« Quay lại

Chuyên san Khoa học xã hội &nhân văn số 10 năm 2017

GS. Phong Lê

Một hình dung cụ thể về kết quả mối quan hệ và giao lưu văn học Xô viết và văn học Việt Nam trước và sau 1945 - đó là sự tiếp tục những thành tựu hiện đại hóa đã được khơi nguồn từ trước 1945, mà văn học Nga cổ điển có đóng góp một phần, trong tư cách là một nền văn học lớn phương Tây, qua một vài đại diện còn ít ỏi, như L. Tônxtôi, F. Dostoievski, A. Tsê-khôp, M. Gorki,...

Từ sau 1954, do tình thế chiến tranh và đất nước bị chia đôi, nên việc tiếp nhận văn học Xô viết diễn ra có khác nhau trên hai miền Bắc và Nam. Ở miền Nam thì ngoài L. Tônxtôi và Dostoievski văn học Nga Xô viết chỉ có một vị trí khiêm nhường; và do khuynh hướng bài Xô và chống Cộng nên chỉ tiếp nhận các tác giả "có vấn đề", tức là những người không thuận, hoặc đi ngược với khu vực chính thống như B. Pastecnac, Xôngiênhitxưn... Còn ở miền Bắc, gắn nối trực tiếp với trào lưu văn học cách mạng trước 1945; trên cơ sở các chuyển đổi trong ý thức hệ và quan điểm nghệ thuật chống lại "thế giới cũ", và trong cuộc chiến giữa hai phe; văn học Xô viết - ở khu vực chính thống của nó đã trở thành ngọn cờ, thành mục tiêu, thành điểm tựa cho nền văn học Việt Nam mới, đang phấn đấu vượt lên và thoát khỏi các ràng buộc không chỉ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, các tàn dư phong kiến, mà còn với cả hệ ý thức tư sản và tiểu tư sản, nhằm kiên định lập trường vô sản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Bởi, với thế giới các dân tộc bị áp bức thì con đường duy nhất cho sự nghiệp giải phóng, phải và chỉ là con đường Cách mạng tháng Mười. Là "Mãi mãi đi theo con đường Cách mạng tháng Mười...", hoặc "Con đường Lênin"... như một khẩu hiệu quen thuộc trong các dịp kỷ niệm hàng năm, vào 7 tháng 11 - ngày chính quyền Sa hoàng sụp đổ.

Trong định hướng tiếp nhận như thế, những tên tuổi kinh điển gồm những người khai sáng văn học Xô viết, được xếp ở hàng đầu, đó là Gorki, Maiacopxki, Xêraphimôvitsơ, Phuôcmanôp, Gơlatcôp, Otxtơropxki, Solokhov, A. Tônxtôi.

Nếu hiểu lịch sử nhân loại là lịch sử đấu tranh giai cấp, văn học là một hình thái ý thức xã hội, và tính chiến đấu là đặc trưng cơ hữu của văn học cách mạng, thì sự hình thành của nền văn học mới, văn học cách mạng bao giờ cũng phải gắn với một cuộc cách mạng văn học, tức là sự đoạn tuyệt với "thế giới cũ". Một sự nghiệp như thế cần đến những người khai phá; và một thời rất dài, kể từ khi hình thành nền văn học vô sản ở Việt Nam, người đứng đầu của đội ngũ khai sáng ấy, là Gorki - tác giả của tiểu thuyết Người mẹ, của kịch Dưới đáyNhững kẻ thù; của bộ ba tự thuật; của những truyện ngắn đánh thức những khát vọng cao cả ở con người, như Đancô, Bài ca chim báo bão; của sự khẳng định con đường hình thành và suy vong của giai cấp tư sản, như Phôma Gocđêep, Gia đình Actamônốp; của thái độ phê phán quyết liệt những mặt bạc nhược của con người cá nhân tiểu tư sản qua "lịch sử của một tâm hồn trống rỗng" như trong Cuộc đời Klim Sangghin(1) cuốn tiểu thuyết đồ sộ nhất vào cuối đời... Tác gia lớn Gorki còn là ông tổ của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, với Diễn văn tại Đại hội nhà văn Liên Xô lần thứ nhất - 1934, qua bản dịch tiếng Pháp đã đến với giới trí thức Việt Nam từ giữa những năm 1930; và từ 1960, là bản dịch tiếng Việt của Hoài Thanh, với Lời mở đầu, khẳng định - Gorki - "qua bản báo cáo này là hình ảnh một vĩ nhân đứng trên bậc cửa rất cao của cuộc đời mới nhìn sâu đến những chỗ tận cùng thời tiền sử, nhìn suốt xưa nay và chỉ đường đi tới"(2).

Trong tư cách là người sáng lập nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, những bài báo, bút chiến, tiểu luận, kinh nghiệm sáng tác của Gorki cũng được giới thiệu từ rất sớm, về sau được tập hợp qua Gorki - Bàn về văn học - 2 tập (Nxb. Văn học; 1965; tái bản; 1970) trong đó có những bài được giới trí thức - nhà văn chúng ta xem như cẩm nang để học tập, và luôn luôn được trích dẫn - như Tôi đã học viết như thế nào? Tôi viết như thế nào? Hoặc Các ông đứng về phía ai, những bậc thầy văn hoá?... Một Gorki trong suốt, kiên định như kim cương và rất vững tin về con đường mà nền văn học Xô viết đã chọn, và được khởi động từ ông, qua Người mẹ (1905). Nhưng bên cạnh những phẩm chất đó, vẫn còn một Gorki khác - đa diện và phức tạp, vừa thuận vừa không thuận với cách ứng xử của bộ máy quyền lực; đáng tiếc là các phẩm chất mới này ở Gorki, phải đến thời cải tổ mới được phát hiện trong tập sách Những tư tưởng không hợp thời(3) . Với cuốn sách này, Gorki không còn là một chân dung nguyên phiến đơn giản trong tư cách một nghệ sĩ vô sản mà là một chân dung vạm vỡ, lực lưỡng của một nhân cách văn hóa lớn, mà người đọc và cả giới Xô viết học ở Việt Nam, không dễ và không thể tiếp cận, khi Việt Nam còn đang trong hoàn cảnh chiến tranh, kể cả khi đã đến gần với công cuộc Đổi mới, mà Liên Xô chưa tiến hành công cuộc Cải tổ. Còn nhớ, từ đầu những năm 1970, ở Liên Xô, Viện sĩ Maccôp đã nói đến chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa như một "hệ thống mở", nhưng luận đề này phải đến đầu những năm 1980 mới được giới lý luận Việt Nam biết đến và giới thiệu.

Tóm lại lý thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa, với các vấn đề liên quan đến nó như tính đảng, nhân vật tích cực - và con người mới của thời đại, âm điệu lạc quan, sự khẳng định thế tất thắng của cách mạng rất cần được xem là những thành tố cần thiết và hoàn chỉnh cho việc xây dựng một nền văn học mới; và tất cả những điều đó, qua sự triển khai của giới lý luận, đều có thể tìm minh chứng trong toàn bộ sự nghiệp của Gorki, tác giả chiếm vị trí hàng đầu trong lịch sử tiếp nhận ở Việt Nam trước và sau 1945.

Cùng với Gorki, còn là một đội ngũ các chiến hữu đến sau ông, trong sứ mệnh xây dựng nền văn học Xô viết sau Cách mạng tháng Mười; với những tác phẩm đã trở thành kinh điển như Suối thép của Xêraphimôvits, Tsapaev của Phuôcmanốp, Xi măng của Glatkov, Con đường đau khổ của A. Tonxtôi, Thép đã tôi thế đấy của Otxtơropxki, và Sông Đông êm đềm của M. Solokhov...

Những tác phẩm trên đã sớm có mặt trong đời sống văn học và trong sự đón đợi của bạn đọc Việt Nam ngay từ sau 1945.

Ở hình ảnh "suối thép", đó là khối sức mạnh dời non lấp biển của quần chúng, trong các chuyển động lịch sử nhằm phá vỡ thế giới cũ. Còn Tsapaev và Paven Korsaghin là biểu tượng con người mới của thời đại với tính phức tạp nhưng không khó hiểu về sự kiên định lý tưởng cách mạng là giải phóng giai cấp và giải phóng loài người. Trong Xi măng, là sự hình thành cuộc sống mới trong bề bộn những khó khăn do sự chống chọi của thế giới cũ và những tập quán cũ. Còn Con đường đau khổ là con đường của giới trí thức Nga trong chọn lựa giữa Tổ quốc và Cách mạng; một chọn lựa rất gay gắt, bởi chính tác giả của nó cũng đã phải trả giá bằng dăm năm lưu vong ở nước ngoài; và dẫu sự phân thân thành hai phía, gây ra bao đổ vỡ và đau khổ tinh thần cho con người, thì lòng tin và kết quả của sự dấn thân vẫn là một kết thúc có hậu "Đầm mình trong ba thứ nước. Tắm trong ba dòng máu. Nấu trong ba lần thuốc tẩy. Ta trong sạch hơn cả những người sạch nhất" (Đề từ tập II Con đường đau khổ: Năm mười tám). Và Sông Đông êm đềm, bức tranh bi tráng và hoành tráng nhất cho cả một thời nước Nga cách mạng - và nội chiến, qua số phận một gia đình, một vùng quê Tác ta, một giải đất sông Đông của người Cô dắc, nhờ vào tên tuổi Solokhov bỗng trở nên bất tử.

Những tác phẩm trên đã đem đến cho bạn đọc Việt Nam, cho đời sống tinh thần Việt Nam một khí hậu mới, giúp cho thấy rõ về sự gian khổ của cuộc đấu tranh giữa hai thế giới; và để cho thế giới mới được ra đời nhất thiết phải có sự sinh thành của con người mới - và đó chính là chất men say, sức hấp dẫn đến từ Người mẹThép đã tôi thế đấy. Hai nhân vật có cùng họ Paven gần như đã trở thành biểu tượng, là hiện thân cho một sự sống vượt ra ngoài khuôn khổ của mọi khái quát nghệ thuật. Rất nhiều thế hệ trẻ, trong đó không chỉ là những người say mê đọc văn hoặc có hứng thú viết văn, đã ghi vào sổ tay phương châm sống của Paven Korsaghin: "Cái quý nhất của con người là sự sống. Đời người ta chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, để đến khi nhắm mắt xuôi tay ta có thể nói rằng: tất cả đời ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời: sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người". Quả là, những ai đã hiểu thế nào là xã hội cũ, đã từng biết hoặc tiếp xúc với những ông chủ thực dân, phong kiến; hoặc đã sống một tuổi trẻ trong chiến tranh, hẳn không ai không thấy trong câu nói của Paven Korsaghin như chất muối cần cho cơ thể mình, và thế hệ mình. Trong trang đầu cuốn Nhật ký ghi vào năm 1968, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm đã nắn nót chép những dòng này. Điều thật đáng cảm động là một thế hệ như Đặng Thùy Trâm đã sống đúng như Paven - người anh hùng thời nội chiến Liên Xô, cũng là hóa thân của chính tác giả.

Thời của các tên tuổi đã kể trên, theo giới nghiên cứu văn học Nga là thời của Thế kỷ Bạc - thời kỳ phát triển cao và sâu của văn học cổ điển Nga, với các tên tuổi lớn như: Platonov, Bungacop, Akhmatôva, Êxênhin... Đáng tiếc là những tên tuổi này đã không thể đến sớm với bạn đọc Việt Nam. Bởi Cách mạng tháng Mười, và sau đó, cách ứng xử của giới lãnh đạo đối với thế hệ này, đã như là một nhát cắt, khiến cho sự phát triển bị ngưng lại; và nhiều người trong họ đã không tiếp tục được sự nghiệp viết của mình, trong đó có Mandenxtam, bị thanh trừng vào năm 1938 - người đã có những tiên đoán về Nguyễn Ái Quốc, từ năm 1923.

Dĩ nhiên nói giao lưu còn là nói đến sự chọn lựa - văn học Việt Nam đã chọn lựa những gì cần thiết cho mình, và với những tên tuổi kể trên của văn học Xô viết, văn học Việt Nam đã tìm được một khuôn mẫu, hoặc một bổ sung cần thiết cho việc khẳng định lý tưởng và niềm tin của mình và dân tộc mình, kể từ Cách mạng tháng Tám; và xa hơn, kể từ khi Nguyễn Ái Quốc tìm đường đến phương Tây, trước là Pari, và sau là Matxcơva - quê hương Cách mạng tháng Mười.

*   *   *

Sau thế hệ khai sáng nền văn học mới, quan hệ văn học Xô viết và văn học Việt Nam còn được mở rộng và củng cố thêm bởi thế hệ những tác gia viết về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại để giải phóng Liên Xô, giải phóng châu Âu và tạo nên cục diện mới của thế giới sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc.

Trong số các tác giả sớm đến và chiếm vị trí cao trong sự đọc của người Việt Nam, và trở thành kiểu mẫu cho người viết Việt Nam trong chiến tranh trước hết phải nói đến Solokhov, Ximônôp, Fadeev, Erenbua, Polêvôi...

M. Solokhov viết Họ chiến đấu vì Tổ quốc, Khoa học căm thù trong chiến tranh, và Số phận một con người sau chiến tranh. Trong khoảng cách trên mười năm, Việt Nam vừa kết thúc chống Pháp lại chuẩn bị bước vào chống Mỹ. Do vậy bài học mẫu mực về Số phận một con người ở một người viết bậc thầy là Solokhov, trong một tuyệt tác có số trang cực ngắn mà bao chứa một khái quát rất sâu về số phận của nhân dân, qua "số phận một con người", với bi kịch được đẩy đến độ tận cùng, chưa thể được tiếp nhận trọn vẹn, khiến cho, nếu bản dịch Số phận một con người lần đầu tiên đăng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1957 được nồng nhiệt đón nhận, thì phim Số phận một con người, cùng với các phim khác như Người thứ 41, Bài ca người lính, Đàn sếu bay qua vào đầu những năm 1960 lại gây lo lắng cho giới lãnh đạo; và ít lâu sau bị gom vào cùng một bị với các tác phẩm chịu ảnh hưởng chủ nghĩa xét lại mà bất cứ người viết Việt Nam nào cũng phải lưu tâm cảnh giác (tiếc là sau vụ Nhân văn - Giai phẩm, một số người viết cũng đã bị lâm nạn vì sự tiếp xúc với "chủ nghĩa xét lại" vào lúc này). Thế nhưng tác giả Sông Đông êm đềmĐất vỡ hoang là một tên tuổi quá lớn, không chỉ "thuộc về nền nghệ thuật Xô viết mà còn là thuộc toàn bộ nền văn hóa nhân loại" (Bôndarep); là người đã nói một câu nổi tiếng làm vinh quang cho Đảng và tính Đảng: Tôi viết theo chỉ thị của trái tim, mà trái tim tôi thì thuộc về Đảng, nên Số phận một con người vẫn giữ nguyên giá trị của nó, như một bi kịch lạc quan sâu sắc nhất; có ý nghĩa soi sáng cho các thế hệ viết về chiến tranh sau chiến tranh ở Việt Nam. Tôi nghĩ: có lẽ không có tác giả nào viết về chiến tranh, từ sau thập niên 1980 ở Việt Nam mà không ao ước viết được một tác phẩm ngắn mà có độ nén của cảm xúc và chất liệu tuyệt vời đến thế.

C. Ximônốp là tác giả sớm đến với bạn đọc Việt Nam qua bản dịch Đợi anh về nổi tiếng của Tố Hữu. Một bản dịch thật đẹp trong sự giản dị và thân thương của lời Việt - đã diễn tả thật đúng và thật trúng tâm trạng không phải chỉ người lính ở chiến trường, mà là cả một dân tộc trong khăng khít gắn bó giữa tiền tuyến và hậu phương, trước hết là những người vợ, người mẹ không lúc nào không mong người chồng, người con rồi sẽ trở về. "Đợi anh, anh sẽ về!" - một niềm tin ngỡ như duy tâm, thế mà ai đọc cũng muốn được tin tưởng. Ximônốp từng được biết như là tác gia lớn của văn học Xô viết về chiến tranh, với những tiểu thuyết đặc sắc như Ngày và đêm, viết trong chiến tranh, và bộ tứ: Bạn chiến đấu, Những người sống và những người chết, Người ta sinh ra không phải đã là lính, Mùa hè cuối cùng viết sau chiến tranh. Ông còn là người lãnh đạo Hội nhà văn Liên Xô, nhiều lần sang thăm Việt Nam, có tình bạn với nhiều tác giả Việt Nam; nhưng chỉ cần một Đợi anh về đủ để đưa ông vào tên tuổi những người bạn thân thiết nhất với văn học Việt Nam.

A. Phađêep - nổi tiếng với Chiến bại viết thời nội chiến, càng được đón nhận với bạn đọc Việt Nam trong chiến tranh qua bộ ba Đội cận vệ thanh niên, bởi sự khai thác chất liệu anh hùng trong đời thực - người thực - việc thực. Chủ nghĩa anh hùng trong chiến tranh ở Liên Xô, cũng như ở Việt Nam là hiện thực một trăm phần trăm, bởi đó là cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ phẩm giá làm người. Và Phađêep đã không bỏ phí những chất liệu mình có để đưa vào cấu trúc tiểu thuyết một tác phẩm xứng đáng với tầm vóc của sự kiện, và với những con người xứng đáng được tôn vinh. Ở tư cách tác giả, Phađêep là thuộc số người được biết sớm và được yêu mến trong bạn đọc Việt Nam, kể từ Chiến bại; nhưng còn trong tư cách người lãnh đạo cao nhất của Hội nhà văn Liên Xô, với bi kịch dẫn tới cái chết - tự sát, năm 1956, thì phải đến thời Cải tổ mới được hiểu - để thấy số phận thật nghiệt ngã đối với những nhà văn có phẩm cách và lương tâm trung thực.

Nói đến Đội cận vệ thanh niên của Phađêep lại không thể không nói đến Người chân chính của B. Polêvôi, cùng khai thác chất liệu là cuộc đời và chiến công của những người anh hùng. Với Polêvôi, đó là anh hùng phi công Maretxép; và qua Maretxép là chiến công chung của tất cả những anh hùng có tên hoặc không tên, trong tên gọi chung là Người Xô viết, như tên một tập truyện khác: Người Xô viết chúng tôi, của cùng tác giả, được dịch từ rất sớm ở Việt Nam, và được in lại nhiều lần, khiến cho Pôlêvôi luôn luôn là cái tên quen thuộc đối với bạn đọc Việt Nam. Phải nói là bạn đọc và người viết Việt Nam trong chiến tranh đã rất hào hứng với việc đón nhận nội dung và cách viết của Polêvôi trong tư cách phóng viên chiến tranh, biết tìm đến những tấm gương tiêu biểu, vừa là để ghi nhận chiến công của họ, vừa là với ý nguyện nhân rộng ra sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng, trong một cuộc chiến rất cần đến chủ nghĩa anh hùng để giành chiến thắng trước mọi kẻ thù, và trong mọi thử thách của hoàn cảnh.

Có lẽ chính vì yêu cầu lớn lao và bức xúc đó của cuộc sống, và do ảnh hưởng trực tiếp của văn học Xô viết mà văn học Việt Nam 1945-1975 đã rất được mùa trong dòng viết người thực - những anh hùng có thực, bắt đầu từ các ghi chép ngắn Em Ngọc, Trần Cừ, và những anh hùng chiến sĩ thi đua trong Giải thưởng văn nghệ 1951-1952, đến Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Sống như Anh của Trần Đình Vân, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi... Một dòng viết tìm được cảm hứng chung với các tác giả của Tsapaep, Đội cận vệ thanh niên, và Người chân chính...

I. Êrenbua, theo tôi nghĩ có lẽ là tác giả được đọc nhiều trong giới trí thức Việt Nam, bởi tư chất một nhà văn hóa, nhà chính luận, nhà báo, nhà tiểu thuyết... Là tác giả những bài báo mà Hồng quân Liên Xô được lệnh phải giữ gìn và chuyền tay, chứ không được xé ra để hút thuốc, tùy bút của Êrenbua, như trong Thời gian ủng hộ chúng ta không chỉ quen thuộc, mà còn là được "thuộc" trong giới bạn đọc trẻ tuổi Việt Nam một thời. Chạm vào cõi thiêng là lòng yêu nước, tôi nghĩ không ít người đọc thuộc thế hệ tôi ít ai không thuộc đoạn văn đi tìm một định nghĩa cụ thể cho lòng yêu nước ở Êrenbua - đó là "lòng yêu những gì bình thường nhất. Yêu cái cây trồng ở trước nhà. Yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông. Yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu, hay mùa cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh...". Cảnh là cảnh Nga, nhưng cũng chẳng có gì là xa lạ với chúng ta. Chỉ cần thay đổi tên sông, tên phố, tên cây lá, tên các địa danh là đã có thể xem đó là áng văn cho mình, của người nước mình... Êrenbua trong Con người - năm tháng - cuộc đời - một tùy bút thật khoáng đạt mà sâu sắc trong ý tưởng, ai tiếp xúc mà không thấy mình "vỡ ra" hoặc "khôn" hơn lên một chút. Rồi Cơn bão táp - cũng với tầm vóc hoành tráng như Mùa xuân trên sông Ô đe của Kazakiêvit, viết về cuộc chiến chống phát xít trên một không gian rộng gồm gần khắp địa bàn châu Âu, với số phận chìm nổi hoặc bi kịch của nhiều lớp người... Tôi nghĩ, mùa gặt đầu tiên trong văn xuôi Việt Nam vào mở đầu những năm 1960 với những tiểu thuyết nhiều tập như Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng (mới có tập I), Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi (2 tập), Cửa biển của Nguyên Hồng (3 tập), Bão biển của Chu Văn (2 tập)... dường như đều có dấu ấn ảnh hưởng bởi những bộ ba như Cơn bão táp...

Thuộc số các nhà văn Xô viết đến với văn học Việt Nam trong chiến tranh, và để lại dư âm khá sâu nơi ký ức người đọc, đó còn là Pautopxky trong Bông hồng vàng, Bình minh mưa, và những truyện ngắn gợi rất nhiều bâng khuâng về những gặp gỡ thật ngẫu nhiên trong đời, về những gì có thể xẩy ra không ngờ mà như đã được chuẩn bị. Những truyện ngắn mở rộng không gian cho biết bao ước mơ, suy tưởng khiến cuộc đời trở nên rất đáng sống. Có thể nói nếu có một chất thơ đích thực nhưng khó nắm ở đời thì Pautovski chính là bậc thầy cao nhất để nhận ra và lưu giữ được nó, khiến cho mỗi chuyện đời bình dị qua ông bỗng trở nên lung linh một áng cổ tích, như trong Tuyết, Cô gái làm ren, Lẵng quả thông... Với         Pautovski, hoặc với Prisơvin, Olga Becgon... bên cạnh Sôlôkhôp, Êrenbua, đó là những phong cách rõ nét đứng bên nhau, chứ không phải với trật tự lớn nhỏ, trước sau. Một âm hưởng hoặc dư vị Pautovski - dường như là có nguồn mạch trong văn học hiện đại Việt Nam, kể từ Thạch Lam, Hồ Dzếnh... đến Đỗ Chu, Nguyễn Ngọc Tấn, Lưu Quang Vũ...

Bối cảnh hoành tráng, chất sử thi hòa quyện với trữ tình, các kiểu xung đột giữa các thế lực đối nghịch hoặc giữa cá nhân và hoàn cảnh rất dồi dào trong văn học Xô viết, cùng với chất lạc quan trong bi kịch của nó đã tìm được sự đón nhận và gieo cấy trong văn học Việt Nam. Những gì làm nên đặc trưng và phẩm chất của văn học Việt Nam 1945-1975 trong phần ưu việt của nó đều có sự bắt nguồn từ văn học Xô viết, qua một số đại biểu như trên.

Tất nhiên, bi kịch con người trong chiến tranh, rộng ra, trong mọi chuyển động của thời cuộc, hoặc bao trùm là cõi nhân sinh; những "con đường đau khổ"; những dằn vặt tinh thần trong xác định hướng đi và đến cho cuộc đời - nó là đề tài muôn thuở của văn học, đã và sẽ được viết theo nhiều cách khác nhau và với tài năng không ai giống ai. Thế nhưng nếu văn học Việt Nam đã hào hứng tiếp nhận bộ ba Con đường đau khổ của A. Tonxtôi, thì lại không thể đón nhận Bác sĩ Zivagô của B. Pastecnac ngay sau khi tác phẩm vừa ra đời; và đó cũng là một hiện tượng đáng lưu ý, trong sự phát triển đầy mâu thuẫn và nghịch lý của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, ở chính quê hương của nó trong hơn nửa thế kỷ tồn tại...

Đón nhận những tác phẩm viết về chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng của nhân dân Liên Xô trong chiến tranh Vệ quốc, văn học Việt Nam 1945-1975 đã tìm được một kho "của" dồi dào và một kiểu mẫu quý giá để xây dựng những tác phẩm mang âm hưởng anh hùng, xứng đáng với một thời vẻ vang và khốc liệt bậc nhất của dân tộc. Chúng ta đã hướng về văn học Xô viết để tìm bạn, tìm đồng chí, và cả những bậc thầy cho mình. Nhưng khi cuộc chiến đấu ở Việt Nam diễn ra khốc liệt nhất thì Liên Xô đã có hòa bình sau mười năm, rồi hai mươi năm, và ba mươi năm. Liên Xô đã bước vào nhiều kế hoạch 5 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, rồi chủ nghĩa xã hội phát triển, để thành một cường quốc về kinh tế và quân sự. Để đóng vai trò đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa. Để với quyết tâm đi lên chủ nghĩa cộng sản... Do vậy, những kinh nghiệm về phát triển kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất, tổ chức xã hội, cách mạng khoa học kỹ thuật, và đấu tranh tư tưởng... đặt ra trong các tác phẩm đều được chúng ta tiếp nhận như là những mô hình gương mẫu để vận dụng. Trong số những tác phẩm viết về cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội được dịch, qua chọn lọc, cho hợp với yêu cầu của ta, có thể kể ở hàng đầu, đó là Đất vỡ hoang (3 tập) của Solokhov, Mùa gặt (3 tập) của Nicôlaiêva, Kỹ sư Lôbanốp của Granin, Rừng Nga của Lêônôp, Xa Mạc Tư Khoa của Ajaép, Chuyện thường ngày ở huyện của Ôvetxkin ("Chuyện thường ngày ở huyện" đã trở thành cách nói quen thuộc, phổ thông ở ta từ sau khi có cuốn sách này)... Thế nhưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 1945-1975, hoặc nói đúng hơn từ 1960-1975, là chủ nghĩa xã hội chỉ diễn ra trên một nửa đất nước, và trong hoàn cảnh chiến tranh, nên bức tranh về nó, trong tất cả các góc khuất của nó, không dễ được phát hiện, và do thế chưa thể là một diện mạo trọn vẹn; càng không có độ sâu của những tìm kiếm và phát hiện những gì là bắt chước, là giáo điều, và sai quy luật... Nếu có manh nha một ít tìm kiếm ở các góc khuất này thì rồi dễ rơi vào "tai nạn", như Võ Huy Tâm, Nguyên Ngọc, Hà Minh Tuân, Nguyễn Tuân trong văn. Như Lý Phương Liên, Việt Phương, Ngô Văn Phú, Phạm Tiến Duật trong thơ. Như Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải trong kịch(3)... Không kể những "vụ" lớn như Nhân văn - Giai phẩm, hoặc "xét lại"... Cái chủ nghĩa xã hội đậm đặc ý chí luận được áp dụng từ mô hình Liên Xô và toàn phe này rồi sẽ được nhận diện và sửa sai sau khi chiến tranh kết thúc ngót mười năm; cùng lúc với sự nghiệp Cải tổ ở Liên Xô, khiến cho không ít kiểu mẫu trong khu vực chính thống, các giải thưởng lớn nhỏ từng được giới thiệu rất sớm và đề cao ở Việt Nam hầu như đều bị giảm nhẹ giá trị; và công phát hiện gắn với những tiên tri về con đường đi của lịch sử đã phải trả lại cho những tên tuổi bị quên lãng hoặc vùi dập trong nhiều chục năm như Bungacôp, Platônôp, Grôtxman, Patxternac, Xôngiênhitxưn... những tên tuổi chưa một lần cho bạn đọc Việt Nam được làm quen, thậm chí có người còn bị "đánh hôi" trong văn học miền Bắc trước 1975.

Đã và vẫn cần tiếp tục ghi nhận một danh sách dài những tác gia Xô viết đến với văn học Việt Nam sau 1975, rồi những năm 1980. Những tác gia lớn của văn học Nga, như Bêlov, Bưcốp, Abramov, Vassiliev, Astaphiev, Bondarep, Baklanov, Zalưghin, Sucxsin... bên cạnh những tác gia đặc sắc của các dân tộc nhỏ khác trong Liên bang Xô viết như Aimatov, Gamdatov, Dumbatzê,... Bạn đọc và văn học Việt Nam trong những năm Đổi mới đã có dịp đón làn gió mới của sự nghiệp Cải tổ với biết bao sự thật được phát hiện mới, hoặc được nhìn nhận lại, để cho sự vật được trở về với gương mặt đích thực của nó. Nhưng đó là chuyện của một giai đoạn mới; và với nó, văn học Việt Nam cũng tiếp tục nhận được những chỉ dẫn và kinh nghiệm từ văn học Nga Xô viết để giúp cho sự nhìn nhận lại chính bản thân mình.

*   *   *

Ba mươi năm (1945-1975), và kéo dài thêm một ít cho đến hết thập niên 1980, trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, văn học Xô viết đã đóng vai trò thật là tích cực cho sự hình thành một nền văn học Việt Nam mới, chọn con đường giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội làm mục tiêu theo đuổi. Do mô hình hiện đại, trên tiến trình hiện đại hoá, để chuyển văn học Việt Nam từ trung đại sang hiện đại đã thực hiện xong trong khoảng trên dưới ba mươi năm trước 1945, với vai trò hàng đầu của văn học Pháp, nên từ sau 1945, trên đường ray đã có, văn học Việt Nam cần tiếp tục một chọn lựa mới; một chọn lựa tuỳ thuộc vào sự chọn lựa về thể chế chính trị, về nền tảng kinh tế, về hệ tư tưởng, về mô hình lý luận và sáng tác... Và lịch sử đã sắp xếp cho dân tộc và văn học dân tộc Việt Nam đi theo quỹ đạo Liên Xô. Và do vậy, những dấu ấn mà nền văn học Xô viết đa dân tộc ở Liên Xô để lại cho văn học Việt Nam, trong phần tích cực của nó là không nhỏ. Bên cạnh đó, do có độ lùi thời gian, và trên các sự kiện đã diễn ra đưa tới sự đổ vỡ của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa, ta cũng sẽ không quên những giá trị lớn, nằm trong cái phần thiếu, phần khuất còn chưa được biết đến, do hoàn cảnh chiến tranh hoặc do một cách nhìn chật hẹp khó tránh ở ta; và do chính những vận động nội tại, với rất nhiều nghịch lý, mâu thuẫn bên trong bản thân văn học Xô viết để cho sự vật cuối cùng đã được hiện ra trong diện mạo đích thực của nó, và cuộc sống được phát triển thuận theo quy luật.

 

Chú thích

(1). Tất cả các tên sách trên, trừ tiểu thuyết Cuộc đời Klim Sanghin, đều có bản dịch tiếng Việt.

(2). Văn học Xô Viết, Nxb. Văn học, 1960, tr.5.

(3). Tên cuốn sách tập hợp những bài Gocki viết, đăng trên Báo Đời sống mới trong các năm 1917-1918, mới được in lần đầu năm 1990.

Hồ Thủy

 

Ngày 30/7/2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020. Theo đó sẽ xây dựng Nghệ An thành tỉnh khá trong khu vực phía Bắc vào năm 2015, tạo cơ sở đến năm 2020 cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp; là trung tâm về tài chính, thương mại, du lịch, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, công nghiệp công nghệ cao của vùng Bắc Trung bộ; có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, từng bước hiện đại; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc xứ Nghệ; quốc phòng, an ninh vững mạnh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

Nghệ An là một trong số ít tỉnh thành được Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết riêng, điều đó cho thấy Nghệ An được quan tâm đặc biệt. Để xây dựng Nghị quyết 26, Bộ Chính trị đã xác định những thế mạnh của tỉnh căn cứ trên hai tiêu chí:

Thứ nhất là điều kiện địa lý tự nhiên, Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước với 16.498 km2, chiếm khoảng 5% diện tích cả nước. Trên diện tích tự nhiên rộng lớn đó, có rất nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Nghệ An là nút giao thông đặc biệt quan trọng. Có đường không, đường bộ, đường thủy thuận lợi. Từ Nghệ An có thể kết nối thuận lợi với nhiều vùng, miền trong nước và quốc tế như với Lào, Đông Bắc Thái Lan...

 Thứ hai là con người Nghệ An có truyền thống cần cù yêu nước, giàu tính sáng tạo; là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi đây có nhiều anh hùng, nhiều ngôi sao sáng trong suốt hơn hai nghìn năm nay. Đến đầu thế kỷ 20 có Phan Bội Châu, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, cùng rất nhiều vị lãnh tụ tiền bối vĩ đại khác như Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai... Những yếu tố về tự nhiên, về con người đặc biệt như vậy, là điều kiện cần và đủ để Bộ Chính trị đặt ra các mục tiêu lớn để xây dựng và phát triển Nghệ An.

Xác định rõ điều đó, ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An ban hành Chương trình hành động số 24-CTr/TU ngày 08/10/2013; UBND tỉnh ban hành Quyết định số 5260/QĐ-UBND ngày 06/11/2013 về Kế hoạch triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, gồm 21 chương trình, đề án lớn. Tỉnh đã tập trung khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh. Trong 3 năm thực hiện, Ban thường vụ Tỉnh ủy liên tục tổ chức cho các ngành, các cấp đánh giá kết quả, riêng năm thứ 4, Tỉnh ủy đã chỉ đạo Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức các cuộc Hội thảo chuyên đề về thực hiện Nghị quyết 26 như: Phối hợp với Viện Kinh tế Việt Nam tổ chức Hội thảo "Phát triển Nghệ An đến năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị"; Hội thảo "Thành phố Vinh trong giai đoạn mới - Tầm nhìn, định hướng chiến lược vá phát triển";...

Sau 4 năm thực hiện, tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) tăng bình quân 7,43%, riêng năm 2016 đạt 7,59%, dự kiến trong năm 2017 tăng 8,0%, cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân của 3 năm 2011-2013 (5,54%). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, năm 2017 so với năm 2013 thì tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 31,36% lên 33,0%, khu vực nông - lâm - ngư nghiệp giảm từ 26,95% xuống 25,0%. Khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng khá cao 41,69% lên 42%. GRDP bình quân đầu người tăng khá nhanh: năm 2013 đạt 28 triệu đồng/người, năm 2016 đạt 33 triệu đồng/ người, dự kiến 2017 đạt 33 triệu đồng/người (gấp 1,43 lần so với năm 2013).

Xác định Nghệ An là tỉnh khó, nên lãnh đạo tỉnh đã trăn trở tìm giải pháp thu hút đầu tư. Nghệ An đã tổ chức thường niên hội nghị gặp mặt các nhà đầu tư vào dịp đầu xuân, thu hút được khá đông nhà đầu tư trong nước và quốc tế cùng con em xa quê thành đạt. Trong đó, Nghệ An ưu tiên thu hút đầu tư các dự án có giá trị gia tăng cao, sử dụng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao; công nghiệp hỗ trợ; vật liệu xây dựng cao cấp; công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp; phát triển kết cấu hạ tầng, nghiên cứu và phát triển, dịch vụ hiện đại... Bên cạnh đó, môi trường đầu tư và kinh doanh liên tục được cải thiện mạnh mẽ theo hướng thông thoáng, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư. Nhờ đó, trong 4 năm 2014-2017 đã thu hút đầu tư 446 dự án với tổng số vốn 169.387 tỷ đồng. Trong đó thu hút được nhiều dự án lớn có tính lan tỏa, tạo động lực để thúc đẩy kinh tế toàn tỉnh như: Nhà máy xi măng Sông Lam giai đoạn 2; Khu công nghiệp, đô thị, dịch vụ VSIP Nghệ An; Khu công nghiệpWHA Hemaraj1 - Nghệ An;... Các dự án trọng điểm đều được UBND tỉnh chỉ đạo các ngành, các cấp tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, hỗ trợ doanh nghiệp hoàn thành các dự án theo kế hoạch.

Để có thể phát triển thành phố Vinh trở thành Trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Bắc Trung bộ đến năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết 26, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển thành phố Vinh trở thành Trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Bắc Trung bộ đến năm 2020. Trên cơ sở đó, tỉnh Nghệ An đã dốc toàn lực xây dựng thành phố Vinh thành đầu tàu phát triển và cùng với thị xã Cửa Lò trở thành cực tăng trưởng kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 2014 - 2017 đạt 10,66%/năm; Tổng giá trị gia tăng theo giá hiện hành tăng 17,38%/năm, chiếm 24,6% tổng giá trị gia tăng của tỉnh; thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt 68,3 triệu đồng, cao gấp 2,4 lần so với mức bình quân của tỉnh; Cơ cấu kinh tế của thành phố chuyển dịch theo hướng tích cực với các ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn, phù hợp đặc trưng đô thị, theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ - thương mại, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Tỷ trọng ngành thương mại - dịch vụ tăng 66,9% (năm 2006 là 57%); Công nghiệp, xây dựng giảm xuống còn 41,6% (năm 2006 là 41,6%); Nông - lâm ngư nghiệp giảm 1,7%. Trong đó, ngành dịch vụ có xu hướng tiếp tục tăng trong tổng giá trị gia tăng, trở thành ngành kinh tế động lực cho sự phát triển của thành phố.

Thành phố Vinh đã tăng cường các hoạt động quảng bá, xúc tiến đầu tư, mở rộng giao lưu, hợp tác với các thành phố trong và ngoài nước, thu hút các nguồn vốn ODA để xây dựng, nâng cấp hạ tầng đô thị. Thời gian qua, thành phố Vinh đã có nhiều công trình hạ tầng giao thông quan trọng được đưa vào sử dụng; Nhiều tuyến giao thông nội thành được hoàn thành. Bộ mặt đô thị thành phố thay đổi nhanh chóng, cơ sở hạ tầng được nâng cấp. Thành phố Vinh đã hình thành các yếu tố trung tâm vùng trên các lĩnh vực: Giáo dục đào tạo; Y tế; Tài chính, ngân hàng, thương mại, du lịch.

Với việc hội tụ đầy đủ thế mạnh về nông nghiệp, Nghệ An đang đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, với trọng tâm là ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ cao theo tinh thần Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị. Nghệ An là tỉnh triển khai cơ cấu lại ngành nông nghiệp tương đối sớm; Ngày 31/12/2014, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 6593/QĐ-UBND phê duyệt Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2013-2020. Đồng thời tạo cơ chế và môi trường thuận lợi để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, làm đầu tàu cho xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá quy mô lớn. Đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giảm giá thành, nâng cao hiệu quả sản xuất. Theo định hướng phát triển vùng nông nghiệp ứng dụng CNC đến 2020, định hướng đến năm 2030 Nghệ An sẽ phát triển từ 20 - 25 vùng sản xuất nông nghiệp tập trung ứng dụng CNC, tổng diện tích khoảng 8.000-10.000 ha với các đối tượng cây trồng, vật nuôi chủ lực. Đến năm 2020, hình thành một khu nông nghiệp ứng dụng CNC tại Nghĩa Đàn, quy mô 200 ha để tổ chức sản xuất, thu hút các doanh nghiệp vào đầu tư.

Song song với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, trong 4 năm thực hiện Nghị quyết, Nghệ An cũng đã tập trung triển khai đầu tư, huy động các nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng trọng điểm. Các tuyến giao thông trong quy hoạch được triển khai thực hiện như: Nâng cấp nhà ga và hạ tầng sân bay Vinh, mở thêm nhiều tuyến bay nội địa và quốc tế; nâng cấp cảng Cửa Lò; đầu tư xây dựng cụm cảng Đông Hồi, cảng nước sâu Cửa Lò. Nhiều công trình giao thông đường bộ quan trọng cũng được đầu tư xây dựng với tiến độ nhanh. Tiếp tục xây dựng Đại lộ Vinh - Cửa Lò và nhiều tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường vào trung tâm các xã chưa có đường ô tô.

Tại phiên họp thường kỳ tháng 8 của Thường trực Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Đắc Vinh, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An đã nhấn mạnh kết quả đạt được trong 4 năm thực hiện Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị là minh chứng cho sự nỗ lực, đồng lòng, quyết tâm cao của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời gian qua. Tuy nhiên, đồng chí cũng đã chỉ ra những hạn chế, tồn tại trong 4 năm thực hiện Nghị quyết 26 của tỉnh. Theo đó, việc cơ cấu lại kinh tế trong nội ngành, lĩnh vực còn chậm, chưa phát huy được lợi thế, tiềm năng của từng vùng; Tiến độ xây dựng một số trung tâm vùng còn gặp khó khăn như xây dựng Nghệ An thành Trung tâm công nghệ - thông tin vùng Bắc Trung bộ, xây dựng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; Một số công trình trọng điểm còn chậm tiến độ, triển khai còn nhiều khó khăn do thiếu vốn,...; Chưa tạo được môi trường đầu tư thật sự thông thoáng, cởi mở, đặc biệt thủ tục hành chính ở các địa phương, ban ngành còn rườm rà, gây cản trở các doanh nghiệp;...

Thời gian qua, tỉnh Nghệ An đã tạo ra bước phát triển tốt, đảm bảo tính chắc chắn trong từng bước đi, tuy nhiên chỉ còn thời gian rất ngắn nữa chúng ta phải hoàn tất chỉ tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị đã nêu ra. Nếu không có cuộc chạy "maraton", nếu không có sự quyết tâm mới thì khó thực hiện được mục tiêu thành Trung tâm kinh tế của vùng Bắc miền Trung. Vì vậy, Tỉnh ủy, UBND tỉnh cần phải tổ chức cuộc tổng rà soát trên tất cả các lĩnh vực xem tỉnh đã làm được cái gì, cần tiếp tục làm cái gì để trở thành Trung tâm Bắc Trung bộ. Từ đó xây dựng chương trình "maraton" trên tất cả các lĩnh vực, đồng thời bằng mọi cách phải thuyết phục được các bộ, ban, ngành quan tâm, thông suốt, về chỉ tiêu, mục tiêu, phương pháp của ta, để giúp đỡ, tạo điều kiện, đồng hành với ta, có như thế chúng ta mới mong "cán đích" thành công theo tinh thần mà Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị đã đặt ra.

LTS: Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 30/7/2013 của Bộ Chính trị đã xác định rõ: "Phấn đấu xây dựng Nghệ An trở thành tỉnh khá vào năm 2015, tạo cơ sở đến năm 2020 cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp, là trung tâm về tài chính, thương mại, du lịch, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, công nghiệp công nghệ cao của vùng Bắc Trung bộ". 4 năm qua, Nghị quyết 26 thực sự là động lực mạnh mẽ, điều kiện quan trọng để Nghệ An có những bước tiến lớn, chắc chắn trong phát triển kinh tế.

Tòa soạn Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An đăng tải ý kiến của chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà quản lý về kết quả 4 năm thực hiện Nghị quyết 26.

 

Đồng chí Võ Viết Thanh - Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy Vinh:

Nghị quyết 26 - Nền tảng để thành phố Vinh đổi mới, phát triển xứng với trung tâm kinh tế - văn hóa Bắc Trung bộ

Thực hiện Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị, được sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của Trung ương, Tỉnh, sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, Thành phố đã đạt được một số kết quả quan trọng trên các lĩnh vực: Tốc độ tăng trưởng bình quân 2014-2017 đạt 8,63%/năm. Tổng giá trị gia tăng tăng 17,38%/năm, chiếm khoảng 24,6% tổng giá trị gia tăng của tỉnh. Giá trị gia tăng bình quân đầu người năm 2016 đạt  68,3 triệu đồng, cao gấp 2,4 lần so với mức bình quân của tỉnh. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 0,63% năm 2016. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng với ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn, năm 2016 dịch vụ chiếm 66,7%; công nghiệp-xây dựng chiếm 31,58%; nông nghiệp còn 1,72%. Ngành dịch vụ có xu hướng tiếp tục tăng lên trong tổng giá trị gia tăng, là ngành kinh tế động lực cho quá trình phát triển của Thành phố. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng trưởng khá và tương đối ổn định, nhịp độ tăng trưởng cả giai đoạn 19,71%/năm, chiếm khoảng 33,6% tổng thu ngân sách của cả tỉnh; nhịp độ tăng trưởng chi ngân sách ước đạt 13,49%/năm.

Về thực hiện quy hoạch và xây dựng kết cấu hạ tầng: Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 52/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đến năm 2030, tầm nhìn 2050. Các công trình hạ tầng lớn, trọng điểm đã và đang được xây dựng làm thay đổi bộ mặt thành phố Vinh như Cầu Bến Thủy II, Sân bay Vinh, các cầu vượt đường sắt, đường QL46 tránh thành phố Vinh, Đường Tỉnh lộ 535 Vinh - Cửa Hội đã xây dựng hoàn thành. Dự án Phát triển đô thị Vinh từ nguồn vốn vay của WB trên 3.000 tỷ đồng dự kiến hoàn thành trong năm 2018; Đường đại lộ Vinh - Cửa Lò; Đường Lê Mao, Nguyễn Sỹ Sách, Lý Thường Kiệt kéo dài...đang được triển khai xây dựng.

Hiện nay, Thành phố đang tập trung triển khai các đề án thực hiện Quyết định số 2468/QĐ-TTg ngày 29/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án Phát triển thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thành trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Bắc Trung bộ đến năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đến nay, Thành phố đã đạt được những kết quả quan trọng trên hàu hết các lĩnh vực:

Các hoạt động thương mại, dịch vụ có bước tăng trưởng khá, năm sau tăng so với năm trước trên 9,5%. Nhiều trung tâm thương mại lớn như BigC, Metro, Trần Anh, HC... được đưa vào khai thác. Các chợ được đầu tư cải tạo và nâng cấp, trong đó chợ Vinh và chợ Ga là chợ đầu mối của Nghệ An và một số tỉnh lân cận. Các phố chuyên doanh dần được hình thành như Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Văn Cư, Trần Phú... Các hàng hóa và dịch vụ  đa dạng về hình thức, phong phú về thể loại, kể các mặt hàng nước ngoài như Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản...

Thành phố đã ban hành Nghị quyết số 01-NQ/Th.U ngày 31/3/2016 về phát triển du lịch thành phố Vinh giai đoạn 2016-2020 và những năm tiếp theo. Trong những năm qua, hoạt động du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, góp phần tăng tỷ trọng trong cơ cấu ngành dịch vụ Thành phố, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân. Thành phố Vinh trở thành trung tâm trung chuyển khách du lịch của cả tỉnh và khu vực, lượng khách du lịch tăng bình quân hàng năm khoảng 12%; mỗi năm đón khoảng 1,7 triệu lượt khách, doanh thu đạt trên 600 tỷ đồng.

Hoạt động khoa học và công nghệ có nhiều đóng góp quan trọng và ngày càng thiết thực hơn trong phát triển kinh tế - xã hội. Lực lượng cán bộ KH&CN phát triển nhanh, đảm bảo tiếp thu, chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống. Hiện nay, tỉnh đã và đang tiếp tục phát triển Sàn giao dịch công nghệ đóng trên địa bàn Thành phố; khai trương điểm kết nối cung cầu vùng Bắc Trung bộ tháng 6/2017 hỗ trợ kết nối cung cầu công nghệ giữa các doanh nghiệp với nhà khoa học, doanh nghiệp trong nước và ngoài nước. Hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo tại thành phố Vinh, Nghệ An nói riêng và vùng Bắc Trung bộ nói chung.

Thành phố chủ trương phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp sinh thái, ứng dụng công nghệ cao. Công nghiệp - Xây dựng tăng trưởng khá, bình quân giai đoạn 2014-2017 tăng 9,29%, riêng công nghiệp tăng 8,45%. Các công trình hạ tầng thiết yếu của các khu công nghiệp, các cụm công nghiệp được đầu tư xây dựng. Khu kinh tế Đông Nam cùng với Khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ VSIP; khu công nghiệp của Tập đoàn Hemaraj (Thái Lan) sẽ tạo điều kiện cho Thành phố phát triển công nghiệp công nghệ cao, cùng với đó là phát triển thương mại, dịch vụ một cách bền vững.

Hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề phát triển theo quy hoạch, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ nhiệm vụ được giao. Hiện trên địa bàn Thành phố có 6 trường đại học, 7 trường cao đẳng chuyên nghiệp và dạy nghề, 9 trường trung cấp có năng lực đào tạo  trên 80.000 học sinh, sinh viên, thu hút cả học sinh quốc tế. Trường Đại học Vinh được Chính phủ phê duyệt là 1 trong 16 trường đại học trọng điểm quốc gia. Thành phố Vinh đang từng bước trở thành trung tâm đào tạo của vùng Bắc Trung bộ, đáp ứng nguồn nhân lực cho tỉnh, vùng Bắc Trung bộ và cả nước.

Có thể nói, sau 4 năm thực hiện Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị, Thành phố đã đạt được những thành quả quan trọng, các yếu tố trở thành trung tâm vùng Bắc Trung bộ trên một số lĩnh vực đã được hình thành như thương mại dịch vụ, tài chính, ngân hàng, giáo dục đào tạo, y tế. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Hệ thống chính trị từ Thành phố đến cơ sở đoàn kết, đồng thuận cao trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Vinh thực sự là điểm đến giao lưu, hợp tác đầu tư của các nhà đầu tư, các thành phố trong và ngoài nước cũng như của khách du lịch.

Để thực hiện được các mục tiêu của Nghị quyết 26 đề ra, thành phố Vinh xác định cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm sau:

- Sớm hoàn thành điều chỉnh quy hoạch phân khu các phường xã theo quyết định 52 của Thủ tướng chính phủ để đẩy mạnh thu hút đầu tư các dự án, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội.

- Tập trung phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu mà Nghị quyết đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ 23 đã đề ra. Lựa chọn một số chương trình trọng điểm cần tập trung chỉ đạo cũng như xây dựng kế hoạch, giải pháp thực hiện nhằm góp phần tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu với tốc độ cao hơn. Chủ động phối hợp với các sở, ngành của Tỉnh để tập trung thu hút dự án quản lý tổng hợp thoát nước và nước thải Thành phố từ nguồn vốn vay của ngân hàng ADB; mở rộng sân bay Vinh; hoàn thành các tuyến đường chính: Đại lộ Vinh - Cửa Lò, đường Lê Mao, đường Nguyễn Sỹ Sách, Lý Thường Kiệt kéo dài; các cầu vượt giảm ùn tắc giao thông; hoàn thành dự án WB giữa năm 2018...

- Tranh thủ sự ủng hộ của các bộ ngành trung ương, của các sở, ban, ngành cấp tỉnh mở rộng giao lưu hợp tác, huy động mọi nguồn lực để thực hiện quyết định 2468 của Thủ tướng Chính phủ và kế hoạch 680 của UBND Tỉnh về phát triển thành phố Vinh trở thành trung tâm vùng Bắc Trung bộ trên 10 lĩnh vực theo Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị. Kiến nghị tỉnh và TW có các cơ chế, chính sách để ưu tiên tạo bước đột phá về phát triển du lịch, dịch vụ, y tế, giáo dục - đào tạo.

- Đẩy mạnh cải cách hành chính, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, doanh nghiệp phát triển, Duy trì, đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các địa phương trong nước và quốc tế. Thông qua các hoạt động đối ngoại để quảng bá về hình ảnh, tiềm năng và lợi thế của Thành phố nhằm đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, ưu tiên các dự án về dịch vụ, du lịch, y tế và giáo dục - đào tạo để tạo bước đột phá thúc đẩy các lĩnh vực khác cùng phát triển, từng bước xây dựng thành phố văn minh, hiện đại.  

- Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo sự đoàn kết, quyết tâm cao trong triển khai các nhiệm vụ chính trị đã đề ra.

 

PGS.TS  Nguyễn Đình Long - Viện Nghiên cứu quy hoạch Nông nghiệp Nông thôn:

Sau 4 năm thực hiện Nghị quyết 26 nông nghiệp Nghệ An phát triển khá toàn diện trên các ngành và lĩnh vực nông - lâm - thủy sản

Sau 4 năm thực hiện NQ 26 BCT nông nghiệp Nghệ An đã có bước phát triển đáng kể, và khá toàn diện trong các ngành và lĩnh vực nông - lâm - thủy sản, có tốc độ tăng trưởng cao từ 4,0 - 4,5%/năm. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nội ngành nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Phát triển đã hình thành được các trục/tuyến kinh tế và các vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sinh thái, ứng dụng công nghệ cao, như: vùng nông nghiệp công nghệ cao phủ quỳ, vùng cây ăn quả các huyện miền núi (Quế Phong, Quì Châu, Qùi hợp, Con Cuông...); vùng trồng rau, hoa ở Nghĩa Đàn, thành phố Vinh, vùng rau sạch chất lượng cao Quỳnh Lưu... gắn với thị trường, đã đem lại hiệu quả cao và có sức lan tỏa mạnh... là sự khẳng định những kết quả phát triển nông nghiệp Nghệ An – đã khỏi sắc từ các sản phẩm nông nghiệp đặc sắc - công nghệ cao.  Tuy vậy, bên cạnh kết quả vẫn còn những hạn chế trong quá trình  phát triển, đó là:

Nông nghiệp tuy tăng trưởng khá, nhưng tính hiệu quả và bền vững chưa cao; cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch chậm, trồng trọt vẫn còn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu chung (chiếm tỷ trọng 52%). Sản xuất cơ bản vẫn là qui mô nhỏ phân tán dựa trên nền tảng của kinh tế hộ. Cơ sở hạ tầng tuy được cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của một nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn, hiện đại, ứng dụng CNC và khả năng cạnh tranh nông sản còn thấp

Nguyên nhân có nhiều do xuất phát điểm nông nghiệp của tỉnh thấp. Sự biến đổi khí hậu và dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp và khó lường gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp, kèm theo đó là sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới…  Bên cạnh đó còn có một số nguyên nhân sau: Một là, về cơ chế, chính sách thiếu đột phá, tạo động lực cho phát triển, nhất là chính sách đất đai, tín dụng, KHCN chưa tạo ra được những cú hích lớn nhằm khuyến khích tích tụ, tập trung đất đai; đầu tư ứng dụng KHCN, nhất là ứng dụng CNC. Hai là, chất lượng kết cấu hạ tầng (giao thông, thủy lợi, điện …) còn thấp, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng hàng hóa và ứng dụng CNC.  Ba là, tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chủ yếu vẫn dựa trên nền tảng kinh tế hộ với qui mô nhỏ, phân tán, các mô hình trang trại, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp vẫn còn ít... Bốn là, đầu tư cho nông nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế so với yêu cầu phát triển....

   Để phát triển  tuy nhiên đây là một quá trình, song trước hết phải đổi mới tư duy và tầm nhìn phát triển nông nghiệp, dám đột phá vào những điểm nghẽn để tạo ra sự thay đổi căn bản trong phát triển. Do vậy, thời gian 3 năm tới cần thực thi các giải pháp sau:

- Tiếp tục rà soát qui hoạch xác định các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, các sản phẩm và ngành hàng nông sản chủ lực…tiến hành đầu tư đồng bộ tạo đột phá phát triển sản xuất.

- Tiếp tục đổi mới thể chế và chính sách nhằm giải phóng, phát huy các nguồn lực, xúc tiến thành lập các khu công nghiệp chất lượng cao, nhằm thu hút và khuyến khích đầu tư đẳng cấp cao, đặc biệt là đầu tư từ nước ngoài và các doanh nghiệp đầu tư, ứng dụng CNC vào các vùng, các ngành, các nông sản chủ lực và có lợi thế gắn với thị trường hướng tới xuất khẩu, tham gia chuỗi giá trị nông nghiệp toàn cầu.

- Đổi mới tổ chức sản về các hợp tác xã, tổ hợp tác và phát triển các hình thức, mô hình liên kết, liên doanh sản xuất, đặc biệt liên kết doanh nghiệp với nông dân sản xuất - chế biến và tiêu thụ.

-  Tăng cường đầu tư và đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lực đáp ứng với yêu cầu phát triển của ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, ứng dụng CNC .

 

TS. Lê Xuân Sang - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam:

Nghệ An đã có nhiều nỗ lực trong hỗ trợ tăng trưởng, nhất là trong nông nghiệp

Đánh giá chính xác, khách quan và công bằng kết quả đạt được của Nghệ An (NA) sau 4 năm thực hiện Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị là không dễ, và chưa thể đối với các mục tiêu định lượng cụ thể. Lý do là từ năm 2013 đến nay, Nghệ An cũng như Việt Nam đi vào chu kỳ tăng trưởng khó khăn, chịu tác động của suy giảm kinh tế trong nước và quốc tế, nhất là khi một số nguồn chi NSNN bị cắt giảm, đình hoãn. Các mục tiêu định lượng đặt ra cho NA như GRDP bình quân và đầu người  kéo dài từ 2011-2020 nên chưa thể đánh giá chính xác.

Tuy nhiên, dựa trên những tín hiệu, tình hình thực hiện và các chỉ số gián tiếp có thể đánh giá bước đầu như sau trên phương diện kinh tế về những mặt được, mặt chưa được như sau:

Mặt được:

Một là, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn so với cùng kỳ, trong đó từ 2014 có xu hướng cải thiện (Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) 3 năm 2014-2016 tăng bình quân 7,59%, cao hơn tốc độ tăng trưởng của 3 năm 2011-2013 (5,54%); Cơ cấu chuyển dịch kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp-xây dựng, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, những thành tựu này tạo tiền đề và đà cho việc đạt các kết quả mà NQ 26 đặt ra. Tuy nhiên, GRDP bình quân đầu người năm 2016 chỉ đạt mức tương đương 1.400 USD, thấp hơn nhiều mục  tiêu đến cuối năm 2020 đạt khoảng 2.800 - 3.500 USD. 

Hai là, Tỉnh có nhiều nỗ lực trong hỗ trợ tăng trưởng, nhất là trong nông nghiệp, giúp duy trì tăng trưởng trong lĩnh này.

Ba là, môi trường đầu tư và kinh doanh tiếp tục được cải thiện theo hướng thông thoáng, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư.

Bốn là, có nhiều nỗ lực trong hỗ trợ phát triển thành phố Vinh thành hình thành yếu tố trung tâm vùng trên một số ngành, lĩnh vực nhất định, đặc biệt là trong phát triển tương đối nhanh là công nghệ thông tin, giúp Nghệ An là tỉnh có chỉ số sẵn sàng về CNTT vào dạng cao trong toàn quốc; trong phát triển đô thị và xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, điện năng, nhà máy nước; và tỉnh có số lượng học sinh đỗ cao đẳng - đại học hàng năm khá cao, góp phần đưa Nghệ An trở thành một trong những địa phương có thứ hạng khá trong bản đồ đầu vào đại học của cả nước.

Mặt chưa được:

+ Môi trường kinh doanh chưa được cải thiện mạnh mẽ, ổn định so với các tỉnh thành trong vùng và toàn quốc, khiến chỉ số Cạnh tranh cấp tỉnh PCI chưa nổi bật trong khu vực và không ổn định; những điều này khiến hiệu quả sản xuất kinh doanh trong khu vực chưa cao và kết quả thu hút đầu tư, nhất là FDI còn hạn chế.

 + Chưa thực sự chú trọng thực hiện và có kết quả chưa nổi bật trên thực tế để phát triển một số ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng cao; công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp sạch, tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường; còn hạn chế trong hợp tác, liên kết giữa các ngành, doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn và với các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ để sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm các nguồn lực.

+  Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội ngành, lĩnh vực chưa phát huy được lợi thế, tiềm năng của từng vùng và chưa theo kịp sự biến động nhanh của nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế. Sản xuất nông nghiệp còn manh mún, phân tán, hiệu quả thấp. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ còn ở mức thấp.  Nhiều tiềm năng chưa được khai thác tốt như: Tài nguyên vùng miền Tây, kinh tế cửa khẩu, chăn nuôi đại gia súc, kinh tế rừng, chế biến nông - lâm sản.

+ Công tác xúc tiến đầu tư và kinh tế đối ngoại chưa thực sự có hiệu quả cao xét về quan điểm tạo năng lực canh tranh cao và phát triển bền vững. Các dự án thu hút được khó có thể bảo đảm tính hiệu quả cao và tính bền vững ( Nhà máy Nhiệt điện Quỳnh Lập I các dự án Nhà máy xi măng Sông Lam 1 và Sông Lam 2,...); thu hút được còn ít các nhà đầu tư FDI, trong nước có tính lan tỏa cao cho lao động và kinh tế địa phương, thúc đẩy phát triển công nghệ và liên kết vùng, và ít/không phát thải ra môi trường.

TÒA SOẠN

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGUYỄN ĐĂNG BẰNG

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày 30 tháng 7 năm 2013, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 26 "Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020". Đây là một Nghị quyết đặc biệt, bởi vì ngoài Hà Nội và thành phố Hồ Chi Minh chưa có địa phương nào được BCT ban hành một Nghị quyết riêng như vậy. Đối với Nghệ An có thể coi đây là cơ hội để toàn Đảng, toàn dân phấn đấu xây dựng quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng tầm với các giá trị lịch sử và văn hóa; đây là cơ hội để Nghệ An bứt phá vươn lên trở thành tỉnh khá, tỉnh công nghiệp đến năm 2020. Tuy nhiên, ngay từ thời điểm đó người dân Nghệ An đều hiểu rằng đó là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn, một thử thách bản lĩnh, trí tuệ của Đảng bộ và nhân dân Nghệ An. Đến nay sau 5 năm, Nghệ An cần đánh giá xem mục tiêu nào đã thành hiện thực, mục tiêu nào đang trên đường về đích, mục tiêu nào còn dở dang, còn "lỗi hẹn" với Đảng và Nhà nước. Bài nghiên cứu này trình bày tình hình phát triển kinh tế Nghệ An từ 2013 đến 2017. Kết quả phân tích đã chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế, yếu kém làm chậm lại việc thực hiện NQ 26 của BCT.

 

1. Tình hình kinh tế Nghệ An giai đoạn 2013 - 2017

1.1. Tình hình tăng trưởng

Mục tiêu mà Nghị quyết 26 - NQ/TW đặt ra cho Nghệ An đến năm 2020 là: Phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) bình quân thời kỳ 2011-2020 phải đạt 11-12%; GDP bình quân đầu người cuối năm 2020 đạt khoảng 2.800-3.500 USD. Theo báo cáo của UBND tỉnh, năm 2013 GDP nội địa của Nghệ An tăng 7,0 %; năm 2017 kế hoạch  8 đến 9%, theo dự kiến đạt 6,9%, thấp nhất trong 5 năm gần đây. Trong khi đó mức tăng trưởng của cả nước từ 2013 đến 2017 tăng dần qua từng năm, thể hiện kinh tế đã phục hồi. Mức tăng trưởng của Nghệ An vẫn còn chậm, chưa đạt mức dự báo. Như vậy đến năm 2020, liệu Nghệ An có đạt mức tăng trưởng bình quân 11% đến 12 % như chỉ tiêu của Nghị quyết 26 của BCT đặt ra cho tỉnh không.  

Bảng 1. Tốc độ tăng trưởng GDP (%) của Nghệ An giai đoạn 2013 - 2017

Đơn vị tính: %

 

2013

2014

2015

2016

2017*

Nghệ An

7,0

7,24

7,31

7,5

6,9

Việt Nam

5,42

5,98

6,68

6,21

6,75

Đông Nam Á

5,0

4,5

4,4

4,5

4,4*

*Số hiệu ước tính; Nguồn: Báo cáo của UBND tỉnh Nghệ An năm 2013,2014,2015,2016,2017

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam đã phục hồi, mặc dầu mức tăng trưởng ở Nghệ An cao hơn mức bình quân của cả nước, nhưng đã giảm (năm 2013: 7,0% thì năm 2017 dự kiến 6,9 %).

Thu nhập bình quân đầu người của Nghệ An tuy có tăng nhưng vẫn ở mức thấp so với chỉ tiêu BCT đặt ra và mức bình quân cả nước.

Năm 2013: 22,96 triệu đồng/ người (cả nước 1.685 USD, người).

Năm 2016: 28, 54 triệu đồng/người  (cả nước 2.215 USD / người).

Năm 2017: dự kiến 33 triệu đồng/người (dự báo 2.300 USD/ người).

Nếu năm 2017 Nghệ An thu nhập đạt mức dự kiến (33 triệu đồng/người) thì từ  năm 2013 đến 2017, thu nhập bình quân đầu người tăng 1,43 lần. Trong khi đó thu nhập bình quân đầu người cả nước ước tính năm 2017 đạt 50,0 triệu đồng. Nếu so sánh với mức thu nhập bình quân chung của cả nước thì Nghệ An chỉ đạt 66% (33/50). Mức thu nhập còn thấp so với chỉ tiêu và còn rất xa so với Nghị quyết 26 Bộ chính trị đặt ra cho Nghệ An (đến năm 2020: GDP bình quân của Nghệ An là 2.800 USD -3.500 USD). Từ nay đến 2020, thời gian không còn dài, nếu không có giải pháp đột phá chắc chắn chưa thể đạt mức chỉ tiêu trên. Vấn đề tăng trưởng kinh tế không chỉ đơn thuần tạo ra thu nhập mà còn giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội.

1.2. Các yếu tố của tăng trưởng

Thứ nhất, sự dịch chuyển của cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế Nghệ An đang trong quá trình dịch chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Tốc độ chuyển dịch còn chậm và hiệu quả chưa cao. Trong 6,9% mức tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đã đóng góp 1,16 điểm %; khu vực công nghiệp - xây dựng đóng góp 2,65 điểm %; khu vực dịch vụ đóng góp 2,7 điểm % và thuế sản phẩm đóng góp 0,39 điểm %.

 Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng khá với mức tăng 4,64% (6 tháng 2016 tăng 4,22%), trong đó ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng hơn 81% của toàn khu vực tăng 3,72% do sản phẩm nông nghiệp vụ đông xuân được mùa, hầu hết sản lượng của các cây trồng chủ yếu đều tăng khá như thóc tăng 1,41%, rau tăng 1,91%, vừng tăng 15,42%, chuối tăng 3,79%, cam tăng 11,06%,… và ngành chăn nuôi phát triển bình thường, sản lượng xuất chuồng tăng, sản lượng sữa tăng khá (+19,77%), do đó giá trị tăng thêm của ngành nông nghiệp tăng khá cùng kỳ năm trước. Cùng với 2 ngành lâm nghiệp và thủy sản đều có mức tăng cao, trong đó ngành lâm nghiệp tăng 8,83% do trong kỳ sản lượng lâm sản khai thác tăng cao so với cùng kỳ năm trước (+24,24%) và ngành thủy sản tăng 9,09% do sản lượng đánh bắt thủy sản tăng cao (+14,98%).

Khu vực công nghiệp - xây dựng giá trị tăng thêm tăng 10,06% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng của 6 tháng 2016 (8,87%), do trong kỳ mặc dù một số sản phẩm công suất đã đến mức tối đa như bia, đường, gạch nung và sữa, phải chia sẻ thị trường (do nhà máy sữa Vinamilk Đà Nẵng đã đi vào hoạt động), điện sản xuất thời tiết hạn hán nên một số thời gian không đủ nước để chạy hết công suất, nhưng bù lại trong kỳ có thêm một số sản phẩm mới như Tôn Hoa Sen (Đông Hồi), xi măng Sông Lam 2... làm cho giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp tăng 8,52%; Ngành xây dựng phát triển khá do đó giá trị tăng thêm của ngành này đã tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước.

Khu vực dịch vụ vẫn phát triển chậm so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, luân chuyển hành khách và hàng hóa tăng khá; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng cao; ngân hàng hoạt động có hiệu quả hơn, nợ xấu giảm; viễn thông phát triển. Trong đó giá trị tăng thêm của ngành bán buôn, bán lẻ tăng 5,26%; vận tải kho bãi tăng 8,55%; lưu trú và ăn uống tăng 21,34%; thông tin, truyền thông tăng 5,88%, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,36%...

Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo khu vực từ 2013 -2016

Khu vực

Tốc độ tăng trưởng (%)

Cơ cấu kinh tế ( %)

2013

2014

2015

2016

2013

2014

2015

2016

Nông - lâm - thủy  sản

4,14

3,85

3,90

3,53

28,8

27,0

26,5

26,0

Công nghiệp - Xây dựng

5,34

8,72

10,95

11,58

33,6

33,0

32,5

32,0

Dịch vụ

10,2

6,21

6,89

6,71

37,6

40,0

41,0

42,0

 

Thứ hai, thu ngân sách và kim ngạch xuất khẩu   

Một chỉ tiêu khá quan trọng  nói lên tiềm lực kinh tế của một tỉnh đó là thu ngân sách. Thu ngân sách ở Nghệ An từ 2013 đến 2017 đã đạt gần gấp đôi. Trong đó thu nội địa chiếm khoảng 76%, thu thuế xuất nhập khẩu chiếm 25%. Mặc dù thu ngân sách đã được cải thiện, nhưng mới chỉ đạt trên gần 50% chi ngân sách của tỉnh, Hơn 50% chi ngân sách của Nghệ An phải dựa vào sự điều phối từ Trung ương. Mặc dầu Nghệ An đang nỗ lực phấn đấu đến năm 2020 cân bằng ngân sách, song điều đó khó đạt được.

          Kim ngạch xuất khẩu của Nghệ An từ 2013 đến 2017 tăng đều, nhưng rất chậm. Một mặt do thị trường nước ngoài có biến động vì khủng hoảng kinh tế toàn cầu; mặt khác hàng hóa dịch vụ của Nghệ An chưa đủ sức cạnh tranh thị trường thế giới. Nhóm hàng xuất khẩu chủ lực vẫn là nông sản, thủy sản, dệt may. Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Trung Quốc và một số nước lân cận. Hình thức xuất khẩu vẫn qua đường tiểu ngạch hoặc ủy thác.

Bảng 3. Thu ngân sách và kim ngạch xuất khẩu của Nghệ An từ 2013 - 2017

 

2013

2014

2015

2016

2017*

Thu ngân sách ( tỷ đồng)

6.062

 

7.400

10.038

10. 310

11.590

Kim ngạch xuất khẩu ( triệu đô la)

 

460

546

463

667

855

                                                          Nguồn: Tổng hợp báo cáo của UBND tỉnh

Thứ ba, huy động và thu hút vốn đầu tư từ trong và ngoài nước

Tính đến năm 2017 Nghệ An đã tổ chức 9 hội nghị xúc tiến đầu tư tại thành phố Vinh. Nhờ đó các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã quan tâm nhiều đến Nghệ An. Họ đã tìm thấy ở Nghệ An nhiều cơ hội đầu tư. Từ đó đến nay vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm tăng lên đáng để. Giai đoạn đầu của thời kỳ 2011 - 2015, thu hút FDI đạt thấp. Tuy nhiên, năm 2015, số dự án tăng lên 13 dự án. Cùng với đó, số vốn FDI đăng ký được cấp phép năm 2015 tăng mạnh lên tới 168,46 triệu USD. 

Giai đoạn 2011-2016, các dự án đầu tư FDI của tỉnh tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, cơ khí (17 dự án/154,4 triệu USD vốn đăng ký, chiếm 54,84% số lượng dự án và 51,98% số vốn đăng ký). Tiếp theo là ngành dệt may (6 dự án/40,17 triệu USD vốn đăng ký, chiếm 19,35% số lượng dự án và 13,52% số vốn đăng ký); Dịch vụ, thương mại, lĩnh vực khác (5 dự án/24,53 triệu USD vốn đăng ký, chiếm 16,13% số lượng dự án và 8,26% số vốn đăng ký).

          Nông, lâm, thủy sản (2 dự án/1,56 triệu USD vốn đăng ký, chiếm 6,45% số lượng dự án và 0,53% số vốn đăng ký). Các dự án vào lĩnh vực xây dựng, phát triển hạ tầng tuy số lượng dự án ít nhưng tổng vốn đăng ký tương đối cao 1 dự án/76,4 triệu USD vốn đăng ký (3,23% số lượng dự án và 25,72% số vốn đăng ký).

Bảng 4:  Vốn đầu tư trong nước và nước ngoài giai đoạn 2013 - 2016

 

2013

2014

2015

2016

Đầu tư trong nước (tỷ đồng)

56.000

36.000

42.000

51.000

Đầu tư nước ngoài (triệu USD)

21, 081

9,400

168,46

500,0

Hàn Quốc là quốc gia đứng đầu về số lượng dự án (11/31 dự án) và Singapore là quốc gia đứng đầu về số vốn đăng ký (76,4/297,06 triệu USD). Các doanh nghiệp FDI của tỉnh có tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm đạt trên 300 triệu USD, chiếm bình quân 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả tỉnh. Tuy nhiên bên cạnh đó, có một số dự án FDI không khả thi, thống kê của UBND tỉnh Nghệ An cho thấy có 17 dự án đã chấm dứt hoạt động.

Để đánh giá đúng những hạn chế, tồn tại của Nghệ An trong thu hút vốn FDI cần đặt kết quả thu được trong hai mối quan hệ: Thứ nhất, là điều kiện tự nhiên và con người; Thứ hai, là Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị ngày 30/7/2013 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020. Xin lấy Vĩnh Phúc và Thái Nguyên là hai tỉnh miền núi phía Bắc để so sánh với Nghệ An. Vĩnh Phúc và Thái Nguyên là hai tỉnh miền núi phía Bắc, cách cảng Hải Phòng khoảng 170 km và không có sân bay. Thế mà hai tỉnh này thu hút được nguồn vốn FDI rất lớn, lớn hơn Nghệ An. Nhờ thu hút được nhiều dự án FDI, hai tỉnh này đã thoát nghèo, Vĩnh Phúc thuộc tỉnh giàu. Về giao thông, đường bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng không Nghệ An thuận lợi hơn hẳn Vĩnh Phúc và Thái Nguyên. Nghệ An có nhiều trường đại học, cao đẳng và trường dạy nghề hơn Vĩnh Phúc và Thái Nguyên.

Nếu không muốn thừa nhận Nghệ An thua Vĩnh Phúc trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI thì phải thừa nhận một sự thật hiển nhiên: Nghệ An có tiềm năng rất lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả nhằm thu hút FDI. Nói cách khác, chúng ta đang để cho nội lực của Nghệ An "ngủ" quá lâu!

Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị ngày 30/7/2013 xác định mục tiêu "Phấn đấu xây dựng Nghệ An trở thành tỉnh khá vào năm 2015, tạo cơ sở đến năm 2020 cơ bản thành một tỉnh công nghiệp…". Năm 2017 sắp qua, chỉ còn 2 năm nữa để đưa Nghệ Anm cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 26  của Bộ Chính trị.

Đến năm 2020, còn 3 năm 3 tháng nữa làm thế nào để Nghệ An "cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp…"? Như vậy, Nghệ An đang mắc nợ với dân (để nguồn lực ngủ quá lâu) và lỡ hẹn với Đảng (không đạt mục tiêu mà NQ.26 của Bộ Chính trị đặt ra).

Thứ tư, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Nhìn vào bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh Nghệ An qua các năm có nhiều tiến bộ tuy nhiên trong 10 tiêu chí có những tiêu chí Nghệ An đạt thấp đó là "chi phí không chính thức" và "cạnh tranh bình đẳng". Xét về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, Nghệ An là tỉnh khá. Năm 2012 Nghệ An đạt thứ 46 nhưng sau 5 năm Nghệ An vượt lên thứ 25, tăng hơn 20 bậc.

Bảng 4. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Nghệ An từ 2012 - 2016

Chỉ số

2012

2013

2014

2015

2016

Gia nhập thị trường

8.09

8.09

8.88

8.63

8.9

Tiếp cận đất đai

5.79

6.26

5.32

5.38

5.37

Tính minh bạch

5.85

5.42

5.89

6.37

6.42

Chi phí thời gian

5.73

5.47

6.5

6.22

6.25

Chi phí không chính thức

6.19

4.82

4.42

4.28

4.39

Tính năng động   

3.16

6.05

4.4

4.48

5.0

Hỗ trợ doanh nghiệp

3.98

5.5

6.28

6.02

5.73

Đào tạo lao động

4.85

5.68

6.2

5.81

6.51

Thiết chế pháp lý

2.45

4.89

5.27

5.58

5.3

Cạnh tranh bình đẳng

 

4.87

4.97

6.25

4.67

PCI

54.36

55.83

58.92

58.47

59.45

Xếp hạng

46/63

46/63

28/63

32/63

25/63

 

Nghệ An là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, có vị trí địa lý chiến lược hết sức quan trọng của đất nước, gắn với trục Bắc - Nam và định hướng phát triển hành lang kinh tế Đông - Tây. Những năm qua, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân tỉnh Nghệ An đã nỗ lực phấn đấu, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Kinh tế phát triển khá toàn diện, tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) 3 năm 2013 - 2016 tăng bình quân 7,59%, cao hơn tốc độ tăng trưởng của 3 năm 2011 - 2013 là 5,54%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao được chú trọng đầu tư phát triển, từng bước hình thành các vùng nguyên liệu tập trung gắn với chế biến, thu hút được một số lượng lớn các dự án về nông nghiệp, chăn nuôi công nghệ cao đầu tư trên địa bàn tỉnh...

Tuy vậy, qua 4 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị, lĩnh vực nông nghiệp đã có bước phát triển nhưng chưa thật sự vững chắc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, chất lượng tăng trưởng thấp; chưa thu hút được nhiều dự án lớn đầu tư trên địa bàn tỉnh. Một số chỉ tiêu về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh chưa đạt kế hoạch đề ra, tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức cao, nhất là đối với đồng bào dân tộc ở các huyện miền núi Tây Nghệ An... Đến nay Nghệ An có 152 xã đạt nông thôn mới, chiếm 31, 3% số xã trong toàn tỉnh, cao hơn bình quân cả nước (23%). Toàn tỉnh có 2 đơn vị cấp huyện, thị xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới. Tuy vậy tiến độ xây dựng nông thôn mới còn chậm và chưa vững chắc. Nhiều chỉ tiêu sản phẩm chưa đạt mục tiêu như xi măng, đá trắng, chăn nuôi và chế biến sữa. Công tác quản lý trên một số lĩnh vực còn hạn chế như tiến độ giải phóng mặt bằng chậm, nợ xây dựng cơ bản lớn, chất lượng một số công trình chưa đạt yêu cầu. Công tác cải cách thủ tục hành chính còn chậm. Vấn đề xây dựng chính quyền điện tử và cải cách hành chính công vẫn còn nhiều khó khăn. Mục tiêu xây dựng thành phố Vinh thành trung tâm kinh tế, văn hóa của Bắc Trung bộ vẫn còn xa vời. Kinh tế miền Tây Nghệ An vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng thế mạnh của vùng. Lộ trình xây dựng "khu vực miền Tây thành một trong 3 vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh, gắn vùng nguyên liệu với khai thác, chế biến khoáng sản, sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp. Xây dựng Khu nông nghiệp công nghệ cao với trung tâm là Nghĩa Đàn nhằm khai thác tiềm năng nông nghiệp khu vực miền Tây, tạo ra sản phẩm có chất lượng, năng suất, hiệu quả và làm điển hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của vùng Bắc Trung bộ" như NQ 26 BCT đã nêu trong vòng 10 năm tới vẫn rất khó khăn bởi chưa tìm kiếm được nguồn đầu tư. Về nguyên nhân, khách quan có, chủ quan có nhưng theo chúng tôi chủ quan là chủ yếu. Nếu chúng ta so sánh với các tỉnh trong khu vực Bắc Trung bộ thì không có tỉnh nào hội tụ được các yếu tố thuận lợi như Nghệ An. Hình như trong chiến lược phát triển Nghệ An đang thiếu tính đột phá, chưa tạo được sự khác biệt. Hình như trong tư duy, Nghệ An vẫn do dự, bảo thủ đi theo lối mòn truyền thống, chưa dám bứt phá để tạo đột biến.

2.     Kết luận và khuyến nghị

Từ 2013 đến 2017, trong lộ trình thực hiện NQ 26 của BCT, kinh tế - xã hội Nghệ An đã có nhiều chuyển biến tích cực trên tất cả các lĩnh vực. Bức tranh kinh tế Nghệ An đã có nhiều khởi sắc. Tuy nhiên bên cạnh những điểm sáng rất đáng ghi nhận, vẫn tồn tại những khoảng tối. Chính điều đó đã làm chậm lại việc thực hiện các mục tiêu mà NQ 26 của BCT đã đặt ra cho Nghệ An.

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2017 và những năm tiếp theo, Thủ tướng yêu cầu tỉnh Nghệ An cần tập trung thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm theo Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 30-7-2013 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII; tập trung hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2017; chỉ đạo quyết liệt thực hiện Nghị quyết số 19/2016/NQ-CP ngày 28-4-2016 của Chính phủ và Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16-5-2016 của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp; bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường sống trong lành cho nhân dân.

Cùng với đó, tỉnh Nghệ An cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách bền vững trên cơ sở khai thác hiệu quả tiềm năng và lợi thế so sánh của địa phương; chú trọng tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp đa chức năng, nông nghiệp sinh thái ứng dụng công nghệ cao; xã hội hóa mạnh mẽ công tác đào tạo nghề, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao để cung ứng cho phát triển của địa phương, của vùng và xuất khẩu lao động ra nước ngoài; tăng cường công tác thu ngân sách trên địa bàn, từng bước cân đối thu chi của tỉnh, phấn đấu có đóng góp cho ngân sách trung ương.

Đồng thời, tập trung nguồn lực đầu tư của ngân sách nhà nước, cũng như các nguồn đầu tư, xã hội hóa để xây dựng thành phố Vinh trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa của tỉnh và của vùng Bắc Trung bộ. Xây dựng khu du lịch Cửa Lò để Cửa Lò, TP Vinh và Nghĩa Đàn thành tam giác kinh tế động lực, trục tăng trưởng của tỉnh từ nay đến 2020 và những năm tiếp theo.

 

    Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị, số 26 NQ, TW; Phương hướng, nhiệm vụ, phát triển kinh tế Nghệ An đến 2020, ngày 30/7/1913.

2. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An năm 2013 và kế hoạch phát triển KT- XH năm 2014

3. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An năm 2013 và kế hoạch phát triển KT- XH năm 2014

4. Báo cáo tình hình kinh tế  - xã hội Nghệ An năm 2014 và kế hoạch phát triển KT- XH năm 2015

5. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An năm 2015 và kế hoạch phát triển KT- XH năm 2016

6. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An năm 2016 và kế hoạch phát triển KT- XH năm 2017

7. Nghị quyết số 32 của HĐND kỳ họp thứ 3 tỉnh Nghệ An về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 .

 

 

1. Đặt vấn đề

Ngày 30/7/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020. Nghị quyết nêu rõ: từ nay đến năm 2020, trên cơ sở vận dụng sáng tạo Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, các nghị quyết của Trung ương gắn với thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XVII của Đảng bộ tỉnh, Nghệ An cần tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, tăng cường đoàn kết, thống nhất, phát huy nội lực, tận dụng, thu hút mọi nguồn lực cả trong, ngoài tỉnh và nước ngoài, phấn đấu xây dựng Nghệ An trở thành tỉnh khá trong khu vực phía Bắc vào năm 2015, tạo cơ sở đến năm 2020 cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp; là trung tâm về tài chính, thương mại, du lịch, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, công nghiệp công nghệ cao của vùng Bắc Trung bộ; có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, từng bước hiện đại; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc xứ Nghệ; quốc phòng, an ninh vững mạnh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

Để thực hiện mục tiêu đó, trong những năm qua, được sự quan tâm của Chính phủ, Nghệ An đã chú trọng đẩy mạnh việc đầu tư, phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp (KKT, KCN) và khu công nghiệp nhỏ (KCNN). Theo kinh nghiệm phát triển kinh tế của các quốc gia, sự ra đời và phát triển các KKT, KCN, KCNN là rất cần thiết đối với một địa phương có nền kinh tế đang phát triển như tỉnh Nghệ An nói riêng và Việt Nam nói chung.

2. Thực trạng hoạt động của các KKT, KCN, KCNN tỉnh Nghệ An

2.1. Kết quả hoạt động của các KKT, KCN, KCNN trên tỉnh Nghệ An

Đẩy mạnh đầu tư phát triển mô hình KKT, KCN, KCNN thời gian qua, đặc biệt sau Nghị Quyết 26 của Bộ Chính trị đối với Nghệ An là bước ngoặt quan trọng trong việc thúc đẩy công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của các địa phương trên địa bàn tỉnh. Đây là giải pháp khá toàn diện để giải quyết đồng thời các yêu cầu về vốn, lao động, khoa học công nghệ, trình độ quản lý, cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển kết cấu hạ tầng… từ đó có thể rút ra những hiệu quả kinh tế - xã hội do hiệu ứng từ việc đầu tư vào ba mô hình trên mang lại như sau:

- Tác động kinh tế:

Có thể nói, Nghệ An được thiên nhiên ban tặng tiềm năng lớn để phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp vừa và nhỏ. Sự phát triển các KKT, KCN, KCNN ở Nghệ An đã góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Năm 2014 giá trị sản xuất công nghiệp (SXCN) đạt 30.846 tỷ đồng, tăng 13,537% so với năm 2013 (cả nước có tốc độ tăng 7,14%). Năm 2015 giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,05%. Đây là mức tăng cao nhất trong những năm gần đây do một số công trình, nhà máy đã đi vào vận hành và cho ra sản phẩm, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế như: Nhà máy Tôn Hoa Sen, Nhà máy chế biến cá hộp Royal Foods, Nhà máy chế biến thực phẩm Masan (Nam Cấm), Nhà máy xi măng Sông Lam 2 (Anh Sơn), Nhà máy gỗ MDF (Nghĩa Đàn); nhiều sản phẩm máy móc thiết bị của các nhà máy khác đang được nhập khẩu để thi công các công trình.

Tính đến năm 2016 chỉ số sản xuất công nghiệp của Nghệ An tăng 9,35% so với cùng kỳ năm 2015 do một số ngành công nghiệp chủ đạo tăng với tốc độ tốt bao gồm: công nghiệp khai khoáng tăng 12,03%, cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,79%.

Tỉnh Nghệ An có 8 KCN nằm trong danh mục các KCN của cả nước ưu tiên phát triển đến năm 2015 có tính đến năm 2020, với tổng diện tích các KCN sau khi được điều chỉnh, bổ sung là 2.860 ha. Đến nay, các KCN đã cơ bản hoàn thiện và thu hút nhiều công ty, dự án quan trọng, gồm: KCN Bắc Vinh với diện tích 60 ha, KCN Hoàng Mai với diện tích 289,67 ha, KCN Đông Hồi với diện tích 450 ha, KCN Nam Cấm với diện tích 327 ha... Các KKT, KCN, KCNN trên địa bàn đã giải quyết việc làm cho hơn 15.000 lao động với mức thu nhập bình quân 4,5 triệu đồng/người/tháng. Nếu như đạt mục tiêu đề ra, khu công nghiệp, đô thị - dịch vụ VSIP dự kiến sẽ giải quyết việc làm cho khoảng 50.000 lao động trên địa bàn.

Song song với việc quy hoạch và xây dựng các KKT, KCN thì Nghệ An đã tiến hành quy hoạch, xây dựng và đưa vào hoạt động nhiều KCNN rất hiệu quả. Tính đến thời điểm hiện nay, tỉnh đã và đang tiến hành lập quy hoạch, xây dựng 22 KCNN trên địa bàn. Trong đó, có 3 KCNN là Đông Vĩnh, Nghi Phú, Diễn Hồng đã lấp đầy. Các KKT, KCN, KCNN đã thu hút hàng loạt dự án, nhà đầu tư lớn làm thay đổi cơ cấu kinh tế của Nghệ An theo hướng hiện đại, áp dụng công nghệ cao từ đó nâng cao đời sống cho người dân Nghệ An. Những dự án lớn như các dự án Tôn Hoa Sen tại KCN Đông Hồi, VSIP, Tổng kho Xăng dầu DKC, Cảng Cửa Lò bến số 5,6... Đặc biệt, đã thu hút rất nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với quy mô và chất lượng của các dự án cũng có sự thay đổi cả về chất và lượng. Đây là minh chứng rõ ràng nhất cho việc Nghệ An có đủ điều kiện để đáp ứng các điều kiện khắt khe của các nhà đầu tư quốc tế.

Hằng năm, sự phát triển của các KKT, KCN, KCNN đem lại nguồn thu tăng dần cho ngân sách của tỉnh. Đây là nguồn thu nội địa có đóng góp quan trọng trong ngân sách của tỉnh Nghệ An các năm qua. Năm 2014, tỉnh Nghệ An đã thu ngân sách 10 tháng đạt 6.182,948 tỷ đồng, bằng 91,8% dự toán, tăng 17,2% so với cùng kỳ. Năm 2016, tuy tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh thấp hơn dự kiến đã ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách, thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu gặp nhiều khó khăn do giá xăng dầu giảm, một số dự án chậm tiến độ nhưng do có sự lãnh đạo chỉ đạo quyết liệt của cấp ủy, chính quyền các cấp, sự nỗ lực của ngành thuế nên tổng thu ngân sách nhà nước năm 2016 đạt trên 10.310 tỷ đồng, bằng 100,3% dự toán, tăng 18,3% so với cùng kỳ. Trong đó: Thu nội địa 9.283 tỷ đồng, bằng 103,2% dự toán và tăng 20,6% so với cùng kỳ.

Với quá trình thu hút, vận hành và hoạt động hiệu quả của các KKT, KCN, KCNN đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Nghệ An, từng bước xây dựng một nền công nghiệp theo hướng CNH, HĐH. Cơ cấu kinh tế tỉnh Nghệ An chủ yếu vẫn là nền kinh tế nông nghiệp; xây dựng và phát triển các KKT, KCN, KCNN là góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao tỷ lệ khu vực công nghiệp. Đánh giá chung cho thấy: Khu vực nông - lâm - ngư nghiệp giảm từ  27,77% năm 2013 xuống 25,42% năm 2014; khu vực công nghiệp - dịch vụ tăng từ 31,36% năm 2013 lên 31,85% năm 2014; khu vực dịch vụ tăng từ 41,69% năm 2013 lên 42,74% năm 2014. Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp năm 2016 tăng 3,53%; công nghiệp - xây dựng tăng 11,58% (riêng công nghiệp tăng 11,44%); dịch vụ tăng 6,71% so với cùng kỳ. Như vậy, do một số nguyên nhân chung của nền kinh tế, ngành công nghiệp vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng theo hướng hiện đại hóa. Bên cạnh đó, phát triển các KKT, KCN, KCNN góp phần tăng hiệu quả và nâng cao trình độ công nghệ thông qua ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, bảo quản và chế biến sản phẩm, tạo nên đội ngũ lao động có tay nghề cao ở các địa phương làm động lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển theo hướng thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá nông thôn, thu hẹp khoảng cách phát triển kinh tế của các vùng khác nhau trên địa bàn tỉnh. Xây dựng nông thôn mới có hạ tầng phát triển theo hướng hiện đại, gắn với đô thị hoá. Phát triển đa dạng các ngành nghề, nhất là những ngành nghề sử dụng nhiều lao động có giá trị gia tăng và giá trị xuất khẩu cao. Ngoài ra, phát triển các KKT, KCN, KCNN còn có thể huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân đầu tư phát triển công nghiệp, tạo ra khối lượng sản phẩm vật chất lớn cho nền kinh tế. Khai thác được tiềm năng sẵn có của từng địa phương về tay nghề, lao động, vốn,... chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá có năng suất, chất lượng và hiệu quả, góp phần xoá đói giảm nghèo.

- Tác động xã hội:

Với sự tập trung đẩy mạnh đầu tư, xây dựng các KKT, KCN, KCNN, đặc biệt từ sau khi Nghị Quyết 26 của Bộ Chính trị đã tạo ra hiệu ứng tốt cho tỉnh Nghệ An. Thứ nhất, tạo việc làm, số việc làm được tạo mới cả năm 2016 ước 37.860 lao động, trong đó xuất khẩu lao động 12.625 người. Chất lượng đào tạo nghề được nâng cao, Nghệ An đã đạt được: 02 giải Nhất, 01 giải Nhì và 02 giải Ba tại Hội nghị thiết bị đào tạo tự làm toàn quốc năm 2016. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 55% năm 2015 lên 57% năm 2016; trong đó, qua đào tạo nghề từ 48% lên 50,2%. Đào tạo nghề trình độ trung cấp, cao đẳng gắn với giải quyết việc làm đã cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho các khu công nghiệp, tập đoàn kinh tế trong và ngoài tỉnh. Đồng thời tạo thêm nhiều việc làm thì các KKT, KCN, KCNN đã giúp tăng thu nhập cho người lao động làm, bên cạnh đó còn tạo thêm nhiều việc làm cho dân cư địa phương, tăng thu nhập cho họ, nơi đặt các KKT, KCN, KCNN về các dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp. Các lao động thời vụ vào thời gian nhàn rỗi sau mùa vụ có thể tham gia lao động theo thời vụ góp phần tăng thu nhập cho người lao động ở địa phương.

- Tác động môi trường:

+ Tác động tích cực: Các KKT, KCN, KCNN nơi tập trung các nhà máy, các cơ sở sản xuất; là nơi di dời các nhà máy gây ô nhiễm trong khu vực dân cư, vì thế vấn đề môi trường trên địa bàn tỉnh Nghệ An phần nào đã được đảm bảo, góp phần cải tạo môi trường đất và cảnh quan của địa phương.

 + Tác động tiêu cực: Tuy nhiên, các KKT, KCN, KCNN hàng năm thải ra lượng khí thải, chất thải rất lớn đến môi trường xung quanh. Chất thải từ các khu, cụm công nghiệp chưa được xử lý triệt để đã gây ra các tác động môi trường tại các khu vực này. Phần lớn các KKT, KCN, KCNN hiện nay ở tỉnh Nghệ An đều xây dựng theo hình thức "cuốn chiếu", cơ sở hạ tầng  và hạng mục xử lý chất thải, mương tiêu thoát nước ở một số hạng mục đầu tư được thực hiện sau hoặc chưa có làm cho vấn đề ô nhiễm môi trường tại các khu, cụm công nghiệp đang trở thành vấn đề bức xúc.

Tóm lại, sau khi triển khai Nghị Quyết 26 của Bộ Chính trị về phát triển tỉnh Nghệ An, các hoạt động đầu tư, xây dựng và vận hành các KKT, KCN, KCNN đã khởi sắc và đạt được những thành tựu cơ bản sau:

Thứ nhất, số lượng các KKT, KCN, KCNN, số lượng dự án, số lượng vốn đầu tư thời gian qua tăng đáng kể.

Thứ hai, sự hình thành và phát triển các KKT, KCN, KCNN tại Nghệ An thời gian qua đã tạo ra bước đột phá trong thu hút đầu tư để phát triển công nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế, đẩy nhanh quá trình đô thị hoá ở các địa phương; Đã khai thác có hiệu quả tiềm năng và các nguồn lực sẵn có của từng địa phương.

Thứ ba, các KKT, KCN, KCNN hình thành đã thúc đẩy phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của địa phương, khai thác tiềm năng và lợi thế của từng vùng, giải quyết việc làm cho nhiều lao động, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tạo việc làm và thu nhập cho người dân.

2.2. Hạn chế các KKT, KCN, KCNN của tỉnh Nghệ An

Mặc dù đã được tỉnh quan tâm, đặc biệt sau khi triển khai Nghị Quyết 26 của Bộ Chính trị, hoạt động của các KKT, KCN, KCNN đã có bước phát triển. Tuy nhiên, hiện nay các KKT, KCN, KCNN đang và sẽ gặp phải nhiều vấn đề cần được giải quyết kịp thời. Những khó khăn, hạn chế của hệ thống các KKT, KCN, KCNN trên địa bàn tỉnh Nghệ An là:

- Việc quy hoạch các KCNN tại tỉnh Nghệ An vẫn còn dàn trải. Hiện nay, UBND tỉnh Nghệ An đã phê duyệt quy hoạch 46 cụm công nghiệp với tổng diện tích 900 ha rải đều ở các huyện và thành phố Vinh. Bên cạnh đó, theo như quy hoạch hiện tại còn có 8 khu công nghiệp và khu kinh tế Đông Nam (KCN Nam Cấm và Thọ Lộc nằm trong khu kinh tế). Việc quy hoạch trải rộng như vậy đã làm cho Nghệ An khó khăn hơn trong việc huy động vốn đầu tư vào phát triển hạ tầng. Quá trình khảo sát điều tra cho thấy, nhu cầu về vốn đầu tư hạ tầng của Nghệ An là rất lớn và hiện đang rất thiếu.

- Chưa thu hút được các dự án đầu tư chế biến sâu vào các KKT, KCN, KCNN. Những doanh nghiệp thu hút vào Nghệ An chủ yếu sản xuất thép, xi măng, chế biến và khai thác đá… Các KCN thu hút các loại ngành nghề vào đầu tư mà chưa có sự chọn lọc. Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này xuất phát từ việc chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp cố gắng lấp đầy khu công nghiệp nhằm thu hồi vốn và tăng lợi nhuận.

- Thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các KKT, KCN, KCNN còn hạn chế. Nghệ An đang thiếu các nhà đầu tư chiến lược và các doanh nghiệp nước ngoài lớn có thương hiệu tầm cỡ quốc tế (loại trừ doanh nghiệp thép Kobe Nhật Bản). Số liệu về tình hình thu hút đầu tư nước ngoài cho thấy số vốn và dự án FDI Nghệ An thu được rất hạn chế và thấp hơn hẳn so với những tỉnh xung quanh, đặc biệt là quy mô dự án thu hút.

- Việc triển khai xây dựng hạ tầng các KKT, KCN, KCNN còn chậm và thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu thu hút đầu tư. Mặc dù tỉnh đã rất quan tâm đến vấn đề quy hoạch, nhất là quy hoạch các khu dân cư và hạ tầng kỹ thuật bên ngoài các KCN nhưng do nguồn vốn đầu tư của tỉnh còn hạn chế, nguồn vốn phân bổ từ trung ương cho các địa phương rất thấp so với yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng tại địa phương cho nên chỉ tập trung đầu tư hạ tầng khu công nghiệp để thu hút đầu tư còn chưa đáp ứng được và việc đầu tư các công trình ngoài khu công nghiệp còn chậm hơn.

- Công tác giải phóng mặt bằng các KKT, KCN, KCNN vẫn còn chậm và chưa có biện pháp mạnh để giải quyết triệt để, chưa đáp ứng được yêu cầu thuê đất của các nhà đầu tư. Cơ chế, thủ tục hành chính còn nhiều vướng mắc chưa tháo gỡ kịp thời để đẩy nhanh đầu tư xây dựng. Huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và doanh nghiệp KCN thấp trong khi nguồn vốn ngân sách còn hạn chế.

2.3. Giải pháp phát triển các KKT, KCN, KCNN theo định hướng của Nghị quyết 26

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ mà Bộ Chính trị giao cho tỉnh Nghệ An, riêng về lĩnh vực kinh tế, Nghệ An đã xác định tập trung cao để quy hoạch, xây dựng và đưa vào hoạt động các KTT, KCN, KCNN trên địa bàn tỉnh một cách hiệu quả. Một số giải pháp cần thực hiện là:

- Thứ nhất, tạo môi trường pháp lý thông thoáng

Môi trường đầu tư vào các KKT, KCN, KCNN tỉnh Nghệ An vẫn ít hấp dẫn các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. Một trong những rào cản ảnh hưởng đến môi trường đầu tư Nghệ An là môi trường pháp lý. Vì vậy, tỉnh cần xây dựng chiến lược và các lĩnh vực đầu tư vào các KCN một cách cụ thể hơn để các nhà đầu tư lựa chọn lĩnh vực và dự án đầu tư đúng theo định hướng phát triển KCN của tỉnh. Tiếp tục cụ thể hoá cơ chế chính sách của nhà nước, đưa ra những chính sách ưu đãi cụ thể đối với từng ngành, từng lĩnh vực, từng KCN nhằm tạo ra sức hấp dẫn các nhà đầu tư, phù hợp với điều kiện thực tế tại các KCN của tỉnh và có tính khả thi cao.

- Thứ hai, từng bước hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KKT, KCN, KCNN

Kinh nghiệm thực tiễn ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới cho thấy nơi nào có cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật tốt thì nơi đó có sức hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư và ngược lại. Vì vậy, tỉnh phải coi xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào các KCN như là điều kiện tiên quyết, bắt buộc không chỉ đối với đòi hỏi trước mắt mà cả lâu dài, không chỉ tạo tiền đề cho thu hút đầu tư mà cho sự phát triển vững chắc của các KCN.

- Thứ ba, cải cách thủ tục hành chính theo hướng tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư.

Cải cách bộ máy chính quyền địa phương, phương thức quản lý và lề lối làm việc của các cơ quan hành chính các cấp. Theo tinh thần đó, tỉnh Nghệ An cần đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tạo thuận lợi và giảm chi phí cho hoạt động của các nhà đầu tư khi vào các KCN, từ đó thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư. Trong thời gian tới, cần tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa Ban quản lý các KKT, KCN, KCNN với UBND tỉnh và các sở, ban, ngành có liên quan; phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan trực tiếp đến đầu tư vào các KCN.

- Thứ tư, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư để lấp đầy các KCN, KCNN.

Hiện nay, nhiệm vụ xúc tiến đầu tư vào các KCNN ở các địa phương do địa phương tự đảm nhận. Thực tế cho thấy, tỷ lệ lấp đầy ở các KCNN địa phương tỷ lệ thuận với công tác xúc tiến đầu tư vào các KCN ở địa phương đó. Nghệ An, vận động xúc tiến đầu tư vào KCNN được giao cho Trung tâm Xúc tiến đầu tư Nghệ An và Ban quản lý các KCNN Nghệ An:

+ Đổi mới về nội dung và phương thức vận động xúc tiến đầu tư theo một chương trình chủ động, có hiệu quả phù hợp với từng KCN, từng loại hình doanh nghiệp đầu tư vào KCN.

+ Tổ chức xây dựng và thiết lập mạng thông tin từ Ban quản lý KCN Nghệ An với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các sở, ban, ngành có liên quan trong tỉnh, các KCN khác trong cả nước, các bộ ngành trung ương để cập nhật, trao đổi thông tin phục vụ hoạt động thu hút đầu tư. Thường xuyên tổ chức đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư tại Ban quản lý các KCN Nghệ An và Trung tâm Xúc tiến đầu tư Nghệ An.

+ Tổ chức các chuyến đi khảo sát, học tập, trao đổi kinh nghiệm xúc tiến đầu tư vào KCN ở các tỉnh và nước ngoài. Trước mắt, tỉnh Nghệ An cần chủ động bố trí kinh phí và tổ chức vận động xúc tiến đầu tư qua Trung tâm X26úc tiến đầu tư và Ban quản lý các KCN.

   

Tài liệu tham khảo

1. Website http://www.business.gov.vn, Nghệ An cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư.

2. UBND tỉnh Nghệ An, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2014 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 tỉnh Nghệ An, ngày 05 tháng 12 năm 2014.

3. UBND tỉnh Nghệ An, Đề án tập trung thu hút đầu tư có hiệu quả vào tỉnh Nghệ An đến năm 2020 và các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh ngày 01 tháng 07 năm 2014.

4. Thành phố Vinh, điểm đến của các Nhà đầu tư - Báo cáo phát biểu tại Lễ Kỷ niệm 50 năm thành lập thành phố Vinh năm 2014.

5. Sở Kế hoạch và Đầu tư Nghệ An (2010), Danh mục các dự án kêu gọi vốn đầu tư tỉnh Nghệ An 2010-2020.

6. Phương hướng phát triển các khu công nghiệp ở nước ta từ năm 2010 đến năm 2020 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Quyết định số 197/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Nghệ An đến năm 2020.   

Quảng Phước

 

1. Đặt vấn đề

Đền Ông Hoàng Mười tọa lạc tại làng Xuân Am, xã Âm Công, tổng Đô Yên, huyện Hưng Nguyên, phủ Anh Đô, nay là làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Đền được xây dựng từ thời Lê trung hưng để thờ các vị phúc thần như Khâm Sai Tiết Chế Nghệ An, Quảng Nam, Thuận Hóa Đẳng Xứ, Kiêm Thủy Bộ Chư Dinh, Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Thái Úy Vị Quốc Công (Ông Hoàng Mười); Đương Cảnh Uy Minh Song Đồng Ngọc Nữ; Thái Bảo Phúc Quận Công (Lại Thế Mỹ); Tham Đốc Thuần Lộc Hầu (Nguyễn Duy Lạc). Trải qua các triều đại phong kiến đều ban sắc phong thần cho các vị thần được thờ phụng tại đây. Triều đình giao cho làng Xuân Am phải có trách nhiệm "tòng tiền phụng sự"(1) các vị thần. Như vậy, việc phụng sự ở đền không chỉ còn giới hạn là việc riêng của dân làng mà đã được nhà nước quy định (như ngày nay gọi là có quyết định của trung ương). Chính vì vậy, từ xưa, trong hương ước của làng Xuân Am đã có những quy định rất chặt chẽ, cụ thể về việc thờ cúng hàng năm tại đền và bảo vệ, giữ gìn sự tôn nghiêm, linh thiêng của ngôi đền.  

Hiện nay, ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm tại Hà Nội còn lưu trữ bản "Xuân Am thôn tục lệ" mang ký hiệu AF b1/4. Bản tục lệ này được lập ngày 21 tháng 6 năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) và bổ sung thêm một số điều ngày mồng 3 tháng 5 năm Tự Đức thứ 36 (1883). Cuối văn bản này có đóng dấu chứng thực của Lý trưởng Nguyễn Duy Phấn. Đây thực chất là một bản hương ước quy định về các lĩnh vực "quan, hôn, tang, tế" của làng Xuân Am nhằm duy trì thuần phong mỹ tục của làng, bảo đảm tôn ti trật tự, trị an xã hội và các quyền lợi của dân làng.  

Theo bản tục lệ trên, làng Xuân Am xưa có bốn khoán (tức 4 giáp), được phân chia theo Giáp, Ất, Bính, Đinh. Phần quy định chung của làng có 50 khoản. Mỗi khoán lại có quy định riêng, khoán Giáp có 15 khoản, khoán Ất có 13 khoản, khoán Bính có 27 khoản, khoán Đinh có 15 khoản. Tổng cộng là 120 khoản. Đến năm Tự Đức thứ 36 (1883), tục lệ của làng được bổ sung thêm 10 khoản, nâng tổng số lên 130 khoản. Trong đó có những khoản quy định ngắn gọn nhưng cũng có những khoản phức tạp được chia ra thành nhiều mục nhỏ.      

Mở đầu hương ước đã khẳng định tầm quan trọng của văn bản này: "hương chi hữu phong tục do quốc chi hữu điều lệ. Cẩu điều lệ bất lập vô dĩ chính phong tục. Nhưng thử đồng thôn hội hợp nghị định các điều lệ", nghĩa là "làng có phong tục cũng như nước có luật pháp. Nếu không đặt điều lệ thì lấy gì để làm ngay thẳng phong tục. Do vậy cả làng ta cùng hội họp để bàn định các điều lệ". Lần bổ sung sau lại khẳng định tiếp: "phong tục nhất đại sự dã. Giáo hóa mỹ phong tục thuần, triều đình phụng hữu di chương, ngô hương chư tiên bối dĩ tuân định hĩ", nghĩa là "phong tục là việc quan trọng. Để giáo hóa thuần phong mỹ tục, triều đình đã ban hành pháp luật, các bậc tiền bối của làng ta đã tuân theo những quy định đó". Các điều lệ quy định trong văn bản này được toàn thể dân làng chấp nhận và mọi người dân trong làng buộc phải tuân thủ.

Làng Xuân Am xưa có cả đền, chùa và nhà thánh. Tuy nhiên, trong hương ước chủ yếu đề cập đến các quy định thờ phụng ở đền và nhà thánh, đặc biệt là tại đền Xuân Am (tức đền Ông Hoàng Mười hiện nay). Đối với dân làng, việc thờ thần là việc trọng đại, vừa tuân theo sắc chỉ của nhà vua, vừa thể hiện sự thành kính đối với thần linh. Chính vì vậy, mở đầu hương ước của làng cũng như của các khoán đều đề cập đến việc "sự thần"(2).  

2. Các điều khoản quy định việc "sự thần" và bảo vệ đền

* Các khoản chung của làng:

- Khoản thứ nhất: Lễ Tuế Trừ(3) hàng năm, lý trưởng sai seo(4) đi rao mõ báo cho toàn thể viên chức và dân làng cùng tề tập tại nhà giữ sắc phong rồi đem cờ trống và các đồ tế khí để kính rước sắc phong thần về đền. Mỗi thủ khoán(5) của bốn khoán phải sắm sửa 01 mâm trầu rượu cùng với hương, sáp. Các viên chức phải khăn áo chỉnh tề để làm lễ yên vị sắc phong thần ở đền. Sau khi lễ yên vị xong thì cả làng cùng hưởng lộc trầu rượu. Cuối ngày hôm đó, bốn khoán mỗi khoán sửa biện 01 mâm xôi gà, hương, sáp, trầu, rượu đủ dùng đưa đến đền để cúng, viên chức trong làng phải khăn áo chỉnh tề để làm lễ. Cúng lễ xong, lễ của khoán nào thì đưa về nhà thủ khoán của khoán đó để chi biện theo khoán lệ(6)

- Khoản thứ hai: lễ Giao thừa tống cựu nghinh tân, lý trưởng lấy lúa tuần sương 3 gánh để mua sắm 500 lá vàng mã, 05 phong pháo hồng, 10 cặp bánh chưng, 01 con gà để lập đàn cúng tại đền. Viên chức khăn áo chỉnh tề làm lễ. Lễ xong, mọi người có mặt cùng hưởng lộc. Biếu riêng thủ chỉ một phần, lý trưởng một phần, thủ từ một phần, thủ sắc một phần, lập dịch một phần, triều yết một phần. Những người vắng mặt thì không ở trong điều khoản này.

- Khoản thứ 5: Tạ lễ kính rước sắc phong thần về lại nhà giữ sắc, mua sắm 30 quả cau, 01 be rượu lớn, các viên chức của bản xã khăn áo chỉnh tề để làm lễ tạ. Lễ xong thì mọi người có mặt cùng thụ lộc. Sau đó, cả làng cùng rước thần sắc về tại nhà giữ sắc để tiện việc phụng sự và giữ gìn. Nếu từ 18 tuổi trở lên mà vắng mặt thì phạt tiền 6 mạch để cảnh cáo tội bất kính việc thờ thần. 

- Khoản thứ 6: Ngày mồng 7 tháng giêng hàng năm, các khoán trong làng, mỗi khoán sắm sửa 01 con lợn, 05 cân xôi, 01 be rượu to, 50 quả cau và hương, sáp. Tấu văn giao cho hội đồng lý trưởng chuẩn bị. Ngày hôm đó, các khoán đem lễ đến đền để cùng làm lễ một lần. Các vị kỳ lão và viên chức trong làng khăn áo chỉnh tề cùng làm lễ một lần. Nếu người nào to tiếng ồn ào thất lễ hoặc rượu chè bê tha thì bị làng phạt tiền 01 quan 02 mạch để cảnh cáo. 

- Khoản thứ 8: Lễ Thượng Nguyên (rằm tháng giêng) tại đền, lý trưởng chiếu theo thứ tự người nào cày ruộng tế thì phải chịu mua lễ vật. Mỗi người [cày ruộng tế] sắm 01 con gà, 02 mâm xôi, trầu cau đủ dùng đưa đến đền để làm lễ tế thượng điền. Tế lễ xong thì những người có mặt đều được hưởng lộc thần. Biếu Lý trưởng một phần, biếu bốn khoán mỗi Thủ khoán một phần. Những người không có mặt thì thôi. 

- Khoản thứ 10: Ngày 15/3 có lễ Tự Điển (còn gọi là Tế Điển), trước đó một ngày làm lễ kính rước sắc phong của thần về đền. Các khoán trong làng, từ thủ chỉ đến dân phu từ 18 tuổi trở lên nghe ba hồi trống thì phải tề tự tại đền để phô trương(7) màn trướng, hương án, bàn ghế và lau rửa các đồ tế khí. Làm những việc đó xong thì cùng đến nhà giữ sắc để kính rước sắc phong thần về đền làm lễ cáo yết.

+ Lễ cáo yết có tế điền 03 sào 04 thước, người nào đến lượt cày ruộng này thì phải sắm sửa 02 con gà, 02 cân xôi (lấy cân ở đình làm định mức), trầu, rượu, hương, sáp từ lễ cáo yết đến lễ chính tế trị giá tiền là 10 quan. Viên chức trong làng khăn áo, hia hài chỉnh tề để làm lễ tế.

+ Sau khi cáo yết xong thì cỗ bàn hạ xuống cùng nhau ăn uống nên chiếu theo ngôi thứ mà ngồi để giữ gìn hòa mục trên dưới. Trong lúc ăn uống không được to tiếng ồn ào huyên náo. Nếu người nào vắng mặt thì chiếu theo sổ hương ẩm để chia phần, không được bỏ sót một phần nào.

+ Lễ hành hương thực hiện vào tối hôm đó (tối 14/3). Hoặc là bốn phía thôn giáp người nào phụ canh, hoặc để trâu bò phá hoại ruộng đồng của làng, hoặc con rể của làng thì phải sắm sửa hương, sáp, trầu, rượu bao nhiêu là tùy lòng thành đem đến đền, trên là cúng thần, dưới là trình với viên chức của làng soi tỏ những việc trước, chén thù chén tạc cùng nhau yến ẩm cũng là cái tình giao thiệp qua lại.

+ Tối hôm đó (tối 14/3) có ca hát một đêm, trên là để phụng sự thần, dưới là để quan viên thưởng thức. Còn tiền cho phường chèo thì quan viên tự chịu.

+ Sáng sớm hôm sau (15/3) có lễ chính tế, chiếu theo sổ hương ẩm, mỗi suất nạp tiền 04 mạch để mua 01 con gà, 01 con lợn hoặc bò, 10 cân xôi. Chiếu theo trong sổ, cứ đến thứ tự mà nhận xôi. Nghe một hồi trống thì làm thịt bò hoặc lợn, và đồ xôi để đem đến đền làm lễ. 

+ Chọn người hành lễ, chiếu theo trong sổ hương ẩm người nào ngồi từ bàn 5 trở lên có dự vào viên chức thì mới được làm lễ. Nếu người có tang mà tự hành lễ, hoặc khi vào tế mà thất lễ, hoặc khăn áo không nghiêm túc thì làng phạt 01 mâm trầu rượu để bái tạ. 

+ Sau khi tế lễ xong thì làm lễ rước sắc phong thần về lại nhà giữ sắc để cất như cũ.

- Khoản thứ 12: Lễ Đoan Ngọ tháng 5, lý trưởng sắm sửa 01 con gà, 01 cỗ xôi, 01 phong hương, 01 phong sáp, 01 be rượu vừa, 100 quả cau. Viên chức trong làng khăn áo chỉnh tề đến tại đền để làm lễ. Lễ xong những người có mặt cùng thụ lộc, người nào vắng mặt thì thôi. Tiền để mua lễ vật này lấy từ lúa tuần sương hai gánh để sắm sửa. 

- Khoản thứ 13: Lễ Kỳ Phúc ngày 20 tháng 6, làng chiếu theo sổ hương ẩm, mỗi người nạp tiền 6 mạch, rồi giao cho người đi mua lễ mua 03 con gà trống to, 03 cân xôi, 100 quả cau, 01 be rượu lớn, 01 phong sáp, 03 phong hương. Các giáp sửa biện 01 mâm trầu rượu cùng đưa đến để hợp tế. Viên chức của làng khăn áo chỉnh tề để làm lễ. Tế xong thì chiếu theo sổ hương ẩm để chia đều trên dưới, biếu lý trưởng 01 phần, các thủ khoán mỗi người 01 phần.

- Khoản thứ 14: Lễ Trung nguyên 15 tháng 7, các khoán mỗi khoán sửa biện 30 quả cau, 01 vò rượu, 01 cỗ xôi gà, hương, sáp đủ dùng. Ngày hôm đó (15/7) đem đến đền, viên chức của làng khăn áo chỉnh tề hành lễ. Lễ xong thì các khoán đem lễ của khoán mình về nhà thủ khoán để hưởng lộc.

- Khoản thứ 15: Lễ Trung thu 15 tháng 8, các gia đình tự sắm sửa lễ vật đem đến đền để làm lễ. Lễ tế xong, mỗi gia đình tùy lòng biếu thủ từ và những người hành lễ, còn trầu rượu thì mọi người trong làng có mặt cùng thụ lộc, còn lại bao nhiêu thì của ai người đó đem về, không được lạm dụng.

- Khoản thứ 18: Lễ Hoán mã(8), người nào đến lượt cày ruộng biện lễ thì lo liệu việc sắm sửa lễ vật. Chiếu theo sổ hương ẩm mỗi suất đóng 01 mạch tiền để thêm vào tiền lễ. Lễ vật gồm: 01 bộ đầy đủ quần áo, khăn, hia, và 01 mâm xôi, 01 con gà, hương, sáp, trầu, rượu đủ dùng. Viên chức trong làng khăn áo chỉnh tề làm lễ. Lễ xong thì thay đồ mã cũ, bày đồ mã mới lên. Còn lễ vật thì hạ xuống, những người hành lễ cùng chiếu theo ngôi thứ để thụ lộc, biếu thủ từ một phần, thủ chỉ một phần, lý trưởng một phần, những người vắng mặt thì thôi.     

- Khoản thứ 25: Làng có một tòa linh từ, bốn phía cây cối xưa nay rậm rạp, tươi tốt. Người nào chặt cây hoặc cố tình cho trâu bò vào phá, nếu bị thủ từ hoặc người làng bắt được thì chiếu theo mức độ mà phạt tiền để giữ nghiêm lệ làng.

- Khoản thứ 49: Làng ta có đền thờ thần, chùa thờ phật, huyền vũ, chu tước gò đất công lũy ở xứ đều có cây cổ thụ rậm rạp, tươi tốt. Nếu người nào trong làng chặt trộm cây, trừ tuần phu, thủ khoán bắt được ngoài ra người nào trong làng bắt được tang chứng thì làng phạt tiền 03 quan và trầu rượu để bái tạ.

* Khoán lệ của khoán Giáp:

- Khoản thứ 1: Lễ Nguyên đán tuân theo như tục lệ của làng để phụng sự thần.

- Khoản thứ 2: Lễ Khai hạ (7/1): theo định lệ của làng để biện lễ. Chi phí cho việc biện lễ này có tế điền 01 sào 05 thước, ai đến lượt canh tác ruộng đó thì chịu trách nhiệm sắm lễ.

- Khoản thứ 4: Lễ Đoan ngọ cũng có tế điền một thửa 02 sào giao cho bốn người thu hoạch, tùy thời vụ mà mua lễ phẩm cúng tế. 

- Khoản thứ 11: Các nơi đền thờ thần, chùa thờ phật nếu người nào dám chặt trộm cây cối ở đó mà bắt được tang chứng thì làng phạt 03 quan tiền, một nửa để thưởng cho người bắt được, một nửa để xung vào công quỹ. Ngoài ra còn bị phạt 50 roi để răn đe.

- Khoản thứ 15: Lễ Tất niên, thủ khoán lấy 03 gánh lúa tuần sương để mua 01 con gà, 01 mâm xôi, trầu, rượu, hương, sáp đủ dùng đến tại đền để làm lễ Tất niên. Các viên chức của khoán cùng đến nhà thủ khoán để uống rượu, còn lại bao nhiêu thì chia đều cho trong khoán mỗi người một phần, biếu thủ khoán một phần.

* Khoán lệ của khoán Ất:

- Khoản thứ nhất: Lễ Tự Điển cúng tế tôn thần, khoán ta có tế điền 06 sào, giao trai trưởng lần lượt canh tác. Đến lễ Tự Điển thì trai trưởng mua 01 con lợn hoặc bò, 05 cân xôi, năm mất mùa thì mua 03 cân xôi, 05 phong hương bạch đàn, 03 phong sáp trắng, 50 quả cau, trầu, 01 be rượu to. Sai mõ đi mời quan viên của làng làm lễ. Lễ xong thì biếu phần như định lệ, còn lại bao nhiêu thì toàn dân cùng thụ lộc.

- Khoản thứ 2: Lễ Kỳ phúc, thủ khoán theo nhân số của khoán thu tiền để mua lễ, 03 con gà, 03 cân xôi để cùng với làng tế thần.

* Khoán lệ của khoán Bính:

- Khoản thứ nhất: Lễ Tuế trừ, các tư gia tùy lòng nhiều ít sắm lễ vật đưa đến đền làm lễ. Lễ xong cùng biếu thủ từ, thủ chỉ, thủ khoán, còn lại thì đem về, không được lạm dụng. 

- Khoản thứ 2: Lễ Nguyên đán, chiếu theo nhân khẩu trong sổ để thu tiền, được bao nhiêu giao cho hiệp trưởng mua 02 con gà trống to, 02 mâm xôi, 01 be rượu to, 30 quả cau, viên chức khăn áo chỉnh tề đến đền làm lễ.

- Khoản thứ 3: Lễ Khai hạ có tế điền 04 sào từ xưa để lại, hàng năm giao cho hiệp trưởng lần lượt canh tác và nộp 03 cân xôi. Còn như lợn hoặc bò thì chiếu theo nhân suất trong sổ của khoán, mỗi người nộp 05 mạch tiền để mua, cùng với hương nến, trầu rượu đủ dùng. Lễ vật đưa đến đền để cúng. Viên chức của khoán khăn áo chỉnh tề hành lễ.

+ Người làm xôi ngon thì thưởng xôi thịt trị giá 05 mạch tiền.

+ Người làm xôi không ngon hoặc không trắng thì phạt tiền 03 quan.  

- Khoản thứ 4: Lễ Tự điển tháng 3, thu tiền theo nhân suất, mỗi suất 01 mạch, mua sắm 01 con gà, 01 mâm xôi, 03 phong hương, 03 be rượu to, 50 quả cau, 01 phong sáp trắng. Ngày hôm đó, viên chức của khoán khăn áo chỉnh tề hành lễ.

- Khoản thứ 5: Lễ Đoan ngọ tháng 5, các tư gia biện cháo mật(9), chuối tiêu hoặc xôi gà, trầu rượu, hương sáp đưa đến đền cúng lễ. Sau khi lễ xong thì trầu rượu biếu những người hành lễ, còn lại đem về.

- Khoản thứ 6: Lễ Kỳ phúc tháng 6, theo như trước đây là đại lễ đều có đại tế tam sinh, những năm trở lại đây tế điền toàn là bùn lầy, vả lại mất mùa liên tục. Nên nay tuân thủ lấy lúa tuần sương 03 gánh để mua 50 quả cau, 02 be rượu to, 03 đôi sáp trắng, 03 phong bạch đàn hương, 01 con gà, 01 cân xôi, các phẩm vật định tiền 18 quan. Còn như lợn hoặc bò chiếu theo nhân danh trong sổ thu mỗi suất 05 mạch tiền, xôi thì người nào đến lượt phải làm xôi, mỗi kỳ tế 08 cân.

+ Sau khi bày biện lễ vật xong, viên chức khăn đóng áo dài làm lễ, yêu cầu phải chỉnh tề trang nghiêm. Nếu ầm ĩ thất lễ hoặc say rượu bừa bãi thì bị bản khoán phạt 03 quan tiền.      

* Khoán lệ của khoán Đinh:

- Khoản thứ nhất: Tết Nguyên đán làm cỗ 01 con gà, 01 mâm xôi cứ thế thay phiên nhau từ trên xuống dưới, trầu cau 10 quả, rượu 01 be cứ lần lượt một bàn bốn người cùng nhau sửa biện. Bày biện lễ vật xong thì quan viên làm lễ tế thần. Sau khi tế xong lấy đầu, lòng gà và trầu rượu cùng thụ lộc.

- Khoản thứ 5: Lễ Khai hạ, thu tiền của dân trong khoán, năm được mùa thì mua 01 con lợn hoặc bò, trầu, rượu, hương, sáp đủ dùng. Nếu gặp năm mất mùa thì sửa biện trầu, rượu để tế, bổ đều nhân số chiếu thu để thêm tiền sắm lễ vật tế thần.

+ Mỗi kỳ tế làm 05 cân xôi, xôi được cân theo cân tế của khoán.       

+ Làm xôi cúng thì theo danh sách trong sổ cứ thứ tự luân phiên nhau để làm, người nào không làm được thì nộp 03 quan tiền. 

+ Người nào làm xôi ngon được thưởng 01 miếng thịt giá 06 mạch tiền. Người nào làm xôi không ngon thì bị phạt 06 mạch tiền để cảnh cáo.

- Khoản thứ 6: Lễ Tự điển tháng 3 có ruộng tế 05 sào, ruộng này giao cho thủ khoán canh tác để biện lễ. Mỗi lễ sửa biện xôi gà, trầu rượu, hương sáp đồng thời mỗi vụ 15 quan tiền. Lễ vật đưa đến đền, mời quan viên hành lễ.

- Khoản thứ 7: Tháng 4 Lễ Thượng tân(10), mỗi gia đình sửa biện 01 mâm xôi gà, trầu rượu, hương sáp đưa đến đền để cúng lễ tôn thần.

- Khoản thứ 8: Lễ Đoan ngọ tháng 5, các gia đình làm cháo mật, chuối tiêu, xôi oản, trầu rượu đưa đến đền để các quan viên làm lễ. Lễ xong biếu bao nhiêu là tùy tâm của chủ, không được lạm thủ, còn lại đem về.

- Khoản thứ 9: Lễ Kỳ phúc tháng 6, trước nay để lại 05 sào ruộng tế nhưng năm trước tu bổ đền miếu nhưng do mất mùa nên không thu được [tiền của dân] phải bán mất 03 sào, còn lại 02 sào giao cho thủ khoán canh tác để biện lễ yết cáo. Còn lễ chính tế chiếu theo danh sách trong sổ thu mỗi suất 05 mạch tiền để sắm lễ.

+ Lễ yết cáo sửa biện 01 con gà, 01 mâm xôi, 02 be rượu to, 50 quả cau.

+ Lễ chính tế sửa biện 01 con lợn hoặc bò, 06 cân xôi, trầu rượu, hương sáp trị giá 06 quan tiền.

- Khoản thứ 11: Lễ Trung nguyên tháng 7, người nào đến lượt làm cỗ thì làm 01 con gà, 01 mâm xôi, 10 quả cau, 01 be rượu, mỗi thứ một mâm. Chuẩn bị lễ xong, quan viên tề tựu tại đền hành lễ.

- Khoản thứ 14: Lễ Hạ nguyên, các gia đình sửa biện 01 mâm xôi gà, trầu rượu đưa đến đền làm lễ.

- Khoản thứ 15: Lễ Tất niên, thủ khoán lấy 02 gánh lúa tuần sương mua 01 con gà, 01 mâm xôi, 01 bộ minh y đầy đủ khăn áo hia hài, 10 quả cau, 01 be rượu to. Các tư gia đem bánh chưng hoặc bánh tét đến để hội tế một lần thể hiện sự trọng đại của việc thờ thần. Các viên chức trong khoán khăn áo chỉnh tề làm lễ. Lễ xong thì thay đồ mã cũ, đưa đồ mã mới lên. 

3. Những điều rút ra từ các khoản quy định việc "sự thần" và bảo vệ đền

* Việc phụng sự thần:        

- Sắc phong thần không phải thường xuyên lưu tại đền mà giao cho một gia đình trong làng cất giữ. Mỗi năm làng làm lễ rước sắc về đền hai lần (dịp tết Nguyên Đán và lễ Tế Điển tháng 3), xong lễ lại rước hoàn lại như cũ. Gia đình được bầu chọn giữ sắc phải là gia đình vọng trọng, có một mối liên hệ nhất định đến vị thần được sắc phong, và phải được dân làng bầu chọn. Do đó, họ Nguyễn được làng giao trọng trách giữ sắc, vì trong số các vị thần được sắc phong có ngài Nguyễn Duy Lạc là tổ họ Nguyễn. Việc giữ sắc phong không đơn thuần chỉ là cất giữ bình thường mà là "phụng thủ" nghĩa là giữ gìn và thờ phụng một cách cẩn thận, chu đáo, ngày sóc vọng hàng tháng phải thắp hương kính cẩn. Nếu để những chuyện sơ suất xảy ra thì bị làng phạt vạ.

- Làng trích ra một số ruộng nhất định gọi là "tế điền" để lấy hoa lợi từ số ruộng đó phục vụ cho các kỳ cúng tế tại đền. Trong bản hương ước này tuy chưa nêu đầy đủ số tế điền của làng nhưng chúng ta có thể thống kê được một số như sau: làng yết cáo lễ Tế Điển có tế điền 3 sào 4 thước; khoán Giáp: lễ Khai Hạ có tế điền 1 sào 5 thước, lễ Đoan Ngọ có tế điền 2 sào; khoán Ất: lễ Tự Điển có tế điền 6 sào, lễ Khai Hạ có tế điền 04 sào, lễ Kỳ Phúc có tế điền nhưng hiện đang bị bùn lầy vùi lấp nên không sản xuất được; khoán Đinh: lễ Tự Điển có tế điền 05 sào, lễ Kỳ Phúc có tế điền 5 sào nhưng bán mất 03 sào còn lại 2 sào. Tổng số tế điền là 26 sào 9 thước, bán mất 3 sào còn 23 sào 9 thước (2 mẫu 3 sào 9 thước). 

- Những kỳ lễ không có tế điền thì tiền biện lễ được trích ra từ lúa tuần sương hoặc chiếu theo sổ hương ẩm để thu. Những kỳ lễ chỉ cần mua sắm ít lễ thì chiếu theo sổ hương ẩm để tuần tự thay phiên nhau biện lễ.

- Việc chuẩn bị lễ vật thể hiện sự thành tâm của dân làng đối với thần linh vì vậy lễ vật phải tinh khiết, tươm tất. Làng có những quy định thưởng phạt rất công bằng nhằm tuyên dương những người biện lễ có trách nhiệm, chú tâm vào công việc, đồng thời răn đe những người làm qua loa đại khái. Như khoán Bính quy định người làm xôi ngon thì thưởng xôi thịt trị giá 05 mạch tiền, người làm xôi không ngon hoặc không trắng thì phạt tiền 03 quan. Khoán Đinh quy định: người nào làm xôi ngon được thưởng 01 miếng thịt giá 06 mạch tiền, người nào làm xôi không ngon thì bị phạt 06 mạch tiền để cảnh cáo.             

- Để giảm những sự phiền hà và gánh nặng cho dân, việc biện lễ cúng thần còn tùy thuộc vào năm được mùa hay mất mùa như khoản 5 của khoán Đinh quy định "năm được mùa thì mua lợn hoặc bò... Năm mất mùa thì sửa biện trầu rượu...". Khoản 6 của khoán Ất quy định "lễ Kỳ Phúc là đại lễ, trước đây có tế tam sinh nhưng những năm trở lại đây tế điền bị bùn lầy, lại mất mùa liên tục nên lấy lúa tuần sương để sắm lễ trầu rượu, hương sáp, xôi gà...".

- Các phần lễ chung của làng, của khoán được quy định chi tiết, cụ thể về chủng loại, số lượng, trị giá tiền. Tùy từng kỳ lễ mà số lượng, chủng loại có khác nhau, lễ lớn thì mua nhiều, lễ nhỏ thì mua ít. Phần lễ của các tư gia, cá nhân thì chỉ yêu cầu tùy tâm, tùy vào điều kiện của từng gia đình.

- Để tránh sự tranh chấp về mặt quyền lợi "một miếng giữa làng bằng sàng xó bếp" đồng thời góp phần giữ gìn tôn ti trật tự, việc phân chia lộc tế thần cũng được quy định chặt chẽ, cụ thể từng đối tượng và chi tiết từng phần lộc. Ai vi phạm lệ làng như làm huyên náo ầm ĩ kinh động đến thánh thần, rượu chè bê tha làm mất lễ nghi phép tắc thì bị làng phạt, lần thứ nhất phạt hành chính (phạt tiền). Nếu tái phạm thì bị truất ngôi thứ trong sổ hương ẩm, phải chịu nhục với dân làng. Đây là một biện pháp giúp giữ gìn tôn ti, hòa khí trong làng.

- Được phụng sự thần là vinh dự của mỗi người dân, đó vừa là nghĩa vụ nhưng cũng vừa là quyền lợi. Vì vậy, những người đã đến tuổi trưởng thành thì phải lo gánh vác việc phụng sự thần. Nếu người từ 18 tuổi trở lên (đủ tuổi công dân) mà không đi rước sắc thì bị phạt 6 mạch tiền để cảnh cáo tội bất kính với thần.    

- Trong các kỳ lễ thì lễ tế Tự Điển (15/3) và lễ Kỳ Phúc (20/6) là long trọng nhất, đặc biệt là lễ Tự Điển. Trong lễ này có lễ phô trương, rước sắc, yết cáo, hành hương, hát xướng chúc thần, đại tế. Vui nhất là tối 14/3 âm lịch, làng mời nhà trò về biểu diễn, trên là phụng sự thần linh, dưới là quan viên và dân làng thưởng thức, không khí lễ hội sôi nổi khắp trong đền ngoài xóm. Các chàng rể của làng đưa lễ về cúng thần thể hiện tình cảm gắn bó với quê vợ. Đây cũng là dịp đại xá cho những người mắc lỗi, ai mắc lỗi gì thì đưa lễ đến tạ thần và xin làng tha thứ.

- Việc chọn người vào đội tế lễ cũng được quy định chặt chẽ, không phải ai cũng được vào đội tế. Chiếu theo sổ hương ẩm, chỉ những người ngồi từ bàn 5 trở lên có dự vào viên chức thì mới được làm lễ tế. Đó là quy định cứng của làng, ngoài ra còn những quy định khác như không phải chịu tang khó, gia đình hòa thuận, khi vào tế lễ thì phải khăn áo chỉnh tề. Nếu ai vi phạm thì bị làng phạt, như người có tang mà tự vào hành lễ, hoặc khi vào tế mà thất lễ, hoặc khăn áo không nghiêm túc thì phạt 01 mâm trầu rượu để bái tạ thần linh. 

- Cuối năm có lễ thay đồ mã cho thần, tức là thay khăn áo, hia hài, đai, mũ cho thần. Đây là một tục lệ hay, không phải làng nào cũng có. Hiện nay việc thay đồ mã cho ông Hoàng Mười được diễn ra quanh năm nhưng sự trang nghiêm thì có phần kém hơn xưa.

* Bảo vệ sự tôn nghiêm và linh thiêng của đền:

- Đền luôn có ông thủ từ túc trực để chăm lo hương khói và quét dọn hàng ngày. 

- Bốn phía quanh đền cây cối rậm rạp, nhiều cây cổ thụ. Nếu người nào chặt cây hoặc cố tình cho trâu bò vào phá, nếu bị thủ từ hoặc người làng bắt được thì chiếu theo mức độ mà phạt tiền để giữ nghiêm lệ làng. Khoản 11 của khoán Giáp quy định phạt 3 quan tiền (một nửa để thưởng cho người bắt được thủ phạm, một nửa để xung vào công quỹ), ngoài ra còn bị đánh 50 roi để răn đe.

- Không chỉ có bảo vệ cây cối quanh đền mà còn bảo vệ cả các thế phong thủy "Tam Kỳ, Mỏ Hạc" tốt đẹp để giữ gìn sự linh thiêng của đền, các gò Chu Tước (phía trước), Huyền Vũ (phía sau) cây cổ thụ rậm rạp, nghiêm cấm không được ai chặt phá. Nếu bị bắt thì phạt tiền 03 quan và trầu rượu để tạ thần.  

* Thông tin về niên đại tu sửa đền: 

Trong bản hương ước này chúng ta biết thêm về một trong số những lần tu sửa đền. Khoản 9 của khoán Đinh ghi rõ: "trước nay để lại 05 sào ruộng tế nhưng năm trước tu bổ đền miếu, do mất mùa nên không thu được [tiền của dân] phải bán mất 03 sào, còn lại 02 sào". Thời điểm viết bản hương ước này là năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), như vậy năm trước sẽ là năm 1845 hoặc trước nữa! Đây là một thông tin quý giá phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của di tích đền Ông Hoàng Mười. 

4. Kết luận

Tóm lại, thông qua bản hương ước cổ của làng Xuân Am chúng ta thấy từ xưa việc thờ phụng tại đền Ông Hoàng Mười được quy định rất cụ thể và chặt chẽ. Các điều khoản trong hương ước quy định việc thờ phụng thần và bảo vệ đền chiếm một tỷ lệ rất cao: quy định chung của làng có 13 khoản (chiếm 26%), khoán Giáp có 05 khoản (chiếm 30%), khoán Ất có 02 khoản (chiếm 15%), khoán Bính có 05 khoản (chiếm 18%), khoán Đinh có 09 khoản (60%), tổng là 34 khoản (chiếm 28,3%). Nếu tính cả 10 khoản bổ sung thêm thời Tự Đức thì số điều khoản quy định việc thờ phụng và bảo vệ đền chiếm 26%. Chứng tỏ rằng việc phụng sự thần được đặt lên hàng đầu và đây là việc hệ trọng, được dân làng quan tâm nhiều nhất. Thông qua đó các mối quan hệ làng xã bị ràng buộc bởi lệ làng, góp phần duy trì tôn ti trật tự, sự ổn định của xã hội, giữ gìn thuần phong mỹ tục.  

Ngoài ra những điều khoản quy định trong hương ước là cơ sở khoa học quan trọng cho việc phục hồi các nghi lễ, phong tục truyền thống đã bị thất truyền. Đồng thời đây là tài liệu quý cho việc nghiên cứu lịch sử đền Ông Hoàng Mười.

Chú thích

(1). Tòng tiền phụng sự: theo như trước để thờ phụng thần.

(2). Sự thần: thờ phụng thần.

(3). Tuế Trừ: tức ngày cuối cùng của năm, 29 hoặc 30/12 âm lịch.

(4). Seo: tức người đi rao mõ.

(5). Thủ khoán: người giữ khoán, tức người đứng đầu khoán.

(6). Khoán lệ: các quy định, điều lệ của khoán.

(7). Phô trương nghĩa là trưng bày, phơi bày ra. Các đồ tế khí cất trong kho, bây giờ lấy ra lau chùi rồi trưng ra trước sân đền để chuẩn bị cho lễ ngày mai thì gọi là phô trương.

(8). Hoán mã: thay đồ mã cho thần.

(9). Còn gọi là cháo chè, nấu bằng gạo nếp và mật mía.

(10). Cúng cơm mới.

Đậu Kỷ Luật

 

Mở đầu bài viết, tôi rất tâm đắc với sự khẳng định của nhiều chuyên gia, học giả nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam: có Phật giáo Ấn Độ, có Phật giáo Trung Quốc là có Phật giáo Việt Nam, dù rằng sự thâm nhập lẫn nhau, tiếp biến văn hóa là một sự thật lịch sử. Đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam là tông thiền Trúc Lâm Yên Tử, cùng với Phật giáo Việt Nam đã góp phần nhất định những nét đặc sắc vào Phật giáo thế giới. Đặc trưng cơ bản của Phật giáo Việt Nam là tính dân gian - tính trội. Trong cuốn Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam (tập I) -  Từ khởi nguyên đến XIV, Nguyễn Hùng Hậu (Minh Không) đã khẳng định vấn đề này một cách sâu sắc.

heo dòng lịch sử, thì Phật giáo đã tồn tại và có một bề dày phát triển trên đất nước ta từ thế kỷ thứ II ngay từ khi mới du nhập, Phật giáo nước ta có nhiều nét mà ít thấy ở các nước khác. Vào thế kỷ thứ II, III, thiền ở Việt Nam mà đại biểu là Khương Tăng Hội đã là thiền của Đại thừa. Và mới du nhập, Phật giáo đã quyện chặt với tín ngưỡng bản địa và tạo nên một cái mà sau này gọi là Phật giáo dân gian. Từ khi du nhập, Phật giáo đã trải qua bước thăng trầm của lịch sử, nó vẫn gắn liền với dân tộc và tồn tại cho đến ngày nay (Phật giáo thời kỳ du nhập và Bắc thuộc đầu thế kỷ X; Phật giáo thời kỳ Ngô đến thời Trần (thế kỷ X - XIV); Phật giáo thời kỳ hậu Lê đến Tây Sơn (thế kỷ XV - XVIII); Phật giáo dưới thời Nguyễn (thế kỷ XIX); Phật giáo dưới thời Pháp thuộc (nửa cuối thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XX và đến hôm nay). Một cách tổng thể, Phật giáo Việt Nam không phải là Phật giáo thuần túy như trên quê hương đã sinh ra nó mà là sự kết hợp giữa Thiền, Tịnh, Mật, Nho, Lão và tín ngưỡng bản địa, trong đó có thiền là nòng cốt trụ cột. Bởi vậy, với tư cách là Tông phái thì ở Việt Nam chỉ có Thiền Tông, còn tất cả các yếu tố khác chỉ là những cái tham gia kết cấu nên cái tổng thể Phật giáo Việt Nam. Ta biết rằng Thiền Tông là sản phẩm của đất Trung Hoa (nó là sự kết hợp giữa Đại thừa Ấn Độ với Lão Trang và văn hóa Trung Hoa). Tất nhiên ta cũng hiểu rằng Phật giáo Ấn Độ, đặc biệt là Phật giáo Trung Hoa có ảnh hưởng đến nước ta là lẽ đương nhiên. Nhưng đi sâu vào ở góc độ văn hóa ta thấy độ khúc xạ khá lớn. Thiền Phật giáo Trung Quốc cũng Tam giáo đồng nguyên nhưng Nho giáo làm nền tảng, còn Việt Nam thì Phật giáo vẫn làm nền tảng (lần thứ nhất vào thế kỷ II, III và lần thứ hai vào Lý - Trần, nó lại dựa trên cơ sở là Phật giáo mà chủ yếu là Thiền Tông. Một trong những đặc điểm của Phật giáo Việt Nam là Phật giáo dân gian. Dòng Phật giáo dân gian này có mầm mống từ khi Phật giáo mới du nhập vào nước ta, mở đầu là các tăng sĩ như Khâu Đà La, Ma Ka Kỳ Vực. Phật giáo dân gian là sự dung hợp giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng của người Việt cổ. Điều này thể hiện rõ nhất ở hình tượng tứ pháp (pháp vân, pháp vũ, pháp lôi, pháp điện) ở trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất Việt Nam - Luy Lâu (nay thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh). Có thể, Phật giáo khi vào các nước khác cũng tạo nên những dòng Phật giáo dân gian của họ. Song Phật giáo dân gian ở nước ta mang đậm màu sắc của người Việt cổ. Giáo lý nhà Phật cũng có những mặt dễ được quần chúng Đại Việt tiếp thu. Đó là tinh thần bình đẳng, bác ái của dân tộc, "nhiễu điều phủ lấy giá gương"; "bầu ơi thương lấy bí cùng" v.v... Cũng dễ dàng bắt gặp truyền thống bình đẳng của công xã Việt Nam thời cổ, vốn bảo lưu dai dẳng nhất là xả thân. Nghiên cứu tâm lý cộng đồng làng và di sản, ta thấy sâu sắc điều này. Đó chính là cái Việt Nam - tâm hồn, tình cảm, phong cách và bản sắc Việt Nam. Tinh thần dân tộc đã thanh lọc các phạm trù giáo lý kể cả Phật, Nho, Đạo.

Ta điểm qua từ thời Lý: Từ Lý Thái Tông (1054 - 1071) có thái độ thân dân, có lòng nhân từ cởi mở. Ông chịu ảnh hưởng của Nho "dân chi phụ mẫu" (làm cha mẹ dân). Chỉ đến thời ông mới lấy Nho học bổ sung cho kiến thức đương thời. Ngoài ra ông còn là nhân vật trọng yếu khai sinh ra tông phái Thảo Đường. Lý Thánh Tông đã xây dựng một nền Phật giáo có tính tổng hợp, đó là sự kết hợp giữa Thiền, Tịnh, Nho, Lão, mà lấy Phật làm cơ sở, cột xương sống. Thiền phái Thảo Đường là sự chắt lọc, kết tinh của văn hóa Trung Hoa, văn hóa Ấn Độ, văn hóa Chiêm Thành và văn hóa Đại Việt. Do không thỏa mãn với thiền phái Ti Ni Đa Lựu Chi có khuynh hướng nghiêng về Ấn Độ, thiền phái Vô Ngôn Thông ngả về Trung Hoa, để đáp lại nhu cầu của một nước độc lập, tự chủ, cường thịnh, hùng mạnh, để chống lại sự bành trướng của phía Bắc và buộc phía Nam phải thuần phục, một "Đế quốc" Đại Việt về văn hóa Lý Thánh Tông đã đi theo khuynh hướng tổng hợp tương xứng với thực tiễn xã hội hoành tráng lúc bấy giờ. Chính vì vậy mà thiền phải Thảo Đường ra đời.

Nhà Lý hoàn thành việc đặt nền tảng cho nước Đại Việt thống nhất với những chiến công lừng lẫy. Đã có độc lập về chính trị, kinh tế, quân sự, tất phải tiến đến có một độc lập về ý thức hệ. Lý Thánh Tông đã nhận thấy điều đó, nhà vua muốn xây dựng một ý thức hệ mới với Thảo Đường mà chùa Một Cột là tiêu biểu vật chất còn lại. Nhưng cố gắng của Nhà Lý không thành công mỹ mãn.

Nhà Trần củng cố nền độc lập, chiến thắng quân Nguyên và cũng ý thức được nhu cầu cần một ý thức hệ thống nhất và độc lập... Trần Thái Tông đã toan đứng ra đảm đương nhiệm vụ đó một cách trực tiếp nhưng do nhà Trần vừa xác lập, vì lợi ích của dòng họ cũng như của thời đại, do yêu cầu của nhân dân mà Trần Thủ Độ đã trực tiếp đến gặp.

Trong quá trình đấu tranh giữa các nhóm phong kiến, dần dần dòng họ nhà Trần thâu tóm được tất cả các lực lượng cát cứ khác. Vua cuối cùng của nhà Lý - Lý Huệ Tông bị bệnh tâm thần, không có con trai, buộc phải nhường ngôi cho con gái - Lý Chiêu Hoàng 7 tuổi. Đồng thời nhà Trần tập trung trong tay mình những chức vụ quan trọng nhất của triều đình. Năm 1226, theo kế hoạch của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, sáng lập ra triều Trần (1226 - 1400).

Người mở đầu triều Trần từng nói: "Đại giáo của đức Phật ta là phương tiện để dẫn dụ mọi bầy mê hoặc, là đường tắt để tỏ rõ mọi lẽ sinh tử. Làm cán cân cho hậu thế, làm khuôn phép cho tương lai, đó là trọng trách của tiên thánh... Chưa rõ thì chia ba phái, biết rồi thì đều tỉnh một lòng".

Chính nhờ đi theo dung hòa, trung đạo, không chấp biên kiến này mà các vua Trần đã giải quyết, điều hòa được những mâu thuẫn đương thời trong thực tiễn cũng như trong lý luận, tập hợp, đoàn kết được toàn dân xung quanh nhà Trần để đánh đuổi ngoại xâm, xây dựng đất nước, tạo nên một thời đại vừa anh hùng, vừa nên thơ vào bậc nhất trong lịch sử lúc bấy giờ.

Về mặt văn hóa tư tưởng, nhà Trần vẫn đề cao Phật giáo, tôn giáo được đa số dân chúng tin theo. Nhưng Phật giáo thời Lý có những thiền phái: từ Đa Lưu Chi, Võ Ngôn Thông và Thảo Đường. Nhà Trần đã chinh phục được, thu về một mối những lực lượng cát cứ về tinh thần, tư tưởng. Nếu nhiệm vụ thứ nhất do Trần Thủ Độ đảm nhiệm, thì nhiệm vụ thứ hai do Trần Thái Tông đứng ra gánh vác. Cũng chính vì lý do đó mà ba thiền phái thời Lý hầu như biến mất (nói đúng ra chỉ còn thiền phái Võ Ngôn Thông) và học thuyết Không hư của Trần Thái Tông ra đời. Đây là học thuyết tổng hợp cả Thiền, Tịnh, Nho, Lão... tổng hợp tư tưởng của các thiền phái trước. Phải nói rằng hệ thống tư tưởng Trần Thái Tông là tập hợp đại thành đầu tiên của Phật giáo Việt Nam.

Như vậy, ý đồ định tạo nên một hệ tư tưởng mới mà Trần Thái Tông mở đầu của nhà Trần đã rõ. Nhưng tiếc thay, chẳng bao lâu sau khi thành lập triều đại, quân Nguyên Mông lại lăm le xâm lược bờ cõi ta, và đến năm 1258 quân Nguyên bắt đầu xâm lược nước ta lần thứ nhất. Bởi vậy ý đồ này đành phải tạm gác lại. Sau ba cuộc kháng chiến hào hùng, oanh liệt, thắng lợi, khí thế đất nước, tinh thần dân tộc được thổi bùng lên, ý thức độc lập tự cường lên đỉnh cao. Bởi vậy, nhiệm vụ, ý đồ trước kia đáng lẽ phải hoàn thành, thực hiện, thì nay được đặt ra một cách cấp bách gay gắt hơn bao giờ hết. Trần Nhân Tông (1258 - 1308), cháu của Trần Thái Tông đã đứng ra đảm đương trọng trách này. Sau khi giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến cuối cùng vào năm 1288, năm năm sau, ông đã nhường ngôi cho con đi chu du khắp thiên hạ học hỏi đạo Phật, để đến tháng 8 - 1299 ông lên Yên Tử hình thành một thiền phái mới mang đậm màu sắc Việt Nam, Thiền Trúc Lâm Yên Tử.

Tinh thần độc lập tự chủ tự cường không chỉ thể hiện qua việc hình thành thiền phái Trúc Lâm mà nó còn thể hiện qua chữ viết, cách nói của người Việt, sự xuất hiện của chữ Nôm vào năm 1282. Chữ Nôm, đó là nét điển hình cao của văn hóa Việt Nam hóa trong ngôn ngữ, Việt Nam hóa chữ Hán.

Tuy lựa chọn Thiền Tông làm ý thức hệ tiêu biểu, nhưng họ Trần thấy phải thay đổi nội dung của các phái thiền tông. Một phái mới ra đời: phái Trúc Lâm nhằm những mục đích cụ thể:

- Tự mình phân biệt với thiền tông Trung Quốc, biểu lộ tính độc lập dân tộc.

- Thay đổi một phần nội dung tiêu cực và thân ngoại quốc của các phái khác của thiền tông.

- Vượt lên trên sự khác biệt của các tông phái Phật giáo cũng như các tín ngưỡng phi Phật giáo để ý đồ thống nhất ý thức hệ không chịu trách nhiệm về sự khác biệt và đụng độ đã xảy ra trong lịch sử giữa các phái thiền tông với nhau cũng như giữa các phái thiền tông với các tín ngưỡng khác.

Quá trình đã chứng minh phái Trúc Lâm có những thành tựu rõ rệt.

Phật giáo thời Trần có nhiều gương mặt, nhưng nổi bật hơn cả có 5 người: Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang. Trong 5 vị này chỉ có 3 vị cuối là đi tu. Tuệ Trung Thượng sĩ là cư sĩ, còn Thái Tông đã lên Yên Tử có ý xuất gia nhưng do yêu cầu của xã tắc lại phải về ngồi lên ngôi vua trị vì trăm họ. Trẫm tìm đến Yên Tử chỉ muốn trở thành Phật, chính không cầu gì khác. Vị quốc sư là Trúc lâm đại sa môn trao đổi:  

- Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ có trong tâm, tâm lặng mà biết thì gọi là Phật. Nay bệ hạ nếu ngộ được tâm đó thì lập tức thành Phật tại chỗ, không cần khổ sở ngoại cầu. Trẫm thấy Thái sư cùng các kỳ lão không chịu bỏ trẫm, liền đem lời nói ấy bày tỏ với Quốc sư. Quốc sư cầm tay trẫm nói: "Phàm đã là bậc nhân quần tất phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm ý muốn của mình. Nay muôn dân đã muốn đón bệ hạ về thì bệ hạ không về sao được! Duy có một việc nội kinh điển (Kinh Phật) xin bệ hạ đừng chút sao lãng mà thôi".

Như trên đã nói, tác phẩm nổi tiếng của ông là Khóa hư lục có tiếng vang ra thế giới ca ngợi vị vua, một học giả. Ông đóng góp lớn cho Phật học và Triết học Việt Nam, tạo nên một hệ thống tư tưởng hoàn chỉnh, chặt chẽ bao gồm cả bản thể luận, nhận thức luận và đạo đức học. Thiền của ông là dựa trên tôn giáo, dựa trên những nguyên lý căn bản của thiền. Một đóng góp mới, cụ thể trong Phật giáo và Thiền học là ông đã đề ra một hệ thống luyện tập chia ngày đêm làm sáu buổi, mỗi buổi sám hối một căn, nhằm đưa con người về trạng thái hư tâm (tâm hư). Tổng quát qua những bài vấn đáp Trần Thái Tông thừa nhận quan điểm đại thừa về chư nhật nghĩa là tin vào thần linh vĩnh hằng coi đạo Phật như lẽ tự nhiên, muốn họ không nên có sở cầu, nhưng phải tu. Ông không tin hành thuyết vô tâm thị đại của một số thiền sư Trung Hoa. Ông cũng là người đầu tiên của triều Trần tự áp dụng đối với bản thân mình phương pháp hay con đường đi đến giác ngộ của Phật giáo Việt Nam "dĩ chúng tâm vi kỹ tâm", và ông đã thành công. Trần Nhân Tông phát huy tư tưởng này tích cực và hiệu quả. Một điều liên hệ tư tưởng lớn này rất gần với tư tưởng của Hồ Chí Minh trong câu nói nổi tiếng của Người: "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành". Ở đây Người đã lấy nguyện vọng, mong muốn, ham muốn của toàn dân làm nguyện vọng, mong muốn, ham muốn cao nhất của mình, lấy cái tâm của đồng bào làm cái tâm của mình.

Tuệ Trung Thượng sĩ (1230 - 1291) là anh ruột của Trần Quốc Tuấn. Mặc dù là cư sĩ (không xuất gia) nhưng ông là một nhà thiền học có bản lĩnh, thông minh, sắc sảo, một ngôi sao sáng trong vườn thiền học Việt Nam. Phong thần nho nhã, ông được vua Trần Thánh Tông (1240 - 1290) tôn làm sư huynh và gọi bằng cái tên cao quý - Thượng sĩ. Những lời dạy và trước tác của ông được tập hợp trong cuốn Thượng sĩ Ngữ lục. Ông là một nhà tư tưởng hiếm có của nước nhà, ông có ảnh hưởng trực tiếp đến thiền Trúc Lâm Yên Tử. Thông thường ta vẫn xếp Trần Thái Tông và Thượng sĩ vào tông Trúc Lâm xét về mặt tư tưởng, nhưng về tổ chức sơn môn thì họ thuộc "Tiền Trúc Lâm".

Trần Nhân Tông - Trần Khâm Đệ nhất Tổ Trúc Lâm cho rằng muốn sáng lập ra một "giáo" mới phải có "giáo chủ" mới. Và Trần Nhân Tông đã sắm vai giáo chủ mới đó. Theo tư tưởng truyền thuyết ông vốn là một vị phật xuống trần. Gọi ông là Kim phật - tên thật ông là thái tử Khẩm - nằm ngủ trong chùa Tư Phúc mơ thấy từ rốn mình mọc lên một bông sen, trên bông sen có một vị phật. Mọi truyền thuyết dân gian nhằm chứng minh ông là một hóa thân (avatar) của Phật.

Trần Nhân Tông - một vị anh hùng, một đức phật, một vị tiên! Đúng như toàn bộ sự nghiệp thân thế nhà vua. Anh hùng đánh dẹp giặc Nguyên hung hãn nhất thế giới. Phật sáng lập ra phái Trúc lâm. Tiên với phong cách tiêu dao của đạo Lão. Một vị phật đã giáng trần đúng như truyền thống tôn giáo Ấn Độ và cũng đúng như lề lối tư tưởng của người Việt bao giờ siêu nhân cũng là cái gì thiêng liêng.

Trúc Lâm Đệ nhất tổ có cả uy quyền một nhà vua, tiêu biểu trong con người Trần Nhân Tông hai mặt: nhà vua và giáo chủ. Ông chính là linh hồn của hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông năm 1286, 1288. Ông không những là người lãnh đạo, tổ chức mà còn là nguồn động viên trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại này.

Không chỉ là nhà quân sự, ngoại giao, ông còn là nhà chính trị có tầm mắt nhìn xa trông rộng, biết hòa quyện chính trị với tư tưởng để phục vụ dựng nước và giữ nước. Ông còn hiện thân của tư tưởng thân dân, thương dân, khoan thư sức dân để làm gốc lâu dài. Dưới triều đại ông đã có hai hội nghị lịch sử: Hội nghị tướng lĩnh ở Bình Than (1282) và Hội nghị các bô lão ở Diên Hồng (1284). Dưới thời ông những lời nói đanh thép vang lên: "Sát Thát" (giết giặc Nguyên), "Ta thà làm vua nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc" (của Trần Bình Trọng), "Bệ hạ muốn hàng hãy chém đầu tôi đi đã" (của Trần Quốc Tuấn). Một thành công lớn nữa của ông là hình thành một thiền phái Phật giáo hoàn toàn mang màu sắc Việt Nam, thiền Trúc Lâm Yên Tử.

Ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, ông được tôn vinh là vua hiền của nhà Trần. Ông có ý thức xây dựng một giáo hội Việt Nam thống nhất, cái mà ông nội muốn nhưng chưa làm được. Ông đã hợp nhất hai nhánh Vô Ngôn Thông Thăng Long và Yên Tử thành thiền phái thống nhất: thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Đây là dòng thiền nhập thế liên hệ mật thiết với chính trị và xã hội. Ông vừa là tổ thứ nhất của thiền Trúc Lâm Yên Tử, đồng thời là tổ thứ 6 của nhánh Yên Tử. Ông là vị quân vương anh minh, nhà văn hóa, một nhà thiền sư lỗi lạc. Ông mất 16 - 11 - 1308.

Pháp Loa (1284 -1330). Sau 4 năm từ một người mới xuất gia, Pháp Loa đã trở thành người lãnh đạo giáo hội khi ông mới 24 tuổi. Điều này chứng tỏ Nhân Tông đánh giá cao năng lực về đạo của ông.

Thời Pháp Loa, Phật giáo Việt Nam phát triển thêm một bước mới, tương đối có hệ thống, quy cũ. Nhìn chung Pháp Loa ít đề cập đến những vấn đề triết học siêu hình trừu tượng một cách có hệ thống như Trần Thái Tông, ít đưa ra những vấn đề thiền học uyên thâm sâu sắc như Tuệ Trung Thượng sĩ, ít đề cập đến những vấn đề lý luận như Trần Nhân Tông, ông chỉ nêu ra một cách vắn tắt những vấn đề thiết thực, cụ thể của việc tu đạo. Tuy nhiên, đối với một số vấn đề ông có những lý giải cao siêu thâm thúy. Càng cuối đời, xu hướng thoát tục của ông càng rõ.

Huyền Quang (1254 - 1334), là tổ thứ 3 của thiền Trúc Lâm Yên Tử. Nhìn chung ông là thiền sư có khuynh hướng ở ẩn, lánh đời. Huyền Quang hầu như không đề cập đến những vấn đề lý luận triết học về bản thể luận, nhận thức luận, đạo đức học như Trần Thái Tông hay Tuệ Trung Thượng sĩ mà ông đi sâu vào khía cạnh tâm lý của chính ngộ giải thoát.

Tóm lại, thiền Trúc Lâm Yên Tử là một dòng Phật giáo Việt Nam, do người Việt Nam sáng lập và phát triển, nó ra đời do nhu cầu đòi hỏi của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và tư tưởng của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XII, đầu thế kỷ XIV. Nhìn chung là dòng Phật giáo yêu nước nhập thế, kết hợp chặt chẽ giữa đạo với đời, đời với đạo. Với tư cách là một hiện tượng văn hóa tư tưởng, thiền Trúc Lâm Yên Tử sống mãi với dân tộc Việt Nam. Đã giác ngộ thì mọi hành động, cử chỉ, suy nghĩ đều là thiền. Đánh giặc cứu nước cũng là thiền. Tư tưởng Trúc Lâm thích hợp với tâm linh, làm việc thiện, hơn là nghiên cứu giáo lý uyên bác. Cho dù rằng Trần Thái Tông, Tuệ Trung, Trần Nhân Tông quả là những bác học tam giáo. Có thời Phật giáo đã ăn sang tít bác học, song xu hướng dân gian vẫn là cái tâm bất diệt. Tông Trúc Lâm Yên Tử với tư tưởng Tâm tức Phật của thiền tông trở nên chủ đạo cho cả về sau.

 Đặc trưng cơ bản của Phật giáo Việt Nam là tính dân gian, là tính trội. Vì là tôn giáo dân gian, nên thâm nhập vào tâm hồn nhân dân sâu sắc khiến cho tựa hồ ai ai cũng là tín đồ Phật giáo. Và không biết tự bao giờ, ngôi chùa đã nghiễm nhiên mọc lên như một bộ phận hữu cơ gắn bó thân thiết với cộng đồng làng xã. Bản sắc và bản lĩnh dung hợp, dung hòa, khoan dung tôn giáo tín ngưỡng là một trong những nét bản sắc của nền văn hóa Việt Nam: Đất vua, chùa lành, phong cảnh bụt. Vua trị vì đất nước, nhưng coi sóc phần hồn, phần tình cảm linh thiêng trong con người lại là các vị sư trong chùa. Đó chính là những nhà trí thức đầu tiên của làng, những người có uy tín và được trọng vọng, có thể đã góp phần động viên quần chúng trong nhiều cuộc chống xâm lăng thời Bắc thuộc. Một lần nữa ta hiểu tổng kết sâu sắc của ông tổ sáng lập ra thiền Trúc Lâm Yên Tử - Trần Nhân Tông: Phật giáo Việt Nam chủ sinh chứ không chủ diệt. Trần Nhân Tông hiểu một cách sâu sắc tính cách vô thường, ngắn ngủi của cuộc sống con người. Đúng là nó như "hơi thở qua buồng phổi" mà thôi. Vậy con người có thể thoát ra khỏi giới hạn sinh tử? Theo Nhân Tông con người không thể tránh khỏi sinh tử và vòng nhân quả vì người ta không chạy trốn khỏi sinh tử hay nhân quả để tiến ra niết bàn, mà ngược lại phải ở ngay trong sinh tử để thấu suốt bản tính của nó và để nhận ra sinh tử là không sinh, không tử. Vì thế vấn đề sinh tử không phải là chuyện tầm phào, vô ích, mà là vấn đề lớn quyết định thái độ sống của người hành giả. Thái độ của Trần Nhân Tông trước cuộc đời ngắn ngủi là tích cực sống cho hết mình, cho đời, cho đạo.

Tư tưởng của tông Trúc Lâm: tức tâm, tức Phật. Trần Nhân Tông đã Việt hóa chữ tâm trong tức tâm tức Phật thành chữ lòng rất Việt Nam mà nội hàm vừa bác học, vừa dân gian. Bác học thì lòngtâm theo nghĩa Thiền Tông. Dân gian thì lòng là tấm lòng của con người mang tính chất hướng thiện trong hành vi xã hội, phù hợp với tinh thần Phật giáo trong Trúc Lâm đã có Phật đạo song hành, thiền tịnh song tu. Duy chỉ Mật giáo không thâm nhập vào Trúc Lâm. Tư tưởng tịnh độ, tư tưởng Mật giáo có trong Phật giáo nước ta song không hình thành tông, nhưng tư tưởng đó có trong Kinh Phật Ấn Độ. Không chỉ phải chờ hai tông này của Trung Quốc truyền sang. Tư tưởng chủ đạo của Trúc Lâm là của Mã Tổ Đạo nhất Tổ, đó là tư tưởng tức tâm tức Phật với sự sáng tạo từ thực tiễn bản địa Việt Nam. Tông Trúc Lâm được truyền tụng cho đến ngày nay là do nó vừa bác học vừa dân gian bản địa với một Trần Nhân Tông Đệ nhất Tổ: Nhà vua - Giáo chủ. Và quan trọng là do Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông với chiến công lẫy lừng khắp hoàn cầu là nhà vua chống quân Nguyên thắng lợi rực rỡ. Chính Nhân Tông đem lại vinh quang cho Trần Nhân Tông thành người anh hùng dân tộc kính yêu. Đó là sức sống của Trúc Lâm.

Tượng Trần Nhân Tông đặt trong tháp tuy đã được Phật hóa nhưng vẫn được thể hiện như một con người phàm tục, không mang tính ước lệ tượng trưng. Một pho tượng khỏe mạnh, rắn chắc, cân đối đầy sức mạnh và suy tư, mà không có gì là siêu phàm, gần với con người bình thường và rõ ràng tượng Trần Nhân Tông là một biểu tượng rất Đại Việt. Với bức tượng này, thời Trần đã hoàn thành việc Phật hóa Trần Nhân Tông một cách xuất sắc như lịch sử tôn vinh, một vị Vua hiền - Vị giáo chủ của dân tộc luôn lấy lời dạy của Khổng Tử và Đức Phật tức tâm/ Phật để luôn đúng. Bởi vậy các tín đồ của Trúc Lâm vừa là con người xã hội, vừa là con người tôn giáo. Xứng đáng với sự tôn vinh của mọi người: Trúc Lâm là đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam do ta biết thừa kế, biết thanh lọc, cải biến để thành Phật giáo Việt Nam. Và đóng góp cho Phật giáo thế giới thì thực sự có một nền Phật giáo Việt Nam cũng như Phật giáo Ấn Độ, Phật giáo Trung Hoa. Tất nhiên có phần tiếp biến, giao thoa của thực tế lịch sử, của hai nền văn hóa lớn kề cạnh là Ấn Độ và Trung Hoa.

Từ một bài khảo luận của Giáo sư Nguyễn Đăng Thục với nhan đề "Nhân bản Việt Nam" dịch sang tiếng Anh "Vietnamese humanism" đệ trình tại Hội nghị triết gia Đông Tây tại Đại học Hawaii - Honolulu tháng 6 - 7 - 1959. Trong thuyết trình, giáo sư giới thiệu tóm tắt về tác phẩm đặc sắc "Khóa hư lục" của Trần Thái Tông. Hội nghị hoan nghênh bài thuyết trình của Nguyễn Đăng Thục. Và cũng từ đó, giáo sư triết học Đông Phương Irredell ca tụng triết học của Trần Thái Tông là một giải đáp cho các vấn đề triết học mà ông bối rối nan giải.

Sự thực các vấn đề triết học khúc mắc chính yếu của triết học phương Tây đều đã được giải đáp xong xuôi trong "Khóa hư lục" của Trần Thái Tông như giáo sư Thục trình bày tại Hội nghị. Tóm lại như sau:

1. Thực tại của vũ trụ này là nhất nguyên trong đa nguyên. Thái Tông trong "Khóa hư lục" giải đáp ngay trong mở đầu bằng "Không" hay "Hư" (Sunya) điển hình của nhà phật có nghĩa là không phải "nhất", không phải "đa". Vì Thái Tông trở về nguồn gốc nguyên lai của vũ trụ như Lục Tổ Huệ Năng.

2. Vấn đề thứ hai là: Thực tại tiến hóa như dòng chảy (Flux) có gì tồn tại? Ở "Khóa hư lục" Thái Tông giải đáp bằng triết lý "Vô nhị pháp". Ở đây là quan điểm vũ trụ vạn vận đồng nhất thể tâm linh huyền bí, siêu nhiên lên trên tri thức ý niệm cho nên trào lưu hiện tượng biến động chỉ là tác dụng của bản thể tồn tại, bản thể "như như" ở tại bên trong hiện tượng biến động, bao hàm cả biến và bất biến, vừa nội tại, vừa siêu nhiên (Inmanent et transcendant).

3. Vấn đề thứ ba là chân lý và giá trị tuyệt đối hay tương đối? Về điểm này, triết lý "Bất nhị pháp môn" theo Trần Nhân Tông đã giải đáp bằng tam giáo trong đó có Phật giáo đại diện cho chân lý khách quan ở chỗ kiến tính, Lão giáo đại diện cho khuynh hướng nhân sinh, tức là Lão và Khổng chuyên về giá trị chủ quan. Nhưng Thái Tông đã tin vào "bản tính minh tâm" sẵn có khả năng "biến chuyển tất cả cái biết tri thức vào cái biết thuần túy" mà "hòa các dòng làm ra dòng không hai" vượt lên tương đối khách quan và chủ quan, chân lý và giá trị đều xuất phát từ một nguồn sống là thực tại tối linh tuyệt đối, đồng nhất với cái "tâm vô niệm", "vô sở trụ" là cứu cánh giải thoát. Giải thoát là cái đích chung cho cả chân, thiện, mỹ, nghĩa là cho cả tri lẫn hành, chân lý và giá trị vậy.

4. Hạnh phúc của người ta tìm ở đâu, ở tâm hồn cá nhân thuần phác hay là ở đời sống xã hội từ bi? Và điểm này thì kinh nghiệm bản thân của tác giả "Khóa hư lục" và người đã tìm thấy hạnh phúc cho mình và cho nhân loại ở cái tâm khai phóng bằng hành động phục vụ quên mình cho thiên hạ, cho dân tộc, kịp đến bừng sáng tự ngộ khi từ giã ngôi vua để vào rừng núi. Vậy hạnh phúc phải tìm ở trong tâm, quân bình, bình đẳng, bằng sự phá chấp dần dần qua đời sống xã hội sang đời sống vũ trụ, từ nhập thế đến xuất thế, từ tại gia đến xuất gia cho đến khi thực giải thoát.

5.  Vấn đề tri thức, chân lý về thực tại phải khám phá bằng trực giác hay bằng tri thức khái niệm?... Thái Tông không cho biết cái tri thức khái niệm đối đãi chủ quan với khách quan năng tri và sở tri là có thể nhập vào thực tại tuyệt đối vốn là tính giác bản lai tròn sáng, trong suốt thâm trầm tức là chân không vậy. Cái bản lai tính giác ấy sẵn có tại nơi chúng sinh, nhờ vẫn còn tham gia vào đấy từ vô thủy vô chung mà kẻ tri hay kẻ ngu đều có khả năng giác ngộ cả, miễn là bất cứ bằng đường lối nào người ta đi đến cái tâm khai phóng, vô niệm, vô trụ. Trần Thái Tông bảo: "Chưa sáng tỏ người lầm phân biệt ra ba tôn giáo khác nhau (Nho, Phật, Lão), hễ thấu được đến nơi thì cùng giác ngộ có một tâm, một ý thức vũ trụ".

"Khóa hư lục" là một kiểu mẫu "nhân bản toàn diện Việt Nam" (theo Nguyễn Đăng Thục).

Để trả lời những điều nêu trên, ta theo dõi giáo sư người Mỹ là Huston Smith trình bày dưới đề tài "Accent of the world's philosophies" trong "New hopes for a changing world" (Hy vọng mới vì một thế giới biến cải). Bertrand Russell viết rằng nhân loại vĩnh viễn mắc vào ba vấn đề xung đột cơ bản: 1. Xung đột với thiên nhiên; 2. Xung đột với chính mình; 3. Xung đột với tha nhân. Ba vấn đề này có thể thô lược đồng nhất hóa với với ba vấn đề của con người: thiên nhiên, xã hội và tâm lý.

Sau khi trình bày sắc thái độc đáo của văn hóa Âu Tây, Ấn Độ, Trung Hoa liên hệ với sự tiến hóa trong điều kiện địa lý của mỗi truyền thống ấy, khoa học duy vật, tâm linh học và triết lý nhân sinh, với tất cả các điểm sở trường, sở đoản của mỗi hệ thống. Giáo sư Huston Smith có kết luận tha thiết yêu cầu một sự bổ túc điều hòa của chúng để tránh cái họa diệt vong cho nhân loại "Chúng tôi đã đề nghị rằng một trong ba truyền thống lớn của thế giới thành tựu được những kết quả đáng kể vì một trong những vấn đề cơ bản của con người, nhưng mỗi cái đã đi đến miệng vực của sự đổ vỡ, vì không đủ để vào hai cái kia. Kết luận hiển nhiên là một nền văn hóa thích đáng phải rung động tất cả ba thanh âm như một hòa tấu trong sự phát triển của cái bản hòa tấu của một nền văn hóa thế giới thích đáng, ba truyền thống trên coi như bình đẳng, mỗi truyền thống đã có điểm trọng yếu để cống hiến và học hỏi". (Theo bản tiếng Anh  - Huston Smith "Accents of world's philosophies" April, July 1957 Philosophy East anh West. University of Hawaii Press).

Khuynh hướng thiền lục Việt Nam của Trần Thái Tông, Tiền Trúc Lâm trong "Khoá hư lục" là "nhân bản khai phóng" thật phù hợp với văn hóa thế giới đang lên tiếng - một tiếng nói quảng đại và xây dựng cho cái ý thức hệ đại đồng thế chứng cho thế giới hỗ tương quan hệ "năm châu một chợ, bốn bể một nhà" về đường vật chất cũng như tinh thần. Một đại tổng hợp vĩ đại đứng trên nguyên lý cơ bản "đồng quy thù đồ" (L'unite' dans la diversit'e) phù hợp với Việt Nam. Các thời đại đều mong muốn đi từ truyền thống đến hiện đại, tôn trọng và hỗ trợ cá tính trong đại đồng dân tộc, trong nhân loại với xu hướng toàn cầu hóa hiện nay.

 

Tài liệu tham khảo chính

1. Từ điển Minh triết Phương Đông, Nxb KHXH, H.1977.

2. Nguyễn Đăng Thục, Thiền học Trần Thái Tông, Nxb VHTT, H. 1996.

3. Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tập I, Viện Triết học. Nxb KHXH, H.1993.

4. Mỹ thuật thời Trần, Nxb VH, H. 1997

5. Nguyễn Duy Hinh, Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, Nxb KHXH, H. 1999.

Trần Văn Dũng - Trần Thị Tú

 

Chẳng phải đến bây giờ, câu chuyện ngành sư phạm mới được nóng lên. Chẳng qua là từ kết quả tuyển sinh vừa rồi, một số ngành của nhiều trường đại học có điểm tuyển sinh cao ngất ngưởng làm người ta so sánh đến điểm đầu vào của các trường cao đẳng sư phạm mà thôi. Việc một số trường cao đẳng sư phạm tuyển sinh với điểm chuẩn như thế đâu phải bây giờ mới có, thậm chí vào những thời điểm Bộ Giáo dục & Đào tạo (GD-ĐT) chưa quy định điểm sàn thì một số ngành ở đại học có điểm chuẩn khoảng 12-13 là chuyện bình thường và cũng chẳng mấy ai quan tâm, bàn luận. Nay điểm sàn đại học được ấn định 15,5 điểm thì cao đẳng tuyển từ 10 điểm cũng đâu phải chuyện bất thường, mà cũng chẳng là chuyện riêng của các trường cao đẳng sư phạm. Không ít trường đại học, cao đẳng của các ngành khác hoàn cảnh cũng chẳng mấy khả quan hơn. Chúng tôi tạm không bàn về vấn đề này mà chỉ nêu một vài nguyên nhân của vấn đề và cách xử lí của ngành  GD-ĐT trong thời gian qua.

Con đường dẫn tới sự lựa chọn

Trước hết, nói về tâm lí lựa chọn. Sự lựa chọn của học sinh và định hướng của các bậc phụ huynh hiện nay không còn chịu ảnh hưởng quá nhiều về quan niệm truyền thống của người xưa. Việc vào ngành sư phạm không phải "chuột chạy cùng sào". Ngày nay người ta đua nhau thể hiện tài năng và khổ luyện để theo nghề múa hát, nghề thể thao không mấy ai lại không biết người xưa coi là "xướng ca...", là "… tứ chi phát triển" đó sao? Nhưng đó là chuyện của ngày xưa và của người xưa. Chúng ta có thể đặt câu hỏi vì sao người học lại chen chân vào các trường quân sự, công an để rồi điểm chuẩn các trường của khối ngành này cao chót vót? Phải chăng đây là nhận thức và là ý thức của thanh niên trong công cuộc bảo vệ an ninh quốc gia và quốc phòng được đẩy lên một mức cao đến vậy? Có thể thẳng thắn nói với nhau một điều, mọi sự lựa chọn, trước hết trong thời điểm hiện nay là đầu ra, là công ăn việc làm, là cuộc sống của họ chứ chưa hẳn đã là sở trường, sở thích, là ý nguyện thực sự. Ngành sư phạm cũng nằm trong bối cảnh đó. Nhiều người cho rằng, người học không muốn theo ngành sư phạm vì làm giáo viên sẽ phải chấp nhận khó khăn về kinh tế, lại không được quan tâm của các cấp lãnh đạo và quản lí, trong khi phải chịu nhiều áp lực trong công việc… Điều đó không sai. Tuy nhiên, theo nhận thức của chúng tôi, nguyên nhân chính nằm ở chỗ ngành sư phạm là ngành nhất thời đặc biệt gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm. Sinh viên các ngành khối công an, quân đội ra trường có ngay công việc do ngành sắp xếp, mà sở dĩ sắp xếp được là do các ngành này cơ bản cân đối được cung cầu. Sinh viên ngành y, tài chính, kế toán, nông, lâm nghiệp, du lịch, luật… ra trường nếu không được tuyển vào các cơ quan nhà nước có thể tự tìm kiếm cơ hội tham gia công việc trong phạm vi môi trường lao động linh hoạt hơn, thậm chí trong phạm vi gia đình. Còn sản phẩm của ngành sư phạm khó có thể làm được như vậy. Họ phải hoạt động trong một môi trường không dễ dàng cho mỗi cá nhân có quyền lựa chọn. Nhìn vào thông báo chỉ tiêu tuyển giáo viên hàng năm của các địa phương, cùng với sự chứng kiến cảnh hàng loạt các anh, các chị tốt nghiệp những năm trước đang "dồn toa", cộng thêm cảnh một số giáo viên đang giảng dạy đột nhiên phải chấm dứt hợp đồng lao động thì giáo viên mới tốt nghiệp ra trường hầu như mất hết tự tin. Nếu như không nằm trong diện được ưu tiên đặc biệt thì có thể nói họ hoàn toàn bất lực trước việc theo đuổi nghề giáo, và rồi phải nghĩ đến một lối rẽ khác, thậm chí "cho quên" cái bằng tốt nghiệp đại học để đi làm các công việc của lao động phổ thông. Và như vậy, mấy ai lại nghĩ đến việc đầu tư thời gian 3-4 năm trời, với số tiền cha mẹ bỏ ra không hề nhỏ để rồi cầm chắc trong tay cái bằng "thất nghiệp", nhất là đối với những học sinh học giỏi, học khá ở phổ thông. Những vấn đề khác như lương thấp, áp lực công việc,… đặt trong tương quan một số không ít các ngành nghề khác thì đây không phải là yếu tố quyết định để mọi người quay lưng với nghề dạy học. Xét về mức lương, nhiều ngành nghề thuộc khối hành chính và sự nghiệp có mức thu nhập về lương thấp hơn lương của giáo viên hiện nay, nhất là các vùng miền núi, trung du, đành rằng, so với yêu cầu sinh hoạt tối thiểu cũng đang gặp nhiều khó khăn thiếu thốn. Về áp lực công việc thì đâu chỉ là chuyện riêng của nghề dạy học. Không ít những công việc có thể nói là áp lực lớn hơn rất nhiều, nhất là những ngành nghề trong lĩnh vực kinh doanh, trong lực lượng vũ trang. Thực tế, tuổi trẻ chúng ta thường không sợ áp lực công việc bằng sự nhàm chán và bấp bênh. 

Nghịch lí cung cầu 

Nguyên nhân của tồn tại này chắc ai cũng có thể nhận ra, đó là quan hệ cung cầu. Nếu theo chỉ tiêu tuyển giáo viên các bậc học phổ thông của các địa phương thông báo hàng năm và chỉ tiêu tuyển sinh của các cơ sở đào tạo giáo viên trong cả nước chúng ta sẽ thấy một sự chênh lệch rất lớn, thậm chí khập khiễng đến mức tưởng chừng chúng ta đang làm một việc hết sức phi lí. Ấy vậy mà vẫn cứ làm, và vẫn làm được bình thường, bởi vì hầu như không có ai kiểm soát. Người dân đã từng "giải cứu dưa hấu, giải cứu thịt lợn", nhưng chưa từng và chưa có cách gì để giải cứu lao động dôi dư của ngành sư phạm. Việc này chỉ có nhà nước, mà trước hết là ngành giáo dục mới có thể làm được. Thật ngạc nhiên là trong bối cảnh dư thừa và mất cân đối giáo viên phổ thông hiện nay (chỉ thiếu giáo viên mầm non) chúng ta vẫn duy trì gần 100 cơ sở đào tạo nguồn nhân lực này. Có thể hình dung đội ngũ nhà giáo dư thừa sẽ tăng đột biến hàng năm từ cấp số cộng lên cấp số nhân nếu các cơ sở này vẫn đều đặn thực hiện chỉ tiêu đào tạo như cũ. Hiện nay, theo thống kê của Bộ GD-ĐT, cả nước đang thừa khoảng 27.000 giáo viên. Đây là số giáo viên đang tại vị và dôi dư so với nhu cầu. Nếu tính cả số giáo viên chưa có cơ hội được hành nghề thì tuy chưa có số liệu thống kê nhưng có lẽ ai cũng hình dung ra được là con số này chắc không hề nhỏ. Và, sẽ là bao nhiêu nữa nếu các cơ sở sư phạm hiện tại tiếp tục cho ra lò mỗi năm hàng chục ngàn giáo viên. 

Sơ bộ, có thể thấy một số nghịch lí sau:

Thứ nhất, số lượng tuyển sinh tỷ lệ nghịch với nhu cầu và mất cân đối giữa các địa bàn.    

Thứ hai, một số địa phương đã có trường đại học sư phạm do Bộ GD-ĐT quản lí đóng trên địa bàn, có khả năng đáp ứng nhu cầu giáo viên tất cả các bậc học nhưng vẫn duy trì sự tồn tại của trường cao đẳng sư phạm do địa phương quản lí, thậm chí có địa phương còn "khai sinh" loại hình trường này sau cả thời điểm ra đời của trường đại học nói trên.

Thứ ba, nhiều địa phương có trường cao đẳng sư phạm và vẫn giao chỉ tiêu tuyển sinh đều đặn hàng năm nhưng trong thông báo tuyển giáo viên các bậc phổ thông thì chỉ tuyển những đối tượng có bằng tốt nghiệp đại học. Rõ ràng, đã đến lúc địa phương thực sự không có nhu cầu sản phẩm từ các trường cao đẳng nhưng vẫn phải chi nhiều chục tỷ đồng hàng năm chỉ để "trang điểm" cho bộ mặt của địa phương và vì một số lí do khác không tiện nói ở đây. Không ai phủ nhận vai trò của loại hình trường này bởi sự đóng góp rất lớn của nó cho giáo dục nước nhà trong nhiều thập kỷ qua. Tuy nhiên, đến nay chúng ta cần phải mạnh dạn thay đổi cho phù hợp với thực tế hiện tại cũng như lâu dài. Việc sắp xếp các trường cao đẳng sư phạm trở thành hệ thống vệ tinh xung quanh trường đại học sư phạm như một số ý kiến tham luận vừa qua, theo chúng tôi về cơ bản, vẫn không giải quyết được tình trạng dôi dư lãng phí, bất cập. Có thể có người lo ngại việc không còn tồn tại hệ thống các trường cao đẳng sư phạm sẽ khó khăn trong sắp xếp công việc cho bộ máy và đội ngũ giáo viên của các trường này. Thiết nghĩ, việc giải bài toán biên chế mỗi trường khoảng 150-200 cán bộ viên chức và nhân viên có lẽ không quá khó đối với một địa phương cấp tỉnh. Hơn nữa, mạnh dạn giải quyết dôi dư một bộ phận nhỏ để ngăn ngừa một sự dôi dư theo cấp số nhân và tiêu hao nhiều chục tỷ đồng mỗi năm của ngân sách nếu để loại hình trường này tiếp tục đào tạo ra sản phẩm cơ bản thất nghiệp thì âu cũng là việc cần làm. 

Thứ tư, trong tổ chức hoạt động của ngành sư phạm, việc xây dựng mô hình đào tạo giáo viên phù hợp với yêu cầu phát triển hiện đại, hội nhập ngày càng sâu rộng là quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên, đến nay chúng ta vẫn chưa có một giải pháp rõ ràng, cụ thể cho vấn đề. Chẳng hạn, năm 1999, Khoa sư phạm (nay là Trường Đại học Giáo dục) thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội được thành lập, với một trong những nhiệm vụ cơ bản là nghiên cứu, thể nghiệm để xây dựng các mô hình đào tạo giáo viên. Tuy nhiên cho đến nay, vấn đề đổi mới mô hình đào tạo giáo viên trong đó có mô hình đào tạo tiếp nối (đào tạo giáo viên không theo mô hình truyền thống mà đào tạo tiếp nghiệp vụ sư phạm trên cơ sở các đối tượng đã hoàn thành chương trình đào tạo cơ bản từ các đại học khác) do cơ sở giáo dục này đề xướng vẫn chưa có được sự khẳng định của ngành giáo dục.

 Từ nhiều năm qua, ngành GD-ĐT đã ra "quyết tâm" là sẽ "quy hoạch", "sắp xếp" lại mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trong đó có các trường sư phạm, đặc biệt sau khi có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (Số 121/2007/QĐ-TTg) về việc Phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006 - 2020, sau đó là Quyết định số 37/2013/QĐ-TTg ngày 26/06/2013 về việc Điều chỉnh Quy hoạch trên. Vừa qua, Chính phủ đã ra Nghị định 46/2017/NĐ-CP, quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của Bộ GD-ĐT trong việc xây dựng quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học giai đoạn 2017-2025 và tầm nhìn đến 2030. Gần đây, Thủ tướng Chính phủ lại yêu cầu Bộ GD-ĐT quy hoạch lại mạng lưới trường đại học. Cơ sở pháp lí cũng như sự quan tâm của Chính phủ đã đầy đủ, thế nhưng đến nay kết quả cũng chỉ mới dừng lại ở "khẩu hiệu" mà thôi.

Một vài suy nghĩ và đề xuất

Không ít nhà giáo và nhà khoa học đã lên tiếng thể hiện sự lo lắng, bức xúc và đóng góp nhiều ý kiến với mong muốn có sự đổi mới căn bản và toàn diện cho ngành giáo dục. Ở đây chúng tôi chỉ đề xuất một vấn đề về hệ thống các trường sư phạm. Thiết nghĩ, một trường đại học muốn có chất lượng phải có nhiều nhân tố, trong đó tiềm lực về con người và cơ sở vật chất, tài chính là vô cùng quan trọng. Muốn vậy, không thể để tồn tại nhiều trường với quy mô quá nhỏ, với quy hoạch manh mún, với tư duy coi đào tạo sư phạm như một dạng "kinh tế vườn", đâu cũng làm được vì không phải đầu tư quá nhiều như các trường y và kỹ thuật. Trường có quy mô lớn sẽ có điều kiện đầu tư tập trung (về nhân lực và vật lực), có tiềm lực để giải quyết bài toán chất lượng trong đào tạo và nghiên cứu khoa học, tạo được thương hiệu mạnh nhằm hấp dẫn người học. Trên cơ sở đó, thu hút sự hợp tác với bên ngoài, tạo sự hội nhập để phát triển phù hợp với xu thế phát triển giáo dục hiện đại.

Theo suy nghĩ chủ quan của chúng tôi, nước ta chỉ cần khoảng 15 trường đại học sư phạm, với quy mô mỗi trường từ 12.000 đến 15.000 sinh viên tùy thuộc vào từng địa bàn. Với quy mô này, khoảng 30 năm sẽ có được số giáo viên đủ một vòng tua đóng bảo hiểm xã hội, tức xấp xỉ bằng số giáo viên phổ thông và mầm non hiện nay. Như vậy, số giáo viên mới ra trường hàng năm đủ để bổ sung, thay thế cho số giáo viên đến tuổi nghỉ hưu và nghỉ việc từ các lí do khác. Các trường có thể bố trí theo khu vực, chẳng hạn, khu vực Bắc bộ, bao gồm cả thủ đô Hà Nội có 5 trường (vùng Tây Bắc 1 trường; Đông Bắc 1 trường; Hà Nội và đồng bằng Bắc bộ 3 trường). Khu vực Trung bộ 4 trường (vùng đồng bằng ven biển 3 trường; vùng Tây Nguyên 1 trường). Khu vực Nam bộ (bao gồm Tây Nam bộ, Đông Nam bộ và thành phố Hồ Chí Minh) có 5 trường. Cả nước có 1 trường bồi dưỡng cán bộ quản lí giáo dục. Các trường đại học sư phạm có thể đào tạo giáo viên có trình độ đại học cho các bậc học từ mầm non đến phổ thông trung học và luân phiên bồi dưỡng giáo viên; có khả năng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ. Trong mỗi trường đều có viện nghiên cứu giáo dục trực thuộc, nhằm nghiên cứu, đề xuất với nhà nước về những vấn đề giáo dục mang tính đặc thù khu vực để có những kế sách phù hợp cho sự phát triển. Trong xu thế hiện nay, không nên tồn tại hệ thống các trường cao đẳng sư phạm khi các cơ sở đại học sư phạm đều có khả năng đào tạo giáo viên tất cả các cấp, bậc học. Trong trường hợp cần thiết có nhu cầu giáo viên trình độ cao đẳng thì nhiệm vụ này cũng sẽ được trường đại học sư phạm thực hiện. Các trường cao đẳng sư phạm và các khoa sư phạm trong các trường đa ngành có thể sáp nhập để thành lập trường đại học sư phạm (với những khu vực cần mà chưa có trường đại học) hoặc sáp nhập vào trường đại học (với những nơi đã có trường đại học sư phạm). Ví dụ, vùng Tây Nguyên, có thể thành lập Trường Đại học sư phạm Tây Nguyên trên cơ sở sáp nhập Khoa sư phạm của Đại học Tây Nguyên, Khoa sư phạm của Đại học Đà Lạt và các trường cao đẳng sư phạm trên địa bàn. Các trường đại học sư phạm cố gắng đặt gần với các trường đại học khác để có thể hỗ trợ nhau trong việc sử dụng các cơ sở kỹ thuật hiện đại có liên quan cũng như trong hoạt động nghiên cứu khoa học. Trường Đại học sư phạm Hà Nội, Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh là 2 trung tâm lớn, bên cạnh các nhiệm vụ cơ bản của một trường đại học sư phạm, có thể nghiên cứu xây dựng các mô hình đào tạo giáo viên, đề xuất các định hướng (tầm nhìn), các dự báo giáo dục; đề xuất mục tiêu giáo dục phù hợp với các giai đoạn phát triển giáo dục của thế giới. Thiết nghĩ, làm được như vậy sẽ tạo được sức mạnh cho các trường sư phạm, để có thể vừa làm tốt công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, vừa có cơ sở để tham mưu cho nhà nước trong việc hoạch định các chính sách phù hợp cho giáo dục quốc gia và từng khu vực.  

GS.NGND Nguyễn Đình Chú

 

Dưới bầu trời Việt Nam, trong khoảng mấy chục năm đầu của thế kỷ XX, Con người được nhân dân cả nước sủng ái nhất, được lịch sử muôn đời tôn vinh nhất, không ai khác là Phan Bội Châu: người họ Phan đeo trên mình viên ngọc quí. Con người đó là "một bậc anh hùng, một vị thiên sứ được hai mươi triệu đồng bào sống trong vòng nô lệ tôn kính" (Nguyễn Ái Quốc)(1). Con người đó là "một nhân vật vĩ đại" (Tôn Quang Phiệt) trước khi có Chủ tịch Hồ Chí Minh. Con người đó là lãnh tụ của các phong trào giải phóng dân tộc, tiêu biểu, phản ánh trung thành nhất sự chuyển biến của đường lối cứu nước Việt Nam từ sau ngày công cuộc Cần vương thất bại đến trước thời đại cách mạng vô sản. Con người đó cũng là một trong những nhà văn hoá lớn nhất trong lịch sử văn hoá Việt Nam. Con người đó còn là "một nhà văn, nhà thơ đầu tiên sáng tác theo tinh thần lãng mạn cách mạng trong văn học nước nhà" trong đó "có cả một pho tình cảm vĩ đại, không một tí mập mờ nào về hai phương diện ghét và yêu... và cả một tưởng tượng rất đẹp đẽ: tiền đồ của nước Việt Nam nhất định sẽ độc lập thống nhất và quang vinh" (Đặng Thai Mai)(2); là một tác giả viết nên những "câu thơ dậy sóng" (Tố Hữu)(3), có "những bài thơ... viết ra từ bầu nhiệt huyết, bằng tất cả óc tim" (Lê Duẩn)(4).

Bài viết này sẽ nói về Con đường đến với văn chương của người họ Phan đeo trên mình viên ngọc quí đó.                    

Cụ thân sinh - Phan Văn Phổ - là một nhà nho nghèo, không đỗ đạt, sống bằng nghề "lấy nghiên làm ruộng, lấy bút làm cày". Cụ bà thân mẫu Nguyễn Thị Nhàn là người "rất nhân từ, ham làm ơn", thường nói "ta chỉ ở với trời", không được học hành, nhưng cũng thuộc mấy bài thơ Chu Nam trong Kinh Thi để ru con. Con đường văn chương của Phan Bội Châu hẳn đã được khai mở ít nhiều từ nếp nhà nho phong, từ nhân cách, tâm hồn của mẹ, từ mấy bài thơ Chu Nam mẹ ru ở buổi ấu thơ. Thuở nhỏ, bé San đi học, thiếu thốn đủ bề. Đến giấy viết cũng không có. Phải ép lá chuối khô cho phẳng để thay giấy. May là cậu được trời phú cho thông minh tới mức thần đồng. Trong Phan Bội Châu niên biểu, Phan tự kể: "bốn năm tuổi, chưa biết xem chữ, nhưng đọc trầm được vài bài thơ Chu Nam - Kinh Thi là nhờ mẹ tôi truyền miệng". Sáu tuổi, bắt đầu đi học "mới ba ngày đọc trầm hết quyển Tam tự kinh, không sót một chữ". Bảy tuổi, "bắt đầu đọc các kinh truyện thảy biết được ý kiến sơ, thường nhái (nhãi) quyển Luận ngữ làm bản Phan tiên sinh Luận ngữ, nhiều lời chê cười bạn học. Cha thấy được đánh cho thật đau". "Tám tuổi đã hay làm những văn ngắn, theo thời tục, để đi thi tiểu khảo ở hương, lý, phủ huyện, thường đỗ đầu luôn". "Mười ba tuổi, đã làm được các thức thí văn, hoặc lối cận, hoặc lối cổ, có nhiều câu thầy đồ ở các hương thôn cắt không ra nghĩa". Lúc này, trước mắt Phan, con đường dẫn đến văn chương cử nghiệp hẳn đã mở ra. Phan đến thụ giáo tại trường học của cụ Nguyễn Kiều, một vị cử nhân, Hán học uyên bác, bỏ quan về nhà, mở trường dạy học. Phan được cụ Kiều quí nể, "thường mượn sách vở ở các đại gia cho xem. Vì đó mà văn chương Hán học mới sở đắc rất nhiều". Tuy nhiên, Phan lại là người sớm nhận ra và "đau xót biết chừng nào" trước cái tệ hại của nạn văn chương khoa cử từng "chôn sống không biết bao nhiêu là niên thiếu thông minh". Có điều là do phải "lo cướp một món hư danh để cho đời trông ngó, sẽ dành sẵn một địa bộ trì sinh" (ý nói phải có danh để ăn nói với đời, phải có chỗ để bay nhảy), Phan vẫn phải "hết sức trau dồi văn nghiệp theo thời thượng". Trong đó, có chuyện đánh đường từ Nam Đàn ra Nghi Lộc cùng trong tỉnh Nghệ, tập bài với vị sư biểu Nguyễn Thức Tự (tên quen gọi là Cụ Sơn bởi trước làm chức Sơn phòng sứ ở Hà Tĩnh) cùng với nhiều nho sinh khác mà sau đó cũng khoa bảng lừng danh, đặc biệt cùng trở thành đồng chí của Phan như Đặng Nguyên Cẩn, Nguyễn Sinh Sắc của Nghệ An, Ngô Đức Kế, Lê Văn Huân, Đặng Văn Bá bên Hà Tĩnh. Câu chuyện cụ Phan Văn Phổ đưa con từ Nam Đàn ra Nghi Lộc xin học cho con với cụ Nguyễn Thức Tự thật có ý nghĩa. Cụ Tự nói với cụ Phổ: cậu này nổi tiếng học giỏi khắp nơi rồi. Cần gì phải ra đây học cho vất vả, tốn kém. Cụ Phổ thưa: "Dạ! đúng thế, nhưng cháu thi mãi không đậu. Các cụ như cụ Vương Thúc Quý vẫn nói muốn đậu phải ra đây nhờ cụ. Cụ Tự quay ra hỏi Phan Văn San: "Cậu muốn học để làm gì? Để có khoa bảng hay để làm người? Phan Văn San thưa ngay: "Dạ! Con xin cả hai". Năm 1922, cụ Nguyễn Thức Tự qua đời, Phan Bội Châu đang hoạt động ở Trung Quốc, được tin gửi điếu văn viếng Thầy: "Đạo thông thiên địa/ Học bác cổ kim/ Kinh sư dĩ đắc/ Nhân sư nan tầm" (Đạo thì thông cả trời đất/ Học thì rộng khắp cổ kim/ Thầy dạy chữ dễ có/ Thầy dạy người khó tìm). Tại trường học của cụ Nguyễn Thức Tự, Phan nổi tiếng văn tài, đặc biệt với thể phú vốn là thể văn khó hay so với các thể khác. Một số bài phú chữ Hán của Phan được chép trong tập Đông Khê hiên luật phú chính là các bài phú Phan làm trong khi tập bài tại trường cụ Sơn, được cụ và đồng môn ca ngợi, coi là bài mẫu cho mọi người noi theo. Cần nói thêm là Phan lên án văn chương cử nghiệp mà vẫn phải đeo đuổi văn chương cử nghiệp nhưng văn chương cử nghiệp của Phan không hoàn toàn giống với văn chương cử nghiệp thông thường. Mặt khác, Phan chống văn chương cử nghiệp, nhưng Phan không hề đồng nhất "khoa cử hư văn" với Hán học, cũng như đã không đồng nhất "nô lệ liệt văn" (văn chương nô lệ hèn mạt) với Tây học. Trong khi phải dồi mài văn chương cử nghiệp, Phan vẫn "ngầm tìm lén kiếm những sách vở thuộc về binh gia chiến lược của thời xưa như những bản Tôn Tử thập tam thiên(5), Võ Hầu tâm thư(6) cho đến những bản Hổ trướng xu cơ(7), Binh gia bí quyết(8) thảy ở lúc đêm khuya nhà kín, tay viết mà đọc thầm sẽ để làm sẵn một bản kiểu mẫu thực hành ở ngày khác". Phan còn cho biết năm Đinh Dậu (1897), nhân dịp vào Huế, được quen biết Nguyễn Thượng Hiền là người "tàng trữ những văn chương của ông Kỳ Am Nguyễn Lộ Trạch xưa nay chưa ai xem, bây giờ mới đưa tôi xem. Tôi được đọc bài Thiên hạ đại thế luận của ông Kỳ Am mà nhân đó tư tưởng mới măng mầm nơi tôi. Tiên sinh lại cho tôi mượn mấy pho sách như Trung Đông chiến kỷ, Phổ Pháp chiến kỷ cùng pho Dinh Hoàn chí lược. Tôi vì xem những pho sách ấy mới hiểu qua được thời trạng cạnh tranh ở trong hoàn hải, thảm trạng vì quốc vong, hoạ sâu vì chủng diệt, càng kích thích ở trong óc sâu lắm"(9). Như thế là Phan đã đến với văn chương không theo lối độc đạo, chỉ rặt một thứ gắn với khoa danh mà Phan cần có để ăn nói với đời. Hồn vía của Phan, dĩ nhiên cũng không đặt ở loại văn chương vạn bất đắc dĩ đó. Phan đã đến với văn chương từ nhiều hướng, nhiều nguồn khác quan trọng hơn.

 Một trong những nguồn ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành văn chương Phan Bội Châu chính là kho tàng văn hoá, văn học xứ Nghệ, quê Phan. Xứ Nghệ là vùng "địa linh", sinh nhiều "nhân kiệt" cho xứ Nghệ và cho đất nước, trong đó có Phan Bội Châu. Trên vùng đất "địa linh" xứ Nghệ, có cả một kho tàng văn học dân gian và văn học viết rất mực bề thế. Về văn học dân gian, xứ Nghệ có các thể loại: truyện kể, hát ví và hát giặm in đậm dấu ấn quê hương. Trong hát ví, do gắn với các nghề, các công việc lao động nên có nhiều loại. Có ví phường vải, ví đò đưa, ví phường buôn, ví phường nốc, ví phường củi, ví phường cỏ, ví phường gặt... nhưng ví phường vải là tiêu biểu nhất, hấp dẫn nhất, lôi cuốn được nhiều nam thanh nữ tú vào cuộc nhất. Hát ví dùng hình thức câu thơ lục bát. Từ đó mà xứ Nghệ có một kho báu ca dao rất phong phú. Hát giặm thì lại dùng hình thức câu bốn hoặc năm chữ. Công trình sưu tầm Kho tàng vè xứ Nghệ gồm 9 tập, dày hơn 6.000 trang, với 1.160 bài vè dài ngắn của PGS. Ninh Viết Giao đã cho người đọc hình dung được sự giàu có của loại hình dân ca này trên đất Nghệ. So với dân ca của một số địa phương khác, dân ca xứ Nghệ có vẻ mộc mạc hơn nhưng xem ra lại có phần sâu lắng hơn trong cảm xúc, trong ý tưởng. Phan Bội Châu cũng như các bậc đại gia xưa của xứ Nghệ, trong đó có Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ,... đều đã say đắm, đã được tắm mát trong suối dân ca đó trên đường đến với văn chương. Riêng với Phan Bội Châu, nhiều sách báo chẳng đã kể chuyện ở tuổi thanh xuân, Phan từng nổi danh trong các cuộc hát phường vải với những câu hát còn để lại cho quê hương tới tận ngày nay. Tìm hiểu thơ văn Phan Bội Châu, nhất là thơ, sẽ thấy dấu ấn dân ca xứ Nghệ khá rõ trên các phương diện thể loại, thi tứ và thi pháp. Về văn học bác học, thành văn, xứ Nghệ cũng nổi tiếng với đất nước từ bao đời nay. Nền văn học đó vốn liên quan ít nhiều với thanh danh khoa bảng của nhiều làng xã trên đất Nghệ: Hoành Sơn, Xuân Hồ, Xuân Liễu, Trung Cần, Thanh Thủy, Vân Sơn thuộc huyện Nam Đàn; Kim Khê, Đông Chử, Kỳ Trân, Cẩm Trường thuộc huyện Nghi Lộc; Võ Liệt, Đồng Văn, Đại Định thuộc huyện Thanh Chương; Quan Trung, Vân Tụ, Trang Thành, Liên Trì thuộc huyện Yên Thành; Lý Trai, Bút Điền, Nho Lâm, Thịnh Mỹ thuộc huyện Diễn Châu; Văn Tràng, Đặng Sơn thuộc huyện Đô Lương... Xưa là những làng nổi tiếng về khoa bảng. Riêng Quỳnh Đôi thuộc huyện Quỳnh Lưu thì sách Quỳnh Đôi cổ kim hương biên cho biết tính từ ngày có "Thổ Đôi trang" đến năm 1919 có hơn 700 người đỗ tú tài, cử nhân, tiến sĩ. Có tài liệu còn cho biết làng Quỳnh Đôi có 11 tiến sĩ và hoàng giáp. Trong bài thơ Chơi xuân viết năm 1905, Phan Bội Châu chẳng đã tự hào về quê hương Xuân Hồ, Xuân Liễu của mình khi viết: "Quân bất kiến Nam Xuân tự cổ đa danh sĩ". Có thể nói không sợ sai rằng trên con đường đến với văn chương, trong tâm thức của Phan Bội Châu, dễ thường không thể thiếu bóng dáng, tên tuổi của vị trạng nguyên khai khoa cho xứ Nghệ là Bạch Liêu, của ba vị trạng nguyên vốn là cha con, chú cháu: Hồ Tông Thốc, Hồ Tông Đốn, Hồ Tông Thành, của các bậc đại Nho, đại gia, đại bút: Sử Hy Nhan, Hồ Sĩ Dương, Hồ Sĩ Đống, Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Huy Hổ, Phạm Nguyễn Du, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Xuân Ôn, Cao Xuân Dục... và gần gũi hơn là các vị: Thám hoa Nguyễn Đức Đạt, Thám hoa Nguyễn Văn Giao, Hoàng giáp Nguyễn Hữu Lập trên đất Nam Đàn của Phan. Những con người này, ít hay nhiều, ở mặt này khác, đã hỗ trợ Phan đến với văn chương mặc dù Phan sẽ có lối đi riêng của mình mà yêu cầu và điều kiện của thời đại cũng như bản lĩnh của Phan cho phép. Trên con đường riêng về văn chương, chắc chắn Phan còn tiếp nhận nhiều nguồn ảnh hưởng khác nữa. Nhưng trên đường đi này, một câu hỏi lớn đã đặt ra với Phan: giữa thời buổi đất nước đang đắm chìm trong vòng nô lệ lầm than, lẽ sống cao nhất là ở đâu? Ở sự nghiệp văn chương ư? Không! Dứt khoát không phải ở đó. Phải ở sự nghiệp cứu nước cứu nòi. Chính từ lời đáp cho câu hỏi lớn đó trước vận mạng của Tổ quốc và cũng là lẽ sống của mình, không biết Phan Bội Châu đã đón nhận tự bao giờ hai câu thơ của Viên Mai ở đời Thanh, Trung Quốc để thành lời tuyên ngôn nghệ thuật mà cũng là tuyên ngôn nhân sinh của Phan:

Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch

Lập thân tối hạ thị văn chương.

(Bữa bữa không quên lưu sử sách/ Lập thân hèn nhất ấy văn chương). Cần nói ngay: "Lập thân tối hạ thị văn chương" chứ không chỉ "tối hạ thị văn chương". Hai trạng thái ngôn từ có nội hàm khác nhau xa lắm. Bởi với Phan Bội Châu, trước sau, chẳng bao giờ có chuyện khinh rẻ văn chương, nhất là khinh tới mức là "tối hạ". Ngay từ buổi đầu cầm bút, trong bài phú Xuân thu hoá công, Phan chẳng đã ngợi ca văn chương như kinh Xuân thu do Khổng Tử san định là đã "dựng lên nghĩa lớn", ở đấy "một nét bút là mưa nhuần móc thấm", "một lời văn gió táp sương rơi", "vì văn khí mà chứa đầy nguyên khí". Trong bài phú Bái thạch vi huynh, Phan chẳng đã ca ngợi "đá là vật cao cao ngất ngất... chống trời làm trụ, cương thường nêu suốt ngàn thu. Ném đất thành âm, văn bút vang lừng trời đất". Cả sau này nữa, trong Văn tế Phan Châu Trinh, Phan chẳng đã ca ngợi văn chương vận động dân chủ của Phan Châu Trinh: "một ngòi lông vừa trống vừa chiêng/ Cửa dân chủ khêu đèn thêm sáng chói". Trong Độc Cao Chu Thần thi tập, hậu đề Phan cũng cảm thấy như trời đất đã vần vũ lên ở đầu ngọn bút khi Cao Bá Quát viết thơ: "Mây gió xoay tròn đầu ngọn bút. Càn khôn chét lỏng nửa tròng ngươi". Đặc biệt, trong bài Quan niệm của tôi đối với văn chương đăng trên tờ Đông phương ngày 28-10-1931, Phan đã giải thích ý tưởng trong hai câu thơ của Viêm Mai, đồng thời cũng nói rõ hơn quan niệm của mình. Theo Phan, câu thơ "Lập thân tối hạ thị văn chương" là rất đúng với các trường hợp văn chương như của Dương Hùng ở đời Tây Hán qua các tác phẩm Thôi huyền, Pháp ngôn, như của Thái Mao ở đời Đông Hán trong việc soạn cửu kinh, viết văn bia, với nội dung thấp hèn, nịnh hót. Nhưng bên cạnh loại văn chương để lập thân một cách "tối hạ", vẫn có loại "văn chương thiên cổ sự. Đắc thất thốn tâm tư như một người đời Minh đã viết, mà văn chương của Khổng Tử, Mạnh Tử từng được bao đời nay, kể cả người Âu châu nhắc nhở, hâm mộ là ví dụ". Phan theo quan điểm của sách Tả truyện cho rằng: "thái thượng lập đức, kỳ thứ lập công, hữu kỳ thứ lập ngôn" (cao nhất là lập đức, thứ hai là lập công, thứ nữa là lập ngôn). Cả ba loại người này đều có ích cho loài người. Nhưng giá trị cao thấp khác nhau. Lập đức là hạng người gây dựng cho nhân loại nền đạo lý, như Phật Thích ca, với "chủ nghĩa Phật với chúng sinh bằng một lớp" (Phật sinh bình đẳng), như Thánh Giê xu với "chủ nghĩa yêu người như yêu mình" (ái nhân như kỷ). Lập công là hạng người cứu vớt người khác qua đại tai đại nạn, đưa lại cho họ "đại lợi đại phúc" như vua Hạ Vũ trong việc trừ được họa hồng thuỷ, như Kha Luân Bố trong chuyện tìm ra châu Mĩ, như vua Quang Trung đuổi được giặc Mãn Thanh. Còn lập ngôn thì theo Phan là hạng người "về phần đức chỉ là đức thông thường, về phần công không có công gì trác việt, nhưng mà tấm lòng đau đời xót tục, đôi tay chữa cháy vớt chìm chẳng khác gì lập đức lập công đâu. Nhưng hoặc vì thời thế gay go, hoặc vì chủ nghĩa trái tục, hoặc vì năng lực còn kém, hoặc vì địa vị còn thua, mà không thử làm được những việc như các người trên kia nói, vạn bất đắc dĩ mới phải mượn ba tấc lưỡi làm bộ máy xoay đời, cậy một ngòi lông làm khuôn lò nấu tục". Khổng Tử có "lục kinh", Mạnh Kha có "thất thiên" là bởi đó. Trên cơ sở quan niệm về "tam bất hủ" (lập đức, lập công, lập ngôn) đó, Phan đã giải thích rõ thế nào là văn chương. Phan viết: "Nói cho đúng thì sự nghiệp cũng chỉ có mấy câu nói mà thôi. Mấy câu nói ấy khi nín ở trong lòng thì rằng tâm, khi phát ra ở miệng thì bảo rằng ngôn, ngôn không thể hết được thì viết ra làm chữ, đã viết ra làm chữ mới thành ra văn chương. Văn chương chỉ là ngôn, mà ngôn lại gốc ở tâm, vì trong lòng có nghĩ ra đường nào, thì miệng với bút mới phun nhả ra đường ấy". "Vẫn có thế thật, chỉ một lời nói mà ảnh hưởng rất xa, huống gì lời nói đó đã thành ra văn chương thì có lẽ nào tuyệt vô ảnh hưởng? Nên người xưa đã có câu nói rằng "Văn chương quan thế đạo thịnh suy" nghĩa là "văn chương rất có quan hệ với đường đời, đời mà thịnh thì thường có văn chương hay, mà có văn chương hay thì đường đời mới thịnh. Nếu trái thế thì văn chương dở mà đường đời suy, thì văn chương càng dở. Văn chương ảnh hưởng xa lớn đến như thế, bảo văn chương là một giống không giá trị có lẽ nào!". "Chúng ta xin đem cặp mắt xem văn chương mà đặt luôn cả cặp mắt xem nhân cách thì câu nói "văn chương thiên cổ sự, đắc thất thốn tâm tư" chẳng đậm đà thắm thiết làm sao?".

Rõ ràng là Phan chỉ khinh rẻ loại văn chương kéo nhân phẩm con người xuống chỗ thấp hèn, chứ không hề khinh rẻ văn chương nói chung, nhất là loại văn chương góp phần xây dựng nhân tâm thế đạo. Tuy nhiên, sống trong cảnh ngộ đất nước đang phải chịu cảnh lầm than nô lệ, thì giữa lẽ sống cho văn chương và lẽ sống cứu nước cứu nòi, dứt khoát, Phan coi trọng lẽ sống cứu nước hơn, coi đó là trên hết. Cũng trong năm 1931, trước khi có bài Quan niệm của tôi đối với văn chương, trên Trung lập số ra ngày 8-8, trong bài Về chủ ý của Truyện Kiều, thực tế là đăng lại ý kiến của Phan trả lời nhà báo Yên Sơn (tức Thanh Tao) năm 1926 nhân có phong trào đề cao Truyện Kiều do Phạm Quỳnh phát động, trong đó Phan Bội Châu đã nói: "Nếu nghe tôi phản đối, ông không chịu mà hỏi vặn lại: "Cụ Nguyễn Du không đáng dựng tượng thì còn ai đáng?". Lúc đó tôi vui vẻ thưa: "Cụ Nguyễn Trãi! Phàm là nhà văn học ai không biết cụ có công bồi đắp nền văn học. Còn sự nghiệp trọng đại thế nào, tôi bất tất phải nói, vì chắc ông còn hiểu biết hơn tôi. Ông là nhà văn học trứ danh! Song nếu nói chung về việc dựng tượng thì tôi tưởng nên lần lượt kẻ trước người sau, theo thứ tự này: hai chị em bà Trưng, ông Trần Hưng Đạo, ông Lê Lợi, ông Nguyễn Huệ, ông Phan Đình Phùng...". Như thế là Phan Bội Châu đã đặt Nguyễn Trãi trên Nguyễn Du nhưng vẫn sau hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Phan Đình Phùng. Huỳnh Thúc Kháng, sau Phan, trong bài Nguyễn Trãi và Nguyễn Du (Tiếng Dân số ra ngày 26-7-1941) cũng có cách nghĩ gần như thế khi viết: "Sự tình cờ trên lịch sử, tưởng ông Nguyễn Du cũng không nghĩ rằng người sau tôn trọng mình hơn cụ Nguyễn Trãi, vì nước Nam không có ông Nguyễn Du thì văn giới không có một truyện hay để người sau ngâm nga, tiêu khiển, chớ không có ông Nguyễn Trãi thì nước Nam đã làm quận huyện cho nhà Minh mà thiếu khoảng lịch sử của tiền Lê. Quan hệ với quốc gia dân tộc to tát biết bao! Bởi vậy có nhà lão thành ở Bắc đã thốt một câu trong lúc ngoài Bắc có phong trào hoan nghênh kỉ niệm Truyện Kiều: Thời đại ngày nay nước ta sản xuất một trăm ông Nguyễn Du không bằng một ông Nguyễn Trãi". Con cháu của các cụ ngày nay sống trong hoàn cảnh đất nước đã hoàn toàn độc lập, có thể không nghĩ như các cụ, nhưng sẵn sàng chấp nhận quan niệm của các cụ trong hoàn cảnh đất nước nô lệ lầm than thì giá trị thiêng liêng và trên hết đối với mọi người có lương tâm lương tri phải là cứu nước. Với Phan Bội Châu, quả là như vậy. Con người văn chương phải đứng sau con người cứu nước. Yêu văn chương không mạnh bằng yêu nước. Phan Bội Châu chẳng đã tự bạch trong Ngục trung thư: "Tôi được trời phú cho bầu máu nóng cũng không đến nỗi ít. Lúc còn bé, đọc sách của cha tôi, mỗi khi đến những chỗ nói người xưa chịu chết để thành đạo nhân, nước mắt lại đầm đìa rỏ xuống ướt đẫm cả giấy. Ông Trương Công Định vì Nam kỳ mà tuẫn tiết, ông Nguyễn Tri Phương vì Hà Nội mà hi sinh, chuyện đó thường bàn đến, lại nắm tay đấm ngực xấu hổ phải lùi sau hai ông vì bản tính của tôi như thế không thể che giấu được".

Với bản tính trời phú như thế, cho nên, ngày nhỏ, Phan đã chơi trò chơi đánh Tây với trẻ con trong làng. 17 tuổi, được tin ở Bắc kỳ, phong trào Cần vương "nổi dậy như ong", Phan thao thức, nửa đêm ngồi viết hịch "Bình Tây thu Bắc" (dẹp yên giặc Tây, thu lại Bắc kỳ). 19 tuổi, cùng cử nhân Trần Văn Lương thành lập Sĩ tử Cần vương đội. Và đến năm Canh Tí (1900), cha qua đời, chữ hiếu của người con một phải nuôi cha già trong hoàn cảnh mẹ mất sớm đã tròn, lại cũng đã lấy được cái giải nguyên để tiện bề ăn nói với người đời, Phan thanh thản, hăm hở lên đường cứu nước suốt mấy chục năm trời để rồi trở thành một con người mà Phan tự nhận là "trăm thất bại không một thành công" nhưng lịch sử lại tôn vinh Phan là "bậc anh hùng, vị thiên sứ được hai mươi triệu đồng bào sống trong vòng nô lệ tôn kính". Trên con đường cứu nước, dĩ nhiên, Phan phải bày mưu định kế, phải lo tính vạn điều, nhưng vẫn không bao giờ xa rời văn chương. Bởi không riêng Phan, các chí sĩ cùng thời với Phan, đều quan niệm rất rõ ràng và sâu sắc rằng trong công cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, cùng với huyết chiến (đánh bằng máu), thiết chiến (đánh bằng sắt), não chiến (đánh bằng não), thiệt chiến (đánh bằng lưỡi: diễn thuyết), là bút chiến (đánh bằng ngòi bút). Ở Trung Hoa, thời nhà Đường, Lý Bạch có văn phẩm làm tan rã ý chí xâm lược Trung nguyên  nên đã được mệnh danh là thối lỗ thi (thơ làm lui kẻ thù). Ở Việt Nam ta, thời Trần, vua Trần Thái Tông trong Khoá hư lục đã có câu "văn bút tảo thiên quân chi trận" (văn chương quét sạch ngàn quân mạnh)/ Võ lược thâu canh bách chiến công (võ lược giành chiến công trăm trận). Nguyễn Trãi với Quân trung từ mệnh tập là một kiệt tác của văn chương đuổi giặc. Người đời sau như Phan Huy Chú, Bùi Huy Bích cũng từ quan điểm văn chương đuổi giặc mà ca ngợi Quân trung từ mệnh tập "có sức mạnh như mười vạn quân". Phan Bội Châu quả không phải là người khởi xướng quan niệm văn chương đuổi giặc. Nhưng trong lịch sử Việt Nam ta, sự thật là chưa ai dùng văn chương để tuyên truyền vận động nhân dân đứng lên chống thực dân Pháp, giải phóng đất nước một cách bền bỉ và bề thế như Phan Bội Châu từ cái thế mạnh năng lực, năng khiếu thiên phú của mình. Trong quá trình sử dụng ngòi bút để tuyên truyền cách mạng, ngoài năng khiếu sẵn có, ngoài sự dồi mài rèn luyện thêm, ngoài những ảnh hưởng từ môi trường gia đình, quê hương, đất nước, từ truyền thống lâu đời, Phan Bội Châu còn được tiếp sức thêm từ nhiều nguồn ảnh hưởng mới trong khu vực và trên thế giới. Ví như với Lương Khải Siêu mà Phan đã tự kể: "Trước khi tôi còn ở trong nước, từng được đọc mấy bản sách của Lương Khải Siêu tiên sinh, như bản Mậu Tuất chính biến, bản Trung Quốc hồn và vài ba xấp Tân Dân tùng báo, thấy văn chương hay, tư tưởng mới, thì đã sẵn lòng sùng bái Lương". Một chuyên đề nghiên cứu sâu vào những ảnh hưởng văn hoá, văn học của khu vực và thế giới đối với ngòi bút Phan Bội Châu nói chung, hẳn sẽ có nhiều điều lý thú, bổ ích.

Trên con đường văn chương, Phan Bội Châu đã có  rất nhiều bút danh do tự đặt là chính nhưng cũng có bút danh do người đời đặt, gồm: Hải Thụ, Phan Hải Thụ, Sào Nam, Sào Nam Tử, Sào Nam Phan Bội Châu, Việt Nam Vong Mệnh, Việt Nam Vọng Quốc Giả, Việt Nam Vong Nhân, Sào Nam Tử, Phục Quốc Tang Giả, Cuồng Công, Đối Kính Cuồng Bô Khách, Sào Nam Tử Phan Bội Châu, Nam Hải Bô Thần, Phan Thị Hán, Hoan Châu Xứ Phan Bội Châu, Hạo Sinh, Thiên Phú, Hiếu Hán, Nam Sơn Ngu Đẩu, Lão Hồ Tử, Hương Giang Ngụ Khách, Trương Văn Dực, Độc Tỉnh Tử, Trương Tường Pháp, Việt Điểu, Sào Quân, Tiêu Liêu Tử, Vô Danh Thị, Cây Sung, Hãn Mãn Tử(10).

Văn nghiệp của Phan, vừa Hán vừa Nôm với đủ loại hình, thể loại, thể tài văn chương của dân tộc. Có văn chính luận, văn mỹ học. Có văn chính trị, văn triết học, văn khoa học, văn luân lý, văn sử. Có văn xuôi văn vần. Có truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi ký, tự truyện, tùy bút. Có thất ngôn bát cú Đường luật, thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, cổ phong, phú, văn tế, hát nói, câu đối.

Cuối cùng thì bên cạnh một Phan Bội Châu - lãnh tụ của các phong trào giải phóng dân tộc ở đầu thế kỷ XX - nhà văn hoá hàng đầu trong lịch sử văn hoá Việt Nam - có một Phan Bội Châu, bằng con đường riêng của mình để đến với văn chương và trở thành một trong những nhà văn lớn nhất trong lịch sử văn học dân tộc  đã được vị  chuyên gia số 1 về Phan Bội Châu là Chương Thâu sưu tầm tập hợp biên soạn thành bộ sách Phan Bội Châu toàn tập 10 cuốn dày 6.277 trang khổ lớn in lần thứ hai có chỉnh lý bổ sung vào năm 2.000 và thêm Phan Bội Châu toàn tập - Bổ di I dày 452 trang khổ lớn in 2012, một thành quả văn chương thể hiện những đặc điểm như sau:

- Người cầm bút không lấy văn chương làm lẽ sống nhưng thực tế lại trở thành một nhà văn lớn. Có sự nghiệp đồ sộ và khả năng vận dụng hầu hết loại hình, thể loại, thể tài văn chương của dân tộc một cách bề thế mà trước đó chưa có ai như thế.

- Ở văn nghiệp lớn này là một sự kết hợp hài hoà không dễ có nhiều giữa hai tư cách: người chiến sĩ và người nghệ sĩ, giữa bốn tư thế: nhà cách mạng lớn, nhà tư tưởng lớn, nhà văn hoá lớn và nhà văn lớn.

- Ở văn nghiệp lớn này là một sự hội tụ bề thế từ nhiều yếu tố: năng khiếu bẩm sinh, sự hút nhụy từ nhiều nguồn: sách vở thánh hiền, văn chương khoa cử, văn nghệ dân gian và văn chương bác học của quê hương, của dân tộc, kể cả một phần văn chương của khu vực, của thế giới trong điều kiện văn hoá cổ kim đã giao tranh, Á Âu đã xáo lộn trên đất nước. Thêm vào các yếu tố đó là một cá tính đa cảm tới mức khác thường.

Việc khám phá thế giới văn chương, phong cách văn chương của Phan Bội Châu phải quán triệt những đặc điểm đó mới mong thức nhận được những giá trị đích thực của nó.

 

Chú thích

(1). Những trò lố hay Varen và Phan Bội Châu - 1925.

(2) .Văn thơ Phan Bội Châu - 1958.

(3). Theo chân Bác - 1970.

(4). Văn nghệ, số 52 (658) ngày 18-12-1976.

(5). Mười ba thiên binh thư của Tôn Tử thời Chiến Quốc ở Trung Hoa.

(6). Binh thư của Gia Cát Lượng thời Tam Quốc ở Trung Hoa.

(7). Binh thư của Đào Duy Từ.

(8). Theo Chương Thâu thì đây có thể là Binh thư yếu lược Vạn Kiếp tông bí truyền thư của Trần Hưng Đạo.

(9). Những lời đặt trong ngoặc kép trên đây là thuộc Phan Bội Châu biên biểu do tác giả tự dịch.

(10). Xem: Chương Thâu - Một số biệt hiệu và bút danh của Phan Bội Châu, Nghiên cứu Phan Bội Châu, NXB Chính trị Quốc gia, 2004.

 

Nguyễn Trọng Tạo

 

Lên mạng được tin Thầy Cương qua đời, tôi gọi điện cho ái nữ của Thầy là Văn Thùy Dương, được biết chính xác là Thầy đã vĩnh biệt cõi trần vào lúc 0 giờ 28 phút ngày 9/10/2017. Thầy ngừng thở trên chiếc giường thân thuộc trong căn nhà của mình, sau 10 ngày đi điều trị căn bệnh ung thư tại bệnh viện VINMEC.

Con gái Văn Thùy Dương trân trọng kính báo: Lễ viếng Cha tôi được cử hành từ 10h30 đến 12h30 ngày 12/10/2017 (ngày 23/8 AL) tại nhà tang lễ Bộ Quốc Phòng, Số 5 Trần Thánh Tông Hà Nội. Lễ truy điệu vào hồi 12h30 cùng ngày. An táng tại đài hoá thân hoàn vũ, nghĩa trang Văn Điển.

Thầy Văn Như Cương là một nhà sư phạm lỗi lạc. Thầy luôn có những quan điểm mạnh mẽ cho sự phát triển nền giáo dục tiên tiến của nước nhà. Thầy thành lập trường THPT Lương Thế Vinh năm 1989, là trường dân lập đầu tiên tại Việt Nam sau Đổi mới. Sau 25 năm làm Hiệu trưởng, Thầy nghỉ chức Hiệu trưởng và làm Chủ tịch HĐQT. Hàng vạn học sinh của trường đã vào đại học và trưởng thành luôn biết ơn Thầy và mái trường thân yêu. Khi Thầy bị bệnh ung thư phải đi điều trị, hơn 3.000 học sinh toàn trường hát vang ca khúc truyền thống Bài ca Lương Thế Vinh tiễn Thầy vào bệnh viện. Hơn 19.000 con hạc giấy đã được gấp và treo thành từng dây ở sảnh trường Lương Thế Vinh với niềm tin của các em là, những con hạc giấy sẽ giúp thầy vững vàng chống chọi với bệnh tật và mau khỏi bệnh. Và khi thầy ra viện, cả nghìn thầy trò đã sắp hàng dài trước cổng đón Thầy với tiếng vỗ tay và tiếng trống trường giòn giã.

Nhưng Thầy Cương đã vĩnh viễn ra đi, hưởng thọ 80 tuổi (1937-2017).

Với tôi, Thầy Cương như một người cha, người anh cả và là người bạn vong niên vô cùng quý trọng. Thầy chân thực, tình cảm, thông minh và thẳng tính, thường đưa ra những phát biểu hay bất ngờ, làm cho nhiều người ngạc nhiên và khâm phục.

Văn Như Cương (1937 - 9/10/2017) là một nhà giáo Việt Nam, nhà biên soạn sách giáo khoa phổ thông và giáo trình đại học bộ môn hình học, Ủy viên Hội đồng giáo dục quốc gia Việt Nam. Ông là một tiến sĩ toán học (bảo vệ thành công luận án tiến sĩ năm 1971 tại Liên bang Xô viết) được Nhà nước phong học hàm Phó Giáo sư. Ông sinh ra trong một gia đình làm nghề dạy học chữ Hán (đồ Nho) tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Năm 1954, học xong phổ thông, ông ra Hà Nội học khoa Toán, Đại học Sư phạm Hà Nội. Tốt nghiệp đại học, ông trở thành cán bộ giảng dạy tại trường. Ông học chương trình nghiên cứu sinh ngành toán học tại Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô cũ và bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ vào năm 1971. Sau khi về nước ông làm giảng viên, công tác tại bộ môn Hình học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Sư phạm Vinh.

Năm 1989, ông mở trường Lương Thế Vinh, trường phổ thông dân lập đầu tiên của Việt Nam từ khi Đổi mới. Ông chủ biên và trực tiếp biên soạn hơn 60 đầu sách giáo khoa, sách tham khảo phổ thông và giáo trình đại học về chuyên ngành hình học. Ông là tác giả bộ sách giáo khoa hình học phổ thông (chương trình nâng cao) của Việt Nam. Ông có một số nghiên cứu Toán học trong thời gian làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô.

Quê của Thầy Văn Như Cương cũng là quê của "bà chúa thơ Nôm" Hồ Xuân Hương nổi tiếng (xóm Điếm, xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An).

Xóm Điếm, nơi có cái điếm canh từ thời trước, quả là một "xóm thơ". Nói là xóm thơ, vì xóm này không chỉ có Hồ Xuân Hương làm thơ, mà có hàng chục hàng trăm người làm thơ nối tiếp nhau từ đời này sang đời khác. Chỉ tính từ cụ Hồ Phi Diễn đến nay cũng không đếm hết những tên tuổi thành danh từ cái xóm nhỏ này.

Xóm Điếm ở trong một cái làng có đến 531 sinh đồ (Tú tài), 203 hương cống (Cử nhân) với 958 lượt người đỗ 116 khoa thi hương trong đó có đến 13 giải nguyên như: Dương Cát Phủ, Hồ Sĩ Dương, Nguyễn Dương Dực, Phan Đình Phát… Đỗ đại khoa thì có 4 phó bảng: Hồ Bá Ôn, Phan Duy Phổ, Hoàng Mậu, Lê Xuân Mai; có 6 tiến sĩ: Hồ Sĩ Tân, Phan Hữu Tính, Hồ Sĩ Tuần, Văn Đức Giai, Nguyễn Sĩ Phẩm, Dương Thúc Hạp; 2 hoàng giáp: Hồ Phi Tích, Hồ Sĩ Đống; một thám hoa: Dương Cát Phủ; một bảng nhãn: Hồ Sĩ Dương. Sau này có đến mấy nhà thơ, nhà văn hội viên hội Nhà văn Việt Nam và nhiều nhà thơ khác là hội viên tỉnh này, thành phố nọ, rải rác khắp nơi. Nói thế để thấy truyền thống văn chương chữ nghĩa ở đây thật là giàu có.

Thầy Văn Như Cương cũng là một "nhà thơ" rất hóm chữ nghĩa. Ông nổi tiếng dạy toán, từng soạn nhiều tập sách giáo khoa cho ngành giáo dục, nhưng ông cũng là người yêu văn chương, chữ nghĩa. Ông có nhiều bài thơ tự trào và câu đối được bạn bè truyền tụng. Và đôi khi cao hứng, ông cũng tếu táo cho vui đời: "Văn Như Cương, toán cũng Như Cương". Ông làm thơ không nhiều, và cũng chỉ để đọc chơi trong các cuộc bạn bè hiếu hỷ, hoặc để tặng người thân. Khi "nạp bản" vào tập thơ này, ông cứ băn khoăn có nên in hay không, bởi ông làm thơ đâu phải để in. Nhưng đã "trót" rồi thì "thôi kệ". Là ông do dự thế, chứ đọc thơ ông lại thấy thật nhẹ nhàng và thanh thoát:

Em cắm hoa tươi đặt cạnh bàn,

Mong rằng Toán học bớt khô khan.

- Em ơi, trong Toán nhiều công thức

Đẹp cũng như hoa lại chẳng tàn.

(Toán và hoa)

Có lần tôi nghe ông nói say sưa về con số trong thơ. Với ông, trong thơ con số cũng là con chữ, nó chứa đựng cả tâm hồn của con người. Có lẽ vì thế mà trong thơ ông hay giật mình về con số tuổi tác. Nhưng sau cái giật mình bản năng ấy, lại hiện ra một trí tuệ giàu hài hước: "Năm chục như ta cũng khối người/ Hơn nhau chỉ mỗi bộ râu thôi"; "Sáu mươi chưa chịu về đâu nhé/ Khối cụ tám mươi vẫn cố ngồi!", "Em sáu mươi và anh sáu ba/ Đố ai dám bảo chúng ta già?". Đôi khi ta thấy trong thơ ông một sự sắp đặt khá tài tình: "Bà quá sáu lăm, tôi bảy mươi - Sống thêm mấy chục nữa cho đời!... Tuổi già cứ đến không sao hết, Bà vẫn như xưa trong mắt tôi".

Ông có 2 bài thơ cấu tứ thật bất ngờ, đó là bài "Cõng mẹ đến nhà thờ họ Văn" và bài "Ông và cháu". Con cõng mẹ bất ngờ thấy mẹ nhẹ tênh. Nhưng bất ngờ hơn là mẹ sợ chân con mỏi (vì con cũng đã già). Bài thơ này khiến tôi nhớ lại 15 năm trước bắt gặp tấm ảnh Văn Như Cương râu tóc bạc phơ cõng mẹ già mà ai đó chộp được đem đăng lên báo. Nhìn tấm ảnh, xúc động vô cùng. Khi đọc bài thơ "Cõng mẹ…" của ông, mới thấm thía cái tình mẫu tử lúc tuổi già. Có lẽ vì thế mà ông có một tình yêu con cháu đến phát thèm:

Ông yêu cháu nhất nhà, 

Yêu hơn yêu mẹ cháu,

Yêu hơn cả yêu bà.

Vì cháu chưa biết nói

Chẳng cãi ông bao giờ.

Thơ Văn Như Cương thấm đẫm chất "nói trạng" của những ông đồ xứ Nghệ xưa. Thông minh, hóm hỉnh, thân gần…

Giờ Thầy Cương đã ra đi về cõi vĩnh hằng, đọc lại những câu thơ của Thầy để lại, tôi như thấy "Ông Tiên tóc trắng" vẫn ngồi bên mình, cũng với triết lý sống trong thơ ông. Đó là hãy sống tin yêu và sâu sắc với mọi người...

Ước gì nền giáo dục Việt Nam có được nhiều thầy như Thầy Văn Như Cương. Nhưng thật khó thay. Vì thế mà Thầy ra đi để lại một khoảng trống, như một cây đại thụ nằm xuống để trống một khoảng trời khó lòng bù đắp.

Xin gửi lời chia buồn sâu sắc đến cô và con cháu cũng đại gia đình. Cầu cho linh hồn thấy siêu thoát và phù hộ cho gia đình và mái trường thân yêu.

Vĩnh biệt Thầy Văn Như Cương với lòng tiếc thương vô hạn. 

* Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Đắc Vinh làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An

Sáng ngày 16-10-2017, đồng chí Nguyễn Đắc Vinh - Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Trưởng đoàn ĐBQH đã có buổi làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An.

Báo cáo với Bí thư Tỉnh uỷ và đoàn công tác, Giám đốc Sở KH&CN Trần Quốc Thành cho biết, trong hai năm (2016 - 2017) hoạt động nghiên cứu KH&CN của tỉnh ưu tiên cho 6 lĩnh vực KH&CN trọng điểm: nông nghiệp, y dược, KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội các huyện, thành, thị; khoa học xã hội và nhân văn; công nghệ thông tin; môi trường, sở hữu trí tuệ với 64 đề tài, dự án đang được triển khai. Các kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội: triển khai nhiều nội dung và giải pháp cho hoạt động SHTT, sáng kiến, sáng tạo, phát triển thị trường KHCN và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Năm qua, Sở KH&CN đã có nhiều đổi mới trong công tác thanh tra, kiểm tra góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động QLNN về KH&CN. Tuy nhiên, Giám đốc Sở KH&CN cũng thẳng thắn cho rằng, đóng góp và tác động của KH&CN đến sự phát triển kinh tế, xã hội mặc dù có nhiều tiến bộ nhưng chưa cao. Ứng dụng và thu hút các dự án ứng dụng công nghệ cao chưa tương xứng với tiềm năng, thị trường công nghệ vẫn chưa phát triển; tốc độ đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp còn chậm, trình độ công nghệ chưa cao. Huy động nguồn lực xã hội vào công tác nghiên cứu ứng dụng chưa cao.

Thảo luận tại buổi làm việc, các đại biểu tham dự đã chỉ ra: Tỉnh chưa khai thác được thế mạnh nguồn nhân lực trong KH&CN; Ngành nông nghiệp được hưởng lợi từ nhiều thành tựu nghiên cứu, ứng dụng KH&CN vừa qua song kết quả chưa thực sự được như mong muốn, minh chứng là Nghệ An chưa có sản phẩm nông nghiệp có thương hiệu mạnh;...

Đồng chí Huỳnh Thanh Điền - Phó Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá cao những bước tiến trong hoạt động KH&CN của tỉnh, đồng thời nhấn mạnh mục đích nghiên cứu KH&CN theo tập trung vào các đề tài nghiên cứu có tính ứng dụng cao, phục vụ cho nhân dân và doanh nghiệp.

Khẳng định vai trò của KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội, Bí thư Tỉnh uỷ Nguyễn Đắc Vinh nhấn mạnh quan điểm, ngành KH&CN phải dựa trên thế mạnh và điều kiện cụ thể của tỉnh để phát triển; trong đó hài hoà giữa việc sử dụng được những kiến thức, thành tựu trong lĩnh vực này; đồng thời nghiên cứu tạo ra tri thức mới.

Vạch ra hướng đi cho KHCN, đồng chí Bí thư tập trung vào vấn đề cốt lõi: Muốn làm KH&CN thì ai làm? Để nhấn mạnh đến yêu cầu đặt ra là xây dựng được hệ thống tổ chức và nhân lực hoạt động trong lĩnh vực này trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là hệ thống chuyên gia và nhóm hỗ trợ chuyên gia. Theo đó, Sở KH&CN phải rà soát các tổ chức nghiên cứu KH&CN để có chiến lược, chính sách phát triển. Đồng thời, theo Bí thư Tỉnh uỷ, cần phải có chính sách về đầu tư công nghệ mới để những cán bộ, chuyên gia ở địa phương có điều kiện tiếp cận và làm việc trong các nhóm nghiên cứu của các nhà đầu tư. Về nhiệm vụ của ngành KH&CN, Bí thư Tỉnh uỷ nêu lên ưu tiên trước mắt là nghiên cứu chiến lược, đặc biệt là chiến lược phát triển tỉnh Nghệ An đúng hướng; đồng thời nghiên cứu phát triển lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vu, y tế… trong đó, ưu tiên công nghệ sạch, công nghệ cao. Tuy nhiên, Bí thư Nguyễn Đắc Vinh cũng lưu ý, khi thu hút các dự án phải có lực lượng đủ năng lực, trình độ để tư vấn, phản biện tốt về công nghệ của các dự án cho tỉnh.

Nguyễn Thủy

 

* Lễ công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An

Sáng ngày 5/10/2017, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An tổ chức Lễ công bố Quyết định điều động và bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Thị Minh Tú - Chánh văn phòng của Sở KH&CN giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn.

Thay mặt lãnh đạo Sở, đồng chí Nguyễn Viết Hùng - Phó Giám đốc Sở KH&CN, trao Quyết định số 228/2017/QĐ-SKH&CN, ngày 28/09/2017 của Giám đốc Sở KH&CN về điều động và bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Thị Minh Tú - Chánh văn phòng Sở, giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Nghệ An.

Phát biểu tại buổi Lễ, đồng chí Nguyễn Viết Hùng ghi nhận đóng góp của đồng chí Nguyễn Thị Minh Tú cho sự phát triển ngành khoa học của tỉnh Nghệ An trong thời gian qua, đồng thời mong rằng với kinh nghiệm làm công tác văn phòng cộng với sự trẻ trung đầy nhiệt huyết và năng động, đồng chí Nguyễn Thị Minh Tú sẽ kết nối sự đoàn kết của tập thể công chức, viên chức Trung tâm làm tốt công tác nghiên cứu khoa học trên lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

Phát biểu nhận nhiệm vụ mới, đồng chí Nguyễn Thị Minh Tú  cảm ơn sự tin tưởng giao nhiệm vụ của lãnh đạo Sở; đồng thời thể hiện sự quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ và mong muốn nhận được sự ủng hộ, tạo điều kiện của lãnh đạo sở,  cấp ủy cũng như cán bộ Trung tâm KHXH&NV Nghệ An cùng phấn đấu để xây dựng Trung tâm ngày càng phát triển.

Cũng tại buổi Lễ, các đồng chí lãnh đạo Sở, lãnh đạo Trung tâm đã tặng hoa chúc mừng tân Giám đốc Trung tâm KHXH&NV. Đồng chí Nguyễn Quốc Hồng - Nguyên Giám đốc Trung tâm bày tỏ sự tin tưởng, kỳ vọng với cương vị mới đồng chí Nguyễn Thị Minh Tú sẽ phát huy được khả năng, giúp Trung tâm không ngừng lớn mạnh.

Đinh Văn Hưng

* Bế mạc Hội thi giảng viên dạy giỏi các trường chính trị tỉnh, thành phố, trường cán bộ các bộ, ngành, đoàn thể Trung ương lần thứ 6  khu vực phía Bắc

Sáng 13/10, tại Trường Chính trị tỉnh Nghệ An, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Lễ bế mạc Hội thi giảng viên dạy giỏi các trường chính trị tỉnh, thành phố, trường cán bộ các bộ, ngành, đoàn thể Trung ương lần thứ 6  khu vực phía Bắc.

Dự Lễ bế mạc có GS, TS Nguyễn Xuân Thắng - Bí thư Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; các PGS.TS Nguyễn Viết Thảo, Lê Quốc Lý - Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; đồng chí: Nguyễn Đắc Vinh - Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh; Hồ Phúc Hợp - Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; Nguyễn Thị Hồng Hoa - Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh, cùng với 64 giảng viên đến từ 33 trường Chính trị và cán bộ.

Hội thi năm nay diễn ra gồm nhiều nội dung mới, đánh giá toàn diện về chất lượng giảng viên. Với ý thức nghề nghiệp và trách nhiệm chính trị, các giảng viên dự thi đã thể hiện được trình độ, bản lĩnh, phát huy cao nhất khả năng, kinh nghiệm chuyên môn, tài năng sư phạm để thực hiện tốt nội dung các phần thi.

Kết quả Hội thi có 61 giảng viên được công nhận giảng viên dạy giỏi, trong đó có 15 giảng viên được công nhận giảng viên dạy giỏi xuất sắc. Về phía tỉnh Nghệ An, có 3 giảng viên Trường Chính trị tỉnh Nghệ An dự thi và 3/3 đều đạt danh hiệu Giảng viên dạy giỏi, trong đó có 2 giảng viên đạt danh hiệu Giảng viên dạy giỏi xuất sắc đó là: Thạc sỹ Phạm Thị Như Quỳnh - Phó Trưởng khoa phụ trách Khoa Dân vận và Thạc sỹ Nguyễn Văn Thành - Trưởng Khoa Lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Huy Khánh

* Kế hoạch phát triển thị trường KH&CN Nghệ An định hướng đến năm 2025.

.    Chiều ngày 16/10, UBND tỉnh tổ chức cuộc họp nghe về Dự thảo "Kế hoạch phát triển thị trường khoa học công nghệ đến năm 2020, định hướng đến năm 2025".

Dự thảo Kế hoạch phát triển thị trường khoa học công nghệ đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 đã nêu các vấn đề: Phát triển thị trường khoa học - công nghệ có vai trò then chốt trong việc tạo môi trường thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; Thực thi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân tham gia thị trường khoa học - công nghệ. Vì vậy, góp ý cho dự thảo, các đại biểu cho rằng trong phần giải pháp dự thảo nên bổ sung giải pháp về thông tin, tuyên truyền; giải pháp về công tác quản lý. Đối với phần tổ chức thực hiện, ngoài các sở, ban, ngành cấp tỉnh nên bổ sung UBND các huyện, thành, thị; các cơ quan thông tấn báo chí trên địa bàn; Đồng thời dự thảo nên đề ra lộ trình thực hiện một cách cụ thể; tăng tỷ lệ doanh nghiệp quan tâm đến đổi mới khoa học và công nghệ.

Kết luận buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Huỳnh Thanh Điền đề nghị Sở Khoa học và Công nghệ tiếp thu ý kiến góp ý tại cuộc họp để sớm ban hành: bổ sung vào nội dung dự thảo; đưa chỉ tiêu cụ thể hơn; cần bổ sung các giải pháp quản lý, truyền thông; kinh phí cần cân đối nguồn ngân sách tỉnh và tranh thủ nguồn từ Trung ương.

                 P.V (theo Đài PT-TH Nghệ An)

* Hội nghị Thông báo Khảo cổ học lần thứ 52

Ngày 28 đến 30 tháng 9 năm 2017, tại thành phố Thanh Hóa, Hội nghị thông báo Khảo cổ học lần thứ 52 đã khai mạc. Đến dự có Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Giang Hải, Viện trưởng Viện Khảo cổ học, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, cùng đông đảo các nhà khoa học trong cả nước đã về dự.

Sau khi khai mạc, Hội nghị chia thành 3 tiểu bang: Lịch sử, tiền sử; tiểu ban Chămpa - óc eo và Khảo cổ học rưới nước.

Hội nghị có 301 bài tham luận đã được đăng tải. Nghệ An đóng góp các bài nghiên cứu bằng chiếc Liễn men ngọc (Lê Đức Anh); Đĩa thời Lê (Nguyễn Tuấn Anh), Âu - Bình tại Thanh Chương (Nguyễn... Dũng; đèn lồng hợp sắc tại Yên Thành (Lê Ngọc Hà); Bước đầu tìm hiểu mộ thuyền (Phan Văn Hùng); 7 bát sứ Hoa Lam (Hoàng Thị Nguyên); Lư hương bằng đất nung và.......vinh quy của TS. Nguyễn Qúy Song (Phan Xuân Thành); Liễn và đĩa đời Trần (Mạnh Nguyên); Chiếc mâm đồng (Đoàn Hường); 3 chiếc gương thời Trần (Thanh Hương); Mũi lao đồng (Hoài Thanh); Bình vôi thời Đường (Nguyễn Thị Thanh); Bình hoa... ở thành phố Vinh (Đặng Bá Trà); về một hang động ở Tân Kỳ (Tiến Dũng); Đền Nhà Bà thờ một người con gái đẹp là vợ ba của Lê Lợi (Phan Thảo)...

Các bài nghiên cứu ở Nghệ An góp thêm vào thành công của Hội nghị Thông báo Khảo cổ học.

Phan Xuân Thành

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.