« Quay lại

Chuyên san Khoa học xã hội &nhân văn số 9 năm 2017

Hà Văn Tải

 

Nghệ An và Xiêng Khoảng (Lào) là hai tỉnh láng giềng, cùng chung biên giới của dãy núi Trường Sơn, có quan hệ gắn bó lâu đời. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, hai tỉnh đã nương tựa, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau. Hồi đó, ông Nu-hắc Phum-xa-vằn (vợ là Lam người thành phố Vinh), chúng ta đã giúp đỡ làm lễ cưới ở Đô Lương. Phum-xa-vằn đã thay mặt Ban Chỉ huy Mặt trận Đông Lào và Chính phủ kháng chiến Lào ký với Khu 4 (gồm các tỉnh biên giới) một Hiệp ước 7 điểm nhằm tăng cường mối quan hệ Việt - Lào trong kháng chiến chống Pháp.

Nhận lời mời của Ủy ban hành chính tỉnh Nghệ An, ngày 10/3/1969, Đoàn đại biểu tỉnh Xiêng Khoảng đã đến thăm và làm việc tại Nghệ An. Đoàn có 9 người do ông Xổm-văng-xa-thít, Tỉnh trưởng làm Trưởng đoàn. Đoàn đại biểu của tỉnh Nghệ An có 9 người do ông Chu Mạnh, Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh làm Trưởng đoàn. Hai đoàn đã đánh giá tình hình thực hiện hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong kinh tế - văn hóa thời gian qua và đi đến nhất trí:

Nghệ An giúp đỡ Xiêng Khoảng trên các mặt nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp, giao thông vận tải, thương nghiệp, y tế, giáo dục, văn hóa và một số vấn đề khác, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Xiêng Khoảng phát triển toàn diện. Xiêng Khoảng cung cấp cho Nghệ An một số cây đào ngọt, cây lê và 50 con ngựa.

Từ tháng 1/1976, sau khi hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hợp nhất thành Nghệ Tĩnh, Ban Hợp tác Kinh tế - Văn hóa với Lào của Nghệ Tĩnh là cơ quan tham mưu giúp Tỉnh ủy, Ủy ban chỉ đạo, kiểm tra việc hợp tác giữa Nghệ Tĩnh và Xiêng Khoảng, Bô-li-khăm-xây càng được phát triển trên các lĩnh vực: nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp, thương mại, công nghiệp, giao thông vận tải, y tế, giáo dục, văn hóa. Tình cảm đoàn kết giữa 3 tỉnh kết nghĩa đã thể hiện:

Nghệ Tĩnh - Bô-li-khăm-xây

Cùng với Xiêng Khoảng ba cây giữa rừng

Bao năm chua ngọt đã từng

Đường lên thắng lợi vui mừng sẻ đôi

Trường Sơn chung đỉnh mình ơi

Bên ni bên nớ nhớ lời thiết tha

"Việt - Lào hai nước chúng ta

Tình sâu hơn nước Hồng Hà - Cửu Long"

(Thơ HVT)

Có một điều mới, rất mới là vào cuối năm 1983, Tỉnh ủy và Ủy ban chính quyền tỉnh Xiêng Khoảng yêu cầu tỉnh Nghệ Tĩnh cho đoàn cán bộ văn phòng sang giúp đào tạo, bồi dưỡng công tác văn phòng cho cán bộ tỉnh và huyện. Ban thường vụ Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh quyết định cử tôi (Hà Văn Tải, Tỉnh ủy viên, Chánh Văn phòng) cùng 4 cán bộ khác sang giúp bạn. Đây là một loại công việc nghiệp vụ có tính khoa học, có nhiều khó khăn, chưa có nhiều kinh nghiệm, trong lúc tình hình ở tỉnh bạn, mình chưa có hiểu biết, chưa một lần đặt chân tới. Chúng tôi rất lo lắng và đã tìm đến Ban Hợp tác Kinh tế - Văn hóa với Lào của Nghệ Tĩnh, gặp gỡ một số cán bộ đã từng công tác ở Lào để tìm hiểu những vấn đề cơ bản của Lào và tỉnh Xiêng Khoảng. Tôi ra Hà Nội gặp các đồng chí lãnh đạo Văn phòng Trung ương Đảng để xin ý kiến, Chánh Văn phòng Trung ương Nguyễn Khánh đã gặp tôi vào ngày 10/2/1984, cho nhiều ý kiến chỉ dẫn quan trọng. Đồng chí Nguyễn Khánh đã nói nhiều về quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước, hai tỉnh Nghệ An - Xiêng Khoảng, về mối quan hệ giữa Văn phòng hai nước. Về Đoàn cán bộ Văn phòng Nghệ Tĩnh sang giúp tỉnh Xiêng Khoảng, đồng chí Nguyễn Khánh nói đại ý: Ta giúp bạn không phải là đưa của, đưa người sang xây dựng cho Bạn mà phải đào tạo cán bộ tại chỗ cho Bạn, giúp Bạn tiến lên một cách đúng hướng. Cách làm việc quan trọng nhất là trao đổi kinh nghiệm với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của văn phòng Bạn. Nói đúng việc mình làm để Bạn rút kinh nghiệm. Nói theo lối kể chuyện. Làm sao cho Bạn thấy Việt Nam giúp cái gì cũng thiết thực, nói ít mà thiết thực.

Từ những ý kiến chỉ dẫn của đồng chí Nguyễn Khánh và các đồng chí lãnh đạo tỉnh nhà, chúng tôi đã chuẩn bị 9 vấn đề bằng văn bản và lên đường giúp Bạn với tinh thần trách nhiệm cao, đầy tự tin vượt qua mọi khó khăn, đáp ứng lòng tin cậy của Bạn. Vậy là, lần thứ nhất, tôi làm Trưởng đoàn Văn phòng tỉnh Nghệ Tĩnh trong hai tháng (3 và 4/1984), lần thứ hai sang giúp Bạn cũng trong hai tháng (3 và 4/1988). Lần thứ ba, Bạn chỉ mời một mình tôi sang giúp hoàn chỉnh tổ chức bộ máy Văn phòng tỉnh và huyện sau khi kiện toàn, bồi dưỡng nội dung và phương pháp làm việc của từng bộ phận, từng thành viên ở Văn phòng tỉnh, kiểm tra công tác văn phòng ở huyện điểm Mường Khun. Lần này Bạn mời cả bà nhà tôi sang thăm, nghỉ ngơi, Bạn muốn tôi ở lại một năm và bà nhà tôi ở lại giúp việc cho tôi. Nhưng bà nhà tôi chỉ ở lại một tuần lễ, tôi cũng chỉ ở lại giúp Bạn 3 tháng (tháng 4-5-6/1991).

Qua những lần sang giúp Bạn, tôi cảm nhận nhiều điều sâu sắc, nhiều mối tình bền chặt:

Vào thời điểm những năm 70 - 80 của thế kỷ XX, tình hình nước bạn Lào nói chung, tỉnh Xiêng Khoảng nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, bọn phỉ hoạt động mạnh, an ninh trật tự có nhiều phức tạp, kinh tế và đời sống của nhân dân có nhiều thiếu thốn. Thế nhưng, Tỉnh ủy và Ủy ban chính quyền tỉnh Xiêng Khoảng, do đồng chí U-đôm Khắt Thị Nhạ, Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào làm Bí thư Tỉnh ủy lại mời chúng tôi sang trao đổi kinh nghiệm và đào tạo cán bộ văn phòng cho cấp tỉnh và huyện, biểu hiện một niềm tin vào tiền đồ phát triển của đất nước Lào và tỉnh Xiêng Khoảng. Bạn đã coi công tác văn phòng là một nghiệp vụ có tính khoa học của thời kỳ mới xây dựng đất nước khác với thời kháng chiến trước đây. Với tầm nhìn ấy, Bạn đã đón tiếp Đoàn chúng tôi rất tận tình, đã chủ động đề ra chương trình mở lớp học cho cán bộ tỉnh và cán bộ huyện. Bạn bảo chúng tôi: phải mở lớp học phân minh, học viên phải ghi chép phân minh, có thu hoạch phân minh, xếp loại phân minh... Và quả thật, trong lớp bồi dưỡng đầu tiên một tuần lễ vào đầu tháng 4/1984, chúng tôi thấy toàn ban Tỉnh ủy, Ủy ban và trưởng các ban ngành cấp tỉnh đều đến dự đông đủ kể cả đồng chí U-đôm Khắt Thị Nhạ, Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Dông Dìa (dân tộc Mông), Chủ tịch Ủy ban chính quyền tỉnh. Không chỉ trong lớp học mà khi chúng tôi nghỉ ở Nhà khách đặc biệt của tỉnh, nhiều cán bộ Bạn đã đến gặp và thân tình trao đổi nhiều vấn đề như: việc gì thì Tỉnh ủy bàn, việc gì thì Ủy ban bàn; ở Xiêng Khoảng chỉ có một bộ máy văn phòng chung, vậy quan hệ giữa văn phòng với cấp ủy, với ủy ban như thế nào?...

Tổ chức cơ sở của tỉnh Bạn là bản, mỗi bản hoặc nhiều bản có chung một chi bộ đảng, bí thư chi bộ đồng thời là trưởng bản. Chúng tôi vô cùng cảm động khi nhiều bí thư chi bộ bản nói: "cấp trên bảo chúng tôi phải báo cáo thật đúng, thật đầy đủ mọi tình hình với Đoàn cán bộ Văn phòng Nghệ Tĩnh kể cả tình hình hoạt động của bọn phỉ; phải coi các đồng chí ấy là người trong nhà, không được dấu giếm gì, có vậy các đồng chí ấy mới giúp được một cách thiết thực". Chúng tôi thật vui mừng nhận được những câu hỏi: công việc gì thì chi bộ bàn, công việc gì thì bản bàn; ở chi bộ cần có sổ sách gì?...

Sau mỗi đợt công tác giúp Bạn ở Xiêng Khoảng, Bạn đã tổ chức cho Đoàn chúng tôi đi Viêng Chăn, thủ đô xinh đẹp "như mặt trăng tròn" của nước Lào. Tại đây, đã hai lần cố đồng chí Xỉ Xăm Phon Lò Văn Xây, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban tổ chức Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã mời tôi đến gặp. Cả hai lần đều có đồng chí Trần Đình Đúc, chuyên gia của Việt Nam làm cố vấn. Tôi vô cùng cảm động lần nào cũng tự tay cụ Lò Văn Xây lấy ấm tự rót nước vào chén mời tôi uống. Lần thứ nhất vào tối ngày 18/4/1984. Cụ nói đại ý: Khăm Muộn chia hai tỉnh rồi. Phía Bô Li Khăm Xây không khó lắm mà khó là khó bên Căm Kớt. Bây giờ đang khó khăn nhưng khả năng khai thác, trao đổi lâm, thổ sản sẵn có. Nên lập cửa hàng mậu dịch ở Kim Cương do huyện Hương Sơn quản lý cũng được để dân mua đổi hàng. Đề nghị Nghệ Tĩnh giúp chuyên gia để làm thủy lợi Nậm Khiếu, giúp chỉ đạo kỹ thuật trồng lạc, vừng, chế biến gỗ. Làm sao cho hai huyện Hương Sơn - Căm Kớt gắn lại với nhau, cùng nhau đi lên. Tôi cứ nhớ mãi câu nói của Cụ: "Cho tôi nói bằng tiếng Việt, nói theo tinh thần người trong nhà". Lần thứ hai, Cụ lại mời gặp tôi vào tối ngày 10/4/1988. Lần này, Cụ tỏ ra băn khoăn, lo lắng nhiều về tình hình kết nghĩa giữa Nghệ Tĩnh và Xiêng Khoảng, Bô Li Khăm Xây vì lúc này có một số người Việt Nam qua biên giới để khai thác trái phép trầm hương, gây nhiều bất ổn trật tự an ninh cho một số tỉnh của Lào. Anh (cụ gọi tôi bằng anh) về cần báo cáo với Tỉnh ủy, Ủy ban Nghệ Tĩnh bố trí lại lực lượng để bảo vệ biên giới, bảo vệ an ninh vừa khai thác được lâm thổ sản. Về hợp tác kinh doanh sao cho hai bên đều có lợi: Nghệ Tĩnh nhận thầu làm công trình cho các tỉnh Lào rồi chia nhau quyền lợi; có cái Nghệ Tĩnh giúp chuyên gia, có cái cả hai bên bỏ vốn để kinh doanh. Bô Li Khăm Xây thì không biết làm mà Nghệ Tĩnh thì nể, cả hai bên đều phải rút kinh nghiệm. Trình độ cán bộ ở đây khác với ở Xiêng Khoảng mà hiện đã có 20 công ty bên ngoài thâm nhập nên gặp khó khăn, phức tạp. Tôi mong Nghệ Tĩnh giúp đỡ, hợp tác cả trước mắt và lâu dài. Vì gỗ, trầm hương rồi cũng hết, cần cùng nhau bàn kế hoạch sản xuất lạc, cà phê, hồ tiêu,... để xuất khẩu.

Trong đợt thứ ba sang giúp Xiêng Khoảng, tôi may mắn và vinh dự đến chào cụ Phu Mi Vông Vi Chít, quyền Chủ tịch nước Lào về công tác tại tỉnh quê hương của Cụ. Tôi vừa bước chân tới nhà khách đặc biệt của tỉnh Xiêng Khoảng, Cụ đã ra tận cửa bắt tay tôi. Cụ nói tiếng Việt rất thông thạo nên buổi chiều 11/6/1991 ấy, câu chuyện được trao đổi thân tình, ấm cúng. Hồi đó tôi có mang 5 con mực khô, 1 gói chè Kim Liên, gọi là cây nhà lá vườn và đặc sản biển để biếu Cụ. Cụ cảm động đỡ gói quà và nói: "Đồng chí sang giúp Xiêng Khoảng phải chịu nhiều khó khăn gian khổ, còn quà cáp gì nữa". Rồi cụ nói cho tôi nghe một số tình hình ở Lào và Xiêng Khoảng. Tôi nhớ mãi không quên câu nói của Cụ: "Ở Lào có nhiều dân tộc, trình độ dân trí còn thấp nên mọi việc quan trọng Mặt trận và các đoàn thể phải đi trước, chính quyền đi sau". Tôi coi đó là một bài học quý về công tác vận động quần chúng.

Tháng 3/1988, khi được tin đồng chí Phạm Hùng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước CHXHCN Việt Nam qua đời, lãnh đạo tỉnh Xiêng Khoảng đã tổ chức lễ đài rất trang trọng để cán bộ và bà con các dân tộc Lào cũng như các cán bộ, chuyên gia, công dân Việt Nam đến viếng và dự lễ truy điệu. Chúng tôi thật vô cùng cảm động về tấm lòng của Bạn.

Ở thủ đô Viêng Chăn, chúng tôi may mắn đến tham quan những công trình kinh tế như nhà máy thuốc lá, nhà máy gỗ dán, thăm các di tích văn hóa như Nhà bảo tàng cách mạng, Bảo tàng Cay Xỏn Phôm Vi Hản, Thạt Luồng, Vườn Phật, Chùa Phà Keo. Chúng tôi được tham quan Cánh Đồng Chum, ở đây có hàng ngàn cái chum to nhỏ trên cao nguyên mà du khách đã hết lời ca ngợi đầu óc thông minh và bàn tay khéo léo của các dân tộc Lào từ ngàn xưa. Nơi đây cũng là một bảo tàng cách mạng lưu giữ 12 chiếc máy bay Mỹ do quân dân Lào bắn hạ trong cuộc kháng chiến anh hùng. Chúng tôi đã nhiều lần cảm kích trước phong tục "lễ thắt chỉ cổ tay" với lời khấn của vị thầy cúng của Lào "đi đường gặp rắn rết thì rắn rết phải chạy, vào rừng gặp thú dữ thì thú dữ phải lùi". Trong dịp đón tết Hốt Nậm vào ngày 15/4, các cán bộ cấp cao đến người dân thường đều đi lễ ở chùa. Tại đây, người ta đã dùng nước thơm để tắm cho các vị sư và tưới nước mát cho nhau. Chúng tôi dù bị ướt sũng nhưng đó là một niềm vui, nềm hạnh phúc. Được biết ở Lào, nhân dân đón tết Hốt Nậm không có mâm cỗ mà chỉ đi té nước cho nhau và múa hát Lăm Vông.

Chúng tôi nghỉ ở nhà khách của Bạn nhưng khi đi vắng không phải khóa cửa. Hình như câu tục ngữ của Lào đã thấm sâu vào tim óc và nếp sống của mỗi người: "Đừng ăn thỏa đói, đừng nói thỏa giận. Mất tiền còn kiếm được, mất tình nghĩa khó kiếm" "thấy mặt đừng nói dối, thấy túi đừng tham".

Đặc biệt khi đi về các bản, đồng chí và bà con biết chúng tôi là người Nghệ Tĩnh - quê hương của Bác Hồ, họ tỏ rõ một mối tình trân trọng khôn xiết. Nhiều cụ bà và các em ở huyện Mường Khun đã ôm chầm lấy chúng tôi, tặng hoa đầy xe của chúng tôi. Một bà mẹ Mường Khun tóc bạc trắng, nước mắt rưng rưng, nói: không bao giờ quên ơn nghĩa của Việt Nam, của Nghệ Tĩnh nhất là bà con huyện Con Cuông đã che chở, thương yêu những năm tháng mẹ và bà con huyện Mường Khun sang sơ tán thời chống Mỹ, nhờ "hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa" của đồng bào Con Cuông mới sống đến hôm nay. Rồi mẹ khóc nức nở.

Giờ đây tôi đã ở tuổi 88 nhưng mỗi khi nhìn tấm Huân chương lao động hạng 3 mà Chính phủ Lào trao tặng, lòng tôi vô cùng cảm kích trước mối tình đặc biệt "cao hơn núi, dài hơn sông" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đồng chí Tổng Bí thư Cay Xỏn Phôm Vi Hản và Chủ tịch Xu Pha Nu Vông từng dày công vun đắp. Tôi tin tưởng chắc chắn rằng mối tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt ấy "mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững".

Nguyễn Văn Thanh

 

Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh đã có những đóng góp rất quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng mối đoàn kết đặc biệt, tương thân, tương ái giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Lào.

Tháng 9-1959, theo yêu cầu của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định thành lập Đoàn 959 chuyên gia giúp Lào ở mặt trận Hạ Lào. Cũng trong thời gian này, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Đoàn 559 với nhiệm vụ mở đường, vận chuyển vật chất, đưa đón cán bộ, bộ đội từ miền Bắc vào miền Nam, đồng thời vận chuyển vào bảo đảm hậu cần cho Đoàn 959 chuyên gia ở Lào.

Khi phát hiện ra tuyến đường vận tải chiến lược quan trọng này, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã kết hợp các lực lượng không quân, bộ binh với phương tiện chiến tranh hiện đại liên tục đánh phá. Các đơn vị vận tải bị kẹt lại, không qua được đường 9. Trước tình hình đó, trên cơ sở quan hệ truyền thống vốn có giữa hai dân tộc, yêu cầu khách quan cần gấp rút chi viện cho chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia, hai Đảng, hai Chính phủ thống nhất mở thêm đường phía Tây Trường Sơn chạy trên đất Lào. Từ tháng 4-1961, dưới sự giúp đỡ của các đơn vị tình nguyện Việt Nam, lực lượng cách mạng Lào đã mở nhiều đợt hoạt động quân sự ở miền Trung và Hạ Lào, giải phóng một vùng rộng lớn từ Căm Cớt, Lắc Xao đến Mường Phìn, Sê Pôn, Bản Đông, nối đường 12 với đường 9, nhanh chóng tạo thành một hành lang dài và rộng theo chiều Đông - Tây. Toàn bộ 6 mường của Lào ở Bắc và Nam đường số 9 được giải phóng.

Năm 1963, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiếp tục đưa quân bao vây, đồng thời đánh phá quyết liệt tuyến vận tải phía Đông Trường Sơn. Trước tình hình đó, được sự lãnh đạo của hai Đảng, quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội Pa Thét Lào quyết định mở Chiến dịch 128 giải phóng toàn bộ vùng cao nguyên Trung Lào có biên giới chung với Việt Nam dài trên 700km. Thắng lợi của Chiến dịch 128 đã tạo điều kiện cho Việt Nam chuyển toàn bộ đường vận tải sang hướng Tây trên đất Lào.

Trong quá trình này, bộ đội tình nguyện, đoàn chuyên gia cố vấn Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã thường xuyên phối hợp với quân khu Trung - Hạ Lào, Đảng bộ và chính quyền 7 tỉnh có đường Hồ Chí Minh xuyên qua tổ chức khảo sát địa hình, phối hợp mở đường và chiến đấu bảo vệ căn cứ và tuyến đường chiến lược, tổ chức đánh địch tại chỗ, giải phóng đất đai, mở rộng vùng giải phóng, tạo điều kiện để tuyến đường được mở rộng và phát triển.

Để có con đường chiến lược với hơn 20.000km, các chiến sĩ, lực lượng thanh niên xung phong và nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân Lào đã đổ bao mồ hôi, xương máu, của cải để xây dựng, bảo vệ và vận chuyển hàng hóa, nhân lực phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ của hai nước Việt - Lào.

Đối với cách mạng và nhân dân Lào, từ khi mới hình thành cho đến khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đường Hồ Chí Minh đi qua 17 mường (huyện) ở Trung và Nam Lào với tổng chiều dài hàng ngàn km. Trong 16 năm (1959-1975), đế quốc Mỹ đã rải xuống các cánh rừng dọc tuyến đường hàng triệu tấn bom các loại, hàng ngàn tấn chất độc hóa học và nhiều thiết bị điện tử tinh vi nhằm phát hiện, ngăn chặn lực lượng vận tải chiến lược. Đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Nam Việt Nam, Lào, Campuchia còn sử dụng lực lượng lớn quân đội và vũ khí đánh vào các vùng thuộc hành lang của tuyến đường, quy mô lớn nhất là Chiến dịch Lam Sơn 719 với 20.000 quân Sài Gòn cùng sự yểm trợ của 9.000 quân Mỹ, 2.000 máy bay các loại đánh vào khu vực đường 9 - Nam Lào. Riêng năm 1969, máy bay Mỹ đã đánh phá hàng nghìn trận vào 180 bản làng của đồng bào các dân tộc Lào dọc tuyến đường Hồ Chí Minh, thiêu hủy 845 nóc nhà, giết hại 482 người, làm bị thương 344 người, phá 337 nương rẫy. Bất chấp sự hủy diệt tàn bạo và những âm mưu thâm độc của kẻ thù, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, nhân dân các bộ tộc Lào đã hết lòng giúp đỡ bộ đội Việt Nam trong việc mở đường, bảo vệ tuyến đường và vận chuyển hàng hóa phục vụ chiến trường. Từ năm 1965, khi đế quốc Mỹ mở rộng đánh phá, nhân dân 17 huyện thuộc 7 tỉnh của Lào trên mảnh đất Tây Trường Sơn đã tự động dời nhà, bỏ nương rẫy đi vào rừng sâu sinh sống. Bộ đội và du kích Lào phối hợp chặt chẽ với bộ đội Việt Nam đánh trả máy bay địch, ngăn chặn các cuộc hành quân lấn chiếm, tập kích của chúng. Nhân dân Lào còn đóng góp hàng triệu ngày công cùng bộ đội và lực lượng thanh niên xung phong Việt Nam làm mới, sửa chữa đường xá, vận chuyển lương thực và thương bệnh binh, góp phần vào mọi hoạt động của tuyến đường Hồ Chí Minh.

Không thể kể hết những tình cảm quý báu của nhân dân các bộ tộc Lào dành cho các chiến sĩ, cán bộ Việt Nam. Năm 1964, địch đánh phá ác liệt, thời tiết phức tạp khiến việc vận chuyển hàng hóa và dẫn quân của Đoàn 559 trên tuyến Tây Trường Sơn gặp rất nhiều khó khăn. Có thời điểm đường bị tắc, khách qua tuyến đường dồn ứ hàng ngàn người ở các trạm giao liên gần một tháng. Việc đảm bảo lương thực, thực phẩm cho bộ đội trở thành vấn đề "nước sôi, lửa bỏng". Trước tình hình đó, chỉ huy Đoàn 559 cùng Đoàn chuyên gia 763 ở Hạ Lào trực tiếp đề xuất với Tỉnh ủy Távên Oọc của Lào vận động nhân dân địa phương giúp đỡ. Với tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng, nhân dân tỉnh Távên Oọc, đặc biệt là các huyện Cà Lươn, Xê Camản... nhanh chóng thu gom thóc, giã gạo phục vụ bộ đội Việt Nam. Mặc dù là địa phương nghèo, nhân dân sống phân tán, nhưng chỉ trong vòng nửa tháng, bạn đã huy động được hơn 30 tấn lương thực, góp phần quan trọng giải quyết khó khăn cho Đoàn 559.

Nhờ sự phối hợp liên minh này mà hàng hoá không còn bị ứ đọng trên tuyến đường 9, vào chiến trường miền Nam và nước bạn thông suốt, kịp thời. Tuy nhiên, sức người có hạn, việc vận chuyển hàng hoá còn phải dựa vào voi, trâu, bò... Bà con dân tộc Đông - Tây Trường Sơn rất quý voi, coi voi là thần, là tượng trưng cho sự giàu có, danh giá. Làng nào có voi rất tự hào. Thế nhưng khi cách mạng cần, nhân dân cả Việt - Lào đều sẵn sàng hiến voi, đưa voi ra trận tuyến.

Trong những năm ác liệt, gian khó đó, điều quý nhất ở bạn là tấm lòng chân thật, trong sáng, ngay thẳng, không nề vất vả, hy sinh và tuyệt đối tin tưởng vào cán bộ, bộ đội. Bà con dân tộc Lào ở đây đã nói với cán bộ, bộ đội Việt Nam rằng: "Tao đói còn đi đào được củ rừng để ăn. Tụi mày làm cách mạng còn phải đi làm mãi. Củ sắn, lúa chúng tao dành cho chúng mày…". Bà con Mường Noòng 3 năm không có muối phải ăn tro từ rễ tranh đốt ra. Đến khi ta đưa muối sang, liền nhắc công ơn cụ Hồ. Có người chưa hề thấy ảnh Bác, hỏi cụ Hồ có phải như ông Voi không? Ông trời không? Những lúc giáp hạt, bị cái đói hành hạ, bà con dắt nhau đi tìm rau rừng, xuống khe bắt ốc sống cầm hơi, không hề nghĩ đến việc lấy một lưng gạo, hạt muối ở các kho lương thực, thực phẩm của các binh trạm đặt giữa rừng trên đất bạn.

Trong những năm tháng khó khăn hay trong những trận đánh ác liệt, nhiều bà mẹ, gia đình Lào trong khi cuộc sống còn rất thiếu thốn vẫn chắt chiu từng bát gạo để nuôi dưỡng thương binh, vượt qua bom đạn của địch đưa rau, gạo, thuốc men đến các binh trạm trên tuyến đường để trao tận tay cho các chiến sĩ Việt Nam.

Đáp lại lòng quý mến và đùm bọc của nhân dân Lào trên dọc tuyến đường Trường Sơn, các đơn vị bộ đội Việt Nam đã tích cực cùng với bộ đội Pa Thét Lào chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ nhân dân các bộ tộc Lào, giúp đồng bào tăng gia sản xuất, cứu đói cho dân khi gặp thiên tai, địch họa. Bộ đội Việt Nam trên tuyến đường Hồ Chí Minh còn giúp nhân dân Lào xây mới một số tuyến đường liên bản, liên xã, liên huyện, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội vùng giải phóng. Chính vì vậy, tuy phải chịu đựng hy sinh, gian khổ, nhưng nhân dân các bộ tộc Lào dọc tuyến đường vẫn hết lòng yêu thương, ủng hộ quân đội cách mạng hai nước.

Nhờ có con đường chiến lược Hồ Chí Minh, tính chung trong vòng 16 năm (1959-1975), tuyến giao thông vận tải quân sự Trường Sơn đã vận chuyển được 1.349.000 tấn hàng hóa, vũ khí, trong đó giao cho các chiến trường và cách mạng Lào, Campuchia hơn 583.000 tấn, 515 triệu m3 xăng dầu. Riêng 4 tháng trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, tuyến vận tải 559 qua đường Hồ Chí Minh đã chuyển vào miền Nam Việt Nam hơn 110.000 cán bộ, chiến sĩ, 230.000 tấn vật chất các loại, đưa sang Lào (1973-1975) trên 108.000 tấn hàng.

Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết chiến đấu, mối quan hệ thủy chung son sắt của hai dân tộc Việt - Lào trong trường kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong công cuộc đổi mới, nhân dân hai nước cũng sẽ tiếp tục sát cánh bên nhau, cùng nhau viết tiếp trang sử mới trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam và Lào trên con đường đổi mới và hội nhập quốc tế.

 

Tài liệu tham khảo

(1). Đường Hồ Chí Minh - Con đường huyền thoại, Nxb. QĐND, H, 2004.

(2). Đồng Sĩ Nguyên, Đường xuyên Trường Sơn, Nxb. QĐND, H,1999, tr.224.

(3). http://www.dangcongsan.vn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Samanane Vignaketh (Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Chỉ đạo Công tác tư tưởng, lý luận và văn hoá TW Đảng NDCM Lào).

(4). Bảo tàng Hồ Chí Minh, Biên niên sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh với tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, NXB, CTQG, H.2007.

(5). Nguyễn Văn Vịnh, Những sự kiện lịch sử ở Lào (1353-1975), NXB LĐ, HN, 2008, tr. 326.

Đại tá Nguyễn Khắc Thuần

 

Đồng chí Võ Thúc Đồng, sinh năm 1914, mất năm 2007, quê quán xã Thanh Ngọc, huyện  Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, Ủy viên BCH TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III, IV Đại biểu Quốc hội khóa III, IV. Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum (1946 - 1948), Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An (1959 - 1971), Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô (cũ), Chủ nhiệm Ủy ban nông nghiệp TW, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp (1975 - 1982).

Trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 ông được Tổng quân ủy (nay là Đảng ủy quân sự Trung ương) chỉ định làm Bí thư Ban cán sự, Chính ủy các lực lượng bộ đội tình nguyện ở mặt trận Trung Lào. Trong thời gian này, ông đã cùng đồng chí Khăm Tày (sau này là Tổng bí thư Đảng NDCM Lào) mở nhiều đợt tấn công giải phóng nhiều địa bàn ở Trung Lào, góp phần cầm chân chia cắt phối hợp với chiến trường chính Bắc bộ, Điện Biên Phủ, đánh to, thắng lớn, góp phần giành thắng lợi quyết định cho cuộc kháng chiến chống Pháp của hai dân tộc Việt - Lào(1).

Tháng 9 năm 1953 tôi về dự Hội nghị quán triệt 3 nhiệm vụ lớn của Liên khu 4 trong Chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954. Cuộc họp vừa xong, một đồng chí cán bộ văn phòng Bộ Tư lệnh Liên khu đến rỉ tai:

- Mời đồng chí Trường Sinh, Trung đoàn trưởng Trung đoàn tình nguyện quân 120 lên gặp Chính ủy Võ Thúc Đồng.

Đến nơi, không kịp để tôi chào hỏi, anh Đồng vào việc luôn:

- Tình hình khẩn trương lắm rồi! Khu ủy đã phân công anh Hoàng Anh, Bí thư Liên khu ủy trực tiếp chỉ đạo Thanh Hóa phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Mình cùng cậu sang Trung Lào ngay, bàn với anh Khăm - Tày (Tư lệnh Trung Lào) mở chiến dịch Trung Lào. Đêm nay ta đi luôn. Vừa đi cậu vừa nghe tình hình nhiệm vụ, tôi vừa nghe tình hình Lào, làm sao nắm chắc được các vấn đề để đến Lào là ta triển khai ngay. Công việc gấp lắm rồi!

Tôi chẳng kịp ghé về Đức Thọ thăm vợ con dù đã cách xa mấy năm. Tối đó chúng tôi lên đường ngay. Bài học đầu tiên tôi học được trong chuyến hành quân này ở Chính ủy Võ Thúc Đồng là tính khẩn trương và cụ thể. Phần phổ biến nhiệm vụ cho tôi, anh nói ngắn gọn để tôi nắm được yêu cầu của chiến dịch, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc hậu phương Khu IV để chi viện tối đa sức người sức của cho Điện Biên, Trung Lào, Bình Trị Thiên, cầm chân thu hút tiêu hao địch, phối hợp chiến trường chính. Tôi báo cáo với anh tình hình chiến trường Trung Lào. Anh hỏi tỉ mỉ mọi việc tình hình dân, tình hình lực lượng bạn, tình hình địch, ý định của tôi, của các đồng chí trong chỉ huy Trung đoàn. Sang đến Lắc - Xao, tôi định điều thêm 1 trung đội đi bảo vệ anh vì đoạn đường sắp tới địch hay phục kích, anh gạt phắt đi.

- Các cậu thông thạo tiếng Lào, đến đâu ta dựa vào dân, đó là cách bảo vệ tốt nhất. Không ai bảo vệ được cán bộ bằng dân. Đi càng gọn nhẹ đội hình càng đảm bảo bí mật. Nhưng hướng hành quân, giờ hành quân thì phải luôn thay đổi, luôn đánh lạc hướng địch.

Chúng tôi không về Sở Chỉ huy trung đoàn mà tới ngay Sở Chỉ huy Mặt trận Trung Lào cử Tư lệnh là Khăm Tày. Biết anh Đồng qua, anh Khăm Tày mừng lắm, khoản đãi một ché rượu cần. Phong cách ứng xử linh hoạt nên trong tiệc rượu anh Đồng đã trao đổi xong những dự kiến của Đảng ủy Liên khu về Chiến dịch Mặt trận Trung Lào cho Tư lệnh Khăm Tày nghe. Yêu cầu về tổ chức Liên quân Lào - Việt được anh Khăm Tày hết sức hoan nghênh và phân công ngay trong tiệc rượu: anh Khăm Tày Tư lệnh, anh Đồng Bí thư Ban cán sự kiêm Chính ủy Liên quân, Chính ủy các lực lượng tình nguyện (kể cả các đơn vị Bộ sắp chi viện sang). Tôi được chỉ định làm Phó ban cán sự, anh Phùng Duy Phiên được chỉ định làm Tham mưu trưởng.

Cuộc họp Ban chỉ huy Liên quân Lào - Việt được tổ chức ngay trong sáng đầu tiên khi anh Đồng đến Sở chỉ huy Trung Lào. Sau một buổi thảo luận, phân tích tình hình, yêu cầu nhiệm vụ, anh Khăm Tày đề nghị anh Đồng kết luận hội nghị. Tôi hơi giật mình, chân ướt, chân ráo vừa đến, tình hình ta lúc này còn gặp nhiều khó khăn nhất là tiếp tế, tình hình Bạn lúc này cơ sở còn mỏng, lực lượng chiến đấu thiếu đồng bộ, trong lúc địch còn 5 tiểu đoàn trang bị đầy đủ, cơ sở hậu cần phong phú lại còn chốt chặn trên các trục đường 8, 9, 12… liệu anh Đồng kết luận sao đây? Trong quan hệ với Bạn nếu sơ suất lần đầu, sau mọi việc đều khó. Ai dè với năng lực vượt trội của mình anh kết luận đâu vào đấy. Giải pháp đưa ra là: ta và Bạn phối hợp chặt chẽ, liên tục mở các lớp bồi dưỡng cho cán bộ cấp xã, huyện, tỉnh: Tổ chức 30 đoàn đi xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng, vận động các bản làng xây dựng lực lượng du kích, đóng góp xây dựng LLVT ở  Ma - ha - xây, Bô - la - phà, Tà Ôi, Mưởng - nòng, Kăm - kốt, ven đường 9,… Về cung cấp, anh chỉ thị cho anh Nguyễn Văn Thân, Khu ủy viên Khu 4 đảm trách cung cấp chiến dịch, thành lập các trạm vận tải từ Nghệ - Tĩnh sang Trung Lào, huy động 30 vạn dân công ở hai tỉnh này để vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh… Anh Đồng kết luận vừa xong, tiếng vỗ tay đã vang lên như sấm. Tôi thật không ngờ anh nắm tình hình nhanh, chỉ đạo sắc đến thế. Và điều tôi thấm thía nhất là mọi việc anh đều đặt cơ sở giải quyết từ thế trận lòng dân. Sau cuộc họp, uy tín anh Ka - xỉ (tên Lào của anh Đồng) được nhân lên rất nhanh trong Bạn.

Anh là một cán bộ chính trị dạn dày kinh nghiệm, những ngày gần anh tôi học tập được ở anh một tinh thần chịu khó lắng nghe mọi người để rút ra những kết luận có tính lãnh đạo và chỉ đạo cao nhưng lại rất ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu. Hôm thảo luận về phương châm tác chiến chiến dịch, anh đúc kết thành 12 chữ "Chủ động, linh hoạt, bí mật, bất ngờ, đánh chắc, diệt gọn" để chỉ đạo các đơn vị và cơ quan xây dựng kế hoạch cho sát hợp tình hình. Hết sức chăm lo đến công tác Đảng, công tác chính trị, anh trăn trở cùng với cơ quan chính trị tìm mọi biện pháp để giáo dục cho bộ đội, dân công, thanh niên xung phong nhận thức rõ, sâu lời Bác: "Giúp Bạn là tự giúp mình, là ăn cơm nhà làm việc nhà trên đất Bạn", chăm lo việc thực hiện các chính sách dân tộc với Bạn trong quá trình làm nhiệm vụ. Đến đâu anh cũng nhắc phải làm sao để thực hiện được: "đi dân nhớ, ở dân thương".

Trong lãnh đạo chiến đấu, anh Đồng có những cách làm rất mới. Việc điều động Đại đội 126 Thanh Chương, 128 Con Cuông, điều động các đơn vị bộ đội địa phương khác ở Hà Tĩnh, Quảng Bình lên tham gia chiến đấu là sáng kiến của anh. Tôi nhớ mãi anh nhắc tôi khá nhiều lần: lâu dài là 1 tỉnh của Liên khu phải kết nghĩa để đỡ đần giúp đỡ một tỉnh của bạn. Quả là một tầm nhìn xa, rất xa.

Khi ở chiến trường Bắc bộ, đại Đoàn 316 nổ súng tấn công giải phóng Lai Châu, anh thống nhất với anh Khăm Tày sử dụng Trung đoàn 101 tiến công giải phóng Khăm-He ngay. Chiến thắng Khăm-He ngày 21/12/1953 là cơ sở để anh và anh Khăm Tày hạ quyết tâm giải phóng Kha-ma, Nhom-ma-rát, Khăm Muộn, Khi Na-va bổ sung mấy binh đoàn, anh mừng quá reo lên:

- Thế là hắn trúng kế ông Giáp rồi!

Và anh nhắc chúng tôi ngay: Sắp tới khó khăn đó! Quả đúng như vậy, địch lợi dụng tăng viện, lợi dụng khả năng đảm bảo hậu cần phản công quyết liệt. Trong khó khăn anh Đồng tỏ ra hết sức bình tĩnh. Tôi còn nhớ phương châm lúc đó anh nêu là: "Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, phát triển xuống phía Nam". Đây là một chủ trương hoàn toàn đúng. Sợ mất Thà-khẹc, Xa-vẳn-nạ-khệt, địch bố trí trên đường 9, 13 dày đặc trong khi đó A-tô-pơ, Lào Ngam, Bung-Kma thì chúng sơ hở. Nắm chắc tình hình, mặt trận đã tung Tiểu đoàn 463 và một số đơn vị bạn xuống phía Nam loại khỏi vòng chiến đấu hơn 3000 tên, giải phóng một vùng đất rộng lớn hơn 2000km2 nối thông 3 nước Việt - Miên - Lào. Chiến thắng ở A-tô-pơ là cơ sở để Bộ Tổng tư lệnh hạ quyết tâm cho Mặt trận Trung Lào phối hợp với chiến trường chính Bắc bộ tổng công kích giành toàn thắng ở Trung Lào, xây dựng thế liên hoàn chiến lược Đông Dương là một chiến trường, Nam - Bắc Việt Nam là một thế trận.

Chiến thắng Trung Lào là một cột mốc chiến công rực rỡ trong lịch sử liên minh chiến đấu Việt - Lào. Trong chiến thắng này, vai trò của Chính ủy Võ Thúc Đồng rất quan trọng. Lúc thuận lợi, lúc khó khăn anh đều là tấm gương, là điểm tựa, niềm tin cho chúng tôi. Gần anh trong suốt thời gian chiến dịch tôi đã nhận ra ở anh tư chất nổi trội của một cán bộ Đảng, một nhà chỉ huy quân sự, một người làm công tác đối ngoại khéo léo trong ứng xử, vững vàng trong nguyên tắc và một người đồng chí luôn chân tình, quý trọng anh em.

 

Chú thích

(*) Ghi theo lời kể của Thượng tá Trường Sinh, Nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 120 Bộ đội tình nguyện, Phó Ban cán sự chiến dịch Trung Lào, quê Đức Yên, Đức Thọ, Hà Tĩnh.

(1). Từ điển Vikipedia.org

Cùng với quá trình phát triển đô thị, nhu cầu đặt tên cho các đường, phố, công trình công cộng ở các đô thị cũng xuất hiện. Việc đặt tên cho các đường và phố, cũng như các công trình công cộng không chỉ phục vụ nhu cầu xác định địa điểm của cư dân và du khách, mà còn phục vụ đắc lực cho việc quản lý của chính quyền. Đặc biệt, tên đường, phố và các công trình công cộng còn hàm chứa trong đó những thông điệp sâu sắc và ấn tượng về lịch sử và văn hóa. Nghiên cứu tên đường, tên phố, vì vậy là một công việc khó khăn nhưng rất lý thú.

Lịch sử đô thị của thế giới cho thấy tên đường, phố ở các đô thị cổ xưa, cũng như địa danh chủ yếu hình thành do cách cách gọi của cư dân lâu ngày mà thành. Ở nước ta, trước khi thực dân Pháp áp đặt được sự quản lý trên cả nước, thì các đô thị của nước ta chủ yếu được hình thành bởi hai yếu tố: Thành (nơi đặt bộ máy cai trị, để thực hiện chức năng hành chính, thường cũng được bao bọc bởi thành quách) và Thị (nơi buôn bán, làm nghề thủ công, thực hiện chức năng kinh tế, thương mại). Khi đó tên đường, phố chủ yếu được đặt theo mặt hàng buôn bán, hoặc nghề thủ công thực hiện trên đường phố đó. "Hà Nội ba mươi sáu phố phường" là một ví dụ sinh động cho cách đặt tên này.

Sau khi xác lập được sự thống trị đối với nước ta, người Pháp cũng bắt đầu quan tâm đến phát triển đô thị, đồng thời từng bước áp dụng các hình thức và biện pháp quản lý đô thị ở Việt Nam như ở chính quốc, trong đó có việc đặt tên các đơn vị hành chính và tên đường, tên phố. Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, thì Sài Gòn – Gia Định là đô thị đầu tiên được đặt tên đường.

 "Sau khi thực dân Pháp xác lập được sự cai trị của mình ở Nam Kỳ, Sài Gòn (cùng với Chợ Lớn) trở thành không gian đô thị phát triển mạnh mẽ nhất. Ban đầu, nhà cầm quyền giao cho một sĩ quan có trình độ trong đạo quân viễn chinh lập bản đồ quy hoạch đầu tiên của thành phố. Quy hoạch ấy mang tên tác giả (Flynn) đặt cho những con phố đầu tiên được thiết kế bằng chữ số. Và ngày 1.2.1865, Thống đốc Nam kỳ khi đó ra nghị định đầu tiên quy định về cách đặt tên phố và cuối năm sau (12.1866) thì quy định cách đánh số nhà và những thủ tục liên quan để hoàn chỉnh một trong những vấn đề quan trọng nhất của đô thị hiện đại" (http://nhavantphcm.com.vn/hoat-dong-hoi/tu-lieu-van-hoc/lich-su-thang-tram-tren-tam-bien-ten-duong.html). Hai thập kỉ sau Hà Nội và Hải Phòng mới có quy định về đặt tên đường theo quy cách mới. Theo đó, bên cạnh các tên phố cũ được dân gian đặt theo mặt hàng, hay nghề thủ công, thì Hà Nội bắt đầu có các đường phố mang tên danh nhân (tất nhiên là danh nhân của nước Pháp và theo quan điểm của người Pháp).

Ngày 10/12/1927 Toàn quyền Đông Dương ra nghị định sáp nhập ba trung tâm đô thị Vinh, Trường Thi, Bến Thủy thành lập thành phố Vinh – Bến Thủy, với diện tích 20km2 và hai vạn dân nội thành. Thành phố Vinh cũng bắt đầu được quản lý theo mô hình đô thị hiện đại lúc đó. Tuy nhiên, theo một số bản đồ Vinh – Bến Thủy các năm 1925,1926 thì các đường phố ở Vinh khi đó vẫn chưa được ghi tên. Một vài con phố được dân gian gọi tên lâu ngày mà thành, như Phố Chợ, Phố Khách, Phố Ga…Một số trục giao thông đối ngoại của Vinh đi các nơi chỉ được chú thích là đường đi đâu đó (Đi Hà Nội, đi Huế, đi Trấn Ninh…). Thế nhưng, trong hồ sơ mật thám Pháp lập năm 1928, theo dõi Trần Đình Quán (một nghệ sỹ nhiếp ảnh đã để lại rất nhiều ảnh quý về Vinh, đồng thời là một người hoạt động trong Việt Nam cách mạng đảng của Phan Bội Châu), đã ghi địa chỉ của ông là số nhà 85 phố Marechal Foch. Như vậy, rất có thể việc đặt tên đường ở Vinh đã được thực hiện từ năm 1927, khi Vinh được sáp nhập từ ba trung tâm đô thị. Vấn đề này cần được nghiên cứu thêm. Ngày 18/1/1930 Toàn quyền Đông Dương Pasquier ban hành một nghị định bổ sung chia thành phố Vinh – Bến Thủy thành mười khu phố và đặt tên cho các khu phố từ Đệ Nhất đến Đệ Thập, theo chiều "thượng Cầu Rầm hạ Bến Thủy". Đến bản đồ Vinh – Bến Thủy năm 1936 thì tên đường phố ở Vinh đã được chú thích đầy đủ.

Theo chú thích của bản đồ Vinh – Bến Thủy năm 1936 thì đường phố ở Vinh thời kì này được chia làm bốn loại chính: Avenurnie (đại lộ); Boulevard (phố lớn); Rue (phố nhỏ). Các đường phố chủ yếu phân bố dày đặc ở khu vực xung quanh Thành Nghệ An và các khu vực thuộc các phường Cửa Nam, Đội Cung, Hồng Sơn, Quang Trung và Lê Mao hiện nay.

Theo đó, con đường lớn nhất, được coi là đại lộ duy nhất ở Vinh thời kì đó chính là đường Marechal Foch (Thống chế, hoặc nguyên soái Foch), nay là đại lộ Quang Trung. Foch (1851 – 1929) là một vị thống chế nổi tiếng, người có công lớn đối với nước Pháp trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trên đại lộ Marechal Foch có những công trình lớn như Ga Vinh (vị trí Nhà lưu niệm Nguyễn Thị Minh Khai và Trung tâm Điện ảnh hiện nay), Nhà băng Đông Dương (Vị trí Tòa nhà Dầu khí hiện nay), Đồn Cảnh sát, rạp chiếu phim Majetic (vị trí chợ Quang Trung hiện nay)…Khi đó Trường Quốc Học Vinh (tức trường Huỳnh Thúc Kháng ngày nay) cũng đóng trên đường này (khu vực Bến xe Vinh hiện nay). Cùng phía với trường Quốc học có Chùa Diệc, cách đó không xa là nhà số132 của cụ Hàn Bình, cha của hai liệt nữ Nguyễn Thị Minh Khai và Nguyễn Thị Minh Thái (khu vực khách sạn Kim Liên hiện nay). Hàng loạt các doanh nghiệp, hiệu buôn, rạp chiếu phim, hiệu vàng, hiệu sách, hiệu ảnh, hiệu cắt tóc, cửa hàng bách hóa…nổi tiếng của Vinh thời kì đó đều nằm trên đại lộ Marechal Foch.

Tương tự như đại lộ Marechal Foch, hầu hết các đường phố lớn (boulevard) hầu hết đều mang tên những danh nhân người Pháp. Thống chế Pháp Joffre, được coi là một vị anh hùng trong Thế chiến I được chọn đặt tên cho con đường dọc theo sông Vinh (hiện nay là đường Lê Hồng Sơn). Một bức ảnh tư liệu cho thấy, đây là một con đường sầm uất và đẹp vào bậc nhất Vinh thời kì đó. Phía nam đường là bến Cửa Tiền tấp nập thuyền bè; phía Bắc là Dinh Công sứ (vị trí Nhà thờ Cầu Rầm hiện nay), Bệnh viện Âu châu…Trên đường người đi chợ về rất đông đúc, náo nhiệt.

Một con đường lớn và dài nhất nhì ở Vinh khi đó cũng mang tên một Thống chế, một vị anh hùng của nước Pháp trong Thế chiến I, đó là con đường mang tên Destenay B Petain, nay là đường Phan Đình Phùng và đường Trần Phú. Dọc theo con đường này có Bệnh viện Vinh (dành cho người bản xứ, ở vị trí ngày nay là công ty Lâm đặc sản), Nhà thờ Cầu Rầm, các công ty lớn ở khu vực ngã tư Chợ Vinh, rồi Bưu điện (khu vực BigC hiện nay), đặc biệt cuối đường có câu lạc bộ thể thao, giải trí dành cho người tây, được xây giống như một chiếc tàu thủy, hình tròn (còn gọi là "Nhà Xéc") nằm ở vị trí hiện nay là trường THCS Hồng Sơn.

Toàn quyền Đông Dương (từ 1928 – 1934), Pasquier, người kí ban hành một nghị định bổ sung chia thành phố Vinh – Bến Thủy thành mười khu phố và đặt tên cho các khu phố từ Đệ Nhất đến Đệ Thập, cũng được vinh danh khi tên ông được đặt cho một đường phố lớn khác là Boulevard Pasquier, chính là đường Nguyễn Thị Minh Khai hiện nay. Trên đường này khi đó chỉ có một số sơ quan như Thủy lợi. Dịch vụ nông nghiệp và Dịch vụ Thú Y ở khu vực sau này là sân bóng C7 Quang Trung.

Trong số các nhà vua triều Nguyễn được vinh danh bằng cách đặt tên cho đường phố ở Vinh, chỉ có Hoàng đế Gia Long là được đặt cho một phố lớn (Boulevard), đó là Boulevard Gia Long, chính là đường Đặng Thái Thân và Ngư Hải hiện nay. Trên đường này, tại ngã tư giao với đại lộ Marechal Foch, hai bên trái phải là Nhà băng Đông Dương và Kho bạc. Tên các vị vua khác đều được đặt cho các phố nhỏ, như Rue Thiệu Trị (nay là Nguyễn Chích); Rue Minh Mạng (nay là Phan Chu Trinh); Rue Khải Định (nay là Nguyễn Thái Học)…

Ngoài những con đường mang tên nhân vật lịch sử của nước Pháp, hoặc các nhà vua triều Nguyễn, ở Vinh cũng có một vài con đường sử dụng tên gọi dân gian như Rue Rue des Pagodes (Phố Đền), với một bên là Võ Miếu (Đền Hồng Sơn), một bên là Đền Thiên Hậu (Hội quán Hoa Kiều), nay chính là đường Nguyễn Công Trứ. Rue Tribunal (Phố Tòa) có thể là đường Văn Cao hiện nay. Tương tự Rue du Marche (Phố Chợ) là con đường dẫn từ đường Destenay vào thẳng Chợ Vinh. Đường này hiện nay mang tên Lê Huân (Trước đây khi in cuốn Vinh Xưa, chúng tôi nhầm lẫn đây là đường Cao Thắng, nay tra cứu lại trên bản đồ thấy là đường Lê Huân. Xin đính chính lại cho đúng).

Một số tên đường khác, chúng tôi chưa xác minh được nó mang ý nghĩa gì, như Rue Auvegne, Rue Luce, Rue Sestie…

Để bạn đọc tham khảo, chúng tôi xin đăng kèm theo đây bảng đối chiếu một số tên đường cũ và mới ở Thành phố Vinh. Sau rất nhiều biến cố, nhất là các cuộc chiến tranh, có thể một số đường cũ, nhất là các đường phố nhỏ và ngắn nay đã không còn, hoặc thay đổi vị trí, vì vậy một số tên đường có thể chưa chính xác.

Rõ ràng nghiên cứu, tìm hiểu về tên đường xưa và nay là một công việc rất thú vị, nhưng hết sức khó khăn. Hy vọng những thông tin trong bài này là những gợi ý, gợi hứng cho những nghiên cứu tiếp tục của những ai quan tâm đến vấn đề rất có ý nghĩa về lịch sử và văn hóa này.

BẢNG ĐỐI CHIẾU TÊN ĐƯỜNG Ở TP VINH

TÊN CŨ

TÊN MỚI

GHI CHÚ

Avenue Marechal Foch

Quang Trung

 

Boulevard Marechal Joffre

Lê Hồng Sơn

 

Boulevard Destenay B Marechal Petain

Phan Đình Phùng – Trần Phú

 

Boulevard Pasquier

Nguyễn Thị Minh Khai

 

Boulevard de Bottini

Nguyễn Thị Minh Khai

 

Boulevard Gia Long

Đặng Thái Thân

 

Rue Auvegne

Lê Hồng Sơn

 

Rue Doumer

Ngô Đức Kế

 

 

 

 

Rue No4 – Rue Doudart de Laoree

Hồ Hán Thương

 

Rue Luce

Đề Thám ?

 

Rue Sestie

Hồ Xuân Hương

 

Rue des Pagodes

Nguyễn Công Trứ

 

Rue Duanntan (?)

Nguyễn Cảnh Chân

Đang nghi vấn

Rue Duyner (?)

Tạ Công Luyện

Đang nghi vấn

Rue Courcy

Đặng Thái Thân

 

   

 

Route Locale

Trần Hưng Đạo

 

 

Rue Jean Dupols

Đinh Công Tráng ?

 

   

 

Rue Sarryce

Cao Thắng

 

Rue du Marche

Lê Huân

 

(?)

Thái Phiên

 

Rue Ranian

Cao Xuân Huy

 

Rue Jujes Earty

Đào Tấn

 

Rue Thiệu Trị

Nguyễn Chích (?)

Đang nghi vấn

Rue Tribunal

Văn Cao (?)

Đang nghi vấn

Rue Minh Mạng

Phan Chu Trinh

 

Rue Khải Định

Nguyễn Thái Học

 

   

 

   

 

Rue Van Vollenhoven

Hồng Bàng

 

 

 

 

 

 

Tài liệu tham khảo:

- Nguyễn Quang Hồng: Thành phố Vinh, quá trình hình thành và phát triển (1804 – 1945), NXB Nghệ An 2003

- Dương Trung Quốc: Lịch sử thăng trầm tấm biển tên đường http://nhavantphcm.com.vn/hoat-dong-hoi/tu-lieu-van-hoc/lich-su-thang-tram-tren-tam-bien-ten-duong.html

- Phạm Xuân Cần: Vinh xưa, NXB Nghệ An, 2015

- Đảng ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Phường Quang Trung: Lịch sử phường Quang Trung, thành phố Vinh, 2007

- Địa đồ, sơ đồ, bản đồ Vinh- Bến Thủy các năm 1925, 1926, 1930, 1936… sưu tầm trên mạng Internet

 

CHÚ THÍCH ẢNH:

- Một góc Bản đồ Vinh - Bến Thủy năm 1936 (Phần ghi tên đường và địa danh bằng tiếng Việt là của tác giả)

- Phong cảnh Cửa Tiền, trên bờ là phố mang tên Thống chế Joffre (Boulevard Marechal Joffre), nay là đường Lê Hồng Phong

LTS: Mùa tuyển sinh cao đẳng, đại học năm 2017 vừa qua, thông tin điểm chuẩn trúng tuyển vào một số trường sư phạm thấp. Điều này đang khiến nhiều người lo lắng về chất lượng đội ngũ giáo viên trong tương lai, thậm chí có cái nhìn không mấy khả quan về chất lượng giáo dục nước nhà. Xung quanh vấn đề này, Chuyên san KHXH&NV Nghệ An đã có cuộc trò chuyện với TS. Nguyễn Hoài Nguyên - Chủ nhiệm khoa Sư phạm Ngữ văn, Trường Đại học Vinh.

 

*   *

*

Phóng viên: Thưa TS. Nguyễn Hoài Nguyên, thông tin điểm chuẩn trúng tuyển đại học năm 2017 vừa qua vào một số trường sư phạm thấp. Là một người có nhiều tâm huyết với sự nghiệp sư phạm, ông nghĩ thế nào về vấn đề này?

TS. Nguyễn Hoài Nguyên: Nhìn chung, trừ các trường khối an ninh và phòng cháy chữa cháy, Đại học Y Hà Nội có điểm chuẩn khá cao còn hầu hết các trường, trong đó có các trường sư phạm, điểm chuẩn tuyển sinh năm 2017 không cao. Một số trường sư phạm xác định điểm chuẩn ngang mức điểm sàn gây nên sự lo ngại cho xã hội; bởi lẽ, đầu vào thấp sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra. Tuy nhiên, bình tĩnh xem xét trong từng trường hợp cụ thể, chất lượng đầu vào của các trường sư phạm năm nay có thể khác nhau. Chẳng hạn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, điểm tuyển đầu vào của ngành sư phạm toán học bằng tiếng Anh lên tới 27,75 và điểm tuyển trung bình của tất cả các ngành là 21.38 điểm (7,1 điểm/ môn).

Tương tự, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh năm nay điểm chuẩn cao nhất là ngành sư phạm Toán với 26,25 điểm và ngành thấp nhất là sư phạm tiếng Nga với 17,75. Thế nhưng, điểm trúng tuyển trung bình cho 19 ngành của trường là 22,46 điểm - cao nhất trong tất cả các trường sư phạm.

Còn tại Trường Đại học Vinh, trong hơn 600 thí sinh nhập học ngành sư phạm chỉ có hai thí sinh đậu mức điểm sàn. Trong 50 sinh viên nhập học Khoa Sư phạm Ngữ văn, có 10 em đạt trên 24 điểm (theo tổ hợp ba môn thi); hầu hết các em đều có mức điểm trên 18 điểm.

Phóng viên: Tuy nhiên, bên cạnh những ngành có điểm chuẩn đầu vào cao thì vẫn còn một số ngành điểm chuẩn đầu vào lại khá thấp. Nguyên nhân là do đâu, thưa TS?

TS. Nguyễn Hoài Nguyên: Về nguyên nhân điểm chuẩn của một số trường sư phạm khá thấp, ngoài nguyên nhân chất lượng thí sinh hàng năm, theo tôi, có hai nguyên nhân chính: Một là, từ trước đến nay, tâm lý không thích ngành sư phạm được thể hiện qua cách lựa chọn truyền miệng: Chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm, nghĩa là sư phạm chỉ là lựa chọn bất đắc dĩ. Nhiều năm gần đây, thí sinh ít chọn ngành sư phạm vì ngành sư phạm thu nhập thấp, ít được thăng tiến trong sự nghiệp, ít có cơ hội để đổi đời; trong khi đó, lại phải chịu nhiều áp lực như sống phải mẫu mực, mô phạm, xử sự đúng mực, hành động phải theo những khuôn phép,…

Hai là, học xong đại học, sinh viên rất ít có cơ hội việc làm, không xin việc được do tình trạng dôi dư giáo viên; do trường lớp bị thu hẹp, hệ quả của công tác kế hoạch hoá gia đình. Số sinh viên học ngành sư phạm ra trường gần như thất nghiệp hoặc vất vả tìm các công việc trái ngành. Tâm trạng bi quan, chán nản là một thực tế hiện nay đối với sinh viên tốt nghiệp sư phạm.

Phóng viên: Một số ý kiến cho rằng, điểm đầu vào của ngành sư phạm nếu thấp như vậy sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ giáo viên trong tương lai. Tiến sĩ đánh giá ra sao về ý kiến này?

TS. Nguyễn Hoài Nguyên: Điểm đầu vào thấp, dĩ nhiên sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ giáo viên trong tương lai. Thế nhưng, các trường sư phạm vẫn có thể chủ động nâng cao chất lượng đào tạo của trường mình bằng các giải pháp chủ yếu sau đây:

 1/ Xây dựng điểm chuẩn tuyển sinh hệ sư phạm phù hợp với thực tế: chất lượng hàng năm của thí sinh, vùng miền,…;

2/ Có thể linh hoạt điều chỉnh chương trình đào tạo và tổ chức dạy học phù hợp với chất lượng tuyển sinh đầu vào;

3/ Chú ý phương pháp dạy học của giảng viên, đặc biệt dạy học phù hợp đối tượng;

4/ Có biện pháp quản lý người học hiệu quả, tìm mọi biện pháp để phát huy ý thức tự học của sinh viên.

Phóng viên: Với tư cách vừa là một giáo viên vừa là một nhà quản lý giáo dục, thầy có đề xuất gì về giải pháp quy hoạch mạng lưới các trường đại học sư phạm?

TS. Nguyễn Hoài Nguyên: Việc quy hoạch và phát triển hệ thống các trường sư phạm và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo là điều cần thiết. Muốn nâng cao chất lượng đào tạo sư phạm, Bộ Giáo dục và Đào tạo khẩn trương quy hoạch mạng lưới các trường có chức năng đào tạo sư phạm, chỉ giao cho các trường có truyền thống, có uy tín về chất lượng đào tạo giáo viên được đào tạo sư phạm; đó là các trường: Trường ĐHSP Thái Nguyên (Đại học Thái Nguyên), Trường ĐHSP Hà Nội, Trường Đại học Vinh, Trường ĐHSP Huế (Đại học Huế), Trường ĐHSP Đà Nẵng (Đại học Đà Nẵng), Trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, điều cần nhất vẫn là các trường sư phạm phải tự nhận ra cơ chế cạnh tranh hiện nay trong đào tạo mà tự nỗ lực nâng tầm chất lượng cũng như uy tín cho trường mình. Việc quy hoạch cũng cần có tầm nhìn và phải dựa trên nhu cầu xã hội.

Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ!

HỒNG BẮC (Thực hiện)

 

TS. Lê Thị Sao Chi

1. Mở đầu

Đầu thế kỷ 21, Nguyễn Ngọc Tư là một trong những nhà văn trẻ nhanh chóng tạo nên sự chú ý của độc giả và giới nghiên cứu, phê bình văn học ngay từ tập truyện ngắn đầu tay Ngọn đèn không tắt (Giải nhất cuộc thi Văn học tuổi 20 lần thứ II, năm 2000). Liên tục sau đó, Nguyễn Ngọc Tư cho ra đời hàng loạt truyện ngắn với một phong cách riêng, trầm tĩnh, nhẹ nhàng nhưng vẫn mang diện mạo, hơi thở tân tiến của thời đại. Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư ám ảnh người đọc không chỉ bởi chất "Nam bộ" đặc sệt trong ngôn từ, tính cách nhân vật hay phong cảnh thiên nhiên mà còn là những dư âm, trăn trở không dứt về cuộc sống và con người. Đoạn văn kết thúc tác phẩm chính là một sáng tạo của nhà văn để tạo nên hiệu quả nghệ thuật đặc biệt đó.

2. Nội dung

Khảo sát 33 truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trong 3 tập: Ngọn đèn không tắt, Giao thừaCánh đồng bất tận, chúng tôi nhận thấy đoạn văn kết thúc có những sự lặp lại mang tính hệ thống, tạo nên một dấu ấn đặc thù trong phong cách nghệ thuật của tác giả.

2.1. Về phương diện cấu tạo

Trong 33 truyện ngắn được khảo sát có 28 truyện ngắn kết thúc bằng một đoạn văn bình thường (có từ 02 câu trở lên) và 05 truyện ngắn có cấu tạo đặc biệt (chỉ là một câu hoặc một cụm từ, một từ). Như vậy, xét về số lượng câu, Nguyễn Ngọc Tư vẫn chú trọng vào việc tạo ra những đoạn văn "truyền thống", chuẩn mực. Là bộ phận khép lại văn bản, đoạn văn kết thúc có thể được nhà văn xây dựng theo nhiều mô hình cấu tạo khác nhau: diễn dịch, quy nạp, song hành, móc xích, tổng - phân - hợp… Điểm đặc biệt là trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, mặc dù đoạn văn kết thúc có đầy đủ các kiểu cấu tạo này nhưng kiểu cấu tạo song hành và móc xích vẫn xuất hiện phổ biến nhất.

2.1.1. Đoạn văn kết thúc có cấu tạo song hành

Đặc điểm nổi bật của đoạn văn song hành là các câu có sứ mệnh ngang nhau trong việc biểu đạt nội dung. Mỗi câu có thể diễn đạt một ý nghĩa riêng nhưng đều tập trung làm sáng rõ chủ đề chung của đoạn. Đối với thể loại truyện ngắn, ưu thế của kiểu cấu tạo này là khả năng liệt kê liên tục các sự kiện, hiện tượng trong quan hệ bình đẳng, ngang bằng. Với 08/28 truyện ngắn có đoạn văn kết thúc cấu tạo theo kiểu song hành, Nguyễn Ngọc Tư thể hiện khá rõ xu hướng ẩn giấu cảm xúc và thái độ của tác giả, chỉ tập trung tường thuật các sự kiện và diễn tiến của sự kiện.

- Nghe đâu, hôm đó, nhiều người rơi nước mắt, vì vậy mà vụ trộm trâu không được lên ti vi, sống giữa cái rẻo đất nhân hậu nầy nhiều khi cũng hơi phiền.

Nghe đâu, hôm đó đài truyền hình có đưa tin nhưng chỉ thấy ông già nhép miệng một cách tuyệt vọng. Như đã nói, nhà đài người ta chớ có phải chợ trời đâu, mà có thể thoải mái gọi, "Cải ơi!" (Cải ơi ).                                    

Sử dụng cấu tạo song hành cho đoạn văn kết, Nguyễn Ngọc Tư cũng tạo ra một "áp lực" đáng kể cho người đọc trong việc cảm nhận tác phẩm. Sự dồn nén liên tiếp các sự kiện buộc người đọc phải tư duy, suy nghĩ về câu chuyện đang diễn ra để có thể đi đến những đánh giá, nhận thức đúng đắn về số phận nhân vật và chủ đề tác phẩm.

2.1.2. Đoạn văn kết thúc có cấu tạo móc xích

Trong trường hợp đoạn kết cần huy động những chi tiết có liên quan để đi đến hồi sáng tỏ, Nguyễn Ngọc Tư thường sử dụng đoạn văn theo kiểu móc xích. Khác với đoạn văn song hành, đoạn văn móc xích đòi hỏi các câu văn luôn phải có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Nội dung của câu trước tạo tiền đề cho sự xuất hiện của câu sau và nội dung của câu sau là sự giải thích, triển khai, làm sáng rõ thêm nội dung của câu trước. Kiểu đoạn văn kết này ở truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư chiếm số lượng lớn nhất: 15/28 đoạn. Với cấu trúc móc xích, Nguyễn Ngọc Tư không chỉ tường thuật liên tiếp các sự kiện mà còn chỉ ra được tính xâu chuỗi logic giữa các sự kiện ấy. Do vậy, việc miêu tả hiện thực được mở rộng đáng kể, gia tăng lượng thông tin về sự kiện và nhân vật.

- "… Có lần, ghé quán cà phê chú Tư Bụng, tôi quen với ông Chín Vũ. Ông Chín người gầy nhom, nhỏ thó, nhưng tốt bụng, xởi lởi. Ông nói với tôi rằng bỏ cả đời đi theo đoàn hát cũng không uổng, bởi vì đời ông thực có ý nghĩa. Lần đầu tiên ông đóng được vai chính, người ta hỏi vai gì, ông bảo vai con của đào Hồng, phút lâm chung của người đàn bà suốt đời ông yêu thương, ông gọi: "Má ơi!" và thấy bà mỉm cười. Chỉ vậy thôi à. Ừ chỉ vậy thôi. Nhưng tụi trẻ bây thì biết gì chuyện tình cảm của người lớn…".

(Cuối mùa nhan sắc)

Nội dung các câu trong ví dụ trên "móc nối", phụ thuộc lẫn nhau tạo cho đoạn văn một cấu trúc nội tại hết sức bền chặt. Đoạn kết móc xích có khả năng xoáy sâu vào kết cục của truyện, đồng thời mở ra những tiến triển mới. Điều này giải thích vì sao, truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư thường có độ nén lớn và tính liên tục của sự kiện trong đoạn văn kết đem đến khả năng tạo nên những bất ngờ, kịch tính ở phần cuối truyện.

2.2. Về phương diện ngôn ngữ

Đoạn văn kết trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư có dung lượng không lớn, thường chỉ từ 3 - 5 câu. Tuy nhiên, ngôn ngữ trong đoạn văn kết lại hết sức đa dạng từ các kiểu câu cho đến các phương tiện từ ngữ được sử dụng.

2.2.1. Các phương tiện từ ngữ trong đoạn văn kết thúc

Mỗi phương tiện từ ngữ trong đoạn văn kết đều có một vai trò nhất định trong việc đem lại giá trị nghệ thuật cho tác phẩm. Trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, hai loại từ ngữ góp phần quan trọng nhất, tạo nên sự đặc trưng, riêng biệt cho đoạn văn kết thúc là từ láy và từ địa phương Nam bộ.

2.2.1.1. Từ láy

Từ láy là loại từ có chức năng miêu tả, gợi hình ảnh và cảm xúc rất nổi bật. Trong  33 truyện ngắn được khảo sát, Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng lớp từ này ở đoạn văn kết thúc của 22 truyện. Bên cạnh khả năng khắc họa đặc điểm, tính chất của sự việc, hiện tượng và con người một cách biểu cảm, số lượt dùng từ láy trong đoạn văn kết thúc còn là một cơ sở quan trọng cho thấy dụng ý nghệ thuật rõ ràng của Nguyễn Ngọc Tư: đời sống hiện thực vẫn tiếp tục tồn tại, vận hành với những biểu hiện sinh động của chúng.

- Cũng may mà còn giọt nước mắt buồn tủi của cô Thư vì bộ phim mắc dịch đó ngăn trở, còn cái bóng cô ngồi trước cửa để nhớ nhau. Còn cặp mắt bần thần của ông Tư Cự khi chú Sa một mình qua ngõ, còn những ký ức ngọt ngào về tình cảm giữa chú với bà con… Chú Sa đã bắt đầu thấy niềm vui cháy le lói trở lại (Chuyện vui điện ảnh).

Nguyễn Ngọc Tư chủ yếu sử dụng dạng láy phụ âm đầu và láy vần. So với dạng láy hoàn toàn, hai dạng láy này biểu thị đặc điểm, tính chất của đối tượng ở mức độ cao hơn, mạnh hơn. Do đó, dù chỉ xuất hiện một vài từ, từ láy cũng dễ dàng làm nổi bật đối tượng được miêu tả. Với đặc trưng luyến láy về ngữ âm, từ láy đã tạo nên một âm hưởng dư ba, một ngữ điệu có điểm nhấn rõ ràng cho các đoạn văn kết thúc. Hiệu quả nghệ thuật này khiến cho hình ảnh về sự vật, hiện tượng và con người ở phần cuối truyện luôn để lại dấu ấn sâu sắc trong nhận thức và tình cảm của người đọc.

2.2.1.2. Từ ngữ địa phương Nam bộ

Có thể thấy, trong các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, chất Nam bộ được thể hiện "đặc sệt" từ chủ đề, nhân vật, cảnh quan cho đến các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng. Sự xuất hiện của các từ ngữ thuộc phương ngữ Nam bộ trong đoạn văn kết thúc cũng là một cơ sở để khẳng định, làm sáng rõ thêm đặc trưng phong cách ấy của nhà văn.

Trước hết, đó là những từ ngữ gọi tên các địa danh, sản vật Nam bộ như: Mút Cà Tha, Rạch Giồng, Xóm Rạch, Kinh Cụt, Mũi So Le, cua Bún Bò, xuồng, ghe, cà bắp, tôm tích kho quẹt, cây bình bát, trâm bầu

Thứ hai, người đọc cũng dễ dàng bắt gặp trong đoạn văn kết hàng loạt các từ ngữ, cách diễn đạt "rặt ròng" chất Nam bộ như: hôn mậy, y thinh, nghen, ui chao, đi ca, rịt chân, khúc cây, chừng nào lận, nói để làm gì, ta, giả đò, giả bộ, thấy mồ, ba má

Thứ ba, tên riêng các nhân vật cũng giữ nguyên cách gọi của người dân Nam bộ: ông Mười, chú Tư Bụng, ông Chín Vũ, đào Hồng, ông Sáu Đèo,

Phương ngữ Nam bộ là lời ăn tiếng nói hàng ngày của những người dân nơi đây. Hiệu quả nghệ thuật mà các từ ngữ này mang lại cho truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư rất đặc biệt. Sử dụng phương ngữ Nam bộ trong đoạn văn kết, Nguyễn Ngọc Tư đem lại cho người đọc sự hình dung cụ thể, chính xác, cảm giác thân thuộc, gắn bó với cảnh vật, cuộc sống và con người bản địa. Đồng thời, sự hiện diện của phương ngữ cũng tạo nên tính chân thực, sinh động trong cách kể, giọng kể của tác giả. Do vậy, tuy đoạn văn kết thúc là đoạn văn tháo gỡ các mâu thuẫn, kịch tính cho toàn bộ câu chuyện nhưng giọng điệu trần thuật của Nguyễn Ngọc Tư lại hết sức tự nhiên, mềm mại. Người đọc có cảm giác, kết cục chuỗi sự kiện và số phận nhân vật diễn ra khách quan, theo đúng quy luật như nó vốn có trong đời sống.

2.2.2. Các kiểu câu trong đoạn văn kết thúc

Trên tổng thể, Nguyễn Ngọc Tư sử dụng một cách linh hoạt, phối hợp hài hòa nhiều kiểu, loại câu khác nhau trong đoạn văn kết thúc. Xét về mặt cấu tạo, câu đơn, câu ghép và câu đặc biệt đều xuất hiện; xét về mục đích nói, chúng tôi cũng thấy sự hiện diện của câu kể, câu hỏi, câu cảm thán. Dưới đây, chúng tôi sẽ đi vào phân tích những kiểu câu có hiệu quả biểu đạt cao nhất đối với tác phẩm.

2.2.2.1. Đoạn văn kết là một câu đặc biệt

Đoạn văn kết là một câu đặc biệt xuất hiện không nhiều. Do câu đặc biệt luôn thiếu vắng một hoặc một số bộ phận cơ bản nên nó không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào đoạn văn trước đó. Sự không hoàn chỉnh về mặt hình thức buộc nó phải liên kết chặt với đơn vị trước để đảm bảo tính rõ ràng về nội dung ngữ nghĩa.

- Tới bây giờ người ta cũng không hiểu ra làm sao hết. Có người đoán con Miên chính là bé Hai thiệt, có người nói nó không phải là bé Hai nhưng những gì thằng kia nói ra làm cho nó tủi thân. Bởi vì tất cả những điều đó nó không có. Nhưng cuối cùng thì cái thằng đó đúng là nhìn ra người quen không hay chỉ là chọc ghẹo cho vui. Bà chua giọng định một ngày nào đó hỏi cho kỹ, nhưng một sáng ra, người ta ơ hơ biết con Miên dọn đi rồi.

  Thì thôi!

(Cỏ xanh)

Nỗi xót xa, sự hoài niệm, niềm khát khao của nhân vật dồn nén lại chỉ trong một cụm từ: "Thì thôi!" và đó là điểm nhấn cuối cùng của tác phẩm. Thực ra, cụm từ ở đoạn văn trong ví dụ trên có thể dồn lại thành một đoạn nhưng như thế, giá trị biểu cảm và sức diễn tả của nó sẽ phần nào giảm bớt. Như vậy, đoạn kết trong hình thức một câu đặc biệt là sự tách ngắt bất thường, tạo cho đoạn văn kết thúc một nhịp điệu giàu ấn tượng.

2.2.2.2. Đoạn văn kết là một câu đơn bình thường

Câu đơn bình thường là đơn vị có khả năng thông báo một nội dung tương đối đầy đủ. Khi được dùng trong văn bản, có khi nó đứng tách dòng để trở thành một đoạn văn. Câu đơn tự nó làm thành đoạn văn kết thúc truyện ngắn thường mang nội dung tường thuật. Trong nhiều trường hợp, đoạn văn kết thúc truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư là những câu đơn hết sức ngắn gọn.

- Nhưng mà chờ tới chừng nào lận?

 Ai mà biết.

Mùa thu gió bấc hiu hiu lại về.

(Hiu hiu gió bấc)

Đoạn văn kết thúc truyện ngắn cũng có thể là câu đơn mở rộng thành phần hoặc là câu đơn sử dụng dấu chấm lửng.

- Đó là nỗ lực cuối cùng má tôi làm để chấm dứt cái cảnh ba nằm bên má mà hồn vẫn hướng về những dòng sông miên man chảy.

(Dòng nhớ)

Có thể thấy, trong đoạn văn kết thúc, câu đơn vẫn được sử dụng phổ biến nhất. Nó đưa đến cho người đọc khả năng tiếp nhận thông tin nhanh và chính xác. Sự xuất hiện nhiều câu đơn trong đoạn kết là một trong những dấu hiệu cho thấy sự lựa chọn của Nguyễn Ngọc Tư về một kiểu diễn đạt dễ hiểu, giản dị. Sự góp mặt của nhiều câu đơn bình thường trong đoạn còn làm cho mạch văn trong sáng, rõ ràng. Chúng cũng chứng tỏ sự rạch ròi trong tư duy nghệ thuật của nhà văn trước nhu cầu phản ánh một hiện thực khách quan phức tạp. Sự phong phú về hình thức câu đơn đem lại những hiệu quả diễn đạt khác nhau trong truyện ngắn, thể hiện sự vận dụng câu văn một cách thuần thục của Nguyễn Ngọc Tư.

2.2.2.3. Đoạn văn kết là một câu hỏi

Ngoài kiểu kết bằng một câu đơn mang nội dung tường thuật, 08/33 đoạn kết truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư còn có hình thức một câu hỏi.

- "Xuồng từ từ chạy tới đập nhỏ đầu xóm Kinh Cụt. Đám trâm bầu đứng im lặng, xơ rơ. Huệ bất ngờ xuống máy chạy chậm, chiếc xuồng khật khừng. Nó ngơ ngẩn ngó lên bờ, trong lòng chao chát một nỗi thèm muốn. Nó muốn chạy vô xóm, tới nhà Thi, gặp anh và nói cho anh hay rằng nó hết thương Thi rồi, nó quên anh, quên thiệt.

    Nhưng nói để làm gì, ta?"     

(Huệ lấy chồng)

Đoạn kết có hình thức một câu hỏi mang đậm màu sắc tu từ. Kiểu câu hỏi ấy không cần sự trả lời mà hướng tới mục đích nhấn mạnh, khắc sâu hoặc hé lộ một thái độ nhất định. Trong những trường hợp cụ thể, nó gợi ở người ta nhiều liên tưởng và những suy tư về cuộc đời. Tuỳ thuộc vào nội dung từng tác phẩm, đoạn kết đặc biệt bằng câu hỏi là một loại dấu hiệu quan trọng giúp người đọc xác định rõ hơn tư tưởng, thái độ của người kể chuyện hoặc tác giả. Chủ đề tư tưởng của truyện vì vậy cũng được bộc lộ rõ hơn.

Bên cạnh nội dung tường minh, những đoạn văn kết như thế luôn mang một giá trị biểu cảm nhất định, hàm ẩn những dụng ý nghệ thuật của tác giả.

2.3. Về phương diện nội dung

Nội dung phản ánh của đoạn văn kết thúc truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư bao quát nhiều phạm vi hiện thực khác nhau, phụ thuộc vào chủ đề của tác phẩm. Trên cái nhìn khái quát, đoạn văn kết thúc truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư tập trung vào 3 nội dung lớn: miêu tả hành động của nhân vật, tường thuật sự kiện, hiện tượng và miêu tả tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật.

2.3.1. Đoạn văn kết thúc miêu tả hành động của nhân vật  

Hành động nhân vật là yếu tố thúc đẩy sự vận hành cốt truyện. Trong truyện ngắn, nhân vật thực hiện hàng loạt hành động nối tiếp nhau, từ đó, phạm vi hiện thực đời sống dần dần được tái hiện một cách đầy đủ, trọn vẹn. Trong tác phẩm của mình, Nguyễn  Ngọc Tư cũng chọn hành động nhân vật làm chi tiết kết thúc hệ thống sự kiện. Những hành động, việc làm này thường là sự tiếp nối hoặc là kết quả của quá trình nhận thức, suy nghĩ trước đó.

-  Quí im lặng, dừng xe hẳn. Anh thấy cần nắm lấy bàn tay lạnh giá của Đậm, rất cần. Khi ấy giao thừa đã đi qua… (Giao thừa).

Đoạn văn trên vừa miêu tả hành động hiện tại (dừng xe) vừa cho biết định hướng hành động tương lai của nhân vật (nắm lấy bàn tay của bạn gái). Như vậy, nội dung đoạn văn kết cho người đọc những tiên liệu chắc chắn về kết cục cuối cùng của câu chuyện. Số phận, cuộc sống của nhân vật được thông báo rõ ràng. Đây là kiểu kết thúc truyền thống và với 05 lần xuất hiện, nó không phải là kiểu kết thúc được ưa thích trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.

2.3.2. Đoạn văn kết thúc tường thuật sự kiện, hiện tượng

Dõi theo diễn tiến của truyện, người đọc luôn có tâm lí chờ đợi hồi kết cục. Tuy nhiên, 14/33 truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư chỉ đưa ra các sự kiện, hiện tượng chứ không chỉ dẫn cho người đọc kết cục câu chuyện sẽ diễn ra như thế nào.

- Từ đấy, ông già Sáu Đèo chưa một lần trở lại. Từ đấy, giữa biển người mênh mông, Phi gặp biết bao nhiêu gương mặt, cùng cười đùa với họ, hát cho họ nghe, cùng chạm ly uống đến say… Nhưng không ai nhắc Phi cắt tóc đi, đàn ông đàn ang ai để tóc dài.

Biển người thì mênh mông vậy… (Biển người mênh mông).

Sự kiện, hiện tượng được miêu tả trong đoạn kết trên có sự kế thừa nhưng cũng có sự vận động chứ không chấm dứt hoàn toàn. Phi vẫn hy vọng, vẫn chờ đợi, dù mong manh, về sự xuất hiện trở lại của ông Sáu Đèo. Những đoạn kết có nội dung này vừa thực hiện chức năng khép lại hệ thống sự kiện vừa giúp người đọc xác định được xu hướng phát triển của số phận nhân vật trong tương lai. Đây là một đặc điểm cho thấy, Nguyễn Ngọc Tư có chủ đích kéo dài cuộc sống nhân vật ngay cả khi câu chuyện đã đi đến kết cục cuối cùng.

2.3.3. Đoạn văn kết thúc miêu tả tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật

Trong các truyện ngắn được khảo sát, loại đoạn kết có nội dung phản ánh tâm trạng, suy nghĩ, thái độ của nhân vật xuất hiện khá phổ biến (14/33 truyện). Nó có thể là một khúc đoạn trong dòng suy tư triền miên, có thể là những suy nghĩ xuất phát từ sự kiện cốt lõi trong tác phẩm. Song dẫu xuất hiện trong tình huống nào thì đoạn kết này cũng có mối quan hệ chặt chẽ với phần nội dung trước đó. Trong các đoạn văn kết, Nguyễn Ngọc Tư tỏ ra đặc biệt bén nhạy, tinh tế khi miêu tả tâm trạng, suy nghĩ, thái độ của nhân vật.

- Trong một thoáng, ông thấy mình chùng chình, vớ được khúc cây bình bát, ông chống vào đất. Bên ngoài cái đất Mút Cà Tha dường như đã có sự thay đổi lớn. Thí dụ như con cá, lá rau, hạt gạo mến thương của người cù lao không ràng buộc được một con người (như đã từng rịt chân ông lại) thì cái bóng nhỏ nhoi của đứa con gái đang tuyệt vọng đứng ngóng chờ dưới bến không có ý nghĩa gì sao? Tuyệt không đáng gì à?

(Thương quá rau răm)

Sự thất vọng, đau đớn của nhân vật dường như không thể chấm dứt, không thể giải đáp trong những câu hỏi cuối đoạn văn. Người đọc có cảm giác tâm trạng của nhân vật cứ kéo dài miên man trong không gian và thời gian, tạo nên sự trăn trở khôn nguôi về con người và cuộc sống.

Một số truyện ngắn, Nguyễn Ngọc Tư tập trung thể hiện ước mơ, khát vọng, sự chờ đợi của nhân vật. Hướng về tương lai, nội dung đoạn văn kết cho phép người ta liên tưởng đến những diễn biến mới, nằm ngoài phạm vi hiện thực được miêu tả trong tác phẩm.

- Đứa bé đó, nhất định nó sẽ đặt tên là Thương, là Nhớ hay Dịu, Xuyến, Hường… Đứa bé không cha nhưng chắc chắn được đến trường, sẽ tươi tỉnh và vui vẻ sống đến hết đời, vì được mẹ dạy, là trẻ con, đôi khi nên tha thứ lỗi lầm của người lớn.

(Cánh đồng bất tận)

Điểm đáng chú ý là trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, các đoạn kết nói về ước mơ, khát vọng của nhân vật đều là những điều tốt đẹp, nhân văn, đem lại cho con người niềm tin yêu, lạc quan vào cuộc sống. Ngay cả khi hệ thống sự kiện trong tác phẩm đã chấm dứt, nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư vẫn đợi chờ, hy vọng. Dù ở mức độ, tính chất nào, mong manh hay mạnh mẽ, hiện thực hay vô vọng, những đoạn kết chứa nội dung này luôn chứa đựng sự tin tưởng của nhân vật.

    3. Kết luận

Có thể nói, đoạn văn kết thúc là một điểm nhấn quan trọng trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. Với sự mẫn cảm, tinh tế riêng của nữ giới, Nguyễn Ngọc Tư đã bắt nhịp, nhận cảm được những suy nghĩ của nhân vật, đặc điểm của phạm vi đời sống được miêu tả, khiến cả nội dung và ngôn ngữ đoạn kết đều được biểu đạt hết sức tự nhiên, nhuần nhị. Bên cạnh chức năng khép lại tác phẩm, đoạn văn kết thúc còn có khả năng mở rộng, kéo dài đời sống hiện thực, tạo ra những dư ba cảm xúc và liên tưởng sâu sắc cho người đọc. Do vậy, qua cách tổ chức và xây dựng đoạn văn kết thúc, Nguyễn Ngọc Tư đã bộc lộ những dấu ấn quan trọng về phong cách tác giả và phẩm chất hiện đại của tác phẩm.

 

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Ngọc Tư, Ngọn đèn không tắt, Nxb Trẻ, 2015.

2. Nguyễn Ngọc Tư, Giao thừa, Nxb Trẻ, 2015.

3. Nguyễn Ngọc Tư, Cánh đồng bất tận, Nxb Trẻ, 2015.

Ôi xứ Nghệ, xứ Nghệ

Đất cổ nước non nhà

Đã trăm, nghìn thế hệ

Vẫn ưa nhút, ưa cà.

(Huy Cận)

Ăn hay văn hóa ẩm thực là một thành tố quan trọng trong nền văn hóa của một cộng đồng. Ăn, trước hết là thể hiện "cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên để sinh tồn" (Trần Ngọc Thêm, 2005). Sau nữa, ăn thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người, thể hiện tính cách của con người. Trong nền văn hóa Việt Nam, ăn là thành tố quan trọng. Có lẽ vì vậy mà trong ngôn ngữ Việt, ăn luôn được đặt một ví trí gần như cao nhất và có mặt trong mọi ngôn từ thể hiện đời sống sinh hoạt của con người. Ăn, lúc xuất hiện là động từ, lúc xuất hiện là tính từ trong ngôn ngữ. Ăn còn được các thế hệ lấy làm tiêu chí để đánh giá một con người. Tính cách của một con người được thể hiện qua cách họ ăn. Trong bối cảnh một nền văn hóa chung đó, văn hóa ăn ở các vùng, miền, các cộng đồng lại có nhiều nét khác nhau. Văn hóa ẩm thực ở miền Bắc khác miền Trung và miền Nam, ăn ở xứ Nghệ cũng khác ăn ở xứ Huế… Nó tạo ra một bức tranh đa dạng về văn hóa ẩm thực của một đất nước phong phú về thiên nhiên như Việt Nam. Sự khác nhau trong văn hóa ăn ở các vùng, miền, xứ sở cũng là một sự lý giải về những đặc trưng của văn hóa các vùng miền khác nhau.

Xứ Nghệ là một vùng văn hóa rộng lớn, có địa giới hành chính thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh (trước đây là tỉnh Nghệ Tĩnh). Là vùng đất thuộc châu Hoan thời Bắc thuộc. Về mặt văn hóa, xứ Nghệ không bao gồm vùng phía Tây của hai tỉnh với các cộng đồng dân cư khác nhau. Trong bài viết này, tác giả phân tích một số cảm nhận về văn hóa ăn của người Nghệ An trong bối cảnh chung của xứ Nghệ.

Ăn trong văn hóa xứ Nghệ thể hiện một tự nhiên đa dạng nhưng đầy khó khăn, một đời sống kinh tế - xã hội nghèo nàn và khắc khổ, đồng thời cũng thể hiện tính cách con người xứ Nghệ: ngay thẳng, cương trực, chân thành, dũng cảm và rất hiếu học. Có thể nói, qua văn hóa ăn, chúng ta có thể hiểu thêm về người Nghệ, về xứ Nghệ.

1. Ăn thể hiện một thiên nhiên đa dạng nhưng đầy rẫy những khó khăn, thách thức

Là tỉnh có diện tích lớn nhất nước, Nghệ An được thiên nhiên khá ưu đãi có thể gọi là "rừng vàng biển bạc". Nhưng gần như tiềm năng đó để đưa vào phát triển kinh tế lại đang gặp nhiều khó khăn. Và nói đúng thì Nghệ An thiên nhiên khá đa dạng nhưng cũng phức tạp và khó khai thác. Sự phong phú về tự nhiên cũng như sự phong phú về ẩm thực được thể hiện nhiều trong thơ ca.

"… Ôi! Quê mẹ bao thăng trầm chìm nổi

Cả cuộc đời mẹ lặn lội nuôi con

Bán từng mớ khế, trầu non

Cam bù mẹ hái thuở còn đang xanh

Quýt ngon chen lá trên cành

Mẹ cười để bán nên đành phải thôi"

(Nhớ mẹ - Phùng Bá Thanh)

Điều kiện tự nhiên chia cắt và kéo rộng từ Tây sang Đông khiến cho đời sống của con người nơi đây cũng gặp nhiều khó khăn, cách trở. Một phần khó khăn đó đã thể hiện vào trong văn hóa ẩm thực của người xứ Nghệ. Do điều kiện giao thông khó khăn, địa lý chia cắt nên người Nghệ có thói quen ăn mặn. Sống xa đường, xa chợ thì ăn mặn là một cách để dành thức ăn. Người Nghệ thường nói: "chặt to, kho mặn" để chỉ về thói quen ăn mặn của mình. Không có điều kiện đi chợ hàng ngày nên mỗi khi có thức ăn, người ta "chặt to kho mặn" để ăn được nhiều và để được lâu. Tôi vẫn nhớ ngày bé, mỗi khi bắt được hay ai mang biếu cho con cá thì mẹ tôi kho thật mặn để ăn dành. Có khi ăn đến dưới đáy nồi đã xuất hiện dòi, mang đi đổ mà vẫn thấy tiếc.

Đối diện với thiên nhiên khắc nghiệt, bên cạnh ăn mặn, người Nghệ (và khu vực miền Trung) thường ăn rất cay. Ớt trở thành một gia vị quan trọng trong bữa ăn của người Nghệ. Không biết có mối quan hệ gì giữa việc ăn cay nhiều và sự nóng tính của người Nghệ không nhưng rõ ràng so với người các xứ khác, người Nghệ nóng tính hơn và thiếu kiên nhẫn trong những việc cần sự tỉ mỉ mặc dù ở xứ Nghệ vẫn có nhiều nghề thủ công tỉ mỉ hay việc học hành chăm chỉ của bao thế hệ.

2. Ăn thể hiện một đời sống kinh tế - xã hội nghèo khó, khắc khổ

Ai về ăn nhút Thanh Chương

Dừng chân nếm thử vị tương Nam Đàn

Đó là câu ca dao lưu truyền trong dân gian của xứ Nghệ thể hiện một số đặc sản của người Nghệ. Trên phương diện kinh tế - xã hội, văn hóa ăn của người Nghệ thể hiện một nền kinh tế kém phát triển, một đời sống kinh tế khó khăn, khắc khổ. Người Nghệ gần như ăn được mọi thứ có thể ăn được tồn tại trên địa bàn sinh sống của họ. Một thói quen trong chế biến thức ăn của người Nghệ là muối. Đó là cách giải quyết nhu cầu để được lâu. Chưa có nơi nào trên đất nước này lại có nhiều món muối đến vậy. Từ mít muối, dưa muối, cà muối, củ chuối muối, xu hào muối, bắp cải muối… gần như mọi thứ người Nghệ đều có thể muối để ăn được lâu dài. Muối thức ăn thể hiện sự tài tình, khéo léo của người Nghệ trong việc chế biến thức ăn, đồng thời cũng thể hiện sự nghèo khó, khắc khổ và cách ứng xử với cái nghèo đói đó của con người.

Nếu cần ví dụ thì có thể lấy nhút làm món ăn điển hình để minh họa. Ở Nghệ An có câu "Trai Cát Ngạn, gái Đô Lương/ Nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn, cà Nghi Lộc", trong đó, nhút Thanh Chương thể hiện cho sự nghèo đói, khắc khổ. Nhút là một món ăn phổ biến của người dân ở huyện Thanh Chương, Nghệ An, được làm từ quả mít. Trừ cái phần vỏ được loại bỏ đi thì trái mít được người dân nơi đây đem muối thành nhút để ăn. Từ quả mít non mới ra đến cái xơ mít chín đều có thể muối được. Mít mỗi năm có một mùa quả còn nhút thì phải ăn quanh năm. Vậy nên người Nghệ muối nhút cũng rất mặn. Hình ảnh vại nhút ở góc nhà gắn liền với hầu hết các gia đình người Nghệ ở Thanh Chương. Với vại nhút đó, những ngày mùa bận rộn hay những mùa mưa lũ không thể đi chợ thì trong gia đình vẫn có thức ăn. Gần như cuộc sống của người dân ở đây gắn liền với "nhút mặn, cà chua". Chẳng vì thế mà đến cả Nguyễn Minh Châu cũng thốt lên trong văn thơ:

… Đã bao đời truyền miệng "nhút Thanh Chương "

Bởi mặn nhút nên tình đời thêm đậm 

Người quê tôi có đi xa ngàn dặm

Trong ngọt ngào không quên nhút quê nhà...

(Quê tôi - Nguyễn Minh Châu)

Trong điều kiện cuộc sống khó khăn, người Nghệ lại càng ý thức hơn về nhân phẩm của mình. Qua đặc tính của các món ăn, người Nghệ còn thêu dệt nên những câu thơ thật thú vị:

"Đừng vội nghe nhút khinh khi

Trước tuy đắng chát, sau thì bùi thơm"

Hay: "Đừng khinh dưa, nhút, tương, cà

Tuy không lịch sự, nhưng mà sạch trong"

Bên cạnh ăn mặn, muối để ăn được nhiều, được lâu, người Nghệ còn có thói quen ăn nước. Có thể kể một vài món như thịt gà nấu canh, thịt chó nấu ngọt… Thật khó để giải thích những triết lý trong việc ăn nước này, tuy nhiên có một sự thật là vì quá ít thức ăn nên phải nấu nước để nhiều người được ăn. Khi bạn bè tôi từ ngoài Bắc vào nhà, ăn món canh gà thì chúng chê nấu không ngon và bảo quê tôi không biết ăn ngon, cái gì cũng nấu canh. Nhưng phải hiểu rằng, trong một gia đình hơn chục miệng ăn, một con gà nhỏ làm sao có thể rang muối hay quay mà mọi người vẫn được ăn. Chỉ có một cách là nấu một nồi canh gà thì ai cũng có thể được ăn. Đó là một triết lý đơn giản nhất và thực tế nhất.

3. Ăn thể hiện sự chân thành, ngay thẳng, cương trực và trung thành của người xứ Nghệ

Người Việt coi trọng ăn. Nhưng càng coi trọng hơn nữa là cách ăn. Ăn thể hiện tính cách của một con người. Nói về sự ứng xử với nhau, người Việt gọi là "ăn ở". Khi sống với nhau chân tình, tử tế, thì được coi là "ăn ở như bát nước đầy". Ăn ở không chân thành, không biết điều thì gọi là "Ăn cháo đá bát". Khi dạy con, người Việt dạy cái đầu tiên và quan trọng nhất là ăn: "Học ăn, học nói, học gói, học mở"; "Ăn coi nồi, ngồi coi hướng".

Trong văn hóa ăn của người Nghệ thể hiện được đặc trưng riêng của người Nghệ. Người Nghệ khác với người Bắc Hà ăn rất tinh tế, thanh lịch, cũng khác người xứ Huế ăn sang trọng, quý phái. Người Nghệ thường "chặt to, khó mặn", "ăn to, nói lớn". Nó tương ứng như con người xứ Nghệ: thẳng thắn, cương trực. Người ngoài nhìn vào cứ tưởng người Nghệ thô kệch, nóng tính, hay nói to tiếng như chửi mắng nhau. Nhưng chơi thân với người Nghệ rồi lại thấy khác. Trong cái bề ngoài thiếu tinh tế đó là cả một tấm lòng chân thành, thẳng thẳn, sẵn sàng hy sinh vì bạn bè, vì nghĩa lớn. Người Nghệ cũng như những món ăn xứ Nghệ, ăn một lần thì thấy chát chúa, cay đắng, nhưng ăn nhiều lần quen rồi lại thấy bùi, thấy ngọt, thấy say. Chẳng vậy mà nhà thơ Huy Cận khi viết cho những người bạn Nghệ Tĩnh đã không khỏi khen cả người lẫn đặc sản nơi đây: "Ai ơi, cà xứ Nghệ/ Càng mặn lại càng giòn/ Nước chè xanh xứ Nghệ/ Càng chát lại càng ngon/ Khoai lang vàng xứ Nghệ/ Càng nhai kĩ càng bùi/ Cam Xã Đoài xứ Nghệ/ Càng chín lại càng tươi" (Gửi bạn người Nghệ Tĩnh - Huy Cận).

Bản thân người Nghệ cũng ý thức được về chính mình không phải là những con người khéo léo, khéo ăn, khéo nói, ý thức về quê mình không phải là nơi có nhiều món ăn ngon. Nhưng càng ý thức hơn nữa về tình người, về sự chân thành với bằng hữu, với quê hương và sự trân trọng bản thân.

Ngái ngôi chi mà anh nỏ về.

Hay là vì anh chê quê em nghèo đói.

Hay anh chê em vụng về câu nói,

Đất Thanh Chương nhút mặn chua cà,

Chắc có lẽ rứa mà anh chê,

Chắc có lẽ rứa mà anh nỏ về...

(Thanh Chương mời bạn về thăm - Phan Thanh Chương).

Sự chân thành với bạn bè, ý thức về quê hương tạo ra một tâm thức về quê hương rất rõ ràng. Đã là người Nghệ, dù thành đạt hay không thì vẫn luôn hướng đến quê nhà. Đói nghèo là một cái gì đó đáng xấu hổ, nhưng khi nó trở thành một nét văn hóa truyền thống quê hương thì lại là một niềm tự hào của người Nghệ. Một con người đẹp nhất xứ Nghệ như Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn gìn giữ được chính những điều kỳ diệu này. Chẳng vì lẽ đó mà khi Bác mất, chính người cấp dưỡng hàng ngày nấu cơm cho Bác ăn cũng khóc lên rằng:

Biết Bác không quên miếng cà giòn

Quên cơm độn sắn, cá kho tương

Con từng nghỉ phép về quê Bác

Học muối tương cà, kho cá ngon.

Cà pháo hôm nay mặn muối rồi

Cá vàng màu nghệ, bếp đương sôi,

Bỗng tin Bác mất, trời mưa lớn

Đôi đũa con cầm bỗng tụt rơi!…

(Khóc Bác)

4. Ăn thể hiện tinh thần hiếu học của người Nghệ

Trong một hội thảo khoa học về tiềm năng phát triển của Nghệ An, một vị lãnh đạo tỉnh đã phát biểu rằng: "Nghệ An ta, trên rừng có gỗ, dưới biển đầy cá. Tiềm năng phát triển của chúng ta là cá (và) gỗ". Câu chuyện này nghe như một câu chuyện vui để kể với nhau nghe về tiềm năng và con người xứ Nghệ. Nhưng xét ở một góc độ nào đó thì điều đó cũng có lý đối với người Nghệ. Huyền thoại con cá gỗ là một biểu tượng cho tinh thần hiếu học của người Nghệ, và trên một phương diện nào đó, truyền thống hiếu học là một nguồn lực phát triển của xứ Nghệ.

Huyền thoại con cá gỗ được coi là một huyền thoại về tinh thần hiếu học đẹp nhất của dân tộc. Huyền thoại con cá gỗ thể hiện được hết cái hồn của văn hóa xứ Nghệ: Quê hương nghèo đói, con người ham học, biết cách vượt qua khó khăn để vươn lên học tập và đậu đạt, ở một góc độ khác, đó là tính sĩ diện. Nhưng vượt lên hết, hình ảnh con cá gỗ và ông đồ Nghệ là một biểu tượng của đất học, đó là một hình tượng đẹp đẽ.

Câu chuyện con cá gỗ được kể lại rất giản đơn: Có anh học trò Nghệ nghèo khó nhưng ham học. Anh học chăm chỉ và đến hội thi thì anh lên đường ra Kinh ứng thí. Tuy nhiên nhà nghèo, không có tiền đi đường để ăn uống nên anh đẽo lấy một con cá gỗ giống như cá thật. Mỗi lần đến quán nghỉ chân, anh vào quán xin nước mắm bỏ vào bát có con cá gỗ rồi ăn như đang ăn cơm với cá. Sau đó lại đi rửa sạch cho vào túi. Sau này anh thi đỗ cao và con cá gỗ trở thành một biểu tượng về sự ham học.

Viết về huyền thoại con cá gỗ, nhà thơ Hoàng Trần Cương đã làm cả một bài thơ dài hàng trăm câu mà vẫn chưa hết ý. Trong đó có đoạn: "Xứ Nghệ ơi xứ Nghệ/ Hiện hình cùng miền Trung/ Đã thế và mãi thế/ Giữa tháng năm điệp trùng/ Bây giờ con cá gỗ/ Thong dong giữa đại ngàn/ Nghe nói rồi hoá thạch/ Lặn vào dòng sông Lam…" (Trầm tích - Hoàng Trần Cương).

Ngày nay không còn anh học trò nào "ăn" cá gỗ nữa, nhưng hình tượng con cá gỗ trở thành một hình tượng văn hóa của xứ Nghệ. Truyền thống hiếu học cũng từ đó mà thêm được vun đắp qua các thế hệ nối tiếp nhau.

5. Ăn là một phương diện thể hiện tính cách con người xứ Nghệ, một phương diện biểu hiện của văn hóa xứ Nghệ

Ăn là văn hóa. Văn hóa ăn là một thành tố văn hóa quan trọng, không chỉ vì nó đảm bảo sự sinh tồn cho con người mà vì nó còn thể hiện tính cách con người nơi đó, thể hiện nét văn hóa của chính vùng đó. Văn hóa ăn thổi hồn vào nhiều hoạt động văn hóa khác của một cộng đồng. Thông qua văn hóa ăn, người ta tìm hiểu được cách cộng đồng đó ứng xử với thiên nhiên, với xã hội con người, với tương lai, với các giá trị của cuộc sống. Và cũng thông qua văn hóa ăn, người ta đánh giá về con người, về hệ giá trị của cộng đồng người đó. Đó là vai trò nhận thức trong văn hóa ăn.

Ăn trong văn hóa xứ Nghệ thể hiện được cái hồn người xứ Nghệ, thể hiện được cái hồn của văn hóa xứ Nghệ. Trong một điều kiện tự nhiên khó khăn, kinh tế kém phát triển nhưng người Nghệ đã khéo xoay xở để thu vén cho cuộc sống của mình qua việc chế biến các món ăn phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội. Ăn của người Nghệ cũng thể hiện được tinh thần hiếu học qua huyền thoại con cá gỗ, đó là một tinh thần bất diệt trong văn hóa Nghệ. Ăn cũng thể hiện được tính cách chân thành, ngay thẳng của người Nghệ, dù "chặt to, kho mặn", "ăn to, nói lớn", dễ gây nên hiểu nhầm, khó được lòng người, nhưng người Nghệ lại chinh phục bạn bè bằng chính sự thẳng thắn, trung thực và chân tình của mình. Đó chính là cái ngọt trong sự chát đắng, cái bùi trong sự chu

PGS.TS Nguyễn Công Lý

 

Tóm tắt: Trên cơ sở giới thiệu tôn chỉ mục đích của Nam Phong tạp chí, và giới thiệu vài nét về dịch giả Đinh Văn Chấp đã dịch thơ đời Lý và Trần đăng trên tờ Tạp chí này, bài viết nêu lên vai trò, đóng góp của Nam Phong tạp chí trong việc bảo tồn những giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc nói chung, di sản thơ văn chữ Hán thời Lý - Trần nói riêng cùng ảnh hưởng của tạp chí đối với nền Quốc văn mới.

Từ khóa: Nam Phong tạp chí, Dịch giả Đinh Văn Chấp, Bảo tồn di sản thơ văn Hán Nôm, Thời đại Lý - Trần.

1. Từ những năm cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, đất nước ta đang chuyển mình bước sang thời kỳ hiện đại hóa, trong đó có hiện đại hóa văn học. Nếu trong vài thập niên cuối thế kỷ XIX, ở Sài Gòn - Gia Định đã xuất bản những tờ báo Quốc ngữ, mà tờ Gia Định báo do cụ Pétrus Trương Vĩnh Ký làm Chủ bút là tờ báo Quốc ngữ đầu tiên ở nước ta (số đầu ra ngày 15 tháng 4 năm 1865), thì cùng với báo chí Quốc ngữ, nền văn học viết bằng tiếng Việt chữ Quốc ngữ từ đó được hình thành. Để sang ba mươi năm đầu thế kỷ XX, quá trình hiện đại hóa văn học này đã hình thành với diện mạo đầy đủ của nó. Bấy giờ, chính báo chí Quốc ngữ là "bà đỡ" tích cực cho văn học, giúp văn học hiện đại phát triển mà công đầu phải kể đến Đông Dương tạp chí (do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút) và đặc biệt là tờ Nam Phong tạp chí.

2. Nam Phong tạp chí là một tờ nguyệt san xuất bản tại Hà Nội, số đầu tiên ra ngày 01 tháng 7 năm 1917, số cuối cùng in vào tháng 12 năm 1934. Nam Phong tạp chí tồn tại được 17 năm, ra được 210 số thì đình bản. Tạp chí do Phạm Quỳnh làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. Đây là một trong vài tạp chí Việt Nam đầu tiên thực hiện đúng thể thức, bài bản, quy cách và có giá trị về tri thức, tư tưởng, học thuật. Ban đầu trụ sở tòa soạn đặt tại số 01 phố Hàng Trống, Hà Nội (cũng là nhà của Phạm Quỳnh), đến năm 1926 thì chuyển về số 05 phố Hàng Da, Hà Nội.

Theo chủ trương ban đầu, các bài viết đăng trên mỗi số Tạp chí có hai dạng văn tự: chữ Quốc ngữ và chữ Hán, về sau có thêm Pháp văn. Đây là một cách dung hòa của người Việt trong quá trình hội nhập văn hóa Á - Âu lúc bấy giờ, như lời Chủ bút Phạm Quỳnh đã kính cáo bạn đọc tại số đầu tiên ra ngày 01 tháng 7 năm 1917; phần chữ Quốc ngữ do Phạm Quỳnh làm Chủ biên và phần chữ Hán do Nguyễn Bá Trác làm Chủ biên.

Việc cho ra đời Nam Phong tạp chí là chủ trương của chính phủ Liên bang Đông Dương do quan Toàn quyền Albert Sarraut đề xướng với mục tiêu đẩy mạnh vai trò văn hóa và chính trị của nhà nước bảo hộ. Kinh phí của tạp chí là do chính phủ trang trải. Cùng đứng tên trên tờ Tạp chí là Louis Marty, Giám đốc Sở Mật thám Đông Dương lúc bấy giờ.

Về tôn chỉ, như tên gọi của Tạp chí, Nam Phong là ngọn gió nước Nam, ngọn gió Nam này đang thổi nhằm thức tỉnh người dân Nam. Ngay từ số đầu Tạp chí đã nêu rõ: 

- Diễn đạt truyền bá tư tưởng, học thuật đông tây kim cổ;

- Luyện Quốc văn trở nên hoàn thiện, bồi dưỡng Việt ngữ phong phú, uyển chuyển, sáng sủa và gãy gọn;

- Lấy đó làm nền tảng dân tộc rồi phát triển thành tinh thần dân tộc.

Dưới sự chỉ đạo khéo léo của Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Phạm Quỳnh, các tôn chỉ đó được thể hiện sinh động trên các chuyên mục của Tạp chí như: Lý luận, Văn hóa bình luận, Khoa học bình luận, Triết học bình luận, Văn uyển, Tạp văn, Thời đàm, Tiểu thuyết,...

Về mục đích, Tạp chí đã hướng đến mấy mục đích chính sau:

- Dùng chữ Quốc ngữ để diễn tả, giải thích các tư tưởng, học thuật Âu - Á để mang những kiến thức này đến cho người không biết tiếng Pháp hoặc chữ Hán (chữ Nho).

- Truyền bá chữ Quốc ngữ, nâng cao trình độ chữ Quốc ngữ thành một nền ngôn ngữ so sánh được với tiếng Pháp và chữ Hán.

Để thực hiện mục đích trên, Ban biên tập Tạp chí Nam Phong đã cho đăng tải các bài viết thuộc các lĩnh vực như:

+ Khảo cứu về triết học, khoa học, văn chương, lịch sử của Á Đông và Âu Tây;

+ Những sáng tác đương đại: truyện ngắn, du ký, tùy bút…;

+ Dịch các tác phẩm triết học, văn học từ tiếng Pháp hoặc chữ Hán sang Quốc ngữ;

+ Sưu tầm và dịch thuật, phiên âm thơ văn cổ Hán Nôm của nước nhà sang Quốc ngữ.

+ In lại các sách cũ của cha ông, như bộ Lịch triều hiến chương loại chí chẳng hạn.

Đương thời, vị Chủ bút Nam Phong tạp chí bằng uy tín chính trị và học thuật của mình, đã mời được nhiều cây bút là học giả, nhà thơ, nhà văn nổi tiếng cộng tác với Tạp chí như Đông Hồ Lâm Tấn Phát, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Bá Trác, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Phạm Duy Tốn, Lệ Thần Trần Trọng Kim, Tương Phố, Tản Đà, Dương Bá Trạc, Dương Quảng Hàm, Nam Trân, Đạm Phương... Nhờ thế mà Tạp chí có tiếng vang và được nhiều thế hệ trí thức tìm đọc vì chất lượng và giá trị khoa học của các bài được công bố trên Tạp chí này.

3. Như trên có nêu, bên cạnh đăng các bài viết bằng chữ Quốc ngữ thì Tạp chí còn có phần chữ Hán, đó là những bài khảo cứu về triết học, văn chương, lịch sử của Á Đông; những bài dịch các tác phẩm triết học, văn học từ chữ Hán sang Quốc ngữ; những bài sưu tầm dịch thuật, phiên âm thơ văn Hán Nôm của cha ông sang chữ Quốc ngữ. Trong 17 năm tồn tại với 210 số Tạp chí dày dặn về dung lượng số trang khổ lớn, Tạp chí đã giới thiệu rất nhiều di sản văn hóa Hán Nôm quý giá thuộc nhiều chuyên ngành của khoa học xã hội nhân văn. Ở đây, bài viết này chỉ dừng lại trình bày một lĩnh vực rất nhỏ là di sản thơ thời Lý - Trần được cụ Hoàng giáp Đinh Văn Chấp dịch sang Quốc ngữ đăng trên Tạp chí này.

Dịch giả Đinh Văn Chấp (1893-?) người xã Kim Khê, tổng Kim Nguyên, huyện Chân Lộc (Nghi Lộc), phủ Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (nay là xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng danh gia vọng tộc. Cao tổ, nội tổ, thân phụ, bản thân ông và sau này con của ông đều đỗ Tiến sĩ.

Bản thân cụ Đinh Văn Chấp thi đỗ Cử nhân khoa Nhâm Tý (1912), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Quý Sửu (1913), niên hiệu Duy Tân thứ 7, khi mới 21 tuổi, từng giữ chức Đốc học(1)  tỉnh Quảng Nam, sau đó từ quan về nhà dạy học, viết sách, viết báo, dịch thuật.

Tằng tổ (ông sơ) là Khê Đình hầu Đinh Hồng Phiên làm quan cuối triều Lê trung hưng. Cao tổ (ông cố) là Tiến sĩ Đinh Văn Phác làm quan đầu triều Nguyễn. Nội tổ là danh y Đinh Văn Kế.

Thân phụ là Đinh Văn Chất (1843-1887), đỗ Tiến sĩ khoa Ất Hợi (1875) dưới triều Tự Đức, lúc 32 tuổi, làm quan Tri phủ ở Nghĩa Hưng, được triều đình gia phong Triều liệt Đại phu Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, khi Pháp đánh vào cửa Hội - Nghệ An, cụ Đinh Văn Chất bỏ chức quan để lãnh đạo nhân dân kháng Pháp, cụ hy sinh tháng 8 năm 1887 (bị thực dân Pháp chặt đầu bêu xác). Cũng vì việc cụ Nghè Đinh Văn Chất lãnh đạo khởi nghĩa chống Pháp mà họ hàng con cháu của cụ có một số bị giặc sát hại, một số bị cầm tù; còn triều đình nhà Nguyễn thì hạch tội xóa tên cụ Nghè Đinh Văn Chất và cụ Nghè Đinh Văn Phác trong bia Tiến sĩ tại Văn miếu Huế.

Người con cả của cụ Hoàng giáp Đinh Văn Chấp là Đinh Văn Nam (1918-2012), tức Hòa thượng Thích Minh Châu, du học tại Ấn Độ từ năm 1958, Giáo sư Tiến sĩ, trước 1975 là Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh (Sài Gòn); sau 1975 là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Hiệu trưởng Trường Cao cấp Phật học Việt Nam (sau là Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam), Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự, Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ủy viên Thường vụ Quốc hội, Phó chủ tịch Hội Phật giáo châu Á vì hòa bình, Chủ tịch Trung tâm ABCP Việt Nam. Hòa thượng còn là một học giả và là một dịch giả với nhiều công trình nghiên cứu, phiên dịch kinh Tạng Pàli có giá trị học thuật cao.

Truy tìm gia phả như trên để khẳng định dòng tộc họ Đinh ở xứ Nghệ là một dòng tộc có truyền thống giáo dục khoa bảng, một dòng họ danh gia vọng tộc, mà các thế hệ ông cha con cháu của gia đình cụ Hoàng giáp là minh chứng điển hình.

4. Hoàng giáp Đinh Văn Chấp đã dịch thơ đời Lý và đời Trần đăng trên Nam Phong tạp chí trong 3 số liền: 114, 115, 116 của tập XX, tháng 2, tháng 3, tháng 4 năm 1927, với 123 đầu bài, trong đó có một số đầu bài có 2 kỳ, nên số lượng thơ dịch lên đến 126 bài, của 43 tác giả. Trong đó, được tuyển dịch 01 bài có 19 tác giả; được tuyển dịch 02 bài có 09 tác giả; được tuyển dịch 03 bài có 05 tác giả; được tuyển dịch 04 bài có 03 tác giả (Trần Thánh Tông, Nguyễn Sưởng, Nguyễn Phi Khanh); được tuyển dịch 06 bài có 02 tác giả (Trần Nhân Tông, Trần Minh Tông); được tuyển dịch 07 bài có 02 tác giả (Chu An, Huyền Quang); được tuyển dịch 08 bài có 01 tác giả (Trần Nguyên Đán); được tuyển dịch 12 bài có 02 tác giả (Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh).

Với việc cụ Hoàng giáp từ năm 1927 đã dịch 126 bài của 123 đầu đề thơ chữ Hán thời Lý - Trần, có thể thấy lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam, thơ thời Lý - Trần được chuyển ngữ sang tiếng Việt chữ Quốc ngữ, mà công đầu là của cụ Đinh Văn Chấp. Việc dịch này vài chục năm sau mới được tiếp nối bởi Ngô Tất Tố trong hai công trình Văn học đời Lý (1942) và Văn học đời Trần (1942); bởi Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử (1942) và Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (1941), Việt Nam thi văn trích giảng (1943). Các bài thơ được cụ Hoàng giáp dịch như sau (tên tác giả và nhan đề bài thơ Việt dịch được ghi dưới đây là của cụ Hoàng giáp, người viết bài này chỉ bổ sung thêm phiên âm nguyên tác nhan đề bài kèm sau tên tác giả, dùng chữ nghiêng):

Số 114 dịch 55 đầu bài, từ trang 146 đến trang 157 của Tạp chí.

- Thơ đời Lý: Khen Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Thái Tôn - Tán Tỳ-ni-đa-lưu-chi), Tặng Vạn Hạnh (Nhân Tôn - Tặng Vạn Hạnh), Viếng sư Quảng Trí (Đoàn Văn Khâm - Vãn Quảng Trí thiền sư), Bảo đệ tử (không ghi tác giả(2) - Thị đệ tử), Cảm hoài (Không Lộ - Ngôn hoài), Cáo tật bảo chúng (Mãn Giác, Cáo tật thị chúng), Thị tịch (không ghi tác giả(3) - Thị tịch).

- Thơ đời Trần: Vua Thái Tôn gởi cho sư Đức Sơn am Thanh Phong (Thái Tôn - Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn), Chơi phủ An Bang (không ghi tác giả - Hạnh An Bang phủ), Cảnh ngày hè (không ghi tác giả - Hạ cảnh), Viếng quan Thái sư Trần Trọng Trưng (không ghi tác giả(4) - Vãn Trần Trọng Trưng), Ngày xuân yết Chiêu Lăng (Nhân Tôn - Xuân nhật yết Chiêu Lăng), Cuối xuân (Nhân Tôn - Xuân vãn), Trăng (Nhân Tôn - Nguyệt), Cảnh chiều phủ Thiên Trường (Nhân Tôn - Thiên Trường vãn vọng), Lên núi Bảo Đài (Nhân Tôn - Đăng Bảo Đài sơn), Phủ Thiên Trường (Nhân Tôn - Thiên Trường phủ), Ngự chơi hành cung Thiên Trường (Nhân Tôn(5) - Hạnh Thiên Trường hành cung), Am Vân Tiêu (Anh Tông - Vân Tiêu am), Viếng sư Pháp Loa đề ở chùa Thanh Mai (Anh Tông - Vãn Pháp Loa tôn giả đề Thanh Mai tự), Đánh Chiêm Thành về đỗ thuyền ở cửa Phúc Thành (Anh Tông - Chinh Chiêm Thành hoàn chu bạc Phúc Thành cảng), Mưa đêm (Minh Tôn - Dạ vũ), Chùa Cam Lộ (Minh Tôn - Cam Lộ tự), Tháng 11 qua bạc Vịnh Sơn (Minh Tôn - Thập nhất nguyệt quá bạc Vịnh Sơn hiểu trú), Tiễn sứ Tàu Tản Chỉ Ngõa, Triệu Tử Kỳ(6) (Minh Tôn - Tống Bắc sứ Tản Chỉ Ngõa, Triệu Tử Kỳ), Sông Bạch Đằng (Minh Tôn - Bạch Đằng giang), Nhà ẩn (Minh Tôn - Nguyệt Áng sơn hàn đường), Tiễn sứ Tàu Ngưu Lượng (Nghệ Tôn - Tống Bắc sứ Ngưu Lượng), Lánh ra ở trấn Gia Hưng gởi cho em là Cung Tuyên vương Kỉnh (Nghệ Tôn - Thời cư Gia Hưng trấn ký đệ Cung Tuyên vương Kỉnh), Đề nhà thờ quan Tư đồ Trần Nguyên Đán (Nghệ Tôn - Đề Tư đồ Trần Nguyên Đán từ đường), Theo vua về kinh sư (Trần Quang Khải - Tùng giá hoàn kinh sư), Vườn Phúc Hưng (Trần Quang Khải - Phúc Hưng viên), Bến Lưu Gia (Trần Quang Khải - Lưu Gia độ), Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão - Thuật hoài), Ở bên sông trông cảnh thu (Bùi Tôn Quán - Giang thôn thu vọng), Cảnh chiều (Mạc Đĩnh Chi - Vãn cảnh), Đi buổi sớm (Mạc Đĩnh Chi - Tảo hành), Qua huyện Bành Trạch bên Tàu (Bùi Mộ - Quá Bành Trạch), Chùa Gia Lâm (Trần Quang Triều - Gia Lâm tự), Uống rượu một mình khi trong thuyền (Trần Quang Triều - Chu trung độc chước), Đi nơi sông (Nguyễn Sưởng - Giang hành), Tiễn Đỗ Ẩn Cơ Tử qua Chí Linh (Nguyễn Sưởng - Tiễn Đỗ Ẩn Cơ Tử quá Chí Linh), Chùa Vạn Phúc núi Tiên Du (Nguyễn Sưởng - Tiên Du sơn Vạn Phúc tự), Đi thuyền (Nguyễn Sưởng - Chu trung tức sự), Thay người tạ vua ban cho tranh rồng đen (Nguyễn Ức - Đại tạ ngự tứ mặc họa long), Đề tranh hạc vừa đi vừa ngoảnh lại (Nguyễn Ức - Đề "Cố bộ hạc đồ"), Họa nguyên vận (Nguyễn Ức - Khách xá họa hữu nhân vận), Qua đồi Việt Tỉnh (Đỗ Tử Vi - Quá Việt Tỉnh cương), Đề chướng [trướng - NCL chú] vẽ thủy mặc (Phạm Tôn Mại - Nhàn cư lục ngôn đề thủy mặc trướng tử tiểu cảnh), Họa bài đề nhà người ẩn sĩ (Phạm Tôn Mại - Đề ẩn giả sở cư họa vận), Chiều xuân vãn cảnh (Nguyễn Tử Thành - Xuân giao vãn hành), Lưu giản cho Phạm Kính Khê (Nguyễn Tử Thành - Giản Kính Khê Phạm Tông Mại), Sang sứ Tàu mới qua Lư Giang (Nguyễn Trung Ngạn - Bắc sứ sơ phát Lư Giang), Sông Tương cảm hoài (Nguyễn Trung Ngạn - Tương Giang thu hoài).          

Số 115 dịch 30 đầu bài, từ trang 238 đến trang 244 của Tạp chí (tiếp tục dịch thơ đời Trần): Tới trạm Ngân Giang châu Vân (Nguyễn Trung Ngạn - Vân châu Ngân Giang dịch), Lên lầu thành Châu Dương (Nguyễn Trung Ngạn - Đăng Dương Châu thành lâu), Hứng muốn về (Nguyễn Trung Ngạn - Quy hứng), Động Vũ Doanh (Nguyễn Trung Ngạn - Vũ Doanh động), Mới ở trại Vĩnh Bình ra (Nguyễn Trung Ngạn - Vĩnh Bình sơ phát trại), Hồ Nam (Nguyễn Trung Ngạn - Hồ Nam), Chơi chùa Nhạc Lộc (Nguyễn Trung Ngạn - Du Nhạc Lộc tự), Lầu Nhạc Dương (Nguyễn Trung Ngạn - Nhạc Dương lâu), Đỗ thuyền bến Thần Đầu ban hôm (Nguyễn Trung Ngạn - Thần Đầu cảng khẩu dạ bạc), Gởi cho bạn đồng chí (Nguyễn Trung Ngạn - Lăng Thành xuân vãn vấn chư đồng chí), Chơi động Phù Thạch (Phạm Ngộ - Du Phù Thạch nham tiên tổ tu hành chi địa chu trung tác), Đêm thu (Phạm Ngộ - Thu dạ tức sự), Đề tranh tắm ngựa của Đường Minh Hoàng (Chu Đường Anh - Đề Đường Minh Hoàng dục mã đồ), Vịnh hoa cúc (dịch 2 bài) (Trương Hán Siêu - Cúc hoa bách vịnh), Đề núi Dục Thúy (Trương Hán Siêu - Dục Thúy sơn), Núi Linh Sơn (Chu An - Linh Sơn tạp hứng), Sông Thanh Lương (Chu An - Thanh Lương giang), Qua dặng [rặng-NCL chú] thông núi Tiên Du ban chiều (Chu An - Nguyệt tịch bộ Tiên Du sơn tùng kính), Giang đình tác (Chu An - Giang đình tác), Ao ba ba (Chu An - Ba trì), Đầu mùa hè (Chu An - Sơ hạ), Mồng một Tết (Chu An - Xuân đán), Tiễn ông Phạm Sư Mạnh đi sứ Tàu (Lê Quát - Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc sứ), Tả tình (2 bài) (Lê Quát - Thư hoài), Qua sông Tiêu Tương (Phạm Sư Mạnh - Quá Tiêu Tương), Chùa Đông Sơn (Phạm Sư Mạnh - Đông Sơn tự hồ thượng lâu), Đề chùa Cam Lộ (Phạm Sư Mạnh - Đề Cam Lộ tự), Ngồi thuyền tức sự (Phạm Sư Mạnh - Chu trung tức sự), Qua mồ Nguyễn Sĩ Cố (Phạm Sư Mạnh - Quá An Phủ Nguyễn Sĩ Cố phần), Đề núi Dục Thúy (Phạm Sư Mạnh - Đăng Dục Thúy sơn lưu đề).    

Số 116 dịch 38 đầu bài, từ trang 340 đến trang 347 của Tạp chí (tiếp tục dịch thơ đời Trần, dịch thơ đời Hồ và Hậu Trần): Động Chi Lăng (Phạm Sư Mạnh - Chi Lăng động), Họa thơ quan sứ nhà Minh (Phạm Sư Mạnh - Họa đại Minh sứ Dư Quỹ), Họa thơ sứ Tàu đề trạm Nhĩ Hà (Phạm Sư Mạnh - Họa đại Minh sứ đề Nhĩ Hà dịch), Tức sự khi hộ giá ở Thiên Trường (Phạm Sư Mạnh - Hỗ giá Thiên Trường thư sự), Ngày xuân hứng chế (Phạm Sư Mạnh - Xuân nhật ứng chế), Đề núi Thiên Kỳ (Phạm Sư Mạnh - Đăng Thiên Kỳ sơn lưu đề), Đề quán Huyền Thiên (Trần Nguyên Đán - Đề Huyền Thiên quán), Tháng sáu năm Nhâm Dần (Trần Nguyên Đán - Nhâm Dần lục nguyệt tác), Đi thuyền về đêm (Trần Nguyên Đán - Dạ quy chu trung tác), Chẳng ngủ (Trần Nguyên Đán - Bất mỵ), Mừng ông Chu Văn An (Trần Nguyên Đán - Hạ Tiều Ẩn Chu tiên sinh bái Quốc Tử Giám Tư nghiệp), Họa bài ứng chế cung Trùng Quang phủ Thiên Trường (Trần Nguyên Đán - Phụng canh Thái thượng hoàng ngự chế đề Trùng Quang cung), Cảm tình về mùa thu (Trần Nguyên Đán - Thu nhật), Chơi núi (Trần Nguyên Đán - Sơn trung khiển hứng), Phụng Bắc sứ (Phạm Nhân Khanh - Phụng Bắc sứ cung ngộ Hy Lăng Đại tường nhật hữu cảm), Mồng 7 tháng 7 (Phạm Nhân Khanh - Thất tịch), Chữ nhạn (Phạm Nhân Khanh - Nhạn tự), Đề tranh thu giang tống biệt (Trần Đình Thâm - Đề thu giang tống biệt đồ), Sứ Tàu đề trạm Quế Lâm (2 bài), (Vô danh - Bắc sứ đề Quế Lâm dịch), Bảo sự chết (Pháp Loa - Thị tịch), Hoa cúc (Huyền Quang - Cúc hoa), Trong thuyền (Huyền Quang - Chu trung), Thạch thất (Huyền Quang - Thạch thất), Nhà ở núi (Huyền Quang - Sơn vũ), Chơi thuyền (Huyền Quang - Phiếm chu), Tặng đệ tử làm quan (Huyền Quang - Tặng sĩ đồ tử đệ), Am núi An Tử (Huyền Quang - Yên Tử sơn am cư).

Thơ đời Nhuận Hồ: Chơi Đông Đình (Hồ Tông Thốc - Du Đông Đình), Chuông sớm ở thành Hóa (Nguyễn Phi Khanh - Hóa thành thần chung), Sông Hoàng Giang đêm mưa (Nguyễn Phi Khanh - Hoàng giang dạ vũ), Xem trăng trung thu có cảm (Nguyễn Phi Khanh - Trung thu ngoạn nguyệt hữu hoài), Vui vườn nhà (Nguyễn Phi Khanh - Gia viên lạc), Qua ải Hàm Tử (Trần Lâu - Quá Hàm Tử quan), Đáp lời Lý Hạ Trai tới thăm (Phạm Nhữ Dực - Lý Hạ Trai lai phỏng, phù thủ vận dĩ đáp), Ngày Tết (Lê Cảnh Tuân - Nguyên đán), Vô ý (Lê Cảnh Tuân - Vô ý).

Thơ đời Hậu Trần: Cảm hoài (Đặng Dung - Cảm hoài).

Qua việc đọc lại trên 120 bài thơ chữ Hán thời Lý - Trần đã được cụ Hoàng giáp Việt dịch và công bố trên Nam Phong tạp chí, có thể thấy:

- Tất cả những bài thơ chữ Hán thời Lý - Trần được cụ Hoàng giáp chọn dịch, khi đăng trên Nam Phong tạp chí chỉ có in lại nguyên tác chữ Hán, tiếp theo là dịch thơ sang Quốc ngữ, chứ không có phiên âm nguyên tác, và cũng không có khảo dị cùng chú thích.   

- Những bản dịch thơ này của cụ Hoàng giáp đăng trên Nam Phong tạp chí, sau này đã được các nhà nghiên cứu trích dẫn trong công trình của mình như Việt Nam văn học sử yếu (1941) của Dương Quảng Hàm; Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2, Tủ sách Đại học Sư phạm (1962), Bùi Văn Nguyên chủ biên; Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XVIII (1989), Bùi Văn Nguyên chủ biên; Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII, 2 tập (1977, 1978), Đinh Gia Khánh chủ biên; Thơ văn Lý - Trần, 3 tập (1977, 1979, 1988) của Viện Văn học biên soạn, v.v... Tất cả cho thấy giá trị bản Việt dịch của cụ Hoàng giáp. Xin đọc lại một số bài thơ dịch tài hoa của cụ Hoàng giáp được nhiều bộ hợp tuyển dẫn lại, chẳng hạn như:

Hạ cảnh (Trần Thánh Tông)

Yểu điệu hoa đường trú ảnh trường,

Hà hoa xuy khởi bắc long lương.

Viên lâm vũ quá lục thành ác,

Tam lưỡng thiền thanh náo tịch dương.

Cụ Hoàng giáp Đinh Văn Chấp dịch:

Cảnh ngày hè

Bóng ác ngày dài dãi gác hoa,

Nhị sen đưa mát trước song qua.

Sau mưa cây cỏ buông màn biếc,

Vài tiếng ve kêu rộn bóng tà.

(Thơ văn Lý - Trần, tập 2, quyển thượng, trích lại tr.404).

Chu trung độc chước (Trần Quang Triều)

Thu mãn sơn thành hội tịch liêu,

Gia thư bất đáo hải thiên diêu.

Nhân tình sơ mật xao bồng vũ,

Thế thái cao đê phách ngạn triều.

Tùng cúc cố giao ta dị lộ,

Cầm thư tuế vãn hỷ đồng điều.

Kỷ đa lỗi khối hung trung sự,

Thả hướng tôn tiền thi nhất kiêu.

Cụ Hoàng giáp Đinh Văn Chấp dịch:

Uống rượu một mình khi trong thuyền

Màu thu hiu hắt khắp non thành,

Trời bể tin nhà đợi vắng tanh.

Nết ở nhặt thưa mưa trước mái,

Mùi đời cao thấp sóng đầu gềnh.

Bạn xưa tùng cúc chia đôi ngả,

Tuổi tác đàn thơ hợp với mình.

Trong dạ ngổn ngang nào tả xiết,

Hãy nâng chén rượu dốc lưng bình.

(Thơ văn Lý - Trần, tập 2, quyển thượng, trích lại tr.622).

Chu trung (Huyền Quang)

Nhất diệp biển chu hồ hải khách,

Xanh xuất vi hàng phong thích thích.

Vi mang tứ cố vãn triều sinh,

Giang thủy liên thiên nhất âu bạch.

Cụ Hoàng giáp Đinh Văn Chấp dịch đúng theo luật trắc vần trắc của nguyên tác:

Trong thuyền

Dấu khách giang hồ thuyền một lá,

Hàng lau lách gió chèo thong thả.

Bốn bề trông quạnh ngọn triều lên,

Nước biếc liền trời âu trắng xóa.

(Thơ văn Lý - Trần, tập 2, quyển thượng, trích lại tr.685).

v.v…

- Bên cạnh đó, có một số nhan đề của các bài thơ được dịch nếu so với nguyên tác thì có thể nhận thấy cụ Hoàng giáp dịch rất thoát, rất thông thoáng chứ không dịch sát nghĩa, bởi có lẽ theo cụ khi dịch chỉ cần thể hiện cái hồn cốt của nhan đề và nội dung bài thơ chứ không câu nệ vào từng nghĩa của chữ. Ví dụ: Bài Tương Giang thu hoài của Nguyễn Trung Ngạn được dịch là "Sông Tương cảm hoài"; bài Khách xá họa hữu nhân vận của Nguyễn Ức được cụ dịch là "Họa nguyên vận", mà nên dịch là "Nơi quán khách họa thơ bạn"; bài Du Phù Thạch nham tiên tổ tu hành chi địa chu trung tác của Phạm Ngộ được cụ dịch là "Chơi động Phù Thạch", mà nên dịch là "Cảm tác lúc đi thuyền dạo chơi ở động Phù Thạch là nơi tổ tiên tu hành"; bài Thu dạ tức sự của Phạm Ngộ chỉ được dịch gọn là "Đêm thu"; bài Nguyệt Áng sơn hàn đường của Trần Minh Tông được dịch gọn là "Nhà ẩn", đúng ra phải dịch là "Nhà hàn đường ở núi Nguyệt Áng"; bài Nguyệt tịch bộ Tiên Du sơn tùng kính của Chu An được cụ dịch là "Qua dặng [rặng - NCL] thông núi Tiên Du ban chiều", mà cần phải dịch là "Đêm trăng dạo bước trên đường thông ở núi Tiên Du", bài Xuân giao vãn hành của Nguyễn Tử Thành được cụ dịch là "Chiều xuân vãn cảnh", mà nên dịch là "Chiều xuân dạo chơi vùng ngoại ô", bài Nhàn cư lục ngôn đề thủy mặc trướng tử tiểu cảnh của Phạm Tông Mại được cụ dịch là "Đề chướng [trướng - NCL] vẽ thủy mặc", mà nên dịch là "Nhân lúc nhàn rỗi dùng thơ sáu chữ đề vào bức tranh nhỏ trên tấm trướng vẽ bằng mực Tàu", bài Đông Sơn tự hồ thượng lâu của Phạm Sư Mạnh được cụ dịch gọn là "Chùa Đông Sơn" thì chưa rõ ý, mà nên dịch là "Lầu trên hồ chùa Đồng Sơn", bài Xuân nhật ứng chế của Phạm Sư Mạnh được cụ dịch là "Ngày xuân hứng chế" thì chưa rõ mà cần phải dịch là "Ngày xuân họa thơ vua"; bài Hạ Tiều Ẩn Chu tiên sinh bái Quốc tử giám Tư nghiệp của Trần Nguyên Đán được cụ dịch gọn là "Mừng ông Chu Văn An", mà nên dịch là "Mừng ông Tiều Ẩn Chu Văn An được bổ chức Tư nghiệp ở Quốc tử giám" thì mới rõ hơn; bài Phụng Bắc sứ cung ngộ Hy Lăng Đại tường nhật hữu cảm của Phạm Nhân Khanh được cụ dịch rất gọn là "Phụng Bắc sứ", nên dịch lại là "Phụng mệnh đi sứ phương Bắc cảm xúc nhân gặp ngày Đại tường của Hy Lăng", và còn nhiều nữa... Cũng có khi cụ giữ nguyên đầu đề không dịch, ví dụ như bài Thạch thất của thiền sư Huyền Quang; bài Vô ý của Lê Cảnh Tuân, và v.v..

5. Về vai trò, đóng góp và ảnh hưởng của Nam Phong tạp chí trong việc bảo tồn những di sản văn hóa, văn học của dân tộc, có thể thấy Nam Phong mỗi tháng ra một kỳ, khổ lớn, dung lượng số trang dày dặn có đến hơn trăm, có khi vài ba trăm trang cho mỗi số, có sức mạnh cạnh tranh với các báo và tạp chí khác cùng thời.

Trong chương trình giáo dục phổ thông trung học Đệ nhất cấp, cùng với Đông Dương tạp chí thì Nam Phong tạp chí và tác giả Phạm Quỳnh đã được Bộ Quốc gia Giáo dục miền Nam đưa vào chương trình giảng dạy ở lớp Đệ tứ (lớp 9) và là kiến thức trọng tâm trong kỳ thi Trung học Đệ nhất cấp (cho đến sau năm 1970 thì Bộ Giáo dục mới bỏ kỳ thi này). Nam Phong tạp chí và tác giả Phạm Quỳnh cùng một số tác giả khác cộng tác cho tạp chí như Đông Hồ, Tương Phố, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Bá Trác, Đông Châu, Nguyễn Trọng Thuật, Phạm Duy Tốn, Trần Trọng Kim, Tương Phố, Tản Đà, v.v.. cũng đã được đưa vào chương trình Giảng văn và Văn học sử ở lớp Đệ tam (lớp 10), lớp Đệ nhị (lớp 11) và là chương trình trọng tâm của môn Quốc văn trong kỳ thi Tú tài bán phần (cho đến năm 1972 thì Bộ Giáo dục mới bỏ kỳ thi này).

Riêng về di sản Hán Nôm được đăng tải trên tạp chí, có thể thấy không chỉ riêng lĩnh vực nghiên cứu Văn học, mà nhiều lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn khác như Sử học, Triết học, Dân tộc học, Xã hội học,… đều có thể khai thác ở 210 số tạp chí những tư liệu và thông tin cần thiết khi tìm hiểu về di sản Hán Nôm được công bố trên Tạp chí này.

Theo thống kê và phân loại của Phòng Thông tin - Tư liệu - Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (biên soạn), Thư mục các bài viết trên Tạp chí Nam Phong có liên quan đến tác giả, tác phẩm Hán Nôm, Hà Nội, 1989 và theo thống kê của Chu Tuyết Lan trong bài viết Những đóng góp của mảng tư liệu Hán Nôm trên Tạp chí Nam Phong đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 1 - 1992, thì mảng tư liệu Hán Nôm công bố trên Tạp chí này có đến 726 đơn vị thư mục, cụ thể là: 399 đơn vị giới thiệu các bài sưu tầm, dịch thơ văn cổ; 33 đơn vị giới thiệu các bài nghiên cứu văn học; 168 đơn vị giới thiệu các bài nghiên cứu về lịch sử hoặc tư liệu về lịch sử; 119 đơn vị giới thiệu các sáng tác thơ văn đương thời (1917 - 1934); 07 đơn vị giới thiệu các văn bản chính trị đương thời (1917 - 1934)(8). Nhưng theo thiển ý của tôi, con số thống kê như trên là chưa chuẩn xác, bởi lẽ, không thể kể 119 đơn vị thư mục giới thiệu các sáng tác thơ văn đương thời đăng trên Tạp chí này (1917 - 1934) để xếp vào di sản Hán Nôm được. Như vậy, nếu trừ con số này ra thì những lĩnh vực thuộc di sản Hán Nôm của cha ông được giới thiệu trên Tạp chí này là 726 - 119 = 607 đơn vị thư mục, tức 607 bài viết.

Với 399 bài sưu tầm thơ văn cổ điển Việt Nam qua các bản dịch, có thể thấy hầu hết các tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam đã được giới thiệu trên Tạp chí như: Vạn Hạnh, Mãn Giác, Không Lộ, Lý Thái Tông, Lý Anh Tông, Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn, Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Nghệ Tông, Nguyễn Trung Ngạn, Chu An, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Phi Khanh, Đặng Dung, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Hữu Trác, Phạm Thái, Nguyễn Du, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Thông, v.v...

Một số truyện Nôm khuyết danh như Tống Trân - Cúc Hoa cũng được giới thiệu.

Những tác phẩm văn học được sáng tác dưới thời Bắc thuộc như Bạch vân chiếu xuân hải phú của Khương Công Phụ cũng được Việt dịch và công bố.

Nghiên cứu về các tác giả tác phẩm cũng được Tạp chí chú ý như nhiều bài nghiên cứu về tiểu sử Nguyễn Du, về Truyện Kiều; khảo cứu về Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều; nghiên cứu một số bài thơ của Trần Khánh Dư, Lê Thánh Tông, Bà huyện Thanh Quan; một số bài bàn về thơ Nôm, câu đối Nôm, khảo sát lối chữ viết thời cổ của dân tộc, v.v...

Bên cạnh thơ văn cổ Việt Nam thì có khá nhiều những áng thơ Đường của Trung Quốc cũng được dịch, giới thiệu trên Tạp chí. 

Về lịch sử dân tộc, theo thống kê có 168 thư mục. Trong đó có những bài về nghiên cứu lịch sử nước ta từ thời kỳ Đông Sơn đến thời kỳ Bắc thuộc; nghiên cứu về các triều đại lịch sử của dân tộc như nhà Lê, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn; nghiên cứu về các nhân vật lịch sử như Ngô Quyền, Lý Nhân Tông, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Hồ Quý Ly, Nguyễn Trãi, Nguyễn Xí, Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ, Lê Quý Đôn, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ,… Một số tư liệu lịch sử cũng được Tạp chí cho công bố như những bức thư của Lê Quýnh (bầy tôi của Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu), những bài biểu của Nguyễn Thiếp tâu lên vua Quang Trung và hai bức thư chữ Hán của Quang Trung mời Nguyễn Thiếp ra giúp nước; bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, v.v... Tất cả đã giúp cho người đọc, người nghiên cứu hiểu về quá khứ về lịch sử, văn hóa của dân tộc.

Ngoài ra Tạp chí Nam Phong còn duyệt đăng rất nhiều bài nghiên cứu về những lĩnh vực như giáo dục, khoa cử, hình luật, lễ nghi, tang lễ, y học, nghề đàn, lịch, lăng tẩm, lệ cống Trung Quốc, các bộ sử, nhận xét người phương Bắc về người nước ta, lịch sử và phong tục nước ngoài như Ấn Độ, Nhật Bản; về tư tưởng của Phật giáo, tư tưởng Nho giáo, tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử, Mặc Tử ở Trung Quốc; Những bài so sánh tư tưởng của Khổng Tử với Thích Già (Ca), v.v...

Tóm lại, tính từ ngày Tạp chí ra mắt công chúng bạn đọc, đến nay đã đúng 100 năm, nhưng những đóng góp của Nam Phong tạp chí qua các bài nghiên cứu, dịch thuật giới thiệu di sản Hán Nôm nói chung, di sản thơ chữ Hán thời Lý - Trần nói riêng vẫn còn có những giá trị riêng của chúng, rất đáng được hậu thế ghi nhận, tôn vinh và tiếp tục tìm hiểu. Những nghiên cứu, dịch thuật được công bố trên Tạp chí là nguồn tư liệu quý giá giúp cho các nhà nghiên cứu có thêm cứ liệu để tìm hiểu văn hóa, văn học, lịch sử, ngôn ngữ, xã hội và phong tục nước nhà ở một thời đại đã qua, như tôn chỉ mục đích của Tạp chí đã chủ trương.

Riêng với 126 bài thơ chữ Hán thời Lý - Trần được cụ Hoàng giáp Đinh Văn Chấp đã Việt dịch rồi cho công bố trên tạp chí thì rõ ràng rằng Nam Phong tạp chí đã đóng vai trò tiên phong trong việc công bố bản dịch thơ thời Lý - Trần sang Quốc ngữ, đồng thời cụ Đinh Văn Chấp là dịch giả có công đầu, là người đầu tiên giới thiệu và chuyển ngữ thơ chữ Hán thời Lý - Trần sang Việt ngữ trong lịch sử văn học Việt Nam.

Bàn về ảnh hưởng của Nam Phong tạp chí, người viết bài này rất tán thành với ý kiến, nhận định của học giả Dương Quảng Hàm trong công trình Việt Nam văn học sử yếu.

"Tạp chí Nam Phong có ảnh hưởng về hai phương diện:

1. Về đường văn tự, Tạp chí ấy đã:

a) Sáp nhập vào tiếng ta nhiều danh từ triết học, khoa học mới, mượn ở chữ Nho.

b) Luyện cho tiếng ta có thể diễn dịch được các lý thuyết, các ý tưởng về triết học, khoa học mới.

2. Về đường học vấn, tạp chí đã:

a) Phổ thông những điều yếu lược của học thuật Âu Tây;

b) Diễn đạt những điều đại cương trong các học thuyết cũ của Á Đông (Nho học, Phật học, v.v..) và bảo tồn những điều cốt yếu trong văn hóa cũ của nước ta (văn chương, phong tục, lễ nghi)"(9).

 

 

 

Chú thích

1. Chức vụ này tương ứng với chức Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo hiện nay là quản lý, trông coi việc học tập, giáo dục trong tỉnh, nhưng khác với hiện nay ở chỗ, ngày xưa quan Đốc học còn phải trực tiếp giảng dạy tại trường Đốc. Về trường công lập trong tỉnh, dưới trường Đốc còn có trường Giáo (trường của các Phủ do quan Giáo thụ đảm nhiệm), trường Huấn (trường của các huyện do quan Huấn đạo đàm nhiệm), tại các tổng, xã, nhiều nơi chính quyền địa phương còn lập nhà Xã học mời thầy về dạy học cho con em trong tổng, xã, kinh phí do địa phương lo liệu và trường tư của các thầy đồ mở trong tỉnh; Ngoài việc trực tiếp giảng dạy tại trường Đốc, hàng tháng quan Đốc học còn tổ chức bình văn, tập văn tại trường. Những kỳ bình văn, tập văn này đã quy tụ nhiều học sinh của trường Giáo, trường Huấn và các trường tư đến dự, nhằm mục đích rèn văn, tập viết các thể văn trường thi, nắm thể thức quy chế chi, và hàng năm thường tổ chức kỳ thi Khảo hạch, Khảo khóa để chuẩn bị cho thí sinh đi thi Hương trong tương lai. Việc quan Đốc học tổ chức các kỳ thi Khảo hạch, Khảo khóa nhằm mục đích xét trình độ năng lực của học sinh hàng năm. Những học sinh nào vượt qua kỳ Khảo khóa, thì đủ điều kiện để làm hồ sơ đi thi Hương do triều đình tổ chức (Bộ Lễ đảm nhận) theo từng vùng (thường là 3 năm tổ chức một lần vào các năm Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu). Trong kỳ thi Hương, quan Đốc học phải có nhiệm vụ đến tận cửa trường thi để phát Quyển thi cho các sĩ tử là thí sinh của tỉnh do mình phụ trách, sau khi nghe loa xướng danh gọi các sĩ tử đi vào trường thi cắm lều chõng và chuẩn bị các thứ cần thiết để sau đó tiến hành làm bài thi sau khi có hiệu lệnh của quan trường thi (xin xem thêm: Nguyễn Công Lý, Giáo dục - Khoa cử và Quan chế ở Việt Nam thời phong kiến, thời Pháp thuộc, Nxb ĐHQG TP. HCM, 2011. Công trình này được giải thưởng Công bố khoa học xuất sắc của ĐHQG TP.HCM năm 2011).

2. Bài Thị đệ tử này là của Vạn Hạnh.

3. Bài Thị tịch này là của Ngộ Ấn.

4. Ba bài không ghi tên tác giả ở trên đều là của Trần Thánh Tông.

5. Tác giả bài Hạnh Thiên Trường hành cung này chính xác là Trần Thánh Tông mà sách Thánh đăng lục đời Trần có chép. Sự nhầm lẫn ghi tác giả của bài thơ là Trần Nhân Tông bắt đầu từ bộ hợp tuyển Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, đến Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích, rồi đến mục Văn tịch chí trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ghi là của Trần Nhân Tông, vì thế sau này trong bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 2, thế kỷ X - thế kỷ XVII, Nxb. Văn học, HN, 1962, các soạn giả Đinh Gia Khánh, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Ngọc San đều ghi tác giả bài thơ là Trần Nhân Tông - NCL chú thêm.

6. Bài này Thơ văn Lý - Trần, tập 2, quyển thượng ghi nhan đề là Tặng Bắc sứ Tát Chỉ Ngõa, Văn Tử Phương 贈北使撒只文子方.

7. Trong Toàn Việt thi lục chép tên tác giả là Bùi Sùng Hoan 裴崇瓘, Thơ văn Lý - Trần, Tập 2, ghi tên tác giả là Bùi Tông Hoan 裴宗瓘. Chữ thường được đọc âm là Quán.

8. Chu Tuyết Lan, Những đóng góp của mảng tư liệu Hán Nôm trên Tạp chí Nam Phong, Tạp chí Hán Nôm, số 1 - 1992.

9. Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu, Bộ quốc gia Giáo dục Sài Gòn, tái bản, 1960, trang 409, 410.  

 

Tài liệu tham khảo

1. Đinh Văn Chấp, Dịch thơ đời Lý và TrầnNam Phong tạp chí, tập XX, số 114, Fév, 1927, p.146-157.

2. Đinh Văn Chấp, Dịch thơ đời Lý và Trần, Nam Phong tạp chí, tập XX, số 115, Mar, 1927, p.238-244.

3. Đinh Văn Chấp, Dịch thơ đời Lý và Trần, Nam Phong tạp chí, tập XX, số 116, April, 1927, p.340-347.

4. Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm Học liệu, Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn, tái bản, 1960.

5. Chu Tuyết Lan, Những đóng góp của mảng tư liệu Hán Nôm trên tạp chí Nam Phong, Tạp chí Hán Nôm, số 1 - 1992.

6. Phòng Thông tin - Tư liệu - Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Vũ Thanh Hằng, Nguyễn Thị Hà, Chu Tuyết Lan, Nguyễn Hoàng Quý, Ngô Thị Thành và Đoàn Thị Tuyết biên soạn), Thư mục các bài viết trên Tạp chí Nam Phong có liên quan đến tác giả, tác phẩm Hán Nôm, Hà Nội, 1989.

7. Nguyễn Khắc Xuyên, Mục lục và phân tích Tạp chí Nam Phong, Trung tâm Học liệu, Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn, 1968.

8. Viện Văn học, Thơ văn Lý - Trần, Tập 1, Tập 2 Quyển thượng, Tập 3, Nxb KHXH, Hà Nội, 1977, 1988, 1979.

9. https://sachviet.edu.vn/.../dvd-ebook-tap-chi-nam-phong-tu-1917-1934-quoc-ngu-phap-van-han-van-tron-bo-120-so.3736/ 

Trần Minh Siêu

 

Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An số 6/2017 có đăng bài "Biết bao nhiêu tình …" của tác giả Nguyễn Khắc Thuần và bài "Ghi chép của người 6 lần được gặp Bác Hồ" của  tác giả Trần Hữu Vinh.

Nội dung hai bài viết đã cung cấp cho độc giả nhiều thông tin quý giá, đáng hoan nghênh. Nhưng trong đó có một số sự kiện chưa đúng với thực tế lịch sử đã diễn ra, cần chỉnh sửa.

1. Trong bài viết in ở trang 2 (cột 1), tác giả Nguyễn Khắc Thuần viết: "Chiều 14/6/1957, Bác về đến Nhà khách Tỉnh ủy". Sự thật là: Ngày 12/6/1957, đồng chí Nguyễn Trương Khoát, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An nhận được điện của đồng chí Ngô Thuyền, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa cho biết: "Tối ngày 13/6/1957, Bác Hồ sẽ vào thăm Nghệ An".

Đoàn Nghệ An ra tận khe "Nước Lạnh", ranh giới giữa Thanh Hóa và Nghệ An đón Bác. Đoàn có đồng chí Nguyễn Trương Khoát, Bí thư Tỉnh ủy; đồng chí Nguyễn Sỹ Quế, Chủ tịch UBND tỉnh.

Cùng đi với Bác, có đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Khu ủy khu IV, đồng chí Trần Quốc Hoàn, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an.

Khoảng 23 giờ ngày 13/6/1957, Bác về tới Vinh.

Lúc đó Văn phòng Tỉnh ủy và UBND tỉnh đã chọn ngôi nhà ba gian, tường toóc si, sơn màu ve xanh, xinh xắn ở trong cơ quan Tỉnh ủy (lúc đó đóng trong thành cổ Vinh) để làm nơi Bác nghỉ ngơi.

Ngoài những thông tin về "Chiếc khăn của Bác" được tác giả Nguyễn Khắc Thuần cung cấp cho độc giả biết, tôi xin cung cấp thêm chi tiết: "Khi vào phòng ngủ, Bác thấy ở giường nằm, trên chiếu còn trải thêm một lớp vải trắng mềm. Bác khẽ bảo: "Chú Thanh, chú Khoát cho cất lớp vải này đi, dạo này trời nóng không cần đến".

Đồng chí Nguyễn Chí Thanh nói: "Dạ, thưa Bác, giường này nan thưa và cứng, chỉ trải một lớp chiếu thôi, thì sợ …".

Bác hiểu ý, bèn nói để đồng chí Thanh yên tâm: "Thôi để một lớp chiếu là đủ". Rồi Bác nói vui: "Giường nằm của Bác hiện nay ở Phủ Chủ tịch cũng chưa bằng giường của bà con nông dân nước bạn như ở Tiệp Khắc chẳng hạn. Nhưng nước ta còn nghèo, dân ta còn thiếu, Bác có được tiêu chuẩn như vậy là đã khá lắm rồi."

Như vậy, từ thực tế sống động, nhìn vào đồ dùng hằng ngày của Bác từ chiếc khăn mặt có chỗ đã rách, phải khâu lại, chiếc mũ đã cũ, tấm áo ka ki đã sờn, đôi dép cao su được làm từ chiếc lốp ô tô cắt ra, chiếc giường nằm đơn sơ…, ai thấy cũng cảm động.

Dưới sự lãnh đạo của Bác và Trung ương Đảng, đất nước ta đã có bao thay đổi lớn lao. Miền Bắc được độc lập tự do, cuộc sống của nhân dân ta được đổi đời, có cơm ăn, áo mặc, các cháu nhỏ được học hành, khác hẳn so với thời kỳ nô lệ. Nhưng Bác vẫn giữ nếp sống giản dị, không khác mấy so với thời kỳ còn hoạt động ở nước ngoài, hay ở chiến khu Việt Bắc.

Biết làm chủ bản thân, sống giản dị, tiết kiệm đến mức thấp nhất để phù hợp với tình hình kinh tế nước nhà và mức sống của đại đa số nhân dân ta lúc đó, là Bác đã thể hiện "chữ kiệm" một cách tiêu biểu sáng ngời đạo đức Hồ Chí Minh.

2. Ở trang 3 (cột 1), tác giả Nguyễn Khắc Thuần viết: "Sáng 14/6/1957, Bác nói chuyện với Ban Chấp hành Tỉnh ủy, cán bộ UBND tỉnh, Mặt trận Tổ quốc tỉnh và lãnh đạo cho các đoàn thể". Viết như vậy là chưa chính xác.

Sự thật là: Đúng 8 giờ sáng ngày 14/6/2017, Bác làm việc với Ban Chấp hành Tỉnh ủy, cán bộ UBND tỉnh, Mặt trận tổ quốc tỉnh và lãnh đạo các đoàn thể.

Buổi chiều ngày 14/6/1957, lúc 14 giờ Bác nói chuyện với đại biểu nhân dân tại hội trường tỉnh (nơi đã được dựng bia dẫn tích gần cửa số 6 sân vận động thành phố Vinh hiện nay).

Do tình hình xã hội lúc đó, việc Bác về thăm tỉnh nhà phải giữ bí mật tuyệt đối đến phút cuối cùng, nên các đại biểu đã nhận được giấy triệu tập để nghe phổ biến, phát động phong trào thi đua lao động, phát triển sản xuất.

Cho nên khi thấy Bác bước vào hội trường, các đại biểu bất ngờ, nên đã vô cùng sung sướng, lập tức đứng dậy hô to "Hồ Chủ tịch muôn năm" vang dội cả hội trường. Bác cười hiền từ, giơ tay vẫy chào mọi người và như muốn nói với các đại biểu đừng chúc tụng mình như thế. Khi có tiếng hô: "Đảng Lao động Việt Nam muôn năm" thì Bác cũng giơ cao cánh tay và hô rất mạnh.

Bác ra hiệu mọi người yên lặng và cất tiếng nói, giọng của Bác rất trầm ấm: "… Tôi thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ gửi đến các cụ và tất cả các đại biểu lời chào thân ái.

Tôi là một người con của tỉnh nhà đã hơn 50 năm xa cách quê hương. Hôm nay là lần đầu trở về  thăm tỉnh nhà. Có thể nói là:

Quê hương nghĩa trọng tình cao,

Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình!

Đã lâu về quê hương, thì thường tình người ta tủi tủi, mừng mừng. Tôi không thấy tủi tủi, mà chỉ thấy mừng mừng. Nhưng mừng vì sao?

Từ lúc tôi ra đi và bây giờ trở lại, tôi thấy nước ta nói chung, tỉnh ta nói riêng có thay đổi rất nhiều. Thay đổi quan trọng nhất là lúc tôi ra đi, nước ta đang còn bị thực dân cai trị, đồng bào đều là những người nô lệ, bây giờ thì đồng bào miền Bắc nói chung, Nghệ An nói riêng là những công dân tự do, làm chủ nước nhà. Đó là thay đổi to nhất".

3. Ở trang 5 (cột 1), tác giả Nguyễn Khắc Thuần viết: "Sáng chủ nhật 16/6/1957, Bác Hồ về thăm quê lần thứ nhất. Thắp hương nhà thờ họ, Bác rơm rớm nước mắt. Người đứng lặng rất lâu trước anh linh tiên tổ. Rời nhà thờ họ, Bác đi về phía nhà mình".

Viết như vậy là không chính xác, không đúng với hành trình của Bác khi trở về thăm nơi chôn rau, cắt rốn ở làng Sen.

Xin viết cụ thể: Đúng 7g30 ngày 16/6/1957 có 4 chiếc xe ô tô con chạy từ Rú Đụn xuôi theo tỉnh lộ 49 (nay là Quốc lộ 46) rẽ vào làng Sen, khi cách ngôi nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc mấy chục mét, Bác Hồ xuống xe, lãnh đạo xã nhà và bà con mời Bác vào nhà khách. Bác vui vẻ nói: "Nhà khách là để tiếp khách, còn tôi là chủ để tôi về thăm nhà. Nói rồi Bác đi về phía nhà mình. Đến dãy cổng tre đã mở sẵn, mọi người mời Bác vào nhà, nhưng Bác giơ tay chỉ và nói: "Cổng ngày xưa ở đầu kia". Bàn chân của Bác đã trở về nhà theo dấu chân thuở còn niên thiếu. Đứng trước ngôi nhà, Bác nói: "Đây là nhà ông Phó bảng". Quả đúng như vậy, nhờ thi đậu Phó bảng, nên cụ Nguyễn Sinh Sắc mới được làng Kim Liên tặng cho ngôi nhà gỗ này.

Bước vào hai gian nhà ngoài này, nơi ngày xưa cụ Nguyễn Sinh Sắc làm nơi thờ tự và tiếp khách, thấy bàn thờ người mẹ kính yêu của Người là bà Hoàng Thị Loan được phục dựng bằng gỗ, sơn màu son, trên trải chiếu hoa, Bác xúc động nói với bà con đi cùng: "Xưa nhà Bác nghèo, bàn thờ mẹ làm bằng tre, không có chân, mà chỉ dùng hai miếng gỗ đóng gá vào hai bên cột đỡ bàn thờ lên, liếp bằng nứa, trên trải chiếu mộc".

Bước vào gian nhà trong, thấy bộ phản gỗ ngày trước anh Cả Khiêm và Người thường nằm ngủ, Bác nói: "Ồ, bộ phản gỗ này vẫn còn, bà con giữ tài thật, nhưng hình như ngắn hơn trước thì phải?". Bà con thưa với Bác: "Bộ phản này, trước khi cô Thanh bị bọn thực dân Pháp bắt và cầm tù, có cho một gia đình trong họ dùng, mùa đông đốt lửa sửa ấm, làm cháy một đầu, phải cắt ngắn đi".

Bước ra sân, đứng trước ngôi nhà lợp tranh mía, nhìn từ trên nóc xuống tận thềm nhà, Bác nói: "Bà con làm nền cao, bó gạch như thế này cho đẹp, chứ nhà Bác ngày trước thềm đất và thấp, chỉ bằng nửa bậc thềm này thôi".

Một số cây cảnh, năm Tân Sửu (1901) dân làng đưa đến trồng với tình cảm quý mến, kính trọng người con ưu tú của làng đã đậu Phó bảng. Qua biến đổi của quê hương hơn nửa thế kỷ, một số cây cảnh đã bị mất, nay chưa kịp trồng lại. Nhớ lại cảnh cũ, Bác xúc động nói: "Ngày trước ở ngay cổng ra vào, có cây ổi đào nhiều quả và ngọt, sát ngay trước sân có cây bưởi, bên hồi nhà có cây cam, sau hồi nhà có cây Phật thủ, phía sau nhà có hàng cau đẹp".

Nhìn góc vườn phía Đông Bắc, Bác nói: "Chỗ kia ngày trước có hai ngôi mộ, giờ đâu rồi?". Cụ Nguyễn Sinh Mợi trả lời rằng: "Vừa rồi có cất bốc ra ngoài nghĩa địa làng". Nghe vậy Bác nói: "Trong vườn không cày bừa gì nhiều, để người ta nằm cho yên, chứ cất bốc làm gì?".

Mảnh vườn trước đây, gia đình cụ Phó bảng thường sản xuất hoa màu theo thời vụ, một đồng chí cán bộ tỉnh đã mạnh dạn xin phép trồng hoa trong vườn cho đẹp, Bác chỉ vào vườn khoai đã có hoa và nói: "hoa khoai vẫn đẹp". Mọi người hiểu ý Bác, đều cảm động.

Khi đi ra đến ngõ, Bác nhắc lại một lần nữa: "Đường vào nhà, ngày trước đi lối này". Nhìn bên phải, chỉ bờ rào hàng xóm là nhà ông Nguyễn Danh Ước có hàng cây mạn hảo, tay phải Bác cầm một nhành cây mạn hảo giật giật như muốn nhấn mạnh để mọi người nhớ. Nhìn về bên trái, chỉ về phía vườn nhà mình là bờ rào dâm bụt. Ra đến ngõ, nhìn về phía phải, Bác hỏi thăm giếng Cốc, một di tích lịch sử gắn liền với cuộc khởi nghĩa của Tú tài Vương Thúc Mậu. Nước giếng Cốc trong, nấu chè xanh và làm tương rất ngon. Thời gian sống ở đây, Bác thường ra giếng gánh nước về cho gia đình dùng.

Rẽ về phía bên trái cổng, đi được một đoạn thấy cây duối khá to, cành lá vươn cao, Bác nói: "Ngày trước cây duối này mới bằng cổ chân mà nay đã to, cao thế này". Chỉ vào một lối đi, Bác hỏi: "Trong này có lò rèn Cố Điền (Hoàng Xuân Luyến), mấy lâu nay còn tiếp tục rèn nữa không?". Thời gian sống ở đây (1901-1906), lúc rảnh rỗi, Bác thường đến lò rèn giúp Cố Điền thổi bễ, rèn đồ chơi và nghe dân làng đàm đạo thế cuộc đang diễn ra trên quê hương và cả nước mà mọi người đang quan tâm.

Tiếp đó, theo đường làng Bác vào nhà thờ họ Nguyễn Sinh thắp hương kính viếng tổ tiên. Khi đi vào đến gần nhà thờ, Bác chỉ tay về phía bên trái và nói: "Trong này có nhà cố Phương, nay có đủ ăn không?  Nghe vậy, mọi người đều xúc động, vì ai nấy đều biết gia đình cố Phương là gia đình nghèo khổ nhất làng Sen, thuở Bác từ giã quê hương ra đi tìm đường cứu nước. Sau đó, Bác nói chuyện với bà con xã Kim Liên và đại biểu các xã vùng phụ cận dưới gốc cây đa tại sân vận động của làng Sen. Vì thế, cây đa và sân vận động làng Sen cũng trở thành một hạng mục di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Kim Liên.

Với tình yêu quê hương đậm đà, sâu nặng, cộng với trí nhớ tuyệt vời hiếm có, cho nên mọi kỷ niệm sống động, phong phú thời niên thiếu đã ùa dậy khi Người trở về với cảnh cũ trong tâm thế là người chủ quê hương, đất nước, cụ thể hơn là chủ nhân đích thực của gia đình cụ Phó bảng ở làng Sen. Cho nên, những lời chỉ bảo ân cần xuất phát từ đáy lòng chân thật của Bác là khuôn vàng, thước ngọc, tạo thành cơ sở khoa học một cách minh bạch để chúng ta phục hồi, chỉnh sửa, khắc phục những khiếm khuyết trong những ngày đầu từ năm 1956 phục dựng lại Khu nhà lưu niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở làng Sen.

Sáng ngày 9/12/1961, Bác Hồ trở về thăm quê hương Kim Liên lần thứ hai. Lần này, khi vào thăm ngôi nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thấy bàn thờ, vật dụng trong ngôi nhà đã được bổ sung, sửa sang, chỉnh lý đúng như hồi Người sống thời niên thiếu ở đây (1901-1906). Cây cối trong vườn cũng đã được trồng lại, cảnh vật phong quang, tươi tốt, Bác rất xúc động, vui mừng.

Còn đối với bài viết của tác giả Trần Hữu Vinh "Ghi chép của người 6 lần được gặp Bác Hồ", tôi có ý kiến như sau:

Ông Bùi Sĩ Đôi là bậc lão thành cách mạng, có tuổi thọ khá cao 82 tuổi (1930-2012) đã viết 5 cuốn hồi ký ghi lại những sự kiện quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, trong đó có cuốn hồi ký "Kể chuyện sáu lần được gặp Bác Hồ".

Với thời gian được sống và làm việc ở Khu di tích Kim Liên từ tháng 9/1969 sau khi Bác Hồ đi về "thế giới Người Hiền" đến tháng 5 năm 1990 và đối chiếu với nhiều tư liệu quan trọng về những sự kiện biên niên cuộc đời của Bác Hồ, tôi thấy hồi ký của bậc lão thành cách mạng Bùi Sỹ Đôi có nhiều chỗ không chính xác, cần phải chỉnh sửa.

4. Ở trang 16 (cột 2) và trang 17 (cột 1), ông Bùi Sỹ Đôi viết về sự kiện Bác Hồ về thăm quê lần thứ nhất là ngày 12/5/1957, đã được tác giả Trần Hữu Vinh chỉnh sửa thành: "đó là dịp Bác về thăm quê ngày 14/06/1957".

Khi viết hồi ký, ông Bùi Sỹ Đôi viết Bác về thăm quê lần thứ nhất đi bằng máy bay là sai. Sự thật Bác về thăm lần này không đi máy bay mà đi ô tô như tôi đã trình bày ở phần góp ý kiến về bài của tác giả Nguyễn Khắc Thuần.

Lịch trình Bác về thăm làng Sen tôi đã viết khá cụ thể và chính xác ở phần trước rồi, không có việc Bác "đi thoăn thoắt về phía nhà bếp, ra thăm chuồng lợn, vườn rau, ao cá, ghé vào từng nhà xung quanh, sau đó mới ra văn phòng".

Về thăm quê lần thứ nhất, Bác Hồ chỉ về làng Sen, chưa về làng Chùa, vì đường đi về làng hồi đó còn nhỏ hẹp, ô tô chưa thể đi được.

Ngày 05/09/1959, Chủ nhiệm Văn phòng Văn giáo Thủ tướng phủ là nhà thơ Tố Hữu có Văn bản số 3324 - V.g Kính gửi Bộ Văn hóa, Bộ Tài chính, UBHC tỉnh Nghệ An có nội dung như sau: "Theo đề nghị của Bộ Văn hóa và căn cứ Nghị quyết của Thường vụ Hội đồng Chính phủ, Thủ tướng phủ đồng ý với kế hoạch tu sửa lại quê hương Hồ Chủ tịch với ước toán tối đa là 210.000 đồng (hai mươi mốt vạn đồng).

Bộ Văn hóa cùng với UBHC tỉnh Nghệ An đặt kế hoạch cụ thể thi hành".

Cuối năm 1959, con đường liên hương từ ngã ba Mậu Tài đi về làng Chùa, nơi có tổ hợp di tích mang tính cội nguồn về Bác Hồ mới được mở rộng, nâng cấp để xe cơ giới, kể cả ô tô bốn chỗ ngồi mới lưu hành được dễ dàng, thuận lợi.

Đối với sự kiện Bác Hồ về thăm quê lần thứ hai, từ ngày 08 đến ngày 10/12/1961.  Ông Bùi Sĩ Đôi viết: "Sáng ngày 08/12/1961, tại sân bay Yên Đại, cả rừng người, rừng cờ chào đón Bác. Đoàn đại biểu tỉnh nhà ra đón Bác tay bắt, miệng cười".

Viết như vậy là không chính xác.

Sự thật lịch sử đã diễn ra như sau: Khoảng 12 giờ trưa ngày 08/12/1961, chiếc chuyên cơ mang số hiệu 58482 hạ cánh xuống sân bay Yên Đại (nay là sân bay Vinh). Hàng ngàn người tay cầm hoa đón Bác từ ngoài cổng vào tận nơi máy bay đậu. Cán bộ lãnh đạo tỉnh ra đón Bác có đồng chí Võ Thúc Đồng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy; đồng chí Võ Trọng Ân, Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh. Đại diện Quân khu IV có đồng chí Chu Huy Mân, Chính ủy, Tư lệnh Quân khu IV. Đoàn khách Trung ương cùng đi với Bác Hồ có đồng chí Nguyễn Khai, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Trưởng Ban tổ chức Trung ương Đảng và đồng chí Soàn, giúp việc cho Bác.

Sau khi Bác nhận hoa từ các cháu thiếu nhi tặng, đồng chí Võ Thúc Đồng đi đến gần Bác, mời Bác lên xe ô tô đã kết hoa. Bác nhìn thoáng qua, rồi đi đến chiếc xe "Gát 69" của anh em bảo vệ dẫn đường. Bác lên xe "Gát 69" và đề nghị cuốn bạt lên để Bác nhìn thấy đồng bào và đồng bào cùng nhìn thấy Bác rõ hơn.

Khi xe vào đến cơ quan Tỉnh ủy, Bác nhìn đồng hồ và nói: "Bây giờ đã quá trưa, có lẽ ta nên về nhà nghỉ, ăn cơm, đầu giờ chiều làm việc luôn".

Xuống xe, Bác đi thẳng vào nhà ăn, Bác nâng chiếc lồng bàn đậy mâm cơm lên. Nhìn thấy có cơm trắng, thức ăn ngon, Bác nói vui: "Chú Đồng lo bữa ăn cho anh em tốt lắm". Đồng chí Võ Thúc Đồng thưa với Bác: "Thường ngày không được như thế này, cũng canh rau, cơm độn nhưng hôm nay là ngày được Bác về thăm quê lần thứ hai, nên nhà bếp cho anh em ăn cơm tươi một chút".

Bữa cơm trưa, Bác ăn với đồng chí Nguyễn Khai, Võ Thúc Đồng, Nguyễn Sĩ Quế. Khi mọi người đã quây quần bên bàn ăn, đồng chí Soàn đưa suất cơm độn ngô mang theo và chai rượu. Bác cầm chai rượu, mở nắp, tự tay rót vào mấy cái chén và nói: "Đây là rượu người mang ra biếu Bác, Bác mời mỗi người một chén cho vui'. Đồng chí Nguyễn Khai đứng dậy, đỡ lấy chai rượu, rồi rót tiếp các chén còn lại, nói vui: "Các đồng chí uống nhiệt tình nhé, được uống rượu Bác mời là khước lắm đấy". Bác hỏi: "Có ai biết vì sao lại gọi là rượu khước không nào?". Đồng chí Nguyễn Khai giải thích: "Thưa Bác, có phải lúc đầu, ta nói rượu "Phúc", tiếng miền Trung gọi là  "Phước". Nhưng có một ông vua tên là "Phúc", miền Trung gọi là "Phước", đành phải đổi ra là  "Khước" đúng không ạ? Bác gật đầu, giục mọi người nâng chén.

Suất cơm độn ngô của Bác cắt chia làm bốn, chia đều cho bốn người. Vào những năm 1959-1961 có chủ trương ăn cơm độn ngô, tiết kiệm gạo để cung cấp cho tiền tuyến, Bác đã gương mẫu thực hiện. Đây là một biểu hiện sinh động phong cách nói đi đôi với làm, làm là chính, một nét sáng ngời đạo đức Hồ Chí Minh.

Chiều ngày 8/12/1961, Bác làm việc với Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và cán bộ UBND tỉnh.

Sáng ngày 9/12/1961 Bác nói chuyện với cán bộ và các đồng chí anh em tỉnh nhà tại sân Vận động Vinh (cùng ở trong thành cổ Vinh).

Sau buổi nói chuyện này, Bác về thăm làng Chùa và làng Sen. Trên đường về quê, nơi chôn rau, cắt rốn, Bác đã đặt vòng hoa tại Đài liệt sĩ Thái Lão.

Năm 1971, đồng chí Chu Huy Mân trên đường vào chiến trường Cămpuchia có ghé về thăm quê Bác. Tôi (Trần Minh Siêu) trực tiếp hướng dẫn đồng chí Chu Huy Mân đi thăm quan các di tích và nhà trưng bày về Bác. Khi đến phòng trưng bày nội dung: "Bác với quê hương Nghệ An và Nghệ An đối với Bác", thấy treo bức ảnh phóng to: "Bác đặt vòng hoa tại Đài liệt sĩ Thái Lão" đồng chí Chu Huy Mân kể cho chúng tôi nghe câu chuyện: việc đặt hoa tại Đài liệt sĩ Thái Lão không có trong chương trình làm việc của Bác trong đợt về thăm quê lần thứ hai, nhưng lãnh đạo tỉnh đề nghị, Bác vui vẻ làm. Khi xe sắp đến Đài liệt sĩ Thái Lão, bác ngoảnh lại căn dặn chúng tôi (Nguyên Khai và Chu Huy Mân) đừng đưa việc này lên báo, lên đài. Khi đặt vòng hoa xong, ra khỏi Đài liệt sĩ Thái Lão, ngồi trên xe trên đường về làng Hoàng Trù, lần nữa Bác ngoảnh lại dặn chúng tôi: "Các chú đừng đưa việc này lên báo, lên đài nhé! Các chú hiểu chưa?". Thấy Bác dặn lại như vậy, chúng tôi băn khoăn thưa với Bác: "Dạ thưa Bác, các cháu chưa hiểu ạ". Bác ôn tồn nói: "Bác đi thăm các tỉnh khác, không có chương trình viếng và đặt vòng hoa tại đài liệt sĩ của tỉnh đó. Nay đưa tin việc này lên báo, lên đài sẽ làm cho nhiều người nghĩ rằng: Bác coi trọng liệt sĩ Thái Lão hơn các anh hùng liệt sĩ ở nơi khác. Như thế là không nên". Nghe Bác nói vậy, chúng tôi hiểu được một cách sâu sắc là làm việc gì cũng phải công bằng, không được thiên lệch. Công bằng là ước vọng ngàn đời của con người và cũng là một nét tiêu biểu sáng ngời đạo đức Hồ Chí Minh.

Rời Đài liệt sĩ Thái Lão, xe chạy ngược tỉnh lộ 49 (nay là Quốc lộ 46) đến Ngã ba Mậu Tài, rẽ trái đưa Bác về quê ngoại ở làng Chùa, Bác vào thăm ngôi nhà cũ Hoàng Đường và Nguyễn Thị Kép, nơi đã sinh ra bà Hoàng Thị Loan, người mẹ vô vàn kính yêu của Người. Bác vào thăm ngôi nhà thờ chi nhánh họ Hoàng Xuân và ngôi nhà tranh ba gian, trong đó còn lưu giữ được nhiều kỷ vật thân thương gắn bó với tuổi thơ của Bác, đặc biệt có chiếc giường tre được che khuất sau tấm vải màn nhuộm nâu. Trên chiếc giường này, bà Nguyễn Thị Thanh, ông Nguyễn Sinh Khiêm và Bác đã cất tiếng chào đời. Sau đó, Bác đã ra ngồi trước bậc thềm đất của ngôi nhà này tiếp chuyện bà con trong họ và nhân dân làng Chùa đến chào đón Bác.

Tạm biệt làng Chùa, Bác về thăm làng Sen. Bác vào thăm ngôi nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Rời nhà cụ Phó bảng, Bác đến nhà khách, ở đây đã có hơn 30 cụ già trên 60 tuổi chờ đón Bác. Một cụ già rót nước mời Bác, Bác nói tôi là chủ, các cụ là khách để tôi mời nước các cụ. Bác tặng thuốc lá và trà cho các cụ.

Rời nhà khách, Bác ra sân vận động làng Sen, lại đứng dưới gốc cây đa nói chuyện với bà con quê hương.

Tiếp đó, Bác vào đền làng Sen, làm việc với Đảng ủy, cán bộ UBND xã Nam Liên.

Đầu giờ chiều ngày 09/12/1961, ở Vinh Bác nói chuyện với cán bộ đảng viên hoạt động lâu năm ở Nghệ Tĩnh.

Nói chuyện xong, Bác đến thăm và nói chuyện với cán bộ, công nhân nhà máy cơ khí Vinh.

Buổi chiều, Bác đến thăm và nói chuyện với giáo viên, học sinh Trường Sư phạm miền núi Nghệ An.

Tối ngày 09/12/1961, Bác xem một số tiết mục văn nghệ do đoàn văn công Nghệ An biểu diễn.

Sáng ngày 10/12/1961, Bác về thăm xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành - lá cờ đầu của phong trào trồng cây ở miền Bắc.

Khoảng 7 giờ 30 phút, chiếc trực thăng mang số hiệu 58482 hạ cánh xuống một bãi bằng ở Nhãn Tháp. Bác bước ra từ máy bay, mọi người thật sự bất ngờ, vì thấy Bác ăn mặc thật giản dị. Trong tâm trí của người dân xã Vĩnh Thành ra đón Bác không thể nào quên được bộ quần áo màu nâu thân thuộc và chiếc "chạc rút" thòng xuống quá đầu gối Bác.

Mọi hoạt động của Bác ở xã Vĩnh Thành đã để lại một ấn tượng sâu sắc về phong cách của Bác là luôn luôn hòa đồng với mọi người, bình đẳng trước mọi người, cùng nhau đồng cam cộng khổ trong mọi hoàn cảnh, không hề đòi hỏi một chút ưu tiên cho bản thân Bác.

Phong cách đó của Bác Hồ là một nét tiêu biểu sáng ngời đạo đức Hồ Chí Minh.

Khoảng 9 giờ 30 phút, ngày 10/12/1961, chiếc máy bay trực thăng chở Bác Hồ lên thăm Nông trường Đông Hiếu, mô hình điển hình xây dựng nông trường quốc doanh ở miền Bắc đạt được "Phong trào 4 tốt" (sản xuất tốt, đời sống tốt, quản lý tốt, văn hóa tốt).

 Hơn 15 giờ ngày 10/12/1961, Bác tạm biệt Nông trường Đông Hiếu, lên máy bay về Hà Nội để lại một dư âm vui vẻ, rộn ràng, thân  mật, sâu sắc thể hiện tình cảm và sự quan tâm đặc biệt của Bác Hồ với lãnh đạo, công nhân nông trường và đồng bào các dân tộc.

Trên đây là lịch trình Bác về thăm quê hương lần thứ 2 từ ngày 09/12 - 10/12/1961.

Trong hồi ký được gặp Bác trong đợt Người về thăm quê hương lần thứ 2, ông Bùi Sĩ Đôi lại viết hồi ký có nhiều chi tiết sai với sự thật lịch sử như: "... Chiều ngày 08/12/1961, Bác đi thăm Quân khu IV và trường Đại học Sư phạm Vinh, tối về dự mít tinh công nhân viên chức thành phố. Sáng hôm sau đi thăm nông trường Đông Hiếu ở xã Nghĩa Quang (Nghĩa Đàn) thăm hợp tác xã điển hình Vĩnh Thành, Yên Thành,... Bác về Vinh khi thành phố đã lên đèn, sau giờ cơm tối, Bác lại lên hội trường làm việc với Tỉnh ủy 3 giờ liền.

Ngày thứ 3, Bác mới về nơi sinh thành, thăm làng Sen, thăm làng Chùa, núi Chung, thắp hương mộ mẹ, mộ anh, chị xong mới về nhà...".

Tôi xin khẳng định cả hai lần Bác Hồ về thăm quê hương (1957 và 1961) đều không lên núi Chung, chưa lên núi Động Thanh thuộc dãy núi Đại Huệ thuộc địa phận xã Nam Giang, Nam Đàn để viếng mộ bà Hoàng Thị Loan, người mẹ vô vàn kính yêu của Người, cũng không ra nghĩa địa làng Sen để viếng mộ bà Nguyễn Thị Thanh và ông Nguyễn Sinh Khiêm.

Bác về thăm quê lần thứ 2 cũng không đến thăm Quân khu IV như chiều ngày 15/06/1957, không thăm Trường Đại học Sư phạm Vinh, không có sự kiện "buổi chiều cuối cùng, tỉnh tổ chức mít tinh lớn đón Bác, hàng ngàn người tới dự, có đủ đại biểu các cấp, các ngành,... Trên lễ đài, Bác vẫy tay chào đón mọi người, tiếng vỗ tay, reo hò không ngớt, giọng Bác ấm cúng, Bác giao nhiệm vụ rõ ràng "Xây dựng Nghệ An trở thành tỉnh kiểu mẫu...".

Viết như vậy là sai với lịch trình Bác về thăm quê hương lần thứ 2 (từ ngày 08 - 10/12/1961).

Tôi là độc giả của Chuyên san KHXH&NV Nghệ An, thấy bài viết của tác giả Trần Hữu Vinh kể chuyện ông Bùi Sĩ Đôi viết hồi ký 6 lần được gặp Bác Hồ, trong đó có hai lần Bác về thăm quê năm 1957 và 1961 phản ánh nhiều sự kiện sai với sự thật lịch sử đã diễn ra trong thực tế, cho nên viết bài này để góp phần chỉnh sửa, hi vọng đưa đến cho độc giả những thông tin chân thật, chính 

Th.S Nguyễn Quốc Hồng

Ngày 20 tháng 5 năm 2017, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức Lễ trao "Giải thưởng Hồ Chí Minh", "Giải thưởng Nhà nước" về Văn học Nghệ thuật đợt 5 năm 2016 tại Nhà hát lớn Hà Nội.

Năm 2016 có 18 tác giả (đồng tác giả) có tác phẩm, công trình được Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, trong đó Cố Phó Giáo sư Ninh Viết Giao với công trình 9 tập Vè xứ Nghệ.

Về những đóng góp to lớn của cố PGS. Ninh Viết Giao đối với văn hóa dân gian xứ Nghệ đã có hàng trăm bài viết về ông của các nhà khoa học, bạn bè đồng nghiệp. Hàng chục giải thưởng của các cấp. Đặc biệt là danh hiệu "Kỷ lục người nhiều công trình nghiên cứu nhất về Văn hóa dân gian xứ Nghệ" và Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Trong dịp UBND tỉnh tổ chức lễ công bố sự kiện cố PGS. Ninh Viết Giao được Chủ tịch nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật chúng tôi viết về những gì mà cố PGS. Ninh Viết Giao đã cộng tác, giúp đỡ  đối với Trung tâm KHXH&NV Nghệ An và Chuyên san KHXH&NV Nghệ An ngay từ những ngày đầu thành lập, xuất bản và qua những năm hoạt động để Trung tâm có vị thế như ngày hôm nay.

Ngày 11 tháng 4 năm 2017, Trung tâm KHXH&NV Nghệ An (thuộc Sở Khoa học và Công nghệ) được thành lập. Trước và trong thời điểm Trung tâm KHXH&NV ra đời, Nghệ An đã có các tổ chức sưu tầm, nghiên cứu về lĩnh vực này từ hàng chục năm trước như: Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng thuộc Tỉnh ủy Nghệ An; Ban nghiên cứu Lịch sử địa lý thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An; Hội Văn nghệ dân gian tỉnh Nghệ An, Viện Nghiên cứu Văn hóa ngôn ngữ Đại học Vinh… và rất nhiều nhà nghiên cứu có tên tuổi đã và đang sưu tầm, nghiên cứu về các lĩnh vực thuộc KHXH&NV xứ Nghệ.

Trước thực tế trên, lãnh đạo Sở KH&CN cùng với Trung tâm KHXH&NV thật sự lo lắng cho Trung tâm trong những bước đi ban đầu. Nhiều câu hỏi đặt ra: Sưu tầm cái gì? Chọn lĩnh vực gì để nghiên cứu mà không trùng với các tổ chức, cá nhân trước đã nghiên cứu? Lựa chọn phương pháp tiếp cận mới đối với kho tàng văn hóa xứ Nghệ ra sao để khai thác những giá trị mà các thế hệ trước đã sáng tạo, lưu giữ. Để từng bước trả lời những câu hỏi ấy cũng như vượt được khó khăn ban đầu, dưới sự chỉ đạo của Tiến sĩ Trần Xuân Bí - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thời bấy giờ, Trung tâm KHXH&NV đã kiên trì thực hiện phương châm "tầm sư học đạo". Lãnh đạo Trung tâm đã nhờ cố PGS. Ninh Viết Giao giúp đỡ những hoạt động của Trung tâm trong những ngày đầu.

Với tư cách là Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian tỉnh Nghệ An, nhà địa phương học xứ Nghệ, PGS. Ninh Viết Giao đã trao đổi kinh nghiệm của cá nhân ông và những hoạt động cả thành công và thất bại của hội mà ông là chủ tịch.

Để mở rộng thêm các mối quan hệ với các Viện nghiên cứu KHXH&NV ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và "thu hút" những người con xứ Nghệ đã thành danh trong lĩnh vực nghiên cứu, PGS. Ninh Viết Giao đã dẫn các đồng chí lãnh đạo Trung tâm ra Hà Nội tổ chức các cuộc gặp gỡ các chuyên gia, các nhà khoa học, khi thì tổ chức gặp tại nhà một giáo sư là người Nghệ đang sống và làm việc tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, khi thì tổ chức tại viện nghiên cứu để gây dựng mối quan hệ ban đầu giữa Trung tâm KHXH&NV với các nhà khoa học trong cả nước để mời gọi về Nghệ An , trực tiếp nghiên cứu và tham gia nghiên cứu các đề tài về Nghệ An, về xứ Nghệ. Từ các mối quan hệ đó ngay từ đầu trong công tác nghiên cứu của Trung tâm KHXH&NV đã có sự đóng góp của các nhà khoa học tên tuổi như Đề tài: "Nghiên cứu xây dựng nội dung mô hình và tổ chức đào tạo về kỹ năng và phương pháp nghiên cứu địa phương học cho cán bộ nghiên cứu KHXH&NV". Đề tài đã được các nhà khoa học tên tuổi tham gia như: GS.TS Vũ Cao Đàm; GS.TSKH Đỗ Quang Hưng; PGS. Hoàng Văn Lân… và bản thân PGS. Ninh Viết Giao cũng tham gia viết chuyên đề Văn hóa xứ Nghệ. Đề tài "Bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ trước xu thế đổi mới, hội nhập toàn cầu hóa hiện nay" với sự tham gia của các nhà nghiên cứu, nhà văn hóa như: GS. Phong Lê; GS, NGND Nguyễn Đình Chú; PGS, TS. Nguyễn Xuân Đức v.v.. Quá trình thực hiện Đề tài này, PGS. Ninh Viết Giao không chỉ tham gia biên soạn một số chuyên đề, mà còn chủ trì nhiều cuộc hội thảo và nghiệm thu các chuyên đề do chủ nhiệm và cơ quan chủ trì đặt hàng. Đặc biệt là công trình "Nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn và xuất bản Nghệ An toàn chí" đây là công trình lớn nhất từ trước đến nay thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An. Công trình gồm 22 tập thuộc tất cả các lĩnh vực về văn hóa vật thể và phi vật thể Nghệ An và xứ Nghệ được UBND tỉnh giao cho Trung tâm KHXH&NV chủ trì, PGS. Ninh Viết Giao Chủ tịch Hội đồng biên soạn. Trong tổng số 22 tập, PGS. Ninh Viết Giao đảm nhận biên soạn và chủ biên 13 tập. Trong 3 năm vừa thực hiện nhiệm vụ của Chủ tịch Hội đồng biên soạn, vừa hoàn thành xuất bản 6 tập, công việc đang dở dang thì PGS qua đời.

Sau khi PGS qua đời, việc triển khai các tập còn lại của công trình gặp rất nhiều khó khăn vì thiếu người chủ trì đủ tầm về trí tuệ cũng như tư liệu để các thành viên triển khai. Đến nay Dự án đã hoàn thành xuất bản được 12 tập, còn lại 10 tập đang triển khai dang dở.

Công lao của PGS. Ninh Viết Giao với Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn không chỉ có thế. Sau 1 năm thành lập, tháng 6 năm 2008, lãnh đạo Sở KH&CN quyết định ra Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An để làm "Diễn đàn tập hợp, quy tụ các nhà nghiên cứu, khoa học, quản lý trong và ngoài tỉnh cùng chia sẻ kinh nghiệm trong công tác; trao đổi tri thức thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn". Cái khó lớn nhất trong việc triển khai phát hành Chuyên san KHXH&NV là người viết bài, cộng tác viên của Chuyên san; vấn đề chọn được đội ngũ cộng tác viên phù hợp với Chuyên san KHXH&NV… Lại một lần nữa lãnh đạo Trung tâm "ôm cặp" theo PGS. Ninh Viết Giao ra Hà Nội, vào thành phố Hồ Chí Minh, gặp gỡ từng nhà khoa học, từng chuyên gia mời gọi, thuyết phục tham gia viết bài cho Chuyên san.

Tháng 6 năm 2008, Chuyên san KHXH&NV ra số đầu tiên với đội ngũ cộng tác viên tên tuổi như: GS.NGND Nguyễn Đình Chú, GS.TS Nguyễn Nhã Bản, nhà sử học Dương Trung Quốc, nhà văn Võ Văn Trực, nhà nghiên cứu Bùi Thiết… Các số tiếp theo có thêm GS. Phong Lê, PGS.TS Trần Đình Thiên, PGS. TS Trần Thị An, GS.TS Đỗ Quang Hưng, TS Trần Kim Hào, GS. Viện sĩ Nguyễn Cảnh Toàn tham gia viết bài trên Chuyên san. Đối với  PGS. Ninh Viết Giao hầu như số nào cũng có bài về văn hóa dân gian xứ Nghệ đăng trên Chuyên san, trước khi qua đời PGS đã đóng góp cho Chuyên san KHXH&NV gần 30 bài viết trên các lĩnh vực thuộc không gian văn hóa xứ Nghệ.

Gần 60 năm gắn bó cho một sự nghiệp được định hướng và khẳng định ngay từ đầu là sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian và chung thủy với vùng đất xứ Nghệ, mặc dầu PGS. Ninh Viết Giao đã về cõi vĩnh hằng, nhưng tên tuổi PGS vẫn mãi mãi trong lòng dân xứ Nghệ.

PGS. Ninh Viết Giao "ra đi" để lại nhiều công trình đang còn dang dở: Đó là 7 tập trong bộ "Nghệ An toàn chí": Nhân vật Nghệ An; Trò chơi, trò diễn Nghệ An; Phương ngôn, ngụ ngôn, câu đố Nghệ An; Dân ca, dân nhạc, dân vũ; Địa danh Nghệ An; Các dân tộc thiểu số Nghệ An; Tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng tôn giáo Nghệ An và một số công trình khác như: Văn hóa phồn thực dân gian xứ Nghệ; Tuồng, chèo xứ Nghệ; Các gia phả ở xứ Nghệ v.v... và kho tư liệu PGS đã sưu tầm (có những loại đã xử lý và những loại chưa xử lý) trong gần 60 năm về văn hóa dân gian xứ Nghệ cùng với kho sách cá nhân của PGS. Để tiếp tục hoàn thành các công trình đang làm dở của PGS, tỉnh cần có chính sách hỗ trợ về tài chính giao cho một cơ quan đảm nhiệm hoàn thành, xuất bản các công trình trên.

Về tư liệu và kho sách của PGS, tỉnh giao cho ngành Văn hóa hoặc Khoa học làm việc với gia đình của PGS tập trung về thư viện tỉnh hoặc thư viện KHXH&NV làm phòng đọc mang tên Ninh Viết Giao để cho các nhà khoa học, những người quan tâm khai thác trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa, đặc biệt là văn hóa dân gian xứ Nghệ để tránh sự lãng phí công lao sưu tầm của đội ngũ cán bộ nghiên cứu trong lĩnh vực này.

Làm được những việc còn lại mà PGS. Ninh Viết Giao chưa kịp làm cũng là sự tri ân của nhân dân xứ Nghệ đối với người đã trọn đời cống hiến cho việc bảo tồn kho tàng văn hóa dân gian xứ Nghệ.

Ninh Viết Quang

Trong những năm rong ruổi khắp xứ Nghệ sưu tầm, tìm hiểu văn hóa văn nghệ dân gian, cố Phó Giáo sư Ninh Viết Giao đã đến nhiều làng, nhiều nhà ghi chép hết những gì trong quá khứ nhân dân đã sáng tạo, lưu truyền lại. Qua ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, truyện tiếu lâm, hò vè; thơ văn yêu nước và cách mạng, thơ văn trào phúng của các nhà Nho, ông đã nghiên cứu, biên soạn cho ra đời hơn 50 tác phẩm về câu đố, ca dao, hát phường vải, hát dặm, truyện kể dân gian, ca dao, vè. Ông còn dành thời gian biên soạn và cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, văn học dân gian xứ Nghệ: Tục thờ thần và thần tích Nghệ An; Văn bia Nghệ An; Về văn học dân gian Nghệ Tĩnh; Về văn hóa xứ Nghệ; Văn hóa ẩm thực dân gian xứ Nghệ… và một số mảng đề tài nghiên cứu về lịch sử, văn hóa Nghệ An, thơ văn Xô viết Nghệ Tĩnh, hồi ký cách mạng, công trình địa chí văn hóa các địa phương: Tân Kỳ, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Quỳ Hợp, Hưng Nguyên, Nghi Lộc… và trên 100 bài nghiên cứu, báo cáo khoa học, bài viết về đất nước và con người xứ Nghệ đăng trên các tạp chí hoặc in trong các sách kỷ yếu, hội thảo... Vào những năm 2005, 2006 khi đã ở cái tuổi "cổ lai hy", bệnh tật hiểm nghèo, được nhiều bạn bè, nhiều nhà nghiên cứu về văn hóa trong nước cổ vũ, động viên, ông đã dành nhiều thời gian, công sức lục tìm những câu ca, hò vè, mẩu chuyện tiếu lâm cho là "bậy bạ", "tục tĩu" mà trong quá trình đi điền dã ông ghi chép lại cất kỹ thỉnh thoảng mới ngó đến đọc cho vui; nghiên cứu biên soạn công trình "Văn hóa phồn thực dân gian xứ Nghệ". Nói là dân gian, song trong công trình ông nghiên cứu, biên soạn không ít bài được sáng tác bằng các thể thơ tứ tuyệt, bát cú, câu đối và cả phú, văn tế theo trường luật của trường ốc thuở xưa. Ở nước ta tác phẩm nói về văn hóa phồn thực còn hiếm hoi cả những tác phẩm trong nước và sách dịch của các tác giả nước ngoài; nên khi biên soạn công trình ông gặp rất nhiều khó khăn, hiếm tài liệu tham khảo, ngay cả tư liệu để biên soạn cũng ít ỏi…

Công trình nghiên cứu, biên soạn "Văn hóa phồn thực dân gian xứ Nghệ" của cố PGS. Ninh Viết Giao gồm 2 phần: phần tiểu luận ngoài đặt vấn đề, văn hóa phồn thực được ông đề cập 3 dạng thức: văn hóa phồn thực dân gian; một số phong tục tập quán và văn học dân gian. Phần sưu tập có các mục: tục ngữ, thành ngữ, quán ngữ; Ca dao, dân ca; Hò kéo gỗ; Những câu hát nghịch ngược trong gia tài hát phường vải; Câu đố; Mẩu chuyện tiếu lâm; Ca dao mới mang màu sắc tính dục. Theo ông, xứ Nghệ nói riêng, dân tộc ta nói chung có hẳn một dòng văn hóa phồn thực từ phong tục, tín ngưỡng, lễ hội dân gian đến văn học, kiến trúc, điêu khắc, mỹ thuật được biểu hiện bằng thờ cúng, miêu tả các sinh thực khí của nam nữ, các hoạt động tình dục mà ở đó mỗi cái "thực" cụ thể đều có nguyên nhân nằm khuất bên trong cái "huyền" rộng lớn. Dạng thức biểu hiện cụ thể về mặt tín ngưỡng phong tục, lễ hội dân gian được ông đề cập tục thờ cúng các thần Ông Đùng, Bà Đà; tắt đèn; rước sinh thực khí; rước nõn nường; hội Hang Bua... Công trình đi sâu vào mặt văn học, nói về tình dục của con người thời mông muội, đến sự hạn chế cấm đoán tình dục, đến văn hóa tình dục, cuội nguồn văn hóa tình dục. Thông qua đó thấy rằng bản năng tình dục, thèm khát tình dục là nguồn gốc của mọi công trình sáng tạo và đó cũng là yếu tố cơ bản tạo thành nhân cách con người. Ở xứ Nghệ nhiều câu tục ngữ, bài ca dao, tác phẩm truyện kể,... thấy rõ văn hóa tình dục là một hệ thống bao gồm: thực hiện tình dục, quy phạm tình dục, bù đắp tình dục, khoa giáo tình dục, quan niệm tình dục gần đây và hiện nay. Phần cuối công trình ông giới thiệu một số câu tục ngữ, ca dao nhất là hò kéo gỗ, những câu hát nghịch ngược trong hát ví phường vải, câu đố, chuyện tiếu lâm, một số thơ văn của nhà Nho xứ Nghệ để thấy trong sáng tác thưởng thức văn học, tính dục là một khuynh hướng, thể hiện rõ văn hóa tình dục tức là văn hóa phồn thực, cũng chính là sự bù đắp tình dục. Mà bù đắp tình dục là sự thăng hoa của tâm lý tình dục, sự phong phú và mỹ hóa tín hiệu tình yêu, sự gửi gắm và đạt yêu cầu tình ái... Vì vậy mà có các sáng tác, tác phẩm để thỏa mãn nhu cầu tình dục về mặt tinh thần, mặt phi vật thể. Tất cả những điều đó về mặt xã hội đều có cái thực cụ thể, khuất trong cái thực cụ thể đó là thế giới huyền toàn năng, nguồn gốc của mọi sự sáng tạo và ban phát mọi sự phồn vinh, tạo nên dòng văn hóa phồn thực.

Công trình "Văn hóa phồn thực dân gian xứ Nghệ" được hoàn thành vào cuối năm 2006, mặc dù những gì ông công bố cũng chỉ ở mặt văn học là chủ yếu, do nhiều nguyên nhân, ông không nghĩ công trình biên soạn để xuất bản mà chỉ ghi lại những tư liệu ông đã sưu tầm được, nên ông cất kỹ và đề "Sách không phổ biến". Nhưng có lẽ ông ngại, hay vì "xấu hổ" những tư liệu sưu tầm, biên soạn công bố nó phơi bày tất cả những gì gọi là trần tục, lõa lồ của một trong "tứ khoái" của con người, nếu như ai đó lỡ đọc được sách này cho là "tục tĩu", "bậy bạ", "tự nhiên chủ nghĩa" rồi nghĩ không tốt cho người biên soạn.

Thôi thì, ai muốn nghĩ gì thì nghĩ, nghĩ như Hồ Xuân Hương, Vũ Trọng Phụng… trước kia là cùng. Nhân dịp được Đảng và Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật cho ông, tôi mạn phép được nói đôi điều về công trình này để bạn đọc thấy được sự đóng góp của ông trong việc bảo tồn văn hóa dân gian xứ Nghệ trên nhiều thể loại và cũng là tâm huyết của ông mà gần 60 năm rong ruổi khắp mọi làng quê xứ Nghệ, ông đã chắt chiu, cất giữ; quên nỗi vất vả, gian truân, quên những giọt mồ hôi thấm trên từng trang viết để lưu truyền về các thế hệ tiền nhân đã sáng tác dòng văn hóa phồn thực, để lại cho thế hệ con cháu những nét văn hóa độc đáo, tài hoa, góp phần làm giàu thêm đời sống văn hóa của nhân dân xứ Nghệ nói riêng, nhân dân cả nước nói chung. 

Th.S Bùi Đình Sâm

 

Nha Môn và Nhạn Tháp là hai làng lâu đời của xã Hồng Long, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Xã Hồng Long có 6 di tích lịch sử văn hóa bao gồm nhiều loại hình, từ cấp xã đến cấp trung ương quản lý. Hiện nay, trong số đó có hai di tích được dư luận quan tâm là Vương Lồi Thành ở làng Nha Môn và Tháp Nhạn tại làng Nhạn Tháp. Đây cũng là hai địa danh - hai di tích được nhiều học giả quan tâm. Mặc dù thế nhưng đến nay việc trùng tu, tôn tạo các di tích vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

I. Làng Nha Môn - Di tích Vương Lồi Thành hay Vũng Thành?

Tên gọi làng Nha Môn có từ lâu, khoảng gần 700 năm nay. Nha Môn nằm bên bờ tả sông Lam, cách Khu di tích lịch sử văn hóa Mai Hắc Đế chừng 8 km và cách quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh khoảng 3 km đường chim bay. Đặc điểm nổi bật của làng Nha Môn là có nhiều di tích lịch sử (văn hóa, kiến trúc), nhiều đền, chùa, như: Tam Bảo, chùa Vàng, chùa Iểng, chùa Ngầm, đền Long Môn, đền Tứ Trụ, chợ huyện…

Nha Môn, theo Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, năm 1996, trang 677, cho rằng: Nha là cơ quan hành chính cấp cao trong tổ chức hành chính trước đây, có chức năng quyền hạn tương đương với tổng cục. Nha cảnh sát, Nha khí tượng.

Nha Môn: Cửa quan; Chốn Nha môn.

Ngoài tên gọi Nha Môn, nơi đây còn sử dụng một số tên khác, như: Long Môn, Ba Đình… Ngày trước làng nổi tiếng giàu có, hầu hết là tầng lớp trung lưu trở lên. Hồi cải cách ruộng đất, nghe nói làng Nha Môn có 17 địa chủ và có 3 thầy thuốc Bắc chữa bệnh nổi tiếng. Từ năm 1930, khi Đảng ta ra đời, làng Nha Môn thuộc tổng Lâm Thịnh (gồm các xã Nam Long, Xuân Lâm, Nam Liên trước đây) đã sớm thành lập chi bộ đảng và có nhiều trai làng tham gia hoạt động cách mạng nhiệt huyết, tiêu biểu như các lão thành cách mạng, cụ: Bùi Văn Điều, Nguyễn Khắc Phạn, Nguyễn Khắc Trinh, Vương Đình Vinh, Vương Đình Dinh... Và còn có nhiều người tham gia hoạt động chính trị - xã hội sôi nổi, được gia đình cung cấp ăn học, tiếng Tây, tiếng Tàu, tiếng ta thông thạo, vượt ra khỏi làng, đi xa hoạt động nhưng sự nghiệp không thành, như cụ: Nguyễn Quang Hồng, còn có tên gọi khác là Ký Hồng (hiện nay gia đình còn lưu giữ Giấy chứng nhận ông là học viên Trường quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc), Trần Duy Quán, v. v…

Vương Lồi thành (nay gọi là di tích Vũng Thành), là một trong 6 Di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc của làng, xã Hồng Long. Di tích này cách di tích lịch sử văn hóa đền thờ và mộ Tiến sĩ Nguyễn Khắc Văn (cách đây 400 năm) trong làng khoảng chừng 100m về phía Bắc, vì thế, trung tâm làng trở nên vui nhộn hơn. Làng Nha Môn nói chung, Di tích Vũng Thành (Vương Lồi thành) nói riêng đã trở nên địa chỉ hấp dẫn cho nhiều tác giả của ta lẫn tây từ trước đến nay đều quan tâm. Ví như: Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên; An Tĩnh cổ lục (Le vieux An - Tĩnh) của tác giả người Pháp Brơtông (Hyypolyte Le Breton) và nhiều bài viết của các tác giả, như: Ninh Viết Giao, Chu Trọng Huyến, Trần Thanh Tâm, Nguyễn Quang Đạm, v.v.

Tuy vậy, đến nay vẫn còn một số điểm của Di tích chưa được làm sáng tỏ. Từ đó, khiến cho việc quản lý, chỉ đạo trùng tu, tôn tạo Di tích này gặp nhiều khó khăn.

Một số nội dung chủ yếu đã được các tác giả phản ánh liên quan đến Nha Môn - Vương Lồi thành - Vũng Thành như sau:

1. Vương Lồi thành là địa danh lịch sử có liên quan đến sự kiện vua nước Nam Trần

Duệ Tông, thân chinh cầm quân đi đánh giặc Chiêm Thành, thua trận và bị giết vào ngày 24 tháng 5 năm Đinh Tỵ (1377) ở thành Đồ Bàn (kinh đô của nước Chăm Pa trên đất tỉnh Bình Định xưa). Vua Chăm đã dựng lên một hàng tướng An Nam bị bắt, phản bội là Trần Húc với tên mới là Ngự Câu Vương. Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 2, trang 255 (Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, năm 2003), chép rằng: "Vào mùa Hạ, tháng 5, ngày mùng 5, năm Mậu Ngọ (1378) người Chiêm đưa Ngự Câu Vương Húc đã đầu hàng đến cướp phủ Nghệ An, tiếm xưng vị hiệu để chiêu dụ dân chúng, nhiều người theo lệnh của bọn ngụy". Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 2, trang 249, 251, ghi: "Ngày 24 tháng 5 Đinh Tỵ… vua (Duệ Tông) bị hãm trong trận mà chết… Tháng 5, ngày 13, thượng hoàng (Nghệ Tông) thấy vua chết vì nạn nước mới lập con trưởng của vua là Kiến Đức đại vương Hiện nối nghiệp lên ngôi hoàng đế".  Như vậy, ở giai đoạn này, ta thấy rằng triều Trần không có sự đứt đoạn trong lịch sử. Đến năm 1380, người Chiêm lại xúi giục nhau ra cướp Nghệ An, An Nam lần nữa. Sách Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 2, trang 258 viết: "Canh Tân (1380), tháng 2, người Chiêm xúi dục người Tân Bình, Thuận Hóa (tức người Chăm ở trên các vùng đất ấy) ra cướp Nghệ An, Diễn Châu…".

Như vậy, theo Đại Việt sử ký toàn thư: Tướng ngụy Trần Húc đã hai lần kéo quân ra chiếm đóng An Nam, trong đó có Nghệ An vào năm 1378 và 1380. Lúc này triều Trần vẫn có chính vương là con trai của Trần Duệ Tông tên là Kiến Đức lên nối ngôi, hiệu là Phế Đế. Do đó, người Chăm đưa Ngự Vương Húc chiếm đóng Nghệ An và đặt lị sở tại Nha Môn để cai trị, nhằm chống lại triều Trần chỉ là với tư cách như là một chính quyền ngụy - tay sai của vua Chiêm Thành mà thôi. Điều này nó làm rõ hơn hai quan niệm: Một là tại thời đoạn này không có vương triều ngụy Trần Húc, vì khi vua Duệ Tông bị tử trận thì con trai của vua Duệ Tông là Hiện đã lên nối ngôi. Hai là vương triều ngụy Trần Húc không đóng lị sở tại Nha Môn, vì rằng, không thấy Đại Việt sử ký Toàn thư nói cụ thể. Từ đó, khẳng định không có vương triều ngụy Trần Húc là thiếu khoa học, độ tin cậy không cao; nghi ngờ về Di tích Vũng Thành (Lồi Vương Thành), Nha Môn là không thực tế.

2. Đến thời thuộc Pháp, nhiều người Pháp rất quan tâm nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, trong đó có Nghệ An. Trong các học giả nghiên cứu ấy có tác giả Brơtông, trong tác phẩm An Tĩnh cổ lục của mình, ông đã đề cập đến Lồi Vương thành (tức Di tích lịch sử Vũng thành) ở trên đất Nha Môn, Hồng Long, Nam Đàn ngày nay. Lồi Vương thành được trình bày tại mục IV: Các thành trì trên lưu vực sông Lam, thuộc chương V: Thung lũng sông Lam. Theo lời dịch của bác Chu Trọng Huyến, một đoạn trong mở đầu chương V: "Trên bờ sông chợ huyện, tức chợ đặt ở nơi lỵ sở của huyện (Nam Đàn) mà dân cư gọi tòa nhà của quan huyện là chốn Nha Môn. Lỵ sở ấy xưa được bao bọc bởi một tòa thành mà sau này người ta chỉ còn nhìn thấy những phế tích của nó".

3. Cố PGS.Ninh Viết Giao và Trần Thanh Tâm là những nhà nghiên cứu say sưa về xứ Nghệ và có nhiều công trình nổi tiếng, trong đó có Nha Môn, Nam Đàn. Trong cuốn sách Nam Đàn - Quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoặc trong Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An, số 1+2, năm 2013, trang 49, cố PGS. Ninh Viết Giao viết: "Năm 1377, Trần Duệ Tông quyết định thân chinh, đem đại quân tiến thẳng đến thành Chà Bàn, nhưng rồi bị thảm bại, Trần Duệ Tông bị giết, một thân vương nhà Trần là Ngự Cầu vương Trần Húc đầu hàng Chăm Pa. Chúng thừa thắng ra đánh Đại Việt. Có lần đưa Trần Húc ra đánh phá Nghệ Tĩnh "Cướp được Nghệ An, (Trần Húc) tiềm xưng tên hiệu để chiêu dụ nhân dân. Có nhiều người nhận mệnh lệnh của giặc". Tên vua ngụy này đắp thành Lồi, lập triều đường ở Long Môn (xã Hồng Long, huyện Nam Đàn), lấy đây làm kinh đô (ngụy) để chống lại nhà Trần". Tên Long Môn cũng là tên gọi của làng Nha Môn.

4. Ngoài những tác giả trên, còn có nhiều nhà nghiên cứu khác, như Quang Đạm, Nguyễn Bá Mão… cũng giành nhiều thời gian nghiên cứu về quê hương Nam Đàn nói chung, Hồng Long nói riêng. Trong cuốn sách Lịch sử huyện Nam Đàn, có đoạn viết: "Năm 1377, một thân vương nhà Trần tên là Húc theo quân giặc đặt sào huyệt ở Long Môn thuộc xã Hồng Long ngày nay".

5. Tôi sinh ra và lớn lên chính ngay mảnh đất Nha Môn này. Những điều sách sử đã phản ánh như trên là có thật ở quê tôi.

Tên gọi làng Nha Môn thì mãi đến nay vẫn dùng, nhất là trong bài cúng của các dòng họ mỗi khi tế Tổ, với câu rằng: "Việt Nam quốc… Nghệ An tỉnh,… Nha Môn thôn".

Chợ huyện là chợ tồn tại từ mấy trăm năm trước, đến năm 1968, chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ vô cùng ác liệt, quê tôi bị bom Mỹ tàn phá, thiêu rụi, tan hoang…, Chợ Huyện theo đó phải sơ tán, họp kín dưới những tán cây, lùm cây… đến lúc trúng bom, rốc két dân làng chết khi ấy chợ huyện mới chịu tan dần.

Vũng thành di tích lịch sử chỉ là phế tích, nhưng cũng đủ cho chúng ta nhận diện về một thành lũy xa xưa để lại. Tuy nhiên, do vì đất hẹp, người đông, địa phương không có chỗ làm nghĩa trang, nên dân làng một thời chọn nơi đây làm Nghĩa Trang của làng với tên gọi trong bài cúng thổ địa, "Bản xứ Cồn thành". Những năm đầu thập kỷ 60, thế kỷ XX, Vũng Thành (Lồi Vương thành), có thành lũy bao bọc xung quanh, đến nay chỉ còn đoạn thành cao chừng 3m, rộng 10m, dài gần 500m. Di tích lịch sử này được giao cho xã quản lý, mặc dù chính quyền đã cố gắng bảo vệ, nhưng di tích theo thời gian, phần nào bị xâm hại…

Tóm lại:

-  Sự kiện lịch sử vua Trần Duệ Tông thân chinh cầm quân ra trận đánh giặc Chiêm Thành rồi tử trận tại thành Đồ Bàn (Chà Bàn) và một thân vương nhà Trần bị bắt là tướng Trần Húc còn gọi là Ngự câu vương Húc làm phản đem quân đánh chiếm An Nam, trong có Nghệ An là có thật.

Nhiều tác giả (Tây cũng như ta) đều cho rằng, Trần Húc - tên vua ngụy này đã lập triều đường ở Long Môn (Nha Môn) làm kinh đô (ngụy) để chống lại nhà Trần là đáng tin cậy.

Rất ít tác giả cho rằng điều này còn là bí ẩn, cần làm rõ, vì trong Đại Việt sử ký Toàn thư chưa nói cụ thể tướng ngụy Trần Húc đóng vương Triều tại Nha Môn (Long Môn) như thế nào.

Trên cơ sở thực tế về Vũng Thành (Lồi Vương thành) và những tư liệu lịch sử liên quan đến Lồi Vương thành được nghiên cứu, phát hiện qua sự kiện lịch sử do tướng ngụy Trần Húc cầm đầu đánh chiếm Nghệ An, dựng vương triều ngụy chống lại triều Trần lúc bấy giờ tại làng Long Môn (Nha Môn), nay thuộc xã Hồng Long, huyện Nam Đàn như đã được các tác giả trình bày trên là khách quan, tin cậy.

Vì vậy, đề nghị UBND tỉnh, ngành Văn hóa Nghệ An:

Một là, đổi tên di tích Vũng Thành thành tên Lồi Vương thành.

Hai là, tiếp tục mở Hội thảo khoa học, làm rõ, khẳng định tên gọi di tích Lồi Vương thành đầy đủ và chính xác hơn.

II. Làng Nhạn Tháp và cần phục dựng Tháp Nhạn.

Làng Nhạn Tháp cũng có nhiều di tích lịch sử, văn hóa, như làng Nha Môn, như: Nhà thờ họ Phạm, Mộ cụ Nguyễn Hoàng Thường, Chùa Bàn Giáp. Đặc biệt, trong đó có hai di tích lịch sử kiến trúc: Đền Nhạn Tháp, thờ vọng vua Lý Nhật Quang và Tam tòa Thánh Mẫu được xây dựng từ thế kỷ 11; Tháp Nhạn được xây dựng vào thế kỷ thứ VII. Cũng như Lồi Vương thành, Tháp Nhạn cũng được nhiều tác giả trong nước và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, tiêu biểu trong số đó là GS. Hoàng Xuân Chinh với bài: "Tháp Nhạn - Một ngọn tháp Phật giáo độc đáo cổ nhất nước ta"…

Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả xin nhấn mạnh thêm một số nội dung sau:

1. Tháp Nhạn được xây dựng trên mặt núi Nhạn thuộc xã Hồng Long, huyện Nam Đàn. Tháp Nhạn đã bị đổ từ lâu, không rõ năm nào. Vào những năm 30 thế kỷ 20, nhiều học giả nghiên cứu, nhất là các học giả người Pháp rất để ý đến viên gạch xây tháp mang dòng chữ "Đường Trình Quán lục niên", tức là viên gạch được làm vào năm thứ sáu niên hiệu Trình Quán đời nhà Đường, tức năm 632.

2. Năm 1985, 1986 các nhà khảo cổ học nước ta tiến hành khai quật, điều tra Tháp Nhạn. Các chi tiết cụ thể của Tháp Nhạn đã có nhiều bài viết phản ánh, nhưng cần nói thêm là: Toàn bộ cuộc khai quật tổng cộng thu được 318 hiện vật, bao gồm nhiều loại vật liệu xây dựng như gạch, ngói, đồ thờ cúng, mai táng…

Đặc biệt, trong đó có hộp xá lị hết sức độc đáo, gồm hai hộp lồng vào nhau. Hộp ngoài bằng đồng hình chữ nhật, dài 12cm, rộng 8cm, cao 8cm, vuông thành sắc cạnh, không có hoa văn. Hộp trong bằng vàng hình chữ nhật, dài 8cm, rộng 5,7cm. Nắp hộp giống như cái mai, hơi vòm úp khít lên thân hộp, đỉnh nắp trang trí một khung hình chữ nhật có các hoa hình 6 cánh có nhị. Bốn mặt hộp trang trí các khung hình chữ nhật các hoa 3 cánh chụm lại với cuống có 2 đôi cánh đối xứng. Hộp đựng xá lị bằng vàng đặt trong chiếc hộp bằng đồng hình chữ nhật và được đặt trong trụ gỗ. Phía ngoài trụ gỗ là đất sét. Từ mặt sân tháp cho đến đáy trụ sâu 3,72m.

3. Nghiên cứu Tháp Nhạn Hồng Long, các nhà nghiên cứu Pháp và Việt Nam đều khẳng định rằng: Tháp Nhạn là ngọn tháp to lớn và độc đáo vào loại bậc nhất trong kiến trúc phật giáo nước ta hồi thế kỷ thứ VII. Nơi đây có sự giao lưu 3 nền văn hóa với nhau: Hộp xá lị (văn hóa Ấn Độ) - Hộp vàng có hoa văn đối xứng (văn hóa Trung Quốc) - Hòm độc mộc (văn hóa Việt Nam). Tháp Nhạn là một trung tâm Phật giáo miền Trung. Bởi vì như chúng ta biết, Phật giáo truyền bá vào nước ta từ những năm đầu công nguyên. Tháp Nhạn được xây dựng vào thế kỷ thứ 7 là lúc Phật giáo đã bắt đầu lan tỏa khắp Giao Châu. Vì thế Tháp Nhạn lúc này có một vị trí quan trọng trong việc truyền bá Phật giáo ở cực nam Giao Châu (miền Trung nước ta hiện nay).

4. Nhận thấy vai trò rất quan trọng của Phật giáo trong đời sống xã hội hiện nay, ngoài sự quan tâm của nhiều học giả, nhà nghiên cứu, trong đó có bản thân tôi là người con của quê hương, nhiều đồng chí lãnh đạo tỉnh qua các thời kỳ đã đến nơi thị sát, chiêm ngưỡng, thắp hương tỏ lòng kính trọng và quyết tâm phục dựng bằng được Tháp Nhạn Hồng Long.

5. Việc chuẩn bị phục dựng Tháp Nhạn được tiến hành và cơ bản hoàn tất thủ tục, đồng thời triển khai tìm kiếm, khai thác, nguồn lực chủ yếu là xã hội hóa… Công việc khá khẩn trương và có tính khả thi rất cao, được nhân dân Hồng Long và trong vùng rất phấn khởi, ủng hộ. Cụ thể một số nội dung được chuẩn bị như sau:

-  Về hồ sơ bản vẽ, thiết kế, ý tưởng phục dựng Tháp Nhạn, được Công ty TNHH ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ xây dựng Thái Hoàng là đơn vị tư vấn. Mọi nội dung chuẩn bị khá công phu, khách quan, khoa học tổ chức nhiều lần hội thảo, có ý kiến của các nhà chuyên môn, khoa học, các ban ngành văn hóa cấp tỉnh, huyện, các đại diện nhân dân địa phương, đặc biệt có ý kiến của các nhà sư… Chủ đầu tư là UBND huyện Nam Đàn. Về tài chính như trình bày ở trên, chủ yếu là xã hội hóa, trong đó có Ngân hàng Bắc Á…

- Ngày 03/8/2015, UBND huyện Nam Đàn ra Thông báo số 1228/TB - UBND về Kết luận Hội nghị cho ý kiến thiết kế Tháp Nhạn thuộc Dự án bảo tồn và tôn tạo đền Hồng Long xã Hồng Long, được nhân dân vui mừng đón nhận… Đáng ra công việc sẽ tiến hành suôn sẻ, thế nhưng vào cuối năm 2015, đầu 2016, công việc tạm dừng lại, vì cho rằng cần có ý kiến của Viện Khảo cổ học Việt Nam. Không rõ nguồn gốc tại sao lại như thế..?!, vì, năm 1985, chính khảo cổ học nhà nước đã đào, khai quật di tích này lên. Và, từ đó đến nay im bặt, đơn vị tư vấn lại xách cặp đi hỏi khắp nơi vẫn không tìm ra được câu trả lời.

6. Đặc biệt, gần đây không chỉ việc phục dựng Tháp Nhạn tạm dừng gây xôn xao dư luận mà còn có việc chỉ đạo di dời hộp xá lị đang cất giữ nơi Bảo tàng về một ngôi chùa trong huyện. Nhận được thông tin này, nhiều người, trong đó có tôi phản ứng cho đó là việc làm không đúng xét về mặt pháp lý cũng như văn hóa tâm linh.

Từ những điều trên, tôi kiến nghị:

- Viện Khảo cổ học Việt Nam cần có ý kiến kết luận tạo điều kiện cho việc phục dựng Tháp Nhạn được khẩn trương hơn để rước xá lị về chốn cũ, tuyệt đối không để xá lị quá lâu trên đất, vì như vậy sẽ xung, bất lợi. Đây là trách nhiệm của Viện Khảo cổ Việt Nam. Tôi rất tiếc cho bài viết của Giáo sư Hoàng Xuân Chinh đã bị bỏ quên hơn 10 năm nay. Theo tôi Viện Khảo cổ học nên dựa vào đấy để làm căn cứ đưa ra kết luận xác đáng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phục dựng Tháp Nhạn trong thời gian ngắn nhất.

- Ủy ban Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các tổ chức Phật giáo tỉnh Nghệ An cần có tiếng nói tích cực để việc phục dựng sớm đáp ứng lòng dân.

- Việc phục dựng Tháp Nhạn càng sớm sẽ đón nhận được lòng dân yên và vui nhiều hơn. 

Bùi Văn Chất

 

Đền Cuông, đền thờ An Dương Vương, vị vua, cách nay hơn 2.250 năm về trước, đã lập lên nước Âu Lạc, dựng kinh đô Phong Khê, xây thành Cổ Loa kiên cố. Vì không tỉnh táo trước âm mưu thâm độc của bọn bành trướng phương Bắc nên An Dương Vương đã sa cơ.

 "Vương đế ngũ thập niên, công tại sinh linh, danh tại sử:…" (câu đối Đền Cuông - Cao Xuân Dục).

Sự nghiệp của Thục Vương kéo dài 50 năm, khởi đầu từ năm 218 TCN, khi các lạc tướng suy tôn là vị lãnh tụ. Kháng chiến thắng lợi, Thục Vương nắm trọn quyền uy, dốc sức dựng cơ đồ đại nghiệp. Thế nhưng, lại kết thúc một cách bi thảm vào năm 208 TCN, tại nơi, mà Le Breton, theo cách gọi của dân gian xứ Nghệ, gắn địa danh với nhân vật/sự kiện: "Bến An Dương".

 "Bến An Dương", xưa là Cửa Hiền, bị bồi lấp từ lâu, nằm ở phía Đông Nam đền thờ An Dương Vương, nay thuộc xã Nghi Yên, Nghi Lộc. Trên sườn núi cận kề đường 1A là tòa miếu cổ kính nguy nga, một di tích văn hóa lịch sử lâu đời, dựng lên từ ngàn năm trước. Đây là khu rừng thiêng, thỉnh thoảng nhiều chim cuông tới múa, nên mới có tên Núi Cuông. Do sự tàn sát của người dân mà nơi đây, từ nửa cuối thế kỷ 20, vắng bóng loại chim này. Tuy nhiên, trong tiềm thức dân gian: Cánh chim cuông, móng rùa thần, lông ngỗng, sừng tê giác… vẫn còn in đậm nét như Thành Ốc - Đền Cuông… từng lưu giữ trong lòng nó "Công lao - Đức nghiệp An Dương" cùng truyền thuyết và những trang sử chép về Tiên Vương. Bởi vậy, mỗi khi trông lên đỉnh Núi Dạ chiêm ngưỡng Đền Cuông, hoài niệm tích xưa, hỏi,  lòng ai lại không khỏi băn khoăn xao xuyến?                                              

"Bờ biển La Nham vách núi cao       

Nỏ thân khởi họa tự năm nao  

Diễn Châu đường cái đà phai gấm

Mộ Dạ đền thiêng vẫn sáng sao   

Mặt biển, mênh mông tê rẽ nước         

Bên rừng, thi thoảng hạc khoe

Hoang đường ngoại sử không tin

Ra cổng, ghìm cương, dạ xuyến xao.." 

(Thơ Bùi Huy Bích: Qua Dạ Sơn nhớ chuyện xưa trong Nghệ An ký -  Mục từ Dạ Sơn -  BVC dịch).  

Góp phần lưu giữ hồn cốt uy linh thiên bi sử của thời mở nước và ngợi ca cảnh trí "Cổ miếu Danh sơn" còn có mảng "Văn bia, Câu đối ở Đền Cuông". Nhưng  tiếc là  phần  diễn dịch, theo như  trên các sách hiện nay, có  chỗ  cần được khảo đính.  Đó là Hai bản dịch Văn  bia số I  gồm: Một bản do Trần Nghĩa sưu tầm, diễn dịch,  in  trong cuốn "Cuộc đời và tác phẩm Phạm Hy Lượng", Nxb. VHTT-1977; Một bản có trong "Văn bia Nghệ An", Nxb NA-2004, theo cuốn: "Từ Cổ Loa đến đền Cuông" của Nguyễn Nghĩa Nguyên, Nxb Nghệ An-1993. Và Một bản dịch Văn bia số II trong "Văn bia Nghệ An" theo bản dịch chép tay lưu giữ tại Thư viện Nghệ An do Đào Tam Tỉnh cung cấp.

 Bia số I:  An Dương từ bi/ ký

Y sao    安陽王祠碑記

我始君曰鴻龐氏猶古之大庭葛天貌乎不可考其表現者惟我王見諸史則龜爪換机鵝毛識路筆載又難盡信聲靈蠁肸寔在演州之夜山祠至扣其祀之始求其祀之由伏臘村翁見聞異辭過郵亭者所以瞻周道而不禁慨然也夫帝牖松雲無煩譽大禹功明德見者思源我王之勳蹟至今為烈乃攷古者典籍無稽自畫籍談亡祖不已傎乎名山古廟石崖天齊幸其有所傳思以廣其傳是(足)在後之覽者.

皇朝嗣德甲戌秋        壽昌范熙亮拜識 (1)

Bản dịch I  do Trần Nghĩa sưu tầm, phiên - chú - dịch.

Phiên: Ngã Việt thủy quân viết Hồng Bàng Thị, do cổ chi đại định Cát Thiên mạc hồ bất khả khảo. Kỳ biểu hiển giả, duy ngã Vương, kiến chư sử, tắc quy trảo hoán cơ, nga mao chí lộ, bút tái hựu nan tận tín, thanh linh hưởng hất thực tại Diễn Châu chi Dạ Sơn từ. Chí khấu kỳ tự chi thủy, cầu kỳ tự chi do, phục liệp thôn ông kiến văn dị từ, quá bưu đình  giả sở dĩ chiêm chu đạo nhi bất cấm khái nhiên giã.

Phù Đế dũ Tùng vân vô phiền dự đại; Vũ công minh đức, kiến giả tư nguyên. Ngã Vương chi huân tích chí kim vi liệt. Nãi khảo cổ giả mỗi dĩ điển tịch vô kê, tự hoạch tịch đàm, vong tổ  bất dĩ điên hồ?

Danh sơn cổ miếu thạch nhai thiên tề. Hạnh kỳ hữu sở truyền, tư dĩ quảng kỳ truyền, túc tại hậu chi lãm giả.

Hoàng triều Tự Đức Giáp Tuất thu, Thọ Xương Phạm Hy Lượng bái chí(1).

Dịch nghĩa: Bài văn bia ở đền thờ An Dương Vương

Vua đầu tiên của nước Việt ta là họ Hồng Bàng, cũng giống như triều đình Cát Thiên(2) của Trung Quốc thời Thượng cổ vậy, xa vời không thể khảo cứu được. Thể hiện rõ ràng chăng, duy có vua An Dương Vương của ta: chuyện đánh tráo lẫy nỏ móng rùa, chuyện rắc lông ngỗng để đánh dấu đường đi, đều thấy chép trong sử sách. Những điều bút ghi tuy khó mà tin hết được, nhưng thanh linh của nhà vua vẫn còn bàng bạc ở đền Dạ Sơn đất Diễn Châu. Tới đây tìm hiểu về gốc gác và lý do thờ tự, dò hỏi những điều tai nghe mắt thấy khác nhau của các vị bô lão trong thôn, khách qua đường nhìn đại lộ mà không khỏi cảm khái.

Kìa đối với các bậc thiên thần, thiên tiên(3) có ca ngợi lắm cũng bằng thừa; công to đức sáng, ai mà chẳng uống nước nhớ nguồn. Vua An Dương Vương của ta huân tích nay vẫn còn hiển hách. Vậy mà các nhà cổ học lại thường lấy cớ sách vở không ghi chép nên gác lại không bàn tới, quên tổ tông chẳng quá lắm sao?

Danh sơn cổ miếu, vách đá ngang trời. May mà sự tích còn truyền, muốn được truyền rộng ra nữa để đời sau biết tới.

Hoàng triều Tự Đức, mùa thu năm Giáp Tuất (1874) Phạm Hy Lượng người Thọ Xương kính viết bài ghi nhớ.                                                                                                       

Bản dịch II:  "Văn bia Nghệ An", Nxb NA- 2004, theo "Từ Cổ Loa đến Đền Cuông"  của Nguyễn Nghĩa Nguyên, Nxb NA-1993.

  Phiên: Ngã Việt thủy quân viết Hồng Bàng thị do cổ chi Đại Đình Khát Thiên mạo hồ bất khả khảo, kỳ biểu hiện giả.                                                                                         

Duy ngã vương kiến chư sử tắc quy trảo hiến cơ, nga mao chứng lộ, bút tải vạn nan tận tín, thanh danh ngao tấn.

Thực tại Diễn Châu chi Dạ Sơn từ chí khấu kỳ tự chi thủy, lai kỳ. Kỳ chi do, Phục Khát  thôn, ông(2) kiến văn dị biện  quá thùy đình sở dĩ chiếm chu đạo nhi bất khả khái nhiên dã.

Phù đế biển tùng văn vô phiền dữ đại vũ công minh đức kiến giả. Tư nguyên ngã vương chi huân trạch chí kim vi liệt nãi khảo cổ giả mỗi dĩ điển tịch vô trâm tự họa tịch đàm(3) vọng cố bất dị thận hồ.

Danh sơn cổ miếu, thạch nhãn thiên tế. Hạnh kỳ hữu sở truyền tư dĩ quảng kỳ truyền, thị tại hậu chi lãm giả.

 Tự Đức Giáp Tuất trọng đông nhật

Thọ Xương Phạm Hy Lượng bái chí(1).

Dịch: "… Vua thủy tổ dân tộc ta thuộc họ là Hồng Bàng, truyền xa xưa từ Đại Đình Khát Thiên, nay chưa xác định được. Riêng vua ta, theo sách truyền, có việc móng rùa thần làm máy nỏ bị tráo đổi, mắc chước rải lông ngỗng chỉ đường. Bút ghi cũng quá sơ lược.

Thực tại hiện có đền ở núi Mộ Dạ - Diễn Châu, đặt lễ thờ phụng từ xưa. Lễ thờ phụng vốn từ thôn Phúc Khát, lời truyền có nhiều phần khác nhau. Tuy nhiên cũng tùy lòng tín ngưỡng của nhân dân, không ai ngăn cấm được. Vả lại, uy đức của nhà vua vẫn tươi xanh như áng mây, như thông rừng, công đức nhà vua thật sáng rạng.

Nhớ nguồn huân nghiệp của Người, đến nay các nhà khảo cứu mỗi lần sao lục điển tích càng gắng tìm tòi cặn kẽ để tỏ lòng tôn sùng đức tổ.

Cảnh danh thắng miếu cổ, núi chạm trời vân thê! Thật là may còn ghi được tích truyền để ngày càng lan tỏa ra các đời sau đặng kính thờ và thăm viếng.

Tiết trọng đông năm Giáp Tuất (1874) đời vua Tự Đức

Thọ Xương Phạm Hy Lương kính soạn(2).

 Bản dịch III: BVC khảo đính, phiên âm, chú, dịch

Phiên: Ngã thủy quân viết Hồng Bàng thị do cổ chi đại đình Cát Thiên mạc hồ bất khả khảo kỳ biểu hiện giả. Duy ngã vương, kiến chư sử tắc quy trảo hoán  cơ, nga mao thức lộ, bút tải vạn nan tận tín. Thanh linh hướng hật. Thực tại Diễn Châu chi Dạ Sơn từ, chi khấu kỳ tự chi thủy, cầu kỳ tự chi do, phúc lạp thôn ông kiến văn dị từ.  Quá  bưu đình  giả sở dĩ chiêm chu đạo nhi bất cấm khái nhiên dã.

Phu Đế dũ Tùng vân vô phiến dữ đại Vũ công minh đức. Kiến giả tư nguyên.

Ngã vương chi huân tích chi kim vi liệt, nãi khảo cổ giả mỗi dĩ điển tịch vô kê tự họa Tịch Đàm vong tố  bất di điên hồ?      

Danh sơn cổ miếu, thạch nhai thiên tề. Hạnh kỳ hữu sở truyền, tư dĩ quảng kỳ truyền,  thị tại hậu chi lãm giả.

Hoàng triềuTự Đức GiápTuất Thu. Thọ Xương Phạm Hy Lượng bái chí (1).

Dịch nghĩa: Văn bia - Đền thờ An Dương Vương

Vua đầu tiên của ta thuộc họ Hồng Bàng(3) tương ứng với thời "Cát Thiên"(4) xa xưa bên Trung Quốc, không thể khảo được. Biểu hiện rõ hình tượng  vua ta (An Dương Vương) chỉ thấy trong các sử có sự tích "Móng rùa bị đổi", "Lông ngỗng chỉ đường"… bút tả lại khó tin. Thanh  linh Người đang phảng phất trong chốn u minh(5). Thực tại, đến Đền Dạ Sơn Diễn Châu, hỏi về việc thờ phụng được lập lên tự thuở nào, nguyên do thờ tự, thì những người trong thôn, chăm lo hương khói (phục lạp)(6) ở đền, mỗi người nói một khác. Khách đi qua "bưu đình" (trạm dịch đặt trên đường thiên lý Bắc Nam)(7) trông lên, ai mà không cảm khái.

Ôi! Hiển tích của bậc thiên thân(8) chói ngời uy đức, như công lao vua Vũ thời nhà Hạ(9). Biết để nhớ nguồn.

Huân nghiệp của vua ta nay còn sáng chói, vậy mà các nhà khảo cổ cho rằng điển tịch không kê, cam chịu tiếng "Tịch Đàm vong tổ"(10), chẳng đã điên sao? 

 "Danh sơn Cổ miếu" vách núi chạm trời. May còn có sự tích lưu truyền, từ đó truyền rộng ra, để  đời sau xem, hiểu.

Ngày tốt tháng 11 năm Giáp Tuất Tự Đức (1874).

Thọ Xương, Phạm Hy Lượng, bái, ghi (bia).

Bia số 2. "Đông Thành huyện An Dương Vương miếu bi" 

Tấm bia này hiện chưa thấy, song văn bia đã được ghi trong tập: "Hoan Châu bi ký", bản chữ Hán, chép tay bằng bút lông, chữ chân phương, gồm 7 dòng, lưu tại Viện Viễn Đông bác cổ. Thư viện Nghệ An lưu bản chụp, mang số thư tịch NA-HN 8.

 Y sao nguyên văn:東城縣安陽王廟碑

我越始君曰鴻龐氏猶古之大庭葛天邈乎不可攷其表顯者惟我王見諸史龜爪換机鵝毛識路筆載又難盡信聲靈蠁肸寔在演州夜山祠扣其祀之始求其祀之由伏臘村翁見同辭過郵亭者思源我王之顯蹟至今為烈乃考古者每以典籍無稽自畫籍談忘祖不已傎乎名山古廟石崔天齊幸其有所傳思以廣其傳是在後之覽者

演州府太守阮玉振奉誌 (1)

Phiên: Ngã Việt thủy quân viết: Hồng Bàng thị do cổ chi đại đình Cát Thiên mạo hồ bất khả khảo kỳ biểu hiển giả. Duy ngã vương, kiến chư sử "quy trảo hoán cơ, nga mao thức lộ", bút nan hựu nan tận tín. Thanh danh hướng hật. Thực tại Diễn Châu Dạ Sơn từ, khấu kỳ tự chi thủy, cầu kỳ tự chi do, phục liệp thôn ông đồng từ. Quá bưu đình giả tư nguyên, ngã vương chi hiển tích chí kim vi liệt. Nãi khảo cổ giả mỗi dĩ điển tịch vô kê tư Tịch Đàm vong tổ bất dĩ điên hồ!

Danh sơn cổ miếu, thạch nhai thiên tề. Hạnh kỳ sở hữu kỳ truyện tư dĩ quảng kỳ truyền thị tại hậu chi lãm giả.

Diễn Châu phủ Thái Thú Nguyễn Ngọc Chấn phụng chí (1).

 Bản  dịch I của " Văn bia Nghệ An" 

Vua đầu nước Việt ta thuộc họ Hồng Bàng, một triều đình thời cổ. Trời đất mênh mang, không khảo vào đâu được.

Điều rõ rệt là vua ta (An Dương Vương) được ghi trong sử. Truyện đổi lẩy nỏ móng rùa, lông nga chỉ đường, bút ghi lại khó tin lắm. Tiếng thiêng khá nổi ở đền Dạ Sơn, Diễn Châu. Tìm đền có từ bao giờ, nguyên do làm đền, ông Kiến thôn Phục Lạp cũng hỏi vậy. Song sẽ qua đồng ruộng nhớ nguồn: Công lao vua ta đến nay vẫn rực rỡ. Thế mà người khảo cổ mỗi khi không sách kê cứu liền tự tỏ ra như Tịch Đàm mất tổ, thực là điên rồ.

Núi non miếu cổ, sườn đá chân trời, may còn có dấu truyền lại. Nay nhớ mà truyền rộng ra để người sau coi biết.

Thái thú phủ Diễn Châu Nguyễn Ngọc Chấn kính ghi (Sđd, tr.58).                                         

Bản dịch II: của Bùi Văn Chất.

Vua đầu tiên của nước Việt ta thuộc họ Hồng Bàng, từ thuở triều đình thời Cát Thiên  xa xưa không khảo được. Duy chỉ biết vua ta thấy trong các sử chép câu chuyện "Móng rùa bị đổi/ Lông ngỗng chỉ đường…" bút ghi lại khó tin. Thanh linh Người đang phảng phất trong chốn u minh. Thực tại đến đền Dạ Sơn tìm hiểu Đền lập tự thuở nào, lý do thờ phụng thì các vị chăm lo hương khói ở Đền đều từ chối (bởi họ cũng chưa rõ), đi qua đường thiên lý trông lên, nhớ tới cội nguồn, hiển tích vua ta nay càng chói sáng. Vậy mà các nhà khảo cổ lại cho rằng điển tích không kê đành chịu tội "Tịch Đàm vong tổ", chẳng đã điên sao.

Danh sơn cổ miếu, vách đá chạm trời. May mà còn có chuyện truyền lại đời sau để mọi người thấu hiểu.

Thái thú phủ Diễn Châu Nguyễn Ngọc Chấn kính ghi.

 

 

Chú thích của Trần Nghĩa

1. Bài văn bia này được chép ở tấm bia đặt phía trái, trong ngôi đình thứ ba của đền thờ An Dương Vương tại xã Tập Phúc, tổng Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Thác bản văn bia hiện được tàng trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu 2377. Bia 1 mặt, khổ 65x100 cm. Không có trán bia và hình trang trí. Toàn văn chữ Hán khắc chân phương, gồm 10 dòng, cả thảy 181 chữ.

2. Cát Thiên: tức "Cát Thiên Thị", tên một bộ lạc thời Viễn cổ ở Trung Quốc, theo truyền thuyết. Có nhạc của Cát Thiên Thị, được kể lại là ba người nắm đuôi trâu mà hát, gồm 8 đoạn tất cả (theo Lã Thị xuân thu Cổ nhạc thiên).

3. "Thiên thần" nguyên là "Đề dũ: cửa số của Thượng đế; Tùng vân: mây của tiên Xích Tùng Tử. Dịch là Thiên thần Thiên tiên cho dễ hiểu (Trần Nghĩa).      

Chú thích của nhóm biên soạn "Văn bia Nghệ An", PGS. Ninh Viết Giao chủ biên.  

1. Phạm Hy Lượng (1834 - 1886), tự Hối Thúc, hiệu Ngư Đường, người xã Nam Ngư, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội; nay là phố Nam Ngư, phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Ông đỗ cử nhân khoa Nhâm Tý (1852), 29 tuổi đỗ Phó bảng khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Tự Đức 15 (1862). Được bổ chức Tri huyện Yên Dũng, năm 1867 về kinh làm Hộ bộ ngoại lang, năm 1870 thăng làm Quang Lộc tự thiếu khanh, Biện lý hình bộ sự vụ, cùng năm sung chúc Phó sứ sang nhà Thanh. Trở về được thăng Quang Lộc tự khanh. Năm 1873, lĩnh chức bố chính Nghệ An. Khi quân Pháp đánh Bắc kỳ, ông mộ nghĩa binh đánh giặc, trái ý triều đình, bị sung quân thứ Tam Tuyên. Năm Tự Đức 36 (1883) được phục chức quyền Án sát, thăng Tuần phủ Ninh Bình. Năm 1884, ông bị ốm về nhà rồi mất, thọ 53 tuổi.

2. Chưa rõ ông Kiến thôn Phục Lạp là ai và thôn Phục Lạp ở đâu mà tác giả nhắc ở đây.

3. Tịch Đàm: Người nước Tấn thời Xuân Thu, khi vào nhà Chu, Chu Vương hỏi lịch sử nước Tấn, không đáp lại được, người ta chê là người vong tổ. Đây ý nói không hiểu biết về lịch sử cụ thể đời An Dương Vương là người 

Chú thích của Bùi Văn Chất:

1. Nội dung của hai bài văn bia hầu hết giống nhau, chỉ khác một số từ/ cụm từ ; Số chữ/ từ trong "Đông Thành huyện … miếu bi" ít hơn;  Niên đại dựng bia số II không thấy ghi. Theo "Bia mộ Nguyễn Ngọc Chấn (1817-1863), ông người Nho Lâm, huyện Đông Thành. Năm 1859, làm bang biện phủ Diễn Châu. Năm Tự Đức 15 (1862), lĩnh Tri phủ Kiến Thụy; Tháng 6 năm TĐ16, đi đánh giặc, bị thương, qua đời ngày 12/7 khi đang tại chức. Từ đó suy ra niên đại Nguyễn Ngọc Chấn soạn "Đông Thành huyện An Dương Vương miếu bi" vào năm 1859 trước.

2. Những từ, cụm từ, đoạn văn trong "Hai bản dịch" nêu trên, có gạch dưới, cần hiệu đính. 

3. Họ Hồng Bàng là Kỷ đầu tiên của nước ta, từ 2879-258 TCN, quốc hiệu Văn Lang. 

4. Cát Thiên thị tức thiên nhạc cổ thời Tam Hoàng - Ngũ Đế, tương ứng  thời Hồng Bàng, nước ta.

5. Hưởng hật (蠁肸), từ cổ, có 2 nghĩa: 1. Hưng Thịnh; 2. Phảng phất trong chốn u minh. "Thanh linh hưởng hất" = Thanh danh và anh linh của Người phảng phất…

6. Phúc lạp: Ngày phục nhật mùa hạ và ngày lạp nhật mùa Đông.

7. Bưu đình: Nhà trạm, đặt bên đường thiên lý Bắc Nam. Trong đó có trạm dưới chân Núi Dạ.

8. Đế dũ Tùng vân (xem chú thích ở bản dịch của Trần Nghĩa).

9. Vũ vương: Vua Hạ Vũ, đời thượng cổ bên Tàu, có công khỏi nghiệp Nhà Hạ.

10. "Tịch Đàm vong tổ" (xem chú thích (3) "Văn bia Nghệ An", vong tổ ("Văn bia Nghệ An", Nxb. NA, 2004. Tr57).

* Nghệ An: Khai mạc Hội nghị Các quan chức cao cấp APEC về Quản lý thiên tai lần thứ 11

Vừa qua, tại thành phố Vinh, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn phối hợp với Ủy ban Quốc gia APEC 2017 và UBND tỉnh Nghệ An tổ chức Hội nghị Các quan chức cao cấp APEC về Quản lý thiên tại lần thứ 11.

Đây là chương trình nằm trong khuôn khổ các sự kiện của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương APEC tại Việt Nam năm 2017, trong đó tập trung vào các vấn đề tăng cường hợp tác và đổi mới công nghệ tiên tiến hỗ trợ hiệu quả công tác phòng, chống thiên tai như: Chia sẻ, trao đổi về công tác ứng dụng công nghệ, tăng cường thông tin truyền thông và hợp tác liên vùng, đặc biệt là hợp tác trong lĩnh vực khoa học - công nghệ để tăng cường hiểu biết chung về thiên tai "Bình thường mới" và những rủi ro thiên tai đang diễn ra xung quanh chúng ta; Phát triển các giải pháp vận hành hạ tầng thông tin trong công tác điều hành, ứng phó với thiên tai;...

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hoàng Văn Thắng khẳng định: Hội nghị Các quan chức cao cấp APEC về Quản lý thiên tai lần thứ 11 là một cơ hội lớn để chia sẻ những kinh nghiệm của Việt Nam trong phòng chống thiên tai, cũng như học hỏi kinh nghiệm quý báu từ các nước APEC, củng cố năng lực quản lý rủi ro thiên tai ngày càng tốt hơn. Bên cạnh đó, thống nhất một bản khuyến nghị chung gửi cấp lãnh đạo các nền kinh tế quan tâm, thúc đẩy các hoạt động tăng cường hợp tác cùng phát triển và đổi mới công nghệ tiên tiến nhằm hỗ trợ hiệu quả công tác phòng chống thiên tai liên vùng tại các nền kinh tế APEC.

Đại diện địa phương tổ chức, đồng chí Đinh Viết Hồng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: Với địa phương chịu nhiều ảnh hưởng bởi thiên tai do biến đổi khí hậu; nguồn lực để khắc phục của tỉnh chỉ đáp ứng 10-30% nhu cầu tái thiết sau thiên tai, Hội nghị Các quan chức cao cấp về Quản lý thiên tai lần thứ 11 lần này sẽ là cơ hội để Nghệ An tiếp nhận những thông tin có giá trị liên quan đến công tác phòng chống thiên tai nói chung và ứng phó khẩn cấp thiên tai nói riêng, góp phần nâng cao năng lực ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu.

Hội nghị Các quan chức cao cấp về Quản lý thiên tai lần thứ 11 tại thành phố Vinh, là cơ hội để Việt Nam tiếp cận với các thành tựu khoa học - công nghệ mới, đồng thời vận động hỗ trợ và mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới.

P.V (theo Đài PT-TH Nghệ An)

* Đại hội Công đoàn Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An lần thứ X, nhiệm kỳ 2017 - 2022

Sáng ngày 20/9, Công đoàn Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An tổ chức Đại hội lần thứ X, nhiệm kỳ 2017 - 2022.

Công đoàn Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An có 6 công đoàn bộ phận trực thuộc, trong đó có 2 đơn vị quản lý nhà nước, 3 đơn vị sự nghiệp, 1 đơn vị liên hiệp hội. Tổng số 133 đoàn viên công đoàn, trong đó 67 nữ, số CBCC,VC là đảng viên 83 người. Đại hội Công đoàn Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An lần thứ X nhiệm kỳ 2017 - 2022 có nhiệm vụ kiểm điểm, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2012 - 2017, những hạn chế, khuyết điểm nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm. Đề ra mục tiêu, phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ 2017 - 2022.

Đại hội bầu Ban Chấp hành công đoàn nhiệm kỳ 2017 - 2022 gồm 7 đồng chí: Hoàng Nghĩa Nhạc, Nguyễn Văn Kim, Phạm Xuân Trung, Hồ Thị Thủy, Lê Thị Thủy, Nguyễn Hữu Hòa, Nguyễn Đình Lâm. Đồng thời, Đại hội cũng bầu ra 4 đồng chí: Trần Quốc Thành, Trần Thị Dung, Đặng Thị Loan và Nguyễn Đình Lâm, đại diện Công đoàn Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An tham dự Đại hội Công đoàn viên chức tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2017 - 2022.

Hoàng Anh

* Hội thảo Khoa học "Ứng dụng công nghệ cho cơ quan doanh nghiệp vừa và nhỏ" tại Nghệ An

Chiều ngày 8/9, Sở Khoa học & Công nghệ phối hợp với IBM Việt Nam, Cisco Việt Nam, Công ty TNHH phân phối FPT, Công ty CP thương mại Hồng Hà đã tổ chức Hội thảo "Ứng dụng công nghệ cho cơ quan doanh nghiệp vừa và nhỏ" với sự có mặt của ông Nguyễn Viết Hùng - Phó Giám đốc Sở KHCN cùng lãnh đạo của các sở, ban, ngành, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Để nền kinh tế phát triển hiện đại, bắt kịp với xu thế thì công nghệ thông tin có vai trò lớn trong việc lưu trữ, phân tích, bảo vệ và sử dụng dữ liệu, tiết kiệm chi phí, thời gian và nhân sự, tạo ra lợi thế để cạnh tranh. Với mục tiêu thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị, điều hành cơ quan, doanh nghiệp, giới thiệu các giải pháp an toàn trong việc lưu giữ thông tin dữ liệu, tại buổi hội thảo, các chuyên gia hàng đầu về công nghệ đã trình bày rõ về các nội dung: Công nghệ lưu trữ hiệu quả IBM Stowize V5K, V7K hỗ trợ cho các mô hình doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc lưu trữ, phân tích, bảo vệ và sử dụng dữ liệu; Công nghệ "Bảo mật đa tầng và toàn diện với ứng dụng IBM Security" giúp các cơ quan, doanh nghiệp tránh thiệt hại do virut tấn công, cập nhật giải pháp công nghệ mới; Các giải pháp tối ưu cho doanh nghiệp của Cisco…

Buổi hội thảo đã mang lại hiệu quả thực tiễn, là cơ hội để các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các tổ chức doanh nghiệp tiếp xúc trao đổi, nắm bắt về hiện trạng, năng lực của đơn vị mình, tìm kiếm hợp tác, giới thiệu những giải pháp công nghệ mới, ngoài ra còn giúp các đơn vị quản lý và phát triển ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong thời đại công nghệ số.

Thúy Vinh

* Lễ giỗ tổ Hoàng đế Quang Trung lần thứ 225

Sáng ngày 19/9, tại đền Quang Trung trên đỉnh núi Quyết, thành phố Vinh đã diễn ra Lễ giỗ lần thứ 225 của vua Quang Trung - Nguyễn Huệ. Tham dự có đại diện lãnh đạo tỉnh Nghệ An, lãnh đạo thành phố Vinh và đông đảo khách thập phương.

Tại Lễ giỗ, ban tổ chức và đông đảo người dân đã cùng nhau dâng hoa, dâng hương tưởng niệm, tri ân công lao to lớn của Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải với tài năng quân sự kiệt xuất đã lãnh đạo nhân dân thống nhất đất nước và đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc; vị hoàng đế lỗi lạc với nhiều cải cách chấn hưng đất nước, phát triển văn hóa, giáo dục.

Cũng trong sáng nay, Ban quản lý Đền thờ Quang Trung và Hội Di sản Văn hóa và Cổ vật Thanh Hoa, tỉnh Thanh Hóa tổ chức đúc hai súng thần công bằng đồng nguyên chất, mỗi khẩu súng có trọng lượng khoảng tám tạ.

Linh Nhi

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.