« Quay lại

Chuyên san Khoa học xã hội &nhân văn số 11 năm 2017

PGS.TS Chương Thâu

 

Những năm đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu, một nhân vật lịch sử của dân tộc Việt Nam, được nhân dân cả nước kính trọng, lịch sử muôn đời tôn vinh. Nguyễn Ái Quốc khi viết về Phan Bội Châu đã đánh giá: "Một bậc anh hùng, một vị thiên sứ được hai mươi triệu đồng bào sống trong vòng nô lệ tôn kính". Tên tuổi và sự nghiệp của Phan Bội Châu không chỉ lừng danh trong nước, mà còn lan rộng khắp thế giới. Nhân kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Phan Bội Châu (26/12/1867 - 26/12/2017), Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An giới thiệu bài viết của PGS.TS Chương Thâu về tình hình nghiên cứu Phan Bội Châu ở nước ngoài từ trước tới nay.

1. Trước hết là tại Nhật Bản, nơi sớm nhất được biết đến tên tuổi Phan Bội Châu mà bước khởi đầu là do trên đường Đông du, Cụ Phan Bội Châu đã được hội kiến, bút đàm với nhà chính khách Trung Quốc nổi tiếng đang cư ngụ tại đây làm "cầu nối" giữa Phan Bội Châu với các chính khách và các nhà đương cục Nhật Bản như Bá tước Đại Ôi Trọng Tín, Tử tước Y Đằng Bác Văn… để cầu mong sự viện trợ của "đất nước đồng văn đồng chủng" này. Tại các cuộc "hội kiến bút đàm", Cụ Phan Bội Châu đã được xưng tụng là "Thư nhân đại khả kính" (Người này thật đáng kính). Rồi từ đó, danh hiệu: Sào Nam tử, Phan Thị Hán, Việt Nam vong quốc tang nhân giả… được lan tỏa trong suốt thời gian Cụ có mặt ở Nhật Bản cũng như ở Trung Quốc và ở nhiều nước khác vào những năm đầu thế kỷ XX.

Theo những tài liệu nghiên cứu đáng tin cậy của các học giả Nhật Bản như:

- Thạc sĩ, nghiên cứu sinh Đại học Kanazawa là Đào Thu Vân ở bài "Những nghiên cứu về Phan Bội Châu và phong trào Đông du" đã được dịch đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 9-2014.

- Bản báo cáo của Giáo sư Shisraishi Masaya tại Viện Sử học ngày 24-12-1991 "Về tình hình nghiên cứu Việt Nam và Phan Bội Châu ở Nhật Bản".

- Bài viết của nhà học giả Torado, chuyên nghiên cứu lịch sử Trung Quốc cận đại "Về sự liên hệ giữa nhóm Phan Bội Châu và nhóm người Trung Quốc có khuynh hướng vô chính phủ ở Nhật Bản" (1998).

    v.v…

Trong những năm 1970, nhóm nghiên cứu Việt Nam thuộc thế hệ thứ hai cũng bắt đầu phát biểu một số bài đăng trên các tạp chí khoa học. Trong số những người này, có 2 tác giả là Sakai Izumi và Shiraishi Masaya:

- Bà Sakai Izumi căn cứ vào những tài liệu của miền Bắc Việt Nam, đánh giá rằng mặc dầu Phan Bội Châu là một người lãnh đạo hoạt động giải phóng dân tộc và đoàn kết dân tộc, nhưng Phan Bội Châu không có quan điểm rõ rệt sâu sắc về chủ nghĩa phản đế và vấn đề liên minh công nông.

- Còn Shiraishi thì cho rằng những sách báo, tài liệu của miền Bắc và sách báo của ở cả miền Nam, cũng như những tài liệu sưu tầm được ở Nhật Bản, những sách báo có liên quan đến Phan Bội Châu và có được từ Hoa kỳ, từ Pháp…, ông đã bắt đầu đi sâu nghiên cứu và lần lượt phát biểu một số luận văn về tư tưởng Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng. Đồng thời, ông cũng cố gắng tìm hiểu kỹ hơn hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị xung quanh những hoạt động của thế hệ Phan Bội Châu…

Những năm cuối 1970 và những năm đầu 1980, Giáo sư Gotokiupei đã viết một cuốn sách phê bình xu hướng chủ nghĩa châu Á của một cuốn sách khác viết về lịch sử quan hệ Nhật - Việt thời cận đại.

Một số người khác cũng tìm ra một số tài liệu quý hiếm về các ông Asaba Sakitaro và Kashiwabara Buntaron là hai người Nhật từng nhiệt tình giúp đỡ Phan Bội Châu và Phong trào Đông du.

Riêng Shiraishi thì tiếp tục phát biểu khoảng hơn 20 bài nghiên cứu liên quan đến Phan Bội Châu và Phong trào Đông du. Căn cứ vào những tài liệu bằng chữ Hán, chữ Việt, Nhật, Pháp và Anh… đã trình bày nhiều phương diện hoạt động của Phan Bội Châu và Phong trào Đông du, gồm có tư tưởng chính trị, nhận định đánh giá Phan Bội Châu và Phong trào Đông du trong lịch sử dân tộc Việt Nam, mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản, thực dân Pháp, sự liên kết giữa Việt Nam, Trung Quốc và những chí sĩ các nước châu Á khác lưu trú và hoạt động tại Nhật Bản hồi đó, v.v… Và tháng 7 năm 1991, ông đã bảo vệ thành công Luận án tiến sĩ quốc gia về Đề tài "Phan Bội Châu và Phong trào Đông du" trên cơ sở tập hợp, bổ sung thêm và khái quát từ những bài đó" (Trích Báo cáo (đã dẫn) ở Viện Sử học ngày 24-12-1991).

Shiraishi sau đó lại trở sang Việt Nam tiếp tục tìm kiếm thêm tài liệu tại Hà Nội, Nghệ An, Huế và thành phố Hồ Chí Minh, tiếp xúc phỏng vấn với các thân nhân Phan Bội Châu và các nhà nghiên cứu Phan Bội Châu nhằm bổ sung, hoàn thiện hơn bản Luận án tiến sĩ, nâng lên thành một cuốn sách khá bề thế để xuất bản tại Tokyo nhân kỷ niệm 125 năm sinh nhà chí sĩ Phan Bội Châu (1992). Cuốn sách này được dịch sang tiếng Việt và được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia in làm 2 tập, dày 490 trang và 524 trang, nhan đề là: Phong trào dân tộc Việt Nam và quan hệ của nó với Nhật Bản và châu Á về cách mạng thế giới, Nguyễn Như Diệm và Trần Sơn dịch, Chương Thâu hiệu đính, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2000.

Cuốn sách đồ sộ của Shiraishi đúng là một "tập đại thành" các công trình đa dạng, phong phú của nhiều tác giả là "nhà Việt Nam học" sáng giá của Nhật Bản đương đại.

Nhưng vấn đề nghiên cứu Phan Bội Châu ở Nhật Bản không dừng lại đây. Trong năm 2005, nhân kỷ niệm 100 năm Phong trào Đông du ở "đất nước Mặt trời mọc", vẫn tiếp tục có nhiều học giả tìm hiểu giới thiệu về Phan Bội Châu. Do vậy mà lại có nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhiều cuộc "họp lớn" của các nhân sĩ trí thức người Việt, người nước ngoài cư trú ở Nhật khai hội, có những tham luận có giá trị khoa học như:

- Tanaka Tsutomo: Vẻ đẹp Đông du Nhật - Việt, bí mật trong lịch sử dân tộc của Việt Nam: Đông du của Phan Bội Châu và Asaba Sakitaro.

- Trần Đức Thanh Phong: Kỳ Ngoại hầu Cường Để và Phong trào Đông du.

- Triết học Trần Đức Giang: Hoạt động của Cụ Phan Bội Châu ở Trung Quốc tiếp thu tư tưởng cách mạng Nhật - Hoa.

- Đỗ Thông Minh: Hoạt động của Phong trào Đông du tại Nhật Bản.

- Chihiro Miyazawa: Hậu Phong trào Đông du: Hoạt động của Cường Để.

- Shiro Moomoki: Phong trào Đông du. Lịch sử châu Á và thế giới.

    v.v….

Cũng ở thời điểm này, còn có các bài phỏng vấn, các phóng sự được loan tin trên sóng phát thanh với đầu đề như "Kỷ niệm 100 năm Phong trào Đông du - Phan Bội Châu (1905-2005)", đánh dấu sự khởi đầu cuộc vận động cứu nước nối cuộc đời 30 năm tranh đấu lẫy lừng của Cụ Phan Bội Châu với những trước tác gồm hàng ngàn trang thơ văn của Cụ. Qua cuộc kỷ niệm này, ta sẽ biết được công cuộc đấu tranh thoát ách thực dân của nhân dân Việt Nam 100 năm trước của một chí sĩ tìm hướng đi cho quê hương và dân tộc.

Gần đây, một nữ Nghiên cứu sinh, Thạc sĩ Đào Thu Vân ở Đại học Kanazawa có bài viết mang tựa đề: "Những nghiên cứu về Phan Bội Châu và Phong trào Đông du ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ XX đến nay (năm 2013)". Bài này đã được dịch sang tiếng Việt đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 9-2014.

Bài luận văn công phu này gồm 3 phần chính: 1. Những tác phẩm của Phan Bội Châu và các chí sĩ Đông du được dịch thuật xuất bản tại Nhật Bản; 2. Những nghiên cứu sớm nhất về Phan Bội Châu và Phong trào Đông du ở Nhật Bản; 3. Những hướng nghiên cứu chính về Phan Bội Châu và Phong trào Đông du ở Nhật Bản từ những năm 1960 đến nay (2013).

* Những tác phẩm của Phan Bội Châu và các chí sĩ Việt Nam đã được dịch in ở Nhật Bản như Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư, Sùng bái giai nhân, Tân Việt Nam, Phan Bội Châu niên biểu, Việt Nam nghĩa liệt sử, v.v… Tác giả Goto Kiupei còn viết thêm bài "Nhật Bản trong lòng Việt Nam", đều là những tài liệu tham khảo có giá trị, chứng tỏ sự quan tâm của giới học giả Nhật Bản dành cho đối tượng nghiên cứu của họ là các nhà chí sĩ Việt Nam mà đứng đầu là Phan Bội Châu và Phong trào Đông du.

Cũng nhờ vậy mà bộ sách "Truyện ký về các chí sĩ tiền bối Đông Nam Á" do KoKuryukai (Hắc Long Hội) biên soạn đã có nhắc đến hoạt động của các chí sĩ Việt Nam trên đất Nhật Bản. Bộ sách này được Bộ Ngoại giao Nhật Bản ấn hành, xuất bản lần đầu năm 1936, tái bản năm 1966 và 1977.  Trong chương 6 của bộ sách, các soạn giả có viết: "An Nam là nước có lịch sử lâu đời. Nhân dân An Nam muốn thoát khỏi sự cai trị của thực dân Pháp, khôi phục lại nền độc lập hoàn toàn, khoảng năm 1902, họ đã khởi xướng phong trào có tổ chức vì độc lập của An Nam. Nhân vật trung tâm của phong trào là Phan Bội Châu, ông đã thành lập Duy Tân hội và đưa gần 200 thanh niên ưu tú của An Nam sang lưu học ở Chấn Võ học hiệu và Đông Á Đồng Văn thư viện, được sự giúp đỡ của Fukishima Yasamara, Kashiwabara Buntaron mãi cho đến sau khi Phong trào Đông du tan rã bởi "Hiệp ước Pháp - Nhật 10-7-1907" vẫn còn có quan hệ tương thân". Đây là tài liệu sớm nhất đề cập đến Phan Bội Châu và Phong trào Đông du, có giá trị nghiên cứu về quan hệ Nhật - Việt đầu thế kỷ XX.

* Những hướng nghiên cứu chính về Phan Bội Châu và Phong trào Đông du từ 1960 đến nay:

+ Năm 1961, tác giả Tanigawa Yoshihiko có bài viết "Chủ nghĩa Dân tộc Việt Nam trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất", tác giả này dùng trực tiếp tài liệu Hán văn như Ngục trung thư, Việt Nam nghĩa liệt sử, Tự truyện của Phan Bội Châu… để giới thiệu 2 nhà cách mạng tiêu biểu Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và phong trào đấu tranh chống Pháp thời đó.

+ Năm 1966, 2 nhà học giả Nagaoki Shingrou và Kawamoto Kunie cho in cuốn sách "Việt Nam vong quốc sử và các tác phẩm khác" được dịch sang tiếng Nhật, có thêm phần nghiên cứu về Phan Bội Châu ở Việt Nam và điểm thêm một số sách của Phan Bội Châu có từ trước, như: Bình Tây thu Bắc, Lưu Cầu huyết lệ tân thư, v.v… Đây là một công trình biên khảo có giá trị nhất "Kỷ niệm 100 năm sinh Phan Bội Châu" rất đáng ghi nhận và biết ơn các soạn giả.

+ Năm 1972, có tác giả Sakri Izumi viết bài "Phong trào chống Pháp ở Việt Nam đầu thế kỷ XX" và nhiều bài nghiên cứu về lịch sử Việt Nam của Giáo sư Shiraishi Masaya như đã kể ở trên.

+ Năm 1989 có Nguyễn Tiến Lực, Nghiên cứu sinh người Việt Nam học tại Đại học         Hiroshima, nghiên cứu Đề tài "Về quan hệ Việt - Nhật thời cận đại" và đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ. Luận án cũng đã dịch ra tiếng Việt và xuất bản tại Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. Luận án này đã góp phần mở ra một hướng mới nghiên cứu lịch sử quan hệ Việt - Nhật, rất đáng trân trọng và đánh giá cao.

Đào Thu Vân sau khi nêu lên ba mục chính của luận văn viết công phu đã đưa ra mấy nhận xét khá chính xác và sắc sảo:

1. Nhật Bản đã có vị trí quan trọng trong việc xuất bản, truyền bá các tác phẩm của Phan Bội Châu về Việt Nam trong thời kỳ Đông du (1905-1909).

2. Tại Nhật Bản, một số công trình, tác phẩm tiêu biểu của Phan Bội Châu và của các chí sĩ Việt Nam được dịch thuật sang tiếng Nhật đã giúp cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về cuộc đời hoạt động của cụ Phan, Phong trào Đông du được tiếp cận dễ dàng hơn.

3. Những cuốn sách viết về Phan Bội Châu, Cường Để và phong trào chống thực dân Pháp của các chí sĩ An Nam được xem là những nghiên cứu sớm nhất và tạo điều kiện cho những nghiên cứu giai đoạn sau.

4. Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ và đạt nhiều thành tựu trong nghiên cứu chủ đề này ở Nhật Bản vào những năm 70 - 90 của thế kỷ XX. Giai đoạn này, nhiều tư liệu gốc ở Nhật liên quan đến Phan Bội Châu và Đông du được các nhà nghiên cứu khai thác tận dụng một cách hiệu quả nhất.

5. Giai đoạn từ sau năm 2000, một số tác giả tiếp tục nghiên cứu mối quan hệ giữa Phan Bội Châu với một số yếu nhân của Nhật Bản cùng với sự giúp đỡ tận tình của họ đối với Phan Bội Châu như Bác sĩ Asaba Sakitaro, những câu chuyện và việc làm cảm động giữa Phan Bội Châu với họ đến bây giờ mới được kể lại đầy đủ làm xúc động lòng người. Ngoài ra, những hoạt động của Cường Để cũng được quan tâm khai thác và công bố công khai.

Như vậy, theo Đào Thu Vân, thông qua lịch sử nghiên cứu trong hơn 100 năm qua, bên cạnh những điểm tích cực như nhiều tư liệu mới bằng tiếng Nhật được công bố, giúp cho việc đánh giá khách quan về phong trào, lý giải cụ thể lý do thay đổi con đường cứu nước của Phan Bội Châu (cuốn sách của Shiraishi về tư tưởng Phan Bội Châu…). Tuy nhiên, những tư liệu về hoạt động Đông du ở bản địa nước Việt Nam có liên quan đến Phong trào Đông Kinh nghĩa thục ở trong và ngoài nước (tức với Nhật Bản) chưa được xem xét nghiên cứu cụ thể.

Chúng tôi hy vọng những khoảng trống trên sẽ được nghiên cứu làm rõ thêm để chứng minh cho mối quan hệ qua lại khăng khít giữa Nhật Bản và Việt Nam ở thời cận đại thông qua hiện tượng Đông du và có thể sẽ là mối quan hệ giữa Đông Du - Đông Kinh nghĩa thục và mô hình Keio Gijuku (Khánh ứng nghĩa thục) trong buổi đầu hình thành, v.v… sẽ được làm rõ hơn.

2. Tại Trung Quốc: Phan Bội Châu hiện diện trên diễn đàn văn chương, lịch sử… là do sự mở đầu việc in ấn cuốn "Việt Nam vong quốc sử" (1905) của Phan Bội Châu được Lương Khải Siêu cho in trên tờ Tân Dân tùng báo với Lời tựa của Ẩm Băng Thất chủ nhân như sau: "Gần đây, ta gặp một người Việt Nam vong mệnh, thường khi nói chuyện với ta ông hay giàn giụa nước mắt! Ta nghĩ nếu không biết tự thương mình mà lại thương người khác, thì có khi người lại thương cho số phận của mình đấy!

Ta đọc sách này chẳng những đã thương mà lại còn sợ nữa!

Tháng 9 năm Ất Tỵ (1905)

Ẩm Băng Thất chủ nhân ký".

Rồi Ẩm Băng Thất chủ nhân còn viết tiếp Lời nói đầu gọi là Tiền lục kể rõ đầu đuôi các cuộc tiếp xúc với Sào Nam tử, được coi là bài Soạn thuật của Lương Khải Siêu. Và sau 4 chương chính của cuốn Việt Nam vong quốc sử, Lương còn cho in thêm một mục gọi là Việt Nam tiểu chí viết khá kỹ về lịch sử Việt Nam (có lẽ vì phần viết của Lương in trong Việt Nam vong quốc sử khá dài, chiếm nhiều số trang của sách, được Quảng Trí thư cục sưu tập nên sau này đã bị xếp lẫn vào các Toàn tập, Chuyên tập của Ẩm Băng Thất chủ nhân Lương Khải Siêu (!) và được in đi in lại nhiều lần ở Trung Quốc, gây nên sự nhầm lẫn tác giả là Phan Bội Châu hay là Lương Khải Siêu?). Từ đó, ở Trung Quốc lục địa và Đài Loan đã có nhiều tác giả viết lịch sử quan hệ Trung - Việt đã đề cập đến vai trò, vị trí của Phan Bội Châu trong đó… Mấy chục năm sau, tại các Học viện Sư phạm và trường Đại học Trung Quốc như ở các tỉnh Quảng Đông, Vân Nam, Quảng Tây, Hồ Nam, Hà Bắc, Bắc Kinh… đều có nghiên cứu giới thiệu Phan Bội Châu và tác phẩm của Phan Bội Châu. Ngay như năm 1906, có một tác giả sau khi đọc Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu đã viết một bài "cảm tưởng" khá dài, trong đó nhấn mạnh:

"Tôi đọc sách này, mới biết mưu kế xâm lược của người Âu và lối đánh thuế nặng nề của các nước châu Âu đại đế đều như thế. Nhưng ở châu Âu đã có nghĩa vụ đóng thuế thì phải được hưởng quyền lợi chính trị. Còn như ở thuộc địa thì chỉ có nghĩa vụ mà không có quyền lợi!"…

"Tôi đọc sách này mà biết được rằng: nước đã mất rồi, lấy lại rất khó. Than ôi! Tôi đọc sách này, trăm nỗi băn khoăn, không thể không vì người Việt mà đau buồn lo sợ! Thế nhưng tôi không phải riêng vì người Việt mà lo sợ. Tôi lại tự lo sợ cho mình hơn là lo cho người Việt..." (theo bản chữ Hán, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu sách: A.56 - Chương Thâu dịch).

Phan Bội Châu khi ở Nhật viết khá nhiều bài, nhiều công trình nghị luận và cả nhiều thơ văn tuyên truyền yêu nước đăng trên các tạp chí của các Hội Điền Quế Việt, Hội Đông Á đồng minh. Mỗi bài báo của Cụ được đăng tải trên Tạp chí Vân Nam hay Tân Dân tùng báo đều được Ban biên tập các báo viết Lời dẫn rất trang trọng. Chẳng hạn như khi đăng tác phẩm Hải Ngoại huyết thư, ông Triệu Trực Trai chủ nhiệm tờ Vân Nam tạp chí đã viết Lời giới thiệu như sau: "Sào Nam tử người nước Việt Nam viết Hải Ngoại huyết thư để nói với người nước ông, lời lẽ bi ai thống thiết, đối với kế mưu khôi phục lại đất nước thật là tường tận rõ ràng. Tôi tuy thương cho cảnh ngộ đó và phục về ý chí của ông, nhưng trộm nghĩ không thể không giận cho các kế đó sao lại không đưa ra sớm hơn. Kế không được ra sớm, nên hơn 20 năm nay đã bóp chết hàng trăm vạn khối óc và máu của hàng chục vạn người đã chảy mà chưa thể làm tổn thất tí nào cho bọn địch. Than ôi! Những ai sắp là Việt Nam mà chưa phải là Việt Nam cũng nên biết lấy đó mà làm gương. Hoặc nói không phải vì thế mà giận Sào Nam, bởi vì thực ra những lời của bậc tiền bối nói với vua thì như vậy, quan thì như vậy, xã hội nói chung là như vậy (vua không biết có dân, nước không biết có dân, dân không biết có nước!) nên đã để lại mối thương tâm đó. Cũng tức là nói, như nay thì theo tôi, tình trạng nước ta cũng có thể lấy đó làm tin".

Thời gian sau này, từ sau năm 2000, ở Trung Quốc vẫn còn có nhiều tác giả viết về Phan Bội Châu, như Giáo sư Lương Chí Minh ở Đại học Bắc Kinh, năm 1994 có viết một luận văn nghiên cứu nhận định đánh giá so sánh Phan Bội Châu với Phan Châu Trinh. Tiếp theo đó, tại Trịnh Châu, Giáo sư Đới Khá Lai cũng có bài và sách nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam, có đề cập tương đối kỹ về nhà chí sĩ Phan Bội Châu.

Trước đó, vào năm 1981, tại Đại học Ký Nam Quảng Châu, học giả Từ Thiện Phước cũng có một luận văn dài viết về Phan Bội Châu đăng trên tờ Học Báo của Đại học Ký Nam số 3 và 4-1981.

Như vậy là hình ảnh Phan Bội Châu - Con người, cuộc đời và sự nghiệp cứu nước của Cụ đã được quảng bá rộng rãi ở Trung Quốc lục địa và Đài Loan không kém gì ở đất nước Nhật Bản. Chúng ta vô cùng trân trọng những tình cảm quý giá đó của các học giả Trung Quốc đã có công sưu tầm thêm một số tư liệu quý hiếm liên quan đến Phan Bội Châu có ở các Thư khố, Thư viện của Trung Quốc đã cung cấp cho chúng ta tham khảo thêm về sự nghiệp của Cụ được phong phú đầy đủ hơn.

 

Th.S Hồng Bắc

 

Cây cam Nghệ An được hình thành từ rất sớm tại vùng Xã Đoài (thuộc 2 huyện Hưng Nguyên và Nghi Lộc) và vùng Phủ Quỳ (thuộc 3 huyện Tân Kỳ, Nghĩa Đàn và Quỳ Hợp), đây là những vùng đất có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đặc trưng, phù hợp để trồng các giống cam và tạo nên đặc sản nức tiếng gần xa. So với các loại cây trồng khác, cây cam  có những bước phát triển thăng trầm.  Nhưng có thể nói đỉnh cao phát triển nhất của cây cam là vào thập niên 1980-1990 của thế kỷ XX. Từ thập niên  80, cam Vinh đã là một trong những mặt hàng được xuất khẩu sang Liên Xô và các nước Đông Âu. Chỉ riêng cây cam Vinh, nơi đây đã một thời làm nên tên tuổi cho ngành rau quả miền Bắc. Năm 1989, trong tổng sản lượng cam quả 8.112 tấn của cả Tổng Công ty rau quả Việt Nam thì Phủ Quỳ đã có 6.449 tấn cam Vinh, được coi là đỉnh cao về cam quả thời quốc doanh. Tuy vậy, từ những năm cuối của thập kỷ 90, sau khi dừng hạn ngạch xuất khẩu sang Liên Xô, cây cam Vinh đã gặp rất nhiều khó khăn để tìm thị trường trong nước cũng như thị trường xuất khẩu sang các nước khác. Nhiều nông trường, hộ gia đình nhận khoán gặp khó khăn đã tìm hướng chuyển đổi kinh tế sang trồng các loại cây khác nhưng vẫn không mấy hiệu quả. Vượt qua nhiều thăng trầm, giai đoạn chuyển đổi, cây cam vẫn là sản phẩm mang lại giá trị và hiệu quả kinh tế lớn nhất cho đến nay.

"Cam Vinh" vốn là tên gọi dân gian để chỉ cam có xuất xứ từ vùng Phủ Quỳ, Nghệ An những năm 1960, 1970. Năm 2007, cam Vinh được chứng nhận Chỉ dẫn địa lý "Vinh" dùng cho sản phẩm cam quả được ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc gia về chỉ dẫn địa lý: Số đăng ký 000012 theo Quyết định số 386/QĐ- SHTT ngày 31/5/2007 của Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ. Và đến ngày 17/11/2010,  UBND tỉnh Nghệ An long trọng tổ chức đón nhận Văn bằng tại Công ty Nông nghiệp Xuân Thành huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An với quy mô diện tích 1.681,48 ha. Theo đó, những vùng trồng cam Vinh nằm trong vùng chỉ dẫn địa lý với 1681.48 ha, bao gồm 12 xã/ 5 huyện có đất, cụ thể: Tại huyện Nghi Lộc gồm: Xã Nghi Hoa có 0,76 ha trồng giống cam Xã Đoài 1, xã Nghi Diên có 1,3 ha trồng cam Xã Đoài 1; tại huyện Hưng Nguyên: xã Hưng Trung có 19,1 ha trồng cam Xã Đoài 1; Tại huyện Nghĩa Đàn có: xã Nghĩa Sơn có 513,5 ha trồng các giống cam Xã Đoài 2, Vân Du và Sông Con, xã Nghĩa Lâm có 141,5 ha trồng các giống cam Xã Đoài 2, Vân Du và Sông Con, xã Nghĩa Bình có 68,18 ha trồng các giống cam Xã Đoài 2, Vân Du và Sông Con, xã Nghĩa Hồng có 38,27 ha trồng các giống cam Xã Đoài 2, Vân Du và Sông Con, xã Nghĩa Hiếu có 186,4 ha trồng các giống cam Xã Đoài 2, Vân Du và Sông Con; Tại huyện Quỳ Hợp có: xã Minh Hợp có 534,81 ha trồng các giống cam Xã Đoài 2, Vân Du và Sông Con; tại huyện Tân Kỳ có: Xã Tân Phú có 77,2 ha trồng các giống cam Xã Đoài 2, Vân Du và Sông Con, xã Tân Long có 46,1 ha trồng các giống cam Xã Đoài 2, Vân Du và Sông Con, và xã Tân An có 54,52 ha trồng các giống cam Xã Đoài 2, Vân Du và Sông Con.

Cam Vinh thuộc chi cam chanh, quả tròn đều, nhỏ, nhiều nước, ít hạt, màu xanh vàng đều, vỏ mỏng, thường bị nám, thơm có vị ngọt thanh, đậm đà. Màu vàng của cam Vinh là màu vàng tươi chanh pha với màu xanh, chứ không phải màu vàng da cam. Kể cả phần tép cam cũng vàng nhẹ chứ không phải màu vàng cam. Sau khi được cấp bằng chỉ dẫn địa lý cho đến nay, diện tích trồng cam ở Nghệ An tăng rất nhanh, đồng thời có thêm một số giống cam mới cho năng suất và chất lượng cao, tuy nhiên chỉ có 3 giống cam thuộc chỉ dẫn địa lý cam Vinh là cam Xã Đoài, cam Vân Du và cam Sông Con.

Cam Xã Đoài có 2 giống phổ biến: giống cam hình quả nhót (gọi là cam lot), và giống cam hình quả bầu (gọi là cam bầu). Vỏ giống cam này có màu vàng đỏ rồi đỏ sậm, thường dày, có thể bóc tay vì có độ giòn và mùi thơm thoang thoảng dễ chịu. Cam Xã Đoài khi hái đến lúc rụng cuống, lá chỉ được tối đa 2 ngày và lúc mới hái quả cam còn cứng và mềm sau ít ngày. Khi cam càng chín thì quả cam lại càng ngọt, càng thơm, lúc ăn để lại vị ngọt trong miệng rất lâu. Cam Xã Đoài bổ ra có màu vàng óng, ăn giòn có vị ngọt dịu của quả, có mùi thơm lạ của hoa, nhiều hạt, xơ bã khi nước dính trên tay để lại sự kết dính đặc biệt. Cam Xã Đoài là một giống chịu hạn tốt, phát triển được trên đất xấu, đất cát pha ven biển. Giống có thể thích nghi rộng cho nên đang được trồng ở nhiều nơi trong nước.

Cam Vân Du: là giống cam chủ lực trong nước, được nhập từ những năm 40. Cây phân cành khỏe, tán hình trụ, cành dày, có gai. Lá hơi thuôn, màu xanh đậm, eo lá hơi to. Quả hình tròn hay ô van, vỏ dày, mọng  n­ước, giòn (hơi dai hơn cam Xã Đoài), ngọt, nhiều hạt. Giống cam này cho năng suất khá cao, chống chịu tốt với một số sâu bệnh, khả năng chịu hạn, thích nghi với môi trường tốt, đư­ợc trồng phổ biến nhất. Cam Vân Du khi bổ ra nước cam có độ trơn nhớt, không dính tay sau khi khô (so với cam Xã Đoài).

Cam Sông Con: Mang tên con sông vùng xứ Nghệ, giống cam này đ­ược tạo ra bằng phư­ơng pháp chọn lọc từ một giống nhập nội. Có thể là do dạng đột biến mầm của Cam Washington Navel. Cây sinh trư­ởng khỏe, tán hình cầu, phân cành nhiều, cành ngắn và tập trung. Giống cam này có lá bầu, gân phía lưng nổi rõ, hoa màu xanh bóng, có phản quang, hoa bất dục đực 50%. Khối lượng quả trung bình đạt 200-220g, hình cầu, mọng    nư­ớc, vỏ quả mỏng, ít hạt, ngọt đậm và thơm. Cây ghép sau 3 năm cho quả, sau 4 năm có thể đư­a vào kinh doanh khai thác. Cây chiết hoặc cây từ giâm cành sau 3 năm cho quả. Giống cam Sông Con cho năng suất trung bình, có khả năng chống chịu được một số sâu bệnh và có tính thích ứng rộng nên đã   đư­ợc trồng ở nhiều vùng như­ trung du, đồi núi, ven biển và vùng đồng bằng. Cam Sông Con được trồng phổ biến khắp các vùng trong cả n­ước.

Người dân sản xuất và kinh doanh cam ở đây thực hiện nghiêm túc quy trình kỹ thuật sản xuất, thu hoạch và bảo quản cam đã được Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ký ban hành tại Quyết định số 703/QĐ-SNN, ngày 10/11/2008. Trong chuỗi các giải pháp kỹ thuật được quy định, theo các chuyên gia về nông hóa thổ nhưỡng, giải pháp duy trì ổn định độ phì của đất, thường xuyên kiểm tra, bổ sung các yếu tố đa, vi lượng cho đất vùng chỉ dẫn địa lý là giải pháp quan trọng hàng đầu. Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh là "bà đỡ" quan trọng giúp cho người sản xuất cam tiếp cận, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ trong sản xuất, thu hái, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm cam. Các cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, cơ quan giám sát chất lượng cam Vinh - giúp người sản xuất và các tổ chức dịch vụ tiêu thụ cam Vinh, đấu tranh chống hàng giả, hàng nhái, lạm dụng tem, nhãn, logo, bao bì là các yếu tố nhận diện cam Vinh trên thị trường.

Với những thay đổi và cải biến đáng kể đó, cùng với sự phát triển về nhận thức cũng như khả năng thu nhập của người tiêu dùng tăng lên, giá cam đã được nâng lên đáng kể, đem lại đời sống sung túc cho nhiều hộ nông dân và công nhân nhận khoán đất trồng cam. Chỉ sau vài năm sau khi đón nhận bảo hộ chỉ dẫn địa lý và thương hiệu cam Vinh, giá cam từ 4-5 ngàn đồng/kg đã tăng lên 30-35 ngàn đồng/kg; có những năm lên đến 50-60 ngàn đồng/kg, vào dịp tết Nguyên đán đã tăng lên 70-80 ngàn đồng/kg, cá biệt lên đến 100-120 ngàn đồng/kg. Cam Vinh cùng với chất lượng tốt và đảm bảo đã được khách hàng gần xa biết tới, tìm đến tận nơi để thu mua. Cam Vinh đã bắt đầu chinh phục được các thị trường cao cấp, khó tính tại các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh,… Cam Vinh cũng đã vinh dự được tôn vinh đạt tốp 100 thương hiệu nhãn hiệu nổi tiếng năm 2013, đạt thương hiệu người tiêu dùng tin dùng năm 2014, sản phẩm vàng nông nghiệp Việt Nam năm 2015.

Từ giá trị của cây cam, từ giá trị của Chỉ dẫn địa lý, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh ủy, UBND tỉnh đã có nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển cây cam như: trợ giá cây con giống, hỗ trợ khâu làm đất, hỗ trợ các công trình thủy lợi vừa và nhỏ, hỗ trợ các mô hình khuyến nông,… nên diện tích trồng cam ngày càng được mở rộng và thu nhận thêm nhiều hội viên trồng cam.

Song song với các chính sách hỗ trợ của tỉnh, các công ty, Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh đã năng động liên kết, đối ngoại với các viện, cục, các trung tâm ứng dụng KHKT cây có múi từ trung ương đến tỉnh để tổ chức nhiều buổi tập huấn, chuyển giao nhiều tiến bộ KHKT đặc biệt áp dụng thêm nhiều giống mới để rải vụ; đồng thời áp dụng các mô hình tưới nhỏ giọt, tưới giàn phun… và sử dụng nhiều loại phân hữu cơ sinh học để nâng cao năng suất sản lượng và không ngừng cải tiến chất lượng, an toàn thực phẩm đối với cây cam.

Thấy được hiệu quả kinh tế cao từ cây cam, nhân dân nhiều địa phương khác, không chỉ nằm trong giới hạn Chỉ dẫn địa lý cam Vinh mà đã mở rộng ra nhiều huyện, xã khác. Theo thống kê năm 2016, toàn tỉnh Nghệ An hiện có trên 4.000 ha cam, sản lượng cam hàng năm ước đạt 60 nghìn tấn. Các cơ quan quản lý dự kiến đến năm 2020, tổng diện tích cam của tỉnh có thể đạt trên 6.000ha.

Sản lượng cam ngày càng tăng, tuy nhiên các hộ dân nhận khoán đất cũng như các hộ nông dân trồng cam chủ yếu vẫn tiêu thụ thông qua các kênh nhỏ lẻ. Đến mùa cam, tư thương đến tận vườn cam để thu mua, vận chuyển xuống thành phố Vinh và các thành phố khác để tiêu thụ. Những năm được mùa, sản lượng lớn, người trồng cam lại chịu cảnh tư thương ép giá. Các doanh nghiệp nhà nước giao khoán đất hiện nay cũng mới chỉ tiêu thụ sản phẩm cho các hộ khoảng 10% (khoảng 500 tấn/năm); bao bì, nhãn mác thương hiệu cam Vinh vẫn hết sức đơn giản, thủ công; đại bộ phận cam Vinh đang được bán trên thị trường không hề có nhãn hiệu, hoặc mang nhãn hiệu do chủ vườn tự đặt (mới có 5%). Chính vì chưa thực thi chỉ dẫn địa lý trên thực tế nên không những thương hiệu cam Vinh chưa được quản lý, quảng bá và phát triển tốt, mà việc xử lý những hành vi xâm phạm đến chỉ dẫn địa lý cam Vinh cũng chưa được thực hiện. Hậu quả là một tài sản quốc gia, một đặc sản quý, có tiềm năng thương mại lớn, có thể trở thành một sản phẩm hàng hóa chủ lực của Nghệ An, vẫn phát triển chủ yếu trong tình trạng tự phát. Cũng đã có nhiều hộ gia đình, nhóm hộ hợp sức cùng nhau lập ra doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác để cùng nỗ lực sản xuất và kinh doanh, tạo chỗ đứng trên thị trường. Tuy nhiên hầu hết đều mang tính chất nhỏ lẻ, mạnh ai nấy làm, chưa có sự tập trung, nhất quán và tạo được sức mạnh tập thể của những đơn vị kinh doanh cùng ngành. Công tác bảo quản, chế biến chưa được chú trọng và triển khai. Bên cạnh đó, sự bất cập về quy hoạch và sự kiểm soát về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm vẫn còn nhiều vấn đề cần có sự quan tâm, vào cuộc của các cơ quan quản lý nhà nước.

Từ thực tế nêu trên, tỉnh Nghệ An hiện đã quy hoạch phát triển cây có múi đến năm 2020, trong đó quản lý, quảng bá và phát triển chỉ dẫn địa lý cam Vinh cũng được coi là một giải pháp quan trọng. Theo báo cáo của Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An, vụ cam năm 2017, thực hiện chính sách hỗ trợ của UBND tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An sẽ tiến hành cấp 550 nghìn tem điện tử cho 5 đơn vị đủ điều kiện, tương đương với khoảng 5 ha cam, 550.000 quả cam. Ngoài ra, Sở sẽ cấp 5 máy in tem cho 5 đơn vị sản xuất cam. Theo đó, việc in tem do Sở Khoa học và Công nghệ quản lý, các cơ sở đủ điều kiện in tem chỉ được in số lượng theo đăng ký với Sở Khoa học và Công nghệ.

Bên cạnh đó, để nâng cao chuỗi giá trị của cam Vinh trong sự cạnh tranh gay gắt của nhiều sản phẩm cam hiện nay (đặc biệt là sự trà trộn của cam Trung Quốc), quan trọng nhất là chất lượng sản phẩm, do vậy cần có cơ quan chuyên môn quản lý tốt khâu giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, bởi hiện nay cam kém chất lượng tại các địa phương khá nhiều. UBND tỉnh cũng đã giao nhiệm vụ cho Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Công thương và các huyện cần vào cuộc tích cực với doanh nghiệp, hợp tác xã, người trồng cam để tiếp tục ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống, tưới, quy trình kỹ thuật chăm, bón, áp dụng mô hình VietGap để đảm bảo và nâng cao năng suất, chất lượng, chuỗi giá trị gia tăng của quả cam. Công tác bảo quản sau thu hoạch và các sản phẩm được hình thành từ quả cam cần được chú trọng; in mẫu mã tem, nhãn hàng hóa cho cam theo hướng dễ hiểu, dễ truy xuất nguồn gốc sản xuất.

Cây cam vốn đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng rất khắt khe về điều kiện đất đai, khí hậu, yêu cầu kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh. Chính vì vậy, cùng với xây dựng nhãn hiệu, quảng bá sản phẩm thì việc quản lý chặt chẽ quy hoạch cây cam cũng góp phần bảo vệ, nâng cao giá trị thương hiệu. 

Hiện nay, UBND tỉnh Nghệ An đã thành lập Ban chỉ đạo khai thác, phát triển chỉ dẫn địa lý cam "Vinh", từ đó tích cực triển khai các giải pháp về nâng cao năng suất, chất lượng cam cũng như các giải pháp xây dựng, quảng bá, phát triển và quản lý thương hiệu. Năm 2017, chính thức dán tem truy xuất nguồn gốc cho cam.

Sở Khoa học và Công nghệ và các ngành phối hợp để tham mưu cho UBND tỉnh điều chỉnh một số chính sách khuyến khích phát triển cây cam, kiện toàn Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh, mở rộng vùng chỉ dẫn địa lý cam Vinh. Ngành nông nghiệp sẽ phối hợp với các huyện, thị để khảo sát cụ thể hơn, đề xuất điều chỉnh quy hoạch trồng cam cho phù hợp với thực tế phát triển.

Tỉnh cũng khuyến khích và có cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất và kinh doanh cam sử dụng logo, tem truy xuất nguồn gốc. Đồng thời khuyến cáo người tiêu dùng khi mua sản phẩm cam Vinh nên mua các sản phẩm đã được gắn logo và được bán tại các địa điểm uy tín. 

Tin tưởng rằng với sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh Nghệ An, của các sở ban ngành cấp tỉnh, huyện; sự nỗ lực của Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh, của các hội viên trong thời gian qua và sắp tới, thương hiệu cam Vinh sẽ ngày càng được nâng tầm cao hơn.

LTS: Ngày 9/11, thực hiện Quyết định số 65/2017/QĐ-UBND ngày 19 tháng 10 năm 2017 của  UBND tỉnh, Sở Khoa học & Công nghệ Nghệ An tổ chức dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân sản xuất cam Vinh trên địa bàn huyện Quỳ Hợp, mở đầu cho chương trình dán tem truy xuất nguồn gốc cho toàn vùng sản xuất cam Vinh trong Bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Đây được xem là cơ hội mới để Nghệ An nâng cao hơn nữa giá trị thương hiệu cam Vinh, tạo niềm tin đối với người tiêu dùng.

Xung quanh sự kiện này, Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn trao đổi với một số nhà quản lý, nhà khoa học, tổ chức, đơn vị sản xuất cam Vinh. Xin lược đăng! 

         

 

1.     Nguyễn Giang Hoài - Chủ tịch Hội sản xuất và kinh doanh cam Vinh

Nếu giá cả không chênh lệch nhiều, chắc chắn người tiêu dùng sẽ lựa chợn sản phẩm cam Vinh có dán tem truy xuất nguồn gốc

Thực ra đối với người tiêu dùng, mỗi một sản phẩm hàng hóa, kể cả nông sản, vấn đề xác định nguồn gốc của sản phẩm là một trong những yếu tố quan trọng, để người tiêu dùng yên tâm sử dụng. Riêng đối với cam quả của tỉnh, thì việc dán tem truy xuất nguồn gốc là rất cần thiết, tạo lòng tin và giúp cho khách hàng, kiểm soát được xuất xứ của hàng hóa đến từng nhà vườn và ngược lại yêu cầu nhà vườn, người sản xuất phải cũng phải có trách nhiệm đối với sản phẩm của chính mình, đó là quan hệ hữu cơ rất quan trọng.

Ở nước ngoài, đặc biệt các nước nông nghiệp phát triển thì vấn đề dán tem truy xuất nguồn gốc, kiểm soát xuất xứ của nông sản được áp dụng từ lâu. Trong thời gian tới, quan điểm của các đồng chí lãnh đạo tỉnh nói chung và Hội sản xuất và kinh doanh cam vinh nói riêng sẽ tiến hành dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc toàn bộ diện tích hơn 1.500 hecta mang chỉ dẫn địa lý và bảo hộ thương hiệu cam Vinh trên toàn tỉnh. Tuy nhiên để được dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc không phải đơn giản, tất cả đều phải qua hội đồng gồm Chi cục Đo lường chất lượng thuộc Sở Khoa học công nghệ Nghệ An, Chi cục quản lý chất lượng nông lâm thủy sản của sở Nông nghiệp, phòng quản lý chất lượng sở nông nghiệp, đến khảo sát từng lô, vườn, lấy mẫu phân tích, kiểm tra quy trình canh tác; đồng thời phải đủ điều kiện được cấp giấy an toàn vệ sinh thực phẩm, khi đó mới được dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc.

Chắc chắn rằng nếu giá cả không chênh lệch nhiều, người tiêu dùng sẽ chọn sản phẩm dán tem truy xuất nguồn gốc và quan điểm của tỉnh, của hội là dán tem 100% sản phẩm cam Vinh.

 

2. Ông Hoàng Minh - GĐ Cty TNHH MTV Nông nghiệp Xuân Thành, Qùy Hợp

Công ty sẽ triển khai dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc cam Vinh cho những diện tích cam đảm bảo đúng tiêu chuẩn

Trong 5 huyện mang Chỉ dẫn địa lý bảo hộ thương hiệu, thì Qùy Hợp nói chung và công ty TNHH MTV Nông nghiệp Xuân Thành nói riêng chiếm diện tích lớn nhất. Đây được xem là "thủ phủ" của "Cam Vinh". Trong hơn 1.500 hecta cam Vinh thì Qùy Hợp chiếm ½  diện tích, 750 héc ta. Vừa qua, Hội đồng thẩm định thuộc đơn vị Sở Khoa học Công nghệ và Sở Nông nghiệp Nghệ An đã có nhiều chuyến khảo sát và chọn 5 đơn vị thuộc vùng Công ty Xuân Thành - Qùy Hợp để tiến hành thí điểm "tiên phong" việc dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc. Có thể nói việc dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc cam Vinh là một việc làm rất cần thiết trong thời buổi vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, cam Trung Quốc giả nhãn hiệu Cam Vinh đang tràn ngập thị trường như hiện nay. Có thể nói là chưa triển khai được một cách đồng loạt, mà mới chỉ triển khai theo cách chắc chắn cho những diện tích cam đảm bảo đúng theo tiêu chuẩn. Và phải khẳng định rằng, sản phẩm được dán tem là sản phẩm chính hiệu.

Trong lộ trình sắp tới, chúng tôi sẽ tiến hành dán tem 100% diện tích nằm trong vùng Bảo hộ chỉ dẫn địa lý.

 

3. Ông Dương Đình Tấn - xóm Minh Chùa, xã Minh Hợp, Quỳ Hợp

Sau khi dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc, người tiêu dùng tin tưởng sản phẩm cam Vinh của chúng tôi hơn

Trước đây chưa có tem truy xuất nguồn gốc thì giá bán không cao lắm, còn bây giờ đã xây dựng được thương hiệu VietGap về an toàn thực phẩm thì giá bán chênh nhau đến 10 ngàn/kg. Cụ thể, năm trước đưa ra Hà Nội chỉ 40 ngàn, năm nay dán tem truy xuất nguồn gốc, chất lượng đảm bảo giá bán lên đến 50 ngàn/kg.

Việc dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc có ý nghĩa rất lớn đối với người công nhân trồng cam như chúng tôi. Trước đây, do cam Vinh thật, giả ngoài thị trường quá nhiều nên có những thời điểm giá cam tại vườn không được giá, các thương lái ép giá... Tuy nhiên, khi có chủ trương thẩm định để dán tem truy xuất thì chúng tôi rất yên tâm và cũng rất mừng là HTX Tấn Thanh chúng tôi là một trong những đơn vị đủ điều kiện cấp, dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc sản phẩm Cam Vinh.

 

4. Bà Thái Thị Hồng Liên - Trưởng Phòng Quản lý tiêu chuẩn chất lượng, Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Nghệ An

Số lượng tem truy xuất nguồn gốc được kiểm soát và cấp theo số lượng đăng ký trước của đơn vị sản xuất và kinh doanh cam

Theo Quyết định số 65/2017/QĐ-UBND ngày 19 tháng 10 năm 2017 của UBND tỉnh Nghệ An, cấp quản lý chịu trách nhiệm về mã nguồn gốc của tem chính là Chi cục TCĐLCL Nghệ An.

 Chi cục là đơn vị sẽ thực hiện việc kiểm soát thông tin và cấp mã cho các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh cam Vinh. Số lượng tem doanh nghiệp cần in thì sẽ được Chi cục quản lý và nắm số lượng tem phát ra. Bởi vì hàng năm các doanh nghiệp đăng ký với Chi cục TCĐL về sản lượng cam đối với từng giống cam một. Chi cục sẽ có mã ID cấp cho từng tổ chức, cá nhân; còn khi phát lệnh in tem truy xuất thì cơ quan quản lý sẽ quản lý được số lượng tem in phát ra là bao nhiêu và sau việc dán tem truy xuất nguồn gốc này thì sẽ có các cơ quan thanh tra, kiểm tra thực hiện việc kiểm tra đối với các hộ, tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm cam đó.

Vừa rồi đại diện Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh cũng đi dự Hội nghị Apec tại Đà Nẵng một số du khách trong nước cũng như nước ngoài có hỏi tại sao lại không dùng tem dán một lần, tức là dán tem vỡ, nhưng vì giá thành của tem vỡ này lại cao gấp đôi so với tem không vỡ nên việc dán tem một lần sẽ khiến giá thành của sản phẩm đội lên, ảnh hưởng đến việc bán ra của người sản xuất.

Tuy nhiên, mặc dù hiện nay chúng ta sử dụng tem không vỡ nhưng nếu các tổ chức, đơn vị, cá nhân sản xuất cam Vinh nếu có yêu cầu sử dụng tem vỡ thì vẫn có thể thực hiện được. Việc người tiêu dùng truy xuất nguồn gốc sản phẩm thông qua tem điện tử rất dễ dàng, có thể sử dụng điện thoại thông minh có các ứng dụng phần mềm Zalo, trên facebook… để có thể đọc được bằng cách chụp vào tem truy xuất nguồn gốc, nó sẽ cho ra tất cả các thông tin. Thứ nhất là thông tin trên tem truy xuất nguồn gốc đó, ví dụ như thông tin về đặc sản cam Xã Đoài của Nghệ An, thông tin về sản phẩm, thông tin về nhà sản xuất, thông tin các nhà đại diện, phân phối đều thể hiện các thông tin được quy định tại điều 13, quyết định số 65 ngày 19/10/2017 về Quy chế quản lý và sử dụng chỉ dẫn địa lý cam Vinh trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

 

6. Ông Nguyễn Viết Hùng - Phó GĐ Sở Khoa học & Công nghệ Nghệ An

Sở Khoa học & Công nghệ Nghệ An sẽ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng Chỉ dẫn địa lý cam Vinh

        Việc sử dụng tem truy xuất nguồn gốc có ý nghiã hết sức quan trọng giúp cho người sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng và cơ quan chức năng có thể truy tìm được quá trình hình thành và lưu thông của sản phẩm và đặc biệt trong điều kiện hiện nay truy xuất nguồn gốc đối với các sản phẩm nông sản, thực phẩm như rau, củ, quả, thịt, cá,...

        Sở KH&CN sẽ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng chỉ dẫn địa lý cam "Vinh" cho sản phẩm cam quả của tỉnh nghệ An, trong đó có quy định cụ thể về quản lý việc cấp mã, phôi và tem truy xuất nguồn gốc, sử dụng tem truy xuất nguồn gốc; thông tin bắt buộc thể hiện trên tem truy xuất nguồn gốc và các thông tin khuyến khích để nhằm giới thiệu quảng bá về đặc sản cam Vinh, về văn hóa, con người xứ nghệ, các danh lam thắng cảnh, các điểm du lịch,…

Để triển khai nhiệm vụ, Sở Khoa học & Công nghệ sẽ tiến hành:

        - Chỉ đạo Đại hội Hội sản xuất, kinh doanh cam "Vinh", xúc tiến thành lập các Chi hội cam tại các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp; 

        - Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND cấp huyện, Hội sản xuất kinh doanh cam Vinh tiến hành cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý "Vinh" cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh cam "Vinh";  

        - Lựa chọn giải pháp phần mềm truy xuất nguồn gốc dùng cho cam quả mang chỉ dẫn địa lý "Vinh";

        - Lựa chọn một số mô hình doanh nghiệp, hợp tác xã thí điểm để dán tem truy xuất nguồn gốc chỉ dẫn địa lý "Vinh" lên sản phẩm cam quả.

        - Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết qủa thực hiện việc dán tem truy xuất nguồn gốc đối với cam quả mang chỉ dẫn địa lý "Vinh"

        - Tổ chức hội nghị tổng kết đánh giá và đề xuất các giải pháp phát triển việc dán tem truy xuất nguồn gốc đối với các sản phẩm cam quả và các sản phẩm nông sản, thực phẩm ở trên địa bàn tỉnh, chú trọng đối với các sản phẩm đặc sản, truyền thống của địa phương đã được bảo hộ thương hiệu.

        Đối với sản phẩm cam quả mang chỉ dẫn địa lý "Vinh" yêu cầu trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường phải dán tem truy xuất nguồn gốc trên từng quả cam và trên bao bì chứa đựng cam quả. Vì vậy người tiêu dùng sẽ nhận biết được bằng mắt thường hoặc sử dụng thiết bị điện thoại thông minh (Smartphone) có cài đặt ứng dụng phần mềm quét mã QR để đọc các thông tin truy xuất nguồn gốc của sản phẩm đó (thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm được mã hóa dưới dạng QR code).

 Thời hạn của tem truy xuất nguồn gốc:  

Tem truy xuất nguồn gốc được cấp sử dụng cho từng giống cam, từng mùa vụ, từng cơ sở sản xuất, kinh doanh cam và có thời hạn sử dụng nhất định. Thời hạn sử dụng tem truy xuất nguồn gốc được tính từ khi bắt đầu thu hoạch cam cho đến hết hạn sử dụng của cam quả. Trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm quy định về sử dụng tem truy xuất nguồn gốc Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng sẽ khóa mã tem truy xuất nguồn gốc.    

         

 

LTS: Huyện Lạc Dương tỉnh Lâm Đồng là huyện có xuất phát điểm thấp, tỷ lệ đồng bào DTTS chiếm gần 75% dân số toàn huyện, kinh tế xã hội phát triển chậm. Tuy nhiên, sau 15 năm đầu tư cho phát triển nông nghiệp CNC thì trên địa bàn huyện Lạc Dương hiện đã có trên 600 ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, có 80 doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp CNC, giá trị ước đạt 200triệu/1ha/năm, đứng thứ hai toàn tỉnh sau thành phố Đà Lạt 330triệu/1ha/năm.

Nhân chuyến làm việc của Đoàn lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng với tỉnh Nghệ An, Chuyên san KHXH&NV Nghệ An đã có cuộc phỏng vấn ông Sử Thanh Hoài - Phó Chủ tịch UBND huyện Lạc Dương về những kết quả đạt được của huyện trong ứng dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp, cùng như chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ Nghệ An trong ứng dụng công nghệ cao phát triển nông nghiệp.

*   *   *

 

P.V: Xin chào ông, ông có thể cho biết Lạc Dương đã thay đổi, khởi sắc như thế nào sau khi huyện có chính sách tập trung đầu tư cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao?

Ông Sử Thanh Hoài: Trong những năm qua, huyện Lạc Dương thực sự đã khởi sắc nhờ ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp:

Doanh thu bình quân đạt 200triệu đồng/ ha/năm đối với sản xuất nông nghiệp chung trên địa bàn, trong đó có đơn vị sản xuất cao nhất là 5 tỷ/ha/ năm và trên 5 tỷ/ha/năm.

Doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp CNC ở Đà Lạt hiện đang tập trung mở rộng sản xuất ở Lạc Dương vì huyện có thuận lợi: gần Đà Lạt, cùng độ cao, khí hậu và chất đất. Diện tích đất nông nghiệp ứng dụng CNC của huyện Lạc Dương năm nay khoảng 2000ha, tốc độ trồng hoa màu tăng rất nhanh đạt 45%.

Các doanh nghiệp nước ngoài như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Liên bang Nga, Úc… đã đầu tư vào Lạc Dương rất hài lòng với kết quả đạt được và mong muốn mở rộng thêm diện tích.

Huyện Lạc Dương đặc biệt chú trọng mô hình sản xuất nhà kính, hiệu quả sản xuất từ mô hình này rất cao, từ 1 tỷ/ha/năm đến 20 tỷ/ha/năm, cao nhất có khi đến 1 triệu USD/ha/năm của Tập đoàn Vingroup đầu tư. Bà con nông dân cũng đã bắt đầu làm quen và đầu tư vào xây dựng nhà kính, nhờ đó mà doanh thu của bà con cũng không ngừng được nâng lên.

Ngoài ra, chúng tôi còn kết hợp xây dựng mô hình du lịch canh nông theo chương trình hợp tác với tỉnh Zaika, Nhật Bản. Trong năm 2017, chúng tôi đón khoảng 1,4 triệu lượt khách du lịch tham quan, trải nghiệm mô hình du lịch mới mẻ và thú vị này.

P.V: Như ông cho biết thì kết quả đạt được của huyện Lạc Dương trong ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao rất tốt, vậy theo ông, Nghệ An có đủ điều kiện cũng như tiềm năng để có thể ứng dụng thành công công nghệ cao vào phát triển nông nghiệp như huyện Lạc Dương?

Ông Sử Thanh Hoài: Nghệ An có rất nhiều tiềm năng và điều kiện để phát triển nông nghiệp công nghệ cao có hiệu quả.

Thứ nhất, về vị trí địa lý, Nghệ An gần như là trung tâm của các đầu mối giao thông và gần thị trường tiêu thụ lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Huế,... Với hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không rất thuận lợi. Điều kiện này hơn hẳn so với huyện Lạc Dương nói riêng và tỉnh Lâm Đồng chúng tôi nói chung.

Thứ hai, Nghệ An có tiềm năng rất lớn về đất sản xuất nông nghiệp với hơn 303.000 ha, ngày càng được khai thác và sử dụng hợp lý hơn, trong đó nhiều diện tích đất sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao khá thành công.

Thứ ba là Nghệ An có nguồn lao động dồi dào, đặc biệt là nguồn lao động tại chỗ. Nguồn lao động này đã có truyền thống sản xuất nông nghiệp từ rất sớm nên sẽ rất thuận lợi trong phổ biến ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất.

Cuối cùng là lãnh đạo tỉnh Nghệ An đã rất quan tâm, chú trọng việc ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp thể hiện qua việc ban hành nhiều cơ chế, chính sách thuận lợi cho các doanh nghiệp cũng như nông dân đầu tư phát triển.

Như vậy, Nghệ An có nhiều điều kiện và tiềm năng lớn để có thể ứng dụng thành công trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao.

PV: Theo như đánh giá của ông, Nghệ An có tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp CNC, tuy nhiên, kết quả mà Nghệ An đạt được chưa thực sự tương xứng với tiềm năng và quyết tâm của tỉnh. Ông có thể chia sẻ những kinh nghiệm thực tế của Lạc Dương để có thể hỗ trợ Nghệ An làm sao để "đi trước" mà không phải "về sau"?

Ông Sử Thanh Hoài: Tôi xin chia sẻ cách thức mà Lạc Dương đã và đang triển khai để các huyện ở Nghệ An có thể tham khảo thêm. Lạc Dương bắt đầu làm nông nghiệp công nghệ cao từ năm 2003, tức là đã 15 năm. Qua quá trình 15 năm đầu tư nông nghiệp CNC thì chúng tôi thấy mấy điều sau:

Thứ nhất, phải có doanh nghiệp mạnh đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, chứ nếu làm đại trà rất khó để phát triển ở quy mô lớn. Doanh nghiệp mạnh họ sẽ chú trọng về giống, quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng, kể cả việc truy xuất nguồn gốc cũng như bao tiêu sản phẩm.

Thứ hai, người dân sẽ tham gia chuỗi cung ứng này theo phương thức thành lập tổ hợp tác và phát triển lên hợp tác xã, chứ chúng ta huy động người dân tham gia vào hợp tác xã là rất khó. Hiện nay, huyện Lạc Dương đã hình thành được mấy chục tổ hợp tác và dần dần nếu tổ hợp tác hiệu quả rồi thì nâng lên làm hợp tác xã kiểu mới, có thể mời doanh nghiệp làm nòng cốt của hợp tác xã. Phương thức này Nghệ An có thể nghiên cứu tham khảo cũng rất hiệu quả.

Về chính quyền thì tôi cũng thấy các đồng chí lãnh đạo của tỉnh Nghệ An rất quyết tâm, nhưng ở cấp huyện, cấp xã thì còn nhiều hạn chế, nên theo tôi cần: vận động nhân dân vào tổ hợp tác và hợp tác xã bằng lợi ích kinh tế, bằng việc tuyên truyền để người dân hiểu; hỗ trợ về thủ tục vận động nông dân cùng doanh nghiệp thành lập tổ hợp tác và hợp tác xã. Chúng tôi phối hợp phòng nông nghiệp và phòng tài chính của huyện thành lập tổ công tác để hỗ trợ người dân cũng như doanh nghiệp trong các vấn đề về ứng dụng CNC, về cả kỹ thuật, quy trình cũng như vốn.

Thư ba là về đào tạo, tập huấn cho người lao động, trong đó mời doanh nghiệp tham gia đào tạo. Người lao động sẽ được đào tạo một cách bài bản nhất về sử dụng giống cây, quy trình kỹ thuật chăm bón, sử dụng máy móc, sử dụng thuốc BVTV,... Việc đào tạo được tiến hành thường xuyên, chuyên môn cho từng giống cây khác nhau.

Thứ tư là làm tốt công tác thu hút đầu tư, ngoài việc thu hút các doanh nghiệp mạnh trong sản xuất nông nghiệp còn phải tìm kiếm được những doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm tốt. Ví dụ như chúng tôi tham gia vào Hội nghị xúc tiến đầu tư thương mại, từ đó tìm cách đưa sản phẩm của mình vào các siêu thị, nhà hàng, khách sạn. Hiện nay có những khách sạn 5 sao tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của huyện chúng tôi mỗi năm lên đến 5 tỉ đồng. Thực hiện được điều đó, ngoài việc làm tốt công tác thu hút, tiếp thị, chúng ta còn phải có trách nhiệm trong việc đảm bảo chất lượng sản phẩm của mình.

Thứ năm, tôi nghĩ Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Nghệ An và Sở Khoa học và Công nghệ cần hỗ trợ một cách tối đa nhất cho người dân cũng như doanh nghiệp về quy trình để công nhận các tiêu chuẩn an toàn như Vietgap, globalgab, oganic… Bởi những tiêu chuẩn này còn rất khó nắm bắt đối với cả doanh nghiệp chứ chưa nói đến người nông dân vốn quen với sản xuất nông nghiệp truyền thống.

Cuối cùng, huyện Lạc Dương nói riêng, tỉnh Lâm Đồng nói chung sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ Nghệ An về mọi mặt để Nghệ An có thể đạt được hiệu quả cao nhất trong ứng dụng công nghệ cao vào phát triển sản xuất nông nghiệp.

Xin cảm ơn ông đã trò chuyện!

Linh Nhi

Ví, giặm là hai thể hát dân ca đặc sắc trong kho tàng văn hoá dân gian xứ Nghệ. Từ lâu, ví, giặm đã được xem là một sản phẩm văn hoá đại diện, tiêu biểu của vùng đất Nghệ Tĩnh, chỉ tồn tại, phát triển trong cộng đồng cư dân người Việt thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Người Nghệ luôn tự hào bởi sự đặc sắc, đậm "cá tính Nghệ Tĩnh" trong những câu dân ca ví, giặm. Là một sản phẩm của văn hoá dân gian, nên dân ca ví, giặm không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử mà hơn hết nó mang giá trị văn hoá và nhân văn sâu sắc. Năm 2014, Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loài, trở thành niềm tự hào của người dân Nghệ Tĩnh.

Tuy nhiên, cũng như dân ca các vùng miền khác, dân ca ví, giặm xứ Nghệ đang đứng trước nguy cơ bị mai một, lãng quên bởi sự biến thiên của thời gian cũng như sự du nhập ồ ạt của các dòng văn hoá. Do đó, việc nghiên cứu, tìm giải pháp để giữ gìn, phát huy vai trò của dân ca ví, giặm là việc làm cần kíp, quan trọng của không chỉ các cơ quan, ban ngành liên quan mà của cả toàn xã hội.

Một trong những giải pháp để bảo tồn, phát huy giá trị của dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh đã và đang được thực hiện lâu nay là đưa dân ca ví, giặm vào trường học. Tuy nhiên, để hệ thống lại và xây dựng chương trình, tài liệu dạy học, đề ra các giải pháp để tổ chức thực hiện hiệu quả việc dạy học dân ca ví, giặm trong nhà trường, UBND tỉnh và Sở Khoa học & Công nghệ Nghệ An đã đặt hàng Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật Nghệ An triển khai Đề tài khoa học: "Nghiên cứu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy, học tập dân ca trong trường học". Đề tài do Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật chủ trì; PGS.TS Phan Mậu Cảnh - Hiệu trưởng Trường CĐ Văn hoá Nghệ thuật làm chủ nhiệm.

Mục tiêu cụ thể của Đề tài: Đánh giá, xác định các đặc điểm cơ bản giá trị tiêu biểu của DCVG Nghệ Tĩnh; chọn lọc những đặc điểm và giá trị đặc sắc, phù hợp để đưa vào dạy học trong nhà trường (ở các bậc học: Mầm non, tiểu học, trung học cơ sở; ở Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật);

Khảo sát thực tế, đánh giá thực trạng việc đưa dân ca vào trường học trong thời gian vừa qua ở các trường học trên địa bàn tỉnh Nghệ An;

Xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu và đề xuất giải pháp đưa dân ca vào giảng dạy và học tập trong nhà trường (từ lứa tuổi mầm non cho đến các trường phổ thông (tiểu học, trung học cơ sở) và trường chuyên nghiệp (Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật) trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Sau thời gian làm việc nghiêm túc, khoa học, tận tụy, nhóm nghiên cứu đã đạt được kết quả sau:

1. Xác định được một số đặc điểm cơ bản và giá trị tiêu biểu của dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

Trên cơ sở tổng hợp các kết quả và các ý kiến bàn thảo, nhóm nghiên cứu đề tài đã phân tích, xem xét DCVG ở cả hai mặt: biểu tầng (biểu hiện bề mặt, hình thức) và cơ tầng (chiều sâu, bản chất), xem xét trong mối tương quan giữa các mặt, giữa đặc điểm và giá trị, từ đó rút ra một số đặc điểm cơ bản và giá trị tiêu biểu nhất của DCVG, gồm:

Các đặc điểm cơ bản:

Tính bình dân: DCVG là một hình thức sinh hoạt văn nghệ mang tính bình dân thuần khiết, sâu đậm ở làng quê Nghệ Tĩnh.

Tính trữ tình: DCVG thể hiện đời sống tình cảm sâu lắng, chân thành của người dân xứ Nghệ.

Tính trí tuệ: DCVG thể hiện sâu sắc suy nghĩ, quan niệm, nhận thức, tính cách của người dân về cuộc sống, về thời cuộc.

Tính mở và động: DCVG ra đời từ lâu, định hình, nhưng không cứng nhắc, nhất thành bất biến. Các làn điệu dân ca, trên cái nền, cái gốc ban đầu, không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, và cải biên, phát triển lời mới trong thời kỳ đương đại.

Các giá trị tiêu biểu:

Giá trị hiện thực (hay giá trị lịch sử - xã hội): Qua ví, giặm, người ta có thể hiểu được đất nước con người thế nào, đời sống nhân dân lao động, nếp cảm nếp nghĩ của con người ở vùng đất đã sản sinh dân ca ra sao. Chính tính bình dân, tính biểu cảm, tính trí tuệ đã làm nên giá trị hiện thực đặc sắc của DCVG Nghệ Tĩnh.

 Giá trị văn hóa và nhân văn: Hát ví, giặm là một nếp sinh hoạt lành mạnh cùng với trong nhiều nếp sinh hoạt khác như lễ hội, nghi thức tín ngưỡng, trò chơi dân gian, DCVG vừa là hiện thân của văn hóa lại vừa biểu hiện văn hóa. Bởi vì, qua ví, giặm, người ta tìm thấy trong đó hiện thực lịch sử, các phong tục, tập quán của một vùng đất.

 Giá trị nghệ thuật: DCVG là một loại nghệ thuật dân gian với làn điệu, khúc thức riêng có của xứ Nghệ. Ca từ của VG cũng thể hiện tính đặc thù: dùng nhiều từ địa phương, các địa danh, cung bậc phát âm trầm, nặng… Các lối hát phản ánh được các hình thức lao động sinh hoạt của cộng đồng; vừa có thủ tục, quy cách cụ thể, vừa mang tính ngẫu hứng, dễ thuộc dễ hát; có tính sản sinh cao (dễ ứng biến, cải biên, lời mới); được chưng cất từ trí tuệ nghệ sĩ bình dân và bác học của người xứ Nghệ;

Giá trị giáo huấn: DCVG đã nó đã khơi gợi được, đánh thức được ở con người những tình cảm sâu nặng về quê hương xứ sở; đã chạm đến được những gì sâu thẳm nhất nhưng cũng thường trực và dễ rung động nhất của mỗi người. Qua VG, người ta thấu hiểu sâu sắc hơn về tình yêu (tình yêu đôi lứa, tình yêu làng quê, thiên nhiên), về tình làng nghĩa xóm, tình cảm gia đình (vợ chồng, cha con, anh em, bè bạn), những điều hay lẽ phải ở đời, góp phần nuôi dưỡng tâm hồn, hun đúc ý chí con người sống đẹp và vươn lên trong cuộc sống.

 Giá trị biểu trưng: DCVG trở thành một giá trị đại diện tinh thần, bản sắc văn hoá của một vùng đất. Nó là sự tổng hợp các giá trị hiện thực, giá trị văn hóa, giá trị nghệ thuật, giá trị giáo dục, tạo thành một giá trị khái quát, tượng trưng cho đời sống vật chất - tinh thần truyền thống của dân tộc, mang hồn cốt của người dân xứ Nghệ, làm thành bản sắc của văn hoá xứ Nghệ.

2. Đánh giá được thực trạng và định hướng vấn đề giảng dạy, học tập dân ca Nghệ Tĩnh trong nhà trường

Để nắm bắt và đánh giá được tình hình dạy học DCVG ở trường học trên địa bàn tỉnh Nghệ An, nhóm nghiên cứu đi thực tế, lấy phiếu thăm dò, phỏng vấn, trao đổi với cán bộ phòng giáo dục, cán bộ chuyên môn, giáo viên, học sinh sinh viên các trường phổ thông, cao đẳng;… Kết quả đánh giá:

Cùng với các cơ quan chức năng, ngành giáo dục đã sớm triển khai các hoạt động để góp phần bảo tồn và phát huy. Từ năm 1999, Sở Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao) và Đài PT-TH Nghệ An ban hành công văn liên tịch về tổ chức chương trình đưa dân ca vào trường học dưới hình thức thi "Tìm hiểu và hát dân ca trong trường học" và duy trì trong nhiều năm.

Tuy nhiên hạn chế của phong trào "Tìm hiểu và hát dân ca trong trường học" chưa thực sự có chiều sâu và chưa được duy trì thường xuyên; Việc dạy và học DCNT chưa được quy định cụ thể có tính bắt buộc nên việc giới thiệu, tìm hiểu, học và hát DCVG chưa có sự thống nhất, đồng bộ trong các nhà trường; Đội ngũ giáo viên dạy âm nhạc mỏng và yếu, chưa có phòng học, kinh phí dạy hát dân ca. Sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, giáo trình đưa dân ca vào trường học rất ít, hoặc tài liệu day hát chưa được biên soạn và phát hành trong toàn hệ thống giáo dục, dẫn đến tình trạng mỗi địa phương dạy theo một cách, biết đến đâu dạy đến đó, nội dung và cách hát không thống nhất, giáo viên giảng dạy lúng túng trong việc tìm kiếm nội dung DCVG để giảng dạy cho học sinh.

Từ thực trạng đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất những định hướng cơ bản của việc đưa dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh vào giảng dạy và học tập trong nhà trường:

Các đặc điểm cơ bản của dân ca ví, giặm cần đưa vào nhà trường: Xác định những đặc điểm cơ bản của DCVG cần đưa vào nội dung dạy học trong nhà trường gồm: Tính bình dân, tính trữ tình, tính trí tuệ, tính mở và động.

Các giá trị tiêu biểu của dân ca ví, giặm cần dạy học trong nhà trường: Các giá trị tiêu biểu của DCVG cần đưa vào nội dung dạy học trong nhà trường gồm: Giá trị hiện thực, giá trị văn hoá, giá trị nghệ thuật, giá trị giáo huấn và giá trị biểu trưng.

Việc chọn các đặc điểm và giá trị của DCVG vào dạy học trong nhà trường được đảm bảo phù hợp với môi trường học đường (không phải môi trường lao động, môi trường sân khấu trình diễn), thời gian (môn học tự chọn, ngoại khóa, thời lượng ít đối với học sinh phổ thông), phù hợp lứa tuổi, tâm lý của học sinh sinh viên, nhất là các cháu lứa tuổi mầm non, tiểu học.

Đề xuất các bài hát dân ca Nghệ Tĩnh đưa vào dạy học trong nhà trường: Hệ mầm non: Chọn các bài đồng dao, mục đồng: Tập tầm vông, Chuồn chuồn, Hát mục đồng, Thằng Cuội,...

Bậc học phổ thông: Chọn trong số các bài sau, chú ý đảm bảo phù hợp từng cấp, từng khối lớp (lớp học sau lặp lại và nâng cao hơn so với lớp học trước): Ví sông Phố, Ví đò đưa sông La, Ví đò đưa sông Lam, Ví phường vải (Kim Liên-Nam Đàn), Ví phường vải (Trường Lưu); Giặm Lạch Quèn, Giặm vè, Giặm xẩm, Giặm ru, Giặm Đức Sơn, Giặm kể; Hò đi đường, Hò chèo thuyền, Hò kéo lưới,...

Bậc học cao đẳng: Chọn các bài phù hợp chuyên ngành, luyện hát và phân tích kỹ hơn, sâu hơn về kỹ thuật hát bài hát gốc và bài hát cải biên, phát triển từ dân ca.

3. Xây dựng được bộ tài liệu và các giải pháp dạy học dân ca ví, giặm trong nhà trường

3.1. Xây dựng bộ tài liệu dạy học môn dân ca ví, giặm

- Ở bậc phổ thông: Bộ tài liệu dạy học dân ca ở các cấp học phổ thông được tổ hợp từ ba loại tài liệu, gồm: Chương trình khung của môn học; Tập bài giảng (giáo án, giáo trình hát dân ca); Tài liệu bổ trợ, đọc thêm;

Số bộ tài liệu dạy học dân ca Nghệ Tĩnh ở các cấp học phổ thông: 3 bộ, mỗi cấp học một bộ, gồm: Cấp học mầm non: 1bộ, 2 tập (cho hai lớp mẫu giáo: 4-5 tuổi & 5- cận 6 tuổi); Cấp học tiểu học: 1 bộ, 5 tập (cho 5 lớp: từ lớp 1 đến lớp 5); Cấp học trung học cơ sở: 1 bộ, 4 tập (cho 4 lớp: từ lớp 6 đến lớp 9).

- Ở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật: (dạy học dân ca ví, giặm ở Trường CĐ VHNT Nghệ An) được tổ hợp từ ba loại tài liệu, gồm: Chương trình khung của môn học; Giáo trình môn học dân ca; Tài liệu tham khảo, bổ trợ.

 Số bộ tài liệu dạy học dân ca Nghệ Tĩnh ở các ngành: 3 bộ, mỗi ngành học một bộ, gồm: Ngành học nghệ thuật biểu diễn dân ca: 1 bộ (gồm: chương trình khung, giáo trình, tài liệu tham khảo, bổ trợ): 250 trang; Ngành học Sư phạm âm nhạc, Sư phạm nhạc họa mầm non, Thanh nhạc: 1 bộ (gồm: chương trình khung, giáo trình, tài liệu tham khảo, bổ trợ): 250 trang; Ngành học Du lịch, Quản lý văn hóa: 1 bộ (gồm: chương trình khung, giáo trình, tài liệu tham khảo, bổ trợ): 250 trang.

3.2. Xây dựng bộ giải pháp để thực hiện việc dạy học dân ca ví, giặm trong nhà trường

- Giải pháp về chủ trương, cơ chế (ban hành chủ trương và cơ chế đảm bảo về cơ sở pháp lý của việc đưa dân ca vào trường học): các quan điểm, chủ trương của tỉnh; Kế hoạch tổ chức thực hiện; Phân công đơn vị chủ trì (Sở Giáo dục & Đào tạo) và các đơn vị phối hợp (các sở ngành liên quan); xác định nhiệm vụ cho hệ thống giáo dục phổ thông và chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh; Chế độ, chính sách và cơ chế để tổ chức thực hiện chủ trương đưa dân ca vào trường học,v.v...

- Giải pháp về cơ sở vật chất (đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện việc đưa dân ca vào trường học), gồm: Kinh phí đầu tư cho việc nghiên cứu dân ca đưa vào trường học (các đề tài khoa học; hội thảo, hội thi); Kinh phí xây dựng Chương trình, tài liệu dạy học dân ca, đánh giá nghiệm thu (đề tài biên soạn tài liệu dạy học dân ca) chuyển giao đưa vào dạy học trong nhà trường; Kinh phí đầu tư cho việc dạy học dân ca (lương và phụ cấp cho giáo viên cơ hữu; kinh phí mời chuyên gia, nghệ nhân; kinh phí hội thi, thực tập, điền dã thực tế; câu lạc bộ dân ca, tuyên truyền quảng bá dân ca); Kinh phí đầu tư trang thiết bị dạy học dân ca (tài liệu dạy học, băng đĩa, sách tham khảo, công nghệ thông tin, lớp học, thiết bị dạy học dân ca...).

- Giải pháp về đội ngũ: Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, diễn viên, cán bộ để truyền dạy dân ca khi đưa dân ca vào trường học.

- Giải pháp về phối hợp: Phối hợp đồng bộ giữa các nhà trường với các cấp chính quyền, các tổ chức và xã hội.

Với mục tiêu đặt ra, ngoài việc hệ thống được đặc điểm và giá trị tiêu biểu của dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, đánh giá được thực trạng dạy học DCVG trong nhà trường hiện nay, Đề tài đã xây dựng được bộ tài liệu dạy học DCNT ở các bậc học, cấp học, từ mầm non đến bậc cao đẳng; đi kèm đó là bộ giải pháp tổ chức thực hiện chương trình đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống. Những kết quả đạt được đó đã giúp thế hệ trẻ, trong đó có học sinh sinh viên thấu cảm được nguồn gốc, ý nghĩa và giá trị to lớn của di sản văn hoá truyền thống. Nếu được truyền dạy trong nhà trường thành công, DCVG sẽ góp phần nuôi dưỡng tâm hồn, là vốn liếng là hành trang để thế hệ trẻ vững vàng, bản lĩnh, là chủ nhân của tương lai của đất nước.

Trần Văn Dũng - Trần Thị Tú

 

1. Đặt vấn đề

Là ngôn ngữ thống nhất quốc gia của dân tộc Việt Nam, tiếng Việt đã có hàng ngàn năm lịch sử. Trải qua bao chặng đường phát triển, tiếng Việt - tiếng mẹ đẻ của dân tộc ta đã vượt qua mọi trở lực: chính sách đồng hóa của các tập đoàn phong kiến Trung Hoa, chính sách phản dân tộc của một số triều đại phong kiến Việt Nam, chính sách ngu dân của thực dân Pháp... để trở thành một ngôn ngữ giàu và đẹp, có bản sắc, đầy tiềm năng. Đặc biệt từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, tiếng Việt xứng đáng là công cụ giao tiếp và công cụ tư duy quan trọng nhất và đắc lực nhất của mọi người dân Việt Nam trong tất cả các lĩnh vực văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội, khoa học - kỹ thuật. Trên trường quốc tế, trong mọi lĩnh vực hoạt động, tiếng Việt có địa vị bình đẳng với tất cả các ngôn ngữ khác. Chúng ta tự hào chính đáng về điều này, để từ đó có ý thức cao hơn trong việc giữ gìn sự trong sáng và vẻ đẹp, sự giàu có của tiếng mẹ đẻ "thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý giá của nhân dân ta" (Hồ Chí Minh).

Quá trình hội nhập và phát triển tất yếu sẽ kéo theo sự tiếp xúc, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nền văn hóa, trong đó có ngôn ngữ. Đây cũng là hiện tượng mang tính phổ biến mà Việt Nam chúng ta cũng không phải và không thể là trường hợp ngoại lệ. Mặt tích cực là đã góp phần làm phong phú thêm cho kho từ vựng của ngôn ngữ dân tộc, đặc biệt là những thuật ngữ mới trong các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật; làm đa dạng hơn các hình thức giao tiếp, và về phương diện nào đó, nó giúp chúng ta có điều kiện tiếp cận nhanh với những nền văn hóa và văn minh phát triển hơn. Bên cạnh đó, về văn hóa nói chung, nó cũng có thể gây nên những tác động tiêu cực, đó là sự xô bồ, lai căng, thậm chí chủ nhân văn hóa còn quay lưng lại với văn hóa truyền thống nếu chủ thể tiếp nhận chưa có được sự chuẩn bị đầy đủ khả năng lựa chọn; về ngôn ngữ nói riêng, những biểu hiện trong cách nói, cách viết "khác lạ" đã làm mất đi bản sắc vốn có của tiếng Việt. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để những giá trị của văn hóa truyền thống, mà cụ thể là văn hóa ngôn ngữ không bị phủ định bởi sự phát triển của văn minh và ngược lại, nó không trở thành lực cản cho sự phát triển ấy; chúng phải trở thành điểm tựa và thúc đẩy lẫn nhau trên con đường phát triển của xã hội.

2. Vấn đề ngôn ngữ ngoại lai và ảnh hưởng của nó đến ngôn ngữ dân tộc

2.1. Ngôn ngữ ngoại lai

Trong quá trình hình thành và phát triển, bất kì ngôn ngữ nào cũng thu hút nhiều yếu tố của các ngôn ngữ khác, do đó có nhiều từ ngữ giống hoặc tương tự với các từ ngữ của các ngôn ngữ khác. Tiếng Việt của chúng ta ngày nay chứa đựng nhiều từ ngữ tương tự với các từ ngữ trong nhiều thứ tiếng khác. Tiếng Việt hiện đại còn ảnh hưởng và tiếp nhận nhiều yếu tố của các ngôn ngữ châu Á và các châu lục khác cũng như các dòng ngôn ngữ khác, như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Nhật... Nếu không nhìn nhận vấn đề một cách biện chứng trên cơ sở thực tiễn lịch sử, văn hóa... thì rất khó xác định đâu là từ bản ngữ, đâu là từ ngoại lai. Có người cho rằng chỉ có thể gọi một cách hợp lí từ ngoại lai trong một ngôn ngữ nhất định là những yếu tố đã thâm nhập sau cái thời kì đánh dấu một cách quy ước giai đoạn đầu của ngôn ngữ ấy. Thực tế, vấn đề xác định thời gian hình thành của một ngôn ngữ dân tộc nào đó là rất phức tạp và không phải bao giờ cũng cho một câu trả lời thỏa đáng. Vì vậy, chúng ta vẫn gặp phải khó khăn trong phân biệt từ bản ngữ và từ ngoại lai. Nội dung của hai khái niệm này chỉ có thể xác định một cách tương đối khi xét chúng trong những giai đoạn lịch sử cụ thể nhất định. Các ngôn ngữ thường có các giai đoạn phát triển kế tiếp nhau, và mỗi giai đoạn thường bao gồm những kiểu loại các yếu tố: (1) Những yếu tố cũ từ giai đoạn trước để lại; (2) Những yếu tố mới được tạo ra trên cơ sở yếu tố cũ và yếu tố mới du nhập vào; (3) Những yếu tố mới du nhập vào từ các ngôn ngữ khác trong giai đoạn ấy.

2.2. Thực trạng sử dụng ngôn ngữ ngoại lai trong giới trẻ hiện nay

Sự giao thoa văn hóa, xã hội đòi hỏi ngôn ngữ có những thay đổi để đáp ứng các nhu cầu giao tiếp mới. Cùng với sự giao lưu, hội nhập, ngôn ngữ nước ta cũng dần dần xuất hiện những hiện tượng mới mẻ. Những từ ngữ mới, cách diễn đạt mới được hình thành để thêm vào những khái niệm, thậm chí cả cấu trúc và phong cách mà trong vốn tiếng Việt trước đấy còn thiếu vắng, chẳng hạn trong lĩnh vực tin học, kỹ thuật số, sản xuất kinh doanh của nền kinh tế thị trường… Đồng hành với mặt tích cực ấy, không ít hiện tượng tiêu cực cũng thâm nhập với những cách nói, cách viết khác lạ.

Quá trình phát triển và hội nhập với các nền kinh tế thế giới, đặc biệt là khi Việt Nam tham gia các tổ chức quốc tế thì việc sử dụng ngoại ngữ là rất quan trọng và cần thiết, bởi nó là phương tiện giúp chúng ta có thể hội nhập với thế giới. Bên cạnh việc tiếp nhận, sử dụng tiếng nước ngoài một cách khoa học, có hệ thống, chúng ta còn thể hiện cho bạn bè quốc tế thấy được sự giàu có, sự chuẩn mực và vị trí của ngôn ngữ nước nhà. Mặc dù phải đối diện với nhiều thử thách bởi đặc thù của lịch sử dân tộc, tiếng Việt chúng ta đã là ngôn ngữ có một hệ thống các quy tắc chung về phát âm và chữ viết, cách dùng từ, đặt câu, có phong cách diễn đạt phong phú, đa dạng. Nói cách khác, tiếng Việt ngày nay đã trở thành một ngôn ngữ giàu và đẹp, có bản sắc, đầy tiềm năng. Vì vậy, nói và viết đúng quy tắc của tiếng Việt chuẩn mực sẽ đảm bảo được sự trong sáng của lời nói. Sự giàu có và trong sáng của tiếng Việt không cho phép dung nạp một cách tùy tiện các yếu tố ngoại lai. Sự tùy tiện và phần nào là sự kém hiểu biết trong vay mượn các yếu tố ngôn ngữ nước ngoài trong các hoạt động giao tiếp sẽ tạo nên sự pha tạp, lai căng, thậm chí lố bịch. Hiện nay, chúng ta dễ dàng bắt gặp những người, mà phần lớn là giới trẻ có những lối diễn đạt kết hợp cách nói hay viết giữa tiếng ta với tiếng nước ngoài theo kiểu "nửa nạc nửa mỡ". Có thể dẫn ra một số trường hợp sau:

a)  Sử dụng ngôn ngữ ngoại lai có nguồn gốc châu Âu

   Không ít thanh thiếu niên chúng ta đang có tình trạng sử dụng tùy hứng các ngôn ngữ có nguồn gốc châu Âu trong giao tiếp bằng tiếng Việt, đặc biệt là tiếng Anh, tiếng Pháp. Có thể nói, gần đây nó đã trở thành trào lưu trong giới trẻ. Sự tùy tiện, thiếu ý thức, thiếu hiểu biết, trong nhiều trường hợp đã không phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp mà tạo ra một sự phản cảm. Giới trẻ thường sử dụng tiếng lóng lai căng, pha giữa tiếng Anh (hoặc tiếng Pháp) và tiếng Việt. Hành vi này không những thể hiện "tài năng" ngoại ngữ không đúng lúc mà còn làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt, gây cảm giác khó chịu cho người tham gia giao tiếp. Họ không ngần ngại nói với tất cả các đối tượng tham gia hội thoại bằng các dạng cấu trúc như:"ok thầy","thank-kiu cô","sorry bạn". Trường hợp cấu trúc phức hợp hoặc nhiều yếu tố tham gia như câu chẳng hạn, họ thường chọn một yếu tố nước ngoài được cho là trọng điểm thông báo xen vào cấu trúc Việt ngữ. Chẳng hạn, "trông con bé kute quá"; "anh ấy handsome thật!", "mình là fan của anh ấy", "nhóm ấy toàn bọn chuẩn men"; "các superstar thích xài mobile loại xịn", "Idol của tao kìa", rồi nào là hotboy, hotgirl, hay có người còn lên facebook đăng dòng tin nhắn: "cô ấy là Idol của tao đấy", kèm với hình chụp. Thậm chí, trong nhiều trường hợp, họ còn kết hợp giữa ngoại ngữ và biệt ngữ nhóm (tiếng lóng) trong cấu trúc lời thoại. Chẳng hạn, "Con nghiện (điện thoại) lại viêm dạ dày (sắp hết tiền) rồi làm sao gọi cho honey đây"… Hiện tượng này không còn ở phạm vi giới trẻ mà đã trở thành "hội chứng" của xã hội. Việc sử dụng từ ngữ ngoại lai theo kiểu vô thức cũng làm cho nhiều đối tượng "quen" đến mức quên mất cả từ tiếng Việt tương ứng. Chẳng hạn, thay vì nói "tạm biệt" sẽ là "bye" hoặc "bye bye"; lời xin lỗi đơn giản là "sorry nha!"; cảm ơn cũng ngắn gọn "thanks"… Ngoài ra, còn xuất hiện một số "biến chứng" như là hậu phát minh của song ngữ Anh-Việt. Chẳng hạn việc biến đổi cách phát âm như đe-le-te (delete), ai-lái-kịt (I like it), cơm-pờ-le-te (complete), thăng-sờ-kiều (thank you),… hay cách ghép từ có một không hai know just die (biết chết liền), like is afternoon (thích thì chiều), no four go (vô tư đi) hay độc đáo hơn là sugar sugar ajinomoto ajinomoto (đường đường chính chính)…

Hơn 80 năm bị người Pháp đô hộ, tiếng Việt đã vay mượn nhiều từ gốc Pháp, đại bộ phận lớp từ này là tên gọi các đối tượng từ Pháp thâm nhập vào mà thường thì trong tiếng Việt chưa có. Phần lớn các từ đó đã bị thay đổi cả về cách đọc lẫn chữ viết để phù hợp với đặc trưng của tiếng Việt (ngôn ngữ đơn lập; không biến hình). Các từ mượn tiếng Pháp được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như: ăn uống → cacao (ca cao), café (cà phê), crème (kem), carotte (cà rốt), gâteau (ga tô), salade (xa lát), cerise (sơ ri), fromage (pho mát), jambon (giăm bông), moutarde, (mù tạc), saussisse (xúc xích), vin (vang);... trang phục → maillot (may ô), chemise (sơ mi), veston (vét tông), gilet (gi lê), blouse (bờ lu), manchette (măng sét);... y dược → acide (axít), lipide (lipit), péniciline (pênixilin), vaccin (vắc xin), vitamine (vitamin),... và nhiều lĩnh vực khác. Các lớp từ này đã dần đi vào kho từ vựng tiếng Việt, và cơ bản được người Việt sử dụng một cách phù hợp trong các hoàn cảnh giao tiếp. Mặc dù không có tính chất phổ biến như sử dụng tiếng Anh do giới trẻ ít tiếp cận ngôn ngữ này, vả lại, nhiều từ ngữ của tiếng Pháp đã được người Việt đặt trám vào chỗ tiếng Việt còn thiếu và lâu ngày được người Việt sử dụng như chính của ngôn ngữ mình (như một số ví dụ kể trên). Tuy nhiên, cũng như với tiếng Anh, không ít người đã chọn một vài yếu tố Pháp ngữ được cho là trọng điểm thông báo xen vào cấu trúc Việt ngữ. Chẳng hạn, "thằng ấy bị ocgio (việt vị) rồi" (ý nói là tùy tiện, vượt khỏi phạm vi được phép và bị phát hiện, bị thổi còi); "tưởng chừng hắn nuốt trôi, ai ngờ bị penalty" (sự việc bị phanh phui và bị phạt đền); "muốn vào vườn hồng thì phải húc đổ hai cái blockhaus (lô cốt) kia đã" (muốn đến với con gái người ta thì phải được sự đồng ý của cha mẹ cô ấy); "anh em, chị em kiểu nhà nó canon (súng đại bác) bắn bảy ngày không tới" (chúng nó chẳng là anh em, chị em gì cả); "không được đâu, "xếp"nhà tao culasse (quy lát) lắm",… Một số trường hợp tiếng Nga cũng được các "chuyên gia" chế tác theo kiểu; "Hắn ta tỏ ra bôn (bônsêvic) để được cái tặc lưỡi của mấy ông mấy bà ở Hội búa liềm thôi. Cuối cùng rồi cái đuôi men (mensêvic) của hắn cũng sẽ lòi ra".v.v…

b) Sử dụng ngôn ngữ ngoại lai có nguồn gốc tiếng Hán  

Trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, nước ta chịu ảnh hưởng sâu văn hóa và ngôn ngữ Trung Hoa là điều dễ nhận thấy. Theo thống kê của H. Maspero, 1972 thì có 60% từ Việt có gốc Hán. Lớp từ gốc Hán có mặt ở mọi cấp độ, mọi lĩnh vực, trong mọi hoạt động của đời sống ngôn ngữ tiếng Việt. Cho đến nay, vẫn chưa có một điều tra ngôn ngữ nào để có một số liệu chính xác về tỷ lệ các yếu tố gốc Hán trong kho từ vựng của chúng ta. Trong thực tế, do cùng một loại hình ngôn ngữ, cùng với đó là có khá nhiều từ Hán được thâm nhập vào nước ta ở thời kỳ đầu, đã chịu sự chi phối bởi ngữ âm tương đồng giữa hai ngôn ngữ thời kỳ ấy nên dễ dàng được coi như những từ thuần Việt (xe, ngựa, cá, cởi, cả, chén, chém, thuyền, buồm, buồng…). Bởi vậy, một bộ phận không nhỏ, ranh giới giữa chúng là không thật sự rõ ràng. Và cũng chính vì thế, việc đánh giá về cách sử dụng phối hợp các yếu tố giữa hai ngôn ngữ này là không mấy giản đơn. Chẳng hạn, chúng ta thường chấp nhận một số không ít các trường hợp không thực sự hợp lí, kiểu: sông Hồng Hà, cánh chim đại bàng, thuở thiếu thời, nhà đại gia, ngày sinh nhật,…Tuy nhiên, không vì vậy mà có thể sử dụng một cách tùy tiện khi tiếp nhận một số lượng không nhỏ loại nguyên liệu ngôn ngữ này. Mặc dù trong nhiều lĩnh vực hoạt động như hành chính, kinh tế, pháp luật,… thì đại bộ phận từ ngữ được sử dụng đều là từ gốc Hán, nhưng vẫn dễ dàng nhận thấy ở tiếng Việt có những quy tắc và quy luật riêng, đặc biệt là cấu tạo từ và cấu trúc cú pháp. Việc sử dụng các yếu tố vay mượn phải chịu sự chi phối của các quy tắc và quy luật hoạt động của tiếng Việt. Với phạm vi bài viết này, chúng tôi không tham vọng có thể bàn đến những vấn đề quá lớn về mối quan hệ giữa tiếng Việt và tiếng Hán trong suốt tiến trình lịch sử của nó, mà chỉ sơ bộ đề cập đến vấn đề sử dụng tùy tiện ngôn ngữ gốc Hán trong giao tiếp tiếng Việt do hạn chế về sự hiểu biết hoặc lạm dụng chúng trong nhiều hoàn cảnh giao tiếp khác nhau. Khá nhiều trường hợp do không phân biệt được nguồn gốc ngôn ngữ đã dẫn tới việc sử dụng không phù hợp với cấu trúc. Chẳng hạn, không phân biệt được chủ nghĩa xã hội và xã hội chủ nghĩa, đa phần và phần đa, khuyến mãi và khuyến mại, kiểm sát và kiểm soát, luật pháp và pháp luật, quản lí và quản trị, tiền và tiền tệ, quyền và quyền lợi, quyết nghị và nghị quyết;… hoặc không hiểu nghĩa của từ ngữ mình đang dùng nên ngay cả một số người làm du lịch, làm truyền thông cũng không hiểu được thế nào là danh lam, thế nào là thắng cảnh, cứ thấy cảnh đẹp thì đều nói là danh lam thắng cảnh… Cũng vì lí do trên nên nhiều trường hợp sử dụng thừa các yếu tố trong tổ hợp từ, như: lúc sinh thời, tái lập lại, tái khẳng định lại, tận mắt mục sở thị, tên địa danh, tên nhân danh…Ví dụ: "Cơn bão Linda sẽ được tái hiện lại trong bộ phim "Nỗi ám ảnh mang tên Linda"(Chương trình thời sự VTV, 19 h ngày 28/10/2017). Lại có trường hợp kết hợp một yếu tố đơn tiết gốc Hán với một yếu tố đơn tiết gốc Việt, như cát tặc. Họ dựa vào hệ thống các từ như lâm tặc, thủy tặc,…Tuy nhiên đây là một sự nhầm lẫn các từ đồng âm. Từ có âm cát trong tiếng Hán không mang nghĩa thuật ngữ là một loại sa khoáng được sử dụng trong xây dựng như trong tiếng Việt, mà từ này thường mang nghĩa của một động từ. Vì vậy, về cơ bản, các yếu tố đơn tiết của Hán ngữ thường khó kết hợp với một yếu tố đơn tiết tiếng Việt mà phải kết hợp các yếu tố Hán ngữ với nhau. Chẳng hạn, không nói tân nhà mà phải là tân gia; không nói nhà đình mà phải nói là gia đình; không nói thủy cuối mà phải nói thủy chung; không nói sau phương mà phải nói hậu phương,…Ngay cả những trường hợp từ gốc Hán nhưng đã được Việt hóa đến mức khó phân biệt được nguồn gốc của chúng thì khi kết hợp khó có thể chấp nhận đi cùng với một yếu tố Hán -Việt. Chẳng hạn, không thể nói là thuyền phàm mà phải nói là thuyền buồm; không thể nói là ngựa đáo mà phải nói là mã đáo,…Việc không hiểu một cách thấu đáo về bản chất của hai ngôn ngữ này và mối quan hệ giữa chúng trong bối cảnh số từ ngữ gốc Hán chiếm tỷ lệ lớn hơn từ ngữ bản địa sẽ rất dễ dẫn tới những nhầm lẫn và sai lệch đáng tiếc. Nhiều người cho rằng, tiếng Hán trang trọng và súc tích về nghĩa nên thường lạm dụng chúng trong giao tiếp. Điều đó dẫn tới việc trong nhiều trường hợp người tham gia hội thoại cảm thấy khó chịu hoặc bị xúc phạm. Những từ như soái ca, đại ca, tỷ muội, huynh đệ, sư phụ,… được nhiều người trong giới trẻ xưng hô với mọi người, với mọi lứa tuổi và các vai giao tiếp khác nhau.

Gần đây, ngành công nghiệp giải trí Hàn Quốc đã ảnh hưởng không nhỏ đến giới trẻ Việt Nam. Nhiều người trong số họ đang phát cuồng với những thần tượng Hàn Quốc bởi ngoại hình đẹp, giọng hát hay; những bộ phim tình cảm lãng mạn; những ca khúc "Kpop" sôi động cùng những vũ đạo cuốn hút. Và cũng vì thế mà ngôn ngữ Hàn cũng bắt đầu đi vào trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của các bạn trẻ, chẳng hạn như: oppa, omani, appa, salanghae, aniyo,…

2.3. Nguyên nhân của hiện tượng trên

a)  Nguyên nhân khách quan

Giới trẻ chúng ta, đặc biệt là học sinh, sinh viên là những người tiếp xúc với khoa học, công nghệ nhiều và có điều kiện tiếp nhận nhanh, nhất là trong thời kì công nghệ thông tin; internet đang phát triển với tốc độ chóng mặt. Chỉ cần vài phút, thông tin về một vụ việc nào đó có thể phát tán tràn lan trên các trang mạng, trong lúc giới trẻ ngày nay, đại bộ phận đều có điện thoại đời mới. Mỗi lúc rảnh rỗi lại lôi ra lướt facebook, xem phim... và thứ "ngôn ngữ mạng" ấy rất dễ thâm nhập vào các đối tượng này. Mở cửa hội nhập cũng đồng nghĩa với việc những phong cách sống và văn hóa của các nước khác sẽ thâm nhập vào Việt Nam bằng nhiều con đường khác nhau, mà giới trẻ lại là lứa tuổi thích cái mới, cái lạ, thích học hỏi và tiếp thu những thứ đó và tạo ra cái của riêng mình, dần dần nó xuất hiện trong lời nói, câu chữ. Khách quan mà nói, ngôn ngữ của giới trẻ giống như mốt thời trang. Nó được sử dụng nhằm thể hiện cá tính, tâm lý thích đổi mới, ưa cái lạ, chuộng cái hay của giới trẻ. Điều này thấy rõ ở ngôn ngữ mạng, một kiểu ngôn ngữ cá nhân nhưng lại nằm trên mạng xã hội, có sức lan tỏa rất lớn. Ngôn ngữ trên mạng đôi lúc không câu nệ một sự chuẩn mực nào mà nó đã trở thành một phong cách. Tuy nhiên, nếu dùng mãi sẽ trở thành quen, có thể dẫn đến việc giới trẻ sử dụng chệch hướng, biến nó thành ngôn ngữ trong nhà trường, trong các văn bản. Xa hơn nữa, nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới tư duy.

b) Nguyên nhân chủ quan

 Giới trẻ là những người thích khẳng định mình và muốn thể hiện mình. Họ muốn cho người khác biết mình là một con người rất hiện đại, rất lạ và khác biệt trong cách sống, cách ăn mặc và nói năng; có tri thức và vốn ngôn ngữ phong phú. Bởi vậy, có người đã chạy theo một thứ thị hiếu mang tính cực đoan, cho rằng tiếng Việt không đủ sức diễn đạt ngữ cảnh của lời nói. Thậm chí có người tỏ ra đề cao quá mức các ngôn ngữ ngoại. Họ cho rằng phải dùng tiếng nước ngoài thì lời nói mới "sang", mới "hiện đại", mới "đẳng cấp", mới "hợp mốt". Quan niệm này đã khiến không ít các bạn trẻ tìm đến và sử dụng kiểu ngôn ngữ "lai tạp" nửa tây nửa ta một cách thản nhiên như vậy.

Nhận thức và trách nhiệm của gia đình cũng chưa theo kịp với những xu hướng của lớp trẻ. Nhiều bậc phụ huynh còn cổ súy cho lối đua đòi vô lối của con cái. Một đứa trẻ tiểu học cũng được sử dụng điện thoại, thậm chí dùng được cả facebook. Một bộ phận không nhỏ tỏ ra thời thượng, chiều con không đúng cách đã vô tình đẩy lớp trẻ vào thế giới ảo không thể kiểm soát.

Nhà trường và các tổ chức xã hội thường không để ý đến những khía cạnh mang tính cực đoan của xu hướng này. Các nội dung giáo dục hầu như chưa hề đả động đến một giải pháp cụ thể mà chỉ mới dừng lại ở "khẩu hiệu" hô hào "giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt" mà thôi. Thậm chí một số cá nhân hoặc cơ quan báo chí, truyền thông cũng vô tình "vạch đường cho hươu chạy". Nhiều từ ngữ (có thể là từ vay mượn) đã được dân ta sử dụng từ bao đời, đã hiểu rất rõ về nghĩa và cả chức năng ngữ pháp, cách biểu hiện trong các tình huống giao tiếp khác nhau… lại được những người làm truyền thông đưa ra những thuật ngữ mới. Có thể những người lao động thành thị cũng như nông thôn chúng ta nghe khái niệm khởi nghiệp sẽ dễ hiểu hơn là startup hoặc start-up. Thay vì nói "Báo Lao động hôm nay chạy hàng tít: muốn đổi mới chính sách tiền lương thì phải giảm biên chế" (như trên mục điểm báo), có thể nói "Báo Lao động hôm nay có bài viết…", hoặc "Báo Lao động hôm nay có bài viết, với tiêu đề...". Thay vì nói "Báo Thanh niên chạy hàng tít ấn tượng "sổ hộ khẩu sắp hết thời" (Báo chí toàn cảnh 29/10/2017) có thể nói "Báo Thanh niên có bài viết…". Hay, thay vì nói "… sắp tới đội ngũ dresser sẽ có nhiều việc phải làm" (chương trình chuyển động 24h), ta có thể nói "… sắp tới đội ngũ phục trang sẽ có nhiều việc phải làm".v.v…Thậm chí có người làm truyền thông còn dùng kết hợp từ ngoại lai với từ tiếng Việt một cách khá lạ (vừa Tây, vừa Tàu, vừa Ta), ví dụ: "Giải quần vợt Việt Nam open" (Thời sự trưa 28/10/2017-mục thể thao). Có thể thanh niên bây giờ rất thích những "tác phẩm bom tấn" như nhiều chương trình truyền hình giới thiệu. Thậm chí có biên tập viên truyền hình Việt Nam còn quả quyết rằng trong tháng này chúng ta sẽ được thưởng thức hai bom tấn… trong lúc vừa đưa tin lực lượng đồng minh của Mĩ đã ném một quả bom siêu trọng (2,7 tấn) xuống một khu vực ở Apganistan. Có lẽ những ai từng đi qua cuộc chiến tranh của dân tộc những thập niên 60, 70 thế kỷ trước hay người dân đang ở Trung Đông hôm nay sẽ cảm thấy không mấy dễ chịu khi nghe lối diễn đạt và dùng từ như vậy. Một số trường hợp sai kiến thức về từ ngữ cũng được đưa lên mạng xã hội đã dẫn tới định hướng sai cho người tiếp nhận. Chẳng hạn, về tổ hợp từ "tứ chứng nan y" (4 thứ bệnh mà y học xưa gần như bất lực là phong, lao, cổ, lại), đã được một số tác giả (chúng tôi không tiện nêu tên) giải thích trên báo mạng như sau: "phong là bệnh hủi, hay còn gọi là bệnh cùi, bệnh phung; lao là bệnh lao; cổ là bệnh xơ gan cổ trướng; lại là bệnh ung thư". Có người giải thích lại là bệnh lỵ. Giải thích như vậy thì thật oan cho người xưa, vì tổ tiên ta (cả người Trung Hoa nữa) trước đây đâu đã được biết đến cái thứ bệnh gọi là "xơ gan cổ trướng" hay bệnh "ung thư". Những lỗi kiến thức về từ ngữ hay lối diễn đạt quá lạm dụng tiếng nước ngoài được thể hiện trên phương tiện truyền thông như vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lí và nhận thức chung.

Trở lên là một vài ý kiến sơ bộ bước đầu, bởi khuôn khổ bài viết, và phần nào là khả năng không cho phép. Về hiện tượng trên đây, có nhà nghiên cứu gọi là tình trạng "chấn thương ngôn ngữ". Vấn đề không chỉ ở nước ta mà là hiện tượng có tính phổ biến trong một môi trường thế giới mở. Nó đòi hỏi mọi quốc gia, dân tộc đều phải có những giải pháp để điều chỉnh, khắc phục.

3. Thay cho lời kết

Từ thực trạng trên có thể thấy, nếu không có giải pháp chọn lọc, điều chỉnh và phần nào là ngăn ngừa kịp thời thì sẽ dễ dẫn đến những hậu quả xấu. Những nét đẹp truyền thống được hun đúc, tích tụ hàng ngàn năm của tiếng Việt có thể bị phá vỡ, thay vào đó là một sự pha tạp, lai căng, chắp vá. Vì vậy, thiết nghĩ, từ các cơ quan chức năng của nhà nước đến mỗi người dân đều phải có sự nhận thức đầy đủ, chung tay góp sức giải quyết vấn đề.

Nhà nước cần có các văn bản quy định cụ thể về cách sử dụng tiếng nước ngoài trong các loại hình văn bản, trên các hình thức truyền thông, quảng cáo. Các cơ quan báo chí, truyền thông, bên cạnh việc tuyên truyền, khuyến cáo thì phải làm gương; phải trở thành mẫu mực trong việc sử dụng ngôn từ. Theo quan niệm của chúng tôi, mục tiêu quan trọng nhất của báo chí là hiệu quả của các thông tin đến người tiếp nhận. Vì vậy, phương tiện truyền thông là hướng tới sự đơn giản, dễ hiểu, chứ không phải là nơi thể hiện các "nghệ thuật" ngôn từ.

Ở nhà trường, bên cạnh việc giáo dục cho học sinh thấy rõ được cái đẹp, cái tinh tế, bản sắc và tiềm năng của tiếng Việt chúng ta, với phương châm: có hiểu mới yêu, có yêu mới trân trọng, mới làm tốt việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, các thầy cô giáo phải là tấm gương trong việc thực hiện nhiệm vụ đó. Ngôn ngữ của các thầy cô giáo phải trong sáng, chuẩn mực, phù hợp với quy tắc và phong cách tiếng Việt. Giao lưu, tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tượng xã hội. Để hạn chế những tiêu cực trong tiếp nhận, sử dụng cần có sự tham gia của toàn xã hội, trong đó gia đình và các tổ chức đoàn thể xã hội đóng vai trò quan trọng. Gia đình cần thường xuyên nhắc nhở và giáo dục con em mình trong việc sử dụng ngôn ngữ đúng chuẩn mực; cần thận trọng trong việc sử dụng ngôn ngữ khi giao tiếp với nhau giữa các thành viên gia đình, tập thể; không để những hiện tượng xấu trong giao tiếp ngôn ngữ ảnh hưởng tiêu cực đến con em mình. Các tổ chức đoàn thể mà hạt nhân là đoàn thanh niên, tổ chức các diễn đàn, bên cạnh tìm hiểu kiến thức về tiếng Việt còn hướng tới việc tạo môi trường thực hành ngôn ngữ, kịp thời điều chỉnh những sai lạc trong tiếp nhận, sử dụng các ngôn ngữ ngoại lai.

Mong muốn thì nhiều, nhưng những ý kiến trên đây còn rất hạn chế về nhiều phương diện. Trước đây, trong bối cảnh nước ta còn bị người Pháp đô hộ, học giả Phạm Quỳnh đã từng nói: "Tiếng ta còn, nước ta còn"(1). Có thể chúng ta cũng chưa hiểu hết hàm ý của tác giả trong bối cảnh ra đời của câu nói, nhưng qua hình thức lập luận có thể thấy, sự cần thiết của việc giữ gìn những tinh hoa của tiếng Việt trước nguy cơ nền văn hóa của ta bị "Tây hóa". Nay nước ta đã hoàn toàn độc lập, không còn phải chịu áp lực gì từ các thế lực ngoại bang, nhưng nếu chúng ta không có những chính sách và giải pháp hiệu quả cho vấn đề thì không ai dám chắc rằng sẽ không có nguy cơ tiếng Việt sẽ biến mất bởi chính những người Việt trẻ.

 

Chú thích

(1). Tạp chí Nam Phong, số 86 (năm 1924).

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Tài Cẩn (1995), Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt, Nxb Giáo  dục, Hà Nội.

2. Hoàng Thị Châu (1964), Tiếng Việt trên các miền đất nước, Nxb KHXH, Hà Nội.

3. Phạm Văn Đồng (1999), "Trở lại vấn đề về sự trong sáng và sự phát triển của tiếng Việt", Báo Giáo dục và Thời đại (số 72) ngày 07/9.

4. Phan Ngọc & Phạm Đức Dương (1983), Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Hà Nội.

5. Lý Toàn Thắng (1996), "Vai trò của Alexandre de Rhodes đối với sự chế tác và hoàn thiện chữ Quốc ngữ", Tạp chí Ngôn ngữ (số 1).

TS. Đặng Lưu

 

1. Từ những năm 20 của thế kỷ trước, các nhà khoa học thuộc trường phái Hình thức Nga đã có nỗ lực rất lớn trong việc nhận thức bản chất của ngôn ngữ nghệ thuật. Những thuộc tính của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương được họ nêu ra không chỉ có tác dụng giúp cho việc nghiên cứu văn học thời đó thoát ra khỏi sự trói buộc khắt khe của kiểu tiếp cận xã hội học với sự chi phối sâu sắc của chính trị, mà nó còn phát huy hiệu quả lâu dài về sau. Một trong những cống hiến đáng ghi nhận của trường phái này là: từ nhận thức về bản chất của ngôn ngữ văn chương, góp phần nhận thức những thuộc tính của tín hiệu thẩm mĩ.

Hiểu sâu sắc bản chất của ngôn ngữ văn chương, các nhà Hình thức Nga gặp nhau ở một điểm rất quan trọng: tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương có tính tự trị. Tz. Todorov quan niệm: "Ngôn ngữ thực tiễn tìm thấy lẽ tồn tại và sự biện chính của nó ở bên ngoài chính nó, trong sự truyền đạt tư tưởng hay sự giao tiếp giữa các cá nhân: nó là phương tiện chứ không phải là mục đích. Còn ngôn ngữ thi ca tìm thấy giá trị và sự biện chính của nó trong chính nó: nó là mục đích của bản thân nó mà không phải là phương tiện" [5, tr. 77]. R. Jakobson thì khẳng định: "Sự định hướng của thông báo vào bản thân nó, sự tập trung chú ý vào thông báo vì bản thân nó, đấy chính là chức năng thơ của ngôn ngữ" [5, tr. 107].

Nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ, GS. Đỗ Hữu Châu nhận thấy tính phức tạp của nó. Theo ông, tín hiệu thẩm mĩ là gì, có bao nhiêu loại tín hiệu thẩm mĩ, thế nào là tín hiệu đơn, thế nào là tín hiệu phức, chức năng của từng loại, nguồn gốc, tính truyền thống và tính cách tân của tín hiệu thẩm mĩ ra sao... đó còn là những câu hỏi còn bỏ ngỏ. Xác định rằng, chưa nói được gì nhiều về cái ngữ pháp (cú pháp) của ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ, GS. Đỗ Hữu Châu quả quyết: "Chắc chắn, nó không đồng nhất với ngữ pháp thông thường" [1].

Những luận điểm nêu trên phần nào cho thấy tín hiệu thẩm mĩ thực sự đã trở thành một thách đố đối với giới nghiên cứu. Thực tế nghiên cứu ngôn ngữ văn chương trong những năm gần đây khá sôi động. Nhiều luận án, luận văn của nghiên cứu sinh và học viên cao học ở các viện nghiên cứu, ở các trường đại học chọn đề tài thuộc lĩnh vực này. Chúng tôi nhận thấy, bên cạnh sự nỗ lực tìm tòi những cách tiếp cận rất có triển vọng, vẫn còn tồn tại không ít vấn đề cần phải thảo luận thêm. Điều đáng quan tâm nhất là, trước một đối tượng như ngôn ngữ văn chương, liệu việc đi theo một số hướng tiếp cận của ngôn ngữ học hiện đại có thực sự đem lại hiệu quả thiết thực? Những cách lí giải mới, lạ có giúp khám sâu thêm những giá trị đích thực của ngôn ngữ văn chương, hay đã làm sai lạc bản chất vốn có của nó? Những phân vân này chúng tôi đã từng nêu lên và xem đó như những tấm biển cảnh báo cần có trên những nẻo đường nghiên cứu ngôn ngữ văn chương [4]. Song nhận thấy, vấn đề vẫn chưa hết tính thời sự, lần này, chúng tôi xin triển khai thêm một số luận điểm.

2. Có một thực tế, hiện nay, do số lượng người đi học khá đông, ngành Ngôn ngữ học ở các cơ sở đào tạo cần rất nhiều đề tài luận văn, luận án. Trước tình trạng đề tài đã trở nên "khan hiếm" (thậm chí có người dùng từ "cạn kiệt"), thì việc hướng đến ngôn ngữ văn học được xem như một giải pháp cần thiết. Tác phẩm văn học Việt Nam ở những thời kì khác nhau, thuộc mọi thể loại đều trở thành đối tượng nghiên cứu. Thậm chí, có những tác phẩm chưa ráo mực, vừa xuất hiện ở kệ sách đã lọt vào tầm ngắm của thầy và trò.

Việc chọn ngôn ngữ văn chương để nghiên cứu là điều xác đáng, không có gì phải băn khoăn. Vấn đề đáng bàn là ở quan niệm về đối tượng và cách tiếp cận.

2.1. Trong không ít những công trình mà chúng tôi từng biết, dường như người nghiên cứu ít quan tâm đến tính hệ hình của ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ. Thực tế, không tồn tại cái đẹp chung chung, mà phải là cái đẹp cụ thể của thời đại văn học nào. Do đó, người nghiên cứu rất cần có kiến văn rộng, tri thức phong phú, nhãn quan tinh nhạy mới có thể định ra được chuẩn thẩm mĩ phù hợp, từ đó mới mong có cách đánh giá chính xác. Ở văn học trung đại, những mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông đương nhiên là những đối tượng thẩm mĩ đã được biết đến rộng rãi, những cái đẹp tưởng như muôn thuở, bất biến. Nhưng thực tế, đến văn học hiện đại, ta lại gặp những hình ảnh có vẻ rất thô mộc trong ngôn từ nghệ thuật, chẳng hạn, một chiếc "răng rụng", một"cái gậy" bị đánh cắp, một "cột cây số" bên con đường thiên lí, một "tiếng gà gáy" giữa đêm sâu, thậm chí, thân hình "ghẻ lở", khiến người ta "sột soạt luôn tay tựa gảy đàn"... (trong Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh). Đó vẫn là những tín hiệu thẩm mĩ, và giá trị của chúng đã được thể hiện trong hệ thống ngôn từ của tác phẩm. Tương tự, chất du dương, trầm bổng, mượt mà của câu văn Tự lực văn đoàn không thể thay thế những câu văn "chó mửa" kiểu Hoàng Tích Chu, bởi chính loại câu văn tưởng rất thô nhám, xù xì ấy đã được tái sinh một cách ngoạn mục trong tác phẩm của nhiều nhà văn hiện thực xuất sắc, và nhờ chúng, hệ hình văn học ấy mới có được diện mạo đích thực. Tương tự, cuộc xung đột cũ - mới trong thơ giai đoạn 1932 - 1945 và kết quả chung cục của nó là những tư liệu sống động cho ta thấy cái nhìn hệ hình cần thiết thế nào trong nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ của ngôn ngữ văn chương. Hiện nay, ở nước ta, sự tồn tại của văn chương có yếu tố hậu hiện đại là điều không thể phủ nhận. Những tác phẩm như vậy có hệ từ vựng riêng, có cú pháp riêng và những thủ pháp nghệ thuật đặc thù. Đối diện với chúng, không ít người hoài nghi đặt câu hỏi: chả lẽ đây văn học? Chính sự hoài nghi đó đã đẩy người ta đến một thái độ cực đoan, hoặc không chấp nhận văn học hậu hiện đại như những đối tượng nghiên cứu, hoặc nghiên cứu với mục đích phê phán, phủ nhận. Những bài học về nhận thức nghệ thuật được trình bày trong cuốn Thế mà là nghệ thuật ư [6] của Cynthia Freeland có lẽ vẫn chưa hết tính thời sự nếu liên hệ với tình hình nghiên cứu văn học ở ta hiện nay.

2.2. Tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương vẫy gọi nhiều phương pháp nghiên cứu, nhiều hướng tiếp cận. Những đóng góp của các công trình như: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc, Thi pháp thơ Tố Hữu, Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử, Mắt thơ của Đỗ Lai Thúy, Thơ v.v. và v.v. của Nguyễn Hưng Quốc,... là những bằng chứng sinh động. Thành công của những công trình ấy cũng là sự "nghiệm thu" các phương pháp nghiên cứu được các tác giả áp dụng.

Gần đây, một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ chọn hướng tiếp cận ngữ dụng học, cụ thể là nghiên cứu hành vi ngôn ngữ trong tác phẩm (chẳng hạn, hành động cảm ơn, hành động từ chối, hành động rào đón, hành động phủ nhận,...) thông qua lời đối thoại của nhân vật. Phạm vi nghiên cứu của các đề tài này có thể là tác phẩm của một tác giả cụ thể (ví dụ, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, tiểu thuyết của Nguyễn Khải...); có thể là một thể loại trong một thời kì nhất định (chẳng hạn, truyện ngắn Việt Nam 1930 - 1945, tiểu thuyết từ 1986 - 2000...). Bỏ qua sự rộng hẹp của đề tài, điều đáng quan tâm nhất ở đây là tính hiệu quả của hướng nghiên cứu này.

Lí thuyết ngữ dụng học ra đời đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử ngôn ngữ học. Quan sát ngôn ngữ trong hành chức cho phép người nghiên cứu khám phá sâu hơn bản chất của một thứ tiếng, từ đó, rút ra những qui tắc cần thiết cho việc sử dụng ngôn ngữ. Những khái niệm: hành vi ngôn ngữ (có người dịch hành động ngôn ngữ), biểu thức ngữ vi, lực ngôn trung, hành vi tạo lời, hành vi tại lời, hành vi mượn lời... đã được sử dụng phổ biến.

Là một phát minh lí thuyết quan trọng, ngữ dụng học thực sự là công cụ hữu hiệu cho việc tìm hiểu, nghiên cứu ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ sinh hoạt. Nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn, tính tình thái và nhiều phương diện khác trong các phát ngôn cụ thể được nhận thức sâu sắc hơn so với trước đây, khi người nghiên cứu chỉ chú ý đến vấn đề cấu trúc.

Đã có một thực tế, cách vận dụng lí thuyết này để nghiên cứu ngôn ngữ văn học ở một số công trình bộc lộ không ít bất cập, nếu không muốn nói là lệch lạc.

Hãy phân tích một trường hợp cụ thể, chẳng hạn đề tài: Hành động rào đón của nhân vật nữ trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu. Đọc qua, cũng có thể nhận thấy: cả vấn đề của ngữ và vấn đề của văn đều là đối tượng nghiên cứu, và khó phân định bên nào quan trọng hơn. Vậy mà, trong thực tế, một số tác giả đã giải quyết theo hướng nghiêng hẳn về nội dung ngữ dụng. Việc khảo sát các lời đối thoại của nhân vật không ngoài mục đích tìm ví dụ minh họa cho từng khía cạnh ngữ dụng mà thôi. Do vậy, giả sử thay ngữ liệu từ tác phẩm của tác giả này bằng ngữ liệu từ tác phẩm của tác giả khác, hoặc thay ngữ liệu từ tác phẩm văn học bằng ngữ liệu thu thập từ ngôn ngữ sinh hoạt (ghi âm), thì chắc chắn các kết luận về hành động ngôn ngữ được nêu trong đề tài cũng không hề khác. Và như vậy, đối tượng nghiên cứu ở đây hầu như không còn mấy ý nghĩa.

Người ta có thể đặt câu hỏi: mục đích nghiên cứu của những đề tài như trên là gì? Không ít công trình xác định: bổ sung về lý thuyết cho ngữ dụng học. Quả là một tham vọng không hề nhỏ và khó lòng thực hiện, bởi vì, ngữ liệu được thu thập từ văn học, dù công phu đến đâu, cũng không thể phong phú, đa dạng như ngôn ngữ trong các ngữ cảnh giao tiếp cụ thể của đời sống. Những luận điểm lý thuyết ngữ dụng học được khái quát từ việc nghiên cứu ngôn ngữ đời sống là quá đủ, và hoàn toàn không cần bổ sung bằng việc phân tích ngữ liệu từ tác phẩm văn chương. Đó là chưa nói, ngôn ngữ sinh hoạt (tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên) và ngôn ngữ văn chương (tín hiệu thẩm mĩ) thuộc về hai loại khác nhau. Theo M. Bakhtin, "Thật là ngây thơ nếu cho rằng nghệ sĩ chỉ cần một ngôn ngữ của nhà ngôn ngữ học (bởi vì chỉ nhà ngôn ngữ học mới nghiên cứu ngôn ngữ như là ngôn ngữ). Thực ra, nghệ sĩ gia công ngôn ngữ, nhưng không như ngôn ngữ; bởi vì anh ta sẽ khắc phục ngôn ngữ như là ngôn ngữ để biến nó thành phương tiện biểu hiện nghệ thuật [7, tr. 199]. Dùng này để cắt nghĩa kia, xét cho cùng là điều bất khả.

Cũng có người xác định, đối với loại đề tài này, không thể bỏ qua phần văn. Vì thế, trong một số công trình xuất hiện các mục kiểu như Hành động từ chối của nhân vật nữ góp phần thể hiện phong cách của tác giả; Hành động từ chối của nhân vật nữ góp phần tái hiện bức tranh hiện thực đời sống; Hành động từ chối của nhân vật nữ và vấn đề văn hóa ứng xử của người Việt... Rõ ràng, những nhiệm vụ nghiên cứu như vậy hoàn toàn không khả thi, bởi lẽ, hành động ngôn ngữ của nhân vật (qua những ngữ liệu được khảo sát trong các tác phẩm) là quá nhỏ, không đủ để đi đến những khái quát về phong cách, về hiện thực hoặc về văn hóa. Một hành động ngôn ngữ nào đó chỉ là một trong rất nhiều hành động ngôn ngữ của nhân vật được nhà văn miêu tả. Hành động ngôn ngữ dĩ nhiên được thể hiện qua lời nhân vật, trong khi đó, ở tác phẩm, bên cạnh lời nhân vật, còn có lời người kể chuyện. Ngoài yếu tố ngôn ngữ, nhân vật còn tồn tại trong tác phẩm nhờ lai lịch, ngoại hình, hành động, tâm lí. Chừng ấy vẫn chưa đủ để có thể khái quát phong cách nhà văn, bởi tác phẩm tự sự còn có cốt truyện, kết cấu, giọng điệu. Phải là sự tổng hòa nhiều yếu tố, được lặp đi lặp lại nhiều lần trong hàng loạt tác phẩm mới làm nên phong cách. Nhìn rộng ra như thế để thấy rằng, các kết luận liên quan đến văn học được rút ra từ những đề tài nghiên cứu theo hướng ngữ dụng học như nói trên không khác gì đem kính lúp soi vào một điểm nào đó trong bức tranh hoặc một pho tượng. Nó phóng to những vệt màu, những thớ gỗ, những vân đá, nhưng cái đẹp tổng thể của tác phẩm thì hoàn toàn ngoài tầm nhìn của người quan sát.

2.3. Ngôn ngữ học tri nhận cũng là một hướng đang được nhiều người quan tâm. Nhiều đề tài nghiên cứu được chọn đi theo hướng tiếp cận này. Trong bức tranh lắm sắc màu ấy, chúng tôi chỉ xin bàn đến những đề tài đặt ngôn ngữ văn chương dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận.

Tiếp xúc với những đề tài đi theo hướng này, không khỏi có những băn khoăn. Trước hết là ở sự chi phối của các mô hình, các ý niệm đối với thao tác và cách tư duy của người nghiên cứu. Xin nêu một ví dụ: trong công trình tìm hiểu thơ tình của tác giả nào đó, rất dễ gặp tiểu mục: Tình yêu là cuộc hành trình. Thực chất, biểu thức ngôn ngữ này được một số học giả nước ngoài nêu lên khi nghiên cứu ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong một ngôn ngữ cụ thể. Nó trở thành một mô thức chung của tri nhận luận. Đường biên của nó đã được nới rộng, chẳng hạn: sự sống là cuộc hành trình, sự nghiệp là cuộc hành trình, tình bạn là cuộc hành trình, hạnh phúc là cuộc hành trình, hôn nhân là cuộc hành trình... Trong khoa học, những gì quá rộng, quá chung chung như vậy, rất ít có giá trị thao tác. Tình yêu là cuộc hành trình thì có khác gì với tình bạn là cuộc hành trình? Hành trình của tình yêu trong thơ Nguyễn Bính thì có khác gì với hành trình của tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh? Nếu câu trả lời chỉ vạch ra được những đối lập kiểu như thuận buồm xuôi gió/ trắc trở; nhanh/ chậm, có bạn đồng hành/ cô đơn... thì đâu cần đến lý thuyết rất hàn lâm kia. Và hơn thế, những luận điểm lý thuyết rất hàn lâm ấy dường như cũng bất lực trước những cách thể hiện hết sức tinh tế các sắc thái tình yêu trong thơ của từng tác giả. Mô hình hóa là thao tác cần thiết trong nghiên cứu, song giá trị của nó chỉ có được nhờ sự khái quát từ các ngữ liệu cụ thể theo hướng quy nạp. Ngược lại, nếu ngữ liệu đưa ra chỉ nhằm minh họa cho những biểu thức có sẵn như tình trạng phổ biển ở các công trình vận dụng ngôn ngữ học tri nhận để nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ bấy lâu nay, thì sự đóng góp sẽ hết sức hạn chế. Bởi vì, đâu phải nhờ sự minh họa này mà các biểu thức kia mới có thêm sức thuyết phục!

Đến đây, thiết nghĩ, cũng cần có sự khu biệt rõ ràng: các ý niệm mà ngôn ngữ học tri nhận đề xuất là kết quả của kiểu tư duy lô gic, trong khi tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương là kết quả của tư duy hình tượng. Một bên nỗ lực khái quát thật chính xác các thuộc tính của đối tượng, một bên thỏa sức cho trí tưởng tượng bay bổng, sẵn sàng chấp nhận những yếu tố phi lí tính, phi lô gic. Người Hy Lạp xưa có hai từ chỉ ngôn ngữ. Nếu mithos được dùng để chỉ thứ ngôn ngữ giàu cảm xúc, nghiêng về biểu hiện tình cảm, dùng để sáng tạo nghệ thuật, thì logos lại nói đến thứ ngôn ngữ đậm màu sắc lí tính, được dùng trong các công trình khoa học. 

Đây là chỗ căn bản nhất cho thấy tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương rất dễ "dị ứng" với lý thuyết tri nhận luận.

3. Như vậy, sự xuất hiện một số hướng tiếp cận đối với ngôn ngữ văn chương, thoạt nhìn, tưởng như một nỗ lực nhằm khám phá những góc khuất, những bí ẩn của đối tượng, song thực chất, đã đưa ra một bức tranh méo mó về ngôn ngữ văn chương, đặc biệt, đã làm triệt tiêu những giá trị đích thực của một kiểu tín hiệu đặc thù: tín hiệu thẩm mĩ. Thiếu nhãn quan hệ hình, vận dụng lý thuyết không phù hợp để nghiên cứu ngôn ngữ văn chương là những vấn đề cần phải được cảnh báo, bởi, những cách làm này, nói như GS. Đỗ Hữu Châu, không lợi gì cho ngữ cũng chẳng ích gì cho văn.

 

Tài liệu tham khảo

1. Đỗ Hữu Châu (1990), Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học, Ngôn ngữ, số 2, tr.8-11.

2. Terence Hawkes (2014), Khoa học về các ký hiệu, Đinh Hồng Hải dịch, nguồn: Văn chương Việt.

3. Y.M. Lotman (2000), Hậu Sausure, Lã Nguyên dịch, nguồn: Lã Nguyên - nghiên cứu và dịch thuật.

4. Đặng Lưu (2013), Những tấm biển cảnh báo cần có trên những nẻo đường nghiên cứu ngôn ngữ văn học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - Khoa Ngữ văn, Ngôn ngữ và văn học, Kỷ yếu Hội thảo Ngôn ngữ học toàn quốc năm 2013, Nxb Đại học Sư phạm, tr.546-550.

5. Huỳnh Như Phương (2007), Trường phái Hình thức Nga, Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

6. Cynthia Freeland (Như Huy dịch - 2009), Thế mà là nghệ thuật ư, Nxb Tri thức, Hà Nội.

7. Trần Đình Sử (1998), Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

Th.S Hồ Thủy

 

Ngày 31 tháng 5 năm 2007, Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp Văn bằng bảo hộ Chỉ dẫn địa lý (CDĐL) "Vinh" cho sản phẩm cam quả Nghệ An. Cam Vinh là sản phẩm nông sản hàng hóa đầu tiên của Nghệ An xây dựng thành công chỉ dẫn địa lý và trở thành tài sản quốc gia được nhà nước bảo hộ trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Và Chỉ dẫn địa lý đã trở thành "giấy thông hành" cho cam Vinh ngày càng khẳng định thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ trong cả nước.

    Tuy nhiên, tổng diện tích trồng cam trên toàn tỉnh Nghệ An có 4.757ha, trong đó diện tích trồng cam Vinh trong Chỉ dẫn địa lý chỉ có 1.681 ha, chiếm 1/3 diện tích. Như vậy, có đến hơn 3.100 ha trồng cam Vinh không thuộc Chỉ dẫn địa lý, chiếm 2/3 diện tích trồng cam. Vậy, từ trước đến nay đã có cơ chế, chính sách, giải pháp gì cho các hộ sản xuất cam Vinh không nằm trong vùng Chỉ dẫn địa lý, hay người sản xuất vẫn đang tự "bơi" trong việc xây dựng thương hiệu, tìm thị trường tiêu thụ cho sản phẩm cam quả của mình?

Chỉ dẫn địa lý - "Giấy thông hành" cho việc phát triển thương hiệu cam Vinh

Bảo hộ chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ sản phẩm đang được xem là một hướng đi có hiệu quả nhằm bảo vệ tên tuổi và nâng cao giá trị cho hàng hóa. Không dừng lại ở ý nghĩa đơn thuần là giúp người tiêu dùng nhận biết được xuất xứ địa lý của hàng hóa, chỉ dẫn địa lý còn đóng vai trò tích cực trong việc liên hệ đến chất lượng của sản phẩm, bao gồm những đặc điểm của sản phẩm mà chỉ có được do nguồn gốc địa lý của nó, chẳng hạn như khí hậu, đất đai hoặc các phương thức sản xuất truyền thống.

Xét về khía cạnh pháp lý, Bảo hộ chỉ dẫn địa lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trước hết nó sẽ trao cho quyền được ngăn cấm những người không có thẩm quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, hoặc đối với những sản phẩm không có nguồn gốc từ khu vực địa lý đã nêu, hoặc loại trừ những mặt hàng thuộc cùng một khu vực địa lý nhưng sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng.

Ðặc biệt, việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn; Phát triển sản xuất đặc sản, phát triển giá trị tài sản quốc gia; Phát triển ngành, nghề truyền thống, phát triển nông nghiệp, nông thôn, gìn giữ và khẳng định bản sắc dân tộc, bảo vệ sự thật, quyền lợi người tiêu dùng và bảo vệ quyền lợi người sản xuất, kinh doanh.

Theo Chỉ dẫn địa lý, có 3 giống cam được bảo hộ đó là: Cam Xã Đoài, cam Vân Du và cam Sông Con. Đây là 3 giống cam bản địa, nó được trồng ổn định ở Nghệ An từ cuối thế kỷ 19, trong khu vực địa lý thuộc 5 huyện: Huyện Nghi Lộc: gồm 2 xã Nghi Hoa với diện tích 0,76 ha, Nghi Diên 1,3 ha; Huyện Hưng Nguyên: 19,1ha tập trung ở Hưng Trung; Huyện Nghĩa Đàn: diện tích 947,7 ha, tập trung ở 5 xã (Nghĩa Sơn 513,5ha, xã Nghĩa Lâm 141,35ha, Nghĩa Bình 68,18ha, Nghĩa Hồng 38,27ha, Nghĩa Hiếu 186,4ha); Huyện Quỳ Hợp: có xã Minh Hợp 534,81ha; Huyện Tân Kỳ: diện tích 177,82 ha, ở 3 xã Tân Phú 77,2ha, xã Tân Long 46,1ha, xã Tân An 54,52ha.

Tính đến nay, cam Vinh được Bảo hộ chỉ dẫn địa lý được 10 năm, giá trị cam Vinh được nâng lên theo thời gian, người tiêu dùng ngày càng ưa chuộng và biết đến cam Vinh nhiều hơn. Nhờ đó, giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hóa cam Vinh ngày càng cao. Khi chưa có bảo hộ CDĐL, sản phẩm cam Vinh có giá từ 12.000 - 14.000đ/kg, sau khi cam Vinh mang nhãn hiệu CDĐL cuối năm 2011 thì giá trị tăng lên từ 25.000 - 30.000 đ/kg, những năm đầu sử dụng CDĐL (2012, 2013), giá 1kg cam Vinh từ 45.000 - 50.000 đ/kg. Hiện nay, giá cam giao động từ 50.000đ - 60.000đ/kg tùy vào từng giống cam. Cao điểm có những lúc giá cam lên đến 100.000đ - 120.000đ/kg, nhất là vào dịp tết Nguyên Đán. Năng suất bình quân đạt 27 tấn/ha, có những vùng năng suất đạt trên 45 tấn/ha. Mỗi hécta cam đem lại cho người trồng trên 700 triệu đồng. Nhiều hộ nông dân sản xuất cam không chỉ thoát nghèo mà làm giàu và trở thành tỉ phú nhờ trồng cam.

Diện tích cam cũng không ngừng được mở rộng, trước đây diện tích trồng cam cả tỉnh khoảng 1.976 ha khi chưa Bảo hộ Chỉ dẫn địa lý, nhưng đến nay đã có gần 5.000 ha, dự kiến đến năm 2020, diện tích trồng cam tăng lên 6.000ha. Diện tích trồng cam gia tăng đi liền với chất lượng sản phẩm cũng không ngừng được xây dựng, cam Vinh đã chinh phục được những thị trường rộng lớn, cao cấp và khó tính như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng,... Vinh dự được tôn vinh đạt tốp 100 thương hiệu nhãn hiệu nổi tiếng năm 2013, đạt thương hiệu người tiêu dùng tin dùng năm 2014, sản phẩm vàng nông nghiệp Việt Nam năm 2015,...

Như vậy, có thể thấy Bảo hộ chỉ dẫn địa lý đã mở ra cho cam Vinh cơ hội phát triển lớn, giống như "giấy thông hành" đảm bảo về thương hiệu, chất lượng, tính pháp lý cũng như cơ hội mở rộng thị trường ra khắp cả nước. Tuy nhiên, đó là đối với những diện tích, những hộ sản xuất nằm trong vùng Bảo hộ chỉ dẫn địa lý, còn đối với những vùng sản xuất không thuộc Bảo hộ CDĐL (chiếm đến 2/3 diện tích), có thực sự được "bảo hộ" hay họ cũng đang loay hoay giải bài toán: thương hiệu, chất lượng và thị trường tiêu thụ?

Những khó khăn

Thực hiện theo Thông báo kết luận số 229/TB-UBND ngày 27/4/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Xuân Đường tại Hội nghị bàn giải pháp về khai thác, phát triển và quản lý Chỉ dẫn địa lý cam Vinh, ngày 8/11, Sở Khoa học & Công nghệ đã chỉ đạo các đơn vị, tổ chức, cá nhân sản xuất cam Vinh trong vùng Chỉ dẫn địa lý dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc. Tem nhãn sử dụng Chỉ dẫn địa lý cam "Vinh" phải đảm bảo đúng quy định của pháp luật và truy xuất được nguồn gốc của sản phẩm cam "Vinh" (địa chỉ vườn cam, hộ trồng cam, giống cam, quá trình sinh trưởng, lịch trình phòng trừ sâu bệnh,…). Việc dán tem truy xuất nguồn gốc có ý nghĩa hết sức quan trọng giúp cho người sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng và cơ quan chức năng có thể truy tìm được quá trình hình thành và lưu thông của sản phẩm và đặc biệt trong điều kiện hiện nay truy xuất nguồn gốc đối với các sản phẩm nông sản, thực phẩm như rau, củ, quả, thịt, cá,...

Như vậy, các đơn vị, tổ chức, cá nhân sản xuất cam Vinh thêm một lần nữa được "bảo hộ" một cách tốt nhất về thương hiệu, pháp lý và thị trường tiêu thụ. Tuy nhiên, còn hàng ngàn ha cam Vinh nằm ngoài vùng Bảo hộ chỉ dẫn địa lý thì như thế nào? Những khó khăn gì đối với những người nông dân sản xuất cam Vinh nằm ngoài vùng chỉ dẫn?

Tổng diện tích sản xuất cam Vinh không nằm trong Chỉ dẫn địa lý hơn 3.100 ha, chiếm 2/3 diện tích sản xuất cam Vinh toàn tỉnh, trong đó, tập trung nhiều nhất ở huyện Quỳ Hợp hơn 1.600 ha; huyện Con Cuông hơn 255 ha; huyện Yên Thành gần 200 ha; huyện Tân Kỳ 180 ha; Thanh Chương hơn 200 ha;... Mặc dù nằm ngoài vùng chỉ dẫn nhưng cam Vinh trồng ở vùng này vẫn được người tiêu dùng đánh giá cao, ngọt thanh và có hương vị đặc biệt, không thua kém gì cam Vinh được Bảo hộ CDĐL.

Ở huyện Con Cuông (Nghệ An), những năm gần đây người dân các xã Yên Khê, Lục Dạ, Môn Sơn, Bồng Khê, Chi Khê... chọn cây cam làm thế mạnh phát triển kinh tế. Cam Con Cuông được người tiêu dùng đánh giá cao, nhờ có hương vị đặc trưng thơm bởi được trồng tại vùng chân núi đá vôi. Con Cuông nổi danh với sản phẩm cam quả của Nông trường Bãi Phủ. Cam Bãi Phủ được chứng minh bằng chất lượng và giá trị kinh tế vượt trội, trong đó cam ngon nức tiếng được trồng ở xã Đỉnh Sơn. Mặc dù cam Con Cuông đã có từ rất lâu nhưng do vào thời điểm Nghệ An đăng ký chỉ dẫn địa lý cam Vinh ở đây chỉ còn lác đác một số vườn nên không nằm trong vùng Chỉ dẫn địa lý. Tuy nhiên hiện nay, vùng này bao gồm cả huyện Con Cuông và Anh Sơn hiện nay đã có hơn 420 ha cam, với gần 1/3 diện tích cam trong thời kỳ kinh doanh. Không nằm trong chỉ dẫn địa lý cam Vinh nên cam Con Cuông hiện chưa được dán logo, không được dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc.

Không chỉ riêng Con Cuông mà các vùng trồng cam Vinh khác không nằm trong vùng Chỉ dẫn địa lý cũng chịu chung "số phận" về thương hiệu, khiến thị trường tiêu thụ không ổn định, bị tư thương ép giá, nên giá trị kinh tế mang lại chưa cao. Thông thường giá cam của các vùng sản xuất này thấp hơn gần một nửa so với giá cam của vùng Chỉ dẫn địa lý, thậm chí có những năm giá cam chỉ có 10.000đ/kg. Chịu giá cam thấp hơn, người nông dân còn phải tự tìm mối tiêu thụ sản phẩm nên rất dễ bị tư thương ép giá. Việc không được gắn thương hiệu, sản phẩm cam của các vùng này cũng rất dễ bị trà trộn, mất uy tín đối với người tiêu dùng.  

Khi tiến hành khảo sát, tìm hiểu hiện trạng cam Vinh ở các vùng không nằm trong Chỉ dẫn địa lý, thậm chí cả một số vùng nằm trong Chỉ dẫn địa lý, có một thực tế là người trồng cam đang loay hoay tìm kiếm giải pháp kỹ thuật, quy trình canh tác theo cách mà mình cho là đúng nhất. Từ việc lựa chọn giống cam; cách lai ghép mắt giống; sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón…  tất cả gần như được tiến hành rất cảm tính. Với việc phát triển quá "nóng" diện tích trồng cam như hiện nay, nếu không có sự thống nhất trong quy trình kỹ thuật sẽ tạo ra những hệ lụy về môi trường, chất lượng cam Vinh nói chung.

Hướng đi nào cho những vùng sản xuất cam Vinh không nằm trong Chỉ dẫn địa lý?

Diện tích trồng lớn, sản lượng cao, chất lượng sản phẩm tốt, những tiềm năng lớn này của các vùng sản xuất cam Vinh không nằm trong Bảo hộ chỉ dẫn địa lý đang đặt ra cho Nghệ An là cần phải hình thành một hướng đi bền vững đối với cây cam nhằm phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế sẵn có. Nhất là cây cam với ý nghĩa cây làm giàu đã được thực tiễn đánh giá và kiểm chứng.

Ứng dụng khoa học kỹ thuật

Cây cam không chỉ là cây làm giàu, nó còn là cây "nhà giàu", nghĩa là việc trồng cam phải đầu tư rất lớn. Từ cải tạo đất, làm hạ tầng, cây giống, thời gian chăm sóc, quy trình kỹ thuật… Trong khi đó không phải hộ dân nào có diện tích trồng cam cũng đều nắm rõ được quy trình canh tác, phương pháp kỹ thuật trồng cam. Thậm chí, nhiều khu vực không nằm trong diện quy hoạch, nhưng một số hộ dân đã phá bỏ cây mía chuyển sang trồng cam. Chính điều này tạo ra sự bất ổn định trong mục tiêu phát triển kinh tế.

Điều quan trọng nữa là lựa chọn và sử dụng đúng giống cam Vinh có giá trị nhất.   Hiện nay, có rất nhiều giống cam Vinh, nhưng các giống cam được trồng phổ biến là: cam Xã Đoài, cam Vân Du, cam Sông Con, cam          Valencial. Các cơ quan quản lý phải có giải pháp bảo tồn giống cam "tiến Vua" quý hiếm, đồng thời, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nâng cao chất lượng, năng suất của những giống cam khác trong toàn tỉnh.

Riêng huyện Quỳ Hợp đã ban hành Nghị quyết, đề án phát triển vùng nguyên liệu cam Quỳ Hợp theo hướng sản xuất hàng hóa giai đoạn 2016 - 2020 và những năm tiếp theo. Mục tiêu của nghị quyết, đề án là sẽ xây dựng được vùng cam nguyên liệu mang thương hiệu "Cam Quỳ Hợp" với diện tích 3.000 ha. Trong đó, có 70% sản phẩm cam khi xuất bán sẽ có thương hiệu, nhãn hiệu; 50% diện tích cam được sản xuất theo quy trình VietGap. Khi tham gia vào mô hình, người nông dân sẽ được tham các lớp tập huấn từ cải tạo đất, làm hạ tầng, cây giống, thời gian chăm sóc, quy trình kỹ thuật,...

Mô hình sản xuất cam Vinh theo đề án của huyện Quỳ Hợp cần được nhân rộng đối với các huyện cùng diện tích sản xuất cam Vinh trên địa bàn tỉnh Nghệ An. 

Xây dựng các hợp tác xã cam chuyên canh để tạo thương hiệu riêng

Việc mở rộng thêm diện tích trồng cam trong Bảo hộ Chỉ dẫn địa lý là việc khó khăn, vì vậy, với những vùng cam nằm ngoài vùng chỉ dẫn địa lý cam Vinh, cần liên kết với nhau để thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, xây dựng nhãn hiệu tập thể riêng.

Việc xây dựng được các HTX cam chuyên canh sẽ là giải pháp tốt nhất trong việc mở rộng giống cam trên quy mô lớn gắn với thương hiệu để xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm bền vững cho giống cây trồng chủ lực này tại các vùng sản xuất cam không nằm trong Chỉ dẫn địa lý. Các HTX cam chuyên canh này còn có vai trò thống nhất các hộ dân với nhau, giúp họ có thể tiếp cận, áp dụng KH-CN vào sản xuất và hợp tác một cách cụ thể với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện, để bảo vệ quyền lợi cho các hộ dân trồng cam. Mỗi HTX đều đăng ký một nhãn hiệu cam riêng, và tạo nên thương hiệu cam riêng gắn với sản phẩm, uy tín của mình.

Cần sự vào cuộc của Nhà nước và Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh

Theo thống kê chưa đầy đủ, bình quân mỗi năm các vùng sản xuất cam Vinh nằm ngoài Chỉ dẫn địa lý sản xuất và đưa ra thị trường hàng chục ngàn tấn cam tươi. Số lượng hàng chục ngàn tấn cam này được tiêu thụ bởi tư thương là chủ yếu. Lý do một phần bởi người nông dân chưa biết làm thị trường và không có khả năng để quảng bá thương hiệu, mà hoạt động này chỉ có thể thực hiện nếu có sự vào cuộc của Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh và các cơ quan quản lý nhà nước. 

Từ năm 2008, Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh đã ra đời. Dù đã có một số những thành quả như tham gia góp phần giúp cho Cam Vinh có tiếng tăm trên thị trường; người trồng cam nâng cao được giá trị sản xuất, tuy nhiên, thì Hội  hiện vẫn đang "có rất nhiều bất cập", "có danh mà không có thực". Và mục tiêu quan tâm của Hội cũng chỉ mới bó hẹp trong vùng sản xuất cam nằm trong Chỉ dẫn địa lý. Do đó, Hội cần kết nối các vùng, các hộ trồng cam tham gia vào các khâu, quy trình sản xuất; góp phần cùng cơ quan Nhà nước giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc mà cam Vinh nói chung và cam Vinh ở những vùng sản xuất không nằm trong chỉ dẫn nói riêng đang gặp phải như: thị trường, quảng bá thương hiệu…

Về vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước, dù đã có sự quan tâm đến cây cam nhưng chưa đủ để nâng tầm thương hiệu cam Vinh tiến xa so với giá trị thực. Bài học thực tiễn từ công tác quảng bá thương hiệu của cam Cao Phong - Hòa Bình, tỉnh nên nghiên cứu để có các giải pháp quản lý thị trường, tìm kiếm đối tác lớn, ổn định để tiêu thụ sản phẩm và thực hiện chiến lược quảng bá thương hiệu cam Vinh của mình.

LTS: Năm 2008, Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh thành lập. Sau gần 10 năm hoạt động, đến nay, mặc dù đã có một số thành quả như tham gia góp phần giúp cho cam Vinh có tiếng trên thị trường; người trồng cam nâng cao được giá trị sản xuất, tuy nhiên, theo đúng chức năng, nhiệm vụ thành lập thì Hội đang "có rất nhiều bất cập".

Có thực Hội đang "khoác chiếc áo hữu danh vô thực"? Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An có cuộc trao đổi thẳng thắn với ông Nguyễn Giang Hoài - Chủ tịch Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh về vấn đề này.

 

*    *   *

P.V: Thưa ông, Đại hội Hội Sản xuất & Kinh doanh cam Vinh nhiệm kỳ 2017 - 2022 vừa tổ chức thành công, ông có thể nói rõ hơn về vai trò cũng như chức năng nhiệm vụ của Hội?

Ông Nguyễn Giang Hoài: Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh là tổ chức xã hội nghề nghiệp gồm có thành viên là các cá nhân, tổ chức, hộ gia đình, canh tác, sản xuất và kinh doanh cam Vinh, tự nguyện gia nhập và hoạt động theo nguyên tắc bình đẳng, cùng chia sẻ rủi ro và lợi nhuận.

Với vai trò liên kết các hộ nông dân, các hợp tác xã, các doanh nghiệp, các tổ hợp tác sản xuất và kinh doanh cam Vinh, cùng chia sẻ, hỗ trợ kinh nghiệm, kỹ thuật kiến thức canh tác, xử lý sau thu hoạch và bảo quản cam vinh; Cùng gìn giữ phát triển thương hiệu và thị trường cam Vinh từ đó đem lại lợi ích chung cho các hội viên; Chia sẻ các thông tin về vốn, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, các vật tư khác… cũng như tìm đối tác và cơ hội hợp tác sản xuất kinh doanh; Hội là cầu nối để trao đổi, đóng góp ý kiến của hội viên với các cơ quan quản lý trong việc hoạch định chính sách, chủ trương phát triển ngành có hiệu quả và phù hợp thực tiễn.

P.V: Như ông nói thì có thể thấy vai trò và chức năng của Hội quan trọng trong việc liên doanh, liên kết các hộ sản xuất cam Vinh, cũng như tham gia vào các khâu, quy trình sản xuất; góp phần cùng cơ quan Nhà nước giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc mà cam Vinh đang gặp phải như: thị trường, quảng bá thương hiệu… Tuy nhiên, vai trò đó của Hội trong những năm qua vẫn còn rất mờ nhạt, phải chăng là "hữu danh vô thực", thưa ông?

Ông Nguyễn Giang Hoài: Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh thành lập và hoạt động trên tinh thần tự nguyện, không có một cơ chế, chính sách chuyên trách nào cho những thành viên tham gia Hội, tự đảm bảo kinh phí, trụ sở và phương tiện hoạt động mặc dù vẫn có tài khoản và con dấu riêng. Vì thế, lâu nay hoạt động của Hội cũng dựa trên tinh thần tự nguyện là chính.

Trong thời gian tới, để nâng cao vai trò hơn nữa, Hội sẽ kiện toàn lại và ban hành quyết định cụ thể để sắp xếp, bố trí giao trách nhiệm cho các thành viên. Ngoài ra, hình thành tổ chức hội ở các địa phương có cây nông sản này. Thông qua tổ chức hội cơ sở, người trồng cam sẽ có cơ hội để giao lưu học hỏi lẫn nhau, tiếp cận và ứng dụng tiến bộ KH-KT vào sản xuất; liên danh, liên kết để tạo ra chuỗi giá trị đầu - cuối. Như thế sẽ không còn tình trạng "có danh mà không có thực".

P.V: Vậy kế hoạch hoạt động của Hội trong nhiệm kỳ tới là gì, thưa ông?

Ông Nguyễn Giang Hoài: Trong nhiệm kỳ tới, để phát huy vai trò và chức năng của mình, Hội tập trung:

Thứ nhất, tranh thủ các cơ chế, chính sách ưu đãi của tỉnh về phát triển sản xuất cam Vinh, để hỗ trợ, hướng dẫn người nông dân cũng như doanh nghiệp quy trình sản xuất, giống, vật tư, cũng như nguồn vốn.

Thứ hai, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước tiến hành rà soát, kiểm tra và thanh tra đối với các đơn vị sản xuất và kinh doanh cây giống cam, vật tư nông nghiệp đặc biệt là thuốc BVTV, phân bón cho cây cam, các dịch vụ nông nghiệp như dịch vụ tưới, máy móc, tín dụng… về hiệu quả sản xuất, sự tác động tới môi trường và sức khỏe của người trồng cam, người tiêu dùng nhằm đưa ra các khuyến cáo, hướng dẫn và hỗ trợ tư vấn cho các hội viên lựa chọn đúng các nhà cung cấp có uy tín nhằm bảo vệ hoạt động sản xuất và kinh doanh cam của các hội viên.

 Thứ ba, Hội sẽ hỗ trợ, duy trì phát triển các doanh nghiệp, hộ sản xuất và kinh doanh cùng xây dựng tiêu chuẩn chung về sản phẩm cam Vinh và cùng sản xuất sản phẩm có chất lượng cao, ổn định, đồng đều, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo các quy trình GAP như VietGAP, GlobalGAP để đưa ra thị trường.

Thứ tư, tăng cường bảo vệ và phát huy Bảo hộ Chỉ dẫn địa lý cam Vinh. Đặc biệt, 100% cam Vinh thuộc Hội được dán tem truy xuất nguồn gốc. Đề xuất với tỉnh đẩy mạnh hơn nữa việc quảng bá cam Vinh trên các phương tiện báo đài, tại các hội nghị cũng như các lễ hội. Ngay sau Đại hội này, chúng tôi sẽ xây dựng lại trang Website của Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh, nội dung cụ thể sẽ được BCH xem xét nhưng có thể tên của từng nhà vườn, từng nhãn hàng thuộc CDĐL và là hội viên sẽ được thể hiện.

P.V: Phát huy lợi thế của Chỉ dẫn địa lý, Hội đã có những định hướng phát triển cụ thể gì để đưa thương hiệu cam Vinh vươn xa hơn thị trường trong nước và tiến tới xuất khẩu?

Ông Nguyễn Giang Hoài: Trong phương hướng, lộ trình phát triển cam Vinh giai đoạn 2017-2020, Hội đã xây dựng cụ thể như sau:

Giai đoạn 1 (2017 - 2018): gồm củng cố tổ chức, tài chính và phát triển quy mô hội viên.

Củng cố tổ chức: Xây dựng bộ máy Ban Chấp hành tâm huyết, nhiệt tình, đại diện cho từng vùng kết hợp giữa các lứa tuổi (gồm 20 người). 4 chi hội trực thuộc gồm Quỳ hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ và Nghi Lộc. Mỗi đồng chí Phó Chủ tịch sẽ phụ trách 1 chi hội và lãnh đạo của chi hội sẽ nằm trong tổ quản lý tem truy xuất điện tử của huyện mình.

Tài chính: Hiện tại chi phí hoạt động của Hội đang tự nguyện, theo kế hoạch Hội sẽ huy động từ những nguồn sau: Lệ phí và hội phí do Hội viên góp; Phí cung cấp dịch vụ tư vấn kỹ thuật, cung ứng máy móc, hỗ trợ bán hàng, kinh doanh… Được hỗ trợ thông qua việc tham gia và thực hiện các chương trình, dự án, tổ chức sự kiện;… Được hỗ trợ từ các nhà tài trợ quốc tế, trong nước thông qua các chương trình dự án do Hội đề xuất; Hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước.

Phát triển quy mô hội viên: Phát triển hội viên được coi là một nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên, tùy vào từng thời kỳ chúng ta sẽ phát triển số lượng hội viên phù hợp. Ngay sau khi đại hội lần 2 kết thúc, BCH hội sẽ tích cực hỗ trợ thành lập các Chi hội trực thuộc, phối hợp cùng các xã, huyện địa phương để tập hợp, rà soát lại toàn bộ danh sách các hộ trồng cam trên địa bàn tỉnh cũng như các hộ trồng cam thuộc quy hoạch Chỉ dẫn địa lý cam Vinh.

Giai đoạn 2: Quy chuẩn hóa (2018 - 2019)

Hội sẽ tham mưu với các sở, ngành, cơ quan quản lý để phối hợp cùng với các hộ nông dân trồng cam và các nhà khoa học dựa trên kinh nghiệm thực tiễn và lý thuyết khoa học để cùng xây dựng bộ quy trình chuẩn về canh tác cam Vinh đạt chất lượng cao và phối hợp cùng các sở, ngành, cơ quan quản lý nhà nước nhằm tích cực tuyên truyền sâu rộng trong các hộ sản xuất và kinh doanh cam tạo ra chuỗi giá trị lớn về cây cam Vinh trong đó, Hội là nòng cốt trong việc hướng dẫn, liên kết, xây dựng quy trình chuẩn, tổ chức xúc tiến thương mại, phát triển thị trường chung thông qua các Hội nghị cho các Hội viên.

Giai đoạn 3: Phát triển bền vững (2020 - 2022): Được hiểu một cách ngắn gọn là trái cam của chúng ta được nhận biết thương hiệu một cách dễ dàng, phổ biến. Thực ra mỗi một sản phẩm hàng hóa, kể cả nông sản, đối với người tiêu dùng khi nào người ta cùng đặt vấn đề nguồn gốc của sản phẩm, người tiêu dùng người ta tìm đến nguồn gốc tạo ra sản phẩm cam đó, đặc biệt đối với các nước phát triển thì việc này người ta đã làm lâu rồi, hiện nay trong xu thế chung của thực phẩm an toàn thì việc này rất cần thiết, nó tạo lòng tin, tạo cho khách hàng kiểm soát được xuất xứ của hàng hóa đến nhà vườn và ngược lại yêu cầu người sản xuất phải có trách nhiệm đối với sản phẩm của mình.

Trân trọng cảm ơn ông!

Quán Vi Miên

 

1. Mở đầu

Xin nói ngay rằng, tiêu đề/danh xưng "Lễ hội Nhả Póm" ở trên, tôi chỉ dùng tạm/ đặt tạm mà thôi. Lý do vì sao thì tôi sẽ nói/ bàn luận ở dưới. Năm ngoái, 2016, đúng ngày 20/8 âm lịch, một anh bạn ở ngoài bản quê gọi cho tôi: "Anh không về, chứ ở bản Chiêng Đôn (Châu Quang, Quỳ Hợp, Nghệ An) của anh người ta đang tổ chức Lễ hội bà Nhả Póm". Tôi nghe thế mà mừng rưng rưng. Tôi nói: "Nếu anh tham gia, chụp ảnh, thì gửi cho tôi với"… Năm nay, 2017, đúng ngày 20/8 âm lịch thì một người bạn khác lại gọi, báo cho tôi: "Người ta đang tổ chức Lễ hội ăn mọc ở bản anh đấy!". Lòng tôi dâng trào cảm xúc tự hào. Hiện tượng người này gọi nó là Lễ hội thế này, người khác gọi thế khác, tôi nghe đã nhiều, khi đang còn sống và công tác ở thành phố Vinh, mỗi khi có người ở bản quê xuống. Tôi nói với họ, với tư cách cá nhân, rằng tôi là người bản ấy, tôi có biết lai lịch bà Nhả Póm và tục cúng bà ấy ít nhiều; tôi có viết mấy bài báo và sách (có phần) nói về bà ấy... Cuốn sáng giá nhất là Địa chí Quỳ Hợp, Nxb. Nghệ An, 2003, do cố PGS. Ninh Viết Giao chủ biên, tôi và ông Lô Khánh Xuyên là đồng tác giả (bìa sách/ bọc ngoài bìa cứng, in là có sự cộng tác). Một người anh họ nói với tôi: "Muốn phục dựng Lễ hội bà Nhả Póm mà không biết lịch sử cụ thể thế nào, các bước tế lễ làm sao". Đó là tình trạng của một số lễ hội, khi mà chúng ta bỏ quên nó khá lâu, bây giờ mới đánh thức nó dậy. Thường thì những người sống ở ½ thế kỷ XX trở về trước mới được chứng kiến các lễ hội/phong tục ấy. Nhưng các già bản đó thì đã về Mường Then/ Bôn (mường trời) từ lâu rồi. Những đứa trẻ hồi đó như tôi nay đã sắp vào tuổi "xưa nay hiếm" (70). Mà không phải tất cả những người cùng lứa với tôi đều biết/để ý về Lễ hội/phong tục ấy. Có những đứa trẻ con chỉ biết ham chơi, đâu có quan tâm đến việc của người già (phong tục, tập quán) như họ nói!

2. Ký ức còn tươi rói

Tôi thì khác. Không hiểu sao từ lúc 7-8 tuổi (những năm 50 của thế kỷ XX) gì đó, tôi đã rất thích nghe chuyện cổ. Khi các già bản như ông Phoòng, ông Hiềng, ông Hiêm, ông Tiềng, ông Quế, ông Là, ông Thí, ông Nhít, ông Xầng, ông Thảnh, ông Phành, ông Chắn, ông Nguyệt… ngồi đan lát, đan chài, hoặc uống nước chè đâm (giã chè xanh, lấy bã hòa nước, lọc qua vỉ)… nói chuyện, là tôi lại lân la đến hóng chuyện. Nhiều lần họ kể về bà Nhả Póm, nói rằng bà là người họ ta (họ Vi), bản ta. Vào cái năm xưa ấy (họ đâu biết là từ thế kỷ XV), loạn rừng, có giặc đến cướp phá, giành mường (đích xác là quân Minh xâm lược). Giặc bắt bà ấy (lúc đó là một cô gái) lên đồn trên núi Pu Chẻ để phục dịch, cơm nước cho chúng. Đêm đêm bọn giặc chui vào túi ngủ để tránh muỗi, bà phải buộc túi lại cho chúng. Sáng hôm sau lại phải mở cho chúng ra. Chuyện này (buộc túi ngủ cho quân Minh), về sau tôi đọc thấy nói có ở nhiều nơi. Tôi tự hỏi: "Các già bản ngày xưa không có sách báo gì để đọc, sao họ lại kể chuyện túi ngủ giống nơi khác thế?". Rõ ràng là họ đã/và chỉ nghe cha ông kể lại. Bà vô cùng căm thù bọn giặc và đã làm nội ứng cho 7 chàng trai ở khu rừng Hẻo Mày một đêm khuya tiến đánh đồn lũy Pu Chẻ, quét sạch quân giặc ở đó. Từ đó, núi Pu Chẻ trở thành linh thiêng trong mắt tôi. Một lần đi vào rừng đào khoai mài với mẹ, tôi đã chắn một nhát thuổng vào vật gì cưng cứng, lấy lên thì như một mẩu sắt thép rỉ gì đó. Tôi đã thiêng hóa mẩu thép rỉ đó là vũ khí của nghĩa quân Lam Sơn (1418-1427). Sau này nghe nói có người nhổ 1 cây hèo lên, thấy có 1 lưỡi gươm rỉ (!). Lạ nhất là khi về đến bến Tả Có Kiềm, mẹ bảo: "Hãy để bó củi của con lại đó". Rồi mẹ lầm rầm khấn: "Cho chúng con gửi bó củi lại nhé, tý nữa quay lại lấy". Mẹ giục tôi qua sông Nặm Huống. Sang đến bờ, mẹ mới nói: "Ta để củi lại để lừa ma, không thì bắt mất hồn". Ma/nó ở đây là quân giặc cướp nước đã vùi thây trên núi. Người già giải thích: "Bảy anh em Chệt Chai đã lăn bọn giặc xuống sông, dìm cho chúng chết. Nên núi ấy có tên là Pu Chẻ (từ pu núi, chẻ dìm, ngâm)". Sau này nghiên cứu, tôi biết từ chẻ/che còn là một từ Thái cổ, có nghĩa là thành lũy, thành trì. Người già còn nói: "Núi Phá Luốm màu đen vì bị cháy trong trận đó". Đó là truyền thuyết đầu tiên tôi nghe về sự kiện lịch sử cách đây nửa thiên niên kỷ. Một lần cả bản đi săn được con nai to. Người ta không đưa nai vào bản, mà mổ bày mâm cúng ở đền thờ bản (làm kiểu nhà sàn nhỏ). Trước khi cúng, người ta làm một mâm cúng bà Nhả Póm, cử mấy người già đội mâm xuống núi Pu Chẻ. Tôi được đi theo họ. Đền thờ bà Nhả Póm ở trên sườn đồi (póm) dưới chân núi pu Chẻ, là một ngôi chòi sàn nhỏ, làm bằng tre nứa lá. Sau này, từ những năm 60 của thế kỷ XX, bị bỏ hoang. Người bản tôi cúng/thờ bà Nhả Póm ở tại bản luôn. Nhưng rất thiêng. Nghe nói có người lên lấy trộm đá ở nền đền thờ về để xây nhà thì hóa điên! Không biết thực, hư thế nào? Học lên cấp 1 (trước đó là Vỡ lòng ở bản), tôi biết đến khu rừng Hẻo Mày, vì trường nằm bên cạnh nó. Đó là một khu rừng/đầm lầy um tùm cây xanh, không ai dám vào vì cho nó là rừng ma (hẻo - tiếng Thái). Còn từ mày, nghĩa là cháy. Rừng ma cháy (hẻo mày), vì sao? Nghe nói ở giữa rừng có ao Chệt Chai. Ở đó 7 chàng trai bản Phẩy (có thể là một đội quân Lam Sơn) đã náu mình, mai phục giặc ở đó. Như vậy, nơi khu rừng này đã diễn ra những trận đánh ác liệt (cháy và vùi xác quân của cả hai bên - Lam Sơn và giặc Minh), nên mới có tên như thế (hẻo mày). Lên cấp 2, trường sơ tán vào bản Ca, tôi đi học qua cánh đồng Tổng Phẩy, Tổng Hảm, thấy có chòi thờ (làm bằng tre nứa lá đơn sơ) lấp ló ở ven rừng Hẻo Mày. Hỏi thì người ta nói: "Thờ 7 anh em Chệt Chai đó!". Sau này, bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1964-1975), người ta mới khai phá Hẻo Mày thành khu dân cư, chăn nuôi, thí nghiệm, trường học… Cánh đồng phía Đông, cách khu rừng Hẻo Mày không xa, có tên là Tổng Nải, nghĩa là Đồng Chừa. Hẳn nơi đây cũng xảy ra huyết chiến, khiến quân Minh kinh hồn bạt vía! Kế đó là bản Chiêng Yến, tức là bản Yên Vui, lập ra sau khi chiến thắng quân Minh. Học về khởi nghĩa Lam Sơn, tôi hiểu thêm về lịch sử chống quân Minh. Cuối năm 1424, quân Lam Sơn chuyển hướng từ miền núi Thanh Hóa tiến vào vùng núi Nghệ An, làm nên: "Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật/ Miền Trà Lân trúc chẻ, tro bay" (Nguyễn Trãi, Đại cáo bình Ngô). Quỳ Hợp, thuộc Quỳ Châu cũ - là địa bàn hoạt động của nghĩa quân xưa, nằm giữa hai địa danh nổi tiếng ấy (Bồ Đằng, Trà Lân). Nay Quỳ Hợp còn lưu lại địa danh Bãi tập Lê Lợi, núi Pu Chẻ, núi Phá Luốm, rừng Hẻo Mày, đồng Tổng Nải, bản Chiêng Yến và còn nhiều địa danh khác nữa. Như: bản Mổng (trông), bản Nhanh (ngắm), bản Diềm (ngó), bản Le (liếc) xem núi Pu Chẻ cháy do quân ta tấn công giặc. Bản Ảng (ang) ngâm gạo hông xôi nuôi quân. Núi Màng Khùng, quân ta mang/khoác súng. Bản Phá Cặp, voi quân Lê Lợi bị kẹp bởi vách đá chật!... Và bản Chiêng Đôn, bản quê của bà Nhả Póm, đồng tộc của người con gái đã có công giúp Lê Lợi đánh đuổi giặc ngoại xâm. Sau khi bản mường sạch bóng quân thù, cô gái đó ở vậy, không lấy chồng. Khi bà mất, người ta chôn bà trên ngọn đồi (póm), dưới chân núi Pu Chẻ. Tục gọi là bà Nhả Póm, tức là Bà Đồi. Nhả Póm không phải là tên riêng. Cũng như núi Pu Nhả Thầu ở Kỳ Sơn,Núi Bà Già vậy. Từ Nhả - Bà, bình thường chỉ bà già một cách kính trọng; ở đây mang tính thiêng. Như trên đã nói, người ta lập đền thờ/chòi thờ ở trên đồi ấy. Và dân bản mường Khủn Tinh quê tôi đã thờ phụng bà 5 thế kỷ nay. Người có công với bản mường thì nhân dân không bao giờ quên! Đó là chân lí nghìn đời vậy! Núi Pu Chẻ, từ những năm 70 của thế kỷ XX trở đi, bị phá trơ trọi, vết tích thành lũy xưa lộ ra "Pu Chẻ - ngọn núi lặng câm mang tên đồn lũy nhà Minh/ Trải 500 năm, nắng mưa xói lở, mọc toàn gai/ Dưới chân núi, xanh tươi đồi Nhả Póm/ Nơi cô gái bản Chiêng Đôn yên nghỉ, tiếng chim kêu/ Câu chuyện cổ ông bà xưa kể lại/ Còn ngân vang trong lòng bản, lòng mường" (thơ La Quán Miên).

3. Cúng tế bà Nhả Póm

Như trên đã nói, bản quê tôi săn được thú to còn dành cúng bà Nhả Póm 1 mâm. Còn hàng năm, thường kỳ đến ngày cúng tế Lê Lợi, Lê Lai 21-22/8 âm lịch (21 Lê Lai, 22 Lê Lợi), thì trước đó (khoảng từ 17-20/8 âm lịch), người ta tổ chức Lễ hội ky mọc, tức là Lễ hội ăn mọc, cúng bà Nhả Póm. Mâm cúng bà nhất thiết phải có mọc. Vật liệu để làm mọc là gạo giã bột, đọt chuối rừng băm nhỏ, 1 ít muối (không cần nhiều). Bột nhào nước, trộn với đọt chuối rừng băm nhỏ, và muối; gói lại bằng lá dong, lá chuối; rồi đem bỏ vào chõ hông chín. Đây là mọc nhạt. Người ta ăn nhạt (tượng trưng) để tỏ lòng ghi nhớ công ơn của người xưa. Bản tổ chức mổ lợn cúng. Phải chọn lợn nái, tiếng Thái gọi là mú lông; nặng vài chục cân trở lại, chưa đẻ lần nào. Các ông giải thích là: "Bà Nhả Póm ở vậy, không lấy chồng, nên kiêng không cúng lợn đực". Đó cũng là một vấn đề tâm linh, quan niệm, tín ngưỡng chân thành. Mâm cỗ lợn tất nhiên cũng được bày lên bàn thờ. Phía dưới dựng 1 chum rượu cần đã mở (cắm sẵn cần/vòi trúc). Đúng giờ Xái (xế trưa) là người ta bắt đầu cúng. Người đứng ra hành lễ là trưởng tộc họ Vi (Quán Vi). Trường hợp ông này bị ốm hay gì đó thì người ta cử người khác trong họ, cao tuổi, có uy tín. Bất đắc dĩ mới phải mời thầy Mo ngoài dòng họ. Quan trọng là bài cúng tế được diễn xướng như thế nào. Có đúng bài bản không. Có thành kính không. Như trên đã nói, tôi vốn hay tò mò tìm hiểu, những lần cúng tế bà Nhả Póm thì tôi cũng đến gần để lắng nghe. Bố tôi cũng có làm trưởng tộc, giữ 2 cái lọng vàng một thời gian, nên ông đã "truyền" cho tôi bài cúng tế ấy. Lâu rồi tôi cũng nắm được đại ý: Một bài cúng như thế thì thường bắt đầu bằng việc "con cháu xin phép được dâng mâm cỗ lên Then-Bôn (Thượng đế của người Thái), bà Nhả Póm, 7 chàng trai Chệt Chai, tổ tiên nội ngoại, v.v. Xin mời các vị đến ăn xôi, thịt cho no; sau đó uống rượu, ăn trầu… Cuối cùng, xin mời về nghỉ ở bàn thờ (gọi là hó căm = nhà vàng)". Bài cúng đến đó là dứt. Mọi người chờ nhang tắt là hạ mâm, bưng về nhà Trưởng tộc để dọn ăn uống chung cả bản. Sau lễ cúng ở bản, từng nhà mới tổ chức cúng phí hươn (ma nhà) ở nhà mình. Bài cúng có thể do chủ nhà đọc, rút ngắn, nhưng nội dung cơ bản cũng phải đúng tinh thần như trên. Sau cúng tế Nhả Póm và cúng phí hươn/ma nhà, thì cả bản mới đánh cồng chiêng, uống rượu cần vui chung. Sau này có điều kiện tìm hiểu, nghiên cứu, tôi mới nắm được bài cúng tế Nhả Póm (ngang với Cúng mường) đó dài 349 câu/dòng văn vần/thơ; bài cúng phí hươn/xở hỏng (ma nhà) dài 185 câu/dòng. Vào thời điểm này, 2017, chắc chắn là bản Chiêng Đôn quê tôi không ai nắm được 2 bài cúng đó. Tôi, đã nói ở trên, đã thuộc loại "xưa nay hiếm" còn sống. Vậy thì Lễ hội bà Nhả Póm sẽ tiến hành thế nào? Nếu tiến hành thì chắc chắn chỉ "cải biên" mà thôi.

4. Kiến nghị

- Nên thảo luận xem, lễ hội này gọi là gì? Đặt tên gì mới xác đáng? Gọi là Lễ hội Nhả Póm hay là Lễ hội ăn mọc? Gọi là Lễ hội Nhả Póm thì bỏ mất 7 anh em Chệt Chai. Chiến công của bà Nhả Póm gắn liền với 7 anh em Chệt Chai ở Hẻo Mày, bản Phẩy. Cũng xin nói thêm, ngoài cái tên Lễ hội ăn mọc, người ta cũng đã từng gọi nó là lễ hội Cắm phạ ky mọc, tức là lễ hội Kiêng trời, ăn mọc. Kiêng trời là nói đến tính thiêng của lễ hội; ăn mọc thì như ở trên tôi đã trình bày. Cũng có người đề xuất gọi là Lễ hội Chiêng Đôn, Chiêng Yến. Hoặc Lễ hội bản Le. Bản Le là địa danh gần với núi Pu Chẻ. Nhưng bà Nhả Póm là người bản Chiêng Đôn thì gắn Chiêng Yến, bản Le vào làm gì? Xem ra gọi là Lễ hội Cắm phạ ky mọc là hợp lý hơn cả.

- Nếu phục dựng lễ hội Cắm phạ ky mọc thì phải nghiên cứu cẩn thận. Phải lấy ý kiến của các nhà nghiên cứu, để tiến hành phục dựng lễ hội tốt hơn.

- Nếu có một lễ hội nào đó cần phải được phục dựng đầu tiên trên đất Quỳ Hợp, theo tôi, đó là Lễ hội Cắm phạ ky mọc ở Khủn Tinh quê tôi; nay là xã Châu Quang-Quỳ Hợp-Nghệ An. Lý do, như tôi đã thảo luận ở trên. Chỉ có một địa danh lịch sử ở Quỳ Hợp sánh ngang với nó (núi Pu Chẻ, bản Chiêng Đôn, ao Chệt Chai) là Bãi tập Lê Lợi ở xã Tam Hợp (Quỳ Hợp-Nghệ An) mà thôi. Quán Vi Miên

 

1. Mở đầu

Xin nói ngay rằng, tiêu đề/danh xưng "Lễ hội Nhả Póm" ở trên, tôi chỉ dùng tạm/ đặt tạm mà thôi. Lý do vì sao thì tôi sẽ nói/ bàn luận ở dưới. Năm ngoái, 2016, đúng ngày 20/8 âm lịch, một anh bạn ở ngoài bản quê gọi cho tôi: "Anh không về, chứ ở bản Chiêng Đôn (Châu Quang, Quỳ Hợp, Nghệ An) của anh người ta đang tổ chức Lễ hội bà Nhả Póm". Tôi nghe thế mà mừng rưng rưng. Tôi nói: "Nếu anh tham gia, chụp ảnh, thì gửi cho tôi với"… Năm nay, 2017, đúng ngày 20/8 âm lịch thì một người bạn khác lại gọi, báo cho tôi: "Người ta đang tổ chức Lễ hội ăn mọc ở bản anh đấy!". Lòng tôi dâng trào cảm xúc tự hào. Hiện tượng người này gọi nó là Lễ hội thế này, người khác gọi thế khác, tôi nghe đã nhiều, khi đang còn sống và công tác ở thành phố Vinh, mỗi khi có người ở bản quê xuống. Tôi nói với họ, với tư cách cá nhân, rằng tôi là người bản ấy, tôi có biết lai lịch bà Nhả Póm và tục cúng bà ấy ít nhiều; tôi có viết mấy bài báo và sách (có phần) nói về bà ấy... Cuốn sáng giá nhất là Địa chí Quỳ Hợp, Nxb. Nghệ An, 2003, do cố PGS. Ninh Viết Giao chủ biên, tôi và ông Lô Khánh Xuyên là đồng tác giả (bìa sách/ bọc ngoài bìa cứng, in là có sự cộng tác). Một người anh họ nói với tôi: "Muốn phục dựng Lễ hội bà Nhả Póm mà không biết lịch sử cụ thể thế nào, các bước tế lễ làm sao". Đó là tình trạng của một số lễ hội, khi mà chúng ta bỏ quên nó khá lâu, bây giờ mới đánh thức nó dậy. Thường thì những người sống ở ½ thế kỷ XX trở về trước mới được chứng kiến các lễ hội/phong tục ấy. Nhưng các già bản đó thì đã về Mường Then/ Bôn (mường trời) từ lâu rồi. Những đứa trẻ hồi đó như tôi nay đã sắp vào tuổi "xưa nay hiếm" (70). Mà không phải tất cả những người cùng lứa với tôi đều biết/để ý về Lễ hội/phong tục ấy. Có những đứa trẻ con chỉ biết ham chơi, đâu có quan tâm đến việc của người già (phong tục, tập quán) như họ nói!

2. Ký ức còn tươi rói

Tôi thì khác. Không hiểu sao từ lúc 7-8 tuổi (những năm 50 của thế kỷ XX) gì đó, tôi đã rất thích nghe chuyện cổ. Khi các già bản như ông Phoòng, ông Hiềng, ông Hiêm, ông Tiềng, ông Quế, ông Là, ông Thí, ông Nhít, ông Xầng, ông Thảnh, ông Phành, ông Chắn, ông Nguyệt… ngồi đan lát, đan chài, hoặc uống nước chè đâm (giã chè xanh, lấy bã hòa nước, lọc qua vỉ)… nói chuyện, là tôi lại lân la đến hóng chuyện. Nhiều lần họ kể về bà Nhả Póm, nói rằng bà là người họ ta (họ Vi), bản ta. Vào cái năm xưa ấy (họ đâu biết là từ thế kỷ XV), loạn rừng, có giặc đến cướp phá, giành mường (đích xác là quân Minh xâm lược). Giặc bắt bà ấy (lúc đó là một cô gái) lên đồn trên núi Pu Chẻ để phục dịch, cơm nước cho chúng. Đêm đêm bọn giặc chui vào túi ngủ để tránh muỗi, bà phải buộc túi lại cho chúng. Sáng hôm sau lại phải mở cho chúng ra. Chuyện này (buộc túi ngủ cho quân Minh), về sau tôi đọc thấy nói có ở nhiều nơi. Tôi tự hỏi: "Các già bản ngày xưa không có sách báo gì để đọc, sao họ lại kể chuyện túi ngủ giống nơi khác thế?". Rõ ràng là họ đã/và chỉ nghe cha ông kể lại. Bà vô cùng căm thù bọn giặc và đã làm nội ứng cho 7 chàng trai ở khu rừng Hẻo Mày một đêm khuya tiến đánh đồn lũy Pu Chẻ, quét sạch quân giặc ở đó. Từ đó, núi Pu Chẻ trở thành linh thiêng trong mắt tôi. Một lần đi vào rừng đào khoai mài với mẹ, tôi đã chắn một nhát thuổng vào vật gì cưng cứng, lấy lên thì như một mẩu sắt thép rỉ gì đó. Tôi đã thiêng hóa mẩu thép rỉ đó là vũ khí của nghĩa quân Lam Sơn (1418-1427). Sau này nghe nói có người nhổ 1 cây hèo lên, thấy có 1 lưỡi gươm rỉ (!). Lạ nhất là khi về đến bến Tả Có Kiềm, mẹ bảo: "Hãy để bó củi của con lại đó". Rồi mẹ lầm rầm khấn: "Cho chúng con gửi bó củi lại nhé, tý nữa quay lại lấy". Mẹ giục tôi qua sông Nặm Huống. Sang đến bờ, mẹ mới nói: "Ta để củi lại để lừa ma, không thì bắt mất hồn". Ma/nó ở đây là quân giặc cướp nước đã vùi thây trên núi. Người già giải thích: "Bảy anh em Chệt Chai đã lăn bọn giặc xuống sông, dìm cho chúng chết. Nên núi ấy có tên là Pu Chẻ (từ pu núi, chẻ dìm, ngâm)". Sau này nghiên cứu, tôi biết từ chẻ/che còn là một từ Thái cổ, có nghĩa là thành lũy, thành trì. Người già còn nói: "Núi Phá Luốm màu đen vì bị cháy trong trận đó". Đó là truyền thuyết đầu tiên tôi nghe về sự kiện lịch sử cách đây nửa thiên niên kỷ. Một lần cả bản đi săn được con nai to. Người ta không đưa nai vào bản, mà mổ bày mâm cúng ở đền thờ bản (làm kiểu nhà sàn nhỏ). Trước khi cúng, người ta làm một mâm cúng bà Nhả Póm, cử mấy người già đội mâm xuống núi Pu Chẻ. Tôi được đi theo họ. Đền thờ bà Nhả Póm ở trên sườn đồi (póm) dưới chân núi pu Chẻ, là một ngôi chòi sàn nhỏ, làm bằng tre nứa lá. Sau này, từ những năm 60 của thế kỷ XX, bị bỏ hoang. Người bản tôi cúng/thờ bà Nhả Póm ở tại bản luôn. Nhưng rất thiêng. Nghe nói có người lên lấy trộm đá ở nền đền thờ về để xây nhà thì hóa điên! Không biết thực, hư thế nào? Học lên cấp 1 (trước đó là Vỡ lòng ở bản), tôi biết đến khu rừng Hẻo Mày, vì trường nằm bên cạnh nó. Đó là một khu rừng/đầm lầy um tùm cây xanh, không ai dám vào vì cho nó là rừng ma (hẻo - tiếng Thái). Còn từ mày, nghĩa là cháy. Rừng ma cháy (hẻo mày), vì sao? Nghe nói ở giữa rừng có ao Chệt Chai. Ở đó 7 chàng trai bản Phẩy (có thể là một đội quân Lam Sơn) đã náu mình, mai phục giặc ở đó. Như vậy, nơi khu rừng này đã diễn ra những trận đánh ác liệt (cháy và vùi xác quân của cả hai bên - Lam Sơn và giặc Minh), nên mới có tên như thế (hẻo mày). Lên cấp 2, trường sơ tán vào bản Ca, tôi đi học qua cánh đồng Tổng Phẩy, Tổng Hảm, thấy có chòi thờ (làm bằng tre nứa lá đơn sơ) lấp ló ở ven rừng Hẻo Mày. Hỏi thì người ta nói: "Thờ 7 anh em Chệt Chai đó!". Sau này, bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1964-1975), người ta mới khai phá Hẻo Mày thành khu dân cư, chăn nuôi, thí nghiệm, trường học… Cánh đồng phía Đông, cách khu rừng Hẻo Mày không xa, có tên là Tổng Nải, nghĩa là Đồng Chừa. Hẳn nơi đây cũng xảy ra huyết chiến, khiến quân Minh kinh hồn bạt vía! Kế đó là bản Chiêng Yến, tức là bản Yên Vui, lập ra sau khi chiến thắng quân Minh. Học về khởi nghĩa Lam Sơn, tôi hiểu thêm về lịch sử chống quân Minh. Cuối năm 1424, quân Lam Sơn chuyển hướng từ miền núi Thanh Hóa tiến vào vùng núi Nghệ An, làm nên: "Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật/ Miền Trà Lân trúc chẻ, tro bay" (Nguyễn Trãi, Đại cáo bình Ngô). Quỳ Hợp, thuộc Quỳ Châu cũ - là địa bàn hoạt động của nghĩa quân xưa, nằm giữa hai địa danh nổi tiếng ấy (Bồ Đằng, Trà Lân). Nay Quỳ Hợp còn lưu lại địa danh Bãi tập Lê Lợi, núi Pu Chẻ, núi Phá Luốm, rừng Hẻo Mày, đồng Tổng Nải, bản Chiêng Yến và còn nhiều địa danh khác nữa. Như: bản Mổng (trông), bản Nhanh (ngắm), bản Diềm (ngó), bản Le (liếc) xem núi Pu Chẻ cháy do quân ta tấn công giặc. Bản Ảng (ang) ngâm gạo hông xôi nuôi quân. Núi Màng Khùng, quân ta mang/khoác súng. Bản Phá Cặp, voi quân Lê Lợi bị kẹp bởi vách đá chật!... Và bản Chiêng Đôn, bản quê của bà Nhả Póm, đồng tộc của người con gái đã có công giúp Lê Lợi đánh đuổi giặc ngoại xâm. Sau khi bản mường sạch bóng quân thù, cô gái đó ở vậy, không lấy chồng. Khi bà mất, người ta chôn bà trên ngọn đồi (póm), dưới chân núi Pu Chẻ. Tục gọi là bà Nhả Póm, tức là Bà Đồi. Nhả Póm không phải là tên riêng. Cũng như núi Pu Nhả Thầu ở Kỳ Sơn,Núi Bà Già vậy. Từ Nhả - Bà, bình thường chỉ bà già một cách kính trọng; ở đây mang tính thiêng. Như trên đã nói, người ta lập đền thờ/chòi thờ ở trên đồi ấy. Và dân bản mường Khủn Tinh quê tôi đã thờ phụng bà 5 thế kỷ nay. Người có công với bản mường thì nhân dân không bao giờ quên! Đó là chân lí nghìn đời vậy! Núi Pu Chẻ, từ những năm 70 của thế kỷ XX trở đi, bị phá trơ trọi, vết tích thành lũy xưa lộ ra "Pu Chẻ - ngọn núi lặng câm mang tên đồn lũy nhà Minh/ Trải 500 năm, nắng mưa xói lở, mọc toàn gai/ Dưới chân núi, xanh tươi đồi Nhả Póm/ Nơi cô gái bản Chiêng Đôn yên nghỉ, tiếng chim kêu/ Câu chuyện cổ ông bà xưa kể lại/ Còn ngân vang trong lòng bản, lòng mường" (thơ La Quán Miên).

3. Cúng tế bà Nhả Póm

Như trên đã nói, bản quê tôi săn được thú to còn dành cúng bà Nhả Póm 1 mâm. Còn hàng năm, thường kỳ đến ngày cúng tế Lê Lợi, Lê Lai 21-22/8 âm lịch (21 Lê Lai, 22 Lê Lợi), thì trước đó (khoảng từ 17-20/8 âm lịch), người ta tổ chức Lễ hội ky mọc, tức là Lễ hội ăn mọc, cúng bà Nhả Póm. Mâm cúng bà nhất thiết phải có mọc. Vật liệu để làm mọc là gạo giã bột, đọt chuối rừng băm nhỏ, 1 ít muối (không cần nhiều). Bột nhào nước, trộn với đọt chuối rừng băm nhỏ, và muối; gói lại bằng lá dong, lá chuối; rồi đem bỏ vào chõ hông chín. Đây là mọc nhạt. Người ta ăn nhạt (tượng trưng) để tỏ lòng ghi nhớ công ơn của người xưa. Bản tổ chức mổ lợn cúng. Phải chọn lợn nái, tiếng Thái gọi là mú lông; nặng vài chục cân trở lại, chưa đẻ lần nào. Các ông giải thích là: "Bà Nhả Póm ở vậy, không lấy chồng, nên kiêng không cúng lợn đực". Đó cũng là một vấn đề tâm linh, quan niệm, tín ngưỡng chân thành. Mâm cỗ lợn tất nhiên cũng được bày lên bàn thờ. Phía dưới dựng 1 chum rượu cần đã mở (cắm sẵn cần/vòi trúc). Đúng giờ Xái (xế trưa) là người ta bắt đầu cúng. Người đứng ra hành lễ là trưởng tộc họ Vi (Quán Vi). Trường hợp ông này bị ốm hay gì đó thì người ta cử người khác trong họ, cao tuổi, có uy tín. Bất đắc dĩ mới phải mời thầy Mo ngoài dòng họ. Quan trọng là bài cúng tế được diễn xướng như thế nào. Có đúng bài bản không. Có thành kính không. Như trên đã nói, tôi vốn hay tò mò tìm hiểu, những lần cúng tế bà Nhả Póm thì tôi cũng đến gần để lắng nghe. Bố tôi cũng có làm trưởng tộc, giữ 2 cái lọng vàng một thời gian, nên ông đã "truyền" cho tôi bài cúng tế ấy. Lâu rồi tôi cũng nắm được đại ý: Một bài cúng như thế thì thường bắt đầu bằng việc "con cháu xin phép được dâng mâm cỗ lên Then-Bôn (Thượng đế của người Thái), bà Nhả Póm, 7 chàng trai Chệt Chai, tổ tiên nội ngoại, v.v. Xin mời các vị đến ăn xôi, thịt cho no; sau đó uống rượu, ăn trầu… Cuối cùng, xin mời về nghỉ ở bàn thờ (gọi là hó căm = nhà vàng)". Bài cúng đến đó là dứt. Mọi người chờ nhang tắt là hạ mâm, bưng về nhà Trưởng tộc để dọn ăn uống chung cả bản. Sau lễ cúng ở bản, từng nhà mới tổ chức cúng phí hươn (ma nhà) ở nhà mình. Bài cúng có thể do chủ nhà đọc, rút ngắn, nhưng nội dung cơ bản cũng phải đúng tinh thần như trên. Sau cúng tế Nhả Póm và cúng phí hươn/ma nhà, thì cả bản mới đánh cồng chiêng, uống rượu cần vui chung. Sau này có điều kiện tìm hiểu, nghiên cứu, tôi mới nắm được bài cúng tế Nhả Póm (ngang với Cúng mường) đó dài 349 câu/dòng văn vần/thơ; bài cúng phí hươn/xở hỏng (ma nhà) dài 185 câu/dòng. Vào thời điểm này, 2017, chắc chắn là bản Chiêng Đôn quê tôi không ai nắm được 2 bài cúng đó. Tôi, đã nói ở trên, đã thuộc loại "xưa nay hiếm" còn sống. Vậy thì Lễ hội bà Nhả Póm sẽ tiến hành thế nào? Nếu tiến hành thì chắc chắn chỉ "cải biên" mà thôi.

4. Kiến nghị

- Nên thảo luận xem, lễ hội này gọi là gì? Đặt tên gì mới xác đáng? Gọi là Lễ hội Nhả Póm hay là Lễ hội ăn mọc? Gọi là Lễ hội Nhả Póm thì bỏ mất 7 anh em Chệt Chai. Chiến công của bà Nhả Póm gắn liền với 7 anh em Chệt Chai ở Hẻo Mày, bản Phẩy. Cũng xin nói thêm, ngoài cái tên Lễ hội ăn mọc, người ta cũng đã từng gọi nó là lễ hội Cắm phạ ky mọc, tức là lễ hội Kiêng trời, ăn mọc. Kiêng trời là nói đến tính thiêng của lễ hội; ăn mọc thì như ở trên tôi đã trình bày. Cũng có người đề xuất gọi là Lễ hội Chiêng Đôn, Chiêng Yến. Hoặc Lễ hội bản Le. Bản Le là địa danh gần với núi Pu Chẻ. Nhưng bà Nhả Póm là người bản Chiêng Đôn thì gắn Chiêng Yến, bản Le vào làm gì? Xem ra gọi là Lễ hội Cắm phạ ky mọc là hợp lý hơn cả.

- Nếu phục dựng lễ hội Cắm phạ ky mọc thì phải nghiên cứu cẩn thận. Phải lấy ý kiến của các nhà nghiên cứu, để tiến hành phục dựng lễ hội tốt hơn.

- Nếu có một lễ hội nào đó cần phải được phục dựng đầu tiên trên đất Quỳ Hợp, theo tôi, đó là Lễ hội Cắm phạ ky mọc ở Khủn Tinh quê tôi; nay là xã Châu Quang-Quỳ Hợp-Nghệ An. Lý do, như tôi đã thảo luận ở trên. Chỉ có một địa danh lịch sử ở Quỳ Hợp sánh ngang với nó (núi Pu Chẻ, bản Chiêng Đôn, ao Chệt Chai) là Bãi tập Lê Lợi ở xã Tam Hợp (Quỳ Hợp-Nghệ An) mà thôi. 

Trang Tuệ

 

Di sản của một nhà khoa học, một nhà giáo để lại cho hậu thế không phải là một cái tên cho nhiều người biết đến, mà quan trọng là những giá trị, những trí tuệ, những kinh nghiệm và cả tấm gương về nhân cách của họ làm cho người khác trân trọng và học hỏi. Tất cả được thể hiện qua những công trình nghiên cứu khoa học có giá trị, những thế hệ học trò tài năng và thành đạt, những bài học quan trọng từ quá trình xây dựng và phát triển ngành, đóng góp vào xây dựng nền khoa học, phục vụ công cuộc xây dựng đất nước. Xét theo đó, có thể nói GS.TS Phạm Đức Dương là người có được hầu hết những giá trị cơ bản của một nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lý khoa học, dù giá trị đó đến đâu thì vẫn sẽ cần tiếp tục tìm hiểu. Một trong những đóng góp to lớn của GS. Phạm Đức Dương chính là quá trình xây dựng và phát triển Viện Nghiên cứu Đông Nam Á và ngành Đông Nam Á học Việt Nam. Trong quá trình đó, ông đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu về quản lý khoa học mà cho đến nay vẫn còn nhiều giá trị. Và điều đó cũng góp phần làm nên một Viện trưởng Phạm Đức Dương được nhiều đồng nghiệp, bạn bè, học trò và cả những người lãnh đạo nhà nước kính trọng.

GS.TS Phạm Đức Dương (1930-2013), quê ở làng Đông Thái, xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, là một nhà nghiên cứu khoa học nổi tiếng, một nhà giáo có nhiều đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu Ngôn ngữ học, Đông Nam Á học và Văn hóa học. Thuở nhỏ, gia đình nghèo đói, không có điều kiện đi học, may được một thầy giáo trong làng thương mến cho vào học ở lớp của thầy ở trong làng và trả công bằng cách làm việc vặt trong nhà cho thầy, rồi được một số người giúp đỡ mà học hết tiểu học. Năm 1946, mới 16 tuổi ông tham gia cách mạng và nhập ngũ tại Trung đoàn 103 ở Hà Tĩnh. Sau đó chuyển sang Trung đoàn 286, hành quân sang chiến đấu ở Lào. Sau 10 năm nhập ngũ và chiến đấu ở Lào, ông về nước và được cho đi học tại Đại học Tổng hợp Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp, ông về Viện Ngôn ngữ học (Ủy ban Khoa học Xã hội nhà nước) làm việc, rồi sang làm thực tập sinh ở Liên Xô và bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ về Ngôn ngữ học. Về nước ông tiếp tục làm việc ở Viện Ngôn ngữ học. Năm 1973, khi Ban Nghiên cứu Đông Nam Á được thành lập, ông được chuyển về đây công tác, giữ chức Phó Ban, Trưởng Ban, khi Ban có quyết định chuyển lên thành lập Viện Nghiên cứu Đông Nam Á thì GS. Phạm Đức Dương là Viện trưởng cho đến năm 1994 thì ông nghỉ quản lý. Hơn tám mươi năm làm người, hơn năm mươi năm làm nghiên cứu khoa học và hơn hai mươi năm làm quản lý khoa học, GS.TS Phạm Đức Dương đã để lại cho hậu thế một di sản to lớn về nhiều phương diện. Đặc biệt là những kinh nghiệm về quản lý khoa học của một người làm viện trưởng được ông xây dựng, thực hiện và đúc rút ra trong hơn hai mươi năm làm quản lý Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (nay thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam). Qua nhiều buổi trò chuyện với GS. Phạm Đức Dương trong khoảng 5 năm trước khi Giáo sư tạ thế, cũng như một số trao đổi với các nhà nghiên cứu khác về ông, bài viết này xin mạn phép được tổng kết lại một số bài học kinh nghiệm quý báu về quản lý khoa học mà GS. Phạm Đức Dương để lại cho hậu thế(1)..

Mọi việc phải bắt đầu từ việc học tập nghiêm túc với tinh thần cầu thị, cầu tuệ

Học một cách nghiêm túc, cầu thị, đó là con người của GS. Phạm Đức Dương. Với ông, quan điểm về học là "Học để nâng cao kiến thức, phục vụ tốt cho công việc chuyên môn, cho cuộc sống là nhiệm vụ và niềm tự hào của mỗi người nhưng học bằng tiền, bằng quyền, cốt có tấm bằng để tiến thân thì đó là một điều tai hại đối với xã hội"(2). Những ngày thành lập Ban Đông Nam Á, ông là một trong những người hăng say học tập từ chính các đồng nghiệp của mình. Các ông tổ chức lớp trợ lý Đông Nam Á và mời các chuyên gia đầu ngành về giảng dạy. Lúc đó, Cao Huy Đỉnh giảng về văn hóa dân gian, Đào Duy Anh giảng về lịch sử, Hà Văn Tấn giảng về khảo cổ học, Từ Chi giảng về dân tộc học, Phan Ngọc giảng về ngôn ngữ học… Không chỉ học lý thuyết, các ông còn đi thực tế với các chuyên gia. Cuối những năm 1970, dù đã gần 50 tuổi nhưng ông vẫn theo GS. Hà Văn Tấn và các sinh viên vào khai quật khảo cổ học ở Hà Tĩnh. Giữa trời miền Trung nắng nóng, thầy trò ông cởi trần, mồ hôi nhễ nhãi ngồi phân loại hiện vật giữa nhà kho. Ông còn một mình đi tìm lấy hiện vật để thực hành và nhờ GS. Hà Văn Tấn kiểm tra giúp. Ông bảo "tôi nghe theo lời anh giảng và tự đi tìm phân loại hiện vật. Nay anh xem lại mà đúng thì coi như tôi đã thuộc bài của anh".

Phạm Đức Dương luôn coi những người như Phan Ngọc, Từ Chi là những người thầy của mình. Ông xem được làm việc với những nhà khoa học lớn này là một đặc ân, một vinh dự và một cơ hội để học tập. Như chính ông nói: "Từ Chi là người đã dạy tôi phương pháp đi thực địa, không phải dạy sách vở mà dạy qua những chuyến thực địa trực tiếp. Còn Phan Ngọc đã dạy tôi về nghiên cứu tư liệu, về lý luận…". Phạm Đức Dương quan điểm rõ ràng về việc học: học để làm việc, để hiểu người hiểu việc và học để từ đó mà sử dụng con người cho đúng việc và tạo điều kiện để họ làm việc tốt nhất. Như ông nói: "Mình làm quản lý, riêng từng chuyên môn thì mình không thể biết sâu bằng chuyên gia nhưng mình cũng phải hiểu để biết cán bộ của mình đang làm cái gì. Nếu mình không học hỏi nghiêm túc thì sẽ trở thành một anh cán bộ lãnh đạo chính trị, luôn đứng trên người khác và đi dạy người khác".

Phân biệt rõ người quản lý khoa học và chuyên gia nghiên cứu khoa học

Quản lý khoa học là tổ chức và đảm bảo điều kiện để các nhà khoa học thực hiện công việc nghiên cứu, sáng tạo chứ không phải là người đi dạy các nhà khoa học nghiên cứu và phán quyết các công trình của họ. Trong một thời gian dài và cho đến ngày nay, chúng ta vẫn chưa có một sự phân biệt giữa người quản lý khoa học và các chuyên gia nghiên cứu khoa học. Một số nhà quản lý khoa học đã ngộ nhận mình là chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực mình quản lý. Điều này tạo nên nhiều hệ lụy khác nhau và ảnh hưởng đến không chỉ khoa học mà cả xã hội. Trước hết, sự ngộ nhận của nhà quản lý vô hình trung đã làm hạn chế môi trường hoạt động của các chuyên gia nghiên cứu thật sự. Cùng với đó là chất lượng các nghiên cứu trong lĩnh vực sẽ hạn chế. Sự ngộ nhận đó cũng "cướp đi" những chế độ đãi ngộ vật chất mà đáng lẽ các chuyên gia được hưởng để phục vụ nghiên cứu, sáng tạo. Và nguy hại hơn nữa, khi lãnh đạo nhà nước cần ý kiến tư vấn của các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn lại tìm nhầm người tư vấn.

Nhìn nhận lại, GS. Phạm Đức Dương là một trong số ít người trong thế hệ của ông tránh được sự nhầm lẫn, ngộ nhận này. Ông luôn coi mình chỉ là một người quản lý khoa học, mà theo ông, là người đứng ra tổ chức anh em và tạo điều kiện tốt nhất cho họ nghiên cứu khoa học. Một cách khiêm tốn thì đồng nghĩa với người giúp việc cho các chuyên gia nghiên cứu. Chức Viện trưởng của ông cũng chẳng khác gì anh tổ trưởng tổ sản xuất. Dù nghe có vẻ ấu trĩ, nhưng nhận thức của ông khi còn làm quản lý là như vậy. Ông từng trao đổi ý kiến về sự phân biệt này với một lãnh đạo Ủy ban Khoa học Xã hội thì bị trách móc vì làm như vậy sợ "không nhất quán về mặt chính trị và dễ bị kẻ thù lợi dụng khoa học để truyền bá tư tưởng chống phá". Khi một người bạn của ông lên làm lãnh đạo Ủy ban Khoa học Xã hội đã hỏi ông về kinh nghiệm lãnh đạo sau nhiều năm lãnh đạo viện nghiên cứu, ông cũng chỉ bảo: "Tôi không có kinh nghiệm gì về quản lý cả nhưng thiết nghĩ, anh muốn có khoa học thật sự thì hãy trân trọng các chuyên gia nghiên cứu, sử dụng họ hợp lý và tạo điều kiện để họ sáng tạo, đóng góp cho nền khoa học nước nhà. Hãy bớt hình thức và phân biệt rõ quản lý khoa học và nghiên cứu khoa học. Muốn vậy anh phải biết được ai là những chuyên gia thật sự trong các ngành mà anh quản lý và phải nắm rõ danh sách này để sử dụng họ đúng việc và tạo điều kiện cho họ làm việc tốt hơn".

Người quản lý khoa học phải nhìn nhận và giới thiệu đúng các chuyên gia để tư vấn cho lãnh đạo nhà nước và cũng tạo điều kiện để các chuyên gia đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước. Đầu những năm 1980, sau chiến tranh biên giới Tây Nam rồi chiến tranh biên giới Tây Bắc đã đặt ra nhiều vấn đề về quan hệ giữa Việt Nam và khu vực, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cho gọi Phạm Đức Dương lên gặp để hỏi ý kiến với tư cách là Viện trưởng Viện Đông Nam Á. Lúc đó, mỗi khi hỏi ý kiến về lĩnh vực nào thì lãnh đạo nhà nước cho gọi người Viện trưởng của viện đó lên vì họ nghĩ ông viện trưởng đương nhiên là người giỏi nhất của lĩnh vực đó. Khi gặp Thủ tướng, Phạm Đức Dương nói rõ quan điểm của mình: "Anh bảo tôi trình bày về Đông Nam Á thì tôi cũng làm được thôi. Nhưng nếu anh muốn hỏi ý kiến chuyên gia thật sự về vấn đề lịch sử, văn hóa Đông Nam Á thì tôi xin giới thiệu anh Phan Ngọc và anh Từ Chi. Họ là những chuyên gia thật sự". Việc này làm Thủ tướng có chút ngạc nhiên, nhưng ông vẫn trao đổi với Phạm Đức Dương và sau đó bảo thư ký mời Phan Ngọc lên nói chuyện một buổi để hiểu thêm vấn đề.

Trọng dụng, trân trọng và tạo điều kiện cho các chuyên gia đầu ngành làm khoa học

Từ sự phân biệt rõ người quản lý khoa học và chuyên gia nghiên cứu khoa học mà Phạm Đức Dương có một thái độ đặc biệt trân trọng các chuyên gia đầu ngành. Theo PGS.TS Ngô Văn Doanh đánh giá thì "Viện Nghiên cứu Đông Nam Á dưới thời GS. Phạm Đức Dương được coi là thời hoàng kim khi tập hợp được nhiều chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực hội tụ về viện làm việc. GS. Phạm Đức Dương có sức hút như một thỏi nam châm lớn hút được các chuyên gia về viện và tạo điều kiện để họ làm việc tốt"(3). Sức hút mà PGS. Ngô Văn Doanh nói ở đây là thái độ trân trọng đối với các chuyên gia. Việc tạo điều kiện cho Từ Chi và Phan Ngọc về làm việc tại viện là một minh chứng cho quan điểm này của Phạm Đức Dương.

Từ Chi là một nhà dân tộc học chính thống được đào tạo bài bản và có kinh nghiệm nghiên cứu điền dã Dân tộc học từ Châu Phi từ đầu những năm 1960. Theo GS. Phạm Đức Dương nói thì "với bề ngoài xoành xoàng, ăn mặc lôi thôi nhìn như một người hành khất nhưng Từ Chi lại chứa đựng một trí tuệ sắc sảo với một vốn tri thức uyên bác. Tuy nhiên, không phải ai cũng phát hiện ra sự vĩ đại từ con người giản dị này". Khi Từ Chi về làm công tác tư liệu tại Tổ Dân tộc học của Ủy ban Khoa học Xã hội, để phục vụ công tác nghiên cứu, ông đã tổng hợp các quan điểm lý thuyết và phương pháp nghiên cứu nhân học mới mẻ của phương Tây để trình bày. Một số người đã quy cho ông là "phổ biến các tư tưởng tư sản cho cán bộ trẻ". Chuyện này gây nhiều khó khăn khiến ông phải xin rời khỏi Tổ Dân tộc học sang Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật. Khi làm quản lý Ban Đông Nam Á, sau là Viện Đông Nam Á, Từ Chi là người mà Phạm Đức Dương mời về cộng tác nhiều nhất. Và cũng từ Viện Đông Nam Á, Từ Chi có điều kiện để nghiên cứu dân tộc học và đạt được nhiều thành tựu trong sự nghiệp của mình. Với Phạm Đức Dương, Từ Chi là một khối óc vĩ đại nên nhiệm vụ của ông là "tạo điều kiện cho Từ làm việc và khai thác trí tuệ của Từ trong nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ trẻ". Ông mời Từ Chi tham gia các chương trình nghiên cứu của Viện, giảng dạy và đào tạo cán bộ cho Viện. Ông cử các cán bộ trẻ như Nguyễn Duy Thiệu, Ngô Văn Doanh… đi theo Từ Chi để học tập. Các sinh hoạt về chuyên môn của Từ Chi chủ yếu diễn ra ở Viện Đông Nam Á. Dù Từ chưa bao giờ được biên chế ở Viện Đông Nam Á nhưng đến như bà Tuất vợ ông cũng chỉ biết cơ quan của chồng là Viện Đông Nam Á. Và cũng chính sự cộng tác của Từ Chi mà các cán bộ trong viện học được về phương pháp nghiên cứu liên ngành, phương pháp và lý thuyết nhân học phương Tây. Không chỉ vậy, Từ còn khơi dậy khát vọng và đam mê cho từng cán bộ nghiên cứu trẻ.

Cùng với Từ Chi, Phan Ngọc cũng là một trí tuệ uyên bác khác. Với vốn ngoại ngữ phong phú, ông từng nghiên cứu và dịch thuật nhiều tài liệu và tác phẩm quan trọng, tham gia giảng dạy tại Đại học Sư phạm Hà Nội. Nhưng sau phong trào Nhân văn Giai phẩm, ông bị đình chỉ công tác giảng dạy và chuyển sang làm tư liệu tại khoa Ngôn ngữ học, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Chuyện Phạm Đức Dương làm mọi cách để đưa Phan Ngọc từ Đại học Tổng hợp về Viện Đông Nam Á đến giờ vẫn được coi như là một "cuộc giải cứu". Ở lại khoa Ngôn ngữ, Phan Ngọc được giao hai việc là dịch thuật và hướng dẫn cho các cán bộ trẻ để họ lên lớp giảng lại cho sinh viên. Thời gian này ông dịch rất nhiều và có nhiều công trình nghiên cứu nhưng lại không được phép xuất bản. Ngay bản dịch Sử ký của Tư Mã Thiên ông cũng phải in dưới tên Nhữ Thành. Sau hơn hai mươi năm làm dịch thuật, dù đời sống không khó khăn nhưng ngược lại, nghiên cứu khoa học lại vô cùng hạn chế do không được xuất bản. Ông cố gắng xin chuyển cơ quan nhưng Đại học Tổng hợp không đồng ý. Phải đến năm 1980, khi hai người học trò của Phan Ngọc lên làm quản lý Khoa Ngôn ngữ, đồng thời ông Vụ trưởng Vụ Tổ chức của Ủy ban Khoa học Xã hội - vốn là một tín đồ của chủ nghĩa thành phần giai cấp về hưu thì việc "giải cứu" Phan Ngọc về Viện Đông Nam Á mới được hoàn thành. Từ đó, sự nghiệp nghiên cứu khoa học của Phan Ngọc được vươn cao khi Phạm Đức Dương đã tạo mọi điều kiện để ông tập trung làm việc. Vậy nên năm 2009, khi Phạm Đức Dương đến thăm Phan Ngọc ở Mỹ Đình, Phan Ngọc đã ôm lấy ông Dương và nói rằng: "Có Phan Ngọc ngày hôm nay là nhờ có Phạm Đức Dương, ông là ân nhân của đời tôi"(4).

Thật sự quan tâm đến đời sống của các cán bộ khoa học

Quan điểm của Phạm Đức Dương rất rõ ràng: Muốn các nhà nghiên cứu khoa học tập trung để tìm tòi, sáng tạo và đóng góp cho nền khoa học nước nhà thì người quản lý khoa học phải biết quan tâm, chăm lo đời sống cho các cán bộ nghiên cứu.

Với chuyên gia làm cộng tác viên như Từ Chi, ông không thể tạo điều kiện tăng lương được nên phải dùng nhiều cách để giúp đỡ gia đình Từ Chi. Trong các chuyến công tác đều cố gắng để Từ Chi có một khoản công tác phí cho ông đi điền dã. Đóng góp và chia sẻ từ mọi người để Từ Chi có bát bún, chén rượu trong những bữa nói chuyện với các cán bộ viện vào cuối ngày làm việc. Kể cả sau khi Từ Chi qua đời, Phạm Đức Dương và Viện Đông Nam Á cũng cố gắng giúp đỡ bà Tuất như ước nguyện cuối cùng của Từ.

Với các cán bộ trong Viện, Phạm Đức Dương rất quan tâm đến đời sống mọi người. Lương cán bộ viện thời bao cấp rất thấp, đã vậy phải 5 năm mới được xét tăng lương một lần. Vậy nên khi về Viện Đông Nam Á, Cao Xuân Phổ dù là một nhà nghiên cứu kỳ cựu nhưng vẫn chỉ được hưởng lương cán sự 3 (tương đương sinh viên mới tốt nghiệp). Phạm Đức Dương đã trao đổi với cán bộ trong viện là cán bộ trẻ cố gắng chịu thiệt một ít để nhường cho các cán bộ lớn tuổi hơn tăng lương trước. Nhờ vậy mà ông đưa lương của Cao Xuân Phổ từ cán sự 3 lên lương chuyên viên và khi nghỉ hưu là chuyên viên bậc 5. Để làm được ý tưởng trên, ông Dương đã sử dụng quyền bổ nhiệm cán bộ của mình. Ông lần lượt bổ nhiệm những người "thuộc danh sách" muốn lên mức lương do ông và viện đã trao đổi trước, làm trưởng phòng và phó phòng. Sau khi họ được tăng lương một hai năm thì lại bổ nhiệm người khác để giải quyết vấn đề lương. Vậy nên "quân của ông Dương" luôn có được một cuộc sống khá hơn trong điều kiện khó khăn lúc đó. Sau này, khi nhìn lại ông tâm sự: "Bổ nhiệm cán bộ cần nhìn vào chuyên môn, trình độ của họ để sử dụng hợp lý. Nhưng trong điều kiện lúc bấy giờ khó khăn quá, mọi người đói quá thì không thể sống được chứ nói gì làm nghiên cứu khoa học. Vậy nên phải làm như vậy để giải quyết cuộc sống trước cho anh em".

Làm Viện trưởng không nên nhận đặc quyền đặc lợi

Phân biệt rạch ròi giữa quản lý khoa học và nghiên cứu khoa học là để tránh chế độ đặc quyền đặc lợi mà nhiều khi chính người quản lý khoa học đã lấy mất của người nghiên cứu khoa học. Người quản lý khoa học thường được coi là lãnh đạo nên có những chế độ ưu tiên riêng. Nhưng nhiều người đã cố tình nhầm để được hưởng thụ cả chế độ mà đáng lẽ ra phải dành cho người làm nghiên cứu khoa học. Với Phạm Đức Dương thì đảm bảo quyền lợi cho người nghiên cứu khoa học là trách nhiệm của người quản lý khoa học.

Hơn hai mươi năm làm trưởng ban và viện trưởng, Phạm Đức Dương tự đặt ra nguyên tắc là không đăng ký vào danh sách chiến sĩ thi đua của viện và không đăng ký vào danh sách 5% cán bộ được tăng lương. Như ông quan niệm thì chiến sĩ thi đua của một viện nghiên cứu khoa học phải là những người làm công tác nghiên cứu khoa học. Danh hiệu này lại do chính các cán bộ trong viện bầu bán. Nếu viện trưởng đăng ký thì dù sao mọi người cũng sẽ bỏ phiếu bầu cho lãnh đạo. Như vậy thì chính người quản lý đã cướp mất một danh hiệu đáng ra của nhà nghiên cứu. Còn việc tăng lương, ông cố gắng dành cho cán bộ chuyên môn tối đa những gì họ được hưởng. Không phải ông không cần lương, mà ông nghĩ ông có trách nhiệm lo cho đời sống của các nhà nghiên cứu mà ông quản lý. Còn chuyện lương bổng của ông thì chính những người quản lý ông phải lo. Ông từng nói với lãnh đạo Ủy ban Khoa học Xã hội rằng: "Các anh là người phải xem xét lương của các viện trưởng như chúng tôi vì chúng tôi là quân của các anh quản lý. Còn chúng tôi lại có trách nhiệm lo cho các nhà nghiên cứu mà chúng tôi quản lý. Nếu tôi cũng đăng ký vào 5% cán bộ tăng lương của viện thì còn gì phần của anh em".

Ngoài chuyện lương bổng thì cán bộ quản lý khoa học cũng có nhiều ưu tiên trong việc xuất bản các công trình nghiên cứu trong thời bao cấp. Khi tiêu chuẩn xuất bản được phân bổ về các viện mà lãnh đạo viện đăng ký thì những người khác sẽ phải chịu thiệt. Tuy nhiên, với Phạm Đức Dương lại ứng xử khác. Tiêu chuẩn xuất bản in ấn của Viện Đông Nam Á được ông phân chia rất rõ ràng: ông không đăng ký vào tiêu chuẩn của viện, ưu tiên số một dành cho các công trình nghiên cứu mà ông cho là có giá trị khoa học cao của các nhà nghiên cứu hàng đầu. Vậy nên các công trình nghiên cứu của Phan Ngọc, Từ Chi đều được xuất bản ở Viện Đông Nam Á. Với ông Dương, Viện Đông Nam Á được đứng ra để in những tác phẩm này là một vinh dự vì chính các công trình này làm rạng danh thêm cho viện chứ không phải viện làm rạng danh các nhà khoa học này. Sự ưu tiên còn lại trong xuất bản phẩm được ông dành cho các nhà nghiên cứu trẻ. Các cán bộ của viện sau khi bảo vệ tiến sĩ đều được động viên chỉnh sửa lại sau ba tháng nộp lại để ông đưa đi in thành sách.

Hơn năm trăm năm trước, danh sĩ Thân Nhân Trung đã tổng kết "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn". Nhưng qua nhiều thời đại cho thấy không dễ gì để đưa nguyên khí này vào sự nghiệp tôn tạo, phát triển đất nước. Ngày nay, khi nhân loại đang tiến vào nền kinh tế tri thức thì việc sử dụng người tài trở thành yếu tố quyết định cho sự phát triển của quốc gia. Những quan niệm, những bài học của GS. Phạm Đức Dương về quản lý khoa học và sử dụng người tài trên đây, dù nhiều cái đã không còn nguyên giá trị, nhưng vẫn còn gợi mở cho chúng ta nhiều điều phải suy nghĩ. Hy vọng rằng cùng với sự thay đổi về nhận thức theo xu hướng phát triển của nhân loại, cùng sự trở mình của đất nước, những di sản trí tuệ của các nhà khoa học sẽ được vận dụng và phát huy.

 

Chú thích

(1). Các trích dẫn sử dụng trong bài viết là những nội dung trong nhiều buổi trao đổi của tác giả với GS. Phạm Đức Dương trong nhiều buổi, trong đó có buổi trò chuyện riêng về quá trình làm Viện trưởng của GS. Phạm Đức Dương ngày 08/6/2013.

(2). Vũ Đảm: Văn hóa dùng người tài (phỏng vấn GS.Phạm Đức Dương). Vanhoanghean.vn

(3). Trao đổi giữa PGS.TS Ngô Văn Doanh với NCS Đặng Hoàng Giang và tác giả trong lễ tang GS. Phạm Đức Dương ngày 11-12-2913.

(4). Ghi chép của tác giả trong cuộc gặp với GS. Phạm Đức Dương và học giả Phan Ngọc năm 2009.

GS.NGND Nguyễn Đình Chú

 

Nhà giáo Nguyễn Huy Tý quê làng Đông Chử nay thuộc xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc, Nghệ An, xuất thân trong một gia đình nổi tiếng yêu nước và khoa bảng. Ông nội là cụ Nguyễn Thức Tự, đậu cử nhân, làm quan chức Sơn phòng Sứ Hà Tĩnh, hưởng ứng Cần vương, là "Vị đại nhân sư trên đất Lam Hồng" (Nhan đề phim Danh nhân đất Việt của Truyền hình Việt Nam năm 2010). Cụ có hai con đậu cử nhân, một con đậu Tú tài về Hán học. Đặc biệt, có 5 con tham gia phong trào cứu nước trong đó có ba người được sử sách ghi danh, ca ngợi. Đã có bài ca dao về gia đình cụ "… Cha con sau trước mấy người/ Hiến thân cho nước cho nòi Việt ". Thân sinh nhà giáo Nguyễn Huy Tý là Nguyễn Thức Độ, đậu cử nhân, nhưng không làm quan, chỉ làm một danh y và từng bị thực dân Pháp bỏ tù vì có quan hệ với phong trào cứu quốc. Nhà giáo Nguyễn Huy Tý được học hành chu đáo và là một trong số vài ba người có bằng Tú tài Tây của huyện Nghi Lộc trước Cách mạng tháng Tám 1945. Thầy còn có vốn Hán học được cha dạy. Ngày học Tú tài ở Hà Nội, Nguyễn Huy Tý được ở trong nhà ông anh rể họ là học giả Đặng Thai Mai mà vợ là chị con cậu ruột, cùng Võ Nguyên Giáp lúc này là giáo viên trường Thăng Long. Tốt nghiệp Tú tài triết học năm 1937, Nguyễn Huy Tý dạy học ở Hải Dương. Sau đó về Vinh dạy trường tư thục Thuận An do thầy Hoàng Đức Thi làm Hiệu trưởng. Học trò Thuận An ngày đó sau này nổi tiếng trong học giới như PGS. Vũ Ngọc Khánh, học giả Trần Đình Hượu, GS. Phan Trọng Luận… đều nhắc tới thầy Tý với niềm kính trọng lớn về khả năng chuyên môn và nhân cách. Cách mạng tháng Tám thành công, thầy Tý trở thành vị Chủ tịch xã đầu tiên của xã Thịnh Trường bấy giờ (gồm hai xã Nghi Trường và Nghi Thịnh ngày nay). Thầy nổi tiếng về tài diễn thuyết trong các cuộc mít tinh của xã và huyện. Nhân dân thời đó đua nhau đi nghe ông Tú Tý, cái tên họ quen gọi, diễn thuyết. Tháng 8 năm 1946, huyện Nghi Lộc mở trường trung học. Thầy được cử làm hiệu trưởng và dạy đủ các môn thuộc khoa học xã hội. Hai năm sau lại được điều lên tỉnh làm phó Ty Văn hóa. Nhưng vì bị bệnh hen, nên lại phải xin về lại nghề dạy học ở Nghi Lộc. Năm 1953, Nghi Lộc bắt đầu có lớp 8 cấp ba, thầy lại là Hiệu trưởng. Năm 1956, thầy dạy trường Huỳnh Thúc Kháng, với cương vị Bí thư chi bộ, Tổ trưởng tổ xã hội. Năm 1965, chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, thầy Tý về dạy trường cấp ba Nghi Lộc. Tại đây, có lớp chuyên văn của tỉnh đặt nhờ và do thầy Tý vừa giảng dạy vừa làm chủ nhiệm. Học sinh lớp chuyên văn này có nhiều người trưởng thành như Nguyễn Đức Hiền, Nguyễn Sĩ Dũng đều là Phó Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội, Hồ Quang Lợi - Phó Tổng Biên tập Báo Quân đội nhân dân, hiện là Trưởng Ban tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, Võ Thị Hảo - một nữ văn sĩ khá nổi tiếng… Lớp học sinh chuyên văn này, mỗi lần họp lớp là mỗi lần nhắc đến thầy chủ nhiệm Nguyễn Huy Tý với bao nhiêu kỷ niệm tốt đẹp và không tránh khỏi có chút cảm thương. Thương thầy giỏi thế mà không có hoàn cảnh để phát triển. Đúng là thế, trong đội ngũ giáo viên văn bấy giờ, không riêng gì của Nghệ An, mà có thể là miền Bắc, hiếm có một giáo viên văn cấp ba mà thông minh, sắc sảo, có kiến thức cổ kim, Đông Tây như thầy Tý. Ngày đó, có phong trào thi giáo viên dạy giỏi, Nghệ An có cô giáo được giải nhất dạy Văn toàn miền Bắc thì chính là nhờ có vai trò huấn luyện của thầy Tý. Tiếc cho thầy Tý là sau năm 1954, đã được Giáo sư Đặng Thai Mai bấy giờ là Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm văn khoa chọn làm trợ giảng về văn học phương Tây tại khoa Văn. Nhưng phần do bị hen mãn tính, phần lại quá đông con, nên đành từ chối. Chứ không thì Thầy sẽ là giáo sư nổi tiếng như GS. Bùi Văn Nguyên, GS. Nguyễn Đức Nam vốn cùng quê Nghi Lộc và là đàn em của Thầy hồi nào ở Trường Trung học Nghi Lộc. Nói thế, nhưng rút cục, gì thì gì, thầy Nguyễn Huy Tý vẫn xứng đáng là một trong số mấy vị sư biểu của Nghệ An thuộc thế hệ nhà giáo trước và sau Cách mạng tháng Tám. Thầy Tý nghỉ hưu năm 1980, và từ giã cõi đời nơi xóm quê vắng lặng và nghèo đói của mình. Tôi vừa là em ruột chị dâu, vừa là học sinh cũ, vừa là thông gia của thầy Tý, trong tang lễ thầy đã có mấy vần như sau với nhan đề "Khóc anh":

Em đã về đây anh Tý ơi!

Mà sao không thấy anh đón chào,

Chỉ thấy hương thơm nghi ngút tỏa,

Và khăn tang trắng xóa một màu tang.

Anh đã đi rồi sao anh ơi,

Trần gian một kiếp thế là thôi.

Anh về bên nớ cùng tiên tổ,

Để lại bên ni nỗi khôn nguôi.

Em vẫn đọc câu thơ họ Vũ(1)

Đời tàn ngõ hẻm chẳng lầu son.

Thôi nhé anh đi cho nhẹ bước,

Vĩnh hằng cõi ấy ngự tòa sen.

Còn em ở tạm bên này đã,

Sẽ đến cùng anh buổi mai sau.

Buổi ấy anh em tha hồ chuyện,

Chuyện văn chương và chuyện thế gian.

Nói vậy mà sao lòng vẫn đau,

Vẫn thương vẫn tiếc vẫn sầu anh,

Vẫn cứ khóc anh trong tâm tưởng.

Hồn thiêng anh hỡi có nghe chăng.

Mộ thầy Tý hiện nằm tại nghĩa trang xã Nghi Trường, cạnh mộ ông nội Nguyễn Huy Tự đã được xếp hạng Di tích Quốc gia. Các môn sinh của Thầy đã cùng gia đình xây lăng mộ khang trang với đôi câu đối tại hai cột lăng của tôi:

Sinh thời kế tục gia tiên, hối nhân bất quyện,

Tử hậu độ trì tôn tử, ban phúc vô cương.

Hàng năm, đúng ngày giỗ Thầy, học sinh cũ, tuổi đã trên dưới tám mươi vẫn tự động rủ nhau về. Trong đó, một lần có linh mục Hóa, vốn quê La Nham, Nghi Lộc, từng là học trò Thầy hồi 1946 - 1947 tại trường Trung học Nghi Lộc cũng từ một nhà thờ ở Hà Tĩnh về dự.

 

Chú thích

(1). Câu thơ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương: "Lầu son mờ gác tía".

LÊ THỊ THU HƯƠNG[*]

Tóm tắt: Xưa nay, khi nghiên cứu về hành trạng các nhân vật khoa cử ở Việt Nam, các nhà khoa học thường sử dụng nguồn tài liệu đăng khoa lục, văn bia đề danh tiến sĩ tại trung ương hoặc địa phương, nguồn sử liệu, hoặc gia phả. Bài viết này cho rằng còn một nguồn tài liệu rất quan trọng giúp ta hiểu thêm về hành trạng các nhà khoa bảng, đó là nguồn tài liệu địa phương chí. Kho sách Hán Nôm thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn lưu giữ 11 tác phẩm địa chí về tỉnh Nghệ An. Trên cơ sở nguồn tài liệu này bài viết thống kê và phân tích những ghi chép về tiểu sử 62 nhân vật đại khoa Nghệ An qua thông tin địa chí. Đây là nguồn tài liệu quý, bổ sung nhiều thông tin quan trọng cho những ghi chép vốn còn đơn giản về các nhà khoa bảng Nghệ An vốn được ghi chép trong các tài liệu khác.  

Từ khóa: nhà khoa bảng, đăng khoa lục, địa chí, Hán Nôm, Nghệ An

1. Nguồn tài liệu: trên cơ sở tham khảo bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu(1) chúng tôi tiến hành khảo sát, đối chiếu với từng văn bản trong kho sách Hán Nôm của Viện NCHN, thống kê được nguồn tài liệu địa phương chí có ghi chép về Nghệ An như sau:

1.     Đông Thành phong thổ ký 東城風土記 (chép trong Hoan Châu phong thổ ký 驩州峰土記), kí hiệu VHv.1719.

2.     Hoan Châu phong thổ ký 驩州峰土記: VHv.1719, VHv.2458. 

3.     Hoan Châu phong thổ thoại 驩州峰土話: VHv.1718, VHv.1376, A.592, A.2288.

4.     Hương biên làng Quỳnh : VNv.103.

5.     Nghệ An ký 乂安記: VHv.1713/1-2.

6.     Nghệ An nhân vật chí 乂安人物誌: VHv.1369.

7.     Nghệ An phong thổ ký乂安風土記VHv.2458, VHv.1718.

8.     Nghệ Tĩnh tạp ký 乂靜 : A.93.

9.     Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên瓊琉古今事跡鄉编: A.3154, VHv.1377.

10.                         Quỳnh Lưu phong thổ ký 琉風 :VHv.1377.

11.                         Thanh Chương huyện chí 清章縣: VHv.2557,  A.97

Trong số 11 sách địa phương chí kể trên có 03 cuốn Nghệ An phong thổ , Hoan Châu phong thổ ký Hoan Châu phong thổ thoại không có phần chép về danh nhân, còn lại 08 tác phẩm ghi chép về danh nhân khoa bảng Nghệ An.  

 2. Đặc điểm văn bản: có 06/08 tác phẩm chỉ có 1 văn bản, tức là độc bản  (Đông Thành phong thổ ký, Hương biên làng Quỳnh, Nghệ An ký, Nghệ An nhân vật chí, Nghệ Tĩnh tạp kýQuỳnh Lưu phong thổ ký), duy nhất có Nghệ An ký là bản khắc in, số còn lại đều là bản chép tay (chiếm 87.5%); có những tác phẩm là sự nối tiếp hoặc kế thừa tác phẩm trước đó của cùng một tác giả (trước khi bắt tay vào viết Nghệ An ký, Bùi Dương Lịch đã viết Nghệ An phong thổ ký, Nghệ An chí).   

            Về tác giả: Có 07/08 tác phẩm có tên tác giả biên soạn, biên tập, khảo đính, tác phẩm Nghệ An nhân vật chí (2) không có tác giả. Các soạn giả, người khởi biên, biên tập, sưu tầm, viết tựa, khảo hiệu các sách địa chí Nghệ An đều là những người con của quê hương xứ Nghệ: Tiến sĩ Phan Huy Ôn潘輝溫(1755-1786) biên tập, Phan Huy Sảng潘輝爽hiệu đính, Nghệ Tĩnh tạp ký. Bùi Dương Lịch裴楊歷(1758-?) tác giả 3 cuốn Nghệ An phong thổ ký, Nghệ An chí Nghệ An ký, viết về địa chí chính quê hương mình với ba cấp độ khác nhau, tác phẩm sau là sự nối tiếp kế thừa của tác phẩm trước. Ba cuốn địa chí cấp huyện đều có soạn giả, đó là Ngô Trí Hiệp吳智協, Giám sinh người xã Lý Trai huyện Đông Thành soạn Đông Thành phong thổ ký; Tri huyện Nguyễn Điển 阮典soạn, Ngô Ngọc Thiên 吳玉千 hiệu đính Thanh Chương huyện chí; La Sơn Hoàng giáp Bùi Chúc Dư 裴囑予sưu tầm, Hồ Mĩ Hiệu 胡美號biên tập lại Quỳnh Lưu phong thổ ký. Hương biên làng Quỳnh là sự tiếp nối của Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên do Hồ Phi Hội胡丕會 (1802-1875) khởi biên, chép cho đến năm 1857. Hương biên làng Quỳnh có phần tục biên của Hồ Trọng Chuyên 胡仲專chép cho đến năm 1942.   

           Về niên đại: ngoài Nghệ Tĩnh tạp chí không xác định được niên đại, 2 tác phẩm Nghệ Tĩnh tạp ký Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên soạn thời Lê  (chiếm 25%), 05 tác phẩm thời Nguyễn (chiếm 62,5%).   

Văn tự và văn thể: trong số 08 sách, có 07 sách viết bằng chữ Hán, 1 sách viết bằng chữ Hán + Nôm (Hương biên làng Quỳnh). Hương biên làng Quỳnh  được viết dựa trên cơ sở bản Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên chữ Hán + phần tục biên. Vì là các tác phẩm ghi chép về lịch sử, địa lý nên các sáng tác đó đều được viết theo thể văn xuôi.

3. Các nhà khoa bảng Nghệ An qua nguồn địa chí Hán Nôm:

Khảo sát 08 văn bản địa phương chí của tỉnh Nghệ An chúng tôi nhận thấy chủ yếu chép về nhân vật đậu Đại khoa, 3 văn bản Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên, Quỳnh Lưu phong thổ ký Hương biên làng Quỳnh chép nhiều nhân vật đậu trung khoa, chúng tôi xin đề cập đến các nhân vật trung khoa trong một nghiên cứu khác. Trên cơ sở ghi chép về các nhân vật đỗ đại khoa của Nghệ An trong các sách địa chí kể trên, chúng tôi đã tiến hành thống kê sự xuất hiện của các nhân vật trong từng cuốn sách theo thứ tự khoa thi như sau(3).

Stt

Tên nhân vật

Học vị

Tên sách ghi chép

1.    

Bạch Liêu白遼

TN

 NAK (II,15a), NTTK(13a), ĐTPT(13b).

2.    

Hồ Tông Thốc胡宗鷟

TN(4)

 NAK(II,15a), NTTK(13b), ĐTPT(13b)

3.    

Thái Tất Tiên 菜必光

TS

NAK(II,24b), NTTK(18a)

4.    

Nguyễn Văn Bính 阮文柄

TS

NAK(II,25b), NTTK(13b)

5.    

Nguyễn Thiện Chương阮善彰

TS

NAK(II,25b), NTTK (9a), TCHC(40a)

6.    

Cao Quýnh

TH

NAK(II,26a), NTTK (13b), ĐTPT(14a)

7.    

Lê Giám  黎鑑

TS

NAK(II,28b), NTTK(18b),

8.    

Đặng Minh Bích  鄧明壁

TS

NAK(II,29a), NTTK(19a), NANVC (3b)

9.    

Phạm Huy  范徽(1470-?)

TS

NAK(II,30a), NTTK(11a)

10.                       

Lê Văn Học 黎文學

TS

NAK(II,32b), NTTK(14a)

11.                       

Hoàng Nhạc

TS

NAK(II,33a), NTTK(14a), ĐTPT

12.                       

Tống Tất Thắng宋必勝

TS

 NAK(II,34a), NTTK(9a), NANVC(4b), TCHC (41b)

13.                       

Ngô Quang Tổ

吳光祖

TS

NAK(II,34b), NTTK(18b),

14.                       

Nguyễn Văn Thực (5) (1489-?)

TS

NAK(II,36a), NTTK(14a)

15.                       

Nguyễn Minh Châu阮明珠

TS

NAK(II,36b), NTTK(11a)

16.                       

Đinh Bạt Tụy丁拔萃(1527-?)

 

TS  )

 NAK(II,36b), NTTK(19a), NANVC(5a)

17.                       

Phạm Tất Thông(6) 范必通(1532-? )

 TS

NAK(II,37a), NTTK(14a), ĐTPT(14a)

18.                       

Chu Quang Trứ朱光著(1540-?)

TS  

NAK(II,37b), NTTK(9b), TCHC (41b)

19.                       

Nguyễn Văn Thông阮文通(7) (1561-?)

TS

NAK(II,42b), NTTK(19a)

20.                       

Ngô Trí Hòa吳致和 (1565-1626)

HG

 NAK(II,42b), NTTK(14a), NANVC(6a), ĐTPT(14a),

21.                       

Ngô Trí Tri

吳致知(1537-1628)

TS

 NAK(II,43b), NTTK(14b)

22.                       

Lê Kính黎敬 (1587-1659)

TS

NAK(II,45b),  NTTK(14b)

23.                       

Lê Hiệu (Học) 黎學   (1617-?)

TS

NAK(II,46b), NTTK(15a)

24.                       

Lê Quỳnh黎瓊 (1614-?)

TS

NAK(II,47a), NTTK(17a), QLPT QĐHB (63a), HBLQ (9b)

25.                       

Ngô Sĩ Vinh

吳士榮 (1569-?)

TS

NAK(II,47b), NTTK(15a)

26.                       

Phạm Chất范質 (1623-?)

HG

 NAK(II,48b), NANVC (7b)

27.                       

Hồ Sĩ Dương胡仕揚(1622-1681)

HG

NAK(II,49a), NANVC (7b)

28.                       

Nguyễn Quang Thiện 阮光繕 (1625-?)

TS

NAK(II,51a), NTTK(19a)

29.                       

Nguyễn Sĩ Giáo 阮仕教(1638-?)

TS

NAK(II,51a), NTTK(9b), TCHC(42a)

30.                       

Nguyễn Tiến Tài阮進材(1642-1698)

TS

NAK(II,51b), NTTK(9b), TCHC(43a)

31.                       

Nguyễn Đình Cổn 阮廷滾(1652-?)

TS

NAK(II,53b), NTTK(9b), TCHC(44b)

32.                       

Hoàng Xuân Thì 黄春時(1626-?)

TS

NAK(II,53b), NTTK(19b)

33.                       

Nguyễn Hưng Công

 阮興功 (1637-?)

TS

NTTK (15b), NAK(II,54a),

34.                       

Vũ Duy Dương武惟揚 (1658-?)

TS

NAK(II,54b), NTTK(19b)

35.                       

Nguyễn Hữu Đạo阮有道(1659-?)

TS

NAK(II,55b), NTTK(16a)

36.                       

Ngô  Công Trạ(8)吳工擢 (1662-?)

TS

NAK(II,55b), NTTK(16a), NANVC(8a)

37.                       

Hồ Phi Tích 胡丕績

(1675-1744)

TS

 NAK(II,56a), NTTK(17b), NANVC (8a), QĐHB (68a), HBLQ (12b)

38.                       

Bùi Hữu Nhậm 裴有恁 (1676-?)

TS

NAK(II,57b), NTTK(19b)

39.                       

Đặng Minh鄧明 (1674-?)

TS

NAK(II,57b), NTTK(16a)

40.                       

Ngô Hưng Giáo 吳興教 (1666-1710)

TS

NAK(II,58a), NTTK(16a)

41.                       

Nguyễn Trọng Thường

阮仲常(1681-?)

TS

 NAK(II,58a), NTTK(9b), TCHC(45b)

42.                       

Nguyễn Phùng Thì(9)       阮逢時(辰)  1685-1754)

TS

NAK(II,59a), NTTK(20a)

43.                       

Lê Cẩn(1668-?)

TS

NAK(II,59b), NTTK(10a), TCHC(48a)

44.                       

Nguyễn Đình Bá 阮廷伯 (1674-?)

TS

NAK(II,59b), NTTK(20a)

45.                       

Hồ Sĩ Tân 胡士賓    (1691-1760)

TS

NAK, (II,60a), NTTK(18a), QĐHB(72a), HBLQ(15a)

46.                       

Trần Danh Dĩnh 陳名潁  (1690-?)

HG

NAK(II,60a), NTTK(16a)

47.                       

Phạm Kinh Vĩ 范經緯(1691-?)

TS

NAK(II,60b), NTTK(10a), TCHC(48b)

48.                       

Nguyễn Bá Quýnh 阮伯(1710-1772)

TS

NAK(II,63b), NTTK(20a)

49.                       

Nguyễn Lâm Thái阮林泰(1686-?)

TS

NAK(II,65a), NTTK(10a), TCHC (49b)

50.                       

Nguyễn Trọng Đương阮仲璫 (1724-1786)

TS

NAK(II,69b), NTTK(10a), TCHC(52a)

51.                       

Hồ Sĩ Đống 胡士棟 (1739-1785)

TS

 NAK(II,71b), NTTK(18a), NANVC(11a),  QĐHB(75b), HBLQ (17b)

52.                       

Nguyễn Thế Bình 阮世平(1746-?)

TS

NAK(II,72ba), NTTK(10a) , TCHC(51a)

53.                       

Phạm Nguyễn Du范阮攸 (1740-?)

TS

 NAK(II,72b), NTTK(11a), NANVC (11b)

54.                       

Nguyễn Đường (1746-?)

TS

NAK(II,73a), NTTK(10b), NANVC (11b), TCHC(50b)

55.                       

Nguyễn Khuê 阮奎

 (1738-?)

TS

 NAK(II,89a), NTTK (11a), NANVC(18b)

56.                       

Phan Hữu Tính 潘有性

TS

QĐCK, QĐHB (87a), HBLQ (25b)

57.                       

Hồ Sĩ Tuần 胡士馴

TS

QĐCK, QĐHB (71b), HBLQ (31a)

58.                       

Văn Đức Giai文德佳

TS

QĐCK, QĐHB(94b), HBLQ (31b)

59.                       

Nguyễn Sĩ Phẩm 阮士品

TS

QĐHB (105a), HBLQ (40a)

60.                       

Hồ Bá Ôn 胡伯溫

PB

HBLQ (40b)

61.                       

Dương Thúc Hạp 楊叔珨

TS

QĐHB (109b), HBLQ(41a)

62.                       

Lê Xuân Mai黎春梅

PB

HBLQ (46a)

      

So với các sách đăng khoa lục đại khoa, văn bia đề danh tiến sĩ thì tiểu sử các nhân vật khoa bảng trong các sách địa phương chí được ghi chép một cách tỷ mỷ hơn rất nhiều, bổ sung được nhiều thông tin thú vị về các vị danh nhân này. Cụ thể:

1. Về quê quán: Về quê quán các nhân vật đại khoa các tài liệu đăng khoa lục thường chép đến đơn vị xã, tài liệu địa chí thường ghi tên đơn vị hành chính nhỏ hơn cấp xã đó là tên thôn, giáp, trang… như: TS Nguyễn Thiện Chương, TS Chu Quang Trứ người thôn Hoành Sơn, xã Nam Hoa thượng南華上社橫山村; TS Tống Tất Thắng người trang Cần Doanh xã Nam Hoa thượng 南華上社芹宮庄; Nguyễn Sĩ Giáo người giáp An Tuyền, xã My Sơn 郿山社安泉甲, Nguyễn Đình Cổn người thôn Bàng Thị xã Bích Triều碧潮社滂市村(10).

 2. Tên tự, hiệu, biệt hiệu: TS Nguyễn Trọng Thường húy là Vị, tên Ức, tự Trọng Thường仲常; TS Nguyễn Lâm Thái tên là Nham, tự Lâm Thái林态, biệt hiệu Lạc Sơn樂山; TS Nguyễn Thế Bình húy là Truyền, tự Viết Tiến曰進, đổi gọi là Thế Bình世平(11); TS Lê Quýnh nguyên tên là Lô,vua Thánh Tông ngự bút đổi là Quýnh炯, Đặng Minh Bích tự Ngạn Minh 岸明(12), TS Hồ Sĩ Dương trước tên là Khả Trí 可致sau đổi là 士陽(13). Trong số 13 vị Tiến sĩ triều Lê của huyện Thanh Chương, cuốn Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam(14) của Trịnh Khắc Mạnh chỉ có tên tự tên  hiệu của TS Nguyễn Đình Cổn.  

3. Phẩm hàm, phẩm trật, chức tước: cuốn Thanh Chương huyện chí  từ trang 28a-30b cung cấp đầy đủ phẩm hàm, phẩm trật, chức tước của 13 vị mà trong văn bia Văn miếu và các sách Đăng khoa lục Đại khoa gần như không ghi. Như: TS Tống Tất Thắng: Ất Sửu khoa Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, tham tòng Lại bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ Nhập nội Hành khiển Thái bảo Lộc quận công, Nam Hoa thượng xã Tống Tướng công(15). Ghi chép về quan tước TS Hồ Sĩ Dương, sách QĐHB chép(16): "năm Vĩnh Thọ 2 (1659) ông được hàm Đại học sĩ, năm Cảnh Trị 1(1663) vì có công hầu vua được thăng chức Hữu thị lang bộ Công, Cảnh Trị 3 (1665) được sai làm chức Đốc thị Nghệ An, năm thứ 7 (1669) được thăng chức Hữu thị lang bộ Lại, được sai cùng với Hào quận công là Lê Hiệu đi kinh lược địa phương các xứ Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng… năm Dương Đức 2 (1673) theo vua đi đánh giặc được thăng chức Thượng thư bộ Công, tước Duật quận công, chức Tham tụng, rồi lại thăng chức Thượng thư bộ Hình kiêm hàm Đông các đại học sĩ, khi mất được thăng thức Thượng thư bộ Hộ, hàm Thiếu bảo".

 4. Cung cấp tư liệu gia phả: Tư liệu gia phả dòng họ cung cấp thêm nhiều thông tin thú vị về tiểu sử ông, cha, con cháu của các vị danh nhân. 18/58 nhân vật được bổ sung tư liệu từ gia phả dòng họ. Chủ yếu là 2 cuốn Nghệ An ký, Thanh Chương huyện chí, đó là:  Hồ Tông Thốc, Nguyễn Thiện Chương, Đặng Minh Bích, Phạm Huy, Đinh Bạt Tụy, Tống Tất Thắng, Pham Tất Thông, Phạm Chất, Nguyễn Tiến Tài, Nguyễn Đình Cổn, Bùi Hữu Nhẫm, Nguyễn Trọng Đương, Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Phùng Thì, Nguyễn Lâm Thái, Trần Danh Dĩnh, Đặng Minh.   

4. Tư liệu đi sứ: Tư liệu đi sứ về 3 người trong dòng họ Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Trọng Đương và Nguyễn Đường là những thông tin thú vị mà nguồn tư liệu Địa phương chí đã bổ sung được khá đầy đủ. Nguyễn Đường: "Năm Cảnh Hưng 44 (1783) ông vâng mệnh đi sứ. Đến Nam Ninh gặp vua Thanh, ông vào yết. Vua Thanh đặc biệt cho nước ta bốn chữ đại tự "Nam Giao bình hãn" (Cõi Nam Giao là cột ngăn) đóng dấu có 4 chữ "cổ hy thiên tử". Gia đình ông, chú cháu đều đi sứ Trung Quốc, cho nên người nhà Thanh tặng bài thơ có câu: Năm mây Chi Thước mở ra hành diện, Ba đời mũ áo bái kiến thánh nhân"(17).

 5. Trước tác: Các sách Địa chí còn cung cấp thông tin về các trước tác của các nhân vật khoa bảng, như: Phạm Nguyễn Du có Luận ngữ ngu án  , Thạch Động thi văn sao石洞詩抄(18)Hồ Sĩ Đống có tập Hoa trình khiển hứng " 興詩傳世"(19),  Hồ Sĩ Dương có Việt giám trùng tu越鑑重修 , Lam Sơn trùng lục藍山重錄Hoành Sơn tiên cục ký橫山仙局記Gia lễ hoặc vấn家禮或問(20), Hồ Phi Tích có Cùng đạt gia huấn窮達嘉訓Thượng quốc cận quang tự上國覲光叙(21).

3. Kết luận:

Khoa bảng Nghệ An có được những thành tựu rực rỡ, để lại dấu ấn trong lịch sử khoa cử Việt Nam. Tiểu sử 62 nhân vật khoa bảng Đại khoa qua ghi chép của 08 tác phẩm địa phương chí Hán Nôm hiện lưu trữ tại Thư viện VNCHN là một minh chứng cho điều đó. Đây được coi là nguồn tài liệu phong phú, bổ khuyết nhiều thông tin thú vị so với các sách đăng khoa lục và tư liệu văn bia đề danh Tiến sĩ. Những thống kê, khảo sát trên sẽ làm cơ sở cho việc biên soạn tiểu sử danh nhân khoa bảng Nghệ An một cách chi tiết nhất, đầy đủ nhất, bổ sung được nhiều thông tin thú vị so với những nghiên cứu trước đây.

Chú thích

1.      Trần Nghĩa - Francois Gros đồng chủ biên (1993) Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, 3 tập, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

2.      乂安人物誌: cuốn sách vốn không có nhan đề, có thể do người làm thư mục dựa trên nội dung sách ghi tên sách như vậy.

3.      Ký hiệu viết tắt: ĐTPT (Đông Thành phong thổ ký), HBLQ (Hương biên làng Quỳnh),   NAK (Nghệ An ký), NANVC (Nghệ An nhân vật chí), NTTK (Nghệ Tĩnh tạp ký), QĐHB (Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên), QLPT (Quỳnh Lưu phong thổ ký), TCHC (Thanh Chương huyện chí), TN (Trạng nguyên), PB (Phó bảng), TH (Thám Hoa).

4.      Theo Ngô Đức Thọ (chủ biên), Các nhà khoa bảng Việt Nam (tái bản có bổ sung chỉnh lý), Nxb Văn học, tr. 53: "Danh hiệu và khoa Hồ Tông Thốc thi đỗ, sử sách không ghi rõ. Có tài liệu ghi ông đỗ TN đời Trần Nghệ Tông (1370- 1372) có lẽ chỉ là phỏng đoán vì khoảng ấy ông đã 60-70 tuổi, có lẽ khó có thể gọi là "tuổi trẻ đỗ cao được nữa. Trong Việt Âm thi tập có bài thơ của Trần Quang Khải: Hạ Hồ Thành trúng TN (Mừng Hồ Thành trúng TN) trong thơ nói ý hai cha con đều đỗ TN (Phụ tranh nguyên tử diệc tranh nguyên), cho nên trước đây trong Nghệ An kí Bùi Dương Lịch cũng cho là cả Hồ Tông Thốc và Hồ Thành đều đỗ TN, nhưng thực thì đốc họ họ Bùi bị nhầm vì tra năm sinh năm mất của Trần Quang Khải (1241-1294) thì biết năm ấy Trần Quang Khải qua đời đã lâu, mà Hồ Thành và cả Hồ Tông Thốc cũng chưa chào đời".

5.      Nghệ Tĩnh tạp kí A.93, tr.14a viết là Nguyễn Văn.. 阮文 …(khuyết).

6.      Trong Lịch đại đại khoa lục A.2119c,tr.114 ghi là 潘必通 .

7.      Sách Lịch đại đại khoa lục A.2119 ghi là黎文通.

8.      Nghệ An kí chép là .

9.      Nghệ Tĩnh tạp kí, tr. 20a viết là Nguyễn Phùng 阮逢.

10.  Thanh Chương huyện chí , VHv.2557,  tr.40a-42b ,44b.

11.  Thanh Chương huyện chí,  tr.45b, 50a, 51a.

12.  Nghệ An kí, VHv.1713, tr. 26a,29a.

13.  Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên, tr.70a.

14.  Trịnh Khắc Mạnh (2007), Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, nxb VHTT, Hà Nội.

15.  Thanh Chương huyện chí,  tr28b.

16.  Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên, A.3154  tr.70b, 71a.

17.  Nghệ An kí, tr. 73b.

18.  Nghệ An kí, tr. 73b.

19.  Nghệ An kí, tr. 71b.

20.  Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên, tr.70 a.

21.  Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên, tr.78a

Tài liệu tham khảo:

1.      Nguyễn Thị Thảo dịch chú, Bạch Hào hiệu đính (1993): Nghệ An kíNxb.KHXH, Hà Nội

2.      Đào Tam Tỉnh (2000): Khoa bảng Nghệ An (1075-1919), Sở VHTT Nghệ An, Thư viện Nghệ An.

3.      Đinh Khắc Thuân (2009): Giáo dục và khoa cử Nho học thời Lê ở Việt Nam qua tài liệu Hán Nôm, Nxb.KHXH, Hà Nội.

4.      Ngô Đức Thọ (chủ biên): Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919), Tái bản có bổ sung chỉnh lý,  Nxb Văn học.

5.      Tổ phiên dịch Viện Sử học Việt Nam phiên dịch và chú giải (1992) Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. KHXH, Hà Nội

6.      Trần Nghĩa, Francois Gros (chủ biên) (1993), Di sản Hán Nôm Việt Nam - thư mục đề yếu, 3tập, Nxb. KHXH, Hà Nội

7.        Trịnh Khắc Mạnh (2014), Tiếp cận di sản Hán Nôm, Nxb KHXH, Hà Nội

 

* Hội nghị Phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Nghệ An

Sáng ngày 11/11, UBND tỉnh Nghệ An phối hợp với Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tổ chức Hội nghị Phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Nghệ An. Đồng chí Nguyễn Xuân Đường, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, đồng chí Phạm S - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, đồng chí Đinh Viết Hồng - PCT UBND tỉnh Nghệ An, đồng chí Hoàng Nghĩa Hiếu - GĐ Sở NN&PT Nghệ An, chủ trì Hội nghị.

Theo báo cáo tại Hội nghị, hoạt động nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011 - 2017, Nghệ An đã xây dựng được: 9.502 ha đất canh tác, chiếm 3,1% diện tích đất nông nghiệp; Giá trị sản xuất bình quân từ 200-250 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 2-3 lần  so với sản xuất nông nghiệp đại trà. Tỷ trọng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm khoảng 5-10% giá trị sản xuất nông nghiệp; năng suất giá trị, sản phẩm cây trồng, vật nuôi được ứng dụng CNC tăng 20-40%, lợi nhuận cho người sản xuất tăng trên 30% so với doanh thu.

Thảo luận tại Hội nghị, các chuyên gia, nhà khoa học, lãnh đạo cho rằng: Nghệ An muốn phát triển nông nghiệp CNC phải chú trọng các yếu tố: chất đất, giống cây, trong đó tập trung các giống cây mang lại hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với địa bàn, khí hậu và tập quán canh tác của người dân địa phương; Ứng dụng CNC trong nông nghiệp ở Nghệ An đòi hỏi phải kỳ công, kiên trì, quyết tâm theo đuổi năm này qua năm khác; Khó khăn trong phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC trên địa bàn như: thời tiết khắc nghiệt, chưa liên kết được trong sản xuất ứng dụng CNC, đang mạnh ai người đó làm;...

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Xuân Đường, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An nhấn mạnh: Trong thời gian tới, tỉnh sẽ tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp chính quyền để thực hiện tốt việc quy hoạch ứng dụng CNC; Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Quyết định số 3864/QĐ-UBND.NN ngày 31/8/2010 về phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC của tỉnh Nghệ An đến năm 2020; Thúc đẩy tăng cường liên kết 4 nhà, trong đó chú trọng vai trò của doanh nghiệp; Chủ động, tích cực thu hút đầu tư trong nông nghiệp, đặc biệt là những dự án ứng dụng CNC;...

Hồ Thủy

* Tọa đàm "Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Nghệ An"

Sáng ngày 8/11, tại Hội trường A, Đại học Vinh đã diễn ra cuộc Tọa đàm "Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Nghệ An" do Sở KH&CN phối hợp với Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Hoà Lạc, Bộ KH&CN, Trường Đại học Vinh tổ chức.

Tại buổi Tọa đàm, các đại biểu và sinh viên được nghe chuyên gia Nguyễn Đặng Tuấn Minh - tốt nghiệp thạc sĩ về Quản trị doanh nghiệp số tại Đại học Westminster (Vương quốc Anh) chia sẻ những nét tổng quan nhất về hệ sinh thái khởi nghiệp; Ông Nguyễn Công Nhã - Chủ tịch HĐQT Công ty CP thương mại dịch vụ vận tải Lạc Hồng; Nguyễn Việt An - Phó phòng Chuyển giao Công nghệ, Trung tâm Dịch vụ Tổng hợp, Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Bộ KH&CN cũng đã chia sẻ về kinh nghiệm khởi nghiệp.

Khép lại cuộc tọa đàm, đại diện lãnh đạo Trung tâm Dịch vụ Tổng hợp, Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Sở KH&CN tỉnh, Trường Đại học Vinh và quỹ Alba Charity trao đổi về những chính sách hỗ trợ khởi nghiệp trong thời gian tới.

Nguyễn Thủy

* Nghệ An: Chính thức dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc cam Vinh

Ngày 8/11, tại huyện Quỳ Hợp, Sở Khoa học & Công nghệ Nghệ An, phối hợp với Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh tổ chức dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc cam Vinh cho một số tổ chức, cá nhân sản xuất cam Vinh trên địa bàn huyện.

Theo quyết định số 65/2017/QĐ-UBND của UBND tỉnh về ban hành Quy chế quản lý và sử dụng Chỉ dẫn địa lý cam Vinh cho sản phẩm cam quả của tỉnh Nghệ An, tem truy xuất nguồn gốc phải có những nội dung thông tin bắt buộc: Thông tin sản phẩm; Thông tin sản xuất; Thông tin nhà sản xuất; Thông tin nhà phân phối.

Đơn vị tiên phong dán tem truy xuất điện tử lần này là HTX Sản xuất và Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Tấn Thanh và HTX Sản xuất dịch vụ cam Phùng Huyền trên địa bàn xã Minh Hợp, với 120 tem được đăng ký. Cùng với việc dán tem truy xuất nguồn gốc cho 2 hợp tác xã trên, Sở Khoa học & Công nghệ đã tổ chức hướng dẫn việc in và dán tem truy xuất nguồn gốc điện tử cam Vinh cho một số tổ chức, cá nhân sản xuất cam Vinh trên địa bàn huyện Quỳ Hợp.

Các tổ chức, cá nhân sản xuất cam được Sở Khoa học - Công nghệ hướng dẫn cách đăng ký hồ sơ đủ điều kiện ATTP và cấp quyền in dán tem; cách đăng ký in tem dựa vào thực tế cam hiện có của từng cơ sở và cách sử dụng phần mềm truy xuất nguồn gốc tem điện tử trên các ứng dụng của điện thoại thông minh. Việc in tem truy xuất nguồn gốc cam Vinh do các tổ chức, cá nhân đủ điều kiện hoặc Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Nghệ An thực hiện.

Hồ Thủy

* Nghiệm thu Đề tài "Nghiên cứu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy, học tập dân ca trong trường học"

Sáng 17/11, tại Sở Khoa học & Công nghệ Nghệ An đã diễn ra buổi nghiệm thu đề tài cấp tỉnh: "Nghiên cứu dân ca, ví giặm Nghệ Tĩnh và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy, học tập dân ca trong trường học". Đề tài do PGS.TS Phan Mậu Cảnh làm chủ nhiệm, trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật chủ trì. Ông Trần Quốc Thành - GĐ Sở KH&CN-  Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu.

Đề tài "Nghiên cứu dân ca, ví giặm Nghệ Tĩnh và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy, học tập dân ca trong trường học" được thực hiện trong vòng 2 năm từ 2015-2017, nhằm đánh giá, xác định các đặc điểm cơ bản và giá trị tiêu biểu của DCVG Nghệ Tĩnh, chọn lọc những đặc điểm và giá trị đặc sắc, phù hợp; đề xuất, cung cấp hệ thống tài liệu và các giải pháp thực hiện việc để đưa DCVG vào dạy học trong trường học. Nội dung của đề tài được triển khai trong 3 chương: Chương 1: Nghiên cứu các đặc điểm và giá trị của của dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh; Chương 2: Vấn đề giảng dạy và học tập dân ca ví, giặm trong trường học; Chương 3: Xây dựng bộ tài liệu và các giải pháp thực hiện đưa dân ca ví giặm vào trường học.

Tại buổi nghiệm thu, các thành viên Hội đồng đã đưa ra các ý kiến đóng góp hoàn thiện nội dung Đề tài. Kết luận nghiệm thu, đồng chí Trần Quốc Thành yêu cầu Ban chủ nhiệm đề tài lưu ý bổ sung các nội dung về phương pháp tiếp cận, xây dựng bộ tiêu chí để đưa dân ca vào trường học; bổ sung các đặc điểm, thông tin, nghiên cứu mới để thấy được sự khác biệt (đặc biệt là phần âm ngữ); chú trọng giải pháp về nguồn nhân lực (bổ sung thêm một số đối tượng bắt buộc). Ban chủ nhiệm đề tài xem xét để triển khai giai đoạn 2; đồng thời biên tập lại kết quả nghiên cứu của Đề tài để triển khai xuất bản sách.

Kết quả, Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại Khá.

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.