« Quay lại

Chuyên san Khoa học xã hội &nhân văn số 8 năm 2017

Nguyễn Thị Hồng Vui

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

 

Đúng như dự đoán của Trung ương Đảng trong bức thư của Ban Thường vụ Trung ương gửi Xứ ủy Trung kỳ, ngày 26-7-1945: "Tình hình biến chuyển mau lẹ và thuận tiện. Hàng ngũ quân thù ngày một rối loạn thêm... Đất Nhật đang bị quân Đồng minh đánh giữ. Cuộc đổ bộ của quân Đồng minh vào Đông Dương không xa. Tình hình chủ quan và khách quan rất thuận tiện. Giờ tổng khởi nghĩa sắp tới...".

Căn cứ vào nhận định và lời kêu gọi trong thư của Trung ương, ngày 8-8-1945, Việt Minh Nghệ Tĩnh tổ chức Đại hội Đại biểu để bàn kế hoạch tổng khởi nghĩa. Đại hội khai mạc tại làng Châu Sơn, xã Phúc Mỹ (nay là xã Hưng Châu, huyện Hưng Nguyên) với 40 đại biểu. Đại hội đề ra những nhiệm vụ sau:

- Gấp rút xây dựng và phát triển mạnh mẽ Mặt trận Việt Minh, các hội cứu quốc, các đội tự vệ và tiểu tổ du kích, thực hiện quân sự hóa dân chúng, xúc tiến việc thành lập chiến khu, chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang.

- Phát động sôi nổi phong trào treo cờ, băng, khẩu hiệu, dán biểu ngữ, rải truyền đơn, tổ chức mít tinh diễn thuyết, tuyên truyền xung phong và biểu tình, tuần hành, thị uy để cổ động quần chúng, gây thanh thế cho phong trào.

- Chia Nghệ An và Hà Tĩnh ra làm 6 phân khu và phân công cán bộ phụ trách các phân khu đó. Riêng Nghệ An có 4 phân khu: 1. Vinh - Bến Thủy, Hưng Nguyên, Nghi Lộc và Nghi Xuân (Hà Tĩnh); 2. Nam Đàn, Thanh Chương, Anh Sơn; 3. Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành; 4. Con Cuông, Vĩnh Hòa, Tương Dương.

- Chuẩn bị vũ khí và lương thực để ủng hộ quân Đồng minh khi họ đến tước khí giới quân Nhật và đề phòng, nếu họ tỏ thái độ xâm lược thì sẵn sàng đối phó.

Khi thời cơ đến sẽ tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền ở nông thôn trước, thành thị sau.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành chính thức của Việt Minh liên tỉnh Nghệ Tĩnh gồm 7 ủy viên, do đồng chí Nguyễn Xuân Linh làm Bí thư.

Ngày 15-8-1945, Đài Phát thanh Đồng minh chính thức đưa tin: Chính phủ Nhật đã đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Chớp thời cơ ngàn năm có một đó, Ủy ban khởi nghĩa Nghệ Tĩnh đã phát lệnh khởi nghĩa: "... Các Ủy ban khởi nghĩa Nghệ Tĩnh, các địa phương kể trên phải bố trí ngay việc cướp chính quyền, lập Ủy ban nhân dân cách mạng ở làng, lập Chính phủ lâm thời ở phủ và huyện; tùy hoàn cảnh và năng lực địa phương mà làm, không câu nệ làng trước hay huyện trước. Các đồn khố xanh phải chiếm lấy...".

"Sau khi cướp chính quyền cách mạng lập tức tuyên bố: Hủy bỏ hết các pháp luật và quyền lợi kinh tế, chính trị xã hội do Pháp, Nhật và Chính phủ bù nhìn lập ra. Tuyên bố thi hành Chương trình của Việt Minh".

Lệnh khởi nghĩa của Việt Minh như tiếng kèn xông trận đi khắp các địa phương trong tỉnh. Không khí khởi nghĩa sôi sục, trào dâng. Ở các địa phương, Ủy ban khởi nghĩa, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời được thành lập nhanh chóng. Truyền đơn, biểu ngữ xuất hiện khắp nơi. Cờ đỏ sao vàng rực rỡ tung bay trên nóc các đình làng, các cây cao. Nhiều cuộc mít tinh, diễn thuyết, biểu tình, thị uy... nổ ra liên tiếp, tạo khí thế tấn công của cách mạng.

Nhận được lệnh của Ủy ban khởi nghĩa Nghệ - Tĩnh, ngày 16-8-1945, nhân dân xã Thanh Thủy (huyện Nam Đàn) đã khởi nghĩa giành chính quyền. Tiếp đó là khởi nghĩa tại các làng xung quanh thành phố Vinh như Yên Dũng, Lộc Đa ngày 17-8-1945.

Ngày 18-8-1945, Ủy ban khởi nghĩa Quỳnh Lưu đã lãnh đạo quần chúng vũ trang biểu tình kéo đến bao vây huyện đường, buộc tri huyện phải từ chức, lập "chính phủ cách mạng lâm thời" huyện và lãnh đạo nhân dân giành chính quyền ở các tổng, xã.

Nhằm đối phó với âm mưu khôi phục lại quyền thống trị Việt Nam của tàn quân Pháp chạy sang Lào sau ngày 9-3-1945, ngày 18-8-1945, Việt Minh liên tỉnh ra thông tri khẩn cấp, yêu cầu các địa phương "Lập tức cướp chính quyền và tổ chức ngay Cứu quốc quân để sẵn sàng đối phó với âm mưu khôi phục thuộc địa của Pháp".

Thông tri khẩn cấp này đã đẩy mạnh cuộc khởi nghĩa ở các địa phương. Ngày 19-8-1945, Ban Thường trực Việt Minh huyện Hưng Nguyên đã tổ chức lãnh đạo quần chúng giành chính quyền ở huyện; Ủy ban Việt Minh Nghi Lộc cũng vận động đồng bào Thiên Chúa giáo và đông đảo quần chúng biểu tình tại tòa giám mục Xã Đoài, buộc các cố đạo người Pháp phải trao quyền lại cho các linh mục người Việt.

Thành phố Vinh là trung tâm lỵ sở của Nghệ An, lúc bấy giờ đang gặp nhiều khó khăn, là nơi đang tập trung lực lượng của bộ máy chính quyền bù nhìn và quân đội Nhật chiếm đóng. Song không khí chuẩn bị giành chính quyền đã sẵn sàng.

Ngày 19-8-1945, dưới sự lãnh đạo của Việt Minh, hàng trăm thanh niên mang cờ đỏ sao vàng diễu hành qua các đường phố hô vang các khẩu hiệu cách mạng và thăm dò thái độ của lực lượng Nhật đang đóng ở đây.

Sáng ngày 21-8-1945, hàng vạn công nhân, nông dân, nhân dân lao động mang vũ khí đã giương cao cờ đỏ sao vàng rầm rập biểu tình, tuần hành thị uy tiến dọc các đường phố rồi kéo vào thành, trong lúc đó, ông Nguyễn Tài đại diện Mặt trận Việt Minh vào gặp chỉ huy quân đội Nhật đề nghị chúng bàn giao chính quyền cho ta. Trước khí thế của quần chúng cách mạng, bọn Nhật đã chấp nhận những điều kiện của ta đưa ra và hứa giúp Việt Minh 500 khẩu súng và một vạn viên đạn. Ủy viên Ủy ban khởi nghĩa hướng dẫn các đội tự vệ vào chiếm các công sở. Đến 12 giờ, lực lượng cách mạng kéo đến bao vây dinh tỉnh trưởng Nghệ An. Tỉnh trưởng Đặng Văn Hướng tuyên bố quy hàng cách mạng. Ông Lê Viết Lượng thay mặt Ủy ban cách mạng lâm thời Nghệ An tuyên bố xóa bỏ bộ máy chính quyền cũ, thiết lập chính quyền cách mạng ra mắt trước quần chúng giữa tiếng hô vang dậy.

Ngay sau đó, Chính phủ cách mạng lâm thời Nghệ An được thành lập và ra mắt quần chúng. Chiều 21- 8, lực lượng công nhân ở Vinh cũng lập ra Ủy ban công nhân cách mạng lâm thời. Cuộc khởi nghĩa ở Vinh thắng lợi đã thúc đẩy nhanh chóng việc cướp chính quyền ở các huyện còn lại trong tỉnh.

Như rắn mất đầu, chính quyền bù nhìn ở các phủ huyện hoang mang cao độ, khí thế của quần chúng ngày một dâng cao như nước vỡ bờ, dưới sự lãnh đạo của ủy ban cách mạng lần lượt các huyện giành được chính quyền thắng lợi: Diễn Châu ngày 21-8; Nghĩa Đàn ngày 22-8; Thanh Chương, Nam Đàn, Anh Sơn ngày 23-8; Nghi Lộc, Yên Thành ngày 25-8; các phủ huyện miền núi lần lượt giành chính quyền về tay nhân dân ngày 26-8.

Ngày hội giành chính quyền tháng Tám năm 1945 ở Nghệ An thắng lợi rực rỡ trong vòng 9 ngày (từ ngày 18 đến 26-8-1945), đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của cả nước, phá tan xiềng xích nô lệ của chế độ phát xít thực dân phong kiến trên đất nước ta, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam.

Nguyễn Khắc Thuần

          Hội viên Hội Cựu chiến binh Nghệ An

 

Trên đất Nghệ An biết bao thế hệ đã từng có những tháng năm vàng theo lời Bác: "Giúp Bạn là tự giúp mình, là ăn cơm nhà, làm việc nhà trên đất Bạn", gắn bó thủy chung, liên minh chiến đấu với quân dân Bạn, hy sinh tuổi xuân, xương máu của mình vì độc lập tự do của hai dân tộc. Nhiều người trong số họ đã mãi mãi nằm lại với đất nước Triệu Voi. Bao kỷ niệm về những năm tháng "hạt muối cắn đôi, cọng rau sẻ nửa", "vai sát vai chống kẻ thù chung" vẫn như lửa nồng nàn trong trái tim những người đang sống.

Xin được cùng nhau nhớ về những năm tháng ấy: Ngày 31/12/1983, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 đảm nhận công tác quân sự ở Lào, từ Viên Chăn, Xiêng Khoảng xuống Hạ Lào, trực tiếp chỉ huy các sư đoàn bộ binh quân tình nguyện 968, 324 và Lữ đoàn Bộ binh 176.

Sư đoàn 968 thành lập ngày 28/6/1968 tại Lào, do yêu cầu nhiệm vụ nay trở về trong đội hình quân khu, sư đoàn mang theo vinh dự lớn là Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Riêng 5 năm trở lại làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào trong điều kiện mới (1979 - 1983), Sư đoàn 968 đã loại khỏi vòng chiến đấu 795 tên giặc, làm bị thương 325 tên, bắt và chuyển giao cho bạn 249 tên, gọi địch về đầu thú 606 tên, hỗ trợ cho Bạn thanh lọc 863 tên, thu nhiều vũ khí.

Các đơn vị trong Sư đoàn bao gồm những đơn vị vốn đã gắn bó từ lâu với mảnh đất Liên khu 4, Quân khu 4, từng hoạt động nhiều năm trên đất bạn Lào trong các tổ chức tiền thân là Đoàn chuyên gia quân sự 763 rồi Đoàn 565 thành lập ngay trên đất Hà Tĩnh.

Danh hiệu Đơn vị Anh hùng vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước càng thêm rực rỡ khi Sư đoàn trở lại Trung - Hạ Lào với 8 nhiệm vụ mới được giao trong những thời điểm cực kỳ khẩn trương, nhạy cảm từ sau ngày 6/12/1977; đỉnh cao là nhanh nhạy kịp thời đập tan âm mưu địch dự định gây bạo loạn lật đổ ở Xa Ra Van và Pắc Xế vào ngày 31/8/1978.

Giờ đây, trở về trong đội hình lực lượng vũ trang Quân khu 4. Cán bộ, chiến sỹ Sư đoàn bồi hồi xúc động nhớ tới 16 chữ vàng trên bức trướng mà Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 4 trao tặng ngày 10/1/1977 tại buổi lễ trọng thể Sư đoàn 968 tổ chức đón nhận danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

"Kiên trì bền bỉ

Mưu trí ngoan cường

Bạn mến, dân tin

Quân thù khiếp sợ".

Trên cơ sở các Hiệp định được ký kết giữa Đảng, Nhà nước và quân đội hai nước, ngày 17/11/1984, đồng chí Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân khu đến Viên Chăn thăm và làm việc với Bộ Quốc phòng Lào bàn về kế hoạch hoạt động mùa khô 1984 - 1985. Nhiệm vụ bao gồm: Quét phỉ, xây dựng cơ sở, cùng Bạn phòng thủ bảo vệ các mục tiêu quan trọng.

Trong tháng 11/1984, Quân khu 4 chuyển 6.000 quân, chia 2 đợt, bổ sung cho các Sư đoàn 324, 968, Lữ đoàn 176 đang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào và đưa quân hoàn thành nhiệm vụ trở về, bảo đảm an toàn, nhanh chóng. Ngày 24/11/1984, các đơn vị triển khai hoạt động kế hoạch mùa khô, theo phương châm, phương thức hoạt động của Bạn: chính trị - kinh tế - quân sự kết hợp, đan xen.

Sư đoàn 324 đứng chân ở Viên Chăn, trọng điểm xây dựng cơ sở là huyện Ca Xỉ, huyện yếu nhất ở ngã ba Viên Chăn đi Xa La Phu Khun, đồng thời tham gia truy quét phỉ ở Phu Noọng Hầu. Theo phân công, Trung đoàn 1 của sư đoàn có pháo binh và xe tăng phối thuộc - bố trí xuống phía Tây Nam Viên Chăn, tạo thế phòng thủ chắc chắc cho mục tiêu trọng điểm. Trung đoàn 176 truy quét, phục lót các cửa khẩu. Sư đoàn 968 truy quét bọn địch xâm nhập từ ngoài vào theo hành lang Nam đường số 9.

Truyền thống bộ đội tình nguyện đã nhanh chóng được phát huy, lập công.

Chiều ngày 16/4/1984, sau khi được tin Tiểu đoàn 5 của Bạn phát hiện hai toán phỉ hơn 100 tên, do các tên Pu Vu và Rườn Chòi chỉ huy, ban ngày phân tán, ban đêm trà trộn về khu vực Cút Hi (đông Pắc Xoòng 6km), Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9 cùng một số cán bộ cơ sở Sư đoàn 968 xuống ngay Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 triển khai lực lượng chiến đấu. Tối ngày 16/4, Tiểu đoàn 2 hành quân, 2 giờ 30 phút ngày 17/4 đơn vị đến vị trí tập kết. Gần sáng ngày 17/4, Đại đội 5, Tiểu đoàn 2 áp sát Cút Hi, Tiểu đoàn 1 vây chặt Mường Mày, 5 giờ 30 phút sáng 17 tháng 4, Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 phát hiện địch, liền nổ súng tiến công. Theo tiếng súng của Đại đội 1, cả 2 tiểu đoàn nhanh chóng áp sát mục tiêu, đồng loạt xung phong, loại khỏi vòng chiến đấu 21 tên, làm bị thương 9 tên, thu 13 súng.

Nhờ có kinh nghiệm hoạt động chiến trường, các chiến sĩ Trung đoàn 9 đã nắm chắc địch, dự kiến sát đúng các tình huống, phối hợp được các lực lượng, giữ được bí mật cho đến lúc nổ súng, nên diệt được địch, thu nhiều vũ khí, tạo được niềm tin đối với nhân dân địa phương của bạn.

Qua trận đánh này, các đơn vị trong Sư đoàn càng tích lũy thêm kinh nghiệm, gắn bó mật thiết thêm với nhân dân và lực lượng vũ trang Bạn, thường xuyên bám sát cơ sở, tham gia cùng địa phương xây dựng lực lượng, củng cố an ninh, góp phần xây dựng kinh tế, văn hóa, làm cho Bạn và ta cùng mạnh lên, làm cho quân địch phải hủy bỏ kế hoạch dự kiến tổ chức lực lượng phản động thành những trung đoàn để phá hoại, lật đổ; đẩy chúng vào thế bị động, lúng túng đối phó.

Đại đội 6, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 19 vừa di chuyển về địa bàn mới, được tin du kích báo có một toán địch từ ngoài biên xâm nhập vào khu vực xã Xê Noan. Lập tức, Đại đội trưởng Hoàng Kim Vinh cử ngày 8 đồng chí cùng 2 du kích Bạn chia làm 2 tổ luồn cắt rừng truy lùng. Sau 4 giờ luồn cây, vượt suối, tổ đi đầu phát hiện liền bí mật bao vây. Cả 5 tên địch không kịp chống cự, bị tóm gọn. Tên toán trưởng khai rằng: Chúng được giao phá cầu Xê Noan và phục kích các chuyến xe vận tải của bộ đội địa phương. Hai lần chúng định tiếp hậu cần, cả ban ngày lẫn ban đêm nhưng đều phải tháo lui vì bộ đội Việt Nam canh gác chặt chẽ.

Được giao nhiệm vụ mới, Sư đoàn kịp thời chỉ đạo chuyển hướng hoạt động cho phù hợp kế hoạch điều chỉnh lực lượng của Quân khu 4, phân tán thành 20 phân đội độc lập đứng chân trên các địa bàn trọng điểm; bàn giao Trung đoàn 425 đóng quân ở Xê Kông - Hạ Lào về Công ty khai thác gỗ Quân khu 4. Sư đoàn đầu tư công sức, thời gian, lực lượng giúp Lữ đoàn 4 bộ binh của Bạn - đơn vị kết nghĩa với Sư đoàn xây dựng, huấn luyện trưởng thành. Lần đầu tiên, Lữ đoàn 4 diễn tập chỉ huy có một phần thực binh đạt kết quả cao. Sư đoàn phối hợp với Bạn xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng vũ trang phát triển cả về số lượng và chất lượng.

Dân quân du kích một số xã thuộc huyện Chăm Phon, Sông Khôn độc lập chủ động trong hoạt động giữ gìn trật tự và chiến đấu bảo vệ bản làng.

Sư đoàn kết hợp giữa đánh địch ở ngoài rừng với thanh lọc "địch ngầm" trong các buôn bản, tổ chức điều tra nắm chắc tình hình kết hợp với nhân dân và lực lượng vũ trang Bạn, kịp thời phát hiện âm mưu, thủ đoạn của địch, tiếp tục bắt gọn nhiều toán, nhiều tốp địch từ ngoài xâm nhập về ngay khi chúng chưa kịp trở tay hành động. Nhiều toán địch đột nhập phá hoại, khi thấy bộ đội Việt Nam luôn tổ chức tuần tra, canh gác nghiêm ngặt, người sẵn sàng, vũ khí sẵn sàng đã phải tháo lui.

Đảng bộ, nhân dân, các lực lượng vũ trang Bạn và các đồng chí lãnh đạo quân đội hai nước đã khen ngợi, biểu dương thành tích to lớn của Sư đoàn 968 cũng như các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam đang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào.

Đồng chí Khăm Tày Xi Phăn Đon. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã khẳng định: "Giúp Lào, một lần nữa, các lực lượng tình nguyện Việt Nam đã nêu tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần khắc phục khó khăn, gian khổ, về tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, xả thân vì Bạn"(1).

Ngày 18/1/1985, trong dịp cùng Trung tướng Xê Phôn - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào đến thăm Sư đoàn, Đại tướng Hoàng Văn Thái - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam biểu dương thành tích 8 năm Sư đoàn làm nghĩa vụ quốc tế: "Xây dựng được tinh thần đoàn kết quốc tế, có nhiều cố gắng trong hoạt động đánh địch; giúp Bạn củng cố được lực lượng cách mạng hỗ trợ cho nhân dân thanh lọc địch ngầm, xây dựng đơn vị có nhiều tiến bộ, kể cả tư tưởng, trình độ chiến thuật, kỹ thuật; giữ nghiêm kỷ luật, được Bạn tin, dân mến"(2).

Đối với Sư đoàn 324 và Lữ đoàn 176, phối hợp với Bạn xây dựng cơ sở trên địa bàn 4 huyện, 43 xã, 490 bản; trong đó khó khăn nhất là 2 huyện Xây Xổm Bun và Ca Xỉ, Sư đoàn 324 đã cứu thoát 11.000 người dân bị địch cưỡng bức vào rừng theo phỉ ở địa bàn Đông - Tây Ca Xỉ. Bảo vệ an toàn những lễ hội quan trọng, kịp thời đập tan âm mưu địch phá hoại; trong đó có Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương (5/1981), Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng Nhân dân cách mạng Lào (4/1982).

Sư đoàn 324 và Lữ đoàn 176 cùng với lực lượng vũ trang Bạn chốt giữ bảo đảm giao thông an toàn trên các tuyến đường quan trọng, trong đó có đường huyết mạch số 13 xuyên Lào với nhiều đoạn hiểm yếu, loại trừ được nguy cơ uy hiếp của giặc. Các đơn vị còn phối hợp xây dựng cho bạn hàng chục trường học, hàng chục trạm xá, trụ sở, giúp bạn hàng vạn ngày công làm thủy lợi, sản xuất, khám chữa bệnh cho hàng chục nghìn lượt người; trích bớt khẩu phần ăn giúp dân vùng đói kém hàng chục tấn gạo, hàng chục tấn muối.

Sư đoàn và lữ đoàn đã cùng Bạn tổ chức, huấn luyện, kèm cặp trong chiến đấu, giúp các đơn vị dân quân du kích và bộ đội địa phương tỉnh, huyện từng bước trưởng thành làm cơ sở bổ sung xây dựng, phát triển các đơn vị bộ đội chủ lực cấp trung đoàn, sư đoàn.

Với tất cả tình nghĩa thủy chung, cao cả và kinh nghiệm xương máu tích lũy được qua xây dựng và chiến đấu, các đoàn cán bộ tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật của sư đoàn và trung đoàn hòa mình với cán bộ, chiến sĩ Bạn cùng xây dựng, rèn luyện, học tập, công tác…

Tháng 5 năm 1985, Sư đoàn 1, Sư đoàn đầu tiên của Bạn ra đời, đánh dấu bước phát triển mới của Quân đội nhân dân Lào. Ngày 20/7/1985, lễ kết nghĩa giữa Sư đoàn 1 Quân đội nhân dân Lào và Sư đoàn 324 Quân tình nguyện Việt Nam được tổ chức trọng thể tại thủ đô Viên Chăn.

Sư đoàn trưởng U Đôn thay mặt Sư đoàn 1, Sư đoàn trưởng Võ Chót thay mặt Sư đoàn 324 ký các văn kiện hợp tác giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt, đưa mối quan hệ truyền thống giữa hai đơn vị và quân đội hai nước lên tầm cao mới.

Tiếp tục thực hiện chủ trương của Bạn "kiên quyết đập tan mọi âm mưu thủ đoạn phá hoại của địch, diệt tận gốc mọi tổ chức phỉ mới nhen nhóm, phát động toàn dân cùng với các lực lượng vũ trang giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, làm trong sạch địa bàn", Sư đoàn 324 liên tục phối hợp với bạn mở các đợt hoạt động truy quét. Trong sáu tháng mùa khô 1983 - 1984, Sư đoàn đã phá tan các cụm phỉ còn lại ở Pha Phay, Phủ Sẩm Liêm, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, thu hàng trăm súng, phá rã hoàn toàn tổ chức phỉ gồm các tiểu đoàn 2, 3, 4 do Dong Dua Hờ chỉ huy trên địa bàn xung quang Phu Bia.

Trong đợt 3 tiến công quân phỉ ở Phu Quang Khểu, Pha Long Pheng, Pha Chia thuộc các tiểu khu 11, 12 do tên trung tá Dua Phao Sòng chỉ huy; cán bộ, chiến sĩ ta đã vượt lên những thử thách gian nguy, ác liệt, suốt hơn 5 tháng cuối mùa khô, đầu mùa mưa 1984 bền bỉ chiến đấu. Có những trận đánh kéo dài 2 - 3 ngày mới giải quyết xong một căn cứ tiểu khu. Điển hình như trận đánh căn cứ phỉ ở Pha Chia (4/10/1984). Địch dựa vào hang động, núi cao, rừng rậm, vách đá tai mèo, luồn sâu, đánh lén, phục kích và ngoan cố bám trụ, chống trả quyết liệt. Phải mất 3 ngày, hy sinh 12 chiến sĩ, ta mới chiếm được căn cứ.

Sau khi bị ta đánh tan 11 tiểu khu, tên đại tá Chư Pao Mùa chỉ huy tiểu khu 1 chuyển dời căn cứ từ Na Nán về Bom Lọng. Tại đây, dựa vào thế hiểm của một loạt điểm cao trùng điệp nhiều tầng, nhiều lớp nằm trong huyện Mường Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng; Chư Pao Mùa và đồng bọn ra sức tập hợp lực lượng, cải tạo địa hình, đào hào, đắp lũy, dựng các chướng ngại vật trên các hướng, lập thành một căn cứ mới. Chỉ sau mấy tháng, Chư Pao Mùa đã thu gom được 1.200 tên phỉ; tổ chức thành đại đội, tiểu đoàn, trang bị đủ súng bộ binh, hỏa lực mang vác và các loại mìn. Các hang động trở thành kho tàng tích trữ lương thảo, nước uống, đạn dược của bọn phỉ. Chư Pao Mùa mưu toan biến khu rừng heo hút, tách biệt gần biên giới Việt - Lào, với hơn 5.000 dân sống rải rác ở 7 bản, thành căn cứ có thể tiến công và phòng thủ đủ mạnh để vừa làm bàn đạp chống phá cách mạng Lào, vừa đột nhập phá hoại cách mạng Việt Nam.

Từ tháng 4 năm 1985, được các thế lực đế quốc phản động nước ngoài trực tiếp chỉ huy, tiếp tế lương thực, thực phẩm, vũ khí bằng máy bay và thường xuyên tác động mạnh mẽ về tinh thần, Chư Pao Mùa và đồng bọn càng hung hăng, chống phá cách mạng Lào. Chúng đột nhập vào các làng bản cướp phá, đe dọa, bắt dân theo chúng, cài cắm phản động vào các tổ chức cơ sở của Bạn. Chúng tập kích cả đoàn xe vận tải của ta trên đường 7 ngay giữa ban ngày.

Lúc này nhiệm vụ tiêu diệt cụm phỉ Bom Lọng trở thành yêu cầu cấp bách, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đem lại niềm tin trong nhân dân và các lực lượng vũ trang địa phương bạn. Tỉnh ủy Xiêng Khoảng đề nghị cấp trên tăng cường lực lượng cùng tỉnh giải phóng vùng đất bị Chư Pao Mùa chiếm đóng. Bộ Chỉ huy liên quân Lào - Việt được thành lập do đồng chí U - đôn Khát - thi - nạ, Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào - Bí thư Tỉnh ủy Xiêng Khoảng làm chỉ huy trưởng. Ngày 10/5/1985, mọi công tác chuẩn bị cơ bản hoàn thành.

5 giờ 30 phút sáng ngày 13 tháng 5, quân ta tiến công vào vị trí địch ở chân điểm cao 1375. Bộ binh ta lần lượt đánh chiếm từng khu doanh trại của địch. Chúng rút dần lên đỉnh núi đá, dựa vào hang, dùng lựu đạn và súng chống trả quyết liệt. 14 giờ, chúng còn bất ngờ luồn ra phía sau, tập kích vào sở chỉ huy quân ta. Cuộc tiến công của ta trên hướng này phải tạm dừng lúc 18 giờ để củng cố lực lượng.

Phát huy kết quả của Tiểu đoàn 31 đặc công Quân khu trên hướng thọc sâu và trên hướng phối hợp của các đơn vị Bạn, sáng 14/5/1985, lợi dụng lúc sương mù chưa tan, quân ta nổ súng, khép chặt vòng vây. Địch buộc phải rút lui vào cố thủ trong các hang động ở khu trung tâm Bom Lọng.

Quân ta vừa kết hợp bao vây, vừa gọi hàng; đồng thời tổ chức hướng dẫn nhân dân ra khỏi khu vực tác chiến. Hơn 1.300 người dân đã được dân quân địa phương đưa về nơi căn cứ an toàn.

Quân địch vẫn ngoan cố chống cự. Quân ta tiếp tục tiến công mãnh liệt và dồn dập, quyết không cho chúng lợi dụng rừng núi để chống trả hoặc lẩn trốn. Đợt tiến công cuối cùng diễn ra từ 6 giờ 30 phút sáng 15 tháng 5 đã kết thúc lúc 15 giờ. Hàng trăm tên phỉ bị tiêu diệt, 510 tên bị bắt và đầu hàng (có 2 trung tá, 1 thiếu tá, 21 tên cấp úy).

Phá tan sào huyệt phỉ thuộc loại lớn nhất khi địch vừa nhen nhóm đã tạo nên một đòn đánh mạnh vào âm mưu phá hoại của địch; góp phần thuận lợi đưa dần an ninh - quốc phòng của đất nước bạn đi vào ổn định; lực lượng vũ trang nhân dân Lào được củng cố, phát triển.

Đi đôi với liên minh hợp tác với Bạn về quốc phòng - an ninh, thống nhất kế hoạch phòng thủ chiến lược, phòng thủ đối phó với "chiến tranh có giới hạn", triển khai kế hoạch chống "chiến tranh phá hoại" nhiều mặt, các đơn vị quân tình nguyện và các địa phương trong Quân khu thực hiện các hình thức "kết nghĩa", giúp Bạn xây dựng và củng cố lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, đào tạo cán bộ theo cách: "ngành giúp ngành", "tỉnh giúp tỉnh", "huyện giúp huyện" xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng kinh tế giúp Bạn.

Lịch sử quân tình nguyện Sư đoàn 968, 324 trong giai đoạn lịch sử này đã được viết bằng máu xương, tuổi trẻ của một thế hệ. Họ đã làm đúng lời Bác dạy bộ đội tình nguyện.

"Giúp Bạn là tự giúp mình

Là ăn cơm nhà, làm việc nhà trên đất Bạn".

 

Chú thích

(1), (2). Lịch sử Quân khu Bốn, Nxb. Quân đội nhân dân - H - 2000, tr.48, 97

Nguyễn Văn Thanh

Nhà nghiên cứu

 

Năm 1925 ngay tại nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết "Bản án chế độ thực dân Pháp", là tác phẩm tổng kết lịch sử, một cáo trạng đối với chủ nghĩa thực dân, để sau đó 20 năm, vào ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc "Tuyên ngôn độc lập", khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, của nước Việt Nam độc lập, đồng thời là sự cáo chung chế độ thực dân ở Việt Nam sau hơn 80 năm tồn tại của nó. Mùa Thu này, nền cộng hòa, dân chủ của Việt Nam tròn 72 tuổi. 72 năm qua là cả một chặng đường vinh quang về khát vọng độc lập, tự do, đổi mới, hội nhập và phát triển.

Tuyên ngôn độc lập" khẳng định chân lý con người phải được tự do, dân tộc phải được độc lập. Đó là ý chí thiêng liêng nhất, cao cả nhất. "Tuyên ngôn độc lập" 2-9-1945 được bắt đầu thể hiện những tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền con người. Quyền con người ở Việt Nam chỉ từ khi nhân dân ta giành được độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ. Mở đầu bản "Tuyên ngôn độc lập" là hai câu trích dẫn từ Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc". Và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của nước Pháp: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:  "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Đây phải được coi là quyền tự nhiên của dân tộc. Và kết thúc bản "Tuyên ngôn độc lập", Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định một cách đanh thép, đầy tự hào về dân tộc Việt Nam, đó là "Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!". Bản tuyên ngôn này đã đánh dấu một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tuyên ngôn độc lập năm 1945 đã đi vào phong trào cách mạng thế giới, trở thành một giá trị phổ biến, được nhiều nước thừa nhận và tôn trọng. Tuyên ngôn độc lập được đánh giá như "một đạo luật mới của nhân dân thế giới khẳng định quyền tự do, độc lập bất khả xâm phạm của các dân tộc bị áp bức"(1).

Ngay sau khi giành độc lập 1945, quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau đó tiếp tục được khẳng định, mở rộng trong các bản Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Hiến pháp Việt Nam năm 1992, văn kiện pháp lý cao nhất của Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận một cách trang trọng, rõ ràng, toàn diện. Đó là cơ sở pháp lý vững chắc để các cấp, các ngành, các cơ quan dân chính đảng thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân trong chế độ mới. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã dành một chương riêng quy định về "Quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân", trong đó các nguyên tắc cơ bản về quyền con người cũng như các quyền con người cụ thể mà các công ước quốc tế về quyền con người đã quy định đều được "ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm". Các quyền hiến định này đã được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật khác có nhiều quy định liên quan đến quyền con người. Chỉ tính từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã ban hành hơn 13.000 văn bản pháp luật các loại, trong đó, có hơn 40 bộ luật và luật, trên 120 pháp lệnh, gần 850 văn bản của Chính phủ và trên 3.000 văn bản pháp quy của các bộ, ngành đã được thông qua và thực thi. Đặc biệt, Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế quan trọng, cốt lõi về quyền con người. Đó là Công ước quốc tế xóa bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc, Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước quốc tế về quyền trẻ em; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã tham gia nhiều văn kiện của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về quyền của người lao động và tích cực tham gia trong nhiều cơ chế đối thoại nhân quyền đa phương và song phương khác...

Công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đã và đang chứng minh con đường phát triển của cách mạng Việt Nam bắt nguồn từ truyền thống độc lập tự chủ, từ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhìn lại chặng đường 30 năm đổi mới, quyền của người dân Việt Nam ngày càng được phát triển, ngày càng được Nhà nước Việt Nam bảo đảm. Điều này đã được thể chế hóa trong hiến pháp, pháp luật, được quy định cụ thể bằng các chính sách, giải pháp thực hiện từ Trung ương đến địa phương. Qua những nỗ lực đó, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Việt Nam được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016 với số phiếu rất cao: 184/193, lần đầu trúng cử Hội đồng Nhân quyền với sự ủng hộ gần như tuyệt đối, cao nhất trong số 14 nước trúng cử (trong đó có cả 4 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ là Nga, Trung Quốc, Anh và Pháp). Ông Roland Gomez của Văn phòng Cao ủy nhân quyền LHQ phát biểu: "Việt Nam có thể chia sẻ rất nhiều kinh nghiệm với các nước khác... Việt Nam đã cho thấy việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ, xóa đói giảm nghèo... thực sự chính là các vấn đề về quyền con người" (Báo Công an thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15/11/2013, 08:11).

Việc tôn trọng quyền con người, đấu tranh vì quyền con người chính là khát vọng của dân tộc Việt Nam, là mục tiêu phấn đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong các Văn kiện Đại hội, Đảng ta đều lấy con người là trung tâm và coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực lớn cho sự phát triển. "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH" (bổ sung, phát triển năm 2011), quyền con người đã được khẳng định lại như là một nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới. Văn kiện Đại hội XI viết: "Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân"(2). Tầm quan trọng của nhân tố con người ngày càng được thể hiện rõ, đặc biệt trong nền kinh tế tri thức như hiện nay. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, với quan điểm chỉ đạo rằng : "Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội"(3). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước lại tiếp tục được Đảng quan tâm nhấn mạnh với mục tiêu lớn lao "Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"(4).

Tiếp nối những thành tựu nổi bật về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã đạt được sau 30 năm Đổi mới,  mục XIV dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XII của Đảng tiếp tục ta tiếp tục đề ra mục tiêu "xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị". Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đó, yêu cầu quản lý xã hội theo pháp luật; tôn trọng, thượng tôn pháp luật, công lý, lẽ phải, lẽ công bằng; tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển của mỗi người là một yêu cầu quan trọng, thiết yếu. Đây chính là sự kế thừa và phát triển đích thực tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện, góp phần to lớn vào công cuộc phát triển của đất nước, làm thay đổi căn bản vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

72 năm đã trôi qua, ôn lại "Tuyên ngôn độc lập" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một lần nữa để khẳng định rằng, vấn đề quyền con người luôn được Đảng và Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ ta quan tâm, coi đó là một chân lý không ai có thể thay đổi được. Những tư tưởng về quyền con người, quyền dân tộc trong "Tuyên ngôn độc lập" năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ mang ý nghĩa lịch sử mà còn có giá trị lý luận và thực tiễn, có sức sống mạnh mẽ, vẹn nguyên ý nghĩa trong thời đại ngày nay. Hiện nay tình hình chính trị-an ninh thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn biến phức tạp; xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chủ nghĩa khủng bố cũng như chủ nghĩa cực đoan bạo lực... thì những lời suy rộng của "Tuyên ngôn độc lập" đang vang lên như những tiếng chuông cảnh tỉnh: "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do".

 

 

 

 

Chú thích

1. Bộ Tư pháp, Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Những giá trị và ý nghĩa thời đại, tr.69.

(2). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, HN 2011, tr 76.

(3). Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, ngày 7/11/2013, cập nhật lúc 11h 21'.

(4). Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Ngày 12/6/2014, cập nhật lúc 15h 40'.

Tài liệu tham khảo

1. Tuyên ngôn độc lập ngày 2 - 9 - 1945, Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, HN 2002, t.3, tr. 555- 557.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XII của Đảng, mục XIV, tr 29, 30, 31 (tài liệu sử dụng tại Đại hội đảng bộ c

Ngô Phú Hàn

Chủ tịch UBND huyện Hưng Nguyên

Hưng Nguyên là vùng địa linh nhân kiệt, có bề dày lịch sử gần 550 năm, là huyện đồng bằng phụ cận thành phố Vinh (Trung tâm Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Nghệ An). Từ xưa đến nay, tuy đã có nhiều lần điều chỉnh địa giới, nhưng cơ bản Hưng Nguyên vẫn là vùng đất non nước hữu tình, khí tượng tươi sáng, núi sông hùng vĩ, đồng ruộng phì nhiêu, giao thông thuận lợi, có vị trí địa lý quan trọng thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội và chiến lược quân sự để bảo vệ đất nước từ xưa tới nay. Núi Thành, sông Lam là nơi Lê Lợi chọn làm căn cứ địa để chiêu binh luyện quân đánh lại quân xâm lược nhà Minh và sau này là căn cứ địa cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước.

Nói đến Hưng Nguyên, người ta nghĩ ngay đến mảnh đất truyền thống văn hóa, cách mạng. Hưng Nguyên là một trong những nơi hưởng ứng và tham gia mạnh mẽ các phong trào Văn Thân, Cần Vương, Đông Du và phong trào đấu tranh chống áp bức, bóc lột. Hưng Nguyên là quê hương của cố Tổng Bí thư Lê Hồng Phong, Liệt sỹ Phạm Hồng Thái, Thượng thư Đinh Bạt Tuỵ, Nhà tư tưởng canh tân Nguyễn Trường Tộ; là một trong những cái nôi của cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, mà đỉnh cao là cuộc biểu tình lịch sử ngày 12/9/1930. Hưng Nguyên là nơi sinh cội nguồn ba vĩ nhân: quê hương bà ngoại Bác Hồ; quê tổ của vị anh hùng dân tộc kiệt xuất Nguyễn Huệ; quê tổ Nhà yêu nước vĩ đại Phan Bội Châu…

Chính vì vậy, hệ thống di tích lịch sử, văn hóa ở Hưng Nguyên phong phú về số lượng và thể loại với hơn 111 di tích đã được nhận biết, hiện nay đã có 12 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia, 20 di tích được xếp hạng cấp Tỉnh, điển hình như: Khu di tích Xô viết Nghệ Tĩnh 12/9, Khu lưu niệm TBT Lê Hồng Phong, đền thờ vua Lê, đền Hoàng Mười, đền thờ Đinh Bạt Tụy, núi Lam Thành… Gắn liền với các di tích là nhiều lễ hội văn hóa truyền thống đặc sắc như: Lễ hội đền Ông Hoàng Mười, Lễ hội đền Thanh Liệt, Lễ hội đền vua Lê, lễ hội đền Làng Rào…Đây là hệ thống di sản vật thể và phi vật thể quan trọng.

Như vậy, có thể khẳng định rằng Hưng Nguyên là huyện rất có tiềm năng về du lịch mà chủ yếu là du lịch gắn với hoạt động tâm linh và du lịch gắn với việc giáo dục truyền thống cách mạng của dân tộc.

Hoạt động du lịch ở Hưng Nguyên trong thời gian qua đã bắt đầu phát triển thu hút đông đảo du khách thập phương từ mọi miền đất nước. Hưng Nguyên đã được đón rất nhiều đoàn cán bộ Lãnh đạo của Trung ương, các tỉnh bạn đến dâng hương, tưởng niệm 217 liệt sỹ tại Đài Xô viết Nghệ Tĩnh, dâng hương và tham quan học tập tại Khu lưu niệm Tổng Bí thư Lê Hồng Phong, nhà thờ họ Phạm… Hưng Nguyên được đón đông đảo du khách về với các lễ hội truyền thống như Lễ hội đền Ông Hoàng Mười là về với đức tin hướng thiện và sự linh nghiệm trong đời sống tâm linh, về với Lễ hội đền Thanh Liệt không những để thể hiện lòng tôn kính tới các đấng thần linh mà còn được hòa mình vào nét sinh hoạt văn hóa dân gian lành mạnh đặc thù của người dân vùng sông nước… Về với những lễ hội cũng là dịp để huyện giới thiệu với du khách về quê hương, mảnh đất và con người Hưng Nguyên yêu nước và cách mạng, giới thiệu về các làng nghề truyền thống với các sản phẩm đặc trưng của huyện nhà như: Làng nghề ép dầu lạc, làng nghề nấu rượu, làng nghề bún bánh, nghề chế biến rươi…

Tuy nhiên, xét một cách tổng thể, việc khai thác các tiềm năng du lịch huyện Hưng Nguyên trong thời gian vừa qua vẫn còn nhiều hạn chế, chưa có sự quan tâm đầu tư đúng mức, chưa tạo ra được những sản phẩm du lịch đặc trưng, mang thương hiệu để thực sự hấp dẫn và lôi cuốn du khách…

Để phát triển du lịch trong thời gian tới huyện đang chú trọng một số giải pháp như sau:

1. Tập trung làm tốt công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch các điểm du lịch:

- Thực hiện tốt công tác quy hoạch du lịch và chức năng quản lý Nhà nước theo quy hoạch. Quy hoạch các điểm có tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn trên địa bàn huyện, đồng thời chuẩn bị đầy đủ các điều kiện và thông tin để hỗ trợ các nhà đầu tư và kêu gọi đầu tư khai thác du lịch. Hiện nay, huyện đã và đang thực hiện lập các dự án để tu bổ, nâng cấp, mở rộng các di tích, các điểm du lịch như: Dự án di tích Nhà lưu niệm Lê Hồng Phong, di tích Xô viết Nghệ Tĩnh, di tích đền Ông Hoàng Mười…

- Khôi phục, nâng cấp, mở rộng quy mô các lễ hội dân gian truyền thống có từ xa xưa trên địa bàn, nhất là lễ hội như Lễ hội đền Ông Hoàng Mười (vào dịp tháng 10 âm lịch), Lễ hội đền Thanh Liệt (vào dịp tháng 2 âm lịch hàng năm). Hiện nay, huyện đang phối hợp lập và trình hồ sơ  đề nghị Bộ VHTT&DL công nhận lễ hội đền  Ông Hoàng Mười và lễ hội đền Thanh Liệt là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, công nhận đền Ông Hoàng Mười là di tích lịch sử cấp quốc gia.

- Quy hoạch, khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống tiêu biểu. Tổ chức lựa chọn, xây dựng các dự án làng nghề du lịch trọng điểm; lựa chọn các làng có tiềm năng du lịch theo tiêu chí: làng tiêu biểu cho một nghề; có mức độ tương đối phát triển; còn lưu giữ vẻ đẹp cảnh quan và các giá trị văn hóa đặc trưng thuận lợi cho việc thiết lập các tuyến du lịch. Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ các làng nghề truyền thống phát triển.

2. Đẩy mạnh việc thu hút đầu tư, xã hội hóa các nguồn lực để đầu tư, xây dựng hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch

- Huy động các nguồn lực của huyện, tranh thủ sự hỗ trợ của tỉnh, của Trung ương và nguồn vốn các doanh nghiệp trong và ngoài huyện để tiếp tục hoàn thiện cơ sở vật chất phục vụ du lịch, thương mại.

- Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư các cơ sở lưu trú, nhà hàng, khách sạn với các loại hình dịch vụ tiện ích, phong phú đa dạng. Xây dựng chương trình văn hóa ẩm thực đặc sắc, đặc trưng nhằm tạo điều kiện cho du khách nâng cao chất lượng tour du lịch.

3. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch:

- Tập trung xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng có thương hiệu như: Rượu Hưng Tân, rươi Hưng Nhân, kẹo Cu đơ Hưng Châu, dầu lạc Hưng Xuân… đáp ứng nhu cầu tham quan, mua sắm và kích thích chi tiêu của du khách.

- Kêu gọi đầu tư phát triển sản phẩm mới, nâng cao chất lượng hàng hóa, mẫu mã hấp dẫn nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.

4. Tăng cường công tác tuyên truyền, xúc tiến, quảng bá về du lịch dịch vụ:

- Xây dựng nội dung để thuyết minh, hướng dẫn ở các khu du lịch, điểm tham quan phù hợp với giá trị lịch sử, văn hóa và đặc thù của từng khu, điểm du lịch nhằm tạo sự đa dạng, liên hoàn, hấp dẫn, góp phần tăng thời gian lưu trú của khách du lịch.

- Phát hành các tập gấp, bản đồ du lịch, đĩa CD, thông tin trên website,… phối hợp tổ chức và tham gia các hội chợ, các lễ hội du lịch trong và ngoài tỉnh để giới thiệu, quảng bá sản phẩm du lịch của địa phương.

- Xây dựng thông tin về dịch vụ và giá cả hàng hóa trên trang thông tin điện tử huyện và hệ thống thông tin đại chúng để phục vụ du khách.

5. Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước:                                                   

- Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác quản lý Nhà nước, quản lý kinh doanh và xây dựng các tour, tuyến, điểm du lịch.

- Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, doanh nghiệp mà đặc biệt là mọi tầng lớp nhân dân trong huyện để mọi người hiểu rõ về tầm quan trọng và yêu cầu phát triển của ngành kinh tế du lịch, đẩy mạnh công tác xã hội hóa về du lịch trên địa bàn huyện.

- Tập trung đổi mới trong công tác quản lý, đảm bảo chất lượng dịch vụ, an ninh trật tự, vệ sinh môi trường tại các điểm du lịch nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho du khách về với Hưng Nguyên. Phát triển nguồn nhân lực du lịch đồng bộ cả về số lượng lẫn chất lượng, từng bước chuẩn hóa chuyên môn, nghiệp vụ đối với đội ngũ cán bộ CCVC, đặc biệt quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với CBCC quản lý Nhà nước, đào tạo các hộ gia đình đủ năng lực tổ chức du lịch theo mô hình phát triển cộng đồng.

Hoàng Anh

Trung tâm KHXH&NV Nghệ An

 

Hưng Nguyên là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, yêu nước, cách mạng, nơi có Lam Thành sơn là lỵ sở của nhiều đời, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của vùng Hoan Diễn xưa; quê hương của nhiều nhà yêu nước, cách mạng như Đinh Bạt Tụy, Nguyễn Trường Tộ, Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thái... và là vùng đất có nhiều di tích lịch sử - văn hóa tâm linh như đền vua Lê, đền Thanh Liệt, chùa Hến, đặc biệt là đền Ông Hoàng Mười. Theo số liệu thống kê của Phòng Văn hóa huyện Hưng Nguyên, ước tính lượng khách du lịch về với đền Ông Hoàng Mười khoảng chừng hơn 1 triệu lượt người/năm; tiền công đức lên tới trên 10 tỷ đồng/năm. Đây được xem là điểm nhấn trong phát triển du lịch tâm linh của huyện.

Công trình kiến trúc đẹp gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu

Đền Ông Hoàng Mười tọa lạc ở vị trí "sơn thủy hữu tình". Nhìn từ trên cao sẽ thấy hình tượng đầu một con Hạc tuyệt đẹp do những con sông Mộc, sông Vĩnh tạo thành, đầu con Hạc đội Lam giang, mỏ chầu về Đồng Trụ sơn. Đây là nơi có đền thờ Ông Hoàng Mười linh thiêng, "Mỏ Hạc Linh Từ" là tên chữ của đền, có nghĩa là ngôi đền linh thiêng toạ trên vùng đất có hình "con hạc" mà đền lại nằm ở vị trí phía "mỏ". Trước mặt đền (hướng Nam) là dòng Lam giang như một dải lụa xanh trải rộng, thuyền bè tấp nập ngược xuôi. Phía sau, bên kia sông Cồn Mộc là núi Kỳ Lân, núi Dũng Quyết và Phượng Hoàng Trung Đô với những dấu tích lịch sử, những rừng thông, bạch đàn tươi tốt. Ngoài cảnh đẹp kỳ thú, từ lâu, đền đã nổi tiếng linh thiêng vì ở đây ngoài thờ Quan Hoàng Mười theo tín ngưỡng Đạo Mẫu, còn phối thờ các vị Song Đồng Ngọc Nữ Vị Quốc Công Thái Bảo Phúc Quận Công, Phụ Quốc Thượng Tướng quân Nguyễn Duy Lạc.

Đền được xây dựng từ thời hậu Lê (năm 1634), với diện tích 10.615m². Toàn bộ kiến trúc của đền Ông Hoàng Mười mang dáng dấp kiến trúc thời Nguyễn, được chạm trổ công phu, các chi tiết long, lân, quy, phụng được chạm khắc sinh động, phản ánh được tư duy sáng tạo, sự tài hoa của nghệ nhân xứ Nghệ. Trước đây đền có quy mô bề thế với các công trình kiến trúc như tam quan có voi quỳ, hổ phục, cửa tả cửa hữu với đôi cột nanh sừng sững, ba tòa hạ điện, trung điện và thượng điện uy nghi.

Trải qua thăng trầm của lịch sử, chiến tranh, thiên tai tàn phá,... năm 1995 thể theo nguyện vọng của nhân dân, đền đã được tôn tạo, phục hồi trên cơ sở khung nhà cũ gồm nhà hạ điện, thượng điện, tả vu, hữu vu, đài Cửa Trùng, điện Cô Chín và khu mộ Ông Hoàng Mười. Năm 2002, đền Ông Hoàng Mười ở Hưng Nguyên được Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An xếp hạng di tích lịch sử văn hóa. Năm 2004, đền được tu bổ đảm bảo tính thẩm mĩ và hài hòa khu di tích, ngoài những vị thần được nhân dân thờ từ trước thì đền còn có thêm tín ngưỡng thờ mẫu.

Để đáp ứng nhu cầu tâm linh cho du khách, từ năm 2013, huyện Hưng Nguyên đã tham mưu cho UBND tỉnh phê duyệt Dự án "Bảo tồn, tôn tạo và mở rộng di tích lịch sử văn hóa đền Ông Hoàng Mười". Dự án được quy hoạch với tổng diện tích xây dựng 13,68 ha, bao gồm 4 khu vực: khu tâm linh, khu dịch vụ, khu lễ hội và khu cây xanh cảnh quan.

Dự án được thực hiện với 2 giai đoạn: giai đoạn 1 từ năm 2014 - 2017 và giai đoạn 2 từ năm 2018 - 2020). Tổng mức đầu tư trên 60 tỷ đồng, trong đó, giai đoạn 1 hơn 38 tỷ đồng, kinh phí chủ yếu là nguồn công đức và xã hội hóa. Đến thời điểm này, dự án đã triển khai được ½ công việc.

Trong hệ thống thần điện tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ của người Việt đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2016 thì đức thánh Hoàng Mười là nhân vật quan trọng. Theo truyền thuyết dân gian, Ông Hoàng Mười (còn gọi là Ông Mười Nghệ An), là con của Vua cha Bát Hải Động Đình, vốn là thiên quan trên Đế Đình, thần tiên trong chốn Đào Nguyên. Theo lệnh thiên đình, ông giáng trần để giúp dân, giúp nước. Cho đến nay có rất nhiều dị bản về thân thế của ông. Trong số Thập vị quan Hoàng, Thánh ông Hoàng Mười là một trong những vị tồn tại nhiều dị bản về thân thế. Nhưng khác với truyền thuyết về ông Hoàng Bảy, thánh Ông Hoàng Mười được gắn với các nhân vật có thật trong sử sách với các giả thuyết khác nhau như Ông Hoàng Mười chính là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, con trai của Lý Công Uẩn, cai quản châu Nghệ An. Ông Hoàng Mười chính là Nguyễn Xí, sống ở thời hậu Lê hay Ông Hoàng Mười thực ra là vị tướng Lê Khôi dưới triều Lê, giúp Lê Lợi đánh tan giặc Minh. Khi đất nước thái bình, theo lệnh vua cha, ông hóa thân về trời. Từ đó, người dân vùng Nghệ An gọi ông là "Đức thánh minh", lập nên đền thờ để hậu thế đời đời tưởng nhớ.

Hàng năm, đền Hoàng Mười tổ chức hai dịp lễ: Lễ chính được tổ chức vào ngày 10-10 (ÂL), thu hút hàng ngàn lượt du khách về làm lễ kết hợp tiến hành các hoạt động tham quan, tìm hiểu văn hóa lịch sử, triết giáo, cầu nguyện, cúng tế, chiêm bái, tri ân, báo hiếu, thiền, tham gia lễ hội... Dịp lễ 14-3 hàng năm còn có lễ hội rước sắc, với các hoạt động hấp dẫn như rước sắc bằng thuyền từ nhà thờ họ Nguyễn ra đền, hát chầu văn, thi chọi gà, đánh cờ người. Đây được xem như một hoạt động tâm linh không thể thiếu đối với người dân Nghệ - Tĩnh nói riêng mà còn là hoạt động tín ngưỡng được người dân cả nước hướng tới mỗi dịp lễ đến.

Theo ghi chép của GS.TS Nguyễn Thị Yên, Viện Nghiên cứu Văn hóa, tương truyền Ông Hoàng Mười thường phù hộ cho việc học hành thi cử nên mỗi khi ông nhập đồng các con nhang thường dâng tiền và lễ vật xin ông ban lộc học hành và thi cử cho con em được đỗ đạt khoa cử, thành tài để làm rạng danh tổ tông.

Với sự ngưỡng mộ của nhân dân đối với quan Hoàng Mười và sự đặc sắc về cảnh quan môi trường cũng như giá trị lịch sử - văn hóa tiêu biểu, đền Hoàng Mười sẽ là điểm đến hấp dẫn, là điểm hẹn tâm linh của người dân đất Việt.

Bảo tồn di tích kết nối với du lịch tâm linh

Trong tổng số 250 di tích lịch sử văn hóa, có 32 di tích lịch sử được xếp hạng quốc gia, tỉnh nhưng trên thực tế, ngoài đền Ông Hoàng Mười hàng năm thu hút được lượng khách lớn về tham quan, tìm hiểu văn hóa lịch sử, triết giáo, cầu nguyện, cúng tế, chiêm bái, tri ân, báo hiếu, thiền, tham gia lễ hội... phần lớn các di tích lịch sử còn lại chưa phát huy giá trị, xứng tầm và chưa thu hút được lượng khách về tham quan, đi lễ hàng năm. Để công tác bảo tồn gắn với phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch tâm linh, huyện Hưng Nguyên cần triển khai đồng bộ, thực hiện quy hoạch tổng thể các khu di tích đúng nội dung lộ trình và tiến độ.

- Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá, nhất là tuyên truyền để người dân địa phương và du khách có ý thức bảo vệ, giữ gìn di tích; để các doanh nghiệp, cá nhân tích cực tham gia đầu tư vốn nhằm tôn tạo, phát huy giá trị di tích như đền vua Lê, đền Thanh Liệt... Hiện tại, qua khảo sát thực tế, chúng tôi nhận thấy, đa số di tích được xếp hạng quốc gia, tỉnh trên địa bàn huyện Hưng Nguyên hầu hết đã xuống cấp nghiêm trọng; công tác trùng tu, tôn tạo đang mang tính "nhỏ giọt", ý thức gìn giữ, bảo vệ của người dân chưa cao, chưa thu hút được người dân bản địa và du khách thập phương đến viếng thăm.

- Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực làm việc tại các di tích, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với các kiến thức, kỹ năng và thái độ phục vụ tốt. Theo thống kê, trên địa bàn huyện Hưng Nguyên nói riêng và toàn tỉnh Nghệ An nói chung có 68 thuyết minh viên, nhưng chủ yếu tập trung nhiều tại cụm Di tích Kim Liên và Quảng trường Hồ Chí Minh, còn lại các điểm di tích như Khu lưu niệm Lê Hồng Phong; Khu bảo tồn Xô viết Nghệ Tĩnh tại Hưng Nguyên thuyết minh viên đang mang tính chất kiêm nhiệm, trực công tác theo lịch và chỉ được áp dụng khi có các đoàn khách đã đăng ký trước.

- Hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch nhằm kết nối giao thông giữa các điểm di tích và tạo thành các tour, tuyến du lịch văn hóa tâm linh, văn hóa - lịch sử... dọc đôi bờ Lam giang từ đền Ông Hoàng Mười, đền Thanh Liệt, đền vua Lê, dự án quần thể Nhà lưu niệm Lê Hồng Phong, khu Bảo tồn Xô viết Nghệ Tĩnh 12/9... tiến tới liên kết với các tuor du lịch tâm linh giữa các vùng miền trên toàn tỉnh: Tp.Vinh - Hưng Nguyên - Nam Đàn - Đô Lương và các huyện miền núi phía Tây Bắc xứ Nghệ...

Du lịch tâm linh và du lịch văn hóa đang là xu thế phát triển chung của du lịch Nghệ An, sự phát triển của loại hình du lịch này không những mang lại lợi ích về kinh tế mà còn góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người dân địa phương. Với lợi thế, di sản sẵn có, nếu Hưng Nguyên tận dụng tốt và có hướng đi phù hợp, khai thác triệt để thì trong tương lai loại hình du lịch văn hóa tâm linh sẽ là thế mạnh thúc đẩy sự phát triển kinh tế cũng như văn hóa - xã hội của người dân Hưng Nguyên nói riêng và xứ Nghệ nói chung.

Th.S Nguyễn Thị Hồng Bắc

Trung tâm KHXH&NV Nghệ An

Những vùng quê ven bờ sông Lam của huyện Hưng Nguyên nổi tiếng với những di tích và danh thắng như núi Lam Thành, đền Thanh Liệt,… Bên cạnh đó nơi đây cũng có nhiều làng nghề truyền thống, trong đó có 6 làng nghề được UBND tỉnh công nhận làng nghề cấp tỉnh: Làng nghề bún bánh Phù Xá; làng nghề bánh đa, kẹo lạc Đông Nhật; làng nghề sản xuất rượu truyền thống Phúc Mỹ; làng nghề bún bánh Lam Trung, làng nghề đan lát Do Nha và làng nghề ép dầu lạc Hưng Xuân. Các làng nghề ở Hưng Nguyên không đơn thuần chỉ là nơi chế tác, sản xuất các sản phẩm thủ công truyền thống mang tính đặc trưng, mà nó còn là nơi lưu giữ những tinh hoa nghệ thuật dân gian, những kinh nghiệm sản xuất và phong tục tập quán của cộng đồng người dân nơi đây.

Các làng nghề ở đây đã trải qua nhiều giai đoạn và đang phát huy khá tốt nghề truyền thống, sản phẩm được đánh giá cao, thị trường tiêu thụ được mở rộng trong và ngoài huyện. Mỗi năm các làng nghề Hưng Nguyên đã thu về trên 20 tỷ đồng. Nghề truyền thống đã góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho người dân nông thôn. Tuy nhiên một số làng nghề đã được công nhận khá lâu, nhưng vẫn chưa có làng nghề nào xây dựng được thương hiệu sản phẩm, họ chưa thể yên tâm sống được với nghề.

Làng nghề ép dầu lạc xã Hưng Xuân được UBND tỉnh công nhận làng nghề vào năm 2016. Làng nghề được hình thành từ năm 1930 với số lượng ban đầu là 10 hộ gia đình sản xuất dầu lạc nhỏ lẻ, phương pháp sản xuất thủ công, mục đích là để phục vụ nhu cầu của gia đình và một vài hộ khác. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, vào những năm 1960-1985 về trước, sản xuất cây công nghiệp chủ yếu là cây lạc ở Hưng Xuân phát triển cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Lạc được sử dụng làm nghĩa vụ cho nhà nước để trao đổi máy móc, vũ khí hàng hóa nên thời gian này nhà nước không có chủ trương ép dầu lạc nhưng ở Hưng Xuân đã có một số ít hộ tự tìm tòi sáng kiến ép dầu lạc để tiêu dùng nội bộ trong xóm, thời gian này ép dầu lạc thô sơ, ép dầu bằng cẩu đá, lấy rơm để gói bột, 1 ngày chỉ ép được 1 cối khoảng 20 kg lạc vỏ nên ngành nghề tạm lắng xuống. Đến những năm 90 của thế kỷ trước, kinh tế phát triển đa ngành nghề, nhân dân Hưng Xuân đã sớm khôi phục nghề ép dầu lạc. Từ chỗ chỉ xay xát lựa chọn lạc nhân để bán cho tư thương xuất khẩu, nguồn lạc vỏ còn cung cấp cho xuất khẩu là lạc sản xuất trong năm tại xã. Ngoài ra còn thu mua lạc các vùng trong huyện, tỉnh và ngoại tỉnh, hàng năm nhân dân đã xay xát hàng trăm tấn lạc nhân bán xuất khẩu. Trải qua hơn 80 năm hình thành và phát triển, đến nay làng đã có 46 hộ gia đình thực hiện ép và buôn bán dầu lạc. Đặc biệt, xóm 9 và xóm 10 có một số hộ và lao động theo mùa vụ xay xát làm nhiều, từ xay xát xuất khẩu lạc đã kết hợp chuyển sang ép dầu lạc, tiếp thu tiến bộ KHKT, máy móc được cải tiến từng bước: từ khâu tách hạt, xay bột đến hông chín bột, bao gói bột ép dầu là 1 quy trình khép kín, bột được gói bằng bao bì (xác rắn), khay ép được vít ren vặn chịu lực với máy ép thủy lực nên chất lượng, hiệu quả cao, thời gian lao động giảm mà lượng dầu thu được nhiều hơn. Sản phẩm dầu làm ra đạt chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, tiêu thụ nhanh. Hàng năm, làng cung cấp cho thị trường khoảng 414.000 lít dầu lạc. Làng có 126 hộ, số hộ làm nghề ép dầu lạc là 46 hộ, chiếm 36.5%. Tổng số lao động 306 lao động, trong đó lao động làm nghề là 83 lao động, chiếm 27.1%.  Thu nhập bình quân từ nghề đạt 45 triệu đồng/ người/ năm. Sản phẩm dầu lạc được tiêu thụ ngay trên địa bàn và phân phối tại địa phương và khắp mọi miền đất nước. Bên cạnh đó, các hộ làm nghề ở đây còn có dịch vụ ép dầu thuê cho nhân dân trong và ngoài xã, ngoại huyện như Nam Đàn, Thành phố Vinh,… Từ nghề này đã phát triển thêm nghề xay bóc lạc. Phụ phẩm từ nghề xay, bóc và ép dầu lạc được sử dụng làm thức ăn để phát triển chăn nuôi góp phần tăng thu nhập cho người dân. Mỗi năm làng nghề sản xuất 400.000 - 420.000 lít dầu lạc, tương đương 1.500 tấn lạc vỏ.

Sản phẩm dầu lạc ở xã Hưng Xuân được người dân quê vùng ven sông Lam này ví như là "nguồn sữa" thứ hai nuôi lớn họ. Phần vì trước đây từ người già đến trẻ nhỏ đều quen dùng dầu lạc mà không một loại dầu nào thay thế được, phần vì dầu lạc là nguồn thu nhập chính - nguồn thu độc quyền, không phải bon chen với làng nghề khác. Đây chính là điểm độc đáo riêng của làng nghề truyền thống ở đây.

Ngoài làng nghề ép dầu lạc ở Hưng Xuân, huyện Hưng Nguyên còn có nhiều làng nghề truyền thống khác đã được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận làng nghề từ khá lâu, đã tạo công ăn việc làm, giúp cho các làng quê ngày một đổi mới.

Làng kẹo lạc Đông Nhật xã Hưng Châu có giấy chứng nhận làng nghề từ khá lâu, năm 2007. Nghề làm kẹo lạc ở đây xuất hiện cách đây khoảng hơn 60 năm. Ban đầu chỉ vài hộ làm nghề nấu kẹo với quy mô nhỏ lẻ để bán ở chợ, về sau nghề nấu kẹo được nhân rộng ra cả làng với hơn 80 hộ gia đình tham gia, bình quân mỗi hộ sản xuất 30 kg/ngày. Kẹo lạc Đông Nhật ngày càng thơm ngon hơn, mẫu mã sản phẩm được cải tiến đẹp, bắt mắt hơn. Thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng mở rộng, không những trong tỉnh mà còn được bán nhiều nơi trong cả nước.

Trong quá trình làm nghề kẹo lạc, họ mở thêm một nghề mới đó là tráng bánh đa, nghề buôn bán mật, chất đốt, lạc, nghề xay bột,.. Mỗi năm tổng giá trị sản xuất làng nghề đạt khoảng 8 tỷ đồng. Tuy nhiên trăn trở hiện nay của những người dân nơi đây chính là việc tìm đầu ra lâu dài cho sản phẩm. Nhãn hiệu kẹo lạc Đông Nhật tuy đã được biết đến trên thị trường trong và ngoài tỉnh, tuy nhiên  thương hiệu sản phẩm chưa được quảng bá nên còn hạn chế nhiều trong tiêu thụ, có lúc phải "mượn tên" của các cơ sở sản xuất của Hà Tĩnh, nơi nổi tiếng với đặc sản cu đơ Cầu Phủ để dễ tiêu thụ.

Ở Hưng Châu còn có làng Phúc Mỹ được công nhận là làng nghề nấu rượu. Bình quân mỗi ngày người dân làng nghề Phúc Mỹ sản xuất từ 1000 - 1200 lít rượu. Sản phẩm rượu của làng Phúc Mỹ được người tiêu dùng đánh giá cao, song chưa có nhãn hiệu nên giá bán không cao, chưa tạo được thu nhập ổn định cho người dân.

Có thể nói, các làng nghề của huyện Hưng Nguyên đều dựa trên những lợi thế về nguồn nguyên liệu, lực lượng lao động dồi dào, vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế. Các làng nghề hiện đang phát huy khá tốt nghề truyền thống của làng, sản phẩm làm ra đã được ghi nhận, thị trường tiêu thụ đang dần được mở rộng trong và ngoài huyện và một số sản phẩm đã được mang đi tiêu thụ nhiều nơi trong nước. Qua đó, thu nhập của các hộ trong làng nghề cũng ngày càng được nâng lên, chất lượng cuộc sống cũng ngày được nâng cao, góp phần xây dựng nông thôn mới một cách hiệu quả ở các địa phương.

Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp huyện Hưng Nguyên năm 2016, tổng số hộ tham gia làm nghề là 298 hộ, giá trị sản xuất từ nghề đạt 13,32 tỷ đồng/năm; thu nhập bình quân của lao động đạt 2-3 triệu đồng/tháng.

Nghề truyền thống ở Hưng Nguyên đã góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho người dân nông thôn. Tuy nhiên, quy mô làng nghề hiện nay trên địa bàn huyện vẫn còn nhỏ, phân tán, vốn đầu tư thấp, hoạt động cầm chừng, phát triển chưa thực sự bền vững. Đặc biệt, các làng nghề chưa quan tâm đến đầu tư xây dựng thương hiệu cho sản phẩm, thị trường tiêu thụ bền vững. Chính vì thế hiện nay các làng nghề trên địa bàn huyện Hưng Nguyên vẫn đang "loay hoay" trong việc tìm kiếm chỗ đứng để có thể phát triển bền vững và có đủ sức cạnh tranh với những sản phẩm của các địa phương khác. Điều này cũng dễ hiểu bởi các hộ làm nghề hiện nay đều hoạt động mang tính chất độc lập, tự cung tự cấp từ nguyên liệu, máy móc, xử lý môi trường, an toàn thực phẩm, chưa thành lập được các hợp tác xã để giải quyết các công việc liên quan như xây dựng thương hiệu sản phẩm, tìm kiếm mở rộng thị trường.

Để phát huy hết tiềm năng của làng nghề, trước mắt Phòng Nông nghiệp huyện cần tiếp tục tham mưu cho các ban, ngành cấp tỉnh và UBND huyện chú trọng đầu tư các chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề trên địa bàn về nguồn vốn, chính sách đầu ra của sản phẩm và tập huấn khoa học kỹ thuật, an toàn vệ sinh thực phẩm. Xây dựng đề án phát triển nghề và làng nghề một cách bền vững; đa dạng hóa sản xuất theo hướng sản xuất tập trung trong các cụm công nghiệp. Gắn sản xuất của làng nghề với các hoạt động du lịch, văn hóa, lễ hội truyền thống và các loại hình dịch vụ khác để giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn.

 Bên cạnh đó, các làng nghề cũng cần tập trung liên kết, liên hộ gia đình tiến tới thành lập tổ hợp tác với nhiệm vụ xây dựng thương hiệu chung cho làng nghề, lô gô chứng nhận theo quy định của pháp luật; khâu nối, tổ chức chỉ đạo sản xuất, tìm kiếm thị trường tiêu thụ, quảng bá sản phẩm

Để phát triển làng nghề thực sự đem lại hiệu quả, các địa phương, cơ quan chức năng của xã cũng như của huyện cần hoàn thiện quy hoạch chi tiết phát triển làng nghề gắn với vùng nguyên liệu, thị trường tiêu thụ trong và ngoài tỉnh thông qua doanh nghiệp và hợp tác xã. Bên cạnh đó, làng nghề cũng cần chú trọng đến phát triển du lịch gắn với các hoạt động sản xuất của các làng nghề truyền thống.

Phải khẳng định rằng, việc phát triển du lịch gắn với làng nghề truyền thống sẽ mang lại những hiệu quả tích cực, không chỉ làm phong phú thêm sản phẩm du lịch của huyện mà còn giúp các làng nghề có thêm cơ hội quảng bá hình ảnh, bán được nhiều sản phẩm, tăng thu nhập cho người dân để họ có thể gắn bó lâu dài với nghề truyền thống do cha ông để lại.

Tuy nhiên, với sản phẩm của các làng nghề ở Hưng Nguyên, trong thời gian qua, lượng khách du lịch đến với các làng nghề ở huyện Hưng Nguyên rất ít; hiệu quả từ các dịch vụ phục vụ khách hoặc bán sản phẩm làng nghề hầu như chưa có… Nguyên nhân của tình trạng trên là do công tác quản lý và tổ chức khai thác, phát huy thế mạnh của sản phẩm du lịch làng nghề chưa được sự quan tâm đúng mức. Một lý do khác đó chính là công tác tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu sản phẩm làng nghề chưa thực sự hiệu quả…

Để khai thác có hiệu quả giá trị du lịch làng nghề cần quan tâm đầu tư nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, giao thông ra vào làng nghề; bảo vệ, trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa cũng như khôi phục và phát triển các hoạt động văn hoá dân gian truyền thống trong khu vực làng nghề nhằm giữ gìn bản sắc văn hoá của làng nghề, tạo sức hút với du khách; gắn du lịch làng nghề với du lịch tâm linh, du lịch sinh thái để tăng khả năng chiếm lĩnh thị trường cho các sản phẩm làng nghề; hình thành các dịch vụ hỗ trợ cho du lịch làng nghề như nơi ăn uống, lưu trú, điểm vui chơi, giải trí... Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến du lịch gắn với làng nghề, tăng cường hợp tác với các công ty du lịch, các hãng lữ hành trong việc tổ chức các tour tham quan làng nghề truyền thống. Các đơn vị lữ hành có thể liên lạc trước với một số địa chỉ trong làng nghề, thỏa thuận với chủ cơ sở về cách đón tiếp, về giá cả sản phẩm, thậm chí là cả không gian cho khách được tham gia sản xuất cùng người dân… trước khi dẫn khách tới, như thế chắc chắn hiệu quả tour sẽ cao hơn rất nhiều.

Bên cạnh đó, các làng nghề cũng cần tích cực nâng cao chất lượng, xây dựng mẫu mã sản phẩm để tạo sức hấp dẫn đối với du khách. Việc gắn kết làng nghề với du lịch không chỉ đơn thuần là tổ chức đưa du khách đến tận nơi để tham quan mà điều cốt lõi chính là đưa các sản phẩm làng nghề đến với du khách. Ngoài xây dựng và kết nối các tour, tuyến du lịch cần đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quảng bá giới thiệu sản phẩm làng nghề tại các khu, điểm du lịch hoặc thông qua các lễ hội truyền thống, hội chợ, triển lãm… bởi đây chính là một kênh lý tưởng để quảng bá, đưa sản phẩm làng nghề của tỉnh tiếp cận với du khách một cách nhanh nhất.

Du lịch làng nghề đang là hướng đi mới để phát triển du lịch. Với tiềm năng sẵn có, du lịch làng nghề của huyện Hưng Nguyên có thể phát triển trong tương lai. Nhờ có làng nghề mà sản phẩm du lịch sẽ đa dạng hơn, hấp dẫn du khách hơn và ngược lại, làng nghề sống được nhờ khai thác đúng hướng các giá trị du lịch, giải quyết việc làm cho người lao động tại địa phương, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, đồng thời bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa và giữ gìn bản sắc của địa phương mình.

Phan Thị Thanh Vân

Th.S Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng

 

1. Từ lâu Xuân Diệu được đánh giá  "là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại" (Hoài Thanh), là "ông hoàng của thơ tình", "là hiện thân của Thơ mới", "là nhà thơ số một của Thơ mới". Và, "nếu bây giờ chỉ cần gọi tên một nhà thơ trong thơ mới thôi thì gần như tất cả sẽ gọi Xuân Diệu"(1). Những cách nói có phần cực đoan ấy mặc nhiên được thừa nhận rộng rãi, đặt Xuân Diệu vào một vị thế rõ ràng hơn trong tiến trình thơ ca hiện đại Việt Nam. Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Xuân Diệu (2/2/1916 - 2/2/2016), Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức Hội thảo về "Thơ Xuân Diệu và những đóng góp của Xuân Diệu trong tiến trình phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại". Nhiều tham luận của các nhà văn, nhà nghiên cứu đã khẳng định giá trị, sức sống của thơ Xuân Diệu, nhất là thơ tình trước 1945. Có thể nói đây là điều không mới, khi cảm hứng khẳng định, ngợi ca thơ tình Xuân Diệu đã trở thành dòng mạch chủ lưu trong các bài viết, các công trình nghiên cứu trước đó, mặc dù sự khảo cứu, luận giải có thể khác nhau. Trong bối cảnh đó, ý kiến sau đây của Vũ Quần Phương thể hiện một cái nhìn chừng mực, gợi mở nhiều vấn đề cần nghĩ tiếp, nghĩ khác về con người và thơ Xuân Diệu. Theo ông, "bắt đầu năm thứ 100 của ông, có lẽ chúng ta nên mạnh dạn đi tìm một Xuân Diệu toàn diện hơn, xem Xuân Diệu có cái gì lớn và cái gì chưa phải lợi thế"(2). Vậy "cái lớn" và cái "chưa phải lợi thế" của Xuân Diệu là gì?

Nhìn lại di sản thơ của mình, Xuân Diệu cho rằng, ông làm thơ đấu tranh thống nhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng dở như Huy Cận, Chế Lan Viên, nhưng ông "còn có đặc sản là thơ tình". Với ông, loại thơ phục vụ xã hội chỉ là một thứ "thuế thân" mà ông luôn tự giác đóng nộp. Phải chăng, đó là cái "chưa phải lợi thế" của Xuân Diệu? Nói cách khác lợi thế của Xuân Diệu chính là thơ tình, nhất là thơ tình trước 1945. Trong thơ tình, tài năng, hồn cốt con người - thơ Xuân Diệu phát lộ, thăng hoa. Ông viết về tình yêu, nói về tình yêu nhưng đâu chỉ vì tình yêu mà là những ẩn ức, ám ảnh về phận người trong kiếp hiện sinh. Theo chúng tôi đó là "cái lớn" trong thơ Xuân Diệu, là sự khác biệt giữa ông với các nhà thơ tình trong Thơ mới. Đó là hệ quy chiếu cho mọi tiếng nói trữ tình trong thơ tình Xuân Diệu. Nhận thức đúng điều này sẽ tránh được những khiên cưỡng, phiến diện, mơ hồ trong việc tiếp nhận thơ tình Xuân Diệu, trong đó có những định hướng dạy học thơ tình Xuân Diệu trong nhà trường trung học phổ thông.

2. Tháng 12 năm 1938, Nhà xuất bản Đời nay của Tự Lực văn đoàn xuất bản tập Thơ thơ của Xuân Diệu, với lời giới thiệu rất trân trọng của "vua thơ" thời đó là nhà thơ Thế Lữ. Tập Thơ thơ ra đời đã thành một sự kiện văn học lớn, được lớp trẻ Tây học nồng nhiệt đón nhận. Thơ tình Xuân Diệu lập tức làm cuộc "đổ bộ" vào sổ tay, vào lưu bút học sinh, sinh viên, thanh niên thời đó, khiến Xuân Diệu trở thành thần tượng cho tuổi trẻ của một thời. Dư chấn mà Thơ thơ tạo ra trong đời sống văn học bấy giờ rất lớn. Có được tập Thơ thơ là niềm ao ước, khát khao của đông đảo bạn đọc trẻ và những trí thức Tây học đam mê văn chương. Điều này lý giải, vì sao chỉ sau hai năm xuất bản Thơ thơ đã được tái bản với một số lượng phát hành khá lớn. Năm 1944, Nhà xuất bản Thời đại đã ấn hành một số tác phẩm của Xuân Diệu, trong đó có tập thơ tình Gửi hương cho gió. Tuy nhiên hiệu ứng công chúng của Gửi hương cho gió không bằng tập Thơ thơ. Điều này có nhiều lý do, mà một trong số đó là hơi nóng của cuộc thế chiến đã phả vào Việt Nam, khi phát xít Nhật đã tràn vào Đông Dương. Thêm vào đó, cái mới, cái lạ trong lối biểu đạt, ngôn từ của Xuân Diệu đã không còn tạo nên được yếu tố bất ngờ trong tâm lý hiếu kỳ của đám đông công chúng. Nói điều này để thấy, hiểu thơ và yêu thơ là hai điều khác biệt, nhất là với sáng tác của những tài năng như Xuân Diệu. Ngay sau khi ra đời, Thơ thơGửi hương cho gió đã nhận được những ý kiến trái chiều của đông đảo công chúng, trong đó có cả những nhà thơ, nhà phê bình khả kính. Không ít người chê bai, phê phán khi cho rằng, thơ Xuân Diệu Tây quá, không dính gì với truyền thống dân tộc. Theo Xuân Diệu, "một số đông độc giả quen thuộc với thơ cổ điển, đã bất bình trước lời văn quá Âu hoá của Xuân Diệu, không còn đặc tính dân tộc, thi vị kín đáo của phương Ðông; một số người xấu miệng còn cho rằng một số câu thơ của Xuân Diệu làm người ta phải đỏ mặt vì tính suồng sã của nó"(3). Ngẫm kỹ, điều đó cũng hết sức tự nhiên. Niềm kiêu hãnh tự hào về truyền thống thường gắn liền với những dị ứng trước cái mới và nỗi lo lắng mất đi cái cũ, cho dù nó đã trở nên lỗi thời. Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam, người từng cho "Xuân Diệu mới nhất trong các nhà Thơ mới" cũng đã tỉnh táo nhận xét, thơ tình Xuân Diệu cơ bản vẫn là hồn dân tộc. Ông viết: "Ngày một ngày hai cơ hồ ta không còn để ý đến những lối dùng chữ đặt câu quá Tây của Xuân Diệu, ta quên cả những ý tứ người đã mượn trong thơ Pháp. Cái dáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất Việt Nam, đã quyến rũ ta". Đó là nhận xét tinh tế, sâu sắc của một nhà phê bình tinh anh, mẫn tiệp. Tuy nhiên, là người phê bình thơ theo lối tri âm, "đem hồn ta để hiểu hồn người", Hoài Thanh chưa chỉ ra sự thống nhất giữa cái "mới nhất" với "một cái gì rất Việt Nam" trong Thơ thơGửi hương cho gió. Phải chăng cái mới nhất của Xuân Diệu là ở ý thức, tâm thế trữ tình và cách biểu đạt tiếng nói trữ tình của nhà thơ? Theo khảo cứu của Nguyễn Phú Phong, phần ảnh hưởng thơ lãng mạn, thơ tượng trưng Pháp ở Xuân Diệu là không nhiều. Những câu thơ, ví như: "Yêu là chết trong lòng một ít", "Mau với chứ, vội vàng lên với chứ/ Em, em ơi, tình non đã già rồi...", hay lối biểu đạt: "Hơn một loài hoa đã rụng cành"(4) là rất hiếm gặp trong thơ Xuân Diệu. Điều này không chỉ riêng ở Xuân Diệu mà ở phần đông các nhà Thơ mới. Trong cuộc đối thoại với Trần Đăng Khoa và Trần Anh Thái, Huy Cận đã từng cho rằng: "Người ta đã bàn khá nhiều về nguồn gốc, giá trị của Thơ mới. Đó là cuộc cách mạng lớn của thơ ca Việt Nam ở thế kỷ 20, sự ảnh hưởng của nó sẽ còn phát sáng sang đầu thế kỷ 21. Về nguồn gốc Thơ mới, ai đó cho rằng nó chủ yếu chịu ảnh hưởng của thơ Pháp là sai, là xuyên tạc. Thơ mới trước hết nhận ảnh hưởng trực tiếp thơ ca dân tộc, thấm đẫm văn hóa Việt Nam, sau đó là văn hóa cổ Á Đông: Trung Quốc, Ấn Độ và sau nữa mới đến ảnh hưởng thơ Pháp, Anh, Đức với những tác giả như Shakespeare, Gớt, Ranh-bo, Véc-len, Bô-đờ-le..."(5). Theo đó, việc đi tìm cái "quyến rũ ta", "cái mới nhất", cái khác biệt ở thơ tình Xuân Diệu không thể dừng lại ở những ký hiệu, lớp vỏ ngôn từ, mà phải lặn sâu vào nguồn cội cảm xúc, nơi dồn nén, làm thăng hoa cảm xúc của nhà thơ. Hay nói cách khác là phải đi tìm "cái tôi bề sâu" (Bergson) của nhà thơ.

3. Chưa bao giờ con người trong thơ ca Việt Nam lại năng động, náo nhiệt, điên cuồng, yêu đương một cách nhục dục, hết mình, hết cỡ như con người trong hai tập Thơ thơGửi hương cho gió của Xuân Diệu. Con người ấy từng có cả nghìn năm hòa mình với thiên nhiên để hưởng nhàn, để tìm thấy bản ngã trong không gian lồng với thời gian một cách dịu êm, tĩnh lặng, theo kiểu "Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn người đến chốn lao xao" (Nguyễn Bỉnh Khiêm - Nhàn). Giã từ thi pháp "vắng vẻ - thiên địa nhân hợp nhất" của thi ca xưa (cái thi pháp vẫn còn ít nhiều lưu lại trong thơ mới Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Nguyễn Bính…), Xuân Diệu đưa con người quá khổ của thời hiện đại vượt qua không gian thực tại cổ xưa, nhảy bổ vào thi pháp "lao xao", nhảy bổ vào vũ trụ, làm cuộc rượt đuổi đứt hơi với thời gian, tham lam dùng tình yêu mình mà chiếm hữu cả cõi mộng và cõi thực. Xuân Diệu bằng thi ca, đã mang con người tinh thần Việt Nam vượt thoát mọi rào cản xã hội, tìm đến tự do mà yêu đời, yêu người, yêu mình một cách nghiến ngấu, cắn xé cuồng điên: "Hãy sát đôi đầu hãy kề đôi ngực/ Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài/ Những cánh tay hãy quấn riết đôi vai/ Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt/ Hãy khăng khít những làn môi gắn chặt/ Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng/ Trong say mê anh sẽ bảo em rằng/ Gần chút nữa thế hãy còn xa lắm" (Xa cách).

Nhưng nhục cảm không phải là tất cả. Tinh thần mới là cái đích cao hơn của nguồn thụ hưởng, cái tôi thèm "uống tình yêu dập cả môi" ấy còn muốn uống nguồn hạnh phúc tận cùng: "Nên lúc môi ta kề miệng thắm/ Trời ơi ta muốn uống hồn em". Và: "Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi" (Vội vàng). Có lẽ "xuân hồng" - đối tượng được yêu (người và cảnh vật) chắc sẽ chết khiếp vì cách yêu khủng khiếp của con người trong thơ Xuân Diệu chợt vùng lên sau nghìn năm bị cấm đoán? Dùng thi pháp thi ca "cắn vào ngươi" Xuân Diệu đưa con người vào cuộc yêu vô độ với thế giới tự nhiên: "Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời" (Hư vô). Hiếm có ở đâu tình yêu trong thi ca lại nhục dục đến thế, điên cuồng đến thế, "bạo dâm" đến thế như con người yêu trong thơ Xuân Diệu "Kẻ uống tình yêu dập cả môi" (Hư vô). Không khó để nhận ra trong hai tập thơ tình của Xuân Diệu xuất hiện với tần số cao những từ ngữ sex, như: "cắn", "hôn", "lả lơi"... Tuy nhiên, đó không phải là bản chất trong tiếng nói trữ tình của nhà thơ, mà chỉ là những biểu hiện của một tình yêu phi thể xác, phi nhục dục. Nói cách khác, đó chỉ một thứ ký hiệu, lớp vỏ ngôn từ thể hiện sự dồn nén những ẩn ức tính dục, làm nên sự thăng hoa nghệ thuật qua những hình tượng "độc sáng" chỉ có ở Xuân Diệu. Không thấy được điều này, dễ dẫn tới sự ngộ nhận, lạc lối trong việc tiếp nhận thơ tình Xuân Diệu.

Quả thật, yếu tố thân xác trong tình yêu lứa đôi nơi thi ca trung đại đã bị quan niệm phong kiến trói buộc, giam cầm trong thơ thất ngôn bát cú suốt cả nghìn năm, chợt được Xuân Diệu "cởi trói" để tự do bước vào thi ca như bước vào phòng the của cái đẹp.  Điều này góp phần lý giải vì sao thanh niên, học sinh, sinh viên thời Thơ mới đón chào thơ Xuân Diệu như đón chào "ông hoàng tình yêu" đến giải phóng cho cái đẹp nhục thể của con người khi yêu (dù ngay cả với tình kỹ nữ). Con người trong thơ tình Xuân Diệu đã bay, đã nhảy, đã chạy ra khỏi hồn mình mà gian díu, mà ngoại tình với cả thế gian, thiên hạ "Bạ kẻ nào đâu anh cũng mê" (Giới thiệu). Hay:

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!    

(Vội vàng)

Vồ vập sự sống đến đắm đuối, đam mê, cuồng nhiệt, nhưng với Xuân Diệu cái hiện tại ấy, tuy thực, nhưng rất mỏng manh. Đó là một nghịch lý của con người - thơ Xuân Diệu.

Song hành với niềm hoan hỉ, điên cuồng là băn khoăn dằn vặt và ám ảnh. Ám ảnh thời gian, ám ảnh sinh diệt là nỗi sợ hãi đến vong thân của con người trong thơ  tình Xuân Diệu. Ông ý thức một cách sâu sắc sự mất mát thời gian, sự hữu hạn, ngắn ngủi của kiếp người. Bởi thế, với ông, mất thời gian là mất tất cả. Sự thay đổi của con người, từng phút, từng phút, sẽ làm nó mất tuổi trẻ và cuối cùng, là cái chết. Ông vội vàng, lo sợ từng nhịp đập của tình yêu - nghĩa là vội vàng, lo sợ với chính cái "cứu cánh" duy nhất trong nỗi ám ảnh thời gian của mình. Xuân Diệu quý trọng, nâng niu mỗi Sadna trong kiếp nhân sinh.

Bi kịch con người - thơ Xuân Diệu là ở chỗ, ông ý thức được trong kiếp hiện sinh, mình chỉ là cây kim bé nhỏ, bị khối nam châm là ngoại cảnh hút về muôn phía, như lông chim bị bầu trời hút mất... Từ đó, ông muốn dùng cái hữu hạn (cây kim) để chặn bắt khối nam châm vĩ đại của ngoại cảnh: "Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ/ Mà vạn vật là muôn đá nam châm" (Nguyệt cầm).

Yêu điên cuồng đến thế nên con người trong thơ tình Xuân Diệu bất chấp hoàn cảnh, dù biết rằng trước sau "cây kim bé nhỏ" kia sẽ bị một trời nam châm nuốt mất! Xuân Diệu tung ra từ hồn mình rất nhiều cái tôi để hòng chống lại sự rượt đuổi của lẽ sinh diệt, của thời gian mong nương theo ngọn gió mà bay, nương theo dòng nước mà trôi, để hi vọng những - cái - tôi trong ông không biến mất trong hồn: "Cái bay không đợi cái trôi/ Từ tôi phút trước sang tôi phút này…" (Đi thuyền).

Hóa ra con người trong thơ tình Xuân Diệu là con người vong thân với bao nhiêu cái tôi khác nơi hồn ông xuất hiện trong chớp mắt rồi rụng rơi theo chồng chất phút giây nằm lại thành những nấm mồ thời gian. Nhà thơ giống như con tằm rút hết ruột nuôi các tình yêu vô vọng; như con ốc bể moi ruột gan mình nuôi mối tình sóng gió, chỉ còn chiếc vỏ thi ca gió thổi vào hồn rỗng không thành tiếng kèn u u của vong thân, tha hóa. Bởi vậy, tình yêu trong thơ tình Xuân Diệu là tình yêu để chết chứ không phải để sống: "Yêu là chết ở trong lòng một ít". Có thể nói, ám ảnh thời gian, ám ảnh sinh diệt là hồn cốt của con người - thơ Xuân Diệu, làm nên một khuôn mặt thi ca "mới nhất" và cũng "thấm đẫm văn hóa Việt Nam", "văn hóa cổ Á Đông".

4. Xuân Diệu trải qua những cơn khát tình yêu như người hành hương qua sa mạc khát thèm nguồn nước mát. Những cơn khát tình yêu giày vò đưa ông vào một miền cõi riêng, mênh mang, rợn ngợp. Ở đó, bầu trời xanh đã hóa thành chiếc chén:

Trời cao trêu nhử chén xanh êm

Biển đắng không nguôi nỗi khát thèm;

Nên lúc môi ta kề miệng thắm

Trời ơi, ta muốn uống hồn em!                 

                                             (Vô biên)

Nhưng càng yêu, càng say đắm, càng đánh mất mình. Con người - thơ Xuân Diệu cô đơn, bơ vơ trong cõi đời: "Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá/ Hai người nhưng chẳng hết bơ vơ" (Trăng). Hóa ra, dưới gầm trời này, trong kiếp nhân sinh, tình yêu cũng không có phép mầu nhiệm để hóa giải bi kịch phận người, không phá bỏ được vỏ bọc nỗi cô đơn muôn thuở của con người. Với Xuân Diệu, nỗi cô đơn của thân phận con người đã trở thành ám ảnh, ẩn ức trong miền cõi thẳm sâu, thăng hoa thành lời thơ, ý nhạc. Bởi thế mới có nghịch lý càng gần nhau lại càng xa cách thăm thẳm, nghìn trùng: 

Dầu tin tưởng chung một đời một mộng

Em là em, anh vẫn cứ là anh

Có thể nào qua vạn lý trường thành

Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật…

                                         (Xa cách)

Công cuộc giải phóng con người tự do yêu đương trong thơ do Xuân Diệu dẫn đầu với yêu cuồng sống vội, với khát vọng chiếm hữu cả càn khôn vũ trụ, tưởng đi hết cá nhân sẽ gặp con người, rút cuộc lại rơi vào vực thẳm cô đơn thăm thẳm :

Giơ tay muốn ôm cả trái đất

Ghì trước trái tim ghì trước ngực

Cho đầy trước mặt khoảng cô đơn

Bao la muôn trời, sâu vạn vực…

              (Bài thơ tuổi nhỏ)

Con người tình ái trong thơ Xuân Diệu làm cuộc ra đi miên viễn, càng đi càng bị dồn vào chân tường, càng chết vì yêu đương vô giới hạn. Phải chăng đó là bi kịch của phận người trong kiếp hiện sinh: "Ôm mặt khóc rưng rức/ Ra đi là hết rồi" (Viễn khách). Có thể nói trong Thơ thơGửi hương cho gió, con người - thơ Xuân Diệu đã trải nghiệm hết thân phận kiếp người trong điên cuồng tình ái, tung hồn mình ra khắp nơi mong chiếm đoạt tình nhân, tâm và thân không còn khả năng hòa làm một, con người bị vong thân hoàn toàn nên không còn nơi nào yên ổn để tồn tại, sống đấy mà vô hồn vô tướng, mà rơi vào bể khổ vô biên:

 Tôi là một kẻ điên cuồng

Yêu những ái tình ngây dại

Tôi cứ bắt lòng tôi đau đớn mãi

Đau vô duyên, đau không để làm gì

Ôi tình si

Không có một giờ yên ổn…

                                              (Thở than)

Lẽ nào sự tự do luyến ái vô bờ bến trong thơ Xuân Diệu rút cuộc lại trở về nỗi ngậm ngùi như Nguyễn Du xưa: "Tu là cõi phúc, tình là dây oan"?  Chàng thanh niên tân thời, phóng vào đời mà yêu đến "dập môi", đến "cắn" xé tình nhân cuồng si như mất trí kia đã bị tình yêu đánh lưới, giam cầm, trói buộc. Cố vẫy vùng mà không thoát nổi: "Tôi là con nai bị chiều đánh lưới/ Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối" (Khi chiều giăng lưới). Thương thay con nai tình ái đi tìm tự do lại bị tự do đánh lưới. Cuối cùng hỏa diệm sơn yêu đương kia đã bị bóng đêm đánh lưới! Phải chăng toàn bộ tinh thần yêu cuồng sống vội "giục giã", "vội vàng" kia đều rơi vào cái lưới có tên là bể khổ của kiếp nhân sinh? Và phải chăng tự do cũng lại chính là một nhà tù lớn giam hồn thơ yêu Xuân Diệu trong nỗi sầu vạn kỷ: "Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn…" (Chiều).

Trong bài thơ Hi Mã Lạp Sơn, Xuân Diệu ngầm cho ta biết chính tinh thần tự do thái quá đã làm con người tân thời yêu cuồng, sống vội kia thành ích kỷ tới mức có một cái tôi bọc thép, dù tia lửa hàn tình ái nóng ngàn độ cũng không thể nào xuyên thủng được: "Ta là một, là riêng, là thứ nhất/ Không có chi bè bạn nổi cùng ta". Càng yêu càng cô độc, con người đam mê tột cùng này không cách gì phá nổi cái lô cốt chính mình để hòa với tha nhân. Và bởi thế, trong các nhà Thơ mới, Xuân Diệu có lẽ là người buồn nhất, cô đơn nhất mà cũng yêu đương điên cuồng nhất. Với Thơ thơGửi hương cho gió, Xuân Diệu đã thể hiện nỗi day dứt, ám ảnh về thân phận con người trước thách đố khôn cùng của tạo hóa, và sự hữu hạn, mong manh của kiếp người. Bàn về thơ tình của Xuân Diệu, Hoài Thanh đã có lý khi cho rằng, "Người thanh niên Việt Nam được dịp ngó trời cao đất rộng, nhưng cũng nhân đó mà cảm thấy cái thê lương của vũ trụ, cái bi đát của kiếp người". Con người đã nhận ra mình quá bé nhỏ, quá phù du trước tạo hóa sinh diệt, lúc nào cũng bơ vơ, buồn khổ với thân phận của mình. Xuân Diệu yêu đến đánh mất chính mình, yêu đến vong thân, nên tình yêu con người trong thơ Xuân Diệu là tình cô đơn tuyệt đối. Ông như một thiên sứ sống mãi với nỗi niềm ấy để sẻ chia, an ủi làm vợi đi bi kịch của phận người bằng những bài thơ tình trác tuyệt.

 

Chú thích

(1). Vương Trí Nhàn, Nhà thơ số một của thơ mới, http://vuongtrinhan.blogspot.com/2008/08/nh-th-s-mt-ca-th-mi.html

(2). Vi Khanh, 100 năm sinh Xuân Diệu: Nhà thơ lớn, người của giai thoại, http://www.tienphong.vn/van-nghe/100-nam-sinh-xuan-dieu-nha-tho-lon-nguoi-cua-giai-thoai-967325.tpo.

(3), Nguyễn Phú Phong, Ảnh hưởng của văn học Pháp vào văn học Việt Nam, http://chimviet.free.fr/baivo/nguyenphuphong/vnchuviet/npph06_phan2ch04.htm.

(4). Hoài Thanh (1988), Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội.

(5). Huy Cận trao đổi với Trần Đăng Khoa và Trần Anh Thái về "Thơ mới", http://poem.tkaraoke.com/14450/Huy_Can_Chung_Quanh_Phong_Trao_Tho_Moi.html

Tòa soạn

Chuyên san KHXH&NV Nghệ An

 

Cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) lần thứ 4 sẽ có tác động mạnh mẽ tới mọi mặt đời sống, kinh tế, xã hội, chính phủ, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân; tạo ra những cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức trong quá trình phát triển của các quốc gia.

Tác động đối với chính phủ

Khi thế giới vật lý, số và sinh học đang tiếp tục xích lại gần nhau hơn thì công nghệ và thiết bị sẽ ngày càng cho phép người dân tiếp cận gần hơn với chính phủ để nêu ý kiến, cùng phối hợp hoạt động. Đồng thời, các chính phủ cũng sở hữu sức mạnh về công nghệ để tăng cường sự lãnh đạo của mình đối với người dân dựa trên những hệ thống giám sát rộng rãi và khả năng điều khiển hạ tầng số. Tuy nhiên, xét về tổng thể, các chính phủ sẽ ngày càng đối mặt với áp lực phải thay đổi phương pháp tiếp cận hiện nay của mình đối với sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và các chủ thể khác vào quá trình hoạt động, điều hành của chính phủ trong việc: quy trình đưa ra quyết định khi vai trò trung tâm của họ trong việc thực thi chính sách suy giảm trước sự xuất hiện của các nguồn cạnh tranh mới, sự phân phối lại và phân bổ quyền lực dưới sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ.

Tác động đối với doanh nghiệp và lĩnh vực kinh doanh

Cuộc CMCN lần thứ 4 sẽ ảnh hưởng đến doanh nghiệp và kinh doanh nhất là một số lĩnh vực tác động quan trọng nổi lên: kỳ vọng của người tiêu dùng, dữ liệu/ thông tin sản phẩm, hợp tác đổi mới và các mô hình hoạt động mới, các dịch vụ và mô hình kinh doanh, độ tin cậy, an toàn công nghệ thông tin, an toàn trong hoạt động của cơ khí, vòng đời sản phẩm, chuỗi giá trị công nghiệp, giáo dục và kỹ năng lao động cho công nhân.

Cuộc CMCN lần thứ 4 buộc các nhà lãnh đạo doanh nghiệp toàn cầu bàn luận là sự tăng tốc của đổi mới và tốc độ của sự đổ vỡ. Đây là bài toán khó nhất bởi hai động lực này liên tục gây bất ngờ, ngay cả đối với các hiện tượng liên kết tốt nhất và được thông báo tốt nhất. Trong thực tế các ngành công nghiệp, các công nghệ là nền tảng cho cuộc CMCN lần thứ 4 đang có tác động lớn đến các doanh nghiệp.

Về phía cung, nhiều ngành công nghiệp đang thấy sự ra đời của các công nghệ mới tạo ra những phương thức hoàn toàn mới đáp ứng các nhu cầu hiện tại và phá vỡ đáng kể các chuỗi giá trị công nghiệp hiện có. Sự phá hủy cũng xuất hiện từ những đối thủ cạnh tranh sáng tạo, nhanh nhạy, những người nhờ tiếp cận với các nền tảng kỹ thuật số toàn cầu cho nghiên cứu, triển khai, tiếp thị, bán hàng và phân phối, có thể thay thế những người đương nhiệm nhanh hơn bao giờ hết bằng cách cải thiện chất lượng, tốc độ, hay giá cả đối với giá trị cung cấp.

Cuộc CMCN lần thứ 4 tạo ra 4 cơ hội, đồng thời cũng là thách thức đối với các doanh nghiệp. Trong cuộc CMCN lần thứ 4 này thường cơ hội và thách thức đan xen nhau: 1) những kỳ vọng của khách hàng, 2) nâng cao sản phẩm, 3) đổi mới hợp tác và 4) các hình thức tổ chức trong quá trình phát triển khách hàng đang ngày càng trở thành trung tâm của nền kinh tế, tất cả đều nhằm làm thế nào cải thiện cách thức phục vụ khách hàng. Hơn nữa, các sản phẩm vật chất và dịch vụ giờ đây có thể được tăng cường với khả năng số làm tăng giá trị của chúng. Các công nghệ mới làm cho tài sản bền và linh hoạt hơn, có dữ liệu và phân tích đang thay đổi cách thức chúng được duy trì. Trong khi đó, một thế giới những trải nghiệm của khách hàng, các dịch vụ dựa trên dữ liệu và hiệu suất tài sản thông qua phân tích đòi hỏi phải có các hình thức hợp tác mới, đặc biệt là với tốc độ đang diễn ra của đổi mới và phá hủy. Và cuối cùng, sự xuất hiện của các nền tảng toàn cầu và các mô hình kinh doanh mới khác có nghĩa là tài năng, văn hóa và hình thức tổ chức sẽ phải được xem xét lại.

Như vậy, chẳng bao lâu nữa, hầu như tất cả công ty sản xuất ở mọi nơi trên thế giới đều sẽ chịu ảnh hưởng của công nghiệp 4.0. Chiến lược và cách thức hoạt động của họ sẽ phải thay đổi.

Tác động đối với người dân

Cuộc CMCN lần thứ 4 sẽ thay đổi không chỉ những gì con người làm mà ngay cả chính con người chúng ta. Nó sẽ làm thay đổi bản sắc và tất cả những vấn đề liên quan tới bản sắc đó, bao gồm: Sự riêng tư, ý thức về sự sở hữu, phương thức tiêu dùng, thời gian chúng ta giành cho công việc và giải trí. Và cách thức chúng ta phát triển sự nghiệp, trau dồi kỹ năng, gặp gỡ mọi người và củng cố các mối quan hệ. Những thành tố của bản sắc ấy đã và đang làm thay đổi sức khỏe của con người và dẫn tới một cái tôi nhất định.

Một trong những thách thức mang tính cá nhân lớn nhất mà công nghệ thông tin mang lại là sự riêng tư. Thông tin về cá nhân sẽ dễ dàng để tra cứu và tìm kiếm vì chúng ta buộc phải kết nối với các hệ thống điện tử. Tương tự, các cuộc cách mạng diễn ra trong lĩnh vực công nghệ sinh học và trí thông minh nhân tạo giúp định nghĩa lại con người là gì bằng cách hạ thấp những giới hạn hiện tại về tuổi thọ, sức khỏe, nhận thức và năng lực, như vậy buộc chúng ta phải định hình lại những ranh giới về đạo đức và phẩm hạnh.

Cuộc CMCN lần thứ 4, cũng như các cuộc CMCN trước tất cả đều quy về con người và giá trị. Chúng ta cần hình thành nên một tương lai phục vụ cho tất cả chúng ta, trong đó, vị trí của người dân là trên hết và họ được tăng thêm quyền lực. Có thể cuộc CMCN lần thứ 4 này sẽ tạo ra viễn cảnh bi quan và phi nhân đạo nhất, đó là robot hóa con người, từ đó tước bỏ tâm hồn và trái tim của chúng ta. Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tốt đẹp nhất trong bản chất của con người đó là sự sáng tạo, lòng cảm thông và khả năng quản lý, cuộc CMCN này cũng có thể đưa con người tới một sự nhận thức về đạo đức mang tính tập thể, dựa trên một vận mệnh chung. Trách nhiệm của tất cả chúng ta là đảm bảo rằng điều thứ hai sẽ xảy ra.

Cho tới nay, chúng ta chưa thể dự đoán được khả năng nào sẽ xảy ra, nhưng lịch sử tiến hóa của nhân loại đã cho thấy kết quả thường sẽ là sự kết hợp của cả hai viễn cảnh đó. Tuy nhiên, trong tương lai năng lực, chứ không phải nguồn vốn, sẽ trở thành nhân tố cốt lõi của nền sản xuất. Điều đó sẽ tạo nên một sự gia tăng trong thị trường việc làm và ngày càng phân hóa theo hai nhóm: Nhóm kỹ năng thấp/trả lương thấp và nhóm kỹ năng cao/trả lương cao. Viễn cảnh này sẽ góp phần làm gia tăng những mâu thuẫn trong xã hội.

Hầu hết các chuyên gia đều cho rằng, cuộc CMCN lần thứ 4 sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn là những việc làm mất đi do có cuộc cách mạng này. Về lịch sử cho thấy, cuộc CMCN lần thứ nhất đã tạo ra nhiều việc làm hơn số việc làm bị mất đi (lao động chân tay); cuộc CMCN lần thứ 2 - cuộc cách mạng xe hơi của những năm 1890 đã tạo ra nhiều việc làm hơn số việc làm bị mất đi (thay thế xe ngựa thồ hàng); và cuộc CMCN lần thứ 3 - cuộc cách mạng silicon của những năm 1960 và 1970 cũng đã tạo ra nhiều việc làm hơn số việc làm bị mất đi (chủ yếu là trong công tác văn thư hành chính và lao động đơn giản).

Song, có điều chắc chắn là cuộc CMCN lần thứ 4 đe dọa lao động kỹ năng thấp và một số công việc như hành chính, văn phòng. Robot tự động và trí tuệ nhân tạo có thể thực hiện lao động chân tay cũng như công việc có liên quan đến thuật toán và tổ chức; chúng không yêu cầu một mức lương, trợ cấp chăm sóc sức khỏe, và không bị bệnh hoặc mắc một số sai lầm trong làm việc.

Việt Nam trước cuộc CMCN lần thứ 4

Là một nước đang phát triển, cuộc CMCN lần thứ 4 sẽ tạo nên nhiều cơ hội to lớn cho Việt Nam trong xu thế kết nối các lĩnh vực toàn cầu để phát triển. Việt Nam sẽ có cơ hội vượt lên trước, nâng cao năng suất và rút ngắn khoảng cách phát triển. Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với việc hoàn tất nhiều hiệp định thương mại tự do quy mô lớn như TPP, FTA, Liên minh kinh tế Á - Âu, EU…, việc tiếp cận thành tựu sản xuất mới để tham gia hiệu quả chuỗi giá trị toàn cầu và đẩy mạnh công nghiệp hóa.

Tuy nhiên, cuộc CMCN lần thứ 4 cũng đặt ra nhiều thách thức đối với Việt Nam như: Lạc hậu và tụt hậu về công nghệ; suy giảm sản xuất kinh doanh; thiếu đội ngũ lao động, quản lý sáng tạo; dư thừa lao động có kỹ năng và trình độ lao động thấp dẫn đến phá vỡ thị trường lao động truyền thống.

Để chủ động nắm bắt cơ hội, giảm bớt thách thức, tác động tiêu cực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đối với Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 16-CT-TTg ngày 4/05/2017 về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc CMCN lần thứ 4 với các giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, tập trung thúc đẩy phát triển, tạo sự bứt phá thực sự về hạ tầng, ứng dụng và nhân lực công nghệ thông tin - truyền thông. Phát triển hạ tầng kết nối số và bảo đảm an toàn, an ninh mạng tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp dễ dàng, bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội phát triển nội dung số.

Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện các Nghị quyết số 19/2017/NQ-CP ngày 06/02/2017, số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 và số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ nhằm cải thiện môi trường cạnh tranh kinh doanh để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhanh chóng hấp thụ và phát triển được các công nghệ sản xuất mới…

Thứ ba, rà soát lại các chiến lược, chương trình hành động, đề xuất xây dựng kế hoạch và các nhiệm vụ trọng tâm để triển khai phù hợp với xu thế phát triển của CMCN lần thứ 4, xây dựng chiến lược chuyển đổi số, nền quản trị thông minh, du lịch thông minh, đô thị thông minh. Rà soát lựa chọn phát triển sản phẩm chủ lực, sản phẩm cạnh tranh chiến lược của quốc gia bám sát các công nghệ sản xuất mới, tích hợp những công nghệ mới để tập trung đầu tư phát triển.

Thứ tư, tập trung đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia theo hướng xây dựng các cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp để phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo như: Có cơ chế tài chính thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển, công nghệ của doanh nghiệp với tôn chỉ doanh nghiệp là trung tâm; đổi mới đầu tư, tài trợ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ…

Thứ năm, thay đổi mạnh mẽ các chính sách, nội dung, phương pháp giáo dục và dạy nghề nhằm tạo ra nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận các xu thế công nghệ sản xuất mới, trong đó cần tập trung vào thúc đẩy đào tạo về khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM), ngoại ngữ và tin học trong chương trình giáo dục phổ thông; đẩy mạnh tự chủ đại học, dạy nghề…

Thứ sáu, nâng cao nhận thức của lãnh đạo các cấp, các ngành, các địa phương, doanh nghiệp và toàn xã hội về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tăng cường hội nhập quốc tế và thông tin, truyền thông tạo hiểu biết và nhận thức đúng về bản chất, đặc trưng, các cơ hội và thách thức của CMCN lần thứ 4 để có cách tiếp cận, giải pháp phù hợp, hiệu quả.

Cuộc CMCN lần thứ 4 không cho phép quốc gia nào đứng ngoài sự phát triển. Tất cả phải vào cuộc một cách quyết liệt để tận dụng cơ hội, hạn chế thách thức, quyết không để tình trạng như Thủ tướng chỉ ra "tránh tình trạng chỗ nào cũng nói CMCN 4.0 nhưng hỏi làm gì cho bản thân bộ mình, ngành mình thì không ai biết rõ ràng".

 

Chú thích:

* Tiếp theo Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số 7/2017

Tài liệu tham khảo

1. C.Mác: Tư bản, Quyển thứ nhất,  NXB Sự thật - Hà Nội - 1973.

2. Nguyễn Anh Thái (Chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, NXB Giáo dục - Hà Nội - 2005.

3. Vũ Dương Ninh - Nguyễn Văn Hồng, Lịch sử thế giới cận đại - NXB Giáo dục - Hà Nội - 2004.

4. Tập thể các tác giả Trung Quốc, Dự báo thế kỷ XXI,  NXB Thống kê - Hà Nội - 1989.

5. Thomas L.Frie Dman, Thế giới phẳng, NXB Trẻ - TP. HCM - 2006.

6. Bộ KH&CN - Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, Khoa học công nghệ kinh tế - số 8 - 2006.

7. Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/05/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc CMCN lần thứ 4.

Th.S Trần Thị Lan

Trung tâm KHXH&NV Nghệ An

 

Ngày nay, du lịch sông nước đang là một trong những loại hình du lịch sinh thái thú vị, tạo lập được những giá trị vững chắc trong ngành công nghiệp không khói của hầu hết các điểm du lịch nổi tiếng trong nước và trên thế giới. Bản thân những dòng sông, không gian cảnh quan và đời sống của dân cư khu vực ven sông vốn đã là sản phẩm du lịch hấp dẫn, mê hoặc lòng người từ bao đời nay.

Với vị trí địa lý thuận lợi, có núi, có sông, cơ sở hạ tầng giao thông tốt và hệ thống di sản lịch sử văn hóa đa dạng, phong phú, huyện Hưng Nguyên là một trong những địa phương của Nghệ An có rất nhiều tiềm năng để phát huy loại hình du lịch ven sông này.

Nhìn từ trên đỉnh núi Dũng Quyết, dòng sông Lam hiền hoà uốn lượn tựa như bức tranh thủy mặc, điểm tô cho Thành Vinh - Hưng Nguyên và Nam Đàn thêm màu tươi mới. Phong cảnh càng tuyệt vời hơn bởi tuyến đường du lịch ven sông Lam nay đã được UBND tỉnh quy hoạch, rải thảm nhựa thông tuyến từ Cửa Hội đến Bến Thuỷ dài gần 57 km với một hệ thống đèn cao áp hiện đại. Đường ven sông Lam là tuyến kết nối trực tiếp vùng du lịch biển Cửa Lò với cửa ngõ phía Nam của thành phố Vinh từ cầu Bến Thủy, vòng lên Hưng Nguyên - Nam Đàn qua Khu Di tích Kim Liên, rồi nối quốc lộ 46 về cảng Cửa Lò. Chính vì vậy, tuyến đường này dự kiến sẽ trở thành một trục quan trọng về kinh tế du lịch - dịch vụ của tỉnh nhà trong thời gian tới. 

Cách gần 5 km bên cạnh một thành phố Vinh với nhịp sống sôi động, thị trấn Hưng Nguyên vẫn in đậm dấu ấn của một vùng quê nông nghiệp, vùng văn hóa cách mạng đậm đà nghĩa tình.

Hưng Nguyên là một trong những cái nôi sản sinh ra điệu ví, câu hò của xứ Nghệ, trong đó có hát ví Đò Đưa hay còn gọi là ví trên sông; hát phường Đan ở Do Nha (xã Hưng Nhân); hát phường Nón, mũ ở Phúc Mỹ (xã Hưng Phúc); hát phường Nhổ Mạ, hát phường Cấy ở nhiều nơi, song hát phường Vải đáng được chú ý hơn cả. Tiếng hát phường Vải thường cất lên ở các làng Ngọc Điền, Thái Lão (xã Hưng Thái), Đôn Nhượng, Ước Lễ (xã Hưng Đạo), Láng Thôn, Đông Thôn, Yên Nậu (xã Hưng Thông), Hoàng Cần, Phan Thôn (xã Hưng Tân), Phương Xá, Lệ Xá, Hoàng Nghĩa, Bắc Châu (xã Hưng Lĩnh)...

Đưa dân ca ví, giặm vào hoạt động du lịch là một trong những chủ trương được Nghệ An triển khai trong những năm trở lại đây. Lợi thế của hát ví - giặm trên sông sẽ khác hẳn với biểu diễn trên sân khấu, trong khán phòng. Giữa không gian mênh mang sông nước, khí hậu trong lành, các nghệ nhân dễ cảm nhận được sự yên bình, giản dị của khung cảnh quê hương, các hoạt cảnh lao động đời thường cứ tự nhiên được diễn ra, tạo nên xúc cảm trong từng lời ca điệu ví thêm phần thăng hoa. Du khách từ đó cũng sẽ cảm nhận nét đặc sắc nhất, gần gũi nhất của một di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại chỉ riêng có ở vùng đất xứ Nghệ đằm thắm nghĩa tình.

Trên thực tế, đưa dân ca ví, giặm vào các hoạt động văn hóa, du lịch di sản đã được tỉnh Nghệ An đưa vào Quy hoạch hệ thống di tích lịch sử văn hóa của tỉnh từ nay đến năm 2030. Việc bảo tồn và phát huy các làn điệu dân ca ví, giặm không chỉ được diễn ra ở các địa phương trên địa bàn tỉnh Nghệ An mà đến thời điểm này, đã có 5 khách sạn, nhà hàng ở Nghệ An đưa dân ca ví, giặm vào phục vụ khách du lịch. Hiện có thêm Nhà hàng Du thuyền Hải Châu (thuộc Công ty đóng tàu Hải Châu). Đơn vị đã đầu tư đóng tàu du lịch có công suất 150 mã lực, chở được khoảng 50 khách, cung cấp dịch vụ ăn uống, hát dân ca ví, giặm... đồng thời cung cấp dịch vụ thưởng thức ẩm thực đặc trưng của vùng sông nước.

Tuy nhiên, điều mà những người làm du lịch rất trăn trở đó là việc khai thác di sản ví - giặm gắn du lịch ven sông Lam vẫn chưa được đầu tư bài bản, chưa thực sự thành công. Ví như đờn ca tài tử của Nam bộ, hay hò Huế sống được nhờ các công ty du lịch đầu tư, bảo tồn để đưa vào phục vụ du khách. Kinh phí thu được lại đầu tư cho chính nó. Dân ca ví - giặm xứ Nghệ nên theo cách làm này. Có thể trên đường du lịch ven sông Lam, gần cầu Bến Thủy hay Cửa Hội, Đê 42… chúng ta có thể xây dựng những bến dân ca (tổ chức bán vé). Tương tự như ở Huế, buổi tối có thể đi bộ trên cầu Tràng Tiền xuống bến sông Hương để nghe hò Huế thì ở Thành phố Vinh, buổi tối khách du lịch cũng có thể đi bộ xuống cầu Bến Thủy, ngắm cảnh, xuống bến lên thuyền dọc sông Lam nghe hát dân ca. Đó là cách để vừa giữ lại hồn quê xứ Nghệ, vừa quảng bá dân ca xứ Nghệ đến với bạn bè, với khách du lịch trong nước và quốc tế.

Từ những yếu tố đó, chính quyền cùng với các doanh nghiệp, các công ty lữ hành có thể kết hợp triển khai các tour du lịch trên sông Lam - kết nối một số điểm du lịch của TP. Vinh - Cửa Lò - Hưng Nguyên - Nam Đàn... Đi theo tuyến đường ven sông Lam này, khách du lịch sẽ được thả hồn trong một không gian thoáng đạt khác hẳn với không khí ồn ào của thành phố. Ở đó, hai bên đường từ Cửa Hội đến cầu Bến Thủy, du khách có thể dễ dàng ngắm nhìn những con thuyền của ngư dân cập bến với khoang nặng đầy cá, tôm; được ngắm rừng bần Hưng Hòa về chiều tĩnh lặng, hoặc dạo bước tham quan những mô hình nuôi tôm của người dân ven đô. Vượt qua con đường Nguyễn Viết Xuân, từ đây sẽ là những điểm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn cả nước như đền Vua Quang Trung trên núi Dũng Quyết, đền Ông Hoàng Mười (Hưng Thịnh), đền Vua Lê (Hưng Lam), Khu lưu niệm Phan Bội Châu (Nam Đàn)…

Cũng trên tuyến đường này, nếu muốn thăm quan các làng nghề truyền thống, du khách có thể ghé thăm làng bánh đa kẹo lạc Hưng Châu để vừa thưởng thức, vừa xem cách thức chế biến kẹo nổi tiếng một vùng. Đặc biệt du khách còn được thưởng thức các món ăn đặc sản được chế biến từ Rươi chỉ có ở vùng đất Hưng Nguyên, hay về Hưng Phú thăm quan những cánh đồng chuyên trồng rau thơm thơm ngát một vùng. 

Nhằm phát huy tối đa lợi thế trong chuỗi du lịch cùng với Cửa Lò - Vinh - Hưng Nguyên - Nam Đàn, Huyện ủy, UBND huyện Hưng Nguyên đã ban hành Nghị quyết về phát triển du lịch giai đoạn 2011- 2015, tầm nhìn đến 2020; Đề án về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử gắn với phát triển du lịch nhằm xây dựng những cơ chế, chính sách, giải pháp cụ thể để khai thác tiềm năng du lịch sẵn có của địa phương.

Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là chiến lược quy hoạch lâu dài trong phát triển hạ tầng du lịch. Một sản phẩm du lịch đường sông là khó nhất. Theo lộ trình, phải có ít nhất 10 năm chuẩn bị. Trong quy hoạch, chúng ta sẽ tính toán kỹ lưỡng chỗ nào là điểm dừng, chỗ nào là nơi vui chơi, mua sắm, ngắm cảnh…

Muốn vậy, cần có sự kết nối tham gia của các ngành, doanh nghiệp, cá nhân và địa phương liên quan. Trước mắt, các địa phương cần có những chuyến khảo sát thực tế để đánh giá cụ thể, làm cơ sở để các doanh nghiệp lữ hành cùng phối hợp, thiết kế các tour du lịch phù hợp, lên kế hoạch quảng bá đến du khách trong và ngoài tỉnh, góp phần lan toả thương hiệu du lịch Hưng Nguyên nói riêng, du lịch tỉnh Nghệ An nói chung.

Với các doanh nghiệp triển khai tour du lịch sông Lam, trước hết phải đảm bảo an toàn cho du khách khi đi trên sông. Cùng với đó là chất lượng dịch vụ trên tàu, dưới bến phải được nâng cao, đồng bộ và hoàn chỉnh. Khi tuyến đường ven sông Lam được đưa vào hoạt động, cần lưu ý thường xuyên khơi thông, nạo vét lòng sông tránh tình trạng bồi lấp trở lại, đảm bảo đủ độ sâu dòng nước để tàu thuyền lưu thông. Hiện 2 bên bờ sông Lam còn khá đơn điệu nên chú ý xây dựng hệ thống không gian xanh dọc hai bên bờ sông, tôn tạo cảnh quan, gìn giữ vệ sinh, môi trường sinh thái, phát triển những công viên du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng dọc theo con sông. Tránh việc bỏ mặc cho doanh nghiệp tự hình thành những bến đỗ tàu, thuyền du lịch không có quy hoạch, vừa nhếch nhác vừa không đảm bảo an toàn như đang diễn ra trên sông Lam hiện nay.

Cần đưa vào khai thác nhiều loại hình tàu, thuyền khác nhau với mức giá khác nhau để phục vụ cho nhiều loại du khách có túi tiền khác nhau. Từ loại thuyền truyền thống có giá dịch vụ cao cho đến các phương tiện vận chuyển tiện lợi như phà để phục vụ du khách ít tiền hay tàu du lịch có bán đồ ăn uống và sức chứa chỉ khoảng vài chục người phục vụ du khách hạng trung, cao cấp hay các loại thuyền nhỏ chạy những lộ trình ngắn. Tuy nhiên, cho dù có sử dụng loại hình phương tiện nào thì tính an toàn của phương tiện đều phải được đảm bảo.

 Cần quan tâm xây dựng một đội ngũ hướng dẫn viên chuyên nghiệp có kiến thức sâu rộng về văn hóa, lịch sử gắn với dòng sông, có khả năng thuyết minh bằng các thứ tiếng: Anh, Trung, Nhật,… Bên cạnh đó cũng cần hướng dẫn, hình thành mạng lưới hướng dẫn viên không chuyên xuất thân từ chính những người dân bản địa. Tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch gắn với sông nước. Bên cạnh đó, có thể thiết kế các chương trình kết hợp thưởng thức ẩm thực địa phương với ngắm cảnh sông trên các chuyến tàu nhà hàng.

Xác định tour du lịch sông Lam phải là sản phẩm chuyển tải được dòng chảy lịch sử, văn hóa, văn minh của vùng sông Cả (tên gọi khác của sông Lam), thể hiện rất rõ tiến trình phát triển của vùng qua những lớp trầm tích, thành quách, đền đài, cùng với những câu chuyện ly kỳ, hấp dẫn của lịch sử các di tích. Lấy tiêu chí: để du khách cảm thấy được cuốn vào, trải nghiệm câu chuyện lịch sử xứ Nghệ từ quá khứ, hiện tại đến tương lai trong hành trình du lịch ven sông Lam.

 Trải qua nhiều năm xây dựng và phát triển, với mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, lịch sử cách mạng, du lịch ở Hưng Nguyên đang thực sự mở ra những hướng đi mới. Lúc này cần có một chiến lược phát triển cụ thể cho ngành du lịch huyện nhà; có kế hoạch ưu tiên đầu tư cho hệ thống di tích lịch sử - văn hoá theo hướng vừa bảo tồn, gìn giữ các yếu tố nguyên gốc vừa tăng tính hấp dẫn để tương xứng với tầm vóc giá trị, tiềm năng vốn có và trở thành điểm du lịch quan trọng trong chuỗi hành trình của du khách thập phương khi về với xứ Nghệ.

LTS: Nằm tả ngạn ven sông Lam, Hưng Nguyên là cái nôi văn hóa - lịch sử lâu đời với hệ thống di tích tích lịch sử, đền, chùa, miếu mạo, lễ hội,... dày đặc. Cùng với thắng cảnh sông Lam - núi Thành từng được xếp vào "đại danh thắng xứ Nghệ", Hưng Nguyên đang mở ra nhiều cơ hội, nhiều hướng mới trong phát triển du lịch.

          Tòa soạn Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An xin lược đăng ý kiến của các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, lãnh đạo về định hướng phát triển du lịch Hưng Nguyên trong thời gian tới. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

 

Ông Thái Huy Bích

Nhà nghiên cứu văn hóa huyện Hưng Nguyên

Về tổng quan, có thể nói Hưng Nguyên là vùng đất giàu bản sắc văn hóa và cách mạng. Nơi đây có Sông Lam, núi Lam Thành từng được các bậc khoa bảng xếp vào hàng "Đại danh thắng xứ Nghệ". Vùng núi Lam Thành - Triều Khẩu là lỵ sở Nghệ An qua nhiều triều đại. Nơi đây có những sự tích, những nhân vật lịch sử góp phần làm phong phú truyền thống chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc Việt Nam. Vùng này là nơi chính quyền Lê - Trịnh mở phố buôn bán với người Nhật và người Hoa ở xã Phục Lễ vào cuối thế kỷ 16. Vua Quang Trung dừng chân 10 ngày ở vùng núi Lam Thành để tuyển thêm 5 vạn quân, rồi thần tốc tiến ra Bắc đại phá quân Thanh xâm lược Tết Kỷ Dậu (1789).

          Hưng Nguyên là vùng đất cội nguồn của 3 danh nhân kiệt xuất: Quê tổ Vua Quang Trung, quê tổ Nhà yêu nước Phan Bội Châu, quê hương bà ngoại Bác Hồ. Hưng Nguyên là quê hương Tổng bí thư Lê Hồng Phong, Liệt sỹ Phạm Hồng Thái, Thượng thư Đinh Bạt Tụy, nhà tư tưởng canh tân Nguyễn Trường Tộ... Hưng Nguyên là vùng đất từng chịu nhiều hy sinh. Giữa TK 17 dòng sông Lam là giới tuyến quân sự đẫm máu của 2 thế lực Trịnh - Nguyễn, suốt 5 năm. Đầu thế kỷ 15 Nghĩa quân Lê Lợi bao vây đánh thắng giặc Minh ở núi Thành. Vua Gia Long từng cho triệt hạ làng Đông Thai, xã Thái Lão quê tổ Vua Quang Trung để trả thù nhà Tây Sơn. Hưng Nguyên là một trong những địa bàn hưởng ứng mạnh mẽ phong trào Duy Tân, Đông Du của cụ Phan Bội Châu. Là một trong những cái nôi của cao trào Xô - viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, mà đỉnh cao là cuộc biểu tình lịch sử của nông dân Hưng Nguyên ngày 12-9-1930, khiến giặc Pháp hoảng sợ phải dùng bom để đàn áp.

          Hưng Nguyên có nhiều di tích - lịch sử đã được công nhận cấp Quốc gia và cấp tỉnh, tiêu biểu có: Khu di tích Xô- viết Nghệ Tĩnh, Khu di tích Tổng bí thư Lê Hồng Phong, Núi Lam Thành, Đền Thanh Liệt, đền Vua Lê, cụm di tích Phạm Hồng Thái, đền thờ Đinh Bạt Tụy, bia và mộ Nguyễn Trường Tộ, đền Hoàng Mười,... Nhiều di tích đang được trùng tu tôn tạo để phục vụ tham quan du lịch và giáo dục truyền thống. Có những danh thắng đang mời gọi đầu tư như Núi Lam Thành, Hồ Thạch Tiền, Đền Thanh Liệt, Đền Vua Lê,... Người Hưng Nguyên cần cù, thuần hậu, hiếu học, phát huy được truyền thống tốt đẹp, là huyện phụ cận thành phố Vinh đang phát triển năng động. Trong các triều đại phong kiến, Hưng Nguyên có nhiều trung thần mà không có gian thần. Hiện nay, Đảng bộ huyện Hưng Nguyên đã 16 năm (2000 đến 2016) liên tục đạt danh hiệu Vững mạnh.

Đó là những thế mạnh lớn để Hưng Nguyên phát triển du lịch địa phương, đặc biệt là các tour, tuyến du lịch về tâm linh, giáo dục truyền thống.

Ông Nguyễn Văn Đàn

Trưởng Ban quản lý Di tích đền Ông Hoàng Mười

Năm 2002, đền ông Hoàng Mười được Ủy ban Nhân dân Tỉnh Nghệ An xếp hạng di tích lịch sử văn hóa. Năm 2004 thực hiện Quyết định số 700/QĐ-UB ngày 1/3/2004 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An, đền Ông Hoàng Mười được cải tạo và nâng cấp nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân trong vùng. Từ đó đến nay, với nguồn kinh phí của nhà nước và kinh phí do nhân dân đóng góp, các nhà hảo tâm, các doanh nghiệp, đền đang từng bước được trùng tu, tôn tạo mở rộng. Hiện nay, đền ông Hoàng Mười không những được cư dân trong tỉnh chọn làm nơi gửi gắm đời sống tâm linh, mà còn là một trong những ngôi đền thu hút rất đông khách hành hương ngoài tỉnh.

Tuy nhiên, do điều kiện cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng hiện nay của đền trong phục vụ du lịch chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách. Các hoạt động du lịch hầu hết là tự phát do nhu cầu của người dân. Việc đề ra những giải pháp thích hợp nhằm đưa Di tích đền ông Hoàng Mười vào hệ thống tuyến điểm du lịch chung của toàn tỉnh sẽ góp phần phát triển du lịch ở Hưng Nguyên góp phần tăng cường nguồn vốn xã hội hóa cho công tác trùng tu, tôn tạo Đền một cách có hiệu quả.

Theo tôi, nên có quy hoạch chi tiết, cụ thể về việc mở rộng, xây dựng đền ông Hoàng Mười, trong đó chú trọng:  

Thứ nhất: Đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án phục vụ du lịch trong đó chú trọng một số hạng mục  như:  Điểm đón tiếp khách du lịch: Đây là nơi làm việc của Ban Quản lý đồng thời là nơi đón tiếp các đoàn khách, giới thiệu giá trị lịch sử, văn hóa tâm linh của Đền; Xây dựng khu vực dịch vụ buôn bán các đồ cúng tế, điểm viết sớ, liên hệ cúng tế...; Xây dựng  nhà chờ, điểm nghỉ ngơi, vãn cảnh trong quá trình thăm quan di tích...; Xây dựng các biển báo chỉ dẫn đến các hạng mục có trong di tích; Xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch khác như: bãi đỗ xe, nhà hàng, các dịch vụ văn hóa kèm theo,...

Thứ hai: Tăng cường các hoạt động phát huy giá trị di tích phục vụ du lịch thông qua lễ hội và các hoạt động văn hoá tâm linh tại di tích như Lễ khai điền vào ngày 15/3 (âm lịch); Lễ hội giỗ ông Hoàng Mười vào ngày 10/10 (âm lịch),...

Thứ ba: Xây dựng Đề tài khoa học về di sản văn hóa đền ông Hoàng Mười nhằm quảng bá phát huy giá trị lịch sử. Xây dựng cơ sở pháp lý để đưa đền ông Hoàng Mười vào hệ thống tuyến điểm du lịch trọng điểm của tỉnh Nghệ An.

 Thứ 4: Hàng năm tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ làm quản lý, nhằm chuyên nghiệp hóa trong công tác quản lý, thuyết minh, hướng dẫn tham quan tại di tích.

Với những giải pháp đó thì đền Ông Hoàng Mười mới trở thành điểm nhấn du lịch tâm linh của huyện, thu hút đông đảo du khách.

Ông Nguyễn Cảnh Toàn

Phó Chủ tịch xã Hưng Xuân - Hưng Nguyên

Nghề ép dầu lạc xã Hưng Xuân hình thành cách  đây gần 80 năm. Chủ yếu tập trung  ở xóm 9 và xóm 10, với 46 hộ tham gia; tạo việc làm tại chỗ cho hàng trăm lao động địa phương; với mức thu nhập 45 triệu đồng/người/năm. Mỗi năm làng nghề xuất ra thị trường  từ 400.000- 420.500 lít dầu lạc, dầu vừng các loại. Các hộ làm nghề ở Yên Thái còn thường xuyên nhận ép dầu thuê với giá công mỗi mẻ 50 ngàn đồng. Từ nghề  này  đã phát triển thêm nghề xay bóc lạc. Phụ phẩm từ nghề xay, bóc và ép dầu lạc được sử dụng làm thức ăn để phát triển chăn nuôi góp phần tăng thu nhập cho người dân. Mỗi năm làng nghề sản xuất 400.000-420.000 lít dầu lạc, tương đương 1.500 tấn lạc vỏ.

Trước nhu cầu sử dụng dầu lạc ngày một nhiều, làng nghề truyền thống của xã Hưng Xuân đã tạo việc làm cho hàng trăm lao động, thu nhập bình quân đầu người đạt 45 triệu đồng/ năm, cao gấp gần 2 lần so với bình quân chung của xã. Năm 2016 UBND tỉnh công nhận làng nghề ép dầu lạc Hưng Xuân, huyện Hưng Nguyên.

Chúng tôi đang phối hợp với Liên minh hợp tác xã Nghệ An xúc tiến thành lập Hợp tác xã sản xuất dầu lạc tại Hưng Xuân, trên cơ sở đó xây dựng thương hiệu sản phẩm dầu lạc của làng nghề đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền đến các hộ làm nghề phải luôn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường.

Hiện nay sản phẩm dầu lạc Hưng Xuân có mặt khắp mọi nơi từ Bắc vào Nam. Sau khi xây dựng thương hiệu thành công chúng tôi sẽ liên kết với các tuor, tuyến du lịch của huyện, của tỉnh, đưa làng nghề trở thành một trong những điểm tham quan và bán sản phẩm cho khách du lịch.

Ông Nguyễn Hồng Lĩnh

Trưởng phòng Văn hóa Thông tin huyện Hưng Nguyên

Với  những giá trị văn hóa đặc sắc hiện có về danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh; Các đình, đền chùa nổi tiếng; cùng các sản vật địa phương tươi ngon, quý hiếm, Hưng Nguyên có tiềm năng lớn trong phát triển du lịch. Nhất là khi tỉnh Nghệ An thu hút được khách du lịch trong nước và quốc tế, và khi khu công nghiếp VISIP 6 đi vào hoạt động. Hiện nay ngoài sự quan tâm của Đảng và Nhà nước các cấp, nhiều doanh nhân thành đạt đã và đang phát tâm, công đức tôn tạo di tích- lịch sử.

Tuy nhiên hiện nay Hưng Nguyên chưa triển khai quy hoạch phát triển du lịch. Chưa chú trọng quảng bá và khai thác du lịch như là một ngành kinh tế. Du khách đi tham quan chủ yếu là tự tâm. Các Di tích Lịch sử- Cách mạng còn vắng khách. Chỉ có các di tích có tiếng về tâm linh được đông đảo nhân dân trong và ngoài huyện quan tâm nhưng cũng chỉ đến một điểm, như Đền Hoàng Mười, Đền Bùi Ngõa, Đền Làng Rào, Đền Rậm,... Thiết nghĩ, để đưa du lịch Hưng Nguyên thành ngành kinh tế quan trọng, Hưng Nguyên còn nhiều việc phải làm. Đó là quy hoạch, kế hoạch, đào tạo nhân lực, thu hút đầu tư, khai thác đặc sản địa phương sản xuất hàng hóa, xây dựng làng nghề đặc trưng. Huyện còn cần phối hợp với các đơn vị lân cận như Cửa Lò, Vinh, Nam Đàn hình thành các tua du lịch. Hy vọng thời gian tới, với sự quan tâm của Đảng bộ huyện và sự giúp đỡ của tỉnh, Hưng Nguyên sẽ khai thác được tiềm năng văn hóa để phát triển du lịch.

Ông Hồ Văn Hiệp

Phó Chủ tịch UBND huyện Hưng Nguyên

          Nói đến Hưng Nguyên, người ta nghĩ ngay đến mảnh đất truyền thống văn hóa, cách mạng. Chính vì vậy, Hệ thống di tích lịch sử, văn hóa ở Hưng Nguyên phong phú về số lượng và thể loại với hơn 111 di tích đã được nhận biết, hiện nay đã có 12 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia, 20 di tích được xếp hạng cấp Tỉnh. Như vậy, có thể khẳng định rằng Hưng Nguyên là huyện rất có tiềm năng về du lịch mà chủ yếu là du lịch gắn với hoạt động tâm linh và du lịch gắn với việc giáo dục truyền thống cách mạng của dân tộc.

Tuy nhiên, có một thực tế là, mặc dù sở hữu thế mạnh về du lịch tâm linh nhưng hoạt động du lịch tâm linh của Hưng Nguyên còn đơn điệu, nhiều yếu tố còn phản cảm: mê tín dị đoan, gây mất trật tự, gây ô nhiễm môi trường,.. Phản cảm nhất là động cơ đi lễ của rất nhiều người như: đến chùa để cầu lộc, cầu may, xin được thăng quan tiến chức... Những lỗi này dĩ nhiên không phải chỉ từ phía du khách, mà có cả sự yếu kém của của ngành du lịch, của chính quyền địa phương, của đơn vị tổ chức lễ hội - quản lý điểm đến.

Từ những hạn chế đó mà hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch của các doanh nghiệp, người dân bị hạn chế theo. Khách đi du lịch tự phát nhiều hơn là khách tự giác, có tổ chức bài bản theo tour. Du khách chủ yếu đến theo mùa lễ hội và chỉ chi phí cho các dịch vụ tế lễ, chiêm bái. Các hãng lữ hành không, hoặc khó, lồng ghép khách du lịch tâm linh vào các tour du lịch văn hóa, sinh thái, hay du lịch nghỉ dưỡng. 

Với quan điểm phát triển du lịch tâm linh đó, nhiệm vụ trong thời gian tới huyện sẽ phấn đấu:

Tiếp tục triển khai có hiệu quả Nghị quyết về phát triển du lịch giai đoạn 2011- 2015, tầm nhìn đến 20020; Đề án về bảo tồn và phát huy giái trị di tích lịch sử gắn với phát triển du lịch nhằm xây dựng những cơ chế, chính sách, giải pháp cụ thể để khai thác tiềm năng du lịch sẵn có của địa phương.

 Tiếp tục hoàn thiện quy hoạch tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tranh thủ tối đa nguồn lực cho phát triển du lịch; chú trọng du lịch văn hóa lịch sử cũng như du lịch tâm linh trên cơ sở đó phát triển tối đa quảng cáo, quảng bá du lịch trên địa bàn cả tỉnh, cả nước để khách du lịch đến với Hưng Nguyên ngày một nhiều hơn qua đó nâng cao tốc độ phát triển kinh tế của huyện.

Ban hành các chính sách ưu đãi nhằm kêu gọi, thu hút các doanh nghiệp dầu tư vào lĩnh vực du lịch, đặc biệt là du lịch tâm linh gắn với du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng,... trên cơ sở vừa bảo tồn, gìn giữ các yếu tố nguyên gốc vừa tăng tính hấp dẫn tương xứng với tầm vóc giá trị; để du lịch văn hóa Hưng Nguyên phát triển xứng với tiềm năng vốn có và trở thành điểm du lịch quan trọng trong hành trình của du khách thập phương khi về với quê hương xứ Nghệ.

 

TÒA SOẠN

 

 

 

 

 

 

Thái Huy Bích

Câu lạc bộ Hán Nôm Nghệ An

Trong lịch sử hình thành và phát triển Đảng ta, nếu Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc làm sứ mệnh sáng lập Đảng thì Lãnh tụ Lê Hồng Phong là người nhận sứ mệnh phục hồi Đảng trong giai đoạn thoái trào.

Sau khi Đảng ra đời (3-2-1930), Ban Chấp hành Trung ương (BCH TW) lâm thời hoạt động trong điều kiện bị mật thám Pháp truy lùng ráo riết. Nhiều Ủy viên TW bị địch bắt. Hội nghị BCH TW lâm thời tháng 10-1930 đã bầu ra BCH TW chính thức do đồng chí Trần Phú làm Tổng Bí thư. Nhưng chỉ nửa năm sau, "cuối tháng 3-1931, Ngô Đức Trì bị bắt và khai báo với mật thám Pháp về các cán bộ và cơ sở Đảng. Do sự phản bội của y, ngày 18-4-1931, Tổng Bí thư Trần Phú bị bắt tại Sài Gòn. Hầu hết các ủy viên Trung ương, các xứ ủy Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ lần lượt sa lưới địch"(1). Ở nước ngoài, ngày 6-6-1931, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bị thực dân Anh bắt giam tại Hồng Kông. Các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Trương Văn Lĩnh, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng Sơn, Đỗ Phiếm Chu cũng bị bắt. Các cơ sở của Đảng ở Quảng Châu, Thượng Hải bị lục soát. Từ cuối 1931, phong trào cách mạng Việt Nam thiếu hẳn người lãnh đạo, đi vào thoái trào. Trong thư gửi các đồng chí cộng sản Pháp, tháng 4-1932, một số đồng chí đã lấy danh nghĩa Trung ương lâm thời chấp ủy Đảng Cộng sản Đông Dương cho rằng: "Tương quan lực lượng có lúc lợi cho quần chúng Đông Dương nay nghiêng về phía chủ nghĩa đế quốc. Quần chúng công nhân bị lung lay trước những cú sốc liên tiếp của những thất bại của Đảng, dần dần rời bỏ tranh đấu. Những cuộc biểu tình quy thuận của nông dân ở Cao Lãnh và Nghệ Tĩnh mà người ta ngờ là do chủ nghĩa đế quốc bày đặt ra cũng là một dấu hiệu chứng tỏ cuộc đấu tranh của quần chúng đang đi xuống"(2).

Lịch sử đất nước đang cần người nắm vững đường lối xây dựng Đảng của Nguyễn Ái Quốc để lãnh đạo Cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến lên. Dường như Lê Hồng Phong là người đã được chuẩn bị kỹ để gánh vác sứ mệnh thiêng liêng đó.

Ông sinh ngày 6-9-1902, trong gia đình có truyền thống Nho học. Bản thân ông thuở nhỏ được học chữ Hán, lớn lên học trường Pháp - Việt. Sau khi thi đậu bằng Sơ học yếu lược, không may cha ông qua đời. Ông bỏ học đi làm thợ, sau đó giác ngộ cách mạng. Năm 1924, ông được người của cụ Phan Bội Châu dẫn đường, trốn nhà sang Xiêm (Thái Lan), rồi sang Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây ông tham gia tổ chức yêu nước "Tâm tâm xã". Ngày 19-6-1924 ông hộ tống Phạm Hồng Thái đánh bom tên Toàn quyền Méclanh ở Sa Điện. Sự việc bất thành, Phạm Hồng Thái hy sinh. Các chiến sỹ Cách mạng Việt Nam, trong đó có Lê Hồng Phong bị truy lùng ráo riết. Anh trai ông là Nguyễn Huy Soạn ở quê nhà (xã Thông Lãng, phủ Hưng Nguyên) bị Pháp bắt giam. Trong lúc đang tìm phương kế sống sót và tiếp tục làm cách mạng, thì biết tin Trường Quân sự Hoàng Phố chiêu sinh khóa II, khai giảng vào ngày 14-8-1924. Được sự giúp đỡ của cụ Phan Bội Châu, ông quyết định thi vào học tại trường này. Khoảng tháng 12-1924, ông lần đầu tiên được gặp Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Được giảng giải về con đường cứu nước, ông quyết tâm lựa chọn con đường cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Tháng 2-1925, ông được Người chọn vào nhóm Cộng sản Đoàn, tháng 6-1925 tham gia Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Tháng 1-1926, sau khi tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố, ông thi vào học Trường Hàng không Quảng Châu. Do kết quả học tập tốt và được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu, tháng 10-1926, ông được Chính phủ cách mạng Quảng Châu cử sang học tập tại Trường Lý luận Quân sự không quân ở thành phố Lêningrát (tức Xanh Pêtécbua - Liên bang Nga), với tên mới là Lítvinốp. Tháng 12-1927, sau khi tốt nghiệp Trường Lý luận Quân sự, ông thi tiếp vào Trường Hàng không Quân sự BBC cũng ở Lêningrát. Lúc này cách mạng Đông Dương đang cần một nhà lãnh đạo cách mạng, ông được Quốc tế cộng sản bố trí vào học năm thứ 1 tại Trường Đại học Phương Đông, khoá học 3 năm (1928-1931). Sau khi tốt nghiệp ông tiếp tục học nghiên cứu sinh tại trường.

Trong số thanh niên Việt Nam thời ấy, chỉ có Lê Hồng Phong là người từng làm công nhân, được học tập liên tục qua 6 trường lớp chính trị, quân sự; đã tham gia các lớp huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc tổ chức; thành thạo cả tiếng Nga và tiếng Trung. Ban phương Đông Quốc tế cộng sản nhận thấy ông có đủ bản lĩnh chính trị của nhà cách mạng chuyên nghiệp nên đã quyết định cử Lê Hồng Phong về Đông Dương, giữ cương vị là cán bộ của BCH TW Đảng, chủ trì công việc khôi phục hệ thống tổ chức và xây dựng đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương trong tình hình mới.

Tháng 4-1932, sau khi tìm được cơ sở cách mạng, ông vào làm thợ nguội tại Xưởng cơ khí Nam Hưng, một cơ sở của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Ông thiết lập đường dây liên lạc với tổ chức Đảng gần biên giới, liên hệ với cơ sở cách mạng tại Xiêm, triệu tập một số đồng chí ở Long Châu đến Nam Ninh họp bàn. Ông tranh thủ huấn luyện cho một số thanh niên yêu nước đang làm việc và học tập tại Nam Ninh; về nước bắt liên lạc với cơ sở Đảng qua đường Cao Bằng.

Tháng 6-1932, sau khi chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương được Quốc tế Cộng sản công bố, ông là người trực tiếp vận dụng sáng tạo và truyền bá Chương trình này về nước. Tháng 3-1934, Ban Chỉ huy ở ngoài được thành lập gồm 3 người: Lê Hồng Phong (thư ký), Hà Huy Tập và Nguyễn Văn Dựt. Ban Chỉ huy ở ngoài có vai trò lãnh đạo các tổ chức của Đảng và tổ chức lại cơ quan TW của Đảng. Tháng 6-1934, ông chủ trì Hội nghị các đại biểu tổ chức Đảng trong nước và Ban Chỉ huy ở ngoài. Hội nghị đã quyết định nhiều nội dung quan trọng, một trong số đó là "tới tháng 1-1935 phải thành lập xong tất cả các Xứ uỷ và các Xứ uỷ sẽ cử đại biểu đi dự Đại hội Đảng vào mùa xuân 1935"(3). Nhờ sự nỗ lực của Ban chỉ huy ở ngoài và sự giúp đỡ có hiệu quả của Quốc tế cộng sản, Đại hội lần thứ I Đảng Cộng sản Đông Dương từ ngày 27 đến 31- 3 - 1935 đã thành công. Đồng chí Lê Hồng Phong được Đại hội bầu làm Tổng Bí thư BCH TW Đảng.

Đại hội lần thứ nhất của Đảng là sự kiện có ý nghĩa to lớn của Cách mạng Việt Nam, đánh dấu sự phục hồi của Đảng, ghi nhận công lao to lớn của Ban Chỉ huy ở ngoài, đặc biệt vai trò người đứng đầu là Tổng Bí thư Lê Hồng Phong.

Tại Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, họp từ 25-7 đến 21-8-1935, Lê Hồng Phong được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Từ đó, ông vừa hoạt động trên cương vị Tổng Bí thư, vừa trên cương vị Trưởng Ban Chỉ huy ở ngoài; đồng thời còn đảm nhiệm chức vụ Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế cộng sản, trực tiếp chỉ đạo Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tháng 7-1936, Lê Hồng Phong rời Mátxcơva đi Thượng Hải. Ông triệu tập hội nghị BCH TW và Ban Chỉ huy ở ngoài. Hội nghị đã bầu đồng chí Hà Huy Tập làm Tổng Bí thư BCH TW Đảng Cộng sản Đông Dương, và trở về nước hoạt động. Đồng chí Lê Hồng Phong đảm nhiệm Trưởng Ban Chỉ huy ở ngoài. Sau khi BCH TW Đảng được thành lập trong nước (12-10-1936) do đồng chí Hà Huy Tập làm Tổng Bí thư, tình hình cách mạng có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên giữa hai ban lãnh đạo Đảng trong và ngoài nước có khác biệt lớn về thực hiện đường lối. Ban Chỉ huy ở ngoài quán triệt đường lối mới của Quốc tế Cộng sản tại Đại hội VII. Còn Ban Chấp hành TW ở trong nước vẫn theo đường lối "tả khuynh" từ Quốc tế VI về trước.     

Biểu hiện "tả khuynh" đầu tiên là tại Hội nghị BCH TW tháng 10-1930 đã phê phán tên Đảng, một số nội dung trong các văn kiện do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo và được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng 8 tháng trước đó. Hội nghị ra Nghị quyết đổi tên "Đảng Cộng sản Việt Nam" thành "Đảng Cộng sản Đông Dương" và thủ tiêu các văn kiện đã được thông qua tại hội nghị thành lập Đảng dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc(4). Trong tác phẩm "Sơ thảo lịch sử phong trào Cộng sản ở Đông Dương", năm 1933, Hồng Thế Công (Hà Huy Tập), bên cạnh việc đánh giá các sáng kiến hợp nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc, đã cho rằng Nguyễn Ái Quốc "mang nặng tàn tích chủ nghĩa quốc gia", "không đề cao nhiệm vụ chống phong kiến là sai lầm", "không thấy tính chất giai cấp nên làm cho tính Đảng bị lu mờ",... Báo cáo tại Đại hội lần thứ I của Đảng, còn nhận định "tàn dư của tư tưởng dân tộc cách mạng pha trộn với chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa duy tâm của Đảng, của các đồng chí Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, những tàn dư ấy rất mạnh và tạo thành một chướng ngại nghiêm trọng cho sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản... Chúng tôi đề nghị đồng chí Lin (tức Nguyễn Ái Quốc - TG) viết một cuốn sách để tự phê bình những khuyết điểm đã qua"(5). Tác hại của những phê phán "tả khuynh" này đã cản trở việc tập hợp lực lượng cách mạng của Đảng.    

Ngày 10-3-1937, đồng chí Lê Hồng Phong biên soạn cuốn Sách lược mới và tổ chức quần chúng gửi về nước làm tài liệu huấn luyện. Nhưng "BCH TW Đảng đã biên soạn và xuất bản ở trong nước cuốn Chủ trương tổ chức mới của Đảng nhằm thay thế cuốn sách của đồng chí Lê Hồng Phong"(6).

Để khắc phục tình trạng "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược" này, đồng chí Lê Hồng Phong xin phép Ban Bí thư Quốc tế cộng sản trở về nước hoạt động. Tháng 11-1937, ông bí mật về Sài Gòn, lấy tên là La Anh, một giáo sư khoa Sinh ngữ, người Trung Quốc, sát cánh cùng người bạn đời là Nguyễn Thị Minh Khai và các ủy viên BCH TW, đi tìm hiểu tình hình thực tế, bí mật chuẩn bị nhân sự chủ chốt cho Đảng.

 Với tư cách Ủy viên Quốc tế Cộng sản, Lê Hồng Phong triệu tập Hội nghị BCH TW tại Hóc Môn, Gia Định, tháng 3-1938. Tại Hội nghị này đồng chí Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư. Ban Bí thư có ba người: Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, Đảng đã thành công trong việc xây dựng sự thống nhất về đường lối và tư tưởng, chống bệnh "tả khuynh", thành lập Mặt trận Dân chủ thống nhất, cách mạng nước ta có bước phát triển mới.

Sau hội nghị BCH TW tháng 3-1938, đồng chí Lê Hồng Phong thường bí mật đến dự và phát biểu ý kiến tại các cuộc họp, mở các lớp huấn luyện ngắn ngày. Đồng thời tích cực viết báo, tài liệu tuyên truyền quan điểm của Đảng, phê phán bệnh cô độc, hẹp hòi, "tả khuynh", vạch mặt phản cách mạng của bọn Tơrốtkit.

Ngày 22-6-1939, Lê Hồng Phong bị mật thám Pháp bắt tại Sài Gòn. Tòa án thực dân Pháp kết án ông 6 tháng tù vì dùng thẻ căn cước mang tên người khác. Hết hạn tù, cảnh sát áp giải về quê tại làng Đông, tổng Thông Lãng. Nhưng không lâu sau, mật thám Pháp lại bắt ông dẫn vào Sài Gòn và kết án 5 năm tù giam. Cuối năm 1940, ông bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo, tìm cách hãm hại bằng mọi thủ đoạn dã man và hèn hạ, dẫn đến kiệt sức. Trưa ngày 6-9-1942, trước lúc nhắm mắt Lê Hồng Phong cố gắng nhắn lại: "Xin chào tất cả các đồng chí. Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng, tới giờ phút cuối cùng Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin tưởng ở thắng lợi vẻ vang của cách mạng". Đồng chí Lê Hồng Phong đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh phục hồi Đảng và để lại cho hậu thế một tấm gương sáng ngời của Người cộng sản kiên trung bất khuất.

Đầu năm 1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc về nước. Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị BCH TW Đảng Cộng sản Đông Dương vào tháng 5-1941. Hội nghị đã xác định cuộc cách mạng ở Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, và chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất riêng cho mỗi nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, do Đảng Cộng sản Đông Dương và Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh lãnh đạo.

 

Chú thích       

(1). Lê Hồng Phong - Tiểu sử, Nxb Chính trị Quốc gia - 2007, tr.78.

(2). Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 4, tr.32.

(3). Lê Hồng Phong - Tiểu sử, Sđd, tr.100.

(4). Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.112-113.

(5). Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr203-204.

(6). Lê Hồng Phong - Tiểu sử, Sđd, tr.169

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.

2. Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước: Lê Hồng Phong - Tiểu sử, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007.  

KS. Nguyễn Đình Võ

Hội KHKT Lâm nghiệp Nghệ An

 

Samu dầu chưa phải là loài cây đặc hữu của Việt Nam, bởi nó còn xuất hiện ở tỉnh Hủa Phăn (Lào), Đảo Hải Nam và Đài Loan (Trung Quốc), thuộc vòng cung Pù Hoạt (về địa chất và cổ sinh học, Pù Hoạt là một khối núi lớn hình thành từ Kỷ Permian cách đây hơn 200 triệu năm, khối núi này hình thành như một cầu nối giữa tỉnh Hủa Phăn (Lào) với khu vực Bắc Trung bộ của Việt Nam với Đảo Hải Nam và Đài Loan (Trung Quốc), còn gọi là vòng cung Pù Hoạt. Tại Việt Nam, chúng chỉ phân bổ hẹp tại Nghệ An, tập trung khá nhiều ở huyện Quế Phong, nên có tên chỉ dẫn địa lý là Sa mộc Quế Phong).

Mẫu Sa mu dầu đầu tiên thu thập được là tại núi Pha Ca Tủn (huyện Quế Phong) do đoàn cán bộ bộ môn thực vật - Viện Điều tra quy hoạch rừng (FIPI) tiến hành thu thập trong chương trình "Điều tra tài nguyên phục vụ xây dựng khu kinh tế lâm nghiệp Sông Hiếu" vào năm 1965.

Năm 1991, FIPI và Chi cục Kiểm lâm Nghệ An đã khảo sát và xây dựng Vườn quốc gia Pù Mát, gặp quần thể Sa mu dầu phân bổ trên giông núi Pù Nhông ở độ cao 1400m, trên đầu nguồn Khe Choang (huyện Tương Dương). Tại đây, quần thể Sa mu dầu tại vành đai cao hơn vành đai phân bổ của quần thể Pơ mu, tạo thành những đám cây vượt tán có đường kính bình quân khoảng 45cm và chiều cao trên 50m. Đặc biệt, tại khu vực Khe Bu (huyện Con Cuông) có một cá thể Sa mu dầu có đường kính 5,4m và chiều cao 70m đã được Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam cấp bằng "Cây di sản". Năm 1997, trở lại Quế Phong khảo sát xây dựng Khu BTTN Pù Hoạt, Đoàn đã gặp những quần thể Sa mu dầu thuần loài trên độ cao 1600-2000m. Những quần thể này từ hàng chục đến hàng trăm cây Sa mu dầu trên các giông núi. Đoàn đã tiếp xúc và chụp hình được 1 cây Sa mu dầu có đường kính 2,8m và chiều cao dưới cành là 50m, chiều cao vút ngọn là 60m. Đoàn được người bản địa dẫn đường (ông Xuyền ở bản Pục, xã Nậm Giải, huyện Quế Phong) chỉ cho một cây Sa mu dầu do ông mới chặt để chuẩn bị làm nhà, có đường kính gốc 3m, cùng khoảng 1.000 tấm gỗ Sa mu dầu có kích thước 1,7cm x 35cm x 107cm. Nhân dân ở đây có tập quán vào rừng để tìm những cây Sa mu dầu tầm cỡ lớn như thế cưa xẻ gỗ làm đủ một cái nhà sàn. Tại thời điểm lúc bấy giờ, điểm qua 2 xã Thông Thụ và xã Hạnh Dịch (huyện Quế Phong) thì có trên 100 nhà được lợp mái bằng gỗ Sa mu dầu. Như vậy đã có hàng trăm cây Sa mu dầu cực lớn bị biến mất.

Trong quá trình khảo sát, những người bản địa dẫn dường cũng đã chỉ cho Đoàn thấy những cây Sa mu dầu cực lớn, cao vượt tán trên các giông núi đối diện có đường kính khoảng trên 5m. Họ sẵn sàng đưa Đoàn đến tận nơi nhưng do những khó khăn về thời gian, thời tiết và mục tiêu đợt khảo sát cũng không cho phép đi sâu vào chuyên đề này nên Đoàn đành gác lại.

Hiện nay, Bản quản lý Khu BTTN Pù Hoạt đang tiến hành khảo sát để xây dựng Đề án "Rừng di sản" và "Cây di sản", Sa mu dầu là đối tượng nghiên cứu quan trọng và chắc chắn sẽ có những kết quả mong đợi.

Tại các VQG và Khu BTTN, người ta thường tìm những cây có tầm vóc lớn làm tiêu điểm các tuyến tham quan rừng cho du khách như: Ở vườn quốc gia Cúc Phương có cây Sấu (Dracontomelum dupereanum), cây Chò ngàn năm và cây Chò chiến thắng (Terminalia myriocarpa); Ở vườn quốc gia Ba Bể có cây Thung (Tetrameles nudiflora); Ở vườn Quốc gia Nam Cát Tiên có cây Gõ đỏ (Pahudia cochinensis); Ở vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng có cây Gùa (Ficus callosa). Đó đều là những loài cây có tầm vóc lớn nhưng thường chúng có bạnh vè to, vượt lên khỏi bạnh vè thì đường kính thực của thân cây cũng chỉ đạt 1,2-2m, không thể so sánh được với cây Sa mu dầu - Di sản từ vườn Quốc gia Pù Mát của chúng ta.

Những cây Sa mu dầu của Nghệ An thân cây không có bạnh vè, lừng lững một cột hình trụ từ gốc lên tới độ cao 40-50m, vượt tán rừng đến 20-35m, tạo nên một cảnh hùng vĩ chưa từng thấy ở nơi nào trên mảnh đất hình chữ S - Việt Nam.

Nếu như trên thế giới có chừng 10 cây khổng lồ, từng là tiêu điểm cho khách du lịch, tham quan quốc tế, như: cây Cù Tùng, cây Vương Tùng (Sequoia sempervirens) của Bang California, Mỹ có đường kính 8,5m, chiều  cao là 102m; cây Bạch đàn chúa (Eucalyptus regnan) ở Melbourne, Australia có đường kính 9,7m, chiều cao 101m; cây Cum-pát (Koompassia exeelse) ở Sarawarl, Indonesia có chiều cao 84m; cây Bạch quả (Ginkobiloba) của Trung Quốc có chu vi 16m, chiều cao 25m; cây Bách (Cedrus deodra) ở dãy Hy Mã lạp Sơn (Hymalaya), Ấn Độ có chu vi là 12m... thì những cây Sa mu dầu của chúng ta đã biết và còn tiếp tục khảo sát thêm sẽ không thua kém một số loài cây được coi là lớn nhất của quả đất nói trên.

Sa mu dầu là loài cây đặc biệt quý hiếm, có giá trị đặc biệt cả về kinh tế và cả cảnh quan môi trường (có thể trình bày ở chuyên đề riêng), cần có chế độ nghiên cứu bảo vệ đặc biệt. Chúng tôi hoan nghênh Sở Nông nghiệp & PTNT - Chi cục Kiểm lâm Nghệ An có chủ trương khảo sát, xây dựng Đề án bảo tồn "Cây Di sản" và "Rừng Di sản", trong đó loài Sa mu dầu là đối tượng được quan tâm. Nếu những cây Sa mu dầu cực lớn, rừng Sa mu dầu thuần loài được xác định là di sản, được bảo tồn và phát triển theo chế độ di sản thì có thể coi là điểm nhấn trong việc tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái và nền kinh tế xanh.

Theo các nhà khoa học, nếu bảo vệ được, nên lấy loài Sa mu dầu làm biểu tượng cho thực vật nhiệt đới Việt Nam.

* UBND tỉnh họp Hội đồng Khoa học Công nghệ lần thứ 2

Vừa qua, Hội đồng Khoa học Công nghệ tỉnh tổ chức họp góp ý vào các đề tài, dự án đợt 2 năm 2017 và đợt 1 năm 2018. Đồng chí Huỳnh Thanh Điền, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì cuộc họp.

Theo kết quả rà soát, đợt 2 năm 2017 có 8 đề tài, dự án được đưa vào danh mục đề xuất đặt hàng. Đợt 1 năm 2018, có 17 đề tài, dự án khoa học được dự kiến đưa vào danh mục đề xuất đặt hàng liên quan đến các lĩnh vực Nông nghiệp, Y dược, Kỹ thuật và Công nghệ, Khoa học, Công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội các huyện, thành, thị xã.

Thảo luận tại cuộc họp, đa số thành viên Hội đồng chú trọng tập trung vào các đề tài, dự án có tính ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt là những đề tài, dự án phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội. Đối với các đề tài đó, Hội đồng đặc biệt chú trọng đến giải pháp để các đề tài nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn cần phải có sự tham gia của các doanh nghiệp, kết nối 3 nhà: nông dân - nhà khoa học - nhà đầu tư.

Phát biểu tại cuộc họp, đồng chí Huỳnh Thanh Điền nhấn mạnh: Cần rà soát, đánh giá lại các danh mục đề tài khoa học một cách cụ thể để có phương án quản lý, triển khai vào thực tế một cách có hiệu quả nhất... Đối với các đề tài khoa học thuộc ngành y tế nên giao cho các bệnh viện thực hiện, nhằm nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh. Về dự án mô hình xóa đói giảm nghèo, đề nghị mỗi địa phương nên xây dựng mô hình phù hợp với tình hình thực tế, có sự khảo nghiệm, đánh giá, không nên mang tính áp đặt theo vùng.

Kết thúc cuộc họp, Hội đồng đã bỏ phiếu thông qua 16 đề tài, dự án.

P.V

* Hội thảo khoa học "Đổi mới tổ chức và hoạt động công đoàn Nghệ An trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế"

Sáng ngày 24/8/2017, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An phối hợp với Liên đoàn LĐ tỉnh tổ chức Hội thảo khoa học "Đổi mới tổ chức và hoạt động công đoàn Nghệ An trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế".

Tham dự hội thảo có các đồng chí: PGS.TS Vũ Quang Thọ - Viện trưởng Viện công nhân và công đoàn, ThS. Lê Đình Quảng, Phó Trưởng ban Quan hệ Lao động - Tổng LĐLĐ Việt Nam; Đồng chí Huỳnh Thanh Điền - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Nguyễn Tử Phương - Chủ tịch LĐLĐ cùng đại diện các sở, ban, ngành, đơn vị;  Đại diện lãnh đạo một số công đoàn cơ sở trực thuộc;  Lãnh đạo liên đoàn LĐ huyện, thành, thị; đoàn sở, ngành, công đoàn viên chức;...

Năm 2017, Nghệ An có 9.800 doanh nghiệp đang hoạt động trên tổng số 16.023 doanh nghiệp được thành lập; cao nhất vùng Bắc Trung bộ về số lượng và đứng thứ 7 cả nước. Số vốn bổ sung vào nền kinh tế đạt 134.000 tỷ đồng, hàng năm đóng góp 20 - 25% vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh, 65 - 70% giá trị thu ngân sách.

Hội thảo tập trung đánh giá đúng thực chất kết quả các hoạt động của công đoàn Nghệ An trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế; Cơ hội thách thức hội nhập kinh tế quốc tế đối với công đoàn Nghệ An hiện nay và những vấn đề cần phải đổi mới về: Công tác tổ chức cán bộ; nội dung hoạt động; phương pháp hoạt động; về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức công đoàn hiện nay để công đoàn Nghệ An thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ trong thời kỳ hội nhập và phát triển. Về những định hướng, giải pháp trong thời gian tới công đoàn Nghệ An cần chú trọng: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh ủy - HĐND - UBND tỉnh đối với tổ chức CĐ; Đổi mới một cách căn bản, toàn diện phương thức tổ chức;...

Huy Khánh

* Kỷ niệm 1390 năm danh xưng Diễn Châu (627-2017)

Tối 19-8, huyện Diễn Châu (Nghệ An) long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 1390 năm có tên Diễn Châu (627 - 2017).

Dự lễ kỷ niệm, có các đồng chí Ủy viên T.Ư Đảng: Phan Đình Trạc, Trưởng Ban Nội chính T.Ư; Nguyễn Thị Thủy, Phó Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra T.Ư; Nguyễn Đắc Vinh, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An cùng đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành T.Ư, tỉnh Nghệ An, huyện Diễn Châu và đông đảo người dân trong vùng.

Trước đây, Diễn Châu là một phủ bao gồm cả phía Bắc Nghệ An, gồm các huyện Diễn - Yên - Quỳnh, Nghĩa Đàn và một phần của Tân Kỳ. Tên Diễn Châu ra đời năm 627, đến nay đã 1390 năm vẫn trường tồn theo thời gian. Kỷ niệm 1390 năm danh xưng Diễn Châu là dịp để cán bộ, đảng viên và nhân dân Diễn Châu nhớ về cội nguồn, tôn vinh tổ tiên, dân tộc. Đây cũng là dịp để bày tỏ lòng tri ân sâu sắc tới sự hy sinh to lớn tới các thế hệ đã góp phần làm nên mảnh đất Diễn Châu hôm nay.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Bí thư Nguyễn Đắc Vinh ghi nhận sự đóng góp to lớn của chính quyền, nhân dân Diễn Châu trong suốt chặng đường xây dựng và phát triển thời gian qua; đồng thời mong muốn trong thời gian tới, Đảng bộ và nhân dân Diễn Châu tiếp tục đoàn kết, nhất trí, chung sức chung lòng, tiếp tục đổi mới, hội nhập và phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, thực hiện thắng lợi và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội Đảng các cấp đã đề ra.

Dịp này, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ tỉnh đã tặng nhân dân và cán bộ huyện Diễn Châu bức trướng mang dòng chữ "Phát huy truyền thống 1390 năm đoàn kết, năng động, đổi mới và phát triển".

Gia Hưng

* Nghệ An: Xây dựng Dự án bảo tồn, tôn tạo Khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên

Dự án bảo tồn, tôn tạo Khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên gắn với phát triển du lịch được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tại Quyết định số 89 năm 2003, có tổng mức đầu tư trên 318 tỷ đồng, với diện tích trên 215 ha.

Dự án được phân thành 2 giai đoạn và các dự án thành phần: Giai đoạn 1 (từ 2003 - 2005) - hoàn thành các tuyến đường giao thông trong Khu di tích; Bảo tồn, tôn tạo một số hạng mục công trình trong Khu di tích làng Sen, Hoàng Trù, và Khu mộ bà Hoàng Thị Loan. Giai đoạn 2 (từ 2006 - 2018), hoàn thành các hạng mục còn lại thuộc các dự án thành phần. Đến nay, dự án đã được bố trí nguồn vốn trên 240 tỷ đồng, triển khai thực hiện các dự án gồm: Bảo tồn tôn tạo di tích lịch sử văn hóa làng Hoàng Trù; Bảo tồn tôn tạo khu mộ Bà Hoàng Thị Loan; Nhà thờ đại tôn họ Hoàng Xuân tại xã Kim Liên.

Cùng với các dự án trên, còn có các dự án chuẩn bị cho kỷ niệm 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (2020), như: dự án Nâng cấp nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh; Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt - Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

P.V (theo Đài PT - TH Nghệ An)

* Hội thảo Khoa học góp ý bản thảo cuốn sách "Kỷ yếu ngành Giáo dục và Đào tạo huyện Tương Dương"

Chiều ngày 21/8/2017, tại Hội trường Phòng GD&ĐT huyện Tương Dương, Ban chỉ đạo biên soạn đã tổ chức hội thảo khoa học góp ý cho bản thảo cuốn sách "Kỷ yếu ngành Giáo dục và Đào tạo huyện Tương Dương". Tham dự Hội thảo có đồng chí Kha Văn Điếm - UV BTV, Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy, các nhà giáo nguyên là lãnh đạo Phòng GD&ĐT, lãnh đạo và ban biên soạn Trung tâm KHXH&NV Nghệ An, đại diện lãnh đạo một số trường tiêu biểu trên địa bàn huyện cùng toàn thể cán bộ, chuyên viên phòng GD&ĐT huyện. Đồng chí Vi Tân Hợi - UV BTV, Phó Chủ tịch HĐND huyện, Trưởng ban chỉ đạo biên soạn chủ trì hội thảo.

Cuốn sách Kỷ yếu ngành Giáo dục và Đào tạo huyện Tương Dương do Trung tâm KHXH&NV Nghệ An tổ chức biên soạn, bố cục gồm 3 phần: Phần 1: GD&ĐT Tương Dương - những chặng đường phát triển; Phần 2: Các trường học trên địa bàn huyện và Phần 3: Ký ức nghề giáo. Nội dung của cuốn sách thể hiện quá trình phát triển đi lên của ngành GD&ĐT huyện từ muôn vàn khó khăn của một huyện miền núi rẻo cao đến những thành tựu ngày hôm nay. Qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho giai đoạn tới.

Tại buổi hội thảo, nhiều đại biểu đánh giá cao sự cố gắng của ban chỉ đạo, ban biên soạn trong công tác sưu tầm tư liệu, biên soạn bản thảo. Đồng thời có ý kiến góp ý thêm về các sự kiện lịch sử, một số nhân vật tiêu biểu, về lịch sử hình thành của các ngôi trường trên địa bàn huyện nhằm nâng cao chất lượng cuốn sách trước khi in ấn xuất bản.

Kết luận hội thảo, đồng chí Vi Tân Hợi đề nghị lãnh đạo các nhà trường trên địa bàn huyện nghiêm túc nghiên cứu kỹ lịch sử hình thành của trường mình để cung cấp thông tin cho ban biên soạn hoàn thiện bản thảo, đề nghị ban biên soạn tiếp thu có chọn lọc các ý kiến góp ý tại hội thảo để cuốn sách kịp thời ra mắt bạn đọc nhân dịp 20/11.

Phạm Khắc

* Đại hội công đoàn Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An nhiệm kỳ 2017 - 2020

Sáng ngày 23 tháng 8 năm 2017,  Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An tiến hành đại hội công đoàn nhiệm kỳ 2017 - 2020.

Công đoàn Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An được thành lập theo Quyết định số 16/QĐ-CĐSKHCN, ngày 22/9/2007, là một công đoàn bộ phận thuộc công đoàn sở KH&CN. Hiện nay, sau 10 năm phát triển, công đoàn trung tâm có 19 đoàn viên công đoàn.

Tổng kết hoạt động công đoàn nhiệm kỳ 2015-2017 vừa qua, công đoàn trung tâm đã thực hiện tốt vai trò của mình trong công tác tham mưu quản lý, cải cách hành chính, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động;... Tuy nhiên, BCH công đoàn tự nhận thấy còn có một số tồn tại và thiếu sót trong việc thực hiện các hoạt động công đoàn như công tác thăm hỏi động viên gia đình các đoàn viên công đoàn trung tâm chưa kịp thời; sinh hoạt các tổ chức công đoàn chưa đều đặn, chất lượng chưa cao...

Để khắc phục nguyên nhân, hạn chế của nhiệm kỳ 2015-2017, công đoàn trung tâm đã thống nhất đề ra phương phướng nhiệm kỳ 2017 - 2020 như sau: Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục, động viên đoàn viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị; nâng cao chất lượng tham gia quản lý của công đoàn, chăm lo đời sống tinh thần và vật chất, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp cho cán bộ công đoàn và người lao động...

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành công đoàn nhiệm kỳ mới gồm các đồng chí: Hồ Thị Thủy - Phó phòng Thông tin giữ chức Chủ tịch công đoàn; đồng chí Nguyễn Thị Trang Nhung - Trưởng phòng Văn hóa lịch sử và đồng chí Phạm Thị Hồng Tuyết - cán bộ phòng Hành chính và Hợp tác đào tạo làm ủy viên BCH công đoàn nhiệm kỳ 2017-2020. 

Hoàng Anh

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.