« Quay lại

Chuyên san Khoa học xã hội &nhân văn số 1 và 2 năm 2018

TS. Lê Đức Hoàng

1. Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một biểu hiện sinh động trong hành trình thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, ý chí thống nhất Tổ quốc của nhân dân cả nước không bao giờ lay chuyển"(1) và "Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!"(2). Đồng thời, đây là một mắt xích quan trọng tiếp nối những chiến công oanh liệt vào dịp mùa xuân trong hành trình đánh giặc, giữ nước của dân tộc Việt Nam. Từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào mùa Xuân năm 40 đến khởi nghĩa của Lý Bí, thành lập nhà nước Vạn Xuân vào Xuân năm 544; tới các cuộc tiến công vào mùa Xuân năm 938, 981, 1077, 1258; đặc biệt là cuộc tiến công Tết Kỷ Dậu 1789 dưới sự lãnh đạo của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ - Quang Trung đánh thắng 20 vạn quân Thanh. Đến sự kiện Xuân Mậu Thân 1968 là bước tiếp nối truyền thống, nhưng được phát triển trong điều kiện mới, kết hợp cả tấn công và nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, để rồi sau đó 7 năm, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng kết thúc bằng Đại thắng mùa Xuân 1975. 

Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tuy không đạt được đầy đủ mục tiêu đặt ra và lực lượng của ta bị tổn thất nhiều(3); dù còn nhiều vấn đề cần rút kinh nghiệm, nhất là về phương diện chiến lược quân sự, nhưng đã đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của cách mạng miền Nam. Có thể coi đây là cuộc tập dượt lớn cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam sau đó, bởi vì từ tiếng súng mở màn Tết Mậu Thân 1968, các đợt tổng tiến công và nổi dậy tiếp theo trong năm 1968 làm cho chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ bị phá sản, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Pari từ năm 1968(4).

2. Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 "gây chấn động dữ dội trong dư luận không chỉ ở nước Mỹ mà trên toàn thế giới"(5). Nó tác động trực tiếp đến suy nghĩ và hành động của giới quan chức, quân sự Mỹ, đưa nước Mỹ vào tình trạng "khủng hoảng niềm tin" sau Tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải điều chỉnh một số chính sách trong quan hệ quốc tế.

Sự kiện Mậu Thân 1968 đã cuốn hút nhiều học giả, nhà sử học trên thế giới nghiên cứu, lý giải các góc cạnh; từng là chủ đề nóng của báo chí và dư luận quốc tế, để lại dư âm từ mấy chục năm nay trong tâm tưởng những người trực tiếp tham chiến và nhiều người khác. Đặc biệt, từ việc chăm chú theo dõi sự kiện, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới càng khâm phục ý chí chiến đấu và ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam; tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh đòi Mỹ kết thúc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Nhà bình luận Mỹ B.Ridgway ví cuộc tấn công Tết Mậu Thân với trận Waterloo năm 1815; có người lại so sánh với sự bất ngờ trận Trân Châu Cảng năm 1941. Nhà báo Mỹ D.Oberdoifer (người chứng kiến những ngày Tết Mậu Thân) viết trong tác phẩm "Tết" rằng: "Tầm quan trọng đầy đủ về Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 đang nằm ngoài tầm nhận thức của chúng ta" và "đây là một sự kiện có tính chất bước ngoặt lớn của thời đại chúng ta"(6). Nhà sử học Mỹ G. Kolko nêu trong tác phẩm Giải phẫu một cuộc chiến tranh (xuất bản năm 1985): "Với Mậu Thân 1968, Việt Nam trở thành cuộc chiến tranh ngoài nước đầu tiên của Mỹ kể từ năm 1882, gây ra cuộc khủng hoảng xã hội, nội bộ sâu sắc và một cuộc phân hóa về chính trị". Còn cựu Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn là M.Taylor thì cho biết: Sự kiện ngày 31-1-1968 và những trận tiến công của quân giải phóng Việt Nam được báo chí Mỹ tường thuật dưới dạng những hàng tít lớn chiếu trên màn ảnh vô tuyến truyền hình làm cho phần lớn dân chúng Mỹ và một số quan chức Mỹ kinh hoàng, phải rất lâu họ mới hoàn hồn và trong một số trường hợp, sự hoàn hồn đó không bao giờ được khôi phục trở lại. Những bất ngờ thực sự mà cuộc tiến công Tết Mậu Thân 1968 không phải là việc đối phương mở cuộc tiến công lớn mà là mở một lúc nhiều trận tiến công mãnh liệt(7). Ngay cả những người từng ủng hộ chính sách chiến tranh của Tổng thống B. Johnson cũng thừa nhận: "Cuộc tiến công Tết 1968 cho thấy số 50 vạn quân Mỹ là vô cùng thiếu, không thể nào đánh đuổi và khuất phục nổi Việt cộng"(8). Ngày 26/3/1968, nhóm cố vấn cấp cao của Tổng thống Mỹ đưa ra lời cảnh báo: "Mỹ buộc phải bắt đầu có biện pháp rút lui". Sau khi Bộ trưởng Quốc phòng R.Mc. Namara từ chức ngày 29/2/1968, người thay thế là Clark Clifford cũng cho rằng, cuộc chiến ở Việt Nam "như một cái thùng không đáy" và "dù Mỹ có gửi bao nhiêu quân sang thì đối phương vẫn có thể đáp trả"(9).

Truyền thông ở Mỹ, kể cả giới quân sự, chính trị và một số học giả Mỹ mất nhiều công sức để lý giải về ảnh hưởng, sự bí mật, bất ngờ của sự kiện Tết Mậu Thân. Báo chí tô đậm sự kiện này và sự phản ứng không đúng lúc của giới quân sự Mỹ cùng phong trào phản đối chiến tranh bùng lên dữ dội trong lòng nước Mỹ(10). Bởi vậy, từ năm 1968, Tết vốn dĩ là một phong tục cổ truyền ở Việt Nam (và một số nước châu Á) đã trở thành danh từ riêng mang ý nghĩa khác nhau trong ký ức người Mỹ, nhất là đối với những người trực tiếp tham chiến. Từ đó, Tết trở thành nỗi ám ảnh, bàng hoàng đối với nhiều lãnh đạo cấp cao và quân lính Mỹ, ngụy. Sự kiện Tết Mậu Thân đã "cho Mỹ một cú choáng đột ngột, làm đảo lộn thế bố trí, phá vỡ kế hoạch tác chiến; đưa cảnh tượng chiến tranh vào mỗi gia đình Mỹ, vào Quốc hội Mỹ; làm cho người dân nhận thức được câu chuyện "chiến thắng" ở Việt Nam mà Lầu năm góc tung tin đều là giả dối"(11).

Trong "cơn ác mộng" hậu Mậu Thân, tình hình nước Mỹ trở nên hỗn loạn chưa từng có trong lịch sử. Nhân dân Mỹ ở nhiều nơi dấy lên phong trào chống chiến tranh xâm lược Việt Nam, biểu tình đòi chính quyền Mỹ rút quân đội về nước. Ngọn lửa phản chiến bùng lên dữ dội, trở thành một cuộc đối đầu giữa chính quyền và nhân dân Mỹ. Điển hình là cuộc biểu tình của người dân Mỹ tại San Francisco bang California và cuộc biểu tình của sinh viên Trường Đại học Kent State tại bang Ohio. Một cựu phóng viên tờ tin tức Washington kể rằng: Cuộc tấn công Mậu Thân cho người dân Mỹ thấy một sự thật là cuộc chiến này không có chiều hướng dịu đi, người ta bắt đầu chú ý nhiều đến nó. Những người Mỹ tình nguyện đi lính bắt đầu phản đối chiến tranh, kể cả với người đang ở Việt Nam. Họ viết thư về nhà, công khai phản đối chiến tranh. Thế là có sự dịch chuyển, thay đổi thái độ sang việc phản đối chiến tranh, cứ lớn dần, lớn dần lên. Diễn viên Dick Hughes là một trong 16 triệu thanh niên Mỹ đốt thẻ và chống lệnh quân dịch kể về ám ảnh của Mậu Thân 1968: Cuộc chiến tranh này luôn ám ảnh trong tâm trí tôi. Trên tivi, chúng tôi luôn nhìn thấy những trận đánh, những xác người chết và những gì đang diễn ra thật khủng khiếp tại Việt Nam. Tôi quyết định mình phải làm một điều gì đó cho Việt Nam. Thế là tôi đến Việt Nam làm công tác xã hội(12).

Trên phạm vi toàn cầu, Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân tác động, làm phá sản chiến lược quân sự "phản ứng linh hoạt" của Mỹ, làm cho những người cầm quyền, kể cả giới quân sự Mỹ phải thừa nhận Mỹ có thể bị thua trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Sự thất bại nặng nề liên tiếp ở Việt Nam và nhiều nơi khác, làm cho lực lượng và địa vị của Mỹ bị suy giảm nghiêm trọng. Năm 1969, R.Nixon lên làm Tổng thống trong hoàn cảnh khó khăn, đen tối chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ. Trước tình thế đó, R.Nixon đưa ra học thuyết mới nhằm điều chỉnh lại "chiến lược" để tiếp tục mưu đồ bá chủ thế giới, giữ vững vị trí, quyền lợi của mình. Trong đó, chủ trương "sẵn sàng thương lượng" nếu thấy có lợi cho Mỹ và nhằm chia rẽ, khiêu khích các nước XHCN, các lực lượng cách mạng thế giới. Có thể nói, học thuyết R.Nixon ra đời là một bước lùi và biểu hiện của thế bị động so với "chủ nghĩa Truman" và "chiến lược Kennedy", muốn thương lượng với Việt Nam nhưng trên thế mạnh và với điều kiện có lợi cho Mỹ(13). Vì thế, như cách nói của người Mỹ thì mặc dù "sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam là cuộc chiến tranh được đưa tin nhiều nhất trong lịch sử", nhưng những người hoạch định chính sách, tướng lĩnh, nhà sử học, nhà văn, nhà báo... của Mỹ vẫn dày công nghiên cứu, viết nhiều về sự kiện Tết Mậu Thân theo hướng ngày càng đi tới sự thừa nhận thất bại của Mỹ ở Việt Nam(14)

Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 được hệ thống báo chí nhiều nước vào cuộc, đưa thông tin lan tỏa nhanh chóng khắp thế giới, thu hút sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ. Tờ Tin tức Washington, rồi Thời báo New York, hãng thông tấn Reuters của Anh, Tờ Le Monde (Thế giới) của Pháp... đều bình luận về sức mạnh của cách mạng Việt Nam và sự yếu thế của đế quốc Mỹ trong sự kiện Mậu Thân 1968. Còn tờ Le Figaro của Pháp ngày 2-2-1968 thì ca ngợi: Cuộc tiến công lừng danh của Việt cộng cho ta thấy tài tình của những người chỉ huy trong hướng dẫn cuộc chiến tranh vừa quân sự vừa chính trị này. Về mặt đối nội, họ vừa thu được một thắng lợi lớn; họ chứng tỏ cho nhân dân Việt Nam thấy rằng họ có thể đánh bất cứ nơi nào và lúc nào(15).

Nhiều báo của các tổ chức đảng cộng sản và công nhân ở các nước tư bản đều tỏ thái độ khâm phục đối với cuộc chiến đấu chống Mỹ của nhân dân ta qua sự kiện Tết Mậu Thân. Các nước trong phe xã hội chủ nghĩa lúc đó luôn bày tỏ vui mừng cho nhân dân Việt Nam. Hầu như báo chí các nước XHCN trong ngày 31-1-1968 và ngày 1-2-1968 đều đăng bài biểu lộ hân hoan trước thắng lợi của Việt Nam. Trong đó, tờ Diễn đàn nhân dân Ba Lan có đoạn viết: "Các trận đánh táo bạo được chuẩn bị tốt của những người yêu nước miền Nam Việt Nam là sự phát triển của các cuộc tiến công trên quy mô rộng lớn mà Quân giải phóng đã mở đầu trong tháng Giêng năm nay vào những lúc, ở những nơi và với hình thức mà họ lựa chọn. Quân giải phóng trên thực tế đã trói chân, khóa tay tất cả các lực lượng chiến đấu của quân thù trong khắp các tỉnh"(16).

3. Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định, nếu không có Mậu Thân 1968, sẽ không có đàm phán tại Pari để đi đến ký kết hiệp định đình chiến năm 1973 và kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vào Xuân 1975. Như Bộ Chính trị đánh giá về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968: "Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh, đánh dấu sự thất bại của chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược phòng ngự trên toàn chiến trường, phải ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pari, chấm dứt ném bom không điều kiện, chủ trương phi Mỹ hoá chiến tranh, mở đầu thời kỳ xuống thang chiến tranh(17)..

Thực ra, từ ngày 28-12-1967, cuộc họp Bộ Chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì đã thông qua kế hoạch chiến lược năm 1968. Chủ trương của Đảng ta giai đoạn này là "phải mở đường cho địch đi vào thương lượng theo hướng có lợi nhất cho ta", "buộc nó phải đi đến ngồi với ta, thương lượng với ta"; xác định rõ, "chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị khi mà chúng ta giành được trên chiến trường", "đi đôi với đấu tranh quân sự và chính trị ở miền Nam, ta cần tiến công địch về mặt ngoại giao, phối hợp với hai mặt đấu tranh đó để giành thắng lợi to lớn hơn nữa", "đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao"(18).

Một mặt chúng ta vẫn tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc; mặt khác vẫn kiên quyết giữ vững đường lối độc lập, tự chủ. Nếu như trước 1966, lập trường của ta là yêu cầu Mỹ phải rút quân ra khỏi miền Nam, chấm dứt mọi hành động chống phá miền Bắc trước khi có bất cứ cuộc nói chuyện nào giữa hai bên, thì từ Hội nghị Trung ương lần thứ 13, Ðảng ta chủ trương hé mở khả năng phía Việt Nam sẽ đi vào đàm phán nếu Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc, chứ chưa bao gồm điều kiện Mỹ phải rút hết quân ra khỏi miền Nam như trước đây yêu cầu (19). Thế nhưng, phía Mỹ vẫn kiên quyết đưa ra điều kiện buộc ta phải công khai cam kết không lợi dụng việc Mỹ ngừng ném bom để chi viện cho miền Nam. Trong thư của Tổng thống Mỹ Johnson gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 8-2-1967 đã thể hiện rõ sự ngoan cố của Mỹ.

Chúng ta muốn hòa bình, muốn đàm phán nhưng không thể ảo tưởng đàm phán trong thế yếu mà chỉ có thể đàm phán ở thế thượng phong, áp đảo về quân sự. Cuộc tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 chính là một đòn chiến lược, tạo sức ép trên mặt trận ngoại giao với Mỹ. Đông đảo tầng lớp xã hội Mỹ, kể cả quan chức cấp cao, các nghị sĩ, tập đoàn tài phiệt đầy thế lực đều phải thay đổi quan điểm, không còn hậu thuẫn cho chính sách chiến tranh của Johnson nữa. Thất bại về quân sự cộng thêm ảnh hưởng dư luận quốc tế và sức ép phong trào đấu tranh đòi hòa bình, phản đối chiến tranh cùng với các yếu tố khác đã tác động lớn đến thái độ của Mỹ và diễn biến hoạt động ngoại giao. Điều này thúc đẩy Tổng thống Mỹ Johnson phải công khai tuyên bố đơn phương chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc (từ vĩ tuyến 20 trở ra), sẵn sàng cử đại diện đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; quyết định rút dần quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Theo đó, ngày 13-5-1968, cuộc thương lượng chính thức hai bên - đại diện Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và đại diện Chính phủ Hoa Kỳ họp phiên đầu tiên tại Thủ đô Pari của nước Pháp. Trong năm 1968, diễn ra nhiều phiên họp nhưng chưa giải quyết được vấn đề quan trọng. Sau đó, đấu tranh ngoại giao giữa ta với Mỹ chủ yếu xoay quanh vấn đề hình thức và thành phần Hội nghị Pari; cuối cùng đi đến hình thức hội nghị bốn bên giữa Việt Nam DCCH, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (sau đó là Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam), Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hòa (chính quyền Sài Gòn).

Ngày 8-6-1969, Tổng thống R.Nixon tuyên bố rút quân đợt đầu tiên gồm 25 nghìn quân ra khỏi miền Nam Việt Nam thì ngày 10-6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam quyết định đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Pari nay trở thành đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, do bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao làm Trưởng đoàn. Ngày 4-8-1969, tiến sĩ Henry Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia đã bí mật gặp Bộ trưởng Xuân Thủy lần đầu ở Pari. Ngày 25-8-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời thư của Tổng thống Mỹ Nixon, trong đó nêu rõ: "Ngài bày tỏ lòng mong muốn hành động cho một nền hoà bình công bằng. Muốn vậy, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và của dân tộc Việt Nam, không có sự can thiệp của nước ngoài. Đó là cách đúng đắn để giải quyết vấn đề Việt Nam phù hợp với quyền dân tộc của nhân dân Việt Nam, với lợi ích của nước Mỹ và nguyện vọng hoà bình của nhân dân thế giới. Đó là con đường để Mỹ rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự"(20).

Trong gần 5 năm (mở đầu ngày 13-5-1968 và kết thúc ngày 27-1-1973) diễn ra nhiều hoạt động, với 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1000 cuộc phỏng vấn, hàng trăm cuộc mít tinh ủng hộ Việt Nam. Ngày 27-1-1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam chính thức ký kết, tạo điều kiện hiện thực hóa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Vì độc lập, vì tự do. Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào"(21). Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước thống nhất đi lên xây dựng CNXH chính là thực tiễn sinh động về tư tưởng ấy của Người.

Chú thích

1. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. CTQG, HN, 2011, Tập 13, tr.245.

2. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. CTQG, HN, 2011, Tập 4, tr.280.

3. Trương Hữu Quýnh và các tác giả: Lịch sử Việt Nam toàn tập, Nxb. GD, HN, 2005, tr.1036.

4. Vũ Như Khôi cùng nhiều tác giả: Chiến dịch Hồ Chí Minh Xuân 1975 - sự hội tụ chín muồi chiến lược quân sự cách mạng, Nxb. CTQG, HN, 2005, tr.171-172.

5. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân - 1968, Nxb. QĐND, HN, 1998, tr.361.

6. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân - 1968, Nxb. QĐND, HN, 1998, tr.8.

7. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân - 1968, Nxb. QĐND, HN, 1998, tr.361-362.

8. Don Oberdorfer: Tết, (trích dịch), Nxb. An Giang, 1988, tr.163.

9. Neil Sheehan: Lời nói dối hào nhoáng, Nxb. TP.HCM, 1990, tr.429.

10. Hồ Khang: Tết Mậu Thân 1968 tại miền Nam Việt Nam, Nxb. QĐND, 1998, tr.128.

11. Võ Nguyên Giáp: Tết Mậu Thân - trận quyết chiến chiến lược lịch sử, In trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân - 1968, Nxb. QĐND, HN, 1998, tr.33.

12. Theo Lê Phong Lan: Mậu Thân 1968 - 45 năm nhìn lại, Báo điện tử Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh.

13. Nguyễn Anh Thái (chủ biên): Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb. GD, HN, 2007,  tr.243-244.

14. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân - 1968, Nxb. QĐND, HN, 1998, tr.9.

15. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân - 1968, Nxb. QĐND, HN, 1998, tr.365.

16. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân - 1968, Nxb. QĐND, HN, 1998, tr.366.

17. Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 21, khoá III.

18. Nghị quyết hội nghị BCH Trung ương lần thứ 13 khóa III, tháng 1/1967.

19. Văn kiện Ðảng toàn tập, tập 29, Sđd, tr.23.

20. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. CTQG, HN, 2011, Tập 15, tr.603.

21. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. CTQG, HN, 2011, Tập 15, tr.

Đ/c Huỳnh Thanh Điền

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Phổ biến khoa học kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (5/1963), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định "Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi,…" và đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ "phải ra sức đem hiểu biết khoa học, kỹ thuật của mình truyền bá rộng rãi trong nhân dân lao động". Khoa học và công nghệ có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, là yếu tố có tính quyết định đối với sự thành công và phát triển, thực tiễn thế giới, ở Việt nam và ở tỉnh ta đã khẳng định điều đó.

Xác định KH&CN là một ngành trọng tâm, ngày 14/12/2016 BCH Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết 06-NQ/TU ngày 14/12/2016 về phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025, trong đó xác định các nhiệm vụ chiến lược phát triển KH&CN trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Với việc ban hành Nghị quyết riêng cho lĩnh vực KH&CN, thể hiện sự quan tâm của tỉnh trong lĩnh vực này.

Trong thời gian vừa qua, lĩnh vực KH&CN đã có bước phát triển mạnh, đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, cụ thể:

* Hoạt động nghiên cứu khoa học đã cung cấp luận cứ khoa học, thực tiễn cho chiến lược và chính sách phát triển của tỉnh, thay đổi nhận thức, phương pháp tiếp cận mang tính chuyên nghiệp hơn, chất lượng hơn, có tính lâu dài hơn, có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội như: Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 - 2020 và tầm nhìn đến 2030; đề tài huy động nguồn lực người xứ nghệ ở trong và ngoài nước đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An; đề tài giải pháp thu hút, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ phát triển kinh tế xã hội tỉnh; đề tài định hướng và giải pháp chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu kinh tế tỉnh Nghệ An đến năm 2020, tầm nhìn 2030…

* Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, KH&CN là động lực giữ vai trò đặt biệt quan trọng trong tăng trưởng. Ứng dụng một số tiến bộ KH&CN mới góp phần tạo ra một số sản phẩm hàng hóa nhất là trong nông, lâm nghiệp và thủy sản như: giống cây, con, công nghệ sản xuất trà hòa tan và viên nang cứng từ trà hoa vàng; đồ uống chức năng dạng bột hòa tan và dạng lỏng từ cây diếp cá; trà túi lọc từ cây dược liệu cà gai leo và dây thìa canh; tỏi đen được sản xuất từ công nghệ lên men tự động; sản phẩm trám muối và trám sấy đóng lọ không sử dụng chất phụ gia thực phẩm từ quả trám đen Thanh Chương; tinh dầu chiết xuất từ dược liệu địa phương như sả, quế, màng tang, bạc hà. Xây dựng được một số mô hình ứng dụng công nghệ và công nghệ cao có hiệu quả kinh tế xã hội rõ nét như: tưới nhỏ giọt trên cây ăn quả và mía; thâm canh lúa nước sử dụng phân viên nén dúi sâu; giải pháp bón phân đạm hợp lý cho lúa với 1 ha giảm 40kg đạm tiết kiệm ngân sách hàng tỉ đồng với tổng diện tích lúa canh tác khoảng 200.000 ha.

* Các kết quả nghiên cứu khoa học đã được đưa vào chính sách hỗ trợ nông nghiệp và mang lại hiệu quả như: chế phẩm vi sinh vật phân hủy tồn dư thuốc BVTV trong đất trồng rau Biogreen, Chế phẩm compost maker sản xuất phân vi sinh từ phế phụ phẩm nông nghiệp; dùng chế phẩm sinh học sản xuất thức ăn gia súc từ cây ngô, cây sắn; sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi hạn chế ô nhiễm môi trường.

* Chương trình bảo tồn quỹ gen, phát triển tài sản trí tuệ được triển khai theo hướng mới trong sản xuất sản phẩm đặc thù thành sản phẩm hàng hóa: bò u đầu rìu, trâu Thanh Chương, gà đồi Thanh chương; Bò Mông; cây Mú tần, sâm Puxailaileng, đẳng sâm, trà hoa vàng, bảy lá một hoa, lan kim tuyến, lạc sen, lạc cúc, gạo Mường Nọc Quế Phong, hương trầm Quỳ châu, nước mắm Vạn phần, trám đen Thanh Chương; rượu nếp Nghi đức, Bánh đa, kẹo lạc Vĩnh Đức, nước mắm Hải Giang 1, Tương Nam Đàn, Mực khô Quỳnh lưu, Tôm nõn Diễn Châu, Cá thu nướng Cửa Lò ... góp phần tăng giá trị của hàng hóa.

* Trong lĩnh vực y tế đã ứng dụng thành công nhiều công nghệ, kỹ thuật mới, hiện đại, nâng tỉ lệ những ca điều trị thành công lên cao hơn, giảm đau đớn cho bệnh nhân, đồng thời, giảm chi phí và thời gian điều trị bệnh. Một số kỹ thuật cao trong khám chữa bệnh đã được đưa vào sử dụng như: mổ tim hở, ghép thận, ghép tủy hỗ trợ một số bệnh lý ung thư, phẫu thuật u phổi,... Đặc biệt, tại Bệnh viên Hữu nghị Đa khoa Nghệ An đã triển khai thành công ca thụ tinh trong ống nghiệp đầu tiên, mở ra cơ hội có con đối với những cặp vợ chồng hiếm muộn còn khó khăn, vì vừa tạo điều kiện thuận lợi, vừa giảm chi phí.

* Nghiên cứu làm sáng tỏ hơn, đồng thời bảo tồn, phát huy các gá trị văn hóa lịch sử, con người Nghệ An. Đã tư liệu hóa, văn tự hóa những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, nghiên cứu lịch sử truyền thống của địa phương, ngành như: dân ca ví dặm, ngôn ngữ văn hóa người Đan Lai, Chữ thái hệ Lai Tay, hệ Lai Pao, Lịch sử Nghệ An từ nguyên thủy đến 2005; Nghệ An toàn chí....

* Thu hút được nhiều dự án công nghệ cao, có tác động lớn đến phát triển của tỉnh như: Dự án chăn nuôi bò sữa và nhà máy sữa TH; dự án dược liệu, dự án sản xuất rau trong nhà kính công nghệ cao của tập đoàn TH; dự án sản xuất chanh leo của tập đoàn Nafoods, dự án Trung tâm công nghiệp thực phẩm Masan Miền Bắc tại Nghệ An; Nhà máy đường NASU; Nhà máy sản xuất linh kiện điện tử BSE của Hàn Quốc; Nhà máy sản xuất linh kiện điện tử Hitech; Nhà máy chế biến gỗ MDF; dự án gạch granite Công ty CP Trung Đô...

* Công tác quản lý nhà nước nhất là về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, công tác truyền thông KHCN được đẩy mạnh, góp phần nâng cao nhận thức cho xã hội, lập lại kỷ cương trên một số lĩnh vực sản xuất và lưu thông hàng hóa. Công tác tư vấn chính sách được chăm lo, đã có một số chính sách phát triển thuộc lĩnh vực KH&CN được ban hành, phát huy hiệu quả. Đặc biệt có nhiều đổi mới trong công tác thanh tra, kiểm tra và được ghi nhận với cuộc chiến chống buôn lậu, gian lận thương mại nói chung, lĩnh vực kinh doanh xăng, dầu nói riêng như: phá thành công chuyên án số 917 XD, làm rõ 2 triệu lít xăng "bẩn" góp phần làm mạnh hóa thị trường kinh doanh, bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp chân chính và lợi ích người tiêu dùng, quan trọng nhất là mang lại niềm tin cho người dân

* Bên cạnh đó, một số các hoạt động khoa học khác cũng sôi nổi không kém như: tổ chức thành công dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc cam Vinh cho các tổ chức, cá nhân, đơn vị sản xuất cam Vinh trên địa bàn tỉnh; Khai trương Điểm kết nối cung - cầu công nghệ vùng Bắc Trung bộ, đây được xem là điểm quy tụ các quy trình, công nghệ, kết quả sản phẩm liên quan đến những sản phẩm chủ lực, sản phẩm trọng điểm của khu vực Bắc Trung bộ, sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm có ưu thế cạnh tranh, sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu, các sản phẩm có nguồn gốc nội sinh phục vụ sự phát triển dân sinh, kinh tế xã hội của vùng Bắc Trung bộ và các địa bàn lân cận; Khởi công Khu thực nghiệm và ươm tạo nông nghiệp công nghệ cao tại xã Đông Hiếu, thị xã Thái Hòa. Đây được xem là khâu đột phá, tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng bền vững, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.

* Cùng với cả nước Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã chính thức được khởi động với Quyết định 2171/QĐ-UBND ngày 24/5/2017 của UBND tỉnh về việc ban hành "Kế hoạch hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2017-2020". Mục tiêu của kế hoạch nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cũng như hỗ trợ những điều kiện cần thiết để các doanh nghiệp khởi nghiệp thành công dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới.

* Việc phát huy tiềm lực KH&CN của các Viện, trường Đại học trên địa bàn tỉnh ngày càng được quan tâm hơn, việc hợp tác KH&CN với các viện, trường TW được chú trọng hơn.

Mặc dù vậy, hoạt động KH&CN vẫn còn một số mặt tồn tại, bất cập như thị trường KH&CN phát triển còn chậm; kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chưa được ứng dụng nhiều trong sản xuất, kinh doanh; chưa có nhiều sản phẩm khoa học và công nghệ được thương mại hóa, sự đóng góp trực tiếp của KHCN trong việc tạo ra sản phẩm hàng hóa chưa cao; chưa huy động được nhiều nguồn lực xã hội đầu tư cho hoạt động KH&CN; công tác quản lý nhà nước của các cấp, các ngành còn nhiều hạn chế.

Hoạt động khoa học và công nghệ luôn có tính đổi mới, tính đột phá, tính thích ứng, tính bền vững trong chiến lược; Do đó, trong thời gian tới KH&CN của tỉnh tập trung một số các trọng tâm sau:

1. Tổ chức chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TU của BCH Đảng bộ tỉnh về phát triển khoa học công nghệ tỉnh Nghệ An, góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển Nghệ An trở thành trung tâm KH&CN vùng Bắc Trung.

2. Nâng cao chất lượng các đề tài, dự án ứng dụng KH&CN góp phần nâng cao năng suất, chất lượng lao động, hiệu quả sản xuất của nền kinh tế; ưu tiên ứng dụng, phát triển công nghệ cao trong các lĩnh vực nông nghiệp, y tế, giáo dục và các lĩnh vực khác. Đánh giá nghiêm túc chất lượng của các đề tài, dự án và đưa kết quả các đề tài, dự án vào thực tiễn đời sống. Quan tâm triển khai liên kết vùng kinh tế dựa vào KH&CN, đặc biệt các vùng có lợi thế phát triển các sản phẩm nông nghiệp. Nghiên cứu bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa, lịch sử của đất và người Nghệ An và những vấn đề xã hội nhân văn phát sinh trong quá trình phát triển.

3. Phát triển thị trường KH&CN, đổi mới công nghệ và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thông qua: Hỗ trợ thương mại hóa sản phẩm KH&CN. Xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ đối với các lĩnh vực sản xuất sản phẩm chủ lực của tỉnh. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo mạnh mẽ hơn nữa. Tập trung phục vụ doanh nghiệp ứng dụng và đổi mới công nghệ. Phát triển hệ thống doanh nghiệp KH&CN. Nâng cao chất lượng hoạt động sàn giao dịch công nghệ, điểm kết nối cung cầu và các tổ chức trung gian để thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ.

4. Tăng cường công tác quản lý nhà nước, đặc biệt là nâng cao hoạt động KH&CN ở các cấp, các ngành.

5. KH&CN phải gắn với yêu cầu của hội nhập quốc tế và thích ứng với nền kinh tế trí thức; Bảo đảm tính bền vững trong hoạch định phát triển KH&CN, giao trách nhiệm cho các ngành, địa phương rõ hơn các nhiệm vụ cụ thể về KH&CN.

6. Hỗ trợ các doanh nghiệp về phát triển khoa học công nghệ, sở hữu trí tuệ, đây được xem là nhiệm vụ nòng cốt của ngành khoa học, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội của tỉnh. Phải huy động đầu tư của xã hội, chủ yếu từ doanh nghiệp, thông qua các quỹ KH&CN để có tỉ lệ đầu tư cho KH&CN cao hơn.

7. Nâng cao năng lực công tác truyền thông khoa học công nghệ nhằm tuyên truyền, phổ biến các kết quả KH&CN.

8. Phát huy tiềm lực KH&CN của các Viện, trường trên địa bàn, các nhà khoa học phục vụ cho sự phát triển KH&CN, tăng cường hợp tác về KH&CN.

Với định hướng đúng đắn về KH&CN, với nỗ lực quyết tâm của cả hệ thống chính trị, của các thành phần kinh tế, các nhà khoa học, chúng ta tin tưởng khoa học và công nghệ của tỉnh nhà trong thời gian tới sẽ có bước phát triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào sự phát triển của tỉnh Nghệ An.

 

NCS. Bùi Minh Hào

Trong gần vài thập kỷ qua, kinh tế - xã hội ở miền Tây Nghệ An đã có nhiều thay đổi theo hướng thị trường hóa. Sự phát triển của kinh tế thị trường đã tạo điều kiện để người dân tiếp cận nhanh hơn với cuộc sống hiện đại, đời sống không ngừng được nâng cao cả vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, nó cũng tác động mạnh mẽ đến nền văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số đang sinh sống trên địa bàn. Một mặt, kinh tế thị trường làm cho nhiều yếu tố văn hóa truyền thống tộc người bị mai một, mất mát. Nhưng mặt khác, nó cũng tạo ra những cơ hội để người dân phát huy các yếu tố văn hóa truyền thống trong quá trình phát triển kinh tế. Qua khảo sát sự biến đổi trong văn hóa mặc của một số nhóm người Thái ở các địa bàn khác nhau thuộc miền núi phía Tây Nghệ An, bài viết này muốn bàn thêm về những vấn đề đó.

1. Văn hóa tộc người trong bối cảnh kinh tế thị trường ở miền núi

Trong khoảng hai thập niên đầu thế kỷ XXI, vấn đề chuyển đổi kinh tế ở miền núi được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Một số nghiên cứu đã đi sâu vào các tác nhân ảnh hưởng đến quá trình phát triển ở miền núi. Trong đó phải kể đến công trình nghiên cứu của Vương Xuân Tình và các cộng sự (2014) đã đề cập đến vai trò của văn hóa tộc người trong phát triển bền vững ở vùng biên giới, lấy bối cảnh tương tác xuyên quốc gia về văn hóa, kinh tế. Các tác giả cũng đã nhấn mạnh rằng văn hóa tộc người là nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển bền vững của vùng biên giới cũng như giữ gìn an ninh quốc phòng. Một công trình quan trọng khác là cuốn sách "Những chuyển đổi kinh tế - xã hội ở vùng cao Việt Nam" (Thomas Sikor, Jenny Sowerwine, Jeff Romm và Nghiêm Phương Tuyến biên tập, 2008). Đây là tập hợp nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước, đề cập đến quá trình chuyển đổi kinh tế của các tộc người dưới tác động của chính sách đổi mới, của quá trình thương mại hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa, cũng như hệ quả mà quá trình chuyển đổi đó đem đến cho các nền văn hóa truyền thống. Khái quát về tình hình nghiên cứu phát triển miền núi Việt Nam, các tác giả cũng khẳng định rằng "chuyển đổi của vùng cao ở Việt Nam là đề tài thu hút nhiều sự quan tâm chú ý trong giới học giả. Điều này thể hiện ở số lượng ngày càng nhiều các bài báo, chuyên đề về sinh kế, thay đổi môi trường, mối quan hệ dân tộc… ở vùng cao. Tuy nhiên, có rất ít những đánh giá tổng hợp về những chuyển đổi ở vùng cao…" (tr.9).

Nhìn chung, những nghiên cứu gần đây của nhiều học giả đã đụng đến vấn đề văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế thị trường. Như nhận định của Jean Michaud (2010): "Đối với nhiều tác giả của phong trào hiện đại hóa, sớm hay muộn thì những người dân vùng cao này cũng bắt đầu hưởng thụ thành quả của quá trình phát triển kinh tế, hoặc, từ một góc độ phê phán hơn, cũng trải nghiệm "sự tỉnh ngộ của thế giới", cái làm hao mòn đặc điểm văn hóa, làm sứt mẻ các bản sắc, và trong trường hợp chúng ta quan tâm, là nó đã dần loại bỏ các hoạt động kinh tế truyền thống ra khỏi cấu hình văn hóa của họ" (tr.52). Tuy nhiên, những nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa văn hóa tộc người và kinh tế thị trường hiện tại vẫn chưa tương xứng với vai trò quan trọng của vấn đề này.

So với các vùng miền núi phía Bắc thì các dân tộc thiểu số miền Tây Nghệ An vẫn còn ít được giới khoa học quan tâm. Tuy nhiên, trong hơn nửa thế kỷ qua cũng đã có công trình nghiên cứu về các tộc người ở đây được công bố. Trước đây, nghiên cứu tập trung vào các quá trình tộc người, vào truyền thống văn hóa của các nhóm cộng đồng khác nhau. Gần đây, đã xuất hiện một số nghiên cứu về quá trình phát triển miền núi và những biến đổi về văn hóa. Có thể kể đến một số công trình sau: Từ cái nhìn về các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh mà Bùi Đình Sâm (2013) đã phân tích vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Nghiên cứu này đã phân tích được thực trạng cũng như đưa ra một số đề xuất về các hướng đi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa dành nhiều sự quan tâm đến sự biến đổi văn hóa tộc người và những nguy cơ xung đột văn hóa từ hoạt động của các doanh nghiệp. Trong khi đó, Trần Thị Thủy và Đậu Quang Vinh (2015) lại phân tích về khía cạnh phát triển du lịch cộng đồng ở miền núi Nghệ An. Cuốn sách này phần nào đã trình bày được những điểm mạnh và hạn chế về tiềm năng để phát triển du lịch, trong đó nhấn mạnh đến du lịch cộng đồng. Tuy nhiên, do Nghệ An mới tiệm cận với sự phát triển về du lịch cộng đồng, những tác động của nó đến văn hóa tộc người thì vẫn chưa được nhìn nhận một cách thấu đáo. Gần đây, trong một luận án về văn hóa học, Hoàng Văn Hùng (2017) đã phân tích một ví dụ về truyền thống và sự biến đổi của lễ hội người Thái ở Nghệ An. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề về phát triển miền núi Nghệ An cần phải được tìm hiểu sâu hơn, nhất là sự phát triển của kinh tế thị trường và tác động của nó đến văn hóa truyền thống tộc người.

Miền núi phía Tây Nghệ An là địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số như người Thái, người Mông, người Khơ Mú, người Thổ, người Ơ Đu. Trong đó, người Thái giữ vị trí quan trọng nhất, không chỉ về số lượng dân cư mà còn về vị trí kinh tế, văn hóa, xã hội. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, người Thái ở Nghệ An có 295.312 người, chiếm 10,13% dân số toàn tỉnh và 69,92% tổng dân số các dân tộc thiểu số trên toàn tỉnh. Khác với người Thái ở Tây Bắc chia theo ngành Thái Đen (Tay Đăm) và Thái Trắng (Tay Đón) thì người Thái ở Nghệ An phân chia theo các nhóm địa phương như Tày Mường, Tày Thanh, Man Thanh, Tày Mười, Tày Dọ, Tày Nhại, Tày Khăng, Hàng Tổng. Ngoài những đặc trưng chung của tộc người, thì người Thái ở Nghệ An với người Thái ở Tây Bắc cũng có sự khác nhau như nhận định của Vi Văn An: "Do cư trú ở các địa phương khác nhau, cách biệt nhau về không gian địa lý, lại chịu ảnh hưởng văn hóa của các tộc người láng giềng khác nhau nên bên cạnh sự tương đồng ấy, giữa họ cũng có những nét khác biệt mang tính địa phương" (Vi Văn An, 2017, tr.41).

Cũng như nhiều dân tộc thiểu số khác, nền văn hóa truyền thống của người Thái ở Nghệ An trong những năm gần đây cũng bị biến đổi nhanh chóng do những ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau, trong đó đặc biệt là tác động của nền kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường ở miền núi Nghệ An mới chỉ phát triển trong gần hai thập niên qua nhưng đã có những tác động mạnh mẽ đến văn hóa các tộc người ở đây. Biến đổi văn hóa truyền thống dưới tác động của kinh tế thị trường là một vấn đề lớn. Bên cạnh những vấn đề lý thuyết để nghiên cứu tổng quát thì cần đi sâu vào nghiên cứu sự biến đổi của những yếu tố văn hóa cụ thể dưới tác động của kinh tế thị trường. Trong bài viết này, dựa trên tư liệu khảo sát thực địa về biến đổi văn hóa mặc ở người Thái tại một số địa phương ở miền núi phía Tây Nghệ An như là một ví dụ minh họa cho quá trình biến đổi văn hóa tộc người dưới tác động của kinh tế thị trường. Cụ thể, bài viết này phân tích biến đổi văn hóa mặc của 3 cộng đồng người Thái khác nhau ở Nghệ An. Thứ nhất là nhóm người Thái ở Bản Ang, xã Xá Lượng (huyện Tương Dương), nằm ngay trên đường quốc lộ số 7 thuộc nhóm Thái Hàng Tổng. Thứ hai là nhóm người Thái ở Bản Nưa, thuộc xã Yên Khê (huyện Con Cuông), nằm cách thị trấn trung tâm của huyện khoảng 7 km cũng thuộc nhóm Thái Hàng Tổng. Thứ ba là nhóm người Thái ở Bản Cắm, thuộc xã Tri Lễ (huyện Quế Phong), nằm cách xa thị trấn và đường quốc lộ hơn, thuộc nhóm Thái Man Thanh. Sở dĩ lựa chọn các nhóm Thái khác nhau như vậy vì sự phát triển kinh tế thị trường ở các địa phương này có những mức độ khác nhau. Và như vậy thì mức độ biến đổi văn hóa dưới tác động của kinh tế thị trường cũng có những mức độ khác nhau.

2. Biến đổi trong văn hóa mặc của người Thái ở miền Tây Nghệ An

Trong xã hội truyền thống, văn hóa mặc giữ một vai trò quan trọng, và thể hiện nhiều nét đặc trưng của văn hóa Thái. Tuy nhiên, hiện nay, văn hóa mặc của người Thái ở Bản Ang, Bản Cắm và Bản Nưa đang có nhiều biến đổi to lớn. Trước đây, người Thái tự trồng bông dệt vải và tự may áo, quần, váy, khăn. Phụ nữ mặc váy và áo, đàn ông mặc quần và áo. Trang phục cũng là một cách để phân biệt người phụ nữ đã lập gia đình hay chưa, hay phân biệt họ thuộc nhóm dân tộc nào. Đàn ông mặc quần áo màu nâu hoặc đen và có quấn khăn trong một số dịp.

Người phụ nữ Thái từ bé đã phải học dệt vải và may quần áo. Trước khi lấy chồng họ đã phải dệt và may được nhiều chăn, đệm, gối và áo váy chuẩn bị khi về nhà chồng. Họ trồng cây bông để dệt vải. Sau khi thu hoạch bông về họ quay thành tơ, làm thành sợi rồi mang đi nhuộm bằng cây chàm lấy trong rừng. Sau đó họ sử dụng khung cửi dệt thành các tấm vải và may thành áo, quần. Chiếc váy của người phụ nữ Thái là một sản phẩm mang nhiều nét văn hóa truyền thống với những hoa văn sặc sỡ. Dệt may cũng là một nghề thủ công quan trọng của người Thái, họ có thể dệt và may quần áo đem đi bán hoặc trao đổi lúa gạo cho người Khơ Mú gần đó. Nhiều thương lái còn mua áo quần của họ đem qua Lào hay Thái Lan để bán kiếm lời (Nguyễn Đình Lộc, 2009, tr.68-69).

Hiện nay, văn hóa mặc của người Thái ở Bản Ang, Bản Cắm và Bản Nưa đã thay đổi nhiều theo hướng mất dần các trang phục truyền thống. Sự biến đổi này có sự phân hóa về tuổi tác và cả về giới tính. Đối với đàn ông, chỉ một số ít người lớn tuổi còn mặc những bộ đồ truyền thống, còn phần lớn họ mặc áo quần mua từ người Kinh. Còn với phụ nữ, sự phân hóa theo lứa tuổi càng rõ rệt hơn. Những người ngoài 40 tuổi, chủ yếu mặc váy, áo truyền thống, trong khi đó, những người trẻ tuổi hầu như rất ít khi mặc trang phục truyền thống. Với bộ phận này, họ chỉ mặc vào một số dịp nhất định trong năm như lễ hội, đám cưới, tết... Trong khi những bộ trang phục truyền thống đang dần bị mai một, mất mát thì những trang phục mua từ người Kinh lại ngày càng phổ biến trong đời sống người Thái. Ở chợ lớn gần địa bàn cư trú có nhiều cửa hàng áo quần của người Kinh với mẫu mã đa dạng, giá cả phong phú, phù hợp với túi tiền của các đối tượng khác nhau. Chủng loại áo quần đa dạng để cho họ có nhiều sự lựa chọn hơn. Điều này càng đẩy nhanh quá trình biến đổi văn hóa mặc của người Thái.

Ở các địa phương có sự phát triển kinh tế thị trường khác nhau thì sự biến đổi trong văn hóa mặc cũng ở mức độ khác nhau. Ở Bản Nưa, do gần thị trấn hơn, kinh tế thị trường đã phát triển mạnh hơn với nhiều quán sá, quán tạp hóa, du lịch cộng đồng và buôn bán hàng thủ công thì văn hóa mặc biến đổi nhanh chóng hơn. Hầu hết những người phụ nữ trong Bản Nưa ngày thường đều mặc trang phục mua từ người Kinh. Chỉ có một số phụ nữ lớn tuổi là còn mặc trang phục truyền thống. Ở Bản Ang, gần đường quốc lộ, kinh tế thị trường có phát triển nhưng chưa sôi động như Bản Nưa nên số người mặc trang phục truyền thống còn khá nhiều. Có thể thấy những người phụ nữ trên 40 tuổi đều mặc trang phục truyền thống vào ngày thường. Còn những người trẻ tuổi, hay những người đi ra ngoài làm việc thì chủ yếu mặc trang phục mua từ chợ. Trong khi đó, ở Bản Cắm, do cách xa trung tâm và đường quốc lộ nên kinh tế hàng hóa phát triển chậm hơn hai địa bàn kia, nên trang phục truyền thống lại phổ biến hơn. Hầu hết phụ nữ trong bản vẫn còn mặc trang phục truyền thống. Chỉ một số cô gái trẻ còn đi học hay những người đi làm ở công ty trồng cây chanh leo gần đó hay mặc trang phục mua ngoài chợ. Tuy nhiên, với những người đã có gia đình, khi đi làm họ mặc trang phục như người Kinh nhưng về nhà thì lại mặc trang phục truyền thống.

Kinh tế thị trường cũng tác động đến các đối tượng ở các mức độ khác nhau nên phản ứng về sự thay đổi văn hóa mặc cũng có sự khác nhau theo giới tính, nghề nghiệp, độ tuổi... Những người lo lắng nhất trong sự biến đổi này có lẽ là những người phụ nữ luống tuổi. Họ khao khát gìn giữ những bộ trang phục truyền thống của dân tộc và mong muốn con cháu hàng ngày mặc nó. Họ cũng cố gắng dạy cho con gái về nghề trồng bông, dệt vải và may áo, thêu váy... vì họ luôn lo ngại rồi đây khi ra ngoài xã hội, không còn nhận ra đâu là người Thái, đâu là người Kinh do mặc giống nhau. Trong khi đó, với những người trẻ tuổi, việc mặc trang phục truyền thống không phải là vấn đề quá quan tâm của họ. Họ vẫn mặc những bộ áo váy truyền thống trong các dịp tham gia lễ hội, đi chơi tết hay đi dự đám cưới của một người trong cùng dân tộc. Còn khi đi ra ngoài, giao lưu với các cộng đồng thuộc dân tộc khác, họ lại mặc trang phục mua từ người Kinh. Bởi họ nghĩ đó là sự hội nhập, thuận tiện cho việc giao lưu, trò chuyện và không bị nhiều người để ý. Với những người đàn ông, họ vẫn thích mặc trang phục dân tộc, nhưng không quá coi nặng vấn đề này. Phần lớn họ đều mặc trang phục mua ngoài chợ, khi nói về trang phục truyền thống, họ chỉ thể hiện mong muốn vợ con mặc trang phục truyền thống nhưng cũng chấp nhận khi những người trẻ tuổi mặc áo quần mua vì thấy điều đó cũng thuận lợi cho cuộc sống của họ. Công việc cũng có ảnh hưởng đến văn hóa mặc, với những người ít ra ngoài giao tiếp thì họ mặc đồ truyền thống nhiều hơn, còn với người phải đi ra giải quyết công việc, tiếp xúc với nhiều đối tượng khác nhau thì hay mặc trang phục mua ngoài chợ nhiều hơn.

3. Hệ quả và các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến đổi văn hóa mặc người Thái

Sự thay đổi trong văn hóa mặc cũng kéo theo nhiều hệ quả khác nhau. Trước hết, sự mất đi dần những bộ trang phục truyền thống cũng là sự mất mát của nhiều nét đặc trưng văn hóa tộc người. Trong thời nguyên thủy, trang phục là một biểu hiện của sự "ứng phó với môi trường tự nhiên", mặc chỉ mang chức năng che đậy, bảo vệ cơ thể. Nhưng theo thời gian, mặc trở thành một nét văn hóa cộng đồng, trang phục trở thành một thành tố của văn hóa tộc người. Trang phục mang theo cả một lịch sử cộng đồng, một hệ giá trị văn hóa tộc người trên đó. Trang phục cũng là một "thẻ căn cước chung" của một cộng đồng và có thể phân biệt các cộng đồng khác nhau qua trang phục. Trong những lễ hội chung của cả vùng, những người Thái tham gia với những bộ trang phục truyền thống sặc sỡ, họ tự hào về điều đó và người ta dễ dàng phân biệt họ với các cộng đồng khác. Trong nội bộ một cộng đồng, trang phục cũng là một "thẻ căn cước cá nhân" để đánh giá giá trị của người làm ra nó. Với người Thái, trong những dịp lễ hội, hay các sinh hoạt cộng đồng khác, họ có thể tìm hiểu, đánh giá người con gái qua những bộ trang phục họ mặc. Vì những người biết làm những bộ trang phục đẹp thể hiện là người khéo tay, chăm chỉ và đảm đang, đáng để lấy làm vợ hơn người khác. Nói cách khác, trang phục truyền thống tôn vinh giá trị của người sản xuất ra nó. Nhưng hiện nay, thông qua thị trường, người ta có thể mua những bộ trang phục mình thích, và nó không thể hiện được những nét văn hóa của người sản xuất lẫn người mặc nó.

Có nhiều yếu tố tác động đến sự biến đổi văn hóa mặc của người Thái ở miền Tây Nghệ An, nhưng quan trọng nhất có lẽ là tâm lý tộc người. Tâm lý tộc người là yếu tố nội tại, ảnh hưởng mạnh đến sự biến đổi văn hóa tộc người. Tâm lý người Thái đang có sự phân hóa theo thế hệ và có sự đứt gãy giá trị giữa các thế hệ với nhau. Những người già thường quay về với truyền thống, khao khát bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống. Còn giới trẻ, họ vẫn chưa quay lưng với giá trị truyền thống nhưng cũng không quá coi trọng vấn đề đó. Họ lựa chọn cả những giá trị dân tộc khi vẫn mặc trang phục truyền thống trong những dịp quan trọng, nhưng cũng tiếp nhận các giá trị mới trong cuộc sống hàng ngày để thuận tiện với công việc. Không những vậy, tâm lý tộc người cũng có thay đổi, trong các sinh hoạt chung, một bộ phận lớn người Thái không muốn thể hiện sự khác biệt trong văn hóa mặc của mình với các cộng đồng khác mà có tâm lý hòa đồng, hòa nhập. Khi họ tự hào vì mình là người Thái và thể hiện niềm tự hào đó qua bộ trang phục mặc trên người thì câu chuyện lại khác, còn khi họ muốn hòa vào các cộng đồng khác, đặc biệt là người Kinh thì họ sẽ mặc những bộ đồ mua ngoài chợ và câu chuyện sẽ bị đẩy đi xa hơn. Những bộ trang phục mới xuất hiện, mẫu mã đa dạng, giá cả cũng hợp lý, cùng với nó là những giá trị mới hình thành trong đời sống văn hóa, khiến cho tư duy con người thay đổi.

Hiện nay, nhiều người bày tỏ tâm lý lo ngại cho quá trình biến đổi văn hóa tộc người, trong đó có văn hóa mặc của người Thái. Sự lo lắng đó hoàn toàn có cơ sở khi mà bản sắc văn hóa tộc người đang bị đe dọa nghiêm trọng và thay đổi, mất mát ngày càng nhanh. Nhưng cũng nhìn nhận vấn đề này một cách khách quan. Trước hết, bản sắc văn hóa tộc người không phải là một sự vật, mà là một quá trình xác lập giá trị của một cộng đồng. Bản sắc văn hóa cũng vận động và biến đổi qua thời gian và xoay quanh trục giá trị cơ bản của nó. Bảo tồn bản sắc văn hóa là bảo tồn các giá trị nền tảng của nền văn hóa, chứ không phải đóng băng nền văn hóa trong một thời điểm nhất định để lưu giữ. Theo đó, sự biến đổi văn hóa là một vấn đề khách quan, không thể cưỡng lại. Trong bối cảnh hiện nay thì tốc độ biến đổi ngày càng tăng lên do sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa ngày càng sôi động. Một vấn đề quan trọng nữa là định hướng phát triển kinh tế thị trường. Nhiều năm qua, một số người coi kinh tế thị trường là thủ phạm chính của sự biến đổi và mai một bản sắc văn hóa tộc người. Không thể phủ nhận kinh tế thị trường là một tác nhân quan trọng cho sự biến đổi văn hóa tộc người, nhưng nếu chỉ nhìn theo hướng tiêu cực như vậy thì cũng chưa hẳn hợp lý. Thị trường cũng tạo ra những cơ hội để các cộng đồng bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa của mình qua quá trình văn hóa hóa thị trường. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất dần những bộ trang phục truyền thống của người Thái là những sản phẩm về dệt may của họ chưa thể biến thành hàng hóa trên thị trường. Nhiều địa phương khác đã thành công trong việc đưa các sản phẩm đặc trưng của tộc người ra thị trường để phát triển, từ đó làm cơ sở để bảo tồn văn hóa truyền thống. Nói cách khác, bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người trong thời đại toàn cầu hóa và thị trường hóa cần phải gắn với quá trình phát triển.

4. Trải nghiệm thị trường và vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tộc người trong giai đoạn hiện nay

Trong vô vàn các yếu tố tác động đến quá trình phát triển của cộng đồng dân tộc thiểu số thì sự trải nghiệm thị trường có một vị trí nhất định ảnh hưởng đến sự phát triển. Sự trải nghiệm không đồng nhất với kinh nghiệm dù cả hai đều phải bắt nguồn từ hoạt động thực tiễn. Trong khi kinh nghiệm có thể được truyền tải qua các thế hệ và có thể học tập được thì trải nghiệm lại không. Trải nghiệm là quá trình một cá nhân, một cộng đồng tham gia trực tiếp và tương tác trong môi trường kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, để từ đó, họ có những nhận thức, cảm xúc về các vấn đề họ quan tâm. Đó còn được gọi là quá trình cá nhân hóa thực tiễn phát triển. Ở các cộng đồng đang bước chân vào nền kinh tế thị trường, trải nghiệm thị trường là một vấn đề quan trọng, tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển của cá nhân lẫn cộng đồng. Vậy nên, ở nhiều quốc gia và địa phương, thay vì trốn tránh hay bài trừ thị trường, các chiến lược phát triển hướng đến nâng cao năng lực tiếp cận thị trường của người dân để họ chủ động tham gia vào thị trường, trong đó quan trọng là tăng cường sự trải nghiệm thị trường cho người dân.

Ở hầu hết các dân tộc thiểu số, những người lớn tuổi có thừa sự trải nghiệm trong nền văn hóa truyền thống nhưng lại thiếu trải nghiệm trong kinh tế thị trường nên lúng túng trong việc bảo vệ các giá trị truyền thống. Còn những người trẻ tuổi không được trải nghiệm nhiều trong nền văn hóa truyền thống và trải nghiệm thị trường cũng hạn chế nên trở thành tầng lớp "bâng khuâng" giữa hai hệ giá trị. Họ muốn quay về truyền thống cũng không được mà tiến lên hiện đại cũng gặp khó khăn. Người Thái ở miền Tây Nghệ An đang trong quá trình tiếp cận kinh tế thị trường, nhưng chủ yếu họ tiếp nhận các sản phẩm từ ngoài vào, còn chưa có nhiều sản phẩm để đưa ra thị trường ngoài vài loại nông sản. Nhiều người đã phát hiện ra điều đó nhưng làm thế nào để tiếp cận thị trường thì họ lại không biết bởi họ thiếu sự trải nghiệm thị trường.

Có thể nhìn thấy vai trò của sự trải nghiệm thị trường qua việc so sánh một số người phụ nữ là chủ các tiệm tạp hóa trong các bản với bộ phận còn lại. Những người này, qua quá trình buôn bán các nhu yếu phẩm, họ tương tác với người Kinh (khi đi mua hàng về để bán) và tương tác với người trong bản qua bán hàng. Quá trình tương tác do mua bán đã đưa lại cho họ những trải nghiệm ban đầu về thị trường, dù họ chưa thể biết nhiều về những quy luật hay những phân tích thị trường sâu xa hơn nhưng cũng tạo điều kiện để họ nhận biết hàng hóa nào có thể trao đổi được. Khi thấy một người trong bản đi nương về kiếm được một sản vật hay một con thú, họ tìm cách mua lại rồi bán cho những người khách từ nơi khác vào đây thu mua các sản vật để kiếm một khoản chênh lệch. Và họ cũng biết có nhiều người lên đây mua lá dong - một loại lá có nhiều trong vùng và dùng để gói bánh, thì họ lại đứng ra thu mua của người đi chặt về rồi bán lại cho những người đến mua để kiếm lợi nhuận. Nhờ những hoạt động như vậy, nguồn thu nhập của họ hàng tháng vẫn cao hơn những người đi làm ở công ty chanh leo, và họ còn làm được nhiều việc nhà trong lúc rảnh rỗi.

Các dân tộc thiểu số ở miền Tây Nghệ An nói chung và người Thái nói riêng đang cần những chương trình phát triển làm sao cho người dân được trải nghiệm trong kinh tế thị trường nhằm giúp cho người dân chủ động tiếp cận các chính sách phát triển của nhà nước. Nhưng để tăng cường sự trải nghiệm thị trường của người dân không phải là việc dễ dàng và nhanh chóng được, phải có quá trình và kế hoạch cụ thể. Có hai con đường để tăng cường trải nghiệm thị trường, là con đường tự vận động và con đường nhận tác động. Tự vận động là con đường chủ quan, người dân tự tìm cách tiếp cận thị trường để tìm kiếm trải nghiệm và từ đó kiến tạo các kế hoạch kinh tế của mình. Con đường thứ hai là con đường khách quan, nhờ các chính sách hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức phi chính phủ qua các lớp tập huấn và các chương trình hỗ trợ tham gia các hội chợ để người dân tiếp cận thị trường và tích lũy trải nghiệm. Trải nghiệm thị trường giữ vai trò quan trọng để tái cấu trúc bản sắc văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế, nhưng nó cũng cần được định hướng rõ ràng. Nếu được đặt trên nền tảng tâm lý tự hào dân tộc, trải nghiệm thị trường sẽ tạo ra một luồng gió mới cho quá trình phát triển ở các dân tộc thiểu số vùng miền núi.

 

 

Tài liệu tham khảo

1. Vi Văn An (2017), Người Thái ở miền Tây Nghệ An. Nxb. Thế giới, Hà Nội.

2. Nguyễn Văn Chính, Hoàng Lương (2003), Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển miền núi và đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số, Dân tộc học, số 3, tr.18-28.

3. Hoàng Văn Hùng (2017), Lễ hội của người Thái ở miền Tây Nghệ An: Truyền thống và biến đổi, LATS Văn hoá học, mã số 62.31.06.40, Trường  Đại học Văn hoá, Hà Nội.

4. Nguyễn Đình Lộc (2009), Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An, Nxb. Nghệ An.

5. Neefies, Koos (2008), Môi trường và sinh kế: các chiến lược phát triển bền vững, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

6. Jean Michaud (2010), Nghiên cứu về kinh tế và bản sắc của người H'mông ở Việt Nam, in trong "Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học", Nxb. Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, trang 42-70.

7. Jennifer Sowerwine (2008), Nhà nước biến đổi và các quy luật thị trường: biến đổi ruộng đất và nền kinh tế thị trường duy tình ở vùng núi Ba Vì, Việt Nam. In trong "Thời kỳ mở cửa: Những chuyển đổi kinh tế - xã hội ở vùng cao Việt Nam", Nxb. Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, trang 37-64.

8. Sarah Turner, Jean Michaud (2016), Sinh kế nơi biên cương: Sự thích ứng của người Hmông ở vùng biên giới Việt - Trung. In trong "Nhân học ở Việt Nam: một số vấn đề lịch sử, nghiên cứu và đào tạo". Nxb. Tri thức, Hà Nội. Tr. 315-334.

9. Bùi Đình Sâm (2013), Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở miền Tây Nghệ An, Nxb. Nghệ An.

10. Trần Hữu Sơn (2004), Xây dựng đời sống văn hóa ở vùng cao, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.

11. Nguyễn Hồng Thái (2004), Chợ vùng cao: Một không giao thị trường - văn hoá và sự tiếp nối của các đô thị hiện đại, Xã hội học, số 4, Tr. 39-50.

12. Thomas Sikor, Jenny Sowerwine, Jeff Romm, Nghiêm Phương Tuyến (biên tập) (2008), Thời kỳ mở cửa: Những chuyển đổi kinh tế - xã hội ở vùng cao Việt Nam, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.

13. Thomas Sikor, Jenny Sowerwine, Jeff Romm, Nghiêm Phương Tuyến (2008), Lựa chọn và thành quả phát triển: những chuyển đổi ở vùng cao Việt Nam. In trong "Thời kỳ mở cửa: Những chuyển đổi kinh tế - xã hội ở vùng cao Việt Nam", Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, tr. 7-10.

14. Trần Thị Thuỷ, Đậu Quang Vinh  (2015), Phát triển du lịch cộng đồng miền Tây Nghệ An. Nxb. Nghệ An.

15. Vương Xuân Tình (chủ biên) (2014), Văn hóa với phát triển bền vững ở vùng biên giới Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

Ths. Nguyễn Thị Minh Tú

Với chủ đề thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và tác động KH&CN trực tiếp cho chuỗi các sản phẩm đặc sản của địa phương, trong thời gian vừa qua hàng loạt các đề tài, dự án đầu tư theo chuỗi giá trị tạo nên sản phẩm có thương hiệu Nghệ An đã cho thấy được hiệu quả và giá trị thực tiễn. Đến thời điểm này, trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã có 01 Chỉ dẫn địa lý; 01 nhãn hiệu chứng nhận và 17 đối tượng được cấp bằng bảo hộ nhãn hiệu tập thể. Nhân dịp đón xuân năm mới Mậu Tuất, xin được tổng hợp giới thiệu một số sản vật Nghệ An được bảo hộ.

1. Chỉ dẫn địa lý cam Vinh

"Cam Vinh" vốn là tên gọi dân gian để chỉ cam có xuất xứ từ vùng Phủ Quỳ Nghệ An những năm 1960, 1970. Đặc trưng của cam Vinh thể hiện ở vị ngọt thanh, dịu, hương thơm, đẹp. Hương vị là sự kết tinh của 3 nhân tố thiên, địa và nhân trên quê hương Nghệ An. Hương vị cam Xã Đoài đã được đi vào trong thơ:

"Cam Xã Đoài mọng nước

Giọt vàng như mật ong,

Bổ cam ngoài cửa trước

Hương bay vào nhà trong"

(Mùa cam - Phạm Tiến Duật)

Cam Vinh là sản phẩm nông sản hàng hóa đầu tiên của Nghệ An xây dựng thành công chỉ dẫn địa lý và trở thành tài sản quốc gia được nhà nước bảo hộ trên toàn quốc (Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý cam Vinh tại Quyết định số 386/QĐ-SHTT ngày 31/5/2007). Theo đó, vùng chỉ dẫn địa lí cam Vinh bao gồm: xã Nghi Diên, Nghi Hoa thuộc huyện Nghi Lộc; xã Hưng Trung thuộc huyện Hưng Nguyên; xã Nghĩa Bình, Nghĩa Hiếu, Nghĩa Hồng, Nghĩa Lâm, Nghĩa Sơn thuộc huyện Nghĩa Đàn; xã Minh Hợp thuộc huyện Quỳ Hợp; xã Tân An, Tân Long, Tân Phú thuộc huyện Tân Kỳ, với tổng diện tích trên 1800ha. Về giống cam Vinh bao gồm: cam Xã Đoài, cam Vân Du và cam Sông Con.

Với sản vật quý của quê hương, KH&CN có hàng chục đề tài, dự án đầu tư nghiên cứu cho chuỗi sản phẩm cam Vinh từ khâu sản xuất giống, các biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ bệnh và xây dựng chỉ dẫn địa lý, sử dụng tem điện tử truy xuất nguồn gốc và hiện đang đề xuất dự án mở rộng chỉ dẫn địa lý cam Vinh, ứng dụng công nghệ bảo quản cam, đến nay chỉ dẫn địa lý, thương hiệu "cam Vinh" được khẳng định trên thị trường và mang lại giá trị kinh tế lớn cho người trồng cam.

Để tiếp tục khai thác và phát triển chỉ dẫn địa lý cam Vinh và để người tiêu dùng yên tâm khi sử dụng cam Vinh trong thời gian tới cần: tổ chức sản xuất giống cam đảm bảo chất lượng, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật để nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm từ cam Vinh như rượu cam, mứt cam, tinh dầu cam, xà phòng hương liệu cam…. Ứng dụng công nghệ trong bảo quản cam để góp phần nâng cao giá trị cam Vinh. Tăng cường khâu tuyên truyền, quảng bá sản phẩm cam Vinh trong và ngoài nước. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội Sản xuất và Kinh doanh cam Vinh, các tổ hợp tác liên kết sản xuất, kinh doanh để thúc đẩy thương hiệu cam Vinh.

2. Nhãn hiệu tập thể gà Thanh Chương

Gà đồi Thanh Chương được thả trên đồi, bãi ăn cỏ, thóc, ngô. Do được "chạy bộ" nhiều nên thịt chắc, ngon và đậm vị. Người Thanh Chương lại chế biến được nhiều món nổi tiếng từ gà như: Xáo gà, gà luộc, gà rang muối, rang sả, gà roti, gà rán, gà tần… Tuy nhiên phổ biến và độc đáo nhất ở Thanh Chương vẫn là món gà xáo với mọc và dọc mùng.

Gà Thanh Chương là một sản phẩm sạch có chất lượng thịt thơm ngon, được người dân trong và ngoài tỉnh biết đến và ưa thích. Để sản phẩm đến với người tiêu dùng đảm bảo chất lượng, Sở KH&CN đã đầu tư dự án xây dựng nhãn hiệu tập thể gà Thanh Chương và ngày 13/01/2016, Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 256659 cho Nhãn hiệu tập thể gà Thanh Chương. Theo đó, các loại sản phẩm dịch vụ mang nhãn hiệu gồm: thịt gà đã chế biến, thực phẩm từ thịt gà; gà giống, gà còn sống; mua bán xuất nhập khẩu gà giống, gà sống, gà chế biến và các loại thực phẩm từ thịt gà. Với việc được cấp văn bằng bảo hộ, là cơ hội để địa phương nâng cao danh tiếng, uy tín, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm gà Thanh Chương trên thị trường.

Để sử dụng và phát huy giá trị của nhãn hiệu tập thể gà Thanh Chương, các hộ dân cần quản lý tốt về mặt chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, thức ăn trong chăn nuôi, công tác giết mổ, công tác thị trường, phát triển đàn gà. Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất và chế biến, nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm. Phát triển hệ thống trang trại, tạo chuỗi liên kết sản xuất và cung cấp thực phẩm an toàn, thực phẩm sạch đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

3. Nhãn hiệu tập thể mực khô Quỳnh Lưu

Mực khô Quỳnh Lưu được biết đến với chất lượng thơm ngọt, dai giòn, có vị ngọt đặc trưng và có màu vàng đẹp. Sản lượng khai thác mực của huyện khoảng 4.000 tấn/năm, đây là cơ sở để xây dựng thương hiệu mực khô. Mực khô Quỳnh Lưu là sản phẩm truyền thống, đặc biệt được ưa chuộng và có giá cao hơn các sản phẩm mực khô của vùng biển khác.

Để quảng bá sản phẩm cho người tiêu dùng đảm bảo chất lượng và có địa chỉ tin cậy, Sở KH&CN đầu tư dự án xây dựng nhãn hiệu tập thể mực khô Quỳnh Lưu. Ngày 8/9/2017, Cục Sở hữu trí tuệ đã có Quyết định số 62136/QĐ-SHTT cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mực khô Quỳnh Lưu với nhóm hàng 29, nhãn hiệu mực khô Quỳnh Lưu. Cấp cho Hội Sản xuất và Kinh doanh mực khô huyện Quỳnh Lưu với tổng số 28 hội viên ở xã Quỳnh Long, An Hòa, Quỳnh Nghĩa, Sơn Hải huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Đây có thể coi là một điều kiện thuận lợi để mực khô Quỳnh Lưu vốn nổi tiếng thơm, ngon vươn xa hơn trên thị trường trong và ngoài nước, khẳng định được chất lượng, uy tín đối với người tiêu dùng.

Đây là một sản vật ngon, an toàn thực phẩm và phục vụ cho khách du lịch khi đến Nghệ An. Trong thời gian tới Hiệp hội Sản xuất và Kinh doanh mực khô cần tiếp tục kết nạp thêm nhiều thành viên, tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh và thương hiệu sản phẩm.

4. Nhãn hiệu cá thu nướng Cửa Lò

Sản phẩm cá thu nướng ở thị xã Cửa Lò đã có từ rất lâu, và đã trở thành món đặc sản mang đặc trưng chỉ có ở Cửa Lò. Hiện toàn thị xã có hơn 40 hộ chuyên bảo quản và chế biến cá thu nướng, tập trung chủ yếu ở 2 phường Nghi Hải và Nghi Thủy với sản lượng khoảng 250 tấn/ năm, đạt doanh thu khoảng 45 tỷ đồng/năm. Nguyên liệu để làm sản phẩm cá thu nướng được lựa chọn rất kỹ càng, đó là loại cá thu trắng tươi ngon có trọng lượng bình quân từ 2kg/con trở lên. Ở thị xã Cửa Lò, sản phẩm cá thu nướng chủ yếu được sản xuất và chế biến ở hai phường là Nghi Hải và Nghi Thủy. Khách hàng của sản phẩm cá thu nướng của Cửa Lò chủ yếu là khách du lịch ở các tỉnh phía Bắc, thành phố Hà Nội.

Cá được nướng thủ công trên lửa than hoa. Sau khi nướng, cá có thể được tiêu thụ ngay, hoặc được để nguội trên các vỉ tre, sau đó cho vào kho bảo quản lạnh, kho bảo quản đông.

Ngày 25 tháng 11 năm 2016, Cục Sở hữu trí tuệ đã có Quyết định số 34735/QĐ-SHTT cấp Giấy chứng nhận Đăng ký nhãn hiệu số 272398 bảo hộ nhóm sản phẩm chính như sau:  Nhóm 29: cá thu nướng, nhóm 35 mua bán cá thu nướng. Chủ giấy chứng nhận là Hội Sản xuất và Kinh doanh cá thu nướng Cửa Lò (Khối Hải Giang, phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An).

Với việc cấp bằng bảo hộ đảm bảo sản phẩm khi tiêu thụ trên thị trường được kiểm soát, quản lý chặt chẽ về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, tạo nên một sản phẩm tin cậy, đảm bảo chất lượng phục vụ cho khách du lịch trong và ngoài tỉnh khi đến với đô thị du lịch biển Cửa Lò. Bênh cạnh đó góp phần nâng cao giá trị kinh tế cho sản phẩm trên thị trường. Ngoài giá trị dinh dưỡng, giá trị kinh tế, cá thu nướng Cửa Lò còn mang giá trị văn hóa, giá trị vùng miền.

Trong thời gian tới, Hội Sản xuất và Kinh doanh cá thu nướng Cửa Lò cần tiếp tục phát triển mạnh hội viên và hình thành chuỗi phân phối sản phẩm. Bên cạnh đó cần tăng cường văn hóa kinh doanh của hội, của làng nghề để xây dựng uy tín, thương hiệu, tạo thị trường bền vững để phát triển du lịch Cửa Lò.

5. Nhãn hiệu tập thể tôm nõn Diễn Châu

Sản xuất tôm nõn là nghề truyền thống đã có từ hàng chục năm nay, gắn với cuộc sống đi biển của ngư dân xã Diễn Bích, Diễn Ngọc (Diễn Châu), giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế từ con tôm cho ngư dân trên địa bàn huyện. Tôm nõn được sản xuất quanh năm, nhưng thời gian từ tháng 4 đến tháng 9 là chính vụ vì nguồn tôm biển ở rất dồi dào. Con tôm được chọn làm tôm nõn phải đảm bảo yếu tố tươi và đều con. Hiện nay ở Diễn Châu có khoảng 150 hộ làm nghề tôm nõn, trong đó có 20 cơ sở chuyên thu mua sản xuất tôm nõn tập trung tại 2 xã Diễn Ngọc và Diễn Bích, sản lượng tôm nõn Diễn Châu mỗi năm đạt 22 tấn/năm, đem lại giá trị khoảng 14 tỷ đồng. Tôm nõn sau khi chế biến có giá 500 - 800 kg đồng/ kg, là một sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, chế biến được món ăn và được nhiều người ưa thích khi đến Diễn Châu.

Tôm nõn Diễn Châu được người tiêu dùng ưa chuộng bởi chính chất lượng, giá trị dinh dưỡng, màu sắc, mùi vị của sản phẩm. Tuy nhiên, việc chưa có nhãn mác, bao bì phù hợp nên sản phẩm vẫn khó cạnh tranh trên thị trường.

Ngày 4 tháng 10 năm 2017, Cục Sở hữu trí tuệ đã có Quyết định số 69204/QĐ-SHTT cấp Giấy chứng nhận Đăng ký nhãn hiệu số 288945 bảo hộ nhóm sản phẩm chính như sau:  Nhóm 29: tôm nõn các loại, nhóm 35: kinh doanh tôm nõn các loại. Việc sản phẩm được cấp bằng bảo hộ, không chỉ tăng thu nhập nâng cao đời sống người dân vùng biển mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy nghề truyền thống của Diễn Châu.

Để gìn giữ thương hiệu sản phẩm, đối với những hội viên của Hội Sản xuất và Kinh doanh tôm nõn Diễn Châu cần đảm bảo về sản phẩm tôm vừa sạch, vừa đạt chất lượng, tươi 100%. Hình thành chuỗi phân phối sản phẩm. Tuyên truyền, quảng bá cho sản phẩm.

6. Nhãn hiệu chứng nhận nước mắm Vạn Phần

Nói đến vùng biển Diễn Châu là người ta nhớ đến một đặc sản, đó là nước mắm. Đến nay, sản phẩm nước mắm Diễn Châu đã có mặt khắp trong Nam ngoài Bắc, phục vụ hàng triệu người tiêu dùng. Nó không chỉ làm đậm đà hương vị các món ăn cổ truyền mà còn được người dân dùng làm quà biếu, tặng người thân như thứ đặc sản rất riêng của vùng quê xứ Nghệ.

Diễn Châu là huyện ven biển với 1 thị xã và 38 xã, trong đó có 9 xã vùng bãi ngang. Vùng đất 4 xã Diễn Ngọc, Diễn Bích, Diễn Vạn, Diễn Kim được gọi là vùng Vạn Phần. Đây là nơi hàng trăm năm nay đã nổi danh với nghề nước mắm. Riêng 2 xã Diễn Bích và Diễn Ngọc là những xã theo nghề nước mắm cho đến tận bây giờ. Tại vùng đất này, người có kinh nghiệm làm nước mắm chủ yếu theo phương pháp cha truyền con nối lâu năm đã tạo nên thương hiệu nước mắm Diễn Châu là "trung thành với cách làm mắm cổ truyền". Bởi thế, nước mắm Diễn Châu không chỉ có được sự tin dùng của người tiêu dùng trong tỉnh mà đã trở thành hàng hoá tiêu thụ trong cả nước.

Ngày 12/4/2016, Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận số 260952 tại Quyết định số 20045/QĐ-SHTT; Quyết định này ghi rõ chủ Giấy chứng nhận nhãn hiệu là Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ khoa học và công nghệ Nghệ An; màu sắc của nhãn hiệu là đỏ đậm, vàng chanh, xanh nước biển, xanh nhạt; nhãn hiệu được bảo hộ tổng thể, không bảo hộ riêng hình vương miện; Danh mục hàng hoá thuộc nhóm 29: nước nắm các loại. Trước mắt, Trung tâm đã chọn Công ty CP Thuỷ sản Diễn Châu là đơn vị có đủ điều kiện để sử dụng nhãn hiệu chứng nhận nước mắm Vạn Phần. Theo quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thì những hộ dân trong vùng Vạn Phần có nhu cầu đủ điều kiện thì có thể nộp đơn, đơn vị chủ sở hữu sẽ có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá và cấp quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận.

Đây là sản phẩm đầu tiên của tỉnh Nghệ An được cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận. Đây sẽ là một trong những điều kiện hết sức thuận lợi để khẳng định uy tín đối với khách hàng, khẳng định danh tiếng, quản lý chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường cho sản phẩm nước mắm và đem lại giá trị lợi nhuận cao cho người sản xuất. Việc xây dựng và quản lý nhãn hiệu chứng nhận nước mắm Vạn Phần dùng cho sản phẩm nước mắm của huyện Diễn Châu là nhằm bảo vệ uy tín, nâng cao danh tiếng và khả năng cạnh tranh sản phẩm nước mắm của địa phương trên thị trường, góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho các hộ sản xuất và kinh doanh trên địa bàn Diễn Châu.

7.  Nhãn hiệu tập thể hương trầm Quỳ Châu

Hương trầm Quỳ Châu nổi tiếng và được lưu truyền từ hàng trăm năm nay. Cứ mỗi năm vào dịp tháng 9, các cơ sở sản xuất lại bắt đầu tất bật, nhộn nhịp đưa những sản phẩm mới đến với mọi nhà. Là sản phẩm có lịch sử trên 60 năm, hương trầm Quỳ Châu đã trở thành một nghề truyền thống của người dân địa phương. Toàn huyện Quỳ Châu hiện có 7 làng nghề hương trầm.

Nguyên liệu làm hương trầm bao gồm các vật liệu chính là bã mía, rễ hương, hoa hồi… Tuỳ mỗi gia đình lại có những bí quyết riêng trong việc chia tỷ lệ hay cho thêm một số chất phụ gia để hương thơm hơn. Tuy nhiên, có một nguyên tắc chung mà những người làm nghề ở làng nghề hương trầm Quỳ Châu đều tuân thủ đó là không thêm những chất hoá học trong quá trình làm hương.

Ngày 22/01/2016, Cục Sở hữu trí tuệ đã có Quyết định số 3696/QĐ-SHTT cấp bằng nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm hương trầm Quỳ Châu. Việc hương trầm Quỳ Châu được cục SHTT bảo hộ nhãn hiệu tập thể là tín hiệu vui và là cơ hội phát triển cho nghề truyền thống này, nhằm tạo thêm thu nhập ổn đỉnh cho người làm nghề trong suốt cả năm, đa dạng thêm chủng loại hàng hoá, đưa sản phẩm hương của Quỳ Châu đến với thị trường trong và ngoài nước.

Để nhãn hiệu hương trầm Quỳ Châu bước ra thị trường rộng lớn, để món quà của thiên nhiên và tình người đến với nhiều hơn nữa các gia đình người Việt còn cần sự nỗ lực, cố gắng của bà con làm nghề cũng như chính quyền chức năng trong sản xuất cũng như quảng bá sản phẩm. Đa dạng hóa sản phẩm hương trầm như hương thẻ, hương vòng và hương nụ.

8. Nhãn hiệu tập thể chè Nghệ An

Uống chè từ lâu đã trở thành nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày, một tập quán mang nét văn hoá đặc trưng của người Việt Nam. Cây chè được xác định là một trong cây công nghiệp chủ lực của Nghệ An, có lợi thế trong nền kinh tế thị trường, là một trong những mặt hàng chủ lực tham gia xuất khẩu.

Đất Nghệ An rất phù hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển. Hiện nay, toàn tỉnh có 8.786 ha chè, trong đó 6.056 ha chè kinh doanh tập trung ở 6 huyện là Thanh Chương, Anh Sơn, Con Cuông, Kỳ Sơn, Quỳ Hợp và Tương Dương, năng suất bình quân đạt hơn 14 tấn/ha. Trên địa bàn tỉnh có 86 cơ sở chế biến với tổng công suất 527 tấn búp tươi/ngày. Sản phẩm chè đã qua chế biến chủ yếu là chè CTC (chè Đen) và chè xanh chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu.

Ngày 15/6/2015, Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 247000 cho Hội Sản xuất và Kinh doanh chè Nghệ An. Việc nhãn hiệu tập thể "Chè Nghệ An" được cấp văn bằng bảo hộ là bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển thương hiệu cho sản phẩm chè Nghệ An, góp phần nâng cao giá trị, uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường cho sản phẩm chè và đem lại giá trị lợi nhuận cao cho người sản xuất.

Tuy nhiên, để phát triển thương hiệu chè Nghệ An trong thời gian tới cần phải thay đổi mạnh mẽ trong tất cả các khâu từ sản xuất đến chế biến; làm tốt việc quy hoạch vùng nguyên liệu cho nhà máy; Nâng cao chất lượng sản phẩm chè; Chú trọng đến việc đầu tư thiết bị hiện đại để sản xuất ra các thành phẩm có chất lượng; Người trồng chè cần tập trung chăm sóc tốt cho cây chè, hái bằng máy nhưng phải tuân thủ quy trình kỹ thuật hái và chăm sóc; Tiếp tục thu hút đầu tư, đổi mới công nghệ chế biến để đáp ứng với yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước.

9. Nhãn hiệu tập thể nước mắm Tân An

Thôn Tân An, xã An Hòa, Quỳnh Lưu có lịch sử sản xuất nước mắm truyền thống. Với nguyên liệu chủ yếu là cá cơm và cá đốm tươi được trộn với muối trắng ủ trong chum sành hơn 12 tháng mới cho ra nước mắm cốt nên nước mắm Tân An lâu nay được người tiêu dùng đánh giá thơm ngon, đậm đà hương vị truyền thống, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Năm 2009, UBND tỉnh công nhận làng nghề sản xuất nước mắm Tân An. Đến nay có hơn 80 hộ tham gia sản xuất nước mắm với hơn 200 lao động. Mỗi năm làng nghề sản xuất ra từ 4 - 5 triệu lít nước mắm các loại, doanh thu đạt hơn 2 tỷ đồng. Bình quân mỗi lao động có mức thu nhập 5 - 7 triệu đồng/người/tháng.

Ngày 04/10/2017, Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tập thể nước mắm truyền thống Tân An số 288944 cho Hợp tác xã Dịch vụ muối Tân An với 80 thành viên được phép sử dụng nhãn hiệu tập thể. Đây là cơ hội để các thành viên hợp tác xã quảng bá, phát triển sản phẩm góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất. Thời gian tới từng thành viên cải tiến việc đóng gói sản phẩm đẹp, hấp dẫn và nâng cao chất lượng, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.

10. Nhãn hiệu tập thể dứa Quỳnh Lưu

Huyện Quỳnh Lưu có hơn 600 ha diện tích trồng dứa, tập trung ở các xã miền núi Tân Thắng, Quỳnh Thắng và Quỳnh Châu. Mỗi năm, Quỳnh Lưu xuất bán ra thị trường khoảng 10.000 tấn dứa. Tuy nhiên, việc tiêu thụ dứa chưa có doanh nghiệp nào đứng ra thu mua hay bao tiêu sản phẩm mà nông dân đang tiêu thụ mang tính chất trôi nổi, thương hiệu dứa Quỳnh Lưu chưa được thị trường biết tới. Với sự giúp đỡ của Quỹ hỗ trợ hộ gia đình thu nhập thấp phát triển kinh tế-VietED, một tổ chức Phi Chính phủ/Quỹ xã hội Việt Nam VietED và Tổ chức ICCO Hà Lan đã xây dựng thành công nhãn hiệu tập thể dứa Quỳnh Lưu. Ngày 07/04/2016, Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp văn bằng bảo hộ số 260843 cho nhãn hiệu Quỳnh Lưu pineapple.

Ngoài ra còn có 7 sản phẩm làng nghề của tỉnh Nghệ An đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp đăng bạ bảo hộ nhãn hiệu tập thể gồm: Ngói Cừa - NK - TK (xã Nghĩa Hoàn, Tân Kỳ); Làng nghề Chế biến hải sản Phú Lợi, phường Quỳnh Dị (TX.Hoàng Mai); Làng nghề chế biến và bảo quản hải sản, khối 6, phường Nghi Tân (TX.Cửa Lò); Làng nghề chế biến nước mắm khối Hải Giang I, phường Nghi Hải (TX. Cửa Lò); Chế biến hải sản K.7 - Thu Thủy (thị xã CửaLò); Làng nghề bánh đa, kẹo lạc Vĩnh Đức (thị trấn Đô Lương); HTX Hưng Châu và nhãn hiệu TT Su su Quỳnh Tiến; Nhãn hiệu TT Đá trắng Quỳ Hợp.

Với những sản vật đã được bảo hộ thì việc khai thác, phát triển nhãn hiệu này trong thời gian tới cần phải được quan tâm, trong đó tập trung: Nâng cao vai trò quản lý của chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý đối với các văn bằng được bảo hộ. Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về sở hữu trí tuệ thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, hoạt động văn hoá, thông tin, in ấn, xuất bản các ấn phẩm, hội nghị, hội thảo. Quảng bá sản phẩm để nâng cao giá trị sản xuất, tạo ra sản phẩm có ưu thế cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và nước ngoài. Tăng cường kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền, giải quyết kịp thời các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ; bảo vệ quyền của chủ thể sở hữu trí tuệ, đảm bảo hiệu quả công tác thực thi quyền, góp phần tăng cường hiệu lực QLNN về sở hữu trí tuệ, duy trì môi trường kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh, thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển. Tiếp tục thực hiện các đề án có liên quan đến sở hữu trí tuệ, đề án về các sản phẩm tiêu biểu của Nghệ An; đề án phát triển các thương hiệu sản phẩm Nghệ An… để góp phần nâng cao vị thế các sản phẩm và doanh nghiệp của Nghệ An. Phối hợp, hỗ trợ xây dựng, xác lập quyền SHTT đối với các nhãn hiệu trên địa bàn tỉnh, một số nhãn hiệu hàng hóa được đăng ký ra nước ngoài.

Kết lại, để tạo sức cạnh tranh cao trên thị trường thì việc đăng ký nhãn hiệu cho các sản phẩm hàng hóa là điều vô cùng cần thiết. Việc không có nhãn hiệu không những không tạo được niềm tin ở người tiêu dùng khi lựa chọn sản phẩm mà còn chịu thiệt thòi về giá cả và dễ bị hàng kém chất lượng, hàng giả trà trộn. Và việc bảo hộ cho các sản vật Nghệ An cần thiết và trong thời gian tới những sản vật này cần được khai thác, phát triển.

Hồng Bắc - Hoàng Anh

Chữ Thái Lai - Pao là một trong 8 hệ chữ Thái ở Việt Nam, là chữ viết riêng của đồng bào Thái nhóm Tay Mương (Hàng Tổng) sinh sống ở thượng nguồn sông Cả (Nặm Pao) bao gồm các huyện Tương Dương, Con Cuông, Kỳ Sơn (trước đây đều thuộc Tương Dương); nó có vai trò đặc biệt, lưu giữ về mặt tư liệu lịch sử thông qua việc "giải mã" các thông tin từ trong quá khứ với lịch sử gia đình, dòng họ,… Xuất phát từ nguyện vọng của đồng bào dân tộc Thái, trong thời gian qua trên địa bàn huyện Tương Dương và một số huyện khác (Con Cuông, Thanh Chương, Kỳ Sơn) có đồng bào Thái sinh sống đã có nhiều lớp học chữ Lai - Pao tự phát nhằm phổ biến chữ viết của dân tộc mình. Tuy nhiên, việc biên soạn tài liệu và tổ chức dạy học chữ Lai - Pao còn mang tính thủ công, theo kinh nghiệm của các nghệ nhân, không phải là tài liệu chính thống, chưa có sự xem xét về mặt khoa học của các cơ quan chức năng nên chất lượng và hiệu quả dạy học còn có nhiều hạn chế, bất cập.

Đây là lý do mà Trung tâm Văn hóa thông tin - thể thao huyện Tương Dương đã đề xuất và thực hiện Đề tài: "Nghiên cứu, biên soạn tài liệu và tổ chức dạy học chữ Thái hệ Lai - Pao ở huyện Tương Dương, Nghệ An". Đề tài do Ths. Vi Tân Hợi - Phó Chủ tịch thường trực HĐND huyện Tương Dương làm chủ nhiệm.

1. Mục tiêu của đề tài

Xác lập luận cứ về ngữ âm tiếng Thái Nghệ An và xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn học chữ Thái hệ Lai - Pao.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Kết quả nghiên cứu tổng quan về chữ Thái hệ Lai - Pao

2.1.1. Phụ âm, nguyên âm và dấu thanh trong chữ Thái hệ Lai - Pao, đặc điểm riêng chữ Thái hệ Lai - Pao:

- Phụ âm: Chữ Thái hệ Lai - Pao có 23 cặp phụ âm (tiếng Thái gọi là tô), tương đương các chữ cái trong tiếng và vần ở tiếng Việt, như: b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, p, x, t, s, r, v, ch, th, ng, nha, tr, p'h.

- Nguyên âm: chữ Lai - Pao gọi là "mái quam", có tất cả 19 mái. Các mái quam (trừ mái cú (u)) nằm dưới các phụ âm còn lại các mái khác có thể nằm bên cạnh phụ âm như: Mái cá, cắm, mái cáu, cáy, ké, mái cúa, cắn no, hoặc nằm trên phụ âm như: Mái ký, mái kế, mái cớ, cái cứ, mái cắng, mái cứa

- Dấu thanh (mái xiếng): tiếng Thái hệ Lai- Pao có 5 thanh điệu, tương đương 5 dấu thanh (tiếng Thái gọi là mái xiếng), trong đó, chỉ có 3 thanh điệu là có dấu thanh, còn 2 thanh điệu không có dấu thanh (mái pah và mái bỏ).

2.1.2. Nguyên tắc ghép vần, đánh vần trong chữ Thái hệ Lai - Pao

* Nguyên tắc ghép vần: Phụ âm + nguyên âm = vần.

+ Một phụ âm ghép với một nguyên âm  trong trường hợp này có thể có nguyên âm nằm bên cạnh, nằm trên hoặc dưới phụ âm (phụ âm - nguyên âm, phụ âm - nguyên âm, phụ âm -nguyên âm).

+ Một nguyên âm có thể ghép với 2 phụ âm trở lên (phụ âm - nguyên âm - phụ âm), trong trường hợp này nguyên âm có thể nằm giữa, bên trên hoặc bên dưới phụ âm (phụ âm - nguyên âm - phụ âm, phụ âm - nguyên âm - phụ âm, phụ âm - nguyên âm - phụ âm).

- Trong chữ Lai - Pao không có vần Q (qu), mà vần này được tạo bởi vần ghép C+V. Khi ghép vần, có một số từ có đuôi là P, T, I, O, U bị biến đổi thành B, Đ, D, V. Phụ âm Vo còn được thay cho O khi nó ở vị trí là tiền tố (oa, oan, oe, oen, oac).

- Trong tiếng Thái các vần ài, ọc, au, ùm, ỏn, ăn, ìn,… khi viết bằng chữ Lai - Pao đều phải thêm O ở phía trước (tương ứng các vần có dấu hay không có dấu).

* Nguyên tắc đánh vần:

+ Vần chỉ có 2 chữ cái: Nguyên âm → phụ âm đầu → vần.

+ Vần có 3 chữ cái: Nguyên âm → phụ âm cuối → phụ âm đầu.

+ Vần có 4 chữ cái trở lên: Nguyên âm → phụ âm cuối → phụ âm kề trái nguyên âm → phụ âm đầu → vần.

2.1.3. Sự giống nhau và khác nhau giữa chữ Lai - Tay và Lai - Pao

* Giống nhau:

- Các nguyên âm đều có phiên âm giống nhau: kí, kế, káy, cắm, cú, cứ, cớ, cá, cống, cố,…

- Phụ âm có tổ thấp (tô tẳm) và tổ cao (tô xúng). Tổ thấp là nhóm các từ phụ âm không có dấu thanh, còn tổ cao là nhóm các từ phụ âm có dấu thanh.

- Cả 2 hệ chữ đều không có nguyên âm ghép với phụ âm theo trật tự đảo ngược như ở các hệ chữ Thái viết theo hàng ngang khác, chẳng hạn như chữ Lai xứ Thanh; cách đánh vần như nhau: Từ nguyên âm, sang phụ âm,…

* Khác nhau:

- Về chữ cái (phụ âm, nguyên âm): Hai hệ chữ khác nhau hoàn toàn.

- Cách viết: Chữ Lai - Pao viết theo hàng ngang, từ trái qua phải, từ trên xuống dưới. Chữ Lai - Tay viết theo hàng dọc, từ trên xuống dưới, từ phải qua trái.

2.2. Kết quả biên soạn tài liệu giáo khoa về từ vựng, ngữ pháp, bài tập và bài luận tham khảo chữ Thái hệ Lai - Pao

2.2.1. Kết quả nghiên cứu, biên soạn tài liệu từ vựng và ngữ âm chữ Thái hệ Lai - Pao.

Biên soạn được cuốn Từ điển tiếng Thái hệ Lai-Pao dày 224 trang, khổ A4, tập hợp những từ ngữ thông dụng nhất được sử dụng trong đồng bào Thái nhóm Tay Mương hiện cư trú ở các huyện vùng Tây Nam Nghệ An. Cuốn sách xây dựng theo nền tảng của một cuốn từ điển đơn giản, sắp xếp các chữ cái đứng đầu từ theo trật tự Alphabet nhằm thể hiện rõ hơn trong cách phát âm, các đơn vị từ được viết kèm phiên âm IPA để các đối tượng sử dụng có thể hình dung đúng hơn về ngữ âm tiếng Thái.

Đây là cuốn sách ghi chép từ vựng đầu tiên của người Thái nhóm Tay Mương ở Nghệ An ứng với chữ Thái hệ Lai - Pao; bỏ qua các từ ngữ lai tạp với tiếng Việt, chỉ giữ lại những từ cần thiết nhất, không thể tìm ra từ ngữ thay thế tương đương nhằm đáp ứng nhu cầu bảo tồn và sử dụng vốn từ truyền thống của đồng bào Thái Nghệ An.

2.2.2. Kết quả nghiên cứu, biên soạn tài liệu về ngữ pháp chữ Thái hệ Lai - Pao.

Cuốn tài liệu ngữ pháp gồm 59 trang, in trên giấy khổ A4, chia làm 2 phần:

- Phần 1: Từ và từ loại, làm rõ về khái niệm từ, từ đơn và từ phức và các loại từ trong chữ Thái hệ Lai - Pao, như danh từ, động từ, đại từ, số từ,... và quan hệ từ.

- Phần 2: Câu và cấu tạo câu, trong đó bao gồm: Câu và thành phần câu; cách sử dụng dấu câu trong chữ Thái hệ Lai - Pao.

Do nhu cầu học và sử dụng chữ Lai - Pao trong đời sống xã hội của đồng bào dân tộc Thái ở các huyện Tây Nam Nghệ An ngày càng lớn, vì vậy, để phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, cách giao tiếp và ứng xử trong đời sống hiện đại, ban chủ nhiệm đã sử dụng dấu câu của tiếng Việt khi viết văn bản bằng chữ Thái hệ Lai - Pao.

Ở đây, có một điều đặc biệt là: Tiếng Thái phiên âm thì có thể sử dụng hết các dấu câu như trong tiếng Việt, nhưng khi viết bằng chữ Lai- Pao thì chỉ sử dụng được một số dấu câu mà thôi. Các dấu sử dụng được trong chữ Thái hệ Lai- Pao là: dấu chấm câu, dấu phẩy, dấu chấm hỏi, dấu ngoặc đơn, dấu gạch ngang. Các dấu không sử dụng là: Dấu ngoặc kép, dấu chấm phẩy, dấu gạch chéo...

2.2.3. Kết quả nghiên cứu biên soạn tài liệu sách giáo khoa.

Cuốn tài liệu sách giáo khoa gồm 2 phần, phần chữ và phần tiếng, tương ứng với 50 đơn vị bài học. Cấu trúc các đơn vị bài học ở mỗi phần khác nhau. Cuốn sách được biên soạn theo nguyên tắc từ dễ đến khó, sử dụng ngôn ngữ tiếng Thái phiên âm, có mượn một số từ ngữ của tiếng Việt và chữ Thái hệ Lai - Pao, có sử dụng hình ảnh minh họa.

- Phần chữ, có 7 đơn vị bài học (từ bài 1 đến bài số 7), tập trung giới thiệu chữ cái, phụ âm, nguyên âm, cách ghép vần, đánh vần chữ Thái hệ Lai - Pao. Kết thúc phần tiếng, có bài ôn tập và kiểm tra. Trong phần tiếng, tập trung hướng dẫn cho người học cách đọc, hiểu văn bản tiếng Thái hệ Lai - Pao; rèn luyện kỹ năng hoàn thành câu, kỹ năng đọc và viết... Các bài khóa là những bài tục ngữ, ca dao, dân ca, hay phong tục, tập quán và truyền thống văn hóa của đồng bào dân tộc Thái ở Nghệ An và huyện Tương Dương.

- Phần tiếng, gồm 43 đơn vị bài học, được biên soạn theo 10 chủ điểm (sử dụng gần 2000 từ vựng).

Ngoài chương trình học chính khóa trên lớp (300 tiết), còn thiết kế chương trình thực hành (ngoại khóa), như: Nói chuyện chuyên đề về văn hóa truyền thống dân tộc Thái; tổ chức các hoạt động đi thực tế tìm hiểu phong tục, tập quán, ngành nghề truyền thống và sưu tầm tục ngữ, ca dao, đồng dao và dân ca của đồng bào dân tộc Thái; tổ chức giao lưu văn hóa, văn nghệ...

2.2.4. Kết quả nghiên cứu, biên soạn tài liệu tham khảo chữ Thái hệ Lai - Pao.

Tài liệu tham khảo được in trên giấy khổ A4, dày 166 trang, bao gồm 2 phần như sau:

Phần I: Đặc trưng văn hóa dân tộc Thái, giới thiệu khái quát những nét đặc trưng và truyền thống văn hóa của dân tộc Thái, một số phong tục, tập quán, trò chơi dân gian truyền thống và một số luật tục của người Thái ở Nghệ An. Ngôn ngữ sử dụng là tiếng Việt nhằm giúp người học lần đầu tiếp cận với tiếng Thái, văn hóa Thái dễ dàng hơn.

Phần II: Văn nghệ dân gian dân tộc Thái, gồm 2 chuyên mục: Tục ngữ, ca dao, dân ca (tuyển chọn 168 câu tục ngữ, thành ngữ, 38 bài ca dao, đồng dao, dân ca và trích đoạn truyện thơ "Xống chụ xon xao") và truyện cổ dân gian (31 câu chuyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười của đồng bào dân tộc Thái). Ngôn ngữ chủ yếu là tiếng Thái, chỉ sử dụng phiên âm tiếng Việt trong trường hợp tiếng Thái không biểu đạt hết nghĩa. Về chữ viết, chỉ sử dụng chữ Thái phiên âm la tinh và chữ Thái hệ Lai - Pao để trình bày.

2.2.5. Kết quả nghiên cứu, biên soạn bài tập ôn luyện phục vụ kiểm tra, thi đánh giá học viên và các bài ngoại khóa.

Cuốn tài liệu được in trên giấy khổ A4, có 88 trang, hơn 200 bài tập, chia thành 2 phần:

Phần I, hệ thống lại các kiến thức cơ bản cần ghi nhớ về chữ Thái hệ Lai - Pao gồm: Chữ cái, phụ âm, nguyên âm và dấu thanh; nguyên tắc ghép vần, đánh vần trong chữ Thái hệ Lai - Pao; các kiến thức về từ, ngữ, từ loại; kiến thức về câu và dấu câu.

Phần II, bài tập ôn tập để kiểm tra, đánh giá, tập hợp 226 câu hỏi và bài tập theo mức độ từ dễ đến khó. Đây là hệ thống câu hỏi và bài tập để người học tự học, tự làm ở nhà, nhằm rèn luyện kiến thức về chữ Thái hệ Lai - Pao, rèn luyện về từ vựng, kỹ năng về câu, kỹ năng viết....

2.2.6. Kết quả nghiên cứu, biên soạn tài liệu hướng dẫn tập viết.

Cuốn tài liệu Tập viết chữ Thái hệ Lai - Pao dày 60 trang, giấy khổ A4, chia ra 2 phần:

Phần đầu: Tập viết các chữ cái Lai - Pao.

Phần II: Tập viết từ ghép, các câu ngắn.

Các chữ cái được sử dụng size 30, trên giấy kẻ ô ly, phần đầu là tập viết chữ cái phụ âm, phần 2 tập viết chữ cái nguyên âm, phần 3 là tập viết các từ ghép.

2.3. Kết quả nghiên cứu, hoàn thiện bộ font, bộ gõ chữ Thái hệ Lai - Pao

2.3.1. Kết quả nghiên cứu hoàn thiện bộ font chữ Thái hệ Lai - Pao

Dựa vào những đặc điểm trực quan nhất của chữ Thái Lai - Pao, nhóm nghiên cứu đã thống nhất về các kích cỡ chuẩn áp dụng cho bộ chữ Lai - Pao.

- Chuẩn hóa kích thước chữ: Font chữ Thái là phần mềm Font Creator Professional.

- Kích cỡ vùng kí tự cơ bản: có chiều rộng là 500 nằm trong khoảng (0;500) theo trục hoành.

- Kích cỡ nét nhô lên cao: có phần vượt ra ngoài vùng cơ bản có chiều cao 250 đơn vị nằm trong khoảng (500;750) theo trục tung.

- Kích cỡ nét kéo xuống dưới: có phần vượt ra ngoài vùng cơ bản có chiều cao 150 đơn vị nằm trong khoảng (0;-150) chiều rộng vòng sang phía bên trái là 250 đơn vị.

- Các kí hiệu: Có 4 kí tự nằm ở bên phải, phía dưới so với vùng cơ bản cách đường biên phía trên vùng cơ bản 50 đơn vị.

- Kích cỡ của nét: Các nét ngang có độ dày 50 đơn vị, nét sổ có độ dày chuẩn là 60 đơn vị; những chỗ nét chuyển hướng lượn vòng thành hình tròn độ dày của nét là 50 đơn vị; các nét vươn ra ngoài vùng cơ bản đầu các nét vẽ nhọn hoặc lượn tròn, còn lại đầu các nét được vẽ lượn tròn đa số.

- Vẽ chữ: thực hiện bằng phần mềm PhotoShop, Corel Draw và các chức năng trong tools của FontCreator để vẽ các kí tự chữ Thái Lai - Pao.

Sau khi bộ font đã hoàn chỉnh, nhập các thông tin về bản quyền vào phần thông tin bộ font, rồi dùng chương trình FontLab xuất ra font TrueType.

2.3.2. Kết quả nghiên cứu xây dựng bộ gõ chữ Thái hệ Lai - Pao. 

Bộ gõ sẽ gồm 2 chương trình độc lập là "Bàn phím trực quan" (visual) nhập lệnh bằng chuột dành cho người mới học để làm quen với bố trí bàn phím và "Bàn phím thực" dành cho những người đã thành thạo có thể gõ trực tiếp trên bàn phím tiếng Anh.

2.3.3. Kết quả nghiên cứu xây dựng môi trường hỗ trợ soạn thảo chữ Thái hệ Lai - Pao

Môi trường soạn thảo văn bản chữ Thái hệ Lai - Pao có tên gọi là Bộ soạn thảo văn bản chữ Thái hệ Lai - Pao (TLPEditor) được xây dựng bằng ngôn ngữ lập trình C#. TLPEditor tương tự như soạn thảo Word của Bộ công cụ văn phòng nổi tiếng Microsoft Office. Trên TLPEditor, người sử dụng dễ dàng soạn thảo và trang trí các văn bản, tài liệu chữ Thái hệ Lai - Pao. Đặc biệt với TLPEditor, người sử dụng dễ dàng chuyển đổi qua lại giữa 2 loại font chữ là font chữ Thái và font chữ Việt.

2.4. Kết quả tổ chức hướng dẫn học chữ Thái hệ Lai - Pao

Tổ chức 2 lớp học thực nghiệm, hướng dẫn người học biết đọc, biết viết thành thạo chữ Thái hệ Lai - Pao tại xã Thạch Giám.

Kết thúc khóa học, các học viên biết đọc và viết thạo chữ Thái hệ Lai - Pao, trong đó, tổng số học viên dự thi cuối khóa là 60/60: Loại giỏi: 15 học viên, đạt 25,0%; Loại khá: 32 học viên, đạt 53,4%; Trung bình: 13 học viên, đạt 21,6%. Ban chủ nhiệm đã cấp chứng chỉ cho các học viên và khen thưởng cho 6 học viên xuất sắc nhất.

2.5. Kết quả đào tạo, đóng góp về mặt khoa học của đề tài và công bố kết quả nghiên cứu

- Đề tài đã giúp 2 nghiên cứu sinh về tư liệu khoa học và thực tiễn văn hóa dân tộc Thái nói chung và ngôn ngữ, chữ viết dân tộc Thái nhóm Tay Mương ở Nghệ An nói riêng góp phần hoàn thành luận án tiến sĩ.

- Đề tài đóng góp về luận cứ khoa học cho các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ, chữ viết của dân tộc Thái nói chung và chữ viết của nhóm Thái Tay Mương ở Nghệ An nói riêng. Là cơ sở khoa học để các nhà quản lý hoạch định chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Thái nói riêng.

- Bộ tài liệu dạy học đã được đưa lên trang web Chữ Thái Việt Nam (http://chuthai.huecit.vn) và một số trang web khác.

3. Kết luận

Đề tài "Nghiên cứu, biên soạn tài liệu và tổ chức dạy học chữ Thái hệ Lai - Pao ở huyện Tương Dương" có ý nghĩa to lớn về kinh tế  - xã hội, đặc biệt góp phần quan trọng bảo tồn và phát triển di sản văn hóa của dân tộc, đó là bảo tồn chữ  Thái hệ Lai - Pao. Bộ Tài liệu dạy học chữ Thái hệ Lai - Pao được hoàn thiện thực sự là một bộ tài liệu học tiếng nói, chữ viết của dân tộc Thái có quy mô và bài bản, góp phần giúp người học viết đúng, viết đẹp chữ Thái hệ Lai - Pao. Đồng thời với việc hoàn thiện Bộ soạn thảo văn bản chữ Thái hệ Lai - Pao, font chữ Thái hệ Lai- Pao  và đưa lên mạng internet đã thực sự mang lại những giá trị của chữ Thái, ngôn ngữ Thái vượt qua mọi giới hạn về khoảng cách địa lý, đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu và sử dụng chữ Thái của những người quan tâm. q

Chú thích:

(1). Nguyễn Văn Phúc, Tư tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Đức Đạt, Triết học, số 9 (172), tháng 9-2005, tr.28.

(2). Mai Vũ Dũng, Quan niệm của Nguyễn Đức Đạt về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong "Nam Sơn tùng thoại", Triết học, số 6 (205), tháng 6 - 2008, tr.60.

(3). Trần Nguyên Việt, Sự tương đồng và khác biệt trong quan niệm về "đạo" của hai nhà nho thế kỉ XIX: Nguyễn Đức Đạt (1824 - 1887) và Choi Jae U (1824-1863), Triết học, số 11 (246), tháng 11-2011.

(4). Phạm Tú Châu, Nguyễn Đức Đạt, Từ điển văn học, Nxb. Khoa học Xã hội, H., 1984.

(5). Dẫn theo Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, Nxb. Văn học. H.,1995, tr.270.

(6), (7). Chữ của Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, Nxb. Văn học. H.,1995, tr.270.

 (8), (9). Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, Nxb. Văn học. H.,1995, tr.211.

(10). Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, Nxb. Văn học. H.,1995. Tr. 208. Quan niệm này chắc Cao Xuân Huy sử dụng của Lâm Khoa Đường trong sách Tống Nho dữ Phật giáo, xem mục từ Tống Nho dữ Phật giáo trong sách Từ điển Nho Phật Đạo do Lao Tử - Thịnh Lê chủ biên, Nxb. Văn học, H., 2001.

(11). Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, Nxb. Văn học. H.,1995, tr. 211.

(12). Ngô Đức Thọ, Thám hoa Nguyễn Đức Đạt (1824 - 1887) và trường Đông Sơn nổi tiếng thế kỉ XIX. Nguồn: http://ngoducthohn.blogspot.com/2012/10/tham-hoa-nguyen-uc-at-1825-1887-va.html#more .        

(13). Nguyễn Đức Đạt, Nam Sơn tùng thoại, Tự luân, thiên XXII, Quyển 3, bản dịch, bản viết tay, Thư viện Viện Triết học.

(14). Nguyễn Đức Đạt, Nam Sơn tùng thoại, Thánh hiền, thiên XXIII, Quyển 3, bản dịch, bản viết tay, Thư viện Viện Triết học.

(15). Nguyễn Đức Đạt, Nam Sơn tùng thoại, Tự luân, thiên XXII, Quyển 3, bản dịch, bản viết tay, Thư viện Viện Triết học.

(16). Nguyễn Đức Đạt: Nam Sơn tùng thoại, Thánh hiền, thiên XXIII, Quyển 3, bản dịch, bản viết tay, Thư viện Viện Triết học.

(17). Nguyễn Đức Đạt, Nam Sơn tùng thoại, Đức tính, thiên VIII, quyển 1, tr.103. Bản dịch, bản viết tay, Thư viện Viện Triết học.

(18). Nguyễn Đức Đạt, Nam Sơn tùng thoại, Đức tính, thiên VIII, quyển 1, tr.106. Bản dịch, bản viết tay, Thư viện Viện Triết học.

TS. Nguyễn Đức Mậu

Nguyễn Đức Đạt không được chú ý nhiều như một tác gia tên tuổi. Sách của ông cũng chưa được phổ biến rộng rãi. Cách lí giải mang tính xuyên suốt trong Nam Sơn tùng thoại là hướng về các giai thoại, truyện cổ để giáo huấn, giải thích và dẫn sách như một chân lí bất di dịch. Trong cách nhìn đó, chân lí không nằm trong cách biện giải, chứng minh mà nằm trong cái có sẵn, cái cổ xưa.

Chúng ta được biết các nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Phúc(1), Mai Vũ Dũng(2), Trần Nguyên Việt(3), Phạm Tú Châu(4) thống nhất với nhau về tính bảo thủ của Nguyễn Đức Đạt trong Nam Sơn tùng thoại. Vấn đề là tại sao Nguyễn Đức Đạt vẫn giữ cách nghĩ như một ốc đảo tư tưởng giữa sự biến động có tính chuyển biến lịch sử giai đoạn ông đang trải nghiệm.

 Nếu đặt Nguyễn Đức Đạt trong thời đại của ông, tư liệu cho thấy, khi Tự Đức trong bài chế sách phúc thí năm Ất Hợi (1875) đã hỏi đến thuyết địa cầu của phương Tây và những vấn đề vật lí, hoá học, kĩ thuật: "Cái thuyết địa cầu của họ có phải là độc sáng không và có thực nghiệm chắc chắn không? Trời vốn chỉ là khí chứa lại mà thành, làm sao mà biết được cái độ số của nó (...), sự toàn chuyển tả hữu của nó", "Cận đại nhiều người suy tôn phương pháp thái Tây, có phải vì họ có kiến thức chân xác, vượt lên trên cổ nhân, hay là cũng như những người nói chuội, vẽ bùa thôi? Mà theo cách lập thuyết của họ (phương Tây) thì không có ngũ hành tương sinh, tương khắc... như thế thì cái học của họ đã trái lý và bất hợp với cổ xưa rồi, còn gì mà suy tôn họ nữa?(5) thì dường như thông tin xa lạ "kì phương, dị thuật"(6) (Tự Đức gọi là "ban ban, quái dị")(7) đã gây dựng được sự "suy tôn" với đương thời thì với Nguyễn Đức Đạt vẫn chìm trong các phạm trù bất di dịch của thời xa xưa, tịnh không bị ảnh hưởng. Chiếu theo cách nhìn Tự Đức thì cái gì "trái lí, bất hợp với cổ xưa", "không có ngũ hành tương sinh, tương khắc", nghĩa là các kiến thức đã cố định hoá trong tư duy thì khó chấp nhận. Chúng ta cũng biết Fukuzawa, trong Thoát Á luận, đã phê phán sĩ phu Trung Quốc và Triều Tiên mê tín, hủ lậu không biết khoa học là gì, thì phương Tây cũng nghĩ Nhật Bản chỉ là một nước Âm dương, Ngũ hành. Nếu xét thêm rằng vào giữa thế kỉ này có Gia Định báo, đã có nhiều nhà cải cách cùng thế hệ mà Nguyễn Trường Tộ là tiêu biểu và sau đó Nguyễn Lộ Trạch, ảnh xạ sinh hoạt, con người phương Tây còn ghi dấu vết trong thơ Nguyễn Khuyến, thì những thông tin về phương pháp Thái Tây chắc không thể không đến Nguyễn Đức Đạt. Trước Tự Đức thì tư liệu cho thấy Minh Mệnh cũng đã có rất nhiều thông tin về phương Tây, về Nhật Bản, cũng đã suy tính lựa chọn thay đổi đặt ra trong giai đoạn này. Cũng không thể nói lí do rằng vì Nguyễn Đức Đạt không tham gia bàn định chính sách đương thời cho nên Nguyễn Đức Đạt vẫn ở trong vòng trì trệ tư tưởng.

Ngược lại với sự thiếu vắng Nguyễn Đức Đạt trong danh sách trí thức, trong đề cương lịch sử tư tưởng hay đánh giá Nam Sơn tùng thoại thấp về tư tưởng, về cách tư duy như đã nêu trên, thì Cao Xuân Huy trong cuốn Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu lại cho Nguyễn Đức Đạt là "Một trong những học giả kiệt xuất"(8) thời Tự Đức. Trong một bài viết mà Nguyễn Đức Đạt chỉ được nhắc lướt qua, thì cũng chưa thể đòi hỏi Cao Xuân Huy hé lộ cho thấy yếu tố để thể hiện cách đánh giá một kiệt xuất. Nhưng đây là một hướng nhìn nhận đáng được lưu tâm, lí giải. Có thể Cao Xuân Huy đánh giá cao Nguyễn Đức Đạt từ hướng vấn đề mà ông gọi là Thực tế luận, như ông nói: "Ở Việt Nam, dười thời Tự Đức, các học giả cũng nghiên cứu những vấn đề cơ bản của Tống Nho, nhưng họ chú trọng đặc biệt vấn đề Thực tế luận. Một trong những học giả kiệt xuất bấy giờ là Nguyễn Đức Đạt"(9). Theo ông thì Thực tế luận là một trong ba trọng tâm của Tống Nho: Vũ trụ luận, Tính luận, Thực tế luận (Cách phân chia 3 trọng tâm này chắc Cao Xuân Huy sử dụng của Lâm Khoa Đường)(10) và nó được ông giải thích rằng "Thực tế luận tức là vấn đề thực tiễn, nhưng nặng về tu dưỡng nội tâm và hành vi đạo đức"(11). Có thể cái thực tế luận "nặng về tu dưỡng nội tâm và hành vi đạo đức" này không chỉ riêng ở Nguyễn Đức Đạt mà là cái chung ở nhà nho Việt Nam, họ vốn xa lạ với đời sống thực tế, không muốn, không khả năng giải quyết những vấn đề thực tế, nên xa lánh nó? Trong Nam Sơn tùng thoại không hề có tiếng vọng của thời sự chính trị, văn hoá đang lay động xã hội mà Nguyễn Đức Đạt đang sống, mặc dù Nam Sơn tùng thoại vẫn nói đến Trị đạo, Đại đạo, Pháp chế, Quân đạo, Bách gia, những cái muốn hay không cũng sẽ nhắc nhở ông liên tưởng đến thực tế thời cuộc đang nóng bỏng. Thế nhưng điều này dường như độc lập với những gì Nguyễn Đức Đạt quan tâm trong Nam Sơn tùng thoại?

Ngô Đức Thọ nhận xét các phần trong Nam Sơn tùng thoại như sau: "Tư duy học thuật của Nam Sơn chủ nhân quán triệt trong toàn bộ tác phẩm, nhưng tập trung nhất ở các thiên Đại đạo, Trị đạo, Pháp chế, Quân đạo, Bách gia"(12). Tiêu chí để thấy cái "tư duy học thuật" ở Nguyễn Đức Đạt là gì, và vì sao tập trung trong năm thiên thì chưa được Ngô Đức Thọ đặt ra. Cũng cần tính đến một khả năng để thấy rõ hơn là Nam Sơn tùng thoại được tổ chức theo lối ngữ lục, có được các câu trả lời là do các câu hỏi, do sự quan tâm của người hỏi về những vấn đề gì, nhiều ít là do học trò nêu ra, người trả lời dù biểu hiện tính tự tin chủ động thì cũng bị động trước tình huống, tình thế, yêu cầu của người hỏi.

Các chương phần, nếu thống kê sẽ thấy nghiêng về các vấn đề thực tế, trả lời các câu hỏi phục vụ cho những hành xử theo cung cách nho giáo.

1. Trả lời nhiều câu hỏi thuộc nhiều lĩnh vực

Nam Sơn tùng thoại thể hiện rất rõ sở học của nhà nho, họ học gồm hết nho, y, lí, số, họ được chuẩn bị để làm quan, làm thầy, làm y lý, biết điển lệ, các tri thức thuộc Pháp gia, biết làm văn, thông thạo chư tử, âm dương ngũ hành,.. Điều đó khiến cho chúng ta sẽ không ngạc nhiên trước việc Nguyễn Đức Đạt đã trả lời các câu hỏi thuộc cái mà ngày nay gọi là nhiều vấn đề của nhiều lĩnh vực khác nhau.

Ông trả lời về mọi vấn đề và vấn đề nào dường như cũng tự tin, cũng sẵn sàng được đáp ứng, không chút băn khoăn, không còn ngập ngừng. Các câu trả lời không hề thấp thoáng một tâm trạng, một liên hệ, một không khí thời cuộc. Tác giả và những người hỏi đặt mình trong một không gian bất biến, thời gian vĩnh cửu, không thay đổi, không biến động, và thực tại được đơn giản hoá, chỉ có thế này mà không thể là thế kia.

Thuộc sách, nhớ sách, làm theo sách, nhớ lời, nhớ gương cổ nhân là mục đích sống và làm việc của nhà nho và Nam Sơn tùng thoại là một nơi thể hiện đầy đủ phương cách sống này.

2. Lấy lời xưa, ý xưa, chuyện xưa như là chân lí vĩnh viễn để trả lời mọi vấn đề

Quan niệm xưa là mẫu mực, là chuẩn giá trị.

Trong thiên Tự luân Nguyễn Đức Đạt nói: "Vua Nghiêu tức là giời, loài rồng ít khi có đôi, bậc thánh cũng vậy"(13), nghĩa là trên cả chuẩn mực hay nói cách khác, đây là chuẩn mực linh thiêng, nó có thể nằm ở cả ngoại lệ so với cái chung mà vẫn được chấp nhận như một trường hợp đặc biệt, không được phép băn khoăn. Bậc thánh không ít, đó là Chu Công, Khổng Mạnh, là Bá Di, là Trung Vũ Hầu, là Liễu Hạ Huệ. Nhưng bậc thánh cũng có thầy, nghĩa là có trên có dưới, có thứ bậc, ông trả lời câu hỏi: "Bậc thánh có thầy không", rằng: "Thánh lấy thần làm thầy, hiền lấy thánh làm thầy, người ngu lấy người tài làm thầy"(14). Phân chia thứ bậc là cách nhìn tôn ti của Nho giáo. Cách nhìn này không chấp nhận phát triển, cái sau có thể hơn trước, đó là hướng về cổ xưa, cái đã được vĩnh cửu hoá. Nguyễn Trường Tộ trong Tế cấp bát điều đã lên án người cùng thời ông cứ lấy xưa làm thầy và cho rằng tư tưởng đó làm hại đất nước, làm cho đất nước yếu hèn.

 Giá trị xưa là tất nhiên là vĩnh viễn.

Chưa phải số liệu qua thống kê, nhưng có một đặc điểm dễ thấy, vì có khá nhiều trong Nam Sơn tùng thoại, là Nguyễn Đức Đạt thường lấy các câu chuyện xưa cũ để trả lời. Dường như câu trả lời cho hiện tại đã có từ trong lịch sử, nó là chân lí hay chủ nghĩa kinh nghiệm mà cả người trả lời và người hỏi đã bằng lòng một cách tất nhiên, nghiễm nhiên. Ngoài "Tử viết" được nhắc đến rất nhiều như chân lí vĩnh hằng không cần xem xét, ta cũng thấy vô vàn sách chuyện được viện dẫn.

Xưa là tấm gương, là cái để học tập, làm theo, bắt chước. Sự vận động, thay đổi của lịch sử không được tính đến.

Trong thiên Tự luân viết: "Có người hỏi: Đạo thờ cha, thờ mẹ phải thế nào? Ông đáp: Nên bắt chước vua Thuấn. Lại hỏi: Đạo thờ vua thế nào? Ông đáp: Nên bắt chước Chu Công"(15). Tư duy tìm cái có sẵn để bắt chước, một mặt biểu hiện thiếu nhu cầu sáng tạo, thiếu tinh thần khẳng định cá nhân, biểu hiện tư duy nô lệ, coi cái chuẩn mực là có thể ứng với mọi hoàn cảnh, mọi điều kiện. Từ thái độ luôn đi tìm cái có sẵn trong sử sách để thực hành nó ngoài đời sống đến thành thói quen, thành mất tinh thần độc lập, thành cách nhìn cuộc sống không biến đổi, mọi thứ là một, là bị đơn giản hoá thành nhất thống, nhất loạt, nhất nguyên.

Trong thiên Thánh hiền, khi có người hỏi: "Thế nào là nho? Ông đáp: Nho mà không lấy Đổng Trọng Thư làm khuôn mẫu, đều là hủ nho cả. Lại hỏi: Đạo làm bề tôi thế nào. Ông nói: Làm tôi mà không lấy Trung Vũ Hầu làm khuôn mẫu đều là cụ thần cả"(16). Bắt chước, làm theo khuôn mẫu đã ngàn năm, nếu khác thì đều không chấp nhận được. Trước kiểu tư duy như thế, mọi biến đổi của thực tế đời sống không có nghĩa phải thay đổi chuẩn mực, khuôn mẫu. Không có quan niệm về phát triển, chỉ cội nguồn, cha ông, thần thánh là bất di bất dịch, là hình ảnh tối linh, tối thượng. Cũng không có tư duy phê phán, tranh luận để xác định, định giá khuôn mẫu, hình như đấy là những vật thiêng cấm kị, nhưng tranh biện, tranh luận vốn ngoài thói quen những người theo tư duy nho giáo. Sự áp đặt và tiếp nhận không chút khả nghi, băn khoăn, lựa chọn.

Chúng ta thỉnh thoảng thấy có sự đặt lại vấn đề nhưng đấy là hỏi để tiếp nhận một sự khẳng định mạnh mẽ hơn.

3. Tư duy quy cái siêu hình về cái hữu hình

Cái gì có sách đã nói thì ông đã có thể ngay lập tức đưa ra như chân lý để khẳng định thì sự suy luận lại thường được quy từ cái siêu hình, cái giá trị tinh thần thành cái hữu hình, cái cụ thể: "Có người hỏi: Tính có hình không? Ông đáp có: Nghĩa như giấy, lễ như mực, trí như bút, nhân như nghiên. - Lại hỏi: Tính có vị không? Ông đáp có. - Nghĩa như rượu, lễ như chè, trí như rau, nhân thì là thóc"(17). Khái niệm tâm được ông giải thích khi có người hỏi thế nào là tâm: "tâm học như gương, gương ở trong hộp mở ra thì soi thấy cả lông tóc, bỏ nắp mà không đậy thì bụi làm mờ đi... Tâm có một vuông mà trần cấu đến ngàn hộc"(18). Nhưng điều đáng chú ý là ông trả lời dứt khoát, như là điều nghiễm nhiên là vậy, một sự quy ước không cần lí giải, giải thích. Cách tư duy như vừa nêu khá phổ biến trong Nam Sơn tùng thoại

 Nam Sơn tùng thoại chứa nhiều nội dung, nhưng đường hướng tư duy, cách lập luận, qua các phân tích trên, biểu hiện trong các thiên, nhìn chung là thống nhất như đã trình bày. Trong từng vấn đề chúng ta có thể đi sâu, bàn thêm khi đặt nó trong nhận thức chung của dòng vận động tư tưởng truyền thống về Nho giáo, nhưng đặt trong mặt lịch đại, trong sự tương tác lịch sử đến nhận thức của Nguyễn Đức Đạt biểu hiện trong Nam Sơn tùng thoại thì cho thấy các kết quả là như vậy. 

TS. Phạm Tuấn Vũ

Con người định vị sự tồn tại của mình trong các quan hệ thuộc cõi nhân sinh và quan hệ với thế giới tự nhiên, với mức độ vô thức và ý thức khác nhau. Ngay trong một đời người thì cảm thức về cùng một mùa thì mỗi năm mỗi khác. Trong vô vàn sự khác biệt đó vẫn có thể khẳng định được rằng mùa xuân là mùa gợi cho người ta nhiều cảm xúc nhất.

Thời Lý là thời cực thịnh của Phật giáo ở Việt Nam. Đây cũng là những năm tháng độc lập của đất nước ta sau ngàn năm Bắc thuộc ngột ngạt đen tối. Những điều này khiến cho thơ xuân của các Phật tử đương thời có ý vị riêng. Tiêu biểu trong số đó là Cáo tật thị chúng của Mãn Giác Thiền sư Lý Trường (1052 - 1096):                

Xuân khứ bách hoa lạc,

Xuân đáo bách hoa khai.

Sự trục nhãn tiền quá,

Lão tùng đầu thượng lai.

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

(Cáo bệnh với mọi người

Xuân qua trăm hoa rụng

Xuân lại tới và trăm hoa sẽ lại nở.

Sự vật đuổi nhau qua trước mắt,

Cái già sùng sục tới trên đầu.

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,

Đêm qua, sân trước, một cành mai).

Đây vốn là một bài kệ, một thể văn vần của nhà chùa. Kệ kết thúc chương kinh hay lời thuyết pháp của các vị cao tăng, nhằm tóm lược nội dung trước đó. Khác với đặc điểm phổ biến của các bài kệ là tính khẩu ngữ, bài kệ này nổi trội tính chất của thơ bác học thời trung đại.

Trong hoàn cảnh chất xuân đang thấm đẫm cả thời gian và không gian, Thiền sư Mãn Giác bộc lộ những suy tư xúc cảm về lẽ luân hồi trong cõi tự nhiên và cõi nhân sinh. Ngôn từ và phương pháp thuyết lý đều thấm nhuần chính đạo, nhưng cả triết học tự nhiên và triết học nhân sinh đều có điểm độc sáng: có một cành mai không theo lẽ thường của muôn loài cây, vẫn khoe sắc khi xuân đã tàn. Tư tưởng nhân sinh mà ngài muốn cho mọi người thụ đắc là người tu hành đến độ viên mãn sẽ thoát khỏi vòng luân hồi. Đạo cao, tâm sáng đã khiến cho vị cao tăng này lĩnh hội được tinh thần khai phóng chân chính của đạo Phật. Hơn nữa mùa xuân của đất trời hòa điệu với mùa xuân phục hưng của dân tộc đã khiến cho tình cảnh riêng (già yếu, bệnh tật) không còn mấy ý nghĩa. Chưa tìm thấy tác phẩm nào khác của Mãn Giác Thiền sư Lý Trường nhưng chỉ cần những dòng xuất khẩu thành chương ngắn ngủi đó, ông đã đủ tư cách một tác giả văn học. Bài kệ - thơ này là một cứ liệu sáng giá trong việc nghiên cứu tư tưởng Phật học ở Việt Nam cũng như đời sống tinh thần dân tộc thời trung đại.  

Trong một ngày xuân dạo vườn thượng uyển, cảnh như cũ gợi nhớ người xưa vua Trần Thánh Tông (1240 - 1290) dạt dào cảm xúc, hạ bút thành một bài thơ chan chứa tình người. Đó là bài Cung viên xuân nhật hoài cựu:

Môn không trần yểm kính sinh đài,

Bạch trú trầm trầm thiểu vãng lai.

Vạn tử thiên hồng không lạn mạn,

Xuân hoa như hứa vị thùy khai?

(Ngày xuân ở vườn trong cung nhớ người cũ

Cửa vắng bụi bao phủ, đường đầy rêu,

Chính giữa ban ngày mà chìm lặng, ít người đi lại.

Nghìn hồng muôn tía luống những đua tươi,

Không biết những hoa xuân kia vì ai mà nở?).

Bài thơ không có những từ ngữ cho biết "người cũ" cụ thể là ai nhưng chúng ta hình dung được người đó thuộc phái đẹp vì rằng hoa xuân muôn hồng nghìn tía gợi đến nàng. Xưa kia bao quanh vua chúa có biết bao nhiêu là người đẹp. Vua chúa sở hữu họ do quyền lợi, do nghĩa vụ, do tình cảm và vì vô vàn lý do khác. Ta không biết người cũ mà nhà vua đang nói đến là hậu, là phi, là tần hay thuộc thân phận khác. Dù ai đi nữa, đó cũng là người may mắn vì người đó là đấng quân vương có tình cảm sâu sắc, vì vắng nàng nhà vua thấy vườn trong cung u tịch như vườn của Thiền viện. Theo lẽ tự nhiên mỗi độ xuân về vườn trong cung ngàn hoa đua nở, vậy mà nhà vua thấy điều đó dường như lạc điệu vì không còn dung nhan kiều diễm của một người cùng hòa điệu khoe sắc.

Trần Nhân Tông (tức Trần Khâm 1258 - 1308) là một vị vua yêu nước và anh hùng, một nhà thơ, nhà văn hóa lớn của đất nước ta. Ông còn sáng lập ra dòng Thiền Trúc lâm ở Việt Nam. Trần Nhân Tông có nhiều bài thơ viết trong ngày xuân: Xuân nhật yết Chiêu Lăng, Xuân hiểu, Xuân cảnh, Xuân vãn…

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước lâu dài và oanh liệt của dân tộc ta, mãi mãi sáng ngời hào khí Đông A. Trong Hán tự, chữ Đông và bộ A là chiết tự chữ Trần. Hào khí Đông A là hào khí của quân dân ta đời Trần. Hào khí đó thấm nhập cả trong thơ xuân của vua Trần Nhân Tông, tiêu biểu ở bài Xuân nhật yết Chiêu Lăng:

Tì hổ thiên muôn túc,

Y quan thất phẩm thông.

Bạch đầu quân sĩ tại,

Vãng vãng thuyết Nguyên Phong.

(Ngày xuân thăm Chiêu Lăng

Quân thị vệ như hùm gấu, trước nghìn cửa đứng nghiêm túc,

Áo mũ các quan đủ cả bảy phẩm.

Người lính già đầu bạc,

Thường kể lại chuyện đời Nguyên Phong).

Chiêu Lăng là lăng vua Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên của nhà Trần. Nhà vua đã lãnh đạo quân dân ta đương thời đánh bại cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Nguyên Mông (năm 1257) và có công trên nhiều lĩnh vực để bảo tồn và phát triển văn hóa Việt Nam.

Bài thơ không lấy cảm hứng từ thiên nhiên trong mùa xuân - mùa đẹp nhất trong năm - mà lấy cảm hứng từ một việc làm có ý nghĩa long trọng của người đứng đầu triều đình là bái yếu lăng mộ tiền nhân trong dịp mùa xuân. Lăng mộ thường gợi cho người ta những ý tưởng và cảm xúc về quá khứ và về cõi chết, vì thế thường có vẻ lạnh lẽo. Những điều đó hầu như không thấy ở đây. Sự oai nghiêm của quân thị vệ hòa điệu với sự rộn ràng của đông đảo các quan văn võ theo hầu nhà vua (những điều này là tất yếu, trong các hoạt động tương tự đều có). Năm Nguyên Phong thứ 7 (1258) quân dân ta chiến thắng giặc Nguyên lần thứ nhất. Niềm tự hào về võ công oanh liệt bảo vệ Tổ quốc đã thấm nhập đến cả người lính già, trở thành sức mạnh thường trực, khiến cho chuyện nhiều năm trước mà như thời sự. Cả bài thơ chỉ có một chữ xuân ở nhan đề nhưng cảm giác về sự sống nồng ấm thấm đượm toàn bài nhờ sự hòa hợp: hòa hợp giữa đất trời và lòng người, hòa hợp giữa những người ở các giai tầng rất khác nhau trong niềm tự hào về quá khứ giữ nước oanh liệt và niềm kỳ vọng về tương lai tốt đẹp.

Lịch sử Việt Nam kể từ khi mở nước cho đến tận hôm nay việc dựng xây luôn đi đôi với bảo vệ đất nước. Bởi vậy thời trung đại những tác giả gắn bó với số phận của dân tộc, thơ xuân có âm buồn nhiều hơn hẳn. Sớm nhất và tiêu biểu nhất về mặt này là thơ xuân của Lê Cảnh Tuân (? - 1416?).

Hiện vẫn chưa biết năm sinh của Lê Cảnh Tuân, chỉ biết ông đỗ thái học sinh (tiến sĩ) dưới triều Hồ (năm 1400). Năm 1406 giặc Minh kéo quân sang dưới chiêu bài "phù Trần diệt Hồ" (giúp đỡ nhà Trần, tiêu diệt nhà Hồ) nhưng thực chất là xâm lược nước ta. Một người bạn của Lê Cảnh Tuân là Bùi Bá Kỳ - vốn là một cựu thần nhà Trần - tin vào nhà Minh, được chúng cho làm quan. Lê Cảnh Tuân viết Vạn ngôn thư (Bức thư vạn chữ) để cảnh tỉnh bạn. Giặc Minh giam ông ở kinh đô Lăng Kim. Ông chết trong ngục sau năm năm bị giam giữ, đày đọa. Đến nay mới biết được mười hai bài thơ của ông, trong đó có hai bài trong nhan đề có chữ xuân, hai bài trong nhan đề có các chữ nguyên nhật (ngày đầu năm). Bốn bài thơ xuân trong số mười hai bài, tỉ lệ ấy hình như xưa nay chưa có. Những bài thơ này đều biểu thị tình cảnh và tâm trạng đau buồn của một chí sĩ khi đất nước đang chìm đắm trong cảnh nô lệ lầm than, bản thân bị đọa đày trên đất kẻ thù. Bài thơ Nguyên nhật (Ngày đầu năm) đã thực sự tạo nên nghịch lý: câu chữ thì không thể ngắn gọn hơn, còn những nỗi buồn đau thì chồng chất:

Lữ quán khách nhưng tại,

Khứ niên xuân phục lai.

Quy kỳ hà nhật thị,

Lão tận cố hương mai!

(Vẫn làm khách ở nơi quán trọ,

Mùa xuân năm ngoái lại trở về.

Ngày về biết lúc nào,

Những cây mai nơi vườn cũ đã cỗi hết).

Mỗi khi tết đến xuân về, theo lẽ thường người ta được đoàn tụ ở nơi quê nhà với những người thân thiết. Tác giả thể hiện một cảm thức khác thường về mùa xuân đang về, đó là mùa xuân năm ngoái (khứ niên xuân). "Mùa xuân năm ngoái" không đơn thuần chỉ là một trong bốn mùa của trời đất mà cộng vào đó là cảm thụ của con người. Mùa xuân thì như cũ mà thân phận của tác giả đã khác. Không chỉ mùa xuân này không được đón xuân nơi quê nhà, mà ngay cả việc có còn được gặp lại cố hương hay không cũng không biết. Trong tình thế nhuốm màu tuyệt vọng đó, hình ảnh những cây mai già nơi vườn cũ nối kết tác giả với cố hương, cố quốc và những tháng ngày đã qua. Mai là cây của mùa xuân, là bạn của những thi nhân thời trung đại. Đôi bạn cố tri, giờ kẻ thì phiêu bạt chân trời tính mạng do người ta định đoạt, kẻ thì già cỗi, thật cám cảnh!

Âm điệu buồn đau trong thơ xuân vì nước mất nhà tan, cũng thấy ở thơ Nguyễn Trãi - một người đỗ đồng khoa Thái học sinh với Lê Cảnh Tuân. Ngay cả khi đất nước đã sạch bóng ngoại xâm thì cũng không tìm thấy âm điệu vui vẻ, hứng khởi trong thơ xuân của ông. Bài thơ Trại đầu xuân độ (Bến đò ngày xuân đầu trại) là một ví dụ:

Độ đầu xuân thảo lục như yên,

Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên.

Dã kính hoang lương hành khách thiểu,

Cô chu trấn nhật các sa miên.

(Cỏ xuân ở bến đò đầu trại xanh như khói,

Lại thêm có mưa xuân nước vỗ vào nền trời.

Đường đồng nội vắng tanh, ít người đi lại,

Con thuyền đơn chiếc gác đầu lên bãi cát ngủ suốt ngày).

Trại là vùng đất còn ít được khai phá. Bài thơ của Nguyễn Trãi như một bức tranh đẹp nhưng buồn. Trong không gian rộng rãi khoáng đạt ngày xuân, cỏ cây tràn đầy sức sống. Xanh như khói là một màu xanh động. Dường như cây cỏ từng phút giây lớn lên trước mắt người. Hòa điệu với điều đó là nước sông mùa xuân như vỗ róc rách tận chân trời. Tuy nhiên hoạt động của con người thì ngược lại. Người qua lại ít ỏi càng trở nên thưa vắng trong không gian rộng lớn. Con thuyền vốn là một hình ảnh của sự sống con người, ở nơi đây ít đến độ không thể ít hơn được nữa và suốt ngày nằm ngủ trên bãi cát.

Nguyễn Du có nhiều bài thơ viết trong mùa xuân, chủ yếu để bộc lộ tâm trạng của mình. Những bài thơ trong nhan đề có chữ xuân hoặc những tín hiệu nói về mùa xuân là: Quỳnh Hải nguyên tiêu, Xuân nhật ngẫu hứng, Xuân dạ, Thanh minh ngẫu hứng, Xuân tiêu lữ thứ. Các bài thơ này đều buồn, vì các nguyên cớ khác nhau. Bài Quỳnh Hải nguyên tiêu (Đêm rằm tháng Giêng ở Quỳnh Hải) như sau:

Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên, 

Y y bất cải cựu thuyền quyên. 

Nhất thiên xuân hứng, thuỳ gia lạc, 

Vạn lý Quỳnh Châu thử dạ viên. 

Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán, 

Bạch đầu đa hận tuế thời thiên. 

Cùng đồ liên nhứ dao tương kiến, 

Giác hải thiên nhai tam thập niên.

(Đêm rằm tháng giêng, sân vắng, trăng sáng đầy trời. Vầng trăng vẫn đẹp như xưa, không thay đổi. Chẳng biết nhà ai được hưởng thú vui đêm nay ở đất Quỳnh Châu ngoài muôn dặm này? Còn ta thì ở quê hương Hồng Lĩnh chẳng còn nhà cửa, anh em cũng đều tan tác cả. Đầu đã bạc, càng giận cho ngày tháng trôi mau. Cảm động biết bao, giữa lúc cùng đường, tuổi đã ba mươi, đang ở nơi chân trời góc biển, mà trăng vẫn từ xa đến với ta).

Trăng và thi nhân luôn có mối tương giao đặc biệt. Nguyễn Du thấy trăng như một người đàn bà trẻ đẹp (thuyền quyên). Vẻ đẹp mênh mông lộng lẫy của đêm trăng rằm tháng Giêng càng làm nhà thơ thấm thía nghịch cảnh. Có những người được đoàn tụ đón tết Nguyên tiêu vui thưởng trăng đẹp, còn tác giả đang chồng chất nỗi buồn đau vì bản thân ly hương, hướng về cố hương thì nơi đó nhà cửa không còn, anh em ly tán. Nguyễn Du còn có nỗi buồn đau truyền kiếp của thi sĩ vì cuộc đời mình và nhân thế nói chung bất như ý. Trong nghịch cảnh đó thi hào càng quý giá chị Hằng gấp bội vì còn là người chung thủy, bất chấp ngàn trùng đến với cố nhân.

Thơ xuân của các nhà Nho yêu nước chống Pháp có những nội dung và âm hưởng mới trong thụ cảm về tự nhiên và nhân sinh. Bài thơ Xuân nhật của Nguyễn Xuân Ôn (1825 - 1889) là một ví dụ:

Vực trung thiên hạ thị thùy gia,

Đồ sử tam quân tác Sở ca.

Viễn tái mã cầu mang bạch phát,

Cao lâu cân trách hý thanh nga.

Đường thần chỉ khả thu Nghi, Bật,

Triệu tướng hà đương đắc Mục, Pha.

Hồi thủ độc liên ca vũ địa,

Thanh thanh sinh quản tạp tiêu già.

(Ngày xuân

Thiên hạ trong cõi này là của nhà ai?

Luống để ba quân hát theo giọng người nước Sở.

Người cưỡi ngựa mặc áo cừu ở chốn ải xa, đầu đã bạc vẫn ruổi rong,

Bọn khăn nịt, đội mũ võ ở trong lầu cao chỉ hú hí với lũ mày ngài.

Quan nhà Đường, cần phải có người như ông Nghi, ông Bật,

Tướng nhà Triệu ước gì được người như ông Bật, ông Pha.

Ngoảnh lại chỉ thương cho cái chốn áo xiêm lễ nhạc,

Tiếng sênh tiếng sáo lại lẫn lộn với tiếng kèn tây).

Bài thơ bộc lộ rõ phong cách của thơ Nguyễn Xuân Ôn là sử dụng nhiều điển cố Trung Hoa. Sử dụng điển cố là cái được nói đến về chuyện người xưa việc cũ nhưng nhằm để bộc lộ những giá trị hiện thời. Điển cố làm cho thơ nói riêng và văn chương nói chung thêm hàm súc vì chỉ cần lượng ngôn từ tối thiểu mà gợi đến một câu chuyện, làm cho nó tham gia vào văn bản, góp phần làm cho thơ văn thêm kín đáo, tế nhị vì đây là lối diễn đạt gián tiếp. Người xưa ưa thích dùng điển cố.

Nguyễn Xuân Ôn nhắc lại chuyện khi Hán Sở tranh hùng, Trương Lương đã sai người hát giọng Sở để lừa Hạng Vũ. Việc này ám chỉ người ta đang đua nhau học tiếng Tây mà quên đi những việc quan trọng và cấp thiết hơn. Nhà thơ còn chỉ ra những cảnh chướng tai gai mắt nữa là trong khi có những người không quản tuổi cao sức yếu, bôn tẩu đường xa tìm nguồn cầu viện để cứu nước thì có những kẻ "khăn nịt, đội mũ võ" tức là những kẻ hưởng lộc để đánh giặc thì chỉ lo hú hí với gái đẹp. Bài thơ này nằm trong cảm hứng nhất quán của thơ Nguyễn Xuân Ôn cho rằng đánh Pháp cứu nước là thước đo đúng sai, xấu đẹp, vinh nhục. Nhan đề là Xuân nhật nhưng cả tám câu của bài thơ không lấy cảm hứng từ mùa này. Nhan đề đó chỉ như một tín hiệu thời gian thông thường.   

Thơ xuân của các thi sĩ Việt Nam thời trung đại nhiều và có những nét tương đồng, nổi bật là không đặt chủ tâm vào thể hiện mùa xuân mà quan tâm trước hết đến những vấn đề của đời sống bản thân và cộng đồng. Bên cạnh đó mỗi nhà thơ lớn lại có những đóng góp riêng về nội dung và nghệ thuật.

Bùi Văn Chất

 

Thướng sơn (1942)

Nguyễn Ái Quốc

Lục nguyệt nhị thập tứ

Thướng đáo thử sơn lai

Cử đầu hồng nhật cận

Đối ngạn nhất chi mai.

Lên núi (1942)

Tháng sáu ngày hai mươi bốn

Lên đến (đỉnh) núi này về

Ngẩng đầu, gần mặt trời hồng

Bên kia bờ (suối) một nhành mai.

Hai câu sau, Tố Hữu dịch:

"Ngẩng đầu, mặt trời đỏ

Bên suối, một nhành mai."      

Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, ngày 8/2/1941, Bác trở về nước. Đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc, việc đầu tiên là Người cùng Trung ương Đảng điều chỉnh chiến lược cách mạng, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, thành lập Mặt trận Việt Minh mở ra giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam.                                                                                                                          

Trên cánh rừng địa đầu Tổ quốc, nơi vinh dự đón Người về lập cứ, định kế sách "thu phục giang sơn", ngày 24/6/1942, một ngày giữa tiết hạ chí, trong một chuyến "thướng sơn" (lên ngàn), cảnh trí thiên nhiên đất nước đã làm Người xúc động, nghĩ tới: Non sông gấm vóc đang chìm trong đêm nô lệ gần tám mươi năm nay dưới ách xiềng xích của bọn thực dân Pháp rồi phát xít Nhật. 

"Cẩm tú sơn hà tọa khán nhân" (Giang sơn gấm vóc, ngồi nhìn người ta). Cảm ứng với dòng tâm sự cụ Phan Sào Nam, trong câu thơ trên, Người liên tưởng tới một câu trong Tấn sử mà đã từ lâu các vị túc nho than thở với nhau, san sẻ nỗi niềm tâm sự của người dân mất nước: "Cử đầu kiến nhật, bất kiến Trường An". Dịch nghĩa: Ngẩng mặt thấy mặt trời, chẳng thấy Trường An, nghĩa là chẳng thấy non sông đất nước của mình đâu (Trường An nguyên là kinh đô nước Tàu ngày xưa, đời sau người ta gọi kinh đô là Trường An)(1).  

Tức cảnh sinh tình, Người ứng tứ thơ tuyệt cú. Tứ thơ thức tỉnh lương tri các tầng lớp nhân dân, các sĩ phu yêu nước:

"Cử đầu hồng nhật cận/ Đối ngạn nhất chi mai"

Nhất chi mai - Một nhành mai! Xưa nay biết bao hiền triết, thi gia gửi niềm tâm sự. Cuốn "Vịnh mai thi tập" (Nhà xuất bản Hồng Kông, 1992) đã có tới 289 bài chọn lọc.

Tề Kỷ đời Đường có "Tảo mai" (mai sớm): "Tiền thôn thâm lý tuyết/ Tạc dạ nhất chi mai" (Thôn nước, trong tuyết âm u/ Đêm qua, một nhành mai nở).

Uông Trung đời Thanh có Mai hoa: "Cố viên hoa lạc tận/ Giang thượng nhất chi mai".

Lý Bạch: "Nghe nói Xuân về chưa được gặp/ Đến gần mai lạnh hỏi tin sương" (Ở đây, mai là sứ giả báo tin Xuân).

Ở Việt Nam ta, Cao Bá Quát: "Suốt đời cúi xuống hái hoa mai" (Nhất sinh đê thủ bái mai hoa). Mai Tiền Điền: Cốt cách(2); Mai Ức Trai: Nết sạch hơn người(3); Mai Mãn Giác thiền sư: Ngẫm đủ sự đời(4)… Tâm hồn họ luôn quyện với thiên nhiên.

Mai trong Bác chúng ta lại là: "Ngẩng đầu mặt trời đỏ/ Bên suối một nhành mai". Dưới nắng hè, trên lưng ngựa, Người phóng tầm mắt ngắm cánh rừng bao la ngợp trong hoa nắng mặt trời đỏ như sát trên đầu: "Cử đầu hồng nhật cận". Thấy mặt trời mà chẳng thấy "kinh đô". Tự tin về một quyết sách, một tương lai tươi sáng của cách mạng Việt Nam: "Đối ngạn nhất chi mai".

Nếu "Mai mà Người xưa đã từng nở trong chốn tuyết âm u", đã từng gây ấn tượng thì nay, "Mai" của Người yêu nước(5) tươi tắn dưới nắng hè, càng nổi bật lên cốt cách của một triết nhân luôn ung dung thư thái hướng về một ngày mai tốt đẹp. Ngay cả khi phải "Hòa lệ thành thơ" để tả nỗi cơ cực hơn một năm bị giải tới, giải lui gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, bắt đầu từ tháng 8/1942, thì "phẩm chất mà Người có một cách dồi dào là sự lạc quan của ý chí"(6) lại càng bừng sáng: "Trong ngục giờ đây còn tối mịt/ Ánh hồng trước mặt đã bừng soi" (Buổi sớm - NKTT, tr.34)(7).

"Trong tù khoan khoái giấc ban trưa/ Một giấc miên man suốt mấy giờ/ Mơ thấy cưỡi rồng lên thượng giới… (Trưa - tr.36 - SĐD).

"Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt / Sao vàng năm cánh quyện hồn ta" (Không ngủ được - tr.157 - SĐD).

… Đọc thơ Bác, nghĩ tới Bác, "Có Bác lòng ta tươi sáng hơn" (Tố Hữu). Bao giờ cũng vậy.

                                                                                                                                           

Chú thích

1.  Đào Duy Anh, Từ điển Hán Việt,  tr.747

2. "Mai cốt cách, tuyết tinh thần": Truyện Kiều, Nguyễn Du.

3. "Xuân đến cây nào chẳng tốt tươi/ Ưa mai vì nết sạch hơn người" (Ức trai tập).

4. "Xuân qua trăm hoa rụng/ Xuân đến trăm hoa tươi/ Trước mắt việc đi mãi/ Trên đầu già đến rồi" (Chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết/ Đêm qua, sân trước, một nhành mai).

Mãn Giác Thiền Sư (1052 - 1096), Hoàng Việt thi tập của Bùi Huy Bích (1744 - 1818), Bùi Văn Nguyên dịch, Hợp tuyển thơ văn VN, tập 2.

5. Thời gian này, Bác mang tên Nguyễn Ái Quốc.

6. Ý kiến của nhà văn Úc Allan Asbolt về Hồ Chí Minh (Almanach - Những nền văn minh thế giới, trang 1829)

7. "Bách lý tầm quân, vị ngộ quân/ Mã đề đạp toái lĩnh đầu vân".

"Quy lai ngẫu đáo mai sơn thụ/ Mỗi đóa hoàng hoa, nhất điểm Xuân" (Thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh).

 

PGS.TS Lê Quốc Hán

 

Trên đất nước Việt Nam thân yêu, mỗi mùa mỗi vùng đều có những loài hoa vừa đẹp vừa quý đặc trưng cho nền văn hóa từng miền.

Xuân về, hoa đào rực nở xua đi cái giá rét miền Bắc. Khi mới lên bảy, đọc một truyện tranh "Sự tích hoa đào" nói rằng xưa hoa vốn nhiều cánh và sắc trắng. Một chinh phụ thêu khăn gửi chinh phu đang trấn ngoài ải Bắc, sợ chồng cảm lạnh đã cắn ngón tay lấy máu mình thêu những bông hoa lên, từ đó hoa nhuốm màu hồng đỏ và có hình năm cánh như năm ngón tay chụm lại. Chẳng biết bao nhiêu phần trăm sự thật trong câu chuyện này, chỉ biết rằng nó đã đi cùng tôi suốt sáu mươi mùa xuân qua.

Không biết quê hương gốc gác hoa đào ở đâu, nhưng chắc chắn nó đã xuất hiện trên đất nước ta từ lâu lắm rồi. Gần bảy trăm năm trước, Đại thi hào Nguyễn Trãi (1380 - 1442) đã viết rất hay về loài hoa này:                                           

Đào hoa

Một đóa đào hoa khéo tốt tươi

Cách xuân mơn mởn mấy xuân cười

Đông phong ắt có tình hay nữa

Kín tiễn mùi hương dễ động người

Một niềm tâm sự kín đáo u hoài. Trong tuyệt tác Truyện Kiều, có một câu thơ thường được nhắc đến Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. Có thể Nguyễn Du (1765 - 1820) dịch từ câu thơ của Thôi Hộ đời Đường đào hoa y cựu tiếu đông phong, nhưng câu thơ của Nguyễn đã Việt hóa đến mức không còn một dấu vết của Đường thi; nó lột tả hết tâm trạng ngổn ngang của chàng Kim khi trở lại vườn Thúy sau ba năm xa cách trước cảnh: trước sau nào thấy bóng người!

Hình dạng như hoa đào nhưng hoa mai vàng rực như sắc nắng phương Nam. Đây là loài hoa được nhắc đến nhiều trong thơ ca cổ điển Việt Nam. Gần một nghìn năm trước, Thiền sư Mãn Giác Lý Trường (1052 - 1090) đã nhắc đến loài hoa này trong bài kệ "Cáo tật thị chúng" (Có bệnh bảo mọi người):

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

(Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một nhành mai)

"Cành mai này vượt khỏi không gian và thời gian. Nó vượt khỏi mọi định thể của con người, siêu vượt cả sự sống và lẽ chết. Đó là chân lý luân hồi đạo giới nhà Phật nhưng cũng là hy vọng của cõi nhân sinh và cũng chính là bản ngã đầy tính lạc quan của tác giả. Tính lạc quan này tạo sức sống cho bài thơ qua bao thế kỷ!"(1).

Hoa mai thường tượng trưng cho khí tiết thanh cao của người quân tử. Chính bởi vậy nhà thơ Cao Bá Quát - một nhà nho ngang tàng khí phách một đời chưa biết cúi đầu trước mọi cường quyền cũng phải thừa nhận: Nhất sinh đê thủ bái hoa mai (Một đời chỉ cúi trước hoa mai).

Trong thi ca Việt Nam hiện đại, bài thơ sau của Bác Hồ nói đến hoa mai được nhiều người yêu thích :    

Thướng sơn

Lục nguyệt nhị thập tứ,

Thướng đáo thử sơn lai.

Cử đầu hồng nhật cận,

Đối ngạn nhất chi mai

(Lũng Dẻ, 1942)

Sau đây là bản dịch của nhà thơ Tố Hữu:

Lên núi

Hai mươi tư tháng sáu

Lên ngọn núi này chơi

Ngẩng đầu mặt trời đỏ

Bên suối một nhành mai

Còn hoa ban màu trắng như những đám mây bay bồng bềnh trên những dãy núi cao trùng điệp Tây Bắc. Rồi hoa mơ, hoa mận nở trắng Việt Bắc tạo nên bức tranh thổ cẩm rực rỡ muôn màu suốt một dải Bắc Nam.

Những ai có tuổi thơ gắn với vùng quê, hẳn rất nhớ hoa xoan (còn gọi là hoa sầu đông) với màu tím thủy chung tượng trưng cho tình yêu đôi lứa. Lại còn hoa chanh, hoa bưởi nở tím vườn nhà. Có một thời thơ viết hoa xoan, hoa chanh, hoa bưởi nhiều lắm, nhưng có lẽ người viết nhiều nhất hay nhất là thi sĩ chân quê Nguyễn Bính. Bài thơ nào ông viết về hoa xoan, hoa chanh, hoa bưởi cũng đầy ắp kỷ niệm với những mối tình trong sáng thủy chung, sao trên đầu tôi chỉ văng vẳng câu thơ bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời của nữ thi sĩ Anh Thơ? Phải vì nông thôn đã đô thị hóa nên cây xoan phải nhường chỗ cho những hàng rào xi măng tương xứng với những ngôi nhà tầng, những biệt thự cao vút, hay lòng người đã khác xưa?

Tháng ba, hoa gạo thắp lửa báo một mùa hè với cái nắng chói chang đang đến. Rồi mùa hè đến thật. Những bông phượng đồng loạt nở đỏ rực sân trường. Ôi! Ai chẳng có một thời học trò vô tư hồn nhiên với những kỉ niệm tươi đẹp dưới từng gốc phượng vĩ? Ai chẳng nhớ một vài câu trong khúc hát: hoa như mưa rơi rơi/ như gợi nhớ một thời trai trẻ/ … /anh không đi qua hết miền đắm say. Ở đất nước có một hải cảng, một thành phố mang tên loại hoa này - Thành phố hoa phượng đỏ - nỡ nào anh không đi qua hết miền đắm say?

Nói đến mùa hè, hoa sen là số một. Bởi vậy dù một vài nước Nam Á (như Nêpan) đã chọn hoa sen làm quốc hoa, nhưng số người Việt muốn chọn loài hoa này làm quốc hoa vẫn chiếm ưu thế. Vì sao vậy? Phải vì hoa sen tượng trưng cho những phẩm chất tốt đẹp nhất của người dân thường Việt Nam:

Trong đầm gì đẹp bằng sen

 Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

Nhị vàng bông trắng lá xanh

 Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Hơn nữa, hoa sen còn gắn với câu thơ của thi sĩ Bảo Định Giang đã trở thành ca dao ca ngợi vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc mà chúng ta thuộc lòng từ thuở ấu thơ:

Tháp Mười đẹp nhất hoa sen

Việt Nam đẹp nhất có tên Cụ Hồ

Bên cạnh hoa sen thường có hoa súng khiêm nhường. Tôi ấn tượng nhất lần đầu ra Thủ đô, thăm chùa Một Cột, nhìn đầm nước nhỏ bên cạnh thấy hoa súng nép mình bên cạnh hoa sen, rồi lần đầu tiên vào Đồng Tháp lại chiêm ngưỡng đúng bức tranh này.

Không ai phủ nhận cúc là loài hoa điển hình cho mùa thu. Dẫu còn đó hướng dương, vạn thọ… Nhưng trong các bức tranh tứ bình cúc luôn được chọn: tùng cúc trúc mai. Nhớ khi lên mười, cha tôi mua bộ tranh tứ bình về treo Tết. Mặc dù không biết một chữ Hán Nôm nhưng đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in bài thơ vịnh trên các bức tranh đó:

Xuân thiên mai nhụy phô thanh bạch

Hạ nhật hồng hoa đấu hảo kì

Cúc ngạo thu tình hương vạn hộc

Tùng lăng đông tuyết ngọc thiên chi.

Cũng xin nói thêm rằng các nhà nho thường ví người quân tử như trúc, điều này dễ hiểu bởi "trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng". Nhưng họ ví khí tiết người quân tử như hoa cúc thì kẻ ngoại đạo văn chương này chưa hiểu hết. Phải vì trong giá lạnh hoa cúc vẫn không bị lụi tàn?

Hoa hồng được suy tôn "Bà chúa mùa đông". Ngày nay, khi làn gió văn hóa phương Tây tràn vào, hoa hồng còn được sắc phong "Nữ hoàng tình yêu". Dù khó khăn khan hiếm mấy, khi tỏ tình chàng trai nào chẳng tìm một bông hồng đẹp nhất dành tặng người mình yêu. Đó là một nét văn hóa đẹp, nhắc nhở đôi tình nhân "hoa hồng nào chẳng có gai".                                               

Làm sao có thể điểm hết các loài hoa trên đất nước bốn mùa nơi nơi hoa nở này? Ví như hoa tầm xuân gợi nhớ bài ca dao đẹp và buồn: nụ tầm xuân nở ra xanh biếc/ em có chồng rồi anh tiếc lắm thay. Ví như hoa huệ gợi nhớ kiệt tác "Thiếu nữ bên hoa huệ" của danh họa Tô Ngọc Vân. Rồi hoa đại nở trắng sân chùa, mẫu đơn nở đỏ vườn nhà gắn với bao cổ tích huyền thoại. Đó là chưa nói tới những loài hoa thuộc hàng quý tộc: trà mi, hải đường: tiếc thay một đóa trà mi…, hải đường lả ngọn đông xuân… Chưa nói đến lan, ly, cẩm chướng từ phương Tây nhập vào, anh đào từ xứ sở mặt trời mọc gửi tặng sớm "Việt Nam hóa". Chúng làm phong phú thêm bức tranh gấm vóc mang tên Hoa Việt.

Cổ nhân có câu: người là hoa của đất. Có gương mặt nào đẹp hơn gương mặt thiếu nữ Việt Nam, có gương mặt nào đẹp hơn gương mặt mỗi người Việt Nam? Bởi vậy khi Xuân về trăm hoa đua nở, lại bồi hồi nhớ câu thơ: Đất nước mình đâu cũng đẹp hơn tranh/ gương mặt người ai cũng sáng long lanh (Tố Hữu).

 

Chú thích

(1). Hà Quảng, Mười thế kỷ một sắc hoa, Tạp chí Hồng Lĩnh, Số Tết Đinh Dậu (125 +126).

Nguyễn văn Toàn

 

Vua Minh Mạng tên là Nguyễn Phúc Đảm (còn có tên khác là Kiểu), sinh ngày 23 tháng Tư năm Tân Hợi (25-5-1791) tại làng Tân Lộc, tỉnh Gia Định, là con thứ 4 của vua Gia Long và bà Nguyễn Thị Đang.

Vua lên ngôi vào tháng Giêng năm Canh Thìn (1820), là vị vua thứ hai của nhà Nguyễn, làm vua được 21 năm (1820-1841). Vua mất ngày 28 tháng Chạp năm Canh Tý (20-1-1841), hưởng thọ được 50 tuổi. Vua có 142 người con (74 con trai, 68 con gái).

Sau khi mất, bài vị vua Minh Mạng được đưa vào thờ ở Thế Miếu với Miếu hiệu Thánh Tổ. Thụy hiệu của vua là Thể thiên Xương vận Chí hiếu Thuần đức Văn vũ Minh đoán Sáng thuật Đại thành Hậu trạch Phong công Nhân Hoàng đế.

 "Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu" (Cao Xuân Dục chủ biên) viết: "Đức Thánh tổ ta thiên tư là bậc thượng thánh, nối nghiệp lúc thiên hạ đại định rồi, chăm lo chánh trị, sửa sang thái bình, xét điển xưa, sửa lễ nhạc, cẩn thận đồ cân lượng, xét kỹ các pháp độ, đặt khoa thi để lựa kẻ sĩ, cày tịch điền để khuyên việc nông, thường tuần hành để xem địa phương, năng khảo sát để xét quan lại, chăm việc võ thời mùa xuân duyệt binh, cẩn việc hình thời mùa thu thẩm án, quy mô kỹ càng, phẩm tiết đều đủ. Đến như ức quyền những người cấm cận, nghiêm răn các bọn hoạn quan, không cho Hoàng thân quốc thích tự dự việc chánh sự, ý chăm lo việc thường như một ngày; những giấy tờ phê phó dụ chỉ chế cáo ban ra, đều là Ngự chế thức mới; văn giáo khắp cả dân Mường dân Thổ, Võ oai vang đến nước Xiêm, nước Lào; thánh đức thần công không thể hình trạng hết được! Vả lại lúc vạn cơ thong thả, lưu ý về việc văn chương; ngự chế 5 tập thơ, 2 tập văn và các bài Thiên cơ dự triều, Cổ khí minh văn, đều là phát minh đạo mầu, mở rộng phép học. Ngài thiệt là bậc Đại thánh chế tác khác xa tầm thường, đổi hết những thói quê mùa từ Lê, Lý trở về trước, mở lối trị văn minh ngàn muôn đời cho nước Đại Nam ta. Tốt thay! Thạnh thay!".

Đặc biệt, vào năm Mậu Tuất 1838 dưới thời vua Minh Mạng có những sự kiện quan trọng.

Bắt đầu có ý định đổi Quốc hiệu từ Việt Nam sang Đại Nam (hoặc Đại Việt Nam)

Vào năm 1804, vua Gia Long đổi tên quốc hiệu từ Đại Việt sang Việt Nam. Thời Minh Mạng, lãnh thổ Việt Nam được mở rộng nhất trong lịch sử và nước ta thực sự trở thành một quốc gia hùng mạnh. Vì vậy vào năm 1838, vua Minh Mạng đã có ý định đổi tên nước ta là Đại Nam. Vua cho sứ sang hỏi ý kiến triều đình Mãn Thanh nhưng không được chấp thuận. Đến ngày 15-2-1839, vua Minh Mạng không cần sự cho phép của nhà Mãn Thanh, đã công bố quốc hiệu Đại Nam. Quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945.

Sách "Đại Nam thực lục" ghi lại việc vua Minh Mạng giải thích việc đặt Quốc hiệu là Đại Nam như sau: "Nay bản triều có cả phương Nam, bờ cõi ngày càng rộng, một dải phía Đông đến tận biển Nam, vòng qua biển Tây, phàm là người có tóc có răng đều thuộc vào trong bản đồ, bờ biển rừng sâu khắp nơi đều theo về cả. Trước gọi là Việt Nam, nay gọi là Đại Nam thì càng tỏ nghĩa lớn… Chuẩn từ nay trở đi, Quốc hiệu phải gọi là nước Đại Nam, hết thảy giấy tờ xưng hô phải chiếu theo đó tuân hành. Giả hoặc có nói liền là nước Đại Việt Nam về lẽ vẫn phải, không được nói hai chữ Đại Việt. Còn Hiệp kỷ lịch năm nay trót đã ban hành thì không phải thay đổi hết thảy… Lấy năm Minh Mạng thứ 20 bắt đầu đổi thành chữ Đại Nam mà ban hành để chính tên hiệu cho các nơi xa gần đều biết".

Đích thân đến khoa thi Hội năm 1838

Vua Minh Mạng rất quan tâm đến học hành khoa cử tuyển chọn nhân tài. Sau khi lên ngôi được hai năm, vua Minh Mạng đã tổ chức mở khoa thi hội đầu tiên (1822) để chọn nhân tài giúp nước. Từ khoa đầu tiên (1822) đến khoa thi thứ sáu (1838) đã có 56 vị tiến sĩ và hàng chục phó bảng.

Tháng ba năm Mậu Tuất 1838 vua Minh Mạng đích thân đến Trường Thi thăm hỏi, xem xét việc ăn uống và việc chống rét cho thí sinh. Về việc này, "Đại Nam thực lục" ghi lại rằng vua Minh Mạng đã: "ngự xem trường thi Hội, gặp lúc trời rét mướt, quan trường ra đón, sai ban cho rượu, lại chia cấp cho sinh viên đi thi ăn cơm uống rượu và lò sưởi đệm cỏ, rồi miệng đọc một bài thơ tự viết lấy để bảo: "Tuyết trung tống thán kim triêu hữu/ Thổ tận anh ba tác Trạng nguyên/ Tùng bách tuế hàn phương thức hảo/ Các tu miễn lệ báo quân ân".

Dịch nghĩa: Sáng nay trời rét mướt ban cấp than cho/ Hãy nhả hết anh hoa để đỗ Trạng nguyên/ Vào năm rét mướt mới hay tùng, bách là giỏi giang/ Các người nên cố gắng để báo đáp ơn vua.

Dịch thơ: Trời tuyết cho than buổi sớm nay/ Anh hoa nhả hết, Trạng khoa này/ Mới hay tùng, bách càng ưa rét/ Cố gắng cùng nhau báo đức dày.

Vua Minh Mạng cũng bảo các quan trường do Trương Đăng Quế đứng đầu rằng: "Trẫm từ lên ngôi đến nay, để ý trọng việc văn đã lâu, mà học thức của học trò, chưa thấy ngày được cao sáng, là vì thầy, bạn nguồn gốc không bằng đời trước, không phải nhân tài có khác? Vả sự học quý ở có kiến thức, đem ra làm việc mới có thực dụng, bài thi không cần tìm tòi sự lạ lùng, bí ẩn, dù đem việc nay ra hỏi, nhưng kiến thức sâu hay nông cũng định được".

Năm đó Đinh Nhật Thận đỗ Tiến sĩ, được bổ nhiệm làm Tri phủ Anh Sơn (Nghệ An), Lê Thiện Trị đỗ Tiến sĩ, sau làm Tuần vũ Thuận Khánh...

Hay Nguyễn Văn Siêu đỗ Phó bảng và được bổ làm Hàn lâm viện Kiểm thảo cùng năm. Và Diệp Xuân Huyên đỗ Phó bảng, làm quan tới chức ngự sử…

Tháng tư năm Mậu Tuất 1838 vua Minh Mạng lại cho định lại mũ áo tiến sĩ: "đệ nhất giáp đệ nhất danh (Trạng nguyên) theo lệ cũ cấp cho mũ áo lục phẩm".

Năm Mậu Tuất 1838, vua Minh Mạng cũng truyền dựng bia Võ công ở trước sân Võ miếu tại Kinh đô, bia ghi tên 20 danh tướng. Bên cạnh một số danh tướng Việt Nam như: Trần Quốc Tuấn, Lê Khôi, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật, Tôn Thất Hội, Nguyễn Văn Trương, Tạ Quang Cự, Phan Văn Thúy, do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa nên trong Võ miếu Huế còn có bài vị thờ các danh tướng Trung Quốc là: Khương Tử Nha (gian chính nhà chính đường, vai trò tương đương Khổng Tử trong Văn miếu), Quản Trọng, Tôn Vũ, Hàn Tín, Lý Tĩnh, Lý Thạnh, Từ Đạt, tại nhà giải vũ bên Đông (phía tả), Tư Mã Nhương Thư, Trương Lương, Gia Cát Lượng, Quách Tử Nghi, Nhạc Phi, tại nhà giải vũ bên Tây (phía hữu). Theo "Đại Nam thực lục", vua Minh Mạng dụ: "Những người được thờ ở Võ miếu tất phải là bậc có công liệt rõ ràng, giữ trọn trước sau, mới đủ để nêu rõ ý nghĩa thờ tự và làm gương lâu dài cho sau này".

Bắt đầu phát triển khoa học kỹ thuật

Trong các năm 1837 và 1838, theo kiểu mẫu phương Tây, thợ thủ công triều đình Minh Mạng đã chế tạo được máy cưa ván gỗ, xẻ gỗ bằng sức nước, máy hút nước tưới ruộng… và còn có cả xe cứu hỏa.

Đặc biệt, năm Mậu Tuất 1838 vua Minh Mạng cho mua một chiếc tàu máy hơi nước cũ của Pháp đem về tháo ra nghiên cứu để lấy mẫu đóng thử. Đến tháng 4 năm sau (1839) chiếc tàu máy hơi nước đầu tiên của nước ta đóng xong và chạy thử thành công, tháng 10 cùng năm đó chiếc tàu máy hơi nước thứ 2 cũng được hoàn thành.

Năm 1838 vua Minh Mạng cho đúc 33 đồ đồng phỏng theo hình dáng đồ vật của các triều đại Thương, Chu tới Hán. Ban đầu gọi là "bác cổ đồ" sau đó năm 1839 đổi làm "cổ khí". Vua Minh Mạng đã tự tay viết đề các bài minh văn trên từng "cổ khí" đó.

33 cổ khí này gồm chủ yếu là các vật đựng như Đỉnh, Lịch, Đôn, Quỹ, Tôn, Dữu, Cô, Hòa, Giả, Hồ, Di, Bôi và Xa. Ngoài ra còn có Miệt ngạo (hình mặt thú mắt lớn), Hủy (tê giác), Tượng (con voi), Hồ (hình cái bầu rượu), Quỳ long (rồng một chân), Bàn quỳ trực văn (hình rồng một chân cuộn tròn và hoa văn thẳng), Ngữ (hình một loại nhạc cụ), Sơn lôi (hoa văn núi và sấm), Lôi văn (hoa văn sấm chớp), Thao thiết (hoa văn mặt thú), Ly thủ phương (đầu con Ly, có hình vuông), Giao ly (hình con Giao Ly), Sơn long ôn (bình giữ ấm có hoa văn rồng, núi), Hy thủ (đầu con Hy - giống như con trâu), Cưu (chim tu hú)…

Cho vẽ "Đại Nam nhất thống toàn đồ"

Châu bản và bản đồ thời vua Minh Mạng có nội dung liên quan đến việc thực thi chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Chẳng hạn, Châu bản là bản Tấu của Bộ Công ngày 2-4 nhuận (tháng 4 nhuận) năm Minh Mạng 19 (1838) ghi rõ việc thực hiện công vụ ở Hoàng Sa:

"Bộ Công tâu:

Nay tiếp nhận các viên Đỗ Mậu Thường, Thị vệ Lê Trọng Bá thuộc ty của bộ thần đã trở về. Bộ thần đã hỏi qua, các viện đó trình bầy lần này đã đến được 25 đảo thuộc vùng thứ 3. Nhưng theo viên dẫn đường Vũ Văn Hùng thì toàn bộ xứ Hoàng Sa có 4 vùng, lần này khảo sát được vùng thứ 3, còn một vùng ở phía Nam, nơi này cách nơi kia khá xa, gió Nam lại thổi mạnh, việc khởi hành đến đó không tiện, phải đợi gió thuận thì muộn, xin đợi đến sang năm đến đó. Lại xem xét 4 bản đồ mang về, cùng một bản nhật ký cũng chưa được tu sửa hoàn chỉnh, xin cho Bộ thần thẩm tra kỹ và sức cho họ chỉnh sửa hoàn thiện để dâng trình.

Lại theo những người này tường trình thì trong chuyến đi đó họ đã thu được 1 súng đại bác bọc đồng, các loại đá san hô đỏ, các loại chim, rùa biển. Nay đã mang về, dám xin làm tờ tâu trình đại thể.

Thần Thang Huy Thận vâng mệnh soạn thảo.

Thần Hà Duy Phiên, thần Lý Văn Phức vâng mệnh đọc duyệt".

Châu bản là bản Tấu của Quảng Ngãi ngày 19-7 năm Minh Mạng 19 (1838) viết: "Xin chiếu lệ miễn thuế năm nay cho 2 chiếc "Bản chinh thuyền" đã đưa binh dân đến Hoàng Sa đo đạc giáp vòng từ hạ tuần tháng 3 tới hạ tuần tháng 6, hoàn tất công vụ nay đã trở về".

Sau đó, triều đình Minh Mạng đã hoàn thành bản đồ chính thức của nước Đại Nam vào năm 1838. Đó là Đại Nam nhất thống toàn đồ, bản đồ hành chính đầu tiên của nước ta có sự phân biệt Hoàng Sa với Vạn Lý Trường Sa trong chủ quyền lãnh thổ nước Đại Nam.

Một số sự kiện khác

Tháng hai 1838, loạn người Cao Miên nổi lên ở Trấn Tây thành. Khai Miên, thổ binh Cao Miên ở đây theo loạn đảng. Lê Đại Cang bị quy tội khinh nhờn, bị cách chức Tuần phủ An Giang kiêm Trấn Tây tham tán đại thần. Vua Minh Mạng truyền rằng: Lê Đại Cang phải tội trảm giam hậu. Lê Đại Cang bị đưa về triều giam ít lâu rồi bị phát đi ở đồn điền ở Nguyên Thượng.

Khi lễ tế đàn Nam Giao bị hoãn lại do chuyển mưa rét, trong Bản tấu của Bộ Lễ năm 1838, vua Minh Mạng ngự phê: "Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, phàm kính gặp lễ Nam Giao đều rất thành kính xin trời lượng chứng giám. Nay lại xảy ra sự thực bất đắc dĩ này. Thật là khổ tâm. Sẽ có chỉ riêng".

"Đại Nam thực lục" viết rằng: Tháng 5 năm Mậu Tuất 1838, Tham tán Trấn Tây thành là Dương Văn Phong bị Tuần phủ Thuận Khánh Tôn Thất Lương tố cáo việc Phong lúc ở Bình Thuận làm quan đã nhận 100 lạng để tha cho thuyền buôn lậu. Vua Minh Mạng bắt Phong đối chất. Sau mới tra rõ là do vợ lẽ Phong nhận nên thị bị 50 trượng, Phong bị xử cách lưu. Cũng tháng 5, thợ may chánh ty sở đốc công Nội Vụ Phủ Lê Văn Tâm may áo cho vua Minh Mạng nhưng bớt xén vải, phạm tội khi quân, nên bị tội xử giảo giam hậu.

Trong bản tấu của Tuần phủ 2 tỉnh Quảng Trị và Quảng Bình năm Minh Mạng thứ 19 (1838) nói về tình hình các quan 2 tỉnh cầu mưa được mưa, vua Minh Mạng đã ngự phê: "Được tin có bản tấu nói có mưa khắp nơi, trẫm vui lòng, duy tại kinh gặp đợt gió rét, lúa mạ sợ chẳng được đẹp hoàn toàn, không biết ở trấn hạt ngươi có bị gió rét hay không".

Vào cuối năm 1838, vua Minh Mạng cho dời Nội Vụ Phủ ra khỏi Tử Cấm Thành và thiết lập tại khu vực bên trái Hoàng Thành. Cơ quan này quản lý 7 kho với 7 loại vật hạng khác nhau, trong đó kho vàng bạc là quan trọng nhất. Riêng hầm chứa vàng bạc ở kho này đã chứa đến 200.000 lượng vàng bạc.

Thái Huy Bích

 

Các vùng miền khác nhau, các tôn giáo khác nhau có tập quán cúng tế khác nhau. Không có sách hướng dẫn cúng tế nào dùng chung cho tất cả. Đối với người chịu ảnh hưởng Nho giáo, ngày xưa có sách chữ Hán phổ biến cả nước, tuy vậy mỗi địa phương cũng có một số thay đổi. Bài viết này giới thiệu 7 bài văn cúng vào dịp Tết Nguyên Đán thuộc loại mẫu mực ngày xưa. Trong đó 5 bài thuộc họ Nguyễn Huy, làng Trường Lưu (Can Lộc, Hà Tĩnh) - dòng họ này có Thám hoa Nguyễn Huy Oánh, Tiến sỹ Nguyễn Huy Quýnh, 32 người đậu Hương Cống (triều Lê) và Cử nhân (triều Nguyễn); 2 bài sưu tầm tại xã Hưng Xuân, huyện Hưng Nguyên (trước đây là xã Nghĩa Liệt, tổng Phù Long) - một vùng đất văn vật của xứ Nghệ. Độc giả có thể tham khảo các bài văn cúng này để tự mình viết văn cúng.

1.  Văn cúng Lạp tiết (ngày 15 tháng Chạp)

 (Của họ Nguyễn Huy - Trường Lưu)

In sao chữ Hán:

臘節十二月十五日文

皇號 年月日 裔孫 厶 仝家等謹以厶 物之儀 敢恭誥于  本家陰廟高曾

祖考妣列位 曰歲更迭序節値季冬 謹具菲儀 恭陳來臨 仰望 家先尚其鍳止 尚饗 曁 祖伯祖叔祖姑亡伯亡祖亡姑兄弟姊妹 敬請本家五祀福神仝炤鍳  及本支衆生忌臘無依墓墳失落經久而失號失名莫傳而無位無次中早生沙落等諸香魂凡我宗親咸胥来格 謹告

Phiên âm

Lạp tiết thập nhị nguyệt thập ngũ nhật văn

Hoàng hiệu, Niên… nguyệt… nhật.  Duệ tôn… đồng giai đẳng, cẩn dĩ… vật chi nghi.  Cảm cung cáo vu: Bản gia âm miếu Cao tằng tổ khảo tỉ liệt vị. Viết: Tuế cánh điệt tự, tiết trị quý đông, cẩn cụ phỉ nghi, cung trần lai lâm.  Ngưỡng vọng, gia tiên thượng kỳ giám chỉ.  Thượng hưởng. Kỵ Tổ bá, tổ thúc, tổ cô, vong bá, vong thúc, vong cô, huynh, đệ, tỷ, muội. Kính thỉnh, bản gia ngũ tự phúc thần đồng chiếu giám. Phổ cập Bản chi chúng sinh kỵ lạp vô y, mộ phần thất lạc, kinh cửu nhi thất hiệu thất danh, mạc truyền nhi vô vị vô thứ nhi trung, tảo sinh sa lạc đẳng chư hương hồn, phàm ngã tông thân hàm tư lai cách. Cẩn cáo!

Dịch nghĩa

Văn cúng Lạp tiết (15 tháng Chạp)

Niên hiệu(1)… Ngày… tháng… năm…

Duệ tôn… cùng mọi người trong gia quyến, xin biện lễ vật… (liệt kê lễ vật). Kính cáo: Các vị Cao tổ khảo, Cao tổ tỉ, Tằng tổ khảo, Tằng tổ tỉ, Hiển tổ khảo, Hiển tổ tỉ, Hiển khảo, Hiển tỉ.

Năm tháng vần xoay, nay đã cuối đông, xin biện lễ vật, kính dâng tiền nhân, mời về hâm hưởng. Kính ngưỡng gia tiên, rộng lòng chứng giám. Thượng hưởng. 

Cung thỉnh Tổ bá, Tổ thúc, Tổ cô, Lệnh bá, Lệnh thúc, Lệnh cô, anh chị, các em, cùng các vong linh, thờ cùng tiên tổ.

Kính thỉnh Ngũ Tự Phúc thần(2), cùng chiếu gám. Cẩn cáo.

Cung thỉnh linh hồn những người trong chi họ, không ai cúng đơm, thất lạc phần mộ, thất lạc hiệu tên, vong linh sa lạc, đều cùng hâm hưởng. Cẩn cáo!

 2. Văn cúng tiễn Táo Quân - 23 tháng Chạp

 (Tại xã Nghĩa Liệt, huyện Hưng Nguyên)

In sao chữ Hán

 十二月二十三日送灶君告文

維大南皇號  年十二月二十三日  乂安省 府  總  社 村 

信主厶合仝家眷等 謹以薄物美蕾清酌敢告于本家東厨司命灶府神君  位前 曰今為年週月季例有送腊除辰迎祥必告礼也 恭惟尊神係一家之

司命籙百事之箋善惡所皆洞炤灾詳尽在職司 今為朝天之日適當奏事

之期 玆適歲週恭陳菲礼 伏望上奏天庭善而免過不思凡灶俾灾送以

無思護仝家咸蒙慶澤 寔賴 尊神之大德也  尚享  敬仰 本家五祀灶神

 仝格享  謹告

Phiên âm

Nhị nguyệt nhị thập tam nhật, tiễn Táo Quân cáo văn

Duy, Đại Nam Hoàng hiệu... niên, thập nhị nguyệt, nhị thập tam nhật. Nghệ An tỉnh,…phủ… tổng,... xã,... thôn. Tín chủ... hợp đồng gia quyến đẳng, cẩn dĩ bạc vật, mỹ lôi, thanh chước, cảm cáo vu: Bản gia Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân, vị tiền. Viết kim vi niên chu nguyệt quý, lệ hữu tống lạp trừ thần, nghênh tường tất cáo lễ dã.  Cung duy Tôn thần, hệ nhất gia chi Tư mệnh, lục bách sự chi tiên, thiện ác sở giai đỗng, chiếu tai tường tận tại chức tư. Kim vi triêu thiên chi nhật, thích đương tấu sự chi kỳ. Tư thích tuế chu, cung trần phỉ lễ. Phục vọng thướng tấu Thiên đình, thiện hồi nhi miễn qua, bất tư phàm táo, tỉ tai tống dĩ vô tư, hộ đồng gia hàm mông khánh trạch. Thật lại Tôn thần chi đại đức dã. Thượng hưởng! Kính ngưỡng, Bản gia ngũ tự Táo Thần, đồng cách hưởng!  Cẩn cáo!

Dịch nghĩa

Văn cáo tiễn Táo Quân (23 tháng Chạp)

Duy, Quốc hiệu.... ngày 23 tháng 12 năm... (ÂL).

Làng... xã... huyện(3) tỉnh Nghệ An.

Tín chủ.... cùng gia quyến, xin dâng lễ bạc, búp hoa, rượu trắng, kính cáo cùng: Bản gia Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân(4).                       

Nhân năm hết Tết đến, lệ thường tống tiễn Táo Quân, nghênh đón điềm lành. Kính cáo Tôn thần, Tư Mệnh gia đình, ghi chép việc nhà muôn sự, biết hết thiện ác mọi điều. Hôm nay ngày tốt, Ông Táo chầu Trời, tâu trình tường tận, mọi việc trong năm, lễ mọn kính dâng.

Cúi xin bày tỏ, tấu lên Thiên Đình, điều thiện đem về, lỗi lầm bỏ lại, tai ương tống khứ, bảo vệ toàn gia, bình an hạnh phúc. Thành thật nhờ cậy Đại đức Tôn thần, thượng hưởng!

Kính ngưỡng, Bản gia Ngũ tự Táo Thần  cùng đến hâm hưởng.

Cẩn cáo!

3. Văn cúng gia thần Trừ Tịch - đêm 30 tháng Chạp

(Tại xã Nghĩa Liệt, huyện Hưng Nguyên)

In sao chữ Hán

十二月三十日夜辰礼家神除夕告文        

維大南皇號...年十二月三十夜辰   省  府  總  社 村  信主...合仝家眷子孫 謹以

金銀冥衣薄物之儀 敢告于 本家東厨司命灶府神君  位前  本處龍君主脉后土

民正神 位前 曰例有年週腊至礼行除夕交承必告礼也 伏望 尊神洞乘炤鍳辰也

除夕礼行交承 拜迎拜送于豆于 登仰憑離炤多福承膺 寔賴  其大惠也尚享 

敬仰 本家五音五位福神 列位 本處 五方土公土主宅中 列位 仝來格享 謹告

Phiên âm

Nhị nguyệt nhị tam thập nhật dạ thần, lễ gia thần Trừ Tịch cáo văn

Duy, Đại Nam Hoàng hiệu... niên, thập nhị nguyệt, tam thập dạ thần. Nghệ An tỉnh,…phủ,… tổng,... xã,...hôn. Tín chủ... đồng gia quyến đẳng, cẩn dĩ kim ngân, minh y, bạc lễ chi nghi, cảm cáo vu: Bản gia Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân, vị tiền; Bản xứ Long Quân Chúa Mạch Hậu Thổ Dân Chính Thần, vị tiền. Viết lệ hữu niên chu tích chí, lễ hành trừ tịch, giao thừa tất cáo lễ dã. Phục vọng Tôn thần, đổng thừa chiếu giám, thần dã Trừ Tịch, lễ hành giao thừa, bái nghênh bái tống, vu đậu vu đăng, ngưỡng bằng ly chiếu, đa phúc thừa ưng. Thật lại kỳ Đại huệ dã. Thượng hưởng!   Kính ngưỡng, Bản gia Ngũ âm, Ngũ vị phúc thần liệt vị; Bản xứ Ngũ Phương Thổ Công Thổ Chủ trạch trung, liệt vị, đồng lai cách hưởng!   Cẩn cáo!

Dịch nghĩa

Văn cúng gia thần Trừ Tịch (đêm 30 tháng Chạp)

Duy, Quốc hiệu.... ngày 23 tháng 12 năm... (ÂL).

Làng... xã... huyện... tỉnh Nghệ An.

Tín chủ... cùng gia quyến, xin dâng tiền và quần áo bằng vàng mã, bày biện vật mọn tâm thành, kính cáo cùng:

Bản gia Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân; Bản xứ Long Quân Chúa Mạch, Hậu Thổ Dân Chính Thần.                       

Nhân năm hết đến Tết, nay thời khắc Giao thừa, lệ thường lễ Trừ Tịch. Kính cáo Tôn thần, luôn luôn thấu hiểu, trừ tịch giao thừa, tống tiễn năm cũ, chào đón tân xuân, mong Thần phù hộ, hạnh phúc an khang. Thành thật nhờ cậy ân huệ lớn lao. Thượng hưởng.

Kính ngưỡng, Bản gia Ngũ vị Phúc Thần; Bản xứ Ngũ Phương Thổ Công, Thổ Chủ cùng hâm hưởng. Cẩn cáo!

Văn cúng Trừ tịch

 (Của họ Nguyễn Huy - Trường Lưu)

In sao chữ Hán

 除夕文

皇號 干 年月日 裔孫厶謹以厶 物之儀 敢恭誥于 本家陰廟高曾

祖考妣列位 位前 曰更迭序節属季冬謹具菲儀告陳除夕 仰望來臨尚其

鍳止 尚饗  曁  本家伯叔兄弟姊妹 凡我宗親 咸胥來格  謹告

Phiên âm

Trừ tịch văn

Hoàng hiệu… Niên… nguyệt… nhật. Duệ tôn… cẩn dĩ… vật chi nghi, cảm cung cáo vu: Bản gia âm miếu Cao, Tằng, tổ khảo tỷ liệt vị, vị tiền.

Viết: Tuế cánh điệt tự, tiết thuộc quý đông, cẩn cụ phỉ nghi, cáo trần Trừ tịch. Phục vọng lai lâm, thượng kỳ giám chỉ. Thượng hưởng.   Kỵ  Bản gia bá, thúc, huynh đệ, tỉ muội, phàm ngã tông thân, hàm tư lai cách. Cẩn cáo!

Dịch nghĩa

Văn cúng Trừ tịch

Duy, niên hiệu… ngày… tháng… năm.

Duệ tôn…, xin biện lễ vật… (liệt kê lễ vật).

Kính cáo: Các vị Cao tổ khảo, Cao tổ tỉ, Tằng tổ khảo, Tằng tổ tỉ, Hiển tổ khảo, Hiển tổ tỉ, Hiển khảo, Hiển tỉ.

Năm tháng tuần hoàn, nay đêm cuối năm, xin bày lễ mọn, dâng lên Tổ tiên, lễ là Trừ Tịch. Kính mong gia tiên, rộng lòng chứng giám. Thượng hưởng. 

Phối thỉnh Tổ bá, Tổ thúc, Tổ cô, Lệnh bá, Lệnh thúc, Lệnh cô, anh chị, các em, cùng các vong linh, thờ cùng tiên tổ về hâm hưởng. Cẩn cáo!        

4.  Văn cúng Giao thừa

(Họ Nguyễn Huy - Trường Lưu)

In sao chữ Hán

交承文

皇號 干年月日 裔孫厶 仝家等謹以齋盤芙酒之儀敢恭誥于  本家高曾

祖考妣列位 位前  曰聿庚新夜半交承礼有夜祀  仰望  家先尚其

鍳止 尚饗 曁 本家伯叔兄弟姊妹 凡我宗親 咸胥來格  謹告

Phiên âm

Giao thừa văn

Hoàng hiệu (can)... Niên... nguyệt... nhật. Duệ tôn (khư)  đồng gia đẳng. Cẩn dĩ  trai bàn phù tửu chi nghi. Cảm cung cáo vu: Bản gia Cao, tằng, tổ khảo tỉ, liệt vị, vị tiền. Viết: Tuế duật canh tân, dạ bán giao thừa, lễ hữu dạ tự. Ngưỡng vọng Gia tiên thượng kỳ giám chỉ. Thượng hưởng! Ký, Bản gia bá, thúc, thúc huynh đệ tỉ muội, phàm ngả tôn thân, hàm tư lai cách. Cẩn cáo!

 Dịch nghĩa        

Văn cúng Giao thừa

Duy, niên hiệu… Ngày… tháng… năm...

Duệ tôn…  cùng mọi người trong nhà, xin biện lễ vật: mâm chay, trầu rượu. Kính cáo: Các vị Cao tổ khảo, Cao tổ tỉ, Tằng tổ khảo, Tằng tổ tỉ, Hiển tổ khảo, Hiển tổ tỉ, Hiển khảo, Hiển tỉ.

Năm tháng vần xoay, Giao thừa đã đến, xin bày lễ mọn, dâng lên tổ tiên, lễ là Giao thừa. Kính mong gia tiên, rộng lòng chứng giám, thượng hưởng. 

Phối thỉnh: Các bác, các chú, anh chị em, cùng các vong linh, thờ theo tiên tổ cùng về hâm hưởng. Cẩn cáo!    

5. Văn cúng Nguyên Đán

(Họ Nguyễn Huy - Trường Lưu)

In sao chữ Hán

元旦文

皇號干年月日   裔孫厶 仝家等謹以厶物之儀感恭誥于本家陰廟高曾

祖考妣 列位 位前  曰聿庚新  謹具菲儀 礼陳元旦 仰望   家先尚其

鍳止 尚饗  曁   本家伯叔兄弟姊妹 凡我宗親咸胥來格    謹告

Phiên âm

Nguyên đán văn

Hoàng hiệu... (can)... niên... nguyệt... nhật. Duệ tôn (khư) đồng gia đẳng, cẩn dĩ (khư) vật chi nghi, cảm cung cáo vu: Bản gia âm miếu Cao tằng tổ khảo tỉ liệt vị, vị tiền. Viết: Tuế duật canh tân, cẩn cụ phỉ nghi, lễ trần Nguyên Đán, ngưỡng vọng Gia tiên, thượng kỳ giám chỉ, thượng hưởng. Ký, Bản gia bá, thúc, thúc huynh đệ tỉ muội, phàm ngả tôn thân, hàm tư lai cách. Cẩn cáo!

Dịch nghĩa

Văn cúng Nguyên Đán

Duy, niên hiệu… ngày… tháng… năm…

Duệ tôn… cùng mọi người trong gia đình, xin dâng lễ mọn (liệt kê).

Kính cáo: Các vị Cao tổ khảo, Cao tổ tỉ, Tằng tổ khảo, Tằng tổ tỉ, Hiển tổ khảo, Hiển tổ tỉ, Hiển khảo, Hiển tỉ.

Năm mới đã tới, xin bày lễ mọn, dâng lên tổ tiên, lễ là Nguyên Đán, kính mong gia tiên, rộng lòng chứng giám, thượng hưởng.

Phối thỉnh: Các bác, các chú, anh chị em, cùng các vong linh, thờ theo tiên tổ cùng về hâm hưởng. Cẩn cáo!    

6. Văn cúng mồng Hai Tết

 (Họ Nguyễn Huy - Trường Lưu)

In sao chữ Hán

初二文

皇號干年月日裔孫厶仝家等 謹以厶物之儀 敢恭誥于 本家陰廟 高曾祖考妣列位  位前 曰聿庚新日是初二 謹具菲儀禮陳拜告  仰望

本家陰廟列位以奪平安收金衣各回墓所 及祖伯祖叔祖姑亡伯亡叔

亡姑兄弟姊妹凡我宗親咸胥來格 仰其所望 簿炤誠心 變小成多金銀具

足 返還墳墓  謹告

Phiên âm

Sơ nhị văn

Hoàng hiệu (can) niên nguyệt nhật. Duệ tôn (khư) đồng gia đẳng, cẩn dĩ  (khư) vật chi nghi, cảm cung cáo vu: Bản gia âm miếu Cao tằng tổ khảo tỉ liệt vị, vị tiền. Viết: Tuế duật cánh tân, nhật thị sơ nhị, cẩn cụ phỉ nghi, lễ trần bái cáo. Ngưỡng vọng bản gia âm miếu liệt vị, dĩ đoạt bình an, thu chấp kim y, các hồi mộ sở. Cập Tổ bá, Tổ thúc, Tổ cô, Vong bá, Vong thúc, Vong cô, huynh đệ tỷ muội, phàm ngã tông thân, hàm tư lai cách. Ngưỡng kỳ sở vọng, bạc chiếu thành tâm, biến thiểu thành đa, kim ngân cụ túc. Phản hoàn phần mộ. Cẩn cáo!

Dịch nghĩa

Văn cúng mồng Hai Tết

Niên hiệu… ngày… tháng… năm...

Duệ tôn… cùng mọi người trong gia đình, xin dâng lễ mọn.

Kính cáo: Các vị Cao tổ khảo, Cao tổ tỉ, Tằng tổ khảo, Tằng tổ tỉ, Hiển tổ khảo, Hiển tổ tỉ, Hiển khảo, Hiển tỉ.

Năm mới đầu xuân, ngày mồng Hai Tết, xin dâng lễ vật, kính mong gia tiên, rộng lòng chứng giám, đem lại bình an, thu nhận tiền vàng, trở về phần mộ.

Phối thỉnh: Tổ bá, Tổ thúc, Tổ cô, Vong bá, Vong thúc, Vong cô, anh em, chị em, cùng các vong linh, thờ cùng tiên tổ, hiểu thấu lòng thành, biến ít thành nhiều, tiền bạc mang theo, trở về phần mộ. Cẩn cáo!

 

Chú thích

1. Các từ "Hoàng hiệu", "Đại Nam" chúng tôi chuyển thành "Niên hiệu" (Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, năm thứ...).

2. "Ngũ Tự Phúc Thần" (Họ Nguyễn Huy dùng), "Ngũ Tự Táo Thần"(Xã Nghĩa Liệt dùng). Nói chung quan niệm các vùng miền không đồng nhất. Số đông quan niệm: Bản gia Ngũ Tự Phúc Thần là 5 vị thần của từng nhà, ngoài 3 vị Táo quân còn có Thổ Chủ (cai quản đất vườn và đất ở) và  Thổ Phủ (Kho tàng).

3. Văn bản cũ đề "tổng, phủ", nay thay bằng "huyện".

4. Táo Quân trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc, nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà". Người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo. Thần hiệu chung là: Định Phúc Táo Quân, nhưng mỗi người giữ một việc:

- Phạm Lang làm Thổ Công, trông coi việc bếp,  danh hiệu: Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân;

- Trọng Cao làm Thổ Địa, trông coi việc nhà cửa, danh hiệu: Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần;

- Thị Nhi làm Thổ Kỳ, trông coi việc chợ búa, danh hiệu: Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần.

Tài liệu tham khảo

1. Các bài văn tế của họ Nguyễn - Trường Lưu - GS. VS Nguyễn Huy Mỹ, hậu duệ họ Nguyễn Huy - Trường Lưu, Can Lộc, Hà Tĩnh cung cấp.

2. Các bài văn tế tại đền Nhâm - Cụ Phạm Đình Trợ, 92 tuổi, xã Hưng Xuân, Hưng Nguyên, Nghệ An cung cấp.

3. Thể thức Văn cúng, liễn, Hoành phi thờ thần - Phạm Thúc Hồng. NXB Đà Nẵng - 2009

4. Nghi lễ thờ cúng truyền thống của người Việt - Hà Đức Thọ - NXB Văn hoá Thông tin - 2010.

5. Tập văn cúng gia tiên - Tân Việt, NXB Văn hoá Dân tộc - 2013.

6. Việt Nam phong tục - Phan Kế Bính, NXB Văn học - 2011.

Thanh Kim Trà

 

Chó hay còn gọi là khuyển, cầy, muông, là một trong những động vật được loài người thuần hóa sớm nhất trong lịch sử. Khuyển được coi như là "người bạn tốt" của con người. Khuyển giữ nhiều vai trò quan trọng, không chỉ trong đời sống thường nhật mà còn được đưa vào trong ca dao tục ngữ, thành ngữ.

Họ hàng chú khuyển là niềm cảm hứng trong kho tàng ngôn ngữ vô tận của cha ông ta, khen ai, chê ai, răn dạy ai, ví von ai… nhất nhất đều có bóng dáng của chú khuyển.

Đầu tiên xin nói tường tận về mọi đặc tính của chú khuyển. Là loài động vật có vú, thuộc bộ ăn thịt sống. Khuyển rất tài ngửi mùi và rất thính tai, nhất là ban đêm, nó góp phần gìn giữ trật tự an toàn xã hội, phục vụ cho khoa học hình sự. Tục ngữ có câu:

Chó đâu cho sủa chỗ không,

Chẳng thằng ăn trộm, cũng ông ăn mày.

Hay:

Con chó giữ nhà, con gà gáy sáng.

Một đặc tính không ai chối cãi được là sự trung thành rất đáng biểu dương của con chó đối với chủ:

- Khuyển, mã chi tình (Chó và ngựa là con vật trung thành).

- Con không chê cha mẹ khó

Chó không chê chủ nghèo.

- Chó nhà ai, sủa nhà ấy

Nói về hoàn cành sống, khó khăn:

- Chó cắn áo rách

- Chó ăn đá gà ăn sỏi

- Chó cùng đứt dậu

Chó và trâu có tài nhớ đường, nên người xưa đã truyền đạt kinh nghiệm: "Lạc đường nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu".

 "Chó ba khoanh mới nằm, người ba năm mới nói": Con chó thận trọng đi ba vòng quanh chỗ ngủ rồi mới nằm xuống, con người không phải ngay khi sinh ra đã nói được. Câu tục ngữ khuyên con người nên thận trọng khi nói năng.

Chó thường ăn rất khỏe: "Cơm đâu no miệng chó, thóc đâu no miệng gà". Bất kể nhà nào để chó gầy thì bị xóm giềng cười chê: "Chó gầy hổ mặt người nuôi".

Khi chọn chó nuôi có những câu truyền đạt phổ biến kinh nghiệm về tính nết của những con chó:

- Mua trâu thì xem sừng, mua chó xem chân

- Đốm đầu thì mua, đốm đuôi thì thịt

- Nhất bạch, nhì hoàng, tam khoang, tứ đốm

- Dù ai buôn bán trăm nghề,

Chẳng bằng nuôi chó huyền đề bốn chân

- Chó khôn tứ túc huyền đề

Tai thì hơi cúp, đuôi thì cong cong.

- Con chó huyền đề,

Con gà năm móng đem về mà nuôi.

- Xoáy hầu đóng thấp thì hung (dữ)

Bụng to thì chậm, chân lùn thì nhanh.

- Xệ miệng thì cắn bạo,

Tai dảo thì sáng hơi

Đuôi nhỏng thì ham chơi,

Lưng dài thì làm biếng.

- Lưỡi đen là chó có tài

Răng ló ra ngoài là chó hung hăng.

Mấy câu kết thúc sự sống cho những con xấu số về tính nết, hình dáng:

- Lõ đầu thì bán,

Lõ trán thì nuôi

Lõ đuôi ăn thịt

- Con chó khóc đứng khóc ngồi

Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.

Những món ăn, bài thuốc từ con chó cũng đã được truyền đạt kinh nghiệm:

- Chó móng già, gà móng non

- Rượu tăm thịt chó nướng vàng,

Được mời đánh chén, cách làng cũng đi

Hoặc: "Sống trên đời xơi miếng dồi chó, thác xuống âm phủ biết có hay không".

Để phê phán những thói hư của người đời, người Việt cũng dùng hình ảnh "con chó" để ví von như:

- Treo đầu dê, bán thịt chó

- Chó đen giữ mực

- Len lét như chó ăn vụng bột

- Chó treo mèo đậy

- Vớt chó qua sông, khô lông cắn giả

- Ở đời lắm tiếng thị phi,

Chó sủa mặc chó, người đi mặc người

- Cái bọn lì lợm đó

Nói như chó sủa trăng.

Trong những năm gần đây lợi dụng kẽ hở pháp luật những kẻ bất tài vô học cũng mua bằng, mua chức, rồi ăn mặc "bảnh bao như chó tiền rưỡi", đi đứng, nói năng như "bố con chó bông, ông con chó xồm" tiêu xài thì xa hoa lãng phí "rượu cả vò, chó cả con". Đúng là "được mùa, chó nhảy lên bàn độc"!

Còn rất nhiều chuyện lý thú nữa quanh chú khuyển nhưng vì đầu xuân mới, không thể kề cà mãi được, xin hẹn dịp khác ngõ hầu quý độc giả.  Năm 2018, là năm cầm tinh con khuyển, mà khuyển có tiếng kêu rất to, sủa vang, tiếng kêu "gâu gâu", tiếng Việt thì nó giống với "giầu giầu", báo hiệu một năm Mậu Tuất với sự giàu sang, may mắn!

 

 

Thu Vân

 

Nhân năm Mậu Tuất đến xin giới thiệu về một con chó đá trong bộ sưu tập cổ vật mà chúng tôi có được. Chó đá và chó gốm đã có mặt rất sớm và gắn bó với làng quê bao đời, trở thành một biểu tượng dân gian thân thuộc. Chó đá thường được đặt hai bên cổng, cửa nhà hay ngoài vườn với ý là để bảo vệ tài sản cho gia chủ như chó thật vậy. Chó bằng gốm thì thường được làm thành linh vật để thờ.

Chó đá chúng tôi sưu tầm được cao 45 cm, riêng phần thân chó cao 29 cm, phần bệ để chôn dưới đất 16 cm, bề dày 15,5 cm, phía mặt trước rộng 9,5 cm. Chó có thế ngồi tự nhiên, hai chân sau gập lên bụng, hai chân trước dựng đứng thẳng, có khửu khớp giữa/sau và có ụ chân ngón móng chụm lại trên đế. Lưng chó uốn khom dần lên đến cổ. Miệng chó ngậm, chìa mép trên dưới và lộ rõ hai hàm; hai tai dựng đứng. Dưới hai tai là hai mắt với hai con ngươi chạm tròn nhỏ hiền lành. Ức ngực nở, giống như chó thật được chăm sóc béo tốt. Đầu và bộ mặt của con chó đá này được nghệ nhân điêu khắc phác họa chỉ qua những nét đơn sơ, mộc mạc, nhưng đậm chất dân gian, sinh động và nhìn rất hấp dẫn cuốn hút. Chó đá này có tuổi đời khá cao, khoảng triều cuối Lê vì da đá đã lên meo do đất bám và mốc thời gian. Đặc biệt chó đá này cổ kính còn vì rất khác với các chó đá khác là có thêm một lỗ tròn ngay dưới ức ngực. Ngắm chú chó đá này thật bệ vệ ở thế ngồi canh nhà nghiêm chỉnh. 

Nhiều cổng làng, cổng chùa Bắc bộ xưa, như cổng làng Ước Lễ và chùa Thầy (Hà Tây), đình Bảng (Bắc Ninh), đền Cẩu Nhi (Hồ Tây, Hà Nội), v.v… thấy có gắn hoặc chôn chân nhiều con chó đá để canh cổng, để thờ. Có những con chó có niên đại cổ như từ triều Lê, nhiều nhất là thế kỷ XVI-XVII. Người dân xưa coi chó đá như một liệu pháp tinh thần phục vụ cho việc bảo vệ trật tự trị an, ngày đêm canh chừng gây thêm sự e dè, sợ hãi cho kẻ gian khi vào làng, nhà ở, vườn tược. Chó đá còn được gắn với những câu chuyện thần thoại và gắn bó với đời sống con người. Tại đền thờ Thám hoa Nguyễn Văn Giai có đôi chó đá canh cổng và vườn khá lớn, nặng hàng tạ được đặt làm từ đá xanh ở Thanh Hóa.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Giai (1554 - 1628), quê ở làng Phù Lưu, huyện Can Lộc, nay thuộc thôn Ích Mỹ, xã Ích Hậu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Khoa thi Hội Canh Thìn, niên hiệu Quang Hưng 3 (1530), đời Lê Thế Tông, ông thi đậu Hội nguyên, Đệ nhị Giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp). Ông là đại thần có công lớn với nhà Lê trung hưng. Hai lần tháp tùng vua Lê Thế Tông lên cửa Nam quan để hội kiến với sứ thần nhà Minh (1596-1597). Sau ông được thăng đến chức Tham tụng, Lại bộ Thượng thư, phụ trách chung công việc của 6 bộ (Chưởng lục Bộ sự) kiêm Đô ngự sử, hàm Thiếu bảo, tước Lễ quận công. Ông làm quan trải 3 triều, công danh, quyền lực hơn hết một thời. Năm Mậu Thìn (1628) ông mất, thọ 75 tuổi. Vì phe cánh của Trịnh Xuân vu cho ông mưu phản, ông phải uống thuốc độc tử tự. Sau khi mất được tặng chức Đại tư đồ, tên thụy là Cận Độ (Sách Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 - 1919), Ngô Đức Thọ chủ biên).

Gia phả ghi ông ăn khỏe hơn người và cũng có sức khỏe làm việc hơn người. Tương truyền, đôi chó đá trên sau khi làm xong được Nguyễn Văn Giai tự mình gánh về từ Thanh Hóa bằng chạc cày. Giữa đường chạc bị đứt, ông lấy rơm bện lại gánh thẳng một mạch về đến làng. Ông vừa gánh vừa ngâm:

Chạc cày gánh đá đứt đi,

Chạc rơm bện lại có khi hãy bền.

Lại có chuyện cổ kể về con chó đá vẫy đuôi rằng: Ngày xửa ngày xưa, có người học trò nghèo dùi mài kinh sử chờ khoa thi Đình ở chốn Kinh đô. Một hôm anh đi qua cổng làng thì bỗng con chó đá nhổm dậy vẫy đuôi mừng rỡ. Lấy làm lạ, anh học trò bèn hỏi. Chó đá đáp: "Khoa này thầy thi đỗ nên tôi mừng". Anh học trò về kể lại cho cha mẹ; thế là từ đó người cha lên mặt hống hách với bà con, xóm giềng. Tháng sau, trước ngày đi thi, anh học trò đi qua cổng làng không thấy chó đá vẫy đuôi nữa, bèn hỏi tại sao. Chó đá đáp: "Tại cha thầy sớm lên mặt với mọi người nên khóa này thầy chẳng đỗ đâu". Y rằng như thế.

Anh học trò về kể lại với cha. Người cha hối hận, từ đó lo tu nhân tích đức sửa chữa lỗi lầm. Khóa sau, anh học trò đi qua, lại thấy chó đá vẫy đuôi, quả nhiên thi đỗ Trạng nguyên, vinh quy bái tổ về làng…

Chó đá được người chơi Hội cổ vật Sông Lam thích thú và nhà chơi nào cũng đều cố đưa về nhà mình ít nhất là một con, có nhà hàng chục con, như anh Hùng ở phường Lê Lợi, anh Nhân ở Đông Vĩnh; riêng anh Dũng ở Đông Vĩnh có đôi chó to cao đến gần một mét, mua với giá hơn 250 triệu đồng. Nhiều người chơi ở Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh có bộ sưu tập chó đá lên đến hàng trăm con, sắp xếp thành một vườn rộng hàng trăm mét vuông. Chó đá không phải là linh vật nhưng lại gắn bó mật thiết với đời sống con người, nên con người cũng quý chó đá như chó thật vậy. 

TS. Hà Đan

 

Mỗi năm khi Tết đến Xuân về, là dịp chúng ta tiễn đưa một con giáp cũ, đón chào con giáp mới. Văn hóa 12 con giáp hay những câu chuyện về 12 con vật tưởng đã xưa và cũ, nhưng lại là câu chuyện muôn thuở, luôn được nhắc đi nhắc lại nhiều lần theo vòng quay của vũ trụ và nhịp điệu của các mùa. Sự thật hiển nhiên này cho thấy: Văn hóa 12 con giáp không còn dừng lại ở các câu chuyện về thế giới muôn loài mà ẩn chứa đằng sau nó là vô số những giá trị mang tính biểu trưng cao, có khi mang hơi thở, tâm thức của cả một dân tộc.

Trong ý nghĩa như vậy, "chú Cẩu" là một động vật quá đỗi thân thuộc và gần gũi với con người. Song nếu nhìn lại sự hiện diện của loài vật này trong dòng chảy văn hóa dân tộc, chúng ta vẫn khám phá ra nhiều câu chuyện bổ ích, lý thú và bất ngờ về nhân sinh quan - thế giới quan người Việt.

Theo nhiều tài liệu ghi chép lại, từ xa xưa, khi con người chưa bước vào thế giới văn minh - còn mưu kế sinh nhai bằng săn bắt, hái lượm... thì chó với các đặc tính như thông minh, khỏe khoắn đã trở thành người bạn "đồng minh" giúp con người trong nhiều hoạt động liên quan đến cuộc sống lúc bấy giờ. Mấy ai không biết đến câu chuyện về chú chó dũng mãnh xông vào bắt mồi và bảo vệ những thành quả của chủ nhân mình như thế nào trong truyện "Lục súc tranh công" của một nghệ nhân vô danh tài hoa cuối thế kỷ XIX: "Đêm năm canh, con mắt như chong/ Đứa đạo tặc nép oai khủng động/ Ngày sáu khắc, lỗ tai bằng trống/ Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh".

Sau này, vì đặc tính trung thành, lại là con vật khá khôn ngoan, chó trở thành "người đầy tớ tâm phúc" giúp con người nhiều việc. Đối với những cư dân làm nông nghiệp, sống ở nông thôn như người nông dân Việt Nam, chó là con vật giữ nhà cực kỳ tin cậy. Để bảo vệ tài sản và những thành quả lao động của chủ, chó sẵn sàng "tuyên chiến với kẻ thù" có ý định xâm phạm đến cuộc sống bình yên cũng như có ý cướp đoạt đi nguồn tài sản vật chất mà chủ nhân nó đang sở hữu. Không những thế, chó còn là biểu tượng của sự trung thành, gần gũi, quấn quýt: "Con không chê cha mẹ khó/ Chó không chê chủ nghèo"... Song đối với kẻ thù, nó lại vô cùng đáng sợ. Dân gian có câu: "Hàm chó, vó ngựa, cựa gà, ngà voi" chính vì lẽ đó. "Hàm chó" cũng như "vó ngựa, cựa gà, ngà voi" là những nơi nguy hiểm, lỡ "đụng" vào có khi phải đánh đổi bằng tính mạng, không thể xem thường.

Chó thường được dân gian "mượn" để khuyên con người ta về các hành vi ứng xử trong cuộc sống thường nhật. Nhắn nhủ ai đó trước khi làm việc gì cũng nên cân nhắc kỹ lưỡng, tục ngữ có câu: "Chó quanh chỗ 3 lần mới nằm, người uốn lưỡi 7 lần mới nói". Trong các mối quan hệ người - người, đề cập đến một sự việc gì chúng ta cũng nên nhìn trước ngó sau rồi mới hành động để tránh gây nên những bất cẩn, phiền phức, tục ngữ có câu: "Đánh chó ngó mặt chủ".

Bởi vì gắn với nhà nông và các quy trình trong sản xuất nông nghiệp nên dân gian có cả một kho kinh nghiệm về chọn giống chó, nuôi chó, thưởng thức thịt chó: Chó khôn tứ túc huyền đề, tai thì hơi cúp đuôi thì cong cong (kinh nghiệm chọn giống chó tốt); Chó giống cha, gà giống mẹ (quy luật di truyền của súc vật); Chó tháng 3, gà tháng 7 (kinh nghiệm ăn uống, không nên ăn hai loài vật này vào tháng 3 và tháng 7 vì chúng gầy, ăn không ngon); Chó thiến già, gà thiến non (muốn thiến con vật và chén ngon miệng thì gà non ăn mới ngon và chó già ăn mới thú); Chó liền da, gà liền xương (chó, gà là loài có sức đề kháng cao nên khi gặp sự cố rất chóng lành bệnh); Giàu nuôi chó, khó nuôi dê, không nghề nuôi ngỗng (kinh nghiệm nuôi gia súc gia cầm của người nông dân); Chó treo mèo đậy (kinh nghiệm đề phòng ăn vụng của chủ gia đối với chó, mèo)...

Đặc biệt, trong kho tàng tục ngữ người Việt, chó được người ta nhân cách hóa để chỉ những thói hư tật xấu của con người như: Chó chạy trước hươu (chỉ những người không khiêm tốn); Chó chê mèo lắm lông (chỉ những người không thấy được cái dở của mình lại còn dè bỉu chê bai người khác); Ăn chó ăn cả lông, ăn hồng ăn cả hạt; chó già giữ xương (chỉ kẻ tham lam); Chó ăn vụng bột (nhút nhát, sợ sệt); Chó cậy gần nhà, ma cậy gần ngõ (ỷ vào lợi thế của mình để hù dọa, bắt nạt người khác); Chó đeo cổ chó (chỉ những kẻ kệch cỡm); Chó ghẻ có mỡ đằng đuôi (phê phán thói hãnh tiến rởm, đạo đức giả); Ậm ạch như chó chửa (lề mề, chậm chạp); Chó có rồng đất (vô dụng, bù nhìn); Cắm cẳn như chó cắn ma (chỉ người hay cáu gắt, khó tính)...

Và hẳn trong mỗi chúng ta đều biết đến một truyện cổ rất hay mà dân gian mượn để giải thích cho câu tục ngữ Chó đá biết cười - truyện "Hai anh em và con chó đá". Truyện kể về hai anh em nhà nọ tuy cùng mẹ cha sinh ra những tính tình lại trái ngược hẳn nhau. Người em nghèo nhưng chất phác, đôn hậu. Người anh giàu lại tham lam, keo kiệt. Một hôm, có lão ăn mày đến xin cơm người anh, anh ta không cho, thậm chí không ngần ngại xua đuổi và hắt hủi lão. Ngược lại, vợ chồng người em đón tiếp niềm nở, biết nhịn miệng đãi khách. Cảm động trước tấm chân tình của vợ chồng người em, lão ăn mày liền báo đáp bằng cách dẫn vợ chồng người em lên vách ngọn núi nọ, đến chỗ có hai con chó đá đang chầu trước một cái bệ và nói với vợ chồng người em rằng sau khi lão dùng gậy trúc gõ vào đầu chó ba cái, nó sẽ há miệng và vợ chồng người em thích lấy bao nhiêu vàng thì lấy. Gặp chuyện may mắn như vậy, vợ chồng người em trở nên giàu có. Vợ chồng người anh tò mò, sang hỏi lý do. Vợ chồng người em đem thuật lại câu chuyện y như thực tế đã xảy ra. Vợ chồng người anh nghe vậy, tưởng bở cũng đi khắp nơi mọi chốn tìm gặp lại lão ăn mày, cầu xin lão ban phước cho anh ta giống như người em... song mọi chuyện hoàn toàn ngược lại. Vẫn ông lão ăn mày ấy, ông cũng dẫn hai vợ chồng người anh lên ngọn núi nọ nơi có hai chó đá, cũng dùng gậy trúc của mình làm cho chó há miệng ra. Nhưng người anh vừa cho tay vào miệng chó, chưa kịp lấy vàng thì chó đã ngậm miệng lại làm tay anh ta bị mắc kẹt không tài nào rút ra được. Cuối cùng, anh ta hiểu rằng đó là sự trừng phạt cho thói xấu bụng và tham lam của vợ chồng mình.

Câu chuyện trên minh họa cho câu tục ngữ chó đá biết cười cũng là nhằm phê phán hạng người tham lam, dốt nát trong xã hội, sẵn sàng làm cả những công việc u tối, ngớ ngẩn miễn sao có được lợi lộc khiến cho vật vô tri vô giác cũng phải nực cười.

Như vậy, có thể nói, dù gắn với nhiều thói xấu, chó vẫn là loài vật gắn bó với đời sống nông thôn của người Việt cùng với gà, trâu, lợn... như câu thơ của thi hào Nguyễn Khuyến: "Trâu già gốc bụi phì hơi nắng/ Chó nhỏ bên ao cắn tiếng người". Và tuy là loài vật không xuất hiện trong các loại hình nghệ thuật chính thống nhưng ở một số làng quê miền Bắc Việt Nam, trước cổng làng thường có tượng chó đá để phòng gian, trừ tà. Chó đá ở làng, đền, đình miếu được tạc khắc trong dáng vẻ oai vệ, oai nghiêm; còn tượng chó đá trong nhà thường nhỏ, mang dáng vẻ hiền lành, không to lớn như chó đá ở đình, đền, phủ. Ngày nay, tục thờ chó đá vẫn còn khá phổ biến ở nông thôn hoặc một số vùng quanh Hà Nội như Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên…

Thiết tưởng, nói đến chú cẩu nhân năm Mậu Tuất, chúng ta cũng không nên quên trong nền văn học Việt Nam thời hiện đại không thiếu những trang văn cảm động, thấm đẫm tình người về "cậu Vàng" trong truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao. Lão Hạc là một người nông dân nghèo nơi làng quê Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám nên đối với Lão, "cậu Vàng" không chỉ mang ý nghĩa tài sản, một "vật nuôi Lão ấp ủ lúc cưới con sẽ thịt" mà còn là một sợi dây vô hình lấp đi khoảng trống cô đơn và hiu quạnh giữa lão và con trai, thậm chí là một "người thân", "bạn tâm tình". Lão gọi "cậu Vàng" như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự. Lão mắng yêu, lão cưng nựng, chiều chuộng, lão bắt rận, âu yếm, trò chuyện... Con chó, trong ý nghĩa như vậy, đâu chỉ là một vật nuôi đơn thuần.

Cùng với Nam Cao là Ngô Tất Tố. Trong khi lột tả bước đường cùng của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, tác giả tiểu thuyết Tắt đèn đã dựng lên chi tiết chị Dậu bán chó, bán con. Để có được hai đồng cứu anh Dậu, chị rơi vào cảnh đường cùng và tột đỉnh của sự đau đớn. Tâm trạng ấy được Ngô Tất Tố diễn tả lại bằng một đoạn văn đến nay, vẫn day dứt trong lòng người đọc: "Với những tiếng thổn thức trong đáy tim, những giọt nước mắt luôn luôn đọng ở gò má, chị Dậu cố sống cố chết nhũng nhẵng dẫn con chó lẽo đẽo dưới ánh nắng mùa hè. Con vẫn lướt mướt khóc, chó vẫn ý ẳng kêu, chị vẫn nhất định giả câm giả điếc mong cho chóng đến nhà cụ Nghị"...

Trải qua hàng ngàn năm, cũng như nhiều con vật khác, chó luôn gắn bó, đồng hành cùng con người, trở thành một phần của đời sống làng quê Việt và ít nhiều mang những giá trị văn hóa, phản ánh tâm thức dân tộc qua những chặng đường lịch sử. 

Nguyễn Tâm Cẩn - Phan Bá Hàm

  

I. Hôn nhân ngày xưa

Người xưa nói: "Phối thất chi tế, vạn phúc chi nguyên" - việc hôn nhân là nguồn gốc của muôn sự hạnh phúc. Theo sách Thuyết văn: hôn là nhà của người vợ, nhân là nhà của người chồng. Như vậy hôn nhân là sự chung sống của vợ chồng. Cũng tương tự như vậy, Từ điển Từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân giải thích: hôn nhà gái, nhân nhà trai chỉ việc cưới xin. Tuy nhiên theo giải thích của Đào Duy Anh chữ "hôn" nguyên nghĩa là chiều hôm vì theo tục lễ xưa, lễ cưới thường tổ chức vào buổi chiều tối. Còn theo Luật Hôn nhân và gia đình thì hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn (điều 3).

Hàng vạn năm về trước, khi xã hội con người còn rất lạc hậu thì chưa có hôn nhân. Đến thời kỳ phong kiến, các tục lễ về hôn nhân mới hình thành và có hệ thống ngày càng chặt chẽ.   Thuở ấy hôn nhân chưa có pháp luật bảo vệ nên người ta đặt ra nhiều lễ nghi trang trọng để ràng buộc hai bên.

Xây dựng gia đình là việc hệ trọng trong cuộc đời mỗi người. Người xưa quan niệm việc hôn nhân là để sinh con đẻ cái, duy trì và phát triển nòi giống cho nên việc hôn nhân của con cái là do cha mẹ và anh em họ hàng quyết định. Đối với các gia đình giàu có, người vợ ngoài việc sinh đẻ, nhất là sinh con trai để nối dõi tông đường còn là người lao động làm mọi việc trong nhà và ngoài đồng, là người nuôi dưỡng cha mẹ chồng lúc về già, người thừa kế mẹ chồng quản lý gia đình... Theo tinh thần: "Dâu là kế thế, rể là người dưng".

Trong hôn nhân xưa trai gái không được tự do tìm hiểu, yêu đương mà chủ yếu là do "Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy". Đã có không ít trường hợp các bậc cha mẹ đã hẹn ước với nhau khi con còn nhỏ tuổi, thậm chí có những trường hợp hai bên gia đình đính ước khi người con mới ra đời. Tuổi kết hôn ngày xưa cũng rất thấp, chỉ là: "Gái thập tam, nam thập lục". Vì thế, xã hội thời đó đã có cảnh:

Lấy chồng từ thuở mười ba

Đến khi mười tám thiếp đà năm con.

Ra đường thiếp hãy còn son

Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng".

(Ca dao)

Nhìn chung hơn kém nhau một vài tuổi là vừa. Đến khoảng 24-26 tuổi mới xây dựng gia đình đã bị cho là muộn.

Vì tục lễ ngày xưa là: "Nam nữ thụ thụ bất thân" (chữ thụ đầu là trao cho, chữ thụ sau là nhận lấy). Trai gái trao cho nhau cái gì đều không được đưa trực tiếp mà phảỉ nhờ người khác hay đặt ở đâu đó rồi bên kia đến nhận lấy. Nam nữ thanh niên cùng lứa thân mật với nhau sẽ bị xã hội cho là thiếu đứng đắn và rất khó lấy được vợ hoặc chồng gần. Còn lấy vợ không có mai mối sẽ bị dư luận chê cười cho là mắc phải "bùa yêu".

Do đó trong hôn nhân ngày xưa, vai trò của người mai mối, ở nhiều địa phương gọi là người làm mối rất quan trọng. Nam nữ cách làng hiếm khi được gặp nhau, thậm chí có đám đến lễ ăn hỏi mới biết mặt nhau. Việc chọn người mai mối cũng rất cẩn thận, thường là người có tuổi tác, đứng đắn được bà con láng giềng kính nể và quan trọng là phải có gia đình hòa thuận, đông con cháu…

Bên nhà trai nhờ người làm mối giới thiệu với nhà gái. Nếu được hay không người làm mối sẽ báo lại với nhà trai. Cũng có những trường hợp bên gái chưa đồng ý, người làm mối phải đi lại hàng chục lần phân tích, thuyết phục cho đến khi đi đến kết quả, có trường hợp phải kéo dài hàng năm.

Như vậy việc chọn dâu rể ngày xưa chủ yếu là theo ý muốn của người lớn. Ngoài việc hợp tuổi và gia đình "môn đăng hộ đối", các ông bà thường mong con cái lấy được chồng gần, vợ gần và gặp được: "Dâu hiền, rể thảo". Người con dâu được gọi là "hiền" trước hết phải đảm bảo được bốn tiêu chuẩn: công, dung, ngôn, hạnh, ở đó:

- Công là công việc, khả năng lao động (trong đó có cả sức khỏe), thực hiện và quán xuyến công việc gia đình.

- Dung là nhan sắc, kể cả hình thể con người.

- Ngôn là lời ăn tiếng nói. Người phụ nữ phải ăn nói nhẹ nhàng, thùy mị. 

- Hạnh là hạnh kiểm, nết na, cách ăn ở, đức tính của người phụ nữ.

Còn việc chọn rể, ngoài yêu cầu "thảo" tức là người tử tế, tốt bụng, rộng rãi, không keo kiệt còn là người khỏe mạnh, con nhà khá giả, có học thức... Ở vùng Bắc Nghệ An cũng có câu ca dao:

Ham chi ruộng cả ao liền

Chỉ ham cái bút cái nghiên anh đồ.

Ngày xưa từ khi gia đình người con trai tiến hành dạm hỏi một người con gái cho đến khi tiến hành lễ cưới phải trải qua một chặng đường dài. Ở vùng Nghệ Tĩnh thông thường phải thực hiện những lễ chính sau đây (thường gọi là lục lễ):

1. Lễ chạm ngõ, dân gian gọi là lễ tấp rào. Qua người làm mối sau khi biết được gia đình nhà gái đã đồng ý thì bên nhà trai sắm một lễ mọn đưa đến nhà gái, ngỏ lời hỏi người con gái. Thành phần tham gia thường có đại diện họ nội (có thể là tộc trưởng) cha hoặc anh trai trưởng chàng rể và một vài người anh em thân cận có uy tín. Lễ vật chỉ có chai rượu với trầu cau. Bên nhà trai cũng bố trí vài người chủ yếu là họ nội để tiếp khách. Mục đích chính của lễ này là muốn báo cho mọi người biết cô gái đã có nơi ăn hỏi rồi.

2. Lễ vấn danh: là lễ bên nhà trai đến hỏi tên tuổi cô gái. Vì sao lại như vậy? Bởi vì ngày xưa con gái hầu hết không được đi học, cũng không phải vào sổ họ, sổ làng nên rất ít người được đặt tên mà thường cứ gọi là: con Chắt, con Ả, con Hoe, con Em,... Đến lễ này nhà gái buộc phải đặt cho con cái tên. Khi cưới về nhà chồng, người vợ lại được gọi theo tên chồng, khi có con lại gọi theo tên con đầu nên không ít người sau khi trưởng thành vẫn không biết tên mẹ mình là gì.

Việc hôn nhân xưa, ngoài những quan hệ thông thường, có hai vấn đề rất được coi trọng là tuổi con trai và con gái có hợp với nhau không và gia đình phải môn đăng hộ đối. Đành rằng có câu: "Nhất con gái hơn hai, nhì con trai hơn một" nhưng việc xem tuổi của đôi bên cũng rất quan trọng. Cho nên trong lễ vấn danh là dịp để đôi bên tìm hiểu xem đôi trai gái có xung khắc hay không, nếu có thì cuộc hôn nhân có thể không thành. Ngoài ra cũng ngầm hiểu là đôi bên có "môn đăng hộ đối" không? Tức là hai gia đình phải tương xứng với nhau về địa vị xã hội, về điều kiện kinh tế. Rất ít khi nhà quyền quý lại thông gia với nhà bạch đinh, nghèo khổ.

3. Lễ ăn hỏi: Đây là lễ quan trọng, là nghi thức đính ước truyền thống trong một cuộc hôn nhân. Nhà trai đem cau trầu, rượu, bánh trái, lợn, xôi hoặc gạo nếp... đến nhà gái chính thức hỏi vợ cho con mình. Với các nhà khá giả, lễ vật tương đối nhiều. Số người tham dự mỗi bên cũng phải đủ thành phần đại diện cho cả họ nội, họ ngoại của cô dâu, chú rể. Sau lời phát biểu của đại diện nhà trai và nhà gái thường nhà gái bố trí cho cô dâu ra chào họ. Đáp lại đại diện nhà trai có "món quà" tặng cô dâu. Nhà gái nhận lễ và đôi bên chính thức trở thành thông gia.

Sau động tác nhận lễ nhà gái đặt một phần lễ vật (phải có cau trầu, rượu) lên bàn thờ gia tiên báo cáo ông bà tổ tiên. Khi lễ xong, bánh trái trầu cau được nhà gái "lại quả" cho nhà trai một phần đem về phân phát cho họ hàng anh em. Số này để nhà trai đưa về biếu và "thông báo" cho anh em họ hàng biết con trai mình đã đính hôn. Bên nhà gái cũng dùng một phần cau trầu, bánh trái phân phát cho anh em để "thông báo" như bên nhà trai.

Sau ăn hỏi thường phải một năm hoặc hơn mới được cưới. Từ đó mùa nào thức ấy nhà trai phải mang lễ vật sang tết (biếu) nhà gái. Ở nhiều làng xã vùng Nghệ Tĩnh lễ tết này thường diễn ra hai lần trong năm vào tháng năm và tháng chạp và lễ vật cũng thường là thủ lợn với năm hoặc mười chiếc bánh khô, về sau là một cân thịt lợn. Nhà nghèo khó cũng phải hai chục cá thửng. Nhiều nơi đêm 30 tết chàng rể tương lai phải có một chục quả cam đẹp đến tết bố mẹ vợ. Rồi sau khi cưới nếu cha mẹ vợ còn sống mỗi năm hai lần chàng rể vẫn phải đi tết.

4. Lễ xin cưới: Khi điều kiện đã chín muồi, phần lớn là qua người làm mối nhà trai biết được nhà gái đã đồng thuận thì tiến hành xin cưới. Lễ này cũng tổ chức đơn giản, chỉ có người cha (nếu cha đã mất hay già yếu thì anh trai) và một vài người trong họ đưa chai rượu và cau trầu đến nhà gái đặt vấn đề xin cưới. Tùy hoàn cảnh của cô gái có khi rất dễ dàng, nhà gái chủ động gợi ý nhưng cũng có không ít trường hợp do cô gái còn non trẻ, nhà gái muốn con trưởng thành hơn hoặc có khi do hoàn cảnh neo đơn thường là do gia đình có nhiều miệng ăn mà thiếu lao động, gặp hoàn cảnh đó việc đi xin cưới có thể diễn ra nhiều lần.

Đặc biệt ngày xưa có tục cưới bôn tang.  Khi cha mẹ hay ông bà nội của cô dâu hay chú rể mất theo tục lễ phải chờ ba năm (thực chất là 27 tháng) hết tang mới được cưới. Trong hoàn cảnh đó nhà gái cũng phải chấp thuận cho cưới bôn tang hay cưới chạy tang. Tức là cưới vội vàng khi người chết còn nằm đắp chiếu trên giường chưa phát tang. Trường hợp này lễ cưới vẫn có mâm cỗ và thường diễn ra vào chiều tối, mọi nghi thức nổ pháo hay vui chơi hát hò đều miễn hết.

5. Lễ cưới: (một số nơi gọi là đám cưới) chỉ được tổ chức khi hai bên không có tang ma. Trước lúc cưới qua người làm mối, nhà gái thường có tục thách cưới vì người xưa cho rằng nếu không nhà gái sẽ mang tiếng "cho không" con mình hoặc người con gái có chuyện giấu kín phải cưới ngay để giải nguy. Đây là một phong tục xấu biến hôn nhân thành chuyện gả bán. Bên nhà gái cũng thường "giơ cao đánh khẽ". Gặp khó khăn nhà trai xin bớt một ít vẫn cho. Nhưng cũng có nơi  có bà cô, ông chú khó tính, để nâng giá trị của cháu mình vẫn đòi thách cưới nhiều thứ vòng nhẫn, hoa tai, tiền bạc, quần áo, khăn nón, cau rượu, bánh trái... nhất là hàng chục mâm đám cưới, có khi quá nhiều, nhà trai không lo nổi đành phải bỏ cuộc hoặc khất lần lựa lâu dài.

Trước khi cưới một hai ngày có tục dẫn lễ. Nhà trai phải cử người đưa các lễ vật mà nhà gái thách đòi đến nạp cho nhà gái. Lễ vật tương đối nhiều có khi một đến hai người gánh mới hết, thường là 5 hoặc 10 kg thịt lợn, vài yến gạo nếp, mấy chục chiếc bánh chưng, quần áo, nữ trang, cau mấy buồng, trầu mấy chục liền, rượu mấy chục chai,...

Cũng trước khi cưới nhà trai phải nạp cheo, tức là khoản nạp cho làng xã bên nhà gái. Nếu lấy nhau trong làng xã thì có châm chước bớt cho một ít. Khi chưa có đăng ký kết hôn thì tờ nạp cheo cho làng cũng có giá trị như tờ giấy kết hôn vậy. Ca dao xưa có câu:  

Nuôi lợn thì phải vớt bèo

Lấy vợ thì phải nạp cheo cho làng.

Hoặc câu tục ngữ: Cưới vợ không cheo như tiền gieo xuống suối.

Tiền cheo thường khoảng một, hai quan đến năm, bảy quan hoặc nhiều hơn tùy theo hoàn cảnh và Hương ước của làng. Làng sẽ căn cứ vào số tiền nạp cheo nhiều hay ít để quy định gọi tên chàng rể mới là anh Hiệu, anh Bộ, anh Nhiêu, anh Nho... và nếu nạp tiền ít thì gọi là anh Sở, anh Học. Không ít trường hợp cái danh hiệu mà làng đặt cho được mang suốt đời đã đành mà sau khi chết rồi người ta vẫn gọi theo tên đó, nhất là cái tên ông Hiệu, ông Bộ. Trường hợp cưới vợ mà không có tiền nạp cheo cho làng thì chàng rể phải đi đánh mõ cho làng một năm hoặc nhiều hơn.

Trước khi cưới một ngày còn có lễ tơ hồng. Khi làm lễ người ta bày hương án ngoài sân bên nhà gái, dùng xôi gà, trầu cau, rượu,... để tế ông Nguyệt lão (hay ông Tơ bà Nguyệt), tế xong hai vợ chồng vào lạy cha mẹ vợ.

Trong ngày cưới, trước khi họ nhà gái xuất phát, nhà trai phải cử một vài người cao tuổi đem theo trầu rượu đến nhà gái để làm lễ xin dâu. Đây cũng là dịp để thăm dò số lượng người đi và lường trước thời gian. Giờ đưa dâu phải chọn giờ hoàng đạo, tùy theo quãng đường đi dài ngắn để chọn giờ. Nếu hai nhà không xa trong làng hay hai làng gần nhau thường tổ chức vào buổi trưa, có nơi vào buổi chiều tối. Nếu một trong hai bên còn "có bụi" tức có tang trong họ thì giờ tổ chức đám cưới phải sau 12 giờ trưa. 

Lễ cưới được tổ chức rất long trọng. Nhà trai phải dọn cỗ, tổ chức ăn uống thịnh soạn để đón nhà gái và cô dâu. Số mâm do nhà gái đòi trước, thường từ hai mươi đến năm sáu chục mâm. Những đám cưới to có thể đến trăm mâm. Ngày xưa khi tổ chức đám cưới nhà trai phải làm thịt một vài con lợn thịt đã được nuôi béo từ trước. Các đám cưới to phải mổ thịt một con bò.

Đi đầu đám cưới là một ông già chủ hôn trong họ nội. Cô dâu ra đi khỏi nhà không được quay đầu trở lại. Khi đám cưới gần đến nơi, nhà trai phải cử một người phụ nữ ăn mặc đẹp bưng cơi trầu đứng ở cổng để chào họ nhà gái. Khi cô dâu vừa đi vào cổng, họ nhà trai phải có một bà thường là người đông con cháu ra đón và dẫn cô dâu vào buồng. Sau này thay việc đó bằng động thái khác là: một người đàn ông cao tuổi thường là chú, bác trong họ nội ra dẫn cô dâu và chú rể vào thắp hương kính viếng ông bà cha mẹ đã quá cố trước khi ra dự đám cưới.

Theo tục lễ trước đây, cha mẹ không đi đám cưới con và do cô dâu còn ít tuổi, có khi chỉ mới 14-16 tuổi kinh nghiệm cuộc sống còn ít nên thường có người phù dâu đi theo hướng dẫn và an ủi. Phù dâu thường là cô gì hay chị em thân thích và là người khôn ngoan có gia đình hạnh phúc. Vì không được tìm hiểu nhau, nghĩa là chưa có tình yêu, sự hiểu biết của người con gái về người chồng tương lai của mình là rất ít, nhất là những đám cưới khác làng xã, những đám cưới do cha mẹ, anh em đôi bên xếp đặt... và cũng muốn thể hiện là mình không muốn sống xa gia đình cha mẹ, nên trong nhiều đám cưới cô dâu đi lấy chồng rất buồn, không ít trường hợp cô dâu khóc sướt mướt từ đầu chí cuối nên vai trò của người phù dâu rất quan trọng. Có trường hợp đi được nửa đường cô dâu còn bỏ trốn, phải mất nhiều thời gian tìm kiếm đám cưới mới tiếp tục được.

Như trên đã nói, theo phong tục ngày xưa cha mẹ không đi đám cưới con. Do đó sau lễ cưới thường tổ chức vào buổi trưa thì đến chiều tối, nhà trai mời một số đại diện của họ nhà gái sang chơi để biết nhà, dân gian gọi là lễ tập hậu. Trường hợp cưới buổi chiều thì lễ tập hậu tổ chức vào ngày hôm sau. Tham gia đoàn này thường có mẹ cô dâu, đại diện các o, các dì, các mự… phần đông là phụ nữ, khoảng dăm bảy người sang giao lưu trò chuyện với các thành phần tương ứng bên nhà trai. Để tiếp khách đặc biệt này, nhà trai cũng phải dọn một số mâm cỗ. Đây là dịp để bà mẹ và các o, dì, mự… biết nhà chàng rể để rồi sau này khi sinh nở biết nơi qua lại phục vụ mà không phải hỏi thăm nhà, vì hỏi thăm nhà con, cháu gần thì dễ bị người ta chê cười.

Cách tổ chức đám cưới ngày xưa rất tốn kém nên nhiều chàng trai nhà nghèo đến kỳ hạn ba năm vẫn không đủ tiền để cưới vợ. Trường hợp này nhiều khi nhà gái phải giúp đỡ hoặc anh em phải cho vay mượn. Nhiều đôi vợ chồng cưới xong nợ nần chồng chất phải mất mấy năm mới trả xong.

6. Lễ hồi môn: Sau lễ cưới một hai ngày, vợ chồng cùng bố mẹ phải sắm một cỗ xôi gà sang bên nhà cha mẹ vợ cúng gia tiên. Cúng xong hai bên cùng ăn cỗ, trò chuyện để thắt chặt tình thông gia. Bắt nguồn từ câu: "Xuất tất cáo, phản hồi tất diện" nói rằng: Khi ra khỏi nhà phải cáo tổ tiên, nay lấy chồng rồi, vợ chồng phải trở về trình diện trước tổ tiên, gia đình. Rất nhiều nhà giàu nhân dịp này đã có "của hồi môn" cho con nhằm giúp đỡ đôi vợ chồng trẻ. Của hồi môn nhiều hay ít tùy theo hoàn cảnh chú rể, điều kiện kinh tế và số con nhiều hay ít của cha mẹ vợ. Thông thường là vài ba sào ruộng hoặc ngôi nhà ba gian. Cũng có trường hợp cho hai, ba mẫu ruộng và một con trâu. 

Có nơi sau lễ này vợ chồng đón bố mẹ vợ sang chơi nhà trai. Đây là một tục lễ đẹp ngày nay cũng nên duy trì vì nó giáo dục con cái biết quý trọng bố mẹ vợ cũng như bố mẹ chồng và thắt chặt tình thông gia và là dịp để giới thiệu chú rể với anh em bên nhà gái.

II. Hôn nhân sau Cách mạng tháng Tám

Sau Cách mạng tháng Tám, nhất là trong kháng chiến chống Pháp, tục lễ hôn nhân đã căn bản có những thay đổi lớn. Về mặt pháp lý đã có những quy định tiến bộ làm thay đổi nhiều tập tục lạc hậu như: trai gái được tự do tìm hiểu, nam nữ bình đẳng, hôn nhân một vợ một chồng, cấm tảo hôn, cấm cưỡng ép hôn nhân, cấm lấy vợ lẽ, hạn chế yêu sách của cải trong cưới hỏi...

Tuy nam nữ được tự do tìm hiểu nhưng trong nhiều trường hợp là qua một người bạn trung gian, hoặc có khi cùng cơ quan đơn vị được tổ chức công đoàn hay phụ nữ giới thiệu. Sau khi hai bên tìm hiểu đi đến quyết định rồi mới báo cho cha mẹ và họ hàng đôi bên được biết.

Tuy nhiên ở các làng xã nông thôn vùng Nghệ Tĩnh, nhất là đối với các gia đình nề nếp, điều kiện kinh tế không quá thiếu thốn, quá trình hôn nhân từ khi tìm hiểu cho đến lúc cưới tuy có đơn giản hơn nhưng các lễ chính vẫn được giữ lại. Với lễ chạm ngõ hay được tiến hành đơn giản, người cha hoặc anh cả cùng với một vài người trong họ đem chai rượu cùng đĩa trầu đến nhà người con gái đặt vấn đề xin phép cho hai cháu được tìm hiểu. Còn lễ vấn danh không thành lễ nhưng thay vào đó là những dịp chơi nhà nhau. Sau lễ chạm ngõ đôi bên mời nhau "sang chơi cho biết nhà". Những cuộc chơi và nói chuyện này giúp gia đình đôi bên hiểu thêm về đối tượng của mình. Số người tham gia thường là dăm bảy người trong đó có cha hoặc mẹ cô dâu chú rể. Lễ vật mang theo cũng đơn giản gồm chai rượu và một ít quà bánh. Về phía đón tiếp cũng có những thành phần tương tự và hai bên cùng ăn chung bữa cơm để trao đổi chuyện trò liên quan đến hai cháu. Một yêu cầu nữa là giúp bên kia hiểu thêm về gia đình và anh em họ hàng thân cận của nhau để đi ra còn biết mà chào hỏi.

Đối với lễ ăn hỏi vẫn tổ chức tương đối trọng thể, phải đủ thành phần mỗi bên như ngày xưa. Động tác cô gái ra chào họ nhà trai vẫn có, nhưng có nơi là chú rể xin phép họ nhà gái vào đón cô dâu ra trình diện hai họ. Việc cha mẹ và người thân hai bên tặng quà cho cô dâu chú rể như dây chuyền, nhẫn vàng... và các đồ trang sức có giá trị với ý nghĩa để làm kỷ niệm, để làm vốn... cũng thường được tiến hành tại đây. Khi thấy điều kiện đã chín muồi, bên nhà trai cử vài ba người sang nhà gái đặt vấn đề xin cưới. Nhà gái cũng phải mời một số người thân cận là đại diện họ nội đến tiếp chuyện. Nếu nhà gái đồng ý, nhà trai sẽ trình bày chi tiết lịch trình tiến hành lễ cưới để nhà gái biết.

Việc tổ chức lễ cưới trong thời gian này phần lớn là theo kiểu "đời sống mới" nghĩa là không có mâm cỗ, trừ trường hợp cách xa họ nhà gái phải ở lại ăn cơm mới về được. Phần đông lễ cưới tổ chức theo đời sống mới, trên bàn chỉ có bánh kẹo, hoa quả, thuốc lá, nước chè xanh.... cha mẹ và người thân của cô dâu chú rể có thể đến dự nhưng chủ tọa đám cưới thường là đại diện chi đoàn thanh niên hay công đoàn và các tiết mục văn nghệ do hai bên đóng góp đã làm sinh động cuộc vui. Những lời chúc mới lưu truyền trong dân gian như: Vui duyên mới, không quên nhiệm vụ hoặc là: Cành non lá mới/ Vui với trời hồng/ Vợ chồng gắng công/ Hoàn thành nhiệm vụ đã ra đời và phổ biến trong các lễ cưới thời gian này.

Nhiều khi cơ quan, công nông trường đông cán bộ công nhân viên chức người ta vận động sắp xếp để hai ba đám cưới cùng tổ chức chung một lần. Sau lễ cưới, cơ quan đơn vị bố trí thời gian nghỉ để vợ chồng về quê thăm hỏi anh em họ hàng đôi bên. Cũng từ đây cơ quan đơn vị và công đoàn phải lo bố trí chỗ ăn ở phù hợp cho các gia đình mới. 

Tuy nhiên ở nông thôn, nhiều đám cưới có mâm cỗ, tức theo đời sống cũ vẫn diễn ra, nhất là đối với các gia đình gia giáo và điều kiện kinh tế cho phép. Một số đám cưới kết hợp cả đời sống mới lẫn mâm cỗ. Phần đầu là liên hoan bánh kẹo thuốc lá, khi gần kết thúc gia đình và họ nhà trai cho triển khai bưng mâm ra thì bạn bè thanh niên tự giác rút lui còn hai họ, chủ yếu là nhà gái ở lại ăn uống xong mới về. Trong các đám cưới, xen lẫn các tiết mục văn nghệ là lời phát biểu "giao dâu" của đại diện họ nhà gái và lời phát biểu "nhận dâu" của đại diện họ nhà trai.

Sau khi cưới một hai ngày vẫn có tục lễ vợ chồng về nhà cha mẹ vợ, tức là tiến hành lễ hồi môn. Nếu ở gần thì ngay ngày hôm sau. Lễ vật mang theo là một cỗ xôi gà hoặc cỗ xôi thủ lợn đưa về để cúng gia tiên đàng vợ. Vợ chồng cũng ở lại ăn cơm với gia đình và những người thân bên nhà vợ. Nếu ở xa đôi vợ chồng trẻ có thể ở lại vài ba ngày để người trong gia đình dẫn đi chơi các gia đình anh em gần gũi nhất.  Đây cũng là dịp để mẹ vợ giới thiệu chú rể với anh em mình.

III. Hôn nhân trong kinh tế thị trường

Trong những thập kỷ gần đây, đất nước chuyển đổi sang kinh tế thị trường, nhiều vùng  nông thôn đang từng bước được đô thị hóa, nhiều gia đình đã có người đi xuất khẩu lao động hoặc làm ăn sinh sống ở nước ngoài, đời sống nhân dân đã được nâng cao, nhiều gia đình đã trở nên giàu có. "Phú quý sinh lễ nghĩa", việc hôn nhân cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ. Mặt khác Luật hôn nhân và gia đình ngày càng đi vào cuộc sống và cùng với nhiều nguyên nhân khác nên nhận thức về hôn nhân đã có những thay đổi lớn. Tuổi kết hôn cao hơn trước rất nhiều, nam nữ từ 25 đến 30 tuổi mới xây dựng gia đình là chuyện bình thường, việc chồng nhiều hơn vợ trên dưới chục tuổi cũng không ít. Điều kiện gia đình "môn đăng hộ đối" dù còn có trong suy nghĩ của một số người nhưng cũng ít được nói ra. Khoảng cách giữa hai gia đình không còn quan trọng nữa, việc lấy vợ lấy chồng cách tỉnh, hay kết hôn với người nước ngoài cũng không còn là chuyện hiếm....  Các dịch vụ phục vụ ăn hỏi và đám cưới gần như ở địa phương nào cũng có và phục vụ rất chu đáo.

Khi đôi trai gái quyết định xây dựng gia đình, họ sẽ báo với cha mẹ đôi bên. Lễ chạm ngõ tuy cũng có nhưng rất nhẹ nhàng, hai ông thông gia tương lai chủ động gặp nhau và phần lớn là đồng ý theo nguyện vọng của con cái. Các lễ còn lại tập trung vào hai lễ chính là lễ ăn hỏi và lễ cưới. Và để thuận tiện công việc, đôi bên cũng thường thống nhất hai lễ tổ chức gần nhau trong một tháng hoặc trong một tuần lễ, cá biệt có trường hợp là hai ngày sát nhau.

Trong lễ ăn hỏi, do gộp cả lễ xin cưới nên nhà trai cũng chuẩn bị lễ vật cho cả lễ này. Các lễ vật được sắp xếp trong một số tráp gỗ sơn son thiếp vàng màu đỏ, trên có phủ khăn đỏ, gia đình nhà trai thuê từ các dịch vụ phục vụ cưới hỏi. Như vậy ngoài thành phần đại diện cho anh em họ nội, họ ngoại của chú rể còn có đoàn khiêng các tráp đựng lễ vật gồm các "nam thanh nữ tú". Lễ tổ chức đơn giản là 3 hoặc 5 tráp, lễ trọng thể có đến 9 hoặc 15 tráp (với miền Bắc là số lẻ) trong đó chủ yếu có cau, trầu rượu, các loại bánh kẹo, thuốc lá... Còn lương thực thực phẩm chủ yếu cho buổi lễ và đồ nữ trang thì nhà trai nhờ nhà gái chuẩn bị cho nên thường có một phong bì kèm theo. Số lượng tiền trong phong bì phải nhiều hơn lượng tiền mà nhà gái sắm sửa để dọn số mâm cỗ phục vụ cho lễ này và cũng tùy theo điều kiện kinh tế nhà trai, có đám đến hàng chục triệu. Về phía nhà gái cũng phải chuẩn bị đội bưng tráp để nhận lễ mà nhà trai đưa sang. Trang phục của đội bưng lễ phải thống nhất, thường là thuê tại các dịch vụ cưới hỏi: các cô con gái thường mặc áo dài màu, con trai mặc quần tây đen, áo sơ mi trắng, đi giày.

Trong buổi lễ, ngoài phát biểu của đại diện họ nhà trai, họ nhà gái còn có việc cô dâu ra chào hai họ. Việc giao và nhận lễ vật dành cho hai bà thông gia. Sau đó đại diện họ nhà trai đưa cô dâu chú rể vào làm lễ thắp hương báo cáo ở bàn thờ gia tiên. Gần cuối buổi lễ, nhà trai đưa lễ xin cưới ra và nhà gái chấp thuận rồi đôi bên cùng trao đổi thống nhất địa điểm, cách thức, ngày giờ tiến hành.

Ở nhiều nơi, trong lễ này cha mẹ và người thân hai bên cũng tiến hành trao quà cưới: dây chuyền, nhẫn cưới, các đồ trang sức cho cô dâu và chú rể.

Kết thúc buổi lễ, nhà gái có phần "lại quả" gửi nhà trai. Lễ vật lại quả phải chia số chẵn nhưng kiêng chia đôi, ví dụ không chia 2 quả cau mà phải 4 quả, cau phải xé bằng tay, không dùng dao cắt, nắp tráp phải để ngửa, không đậy kín...     

Lễ cưới được tổ chức sau khi chính quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn. Về mặt pháp lý sau khi đăng ký kết hôn đôi trai gái được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên theo phong tục thì phải sau lễ cưới họ hàng bạn bè và cộng đồng mới thừa nhận đôi trai gái là vợ chồng. Trong điều kiện hiện nay dù ở thành phố hay nông thôn hầu hết lễ cưới đều được tổ chức hoành tráng, trọng thể và tốn kém. Với quan niệm đời người chỉ có một lần nên các bạn trẻ trong nhiều trường hợp dù kinh tế còn thiếu thốn nhưng vẫn phải cố gắng vay mượn để tổ chức đám cưới chu đáo, không thua kém bạn bè, kể cả nam nữ là công nhân các công ty đang phải ở phòng trọ. Không những thành phố mà nhiều vùng nông thôn hiện nay vẫn tổ chức đám cưới ở các khách sạn. Cô dâu được trang điểm lộng lẫy cùng chú rể ngồi xe hoa đi từ nhà mình đến nơi tổ chức và về nhà chồng. Phong trào tổ chức đám cưới ngày càng lớn, có khi đến năm bảy trăm khách trở lên với hàng chục, hàng trăm xe con đưa đón đang là "mốt" của các chàng trai con nhà quyền quý, giàu có ở thành phố và nông thôn hiện nay.

Một vấn đề đáng nói của đám cưới thời kinh tế thị trường là tiền mừng. Mừng nhiều hay ít là tùy theo quan hệ, nhưng không ít trường hợp người ta lợi dụng đám cưới để thu tiền. Vào những năm cuối của thế kỷ trước, phong bì đựng tiền mừng được đưa trực tiếp cho cô dâu, chú rể hoặc cha mẹ họ khi đi chúc rượu. Sau này các nhà làm dịch vụ đã bố trí sẵn một hộp hình quả tim đặt ngay cửa ra vào với phong bì và bút mực sẵn sàng. Họ nhà trai chỉ cần cắt cử người đứng theo dõi và bảo vệ. Ngoài một ít đám tiệc mặn tổ chức chung thường thì nhà trai và nhà gái tổ chức mời khách riêng tại nhà, có nơi mời đến hai ba ca trước ngày cưới. Tình trạng được mời đám cưới trước đây là niềm vinh dự, là sự kính trọng... ngày nay nhiều khi trở thành nỗi lo đối với nhiều gia đình ở nông thôn:

Không đi mình hóa người dưng

Đi thì biết lấy tiền mừng ở đâu?

Một đồng chẳng có trong bâu

Xin rể ngần ngại, xin dâu phiền hà.

Biết chăng có nhiều cụ già

Ở quê mùa cưới cũng là mùa lo.

(thơ Văn Gừng)

Lễ cưới dù tổ chức ở khách sạn hay ở gia đình thì người dẫn chương trình là người của trung tâm dịch vụ. Ngoài các bài hát, họ thường viễn dẫn các câu ca dao, tục ngữ nói về tình yêu đôi lứa làm cho buổi lễ thêm sinh động.  Chương trình lễ cưới cũng rất phong phú. Sau khi cô dâu và chú rể làm động tác nhập tịch, thắp hương trước bàn thờ gia tiên, tất cả ra hôn trường để dự lễ cưới. Nếu có tiệc mặn thì cô dâu và chú rể cùng đi chúc rượu hoặc bia các mâm. Nhiều nơi hai ông bà thông gia cũng cùng đi chúc rượu và cảm ơn quý khách. Sau lễ tiệc các bạn trẻ có thể biểu diễn các tiết mục khiêu vũ, nhảy múa, ca hát làm cho không khí thêm vui tươi. Còn lễ hồi môn sau khi cưới thì có người thực hiện, có người không nhưng thường thì vợ chồng về thăm bố mẹ vợ là chính.

Tóm lại việc hôn nhân qua quá trình phát triển của lịch sử đã có những thay đổi phù hợp với xu thế của thời đại. Các tục lễ ăn hỏi, cưới xin cũng phần nào phản ánh trình độ văn hóa của xã hội. Nếu như thời phong kiến chưa có pháp luật thì những tục lễ phức tạp đã góp phần ràng buộc hai bên. Trong hai cuộc kháng chiến, đời sống  khó khăn thiếu thốn, đại bộ phận nam nữ thanh niên và gia đình chấp nhận tổ chức cưới xin theo đời sống mới đơn giản và tiết kiệm. Nhưng khi kinh tế gia đình có điều kiện phát triển theo tiến trình đổi mới của đất nước, kinh tế thị trường đã chi phối mạnh mẽ các thủ tục và các lễ lạt trong hôn nhân làm cho cưới hỏi trở thành "gánh nặng" đối với  nhiều nam nữ thanh niên và gia đình thì việc chủ động chọn hình thức tổ chức thích hợp là yêu cầu đặt ra đối với các bạn trẻ và các bậc cha mẹ. Hãy tỉnh táo "Liệu cơm gắp mắm" và đừng "Vung tay quá trán". Về mặt xã hội hiện tượng tổ chức đám cưới lớn để thu "lợi nhuận" cũng cần được phê phán.

Ths. Lê Tài Hòe

 

1. Về đặc điểm

Người Mã Liềng thuộc dân tộc Chứt cùng chung trong nhóm Sách, Mày, Rục, A Rem có nguồn gốc ở hai huyện Bố Trạch, Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình.

Do chế độ phong kiến hà khắc, một bộ phận người Chứt đã phiêu tán vào rừng ở huyện Minh Hóa và dọc dãy Trường Sơn để trốn tránh thuế khóa, giặc giã. Chắc chắn trên bước đường thiên di và đi tìm sự sống, một bộ phận người Chứt đã vào sâu trong rừng, sau này đã trở thành cư dân của huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

Cuộc sống săn bắt, hái lượm nay đây mai đó trong rừng đã đẩy người Mã Liềng vào hoàn cảnh không nhà cửa, "ăn mặc rách rưới hoặc không có quần áo", họ cư trú dựa vào hang động của núi đá vôi dọc dãy Trường Sơn.

 Đến năm 1991 người Mã Liềng được bộ đội Biên phòng tỉnh Hà Tĩnh giúp đỡ định cư và thành lập bản tại Rào Tre thuộc xã Hương Liên huyện Hương Khê cho đến ngày nay.

Cuộc sống trong rừng quá lâu theo nhiều năm tháng, người Mã Liềng lúc về định cư không còn biết đến trồng trỉa cây ngô, cây lúa, không biết trồng bông dệt vải. Họ đã quen tìm củ nâu, cây khụa, cây búng báng trong rừng để lấy bột làm lương thực, săn bắt thú rừng, ngăn suối bắt cá làm thức ăn. Sinh hoạt, kiếm sống của người dân trước khi về định cư quả là đơn sơ hoang dã(1).

2. Sinh hoạt đời thường

Về lễ tục hôn nhân của người Mã Liềng tuy giản lược, đơn sơ nhưng cũng mang những sắc thái độc đáo. Cuộc sống săn bắt hái lượm, lại mang tính cộng đồng cao, hầu như họ chưa ý thức nhiều về tư hữu. Săn được con thú to như con nai, con hoẵng, thịt đem chia đều cho mọi người trong cộng đồng cùng hưởng. Việc thực hiện các lễ tục khi trai, gái lấy nhau thường đơn giản nhưng rất thiết thực gần gũi với hoàn cảnh sinh sống.

Con trai, con gái từ nhỏ đến tuổi trưởng thành, thường được nghe người lớn hát những điệu dân ca Ka tưm, Ka lềnh, được nghe thổi tiêu, thổi sáo. Sự tiếp nhận và học được cách đàn, sáo, cách hát dân ca đã làm cho trai gái Mã Liềng dễ xích lại gần nhau, nảy nở tình cảm yêu đương đôi lứa.

Chúng tôi có đặt ra câu hỏi: Sinh hoạt trong hang động lại khó khăn như thế, liệu có tình trạng nam nữ sống kiểu quần hôn hay không. Các già làng đều khẳng định:

Hôn nhân vợ chồng rất bền chặt. Chỉ những người chồng chết vợ, hay vợ mất chồng mới được đến ở với nhau để giúp nhau kiếm sống. Xưa kia trong bản, ai có tư tình sẽ bị đuổi ra khỏi cộng đồng, phải sống lang bạt trong rừng sâu cũng đồng nghĩa tìm đến cái chết.

Dưới vòm mái đá của hang động, bao nhiêu bếp lửa là bấy nhiêu căn hộ. Cuộc sống săn bắt, hái lượm của người Mã Liềng đã cố kết hôn nhân một vợ một chồng chặt chẽ. Từng cặp vợ chồng tự lực săn bắt, thu hái lương thực, thực phẩm để trang trải cái ăn hàng ngày cho gia đình mình.

Con trai người Mã Liềng lấy vợ thường khoảng 15, 16 tuổi. Con gái đến tuổi 14, 15 đã có thể lấy chồng. Do phải mưu sinh trong điều kiện khó khăn, người con trai con gái lúc trưởng thành được cha mẹ huấn luyện thuần thục những cách thức săn bắn, hái lượm.

Khi đã đến tuổi trưởng thành, con trai đều biết làm ra cái nỏ để săn bắn, biết cách đặt bẫy để bắt thú rừng. Con gái biết đi xúc cá ngoài suối, biết cách đập cây búng báng lấy bột để nấu ăn...

Cuộc sống của nam nữ trưởng thành trong một quần cư không ai còn xa lạ, nhưng sự bén duyên của từng đôi lứa cũng có quy luật của nó. Người Mã Liềng vốn một thời xa xưa đã sống trong cộng đồng văn minh nên những tập tục cổ truyền về hôn nhân vẫn còn lưu giữ được.

 "Gia cảnh" từng hộ trong "bản" đời sống phụ thuộc vào năng lực tháo vát kiếm sống của từng cặp vợ chồng. Việc hôn nhân "cưới hỏi" vẫn là cơ sở hợp lí nhất để kết nối các cặp trai gái thành một gia đình.

3. Bó củi cầu hôn

Trong bản, đôi trai gái nào có cảm tình với nhau, yêu nhau mọi người đều biết. Tuy vậy việc hôn nhân, xây dựng gia đình cho đôi lứa là trách nhiệm của bố mẹ và ông bà. Dựa vào sự từng trải và kinh nghiệm sống, người Mã Liềng có những tập tục khác biệt, phù hợp cho trai gái kết hôn theo hoàn cảnh của mình mà không giống với bất kì một dân tộc nào cả.

Tập tục cầu hôn mỗi khi đôi lứa yêu nhau là cơ sở để lựa chọn kết nối vợ chồng bền chặt. Cách thức cầu hôn của người Mã Liềng tuy đơn giản nhưng vẫn chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc trong đó.

 Để thổ lộ tấm lòng yêu thương của mình với một cô gái nào, chàng trai phải tự mình vào rừng chặt một bó củi đem về đặt "trước nhà" cô gái. Nhìn hiện tượng cầu hôn đơn giản của người Mã Liềng, con người thời hiện đại ngày nay không khỏi ngẫm cười. Nhưng khi tìm hiểu kĩ, lại giật mình không ngờ về cách thức chọn con rể của người Mã Liềng lại khôn ngoan đến vậy.

Ở giữa rừng không thể nói thiếu củi, nhưng để kiểm tra kiến thức hiểu biết về cuộc sống cũng như năng lực của chàng rể sau này, người Mã Liềng chỉ yêu cầu: Chàng trai phải tự mình đi tìm kiếm và mang đến nhà cô gái một bó củi. Và bó củi đã trở thành biểu tượng thiêng liêng cho vật cầu hôn của người con trai Mã Liềng.

Sau khi đã có "vật chứng tỏ tình" là bó củi mà chàng trai mang đến đặt "trước nhà", chủ nhà sẽ đem bó củi đó vào để xem xét cụ thể.

Việc chọn được loại củi nào lửa cháy đượm nhưng than lâu tàn nhằm duy trì được hơi ấm suốt cả đêm là kiến thức sinh tồn nên mọi người quan tâm. Củi giữ lửa đối với người Mã Liềng có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó quyết định cho sự tồn tại của các thành viên trong gia đình qua mùa đông giá lạnh.

 Kiểm tra hai đầu que củi, những dấu vết mà nhát dao để lại, mọi người sẽ biết được chàng trai đó có thông thạo cách đốn củi hay không. Nếu bó củi to, nặng nói lên sức khỏe chàng trai rất tốt, còn nhát dao chặt được sâu vào thân cây, bó củi buộc chặt, hai đầu được sắp xếp bằng bặn biết chàng trai này lao động có hiệu quả cao.

Thứ đến là kiểm tra xem trong bó củi có lẫn những thứ như cây sơn, cây tran hay không. Đó là những loại cây có độc, khi đốt lên sẽ phát tán gây nguy hiểm cho sức khỏe của mọi người xung quanh.

Qua bó củi mà chàng trai mang đến, cả nhà sẽ cùng phân tích bàn luận tìm ra ưu điểm cũng như hạn chế của chàng trai để quyết định cho việc gả con gái. Cô gái được ngồi nghe người lớn phân tích giảng giải nên cũng dễ thuận tình.

 Nếu nhận thấy chàng trai có nhiều ưu điểm lại được con mình yêu thích, cả nhà sẽ đồng ý cho cô gái lấy làm chồng, bó củi được gia đình giữ lại để dùng. Nhược bằng, thông qua bó củi của chàng trai bộc lộ những nhận thức và năng lực còn non kém, bó củi sẽ được gia đình mang ra đặt lại chỗ cũ.

 Sau ba ngày thấy bó củi vẫn còn nằm đó, chàng trai biết gia đình cô gái đã không đồng ý gả con cho mình nên đến vác bó củi đó về.

4. Chuẩn bị ngày cưới

Sau khi có tín hiệu của nhà cô gái đã chấp nhận giữ lại bó củi cầu hôn, gia đình chàng trai nhờ thêm một người (vai trò như người làm mối sau này) cùng sang nhà gái để trao đổi về ngày cô gái về ở nhà chồng.

Ngày vu quy của cô gái cũng là ngày vui của cả bản. Để chuẩn bị cho ngày hợp hôn này, cả bản phải tổ chức có một bữa ăn tươm tất, thịnh soạn. Căn cứ vào năng lực của từng người trong bản, già làng sẽ phân chia các thành viên ra nhiều nhóm đi kiếm thức ăn. Nam giới thường đảm nhận việc săn khỉ, bắt cá, tìm mật ong, đi chặt cây búng báng, cây khụa về lấy bột. Phụ nữ được phân công đi đào củ mài, củ nâu.

Loài khỉ sống ở núi đá thường đi ăn thành từng đàn hàng chục con, chúng tìm những nơi có bờ dốc thoai thoải để xuống suối uống nước. Phát hiện được nơi mà khỉ thường qua lại, người Mã Liềng cho nhựa cây độc vào hoa quả mà khỉ thích ăn rồi rải dọc đường.

Người đi săn được ngụy trang kín trong các lùm cây ngồi im mật phục. Khi những con khỉ đến gần, từ nơi ẩn nấp, người ta sẽ dùng nỏ để bắn, hoặc khỉ ăn phải những hoa quả bỏ độc, bị say không chạy được thì xông ra dùng gậy đánh bắt.

Người Mã Liềng rất thông thạo việc dùng lá cây cơi để đánh cá. Loại lá cây này có vị đắng, độc tố cao. Muốn bắt được nhiều cá họ phải ngăn nước phía trên một khúc suối, tìm loại lá cơi trong rừng đem đập nát rồi bỏ xuống suối để cá ngộ độc nổi lên.

Chị em phụ nữ có con nhỏ còn bồng bế trên tay cũng hăng hái tham gia đi đào củ mài. Lùng sục trong rừng tìm khoai, gặp được một đám nào họ chưa khai thác vội mà dùng dao, thuổng đào một cái hố nhỏ bên cạnh đủ để thả con nhỏ vào đó cho trẻ khỏi lật, khỏi bò đi nơi khác rồi mới tiến hành đào.

Tìm và đào củ mài đối với người Mã Liềng như có kĩ năng đặc biệt. Công cụ lao động bị hạn chế, chỉ có con dao, cái thuổng nhỏ nhưng gặp bụi khoai nào dù ăn sâu trong đất đến mấy họ cũng moi lấy củ bằng hết.

Nhóm người khác lại đi tìm củ nâu, đây là nguồn thức ăn chính, nó dễ tìm lại chế biến nhanh. Không phải củ nâu nào tìm thấy cũng ăn được mà phải chọn loại củ già đã chín. Cách chế biến đơn giản là đem củ nâu đã xát nhỏ ra suối rửa sạch nhớt sau đó vắt thành nắm rồi hông chín.

 Cây khụa trong rừng cũng góp phần không nhỏ cho bữa ăn. Khụa thân to như cây dừa có nhiều chất bột. Khi hông chín, bột khụa ăn thơm ngon không chát như củ nâu nhưng chế biến phức tạp, tốn nhiều công sức hơn.

Thịt khỉ được chế biến chủ đạo là cắt thành miếng to xiên que rồi đem nướng. Cá bắt được dưới suối một phần luộc chín, nhưng khẩu vị yêu thích của mọi người vẫn là món cá nướng trên than.

Trước khi vào liên hoan tiệc cưới, già làng lấy một ít thức ăn xếp lên phiến đá trước cửa hang rồi mời trời, đất, thần rừng, thần nước về ăn trước. Già làng cầu xin: trời đất, thần linh cho đôi vợ chồng trẻ được khỏe mạnh, sinh đẻ nhiều con cái. Cầu mong cho dân bản tìm được nhiều cái ăn để mỗi lần làng mời đến thần linh đều có nhiều cá, nhiều thịt.

Nghi thức cúng đơm cũng rất đơn giản, họ chỉ bỏ những thức ăn kiếm được lên phiến đá trước hang xem như bàn thờ rồi khấn mời trời đất, chư thần đến ăn trước để thần linh khỏi nổi giận mà phù hộ cho dân bản.

Theo các cụ kể lại, đám cưới của trai gái Mã Liềng vui lắm. Sau nghi thức cúng lễ của già làng, trai gái, già trẻ đều quây quần bên những bếp lửa, ai thích món gì thì tự mình nướng lấy ăn. Thức ăn kiếm được hàng ngày đối với người già, người ốm yếu rất khó khăn, những cuộc liên hoan của cộng đồng trước khi cô gái về nhà chồng cũng là cơ hội để "bồi dưỡng sức dân" nên mọi người đều phấn khởi.

Cả một vùng rộng lớn trước cửa hang, mùi của thịt nướng, cá nướng thơm ngậy. Hương vị của mật ong hòa quyện với mùi khoai mài vùi chín trong tro nóng, lan tỏa sự ngọt ngào khắp nơi cuốn hút mọi người đến lạ lùng.

Thịt, cá được chuẩn bị đầy đủ, trai gái, già trẻ cả bản cùng quây quần bên bếp lửa ăn uống thỏa thích. Bếp lửa này nướng thịt, bếp kia nướng cá, nướng khoai, nhiều người không có quần áo đẹp vẫn hồn nhiên dạo qua dạo lại.

Trước cửa hang, đám người chạy lăng xăng đi tìm, đi chọn thức ăn không ngừng chuyển động. Hình ảnh của họ lúc ẩn lúc hiện trong màn mờ ảo của khói, của lửa trông thật ngộ nghĩnh, vui mắt.

5. Ngày vu quy

Không khí của buổi liên hoan cô dâu về nhà chồng khá sôi nổi, đậm đà dư vị núi rừng nhưng ăn uống cũng không kém phần thịnh soạn và hấp dẫn.

 Khi mọi người ăn uống đã no nê, những khúc hát dân ca Ka tưm - Ka lềnh lại vang lên. Âm thanh của tiếng sáo, tiếng tiêu réo rắt va vào vách đá, dội lại vòm hang sâu thẳm tạo ra những chuỗi tiếng động huyên náo, kì ảo vang vọng cả một vùng.

Mùa cưới của trai gái người Mã Liềng thường diễn ra vào dịp cuối mùa xuân. Họ không có quan niệm chọn ngày giờ như các dân tộc khác, thời điểm cô gái về "nhà chồng" thường diễn ra lúc thời tiết đã bớt gió rét. Cưới hỏi vào dịp tháng ba tháng tư, trời đất ấm áp hơn, giai đoạn này cũng dễ tìm được cái ăn để cả bản cùng vui chung trong ngày trọng đại của đời người.

Cuộc sống săn bắt hái lượm trong rừng, người dân không có tài sản tích lũy, lại sống trong hang động nên tập tục thách cưới, cũng như của hồi môn cho cô gái khi về nhà chồng không nghe người Mã Liềng nói đến.

Theo lời kể của ông Hồ Pắc đã gần 60 tuổi cho biết trước khi về nhà chồng, cô gái được bố mẹ căn dặn những điều kiêng cữ mà mình cần phải tránh:

Người Mã Liềng thường quan niệm đi đâu, làm gì gặp người có chửa, phụ nữ đeo tháng (người đang hành kinh) thì xui, không may mắn.

Trong bản, nhà nào đánh bắt được nhiều cá bằng chài lưới, bằng xiên hay săn bắn được con chim, con gà nếu có mời ăn, người phụ nữ đang mang thai và cả người chồng đều phải từ chối.

Họ kiêng kị vì cho rằng người đang có chửa ăn những thứ đó sẽ gây hại cho chủ nhà, những lần khác đi săn bắt sẽ bị duông không còn được nữa.

Ngày liên hoan ăn uống của cả bản mừng cho cô dâu cũng là ngày cô gái vu quy về nhà chồng. Nhà trai, nhà gái cùng sinh sống trong một "mái nhà chung" là vòm hang đá nên đám đưa dâu cũng không phải diễn ra.

Vào khoảng trời xẩm tối, cô gái được cha mẹ đẻ dẫn sang "nhà trai" trực tiếp giao lại cho chồng.

Một dằm ngủ mới trong hang động đã được che chắn sửa sang thành nhà hạnh phúc cho đôi vợ chồng trẻ.

 Thế là sự hình thành một gia đình mới của người Mã Liềng lại bắt đầu.

 

Chú thích

(1). Về người Mã Liềng hôm nay. Đến cuối năm 2016 người Mã Liềng ở Hương Khê có 41 hộ, 146 khẩu, đã biết lao động chăn nuôi, trồng trọt, biết làm ra hạt lúa, hạt gạo.

Tài liệu tham khảo

1. Lã Văn Lô, Các dân tộc thiểu số ở VN; NXB Văn hóa 1959.

2. Nguyễn Đình Khoa, Các dân tộc ở VN,1983.

3. Nguyễn Đình Khoa, Nhân chủng học Đông Nam Á, NXB ĐH&THCN 1983.

4. Việt Dũng, VNMedia.VN.

ThS. Trần Lan

 

Bánh chưng gợi nhớ ngày Tết hay Tết gợi nhớ đến hương vị của bánh chưng? Tự bao giờ, món bánh truyền thống ấy đã đi vào tiềm thức của người dân Việt Nam, trở thành món ăn đặc trưng không thể thiếu trong mâm cỗ ngày Tết cổ truyền của dân tộc.

Đất trời đang vào tiết xuân, đâu đó trên nẻo đường quê hương đất Nghệ đã bắt đầu lác đác có vài người sửa soạn, sắm sang dần cho ngày Tết. Tục ngữ Việt Nam có câu "Đói giỗ cha, no ba ngày Tết", vào dịp Tết, nếu thiếu đi cái ăn thì coi như cái Tết không trọn vẹn, thậm chí là không có Tết. Với người Nghệ, sống trên mảnh đất không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nên trước đây, để có đủ ăn đã là vất vả, chứ nói gì đến chuyện ăn ngon. Có lẽ vì thế quan niệm ẩm thực của người xứ Nghệ từ xưa vẫn là "chặt to, kho mặn", "ăn lấy chắc, mặc lấy bền". Tuy nhiên nếu ngày thường: "Nhà giàu ăn rau trừ bữa/ Nhà khó cũng đỏ lửa ba lần" thì đến ngày Tết, nhà nào cũng cố gắng có được: "Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ/ Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh", cũng chu đáo sắm sửa một mâm cỗ Tết thật thịnh soạn để dâng lên ông bà tổ tiên, cầu mong một năm mới làm ăn phát tài phát lộc. Và bánh chưng xanh bao giờ cũng là món tết không thể thiếu trong mâm cỗ, là miếng ngon được các thành viên trong gia đình ưu tiên dành cho nhau trong niềm vui sẻ chia, đoàn viên.

Nguồn gốc về món bánh độc đáo có tên Bánh chưng

Bánh chưng có lẽ là loại bánh duy nhất có lịch sử lâu đời trong ẩm thực truyền thống Việt Nam. Là một món ăn vừa độc đáo, vừa ngon lành, vừa bổ, lại gắn liền với truyền thuyết dân tộc lâu đời, và có nhiều ý nghĩa sâu xa về vũ trụ, nhân sinh quan.

Bánh chưng hình vuông, màu xanh, tượng trưng trái đất - âm. Bánh dày hình tròn, màu trắng, tượng trưng trời - dương, thể hiện triết lý âm dương, biện chứng của phương Đông nói chung và triết lý Vuông Tròn của Việt Nam nói riêng. Bánh chưng âm dành cho mẹ, bánh dày dương dành cho cha. Bánh chưng, bánh dày là thức ăn trang trọng, cao quý nhất để thờ cúng tổ tiên, thể hiện tấm lòng uống nước nhớ nguồn, nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục to lớn, bao la như trời đất của cha mẹ. 

Theo truyền thuyết, bánh chưng, bánh dày có từ thời vua Hùng Vương thứ 6, sau khi phá xong giặc Ân, vua muốn truyền ngôi cho con, nhân dịp đầu xuân, mới hội các con mà bảo rằng: "Con nào tìm được thức ngon lành để bày cỗ dâng cúng tổ tiên có ý nghĩa hay thì ta truyền ngôi cho".

Các con trai đua nhau kiếm của ngon vật lạ, hy vọng được làm vua. Người con trai thứ mười tám của Hùng Vương thứ 6 là Lang Liêu (tên chữ gọi là Tiết Liêu), tính tình thuần hậu, chí hiếu, song vì mẹ mất sớm, không có người chỉ vẽ cho, nên rất lo lắng không biết làm sao. Một đêm, Lang Liêu nằm mơ có vị thần đến bảo:

"Trong trời đất không có vật gì quí bằng gạo, vì gạo là của để nuôi dân… nếu lấy gạo nếp gói làm hình tròn để tượng trưng cho trời, hoặc gói làm hình vuông để tượng trưng cho đất, ở trong làm nhân cho ngon; bắt chước hình dạng trời đất bao hàm vạn vật, ngụ ý nói ơn trời đất phát dục vạn vật, như thế thì lòng cha sẽ vui, tôn vị chắc được".

(Trích Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp)

 Lang Liêu tỉnh dậy, mừng rỡ làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp, đậu xanh thật tốt, thịt lợn (heo) ba rọi dày thật tươi. Đến hẹn, các lang (con vua) đều đem cỗ tới, đủ cả sơn hào hải vị. Lang Liêu chỉ có bánh dày bánh chưng. Vua lấy làm lạ hỏi, ông đem thần mộng tâu lên. Vua nếm bánh, thấy ngon, lại khen có ý nghĩa hay, bèn truyền ngôi cho Lang Liêu, tức đời vua Hùng Vương thứ 7.  

Từ đó, cứ mỗi dịp đến Tết Nguyên Đán hay các đám cưới, thờ cúng, lễ hội... dân gian bắt chước làm bánh chưng, bánh dày sau thành tục lệ để cúng tổ tiên, cúng trời đất của người dân đất Việt. 

Bánh chưng trong ngày tết của người Nghệ

Người Nghệ tuy thường ngày ăn uống không mấy cầu kỳ nhưng dịp tết là phải tươm tất. Các món ăn thường được chuẩn bị sẵn từ những ngày giáp Tết. Sau khi tiễn Táo Quân về trời, các bà, các mẹ đã bắt đầu đi các chợ lớn trong vùng để mua được thực phẩm ngon, vừa ý. Những món ăn này được sử dụng trong khoảng từ 7-15 ngày trong và sau Tết, nên trong quá trình chế biến, người ta rất chú ý đến việc làm sao để có thể giữ được độ ngon của món ăn qua thời gian và thời tiết. Riêng món bánh chưng là món được chuẩn bị sớm và công phu hơn cả.

Nguyên liệu để gói bánh chưng từ xưa cho đến nay vẫn không thay đổi, tuy rất dân dã nhưng đòi hỏi tất cả đều phải tươi mới, phải được lựa chọn kỹ càng, cẩn thận, bao gồm: gạo nếp ngâm đãi thật kỹ; đậu xanh đồ vừa chín tới; thịt có cả nạc, bì, mỡ, ướp đủ các loại gia vị. Sau khi chuẩn bị đầy đủ, các thành viên trong gia đình sẽ cùng ngồi quây quần chung tay gói bánh. Người Nghệ chủ yếu gói bằng lá dong, bánh sẽ vừa xanh, đẹp và thơm hơn lá chuối. Kỹ thuật gói phải thật kín, không được cho nước vào trong, bánh mới ngon. Lạt phải buộc thật chật, chắc song nhưng nếu chắc quá, bánh cũng không ngon. Ngoài việc gói đủ hai cặp (4 chiếc) bánh để dâng lên bàn thờ gia tiên, có gia đình chỉ gói toàn bánh tét cho tiện việc cất giữ và sử dụng. Bánh được nấu trong thời gian từ 8-10 giờ. Khi nồi bánh sôi được 4-5 giờ, phải tiến hành trở bánh từ trên xuống dưới để bánh được chín đều. Khi bánh chín, vớt ra, rửa qua nước nguội để vỏ bánh được sạch sẽ. Sau đó xếp bánh lên mặt phẳng và dùng tấm ván hoặc mâm phẳng để ép bánh, giúp bánh được chắc và vuông vắn. Riêng bánh để thờ cúng, gia chủ sẽ chọn ra hai cặp bánh đẹp nhất bày lên bàn thờ. Nhà nào cầu kỳ thì dùng những lá dong đẹp, đem luộc qua, gói bọc bên ngoài chiếc bánh để bánh có được màu xanh tươi của lá.

So với bánh chưng, bánh dày của miền Nam - Bắc thì bánh chưng của người Nghệ mang hương vị đặc trưng riêng, có vị đậm đà của nhân thịt mỡ hành, cay nhẹ của tiêu xay. Bánh khi bóc ra có màu xanh của lá dong, mặt bánh nhẵn rền, hương thơm hấp dẫn. Khi bóc bánh phải nhẹ nhàng lật từng lớp lá dong, xé nhỏ lạt giang buộc bánh đặt lên mặt bánh chia làm 8 phần đều nhau. Như vậy, miếng bánh nào cũng có đầy đủ các thành phần nếp đậu, thịt với mùi thơm rất đặc trưng. Nếu vào thời tiết giá rét, người ta thường cắt bánh chưng, bánh tét ra đem rán vàng, lớp vỏ bánh giòn thơm, ăn nóng rất ngon. Trong mâm cỗ mời nhau, người Nghệ thường ăn bánh chưng kèm với thịt bò kho tàu, hành muối, dưa món chấm ruốc rươi. Một số người vẫn có sở thích ăn bánh chấm với mật mía. Cách thưởng thức bánh này cũng mang đậm nét riêng của người Nghệ.

Dẫu thế, thành quả cuối cùng không chỉ là được thưởng thức cái ngon ở miếng bánh chưng mà chính công đoạn gói và nấu bánh lại đi vào tâm thức của bao lớp  người xứ Nghệ. Đó là cảm giác được sum vầy, quần tụ bên gia đình, của tình làng nghĩa xóm. Thật hiếm có loại bánh nào mang đậm đà bản sắc dân tộc vừa thể hiện được sự đoàn kết cộng đồng như bánh chưng từ khâu chọn nguyên liệu, cách gói, cách nấu đến cả cách dùng.

Đó là những nguyên liệu hết sức dân dã, gắn bó với cuộc sống hàng ngày của người dân như: lá dong, gạo nếp, đậu xanh, thịt heo… song lại gói ghém cả một nền văn minh nông nghiệp lúa nước phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thiên nhiên. Chính vì vậy bánh chưng Tết đã xuất hiện ở mâm cỗ thờ từ rất lâu, để thể hiện sự biết ơn trời đất đã cho mưa thuận gió hòa để mùa màng bội thu đem lại cuộc sống ấm no cho con người.

Đó là buổi gói bánh đầy rôm rả của một vài gia đình cùng chung nhau làm bánh. Là hình ảnh người lớn tay thoăn thoắt với đủ thứ lá, nếp, đậu, thịt hành... chẳng mấy chốc mà những chiếc bánh vuông vức, đẹp mắt đã nằm ngay ngắn trong rổ. Lũ trẻ con lăng xăng ngắm nghía, chỉ mong còn dư chút nguyên liệu để được tự tay gói những chiếc bánh nhỏ, xinh xinh cho riêng mình.

Đó là khi trời vừa chập tối, củi được nhóm lên, nồi bánh to ụ được đặt lên ngay ngắn, là lúc già trẻ, gái trai kéo về ngồi quây quần bên nhau. Người lớn vừa trông bánh, vừa có dịp ôn lại đủ thứ chuyện vui buồn của một năm sắp đi qua. Bọn trẻ con chỉ thích ngồi nghịch lửa, mắt dán vào như thôi miên. Dường như cả thế giới trẻ thơ đã được gói gọn bên ngọn lửa hồng, cho chúng thỏa sức vẽ đủ những màu sắc của tết, nào là của miếng bánh ngon, của tiếng pháo lúc đón thời khắc giao thừa, của những bộ quần áo mới xúng xính chờ được mừng tuổi ngày mồng 1 Tết,... Tiếng cười nói cứ thế râm ran suốt cả buổi tối, xua tan cái lạnh của tiết xuân đang ùa về. Có bấy nhiêu thôi bên nồi bánh chưng mà biết bao ý nghĩa, ấm áp, chan hòa tình làng nghĩa xóm.

Nếu ngày xưa người dân khấp khởi đợi Tết để thỏa sức được ăn miếng bánh chưng ngon thì nay bánh được làm và có mặt quanh năm tại các chợ, phục vụ đa dạng cho cả các dịp đám cưới, giỗ chạp… trong đó, nhắc đến bánh chưng xứ Nghệ không thể không nhắc đến thương hiệu nổi tiếng của làng Vĩnh Hòa, xã Hợp Thành, huyện Yên Thành ngày nay. Bánh chưng nơi đây được làm bán thường xuyên trong năm, dịp Tết thì số lượng xuất ra gấp đôi, gấp ba và trở thành nguồn thu nhập chính của người dân nơi đây. Cả làng nổi tiếng với nghề làm bánh chưng xanh, bánh tét hàng trăm năm nay. Bánh chưng Vĩnh Hòa ngày càng uy tín không chỉ bởi bánh rất ngon, mẫu mã đẹp, an toàn vệ sinh được đảm bảo mà gửi gắm trong đó cả cái tâm, cái tình của những người con tại vựa lúa lớn nhất tỉnh nhà. Cứ thế mỗi dịp xuân về, người ta ví Vĩnh Hòa đã mang mùa xuân đến với không chỉ các vùng trong tỉnh mà còn ra tận Hải Phòng, Hà Nội vượt sang trời Âu (Đức, Ba Lan..) như món quá vô giá của quê hương.

Đúng là món ăn ngon xoay tròn câu chuyện, bởi thế mâm cỗ ngày Tết trước là để cúng tổ tiên, sau đó là gia đình quây quần bên nhau đã trở thành một nét đẹp trong văn hóa Việt. Giữa những tất bật của nhịp sống hiện đại, cuộc sống của người Nghệ đã đủ đầy và khấm khá, miếng ăn ngày Tết cũng được lược giản đi phần nào. Bánh chưng cũng không còn được làm nhiều tích trữ suốt tết như xưa nhưng trong mâm cỗ ấy, bao giờ cũng phải có đĩa bánh chưng, bao giờ cũng được ưu tiên và vẫn luôn là biểu tượng của lòng thành kính thiêng liêng của con cháu dâng lên tổ tiên và đất trời.

Người Nghệ vẫn ăn bánh chưng ngày Tết như phong tục ngàn đời nay đã có. Dẫu thế, ở thành phố Vinh bây giờ hình ảnh quây quần bên nồi bánh chưng rực lửa đã trở nên thật hiếm hoi, có chăng chỉ còn ở những vùng thôn quê. Ở đó trẻ em may ra còn được nếm trải cảm xúc háo hức của những đêm khấp khởi cùng người lớn nấu bánh. Để bây giờ khi tết đến xuân sang ngập tràn sắc phố, biết bao người chợt giật mình nhớ đến ánh lửa bập bùng bên nồi bánh mà khát khao, mà thương nhớ.

TS. Phạm Mai Chiên

 

Dân tộc Thái yêu ca hát, họ có những điệu hát Lăm, Khắp, Xuối, Nhuôn trữ tình say đắm. Các điệu dân ca nổi tiếng ấy khi trừ đi phần âm nhạc, tiết tấu, nhạc cụ, không gian diễn xướng còn lại phần lời đó là ca dao. Người Thái ở Nghệ An có gia tài ca dao đồ sộ, phản ánh nhiều mặt cuộc sống lao động, sinh hoạt và phong tục, qua đó cho thấy cách nghĩ, cách cảm của họ đối với thế giới tự nhiên và con người.

Ca dao về tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình khá phổ biến trong kho tàng ca dao dân tộc Thái. Chủ đề về thời tiết, về các mùa trong năm trong đó có mùa xuân cũng là mảng quan trọng để biểu đạt kinh nghiệm sản xuất, và bộc lộ thái độ cảm xúc của nhân vật trữ tình. Hai chủ đề này đứng riêng thì rất nhiều, chủ đề tình yêu có 324 câu ca dao, chủ đề thời tiết, các mùa có 11 câu ca dao (theo Vi Quán Miên, Ca dao tục ngữ Thái Nghệ An). Tuy nhiên, những câu ca dao cùng viết về mùa xuân và tình yêu trong dân ca Thái Nghệ An chiếm số lượng không nhiều, nhưng lại là những câu ca dao đặc sắc, có giá trị thẩm mĩ, giá trị văn hóa, giá trị biểu cảm rất cao.

Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm, tình yêu cũng là cung bậc tình cảm đặc biệt của con người. Vì vậy, ca dao Thái đã có những câu ca thật hay để giao duyên, hò hẹn, thề bồi, kết ước, nhớ thương trong mùa xuân của đất trời.

Bài ca dao dưới đây là lời ước hẹn, đợi chờ người yêu với thời gian đủ dài, trải qua mười năm. Điều đặc sắc là cách diễn đạt thời gian mười năm được miêu tả bằng các biểu tượng khác nhau về mùa, với mùa thu là biểu tượng "mùa cốm", mùa xuân là biểu tượng "bánh chưng". Đáng chú ý là cách nói "Hãy chờ nàng/ Cho được 10 lần nấu bánh chưng" lời hẹn thề với người yêu, thời gian rất dài từ năm này qua năm khác đủ lượt nấu bánh chưng mười lần thì người yêu vừa lớn để làm cô dâu.

"Ài chẳng thà âu nọng/ Hờ đày xíp mua khầu hang/ Thà âu nang/ Xíp páng khầu tồm/ Dủ thà chồm bọc mạy hờ đày xíp pí!".

(Dịch: Anh hãy đợi chờ em/ Cho được 10 mùa cốm/ Hãy chờ nàng/ Cho được 10 lần nấu bánh chưng/ Đợi chờ bông hoa cho được 10 năm!) [3, tr.8 - 9].

Mùa xuân là thời điểm được lựa chọn để hẹn hò tình tự. Chàng trai hẹn hò bạn tình tâm sự trao duyên vào đêm xuân bên ngọn lửa nồng ấm: "Anh sắp vào lật chăn tâm sự với người tình giữa ngày Tết nhé, người yêu quý ơi!". Lời hẹn  của tình yêu mới chớm nở, đan quyện trong không khí tết đến xuân về tha thiết chân thành:

"Cáng hàm ma chan môn mi mở/ Thảnh vả đẹt phở tòng nham cại phốn hủa hăm phá/ Hâu ha cỏ lứa ê tá le cùa đóm ca đá cỏng tẹ nọ/ Cu cỏ xiếng panh mưng lừa căm đánh hâu điểng/ Xiếng tiểng đàng mẻ ngoạng pí mở lông piêng/ Xiếng manh nhông khằm pa chỏi hanh manh ngoạng cỏ nơ/ Ài khằm hầu piệt xàng lôm chụ cáng mửa nghên chiếng cỏn nợ, hiềm ơi!".

(Dịch: Anh hai đến sàn tròn có ngày/ Thì nắng ước chiếu buổi chiều mưa rơi ướt lèn/ Ta với mình đã từng đưa mắt nói với nhau nhiều điều/ Em cũng quý yêu anh bằng vàng đỏ ta đúc/ Đắm say như tiếng Ngoạng (ve) năm mới xuống trần gian/ Tiếng ve sầu sắp đi giúp sức Ngoạng đấy nhé!/ Anh sắp vào lật chăn tâm sự với người tình giữa ngày Tết nhé, người yêu quý ơi!) [3, tr.23-24].

Hình ảnh bánh chưng trong ca dao Thái từ món ăn truyền thống ngày lễ tết đã trở thành lễ vật tỏ tình, bày tỏ ước muốn cầu hôn: "Sắp làm bánh chưng đến nhà em bốn chục vạn", "Sắp làm bánh chưng đến nhà bông hoa, chia biếu đằng ngoại":

"Tốn kinh chai nị/ Khằm ê khầu tồm tầu hươn nọng xỉ xén/ Đé nợ!/ Chai khằm lục mưa ê pá vén tầu hươn nang/ Xỉ xén păn họi/ Khằm lục mưa ê khầu tồm tầu hươn chồm bọc mạy/ Dái quả la túng (lung tá)/ Đày bò chưa?".

(Dịch: Tấm thân chàng đây/ Sắp làm bánh chưng đến nhà em 4 chục vạn/ Đấy nhé!/ Chàng sắp làm cá đến nhà nàng treo/ Bốn chục vạn, nghìn, trăm/ Sắp làm bánh chưng đến nhà "bông hoa"/ Chia biếu đằng ngoại/ Được hay chăng?) [3, tr.126-127].

Món ăn đặc trưng của ngày tết bánh chưng được xem là lễ vật tỏ tình, vật phẩm kết ước cầu hôn. Lễ vật ấy được chuẩn bị với số lượng lớn (bốn chục vạn) để chia biếu cho đằng ngoại. Đáng chú ý là cách gọi "đằng ngoại", đó là địa chỉ gửi đến món quà cưới, vừa là để ướm thử về mối quan hệ của hai người trong tương lai. Dù chỉ là cách nói ám thị nhưng bày tỏ một mong ước kết duyên, nên đôi nên lứa.

Mùa xuân cũng là mùa của hôn nhân hạnh phúc. Những bài ca dao viết về lễ cưới, ngày về nhà chồng của các cô gái Thái cũng chọn thời khắc xuân sang:

"Ời mưng há hươn mửa bướn chiếng Xẳng ài hờ thóng/ Nang há hươn mửa bướn xóng/ Xẳng chai hờ chành/ Khừ ài đày tảnh dòng phài tang cộng/ Khừ xổng nang mưa".

(Dịch: Chị mình lấy chồng vào tháng giêng/ Nhắn anh cho thấu/ Nàng lấy chồng vào tháng hai/ Nhắn chàng cho nhanh/ Để chàng ăn mặc đẹp đi đường quanh co/ Để tiễn đưa em) [3, tr.116 -117].

Bên cạnh đó, có những bài ca dao bày tỏ ước mong về cuộc hôn nhân hạnh phúc lâu bền "cây bén rễ", "quả sai thành chùm" và mơ ước về sự đầm ấm "Đến ngày em đi làm dâu váy mới mặc đôi/ Có cả màn đính khuy trong nhà sáng đẹp/ Đến ngày em có con nhỏ để mà ủ con nằm".

"Bướn nị mẻn bướn đí nang léo/ Pí nị mẻn pí kinh nang xọc hươn há dào léo nơ!/ Hủng cẳm chậu chai mi bạch pạ hầu mưa pả tháng quén/ Mưng hảy tháng pén hờ kinh nang dẳn hạc năm nợ?/ Họt mửa ời mưng cỏ nhăng pến mạc còn pê puộng khư mủ đáo căm/ Xáo ham đày tảnh lăm ắm dòng/ Cỏ mi nang tùm pọc/ Lái ời páy xọc phà mẻ chạng cỏ pê ngược hón đánh cả nạ/ Ạ mẻn hóng panh khừ hom khấn ê chưởng/ Cọp mửa ời mưng đày tầu mưa pợ xìn mở ăm tối/ Mi tơng xút co khúy cuống hươn bán chành/ Cọp mửa ời mưng mi nầu lực nọi khừ tùm hỏ âu non".

(Dịch: Tháng này là tháng tốt của nàng rồi/ Năm nay là năm nàng tìm nhà lấy chồng rồi đấy nhé!/ Sáng sớm dậy chàng có vác dao vào rừng phát rẫy/ Thì hãy phát quang cho nàng trồng cây bén rễ với nhé!/ Đến ngày đậu quả thì quả sai thành chùm như thể đám sao vàng/ Gái choai mới điểm trang ăn diện/ Thì đã có em đùm bọc/ Nhiều người đi tìm tấm chăn thêu voi lại hóa chăn thêu rồng mào đỏ đó/ Ấy là của quý cất trong hòm sơn son làm tài sản/ Đến ngày em đi làm dâu váy mới mặc đôi/ Có cả màn đính khuy trong nhà sáng đẹp/ Đến ngày em có con nhỏ để mà ủ con nằm) [3, tr.21-22].

Lựa chọn cách biểu đạt song trùng về hình ảnh mùa xuân và tình yêu trong ca dao Thái cho thấy sự phong phú trong các cung bậc cảm xúc, tình cảm của đồng bào, ngoài ra còn bộc lộ ước mơ về hạnh phúc tròn đầy, tươi mới, dài lâu của đôi lứa. Hơn thế, cách biểu đạt ấy từ phương diện thi pháp còn là "cảm xúc thẩm mĩ, là tâm hồn yêu thương thiên nhiên" như nhận định của Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Phan Đăng Nhật:  "Dân ca giao duyên của các dân tộc cũng như mọi thể loại dân ca khác, đều sử dụng các phương pháp nghệ thuật quen thuộc như so sánh, liên tưởng, phóng đại, ước lệ, trùng lặp… nhưng nổi bật nhất ở đây là phương pháp đối chiếu, gắn bó con người với muôn vẻ thiên nhiên. Mức độ phong phú và tinh tế của phương pháp này khiến cho chúng ta có thể coi đây không chỉ là phương pháp nghệ thuật mà là một cảm xúc thẩm mĩ, là tâm hồn yêu thương thiên nhiên, thực sự sống và rung động theo nhịp rung động của tự nhiên" [2, tr.169]. Như vậy, một lần nữa đời sống tinh thần của người Thái Nghệ An, đặc biệt là quan niệm về vấn đề tình cảm đôi lứa, hạnh phúc gia đình được miêu tả thật rõ rệt qua ca dao. Nói cách khác, ca dao Thái đã là nơi lưu giữ những ký ức của dân tộc mình, đó là những bản tình ca tươi đẹp các thế hệ trao truyền cho mai sau.    

 

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Thanh Tuấn, Văn hóa bản địa Việt Nam - khuynh hướng phát triển hiện đại, 2012, NXB Văn hóa Thông tin & Viện Văn hóa.

2. Phan Đăng Nhật, Văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số - những giá trị đặc sắc (tập 2 Văn học), 2010, NXB Đại học Quốc gia.

3. Vi Quán Miên, Ca dao tục ngữ Thái Nghệ An, www.csdm.vn.

4. Phạm Việt Long, Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình, 2010, NXB Đại học Quốc gia.

 

GS. Phong Lê

 

Viết nhân kỷ niệm 240 năm sinh về một danh nhân lịch sử và văn hoá, quê ở Nghi Xuân, đồng hương của Nguyễn Du, là Nguyễn Công Trứ (1778-1858), tôi chọn tên bài là Tài và tình Nguyễn Công Trứ, để nói về hai phẩm chất làm nên đặc trưng của nhà Nho Uy Viễn; và xét rộng ra thì dường như cũng là đặc trưng của người xứ Nghệ nói chung và Hà Tĩnh nói riêng. Tàitình - đã đến ngưỡng của danh nhân văn hoá thì dường như ai mà chẳng có, chẳng phải riêng xứ Nghệ, hoặc Hà Tĩnh; nhưng với Nguyễn Công Trứ thì, theo tôi, dường như hai phẩm chất đó là đậm nét hơn, đột xuất hơn, gây ấn tượng nhiều hơn.

Không chỉ một lần, Nguyễn nói đến cái tài và cái chí của mình:

Đã mang tiếng đứng trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông

Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc

Nợ tang bồng vay trả, trả vay

Chí làm trai, Nam Bắc Đông Tây

Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.

Và:

Trời đất cho ta một cái tài

Giắt lưng dành để tháng ngày chơi.

Cái tài được giắt lưng này gần như đi suốt cuộc đời Nguyễn Công Trứ; và với câu thơ này nó có mang theo một ý vị chua chát; bởi, dường như nó chưa bao giờ được dùng hết; đành cứ phải giắt lưng, không phải là để dành, mà như một sự dư thừa, bỏ phí; bởi, cũng như nhiều danh nhân khác vào mở đầu thế kỷ XIX, trong khai trương một triều đại mới -  triều Nguyễn Gia Long, đó là một thời khó sống.

Có tài, và cái tài ấy rồi cũng được sử dụng, vì lợi ích của một vương triều, mà Nguyễn Công Trứ sẽ là một tôi trung mẫn cán, kể từ 1803 -  năm Gia Long thứ nhất, khi Nguyễn đã ở tuổi 25, dâng Thái bình thập sách. Nhưng để có thể lọt vào "mắt xanh", vào "tầm ngắm" của triều đình, Nguyễn đã phải trải biết bao lận đận. Lận đận từ những cuộc khảo thí, phải ba lần thi Hương, vào các năm 1803, 1813, đến 1819 mới giành được cái Giải nguyên, ở tuổi 41; để, với nó mà có chức quan khởi nghiệp là Hành tẩu Quốc sử quán - năm 1820. Phải vào tuổi 42, Nguyễn mới có cơ hội để thực hiện chí nam nhi, như vậy rõ ràng là quá muộn. Tuổi 42, năm 1820, đó là năm Minh Mệnh thứ nhất; và 20 năm dưới triều Minh Mệnh, Nguyễn đã có cơ hội để thực thi hai phương diện của tài năng và sự nghiệp. Đó là việc dẹp giặc Phan Bá Vành - năm 1827, và giặc Nùng Văn Vân - năm 1833; thực chất là dẹp nông dân khởi nghĩa; để sau đó, nhận chức quan đầu triều Binh Bộ Thượng Thư, kiêm Thự Tổng đốc Quảng An - năm 1836 ở tuổi 58. Đây cũng là thời gian Nguyễn bộc lộ tư chất một nhà kinh tế, trong việc khai khẩn đất hoang và mở mang thuỷ lợi, để lập nên hai huyện mới là Tiền Hải - Thái Bình và Kim Sơn - Ninh Bình. Với sự nghiệp này, Nguyễn được nhân dân hai huyện lập đền thờ, để tế sống - với đôi câu đối chữ Hán, qua lời dịch:

Trên đất dựng sinh từ, làng Đông Ấp trăm năm kỷ niệm

Giữa trời trơ cột đá, ngọn Hồng Sơn muôn thuở sáng cao.

Đã 6 lần dâng sớ, mong củng cố uy thế của triều đình bằng phép nghiêm trừ giặc cướp; nghiêm trị nạn cường hào; tổ chức chính sự ở Tiền Hải; lập chế độ quân dịch; hợp nhất hai tỉnh Thái Nguyên - Tuyên Quang; rút quân khỏi Trấn Tây… "Trời đất cho ta một cái tài" - cái tài đó ở Nguyễn ít nhiều cũng đã được sử dụng. Nguyễn cũng đã có lúc nhận được ơn riêng Minh Mệnh. Vậy là cái khao khát dấn thân và chí nam nhi của Nguyễn cũng đã có hoàn cảnh thi thố; và được triều đình tin cậy, ở cả hai phương diện xem ra là không cùng chiều: đánh dẹp khởi nghĩa nông dân và khai khẩn đất hoang cho dân. Ở hai sự nghiệp đó, cố nhiên Nguyễn không thể thấy là trái ngược, bởi "nghĩa quân thân"… Bởi cái ý chí đã được nuôi từ rất sớm: "Ba vạn anh hùng đè xuống dưới. Chín lần thiên tử đội lên trên". Bởi cái quan niệm như đinh đóng cột: "Hay tám vạn nghìn tư mặc kệ, không quân thần phụ tử đếch ra người".

Kể về tài trên cả hai phương diện: binh nghiệp và mở mang kinh tế; vừa dẹp khởi nghĩa nông dân, vừa lo đất ruộng - cơm áo cho dân - rồi được nhân dân lập đền thờ, thì, so với người đương thời, Nguyễn là nhân vật số một. Có điều cần lưu ý là ông đã phải thực hiện cái tài và cái chí của mình trong muôn vàn hiểm nguy và bất trắc, bởi sự ghen tị và đố kỵ của triều đình. Quan lộ của Nguyễn là một biểu đồ liên tục (hoặc dày đặc) những thăng giáng, bởi những nguyên cớ không có gì to - chẳng hạn vì một tên tù sổng mà bị giáng 4 cấp; có lần bị vu cáo có thuộc hạ buôn lậu mà bị giáng làm lính thú - biên phòng - vào năm 1844, thời Thiệu Trị. Từ Tổng đốc, Binh Bộ Thượng Thư đến lính thú, đó là hai cực vinh nhục của đời người; ứng phó với tình cảnh ấy, vẫn là một Nguyễn Công Trứ, với cốt cách an nhiên, ung dung, tự tại. Nếu chức Tổng đốc không xem là vinh, thì lính thú có gì là nhục! Như vậy, xem ra, nếu không bị ức chế, nếu quan lộ tất cả đều hanh thông thì sự nghiệp Nguyễn còn vươn cao tới đâu? Nguyễn sẽ là nhân vật như thế nào trong con mắt hậu thế? Tấm gương những công thần bậc nhất của Gia Long như Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt còn treo đấy. Không kể bản án tru di ba họ dành cho Cao Bá Quát sau khởi nghĩa Mỹ Lương. Bởi cuối cùng, nhìn vào những thăng giáng liên tục mà ông vẫn còn là ông. Để cho hậu thế còn được tiếp tục ngưỡng mộ một Nguyễn Công Trứ ở tuổi thọ ngoài bảy mươi, thực hiện tiếp một chữ tình cho riêng mình, bên một chữ tài, khó mà tận dụng hết công suất!

*  *  *

Năm 1849, ở tuổi 71, Nguyễn Công Trứ chính thức nghỉ hưu, trở về quê Hà Tĩnh, sau hai lần xin hưu mà Tự Đức không cho. Vậy là sau ngót ba mươi năm quan lộ, Nguyễn sẽ được trở về với cốt cách đích thực của mình -  một nhà Nho có gốc quê sinh, dưới chân Ngàn Hống, gắn với sông Lam núi Hồng; vùng đất đã sinh ra một bên là dòng họ Nguyễn Huy, với nhiều tên tuổi làm nên trường phái văn chương Trường Lưu, trong đó Nguyễn Huy Tự (1743-1790) với tác phẩm Hoa tiên - một truyện thơ Nôm, nói theo Tĩnh Tịnh Trai: "khởi bằng gió trăng, kết bằng gió trăng, mà trong khoảng giữa không có chỗ điểm xuyết nào thoát ra khỏi những chuyện gió trăng"; và một bên là dòng họ Nguyễn Tiên Điền, với Nguyễn Du - tác giả Long thành cầm giả ca, Sinh tế Trường Lưu nhị nữ, Văn chiêu hồnTruyện Kiều bất hủ.

Địa linh gắn với nhân kiệt. Kế tiếp Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Du sẽ là Nguyễn Công Trứ, không phải chờ đến lúc này mới là biểu trưng cho một cốt cách đa tình, một nguồn mạch trữ tình, với những sắc thái mới, trong tương ứng với thời đại.

Người hăm hở dấn thân, với bao vinh nhục, thăng trầm, "lên voi xuống chó", phải đến bây giờ, vào tuổi 70 mới là lúc được trở về với chính bản thân mình, trong một tổng kết vừa bùi ngùi, vừa chua chát:

Ôi! Nhân sinh là thế ấy

Như bóng đèn, như mây nổi

Như gió thổi, như chiêm bao

Ba mươi năm hưởng thụ biết chừng nào

Vừa tỉnh giấc nồi kê chưa chín

Ra trường danh lợi vinh liền nhục

Vào cuộc trần ai khóc lộn cười.

Để từ lúc này mới thật sự tìm thấy chính hạnh phúc đích thực của mình:

Chen chúc lợi danh đà chán ngắt

Cúc, tùng, phong, nguyệt mới vui sao!

Ngoài vòng cương toả chân cao thấp

Trong thú yên hà mặt tỉnh say

với mơ ước, nếu được chọn kiếp sau, đó sẽ là:

… xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

Ngày về quê, chia tay với những người đưa tiễn, Nguyễn cưỡi một con bò vàng, và cho treo vào đuôi nó một chiếc mo cau, ghi bốn câu thơ:

Ngựa ngựa xe xe đã tưởng nhàn

Lợm mùi giáng chức với thăng quan

Điền viên dạo chiếc xe bò cái

Sẵn tấm mo che miệng thế gian.

Giai thoại này có thể là sáng tạo của dân, nhưng đúng là phù hợp với tính cách Nguyễn Công Trứ.

Khác với nhiều tên tuổi cùng thời, Nguyễn không có một sự nghiệp thơ chữ Hán với chỉ một bài được lưu lại - đó là bài Thất thập tự thọ. Tất cả, gồm vài chục bài thơ Nôm Đường luật và trên sáu mươi bài là hát nói, là ca trù. Với thơ Nôm, thỉnh thoảng Nguyễn có giọng bất bình, bi phẫn: "Đéo mẹ, nhân tình - đã biết rồi/ Nhạt như nước ốc, bạc như vôi"; "Tiền tài hai chữ son khuyên ngược/ Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi"; "Nghe như chọc giận tai làm điếc/ Giận đã căm gan mỉm miệng cười"… Nhưng đó chỉ là một tỷ lệ nhỏ, so với thơ nói về chí trai và khát vọng lập công danh. Có chán đời, nhưng vẫn bám mà không bỏ đời. Bởi với chí lập thân dẻo dai ở tuổi tráng niên và ngót 30 năm dấn thân, Nguyễn đã có cơ hội hành động và dồn hết tâm, sinh lực vào hành động. Một sự nghiệp văn chương, đó là điều không thể không có, đối với bất cứ ai là kẻ sĩ; nhưng với Nguyễn Công Trứ, sự nghiệp đó lại đi theo một ngã rẽ khác, chủ yếu thuộc vào những năm cuối đời sau một hành trình ngót 30 năm hăm hở bỗng bất chợt nhận ra cái vô nghĩa, hư vô của một cuộc dấn thân. Vậy là còn lại được những gì cho Nguyễn, khi đã hết hoặc đã chán con đường công danh, "như bóng đèn, như mây nổi"? Một mẫu hình mới của nhà Nho -  hành lạc, hưởng lạc đã xuất hiện qua chân dung Nguyễn Công Trứ, ứng với một thời rạn vỡ các quan niệm chính danh, chính thống của Nho giáo lấy tu, tề, trị, bình làm căn bản. Con người với những lạc thú cá nhân đã xuất hiện và tìm đến sự thể hiện mình trong thơ, không phải thơ Đường luật Trung Hoa, mà là thơ Nôm dân tộc. Và không chỉ là Nôm để ngâm mà còn là ca, là ca trù, là hát nói, như là một thú chơi, với rượu, với thơ, với đàn sáo, với thanh và sắc, với ca kỹ, con hát, người hầu. "Chơi cho lịch mới là chơi/ Chơi cho đài các, cho người biết tay…"; "Thú tiêu sầu rượu rót thơ đề/ Có yến yến hường hường mới thú. Khi đắc ý mắt đi mày lại/ Đủ thiên thiên thập thập thêm nồng". Cái thú chơi từ thuở thiếu niên đã từng là niềm đam mê của Nguyễn, chơi nhưng vẫn không ngừng theo đuổi ráo riết mộng công hầu, lẽ tự nhiên đến tuổi già, ngoài 70 nó mới biểu lộ như một thăng hoa, trong cái cảnh:

Gót tiên chơi đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

Cả trong sự hoan lạc thật là dẻo dai, nồng nàn ở tuổi ngoài 70 trong chốn buồng the:

Kìa những người mái tuyết đã phau phau

Run rẩy kẻ tơ đào còn mảnh mảnh

Trong trướng gấm ngọn đèn hoa nhấp nhánh

Nhất toạ lê hoa áp hải đường

Tân nhân dục vấn lang niên kỷ

Ngũ thập niên tiền nhị thập tam

(Vợ hỏi chồng (năm nay) bao nhiêu tuổi:

- Năm mươi năm trước đây ta hai mươi ba)!

Nó làm rạng rỡ một chân dung Nguyễn, như một biểu trưng cực kỳ đột xuất và độc đáo cho một thái độ sống, rồi sẽ làm nên một khuynh hướng tư tưởng và nghệ thuật trong văn chương dân tộc, vốn đã hình thành từ cuối thế kỷ trước với Phạm Thái, và nối về sau với Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh, rồi tiếp đó là Tản Đà, cho đến Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, những người mở đường cho văn học hiện đại.

Ở tuổi 70 vẫn còn có thời gian gần 10 năm cho Nguyễn làm một cuộc đổi mới mình thật là ngoạn mục, ở tư cách con người hành lạc, con người hưởng thụ, thay cho con người dấn thân vì một vương triều mà ông rất mơ hồ trong đánh giá vai trò đại diện của nó: "Cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi đấy/ Nếu không chơi thiệt ấy ai bì"; "Nhân sinh bất hành lạc/ Thiên tuế diệc vi thương" (Đời người không hành lạc, sống hàng ngàn năm cũng như chết non); "Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy/ Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười/ Thôi công đâu chuốc lấy sự đời/ Tiêu khiển một vài chung lếu láo"…

Bộ phận thơ viết về con người hành lạc và các thú chơi này ở Nguyễn Công Trứ tôi nghĩ số lớn là được viết vào phần cuối đời. Đoán vậy bởi thơ văn Nguyễn không để lại năm tháng viết. Đương nhiên là thời hàn vi và làm quan cũng không thiếu, đối với một người ham vui hoặc ham chơi như Nguyễn. Câu chuyện "Giang sơn một gánh giữa đồng/ Thuyền quyên "ứ hự" anh hùng nhớ chăng?" là chuyện thực một trăm phần trăm chứ không phải là giai thoại. Nhưng hẳn phải vào cuối đời, khi đã chấm hết mọi phận sự và công danh, khi đã ngấm mọi vinh nhục "khóc lộn cười", trong cõi "trần ai", Nguyễn mới có dịp tổng kết để đến với một triết lý mang ý vị thế giới quan và nhân sinh quan nghiêm chỉnh: Đời rút lại chỉ là một cuộc chơi lớn; một cuộc chơi trong cõi nhân sinh "ba vạn sáu nghìn ngày", như một "miếng da lừa" bị co kéo giữa hai phía của bậc thầy chủ nghĩa hiện thực phương Tây Balzac - người cùng thời với Nguyễn, khiến con người chớ dại mà "tiêu nhăng" ("Nhân sinh ba vạn sáu nghìn ngày/ Vạn sáu tiêu nhăng hết cả rồi"); con người phải khôn ngoan mở "rộng đất chơi" ("Nhắn con Tạo hoá xoay thời lại/ Để khách tang bồng rộng đất chơi"). Triết lý ấy ứng vào cái thời ấy, cái thời đất nước đang âm thầm tích tụ cho một cuộc thay đổi, khi cái cũ đã không còn lý do để tồn tại, và cái mới chỉ vừa hé lộ trong các nền móng vật chất và tinh thần của xã hội.

Cái thời hình thành nền kinh tế hàng hoá; mở rộng sự giao lưu, buôn bán; xuất hiện những trung tâm kinh tế mới như Hội An, Kinh Kỳ, Phố Hiến… Cái thời đồng tiền đã có thể làm lung lay mọi nền tảng đạo lý cũ và cái tôi cá nhân với yêu cầu giải phóng đã hiện diện với sức công phá tiềm tàng của nó.

Với tài và tình, Nguyễn đã là người góp phần khơi rộng và tạo một lối rẽ cho con người được trở về với chính cá nhân mình, chính cái tôi riêng của mình trong khát vọng hưởng thụ mà hệ tư tưởng chính thống Nho giáo đã bóp nghẹt và vắt kiệt trong một xã hội phong kiến kéo quá dài trong lịch sử.

Cái thời giả định nếu không có sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây thì cũng đã chín muồi cho một nhu cầu khẩn thiết phải thay đổi, đang nung nấu một giải pháp hẳn chắc không khác mấy với phong trào Tây Sơn mà Gia Long đã tận diệt. Lịch sử nếu đã có một bất ngờ kỳ diệu với Quang Trung cuối thế kỷ XVIII, thì biết đâu lại không có một bất ngờ còn lớn hơn vào cuối thế kỷ XIX nếu như, nếu như…

PGS.TS Vũ Duy Mền

Thám hoa Phan Kính (1715-1761) từng được nhiều nhà nghiên cứu ở trung ương và địa phương quan tâm tìm hiểu. Năm 1994, Vũ Ngọc Khánh và Chương Thâu đã cho công bố cuốn sách, trong đó khảo cứu rất công phu về: "Phan Kính con người và sự nghiệp (1715-1761)". Tháng 12 - 1996, tại Bái đường Quốc Tử Giám, Hà Nội lần đầu tiên một cuộc Hội thảo khoa học lớn với chủ đề: Danh nhân lịch sử Phan Kính, do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tổ chức. Năm 1999, kỷ yếu hội thảo đó đã được in thành sách: "Danh nhân Phan Kính 1715-1761". Hội thảo và hai cuốn sách trên đã làm sáng tỏ thêm con người, sự nghiệp của Phan Kính đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trước đây.

Bài viết này, chủ yếu dựa vào văn bia "Từ đường họ Phan thôn Vĩnh Gia, xã Lai Thạch, huyện La Sơn"(1), do chính Thám hoa Phan Kính soạn, đã công bố và một số tài liệu khác mà tác giả được tiếp xúc, xin được giới thiệu thêm về Phan Kính - người học trò xuất sắc và thành đạt đất Lam Hồng.

Phan Kính, sinh năm Ất Mùi (1715) ở xã Lai Thạch, huyện La Giang (nay là xã Song Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Bia "Từ đường họ Phan thôn Vĩnh Gia, xã Lai Thạch, huyện La Sơn"(2), cho biết khá rõ về gia tộc họ Phan:

"Vị tổ sáu đời làm quan Thái thường tự Tự thừa, hiệu Thịnh Mỹ, tước Nam, bà tổ người họ Phan.

Tổ năm đời là Lang trung Phó đoán sự, hiệu Văn Nguyên, tước Nam, hai bà tổ là người họ Trần, họ Đường nhưng hành trạng không rõ.

 Đời cố (Tổ đời thứ 4) là quan viên tử. Cố tính trời khoan hòa, bền lòng trung hậu, thích chẩn cấp bố thí, giỏi chữa bệnh, hết lòng giúp đỡ người nghèo, xóm làng ca tụng cố là người lành. Cố (bà) là người họ Nguyễn, giỏi việc nội trợ, để cùng với chồng con đảm bảo gia đạo.

Ông nội là Hiệu sinh, tướng mạo hùng vĩ, lấy hành thiện làm vui, cứu nạn cho người thì không đòi người trả lại, gặp năm đói kém thì nghiêng sập vét lẫm (đồ đựng thóc gạo) giúp xóm giềng thân thích... Nhà có sáu mươi mẫu ruộng mà không lúc nào dư dật. Bà nội người họ Võ, cháu nội Đạt Quận công, con cả Vĩnh Lộc hầu. Bà là người đức hạnh mềm mỏng, cùng chí hướng với chồng. Không may ông mất trước, gia sản dần khánh kiệt nhưng tiết tháo... bà nuôi dạy các con đều trưởng thành.

Thân phụ tôi (Phan Kính) từ nhỏ mất chỗ cậy dựa, đi xa tìm thầy học, hng ngày chỉ lo việc thi thư, năm Giáp Ngọ (1714) được bổ dạy trường quận. Ông có lòng yêu rộng rãi đối với mọi người, là người điềm đạm, có trí thức, được xóm làng tôn trọng. Mẹ tôi (Phan Kính) là con gái ông Nho sinh họ Nguyễn ở Tràng Lưu. Bà giỏi đường kim chỉ, canh cửi, thạo việc cơm ngon, canh ngọt nuôi dưỡng cha mẹ, tần tảo mọi mặt, trong trách nhiệm tề gia không có việc gì không chu đáo.

… lên bảy tuổi (Phan Kính) theo học với cha và cậu là Quốc Tử Giám Nguyễn tiên sinh (Nguyễn Huy Tựu).

Mười một tuổi đã thuộc văn thơ.Nhà nghèo, giấy bút đồ dùng cái gì cũng thiếu, thường phải lộn mặt giấy cũ để làm văn, không có đèn học thì phải chờ ánh trăng hoặc đêm khuya thì ngồi cạnh khung dệt của mẹ để chung đèn mà đọc sách.

Nhà có mấy sào ruộng, là dân làm ruộng cho nên bao nhiêu nỗi vất vả của việc cày ruộng không có điều nào mà tôi (Phan Kính) không trải qua. Khi tôi (Phan Kính) mười sáu tuổi thì các em trai, em gái đã khá lớn, có thể canh tác đỡ phần nặng nhọc cho cha mẹ. Tôi (Phan Kính) bèn đi đường biển ra kinh đô học các nhà đại nhân…".

Năm Phan Kính 14 tuổi, được gia đình cho ra học Thám hoa Ngô Sách Hân ở Yên Trường. Sau đó Ngô Thám hoa lại giới thiệu Phan Kính ra Thăng Long.

Theo giới thiệu của Ngô Thám hoa, khi đến Thăng Long, Phan Kính xin thụ học với Bảng nhãn Hà Tông Huân, đương chức Thị lang bộ Công, người mà văn võ kiêm toàn thời bấy giờ. Tiếp đó Phan Kính còn được học nhiều thầy giỏi ở đất kinh thành như: Lâm lang bá họ Trần, Lan Đình bá họ Vũ, Hoàng giáp Thị lang Nguyễn Tông Khuê, Liêu Đình hầu Lê Hữu Kiều (thân phụ của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác). Trong những buổi nghe giảng tập và bình văn ở Thăng Long, Phan Kính không những tiếp thu được kiến thức uyên bác của các thầy mà còn học được ở các môn sinh đàn anh sau này nổi tiếng văn đàn như Đặng Trần Côn; hoặc những người cùng trang lứa như Lê Quý Đôn (sau là nhà bác học), Đoàn Thị Điểm (Hồng Hà nữ sỹ - người dịch Chinh phụ ngâm khúc vào loại xuất sắc).

Phan Kính đã dụng công tập hợp các bài làm được điểm ưu của mình thành sách "Kinh truyện tử sử". Sách đó được Bảng nhãn Hà Tông Huân xem, khen và sửa chữa cho. Tương truyền thầy Bảng đã thưởng cho học trò của mình là Phan Kính 3 vạn tờ giấy trắng, khổ rộng để tập văn.

"... Văn chương tôi (Phan Kính) lúc ấy đã quá hùng hồn, thức giả có người đoán rằng về sau tôi sẽ thành công lớn.

Năm mười tám tuổi, tôi (Phan Kính) bị nhiễm bệnh đậu rất nguy hiểm, thân phụ phải đưa về tỉnh (trấn) chữa, 7 tháng sau mới khỏi. Khoa Ất Mão (1735), hai mươi mốt tuổi tôi (Phan Kính) đi thi ở trường tỉnh (trấn), hai kỳ đều được xếp loại ưu, đến Tứ trường đỗ thứ hai mươi hai.

Năm Bính Thìn (1736), tôi (Phan Kính) cưới vợ là con gái cả ông huyện Thừa họ Nguyễn ở làng Mật, xã Nguyệt Ao(3).

Qua năm Đinh Tỵ (1737), thì (vợ Phan Kính) sinh đôi hai con trai: Nhuận và Thấu.

Từ năm Ngọ (1738) đến năm Tuất (1742), nhà gặp vận đen: ông nội cùng với chú Việp, thím Lê, em gái là Nhưỡng và con trai là Thấu đều bị bệnh mất; hai em trai là Phan Hợp và Phan Thúy cũng lận đận trường ốc.

... Mùa Xuân năm Quý Hợi (1743), hai mươi chín tuổi, tôi (Phan Kính) mang cặp trẩy kinh, qua sông Lam ném dao xuống nước chảy thề rằng:"Không trúng thì không trở về", khẳng khái tỏ quyết tâm... từ đó ngày đêm vật lộn với sách vở.

Mùa Đông năm ấy (1743), gặp khoa thi Đại tị (khoa thi lớn, rất đông người dự thi), thơ phú (Phan Kính) đứng hàng thứ nhất, văn sách đứng thứ năm, vào thi Đình đỗ Thám hoa, được trao chức Hàn lâm viện Thị chế, chuyên việc cung phụng từ lệnh ở bên vua, áo gấm đai bạc, bao nhiêu điều lam lũ chứa chấp cả đời một phen rũ sạch.

Năm Mậu Thìn (1748) người cô ruột Phan Thị Trừu có con trai là Huy Oánh (cậu ruột) thi đỗ Thám hoa. Năm Canh Ngọ (1750), hai em trai là Hợp, Thúy đỗ Hương cử; một nhà đỗ đạt không ai chân trắng...".

Như vậy, sau bao nhiêu nghị lực cố gắng, lận đận học nghiệp, người học trò nghèo xứ Nghệ là Phan Kính đã gặt hái thành công. Sau khi thi đỗ Thám hoa Phan Kính được đổi đời, làm quan mang "áo gấm đai bạc", nhưng vẫn cần mẫn, thanh liêm, triều đình và nhân dân đều kính trọng, đánh giá cao công lao. Nhìn nhận và suy nghĩ một cách sâu sắc về nguyên nhân đưa đến sự thành công của bản thân, Phan Kính đã viết rõ ở trong bia từ đường rằng:

"... Cốt yếu là ở chỗ nhiều đời tổ tiên chịu tu nhân tích đức, hai cha mẹ cố công nuôi dạy, bản thân tôi (Phan Kính) thì hơn hai mươi năm cật lực học hành, sau bao nhiêu điều cay đắng mới được đứng vào hàng sĩ đại phu. Nền móng nếp nhà đã thành, phải cần mẫn đi theo mẫu mực cha ông thì gia thanh mới không suy đốn. Có khốn đốn thì có hanh thông; có bĩ cực thì có cơ hồi phục...

Ấy là điều ta muốn có được trong đời thường của con cháu ta về sau...".

Thế mới biết gia thế, thời thế, dù đó là thời đại nào cũng ảnh hưởng rất quan trọng đối với sự nghiệp học hành, thành đạt của mỗi người. Nhưng điều có tính chất quyết định ở sự thành bại lại phụ thuộc vào chính quyết tâm và bản lĩnh vươn lên vượt qua những khó khăn cám dỗ đời thường của mỗi người. Thám hoa Phan Kính, mãi mãi là tấm gương người học trò xuất sắc và thành đạt làm rạng danh quê hương Lam Hồng, mà các thế hệ hậu học luôn luôn ngưỡng mộ, tự hào.

Chú thích                                                                 

 1.  Trần Văn Quý dịch toàn văn tấm bia, in trong Danh nhân Phan Kính 1715-1761 (1999). Nxb. KHXH. H, tr 343- 350.        

 2.  Trần Văn Quý dịch toàn văn tấm bia, in trong Danh nhân Phan Kính 1715-1761 (1999). Nxb. KHXH. H, tr 343- 350.

 3. Trần Văn Quý dịch toàn văn tấm bia, in trong Danh nhân Phan Kính 1715-1761 (1999). Nxb. KHXH. H, tr.346, chú thích (2) ghi: Bà vợ Phan Kính tên là Nguyễn Thị Dinh, chị ruột của La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp.

 Tài liệu tham khảo

1. Danh nhân Phan Kính 1715-1761, Nxb. Khoa học Xã hội (KHXH), Hà Nội (H) 1999.

2. Vũ Ngọc Khánh - Chương Thâu, Phan Kính con người và sự nghiệp (1715-1761), Nxb. KHXH. H 1994.

3. Đỗ Văn Ninh, Văn bia Quốc Tử Giám Hà Nội, Nxb Văn hóa Thông tin, H 2000.

4. Hà Văn Sỹ, Họ Hà các nhà khoa bảng các nhân vật lịch sử, văn bia, Nxb Văn hóa Dân tộc H 2000.

5. Hà Văn Sỹ, Nhân vật lịch sử họ Hà Việt Nam, Tập 1, Nxb Văn hóa Thông tin. H 2014.

6. Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi (nhóm biên soạn) (2006), Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 - 1919, Nxb Văn học, H.

Quốc Minh

 

Vũ Hắc Bồng tên thật là Đậu Đình Phức, sinh năm 1927 tại thành phố Vinh, Nghệ An trong gia đình có bố là công nhân sửa chữa xe lửa Trường Thi, mẹ là lao động phổ thông.

Năm 1945, 1946, ông hoạt động trong tổ chức Thanh niên cứu quốc tại thành phố Vinh. Tháng 11 năm 1946, ông được điều ra Hà Nội làm cán bộ huấn luyện quân sự Bộ Quốc phòng, sau đó làm tỉnh đội phó, tỉnh đội trưởng tỉnh đội Hải Dương. Cuộc đời của ông từ đây gắn với binh nghiệp.

Cái tên Vũ Hắc Bồng của ông ra đời từ những năm tháng đầu tiên cuộc đời binh nghiệp. Là một cán bộ trẻ, ông được lựa chọn trong diện đặc biệt để huấn luyện quân sự cho địa phương chuẩn bị kháng chiến. Để đảm bảo thông tin bí mật thời bấy giờ, với nguyên tắc "Cán bộ Trung đội phải đổi tung tích, bí mật, tất cả phải đổi họ, tên. Họ đều lấy họ Vũ, còn tên phải chọn một loại trái cây nào đó cho tên mình". Đậu Đình Phức là người có nước da ngăm đen nên ông chọn tên lót là Hắc, còn tên ông chọn quả bưởi (quả bưởi đen). Tên Vũ Hắc Bồng có từ ngày đó và theo ông suốt cuộc đời cho đến tận ngày hôm nay.

Từ năm 1946 đến năm 1949, là những năm tháng đầu tiên trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Vừa huấn luyện cho chiến sĩ, vừa tham gia chiến đấu trực tiếp với kẻ thù trên con đường chiến lược số 5 xuyên qua Hải Dương nối Hà Nội - Hải Phòng và hành lang Đông - Tây.

Cuối năm 1949, ông được Trung ương cử vào Nam, bổ sung cán bộ cho chiến trường.

Vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, qua các địa bàn Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi đến năm 1951 ông đã đến Bộ Tư lệnh miền Đông lúc bấy giờ đóng ở chiến khu Dương Minh Châu - Tây Ninh. Trong thời gian công tác ở Nam bộ (1951- 1954) ông được Bộ Tư lệnh Nam bộ cử làm Phó Ban tác huấn kiêm trưởng Ban Dân quân Bộ Tư lệnh miền Đông Nam bộ.

Tháng 8 năm 1954, sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đất nước ta tạm thời chia làm hai miền với hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng xã hội chủ nghĩa miền Bắc, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ; đồng thời thực hiện cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao để thi hành Hiệp định Genève. Trong giai đoạn này Bộ Tư lệnh chọn cán bộ tham gia mặt trận đấu tranh mới - Đấu tranh ngoại giao, Vũ Hắc Bồng người sĩ quan trẻ tuổi được chọn vào lực lượng ngoại giao thi hành Hiệp định Genève.

Tháng 2 năm 1955, Vũ Hắc Bồng lại chia tay vùng đất, con người miền Đông "Gian lao mà anh dũng" để trở về đất Bắc nhận nhiệm vụ mới ở Ban thi hành hiệp định đình chiến Trung ương với nhiệm vụ: Đôn đốc tổ chức việc thực hiện Hiệp định Genève, đồng thời phối hợp với ủy ban quốc tế giám sát việc thi hành hiệp định. Trong thời gian này, ông Bồng làm nhiệm vụ sĩ quan liên lạc, ông đã tham gia với Ủy ban quốc tế đến nhiều nơi thuộc 6 tỉnh ở miền Bắc để giám sát việc thực thi Hiệp định Genève. Cuối năm 1955 với quân hàm thiếu tá quân đội, ông Bồng được điều động vào Khu phi quân sự, với tư cách là ủy viên trong phái đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ban liên hợp hai bên Pháp - Việt quản lý Khu phi quân sự tại vĩ tuyến 17. Cuộc đấu tranh ở Khu phi quân sự hết sức gay go quyết liệt. Đây là cuộc đấu tranh về mặt pháp lý để thực hiện Hiệp định Genève.

Năm 1961, với danh nghĩa là sĩ quan quân đội, ông được biệt phái sang Bộ Ngoại giao làm Vụ phó Vụ miền Nam, đến năm 1970 thì chuyển hẳn về Bộ Ngoại giao. Từ đây ông gắn bó với công việc ngoại giao cho tới ngày nghỉ hưu.

Ngày 24 - 7 - 1969, ông được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký lệnh làm Đại sứ đặc mệnh nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa tại nước Cộng hòa Ghi-nê. Đây là một công việc mới mẻ vượt quá sức của một sĩ quan đã từng lăn lộn trong kháng chiến, nhưng lại chưa qua trường lớp đào tạo nghề ngoại giao. Song với tất cả trách nhiệm và tình cảm, ông đã vượt qua khó khăn, thiếu thốn để hoàn thành nhiệm vụ.

Sau khi đến Thủ đô Conakr, nước Cộng hòa Ghi-nê, ông trình quốc thư với Tổng thống Cộng hòa Ghi-nê, sau đó cùng với anh em trong Sứ quán triển khai hai nhiệm vụ: Giới thiệu về cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân ta chống đế quốc Mỹ xâm lược và vai trò của Đảng và Bác Hồ trong cuộc kháng chiến ấy; đồng thời nghiên cứu chương trình hợp tác trong các lĩnh vực y tế và nông nghiệp giữa hai nước Việt Nam và Ghi-nê.

Trong thời gian này, với chủ trương của Đảng và Nhà nước mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước châu Phi, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của họ đối với cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta, Đại sứ Vũ Hắc Bồng phải kiêm nhiệm thêm Đại sứ Cộng hòa Mali và Mauritannia.

Hết nhiệm kỳ 3 năm làm đại sứ ở Ghi-nê, Mali, Mauritania, Đại sứ Vũ Hắc Bồng về nước vào đầu tháng 12 năm 1972, trong khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đang ở thời kỳ khốc liệt. Về nước được một thời gian ngắn, ông lại nhận lệnh đi làm đại sứ tại Cộng hòa Chi-lê tận châu Mỹ Latinh. Trước khi lên đường thực hiện nhiệm vụ mới, Đại sứ Vũ Hắc Bồng được Thủ tướng Phạm Văn Đồng căn dặn: "Chi-lê rất cách mạng, rất hữu nghị. Nhưng cũng rất khó khăn vì đế quốc sẽ không tha đâu. Bổn phận đi công tác lần này có 2 việc quan trọng: Một là vận động bạn bè quốc tế ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam; hai là phải bằng mọi cách đoàn kết ủng hộ bạn. Anh đi chuyến này là đi chiến đấu đấy. Nói với anh em, đây là chiến trường"(1). Lời căn dặn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã giúp vị đại sứ nhận thức sứ mệnh hết sức cao cả nhưng cũng đầy khó khăn đối với mình trong bối cảnh hết sức phức tạp của cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống chủ nghĩa xã hội và tư bản chủ nghĩa. Đúng ngày 15 - 4 - 1973, Đại sứ Vũ Hắc Bồng nhận nhiệm vụ ngoại giao tại Cộng hòa Chi-lê. Tuy biết trước Chi-lê là đất nước có nhiều tình cảm với Việt Nam, nhưng Đại sứ Vũ Hắc Bồng không thể ngờ khi vừa xuống sân bay đã có hàng ngàn người với rừng hoa, khẩu hiệu ủng hộ Việt Nam chống Mỹ.

Trong thời gian làm nhiệm vụ ở Chi-lê, lực lượng phản động mở nhiều cuộc tấn công vào đại sứ quán các nước xã hội chủ nghĩa và các nước tiến bộ, đập phá, lấy đồ đạc gây thương tích cho nhân viên các sứ quán. Với kinh nghiệm trong những năm chiến đấu ở chiến trường và làm công tác ngoại giao trong nước cũng như các nước ở châu Phi trước đây, Đại sứ Vũ Hắc Bồng rất coi trọng và thành công trong công tác dân vận, nên sứ quán Việt Nam luôn được các tầng lớp nhân dân nước bạn che chở, bảo vệ.

Ngày 11 tháng 5 năm 1973, Chi-lê diễn ra cuộc đảo chính của quân đội lật đổ chính phủ của Tổng thống Allen de. Đất nước Chi-lê rơi vào chế độ độc tài dưới quyền của tướng      Augusto Pinochet Ugarte với sự tiếp sức của Mỹ.

Sau vụ đảo chính 4 ngày, sứ quán Việt Nam tại Chi-lê nhận lệnh đóng cửa sứ quán, rút cán bộ về nước. Sau 30 năm chia tay đất nước Chi-lê, Đại sứ Vũ Hắc Bồng đón nhận sự kiện mà ông không ngờ đến, đó là chính phủ dân chủ Chi-lê đã quyết định tặng thưởng ông Huy chương Bernardo ƠHiggins hạng Gran Cruz, huy chương cao quý nhất Chi-lê dành tặng cho người nước ngoài vào tháng 5 năm 2006 nhân kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Chi-lê.

Từ Chi-lê trở về Hà Nội, ông Bồng được giao nhiệm vụ làm Chánh văn phòng Bộ Ngoại giao. Nhưng về nước chưa được bao lâu, năm 1976, ông Vũ Hắc Bồng lại được nhà nước cử đi làm đại sứ tại Angola. Từ đây ông lại tiếp tục chặng đường ngoại giao từ Tây Phi - Ghi nê đến Chi-lê, Nam Mỹ rồi đến Nam Phi -    Angola.

Suốt 7 năm làm đại sứ tại Angola đã đọng lại nhiều dấu ấn đặc biệt đối với Đại sứ Vũ Hắc Bồng, đó là sự hâm mộ đặc biệt của các nước đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta; đặc biệt là Lãnh tụ Hồ Chí Minh: Những cuộc đón tiếp nồng nhiệt, chân tình của bạn đối với các chuyến thăm của nhà lãnh đạo nước ta.

Suốt 12 năm đi làm đại sứ ở các nước, đầu năm 1982, Đại sứ Vũ Hắc Bồng kết thúc nhiệm kỳ 7 năm ở Angola trở về nước. Sau khi trở về nước ông được cử làm giám đốc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh suốt 20 năm (từ 1982 đến 2001).

Trong 20 năm với cương vị là giám đốc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh - một thành phố lớn nhất nước và sôi động nhất trong thời kỳ bắt đầu đổi mới của đất nước, ông và cộng sự đã có nhiều đóng góp cho thành phố Hồ Chí Minh trên lĩnh vực đối ngoại, góp phần cùng với cả nước giải quyết vấn đề Campuchia và chương trình đoàn tụ gia đình sau chiến tranh của Đảng và Nhà nước ta.

Sau 55 năm hoạt động, ông Vũ Hắc Bồng đã gắn bó cuộc đời mình với binh nghiệp và ngoại giao.

Thời kỳ binh nghiệp ông trực tiếp chiến đấu ở vùng địch hậu, đường số 5 Hà Nội - Hải Phòng rồi lên đường Nam tiến lăn lộn trên chiến trường miền Đông Nam bộ vô cùng gian khổ, luôn đối mặt với kẻ thù. Cuộc đời ngoại giao ông có mặt ở những đất nước xa xôi đầy khó khăn. Trong 12 năm làm đại sứ nước ngoài, ông chứng kiến các cuộc đảo chính trên đất nước bạn, thực hiện các nhiệm vụ hết sức nặng nề nhưng ông luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ đặt ra. Trong cuộc đời làm ngoại giao, ông đã được nhiều nước, tổ chức trao tặng các phần thưởng cao quý. Đặc biệt, ngày 25 - 8 - 2000, ông Vũ Hắc Bồng được phong hàm đại sứ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng với những tên tuổi nổi tiếng trong lĩnh vực ngoại giao như: Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Duy Niên, Vũ Khoan, Nguyễn Công Phụng, Hà Văn Lâu… Đây là danh hiệu đại sứ suốt đời.

Đậu Đình Phức - Vũ Hắc Bồng, người con của quê hương thành Vinh - xứ Nghệ, tham gia kháng chiến ngay từ tuổi thanh xuân, đi qua bao khó khăn, thử thách với 55 năm hoạt động cách mạng, đến hôm nay ông đã bước qua tuổi 90 và điều đọng lại ở ông là: "Khôn, dại, yêu, ghét, cuối cùng đức độ sẽ ăn tất"(2). Đó chính là phương châm sống, là bài học lớn nhất của Vũ Hắc Bồng để lại cho chúng ta. Đến khi chia tay lúc ông nghỉ hưu, bạn bè đồng nghiệp trong và ngoài nước đã bày tỏ tình cảm với ông bằng sự chân thành, cảm phục, xin trích lời của một vị tổng lãnh sự nói về ông trước khi chia tay để kết thúc bài viết: "Quả là một đặc ân đối với cá nhân tôi và đất nước tôi khi có được những tiếp xúc thường xuyên và hiệu quả tại thành phố Hồ Chí Minh với một cán bộ cao cấp có bề dày kinh nghiệm, năng lực và thái độ hữu nghị như ông. Ông có thể hài lòng nhìn lại một sự nghiệp với nhiều thành công lớn, một cuộc đời nghề nghiệp đã mang lại cho ông lòng kính trọng của mọi người", Niels Sundvik - Tổng lãnh sứ Thụy Điển(3).

Chú thích

 (1). Dẫn theo Chuyện đời Đại sứ của Nguyễn Thị Ngọc Hải - NXB Văn hóa  - Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2014, Tr133.

(2). Trích từ Nhật ký của Đại sứ Vũ Hắc Bồng.

(3). Dẫn lại từ "Chuyện đời Đại sứ" - SĐD trang 262.

Tài liệu tham khảo.

1. Nguyễn Thị Ngọc Hải, Chuyện đời Đại sứ, Nxb. Văn hóa Văn nghệ - thành phố Hồ Chí Minh năm 2014.

2. Đậu phả yếu lược.

3. Nhật ký của Đại sứ Vũ Hắc Bồng.

Trần Ngưỡng

Xã Tam Lễ xưa, Quỳnh Châu hôm nay, nằm ở phía Tây huyện Quỳnh Lưu. Mảnh đất nhô cao như một bình nguyên nhỏ, bốn bề núi dựng, đặc biệt có dãy núi U bò chạy từ Tây Bắc đến Tây Nam, trên đó đỉnh Chóp Đình (Động Đình) có độ cao gần 400m. Đường từ phía biển lên qua 3 truông: Truông Thọ, truông Ách, truông Lá Da. Từ đường Quốc lộ 1 tại ngã ba Yên Lý đi lên phía Tây Bắc là truông Vên. Đường chiến lược 15 B từ Quỳnh Thắng vào là dốc Bò Lăn và dốc Đông Xuân. Đường từ thị xã Thái Hòa phía Tây Bắc đi xuống là truông Rếp. Nước ở đây chảy về 4 phía. Nên đã từng có thơ rằng: Nước lũ chảy xuôi bốn phía/ Nẻo về hướng nào cũng truông/ Trông về hướng nào cũng rú. Quỳnh Châu nằm trên hai con đường chính từ biển lạch Quèn đi qua huyện lỵ Quỳnh Lưu lên phía Tây và đường kinh lý từ thủ phủ Nghệ An, Phủ Diễn đi lên đến Phủ Qùy và miền Tây rộng lớn của Nghệ An sang nước bạn Lào. Xã Quỳnh Châu với các xã liền kề như Quỳnh Tam, Tân Sơn phía Nam, Quỳnh Thắng phía Bắc tạo nên một địa bàn khá rộng lớn có vị trí chiến lược về quân sự: Nếu tiến đánh giặc thì làm cho giặc bất ngờ; lui về thế thủ thì vững chắc. Nên Tam Lễ (Quỳnh Châu), được các nhà quân sự của nhiều thời đại chọn làm căn cứ địa, hậu cứ của các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược.

Thế kỷ XIII, khi phải đương đầu với đội quân xâm lược nhà Nguyên hùng mạnh, nhà Trần phải thực hiện "Ngụ binh ư nông" để làm kế sách lâu dài đánh giặc. Năm 1265, triều đình xuống chiếu cho Chiêu Minh vương, Thượng tướng, Thái sư Trần Quang Khải, vào làm Quản hạt Nghệ An. Trần Quang Khải, người có trí, có nhân, văn võ toàn tài. Ông đã chọn Tam Lễ là một trong những căn cứ địa của cuộc kháng chiến. Mảnh đất này trở thành điền trang Tam Sách, nơi  hội tụ các tướng lĩnh, quân sỹ vừa làm kinh tế, vừa rèn luyện quân sự sẵn sàng chống giặc. Khi có lệnh thì tiến quân đánh giặc, hết giặc lui về sản xuất, tập luyện vũ trang. Vùng Quỳnh Châu đã lưu giữ nhiều đền chùa thờ các hoàng tử, công chúa nhà Trần như: Trần Thị Ngọc Chân, Trần Thị Ngọc Hoa và Hoàng tử Đông Triều.

Trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh thế kỷ XV, Lê Lợi đã chọn vùng đất Tam Lễ là một trong những căn cứ quan trọng của khởi nghĩa Lam Sơn, để làm thế ỷ dốc và phát triển thế tiến công giặc. Hiện nay một vùng núi ở Quỳnh Châu còn lưu giữ bãi luyện tập binh mã; những hàng đá ong ghép làm đường từ nơi luyện binh đi lên để thượng cờ của nghĩa quân Lam Sơn. Núi này được dân địa phương gọi là động Cột Cờ và một bãi đất rộng gần đó có tên là Cồn Dinh (có lẽ nơi đóng quân của nghĩa quân).

Cuối thế kỷ thứ XIX, trong phong trào khởi nghĩa chống Pháp xâm lược của các sĩ phu yêu nước, tại địa bàn xã Quỳnh Châu đã nổ ra hai cuộc khởi nghĩa hưởng ứng các phong trào đó. Cuộc khởi nghĩa của ông Nguyễn Tất Đắc, người làng Tam Lễ, hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất do Trần Tấn - Đặng Như Mai lãnh đạo ở huyện Thanh Chương. Cuộc khởi nghĩa cũng đã có những trận đánh lớn, nhất là trận phối hợp cùng nghĩa quân Trần Tấn Đặng - Như Mai, đánh chiếm thành Phủ Diễn… Nguyễn Tất Đắc được lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất tôn phong là phó Quản cơ. Đặc biệt và cuộc khởi nghĩa của ông Phan Bá Niên, quê làng Tam Lễ. Cuộc khởi nghĩa đã tập hợp một lực lượng quân sĩ khá hùng hậu của thanh niên vùng Bắc Nghệ An, lập căn cứ ở vùng Tam Lễ, Yên Thành, Nghĩa Đàn. Nghĩa quân của Phan Bá Niên đã có nhiều trận thắng vang dội như Vũng Tắm, Phủ Quì, Khe Trại, Truông Vên… Nghĩa quân Phan Bá Niên được Phan Đình Phùng, lãnh tụ phong trào Cần vương ở Hà Tĩnh nhận là một quân thứ. Ông Phan Bá Niên được vua Tự Đức phong là Đề đốc quân vụ.

Năm 1949, trong trận đổ bộ, càn quét của thực dân Pháp lên Quỳnh Lưu, xã Quỳnh Châu là địa bàn đón tiếp hàng ngàn cư dân các xã đồng bằng, miền biển lên tản cư trong những ngày xảy ra chiến sự ác liệt. Sau trận càn này, để đảm bảo an toàn cho việc sản xuất, chế tạo vũ khí, cấp trên đã quyết định chuyển xưởng cơ khí của huyện đóng tại đền Cồng xã Quỳnh Hưng lên động Cao xã Quỳnh Châu. Trong giai đoạn trường kỳ kháng chiến của đất nước, xưởng Cơ khí động Cao của huyện đã từng chế tạo, sản xuất các loại vũ khí như súng, lựu đạn, mìn, chông góp phần phục vụ cho cuộc kháng chiến 9 năm của quân và dân ta.

Năm 1950, xã Quỳnh Châu (lúc đó là xã Tam Xuân gồm 3 xã Tam, Châu, Thắng ngày nay) được Liên Khu 4 chọn làm địa điểm xây dựng trại thương binh. Được sự hỗ trợ của cấp trên, xã đã làm 4 ngôi nhà lá khá vững chãi, mát mẻ để nuôi dưỡng, chăm sóc các thương bệnh binh đánh Pháp của ta từ các mặt trận gửi về. Cũng trong thời gian đó, cán bộ và nhân dân xã đã làm tốt công tác dân vận, vận động được 6 nữ thanh niên trong xã kết duyên với 6 anh thương binh của trại.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, địa bàn Quỳnh Châu đã liên tục đón tiếp và là nơi nghỉ chân của các đơn vị quân đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, hành quân trên đường 15B vào Nam chiến đấu và phục vụ chiến đấu ở khắp các chiến trường. Xã Quỳnh Châu đã tổ chức quán nước Quân nhân do mẹ Tam, mẹ Nguyệt phục vụ. Các mẹ đã nấu nước chè xanh miễn phí cho các quân nhân, chiến sỹ đỡ cơn khát trên đường hành quân vào Nam ra Bắc. Quỳnh Châu còn là địa bàn đóng quân của các đơn vị làm nhiệm vụ quốc phòng như: Bộ đội, thanh niên xung phong, giao thông vận tải, dân công hỏa tuyến, đơn vị xăng dầu… Đặc biệt đơn vị bộ đội thuộc Trung đoàn 22 (E22) đã đóng quân ở Quỳnh Châu trong 3 năm 1970-1972, làm nhiệm vụ huấn luyện tân binh trước khi vào Nam chiến đấu. Ngày 10/12/1972, quân và dân xã Quỳnh Châu đã anh dũng, mưu trí bắt gọn tên phi công Mỹ giữa đại ngàn Động Đình, trong làn bom đạn của giặc.

Gần kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, năm 1974, Quân khu 4 đã lại chọn Quỳnh Châu để xây dựng Xí nghiệp 20C làm cơ sở điều dưỡng và dạy nghề cho thương binh. Xã Quỳnh Châu đã chuyển hàng chục héc-ta vườn cây ăn quả ở động Thài Lài, Làng Gáo, Mụ Tuyên, Mã Tổ cho quân đội để xây dựng trại điều dưỡng và dạy nghề cho thương binh. Hôm nay, xã Quỳnh Châu vẫn là địa bàn đóng quân của 3 đơn vị quân đội.

Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, ban Công an xã Quỳnh Châu với nhiều thành tích xuất sắc trong công tác giữ gìn an ninh trật tự đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu: Anh hùng lực lượng vũ trang. Thành tích của Đảng bộ và nhân dân Quỳnh Châu được ngân lên trên quê hương yêu dấu trong bài hát: Bài ca Quỳnh Lưu của nhạc sỹ Ánh Dương: "Ta như Quỳnh Châu đã giữ gìn hậu cứ năm xưa… Nay đã xây nên chiến công bắt gọn lũ giặc trời. Đã cùng cả nước xây nên chiến thắng hôm nay…".

Trong quá khứ cũng như hiện tại, Tam Lễ xưa và Quỳnh Châu hôm nay luôn luôn là căn cứ địa và hậu cứ quan trọng của các cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược và đã được ghi danh trong lịch sử vẻ vang của quê hương, đất nước.

Chu Trọng Huyến

Về cách thức thi cử của nền Hán học thuở trước, nhà Nguyễn cũng thực hiện theo thể lệ có từ thời Lê. Chỉ từ đời Minh Mệnh (1820-1840) thì niên hạn để mở từng khoa thi là có ngắn hơn.

Như dưới thời vua Lê Thái Tông (1434-1442), triều đình định ra cái lệ cứ 6 năm thì có một khoa thi. Đến đời Lê Thánh Tông (1460-1497), từ năm Bính Dần (1446), định thêm rằng, cứ năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội. Sang thời Nguyễn, vua Gia Long vẫn áp dụng cách thi cử ấy. Về việc định tên cho học vị, bấy giờ cũng như dưới thời Lê, với những người đỗ bảng Giáp thi Hương thì được gọi là Hương cống  mà người đứng đầu là Thủ khoa; còn những người chỉ đạt bảng Ất của kỳ thi ấy thì là Sinh đồ. Các vị chỉ mới là Sinh đồ thì khoa sau có thể đi thi tiếp để đỗ Hương cống. Thời Minh Mệnh (1820-1840), triều đình cho đổi Hương cống thành Cử nhân mà người đỗ đầu bảng là Giải nguyên. Còn Sinh đồ được đổi thành Tú tài và định lệ là cứ 3 năm thì mở một khoa thi. Cụ thể là thi Hương vào các năm: Tý, Mạo, Ngọ, Dậu và thi Hội vào các năm: Sửu, Mùi, Thìn, Tuất. Trừ những biệt lệ, ví như khi một vị vua nào đó mới đăng quang hay đất nước có điều vui gì lớn thì triều đình có thể mở ân khoa. Ở bài viết này chúng ta chỉ đề cập đến chuyện thi Hương dưới triều Nguyễn mà vào thời kỳ ấy, chỉ có một khoa mở vào năm Tuất, là Canh Tuất (1850).

Số là, vốn đã có khoa thi Hương Đinh Mùi (1847) ở đời Thiệu Trị nhưng rồi tháng Chín năm đó, vua băng hà. Đến tháng Mười, hoàng tử Hồng Nhậm kế vị và sang năm sau Mậu Thân (1848) vị tân vương này lấy hiệu là Tự Đức nguyên niên. Đoạn, vua cho mở thi Hương, gọi là ân khoa. Rồi sau đó, theo lệ thi cử hồi ấy thì từ Vị đến Tuất là đủ 3 năm, nên vẫn có khoa thi Hương Mậu Tuất (1850). Và đấy cũng là một năm Tuất duy nhất có thi Hương dưới thời Nguyễn.

Trường thi Nghệ An năm đó do Nguyễn Đức Hoan, Bố chánh tỉnh Tuyên Quang làm Chủ khảo và Phạm Chi Hương, Bố chánh tỉnh Thanh Hóa làm Phó chủ khảo.

Khoa thi này, người Nghệ An có các vị sau đây đỗ Cử nhân:

1. Nguyễn Hữu Lập, người làng Trung Cần, huyện Thanh Chương (sau vùng đất này cắt về huyện Nam Đàn). Ông là con của Cử nhân Nguyễn Trọng Dữ, cháu của Thám hoa Nguyễn Văn Giao. Đến khoa thi Hội năm Nhâm Tuất (1862), ông đỗ Hoàng giáp, được cử đi sứ sang Trung Quốc (nhà Thanh), lúc về được thăng làm Tham tri Bộ Hộ.

2. Nguyễn Đức Hậu, người làng Trung Cần. Ông là cháu của Cử nhân Nguyễn Trọng Dực và Thám hoa Nguyễn Văn Giao, anh con bác của Hoàng giáp Nguyễn Hữu Lập (sách "Hương khoa lục" không nói đến chức quan, những trường hợp như thế này là không có sự bổ nhiệm).

3. Bùi Văn Bính, người làng Phú Hậu, Quỳnh Lưu, chức quan: Điển học (Quảng  Trị).

4. Nguyễn Trí Cự (sau đổi La Trạch), người làng Đông Tháp, huyện Đông Thành (nay là Diễn Châu), làm Án sát Bắc Ninh, sung chữ Đốc vận quân thứ Thái Nguyên.

5. Nguyễn Hữu Dục, người làng Quan Trung, Đông Thành, Giáo thụ.

6. Trần Hữu Pháp, người làng Thịnh Trường, Chân Lộc (nay là Nghi Lộc).

7. Phạm Đình Trác, người làng Thanh Sơn, huyện Quỳnh Lưu, năm Quý Sửu (1953) thi Hội đỗ Phó bảng.

8. Trương Xuân Thái, người làng Đông Hải, huyện Chân Lộc.

9. Nguyễn Ngọc Bích (sau đổi là Khuê), người làng La Mạc, Thanh Chương.

10. Nguyễn Xuân Nhuận, người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Án sát tỉnh Tuyên Quang.

11. Phan Danh Chiểu, người làng Đông Hải, huyện Nghi Lộc, làm Huấn đạo.

12. Trần Hữu Dực, người làng Đông Cao, huyện Yên Thành. Năm Tân Hợi (1851) ân khoa thi Hội, đỗ Cát sĩ (tương đương Tiến sĩ), làm quan Thị giảng ở viện Tập hiền.

13. Nguyễn Văn Quán, người làng Quan Xá, huyện Đông Thành, làm quan Hồng lô tự khanh, sung chức Biện lý bộ Công.

14. Phan Thế Trung, người làng Hạ Thành, Yên Thành, chức quan Điển học, Quảng Trị.

Như thế là với khoa thi này Nghệ An có 14 người đỗ. Trong số ấy chỉ có 8 người đi làm quan, mà 5 vị là giữ chức ở ngành giáo học, tu 

Trương Văn Hùng

 

Công ty Cổ phần lương thực vật tư nông nghiệp Nghệ An là đơn vị có bề dày kinh nghiệm gần 50 năm trong nghề kinh doanh phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp. Trước những thách thức, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của nền kinh tế hội nhập và phát triển, yếu tố tiên quyết để doanh nghiệp trường tồn và phát triển đó là: chất lượng sản phẩm và con người.

Thứ nhất, chất lượng sản phẩm:

Với dây chuyền sản xuất phân bón tổng hợp NPK công suất 100.000 tấn/năm, công nghệ tiên tiến hiện đại, tự động hoá từ khâu kiểm tra chất lượng nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm đầu ra, đã tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, có sự khác biệt hơn hẳn so với công nghệ sản xuất thủ công, bán tự động. Thực hiện đúng quy trình sản xuất phân bón theo tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9001:2008 và hiện đang chuyển đổi thành ISO 9001:2015.

* Kiểm soát các yếu tố nguyên liệu đầu vào chặt chẽ thông qua phòng kiểm nghiệm KCS, mỗi nguyên liệu đầu vào đều được kiểm tra hàm lượng, chất lượng.

* Lựa chọn các nhà cung ứng nguyên liệu uy tín, nguồn gốc xuất xứ rõ ràng (nguồn nguyên liệu chủ yếu là nhập khẩu từ Canada, Trung Quốc, Belarus...).

* Kiểm soát chặt chẽ sản phẩm đầu ra: Sản phẩm phân bón NPK đạt yêu cầu phải đảm bảo các yếu tố như đủ hàm lượng, hạt không bị mạt, vê viên đồng đều, màu sắc đúng theo yêu cầu, may khâu đảm bảo. Mỗi một ca sản xuất đều lấy mẫu thực hiện kiểm tra các chỉ tiêu N, P, K tại phòng thí nghiệm. Và để đảm bảo tính khách quan, Công ty thực hiện phân tích mẫu tại tổ chức giám định độc lập được Nhà nước chỉ định.

Hiện công ty nhập Kaly sulphat là một trong những nguyên liệu tạo nên sản phẩm NPK. Mặc dù giá thành của Kaly sulphat cao gấp 1.5 lần so với Kaly Clorua, nhưng Kaly Sulphat phù hợp với các loại cây có múi, đặc biệt là cam, quýt, bưởi,... với nguyên liệu này công ty đã và đang nghiên cứu thêm các loại phân khác. như NPK 13-13-13+TE có bổ sung thêm các yếu tố vi lượng phù hợp với các cây có múi tránh rửa trôi bốc hơi, dễ hấp thụ.

Đây là doanh nghiệp đầu tiên tại khu vực Bắc miền Trung thực hiện thành công mô hình sản xuất khép kín từ khâu chọn lúa giống đến khâu cung ứng phân bón và cuối cùng là bao tiêu sản phẩm, xay xát lúa và đưa ra thị trường tiêu thụ. Công ty không ngừng đầu tư cho các sáng chế kỹ thuật, công nghệ làm tăng năng suất và tiết kiệm nhiên liệu, tạo ra sản phẩm chất lượng. Doanh thu mỗi năm 350 tỷ đồng, với sản lượng tiêu thụ trung bình trên 50.000 tấn phân NPK các loại/năm. Thị phần của Công ty tại tỉnh Nghệ An chiếm hơn 80%. Ngoài ra, sản phẩm mở rộng sang các thị trường Hà Tĩnh, Bình Định, Đak Lak, Hà Nam…

Thứ 2 đó là con người: Con người là động lực, là nguồn lực và là đích đến của mọi sự phát triển. Đó chính là giá trị cốt lõi của doanh nghiệp. Một chiến lược phù hợp sẽ tạo điều kiện giải phóng sức lao động, ở đây bao gồm cả lao động chân tay và lao động trí óc.

Việc quản trị nguồn nhân lực tốt không chỉ tác động ngắn hạn làm tăng năng suất lao động mà còn tác động dài hạn bền vững hơn như tạo môi trường cho người lao động sáng tạo, phát triển các sáng kiến, thúc đẩy sự gắn bó lâu dài giữa doanh nghiệp - người lao động. Khi doanh nghiệp làm được điều này sẽ tác động trở lại nâng tầm thương hiệu, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó doanh nghiệp luôn thực hiện tốt trách nhiệm an sinh xã hội, tham gia tích cực các hoạt động xã hội, từ thiện nhân đạo, phát triển cộng đồng, bảo vệ môi trường. Trong 4 năm tập thể cán bộ, công nhân viên đã ủng hộ số tiền trên 5 tỷ đồng cho các quỹ, các đơn vị, các chương trình tài trợ khác.

Với những cải tiến, đổi mới kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm, năm 2016, Công ty đã được tặng giải Bạc Giải thưởng chất lượng quốc gia và được vinh danh sản phẩm tiêu biểu 2105, 2016. 

 

Trần Ngọc Nam

 

Với phương thức canh tác nông nghiệp hiện nay, việc sử dụng phân hóa học, thuốc BVTV đã gây ra một số hệ lụy về môi trường, sức khỏe, chất lượng nông sản. Không chỉ vậy, việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình chăm sóc cây cam đã tạo môi trường thuận lợi cho bệnh vàng lá gân xanh, "cam ngơ" xuất hiện và ngày càng phát triển mạnh trên diện rộng.

"Cam ngơ" là từ dùng để chỉ hiện tượng quả cam bị còi, kém phát triển bị vàng, thối và rụng ở Nghệ An làm giảm năng suất, sản lượng của cây cam. Nhiều nhà vườn lâm vào cảnh mất mùa, thua lỗ hàng tỷ đồng.

Không còn nỗi lo "cam ngơ"

Nguyên nhân gây ra bệnh "cam ngơ" chính là do bệnh vàng lá gân xanh ở trên cây cam. Bệnh vàng lá gân xanh thường do vi khuẩn gây nên, bệnh gây hại ở nhiều bộ phận của cây: lá, rễ, quả… Dấu hiệu dễ nhận thấy nhất của bệnh vàng lá gân xanh chính là phần thịt của lá có màu vàng còn phần gân của lá vẫn giữ màu xanh. Ở rễ, khi đào sâu xuống sẽ thấy rễ tơ của cây cam bị thối, nếu vi khuẩn gây hại nặng thì phần rễ chính cũng có thể bị thối. Biểu hiện của bệnh ở quả chính là quả cam không lớn lên được sau đó vàng, thối và rụng.

Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác khiến bệnh vàng lá gân xanh, "cam ngơ" xuất hiện chính là do thói quen sử dụng các loại phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật dạng hóa học quá nhiều nên đất đai bị xói mòn, môi trường canh tác, đặc biệt là môi trường đất bị ô nhiễm.

Bệnh vàng lá gân xanh, "cam ngơ" bùng phát mạnh trong nhiều năm lại đây và trở thành nỗi ám ảnh của các nhà vườn trồng cam ở Nghệ An. Nhà vườn đã sử dụng rất nhiều biện pháp khác nhau nhưng bệnh "cam ngơ" ở cây cam vẫn không có dấu hiệu giảm bớt.

Theo chị Lê Thị Phụng, một nhà vườn trồng cam lâu năm ở Nông trường Xuân Thanh, huyện Quỳ Hợp cho biết, gia đình chị đã từng điêu đứng cây cam bị "vàng lá gân xanh" khiến "cam ngơ", mặc dù đã sử dụng rất nhiều loại thuốc BVTV nhưng vẫn không ngăn được hiện tượng rụng quả trên cây cam. Vụ cam vừa rồi gia đình quyết định đổi loại phân bón đang dùng sang sử dụng phân bón hữu cơ OBI-Ong Biển. Bất ngờ những cây cam tưởng rằng phải chặt bỏ vì bệnh hại, chỉ sau một thời gian ngắn tiếp cận và sử dụng sản phẩm phân bón Obi Ong Biển theo hướng dẫn của Công ty TNHH Sản xuất - Thương mại Đại Nam, vườn cam của gia đình cho kết quả khả quan ngoài mức dự tính. Những cây cam bị bệnh dần phục hồi, hết vàng lá và cho trái bình thường. Đồng thời năng suất, chất lượng cam vượt trội so với mọi năm. "Khi chúng tôi định đào bỏ những cây bị bệnh để trồng những cây khác, nhưng may mắn gặp được phân bón Ong Biển, thấy bón vào cây cam phục hồi lạixanh dày hơn, trái bóng đẹp hơn. Đặc biệt là không còn hiện tượng "cam ngơ" mà gia đình lại không cần phải dùng thuốc BVTV. An toàn, khỏe người mà cây cam lại hết bệnh".

Không chỉ gia đình chị Phụng mà gia đình anh Doãn Hồng Quế (Thị trấn Nghĩa Đàn, huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An) sử dụng phân bón OBI-Ong Biển trên vườn cam của gia đình cũng chia sẻ: Qua thời gian bón phân Ong Biển đỏ xong, rồi thời gian gần đây bón tiếp loại khoáng lần 1 thì tôi thấy có sự khác biệt rất rõ rệt: Thứ nhất, những cây bị nghẹt rễ, chết rễ và lá bị vàng, không phát triển được, những quả bị ngơ sau khi bón phân Ong Biển theo qui trình thì thấy cây phát triển trở lại, bắt đầu cho quả và quả bóng đẹp; Thứ hai, đất lúc đầu bị chai, cứng nhưng sau bón phân tưới nước, khi đào xuống mềm, tơi xốp hơn, đặc biệt khi cuốc đất lên giun đất rất nhiều. Thấy có giun đất và rễ tơ phát triển là an tâm đất tốt, cây khỏe.

Hợp tác với Ong Biển nhà nông lợi trăm bề

Với phương châm "Chất lượng sống cùng nhà nông", OBI-Ong Biển luôn đồng hành cùng bà con nhà nông trên con đường làm giàu từ nông nghiệp và là sự lựa chọn mới để phát triển nông sản sạch. Sử dụng phương thức canh tác đơn giản chỉ bón phân và tưới nước, Ong Biển sẽ giúp bà con thay đổi phương thức canh tác một cách nhanh, đơn giản, hiệu quả nhất và phù hợp với điều kiện canh tác của bà con.

Phân bón OBI - Ong Biển sử dụng nguyên liệu đa hữu cơ cao cấp, giàu chất dinh dưỡng từ phế phụ phẩm các nhà máy chế biến thủy sản, bùn sinh khoáng từ loại chất thải lỏng sinh hoạt, chất thải gia súc, gia cầm kết hợp với bùn - mật mía. Với công nghệ thủy phân cùng sự tham gia của tập đoàn vi sinh vật hữu ích đảm bảo hữu cơ được phân giải tối đa, hạn chế sâu bệnh hại. Đảm bảo môi trường (đất, nước, không khí) sạch an toàn, không ô nhiễm. Đất đai được xử lý - cải tạo, giúp "đất khỏe" tơi xốp màu mỡ, cây trồng tăng sức đề kháng, chống chịu tạo ra nguồn nông sản hữu cơ.

OBI - Ong Biển có khả năng phục hồi cây trồng bị bệnh, bởi đây là dòng phân hữu cơ, hoạt động trên một nguyên lý chung là tăng cường sức đề kháng cho cây trồng, phục hồi và giúp cây dễ dàng hấp thu khoáng chất từ đất. Nhờ đó, cây khỏe mạnh, sức mạnh nội sinh của cây sẽ khiến cho cây phục hồi nhanh chóng và các bệnh trên cây bị triệt tiêu. Sử dụng phân bón hữu cơ trong việc trồng và chăm sóc cây cam chính là giải pháp tối ưu nhất để phát trển thương hiệu cam Vinh bền vững.

Cam là giống cây đòi hỏi phải đầu tư rất lớn, từ khâu cải tạo đất, giống, phân bón đến kỹ thuật, công chăm sóc... từ khi trồng đến khi có thu hoạch phải trải qua 3 năm kiến thiết cơ bản, đến năm thứ 4 mới cho quả bói và năm thứ 5 mới có thể bước vào kinh doanh. Vì vậy, để tránh những thiệt hại có thể xảy ra do mất mùa bởi bệnh hại, bà con nên từ bỏ thói quen lạm dụng phân bón hoá học cùng thuốc bảo vệ thực vật, chuyển qua canh tác hữu cơ bền vững của phân bón hữu cơ OBI - Ong Biển. Việc làm này không chỉ tăng năng suất mà chất lượng sản phẩm cùng đạt chất lượng cao, đặc biệt không tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe của dân, bảo đảm an toàn thực phẩm cho người sử dụng và giúp thương hiệu cam Vinh ngày càng tiến xa hơn nữa, không chỉ trong nước mà còn mở rộng ra thị trường quốc tế.

 

Trần Ngọc Nam

 

Với phương thức canh tác nông nghiệp hiện nay, việc sử dụng phân hóa học, thuốc BVTV đã gây ra một số hệ lụy về môi trường, sức khỏe, chất lượng nông sản. Không chỉ vậy, việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình chăm sóc cây cam đã tạo môi trường thuận lợi cho bệnh vàng lá gân xanh, "cam ngơ" xuất hiện và ngày càng phát triển mạnh trên diện rộng.

"Cam ngơ" là từ dùng để chỉ hiện tượng quả cam bị còi, kém phát triển bị vàng, thối và rụng ở Nghệ An làm giảm năng suất, sản lượng của cây cam. Nhiều nhà vườn lâm vào cảnh mất mùa, thua lỗ hàng tỷ đồng.

Không còn nỗi lo "cam ngơ"

Nguyên nhân gây ra bệnh "cam ngơ" chính là do bệnh vàng lá gân xanh ở trên cây cam. Bệnh vàng lá gân xanh thường do vi khuẩn gây nên, bệnh gây hại ở nhiều bộ phận của cây: lá, rễ, quả… Dấu hiệu dễ nhận thấy nhất của bệnh vàng lá gân xanh chính là phần thịt của lá có màu vàng còn phần gân của lá vẫn giữ màu xanh. Ở rễ, khi đào sâu xuống sẽ thấy rễ tơ của cây cam bị thối, nếu vi khuẩn gây hại nặng thì phần rễ chính cũng có thể bị thối. Biểu hiện của bệnh ở quả chính là quả cam không lớn lên được sau đó vàng, thối và rụng.

Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác khiến bệnh vàng lá gân xanh, "cam ngơ" xuất hiện chính là do thói quen sử dụng các loại phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật dạng hóa học quá nhiều nên đất đai bị xói mòn, môi trường canh tác, đặc biệt là môi trường đất bị ô nhiễm.

Bệnh vàng lá gân xanh, "cam ngơ" bùng phát mạnh trong nhiều năm lại đây và trở thành nỗi ám ảnh của các nhà vườn trồng cam ở Nghệ An. Nhà vườn đã sử dụng rất nhiều biện pháp khác nhau nhưng bệnh "cam ngơ" ở cây cam vẫn không có dấu hiệu giảm bớt.

Theo chị Lê Thị Phụng, một nhà vườn trồng cam lâu năm ở Nông trường Xuân Thanh, huyện Quỳ Hợp cho biết, gia đình chị đã từng điêu đứng cây cam bị "vàng lá gân xanh" khiến "cam ngơ", mặc dù đã sử dụng rất nhiều loại thuốc BVTV nhưng vẫn không ngăn được hiện tượng rụng quả trên cây cam. Vụ cam vừa rồi gia đình quyết định đổi loại phân bón đang dùng sang sử dụng phân bón hữu cơ OBI-Ong Biển. Bất ngờ những cây cam tưởng rằng phải chặt bỏ vì bệnh hại, chỉ sau một thời gian ngắn tiếp cận và sử dụng sản phẩm phân bón Obi Ong Biển theo hướng dẫn của Công ty TNHH Sản xuất - Thương mại Đại Nam, vườn cam của gia đình cho kết quả khả quan ngoài mức dự tính. Những cây cam bị bệnh dần phục hồi, hết vàng lá và cho trái bình thường. Đồng thời năng suất, chất lượng cam vượt trội so với mọi năm. "Khi chúng tôi định đào bỏ những cây bị bệnh để trồng những cây khác, nhưng may mắn gặp được phân bón Ong Biển, thấy bón vào cây cam phục hồi lạixanh dày hơn, trái bóng đẹp hơn. Đặc biệt là không còn hiện tượng "cam ngơ" mà gia đình lại không cần phải dùng thuốc BVTV. An toàn, khỏe người mà cây cam lại hết bệnh".

Không chỉ gia đình chị Phụng mà gia đình anh Doãn Hồng Quế (Thị trấn Nghĩa Đàn, huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An) sử dụng phân bón OBI-Ong Biển trên vườn cam của gia đình cũng chia sẻ: Qua thời gian bón phân Ong Biển đỏ xong, rồi thời gian gần đây bón tiếp loại khoáng lần 1 thì tôi thấy có sự khác biệt rất rõ rệt: Thứ nhất, những cây bị nghẹt rễ, chết rễ và lá bị vàng, không phát triển được, những quả bị ngơ sau khi bón phân Ong Biển theo qui trình thì thấy cây phát triển trở lại, bắt đầu cho quả và quả bóng đẹp; Thứ hai, đất lúc đầu bị chai, cứng nhưng sau bón phân tưới nước, khi đào xuống mềm, tơi xốp hơn, đặc biệt khi cuốc đất lên giun đất rất nhiều. Thấy có giun đất và rễ tơ phát triển là an tâm đất tốt, cây khỏe.

Hợp tác với Ong Biển nhà nông lợi trăm bề

Với phương châm "Chất lượng sống cùng nhà nông", OBI-Ong Biển luôn đồng hành cùng bà con nhà nông trên con đường làm giàu từ nông nghiệp và là sự lựa chọn mới để phát triển nông sản sạch. Sử dụng phương thức canh tác đơn giản chỉ bón phân và tưới nước, Ong Biển sẽ giúp bà con thay đổi phương thức canh tác một cách nhanh, đơn giản, hiệu quả nhất và phù hợp với điều kiện canh tác của bà con.

Phân bón OBI - Ong Biển sử dụng nguyên liệu đa hữu cơ cao cấp, giàu chất dinh dưỡng từ phế phụ phẩm các nhà máy chế biến thủy sản, bùn sinh khoáng từ loại chất thải lỏng sinh hoạt, chất thải gia súc, gia cầm kết hợp với bùn - mật mía. Với công nghệ thủy phân cùng sự tham gia của tập đoàn vi sinh vật hữu ích đảm bảo hữu cơ được phân giải tối đa, hạn chế sâu bệnh hại. Đảm bảo môi trường (đất, nước, không khí) sạch an toàn, không ô nhiễm. Đất đai được xử lý - cải tạo, giúp "đất khỏe" tơi xốp màu mỡ, cây trồng tăng sức đề kháng, chống chịu tạo ra nguồn nông sản hữu cơ.

OBI - Ong Biển có khả năng phục hồi cây trồng bị bệnh, bởi đây là dòng phân hữu cơ, hoạt động trên một nguyên lý chung là tăng cường sức đề kháng cho cây trồng, phục hồi và giúp cây dễ dàng hấp thu khoáng chất từ đất. Nhờ đó, cây khỏe mạnh, sức mạnh nội sinh của cây sẽ khiến cho cây phục hồi nhanh chóng và các bệnh trên cây bị triệt tiêu. Sử dụng phân bón hữu cơ trong việc trồng và chăm sóc cây cam chính là giải pháp tối ưu nhất để phát trển thương hiệu cam Vinh bền vững.

Cam là giống cây đòi hỏi phải đầu tư rất lớn, từ khâu cải tạo đất, giống, phân bón đến kỹ thuật, công chăm sóc... từ khi trồng đến khi có thu hoạch phải trải qua 3 năm kiến thiết cơ bản, đến năm thứ 4 mới cho quả bói và năm thứ 5 mới có thể bước vào kinh doanh. Vì vậy, để tránh những thiệt hại có thể xảy ra do mất mùa bởi bệnh hại, bà con nên từ bỏ thói quen lạm dụng phân bón hoá học cùng thuốc bảo vệ thực vật, chuyển qua canh tác hữu cơ bền vững của phân bón hữu cơ OBI - Ong Biển. Việc làm này không chỉ tăng năng suất mà chất lượng sản phẩm cùng đạt chất lượng cao, đặc biệt không tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe của dân, bảo đảm an toàn thực phẩm cho người sử dụng và giúp thương hiệu cam Vinh ngày càng tiến xa hơn nữa, không chỉ trong nước mà còn mở rộng ra thị trường quốc tế.

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.