trường.

Tiểu đội trưởng Cù Chính Lan thuộc bộ đội chủ lực Sư đoàn 304 thuộc Trung đoàn 9, có nhiệm vụ chặn đánh xe tăng của địch hành quân trên đường số 6 về thị xã Hòa Bình. Ngày 12/12/1951, Cù Chính Lan cùng sư đoàn 304 đã lập nhiều chiến công hiển hách. Chỉ trong vòng 20 phút, đồng chí Cù Chính Lan đã chỉ huy Tiểu đội cùng phối hợp, phá hủy cả đoàn xe tăng 34 chiếc trên đường số 6. Ngày 13/12/1951, đơn vị của Cù Chính Lan phối hợp chặt chẽ với bộ đội, dân quân và du kích địa phương, tiêu diệt và bắt sống một đại đội lính Âu Phi, phá hủy 6 xe cơ giới và một xe tăng ở Giang Mỗ cách thị xã Hòa Bình 8 km. Khi bị đánh thẳng vào đội hình, xe tăng địch hoảng hốt tháo chạy, không để cho chiếc xe tăng mang biển số 528E 5498 chạy thoát, Cù Chính Lan đã băng băng vượt rừng, đón đầu chiếc xe tăng địch đang tháo chạy. Đồng chí bình tĩnh, dũng cảm nhảy lên xe tăng, dí súng tiểu liên vào khe hở trên tháp xe tăng bóp cò. Không may, súng bị hóc đạn, chiếc xe tăng chồm lên, vừa chạy vừa nhả đạn xối xả chống lại. Không có nhiều thời gian để lựa chọn phương án tác chiến, Cù Chính Lan từ trên xe nhảy phốc xuống. Đồng chí ra hiệu cho anh em đồng đội tập trung tất cả lựu đạn lại cho mình. Với một động tác nhanh nhẹn, khẩn trương, Cù Chính Lan dắt tất cả số lựu đạn của tiểu đội vòng quanh lưng. Xong đồng chí nhanh nhẹn lao như mũi tên đuổi theo chiếc xe tăng của địch đang tháo chạy. Lần thứ hai, đồng chí lại nhảy phốc lên chiếc xe tăng đang chạy. Nhanh nhẹn, thận trọng, Cù Chính Lan giật chốt lựu đạn ném vào trong thùng xe. Bọn địch trong xe tăng hốt hoảng, chúng vội chộp ngay quả lựu đạn chưa kịp nổ, ném trả ra ngoài và lệnh cho tên lái chiếc xe tăng chuyển hướng đi, hòng chạy thoát thân.

Lựu đạn không nổ, bị văng ra ngoài, căm thù như bốc lửa, không thể để chiếc xe tăng giặc có cơ hội chạy thoát, Cù Chính Lan quyết tâm đuổi theo chiếc xe tăng để tiêu diệt bằng được. Lần này để ăn chắc, Cù Chính Lan nhảy lên xe tăng, quyết định mở chốt lựu đạn trước, chờ một lúc cho khói thuốc xì ra rồi mới ném vào buồng lái. Lựu đạn nổ, chiếc xe tăng đứng khựng lại giữa đường, bọn giặc trong xe la ó, đè lên nhau mà chết.

Chiến công đánh xe tăng trên đường số 6 của đồng chí Cù Chính Lan có một ý nghĩa vô cùng to lớn. Nó chứng minh và khẳng định cho tinh thần cách mạng của người chiến sỹ: chân đất, súng trường, vẫn có thể đánh bại kẻ địch có đầy đủ phương tiện và vũ khí hiện đại, kể cả xe tăng, máy bay, đại bác...

Tin chiến thắng: Cù Chính Lan một mình đánh xe tăng địch, theo ngọn gió rừng đã lan nhanh khắp nơi, làm nức lòng chiến sỹ. Toàn mặt trận đã dấy lên phong trào thi đua học tập và noi gương đồng chí Cù Chính Lan với tinh thần "Quyết chiến, quyết thắng".

Sau chiến công vang dội diệt xe tăng địch, Cù Chính Lan tiếp tục cùng đồng đội lập công tiêu diệt nhiều sinh lực địch tại mặt trận Hòa Bình. Trên đà thắng lợi, Cù Chính Lan cùng các chiến sỹ hăng hái xung phong, bám thắt lưng địch mà diệt. Nhưng thật đáng tiếc, ngày 1/2/1952, Cù Chính Lan chỉ huy bộ đội ta tiến công tiêu diệt căn cứ binh đoàn Pháp ở xã Lâm Sơn, huyện Lương Sơn (Trận Cô Tô chiến dịch Hòa Bình), đồng chí Cù Chính Lan đã anh dũng hy sinh khi bước sang tuổi 22 xuân xanh, chưa kịp lập gia đình.

Tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên cường, bất khuất, bám địch mà đánh, không để xe tăng chạy thoát của đồng chí Cù Chính Lan. Để trả thù cho Cù Chính Lan được toàn mặt trận học tập và noi gương, toàn mặt trận chiến dịch Hòa Bình, Đông Xuân 1951 - 1952 đã quyết chiến và quyết thắng. Số địch đã bị tiêu diệt 22.000 tên. Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 22/2/1952, thực dân pháp phải lợi dụng bóng tối, rút lui tháo chạy khỏi thị xã Hòa Bình. Trong chiến công to lớn của chiến dịch Hòa Bình, có phần đóng góp to lớn của Anh hùng Cù Chính Lan.

 Ngày 10/8/1952, đồng chí Cù Chính Lan được truy tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân". Nhân dân các dân tộc Hòa Bình và đồng đội đời đời nhớ ơn Anh hùng Cù Chính Lan đã anh dũng hy sinh "Vì sự nghiệp giải phóng đất nước Mường thương yêu"(3).

Thương tiếc Anh hùng liệt sỹ Cù Chính Lan, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hòa Bình đã xây dựng cho anh một lăng mộ thật đẹp, mang số mộ chí 307 tại Nghĩa trang thị xã Hòa Bình. Trên bia đá khắc tại phần lăng mộ Anh hùng Cù Chính Lan có ghi chiến công: "Liệt sỹ Cù Chính Lan. Anh hùng Quân đội. Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Ba...".

Để nhớ ơn và học tập gương anh hùng cách mạng của đồng chí Cù Chính Lan, tỉnh Hòa Bình đã chọn đại lộ dài trên 10 km và đẹp nhất để mang tên: "Đường Cù Chính Lan".

Nhân kỷ niệm 50 năm ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944- 22/12/1994), tỉnh Hòa Bình đã tổ chức cắt băng khánh thành Tượng đài Anh hùng Cù Chính Lan đánh xe tăng. Địa điểm nơi diễn ra trận đánh xe tăng đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử cách mạng Quốc gia. Trong văn bia bằng đá hoa cương ở Tượng đài Anh hùng đánh xe tăng Cù Chính Lan có ghi:

"Trong cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ chống thực dân Pháp, quân dân Hòa Bình đã có nhiều đóng góp to lớn về sức người, sức của cho cuộc kháng chiến. Đã có nhiều tấm gương anh dũng hy sinh và nhiều trận đánh oanh liệt diễn ra dọc theo quốc lộ số 6.

Ngày 13/12/1951, tại dốc Giang Mỗ, xã Bình Thanh, huyện Kỳ Sơn đã diễn ra một trận đánh quyết liệt. Trong trận đánh này, người Anh hùng Cù Chính Lan đã nêu một tấm gương chiến đấu dũng cảm, làm nức lòng quân dân cả nước. Một mình dùng lựu đạn tiêu diệt xe tăng Pháp.

 Địa điểm trận đánh và xác xe tăng bị Anh hùng Cù Chính Lan tiêu diệt đã trở thành Di tích Lịch sử Cách mạng và được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia năm 1993"(4).

Ngày nay, mỗi khi có dịp ngược lên tỉnh Hoà Bình, đến thắp nén hương, dâng bó hoa tươi thắm, thành kính tại khu Di tích lịch sử văn hoá Quốc gia trên đường số 6; thăm viếng nghĩa trang liệt sỹ tỉnh Hoà Bình, nơi đó có phần mộ mang số mộ chí 307 của Anh hùng liệt sỹ Cù Chính Lan, người Cộng sản ưu tú, anh bộ đội cụ Hồ, niềm tự hào của nhân dân xứ Nghệ, lòng chúng tôi lại bồi hồi xúc động bởi Anh hùng Cù Chính Lan đã làm rạng danh truyền thống đấu tranh của nhân dân xứ Nghệ trên đất khách quê người.

 

Chú thích

 1. Đình làng Quỳnh Đôi đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử VH Quốc gia.      

 2. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 6,  NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội năm 1986. Tr 128.

 3, 4. Văn bia ghi tại Di tích, Tượng đài Anh hùng Cù Chính Lan trên đường số 6 và trên Bia mộ của đồng chí.

VĂN BIA TẠI ĐỀN THỜ ĐINH BẠT TỤY

Phan Đăng Thuận

 

Đinh Bạt Tụy là một trong những vị khai quốc công thần của triều Lê Trung hưng. Ông sinh ra tại thôn Bùi Ngoã, xã Bùi Khổng, tổng Hà Đô (nay là xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An). Ông thi đậu Đệ nhất giáp đệ nhất danh chế khoa năm Giáp Dần niên hiệu Thuận Bình 6 (1554) đời vua Lê Trung Tông. Làm quan dưới triều Lê Trung hưng, ông trải qua các chức quan Hàn lâm viện hiệu lý, hàm Cẩn sự lang; Tuyên lực công thần, đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Đông các học sĩ tá trị thượng khanh; Tuyên lực công thần đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu. Ngự sử đài, Phó đô đốc sứ; Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Binh bộ thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ, Nhập thị kinh diên, Trụ quốc thượng trật, Thái bảo Khê Quận công,… Hiện nay tại đền thờ Đinh Bạt Tụy ở xã Hưng Trung còn lưu giữ bia đá 2 mặt nói về công trạng cũng như ruộng đất hương hoả. Bài viết xin giới thiệu nội dung của bài văn bia:

Mặt trước của văn bia: Đinh tướng công bi chí:

Nguyên văn chữ Hán:

歲 戊 辰 我 驩 州 興 元 裴 (1) 太 保 溪 郡 公 丁 尚 書 歿 後 之 三 百 三 十 餘 年 賜 戊 戌 科 弟 三 甲 同 進 士 南 延 澄 川 桑 圃 范 制 臺 刺 吾 驩 公 子 孫 因 營 修 公 墳 宅 以 碑 文 請 承 命 徵 文 於 孚 孚 僭 不 自 量 竊 惟 夫 士 君 子 以 一 身 眉 世 道 之 責 蘊 之 為 文 章 發 之 為 事 業 其  生 也 為 國 家 所 倚 重 之 身 其 歿 也 為 後 世 所 關 重 之 身 則 之 斯 道 之 責 大 矣 此 豈  徒  以 高  科 顯 官 榮 耀 一 辰 已 哉  公 前 朝 黎 順  平 六 年 甲 寅 制 科 弟 一 甲 弟 一 名 當 莫 逆 雄  據 東 京 黎 中 尊 銳 志 恢 復 公 以 儒 冠 握 節 內 籌 帷 幄 外 參 戎 馬 卒 之 上 功 景 鍾 為 中 興 第 一 名 臣 豐 功 偉 烈 銘 之 旂 裳 紀 之 縑 帛 其 子 若 侍 郎 公 署 衛 公 寺 卿 公 又 皆 有 功 當 世 與 國 同 休 所 為 吾 州 人 模 鏡 者 猶 赫 赫 然 人 耳 目 記 制 臺 於 所 示 公 子 孫 云 先 祖 公 名 垂 史 誌 不 待 碑 亦 所 必 傳 蓋 亦 深 悉 夫.

 公 之 所 為 輝 前 耀 後 為 吾 道 光 者 自 有 不 朽 者 存 區 區 訛 墨 間 要 不 足 以 盡 公 之 大 也 今 辰 代 古 矣 而 公 之 文 章 之 事 業 傳 公 之 聞 望 與 之 俱 傳 躡 公 後 者 想必 有 激 昂 樹 立 思 以 振 乾 綱 奠 坤 維 使 鴻 貉 山 河 重 開 眉 目 則 斯 碑 也 非 特為 公 子 孫 傳 而 所 為 將 來 國 人 傳 當 亦 於 是 乎 在 斯 道 之 責 公 而 後 將 誰 與 歸 銘 曰 河 岳 儲 精 賢 傑 挺 生 繄 丁 郡 公 邦 家 之 禎 少 抱 經 術 首 舉 大 庭 長 懷 匡 翊 載 揚 義 聲 有 興 贊 治 無 敵 垂 名 鴻 山 之 高 藍 水 之 清 名 儒 事 業 居 然 典 型.                                                                                            

保 大 戊 辰 年 秋 月 吉 日

賜 庚 戌 科 三 甲 同 進 士 翰 林 院 侍 讀 王 有  奉 撰

賜 戊 戌 科 三 甲 同 進 士 安 靜 總 督 范 燎 閲 依

裔 孫 族 長 拔 詳 並 各 支 同 拜 造 

Phiên âm:

Đinh tướng công bi chí

 Tuế Mậu Thìn, ngã Hoan Châu, Hưng Nguyên, Bùi Ngõa, Thái bảo Khê Quận công Đinh Thượng thư một hậu chi tam bách tam thập dư niên. Tứ Mậu Tuất khoa đệ tam giáp đồng Tiến sĩ Nam Diên Trừng Xuyên Tang Phố Phạm Chế đài thứ ngô Hoan, công tử tôn, nhân doanh tu công phần trạch, dĩ bi văn thỉnh thừa mệnh trưng văn ư Phu. Phu tiếm bất tự lượng. Thiết duy phù sĩ quân tử dĩ thân mi thế đạo chi trách, uẩn chi vi văn chương, phát chi vi sự nghiệp, kỳ sinh dã vi quốc gia sở ỷ trọng chi thân, kỳ một dã vi hậu thế sở quan trọng chi thân, tắc tư đạo chi trách đại hỹ, thử khởi đồ dĩ cao khoa hiển quan vinh diệu nhất thần dĩ tai! Công tiền triều, Lê Thuận Bình lục niên Giáp Dần chế khoa, đệ nhất giáp, đệ nhất danh, đương Mạc nghịch hùng cứ Đông Kinh Lê Trung Tôn nhuệ chí khôi phục. Công dĩ nho quán ác tiết, nội trù duy ác, ngoại tham nhung mã tốt chi thượng công cảnh chung, vi Trung Hưng đệ nhất danh thần, phong công vĩ liệt, minh chi kỳ thường kỷ chi kiêm bạch. Kỳ tử nhược Thị lang công, Thự vệ công, Tự khanh công. Hựu giai hữu công đương thế dữ quốc đồng hưu. Sở vi ngô châu nhân mô kính giả, do hách hách nhiên nhân nhĩ mục ký Chế đài ư sở thị, công tử tôn vân: Tiên tổ công, danh thùy sử chí, bất đãi bi diệc sở tất truyền, cái diệc thâm tất.

- Phù công chi sở vi, huy tiền diệu hậu, vi ngô đạo quang giả, tự hữu bất hủ giả, tồn khu khu, ngoa mặc gian yếu bất túc dĩ tận. Công chi đại dã, kim thần đại cổ hỹ, nhi công chi văn chương chi sự nghiệp truyền. Công chi văn vọng dữ chi câu truyền niếp. Công chi hậu giả tưởng tất hữu khích ngang, thụ lập tư dĩ chấn càn cương điện khôn duy sử Hồng Lạc sơn hà, trùng khai mi mục, tắc tư bi dã phi đặc vị. Công tử tôn truyền, nhi sở vị tương lai quốc nhân truyền, đương diệc ư thị hồ tại tư đạo chi trách. Công nhi hậu tương thùy dữ qui. Minh viết: Hà nhạc trữ tinh. Hiền kiệt đĩnh sinh. Ê Đinh Quận công.  

Bang gia chi trinh. Thiếu, bão kinh thuật. Thủ cử đại đình. Trưởng, hoài khuông dực. Tải dương nghĩa thanh. Hữu hưng tán trị. Vô địch thùy danh. Hồng Sơn chi cao. Lam thủy chi thanh. Danh nho sự nghiệp. Cư nhiên điển hình.

Bảo Đại Mậu Thìn niên thu nguyệt cát nhật.

Tứ Canh Tuất khoa Tam giáp Đồng tiến sĩ Hàn lâm viện Thị độc Vương Hữu Phu phụng sự.

Tứ Mậu Tuất khoa Tam giáp Đồng tiến sĩ An Tĩnh Tổng đốc Phạm Liệu duyệt y.

Duệ tôn tộc trưởng Bạt Tường tịnh các chi đồng bái tạo.

Dịch nghĩa

Năm Mậu Thìn - Hơn 300 năm sau khi Bùi Ngoã - Hưng Nguyên - Hoan Châu - Thái bảo Khuê quận công Đinh Thượng thư ta khuất bóng.

Con cháu của Ngài - Tứ Mậu Tuất khoa Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ Nam Diên - Trừng Xuyên - Táng Phố - Phạm Chế Đài thứ Châu Hoan ta, nhân việc tu sửa doanh thự và mộ phần của Ngài, đã kính theo mệnh, thỉnh cầu văn chương ở Phu này để làm văn bia, Phu tôi chẳng tự lượng sức mình mà lạm danh tiếng của kẻ đã được mọi người tin tưởng để vượt quá khả năng địa vị của mình.

Ta trộm nghĩ: Đạo lý vốn đã tích tụ trong người sỹ phu quân tử và phận sự phải làm đều xuất phát từ việc lấy văn chương là sự nghiệp của người trí thức để phục vụ quốc gia, và sau khi người đó mất đi có ảnh hưởng rất lớn, có vai trò hết sức quan trọng đến cả các thế hệ sau, bởi đạo lý là phận sự phải làm mà khi sinh thời họ đã gánh một trọng trách rất lớn lao.

Vậy đâu phải chỉ có đỗ cao rồi ra làm quan, một thời rực rỡ hiển vinh trên chốn quan trường sao?

Niên hiệu Thuận Bình thứ 6 triều Lê khai Chế khoa, Ngài đã giành bảng vị Đệ nhất giáp đệ nhất danh, và cũng đang lúc họ Mạc thoán nghịch giữ ngôi báu hùng cứ Đông kinh, Lê Trung Tông sục sôi ý chí kiên quyết khôi phục lại ngôi báu.

Với vị thế cao trong bậc Nho gia, Ngài giữ quyền chỉ huy, trong màn trướng bầy binh bố trận, ngoài sa trường khiển mã điều binh.

Công tích Ngài lẫy lừng trong thiên hạ. Ngài là một trong những đệ nhất công thần trong công cuộc Trung hưng mà lòng người ngưỡng mộ đức hạnh cao dày đó, được hội tụ trong Ngài.

Phong tước công - Liệt kê vĩ lích

Cờ tiết mao - Cân đai mũ áo

Danh lưu truyền sử sách còn ghi!

Các con của Ngài như Thị lang công, Thự vệ công, Tự khanh công cũng đều là những người có sự nghiệp hiển vinh, cùng nước nhà đang trong cảnh trị bình hưởng phúc yên vui. Đó là gương sáng mẫu mực của người châu ta, và nó hiện rõ những điều tai nghe mắt thấy mà trân trọng ghi lại.

Chế Đài bày tỏ cùng con cháu Ngài rằng:

Tiên công với tiếng tăm danh vọng, sự nghiệp vẻ vang đã ghi trong sử sách không cần bia đá, tất nhiên công tích của Ngài vẫn được truyền lại rất kỹ càng và đầy đủ trọn vẹn.

Đời trước sự nghiệp của Ngài đã lừng lẫy uy danh, đời sau càng vẻ vang vinh hiển. Ngài đã toả sáng - sáng rực rỡ đạo đức của bậc sỹ phu quân tử ta, tên Ngài đã trường tồn bất tử.

Còn một vài lời đồn đại thời đó của người không có học vấn, xét ra không có chứng tích để ghi công lao của Ngài hết được.

Ngài là người vĩ đại của thời đại xưa và có ảnh hưởng đến thời đại nay, văn chương sự nghiệp của Ngài còn lưu truyền, tiếng tăm danh vọng của Ngài được truyền cho người đời sau kế bước.

Người đời sau tưởng nhớ về Ngài càng thêm hăng hái mạnh mẽ, có quyết tâm lập chí lớn chấn hưng phép nước giữ vững cơ đồ, mà điểm cốt yếu là làm cho non nước Hồng Lạc ta rạng rỡ mở mặt, mở mày.

Tấm bia này chẳng riêng truyền lại cho con cháu Ngài mà còn truyền mãi cho người đời sau của nước nhà.

Đương nhiên cũng vì thế mà trong đạo lý còn là bổn phận và trách nhiệm của các sỹ phu quân tử phải làm, bởi sau này hành trạng công tích sự nghiệp của Ngài, ai truy tìm được tận gốc ngọn nữa!

Núi sông tích chứa khí tinh anh sinh ra những bậc hào kiệt hiền tài.

Minh rằng:

Ngài Đinh Quận công,

Trụ cột nước nhà.

Từ thuở thiếu thời,

Siêng năng học thuật.

Kinh sử dùi mài,

Đầu bảng thi Đình.

Ôm lòng trung trinh

Khuông phò vận nước

Dương cao cờ nghĩa

Lừng lẫy thanh danh.

Trong cuộc trị bình

Nào ai dám sánh

Núi Hồng cao vút

Dòng Lam trong xanh

Danh Nho sự nghiệp!

Công cao điển hình.

Bảo Đại năm Mậu Thìn ngày lành tháng Thu.

Tứ Canh Tuất khoa Tam giáo đồng Tiến sỹ Hàn lâm viện Thị độc Vương Hữu Phu phụng soạn.

Tứ Mậu Tuất khoa Tam giáp đồng tiến sỹ An Tĩnh tổng đốc Phạm Liệu duyệt y.

Duệ tôn tộc trưởng Bạt Tường cùng các chi đồng bái tạo.

Mặt sau của bia: Đinh tướng công tự điền bi

Nguyên văn chữ Hán:

丁  相  公  祀  田  碑

水 有 源\ 源 遠 支 流 繁 人 有 祖 祖 肇 山 河 固 我 族 先 祖 大 王 沒 後 三 百 三 十 餘 年 于 今 仰 前 朝 頒 給 寓 祿 祀 田 各 處 著 入 家 譜 事 跡 具 存 代 代 子 孫 永 為 弗 替 茲 因 族 長 詳 與 福 安 支 補 授 正 總 充 會 員 場 正 九 品 文 階 興 試 生 仲 承 本 省 制 臺 訪 我 先 祖 大 王 事 跡 傳 制 碑 文 命 擇 轄 紳 雲 江 進 士 侍 讀 王 大 人 徵 行 省 堂 閲 依 仝 族 各 支 誠 心 拜 供 修 造 事 完 碑 前 恭 錄 碑 文 碑 後 恭 錄 各 處 寓 祿 祀 田 并 畫 圖 本 以 垂 不 朽

一 羅 禾 處 田 貳 十 肆 畝 東 夾 裴 洲 地 分 以 江 心 為 界 西 夾 松 村 地 分 以 江 心 為 界 並

堤 堰 為 界 南 夾 松 村 以 塘 沿 為 界 北 夾 裴  社 地 分 以 江 心 為 界

一   頃 在 裴 村 地 分 俗 號 曰 𣷷 𤂬 處 田 九 畝 土 一 畝

東 近 秧 土 西 近 秋 田 南 近  亭  北 近 秋 田

保 大 三 年 仲 冬 月

所 在  支 丁 拔 涉 丁 拔 兌

瓊  留 縣  玉 兌 支  丁 拔使  文 豪 支  丁 拔 潤 丁 拔 誼

清 漳 縣 春 祥 支 丁 拔 元 丁 拔 磁  並 多 福 支 丁 拔 乃

奉 和 工

右 碑 二 面

南 春 晚 生 胡 元 峰 奉 寫

長 支 裔 孫 丁 拔  奉 刻

Phiên âm: (mặt sau)

Đinh tướng công tự điền bi

- Thủy hữu nguyên, nguyên viễn chi lưu phồn, Nhân hữu tổ, tổ triệu Sơn Hà cố ngã tộc,

Tiên tổ Đại vương một hậu tam bách tam thập dư niên, vu kim ngưỡng. Tiền triều ban cấp Ngụ lộc Tự điền các xứ, trước nhập gia phả sự tích cụ tồn, đại đại tử tôn vĩnh vi phất thế. Tư nhân tộc trưởng Tường dữ Phúc An chi bổ thụ Chánh tổng sung Hội viên trường Chánh cửu phẩm văn giai, dữ thí sinh Trọng, thừa bản tỉnh Chế đài phỏng ngã Tiên tổ Đại vương sự tích truyền chế bi văn. Mệnh trạch hạt thân Vân Giang Tiến sĩ Thị độc vương đại nhân trưng hành tỉnh đường duyệt y. Đồng tộc các chi thành tâm bái cúng tu tạo. Hoàn, bi tiền cung lục bi văn, bi hậu cung lục các xứ Ngụ lộc Tự điền tịnh họa đồ bản dĩ thùy bất hủ.

- Nhất La Hòa xứ, điền tứ thập tứ mẫu. Đông giáp Bùi Chu địa phận, dĩ giang tâm vi giới. Tây giáp Tùng thôn địa phận, dĩ giang tâm vi giới, tịnh đê yển vi giới. Nam giáp Tùng thôn, dĩ đường duyên vi giới. Bắc giáp Bùi Ngõa xã địa phận, dĩ giang tâm vi giới.

Nhất khoảnh tại Bùi thôn địa phận, tục hiệu viết Bến Suối xứ, điền cửu mẫu, thổ nhất mẫu. Đông cận ương thổ, Tây cận thu điền, Nam cận đường đình, Bắc cận thu điền.

Bảo Đại tam niên trọng Đông nguyệt.

Sở tại chi: Đinh Bạt Thiệp, Đinh Bạt Đoái, Quỳnh Lưu huyện, Ngọc Đoài chi: Đinh Bạt Sử. Văn chi: Đinh Bạt Nhuận,  Đinh Bạt Nghị. Thanh Chương huyện, Xuân Tường chi: Đinh Bạt Nguyên,  Đinh Bạt Từ, Tịnh Đa Phúc chi: Đinh Bạt Nậy, Phụng hòa công, Hữu bi nhị diện, Nam Xuân vãn sinh Hồ Nguyên Phong phụng tả Trưởng chi duệ tôn Đinh Bạt Đương phụng khắc.

Dịch nghĩa:

Nước có nguồn, khởi từ nguồn muôn ngàn vạn nhánh các chi lưu dòng chảy, chảy mãi xa xa vô tận.

Người ta sinh ra từ tổ, tổ ta khởi dựng cơ đồ, non sông thu về một mối nên có dòng họ ta.

Bia ghi chép ruộng Tự điền phụng thờ Đinh tướng công.

Kính ngưỡng

Ngài Đại vương tiên tổ ta - Hơn 300 năm sau khi Ngài tạ thế. Triều đình trước đã ban cấp Ngụ lộc và ruộng Tự điền ở các nơi như trong Gia phả sự tích, rất đầy đủ cụ thể, con cháu đời đời và mãi mãi không được thay đổi.

Nay nhân ông Tường là trưởng tộc cùng ông Trường là hội viên ở chi Phúc An được bổ làm chức Chánh tổng, ông Hưng là Chánh cửu phẩm Văn Giai, ông Trọng là thí sinh vâng mệnh quan Chế Đài bản tỉnh đến hỏi tôi về việc chế định văn bia truyền lại hậu thế theo lệnh quản lý trực tiếp của quan bản tỉnh đối với các bậc thân sỹ với sự tích hành trạng của tiên tổ Đại vương.

Vân Giang Tiến sỹ Thị độc vương đại phu tôi là người được trưng cầu văn chương để soạn văn bia.

Tỉnh đường bản quan duyệt y chính bản và các chi trong toàn tộc thành tâm bái cúng trùng tu tôn tạo. Việc soạn văn bia đã hoàn tất. Sự tích hành trạng cung kính ghi vào mặt trước, mặt sau bia ghi hết tất cả Ngụ lộc Tự điền có ở các nơi, kèm theo bản đồ để sau này mãi mãi cho muôn đời.

Một ruộng ở La Hà có 24 mẫu - Đông giáp địa phận Bùi Châu lấy lòng sông làm ranh giới, Tây giáp địa phận thôn Tùng lấy lòng sông cùng đập nước bờ đê làm giới hạn, Bắc giáp địa phận xã Bùi Ngoã lấy lòng sông làm giới hạn.

Một khoảnh tại địa phận thôn Bùi, tục gọi là bến Suối có 9 mẫu ruộng, đất 1 mẫu. Đông tiếp cận khu đất ươm - Tây gần Thu điền - Nam gần Quận Đình - Bắc gần Thu điền.

Tháng trọng Đông năm Bảo Đại thứ 3.

Sở hữu - chi Đinh Bạt Thiệp - Đinh Bạt Đoài huyện Quỳnh Lưu - Chi Ngọc Đoài.

Đinh Bạt Sứ

Văn - Chi - Đinh Bạt?

Phụng tri công

Huyện Thanh Chương - Chi Xuân Tường

Đinh Bạt Nguyên      Đinh Bạt Nghị

Đinh Bạt Từ

Chi Đa Phúc - Đinh Bạt Đoá

Nam Xuân vãn sinh Hồ Nguyên Phong phụng tả

Bia có 2 mặt

Trưởng chi duệ tôn Đinh Bạt Đương phụng khắc.

Nhận xét:

Văn bia tại đền thờ Đinh Bạt Tuỵ là một nguồn tư liệu quý để giúp chúng ta hiểu thêm về Đinh Bạt Tuỵ, những đóng góp của ông đối với sự nghiệp trung hưng nhà Lê cũng như chính sách lộc điền tự điền đối với các bậc công thần của nhà Lê Trung hưng. Trên bia "Đinh tướng công tự điền bi" có khắc sơ đồ, vị trí ruộng đất của hương hoả của đền, đây là một nét độc đáo mà chúng ta rất ít gặp khi nghiên cứu văn bia. Văn bia của Đền thờ Đinh Bạt Tuỵ làm một di sản quý cần được chú ý bảo vệ.

 

Chú thích

1. Chữ "ngoã " được Nôm hoá với bộ "thổ bên trái " như nguyên chữ trong văn bia  có âm đọc chữ Nôm là "Ngói" tuy nhiên chúng tôi vẫn đọc là "ngoã" như cách gọi của người dân địa phương

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.