« Quay lại

Chuyên san Khoa học xã hội &nhân văn số 12 năm 2017

GS.TS Chương Thâu

Những năm đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu, một nhân vật lịch sử của dân tộc Việt Nam, được nhân dân cả nước kính trọng, lịch sử muôn đời tôn vinh. Nguyễn Ái Quốc khi viết về Phan Bội Châu đã đánh giá: "Một bậc anh hùng, một vị thiên sứ được hai mươi triệu đồng bào sống trong vòng nô lệ tôn kính". Tên tuổi và sự nghiệp của Phan Bội Châu không chỉ lừng danh trong nước, mà còn lan rộng khắp thế giới. Nhân kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Phan Bội Châu (26/12/1867 - 26/12/2017), Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An giới thiệu bài viết của GS.TS Chương Thâu về tình hình nghiên cứu Phan Bội Châu ở nước ngoài từ trước tới nay.

...

3. Tại Hàn Quốc (Triều Tiên): Người Triều Tiên cũng sớm biết đến Phan Bội Châu. Từ thuở Đông du cầu học tại Nhật Bản (1905-1909), Phan Bội Châu từng là Phó Chủ tịch Hội Đông Á đồng minh. Trong Hội này có khá nhiều nhà yêu nước Triều Tiên hồi đó có mặt tại Tokyo. Các chí sĩ này cũng từng dịch tác phẩm Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu và phổ biến tại Triều Tiên (năm 1906 đã có hai bản dịch tiếng Triều Tiên) và mới đây, năm 1980 in lại bản dịch Việt Nam vong quốc sử một lần nữa. Theo Giáo sư Kim So Ren (1908-1982) cho biết thì tư tưởng yêu nước trong Việt Nam vong quốc sử đã thức tỉnh ông căm ghét chế độ thực dân Pháp:

"Sách này nói về nỗi đau khổ không bút nào tả xiết mà dân tộc An Nam đã phải chịu đựng dưới ách đô hộ của người Pháp. Mỗi cái cửa sổ cũng bị đánh thuế, khi kết hôn cũng bị đánh thuế đến ba lần. Biết người An Nam dùng nhiều muối trong thức ăn, họ tăng giá muối lên 10 lần hoặc 20 lần "Sở dĩ tôi khó chấp nhận một cách vô tư rằng, nước Pháp là quê hương của nghệ thuật và trung tâm văn hóa thế giới cũng vì cuốn Việt Nam vong quốc sử đã để lại một ấn tượng quá sâu sắc trong tôi từ buổi thiếu thời" (chuyển dẫn theo Vĩnh Sinh trong sách Việt Nam và Nhật Bản - giao lưu văn hóa, Nxb. Văn nghệ, TP. Hồ Chí Minh 2001, tr.339).

Sách Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu có tác dụng tốt đối với giáo dục tinh thần yêu nước chống đế quốc xâm lược, nên trong cuộc Hội thảo Quốc tế họp tại Hà Nội ngày 20-8-2005, Giáo sư Choi Ki Young đã có bản tham luận "Việc phổ cập Việt Nam vong quốc sử đầu thế kỷ XX và ảnh hưởng của nó", tác giả đã kết luận: "Cuốn sách này được xuất bản ở Trung Quốc chưa đầy một năm, thì đã được tờ báo "Hoàng Thành" dịch ra và đăng nhiều kỳ, sau đó đến tháng 11-1906 nó được dịch ra tiếng Quốc Hán (?) và cuối năm 1907 bản dịch tiếng Quốc ngữ được xuất bản và được người Hán Quốc đón đọc rất rộng rãi. Đặc biệt, cuốn Việt Nam vong quốc sử còn được sử dụng làm sách giáo khoa cho các trường tư lập, góp phần làm cho người Hàn Quốc quan tâm đến việc phục quốc hơn. Ngoài ra, cuốn sách này còn có ảnh hưởng đến việc bài trừ Thiên chúa giáo vốn được biết đến như là tôn giáo của Pháp. Nói tóm lại, cuốn Việt Nam vong quốc sử được biên dịch đã khuếch tán sự quan tâm cũng như hoạt động phục quốc của người Hàn Quốc. Do đó mà năm 1909, Phủ Thống giám của Đế quốc Nhật và Chính quyền thân Nhật đã cấm bán cuốn sách này và ra lệnh tịch thu.

Bản dịch tiếng Hán Quốc cuốn Việt Nam vong quốc sử không chỉ đơn thuần được hiểu là cuốn sách lịch sử nước ngoài giới thiệu các kiến thức về quá trình mất nước cho xã hội Hàn Quốc vốn đang bị Nhật tước mất chủ quyền đất nước từ cuối những năm 1900, mà cuốn sách này còn giúp Hàn Quốc nhận thức được tình cảnh mà Hàn Quốc đương gặp phải để tìm ra con đường thoát khỏi tình trạng đó. Cũng chính là lý do tại sao sự quan tâm và các hoạt động phục quốc của nhân dân Hàn Quốc đã có liên quan sâu sắc đến Việt Nam vong quốc sử như vậy" (trích Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế: Quan hệ hai nước Việt Nam - Hàn Quốc do Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam xuất bản tháng 8-2007).

4. Tại Cộng hòa Pháp: Từ những năm 60 của thế kỷ trước, đã có nhiều công trình chuyên khảo về Phan Bội Châu của nhà "Việt Nam học" quen thuộc là Georges Boudarel như:

- Bibliographie des oeuvres relation à Phan Boi Chau éditées en Quốc ngữ à Hanoi depuis 1954 (B.E.F.D vol 56 (1969).

- Mémoires de Phan Boi Chau (France-Asie/Asia No.194 et 195. Paris 1969).

- Phan Boi Chau et la société Vietnamienne de son temps (France-Asie/Asia XXIII-4(1969). Cuốn sách này đã được dịch ra tiếng Việt, Nxb. Văn hóa Thông tin - 1997.

Các công trình này, sau đó được các tác giả bổ sung, nâng lên thành bản Luận án Tiến sĩ về đề tài Phan Bội Châu và đã bảo vệ thành công ở Đại học Paris VII.

Sau Boudarel là Feray Richard, năm 1997 cũng đã bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ Quốc gia về Đề tài "Le Vietnam au XX siècle", trong đó ở phần thứ nhất có 2 chương: "Việt Nam những năm 20" (Le Viet Nam des années 1920) và "Chế độ thuộc địa" (L'ordre          coloniale) đề cập khá nhiều đến Phan Bội Châu và Phong trào Đông du. Bản luận án này cũng được xuất bản thành một cuốn sách được giới sử học đánh giá cao.

Và hồi tháng 5-2007, tại cuộc Hội thảo Quốc tế về Phong trào Duy tân ở Việt Nam họp tại thành phố Aix-en-Prorence, nhà nghiên cứu Ives Le Jariel trong bản tham luận của mình, đã đề cập một trường hợp cụ thể có tựa đề: "Phan Bội Châu một cánh tay chìa ra cho những người Công giáo" (La main tendue au Catholiques): "Giám mục Pineau phụ trách giáo phận ở một tỉnh phía Nam Bắc kỳ đã nỗ lực bảo vệ 80 cố đạo người Việt bị buộc tội làm "partisan" của Phan Bội Châu. Một số người theo đạo Thiên chúa trong vùng Giáo phái Tin lành Tây Ban Nha cũng có nghi ngờ quan hệ với phái bạo động!... Như vậy, Ives Le Jariel kết luận: "Nếu như Thiên chúa giáo Việt Nam không phải tất cả là những người dân tộc chủ nghĩa, thì một tỷ lệ không phải là không đáng kể đã ủng hộ phong trào Duy tân" (theo bài lược thuật của Vũ Thế Khôi là người có tham dự cuộc hội thảo cung cấp).

Cũng tại Cộng hòa Pháp, Nguyễn Thế Anh có bài nghiên cứu "Phan Boi Chau et les débuts du mouvement Dong du" in trong cuốn sách do Vĩnh Sính chủ biên và Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á ở Mỹ xuất bản năm 1989. Bài này cũng đã được in lại bằng tiếng Việt trong Niên san Nghiên cứu Huế tập 5 - 2003.

Ngoài ra, ở Pháp, nhà sử học Lê Thành Khôi cũng có xuất bản cuốn sách "Histoire du Vietnam des origines à 1858" (Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX). Cuốn sách này là một đóng góp rất tốt về sự quảng bá lịch sử văn hóa Việt Nam ở phương Tây. Tuy nhiên trong đây cũng có một số vấn đề, nhận định, đánh giá có thể trao đổi thêm với tác giả. Chẳng hạn như Phong trào Đông du của Phan Bội Châu, tác giả gọi đó là "cuộc Cách mạng Đông du" (tr.487 ở bản tiếng Việt, Nxb. Thế giới, Hà Nội - 2014), v.v…

5. Tại Hoa Kỳ: Tại thời điểm nóng về Kỷ niệm "100 năm Phong trào Đông du" này, đã có những bài phóng sự, phỏng vấn hưởng ứng được loan tin trên sóng phát thanh với đầu đề như "Kỷ niệm 100 năm Phong trào Đông du - Phan Bội Châu (1905-2005)" đánh dấu sự khởi đầu cuộc vận động cứu nước nối cuộc đời 30 năm đấu tranh lẫy lừng của Cụ Phan Bội Châu với những trước tác gồm hàng ngàn trang thơ văn của Cụ. Qua cuộc kỷ niệm này ta sẽ biết được công cuộc đấu tranh thoát ách thực dân của nhân dân Việt Nam 100 năm trước của một chí sĩ đi tìm hướng đi cho quê hương và dân tộc.

Điều đặc biệt là tại một số diễn đàn Hội thảo khoa học ở Mỹ, có khá đông các nhà học giả Việt Nam từ Nhật Bản qua tham dự tại Trường Đại học George Mason ở Wahington cùng với một số thân hữu khác người ngoại quốc đã ráo riết vận động để Cơ quan             UNESCO vinh danh Cụ Phan Bội Châu là "Danh nhân văn hóa thế giới".

(Theo bản tin Đài BBC 30-7-2005 và bài viết của Đỗ Hiểu phát trên Đài RFA 6-8-2005).

Tại diễn đàn này, có một thính giả người Việt xa nước lâu ngày đã phát biểu một câu cảm động: "Cụ Phan Bội Châu là một nhà Nho tiết tháo, một nhà yêu nước cách mạng chân chính. Cụ chính là người Việt Nam đầu tiên nghĩ đến việc xuất dương để tìm ra con đường cứu nước. Cụ Phan Bội Châu luôn mang viên ngọc sáng (bội châu có nghĩa là mang ngọc) để soi đường cho hậu thế noi theo. Dù bôn ba nơi xứ người, nhưng Cụ luôn luôn đau đáu hướng về quê hương nguồn cội, luôn khắc ghi tư tưởng "Việt điểu Sào Nam chi" (Chim Việt làm tổ ở cành Nam). Tên hiệu Sào Nam của Cụ nói lên tất cả về nhân cách, về tư tưởng, về lòng yêu nước của Cụ.

Là một hậu bối rất khâm phục Cụ, tôi luôn luôn tìm tòi sưu tập và trân trọng tất cả những tài liệu liên quan đến Cụ. Vì thế, rất mong các nhà sử học Việt Nam có thêm nhiều công trình nghiên cứu giới thiệu về cuộc đời hoạt động của nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu".

Cũng tại Mỹ, cách nay 2 năm có một học giả tên là Matthew Berry trước đó là nghiên cứu sinh của Giáo sư Peten Zinoman tại Đại học California ở Berkeley đã bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ về "Cuộc đời và tác phẩm của Phan Bội Châu", tiếp đó lại đến thành phố Hồ Chí Minh thụ giáo PGS.TS. Nguyễn Tiến Lực. Nay lại đến xin gặp tôi (Giáo sư Chương Thâu) để tiếp tục giúp đỡ ông nghiên cứu về "Vụ án Phan Bội Châu" tại Tòa Đề hình Hà Nội tháng 11-1925. Không rõ hiện nay nhà học giả này đã thực hiện các đề tài về Phan Bội Châu đến đâu? Và đây có lẽ là "tin cuối cùng" về việc "người Mỹ nghiên cứu về Phan Bội Châu" (?).

6. Tại Liên Xô (cũ) và một vài nước xã hội chủ nghĩa cũ:

Những năm 60, 70 của thế kỷ trước, ở Liên Xô cũ có một số nhà nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ, văn học Việt Nam tìm hiểu nghiên cứu và giới thiệu về Phan Bội Châu cho độc giả Xô viết. Như A.Vôrônhin dịch Phan Bội Châu niên biểu (1973), A.Niculin cũng dành cho sự nghiệp của Phan Bội Châu một chương sách trong cuốn "Lịch sử văn học Việt Nam" xuất bản ở Moskva (1971).

Tại các Trường Đại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm ở Moskva và Lêningrad những năm 1980-1990 cũng có những luận văn nghiên cứu và những luận án phó tiến sĩ sử học và văn học đề cập đến đề tài Phan Bội Châu. Năm 1987, tại Đại học Lêningrad có nghiên cứu sinh người Việt tên là Nguyễn Thị Kim Liên bảo vệ thành công Luận án Phó Tiến sĩ Sử học, đề tài là "Phan Bội Châu với Phong trào châu Á thức tỉnh"…

7. Tại Ba Lan: Nghiên cứu sinh Eduvard Maliki những năm cuối 1970 sau khi sang Đại học Tổng hợp Hà Nội Việt Nam nghiên cứu văn học, trở về nước đã bảo vệ Luận án Tiến sĩ mang tựa đề "Thơ văn yêu nước và cách mạng Phan Bội Châu".

8. Tại Cộng hòa Liên bang Đức: Năm 1987, người ta biết rằng tại Viện Nghiên cứu Lịch sử Đông Nam Á của trường Đại học    Passaw, Giáo sư Bernad Dam và trợ lý của ông là Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hữu đã có nghiên cứu một số đề tài về lịch sử Việt Nam và Đề tài "Phan Bội Châu, nhà văn hóa lớn của Việt Nam". Vào năm 1978, tại Viện Nam Á của Đại học Heidelberg đã có một nhà "Việt Nam học" tên là Jorgën Unselt bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ mang đầu đề "Vietnam: Die nationalistich und marxissch Ideologie im Spatwerk von Phan Bội Châu 1867-1940" (Việt Nam: Những tư tưởng yêu nước và mác xít trong những tác phẩm cuối đời của Phan Bội Châu).

Về công trình nghiên cứu này, tác giả     Unselt đưa ra một số ý kiến nhận định đánh giá tư tưởng Phan Bội Châu nhằm trao đổi với các nhà sử học Việt Nam như sau:

"… Đến nay, sau 18 năm (ông đã suy ngẫm về Phan Bội Châu 18 năm), tôi có điều kiện đến Hà Nội, đến Nghệ Tĩnh quê hương Phan Bội Châu, tôi hy vọng sẽ "minh oan" được phần nào cho Phan Bội Châu và đánh giá đúng được con người cách mạng của ông.

- Tôi nghĩ rằng nếu chỉ coi Phan Bội Châu là một nhà yêu nước chung chung thì chưa đủ. Không thể nhìn Phan Bội Châu theo góc độ tĩnh, mà phải thấy được quá trình nhận thức vận động theo hướng đi lên của ông.

- Tôi cho rằng lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, Phan Bội Châu là một lãnh tụ đã tự nhận ra nguyên nhân thất bại của những hoạt động cách mạng của mình. Từ đó, Phan Bội Châu thấy cần phải có một con đường mới. Sự diễn biến trong tư tưởng Phan Bội Châu là từ tư tưởng phong kiến đến tư tưởng tư sản dân tộc dân chủ và đã tiếp cận tư tưởng mác xít. Sự thay đổi về tư tưởng đó là do sự thay đổi của hoàn cảnh lịch sử trong nước và trên thế giới. Năm 1915 chính Phan Bội Châu nói ông sẽ chọn bất kỳ con đường nào phù hợp với ý muốn của nhân dân để đi đến một xã hội nhân đạo hơn, tốt đẹp hơn.

- Trong luận án của mình, tôi đã tự hỏi tại sao các nhà sử học Việt Nam, các đảng viên cộng sản Việt Nam lại chưa quý trọng đúng mức, chưa chú ý đầy đủ đến tư tưởng mác xít Lêninnít của Phan Bội Châu, đến sự thống nhất giữa Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh về tinh thần và về tấm lòng vì nhân dân. Sự đánh giá tốt nhất của các nhà sử học Việt Nam về Phan Bội Châu cho đến nay mới chỉ dừng lại coi ông là một người có nhiều tư tưởng tiến bộ mà thôi. Phải chăng những người theo Quốc tế Cộng sản III đã coi tất cả những lãnh tụ truyền thống (cũ) đều chỉ có tư tưởng phong kiến? Nếu thế thì Phan Bội Châu theo tôi là một ngoại lệ, một người duy nhất về sự thay đổi ý thức hệ. Nguyễn Ái Quốc và Phan Bội Châu thuộc hai thế hệ khác nhau vì vậy Nguyễn Ái Quốc không cần phải chuyển ý thức hệ như Phan Bội Châu.

- Có những cơ sở để nói rằng Phan Bội Châu đã chuyển từ ý thức hệ phong kiến đến ý thức hệ Mác - Lê nin. Tôi đã tự hỏi nhiều lần: Tại sao Phan Bội Châu lại viết tác phẩm Truyện Phạm Hồng Thái vào đúng dịp kỷ niệm 7 năm Cách mạng tháng Mười Nga? Và tôi cũng có dịp đọc một số tài liệu của mật thám Pháp về Phan Bội Châu. Các báo cáo đó nói rằng "Ông Già Bến Ngự" đã có nhiều ảo tưởng về tư tưởng bôn sê vích của mình ngay cả trong thời gian bị giam lỏng ở Huế…". Tiến sĩ Unselt còn viết thêm:

"Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước Việt Nam đang Đổi mới. Trong số những việc làm đổi mới có cả việc đánh giá, xem xét lại một số hiện tượng lịch sử". Tôi biết rằng giới nghiên cứu phê bình văn học đã làm như vậy, ví dụ đã đánh giá lại các tác giả và tác phẩm văn học lãng mạn trước đây. Tôi hy vọng rằng với các nguồn sử liệu mới, với cách nhìn mới chúng ta sẽ đánh giá đúng hơn vai trò Phan Bội Châu trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Theo tôi, sự phát triển từ Phan Bội Châu đến Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong lịch sử cách mạng Việt Nam là sự phát triển logic liên tục và theo xu hướng tiến bộ (xem Chủng diệt dự ngôn, bản thảo do Tiến sĩ Jorgër Unselt (Cộng hòa Liên bang Đức) cung cấp và lần đầu tiên Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản, Hà Nội 1999, 134 tr).

Và tác giả Unselt còn viết tiếp những nhận định đánh giá về sự nghiệp của Phan Bội Châu như: "Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh chính là biểu tượng tư tưởng dân tộc của nhân dân Việt Nam, là sự cụ thể hóa về một nền văn hóa tiến bộ, một xã hội tốt đẹp. Trong lịch sử phục hưng của dân tộc Việt Nam giai đoạn nào cũng phải có những nhân tố mới (Trần Nhân Tông, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung…) có tác dụng quyết định, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của dân tộc. Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh là những người kế tiếp và phát triển lịch sử đó của dân tộc.

- Hai giai đoạn cách mạng của hai lãnh tụ Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh là hai giai đoạn kế tiếp nhau. Nếu không có những kinh nghiệm của Phan Bội Châu thì cũng không thể có sự thành công của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là một sự kế thừa biện chứng. Vì vậy, nếu như có một đài kỷ niệm Phan Bội Châu đặt ở Hà Nội cùng với lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh thì sẽ tốt đẹp biết bao! Và tôi tin tưởng chắc chắn Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ rất hài lòng. Bởi vì, theo tôi, tinh thần và tấm lòng của Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh là một, là đồng nhất… và đó cũng chính là linh hồn của nhân dân và Tổ quốc Việt Nam" (theo sách đã dẫn, tr.20).

*   *  *

Bài viết mới "tổng lược thuật" một số "thông tin" về tình hình nghiên cứu Phan Bội Châu ở nước ngoài từ trước đến nay, chắc chắn là chưa đủ, nhưng qua đây, chúng ta cũng có thể lẩy ra được một số vấn đề về "nghiên cứu, giới thiệu Phan Bội Châu" của giới học thuật và chúng ta cũng có thể trao đổi ý kiến, tranh biện với các học giả nước ngoài về một số ý kiến, luận điểm khoa học nào đó.

Sự nghiệp nghiên cứu Phan Bội Châu còn cần được nhiều người, nhiều giới khoa học xã hội nhân văn chú ý tìm hiểu, bổ sung thêm… đặng rồi đây chúng ta sẽ có thể phục dựng được một chân dung toàn diện, đích thực của nhà yêu nước, nhà văn hóa lớn khả kính này.

GS. Phong Lê

Với Phan Bội Châu, trước hết và trọn vẹn đó là một nhà Nho yêu nước lớn nhất của Việt Nam, trong hai thập niên đầu thế kỷ XX. Nhà yêu nước với đường đời và sự nghiệp nằm trọn vẹn trong bối cảnh nước mất, từ lúc sinh ra (1867) đất nước đã chìm trong khói súng của chủ nghĩa thực dân; và khi qua đời (1940), đất nước vẫn còn năm năm trong tối tăm nô lệ.

Với Phan, cũng như các chí sĩ khác thuộc thế hệ ông, nước không bao giờ là một khái niệm trừu tượng. Đó không chỉ là một lọ vàng - "ông cha ta để cho ta lọ vàng", mà con cháu phải ra sức gìn giữ. Đó còn là một cơ thể sống - gồm cả phần hồn và phần xác; và nếu phần xác đang bị đọa đầy cho xơ xác, tàn tạ, thậm chí tiêu hủy thì phần hồn vẫn còn đó; và trách nhiệm của những ai có lòng yêu nước là phải gọi cho được hồn về.

Xin hồn hãy tỉnh đừng mê!

...

Hồn cố quốc vẩn vơ, vơ vẩn

Khôn tìm đường dò nhắn hỏi han

Bâng khuâng đỉnh núi non ngàn

Khói tuôn khí uất sóng cuộn trận đau.

Hồn nước - đó quả là một cách hình dung mới để biểu đạt tình yêu nước của thế hệ Phan Bội Châu. Và dường như cách biểu đạt này chưa hề xuất hiện trong lịch sử chống chọi với phong kiến phương Bắc nhiều nghìn năm.

Vậy là sự xuất hiện một kẻ thù mới đã buộc dân tộc phải tìm đến một chủ nghĩa yêu nước mới, cụ thể hơn, thống thiết hơn, giục giã hơn; và Phan là người sớm tiếp cận để đem lại cho nó một cách biểu hiện mới, vừa bằng một lý trí tỉnh táo, vừa với một cảm xúc nồng nàn.

Cần một kết hợp cả lý trí và tình cảm, bởi thiếu một thì chưa đủ để biểu đạt cái mới mà Phan và thế hệ Phan đã đem lại cho đời sống tinh thần dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX. Lý trí tỉnh táo (và sáng suốt) - đó là việc thừa nhận sự thất bại hiển nhiên của tất cả các phong trào chống Pháp trước Phan, cho đến người kết thúc phong trào Cần vương là Phan Đình Phùng (1897). Phải có một nhận thức khác và một kế sách khác cho công cuộc giải phóng - đó là hướng về lợi ích của Dân, tìm đến sức mạnh của Dân (thay cho vua quan và kẻ sỹ); là yêu cầu Dân chủ, theo mô hình cách mạng tư sản phương Tây thế kỷ XVIII, mà nhờ vào sự tiếp xúc với Tân thư, mới vỡ ra được:

Nghìn, muôn, ức, triệu người chung góp

Xây dựng nên cơ nghiệp nước nhà

Người dân ta, của dân ta

Dân là dân nước, nước là nước dân.

Ở trên có nói đến nước với phần hồn của nó; phải tích cực gọi hồn về. Bây giờ là nước với dân; và dân là một tập hợp rộng rãi, gồm đủ các loại người: gái - trai, già - trẻ, miền ngược - miền xuôi, phú hào - thứ dân, và thật là mới mẻ, gồm cả người công giáo (Nào ai có vị gì Tây/ Mà coi người đạo ra ngay người thù), và đương nhiên có sự hiện diện của người trí thức (Đứng đầu lên có bạn nhà Nho).

Vậy là, với Phan Bội Châu, số phận người dân đã được đưa lên hàng đầu, chứ không còn là số phận của một vương triều, hoặc một ông vua. Sự thay đổi nhận thức này phải đến thế hệ Phan mới có; còn từ Phan Đình Phùng, Nguyễn Đình Chiểu trở về trước thì chưa có. Nguyễn Đình Chiểu, người từng viết với nỗi căm hận ngút trời: Bữa thấy bòng bong trắng lốp, muốn tới ăn gan/ Ngày xem ống khói đen sì, toan ra cắn cổ; cũng là người đã viết: Tấc đất, ngọn rau, ơn Chúa; tài bồi cho nước nhà ta/ Bát cơm, manh áo, sự đời; mắc mớ chi ông cha nó.

Vậy là khi đã gắn được dân với nước; đã nhìn đất nước qua tình cảnh của dân, thì sự xót xa, niềm đau khổ, mối hận thù sẽ càng tăng gấp bội. Đó là lý do để ta hiểu nồng độ thống thiết của lòng yêu nước, trong bối cảnh mới, đã làm nên kích thước mới, tầm vóc mới - như được thể hiện tập trung trong thơ văn Phan, cũng như trong các phong trào Duy tân, Đông du và Đông Kinh nghĩa thục vào thập niên mở đầu thế kỷ.

Trở lại với khởi đầu là dân, và đích đến cũng là dân, với người phát ngôn là Phan và các chiến hữu của ông - đó sẽ là nguồn mạch xuyên suốt thế kỷ XX, đưa tới đỉnh cao Cách mạng tháng Tám, xác lập nền Dân chủ cộng hòa ở thời điểm 1945; rồi vẫn còn được tiếp tục khẳng định lại, với khẩu hiệu "Lấy Dân làm gốc" ở thời điểm khởi động công cuộc Đổi mới, năm 1986. Và cho đến bây giờ, trong kỷ nguyên hội nhập và Toàn cầu hóa - nếu nhìn vào tình cảnh người nông dân vẫn là thành phần cơ bản trong khái niệm dân, và người công nhân trong các khu công nghiệp, từng là thành phần lãnh đạo của Nhà nước Công Nông, thì mới thấy khát vọng dân chủ vẫn còn là một cái đích xa, chưa dễ một sớm một chiều mà thực hiện được như ao ước của Phan, và của biết bao thế hệ con cháu của Phan, cho đến bây giờ.

Sự thống thiết của tình yêu nước còn cần được soi sáng bởi một vài phương diện khác, do hành trình hoạt động của Phan, là gồm 20 năm xa xứ và 15 năm bị giam lỏng ở chính quê nhà. Là người yêu nước mà phải xa nước; là người gắn bó với đất quê mà phải xa quê, Phan như một cái cây phải bứng ra khỏi đất trồng; và tình cảnh đó lâu lâu lại thấy xuất hiện ở Phan trong những câu thơ bùi ngùi: "Đã khách không nhà trong bốn biển/ Là người tù tội giữa năm châu"... Trong bầu khí quyển xứ Nghệ, Phan là người từng nuôi chí cứu nước từ rất sớm, kể từ khi là cậu bé chơi trò bình Tây, và ở tuổi 17 viết Bình Tây thu Bắc; nhưng việc xác định con đường và cách thức cứu nước thì dường như chỉ có thể hình thành từ sau 1900, khi Phan vẫn phải trải qua để rồi kết thúc con đường văn chương cử nghiệp với cái bằng Giải nguyên khá muộn, ở tuổi ngoài 30 mới giành được; và cơ hội cứu nước chỉ có thể mở ra ở thời điểm 1905, sau chiến thắng của Nhật Bản đối với nước Nga - Sa hoàng. Ý niệm đồng văn, đồng chủng đã đến với Phan cùng với chủ trương bạo động và cầu viện đã thúc đẩy Phan tìm đường Đông du (1905) sau khi hình thành ý tưởng Duy tân (1904). Đã đặt lên vai Phan sứ mệnh người mở đường, thật là hăm hở, trong Xuất dương lưu biệt:

Non sông đã chết, sống thêm nhục

Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài

Muốn vượt bể Đông theo cánh gió

Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

(Bản dịch của Tôn Quang Phiệt)

Và với hành trình tìm đường kéo dài đến 20 năm, Phan thuộc số ít người phải vượt biên giới từ rất sớm, để truyền lửa về nước, trong những khoảng cách không gian khá lớn, lúc ở Nhật, lúc ở Tàu, lúc ở Xiêm. Nơi đâu Phan cũng khắc khoải, xót xa về tình cảnh của dânnước mà ông không được cùng sẻ chia, cùng chịu đựng. Do vậy mà thư gửi về cho đồng bào từ hải ngoại của Phan là phải viết bằng máu, là huyết thư - Hải ngoại huyết thư. Sách viết về tình cảnh mất nước của người (xứ Lưu cầu - tức đảo Riou Kiou, nay thuộc Nhật Bản) cũng là viết bằng nước mắt và máu - là Lưu cầu huyết lệ tân thư. Lời chữ, âm giọng trong văn thơ Phan bao giờ cũng như dầu sôi, lửa cháy:

Anh em ơi xin tuốt gươm ra

Của nhà ta trả chủ ta.

(...)

Vạch trời xanh mà tuốt gươm ra

Cũng xương, cũng thịt, cũng da

Cũng hòn máu đỏ con nhà Lạc Long

(...)

Hai mươi triệu dân cùng của hết

Bốn mươi năm nước mất quyền không.

Thương ôi công nghiệp tổ tông

Nước tanh máu đỏ non chồng thịt cao

Non nước ấy biết bao máu mủ,

Nỡ nào đem nuôi lũ sài lang...

Một kẻ thù mới với những dã tâm và trang bị khác trước; một tình huống bi thảm sau ngót nửa thế kỷ liên tục nổi dậy đều thất bại; một cách nhìn gắn nối nước với dân, và dân với nước; và tình cảnh một người hết xa nước lại xa quê trong ngót 40 năm... Đó là những nguyên cớ làm nên một kích thước mới, một nồng độ mới của lòng yêu nước mà Phan Bội Châu là đại diện tiêu biểu nhất trong lịch sử và lịch sử văn chương Việt Nam trong mở đầu thế kỷ XX.

*  *  *

Khi kẻ thù là đến từ nửa vòng trái đất, và mang theo một gương mặt lạ - là Tây dương "mắt xanh mũi lõ", "đít cưỡi lừa", "mồm huýt chó", với vũ khí là thuốc súng và chiến thuyền thì người chí sĩ yêu nước phải có một cách ứng phó khác với các bậc tiền bối, là không thể ngồi một nơi, ở yên một chỗ mà kêu gọi, hoặc bài binh bố trận. Một hình ảnh mới xuất hiện trong văn thơ cách mạng đầu thế kỷ XX là hình ảnh người chí sĩ trong những cuộc đi gần và xa, những cuộc đi không ngừng nghỉ, ở trong nước hoặc ra nước ngoài. Cùng với Phan, cả một thế hệ chí sĩ, ai cũng đều có các cuộc đi như thế, dẫu phương tiện đi, ngoài tàu biển và xe lửa thì chủ yếu vẫn là đi bộ. Trong một hoàn cảnh giao thông, liên lạc rất khó khăn, và với sự kiểm soát nghiêm ngặt của chính quyền thực dân, những cuộc đi như vậy thật là cần thiết, thay vì các cuộc khởi nghĩa nổi lên từng lúc từng nơi, trong tình thế cô lập, suốt nửa sau thế kỷ XIX, cuộc trước gọi cuộc sau, nhưng rồi cuộc nào cũng nhanh chóng bị đập tắt.

Thuộc số người "xuất dương lưu biệt" từ rất sớm, Phan rồi sẽ có một hành trình 20 năm lưu lạc ở xứ người, trong đó có 5 năm (1913-1917) bị cầm tù. 20 năm với bao cuộc tiếp xúc với các nhân sĩ, chí sĩ ở nước ngoài như Khuyễn Dưỡng Nghị ở Nhật, Lương Khải Siêu ở Nhật và Trung Hoa... Để tìm phương sách cứu nước. Để cầu viện. Để tìm mua vũ khí. Để tìm trường huấn luyện thanh niên... Phương tiện giao thiệp vẫn là chữ Hán, - để bút đàm; để viết và đăng trên các báo chí ở nước ngoài, như Vân Nam tạp chí, Đông Á tân văn, Binh sự tạp chí..., rồi tìm cách gửi về nước. Vậy là lòng yêu nước và cách thức cứu nước của Phan, và các đồng chí của Phan đã có thể vượt biên giới quốc gia mà có một không gian rộng hơn, gồm một phần Đông Á và Đông Nam Á, trong đó Trung Hoa lúc này đã trở thành miếng mồi to cho chủ nghĩa đế quốc xâu xé, Nhật Bản nhờ vào ý thức canh tân khá sớm của một giai cấp tư sản hùng mạnh, và sức mạnh của khoa học và công nghệ để trở thành một cường quốc mới mà Phan gửi bao hy vọng.

Những gì được Phan viết ra trong hoàn cảnh phải đi nhiều, tiếp xúc nhiều sẽ có một biên độ rộng hơn cho suy ngẫm, và một nồng độ cao hơn cho cảm xúc - điều đó dĩ nhiên đã đem lại một chất lượng mới, đưa văn chương Phan vào một quỹ đạo khác với tất cả văn thơ yêu nước nửa sau thế kỷ XIX - để từ cái nhìn quốc gia mà chuyển sang cái nhìn khu vực, trước khi đến với cái nhìn toàn cầu, trong hành trình của Nguyễn Ái Quốc, 15 năm về sau.

Một lịch sử Việt Nam mất nước, như được trình bày với biết bao là đau xót trong Việt Nam vong quốc sử (1905) - đó là đối tượng, là đề tài được Phan quan tâm đầu tiên, trong không gian xa xứ, bởi một con người rất thuộc sử dân tộc, và rất thấm thía cái bi kịch mất nước - nó là thảm trạng xem ra không phải chỉ là riêng của Việt Nam mà là của nhiều khu vực thế giới da vàng. Cuốn sách do vậy có một đối tượng đọc rộng hơn, và tác dụng tuyên truyền lớn hơn, vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Hai mươi năm sau, một người con xứ Nghệ khác, là Nguyễn Ái Quốc, cũng sẽ viết một cáo trạng, nhân danh những người dân thuộc địa trên toàn thế giới, trong đó có người An Nam - cho người đọc phương Tây - đó là Bản án chế độ thực dân Pháp.

Sau Việt Nam vong quốc sử, Phan Bội Châu lần lượt viết tiếp Việt Nam quốc sử khảo, Việt Nam nghĩa liệt sử, và các truyện Tái sinh sinh, Chân tướng quân... Khu vực viết về các anh hùng, hào kiệt trong lịch sử, và những anh hùng đương đại những người đồng thời với Phan luôn luôn là một nhu cầu thường trực trong Phan, bởi nhà chí sĩ luôn luôn khắc khoải một câu hỏi lớn về sự vô lý của một dân tộc có lắm hào kiệt như thế mà sao lại để mất nước? Luôn luôn Phan có nhu cầu tìm đến sự tập hợp, sự hội tụ mọi ngọn nguồn sức mạnh của dân tộc, gồm những người đương thời với Phan cho đến Hoàng Hoa Thám mà Phan cho là còn vĩ đại hơn cả Hoa Thịnh Đốn, Nã Phá Luân, và những người sau Phan như Đặng Thái Thân, Nguyễn Hàm, Phạm Hồng Thái..., trong số đó gương mặt Phan đặt nhiều kỳ vọng nhất là Nguyễn Ái Quốc, như trong bức thư đề ngày 13-3-1925 Phan gửi cho Lý Thụy - "người cháu yêu của tôi".

Một bức thư như một chứng tích vô giá, vừa xác nhận sự tiếp tục các thế hệ cách mạng của đất nước, vừa biểu hiện mối thân tình trong khí hậu quê hương và gia đình của những người con xứ Nghệ một thời nước mất: "Thế mới biết cháu học vấn nhiều hơn, không phải như 20 năm về trước. Nhớ lại, khi trước tôi đến nhà cháu, uống rượu ngâm thơ, thì anh em cháu mới hơn 10 tuổi. Lúc bấy giờ tôi cũng chẳng ngờ rằng rồi ra cháu giỏi đến thế này. Bây giờ tôi bì với cháu thì xấu hổ nhiều lắm. Tiếp được của cháu hai phong thư, sự thương sự mừng đều có. Thương là thương cho mình tôi, mà mừng là mừng cho cả nước. Bây giờ gặp cháu thì thấy sau này có người kế khởi rồi. Đường tối mà thành ra sáng! Chỉ có điều tôi đã già rồi, sợ không được thấy nữa, như thế làm sao mà không thương lòng được? Một đời người tôi đau khổ, thui thủi một mình, nay được cháu giúp vào, có nhiều người theo, lấy lại nước nhà ắt là không khó, như thế thì sao mà không mừng được".

Đi nhiều, tiếp xúc nhiều - không chỉ ở nhiều địa bàn trong nước mà còn là ở Nhật Bản, Trung Hoa, Xiêm... đó là một cuộc đi lâu nhất và dài nhất so với tất cả các chí sĩ cùng thời với Phan. Phải có những cuộc đi và sự rộng đường tiếp xúc như thế mới có thể đưa Phan lên vị trí một gương mặt hàng đầu của dân tộc trong hai thập niên đầu thế kỷ XX. Và ái quốc, ái chủng, ái quần - đó chính là mục tiêu hàng đầu cho mọi cuộc đi trong tìm kiếm của Phan (Nếu cả nước đồng lòng như thế/ Việc gì coi cũng dễ như không/ Không việc gì việc không xong/ Nếu không xong quyết là không có Trời). Miễn là có tấm lòng yêu nước và ý chí cứu nước, kể cả những người có khác chính kiến với Phan, đều được Phan trân trọng; và ở đây ta được chứng kiến một tình bạn thật quý giá giữa Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh - là người không đồng tình với phương sách bạo động và cầu viện của Phan. Trong 26 bài văn tế mà Phan viết cho các đồng chí, thì bài điếu Phan Châu Trinh là một trong số bài cảm động nhất.

Một người con xứ Nghệ đã rất sớm mở được tầm nhìn ra cả nước, và tiếp tục mở rộng tầm nhìn ra toàn khu vực Đông Á trong một thế giới đang đắm chìm dưới gót sắt của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Một con người xứ Nghệ luôn khát khao kiếm tìm, tiếp xúc với bạn bè, đồng chí, vì mục đích cứu nước mà gạt bỏ mọi sai biệt về chính kiến. Trước khi trở thành "Ông già Bến Ngự", ở tuổi 58, hiếm ai có một cuộc sống và hành trình sôi nổi như Phan; và khi là "Ông già Bến Ngự", Phan vẫn tiếp tục một sự nghiệp viết trong tình cảnh bị giam lỏng và nhận được sự yêu mến và tôn kính của các thế hệ đến sau; dẫu về mình, bao giờ Phan cũng nhận rõ một sự đuối sức, không theo kịp những biến chuyển của thời cuộc. Câu cuối cùng trong bài thơ cuối cùng "từ giã bạn bè" của Phan, để lại cho đời, đó là:

             Chúc phường hậu tử tiến mau!

*  *  *

Đi nhiều, tiếp xúc nhiều.

Và viết nhiều.

35 năm viết nếu tính từ bài thơ Xuất dương lưu biệt (1905); 43 năm viết nếu tính từ bài phú Bái thạch vi huynh (1897); những bài được công chúng truyền tụng. Không kể trước đó là những bài mang tính khẩu khí của một thần đồng, hoặc một sinh đồ hay chữ.

Cả một đời viết, với trên dưới 40 bút danh, gắn với mục tiêu cứu nước và một hành trình xa xứ và xa quê - ngót 40 năm. Và khi đã là "Ông già Bến Ngự", trong thân phận bị giam lỏng; cho dù có tự nghĩ mình là kẻ "sống thừa", "sống rốn", Phan vẫn tiếp tục viết, trong sự dồn tụ bao là năng lượng, cho đến thiên tự truyện Phan Bội Châu niên biểu và bài Từ giã bạn bè lần cuối cùng:

Những ước anh em đều bốn bể

Nào ngờ trăng gió nhốt ba gian

Sống xác thừa mà chết cũng xương tan

Câu tâm sự gửi chim ngàn cá biển.

Không ai là người đồng thời với Phan, và trong những bạn bè, đồng chí của Phan, gồm cả những tên tuổi lừng lẫy như Nguyễn Thượng Hiền, Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng... có một hành trình viết dài như thế, và dồi dào như thế trong đời hoạt động của mình. Chỉ một người thuộc thế hệ sau, vượt được Phan, với 30 năm xa xứ và 50 năm viết - đó là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Ở tư cách là nhà Nho chí sĩ, và hơn thế, ở tư cách người yêu nước số một, Phan là người tìm được sự nhất trí tuyệt vời giữa mục đích sống và viết. Và bởi mục đích sống là cứu nước, nên tất cả những gì cần trang bị, cần sử dụng đều được Phan huy động triệt để, trong đó đương nhiên viết phải là phương thức cơ bản, thậm chí là bao trùm, bởi Phan là nhà Nho, là trí thức, là kẻ sỹ. Khi chưa có thể hành động bằng vũ khí thì vũ khí chỉ có thể huy động là tiếng nói. Một vũ khí của tiếng nói lúc nào cũng có thể hiện diện; và đến được với mọi tầng lớp người đọc đang cần một sự đồng tâm và thức tỉnh.

Hiếm có, hoặc chưa có một nhà Nho nào ở đầu thế kỷ có được khả năng huy động tổng lực phương tiện văn chương - trên tất cả các loại và thể - gần như không sót bất cứ dạng nào để nhập cuộc, gồm đủ thơ, phú, văn tế, câu đối, văn xuôi - chính luận, thư từ, tạp ký, truyện lịch sử, liệt truyện, truyện danh nhân, tự truyện... Và ở bất cứ loại nào, Phan cũng đều để lại những tác phẩm xuất sắc, in rõ dấu ấn riêng của bản thân, và mang theo khí hậu của thời cuộc. Với bất cứ thể văn nào, ở vào hoàn cảnh nào, ngọn bút của Phan cũng sục sôi một bầu nhiệt huyết, mà đến thẳng với con tim khối óc người đọc, để giục giã và hối thúc họ dấn thân và hành động.

Qua hai tấm gương Tăng Bạt Hổ và Lê Khiết, sau khi được đọc Việt Nam vong quốc sử, ta thấy tác dụng của văn chương Phan là lớn đến thế nào.

Và không chỉ người Việt Nam, ngay cả nhiều bè bạn Trung Hoa, Nhật Bản cũng nhận được sự cảm hóa đó, khi họ được đọc Phan trên các báo chí ở Trung Hoa...

Một sự nghiệp viết không ngừng nghỉ và gắn với hành động, bởi con người Phan là con người hành động. Ngay cả khi Phan bị cầm tù hoặc giam lỏng thì sự nghiệp viết đó vẫn có giá trị kêu gọi hoặc khơi ngòi cho hành động.

Viết cho công chúng là đồng bào trên cả ba miền đang trong tình cảnh "chim treo trên lửa, cá nằm dưới dao", như trong Hải ngoại huyết thư (1905).

Viết về các danh nhân và anh hùng trong lịch sử, để thức tỉnh người sống, như trong Việt Nam quốc sử khảo (1908): "Trời đâu có lấy cái ách nô lệ quàng lên ta, đất đâu có lấy cái cùm nô lệ giam hãm ta? Thế thì cớ sao ta lại nô lệ? (...)

Ôi! do yếu mà mất, mất mà diệt, diệt mà tuyệt! Thế tất nhiên là như vậy. Lý tất nhiên cũng như vậy. Nhưng nay của chưa hết, sức chưa phải đã tàn, còn có thể phấn chấn một phen để mưu ngày tái sinh".

Lùi sâu hơn vào lịch sử là Trùng Quang tâm sử, với Lời đầu: "Đọc lại câu chuyện Bình Ngô phục quốc ngày xưa, ta thấy tổ tiên chúng ta sinh vào thời ấy, không một ai không anh hùng. Thế thì nòi giống anh hùng, hậu thân anh hùng chính là chúng ta. Chúng ta quên làm sao đặng!".

Viết về những người đương thời, về các tấm gương người thật việc thật - những người vừa mới hy sinh hoặc đang còn sống và còn gieo hy vọng cho dân tộc - như Việt Nam nghĩa liệt sử, Tái sinh sinh, Chân tướng quân, Phạm Hồng Thái...

Viết cho bè bạn, đồng chí, các chiến hữu thân thiết của mình trong câu đối và văn tế.

Viết về mình, và cho mình trong hai lần tự thuật: Ngục trung thư Phan Bội Châu niên biểu.

Viết để chia sẻ, động viên, kêu gọi trong Thư gửi các giới đồng bào.

Viết văn hư cấu trong bối cảnh văn xuôi hiện đại và nhu cầu của đời sống báo chí hiện đại như Duyên trời, Dao và dây, Anh Khờ, Kềnh và Càng, Lịch sử con Vá,...

Và đương nhiên, thể văn chủ đạo đối với Phan vẫn là thơ - cả Hán và Nôm; và truyện, gồm các liệt truyện, tự truyện, và cả truyện ngắn, tiểu thuyết,...

Tóm lại, một sự nghiệp viết được mở ra rất rộng trên các biên độ của đề tài và chủ đề, của chất liệu và thể loại, bởi sự cần thiết của lịch sử và nhu cầu thời cuộc mà Phan là người có dồi dào các tiềm năng đáp ứng. Và ở vào hoàn cảnh nào Phan cũng có thể vượt mọi câu thức để có thể tìm được tự do cho việc viết. 15 năm cuối đời bị giam lỏng ở Huế, ngòi bút của Phan vẫn có thể tung hoành trên nhiều loại; riêng về thơ (Nôm và Quốc ngữ), Phan đã viết ngót 700 bài. Cái tài sản 700 bài này, xuất hiện cùng thời với Thơ mới, rất đáng được lưu tâm để thấy được một toàn cảnh thơ 1930-1945 trong tiến trình hiện đại hóa. Hãy đừng quên những gắng gỏi của một thế hệ tiền nhân không cam chịu lùi lại hoặc bị gạt ra ngoài con đường đi của lịch sử.

Viết và viết - một sự nghiệp viết không ngừng nghỉ, để có một phẩm chất mới trong tương quan với thời cuộc; để đón trước, và để theo kịp nhu cầu thời cuộc, như ở Phan trong ngót 40 năm; một sự nghiệp viết đứng ở hàng đầu về khối lượng và chất lượng so với những người cùng thời và các bậc tiền bối của Phan(2). Một sự nghiệp viết như vậy cần phải giải thích như thế nào, khi được biết tác giả của nó là người từng tâm niệm và tán đồng hai câu thơ của Viên Mai:

Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch

Lập thân tối hạ thị văn chương.

Văn chương chỉ có thể nằm ở bậc thấp nhất cho sự lập thân ư? Câu hỏi sẽ được trả lời, nếu ta hiểu (và sự thật thì ai mà không hiểu) Phan có bao giờ nghĩ đến việc lập thân cho riêng mình, khi cả cuộc đời Phan, tất cả mọi khả năng, tiềm năng của Phan là giành cho dân và nước, là chỉ một mục tiêu cứu nước. Và khi tất cả đã là thế, thì văn chương - như một bộ phận của hành động, của hoạt động cũng là thế. Bao trùm trọn vẹn cuộc đời Phan là một kiểu văn chương như thế, nhất quán từ khi là cậu bé chơi trò chơi bình Tây, viết hịch Bình Tây thu Bắc cho đến Lời từ giã bạn bè lần cuối cùng. Hiểu như vậy sẽ thấy không có gì là mâu thuẫn hoặc khó hiểu trong sự nghiệp văn chương của Phan; và giá trị thứ văn chương "đuổi giặc" ấy sẽ có một vị trí vinh quang, không phải cho sự lập thân của một người, mà cho chính sự tồn vong của một dân tộc.

*  *  *

 Từ là anh nho sinh Giải San xứ Nghệ, Phan Bội Châu sớm trở thành một đại biểu sáng giá nhất cho các nhà Nho chí sĩ Việt Nam trong mở đầu thế kỷ XX. Người có một hành trình vượt biên giới đến với nhiều khu vực của Đông Á và Đông Nam Á, sớm khắc phục mọi giới hạn chật hẹp của địa phương và quốc gia, để trở thành con người của thế giới phương Đông đang trong thức tỉnh, và đóng vai trò người tiên báo và tiền trạm số một cho một cuộc chuyển giao lịch sử rồi sẽ diễn ra với vai trò Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong suốt thập niên 20 (thế kỷ XX) mà Phan từng kỳ vọng. Phải có Phan Bội Châu và những đồng chí thuộc thế hệ ông, rồi mới có Nguyễn Ái Quốc những năm 1920 - người sẽ viết Đường Kách mệnh vào năm 1927, ở tuổi 37, cũng là năm Phan viết lời kêu gọi thanh niên:

Dậy, dậy, dậy

Trên án một tiếng gà vừa gáy...

Giai điệu giục giã ấy của Phan cũng có tác dụng hối thúc con người như Đường Kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc: "Kách mệnh! Kách mệnh! Văn chương và hy vọng ở sách này chỉ ở trong hai chữ Kách mệnh!".

Cách nhau một thế hệ, với độ chênh 23 tuổi đời, so với Nguyễn Ái Quốc, trong một chuyển động dữ dội của thời cuộc, Phan đã không theo kịp bước đi của lịch sử. Dẫu đã từng viết về Lênin và treo ảnh Lênin, đã từng nghiên cứu về chủ nghĩa Mác, đã viết sách Xã hội chủ nghĩa, nhưng Phan chỉ có thể đón nó, và biết nó trong 15 năm bị giam lỏng ở quê nhà. Nhưng nếu thiếu Phan? Thiếu những "câu thơ dậy sóng" của Phan, ở đầu nguồn thì sao có biển cả; và biển cả làm sao mà cồn lên được cho một công cuộc giải phóng rồi sẽ đến vào tháng 8-1945, năm năm sau ngày Phan qua đời? Như vậy nếu dân tộc đã tri ân Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh ở hàng đầu thì dân tộc quyết cũng sẽ không quên tri ân bậc tiền bối trực tiếp, kề cận là Phan Bội Châu (người mà chính Nguyễn Ái Quốc đã từng tôn vinh là "bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng" trong truyện Những trò lố, hay là Varen và Phan Bội Châu, đăng trên Người cùng khổ số tháng 9 và 10-1925, bốn tháng sau ngày Phan Bội Châu bị bắt ở Thượng Hải) - người bạn đồng môn, và đồng hương của Nguyễn Sinh Sắc, bạn chiến đấu của Nguyễn Thượng Hiền, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Huỳnh Thúc Kháng... những người đã khai mở con đường dân chủ hóa đất nước, con đường dẫn tới Cách mạng tháng Tám 1945, khai sinh nền Dân chủ Cộng hòa. Đã tri ân Nguyễn Ái Quốc, nhất định không thể quên tri ân Phan Bội Châu, trước khi nói đến một thế hệ đến sau, trong đó có không ít những con em ưu tú của xứ Nghệ như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập - những người rồi sẽ đưa nội dung giai cấp vào khái niệm dân của Phan và thế hệ Phan, để hướng dân tộc vào con đường cách mạng vô sản, với mở đầu là Cách mạng tháng Mười Nga - năm 1917.

Trong hai lần viết tự thuật, Phan thật khiêm nhường khi nói về mình: "Than ôi! Bao nhiêu năm bôn tẩu, mưu tính trăm việc mà không nên một việc gì, nghĩ mình lỗi nặng, tội nhiều..." (Ngục trung thư); "Than ôi! Lịch sử của tôi là lịch sử một trăm lần thất bại mà không một thành công" (Phan Bội Châu niên biểu). Thế nhưng trong thất bại của Phan mà các thế hệ đến sau sẽ tìm được bài học thành công. Các thế hệ đến sau, kể từ Nguyễn Ái Quốc sẽ nhìn ở Phan sứ mệnh người đốt lên ngọn lửa sáng rực rỡ nhất của tình yêu nước - một tình yêu nước gắn kết với yêu dân mà trở nên rất thống thiết, nó chính là động lực dẫn đến thành công cho cách mạng, trước hết là cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, ở hai thời điểm 1945 và 1975. Từ khởi điểm đó, cả dân tộc sẽ tiếp tục một cuộc đi mới, qua bao thử nghiệm, tìm kiếm, và cũng không ít thất bại, mà đến với mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh... Trong tổng thể, và trong gắn kết của các mục tiêu đó, có phải thế chăng, tất cả những dânnước, những công bằng, dân chủvăn minh ta đều tìm thấy trong ước nguyện của Phan và các đồng chí của Phan trong khoảng cách chẵn 90 năm, tính từ ngày Phan viết Lời kêu gọi thanh niên, và Nguyễn Ái Quốc cho ra đời trong bí mật một cuốn sách có tên Đường Kách mệnh - năm 1927.

 

Chú thích

(1) Viết nhân kỷ niệm 150 năm ngày sinh Phan Bội Châu (26/12/1867 - 29/10/1940).                                   

(2) Toàn tập Phan Bội Châu gồm 10 tập, do Chương Thâu sưu tập, biên soạn, in lần 2, có chỉnh lý bổ sung, 6272 trang cỡ to. Nxb. Thuận Hóa và Trung tâm Văn hóa - Ngôn ngữ Đông Tây; 2000.

Th.S Nguyễn Quốc Hồng

 

Chỉ còn mấy ngày nữa là chuyển sang năm 2018, khép lại những công việc mà Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn đã triển khai trong năm 2017, một năm để lại những dấu ấn khó quên.

Thứ nhất, tham mưu, chuẩn bị nội dung cho lãnh đạo tỉnh tổ chức tổng kết các nội dung thỏa thuận hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn giữa Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) và UBND tỉnh Nghệ An giai đoạn năm 2012 - 2015 và đến năm 2020 được ký kết ngày 21/4/2012. Hội nghị tổng kết được tổ chức vào ngày 24/5/2017 tại thành phố Vinh do Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam: GS.TS Nguyễn Quang Thuấn và Phó Bí thư Tỉnh ủy - Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Xuân Đường chủ trì. Hội nghị được đón tiếp các đồng chí lãnh đạo tỉnh Nghệ An, lãnh đạo Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và nhiều chuyên gia, nhà khoa học ở các viện nghiên cứu, trường đại học về dự.

Hội nghị đã đánh giá nghiêm túc những kết quả, những hạn chế trong 5 năm triển khai thực hiện thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan trên các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, hỗ trợ các chuyên gia, các nhà khoa học trong công tác nghiên cứu.

Trong 5 năm (2012 - 2017), một số công trình nghiên cứu về Nghệ An do Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam chủ trì đã mang lại giá trị khoa học và thực tiễn lớn, ứng dụng vào thực tiễn cao như Đề tài: "Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 - 2020 và tầm nhìn đến 2030" do GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, nguyên Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, nay là Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng - Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm; Đề tài "Huy động nguồn lực người xứ Nghệ ở trong và ngoài nước đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Nghệ An" do PGS.TS Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam chủ nhiệm.

Các đề tài do các nhà khoa học thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam chủ trì triển khai đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học, tổng kết sâu sắc những vấn đề mà thực tiễn đặt ra trong quá trình xây dựng Nghệ An, làm cơ sở cho lãnh đạo tỉnh xây dựng nội dung kinh tế - xã hội trong văn kiện Đại hội XVIII Đảng bộ tỉnh, xây dựng các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong những năm tới.

Các nhà khoa học Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã phối hợp với UBND tỉnh tổ chức 8 cuộc hội thảo khoa học trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư góp phần giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra, đề xuất các giải pháp hữu hiệu giải quyết những nội dung một cách hiệu quả như: phát triển cây dược liệu thành cây chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An; phát triển Nghệ An đến năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị; thành phố Vinh trong giai đoạn mới: Tầm nhìn và định hướng chiến lược phát triển; quá trình đô thị hóa ở Nghệ An - Những vẫn đề thực tiễn và giải pháp phát triển, v.v.

Trong 5 năm triển khai thỏa thuận hợp tác, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã đào tạo cho Nghệ An 308 thạc sĩ, 107 tiến sĩ bổ sung vào nguồn nhân lực chất lượng cao cho các trường đại học, cao đẳng, các cơ sở nghiên cứu trên địa bàn tỉnh.

Mặc dầu còn những hạn chế nhất định, song với những kết quả đã đạt được, nội dung hợp tác nghiên cứu những vấn đề về khoa học xã hội và nhân văn và tổng kết thực tiễn trong tiến trình phát triển giữa tỉnh Nghệ An với Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam thực sự đã giúp cho đội ngũ cán bộ của tỉnh có tầm nhìn mới, bổ sung nhiều giải pháp trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo những nhiệm vụ đã đề ra trong 5 năm qua và những năm tới.

Từ những kết quả đạt được và những tồn tại cần khắc phục, hội nghị đã xác định những nội dung cần phải tiếp tục nghiên cứu, trách nhiệm của mỗi bên trong những năm tiếp theo.

Thứ hai, tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Trung tâm KHXH&NV Nghệ An (2007 - 2017).

Lễ kỷ niệm diễn ra trong tâm thế xúc động và tự hào bởi sự có mặt của các đồng chí lãnh đạo tỉnh, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và trên 100 đại biểu là những nhà khoa học, nhà nghiên cứu ở các viện nghiên cứu, bạn bè, đồng nghiệp đã đến chia vui với tập thể cán bộ, viên chức Trung tâm.

Mười năm là quãng thời gian chưa dài đối với một đơn vị làm khoa học, nhất là lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Trung tâm KHXH&NV tự hào với những gì đã làm được trong 10 năm qua, song bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế cần phải nỗ lực khắc phục để tiếp tục đi lên. Lễ kỷ niệm cũng là dịp để các đồng chí lãnh đạo tỉnh, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và các nhà khoa học đánh giá những thành tích cũng như những hạn chế đối với Trung tâm KHXH và NV Nghệ An. Mười năm, cán bộ viên chức Trung tâm đã nghiên cứu, công bố 17 đề tài khoa học cấp tỉnh trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, lịch sử,… Tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức 12 cuộc hội thảo khoa học, xây dựng 4 đề án, tổ chức 6 cuộc điều tra xã hội học… với các nội dung, các vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đang đặt ra cần phải lý giải một cách khoa học và đề xuất giải pháp thiết thực trong quá trình thực hiện.

Cùng với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, cán bộ viên chức Trung tâm đã sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn và công bố 52 công trình thuộc các lĩnh vực: Lịch sử, văn hóa, địa chí của xã, huyện và tỉnh. Các công trình đã công bố góp phần vào việc văn bản hóa, bảo tồn và phát huy những giá trị trong kho tàng văn hóa xứ Nghệ.

Sau gần 2 năm thành lập, được sự đồng ý của lãnh đạo tỉnh và Sở Khoa học và Công nghệ, Trung tâm đã xuất bản Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn với mục tiêu: "Là diễn đàn quy tụ, tập hợp các nhà nghiên cứu, nhà quản lý trong và ngoài tỉnh để trao đổi những vấn đề về KHXH&NV, phổ biến các kết quả nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển".

Dấu ấn hết sức quan trọng để Trung tâm làm được những kết quả đáng tự hào là ở chỗ: 10 năm qua Trung tâm đã xây dựng được mối quan hệ với các viện nghiên cứu và một số trường đại học trong và ngoài tỉnh. Thực hiện tốt chức năng kết nối, trở thành nơi hội tụ giữa các nhà khoa học với các nhà quản lý; giữa các nhà khoa học trong tỉnh với các nhà khoa học trong nước và quốc tế. Những kết quả đạt được trong 10 năm xây dựng và phát triển cùng với thành công của sự kết nối đã tạo niềm tin đối với các nhà khoa học, các chuyên gia về với Nghệ An, về với Trung tâm.

Đánh giá những kết quả đạt được của Trung tâm trong 10 năm (2007 - 2017), GS.TS Nguyễn Quang Thuấn, Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam khẳng định: "Trải qua 10 năm xây dựng và phát triển, Trung tâm KHXH&NV Nghệ An đã từng bước vươn lên, khẳng định vai trò, vị trí của mình trong lĩnh vực nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu khoa học, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa phương, đồng thời có những đóng góp vào thành tựu chung của ngành KHXH Việt Nam"(1). Với những thành tích của Trung tâm trong 10 năm xây dựng và phát triển, đồng chí Nguyễn Xuân Đường - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh tiếp tục khẳng định: "Với những thành tích đạt được trong 10 năm qua (2007 - 2017), tôi tin tưởng rằng các đồng chí tiếp tục vượt lên những khó khăn, thử thách, đạt được những thành tích cao hơn nữa"(2).

Thứ ba, những chuyển động tích cực và đầy hy vọng.

Kết thúc một thập niên xây dựng và phát triển, Trung tâm KHXH&NV Nghệ An đã có sự chuyển động mới rất tích cực, hứa hẹn những thành tích mới cao hơn, tốt đẹp hơn, đáp lại sự tin tưởng của Chủ tịch UBND tỉnh. Trước hết là bổ nhiệm đồng chí Giám đốc mới trẻ, năng lực và đầy nhiệt huyết thay đồng chí Giám đốc cũ nghỉ chế độ. Đây là sự khởi đầu cho một quá trình chuyển động mới trong những năm tới.

Tiếp đến Sở Khoa học & Công nghệ với tư cách là cơ quan đầu mối khâu nối tham mưu cho UBND tỉnh những chương trình, nội dung cụ thể, hợp tác với Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam trong những năm tới, đồng chí Giám đốc Sở và lãnh đạo Trung tâm KHXH&NV đã tổ chức các buổi làm việc với Ban Quản lý Khoa học của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và các Viện Kinh tế Việt Nam, Viện Xã hội học, Viện Dân tộc, Viện Văn hóa, Viện Tôn giáo để thống nhất những nội dung cần nghiên cứu như: Vấn đề dân tộc, tôn giáo, phân tầng xã hội, phát triển miền Tây Nghệ An bền vững, phát triển thành phố Vinh trở thành trung tâm kinh tế - xã hội vùng Bắc Trung bộ,… Đây là những nội dung rất quan trọng, khởi đầu cho một chương trình nghiên cứu sâu hơn, kết quả hơn mà thực tiễn đang đặt ra đối với Nghệ An.

Cùng với những nội dung trên, bắt đầu từ năm 2018, Trung tâm KHXH&NV từng bước chuyển đổi theo mô hình hoạt động mới theo Nghị định 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học công nghệ công lập và các văn bản khác có liên quan.

Quá trình chuyển hoạt động sang cơ chế tự chủ tạo sự năng động hơn, sáng tạo hơn cho đội ngũ cán bộ nhân viên của Trung tâm, đồng thời đặt ra trách nhiệm cao hơn cho những người làm công tác khoa học.

Khép lại một năm hoạt động cũng là năm cuối cùng của một thập niên xây dựng và phát triển, với những sự kiện đã diễn ra và những chuyển động cho một thời kỳ mới, đó chính là những sự kiện điển hình của Trung tâm KHXH&NV Nghệ An trong năm 2017.

 

Chú thích

1. Dẫn theo bài phát biểu của GS.TS Nguyễn Quang Thuấn - Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam tại Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Trung tâm KHXH&NV Nghệ An.

2. Dẫn theo bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Xuân Đường - Phó Bí thư, Chủ tịch UBND tỉnh tại Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Trung tâm KHXH&NV Nghệ An.

Chú thích

1. Dẫn theo bài phát biểu của GS.TS Nguyễn Quang Thuấn - Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam tại Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Trung tâm KHXH&NV Nghệ An.

2. Dẫn theo bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Xuân Đường - Phó Bí thư, Chủ tịch UBND tỉnh tại Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Trung tâm KHXH&NV Nghệ An.

Th.S Trần Quốc Thành

Th.S Nguyễn Thị Minh Tú

 

Năm 2017 có ý nghĩa quan trọng, then chốt đối với việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015-2020, tỉnh Nghệ An tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị với khí thế, quyết tâm phấn đấu, thi đua sôi nổi. Tuy vậy, việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội gặp không ít khó khăn, thách thức, nhất là thời tiết diễn biến phức tạp, bị ảnh hưởng trực tiếp do cơn bão số 2, 10 và mưa lũ gây nhiều thiệt hại về người, tài sản, cơ sở hạ tầng; tình hình dịch bệnh xảy ra trên cây trồng, vật nuôi đã ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống; sản xuất công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn; tình hình liên quan đến tôn giáo còn diễn biến và tiềm ẩn phức tạp về an ninh, trật tự... Mặc dù vậy, với sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh uỷ và UBND tỉnh, phát huy tinh thần lao động sáng tạo trong mọi hoạt động, công tác KH&CN đã đạt được một số kết quả ghi nhận.

1. Công tác tham mưu cơ chế, chính sách phục vụ QLNN: Tham mưu kịp thời cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành một số quyết định trong quản lý nhà nước như Chương trình phát triển tài sản trí tuệ tỉnh Nghệ An giai đoạn 2017-2020; Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TU ngày 14/12/2016 của BCH Đảng bộ tỉnh Nghệ An về phát triển KH&CN giai đoạn 2016-2020, định hướng 2025; Kế hoạch hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2017-2020; Kế hoạch phát triển thị trường KH&CN; quy chế quản lý Chỉ dẫn địa lý cam Vinh.

2. Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tác động đến đời sống, sản xuất: Với tổng số đề tài, dự án KH&CN triển khai thực hiện trong năm 84, trong đó: chuyển tiếp 61 đề tài, dự án, 19 đề tài, dự án mới4 dự án cấp quốc gia (03 dự án thuộc chương trình nông thôn miền núi; 01 dự án thuộc chương trình độc lập cấp nhà nước), đã đạt một số kết quả nổi bật trên các lĩnh vực:

2.1. Trong lĩnh vực khoa học nông nghiệp

Ứng dụng thành công nhiều biện pháp kỹ thuật như kỹ thuật tưới nhỏ giọt trên cây ăn quả và mía; thâm canh lúa nước sử dụng phân viên nén dúi sâu; giải pháp bón đạm hợp lý cho lúa với 1 ha giảm 40 kg đạm sẽ góp phần tiết kiệm ngân sách hàng tỷ đồng với tổng diện tích lúa canh tác khoảng 200.000 ha; luân canh, xen canh bắt buộc với mía góp phần tăng giá trị trên 1 đơn vị diện tích và cải tạo đất; phòng trừ sâu bệnh hại chanh leo; hoàn thiện quy trình sản xuất thử nghiệm các giống lan mokara cắt cành; nghiên cứu thành phần sâu bệnh hại cây chanh leo; hoàn thiện các quy trình sản xuất giống cây gấc và quy trình thâm canh gấc; sản xuất giống cà chua trái vụ.

Nghiên cứu, ứng dụng thành công KH&CN nhằm sản xuất và thương mại hóa nhiều sản phẩm phục vụ tiêu dùng, đời sống. Trong đó, nhiều sản phẩm có lợi cho sức khỏe, giúp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị nhiều loại bệnh, nổi bật như: trà hòa tan và viên nang cứng từ trà hoa vàng; đồ uống chức năng dạng bột hòa tan và dạng lỏng từ cây diếp cá; trà túi lọc từ cây dược liệu cà gai leo và dây thìa canh; tỏi đen được sản xuất từ công nghệ lên men tự động; sản phẩm trám muối và trám sấy đóng lọ không sử dụng chất phụ gia thực phẩm từ quả trám đen Thanh Chương; tinh dầu chiết xuất từ dược liệu địa phương như sả, quế, màng tang, bạc hà; hệ thống xử lý và cung cấp nước sinh hoạt quy mô hộ gia đình tại vùng chưa có nước sạch, chế phẩm Val-A trị bệnh khô vằn...

Một số các sản phẩm đã được tập trung nghiên cứu theo chuỗi sản phẩm như trà hoa vàng, chanh leo, lúa japonica, cam, chè, trám đen, lạc...

Đã tiến hành khảo nghiệm, thử nghiệm thành công một số loại cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt như: giống lúa thuần và lúa lai mới nhằm bổ sung và thay thế một số giống trong cơ cấu giống lúa hiện nay, giống gấc lai đen chất lượng tốt, cà chua trái vụ.

Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ nông dân sử dụng chế phẩm sinh học sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ phế phụ phẩm nông nghiệp, ứng dụng chế phẩm BIOGEEN xử lý tồn dư thuốc BVTV trong rau, chế phẩm làm đệm lót sinh học phục vụ chăn nuôi góp phần bảo vệ môi trường.

Nhờ vậy, các hoạt động KH&CN đã góp phần nâng cao hiệu quả của sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, đưa tổng sản lượng lương thực cây có hạt cả năm 1.266.042 tấn, tăng 0,67% so với năm 2016. Trong đó: Năng suất lúa bình quân 54,24 tạ/ha, sản lượng lúa 966.000 tấn; Năng suất lạc đạt 24,79 tạ/ha, sản lượng ước đạt 38.587 tấn; Chè công nghiệp 7.021 ha, tăng 0,57%, sản lượng chè búp tươi ước đạt 68.662 tấn, tăng 8,9% cùng kỳ; trong chăn nuôi đã nâng tổng đàn trâu 282,94 ngàn con, tổng đàn bò 454,66 ngàn con, tăng 1,84%, sản lượng sữa đạt 225,97 triệu lít, tăng 9,51% so với cùng kỳ; sản lượng thịt hơi xuất chuồng 10 tháng đạt 180 ngàn tấn, ước cả năm đạt 215,6 ngàn tấn, tăng 2,75% cùng kỳ; tổng đàn lợn 889,33 ngàn con; tổng đàn gia cầm đạt 22 triệu con.

2.2. Trong lĩnh vực khoa học y dược

ng dụng thành công và làm chủ được một số kỹ thuật cao như: mổ tim hở, ghép thận tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa tỉnh; mổ tim hở ở Bệnh viện Sản Nhi; ghép tuỷ hỗ trợ điều trị một số bệnh lý ung thư, phẫu thuật u phổi, u trung thất, u thực quản, u gan lớn,  đốt u phổi, u gan, u cơ trơn tử cung bằng sóng cao tần ở Bệnh viện Ung bướu Nghệ An.

Đã nghiên cứu các mô hình bệnh tật nhằm góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân gồm: Nghiên cứu tỉ lệ mắc bệnh, các yếu tố nguy cơ và đề xuất các giải pháp can thiệp loãng xương ở người 40 tuổi trở lên tại thành phố Vinh; đề xuất giải pháp can thiệp viêm mũi dị ứng của học sinh trung học cơ sở lứa tuổi 11-14; một số giải pháp can thiệp viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại một số khu công nghiệp... làm cơ sở cho các cấp các ngành vận dụng trong chỉ đạo cơ quan quản lý y tế các cấp nhằm tăng cường sức khỏe, tăng cường chất lượng cuộc sống cho cộng đồng và nhân dân.

Nghệ An triển khai thành công ca thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên: Vào ngày 17/11 Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa chính thức đón em bé đầu tiên chào đời bằng phương pháp thụ tinh ống nghiệm (IVF). Ở Việt Nam, ngoài một số bệnh viện ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh thì chỉ có Bệnh viện Phụ sản Trung ương Huế và Bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa thực hiện thành công thụ tinh trong ống nghiệm. Với việc kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm được triển khai tại Nghệ An đã mở ra cơ hội có con đối với các cặp vợ chồng hiếm muộn trong tỉnh và khu vực với chi phí điều trị ít hơn, hơn nữa người bệnh cũng tiết kiệm được chi phí sinh hoạt, đi lại.

Nhiều hoạt động, đề tài ứng dụng KH&CN phục vụ phát triển dược liệu được triển khai nghiên cứu và thực nghiệm về các loại dược liệu có tiềm năng thương mại như: mô hình trồng đẳng sâm, dây thìa canh, cà gai leo, kim ngân, công nghệ tách chiết diếp cá, tỏi đen... phục vụ cho nghiên cứu sản xuất các sản phẩm nâng cao sức khỏe cộng đồng.

2.3. Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

Nghiên cứu KHXH&NV cũng đã tập trung vào việc xây dựng giáo trình, tài liệu phục vụ công tác đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng và phục vụ công tác giáo dục đào tạo như: Nghiên cứu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy, học tập dân ca trong trường học; Nghiên cứu tâm lý nghề nghiệp và định hướng đào tạo nghề cho học sinh phổ thông các huyện miền Tây; Biên soạn tài liệu và tổ chức dạy học chữ Thái hệ Lai - Pao; Nghiên cứu bộ khung đào tạo nhân lực du lịch biển tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch - Thương mại.

Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn giúp cấp uỷ và chính quyền các cấp, các ngành hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở các ngành và của tỉnh. Trong năm đã đề xuất các giải pháp: Nghiên cứu những tác động của phong tục tập quán các đồng bào dân tộc thiểu số miền Tây Nghệ An đến phát triển kinh tế - xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động của các lễ hội; giải pháp phát triển du lịch cộng đồng gắn với xóa đói giảm nghèo ở miền Tây; giải pháp chống tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự trên lĩnh vực tôn giáo ở tỉnh; giải pháp phát huy giá trị văn hóa làng trong xây dựng mô hình nông thôn; nghiên cứu các giải pháp bài trí thờ tự - sắp xếp đồ tế khí tại các di tích trên địa bàn tỉnh.

Tổ chức các Hội thảo chuyên đề với những quan điểm khoa học sâu sắc gợi mở, tư vấn cho tỉnh trong chỉ đạo điều hành và định hướng phát triển. Điều tra xã hội học được đẩy mạnh và cung cấp thông tin, dư luận xã hội phục vụ cho cơ quan quản lý.

2.4. Trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ

* Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin: Tập trung nghiên cứu một số phần mềm ứng dụng CNTT có hiệu quả như hệ thống đảm bảo an toàn thông tin cho cổng thông tin điện tử tỉnh; phần mềm quản lý, điều hành góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch, nâng cao hiệu quả của công tác quản lý do tiết kiệm thời gian, giấy tờ (của VNPT); tổ chức triển khai nhân rộng mô hình ứng dụng chữ ký số (hiện nay đang từng bước triển khai trên địa bàn tỉnh); ứng dụng phần mềm trong quản lý khám, chữa bệnh trong ngành y tế được tổ chức triển khai mạnh mẽ… giúp công tác quản lý nhanh, hiệu quả và góp phần thực hiện tốt chương trình CCHC và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

* Ứng dụng trong lĩnh vực CN, TTCN đã tập trung vào việc góp phần nâng cao hiệu quả của việc đầu tư đổi mới công nghệ nhằm phát huy được lợi thế của các doanh nghiệp về nguồn nhân lực, nguyên liệu ở địa phương góp phần nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá trên thị trường: công nghệ sản xuất đồ uống chức năng hòa tan dạng bột và dạng lỏng từ cây diếp cá phục vụ tiêu dùng; xây dựng chuỗi giá trị thích hợp cho sản phẩm chè Nghệ An nhằm tăng giá trị cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế; ứng dụng công nghệ Dry bio-toilet để xây dựng mô hình nhà vệ sinh không dùng nước tại Tiểu đoàn hỗn hợp đảo Mắt - Bộ CHQS tỉnh; xây dựng mô hình xử lý và cung cấp nước sinh hoạt quy mô hộ gia đình tại vùng chưa có nước sạch trên địa bàn tỉnh Nghệ An...

2.5. Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên

 Nguồn gen nhiều loại cây trồng, vật nuôi quý hiếm đã được bảo tồn, khai thác và phát triển như trà hoa vàng, đẳng sâm, sâm Puaxailaileng, hà thủ ô đỏ, quỹ gen trâu Thanh Chương, bò vàng Nghệ An; quỹ gen lợn đen Sao Va. Điều tra đa dạng sinh học khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt; Đánh giá nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu tại Vườn quốc gia Pù Mát và đề xuất biện pháp bảo tồn, khai thác hợp lý như bảy lá một hoa, lan kim tuyến, cây Nưa… nhằm phục vụ công tác khai thác và phát triển nhanh các nguồn gen thành sản phẩm thương mại.

3. Hoạt động sáng kiến, sáng tạo KH-CN

Lễ trao giải cuộc thi Sáng tạo KH&CN Nghệ An năm 2017 là năm đầu tiên Giải thưởng Sáng tạo KH&CN được xét tặng 3 năm 1 lần, vì vậy, số lượng và chất lượng các công trình đều tăng hơn so với các năm trước, với 109 công trình tham dự xét giải và đã xét chọn được 43 công trình đạt giải gồm: 1 giải Đặc biệt, 9 giải Nhất, 6 giải Nhì, 13 giải Ba và 14 giải Khuyến khích thuộc các lĩnh vực: Y tế, công nghiệp, công nghệ thông tin, tiểu thủ công nghiệp, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội với tổng số tiền thưởng hơn 762 triệu đồng. Giải thưởng KH&CN đã góp phần khơi dậy, động viên các tầng lớp nhân dân trong tỉnh không ngừng lao động sáng tạo. Đồng thời tôn vinh các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, đội ngũ trí thức và những người lao động trên địa bàn tỉnh có những công trình nghiên cứu, ứng dụng KH&CN trong thực tiễn, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh.

 Trao giải thưởng Cuộc thi Sáng tạo KH&CN thanh niên tỉnh Nghệ An năm 2017 cho 13 cá nhân và tập thể; trong đó có 1 giải Nhì, 4 giải Ba và 8 giải Khuyến khích. Đây là năm thứ 2 Giải thưởng Sáng tạo KH&CN thanh niên tỉnh được tổ chức và thu hút được sự tham gia của đông đảo thanh niên làm công tác nghiên cứu khoa học, mục đích của giải thưởng này là nhằm khuyến khích thanh niên học tập, phát huy tính sáng tạo, nghiên cứu làm chủ KH&CN. Giải Nhì được trao cho công trình  "Gia công chế tạo dây chuyền chế biến sản phẩm gừng" của tác giả Cao Văn Nhiên và Hồ Đình Long (Công ty CP Thực phẩm Nghệ An). Điểm đặc biệt của giải thưởng là Quỹ Alba Charity đồng hành với giải thưởng này với tài trợ kinh phí khởi nghiệp với mức 30 triệu đồng/công trình cho 2 công trình: Nghiên cứu và sản xuất thành công tinh dầu thiên nhiên từ các loại cây dược liệu ở Quế Phong; Xây dựng mô hình nhân giống và trồng lan rừng theo hướng thương mại trên địa bàn huyện Quế Phong.

Năm 2017 đã công nhận 86 sáng kiến cấp tỉnh trong lĩnh vực quản lý nhà nước.

4. Hoạt động quản lý nhà nước về KH&CN

4.1. Quản lý công nghệ, sở hữu trí tuệ và an toàn bức xạ

Công tác quản lý công nghệ, phản biện, thẩm định, tư vấn công nghệ, an toàn bức xạ, hạt nhân được chú trọng, quan tâm, khá nghiêm túc, đã tạo sự chuyển biến về nhận thức của toàn xã hội. Đã phối hợp với các sở, ngành tham mưu cho UBND tỉnh lựa chọn một số dự án đầu tư có công nghệ tiên tiến, hiện đại và đáp ứng yêu cầu quy định về xử lý môi trường. Trong năm đã thẩm định công nghệ 5 dự án đầu tư: dự án Khu công nghệ cao, khu công viên thể dục thể thao kiểu mẫu tại xã Hưng Hoà của Công ty Cổ phần Golden City; dự án đầu tư Nhà máy sản xuất bao bì quốc tế ECO của Công ty Cổ phần Bao bì quốc tế ECO; dự án Khu xử lý môi trường vùng phụ cận tỉnh Nghệ An tại xã Nghĩa Hoà, thị xã Thái Hoà của Công ty Cổ phần năng lượng và môi trường VN; dự án Nhà máy Xi măng Hoàng Mai 2.1 của Công ty Cổ phần Xi măng ViCem Hoàng Mai; dự án Trung tâm thương mại, khách sạn, nhà hàng, kho xưởng ứng dụng KHCN tại xã Hưng Hoà. Hướng dẫn cho 125 doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ đăng ký sở hữu công nghiệp (02 giải pháp hữu ích, 01 sáng chế, 90 nhãn hiệu, 32 kiểu dáng công nghiệp).

Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã chính thức được khởi động với Quyết định 2171/QĐ-UBND ngày 24/5/2017 của UBND tỉnh về việc ban hành "Kế hoạch hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2017-2020". Mục tiêu của kế hoạch nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cũng như hỗ trợ những điều kiện cần thiết để các doanh nghiệp khởi nghiệp thành công dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới.

Công tác sở hữu trí tuệ đã có bước phát triển và thực sự được các doanh nghiệp và nhân dân quan tâm: Đến nay đã có 883 đối tượng được bảo hộ, trong đó có 644 nhãn hiệu, 39 kiểu dáng, 7 giải pháp hữu ích và 14 sáng chế (năm 2017 tăng 109 đối tượng được bảo hộ). Một số sản phẩm sau khi được cấp văn bằng bảo hộ về sở hữu trí tuệ, danh tiếng của sản phẩm đã được rất nhiều người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh biết đến và tin tưởng sử dụng, do vậy sản lượng, doanh thu được tăng lên rất nhiều, như: cá thu nướng Cửa Lò, gà Thanh Chuơng, tôm nõn Diễn Châu, mực khô Quỳnh Lưu, cam Vinh, nước mắm Vạn Phần,.. tạo dựng thương hiệu cho sản phẩm nông sản Nghệ An. Triển khai đồng loạt nhiều giải pháp phát triển thương hiệu Chỉ dẫn địa lý cam Vinh, như cấp, dán tem truy xuất nguồn gốc cho cam Vinh, tổ chức Hội chợ cam Vinh, truyền thông mạnh mẽ về cam Vinh. Trong năm xây dựng 07 nhãn hiệu tập thể và chứng nhận: Dê Tân Kỳ; rượu cổ truyền Hưng Tân, Hưng Nguyên; bò giàng Tương Dương; mật ong Tây Hiếu; bột sắn dây Nam Đàn; bơ Nghĩa Đàn; bánh cốm Đông Thuận, Nghi lộc...

Công tác đảm bảo an toàn bức xạ hạt nhân được quan tâm đẩy mạnh, góp phần đưa hoạt động chiếu chụp X- quang đảm bảo an toàn bức xạ, không xảy ra sự cố bức xạ trên địa bàn tỉnh. Tổ chức thẩm định và cấp phép 30 cơ sở có sử dụng thiết bị X - quang chẩn đoán y tế đáp ứng yêu cầu, đảm bảo đúng thời gian quy định, trong đó: Cấp giấy phép mới: 20 giấy phép; Cấp gia hạn giấy phép: 09 giấy phép; Cấp sửa đổi: 01 giấy phép.

4.2. Công tác chỉ đạo hoạt động KH&CN cấp huyện, ngành

Chỉ đạo các huyện, thành, thị triển khai xây dựng chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 06 về phát triển KH&CN. Đến nay đã có 17/21 huyện, thành, thị xây dựng và ban hành chương trình hành động, trong đó một số huyện đã tổ chức thực hiện tốt vừa bám sát với Nghị quyết số 06/NQ-TU của tỉnh ủy vừa phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương như huyện Anh Sơn, Đô Lương, Kỳ Sơn, Tân Kỳ, thị xã Cửa Lò.

Chỉ đạo 21 huyện, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò và thị xã Thái Hoà thực hiện tốt nhiệm vụ hoạt động KH&CN năm 2017, chỉ đạo các huyện, thành phố, thị xã tổ chức 71 cuộc hội thảo tư vấn; huy động các nguồn kinh phí khác nhau xây dựng trên 130 mô hình nhỏ trên địa bàn các huyện, trong đó có 25 mô hình từ nguồn ngân sách sự nghiệp KH&CN hỗ trợ với  tổng ngân sách KH& CN phục vụ cho xây dựng mô hình là 1.564.455.000 đồng; một số mô hình đạt hiệu quả tốt như: mô hình tinh dầu cam Quỳ Hợp; mô hình tinh dầu dược liệu Quỳ Châu; nuôi cá vược trong ao nước lợ kém hiệu quả Hoàng Mai; mô hình nuôi cá trong lồng trên hồ đập thủy lợi ở Anh Sơn; mô hình chế biến dầu lạc, vừng công nghệ liên hoàn Nam Đàn; mô hình trồng lúa Japonica tại huyện Kỳ Sơn; mô hình nuôi cá rô phi đường nghiệp trong lồng chi phí thấp tại huyện Anh Sơn; mô hình trồng thanh long ruột đỏ bằng công nghệ Đài Loan; mô hình tưới nhỏ giọt cây cam Yên Thành.

Công tác thanh kiểm tra tại các huyện, thành, thị tăng cường: Theo số liệu của các huyện đã tổ chức và phối hợp tổ chức được 35 cuộc thanh tra, kiểm tra về TC- ĐL - CL hàng hóa, gian lận thương mại, sở hữu trí tuệ với 2.176 lượt cơ sở, trong đó: có 364 cơ sở (chiếm 16.72%) vi phạm; số cơ sở bị phạt cảnh cáo là 275 cơ sở (chiếm 75,5% số cơ sở vi phạm); số cơ sở bị phạt tiền là 89 cơ sở (chiếm 24,5% số cơ sở vi phạm), nộp vào ngân sách nhà nước 757.425.000.000 đồng.

4.3. Công tác tiêu chuẩn đo lường chất lượng

Các doanh nghiệp đã quan tâm áp dụng tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm hàng hoá nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, đấu tranh chống sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, gian lận đo lường, bảo vệ quyền lợi của nhà sản xuất, kinh doanh chân chính và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Các doanh nghiệp xây dựng và áp dụng HTQLCL tiên tiến đã có đóng góp tích cực cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa Nghệ An. Năm 2017 có hai đơn vị được tặng Giải chất lượng quốc gia, một giải Bạc và một giải Vàng.

Tiếp nhận hồ sơ công bố hợp chuẩn cho 21 sản phẩm của 05 doanh nghiệp. Tiếp nhận, kiểm tra và cấp thông báo kiểm tra nhà nước hàng hoá nhập khẩu: 45 thông báo cho 179 lô hàng bao gồm: Điện, điện tử; gas, thép. Các lô hàng qua kiểm tra đảm bảo chất lượng nhập khẩu, thủ tục nhanh chóng, kịp thời, đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp và phù hợp quy chuẩn kỹ thuật, được phép thông quan và lưu thông ở Việt Nam.

Phối hợp với Viện Đo lường kiểm định PTĐ Tiêu cự kính mắt và hiệu chuẩn máy đo khúc xạ cho 19 cơ sở kinh doanh kính thuốc trên địa bàn tỉnh.

Tư vấn về phê duyệt mẫu cột đo xăng dầu cho 520 cột đo xăng dầu của 215 doanh nghiệp.

Công tác thông tin, tuyên truyền phổ biến pháp luật về TCĐLCL được tăng cường: Tổ chức khóa đào tạo nghiệp vụ tiêu chuẩn hóa cơ sở; đào tạo mã số mã vạch; tập huấn đánh giá hướng dẫn rà soát và chuẩn hóa các quy trình ISO giải quyết TTHC; tập huấn bồi dưỡng kiến thức nâng cao năng suất chất lượng doanh nghiệp cho 410 lượt người là cán bộ quản lý, các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất, kinh doanh.

Hướng dẫn 08 doanh nghiệp với 31 sản phẩm công bố hợp chuẩn; cấp thông báo tiếp nhận hồ sơ công bố hợp quy cho 16 sản phẩm. Hướng dẫn 25 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng đóng gói sẵn về việc công bố sử dụng dấu định lượng. Đã phân tích, kiểm nghiệm 329 mẫu sản phẩm, hàng hoá các loại, với hơn 2.350 chỉ tiêu chất lượng. Kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu của 219 lô hàng đồ điện, điện tử, thép, gas và trực tiếp thẩm định, đánh giá chất lượng hàng hoá, thiết bị, phương tiện theo yêu cầu của công tác quản lý nhà nước, trưng cầu giám định, thanh lý tài sản 24 lô hàng, phương tiện và thiết bị. Tư vấn, hướng dẫn 07 doanh nghiệp tham dự GTCLQG năm 2017. Tổ chức quản lý và kiểm định được 41.506 PTĐ các loại.

4.4. Truyền thông và thống kê KH&CN

Hoạt động truyền thông KH&CN kịp thời, có chất lượng và thường xuyên đổi mới hình thức và phương thức. Các ấn phẩm thông tin của ngành được đổi mới về hình thức và nâng cao về chất lượng, cụ thể: Đã phát hành, cung cấp 12/12 số Tạp chí Thông tin Khoa học - Công nghệ; 12 số Chuyên san KHXH&NV Nghệ An và phát sóng 12 Tạp chí truyền hình phổ biến tiến bộ KHKT trên đài PTTH tỉnh, đặc biệt đã đổi mới chất lượng các ấn phẩm và tổ chức các hội nghị bàn tròn tư vấn, phản biện các vấn đề xã hội bức xúc và có tính lan tỏa, phản biện cao.

Truyền thông qua tin nhắn: Đã triển khai thu thập được 1.600 số điện thoại của các cán bộ thực hiện công tác KH&CN ở 21 huyện thành thị. Phối hợp với Công ty viễn thông     Viettel phân loại các số thuê bao và cài đặt phần mềm gửi tin nhắn. Đồng thời chuẩn bị một số nội dung tin nhắn để thử nghiệm.

Tổ chức thành công hội thảo một số công nghệ, thiết bị, sáng chế và sản phẩm mới: Công nghệ Home mee - Cổng thông tin hộ gia đình, Safe.one - Sản phẩm cảnh báo cháy nhanh của Công ty Viettel Nghệ An; Giải pháp nhà thông minh Lumi của Doanh nghiệp tư nhân tin học Dũng Diệu; Giải pháp CNTT - Phần mềm QL bán hàng ECRM của Công ty Redsand... Đặc biệt, tại hội thảo còn giới thiệu những sản phẩm là các công trình nghiên cứu, sáng chế của các nhà khoa học Nghệ An vừa được Giải thưởng Sáng tạo KH&CN Nghệ An năm 2017 như: Dây chuyền công nghệ sản xuất gạch không nung tự động của Công ty TNHH Hồ Hoàn Cầu; Máy cắt đá bằng dây và máy doa lỗ di động của doanh nghiệp tư nhân cơ khí Nhân Đỗ; Hệ thống thang nâng vận chuyển của Công ty TNHH cơ khí tự động Nhân Phát.

Công tác thống kê theo chỉ đạo và yêu cầu của Bộ KH&CN được tỉnh đánh giá làm tốt và tích cực. Thực hiện điều tra thống kê KHCN cơ sở và tổng hợp năm 2017 cho 120 đơn vị thuộc diện báo cáo. Tiến hành thiết kế, xây dựng kế hoạch và điều tra nhân lực chất lượng cao trên địa bàn tỉnh cho 239 đơn vị.

4.5. Công tác thanh tra, kiểm tra

Công tác thanh tra, kiểm tra có nhiều hình thức và phương pháp đổi mới, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ. Trong năm đã thực hiện 6 cuộc thanh tra chuyên ngành về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm hàng hóa và sở hữu công nghiệp đối với các cơ sở sử dụng phương tiện đo nhóm 2; Thanh tra các cơ sở kinh doanh xăng dầu; Thanh tra về thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của các huyện, thành thị; thanh tra đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ; thanh tra về TCĐLCL nhãn hàng hóa, mã số mã vạch và sở hữu công nghiệp đối với hàng đóng gói sẵn. Tổng số cơ sở đã thanh tra: 189 cơ sở; Tổng số cơ sở vi phạm bị phát hiện, xử lý: 24 cơ sở; Tổng số tiền xử phạt: 702.296.300 đồng. Thanh tra đột xuất 8 cơ sở kinh doanh xăng dầu phát hiện 7 cơ sở vi phạm về chất lượng xăng và đã phối hợp Phòng PC46 Công an tỉnh NA và Cục A71 Bộ Công an phá thành công Chuyên án số 917XD, làm rõ 2 triệu lít xăng "bẩn". Qua các cuộc thanh tra, chủ động phát hiện các sai phạm và đã kịp thời xử lý nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý; đồng thời tăng cường hướng dẫn, tuyên truyền cho các cơ sở có liên quan các kiến thức thiết thực nhằm nâng cao nhận thức, tự giác thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật.

5. Hợp tác KHCN với các viện, trường và các sở, ngành

Đã phối hợp với các viện, trường và các sở, ngành trong việc huy động nguồn nhân lực trong việc tham gia vào các hội đồng xác định danh mục, hội đồng tuyển chọn và hội đồng đánh giá nghiệm thu các đề tài, dự án KH&CN cấp tỉnh.

Tiếp tục thực hiện các hợp tác ký kết với các viện, trường trong đề xuất ý tưởng nhiệm vụ KH&CN; mời các chuyên gia kết nối với các đơn vị, doanh nghiệp trong triển khai, thực hiện các nhiệm vụ KH&CN.

Tăng cường hợp tác, thúc đẩy phát triển KH&CN Việt Nam - Lào: Tháng 6/2017 đoàn công tác hai Bộ KH&CN Việt Nam và Lào đã có chuyến làm việc tại Nghệ An đánh giá tình hình hợp tác KH&CN trong những năm qua và thỏa thuận chương trình hợp tác mới cho giai đoạn 2017-2019. Chương trình làm việc có nhiều sự kiện quan trọng như: làm việc với UBND tỉnh Nghệ An; Ủy ban hợp tác KH&CN Việt Nam - Lào đã tổ chức khóa họp lần thứ 4 thống nhất tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trên nhiều lĩnh vực; Tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) ký biên bản hợp tác với Sở KH&CN Nghệ An… Qua chương trình làm việc cho thấy sự hợp tác trong lĩnh vực KH&CN giữa Việt Nam - Lào, giữa Nghệ An và các tỉnh của Lào ngày càng bền chặt.

6. Tăng cường tiềm lực KH&CN

Ngày 30/11/2017, Khu Thực nghiệm và ươm tạo nông nghiệp công nghệ cao được chính thức khởi công tại xã Đông Hiếu, thị xã Thái Hòa. Với diện tích quy hoạch là 200.000 m2, khu thực nghiệm được đầu tư xây dựng các hạng mục hiện đại gồm: nhà điều hành, nghiên cứu ứng dụng và ươm tạo công nghệ cao; hệ thống nhà lưới ươm tạo và sản xuất giống cây dược liệu, cây ăn quả; nhà điều hành hệ thống tưới tự động; cùng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ. Đây là dự án trọng điểm của ngành để góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, thông qua đó có thể kêu gọi thu hút tham gia đầu tư của doanh nghiệp vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Tháng 4/2017, Sở KH&CN phối hợp với Cục Ứng dụng và Phát triển Công nghệ, Bộ KH&CN tổ chức khai trương Điểm kết nối cung cầu công nghệ vùng Bắc Trung bộ tại Nghệ An. Điểm kết nối cung cầu công nghệ vùng Bắc Trung bộ được hình thành nhằm tổ chức các hoạt động: trình diễn các mô hình công nghệ; tư vấn về công nghệ, cải tiến kỹ thuật, sở hữu trí tuệ; giới thiệu công nghệ mới với sự tham gia của các chuyên gia trong và ngoài nước; tư vấn pháp lý và hỗ trợ về khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Với việc tổ chức khai trương Điểm kết nối cung - cầu công nghệ vùng Bắc Trung bộ, Nghệ An mong muốn và kỳ vọng sẽ mở ra những cơ hội hợp tác, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ với các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong tỉnh nói riêng và trong khu vực nói chung.

* Bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận, năm 2017 hoạt động KH&CN còn một số tồn tại: Một số nhiệm vụ KH&CN đang còn tình trạng xin gia hạn thời gian nghiệm thu, vẫn còn nhiệm vụ tính tác động thấp, việc nhân rộng các mô hình KH&CN hạn chế. Tốc độ đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp còn chậm. Tính kết nối giữa kết quả hoạt động KHCN với các nguồn lực sự nghiệp kinh tế nhằm xây dựng mô hình ở một số ngành, huyện thị chưa tốt và chưa tập trung. Chưa phát huy tốt vai trò thường trực Hội đồng KH&CN tỉnh. Huy động nguồn lực xã hội vào công tác nghiên cứu, ứng dụng KHCN chưa cao. Huy động nguồn lực thực hiện Đề án thành lập Trung tâm KH&CN vùng Bắc Trung bộ ở Nghệ An đang gặp khó khăn. Việc phát huy tiềm lực KH&CN trên địa bàn còn hạn chế. Cung cấp thông tin cho cộng đồng doanh nghiệp về chính sách hiệu quả chưa cao.

* Với những kết quả đạt được và tồn tại năm 2017, để hoạt động KH&CN tỉnh phát triển sâu rộng và vững chắc hơn, trong năm 2018 cần tập trung một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

1. Tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết, chính sách và chủ trương của Đảng, Nhà nước về KH&CN ở các cấp, các ngành nhằm không ngừng nâng cao hơn nữa nhận thức về vai trò của KH&CN trong thời kỳ CNH-HĐH và hội nhập quốc tế của đất nước. Phối hợp với Ban tuyên giáo Tỉnh ủy tổ chức giám sát thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TU về phát triển KH&CN.

2. Năm 2018 với chủ đề thương mại hóa các kết quả nghiên cứu; hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ gắn với ứng dụng thực tiễn, gắn với doanh nghiệp, tạo được một số sản phẩm hàng hóa có chất lượng tốt, khối lượng lớn và thương hiệu mạnh từ KH&CN. Ưu tiên đầu tư chuỗi giá trị một số sản phẩm của tỉnh. Tập trung nguồn lực để tác động khoa học và công nghệ cho một số sản phẩm chiến lược của tỉnh, nhất là nông nghiệp, dược liệu.

3. Phát triển thị trường KH&CN, đổi mới công nghệ và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo: Hỗ trợ thương mại hóa sản phẩm KH&CN và các hoạt động xúc tiến thị trường, tìm kiếm, môi giới, mua, bán công nghệ. Tổ chức các hoạt động điểm kết nối cung cầu, hội chợ công nghệ thiết bị nhằm giới thiệu các công nghệ thiết bị mới cho doanh nghiệp, nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp. Xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ đối với các lĩnh vực sản xuất sản phẩm chủ lực của tỉnh. Triển khai đề án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh. Tổ chức cuộc thi ý tưởng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Hỗ trợ hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp và ươm tạo doanh nghiệp. Phát triển doanh nghiệp KH&CN.

4. Tăng cường đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước về KH&CN: Rà soát và tham mưu các cơ chế, chính sách phát triển KH&CN. Sửa đổi quy trình làm việc của Hội đồng KH&CN tỉnh phù hợp với tình hình mới. Phát huy vai trò của cơ quan thường trực trong tham mưu cho lãnh đạo UBND tỉnh trong quản lý hoạt động KH&CN. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả về quản lý của nhà nước đối với tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng. Đẩy mạnh công tác thanh tra chuyên ngành về tiêu chuẩn đo lường chất lượng. Đẩy mạnh hoạt động thẩm định công nghệ, xác lập, khai thác phát triển tài sản trí tuệ và bảo tồn, khai thác, phát triển quỹ gen.

5. Triển khai đề án nâng cao năng lực truyền thông KH&CN nhằm giới thiệu mô hình nghiên cứu khoa học có hiệu quả để các tổ chức, cá nhân và các doanh nghiệp tiếp cận, nghiên cứu ứng dụng và nhân rộng vào sản xuất và đời sống. Đẩy mạnh công tác thống kê KH&CN trên địa bàn tỉnh phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý.

6. Thu hút đầu tư, phát huy tiềm lực, xã hội hóa đầu tư cho khoa học và công nghệ

Th.S Nguyễn Thị Minh Tú

 

Start-up là cụm từ chúng ta thường nghe trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian gần đây, tuy nhiên hiện vẫn có nhiều người chưa phân biệt rõ start-up tức là khởi nghiệp đổi mới sáng tạo với khởi nghiệp hay lập nghiệp. Bài viết này tổng hợp một số khái niệm và giới thiệu kế hoạch hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2017-2020.

Theo ông Bùi Thế Duy - Chánh văn phòng Bộ KH&CN, người phát ngôn của Bộ KH&CN cho biết "Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phải dựa trên một công nghệ mới, hoặc tạo ra hình thức kinh doanh mới, hoặc xây dựng một phân khúc thị trường mới. Tức là các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phải có gì đó khác biệt không chỉ với các doanh nghiệp ở trong nước, với tất cả các công ty trước đây và cả với các doanh nghiệp khác trên thế giới".

Trong Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã nêu: Doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh. Như vậy, để được xem là một "startup", một doanh nghiệp khởi nghiệp cần phải đáp ứng các điều kiện: Là quá trình khởi nghiệp dựa trên việc tạo ra hoặc ứng dụng kết quả nghiên cứu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý. Mục đích của các kết quả nghiên cứu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý là nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa. Có khả năng tăng trưởng nhanh.

Như vậy, theo cách hiểu chung, "Startup" hay khởi nghiệp sáng tạo là quá trình khởi nghiệp dựa trên các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa và có khả năng tăng trưởng nhanh.

Ngày 18/05/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 844/QĐ-TTG phê duyệt Đề án "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025", với mục tiêu tạo lập môi trường thuận lợi để thúc đẩy, hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới; khẩn trương hoàn thiện hệ thống pháp lý hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; thiết lập được Cổng thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia; hỗ trợ được 800 dự án, 200 doanh nghiệp khởi nghiệp, trong đó 50 doanh nghiệp gọi được vốn thành công từ các nhà đầu tư mạo hiểm, thực hiện mua bán và sáp nhập, với tổng giá trị khoảng 1.000 tỷ đồng. Đến năm 2025 hỗ trợ phát triển 2.000 dự án khởi nghiệp ĐMST; hỗ trợ phát triển 600 doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST; 100 doanh nghiệp tham gia Đề án gọi được vốn đầu tư từ các nhà đầu tư mạo hiểm, thực hiện mua bán và sáp nhập, với tổng giá trị ước tính khoảng 2.000 tỷ đồng.

Trên cơ sở đó, Bộ KH&CN đã và đang phối hợp với các bộ, ngành xây dựng và ban hành hành lang pháp lý và các cơ chế, chính sách cần thiết để phát triển thị trường khoa học và công nghệ, hỗ trợ và đầu tư cho hoạt động khởi nghiệp thông qua các hoạt động như: chợ công nghệ - thiết bị, kết nối cung - cầu công nghệ, ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia - Techfest Việt Nam; các chương trình truyền hình như: Chuỗi chương trình "Quốc gia khởi nghiệp", "Sáng tạo khởi nghiệp", "Cafe khởi nghiệp" của VTV đã góp phần lan tỏa tinh thần khởi nghiệp trong giới trẻ. Và năm 2017, hành lang pháp lý hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cũng đã được hoàn thiện thêm một bước khi Quốc hội thông qua Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ngày 14/11/2017 chính thức ra mắt Cổng thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia. Hiện nay, hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đang triển khai sâu, rộng đến các vùng trong cả nước.

Tại Nghệ An, cũng đã và đang có nhiều hoạt động để triển khai hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn, cụ thể: Đã tổ chức buổi tọa đàm về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cho sinh viên của các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn. Đã tổ chức cuộc thi ý tưởng sáng tạo KH&CN và tài trợ cho 4 dự án khởi nghiệp thành công. Và đặc biệt đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2171/QĐ-UBND ngày 24/5/2017 về kế hoạch hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017-2020. Mục tiêu của kế hoạch là: Tạo lập môi trường thuận lợi để thúc đẩy, hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới. Hỗ trợ tối thiểu 10 dự án và 03 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Kế hoạch tập trung 5 nội dung chính: Thứ nhất, thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng về các hoạt động thúc đẩy phong trào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thông qua tổ chức các hội nghị, hội thảo, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến về đề án, kế hoạch và các cơ chế, chính sách có liên quan đến hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của quốc gia, của tỉnh cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh. Xây dựng chuyên mục thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên cổng thông tin điện tử của Sở Khoa học và Công nghệ. Thực hiện các chuyên đề, phóng sự về hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, phổ biến các điển hình khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thành công của tỉnh, trong nước và trên thế giới. Thứ hai, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cho các cá nhân, nhóm cá nhân khởi nghiệp, học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, cán bộ ở các doanh nghiệp, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các sở, ngành, đơn vị tư vấn, hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Thứ ba, xây dựng Khu tập trung dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo: Đầu tư xây dựng không gian làm việc và thiết bị dùng chung để hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của tỉnh tại Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ và Tin học; Đầu tư xây dựng điểm kết nối cung cầu tại Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN để tư vấn, hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, kết nối với các doanh nghiệp, tổ chức, nhà khoa học, tiếp cận công nghệ mới, sản phẩm mới, thông tin về thị trường, sở hữu trí tuệ; Hỗ trợ hình thành Vườn ươm công nghệ sinh học tại Trường Đại học Vinh; Hỗ trợ hình thành Vườn ươm công nghệ tại Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc. Thứ tư, tổ chức kết nối hỗ trợ hoạt động hệ sinh thái khởi nghiệp của tỉnh: Thành lập Câu lạc bộ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của tỉnh; Tổ chức sự kiện Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thường niên của tỉnh (Techfest NgheAn). Thứ năm, thực hiện hỗ trợ các cá nhân, nhóm cá nhân khởi nghiệp và doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo theo Quyết định số 24/2014/QĐ-UBND ngày 25/3/2014 của UBND tỉnh Nghệ An, ban hành cơ chế khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đầu tư công nghệ mới, đổi mới công nghệ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trên địa bàn tỉnh Nghệ An và các chính sách khác có liên quan của tỉnh. 

Để thực hiện thành công kế hoạch trên và lan tỏa tinh thần khởi nghiệp trong thời gian tới thì cần tập trung một số giải pháp:

1. Tuyên truyền sâu, rộng để hiểu đúng bản chất của khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Tổ chức các buổi tọa đàm, đào tạo, tập huấn cho cán bộ lãnh đạo, cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức nghiên cứu… Cần có những bài giảng chuyên đề đưa vào trường đại học, cao đẳng, trung cấp cho sinh viên có những kiến thức cơ bản trong khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

2. Có sự kết nối mạng lưới cổng thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia với các địa phương, bộ, ngành để triển khai các nội dung, hoạt động phù hợp với khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

3. Triển khai cuộc thi ý tưởng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và kêu gọi các quỹ, cùng với các cơ chế, chính sách để tài trợ, hỗ trợ hiện thực hóa ý tưởng.

4. Quan tâm sở hữu trí tuệ vì đây là khâu quyết định hoạt động đổi mới sáng tạo.

5. Tạo sự kết nối, hợp tác cùng phát triển giữa các thành phần của hệ sinh thái gồm: cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức nghiên cứu - phát triển, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, các cơ quan truyền thông, quỹ đầu tư và các cơ quan Nhà nước.

6. Các mô hình phát triển vườn ươm cần kèm theo cơ chế tổ chức hoạt động, cơ chế tài chính, cơ chế phát huy nguồn lực hỗ trợ từ cộng đồng; Có kết nối, trao đổi chuyên gia cố vấn khởi nghiệp, đồng thời tìm kiếm những dự án khởi nghiệp sáng tạo, có khả năng gọi vốn đầu tư để hỗ trợ, phát triển.

 

Tài liệu tham khảo

1. Cổng thông tin điện tử Bộ KH&CN: https://www.most.gov.vn.

2. Văn phòng đề án 844: dean844.most.gov.vn.

3. Đổi mới sáng tạo, câu chuyện ở Việt Nam, Viện chiến lược và chính sách KH&CN, Nhà xuất bản KH&KT 2016.

4. Quyết định số 844/QĐ-TTG ngày 18/05/2016 phê duyệt Đề án "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025".

5. Quyết định số 2171/QĐ-UBND ngày 24/5/2017 ban hành kế hoạch hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017-202

Starup là gì?

 

LTS: Startup đang được xem là cụm từ "nóng" hiện nay không chỉ đối với lớp thanh niên khao khát đổi mới, sáng tạo mà đối với nhiều người trong cả nước. Nhưng thế nào là khởi nghiệp sáng tạo, xu hướng khởi nghiệp sáng tạo, môi trường khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam hiện như thế nào, đâu là vấn đề nan giải nhất của người khởi nghiệp sáng tạo… là những câu hỏi không phải ai cũng hiểu được thấu đáo.

Đây cũng là lý do cho câu chuyện cuối năm của Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An với bà Nguyễn Đặng Tuấn Minh, sáng lập viên của KisStartup, Công ty Hỗ trợ đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp, cố vấn khởi nghiệp.

 

P.V: Thưa bà, hiện nay có rất nhiều quan điểm về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Bằng sự trải nghiệm của mình, theo bà, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là gì?

Bà Nguyễn Đặng Tuấn Minh:

Theo cách hiểu chung, "Startup" hay khởi nghiệp sáng tạo, là quá trình khởi nghiệp dựa trên các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa và có khả năng tăng trưởng nhanh.

Nói đơn giản, startup phải bảo đảm được hai yếu tố là "start" và "up". "Start" có nghĩa là bạn bắt đầu với một ý tưởng mới, hoặc nếu ý tưởng đó không mới thì cách làm phải đột phá và thường thì gắn với ứng dụng công nghệ. Còn "up" liên quan đến khả năng thương mại hóa và quy mô của thị trường, nghĩa là ý tưởng đó phải có khả năng được triển khai trong thực tế, có khách hàng hoặc khách hàng tiềm năng, đồng thời phải có khả năng mở rộng được để "up" trong thời gian càng nhanh càng tốt.

Nếu nhìn khởi nghiệp sáng tạo về mặt địa lý thì nó có 2 câu chuyện: Một là, khởi nghiệp sáng tạo những thứ mà thế giới chưa ai làm ra; hai là khởi nghiệp sáng tạo mang tính địa phương, tức là ta có thể mang "những câu chuyện mới" từ mảnh đất này đến với mảnh đất mà chưa có "câu chuyện" đó. Ở Việt Nam thời gian qua  cũng có nhiều mô hình mang từ nước ngoài về Việt Nam và thu hút được vốn đầu tư. 

P.V: Vậy thưa bà, điều gì là quan trọng nhất đối với khởi nghiệp đổi mới sáng tạo? Ý tưởng? Tài chính? Chiến lược?

Bà Nguyễn Đặng Tuấn Minh:

Việc bắt đầu con đường khởi nghiệp từ số 0 quả thật không hề dễ dàng. Chúng ta cần tiền để có một khởi đầu hiệu quả, nhưng tùy từng giai đoạn mà tài chính đóng vai trò và có ý nghĩa khác nhau và tiền không phải là yếu tố luôn luôn quyết định tất cả, ở đây tôi nhấn mạnh Ý tưởng.

Ý tưởng là thứ rẻ nhất mà chúng ta có thể có được, các bạn có thể có nhiều ý tưởng khác nhau nhưng hơn nhau là ở chỗ bạn có thể phát triển tiếp ý tưởng đó vào thực tiễn và thu kết quả từ ý tưởng của mình. Nhưng một số lại chỉ dừng lại ở ý tưởng nên ý tưởng được xem là thứ cực kỳ rẻ đối với những bạn không bao giờ thực hiện đến cùng.

Câu hỏi đặt ra là các bạn sinh viên có rất nhiều ý tưởng nhưng thực ra lại không có 1 ý tưởng gì trong đầu cả, vậy thực ra ý tưởng đến từ đâu? Ý tưởng đến từ thực tế và thực tế sinh ra ý tưởng. Một đất nước có nhiều ý tưởng đổi mới, thì họ không cần phải đi "bê nguyên" ý tưởng của nước nào cả. Nếu bê nguyên nhiều khi lại đi giải quyết vấn đề của những người giàu ở các nước giàu, trong khi vấn đề của nước mình là giải quyết những vấn đề của người nghèo ở những nước nghèo. Ví dụ mô hình bảo hiểm nhân thọ, ở những nước giàu thường người ta yêu cầu khách hàng nộp tiền cả năm, nhưng khi về nước ta, phí bảo hiểm chia nhỏ thành nửa năm, quý, tháng để phù hợp với điều kiện kinh tế của người dân Việt Nam.

Khi ý tưởng đã thực hiện được rồi, thì việc tiếp theo là bạn cần sáng tạo, cải tiến và phát triển sản phẩm mới, đó là điểm tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm của bạn.

Đó là mặt đổi mới về sản phẩm, còn đổi mới thứ 2 bạn cần thực hiện là đổi mới về mặt quy trình. Chẳng hạn như ở các trường đại học bây giờ, quy trình tương tác với sinh viên cũng đã thay đổi rất nhiều, thay vì soạn giáo án, chúng ta đã có màn hình chiếu slide dạy riêng cho các môn học, hay tạo group trao đổi thông tin,... thì đó là sự thay đổi về mặt quy trình. Đối với các doanh nghiệp cũng vậy, ngày trước chỉ trao đổi trực tiếp, qua điện thoại nhưng bây giờ có rất nhiều kênh như: fanpage, website, face book,... nghĩa là chúng ta có thể bán hàng đa kênh chứ không phải đơn kênh như trước đây nữa. 

Đổi mới nữa là đổi mới về maketing: Bây giờ làm maketing không còn đơn kênh nữa mà phải đa kênh. Kênh được ưa dùng hiện nay chính là face book, theo thống kê trung bình người Việt Nam dùng face 4h/ngày, người người, nhà nhà, thậm chí các cơ quan ban ngành bay giờ cũng lập face book riêng. Tuy nhiên, đối với trao đổi đối tác nước ngoài thì tùy vào đối tác ở thị trường nào thì chúng ta sử dụng mạng xã hội đó, chứ không phải riêng face book, ví dụ chúng ta liên hệ với các nước châu Âu thì face book không phải lựa chọn hàng đầu mà là Instagram, hay Twitter,... Ta có thể kết hợp kênh trực tuyến và ngoại tuyến với nhau.

Cuối cùng là đổi mới về mặt tổ chức, hoặc có thể dùng với những mỹ từ là cải tổ doanh nghiệp, cải tổ tổ chức, bản chất cũng đều là cách thiết kế lại tổ chức theo hướng như thế nào? Các bạn đã nghe đến cách mạng công nghiệp 4.0 chưa? Tôi gọi đó là công nghiệp 4.0, bởi bản chất nó là tận dụng internet để tối ưu hóa các nhóm hoạt động khác nhau. Ở đây, công nghiệp 4.0 được chia làm 4 nhóm: sự kiện lớn, internet kết nối vạn vật, thực tế ảo và trí tuệ nhân tạo.

P.V: Là người có kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực hỗ trợ khởi nghiệp, theo bà, đâu là xu hướng khởi nghiệp sáng tạo được quan tâm nhất hiện nay?

Bà Nguyễn Đặng Tuấn Minh:

Ở Việt Nam, thị trường còn rất rộng lớn, điều này tạo ra nhiều cơ hội cho các bạn trẻ lấp đầy những khoảng trống đó. Ở đây, tôi sẽ giới thiệu 7 xu hướng đổi mới sáng tạo đang tác động đến thế giới hiện nay.

Thứ nhất, phải đổi mới mô hình kinh doanh.

Thứ 2, tập trung vào một cửa sổ để nhìn ra thế giới, ví dụ một bạn chỉ ngồi ở nhà lấy hàng từ Trung Quốc, giao dịch bán ra 3-5 nước trên thế giới, đó là dạng mở 1 cửa ra thế giới.

Thứ 3 là thuê khoán. Cách đây 10 năm khi tôi đang học ở nước Anh và tham gia Chiến dịch điện tử khu vực, thú vị nhất là nước Estonia, là một nước nhỏ nằm ở châu Âu, họ xây dựng một mạng xã hội ảo cho người dân của họ và chính phủ cho phép người dân bỏ phiếu ngay trên mạng xã hội đó. Như vậy, họ biến toàn bộ quy trình thủ tục hành chính thành trò chơi trên mạng xã hội, cho người dân thử nghiệm, đó là cách làm rất thú vị.

Thứ 4, mô hình đổi mới sáng tạo bền vững. Mỗi lần nghe thông tin về thiên tai, lũ lụt,... tôi chắc rất nhiều người lo lắng, tuy nhiên, nên chỉ lo lắng không thôi và việc "xẻ rừng" vẫn tiếp tục diễn ra thì thiên tai vẫn không ngừng và ngày càng nghiêm trọng. Đó là sự phát triển không bền vững. 

Thứ 5 là xu hướng cạnh tranh bằng dữ liệu, ví dụ với tư cách là giáo viên, chúng ta có thể cảm nhận được học sinh, sinh viên nào nếu chăm chỉ thì tương lai sẽ thành công, hoặc em nào gặp vấn đề gì tâm sinh lý, nhưng đến thời đại này, chúng ta không thể chăm sóc một lúc hàng trăm HS - SV như thế, buộc chúng ta phải có dữ liệu về họ và cung cấp dữ liệu cho họ, làm sao để họ có dữ liệu tốt nhất, phù hợp với đặc điểm của mỗi người. Tôi lấy ví dụ có những trường đại học sau khi khảo sát có tới 70% sinh viên có biểu hiện tâm lý tuổi mới lớn, nếu nắm được và xây dựng thành dữ liệu, rồi cung cấp dữ liệu theo mong muốn của các em thì cuộc cải cách giáo dục sẽ thành công.

Thứ 6 là xu hướng đồng sáng tạo và huy động nguồn lực: công cuộc cải cách cũng là một sự đóng góp rất nhiều bên, các bên tham gia cùng đồng sáng tạo. Ví dụ như đội ngũ sáng tạo ra face book đã tạo nên một "quốc gia ảo" đông dân cư và đắt đỏ nhất thế giởi.

Thứ 7 là xu hướng dịch vụ, đây là một xu hướng không thể cưỡng lại được, ai nắm được xu hướng dịch vụ người đó sẽ là người chiến thắng.

Một xu hướng quan trọng không kém, có tác động đến nền kinh tế, đặc biệt là những doanh nghiệp mới, đấy là khởi nghiệp tinh gọn.

P.V: Vậy muốn khởi nghiệp sáng tạo thành công phải như thế nào thưa bà?

Bà Nguyễn Đặng Tuấn Minh:

Muốn khởi nghiệp sáng tạo, phải xác định:

Thứ nhất, đâu là thế mạnh của mình; thứ 2, hãy chấp nhận thiệt hại trong mức có thể; thứ 3, hợp tác cạnh tranh; thứ 4, biến gọn cách thức thành công; thứ 5, chính bạn tạo ra nó.

Đặc biệt hãy tìm cho mình một người cố vấn, người đó phải là người chưa bao giờ phán xét bạn, luôn luôn lắng nghe hỗ trợ, truyền cảm hứng cho bạn, đặc biệt là những doanh nhân đã thành đạt, hãy học từ họ. 

Như vậy, muốn khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thì: thứ nhất hãy luôn luôn nhìn vào vấn đề; thứ hai, luôn tìm cho mình những cộng sự tốt, những người đồng hành và sát cạnh bên bạn; thứ ba, nhanh nhạy nắm bắt các xu hướng được quan tâm nhiều trên thế giới. Chúng ta có thể khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ngay vấn đề xung quanh chúng ta, tại địa phương chúng ta mà không phải ở đâu xa. 

Trân trọng cảm ơn bà!

Nguyễn Thủy - Hồ Thủy (thực hiện)

 

LTS: Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đang là phong trào ở Việt Nam, không chỉ dành cho giới trẻ, những người làm kinh doanh, mà còn là chủ đề lớn của Chính phủ. Năm 2016 đã được gọi là năm "Quốc gia khởi nghiệp".

Tuy nhiên, khởi nghiệp sáng tạo là khởi cái gì, câu hỏi này hoàn toàn bỏ ngỏ. Nhiều bạn trẻ hăm hở khởi nghiệp mà không hề được trang bị những hiểu biết cơ bản về khởi nghiệp sáng tạo. Đó chính là một trong những lý do vì sao thất bại chiếm tỷ lệ rất cao trong khởi nghiệp sáng tạo.

Để giảm thiểu rủi ro, bước đi đúng ngay từ những bước đi đầu tiên cho người trẻ khởi nghiệp sáng tạo, Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn lược đăng ý kiến chia sẻ của các chuyên gia, diễn giả, nhà khoa học, lãnh đạo về kinh nghiệm khởi nghiệp sáng tạo, để trả lời cho những câu hỏi cơ bản nhất của khởi nghiệp sáng tạo.

 

Ông Nguyễn Công Nhã

 Chủ tịch HĐQT Công ty CP Thương mại dịch vụ vận tải Lạc Hồng

Sự thất bại chính là bài học giá trị nhất mỗi người

Đúc rút từ bản thân tôi nhận thấy: người có tầm nhìn khác nhau sẽ có mục tiêu khác nhau và nếu cùng một mục tiêu mà có nguồn lực khác nhau thì sẽ có con đường thực hiện khác nhau. Như vậy, quan trọng đối với cuộc đời mỗi chúng ta đó là phải mở rộng tầm nhìn, xây dựng nguồn lực và tìm được cho mình con đường tối ưu để đạt được mục đích. Điều tôi muốn nhấn mạnh là: Không thất bại chắc chắn sẽ không có thành công, cái quan trọng là đứng dậy sau thất bại, phải biến điều bất lợi thành điều có lợi cho bản thân mình, không có bài học nào giá trị bằng sự thất bại của bản thân.

Bản thân tôi là một người sinh ra và lớn lên ở đất Nghệ An. Khi bước chân ra Hà Nội học có lẽ cũng như các bạn bè cùng trang lứa, không nghĩ là mình sẽ quay trở về Nghệ An làm việc. Sau khi tốt nghiệp Đại học Ngoại thương, tôi đã khởi nghiệp rất nhiều lần và gặp rất nhiều thất bại, sau đó tôi dành nhiều thời gian nghiên cứu kỹ hơn về khởi nghiệp và có những thời điểm suốt 6 tháng ròng tôi không ra khỏi nhà mà chỉ tập trung trả lời câu hỏi là làm sao để thành công? Bản thân mình nằm ở đâu trong thế giới này? Tôi quay lại nhìn nhận thế mạnh của mình là gì? Và tôi nhận ra lợi thế của mình chính là đức tính cần cù, chịu khó, luôn yêu thương, đùm bọc lẫn nhau của người Nghệ... Tôi quyết định về khởi nghiệp tại quê hương. Năm 2014, tôi xác định tham gia vào thị trường taxi với mục tiêu hoạt động đảm bảo tiêu chuẩn từ wifi, hệ thống chỉ dẫn rất cao cấp, mức giá rất bình dân. Khởi nghiệp ban đầu của tôi cũng phải lăn lộn để kêu gọi vốn và đến hiện nay tôi đã có đến 300 xe taxi.

Khi về Nghệ An với đồng vốn rất ít ỏi, tôi gặp rất nhiều khó khăn, rào cản về tính pháp lý, không có lợi thế cạnh tranh nào, bởi thời điểm đó ở Nghệ An có taxi Mai Linh, Vạn Xuân với thâm niên hơn 10 năm phát triển ở thị trường Nghệ An. Do đó, chúng tôi xác định phải tạo được sự khác biệt đối với sản phẩm của mình khi mang đến cho người tiêu dùng. Trong đó xác định khách hàng là trọng tâm, các đối tác nhà đầu tư là trọng điểm, nếu không áp dụng công nghệ vào thì chắc chắn sẽ bị đào thải, đầu tiên là chúng tôi tối đa hóa công nghệ và đặc biệt là gắn sự phát triển của mình với sự phát triển cộng đồng. Ví dụ khi khách hàng đặt xe strange thì chúng tôi trích 5.000đ để ủng hộ đồng bào bão lũ, ủng hộ người nghèo,... Sắp tới chúng tôi sẽ xây dựng chiến lược phát triển, mở rộng khách hàng, áp dụng khoa học công nghệ.

Cuối cùng, thông điệp tôi muốn gửi đến các bạn: mình hãy là tương lai của chính mình.

 

Nguyễn Việt An

Phó Phòng Chuyển giao công nghệ, Trung tâm Dịch vụ Tổng hợp, Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Bộ KH&CN

Đây là thời điểm thuận lợi nhất để các bạn khởi nghiệp sáng tạo

Câu chuyện của tôi kể ra đây chính là trải nghiệm từ bản thân của mình. Sinh viên khi ra trường thường có 2 lựa chọn: thứ nhất là làm cho doanh nghiệp lớn nếu các bạn thực sự giỏi; thứ 2 là khởi nghiệp. Bản thân mình lựa chọn khởi nghiệp vì mình thích tự do, thích tự quyết định thời gian của mình. Mình đã lựa chọn lĩnh vực công nghệ thông tin để khởi nghiệp vì đây là thế mạnh của mình. Nhưng sau đó, mình chuyển sang học về truyền thông và nhận thấy nhu cầu về chia sẻ bản thân của con người là rất lớn, lúc đó mình nghĩ: tại sao không kết nối cộng đồng, mọi người cùng chia sẻ vấn đề với nhau? Từ ý tưởng đó mà mình nghĩ đến bài toán là tại sao không quảng bá những lợi thế về du lịch, ẩm thực, tài nguyên, con người,... của nước mình ra thế giới.

Nung nấu ý tưởng đó, mình tìm kiếm nhà đầu tư và phải mất 3 năm mình mới tiếp cận được nguồn vốn của nhà đầu tư. Nhưng khi tiếp cận được vốn đầu tư rồi mới xảy ra vấn đề, chủ đầu tư họ nắm đến 70% cổ phần công ty và họ đã điều chuyển hướng kinh doanh không như ý tưởng của mình. Bản thân mình không thích điều đó, vậy là lúc đó đứng trước 2 lựa chọn: tiếp tục làm theo cách của họ hoặc là từ bỏ. Và cuối cùng, mình quyết định từ bỏ. Kể câu chuyện này để thấy một điều là khởi nghiệp ở Việt Nam thật sự rất khó khăn, khó khăn ở kiến thức không nhiều, nhưng khó khăn ở các mối quan hệ, ngoại ngữ, nguồn vốn, rào cản pháp lý,...

Tuy nhiên, đây là thời điểm các bạn khởi nghiệp thuận lợi nhất vì có sự quan tâm của Đảng, Nhà nước. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025"; UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017 - 2020. Cuối tháng 10 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đến năm 2025 và kêu gọi các tổ chức, cá nhân khởi nghiệp đổi mới, sáng tạo,... Chính vì thế, nếu các bạn đang ấp ủ ý tưởng khởi nghiệp thì cứ mạnh dạn, có rất nhiều người có thể hỗ trợ các bạn.

 

Anh Robert Lindsay

 Thạc sỹ Triết học, Đại học Liverpool, Anh

Hãy nắm lấy mọi cơ hội, thậm chí hãy đi tìm cơ hội để khởi nghiệp sáng tạo

Tôi sinh ra ở nước Anh và bắt đầu khởi nghiệp tại Liverpool trong lĩnh vực giáo dục. Giáo dục thông qua online mà tôi hướng đến là các doanh nghiệp trên toàn cầu. Tự bản thân tôi đi tìm và nhìn thấy những cơ hội phát triển về mạng giáo dục online ở các nước khác trên thế giới và tôi đã mong muốn mang mô hình này nhân rộng ra khắp nơi.

Bắt đầu từ thành phố Liverpool, tôi liên kết các trường đại học với các nhà tư vấn giáo dục và mong muốn tạo được kênh online để giúp cho học sinh, sinh viên dễ dàng tiếp cận kiến thức hơn. Xác định môi trường ở Việt Nam rất tiềm năng để phát triển giáo dục online nên tôi đã đến đây, rất mong kết nối với các nhà đầu tư để cùng nhau xây dựng mạng lưới, chuỗi khởi nghiệp về giáo dục online. Sở dĩ tôi sinh ra ở Anh, sống ở Liverpool nhưng tôi lại chọn khởi nghiệp ở Việt Nam là bởi vì tôi nhìn thấy môi trường làm việc Việt Nam rất cởi mở và đặc biệt người Việt Nam rất nhiệt tình, trung thành, chăm chỉ,...

 

Ông Trần Bá Hậu

 PGĐ Trung tâm Dịch vụ tổng hợp - Ban quản lý Khu CNC Hòa Lạc, Bộ KH&CN

Điều chúng tôi mong muốn là các bạn trẻ hành động, chúng tôi sẽ hỗ trợ các bạn

Hiện nay tôi đang làm việc trên cương vị là người quản lý nhà nước, nhưng ở đây tôi xin chia sẻ trên cương vị của một doanh nghiệp, vì tôi cũng có doanh nghiệp riêng của mình. Trước đây tôi làm ngoại giao nên đã đi rất nhiều nước. Từ những chuyến đi đó, tôi tìm hiểu và tham khảo một số vấn đề về giáo dục cho trẻ em. Sau đó tôi rời cơ quan nhà nước và dồn hết sức lực cho việc khởi nghiệp của mình và cho đến hôm nay tôi có thể tự hào về Hệ thống giáo dục cho trẻ em của chúng tôi, gồm mầm non, trang trại thực phẩm cho trẻ.

Thời gian ở châu Âu, tôi thấy mô hình nhà trẻ châu Âu rất tốt nên khi về nước tôi tìm hiểu rất kỹ về nhu cầu thị trường. Mặc dù lúc đó ở Hà Nội có rất nhiều nhà trẻ, nhưng tôi nghĩ mình cứ làm tốt sản phẩm của mình, mang đến chất lượng đảm bảo nhất thì nhất định sẽ được đón nhận. Và cuối cùng, bằng sự nỗ lực, cố gắng hết mình và tâm huyết chúng tôi đã thành công với mô hình giáo dục của riêng mình. Lúc bắt đầu khởi nghiệp, tôi là cán bộ nhà nước, có nhà, có ô tô nhưng an phận với cuộc sống đó thì không phải là lựa chọn của tôi. Vậy là, tôi bán hết mọi thứ, cầm cố hết tài sản để đầu tư, và sau 3 năm tôi có hệ thống trường mầm non lớn nhất Hà Nội, khoảng 13 cơ sở, doanh thu 15 triệu USD/năm.

Với vai trò lãnh đạo của Trung tâm Dịch vụ tổng hợp, BQL Khu công nghệ cao Hòa Lạc, mong muốn lớn nhất của chính tôi làm các bạn trẻ hãy hành động và chúng tôi sẽ hỗ trợ các bạn. Hiện tại, các vấn đề chúng tôi đang tập trung đó là: Thứ nhất, diễn đàn khoa học công nghệ là sân chơi cho các bạn trẻ, học sinh, sinh viên có thể trao đổi. Diễn đàn này được liên kết tổ chức nhiều văn phòng trên thế giới, do đó các bạn trẻ rất dễ tiếp cận; Thứ hai là hỗ trợ địa phương xây dựng đề án, đề tài chuyên sâu về địa phương.

 

GS.TS.NGƯT Đinh Xuân Khoa

 Hiệu trưởng Trường Đại học Vinh

Trường Đại học Vinh hiện có hai trung tâm để hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp

Hiện tại, Trường Đại học Vinh có Trung tâm hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp và Trung tâm khởi nghiệp sáng tạo. Hai trung tâm này kết nối với các doanh nghiệp, các địa phương trong cả nước để hỗ trợ sinh viên trong tìm kiếm việc làm và trong khởi nghiệp sáng tạo. Trung tâm được xem là cơ quan pháp lý quan trọng để hỗ trợ các các em học sinh, sinh viên triển khai ý tưởng của mình. Vì trong Quyết định 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Quốc gia đến năm 2025", muốn đấu thầu một dự án nào đó thì cơ quan chủ trì phải hoạt động tối thiểu trên 1 năm. Nói như vậy để biết rằng, Trường Đại học Vinh từ trước đến nay đã rất quan tâm đến vấn đề khởi nghiệp của các em học sinh, sinh viên. Và trong số các trường đại học thì Trường Đại học Vinh được xem là nơi mở trung tâm hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp sớm và tốt nhất trong tỉnh. Ở đây các em học sinh sinh viên có thể tự do thể hiện ý tưởng và triển khai ý tưởng của mình; xét trên tính khả thi của từng ý tưởng, Trung tâm sẽ có giải pháp và cách thức khâu nối với đơn vị tài trợ, các doanh nghiệp, nhà đầu tư để từng bước hỗ trợ các em biến ý tưởng của mình thành hiện thực. 

Hiện nay chúng tôi đã có khoảng 2.000 dự án khởi nghiệp của sinh viên trong trường, các ý tưởng này sẽ được sàng lọc kỹ càng, sau đó nhà trường mới kết nối với các đơn vị, tổ chức, hội, nhà đầu tư, doanh nghiệp,... Thông qua các nhà đầu, ý tưởng của các em mới có cơ hội áp dụng, phát huy vào thực tiễn, mang lại những giá trị kinh tế nhất định cho xã hội.

Nhà trường sẽ tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các em học sinh và trích quỹ tự có của trường khoảng 2 tỷ đồng gửi ngân hàng để lấy lãi hàng năm hỗ trợ cho sinh viên khởi nghiệp sáng tạo. Tuy nhiên, cái khó nhất là sinh viên chúng ta không biết bắt đầu từ đâu, có nhiều vấn đề từ thực tiễn nhưng sinh viên chúng ta không quan tâm, để ý, các em không hiểu được rằng chúng ta có thể khởi nghiệp mọi lúc mọi nơi, có thể khởi nghiệp đối với những vấn đề không liên quan đến kiến thức đã học.

Trường Đại học Vinh sẽ cố gắng tạo các diễn đàn để các em sinh viên có thể tự do suy nghĩ, tự do sáng tạo, tự do trình bày ý tưởng và kết nối với các nhà đầu tư để biến các ý tưởng đó trở thành hiện thực.

 

Ông Nguyễn Trung Kiên

 Giám đốc điều hành, CT TNHH MTV Quốc tế Nafoods, Chủ tịch quỹ đầu tư Alba Charity

Muốn khởi nghiệp thành công cần có 4 giải pháp đó là: sản xuất, marketing, sử dụng công nghệ và bán hàng

Năm 2014, tại một hội nghị khách hàng, tôi gặp hai người bạn Hồng Kông đang làm việc và học tập tại Anh. Họ chia sẻ với tôi ý tưởng về việc muốn thành lập một dự án nước ép trái cây ở Anh, trong đó tập trung vào nước ép cây lô hội, cây dứa,... Nhận thấy tính khả thi từ ý tưởng của hai sinh viên người Hồng Kông đó, chúng tôi đã đầu tư và phát triển ý tưởng đó vào thực tiễn thành công, hiện tại, nước Anh trở thành thị trường tiêu thụ lớn của chúng tôi.

Như vậy, rõ ràng hai sinh viên người Hồng Kông đó thành công nhờ: Mục tiêu của các bạn ấy rất rõ ràng: thị trường nước Anh; Họ có trải nghiệm thực tế và ý tưởng đó xuất phát từ thực tế mà họ nhìn thấy; Họ thông thạo ngoại ngữ: tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nhật; Họ tìm đúng nhà đầu tư để phát triển ý tưởng của mình vào thực tiễn.

Tôi chia sẻ câu chuyện này để các bạn trẻ có thêm kiến thức, kinh nghiệm để có thể khởi nghiệp sáng tạo. Hiện tại, chúng tôi đang tài trợ, hỗ trợ các ý tưởng khởi nghiệp sáng tạo, tuy nhiên có một thực tế là các ý tưởng của Nghệ An mình còn xa rời thực tế, thiếu tính cọ xát, thiếu tính thương mại hóa, hạn chế về ngoại ngữ. Theo tôi, các bạn trẻ muốn khởi nghiệp cần 4 giải pháp: thứ nhất là giải pháp về sản xuất; thứ hai là giải pháp về marketing; thứ ba là giải pháp về bán hàng và thứ tư là giải pháp về sử dụng công nghệ.

 

Ông Trần Quốc Thành

 Giám đốc Sở Khoa học & Công nghệ Nghệ An

Sở Khoa học & Công nghệ Nghệ An đang triển khai kế hoạch khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong toàn tỉnh

 

Mặc dù làm cơ quan nhà nước nhưng tôi có đam mê kinh doanh từ rất sớm. Những năm tôi công tác trong ngành thủy sản, khi ngư dân chưa có một đơn vị nào đứng ra cung ứng con giống, thức ăn và thuốc, thì tôi đã mạnh dạn đứng ra đảm nhận. Sau này, khi công tác tại huyện Quế Phong, tôi biết đến cây thuốc quý mú từn và nhiều năm liền tôi tư duy làm sao để đưa cây thuốc quý này đến được với người tiêu dùng. Cho đến nay thì tôi đã xây dựng thành công thương hiệu rượu thuốc Mú Từn, có giấy phép chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm, quyền sở hữu trí tuệ. Nói như thế để hiểu rằng, ngoài ý tưởng tốt, xuất phát từ thực tiễn thì chúng ta còn phải dành nhiều thời gian, công sức, sự kiên trì, nhẫn nại... mới mong thành công.

Nói đến khởi nghiệp thì chúng ta phải xác định phải đương đầu với một loạt thách thức từ cách thức triển khai ý tưởng, nguồn vốn, tổ chức như thế nào, thị trường tiêu thụ, công nghệ? Vấn đề ở chỗ có ý tưởng nhưng kết nối ý tưởng như thế nào? Ví dụ như Công ty CP Trang trại nông sản Phủ Quỳ có ý tưởng sản xuất chế biến vỏ cam thành mứt, thấy ý tưởng đó có tính khả thi chúng tôi đã kết nối Công ty với các nhà khoa học, viện nghiên cứu, tổ chức thực hiện dự án nhỏ và đã thành công. Năm 2015, Sở Khoa học & Công nghệ phối hợp với Tỉnh đoàn tổ chức Cuộc thi Sáng tạo KHCN cho thanh thiếu niên. Kinh phí cuộc thi được tài trợ từ Quỹ đầu tư Alba Charity. Năm đó có 2 ý tưởng khởi nghiệp của các bạn trẻ nhận được đánh giá tốt từ chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và được tài trợ để áp dụng vào thực tiễn. Kết quả đã rất thành công và đã thành lập doanh nghiệp. Nói như vậy để thấy rằng, các bạn trẻ ngoài ý tưởng tốt thì phải biết tìm kiếm, chớp cơ hội tiếp xúc với các nhà đầu tư để tìm nguồn hỗ trợ kinh phí triển khai ý tưởng của mình.

Hiện tại, Sở Khoa học & Công nghệ đang triển khai kế hoạch khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong toàn tỉnh Nghệ An. Trước mắt là phối hợp Trường Đạihọc Vinh hỗ trợ hình thành vườn ươm công nghệ sinh học, sau đó đến trường Cao đẳng Nghề kỹ thuật công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc; thứ hai là hỗ trợ đào tạo các đội ngũ chuyên gia; Thứ ba là hỗ trợ xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo, đồng thời chuyển giao công nghệ cho các trung tâm này; Thứ tư, tổ chức các cuộc thi khởi nghiệp sáng tạo để tìm kiếm các ý tưởng.

TÒA SOẠN

Linh Nhi

 

Nghệ An là nơi có nhiều tôn giáo: Công giáo là tôn giáo lớn nhất trên địa bàn, toàn tỉnh hiện có 13/21 huyện, thành thị có giáo dân sinh sống, tổng số giáo dân khoảng 220.958 (41.887 hộ), có 66 giáo xứ, 297 giáo họ phân bố trên 756 xóm; Phật giáo nằm vị trí thứ hai; tiếp theo là một số tín đồ tu tại gia của đạo Cao đài, Tin lành. Hầu hết các tôn giáo có mặt tại Nghệ An đều mang dấu ấn văn hoá địa phương. Tính dung hợp đan xen, hòa đồng của tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu quả xã hội nhất định, làm cho địa phương về cơ bản không có xung đột về đức tin, đồng bào theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau gắn bó đoàn kết trong một cộng đồng chung.

Trong những năm qua Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, các ban, ngành, đoàn thể Nghệ An luôn tạo điều kiện tốt nhất cho sinh hoạt tôn giáo lành mạnh được tiến hành một cách trọng thể; tạo điều kiện cho quần chúng, tín đồ thực hiện các nghi lễ, tín ngưỡng, tôn giáo của mình. Sự quan tâm thể hiện từ việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đặc biệt là một hệ thống các chủ trương, chính sách có liên quan đến vùng giáo. Trên cơ sở quán triệt quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác tôn giáo, Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã xác định các quan điểm chỉ đạo về công tác tôn giáo trong tình hình mới: Công tác tôn giáo vừa quan tâm hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống kẻ địch lợi dụng tôn giáo nhằm chống phá cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Tuy vậy, ở một số nơi vẫn xảy ra tình trạng một số chức sắc, đồng bào tôn giáo chưa được tiếp cận đầy đủ những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; giữa giáo hội và chính quyền, các tổ chức chính trị, xã hội có lúc, có nơi chưa tìm được tiếng nói chung dẫn đến biểu hiện thiếu hợp tác, không tham gia, ủng hộ tích cực các phong trào, hoạt động của địa phương. Thậm chí, một số chức sắc (chủ yếu là trong đạo Công giáo) bộc lộ tư tưởng cực đoan, kích động giáo dân thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật… gây phức tạp về an ninh trật tự trên địa bàn.

Xuất phát từ thực tiễn đó, UBND tỉnh đã giao cho Công an tỉnh Nghệ An triển khai nghiên cứu Đề tài "Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trên lĩnh vực tôn giáo ở tỉnh Nghệ An". Đề tài do Đại tá Phan Đình Sửu - Trưởng phòng An ninh xã hội, Công an tỉnh Nghệ An làm chủ nhiệm đề tài.

1. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn QLNN về ANTT trên lĩnh vực tôn giáo tại địa bàn tỉnh Nghệ An, Đề tài đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả QLNN về ANTT trên lĩnh vực tôn giáo tại địa bàn tỉnh Nghệ An trong thời gian tới.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Thực trạng quản lý nhà nước về an ninh trật tự trên lĩnh vực tôn giáo tại địa bàn tỉnh Nghệ An

2.1.1. Tình hình, đặc điểm hoạt động của các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Nghệ An có liên quan đến quản lý nhà nước về an ninh, trật tự

Trên lĩnh vực ANTT, từ 2006 - 2016, trên địa bàn tỉnh Nghệ An, các cơ quan chức năng đã phát hiện, điều tra 5 vụ án, 23 bị can có động cơ chống chính quyền, với tội danh "Tuyên  truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam" theo Điều 88 Bộ luật Hình sự và tội "Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân", theo Điều 79 Bộ luật Hình sự. Trong đó, có 3 vụ, 21 bị can do các đối tượng là tín đồ đạo Công giáo gây ra; 2 vụ còn lại do 2 đối tượng không theo tôn giáo gây ra.

Đối với đạo Công giáo: Vùng đạo Công giáo tỉnh Nghệ An bao gồm 855/5.737 xóm (chiếm 14,9%), trên địa bàn của 211/480 xã, phường, thị trấn của tỉnh (chiếm 44,6%) thuộc 15/21 huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (chiếm 70%). Cộng đồng giáo dân Nghệ An hiện có 50.843 hộ, 288.785 nhân khẩu, chiếm 8% dân số trong tỉnh và chiếm 51% giáo dân toàn giáo phận Vinh.

Đặc điểm hoạt động của đạo Công giáo có liên quan đến quản lý nhà nước về an ninh, trật tự

- Số đối tượng chống đối, cực đoan trong đạo Công giáo đã triệt để lợi dụng, khai thác các sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực đất đai, xây dựng cơ sở vật chất... ra sức xuyên tạc, tuyên truyền sai bản chất sự việc với luận điệu "đòi đất thánh", lấy "tình cảm tôn giáo" vu cáo "chính quyền cướp đất",... qua đó kích động, tập hợp quần chúng giáo dân vì quyền lợi của giáo hội gây sức ép với chính quyền trong việc đáp ứng yêu sách của phía giáo hội.

- Hầu hết các vụ việc phức tạp diễn ra đều chứa đựng mâu thuẫn gay gắt, quyết liệt và tạo ra sự đối đầu giữa giáo hội với chính quyền; có sự kích động, thao túng của các phần tử quá khích, cực đoan lợi dụng tôn giáo. Đặc biệt, số này đã ra sức thu hút số đối tượng có quá khứ chống đối, số học sinh, sinh viên theo đạo Công giáo đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp để thành lập nên các hội đoàn mang màu sắc chính trị - phản động như: Hội "Doanh nhân Công giáo", Hội "Sinh viên Công giáo Vinh", "Trung tâm Bảo vệ sự sống", "Hội anh em dân chủ",...

- Các đối tượng cầm đầu huy động được số đông quần chúng tín đồ, trong đó có một số đối tượng cuồng tín, cực đoan, quá khích tham gia tập trung tại các địa điểm đang tranh chấp, khiếu kiện hoặc các địa điểm tập trung đông người, mục tiêu bảo vệ để cầu nguyện, đưa yêu sách, dùng đám đông gây áp lực với chính quyền.

- Các vụ việc xảy ra đều để lại hậu quả xấu, gây mất ổn định về ANTT trên địa bàn, bị các thế lực thù địch trong và ngoài nước triệt để khai thác lợi dụng chống phá, vu cáo Việt Nam vi phạm "dân chủ", "nhân quyền", "tự do tôn giáo"… qua đó, chúng lồng ghép các nội dung tuyên truyền, kích động quần chúng tín đồ chống chính quyền, phục vụ mưu đồ chống Đảng, Nhà nước của các đối tượng.

Đối với Phật giáo, Tin lành và một số tôn giáo, đạo lạ:

- Trong một thời gian ngắn được sự quan tâm chính quyền các cấp, Giáo hội Phật giáo Nghệ An đã có những thay đổi cả về số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, theo báo cáo khảo sát mới nhất do các huyện, thành phố, thị xã và Ban Trị sự cung cấp hiện có 49 chùa, 01 niệm Phật đường, số tín đồ quy y là 47.464 người; số tín đồ chưa quy y nhưng có sinh hoạt khá thường xuyên là 36.523 người; 26 chùa đã có sư trụ trì (22 vị tăng, ni trụ trì, 05 sư kiêm nhiệm), 18 chùa có đội ngũ tăng, ni giúp việc cho sư trụ trì.

- Đạo Tin lành ở Nghệ An nhìn chung phát triển chậm. Các hoạt động truyền đạo trái pháp luật, nhất là ở các vùng dân tộc thiểu số, miền núi... đã bị phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, góp phần ổn định tình hình ANTT trên địa bàn.

- Một số tà đạo, một số nhóm tâm linh xuất hiện lôi kéo được một số người tham gia là do có trường hợp lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo vi phạm pháp luật, vụ lợi, một số người dân nhận thức hạn chế hoặc vì hoàn cảnh khó khăn, bệnh tật dễ bị lôi kéo theo.

Tình hình các vụ việc phức tạp về ANTT liên quan tôn giáo tại Nghệ An

Các vụ việc phức tạp về ANTT liên quan đến tôn giáo trên địa bàn Nghệ An từ năm 2007 đến nay tập trung vào các dạng thức sau:

- Hoạt động kích động tuyên truyền, xuyên tạc, nói xấu Đảng, chính quyền, bôi nhọ các cơ quan hành pháp của nhà nước, tấn công, o ép đảng viên gốc giáo, yêu cầu đảng viên viết đơn xin ra khỏi Đảng,... dưới hình thức như dùng các bài viết, hình ảnh xấu, lợi dụng tòa giảng để kích động, xuyên tạc,...

- Các hoạt động vi phạm trong lĩnh vực đất đai, xây dựng cơ sở vật chất như: đòi lại đất đai có nguồn gốc tôn giáo; mua bán, lấn chiếm, chuyển nhượng và sử dụng đất đai trái phép; xây dựng các công trình tôn giáo trái phép (không báo cáo, xin phép chính quyền làm các thủ tục theo quy định của pháp luật).

- Hoạt động lợi dụng các vụ việc phức tạp trong tôn giáo để hiệp thông cầu nguyện, diễu hành… thách thức chính quyền, ra các yêu sách, gây mất ANTT.

- Hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo trên vùng miền núi, dân tộc gây phức tạp về ANTT; thành lập các tổ chức hội dòng, hội đoàn tôn giáo trái phép nhằm tập hợp lực lượng mang màu sắc chính trị.

- Liên kết số cực đoan, phản động trong, ngoài nước để hoạt động chống đối như quan hệ với các cá nhân, tổ chức tôn giáo bên ngoài.

- Lực lượng nòng cốt tham gia các vụ việc phức tạp về ANTT liên quan tôn giáo là quần chúng giáo dân, trong đó có một số đối tượng cuồng tín, quá khích, cực đoan.

- Các vụ việc phức tạp về ANTT liên quan đến tôn giáo xảy ra tuy mức độ hậu quả khác nhau nhưng đều xuất hiện mâu thuẫn hoặc xung đột giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo.

Việc giải quyết các vụ việc phức tạp về ANTT liên quan đến tôn giáo đạo trên địa bàn tỉnh Nghệ An còn hướng đến mục tiêu hàn gắn lại mối quan hệ giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo bị rạn nứt, xói mòn do các vụ việc phức tạp gây nên. Hiệu quả của công tác này ảnh hưởng đến truyền thống đoàn kết tốt đẹp của nhân dân ta được vun đắp và gìn giữ từ bao đời nay. Mặt khác, việc gây nên mâu thuẫn, xung đột là mục đích của các thế lực phản động nhằm gây ra những bất ổn mang tính nội bộ tạo ra tiền đề thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình".

Nguyên nhân

Đánh giá về nguyên nhân xảy ra một số vụ phức tạp có liên quan đến tôn giáo ở Nghệ An thời gian qua, theo khảo sát của Đề tài thì trong số 1.498 người được hỏi, có nhiều người lựa chọn các nguyên nhân như: có thành phần chống phá bên ngoài (59,3%); do một số cá nhân kích động giáo dân hoạt động vi phạm (55,7%); do có sự lợi dụng tôn giáo cho các mục đích chính trị (53,6%); do thiếu hiểu biết về chính sách, pháp luật của chức sắc, giáo dân (41,9%); do công tác QLNN về tôn giáo chưa tốt, phát sinh mâu thuẫn (39,2%). Trong khi đó số người lựa chọn nguyên nhân như mâu thuẫn giữa các tôn giáo hoặc giữa giáo và lương và do bất bình đẳng trong đối xử của chính quyền đối với các tôn giáo chỉ chiếm tỉ lệ từ 12 đến 17%.

Đối với các nguyên nhân như: do công tác QLNN về tôn giáo chưa tốt, phát sinh mâu thuẫn; do bất bình đẳng trong đối xử của chính quyền đối với các tôn giáo thì tỉ lệ lựa chọn của những người theo Công giáo cao hơn so với những người không theo tôn giáo và những người theo Phật giáo (có 53.9% số người theo Công giáo được hỏi cho rằng do công tác QLNN về tôn giáo chưa tốt, phát sinh mâu thuẫn; có 28.7% cho rằng do bất bình đẳng trong đối xử của chính quyền đối với các tôn giáo). Điều này chứng tỏ đa số người theo Công giáo đều cho rằng công tác QLNN về tôn giáo chưa tốt, phát sinh mâu thuẫn và nhiều người cho rằng có sự bất bình đẳng trong đối xử của chính quyền đối với các tôn giáo.

Ngoài ra có 40 người cho rằng còn có nguyên nhân khác như: Quy định của pháp luật chưa chặt chẽ; Chức sắc lợi dụng giáo dân dân trí thấp để kích động; Một số chức sắc cố tình vi phạm; Do các cấp chính quyền chưa kịp thời gặp gỡ trao đổi với ban hành giáo để tìm cách tháo gỡ giải quyết vấn đề; Do các vấn đề phát sinh trong đời sống hằng ngày như vấn đề cá chết ở các tỉnh miền Trung;...

Đánh giá về mức độ ảnh hưởng của các tôn giáo đến tình hình ANTT thì mức ảnh hưởng xấu hoặc rất xấu của đạo Công giáo đến tình hình ANTT lớn hơn so với các tín ngưỡng, tôn giáo khác. Tỷ lệ này đối với Phật giáo là ít nhất. Trong số 1.452 người trả lời nội dung này thì có 17,6% đánh giá Công giáo ảnh hưởng xấu đến ANTT, có 9,2% đánh giá là rất xấu, trong khi đó tỉ lệ này đối với Phật giáo lần lượt là 2,9% và 1,4%.

2.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh trật tự trên lĩnh vực tôn giáo ở Nghệ An

2.2.1. Nhóm giải pháp chung

- Nghiên cứu, xây dựng chiến lược tổng thể về quản lý nhà nước về tôn giáo gắn với công tác quy hoạch tôn giáo, xây dựng tổ chức, bộ máy cán bộ làm công tác tôn giáo đủ mạnh;

- Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trên lĩnh vực tôn giáo;

- Giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về công tác QLNN về ANTT đối với hoạt động tôn giáo;

- Giải pháp về củng cố, kiện toàn cấp ủy đảng, chính quyền và đội ngũ cốt cán cơ sở ở vùng đồng bào các tôn giáo vững mạnh, toàn diện, đảm bảo giải quyết có hiệu quả những vấn đề phức tạp ảnh hưởng tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn gắn với đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của quần chúng giáo dân trên địa bàn tỉnh;

- Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo làm nền tảng cho công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trên lĩnh vực tôn giáo;

Kết quả khảo sát xã hội học cho biết: Trong số 1.498 người được hỏi, có 76,7% đề nghị cơ quan quản lý nhà nước cần chủ động đối thoại, giải quyết các điểm bất đồng; có 66,4% cho rằng cần thực hiện chính sách bình đẳng, đối xử công bằng giữa các tôn giáo; có 63,0% cho rằng cần tiếp tục luật hóa để quản lý hoạt động của các tôn giáo; có 74,5% số người được hỏi cho rằng cần làm tốt công tác vận động quần chúng tôn giáo; có 65,4% cho rằng cần kịp thời giải quyết các vấn đề nảy sinh của các tổ chức tôn giáo; có 62% cho rằng cần tăng cường QLNN, tạo điều kiện cho tôn giáo; có 61,3% cho rằng cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tranh thủ chức sắc; có 55,8% cho rằng cần tạo mối quan hệ tốt với người có thẩm quyền trong tôn giáo. Đây là những gợi ý để các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo (đặc biệt là Ban Tôn giáo - Sở Nội vụ) nghiên cứu, tham mưu và tính toán trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tôn giáo nói chung.

- Tăng cường hiệu quả công tác vận động quần chúng tín đồ, tranh thủ chức sắc, hướng lái chức sắc tiến bộ, đấu tranh với số chức sắc cực đoan, vi phạm pháp luật;

- Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với các lực lượng liên quan phục vụ quản lý nhà nước về an ninh trật tự trên lĩnh vực tôn giáo tại địa bàn tỉnh Nghệ An;

- Thường xuyên làm tốt công tác sơ, tổng kết, đồng thời chủ động nhận diện, thay đổi một số quan điểm, cách thức giải quyết vấn đề tôn giáo nói chung và trong công tác quản lý nhà nước về ANTT trên lĩnh vực tôn giáo.

2.2.3. Giải pháp quản lý nhà nước về an ninh trật tự trên lĩnh vực tôn giáo trong một số lĩnh vực trọng điểm và các tình huống phức tạp

- Giải pháp xử lý các vấn đề đất đai có yếu tố tôn giáo.

Để xử lý tốt vấn đề đất đai tôn giáo, không để các chức sắc cực đoan, số chống đối trong tôn giáo, các thế lực thù địch, bọn phản động lợi dụng vi phạm pháp luật, làm ngòi nổ cho các hoạt động chống đối, cấp ủy, chính quyền các cấp tỉnh Nghệ An cần:

Một là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả "Quy chế phối hợp thực hiện công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Nghệ An" ban hành theo Quyết định số 101/2009/QĐ-UBND ngày 28/10/2009 của UBND tỉnh Nghệ An, Công văn số 3272/UBND-NC ngày 24/5/2012 của UBND tỉnh Nghệ An về việc phân công các sở, ngành trong chủ trì giải quyết các kiến nghị liên quan tôn giáo và Công văn số 126/UBND-ĐC ngày 03/9/2013 của UBND tỉnh Nghệ An về việc chấn chỉnh việc tiếp nhận, hướng dẫn, giải quyết các thủ tục hành chính có liên quan đến tôn giáo.

Hai là, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực đất đai.

Ba là, chủ động, kiên quyết đấu tranh, xử lý các tổ chức, cá nhân lợi dụng các vụ việc vi phạm pháp luật trên lĩnh vực đất đai, xây dựng cơ sở vật chất liên quan tôn giáo.

- Giải pháp xử lý các vấn đề sinh hoạt tôn giáo: Để xử lý tốt các vấn đề sinh hoạt tôn giáo, tỉnh Nghệ An cần thực hiện tốt các mặt công tác sau:

Một là, chủ động nhận diện, phân biệt sinh hoạt tôn giáo thuần túy và các sinh hoạt lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để kích động, gây rối không để ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, xã hội, đoàn kết dân tộc, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng của công dân.

Hai là, trên cơ sở kết quả nhận diện, cần chủ động bịt kín, vô hiệu hóa các nguyên nhân, tiền đề là điều kiện để các chức sắc cực đoan, thế lực thù địch, bọn phản động lợi dụng tiến hành các hoạt động chống đối, mang màu sắc chính trị.

- Giải pháp xử lý vấn đề tổ chức tôn giáo:

Một là, xác định việc tách, thành lập các tổ chức tôn giáo cơ sở là nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của tín đồ và giáo hội các tôn giáo nhưng đồng thời phải tuân thủ quy định của Nhà nước.

Hai là, về việc thành lập hội đoàn tôn giáo hoạt động trái pháp luật: Đối với những hội đoàn phục vụ lễ nghi tôn giáo, thừa nhận việc thành lập là phục vụ nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của giáo hội nhưng phải tuân thủ quy định của Nhà nước về việc thành lập và hoạt động hội đoàn, các xứ, họ đạo. Đối với những hội đoàn thành lập vì mục đích bác ái, từ thiện, không cấm nhưng khéo léo tác động đưa họ hoà nhập vào các tổ chức từ thiện chung. Đối với các hội đoàn tập hợp quần chúng theo giới, lứa tuổi để tranh chấp quần chúng thì dứt khoát không cho thành lập.

- Giải pháp ngăn ngừa, xử lý các tranh chấp, xung đột có yếu tố tôn giáo: Để ngăn ngừa, xử lý tốt các tranh chấp, xung đột có yếu tố tôn giáo, cấp ủy, chính quyền các cấp tỉnh Nghệ An cần khéo léo giải quyết các tranh chấp, xung đột này bằng pháp luật kết hợp với việc huy động các tổ chức chính trị, xã hội trong hệ thống chính trị để vận động quần chúng là các tín đồ, chức sắc, tu sĩ tôn giáo thực hiện theo pháp luật; tạo dư luận xã hội, buộc chức năng tự điều chỉnh và điều khiển của các tôn giáo phải phát huy để thích ứng với các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục; hướng các tôn giáo chủ động, tích cực tham gia vào sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH của tỉnh nhà.

- Giải pháp điều tra, xử lý các loại tội phạm có yếu tố tôn giáo: Từ thực hiện công tác điều tra, xử lý các loại tội phạm có yếu tố tôn giáo, có thể phân định thành 02 dạng cụ thể do 02 lực lượng khác nhau thực hiện: Điều tra, xử lý các vụ án lợi dụng tôn giáo xâm phạm ANQG và điều tra các vụ án lợi dụng tôn giáo xâm phạm trật tự xã hội.

- Tăng cường công tác kiểm tra, ngăn chặn và xử lí hành vi lợi dụng quyền tự do thông tin để tuyên truyền chống Đảng và Nhà nước trên các trang thông tin điện tử có yếu tố tôn giáo; triệt để khai thác, sử dụng thế mạnh của các phương tiện thông tin đại chúng để định hướng dư luận phê phán, áp đảo đối tượng, phân hoá cô lập số chống đối cực đoan, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ chủ trương giải quyết các vấn đề tôn giáo của chính quyền.

3. Kết luận

Trên cơ sở thực tiễn dự báo tình hình ANTT trên lĩnh vực tôn giáo ở tỉnh Nghệ An, Đề tài đã đề xuất một số giải pháp cụ thể, phù hợp với tính chất, đặc điểm địa bàn, góp phần nâng cao hiệu quả công tác này, góp phần tạo nên sự ổn định phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Nghệ An.

Tuy chưa thật sự toàn diện, đầy đủ, song hệ thống giải pháp được đúc rút từ thực tế, đã tham khảo và được sự tham gia góp ý của các sở, ban, ngành các tổ chức chính trị, xã hội cũng như ý kiến của các chuyên gia trên lĩnh vực này nên tương đối cụ thể và có tính khả thi, nếu áp dụng vào thực tế sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác QLNN về ANTT trên lĩnh vực tôn giáo ở tỉnh Nghệ An.

NCS. Bùi Minh Hào

 

Di cư sang một không gian mới sẽ tạo ra những thay đổi lớn về văn hóa. Từ một nền văn hóa nguồn, các cộng đồng di cư tương tác với nền văn hóa các nhóm trong không gian mới, đồng thời cũng quan hệ với văn hóa của nhóm gốc đang tồn tại ở quê cũ của họ. Sự biến đổi văn hóa của cộng đồng di cư chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Một trong những yếu tố quan trọng tác động đến sự thay đổi này là tâm lý cộng đồng và sự tự ý thức về nguồn gốc của mình. Trường hợp người Nghệ ở Hà Nội là một ví dụ điển hình. Với tâm lý cội nguồn và sự ý thức về quê quán của mình, những người Nghệ xa quê đã tạo ra những mối quan hệ liên kết mãnh liệt và kết nối thành mạng lưới xã hội lớn mạnh, tạo nên một nền văn hóa mang đặc trưng của họ trên một không gian văn hóa mới.

1. Sự di cư và quá trình tập trung của người Nghệ ở Hà Nội

Hà Nội là một trung tâm kinh tế, văn hóa có sức hút đặc biệt đối với không chỉ các vùng lân cận mà gần như cả nước. Dân cư các tỉnh khác tập trung về đây làm việc, học tập, buôn bán... Hà Nội thu hút nhân tài, nhân lực, nguồn vốn từ các vùng xung quanh về đây và cũng từ đây lại phân phát các nguồn lực khác ra xã hội. Và Hà Nội cũng là một thành phố có sự tập trung cao độ của người Nghệ. Về mặt số lượng cụ thể, sẽ rất khó để thống kê số người Nghệ đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội do nhiều nguyên do, trong đó có nguyên do cách phân định người Nghệ như thế nào. Ở đây, tôi suy nghĩ về cách hiểu người Nghệ ở Hà Nội là những người được sinh ra ở Nghệ An và Hà Tĩnh, ít nhiều sống trong môi trường văn hóa xứ Nghệ, sau đó di cư ra Hà Nội lập nghiệp nhưng vẫn tự xem mình là người Nghệ. Với cách hiểu này thì có thể có những người hộ khẩu ở Hà Nội nhưng vẫn được coi là người Nghệ nếu phù hợp các với tiêu chí đó. Trên thực tế, một số người, có bố mẹ (hay bố hoặc mẹ) là người Nghệ nhưng họ được sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, hoàn toàn không sinh hoạt trong môi trường văn hóa xứ Nghệ nên dù họ vẫn nhận mình quê gốc xứ Nghệ (nhận theo bố, mẹ) nhưng cũng khó để nói đó là người Nghệ. Từ cách hiểu này, có thể tính số người Nghệ ở Hà Nội theo các nhóm:

- Nhóm những người là cán bộ tham gia cách mạng và hai cuộc kháng chiến. Khi miền Bắc hòa bình thì họ nhận một cương vị công tác ở Hà Nội và đưa gia đình ra sinh sống.

- Nhóm những người ra Hà Nội làm công nhân lâu dài trong các nhà máy, xí nghiệp trong và ngoài nhà nước, sau đó lập gia đình hay chuyển gia đình ra đây sinh sống.

- Nhóm những người ra Hà Nội học tập và lập nghiệp tại Hà Nội.

- Nhóm những người lập doanh nghiệp hay chi nhánh doanh nghiệp ở Hà Nội và họ sinh sống tại Hà Nội.

- Nhóm lao động theo mùa từ xứ Nghệ ra Hà Nội, họ ra làm các dịch vụ, làm công, không chuyển hộ khẩu ra Hà Nội, và thường di chuyển giữa Hà Nội và Nghệ An, Hà Tĩnh.

Phân chia các nhóm như vậy chỉ là một cách tương đối, có nhiều khi còn chưa hẳn phù hợp vì nhóm người Nghệ ở Hà Nội khá phức tạp và cũng rất đa dạng. Nhưng có thể xem đây là một cách để nhóm lại các nhóm mà phần sau xem xét sự thay đổi về mặt văn hóa.

Về quá trình di cư của người Nghệ ra Hà Nội hiện nay vẫn chưa có những nghiên cứu xác đáng. Có thể nói những người Nghệ có mặt ở Thăng Long (thậm chí trước đó) dưới các triều đại phong kiến là các quan lại, tướng lĩnh. Khi họ lập được chiến công trong các cuộc chiến tranh hay đàn áp phong trào nổi loạn mà được cân nhắc ra làm quan ở triều đình thì họ và gia quyến được di chuyển ra kinh kỳ. Hay các binh sĩ, thuộc hạ, thậm chí người làm công, đi ở cho các quan, tướng vào cai trị vùng này, sau khi chủ ra kinh kỳ thì một bộ phận được theo ra hầu hạ tiếp. Nhìn chung, trong thời phong kiến, những người Nghệ ra Thăng Long sinh sống tuy có nhiều nhưng không áp đảo số lượng với các vùng khác, và chủ yếu họ ra theo đường quan lộ, ra để làm quan cho triều đình. Và những ảnh hưởng của văn hóa xứ Nghệ lên văn hóa Thăng Long là rất hạn chế, gần như rất mờ nhạt. Người Nghệ di cư ra Hà Nội ào ạt nhất phải tính từ sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954. Trong nửa đầu thế kỷ XX, người Nghệ có di cư ra Bắc nhưng không nhiều, đa số là những người đi ra hoạt động cách mạng, hoạt động xã hội, một số đi buôn bán. Nhưng nửa sau thế kỷ này lại chứng kiến một sự di dân từ xứ Nghệ ra Hà Nội ào ạt. Trước hết, xứ Nghệ là vùng đất cách mạng, nên khi cách mạng thành công, rồi hòa bình thì số người tham gia hoạt động cách mạng trước đó, phần lớn được chuyển ra Hà Nội tiếp tục công tác lãnh đạo, học tập, làm việc trong các cơ quan chính quyền. Cùng với họ là gia đình, họ hàng tùy theo điều kiện mà ra thủ đô sinh sống, lập nghiệp ngày một đông đảo. Từ đó đến nay, hàng năm có hàng ngàn người từ Nghệ An và Hà Tĩnh di cư ra Hà Nội để học tập và tìm cơ hội mưu sinh tại thủ đô. Số lượng này ngày càng tăng chứ chưa có dấu hiệu giảm xuống. Cũng phải nhấn mạnh thêm rằng, không phải tất cả mọi người Nghệ ra Hà Nội đều ở lại đây mà một số ra học tập, sau đó đi nơi khác làm ăn. Nhưng trong khoảng thời gian họ sinh sống, học tập ở Hà Nội đều tham gia vào sự kiến tạo văn hóa cộng đồng của người cùng quê tại đây. Hiện tại, người Nghệ và gốc Nghệ chiếm một tỷ lệ lớn trong dân cư ở Hà Nội.

Sự di cư từ nông thôn ra thành thị là một xu hướng tồn tại trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các quốc gia đang phát triển. Trong điều kiện tự nhiên khó khăn, nông nghiệp chậm phát triển và sinh kế không thật sự đa dạng thì sự di cư lâu dài hay theo mùa làm ăn sẽ càng tăng cao hơn. Đó cũng là một lý do mà người Nghệ lại có tâm lý chuyển ra thủ đô mạnh như vậy. Quá trình sinh sống, lập nghiệp trong một không gian mới, nhất là khi tập trung đông đúc thì tính cố kết cộng đồng lên cao đã tạo điều kiện cho người Nghệ kiến tạo ra những đặc trưng văn hóa mới. Nó không hẳn là văn hóa xứ Nghệ nguyên gốc, cũng không hoàn toàn là văn hóa Hà Nội, có thể tạm gọi là văn hóa của cộng đồng người Nghệ tại Hà Nội.

2. Tính cục bộ hay sự cố kết cộng đồng?

Tính cục bộ hay sự cố kết cộng đồng là một đặc điểm đầu tiên để nhận dạng các nhóm người Nghệ sống xa quê. Tâm lý chung của con người lúc rời xa môi trường sinh sống quen thuộc thường tìm những mối liên kết bền vững để làm chỗ dựa. Đây là một biện pháp để giảm tải rủi ro và tăng thêm tiềm lực, cơ hội tiếp cận công việc cũng như sự hỗ trợ lẫn nhau. Trong mỗi một con người đã có sẵn tâm lý này, nhưng khi nhóm người cùng quê có điều kiện thì như một sự kết nối tâm hồn, họ lại tìm đến nhau và tạo thành các nhóm xã hội liên kết bền vững theo một sự đồng điệu về tâm lý, mà theo cách giải thích của Gustave Le Bon (2008) thì đó là "tâm lý đám đông".

Người Nghệ ở Hà Nội (và có thể ở các nơi khác cũng có) luôn tự ý thức về tinh thần cố kết cộng đồng. Tâm lý nguồn với mối liên kết chặt chẽ những người cùng quê gần như trở thành yếu tố cố hữu trong mỗi con người xứ Nghệ. Đến một không gian mới, đầu tiên một người Nghệ là tìm đồng hương ở nhiều cấp độ khác nhau từ xã, huyện, tỉnh (và cả xứ Nghệ). Kết quả tạo thành một mạng lưới người Nghệ ở Hà Nội. Mạng lưới này có các mối liên kết đa chiều, có tính bền vững cao mà lực liên kết cơ bản là tâm lý nguồn. Thực chất, tâm lý nguồn có thể hiểu là sự tự ý thức mình là người Nghệ. Chỗ nào có người Nghệ thì sẽ có sự liên kết thành các nhóm, từ nhóm địa phương, nhóm ngành nghề, nhóm trường học. Các hội đồng hương được thành lập và duy trì ở hầu hết những nơi có người Nghệ sinh sống. Không cần giấy tờ, quy định mà chỉ có một mối ràng buộc đơn giản là ý thức về tâm lý nguồn ở mỗi người. Ở mỗi cấp, tùy theo mức độ quan hệ mà tính liên kết thể hiện độ bền vững khác nhau. Nếu cấp độ lớn (hội đồng hương Nghệ Tĩnh) có tính liên kết không thật cao thì ở các cấp nhỏ hơn, tính liên kết của các thành viên trong hội lại cao và mật độ tiếp xúc, trao đổi dày đặc hơn. Một trong những mối quan hệ cơ bản của hội là sự giúp đỡ nhau trong công việc giữa các thế hệ, các thành viên. Các doanh nghiệp do người Nghệ quản lý thường ưu tiên tuyển dụng người cùng quê. Trong một chừng mực nào đó, những người cùng quê làm việc với nhau thì thái độ hợp tác, hỗ trợ nhau sẽ lớn hơn và hiệu quả công việc cao hơn. Nhưng nếu không cẩn thận, nó sẽ dễ tạo ra tình trạng phe nhóm vì tính cục bộ và hệ quả là những xung đột giữa các nhóm, trước hết là xung đột văn hóa và sau đó là xung đột xã hội. Giống như một quy luật liên kết xã hội, khi nội liên kết tăng lên cao thì quan hệ ngoại liên kết sẽ giảm đi. Quan hệ nội bộ nhóm đồng hương cao cũng đồng nghĩa quan hệ với các nhóm khác sẽ giảm. Một ví dụ là trong thời gian qua, khi một số doanh nghiệp của người Nghệ tuyên bố ưu tiên tuyển dụng các lao động là người đồng hương thì không lâu sau, nhiều doanh nghiệp khác đã đưa ra những chính sách tẩy chay, không chấp nhận lao động người Nghệ. Đó là những thông điệp phản hồi tiêu cực (nagative feedback) đối với tính cục bộ của người Nghệ của các cộng đồng địa phương khác.

Một vấn đề đặt ra là trong thời đại hội nhập, các nền văn hóa đang tích hợp vào nhau, các quốc gia, dân tộc, cộng đồng đang loại bỏ dần những yếu tố cục bộ để tăng độ liên kết ngoài nhằm tìm kiếm nguồn lực phát triển đa phương, đa dạng hơn. Trong bối cảnh đó, người ta sẽ phải nhìn nhận lại về tính cục bộ của người Nghệ. Có nhiều quan điểm khác nhau: có người cho rằng tính cục bộ hay sự cố kết cộng đồng của người Nghệ là một tiềm lực, một bản sắc văn hóa xứ Nghệ nên cần phải bảo lưu và phát huy trong quá trình phát triển; quan điểm khác cho rằng cần phải loại bỏ, hạn chế tính cục bộ, địa phương chủ nghĩa để hội nhập với thế giới và tránh sự xung đột văn hóa và xung đột xã hội. Sự xung đột, một khi xảy ra sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sự phát triển chung và cả chính cộng đồng đó. Để giải sự xung đột, như Maurice Goldelier (2010) lập luận, phải bắt đầu từ ba chìa khóa quan trọng là cộng đồng, xã hội và văn hóa. Tinh thần cố kết cộng đồng luôn cần có, và nó còn có vai trò quan trọng trong cuộc sống của những người Nghệ xa quê, nhưng hơn hết, đó là tinh thần dân tộc. Nếu đem tinh thần cố kết cộng đồng đó ra trên quy mô dân tộc chứ không phải nhóm địa phương, lớn hơn là tinh thần đoàn kết con người thì nó sẽ trở thành một động lực phát triển vô cùng to lớn.

3. Tiếp biến văn hóa

Tiếp biến văn hóa (Acculturation) là một khái niệm dùng để chỉ sự thay đổi, biến đổi của văn hóa trong quá trình tiếp xúc văn hóa. Tiếp biến văn hóa là một hiện tượng diễn ra thường xuyên của các nền văn hóa trong quá trình tồn tại và tương tác. Theo Samuel Hungtington (2003) thì xã hội hiện đại có nhiều sự tiếp biến văn hóa khác nhau mà ông gọi là "sự va chạm của các nền văn minh" và xung đột văn hóa sẽ trở thành nhân tố quan trọng chi phối nhiều đến mối quan hệ của các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới.

Xem xét đặc trưng văn hóa của người Nghệ ở Hà Nội thực chất là xem xét mối quan hệ giữa văn hóa xứ Nghệ và văn hóa Hà Nội qua chủ thể tiếp nhận là người Nghệ ở Hà Nội. Đây có thể coi là mối quan hệ ngoại vi - trung tâm bởi ở góc độ kinh tế - xã hội, Hà Nội là một trung tâm phát triển lâu đời và có ảnh hưởng lớn. Đây là quan điểm của nhà xã hội học người Anh Gordon Marshall với ý chỉ "mô hình không gian nhằm mô tả và giải thích mối liên hệ cấu trúc giữa "vùng trung tâm" tiên tiến, hoặc là các khu vực đô thị phát triển với "vùng ngoại vi" ít tiên tiến, hoặc chậm phát triển hơn"(1). Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như vậy bởi mối quan hệ giữa hai tiểu vùng văn hóa này khá phức tạp, nó không phải là quan hệ truyền bá, hoặc có quan hệ truyền bá văn hóa nhưng không rõ nét. Trong khi đó, quan hệ tích hợp văn hóa rõ nét hơn. Tích hợp văn hóa, theo nhà nhân học Kroeber A. L.: "gồm những thay đổi trong một văn hóa diễn ra nhờ một văn hóa khác và làm nảy sinh tính tương đồng ngày càng tăng giữa hai văn hóa"(2). Trên cơ sở đó, văn hóa của người Nghệ ở Hà Nội được hình thành qua quá trình: bảo lưu các bản sắc văn hóa gốc xứ Nghệ; hội nhập văn hóa với văn hóa Hà Nội và văn hóa các nhóm khác; tích hợp với văn hóa Hà Nội và các nhóm khác hình thành các yếu tố văn hóa mới; tác động qua lại giữa văn hóa của người Nghệ ở Hà Nội và văn hóa gốc của người Nghệ đang sinh sống tại quê nhà.

Quan điểm bảo lưu các đặc trưng văn hóa xứ Nghệ

Một số người cho rằng đã là người Nghệ thì dù đi đâu, làm gì cũng phải giữ được bản sắc văn hóa xứ Nghệ mà gọi dân dã là "chất Nghệ". Những người nào đi ra mà để mất "chất Nghệ" thì bị coi là "kẻ mất gốc" và bị người khác coi thường hay kỳ thị. Quan điểm này xem văn hóa là cái gì đó bất biến và lấy đó làm dấu hiệu nhận diện con người. Mặt tích cực của nó là giúp gìn giữ được những yếu tố gốc trong nền văn hóa. Nhưng nó cũng gây ra những cực đoan, máy móc trong nhìn nhận sự phát triển, sự thích ứng để vươn lên tiếp cận các nguồn lực từ bên ngoài. Thực tế, có nhiều người Nghệ ra sinh sống ở Hà Nội nhiều năm nhưng họ vẫn ý thức về quê gốc của mình và bảo vệ các yếu tố văn hóa một cách cực đoan. Họ giao tiếp bằng tiếng Nghệ và cho rằng nếu người khác muốn trao đổi với mình phải hiểu được những gì mình nói. Họ cũng thực hành đời sống tâm linh theo đúng như ở quê gốc. Dạy con tiếng Nghệ, cách ăn nói, cư xử của người Nghệ. Những người theo quan điểm này thường mang tính cục bộ cao, tinh thần cố kết cộng đồng cao, hăng hái trong việc kết nối người cùng quê, xem giúp đỡ người cùng quê như một bổn phận và góp phần xây dựng quê hương là nghĩa vụ. Nhưng cũng vì vậy, họ sẽ dễ đi vào con đường địa phương chủ nghĩa, dễ bị kích động cũng như dễ tạo thành các phe nhóm, dễ gây xung đột với các nhóm khác khi xung đột văn hóa. Năm 2013, Sở Khoa học & Công nghệ tỉnh Nghệ An đã tổ chức một buổi tọa đàm bàn tròn về việc sử dụng tiếng Nghệ, nhiều nhà nghiên cứu đã lên tiếng ủng hộ quan điểm "người Nghệ nói tiếng Nghệ"(3). Điều này chứng tỏ, vẫn còn nhiều người theo quan điểm này mà việc lựa chọn ngôn ngữ chỉ là một ví dụ(4).

Quan điểm hội nhập văn hóa, tiếp nhận các yếu tố văn hóa Hà Nội và các nhóm khác để phát triển

Ngược lại với những người luôn cố bảo lưu yếu tố văn hóa gốc thì một bộ phận người Nghệ ở Hà Nội lựa chọn cách tiếp nhận các yếu tố văn hóa Hà Nội. Và một bộ phận không nhỏ đã gần như bỏ quên các yếu tố văn hóa Nghệ. Họ nói tiếng Hà Nội (hay tiếng phổ thông) thay cho tiếng Nghệ, lựa chọn cách sống, quan hệ cộng đồng theo các chuẩn mực chung. Họ tự làm cho chính mình không còn "chất Nghệ" trong con người họ và khiến những người đối diện với họ không thể nắm bắt được nguồn gốc, quê quán của họ nếu như không phải chính họ nói ra. Chưa thể nói sự lựa chọn của nhóm này là "vứt bỏ" văn hóa gốc Nghệ của họ, bởi bề ngoài, qua những thể hiện thì họ gần như đã không còn các các yếu tố văn hóa Nghệ, nhưng trong con người họ thì những yếu tố văn hóa gốc vẫn còn tiềm ẩn, và khi có điều kiện nó sẽ trỗi dậy. Ví dụ khi họ về qua hay gặp lại bạn bè cũng quê, sau một khoảng thời gian đầu bỡ ngỡ, họ sẽ tìm lại văn hóa gốc trong mình và sẽ lại trở thành một người đầy chất Nghệ. Sở dĩ họ lựa chọn tiếp nhận văn hóa Hà Nội trong cuộc sống ở thủ đô là để thuận lợi cho công việc và quan hệ đa phương với nhiều nhóm, nhiều nền văn hóa khác. Đó có thể coi là một "sự hội nhập văn hóa" nhằm mở rộng, đa phương trong giao lưu văn hóa.

Quan điểm tích hợp văn hóa, chấp nhận các yếu tố văn hóa Hà Nội nhưng vẫn lưu giữ các yếu tố văn hóa gốc, tạo ra các nét mới trong đặc trưng văn hóa.

Đây là một quan điểm được khá nhiều người chấp nhận và vận dụng. Thực tế, một bộ phận lớn người Nghệ khi ra Hà Nội đã lựa chọn một sự tích hợp văn hóa, lưỡng hợp hay đa hợp văn hóa trong cuộc sống. Trong công việc, hay trong giao tiếp, trao đổi với đồng nghiệp, đối tác, họ sử dụng ngôn ngữ Hà Nội (hay phổ thông), thực hành các nguyên tắc giao tiếp vốn thịnh hành trong xã hội Hà Nội. Nhưng khi gặp những đồng hương hay về quê, họ sử dụng ngôn ngữ tiếng Nghệ và thực hành các hành vi văn hóa xứ Nghệ. Sự lựa chọn tích hợp này tạo điều kiện cho họ vừa giải quyết được công việc, sinh hoạt hàng ngày với nhiều nhóm xã hội khác nhau, vừa vẫn giữ được yếu tố văn hóa gốc truyền thống. Nhưng cũng chính sự tích hợp, tiếp biến văn hóa như vậy đã tạo nên những nét văn hóa mới trong đời sống của họ. Trong chính gia đình họ cũng sử dụng các chất giọng khác nhau do mỗi cá nhân lựa chọn, cách ăn mặc cũng đa dạng hơn và cả tính cách con người cũng mềm dẻo hơn.

Quan hệ xã hội giữa các nhóm người Nghệ ở Hà Nội cũng như quan hệ với quê hương là mối quan hệ mang tính truyền dẫn xã hội. "Truyền dẫn xã hội" (Social transmission) là khái niệm mà F. Boas (1940) dùng để lý giải sự khác biệt trong tổ chức xã hội và hành vi của các nhóm người khác nhau. Tính chất truyền dẫn xã hội này không mang tính di truyền nhưng lại có sức bền dựa trên một sự nhận thức rõ ràng về sự xuất thân của con người cá nhân. Hay nói cách khác là nhận thức về nguồn gốc văn hóa - xã hội của chính mình. Ý thức nguồn gốc này được xem là một giá trị để đánh giá con người nên nó trở thành một chất dẫn để các nhóm người Nghệ thiết lập các mối quan hệ với nhau và cũng là một mối ràng buộc để xây dựng và bảo vệ các yếu tố văn hóa Nghệ của các cộng đồng khi sinh sống xa quê hương.

4. Kết luận

Sự biến đổi văn hóa của người Nghệ sống xa quê hương là vấn đề quan trọng không chỉ đối với người Nghệ mà đối với cộng đồng sống bên cạnh họ. Vậy nên, cần có những nghiên cứu khoa học nghiêm túc, có thể tập trung vào một số điểm nhấn như quá trình di cư của người Nghệ, biến đổi văn hóa các cộng đồng người Nghệ di cư. Quan hệ văn hóa, kinh tế của người Nghệ với quê hương, với các cộng đồng bên cạnh. Làm rõ thêm về xu hướng đầu tư tài chính, xu hướng hôn nhân… Bên cạnh đó, việc tìm hiểu thêm về tâm lý nguồn hay sự tự ý thức về nguồn gốc của người Nghệ, bởi đây là một sợi dây liên kết, sức mạnh chính của tính cục bộ người Nghệ. Nghiên cứu về người Nghệ ở ngoài xứ Nghệ cũng quan trọng như tìm hiểu về người Việt Nam ở nước ngoài, chỉ khác nhau về quy mô.

Một thực tế đang diễn ra rằng dù xứ Nghệ là một vùng văn hóa quan trọng, có nhiều người tài, con người ham học hỏi, nhưng vẫn là một trong tỉnh nghèo của cả nước. Chúng ta có nhiều lý do để tự hào về mình là người Nghệ. Nhưng cũng phải thấy xấu hổ vì quê mình tại sao vẫn còn nghèo. Sẽ có nhiều lý giải, nhưng thiết nghĩ, cần có cái nhìn khách quan, thực tế để đưa quê hương phát triển. Đó mới là tình yêu quê hương chân chính.

 

Chú thích

(1). Trích dẫn theo Hà Hữu Nga, "Nhân học văn hóa và mối quan hệ trung tâm - ngoại vi". http://baotangnhanhoc.org/vi/bai-nghien-cu-lch-s/1311-nhan-hc-vn-hoa-va-mi-quan-h-trung-tam-ngoi-vi.html

(2). Trích dẫn theo Hà Hữu Nga, "Nhân học văn hóa và mối quan hệ trung tâm - ngoại vi". http://baotangnhanhoc.org/vi/bai-nghien-cu-lch-s/1311-nhan-hc-vn-hoa-va-mi-quan-h-trung-tam-ngoi-vi.html

(3). Xem http://www.ngheandost.gov.vn/JournalDetail/ar1890_Ban_tron_thang7NguoiNghe noi tiengNghe.aspx.

(4). Xem thêm http://vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa3/dien-dan38/nguoi-nghe-phai-noi-tieng-nghe.

Tài liệu tham khảo:

1. Boas. F (1940): Race, language and culture. New York: Macmillan.

2. James SC. Scott (1976): The Moral Economy of the Peasant: Rebellion and subsistence in southeast Asia. New Haven and London, Yale University Press.

3. Samuel Hungtington (2003): Sự va chạm của các nền văn minh. H- Lao Động.

4. Jenny Onyx và Rosymary Leonard (2010): The Conversion of Social Capital into Community Development: an Intervention in Australia's Outback. International Journal of Urban and Regional Research, 34:2, pp 381-397.

5. Jonathan Rigg (2005): Porvety and Livelihoods after full-time farming: A South-East Asian view. Asia Pacific Viewpoint, 46:2, pp 173-184. Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Thị Phương Châm.

6. Nancy Luke (2010): Migrant's competing Commitments: Sexual Partners in Urban Africa and rimittances to the Rural Origin. American Journal of Sociology. Volume 115, pp 1435-1479.

7. Hà Hữu Nga: Nhân học văn hóa và mối quan hệ trung tâm - ngoại vi. http://baotangnhanhoc.org/vi/bai-nghien-cu-lch-s/1311-nhan-hc-vn-hoa-va-mi-quan-h-trung-tam-ngoi-vi.html .

8. Maurice Goldelier (2010): Community, Society, Culture: three keys to understanding today's conflicted identities. Journal of Royal Anthropological Institute, 16:1, pp 1-11. Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Văn Sửu.

Th.S Nguyễn Thị Trang Nhung

 

Từ ngàn xưa, nước mắm đã là thức ăn của toàn dân Việt Nam, từ vua quan cho đến thứ dân. Ngày nay, nước mắm là đặc sản, nó không chỉ là một gia vị mà còn là biểu tượng, là "quốc hồn, quốc túy", biểu trưng cho nghệ thuật ẩm thực Việt Nam. Trong nhiều địa phương ven biển sản xuất nước mắm danh tiếng ở Việt Nam như Phú Quốc, Phan Thiết, Nha Trang... có Nghệ An với nước mắm Vạn Phần (Diễn Châu, Nghệ An).

"... Em về kẻ Vạn mà xem

Ruộng nương thì ít

Cá tôm thì nhiều

Xin em đừng có làm kiêu

Đất Vạn Phần vui lắm

Chỉ ba thùng nước mắm

Trẩy một chuyến kinh kỳ

Đủ ăn chơi phủ phê

Đủ quần ba áo bảy..."

Theo câu ca dao chúng ta về với làng Kẻ Vạn, xưa gọi là Vạn Phần (gọi tắt là Vạn) gắn với nghề truyền thống làm nước mắm có từ hàng trăm năm nay, trở thành một địa chỉ quen thuộc, gần gũi với nhân dân cả nước, mà trong trầm tích văn hóa, lịch sử còn ẩn chứa bao huyền thoại về thứ đặc sản rất riêng của một vùng quê "ăn sóng nói gió".

Tổng Vạn Phần xưa gồm có 44 xã, thôn giáp, vạn. Trong đó, xã Vạn Phần gồm có thôn Thọ Xuân, Vạn Trường, An Hậu, Đông Thượng, Đông Tự, Tây Thượng, Tây Kỳ(1), nay thuộc các xã Diễn Ngọc, Diễn Bích, Diễn Vạn, Diễn Kim. Nhân dân trong vùng chủ yếu làm diêm nghiệp, đánh bắt cá biển và làm nước mắm. Theo đó, nghề làm nước mắm có lịch sử từ lâu đời, từ thế kỷ XVI, XVII. Người dân trong vùng đã suy tôn cụ Phạm Kiểng - cụ Bá Hộ là những sư tổ của nghề. Để có lượng lớn cá tươi ngon, người dân mua sắm thuyền xa khơi đánh cá. Cùng với thời gian, người dân trong vùng đã xây dựng cho mình bí quyết riêng trong chế biến nước mắm mà hương vị của nó đậm đà, vàng sánh và ngon ngọt khó có thể trộn lẫn với một nơi nào khác. Họ dùng chính những con thuyền xa khơi đánh cá rong ruổi ngược xuôi đưa nước mắm quê hương đi đến các vùng đất mới. Đó chính là con thuyền trong "Câu thơ thi xã con thuyền Nghệ An" được nhà thơ Cao Bá Quát nhắc đến. Rồi "Làng Vạn nước mắm ngon ghê/ Sông Bùng tắm mát, nốc nghề cá tôm..", là cảm nhận của người dân tứ phương và được lưu truyền từ đời này qua đời khác.

Trong Đại Nam nhất thống chí, tập 2 của Quốc sử quán triều Nguyễn có nhắc đến nhiều đặc sản của các vùng miền như rươi, hàu... và có khẳng định về nước mắm thì ở "Vạn Phần là ngon hơn cả". Phải chăng vì thế, nó được đứng trong danh mục những đặc sản "tiến vua" dưới thời Tự Đức (1848-1883).

Trải qua thăng trầm của lịch sử, vùng đất có nhiều sự đổi thay, biển lùi, làng được bồi đắp không còn nằm ven biển nữa mà cách vài cây số, nhưng nghề làm nước mắm vẫn được lưu truyền mãi tận ngày nay. Có thể nói người dân của 2 xã Diễn Ngọc, Diễn Bích đã góp phần tích cực trong việc lưu truyền và phát triển nghề làm nước mắm truyền thống Kẻ Vạn xưa. Tháng 12 năm 1947, trong bối cảnh đẩy mạnh xây dựng hậu phương Nghệ An vững mạnh, chung tay góp sức chi viện cho chiến trường chống thực dân Pháp, thì tại xóm Hải Lý (Diễn Ngọc), Trạm hải sản Diễn Châu (tiền thân của Công ty Cổ phần Thủy sản Vạn Phần Diễn Châu) được thành lập, kế thừa quy trình làm nước mắm cổ truyền của cha ông xưa, hoàn thành nhiệm vụ được giao là tổ chức kinh tài của Huyện ủy Diễn Châu, thu mua, chế biến thủy sản đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân và phục vụ kháng chiến. Đến năm 1950, cùng với cả nước thực hiện Sắc lệnh số 20/SL "Quyết định tổng động viên nhân lực, vật lực tài lực của toàn thể nhân dân để tiến tới tổng phản công", huyện Diễn Châu cho củng cố và mở rộng Trạm hải sản Diễn Châu đến bên bờ Lạch Vạn, làm nhiệm vụ thu mua, chế biến cá, cung cấp ngư lưới cụ cho ngư dân.

Những năm 1954 -1968, hoạt động của Trạm tiếp tục được tăng cường đóng góp phần đáng kể trong việc cùng nhân dân Nghệ An khôi phục phát triển kinh tế, thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất và chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ. Tháng 1/1969, lãnh đạo tỉnh họp bàn về vấn đề phát triển nghề cá và kinh tế vùng biển, chủ trương tích cực khai thác thế mạnh về biển, phát triển đánh bắt, chế biến cá, tôm và làm muối(2). Nhờ vậy, nghề đánh bắt và chế biến hải sản trên địa bàn tỉnh nói chung, Trạm hải sản Diễn Châu nói riêng được củng cố và phát triển. Tuy nhiên, cũng trong khoảng thời gian từ cuối năm 1968 đến đầu năm 1969, đế quốc Mỹ mặc dù tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc nhưng vẫn cho tàu chiến tiến hành các hoạt động tuần tiễu, trinh sát đường biển, đe dọa công việc làm ăn của nhân dân thuộc vùng Quân khu IV. Trạm hải sản Diễn Châu buộc phải sơ tán lên xã Nhân Thành (Yên Thành), vừa sản xuất, vừa chiến đấu, góp phần cùng quân dân Nghệ An đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ.

Sau khi Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (27/1/1973), đáp ứng yêu cầu khôi phục kinh tế sau chiến tranh, Trạm hải sản Diễn Châu được chuyển về địa điểm hiện nay ở xã Diễn Ngọc. Đồng thời, Ủy ban Hành chính huyện Diễn Châu ban hành Quyết định số 44VP/UB ngày 2/10/1973, giao cho Trạm 29.760m2 đất để xây dựng văn phòng trụ sở và khu vực sản xuất chế biến nước mắm.

Từ năm 1976-1983, Trạm thuộc sự quản lý của Công ty Thủy sản Nghệ Tĩnh. Cuối năm 1983, theo chủ trương tăng cường cấp huyện, Trạm được chuyển lại cho huyện quản lý. Theo Quyết định số 913 QĐ/UB ngày 11/7/1983 của UBND huyện Diễn Châu, Trạm được nâng cấp thành Xí nghiệp Hải sản Diễn Châu, việc sản xuất chủ yếu theo kế hoạch hóa.

 Đến năm 1987, Nhà nước xóa bỏ chế độ bao cấp chuyển sang hoạch toán kinh doanh. Theo Quyết định số 820 QĐ/UB ngày 26/5/1987 của UBND tỉnh Nghệ An, Xí nghiệp được chuyển thành Công ty Thủy sản Diễn Châu. Buổi đầu với biết bao khó khăn thử thách, sản lượng nước mắm từ chỗ đạt trên 1 triệu lít hạ xuống chỉ còn 830 ngàn lít, kéo theo nhiều khó khăn về thu nhập và đời sống của cán bộ, công nhân viên. Khắc phục khó khăn đó, Trạm xếp đặt lại sản xuất, tăng cường thu mua nguyên liệu, đồng thời, bố trí mảng bán buôn, bán lẻ như: mắm tôm, nước mắm trong huyện và ngoài huyện. Tình hình được cải thiện ngày một tốt hơn.

Cuối năm 1992, Công ty là một Doanh nghiệp Nhà nước, có tên gọi Công ty dịch vụ Thủy sản Diễn Châu, theo Quyết định số 2029/ QĐ-UB ngày 14/11/1992 trực thuộc Sở Thủy sản Nghệ An quản lý. Điều kiện hoạt động của Công ty ngày càng tốt hơn, doanh thu cũng từ đó mà tăng lên, đời sống của cán bộ công nhân viên trong công ty được cải thiện rõ rệt.

Đến năm 2000, do yêu cầu của cơ chế thị trường và điều kiện hoạt động, Công ty được cổ phần hóa, đổi tên thành Công ty Cổ phần Thuỷ sản Diễn Châu theo Quyết định số 03/2000/QĐ-UB ngày 03/01/2000 của UBND tỉnh Nghệ An. Từ tháng 12/2006, tên gọi chính thức của công ty là Công ty Cổ phần Thuỷ sản Vạn Phần Diễn Châu.

Từ năm 2006 đến nay, Công ty đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách về vốn, nhân lực, cơ sở vật chất, áp lực từ cơ chế thị trường... Tuy nhiên, tập thể lãnh đạo từ chi ủy, chi bộ, hội đồng quản trị đến từng cán bộ đảng viên, cổ đông đứng đầu là Thạc sỹ kinh tế Võ Văn Đại, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Công ty, đã biết khai thác thế mạnh về điều kiện địa lý tự nhiên, đoàn kết, đồng lòng cùng nhau xây dựng đơn vị và thương hiệu nước mắm Vạn Phần.

"Gió mưa, bão bùng dâng sóng lớn/ Cuối dòng, mặt biển cá nhảy trôi"(3). Đó chính là các loại cá nục, cá cơm, cá trích... tươi ngon, nhiều chất đạm, là thế mạnh nổi trội của vùng biển Nghệ An được Công ty thu mua. Theo số liệu thống kê, mỗi năm công ty thu mua chế biến gần 2000 tấn nguyên liệu ở xung quanh vùng vịnh Diễn Châu, vừa tạo điều kiện cho bà con ngư dân nâng cao hiệu quả khai thác thủy sản, đa dạng sản phẩm và tạo thêm nhiều việc làm cho bà con địa phương Diễn Châu, Quỳnh Lưu. Cá được đưa về muối trong các thùng gỗ vàng tâm có sức chứa cả chục tấn kết hợp phương pháp chế biến nước mắm cổ truyền, 5 đấu cá, 1 đấu muối, ngâm ủ từ 10-12 tháng. Sau một thời gian ủ và chăm sóc, cá chuyển thành chượp ngấu, chín tự nhiên theo phương pháp kéo rút cổ truyền. Khi được hạ thổ chôn dưới đất từ 2-3 năm thì có nước mắm hạ thổ từ 32 độ đạm trở lên.

Thêm vào đó, điều kiện thời tiết, khí hậu nắng nóng chịu ảnh hưởng của gió Phơn Tây Nam khô nóng (gió Lào) trong khoảng thời gian từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 9, cao điểm là tháng 6,7 đã tạo điều kiện cho quá trình phân giải hoàn toàn từ đạm của cá thành các axít amin một cách nhanh chóng, trọn vẹn.

Trong quá trình sản xuất, Công ty tuân thủ chặt chẽ quy trình quản lý chất lượng sản phẩm từ khâu lựa chọn nguyên liệu cho đến quá trình tổ chức sản xuất, chế biến theo phương pháp truyền thống (ủ chượp, gài nén), không sử dụng chất bảo quản, phụ gia.

Chiến lược xây dựng thương hiệu sản phẩm của công ty song hành cùng với quá trình công ty liên tục cập nhật, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào trong quy trình sản xuất. Đã áp dụng thành công Hệ thống quản lý chất lượng an toàn thực phẩm ISO 22.000 : 2005 và HACCP vào sản xuất; ứng dụng 4 đề tài khoa học công nghệ, góp phần nâng cao quy trình sản xuất nước mắm an toàn, sạch, bảo vệ môi trường, tiết kiệm chi phí, nhờ vậy giảm giá thành trên từng dòng sản phẩm. Năm 2000, khi mới thành lập, tập thể lãnh đạo, cán bộ công ty đã quyết định giành phần kinh phí ít ỏi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh. Năm 2009, Công ty đầu tư 1.720 triệu đồng (trong đó có 70 triệu đồng được hỗ trợ từ nguồn khuyến công Quốc gia) để mua sắm trang thiết bị thí nghiệm, kiểm định chất lượng sản phẩm. Đến năm 2017, Công ty đã đầu tư cơ sở hạ tầng với tổng giá trị trên 8 tỷ đồng phục vụ cho sản xuất.

Công ty ngày càng khẳng định thương hiệu và nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường: Năm 2004, Công ty được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cấp Giấy chứng nhận đăng ký thương hiệu hàng hóa số 56727, theo Quyết định A5824/QĐ-DK. Tổng Cục Đo lường chất lượng Việt Nam cấp mã số mã vạch 89350520 theo quy định của Hiệp hội vạch quốc tế cho các sản phẩm của Công ty. Năm 2014, sản phẩm được tặng Huy chương Vàng hàng Việt Nam chất lượng cao, được Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam tặng Giải cầu vàng hàng Việt Nam chất lượng cao, Top 300 sản phẩm hàng đầu Việt Nam do người tiêu dùng bình chọn. Năm 2015 là sản phẩm duy nhất của Nghệ An lọt vào Top 100 sản phẩm được Bộ Công thương công nhận và tôn vinh là Sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp Quốc gia năm 2015. Hai lần, năm 2011 và 2015 được Thủ tướng Chính phủ và Bộ Khoa học và Công nghệ tặng Giải bạc Giải thưởng chất lượng quốc gia. Đặc biệt đáng tự hào là năm 2016, Công ty vinh dự là thành viên đầu tiên được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận Nhãn hiệu chứng nhận "Nước mắm Vạn Phần".

Đáp ứng nhu cầu ẩm thực của người dân, Công ty cho ra đời những dòng sản phẩm mới như: nước mắm nguyên chất (tức nước mắm hạ thổ) sau khi chế biến đóng chai sẽ được chôn dưới đất khoảng 2-3 năm để gia tăng vị béo và độ thơm ngon; nước mắm cao đạm; nước mắm nhỉ (tức những giọt nước nắm đầu tiên đã đến thời gian chín "nhỉ" ra từ lỗ nùi (lỗ thông)). Nhờ vậy, nước mắm Vạn Phần ngày càng đứng vững trên thị trường không chỉ trong nước mà vươn ra thị trường quốc tế, như: Malaixia, Nga, Úc, Hàn Quốc, Lào, Ăng Gô La...

Với tiêu chí "Vạn Phần đưa lợi ích đến với Vạn Nhà", Công ty không ngừng ứng dụng tiến bộ KHCN, đổi mới, tiết kiệm chi phí để giảm giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã và phương pháp phục vụ khách hàng, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nước mắm Vạn Phần trên thị trường. Vì vậy, doanh thu Công ty năm 2017, đã tăng trưởng gấp gần chục lần lúc mới cổ phần hóa năm 2000 và nộp ngân sách trên 15 tỷ đồng cho Nhà nước,18 tỷ đồng bảo hiểm các loại cho người lao động.

70 năm (1947-2017) xây dựng và phát triển của Công ty Cổ phần Thuỷ sản Vạn Phần Diễn Châu, một chặng đường dài gắn kết với nhiều dấu ấn nổi trội mà Công ty đã đóng góp cho quê hương và cho chính ngành thủy sản Nghệ An. Công ty đã hai lần được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba, là phần thưởng cao quý với nhiều thế hệ cán bộ, công nhân và người dân ngày đêm lao động miệt mài đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nhân dân, phục vụ kháng kiến, cống hiến cho sự nghiệp ngành thủy sản Nghệ An nói riêng, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung. Truyền thống của Công ty là dòng chảy xuyên suốt từ nước mắm làng Kẻ Vạn xưa và sẽ phát huy, ghi thêm những thành tích mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tiếp tục có nhiều đóng góp thiết thực hơn nữa cho quê hương, đất nước.

 

Chú thích

1. Theo Dương Thị The, Phạm Thị Thoa, Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra), HN, KHXH, 1981, tr.105.

2. Lịch sử Nghệ An, tập 2, Nxb CTQG, 2012, tr. 426.

3. Bài thơ Vạn Phần cửa biển in trong tập thơ của tiến sỹ Dương Thúc Hạp, Nghệ Tĩnh sơn thủy vịnh.

LTS: Năm 2017, hưởng ứng Chương trình "Thanh niên khởi nghiệp" do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phát động, nhằm hỗ trợ phong trào khởi nghiệp và thúc đẩy các hoạt động đổi mới sáng tạo, khơi dậy ý chí khát khao, mong muốn được lập thân, lập nghiệp làm giàu bằng sức lực, tri thức trong thanh niên, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Nghệ An đã phát động chương trình thanh niên Nghệ An khởi nghiệp và tổ chức Cuộc thi Ý tưởng, dự án khởi nghiệp trong thanh niên trên địa bàn toàn tỉnh.

Sau một thời gian triển khai, Ban tổ chức cuộc thi đã nhận được 53 bài dự thi với nhiều ý tưởng, dự án khác nhau, thể hiện khả năng khởi nghiệp trên nhiều lĩnh vực. Các tác giả tham gia đại diện cho tinh thần năng động, sáng tạo, và mong muốn khởi nghiệp, lập nghiệp, làm giàu trên chính mảnh đất quê hương của mình. Theo đó, Ban Tổ chức đã trao giải Nhất cho Dự án "Liên kết sản xuất gà sạch và các vật nuôi, cây trồng khác theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu dùng"; giải Nhì cho Dự án "Kinh doanh đặc sản Nghệ Tĩnh"; giải Ba cho Dự án "Kinh doanh nguyên liệu và sản phẩm handmade".

Chuyên san KHXH&NV Nghệ An xin lược đăng nội dung chính trong bản kế hoạch của các dự án được trao giải cao tại Cuộc thi Ý tưởng, dự án khởi nghiệp trong thanh niên trên địa bàn tỉnh Nghệ An năm 2017.

 

GIẢI NHẤT

Dự án "Liên kết sản xuất gà sạch và các vật nuôi, cây trồng khác theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu dùng" của nhóm tác giả Nguyễn Kim Hổ, Trần Hữu Đức

Dựa trên thực trạng về việc mất vệ sinh an toàn thực phẩm đang là vấn đề nóng của quốc gia, cùng thực trạng chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm của tỉnh nhà, nhóm dự án đã đề ra hướng đi của mình và mạnh dạn lập nên Dự án "Xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp và gà sạch", góp phần đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và tạo được niềm tin về thực phẩm sạch địa phương cho người tiêu dùng, nâng cao thu nhập cho người nông dân, góp phần đưa nền nông nghiệp trong tỉnh phát triển quy mô và chuyên nghiệp hơn qua việc thành lập một hợp tác xã kiểu mới với tên gọi Hợp tác xã Nông nghiệp sạch và Dịch vụ Thanh niên Nghệ An.

HTX Nông nghiệp sạch và Dịch vụ Thanh niên Nghệ An xây dựng quy chế hoạt động nghiêm ngặt từ việc sử dụng cây, con giống, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật đến thức ăn và quy trình chăn nuôi, trồng trọt. HTX quy định các thành viên không được sử dụng chất cấm, hoóc môn tăng trưởng trong quá trình chăn nuôi, đồng thời quy định rõ thời gian ngừng sử dụng thuốc thú y trước khi xuất chuồng, thời gian ngừng sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trước khi xuất bán,…

Tham gia HTX, các thành viên được trao đổi kinh nghiệm trong chăn nuôi, tiếp cận tiến bộ kỹ thuật hiện đại và được vay vốn để đầu tư sản xuất. HTX cũng hỗ trợ các thành viên về đầu ra sản phẩm bằng việc mở cửa hàng thực phẩm sạch tại thành phố Vinh, tăng cường liên kết, hợp tác với các cửa hàng chế biến và kinh doanh thực phẩm trong và ngoài tỉnh. Tương lai, sau khi đã ổn định sản xuất và kinh doanh, chiếm được lòng tin của người tiêu dùng và có thị phần khá, HTX có thể sẽ mở rộng sản xuất kinh doanh bằng việc mở thêm chuỗi nhà hàng theo mô hình "Từ trang trại đến bàn ăn" nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm và phù hợp với xu thế hiện đại.

Dự án hiện đã tập hợp được 11 thành viên đăng ký tham gia HTX Nông nghiệp sạch và dịch vụ Thanh niên Nghệ An. Họ đều là những thanh niên có cùng ý tưởng, mong muốn đem nguồn thực phẩm sạch của mình tới cộng đồng, khao khát làm giàu trên chính quê hương mình. Các thành viên HTX đã xây dựng được hệ thống trang trại quy mô gồm 10 trang trại chính và 5 trang trại thành viên, tổng diện tích khoảng 80 ha, tổng đàn gà trên 60.000 con, bò 100 con, dê 150 con. Sản phẩm chính là gà thả đồi, gà bán chăn thả, lợn rừng, lợn công nghiệp, dê, bò,… được khách hàng ưa chuộng.

Địa điểm đặt mô hình và là nơi đăng ký địa điểm HTX hiện là ở Trại gà Thanh Đức (huyện Đô Lương) do anh Trần Hữu Đức (sinh năm 1987) làm chủ, là một trong những trại gà lớn của khu vực Bắc Trung bộ, với diện tích 10 ha, hiện tại doanh thu mỗi năm trạng trại đạt được là trên 4 tỷ đồng. Được mệnh danh là "Vua gà xứ Nghệ", từng vinh dự nhận giải thưởng Lương Đình Của lần thứ X, tham dự Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Nghệ An năm 2015, Đại hội Tài năng trẻ Việt Nam lần thứ II, trại gà của anh Đức là một trong những mô hình làm ăn hiệu quả, được nhiều người trong và ngoài tỉnh, ngoài nước đến học hỏi kinh nghiệm.

Về khâu tiêu thụ sản phẩm, HTX sẽ mở rộng hệ thống các cửa hàng thực phẩm sạch tại thành phố Vinh và các huyện. Trước mắt sẽ mở một văn phòng đại diện và cửa hàng thực phẩm sạch tại thành phố Vinh, đây vừa là nơi giao dịch, ký kết hợp đồng, vừa trưng bày và bán sản phẩm của HTX.

Nếu thành công, đây sẽ là mô hình khởi nghiệp hiệu quả trong thanh niên Nghệ An, là minh chứng cho sự quyết tâm trên bước đường lập thân, lập nghiệp, góp phần truyền lửa cho những người trẻ muốn làm giàu chân chính ngay trên quê hương của mình.

 

GIẢI NHÌ

Dự án "Kinh doanh đặc sản Nghệ Tĩnh" của nhóm tác giả: Vũ Mạnh Hoàng, Trần Thị Thuý Hằng, Nguyễn Thanh Thuý, Nguyễn Thanh Thùy

Xuất phát từ tình yêu quê hương, đất nước và niềm đam mê về đặc sản vùng miền, nhóm tác giả đã lập nên Dự án "Kinh doanh đặc sản Nghệ Tĩnh", với ý tưởng mang đến cho người tiêu dùng những đặc sản mang đặc trưng của quê hương xứ Nghệ với chất lượng và giá cả cạnh tranh, nhằm thỏa mãn nhu cầu và bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng; đồng thời dự án còn tạo mối liên kết tiêu thụ các mặt hàng nông sản do nông dân sản xuất tại các thành phố lớn. Dự án đi vào hoạt động dưới dạng Công ty TNHH Thương mại đặc sản xứ Nghệ. Công ty sẽ trở thành một trong những công ty hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực cung ứng những chuỗi giá trị văn hóa của vùng quê xứ Nghệ, với mong muốn đáp ứng một cách tốt và trọn vẹn nhất nhu cầu của địa phương và người tiêu dùng về các loại đặc sản mang đậm bản sắc văn hóa con người xứ Nghệ.

Sau khi nghiên cứu thị trường, Công ty TNHH Thương mại Đặc sản xứ Nghệ quyết định chọn 3 phân đoạn thị trường: Khách hàng là người tiêu dùng; khách hàng là các nhà hàng, khách sạn; khách hàng là khách du lịch. Do quy mô chưa đủ lớn và cửa hàng đặt tại thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò nên bước đầu Công ty sẽ phát triển nhiều hệ thống đại lý khắp toàn quốc. Các sản phẩm của Công ty sẽ cung cấp cho người tiêu dùng thông qua hệ thống cửa hàng của Công ty cũng như các cửa hàng đặc sản và siêu thị trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Công ty đã xây dựng các chiến lược bán hàng về: Nhãn hiệu sản phẩm, bao bì sản phẩm, chất lượng sản phẩm, dịch vụ khách hàng, chính sách về giá cả, kế hoạch quảng cáo… với mục tiêu cuối cùng vẫn nhằm mục đích đề cao người tiêu dùng, tạo sự tin tưởng và gần gũi đến với mỗi người tiêu dùng, đến với mỗi nhà.

Các đặc sản xứ Nghệ mà Công ty lựa chọn trong dự án là những sản phẩm mang đậm nét văn hóa, con người xứ Nghệ và ít nhiều cũng đã có tiếng trên thị trường, bao gồm: Bánh đa Đô Lương, bánh gai xứ dừa Anh Sơn, bò giằng Kỳ Sơn, bưởi Phúc Trạch, cam Xã Đoài, cá mát sông Giăng, cá trích Cửa Lò, chè gay Anh Sơn, chè Tuyết San, cu đơ Cầu Phủ, giò bê Nam Nghĩa, giò lụa Thành Sen, lươn đồng Nghệ An, lươn khô xứ Nghệ, mắm cáy Nghệ An, mắm tôm Nghệ An, măng đắng Quế Phong, măng muối tỏi ớt miền Tây Nghệ An, mật mía Tân Kỳ, mực nháy Cửa Lò, nhút Thanh Chương, nước mắm Cửa Hội, nước mắm Vạn Phần, ruốc rươi Hưng Nguyên, rượu nếp Can Lộc, sản phẩm công ty Nafood, tinh bột nghệ Quỳnh Lưu, tương Nam Đàn, rượu cam, mứt cam, bơ lạc, tinh dầu cam, xà phòng cam, socola cam, bột sắn dây với nhiều mùi vị độc đáo, lạp xưởng Quỳ Châu, gạo tím Yên Thành, mật ong rừng Nghệ An, cà pháo muối xứ Nghệ.

Các cơ sở mà Công ty lựa chọn làm nơi cung ứng nguồn nguyên liệu sẽ là những cơ sở sản xuất sản phẩm chính hiệu được gắn mác, địa chỉ từng cơ sở sản xuất, số điện thoại cơ sở và trên từng sản phẩm sẽ ghi rõ ngày tháng sản xuất và hạn sử dụng, Nếu khách hàng có băn khoăn gì về sản phẩm có thể gọi điện tới các số điện thoại của trưởng ban quản lý làng nghề và chủ nhiệm HTX để được tư vấn, giải đáp.

Địa điểm kinh doanh đặt ở hai nơi là ở trục đường Bình Minh - thị xã Cửa Lò và trục đường Quang Trung của thành phố Vinh. Công ty cũng lên kế hoạch cụ thể nhân sự cho dự án bao gồm: Ban Giám đốc, bộ phận tài chính - kế toán, bộ phận kinh doanh, bộ phận đóng gói và vận chuyển. Ban Dự án cũng đã đưa ra được một chiến lược tài chính cụ thể cho Công ty theo từng giai đoạn, từng phần khá rõ ràng và đầy đủ.

Có thể nói, với Dự án "Kinh doanh đặc sản Nghệ Tĩnh", nhóm tác giả tin tưởng khi dự án được đưa vào triển khai sẽ cung cấp cho người tiêu dùng trong cả nước những sản phẩm mang đậm nét văn hóa đặc sắc riêng của vùng quê xứ Nghệ vừa đảm bảo chất lượng vừa đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Đồng thời dự án khởi nghiệp này hy vọng sẽ mang lại nhiều công việc và thu nhập ổn định cho một lượng lao động trong xã hội, nhất là đối với các bạn sinh viên cần cơ hội thách thức, thông qua việc làm thêm này sẽ giúp học trang bị cho mình kỹ năng mềm trong cuộc sống tương lai.

 

GIẢI BA

Dự án "Kinh doanh nguyên liệu và sản phẩm handmade" của nhóm tác giả: Nguyễn Thị Mai Thảo, Nguyễn Thị Hồng Độ, Nguyễn Nhân Minh

Với mục tiêu kinh doanh là mở một cửa hàng lớn chuyên cung cấp về nguyên liệu làm đồ thủ công, các sản phẩm liên quan đến đồ thủ công tự tay làm, đào tạo những người mong muốn học làm handmade và để thỏa mãn sự đam mê, sáng tạo và phát huy tối đa tiềm năng của các thành viên, nhóm dự án đã quyết định xây dựng dự án khởi nghiệp với tiêu đề "dự án kinh doanh nguyên liệu và sản phẩm handmade", hoạt động theo phương thức kinh doanh tại cửa hàng và kinh doanh trên mạng, với tên cửa hàng ban đầu: Vinh handmade with love. Đây là một loại hình kinh doanh tương đối đặc biệt, mới lạ và thân thiện với môi trường, "Vinh handmade with love" tin tưởng sẽ chiếm lĩnh thị trường và được khách hàng ưa chuộng.

Cửa hàng "Vinh handmade with love" sẽ đặt địa điểm gần trường Đại học Vinh - nơi có số lượng sinh viên, học sinh và cán bộ giảng dạy rất lớn, bên cạnh đó đây cũng là địa điểm gần mặt đường lớn, khá đông người qua lại nên rất dễ nhận biết. Các sản phẩm mà cửa hàng tập trung đưa đến với khách hàng đó là sản phẩm độc đáo mang tính sáng tạo cao và có ý nghĩa lớn vì độ bền và tính tỉ mỉ của sản phẩm. Bên cạnh các sản phẩm làm từ những nguyên liệu mới hoàn toàn còn có cả những sản phẩm được tái chế để thân thiện với môi trường như bình trồng hoa, cây cảnh từ chai lọ được cắt và sơn màu, ống đựng bút từ vỏ thùng mỳ tôm được cắt và trang trí,… Những sản phẩm này sẽ được bán với giá cả rất ưu đãi vừa có thể ứng dụng vào đời sống vừa có thể giảm thiểu rác thải ra môi trường…

Nhóm tác giả cũng đã nghiên cứu khá kỹ thị trường kinh doanh và đưa ra những hình thức kinh doanh gồm 3 hình thức: Cung cấp nguyên liệu, bán sản phẩm, dạy làm đồ handmade được kinh doanh tại cửa hàng và trên mạng xã hội. Nguyên liêu sẽ được lấy tại các chợ đầu mối ở Hà Nội như chợ Đồng Xuân, chợ Hàng Mã,... có thể nhập một số nguyên liệu tại chợ Vinh-Nghệ An. Sản phẩm sẽ cung cấp cho khách hàng ở mọi lứa tuổi với các hình thức bán lẻ, bán sỉ qua các chi nhánh nhỏ tại các địa phương.

Sản phẩm dự kiến của dự án bao gồm: hoa (hoa làm từ giấy, hoa làm từ ruy băng); origami (ông già nooen, cây thông, pikachu, doremon, giỏ đựng hoa, kitty,…); các sản phẩm từ len (mũ đội đầu, tất tay, hài cho trẻ sơ sinh, móc hình trái tim, móc dâu tây, hình thù các con vật treo vào chìa khóa của khách hàng,…); các sản phẩm từ ống nhựa thực phẩm và tăm (các mô hình nhà, hộp đựng đồ trang điểm,..); thiệp (thiệp sinh nhật, thiệp cho các ngày lễ,…); hộp quà (hộp hoa trái tim, hộp quà đa năng, hộp quà tỏ tình bí ẩn,…); các sản phẩm khác và sản phẩm tái chế (phụ kiện thời trang như kẹp tóc, bím tóc,… bình trồng cây hoa từ chai lọ, hộp đựng đồ từ bìa cứng,…).

Phương thức tiến hành của cửa hàng sẽ bao gồm: lập trang web, lập facebook,…  để thực hiện kế hoạch quảng cáo để mọi người biết nhiều đến cửa hàng; bán hàng trực tiếp; bán buôn cho các cửa hàng hoa, cửa hàng bán đồ lưu niệm, các tổ chức đoàn thể, trường học; bán hàng qua mạng, ship theo yêu cầu khách hàng,…

Với dự án của mình, nhóm tác giả cũng đã xây dựng được kế hoạch kinh doanh với chi phí vốn ban đầu khá thấp, đây là một lợi thế lớn giành cho các bạn thanh niên trẻ bước đầu muốn khởi nghiệp để thực hiện ước mơ của mình.q

Hồng Bắc - Hoàng Anh (Tổng hợp)

Th.S Nguyễn Thị Trang Nhung

 

Từ ngàn xưa, nước mắm đã là thức ăn của toàn dân Việt Nam, từ vua quan cho đến thứ dân. Ngày nay, nước mắm là đặc sản, nó không chỉ là một gia vị mà còn là biểu tượng, là "quốc hồn, quốc túy", biểu trưng cho nghệ thuật ẩm thực Việt Nam. Trong nhiều địa phương ven biển sản xuất nước mắm danh tiếng ở Việt Nam như Phú Quốc, Phan Thiết, Nha Trang... có Nghệ An với nước mắm Vạn Phần (Diễn Châu, Nghệ An).

"... Em về kẻ Vạn mà xem

Ruộng nương thì ít

Cá tôm thì nhiều

Xin em đừng có làm kiêu

Đất Vạn Phần vui lắm

Chỉ ba thùng nước mắm

Trẩy một chuyến kinh kỳ

Đủ ăn chơi phủ phê

Đủ quần ba áo bảy..."

Theo câu ca dao chúng ta về với làng Kẻ Vạn, xưa gọi là Vạn Phần (gọi tắt là Vạn) gắn với nghề truyền thống làm nước mắm có từ hàng trăm năm nay, trở thành một địa chỉ quen thuộc, gần gũi với nhân dân cả nước, mà trong trầm tích văn hóa, lịch sử còn ẩn chứa bao huyền thoại về thứ đặc sản rất riêng của một vùng quê "ăn sóng nói gió".

Tổng Vạn Phần xưa gồm có 44 xã, thôn giáp, vạn. Trong đó, xã Vạn Phần gồm có thôn Thọ Xuân, Vạn Trường, An Hậu, Đông Thượng, Đông Tự, Tây Thượng, Tây Kỳ(1), nay thuộc các xã Diễn Ngọc, Diễn Bích, Diễn Vạn, Diễn Kim. Nhân dân trong vùng chủ yếu làm diêm nghiệp, đánh bắt cá biển và làm nước mắm. Theo đó, nghề làm nước mắm có lịch sử từ lâu đời, từ thế kỷ XVI, XVII. Người dân trong vùng đã suy tôn cụ Phạm Kiểng - cụ Bá Hộ là những sư tổ của nghề. Để có lượng lớn cá tươi ngon, người dân mua sắm thuyền xa khơi đánh cá. Cùng với thời gian, người dân trong vùng đã xây dựng cho mình bí quyết riêng trong chế biến nước mắm mà hương vị của nó đậm đà, vàng sánh và ngon ngọt khó có thể trộn lẫn với một nơi nào khác. Họ dùng chính những con thuyền xa khơi đánh cá rong ruổi ngược xuôi đưa nước mắm quê hương đi đến các vùng đất mới. Đó chính là con thuyền trong "Câu thơ thi xã con thuyền Nghệ An" được nhà thơ Cao Bá Quát nhắc đến. Rồi "Làng Vạn nước mắm ngon ghê/ Sông Bùng tắm mát, nốc nghề cá tôm..", là cảm nhận của người dân tứ phương và được lưu truyền từ đời này qua đời khác.

Trong Đại Nam nhất thống chí, tập 2 của Quốc sử quán triều Nguyễn có nhắc đến nhiều đặc sản của các vùng miền như rươi, hàu... và có khẳng định về nước mắm thì ở "Vạn Phần là ngon hơn cả". Phải chăng vì thế, nó được đứng trong danh mục những đặc sản "tiến vua" dưới thời Tự Đức (1848-1883).

Trải qua thăng trầm của lịch sử, vùng đất có nhiều sự đổi thay, biển lùi, làng được bồi đắp không còn nằm ven biển nữa mà cách vài cây số, nhưng nghề làm nước mắm vẫn được lưu truyền mãi tận ngày nay. Có thể nói người dân của 2 xã Diễn Ngọc, Diễn Bích đã góp phần tích cực trong việc lưu truyền và phát triển nghề làm nước mắm truyền thống Kẻ Vạn xưa. Tháng 12 năm 1947, trong bối cảnh đẩy mạnh xây dựng hậu phương Nghệ An vững mạnh, chung tay góp sức chi viện cho chiến trường chống thực dân Pháp, thì tại xóm Hải Lý (Diễn Ngọc), Trạm hải sản Diễn Châu (tiền thân của Công ty Cổ phần Thủy sản Vạn Phần Diễn Châu) được thành lập, kế thừa quy trình làm nước mắm cổ truyền của cha ông xưa, hoàn thành nhiệm vụ được giao là tổ chức kinh tài của Huyện ủy Diễn Châu, thu mua, chế biến thủy sản đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân và phục vụ kháng chiến. Đến năm 1950, cùng với cả nước thực hiện Sắc lệnh số 20/SL "Quyết định tổng động viên nhân lực, vật lực tài lực của toàn thể nhân dân để tiến tới tổng phản công", huyện Diễn Châu cho củng cố và mở rộng Trạm hải sản Diễn Châu đến bên bờ Lạch Vạn, làm nhiệm vụ thu mua, chế biến cá, cung cấp ngư lưới cụ cho ngư dân.

Những năm 1954 -1968, hoạt động của Trạm tiếp tục được tăng cường đóng góp phần đáng kể trong việc cùng nhân dân Nghệ An khôi phục phát triển kinh tế, thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất và chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ. Tháng 1/1969, lãnh đạo tỉnh họp bàn về vấn đề phát triển nghề cá và kinh tế vùng biển, chủ trương tích cực khai thác thế mạnh về biển, phát triển đánh bắt, chế biến cá, tôm và làm muối(2). Nhờ vậy, nghề đánh bắt và chế biến hải sản trên địa bàn tỉnh nói chung, Trạm hải sản Diễn Châu nói riêng được củng cố và phát triển. Tuy nhiên, cũng trong khoảng thời gian từ cuối năm 1968 đến đầu năm 1969, đế quốc Mỹ mặc dù tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc nhưng vẫn cho tàu chiến tiến hành các hoạt động tuần tiễu, trinh sát đường biển, đe dọa công việc làm ăn của nhân dân thuộc vùng Quân khu IV. Trạm hải sản Diễn Châu buộc phải sơ tán lên xã Nhân Thành (Yên Thành), vừa sản xuất, vừa chiến đấu, góp phần cùng quân dân Nghệ An đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ.

Sau khi Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (27/1/1973), đáp ứng yêu cầu khôi phục kinh tế sau chiến tranh, Trạm hải sản Diễn Châu được chuyển về địa điểm hiện nay ở xã Diễn Ngọc. Đồng thời, Ủy ban Hành chính huyện Diễn Châu ban hành Quyết định số 44VP/UB ngày 2/10/1973, giao cho Trạm 29.760m2 đất để xây dựng văn phòng trụ sở và khu vực sản xuất chế biến nước mắm.

Từ năm 1976-1983, Trạm thuộc sự quản lý của Công ty Thủy sản Nghệ Tĩnh. Cuối năm 1983, theo chủ trương tăng cường cấp huyện, Trạm được chuyển lại cho huyện quản lý. Theo Quyết định số 913 QĐ/UB ngày 11/7/1983 của UBND huyện Diễn Châu, Trạm được nâng cấp thành Xí nghiệp Hải sản Diễn Châu, việc sản xuất chủ yếu theo kế hoạch hóa.

 Đến năm 1987, Nhà nước xóa bỏ chế độ bao cấp chuyển sang hoạch toán kinh doanh. Theo Quyết định số 820 QĐ/UB ngày 26/5/1987 của UBND tỉnh Nghệ An, Xí nghiệp được chuyển thành Công ty Thủy sản Diễn Châu. Buổi đầu với biết bao khó khăn thử thách, sản lượng nước mắm từ chỗ đạt trên 1 triệu lít hạ xuống chỉ còn 830 ngàn lít, kéo theo nhiều khó khăn về thu nhập và đời sống của cán bộ, công nhân viên. Khắc phục khó khăn đó, Trạm xếp đặt lại sản xuất, tăng cường thu mua nguyên liệu, đồng thời, bố trí mảng bán buôn, bán lẻ như: mắm tôm, nước mắm trong huyện và ngoài huyện. Tình hình được cải thiện ngày một tốt hơn.

Cuối năm 1992, Công ty là một Doanh nghiệp Nhà nước, có tên gọi Công ty dịch vụ Thủy sản Diễn Châu, theo Quyết định số 2029/ QĐ-UB ngày 14/11/1992 trực thuộc Sở Thủy sản Nghệ An quản lý. Điều kiện hoạt động của Công ty ngày càng tốt hơn, doanh thu cũng từ đó mà tăng lên, đời sống của cán bộ công nhân viên trong công ty được cải thiện rõ rệt.

Đến năm 2000, do yêu cầu của cơ chế thị trường và điều kiện hoạt động, Công ty được cổ phần hóa, đổi tên thành Công ty Cổ phần Thuỷ sản Diễn Châu theo Quyết định số 03/2000/QĐ-UB ngày 03/01/2000 của UBND tỉnh Nghệ An. Từ tháng 12/2006, tên gọi chính thức của công ty là Công ty Cổ phần Thuỷ sản Vạn Phần Diễn Châu.

Từ năm 2006 đến nay, Công ty đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách về vốn, nhân lực, cơ sở vật chất, áp lực từ cơ chế thị trường... Tuy nhiên, tập thể lãnh đạo từ chi ủy, chi bộ, hội đồng quản trị đến từng cán bộ đảng viên, cổ đông đứng đầu là Thạc sỹ kinh tế Võ Văn Đại, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Công ty, đã biết khai thác thế mạnh về điều kiện địa lý tự nhiên, đoàn kết, đồng lòng cùng nhau xây dựng đơn vị và thương hiệu nước mắm Vạn Phần.

"Gió mưa, bão bùng dâng sóng lớn/ Cuối dòng, mặt biển cá nhảy trôi"(3). Đó chính là các loại cá nục, cá cơm, cá trích... tươi ngon, nhiều chất đạm, là thế mạnh nổi trội của vùng biển Nghệ An được Công ty thu mua. Theo số liệu thống kê, mỗi năm công ty thu mua chế biến gần 2000 tấn nguyên liệu ở xung quanh vùng vịnh Diễn Châu, vừa tạo điều kiện cho bà con ngư dân nâng cao hiệu quả khai thác thủy sản, đa dạng sản phẩm và tạo thêm nhiều việc làm cho bà con địa phương Diễn Châu, Quỳnh Lưu. Cá được đưa về muối trong các thùng gỗ vàng tâm có sức chứa cả chục tấn kết hợp phương pháp chế biến nước mắm cổ truyền, 5 đấu cá, 1 đấu muối, ngâm ủ từ 10-12 tháng. Sau một thời gian ủ và chăm sóc, cá chuyển thành chượp ngấu, chín tự nhiên theo phương pháp kéo rút cổ truyền. Khi được hạ thổ chôn dưới đất từ 2-3 năm thì có nước mắm hạ thổ từ 32 độ đạm trở lên.

Thêm vào đó, điều kiện thời tiết, khí hậu nắng nóng chịu ảnh hưởng của gió Phơn Tây Nam khô nóng (gió Lào) trong khoảng thời gian từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 9, cao điểm là tháng 6,7 đã tạo điều kiện cho quá trình phân giải hoàn toàn từ đạm của cá thành các axít amin một cách nhanh chóng, trọn vẹn.

Trong quá trình sản xuất, Công ty tuân thủ chặt chẽ quy trình quản lý chất lượng sản phẩm từ khâu lựa chọn nguyên liệu cho đến quá trình tổ chức sản xuất, chế biến theo phương pháp truyền thống (ủ chượp, gài nén), không sử dụng chất bảo quản, phụ gia.

Chiến lược xây dựng thương hiệu sản phẩm của công ty song hành cùng với quá trình công ty liên tục cập nhật, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào trong quy trình sản xuất. Đã áp dụng thành công Hệ thống quản lý chất lượng an toàn thực phẩm ISO 22.000 : 2005 và HACCP vào sản xuất; ứng dụng 4 đề tài khoa học công nghệ, góp phần nâng cao quy trình sản xuất nước mắm an toàn, sạch, bảo vệ môi trường, tiết kiệm chi phí, nhờ vậy giảm giá thành trên từng dòng sản phẩm. Năm 2000, khi mới thành lập, tập thể lãnh đạo, cán bộ công ty đã quyết định giành phần kinh phí ít ỏi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh. Năm 2009, Công ty đầu tư 1.720 triệu đồng (trong đó có 70 triệu đồng được hỗ trợ từ nguồn khuyến công Quốc gia) để mua sắm trang thiết bị thí nghiệm, kiểm định chất lượng sản phẩm. Đến năm 2017, Công ty đã đầu tư cơ sở hạ tầng với tổng giá trị trên 8 tỷ đồng phục vụ cho sản xuất.

Công ty ngày càng khẳng định thương hiệu và nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường: Năm 2004, Công ty được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cấp Giấy chứng nhận đăng ký thương hiệu hàng hóa số 56727, theo Quyết định A5824/QĐ-DK. Tổng Cục Đo lường chất lượng Việt Nam cấp mã số mã vạch 89350520 theo quy định của Hiệp hội vạch quốc tế cho các sản phẩm của Công ty. Năm 2014, sản phẩm được tặng Huy chương Vàng hàng Việt Nam chất lượng cao, được Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam tặng Giải cầu vàng hàng Việt Nam chất lượng cao, Top 300 sản phẩm hàng đầu Việt Nam do người tiêu dùng bình chọn. Năm 2015 là sản phẩm duy nhất của Nghệ An lọt vào Top 100 sản phẩm được Bộ Công thương công nhận và tôn vinh là Sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp Quốc gia năm 2015. Hai lần, năm 2011 và 2015 được Thủ tướng Chính phủ và Bộ Khoa học và Công nghệ tặng Giải bạc Giải thưởng chất lượng quốc gia. Đặc biệt đáng tự hào là năm 2016, Công ty vinh dự là thành viên đầu tiên được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận Nhãn hiệu chứng nhận "Nước mắm Vạn Phần".

Đáp ứng nhu cầu ẩm thực của người dân, Công ty cho ra đời những dòng sản phẩm mới như: nước mắm nguyên chất (tức nước mắm hạ thổ) sau khi chế biến đóng chai sẽ được chôn dưới đất khoảng 2-3 năm để gia tăng vị béo và độ thơm ngon; nước mắm cao đạm; nước mắm nhỉ (tức những giọt nước nắm đầu tiên đã đến thời gian chín "nhỉ" ra từ lỗ nùi (lỗ thông)). Nhờ vậy, nước mắm Vạn Phần ngày càng đứng vững trên thị trường không chỉ trong nước mà vươn ra thị trường quốc tế, như: Malaixia, Nga, Úc, Hàn Quốc, Lào, Ăng Gô La...

Với tiêu chí "Vạn Phần đưa lợi ích đến với Vạn Nhà", Công ty không ngừng ứng dụng tiến bộ KHCN, đổi mới, tiết kiệm chi phí để giảm giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã và phương pháp phục vụ khách hàng, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nước mắm Vạn Phần trên thị trường. Vì vậy, doanh thu Công ty năm 2017, đã tăng trưởng gấp gần chục lần lúc mới cổ phần hóa năm 2000 và nộp ngân sách trên 15 tỷ đồng cho Nhà nước,18 tỷ đồng bảo hiểm các loại cho người lao động.

70 năm (1947-2017) xây dựng và phát triển của Công ty Cổ phần Thuỷ sản Vạn Phần Diễn Châu, một chặng đường dài gắn kết với nhiều dấu ấn nổi trội mà Công ty đã đóng góp cho quê hương và cho chính ngành thủy sản Nghệ An. Công ty đã hai lần được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba, là phần thưởng cao quý với nhiều thế hệ cán bộ, công nhân và người dân ngày đêm lao động miệt mài đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nhân dân, phục vụ kháng kiến, cống hiến cho sự nghiệp ngành thủy sản Nghệ An nói riêng, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung. Truyền thống của Công ty là dòng chảy xuyên suốt từ nước mắm làng Kẻ Vạn xưa và sẽ phát huy, ghi thêm những thành tích mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tiếp tục có nhiều đóng góp thiết thực hơn nữa cho quê hương, đất nước.

 

Chú thích

1. Theo Dương Thị The, Phạm Thị Thoa, Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra), HN, KHXH, 1981, tr.105.

2. Lịch sử Nghệ An, tập 2, Nxb CTQG, 2012, tr. 426.

3. Bài thơ Vạn Phần cửa biển in trong tập thơ của tiến sỹ Dương Thúc Hạp, Nghệ Tĩnh sơn thủy vịnh.

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.