« Quay lại

Chuyên san Khoa học xã hội &nhân văn số 3 năm 2018

Nguyễn Văn Nam

Năm 2009, theo sáng kiến của Ngân hàng BIDV và được Đảng ủy khối doanh nghiệp Trung ương và UBND tỉnh Nghệ An đồng thuận, Hội nghị Xúc tiến đầu tư vào Nghệ An lần đầu tiên được tổ chức, nhằm tạo ra một diễn đàn đầu tư theo mô hình ba nhà (nhà quản lý, nhà đầu tư và nhà cung cấp tín dụng), để giải quyết nhanh chóng các vấn đề và tập trung thu hút sức mạnh tổng thể từ nhiều nguồn lực, đưa kinh tế - xã hội của Nghệ An phát triển.

Từ đó đến nay, cứ vào dịp đầu Xuân hàng năm, các Hội nghị xúc tiến đầu tư liên tục diễn ra với tên gọi mới là Hội nghị Gặp mặt các nhà đầu tư, với sự tham dự và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội cùng đại diện lãnh đạo của các bộ, ngành trung ương và địa phương, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp mạnh trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài. Các hội nghị này đã mở ra nhiều triển vọng hợp tác đầu tư giữa các doanh nghiệp với tỉnh Nghệ An và trở thành "Ngày hội đầu tư truyền thống" của tỉnh.

Sau 10 lần tổ chức, tại các Hội nghị xúc tiến đầu tư, nhiều thỏa thuận hợp tác được thực hiện trên các lĩnh vực đầu tư và hỗ trợ an sinh xã hội; cung cấp tín dụng thực hiện dự án giữa BIDV và các doanh nghiệp. Cũng thông qua các Hội nghị này, số lượng doanh nghiệp quan tâm khảo sát, đăng ký và thực hiện đầu tư trên địa bàn tỉnh Nghệ An ngày càng tăng, tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ. Từ hội nghị quy mô cấp tỉnh với 200 nhà đầu tư tham dự của năm đầu tiên, hiện tại, Hội nghị Gặp mặt các nhà đầu tư đã có quy mô khu vực và quốc tế với gần 1.000 doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia.

Việc luôn coi thu hút đầu tư là một trong những nhiệm vụ chính trị hàng đầu của các thế hệ lãnh đạo tỉnh liên tục hơn 10 năm qua đã thực sự tạo ra một làn sóng đầu tư mạnh mẽ tại Nghệ An, với nhiều dự án của các thương hiệu lớn.

Điển hình là chuỗi các dự án do Ngân hàng TMCP Bắc Á tài trợ tín dụng và tư vấn đầu tư, tổng số vốn đăng ký 65.697 tỷ đồng. Tổng Công ty Rượu, Bia và Nước giải khát Sài Gòn (SABECO) có tới 2 dự án, tổng vốn đầu tư 2.188 tỷ đồng. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và các đơn vị thành viên cũng đã có  4 dự án, tổng số vốn đầu tư 7.500 tỷ đồng. Tổng công ty Xi măng Việt Nam có 4 dự án, tổng số vốn đầu tư 16.019 tỷ đồng.

Tập đoàn Hoa Sen đã thực hiện 2 dự án là Nhà máy Tôn Hoa Sen Nghệ An 1 (vốn đầu tư 2.300 tỷ đồng) và Nhà máy Tôn Hoa Sen Nghệ An 2 (vốn đầu tư 5.000 tỷ đồng). Tập đoàn Vingroup với Dự án Tổ hợp khách sạn, khu vui chơi giải trí và biệt thự nghỉ dưỡng Vinpearl Cửa Hội (tổng mức đầu tư 900 tỷ đồng). Tập đoàn Xi măng The Vissai với chuỗi dự án có tổng mức đầu tư 13.700 tỷ đồng...

Bên cạnh đó, các dự án đầu tư nước ngoài cũng đóng góp vào hoạt động kinh tế - xã hội của Nghệ An. Có thể kể tới Nhà máy Sản xuất linh kiện, thiết bị điện tử, viễn thông Hitech BSE Việt Nam với số vốn 630 tỷ đồng của Tập đoàn BSE Hàn Quốc; Nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi Mavin AustFeed Nghệ An (tổng mức đầu tư 325 tỷ đồng) và Trung tâm Giống heo hạt nhân công nghệ cao (vốn đầu tư 350 tỷ đồng) của Tập đoàn Mavin (Úc). Nhiều dự án sản xuất may mặc xuất khẩu của các nhà đầu tư Nhật Bản, Hàn Quốc, như  Samsung Vina,  Haivina, MLB Tenergy, Prex Vinh... đang tạo hàng ngàn việc làm cho người lao động,…

Nhận thấy tiềm năng phát triển kinh tế, đặc biệt trên lĩnh vực công nghiệp, thời gian gần đây, hai "ông lớn" chuyên về đầu tư hạ tầng khu công nghiệp châu Á cũng đã tìm đến Nghệ An đầu tư. Đó là Khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ VSIP Nghệ An của Liên doanh giữa Tập đoàn Sembcorp (Singapore) và Công ty Becamex Bình Dương và Dự án Khu công nghiệp WHA Hemaraj (tổng mức đầu tư khoảng 1 tỷ USD trên diện tích 3.200 ha) của Tập đoàn Hemaraj Land and Development PLC (Thái Lan). Đây được đánh giá là hai dự án hạ tầng quan trọng sẽ mở ra nhiều cơ hội và tạo nên những bước đột phá để Nghệ An thu hút thêm nhiều thương hiệu quốc tế uy tín hơn nữa trong thời gian tới.

Thành công từ các lần tổ chức Hội nghị Gặp mặt các nhà đầu tư đã góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong thu hút đầu tư vào Nghệ An suốt 10 năm qua, điều này thể hiện ở số lượng và quy mô dự án tăng dần qua các năm. Nhiều dự án đi vào hoạt động hiệu quả đã góp phần hình thành nên một số vùng động lực kinh tế mới cho địa phương. Song song với vấn đề thu hút đầu tư bằng những cơ chế, chính sách tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp, được sự hỗ trợ của Trung ương, Nghệ An đẩy nhanh việc hoàn thành quy hoạch, tập trung các nguồn lực phát triển hạ tầng, nhất là giao thông để đảm bảo việc thông thương hàng hóa được thuận lợi.

            "Tính từ năm 2009 đến năm 2017, Nghệ An đã thu hút được 980 dự án đầu tư với tổng vốn hơn 276.000 tỷ đồng, trong đó 927 dự án đầu tư trong nước với hơn 112.000 tỷ đồng và 53 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với hơn 163.000 tỷ đồng. Riêng năm 2017, Nghệ An đã cấp mới cho 176 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư 14.561 tỷ đồng".

Các dự án thu hút đầu tư đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, góp phần tăng thu ngân sách địa phương từ mức 3.436 tỷ đồng (năm 2009) lên 12.030 tỷ đồng (năm 2017), giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động địa phương mỗi năm. Đưa mức thu nhập bình quân đầu người lên 29 triệu đồng/năm. Những số liệu thống kê trên cho thấy, khoảng cách về kinh tế của Nghệ An đã được rút ngắn so với các địa phương khác trên cả nước. Phần lớn các dự án đầu tư vào Nghệ An đều mang tính bền vững, góp phần đưa GRDP của Nghệ An tăng trưởng hàng năm cao hơn bình quân chung của cả nước. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Nghệ An những năm qua liên tục được cải thiện vịtrí trên bảng xếp hạng.

Năm 2018 là năm thứ 10 diễn ra Hội nghị, là dịp đặc biệt và dấu mốc quan trọng để tỉnh nhìn lại những kết quả đạt được cũng như những tồn tại trong công tác thu hút đầu tư. Tỉnh Nghệ An luôn coi đây là cơ hội để gặp gỡ, trao đổi, giới thiệu với các nhà đầu tư về cơ hội, tiềm năng đầu tư; đồng thời, tìm hiểu, nắm bắt nhu cầu, mong muốn của nhà đầu tư để cùng đồng hành và phát triển.

            "Tại Hội này, Nghệ An tiếp tục thu hút được nhiều dự án đầu tư lớn vào Nghệ An, đã trao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư cho 9 dự án và ký kết 16 biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư vào tỉnh Nghệ An với tổng số vốn đăng ký là 13.152 tỷ đồng. Về phía ngân hàng, với vai trò là đơn vị tài trợ, đầu mối thu xếp vốn cho các dự án đầu tư, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển (BIDV) và Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) đã trao 03 Thỏa thuận cung cấp tín dụng với lượng vốn thu xếp tài trợ cho vay dự kiến là 800 tỷ đồng".

Thông qua Hội nghị đặc biệt lần này, tỉnh Nghệ An muốn gửi đến các nhà đầu tư thông điệp về sự quyết tâm, nỗ lực hết mình vì một môi trường đầu tư, kinh doanh có hiệu quả, để Nghệ An thực sự trở thành điểm đến tin cậy của các nhà đầu tư. Nghệ An luôn coi trọng thành công của doanh nghiệp khi triển khai các hoạt động đầu tư, kinh doanh tại đây và đó cũng chính là thành công của tỉnh nhà.   

TS. Phí Vĩnh Tường

TS. Hồ Thị Hiền

 

Tóm tắt: Trong những năm qua, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có những đóng góp cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng của khu vực sản xuất công nghiệp và phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên, mức độ đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, bổ sung vốn đầu tư, chuyển dịch cơ cấu, phát triển việc làm và giảm nghèo còn rất hạn chế. Từ góc độ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, có thể thấy các nguồn lực đặc thù, tạo nên lợi thế so sánh của Nghệ An, chưa được khai thác hiệu quả, tối ưu. Các nguồn lực hiện có của Nghệ An đã và đang thu hút được sự quan tâm của một số nhà đầu tư sử dụng công nghệ thấp, có nguy cơ gây cạn kiệt tài nguyên sau quá trình sản xuất kinh doanh, nhất là tài nguyên đất và khoáng sản. Quan trọng hơn, kỳ vọng về chuyển giao công nghệ, tri thức quản lý từ những nhà đầu tư đó khó có thể được thoả mãn. Những vấn đề của thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt nguồn từ nguồn lực tổ chức, thể chế của tỉnh Nghệ An. Đổi mới, nâng cấp chất lượng nguồn lực tổ chức, thể chế sẽ góp phần đổi mới, nâng cấp chất lượng các nguồn vốn vật chất đặc thù của tỉnh Nghệ An cũng như nguồn vốn con người tỉnh Nghệ An. Đây là cơ sở giúp tỉnh Nghệ An nâng cao năng lực lựa chọn các nhà đầu tư cũng như thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư ở những trình độ phát triển cao hơn.

1. Đặt vấn đề1(*)

Trong giai đoạn 2001-2010, tốc độ tăng trưởng giá trị tổng sản phẩm quốc nội của Nghệ An đạt bình quân trên 10%/năm. Khu vực công nghiệp đóng vai trò động lực tăng trưởng của tỉnh Nghệ An. Mức tăng trưởng sản xuất công nghiệp bình quân 11,2% trong những năm qua là cơ sở duy nhất, đảm bảo cho kết quả tăng trưởng kinh tế Nghệ An duy trì ở mức hai con số.

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã và đang tham gia vào các hoạt động kinh tế của tỉnh Nghệ An. Trong những thập kỷ vừa qua, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã có những đóng góp cho kết quả phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An, nhìn từ góc độ phát triển kinh tế ngành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góc độ phát triển việc làm và giảm nghèo, góc độ tăng trưởng xuất khẩu và đóng góp cho ngân sách địa phương.

Mặc dù vậy, so với lợi thế, tiềm năng của địa phương, có thể thấy rằng kết quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa thực sự tương xứng. Số lượng dự án, doanh nghiệp FDI vào tỉnh Nghệ An còn thấp, so với mức trung bình của cả nước. Mức độ biến động của vốn đầu tư (cam kết và giải ngân) đối với tỉnh Nghệ An còn cao, ảnh hưởng đến việc đáp ứng các nhu cầu đầu tư thường niên. Với quy mô dự án nhỏ, mức độ đóng góp cho giá trị sản xuất của khu vực FDI, còn hạn chế.

Nhìn từ góc độ huy động và sử dụng các nguồn lực đặc trưng, với tư cách là yếu tố cấu thành lợi thế so sánh của tỉnh Nghệ An, có thể thấy rõ những vấn đề tồn tại trong việc khai thác và sử dụng các nguồn lực này. Với sự xuất hiện các nhà đầu tư không phù hợp, các nguồn lực sẽ sớm bị cạn kiệt, ảnh hưởng đến tương lai phát triển bền vững, dù kết quả hiện tại là tương đối tích cực. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để thay đổi chất lượng nguồn lực, để thay đổi môi trường đầu tư, nhằm thu hút các nhà đầu tư có chất lượng tốt hơn (sử dụng công nghệ cao hơn, khai thác các nguồn lực đặc thù của tỉnh Nghệ An cho những mục đích tốt hơn…). Trong ba nguồn lực đặc trưng cơ bản sẽ được giới thiệu sau (nguồn vốn vật chất, nguồn vốn con người và nguồn vốn tổ chức/thể chế) bài viết sẽ tập trung vào sự cần thiết phải thay đổi chất lượng nguồn lực thứ ba. Bởi đây sẽ là yếu tố quyết định đến chất lượng và hình ảnh của hai nguồn lực đầu trong con mắt các nhà đầu tư nước ngoài.

2. Một số vấn đề lý luận về môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Ngày nay, hiện tượng các doanh nghiệp thuộc sở hữu của một nền kinh tế tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh ở bên ngoài nền kinh tế đó đã trở nên phổ biến. Động lực cơ bản cho hoạt động này là lợi ích kinh tế dựa trên việc khai thác lợi thế so sánh của các nguồn lực có được do sự khác biệt của địa điểm hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại. Sự khác biệt về chất lượng và số lượng nguồn lực đó giúp các doanh nghiệp thu "lợi nhuận siêu ngạch", duy trì vị thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành.

Trong các loại hình đầu tư sản xuất kinh doanh đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có thể hiểu là việc kết hợp (a) các nguồn vốn của bản thân các nhà đầu tư với (b) các nguồn vốn của nước tiếp nhận đầu tư để tiến hành sản xuất kinh doanh, với điều kiện không làm thay đổi quyền sở hữu, quyền quản trị doanh nghiệp của nhà đầu tư.

Sự khác biệt của đầu tư trực tiếp nước ngoài so với các hình thức khác chính là nội dung của nguồn vốn. Nguồn vốn của bản thân các nhà đầu tư chủ yếu là vốn vật chất (máy móc, thiết bị công nghệ, tiền) và vốn con người (nguồn nhân lực quản trị).

Nguồn vốn của nước tiếp nhận đầu tư được các doanh nghiệp huy động cho sản xuất bao gồm nguồn vốn vật chất (đất đai, nhà xưởng), vốn con người (nguồn nhân lực với tư cách lao động trực tiếp và quản lý trung gian) và nguồn vốn thể chế/ tổ chức (khung pháp lý tạo nên môi trường sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp).

Có thể thấy, lợi thế cạnh tranh của địa điểm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài được quyết định bởi lợi thế so sánh của địa điểm đó so với các địa điểm khác trong con mắt nhà đầu tư nước ngoài. Lợi thế so sánh đó được hình thành bởi: (1) sự khác biệt về nguồn vốn vật chất (chi phí đất đai, nhà xưởng); (2) nguồn vốn con người (chi phí/ tiền lương cho lao động sản xuất trực tiếp và cho lao động quản lý trung gian trong mối quan hệ so sánh với năng suất lao động) và (3) lợi ích kinh tế do sự khác biệt về thể chế/ tổ chức (khung chính sách pháp luật liên quan đến ưu đãi đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng giúp cắt giảm chi phí logistics và các chi phí ngoài sản xuất của doanh nghiệp).

Trong khi lợi thế so sánh do các yếu tố nhóm (1) và nhóm (2) chỉ có tính chất tạm thời, thay đổi và biến mất cùng với trình độ phát triển của địa điểm sản xuất đó so với các địa điểm sản xuất khác; yếu tố thuộc nhóm (3) là yếu tố duy trì lợi thế cạnh tranh động cho một địa điểm sản xuất. Yếu tố này thường được bàn đến nhiều dưới tên gọi "Môi trường đầu tư" mặc dù bản chất của yếu tố thể chế/tổ chức còn phải được bàn đến theo nghĩa rộng hơn.

Môi trường đầu tư, theo Ngân hàng thế giới (2004) bao gồm các yếu tố có tính đặc thù, tính địa phương, giữ vai trò hình thành các cơ hội kinh doanh và là cơ sở để doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh doanh, thu lợi nhuận và động lực kinh tế đó, đến lượt nó, lại thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tạo nhiều việc làm hơn.

Các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, và do đó duy trì lợi thế so sánh của một địa điểm, bao gồm: (1) Sự sẵn có và dễ tiếp cận đến các nguồn vốn vật chất, cụ thể là vốn tài nguyên thiên nhiên, vốn nhân lực giá rẻ; (2) sự thuận tiện, dễ tiếp cận với chi phí thấp của các loại kết cấu hạ tầng kinh tế cứng (đường giao thông, mạng điện, viễn thông…) và các hạ tầng kinh tế mềm (dịch vụ ngân hàng, dịch vụ luật…) và (3) sự năng động của bộ máy lãnh đạo địa phương (năng lực cung cấp thông tin về cơ hội kinh doanh, năng lực thực thi quản lý hành chính đối với hoạt động kinh tế nhanh và hiệu quả, tinh thần sáng tạo, năng động, dám thử nghiệm những thể chế, chính sách mới của thế giới để tạo thuận lợi và giúp nhà đầu tư hình thành các lợi thế so sánh, góp phần nâng cao lợi nhuận "siêu ngạch" cho doanh nghiệp.

Những lợi ích đối với nước tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm: (1) Lan tỏa  công nghệ, giúp các doanh nghiệp trong nước nâng cấp trình độ công nghệ sản xuất kinh doanh; (2) bổ sung cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đặc biệt ở các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi, với đặc trưng là các nguồn lực trong nước không đủ tài trợ cho nhu cầu này; (3) thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần nâng cao năng suất lao động và cải thiện mức sống của người lao động địa phương; (4) những lợi ích khác như đóng góp cho ngân sách địa phương, kết nối doanh nghiệp trong nước với mạng sản xuất toàn cầu hay phát triển việc làm và giảm nghèo… Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi của địa điểm tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ phụ thuộc vào quyết định mang những nguồn lực nào đến đầu tư mà còn phụ thuộc vào năng lực của bộ máy lãnh đạo, của doanh nghiệp trong nước ở chính địa điểm tiếp nhận các doanh nghiệp nước ngoài đó.  

3. Thực trạng đầu tư nước ngoài ở Nghệ An, vấn đề và nguyên nhân

3.1. Thực trạng đầu tư nước ngoài ở Nghệ An

Trong giai đoạn 2005-2015, tỉnh Nghệ An thu hút được 61 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, với vốn đăng ký và thực hiện lần lượt là 1.625,34 triệu USD và 62,68 triệu USD. Quy mô vốn đầu tư FDI biến động lớn trong giai đoạn này, thể hiện qua sự biến động tốc độ tăng trưởng. Quy mô vốn FDI đăng ký và vốn thực tăng hiện của năm 2010 lần lượt tăng 112 lần và 22 lần so với năm 2009. Hay quy mô vốn đăng ký và vốn thực tăng hiện năm 2015 so với năm 2014 cũng tăng 200% và 79%.

Mặc dù vậy, cũng có những giai đoạn, vốn đầu tư FDI đăng ký và giải ngân của năm sau thấp hơn so với năm trước. Ví dụ giai đoạn 2007-2008, hay giai đoạn 2010-2011, vốn FDI đăng ký và giải ngân của năm sau đều giảm so với năm trước.

Từ góc độ ngành kinh tế, phần lớn các dự án đầu tư FDI tập trung trong lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo (60% số dự án; 68% số vốn đăng ký). Lĩnh vực quan tâm thứ hai của các doanh nghiệp FDI vào Nghệ An là lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản (11% số dự án, 9% số vốn đăng ký kinh doanh). Lĩnh vực thứ 3 có sự quan tâm của doanh nghiệp FDI là thương nghiệp và sửa chữa xe có động cơ (11% số dự án và 3% số vốn đăng ký kinh doanh).

Nhìn từ góc độ sở hữu, các dự án đầu tư nước ngoài (lũy kế đến 2015) chủ yếu do các nhà đầu tư châu Á thực hiện. Vị trí số một là các nhà đầu tư Hàn Quốc (26,03% tổng số dự án, 6,59% tổng số vốn đăng ký). Vị trí số 2 và số 3 lần lượt là các nhà đầu tư: Trung Quốc (18% số dự án, 7,86% tổng số vốn đăng ký), Thái Lan (12% tổng số dự án, 3,61% tổng số vốn đăng ký); Các nhà đầu tư Nhật Bản, Ấn Độ và Đài Loan cùng đứng ở vị trí thứ 5 xét về số dự án. Mặc dù vậy, nếu xét riêng quy mô vốn đăng ký, các nhà đầu tư Nhật Bản lại đứng số một trong số các nhà đầu tư FDI.

Tuy còn nhiều vấn đề phát triển, nhưng không phủ nhận được những đóng góp của khu vực doanh nghiệp FDI đối với tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xuất khẩu của tỉnh Nghệ An. Với sự có mặt của khu vực FDI trong lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo, tỷ trọng đóng góp của khu vực công nghiệp trong GRDP đã tăng từ 15,96% (2013) lên 18,23% (2014), trong đó, khu vực FDI đóng góp 9,68% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh. Sự có mặt của doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực nông nghiệp đã góp phần tạo ra những sản phẩm mới trong cơ cấu sản phẩm nông nghiệp của Nghệ An. Bên cạnh đó, khu vực FDI cũng thể hiện được những vai trò trong phát triển việc làm và đóng góp cho ngân sách của tỉnh Nghệ An, dù mức độ đóng góp còn hạn chế.

3.2. Một số vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Nghệ An và nguyên nhân

Mặc dù đạt được những thành tích trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, nhưng vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kết quả phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An thời gian qua vẫn còn hạn chế.

Nhìn từ góc độ bổ sung vốn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2005-2015, có thể thấy tỷ trọng đóng góp của vốn FDI trong cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội tỉnh Nghệ An còn thấp.

Mặc dù quy mô vốn đăng ký đầu tư lớn, nhưng cũng giống như tình trạng chung của Việt Nam, vốn giải ngân/thực hiện ở mức thấp. Trong trường hợp thuận lợi nhất (năm 2005), vốn giải ngân đạt 51,81% vốn đăng ký. Trường hợp xấu nhất (năm 2010), vốn giải ngân chỉ tương đương 1,65% vốn đăng ký. Sự biến động lớn của vốn đầu tư nước ngoài (đăng ký và giải ngân) gây ảnh hưởng không nhỏ đến dự báo và kế hoạch, chương trình xúc tiến đầu tư nhằm huy động vốn đáp ứng một cách ổn định, nhu cầu đầu tư của tỉnh Nghệ An.

Một yếu tố quan trọng khác là xuất xứ nhà đầu tư. Với cơ cấu đầu tư hiện nay (công nghiệp chế biến và nông nghiệp), các nhà đầu tư lớn chủ yếu là Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, những rủi ro của một cơ cấu kinh tế thiên lệch về khai thác tài nguyên tự nhiên, với trình độ công nghệ thấp là không tránh khỏi.

Ở thời điểm hiện tại, thách thức với tỉnh Nghệ An là vấn đề tạo động lực thay đổi cơ cấu nhà đầu tư để tránh và hạn chế sự cạn kiệt, xuống cấp của các nguồn lực, nhất là nguồn lực tài nguyên thiên nhiên.

Thách thức trong tương lai đối với tỉnh Nghệ An trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hướng tới sự phát triển của những ngành công nghệ cao và có giá trị gia tăng cao hơn là việc thu hút những nhà đầu tư mới, khai thác các nguồn lực tốt hơn cho các mục đích khác.

4. Môi trường thu bút đầu tư nước ngoài

4.1. Một số vấn đề

Những kết quả đạt được cũng như những vấn đề tồn tại trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Nghệ An trong thời gian qua là do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có sự ảnh hưởng của những chính sách cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư ở cấp quốc gia, cũng như những cải thiện môi trường thu hút đầu tư của bản thân tỉnh Nghệ An.

Môi trường thu hút đầu tư có vai trò, chức năng quan trọng. Có thể ví môi trường thu hút đầu tư như "bộ phát tín hiệu", cho biết đặc trưng của những nguồn lực riêng có của Nghệ An và từ đó, những doanh nghiệp quan tâm đến các nguồn lực này sẽ đến khai thác. Mặt khác, nó cũng là "bộ lọc" để giúp Nghệ An lựa chọn những nhà đầu tư nhằm tối ưu hoá việc khai thác các nguồn lực. Có thể nói, với kết quả thu hút FDI thời gian qua, cả hai chức năng này đều chưa được thực hiện tốt ở Nghệ An.

Thứ nhất, Nghệ An có những lợi thế về địa điểm do các điều kiện tự nhiên mang lại. Đó là vị trí gần với điểm giao lưu giữa hành lang giao thông Bắc - Nam (của quốc gia) và hành lang giao thông Đông - Tây (của tiểu vùng sông Mê-kông mở rộng - GMS). Sự phát triển của hành lang kinh tế Đông - Tây, đặc biệt là du lịch ba nước GMS và kết nối với Trung Quốc, tạo nên những cơ hội phát triển kinh tế du lịch và vì thế là động lực thu hút các doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng.

Những điều kiện tự nhiên khác (tài nguyên biển và tài nguyên rừng) cũng là những thuận lợi cho việc thu hút doanh nghiệp du lịch, khai khoáng và nông nghiệp, thủy điện.

Thứ hai, những lợi thế do các nguồn lực tự nhiên đó mang lại, có sự đóng góp của những nguồn lực tổ chức/ thể chế trong kết quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Nghệ An.

Trong giai đoạn 2005 đến nay, nhiều chính sách đã được ban hành nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài đã được ban hành. Đó là chính sách thống nhất ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh Nghệ An, chính sách không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước (Quyết định 57/2005/QĐ-UBND). Chính sách thúc đẩy quá trình giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện rút ngắn thời gian cung cấp đất sạch cho các nhà đầu tư, chính sách công khai, minh bạch giá thuê đất phục vụ việc xây dựng nhà xưởng để sản xuất kinh doanh…

Động lực kinh tế luôn được chú ý, điều chỉnh nhằm khuyến khích nhà đầu tư tiến hành sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh, trong các khu công nghiệp, khu kinh tế như Khu kinh tế Đông Nam. Quyết định 101/2007/QĐ-UBND đã được ban hành, thay thế cho Quyết định 57/2005/QĐ-UBND.

Việc tạo lập môi trường thúc đẩy sự phát triển của các cụm liên kết ngành, về cơ bản cũng đã được quan tâm. Đó là sự ra đời của chính sách hỗ trợ ưu đãi chung ngành nghề (Quyết định số 117/2007/QĐ-UBND). Tuy nhiên, các chính sách trong giai đoạn 2005-2007 còn đang ở dạng khung chính sách, thiếu những triển khai chi tiết để tạo thuận lợi cho thực thi chính sách.

Trong giai đoạn tiếp theo, mặc dù đối mặt với sự sụt giảm dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng các chính sách ưu đãi chung vẫn tiếp tục được ban hành (Quyết định 79/2009/QĐ-UBND, hay Quyết định 83/2009/QĐ-UBND), với nội dung cơ bản từ khuyến khích sang hỗ trợ cho doanh nghiệp đầu tư.

Để phát triển Khu kinh tế Đông Nam, một số chính sách đã được ban hành. Bên cạnh các ưu đãi của quốc gia (Nghị định số 29/2008/NĐ-CP), tỉnh Nghệ An đã tạo ra những ưu đãi riêng đối với doanh nghiệp đầu tư trong Khu kinh tế Đông Nam.

Với kỳ vọng sự phát triển của Khu kinh tế Đông Nam sẽ lan tỏa đến sự phát triển của cả tỉnh, hàng loạt các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư được đưa ra, bao gồm:

- Ưu đãi đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật - xã hội thiết yếu.

- Ưu đãi tiền thuê đất.

- Hỗ trợ bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư và san nền.

- Hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật.

- Một số hỗ trợ khác như tuyển dụng và đào tạo lao động; Thưởng xúc tiến đầu tư…

Đây là những chính sách mở nhằm giúp Khu kinh tế Đông Nam phát triển.

Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã ban hành nhiều chính sách (Quyết định 10/2010/QĐ-UBND, Quyết định 09/2012/QĐ-UBND, Quyết định 87/2014/ QĐ-UBND hay Quyết định số 08/2015/ QĐ-UBND) nhằm thu hút đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Nghệ An.

Song song với những chính sách tạo động lực kinh tế trực tiếp, tỉnh Nghệ An cũng chú trọng đến các chính sách đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo môi trường hành chính đơn giản, thuận tiện cho các nhà đầu tư khi làm việc với chính quyền.

Mặc dù những kết quả cải thiện thể chế/ tổ chức là đáng ghi nhận, nhưng từ góc độ nhà đầu tư, sự cải thiện đó vẫn chưa thực sự đáp ứng được kỳ vọng. Điều này thể hiện qua kết quả doanh nghiệp (trong đó có doanh nghiệp FDI) đánh giá về môi trường kinh doanh (qua chỉ số PCI và các chỉ số thành phần hay qua chỉ số PAPI và các thành phần của chỉ số).

Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (từ góc nhìn của nhà doanh nghiệp) của tỉnh Nghệ An nằm trong nhóm trung bình của cả nước và còn cách xa so với các địa phương trong vùng như Đà Nẵng. Những chỉ số thành phần đã phản ánh được phần nào những nỗ lực của chính quyền tỉnh Nghệ An.

Tuy nhiên, bên cạnh những đánh giá tốt về chính sách tạo điều kiện cho doanh nghiệp gia nhập thị trường (đầu tư sản xuất kinh doanh), những chính sách khác đang được đánh giá rất thấp. Chất lượng nguồn nhân lực (lao động có tay nghề) chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và vai trò đào tạo nghề của các trường trên địa bàn tỉnh cũng như vùng, hay chính sách thu hút nhân lực của tỉnh chưa thực sự phát huy vai trò.

Hay tính năng động của chính quyền tỉnh, trong việc hỗ trợ doanh nghiệp vẫn chưa được phía doanh nghiệp đã đến đầu tư đánh giá cao. Vấn đề công khai, minh bạch, hướng tới việc xoá bỏ tham nhũng, chi phí không chính thức cho doanh nghiệp cũng không được đánh giá cao, cả từ góc độ đánh giá của doanh nghiệp (PCI) và của hộ gia đình (PAPI).

Như vậy, có thể thấy những động thái của tỉnh Nghệ An trong thời gian qua chủ yếu nhằm giới thiệu các nguồn vốn vật chất (tài nguyên thiên nhiên phục vụ khai khoáng, du lịch, đất đai) là chủ yếu; nguồn vốn con người (chất lượng lao động và sự phát triển của thị trường lao động) chưa được thực sự cải thiện.

Việc lựa chọn các nhà đầu tư cũng chưa được đẩy mạnh do những áp lực thu hút đầu tư để đảm bảo các quy định của nhà nước có liên quan hay cho chất lượng thể chế vẫn còn bị đánh giá thấp ở những trụ cột quan trọng, có ý nghĩa trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Quan trọng hơn, do chất lượng các nguồn lực riêng có của Nghệ An không đáp ứng được các doanh nghiệp có trình độ cao nên hạn chế năng lực và cơ hội lựa chọn các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài.

 Để nâng cao chất lượng các nguồn lực đặc thù của Nghệ An (vốn tài nguyên thiên nhiên, vốn con người, vốn thể chế/ tổ chức), vấn đề cần tập trung chính là việc cải thiện chất lượng vốn thể chế/ tổ chức. Bởi, việc xử lý tốt nút thắt này, hình ảnh các nguồn lực đặc thù của Nghệ An (cả về hình thức và nội dung) trong mắt nhà đầu tư sẽ thay đổi, cơ hội và năng lực lựa chọn các nhà đầu tư đối với tỉnh Nghệ An sẽ lớn hơn.

Một số suy nghĩ về việc cải thiện chất lượng tổ chức/ thể chế của Nghệ An bao gồm:

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nhằm giúp bộ máy trở nên năng động hơn, tạo nên cái nhìn tích cực hơn về chính quyền (từ phía doanh nghiệp) trong nỗ lực xử lý các vấn đề của doanh nghiệp.

Do các nguồn lực khan hiếm và có nguy cơ cạn kiệt (tài nguyên thiên nhiên, đất đai), cần sớm xây dựng một quy hoạch tổng thể/ duy nhất việc khai thác và sử dụng các nguồn lực. Hệ thống quy hoạch hiện nay khá phức tạp và mâu thuẫn nhau, khiến các nguồn lực không được sử dụng tối ưu. Ưu tiên làm rõ chiến lược và kế hoạch phát triển nguồn nhân lực (lao động có kỹ năng và lao động quản lý trung gian) để đảm bảo lợi thế cạnh tranh động cho tỉnh Nghệ An trong con mắt nhà đầu tư.

Tính năng động của chính quyền cần được phát huy tốt hơn. Việc xúc tiến đầu tư cần được thay đổi cách thức thực hiện. Tỉnh Nghệ An bên cạnh việc lắng nghe ý kiến của các nhà đầu tư tại hội nghị, cần tiếp xúc riêng và lắng nghe ý kiến của một vài nhà đầu tư chiến lược và có ưu tiên hành động cải thiện môi trường đầu tư theo ý kiến của các nhà đầu tư chiến lược.

Cần thay đổi nội dung chính sách ưu đãi thu hút đầu tư. Các ưu đãi về thuế, phí, giống như các chi phí chìm (sunk cost) nhìn từ phía doanh nghiệp. Những ưu đãi đó chỉ giúp cắt giảm chi phí trong ngắn hạn, và hiệu quả của nó giảm dần theo thời gian.

Các ưu đãi quan trọng nhất là việc thúc đẩy hiệu quả kinh tế theo quy mô ở cấp ngành, điều mà cá nhân mỗi doanh nghiệp đến đầu tư ở Nghệ An không thể tự thực hiện được.

Đề làm được điều này, kế hoạch phát triển Khu kinh tế Đông Nam và các điểm tập trung sản xuất khác cần hướng tới kế hoạch phát triển các cụm liên kết ngành (và điều này ảnh hưởng đến việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược đối với tỉnh Nghệ An).

Bên cạnh đó, cần rà soát thực trạng kết cấu hạ tầng giao thông kết nối các cụm liên kết ngành với các cửa ngõ kết nối ra thế giới (sân bay, cảng biển) để đảm bảo sự phát triển của hệ thống logistics, phục vụ tốt nhu cầu của nhà đầu tư hiện tại và tương lai.

 

 

Tài liệu tham khảo

1. Akamatsu (1962), A historical pattern of economic growth in developing countries, The Developing Economies, Volume 1, Issue Supplement s1, pages 3-25, August 1962.

2. Anders Corr and Matthew Michaelides (2014), "Viet Nam Investment Opportunities: 2015". Journal of Political Risk, N01 December, 2014.

3. Benn Eifert, Alan Gelb (2005), "Business Environment and Comparative Advantage in Africa: Evidence from the Investment Climate Data", Center for Global Development.

4. Hoàng Nhật An (2008), "Nghệ An: điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư", Tạp chí Kinh tế và dự báo, (số 21), trang 34-36.

5. Lê Việt Anh (2009), Dự án HaUI - JICA về phát triển nguồn nhân lực công nghiệp, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, Hà Nội.

6. Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Tuệ Anh (2006), Tăng trưởng kinh tế Việt Nam 15 năm (1991 - 2005): từ góc độ phân tích đóng góp của các nhân tố sản xuất, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

7. Lê Xuân Bá và Nguyễn Thị Tuệ Anh  (2006), Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, dự án SIDA, Hà Nội.

8. Báo Nghệ An (2012), "Hạ tầng giao thông còn nhiều bất cập", số ra ngày 12/3/2012.

9. Bộ Chính trị (2013), Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 30/7/2013 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020.        

10. Niên giám thống kê tỉnh Nghệ An năm 2015, NXB Thống kê, 2015.

11. Hoàng Trinh (2017), Nghệ An: Sản lượng các nhà máy thủy điện đạt 2,2 tỷ kwh/năm, Báo Công thương, ngày 30/5/2017.

 

Hoàng Băng

1. Đặt vấn đề

Đầu tư phát triển một quốc gia hay một khu vực, một vùng hay tiểu vùng, không đơn giản là tăng các chỉ số đầu vào để đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế như nhiều nhà phát triển truyền thống vẫn thường nhắc đến. Người ta thường nói đến đầu tư với ý nghĩa tăng lượng tiền vào cho một quá trình phát triển, tức đầu tư tài chính để đẩy mạnh phát triển thiên về doanh thu. Điều đó không sai nhưng hiểu như vậy là hiểu chưa hết, chưa đủ về cả hai khái niệm "đầu tư" và "phát triển". Đầu tư không chỉ là tăng nguồn tài chính cho đầu vào của một quá trình phát triển, mà là quá trình huy động, bổ sung và phân phối các nguồn lực cần thiết cho một quá trình phát triển. Điều này có nghĩa là cần nhiều nguồn lực mà tài chính chỉ là một trong số các nguồn lực đó. Còn phát triển cũng không chỉ đơn thuần là sự tăng lên các nguồn thu như là kết quả được xem xét khi đầu tư cũng như là mục đích hướng tới mà người ta nghĩ nó tương đồng với thuật ngữ tăng trưởng. Nếu tăng trưởng là quá trình lấy sự tăng lên của các chỉ số kinh tế làm trọng tâm thì phát triển là một quá trình toàn diện hơn, được xem xét trên nhiều khía cạnh, từ đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa và cả con người. Nhiều khi, độ hài lòng và niềm tin của con người vào cuộc sống xã hội, vào kết cấu chính quyền cũng là một chỉ số để đánh giá sự phát triển. Nói vậy để thấy phát triển là một khái niệm trừu tượng, và cũng là một quá trình phức tạp, mà khó có một bộ tiêu chí nào có thể sử dụng để đánh giá cho mọi trường hợp, mọi vùng miền cũng như mọi quốc gia. Hiện nay, quá trình phát triển được coi là bền vững là phát triển đồng đều và ổn định ở nhiều trụ cột từ kinh tế, xã hội, văn hóa, con người và môi trường.

Miền núi Nghệ An là một khu vực rộng lớn gồm phần lớn các huyện như Thanh Chương, Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn, Anh Sơn, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn… Đây cũng là địa bàn sinh sống của nhiều cộng đồng tộc người thiểu số cùng sinh sống như người Thái, người Khơ Mú, người Mông, người Ơ Đu, người Thổ… Có thể nói một cách tổng quát thì miền núi Nghệ An là một vùng đa dạng cả về tự nhiên, xã hội và văn hóa tộc người. Nên cần phải có quan điểm phát triển vừa tổng thể cho một bức tranh quy hoạch và thu hút đầu tư hợp lý, đồng thời cũng phải có những quan điểm phát triển riêng cho từng địa phương, tiểu vùng trong cả vùng này một cách chi tiết, nhằm phù hợp với điều kiện tự nhiên cũng như văn hóa xã hội. So với vùng trung du và đồng bằng ven biển, miền núi Nghệ An có nhiều điểm đặc thù nên không thể đi theo các mục tiêu phát triển giống nhau. Trong khi vùng đồng bằng ven biển và vùng trung du có nhiều thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp, thương mại và cả nền nông nghiệp năng suất cao thì mục tiêu tăng trưởng kinh tế, lấy hiệu quả kinh tế làm mũi nhọn có thể là định hướng phù hợp. Còn với miền núi, trong một điều kiện phức tạp hơn, diện tích rộng lớn, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, văn hóa đa dạng, đời sống người dân còn thấp thì việc lấy mục tiêu kinh tế làm trọng tâm cho quá trình phát triển chưa hẳn đã hợp lý. Trái lại, với vùng miền núi, cần đặt mục tiêu phát triển để bảo tồn, phát triển để bảo vệ làm trọng tâm hẳn sẽ hợp lý hơn. Cụ thể, chương trình phát triển miền núi không bỏ quên việc tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Nhưng việc tăng nguồn thu ngân sách không phải là chỉ tiêu quan trọng đối với miền núi, mà cần lấy việc phát triển để bảo tồn môi trường tự nhiên, bảo tồn môi trường văn hóa tộc người, bảo đảm an ninh quốc gia, bảo đảm cuộc sống an ninh của con người. Đó là những mục tiêu trọng tâm của toàn bộ quá trình phát triển miền núi Nghệ An. Nếu quan điểm này được chấp nhận, thì quá trình đầu tư vào phát triển miền núi Nghệ An cũng cần phải xem xét trên quan điểm toàn diện hơn. Không chỉ đầu tư tài chính, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, mà còn phải đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác, coi trọng các mục tiêu chiến lược hơn là các mục tiêu đầu tư ngắn hạn. Điều này cũng có nghĩa cần có những khung phân tích khác về việc nhận thức và xây dựng các dự án đầu tư phát triển miền núi hợp lý hơn. Mà ở đây, chúng tôi muốn trao đổi, thảo luận về một khung phân tích đa hợp hơn dựa vào lấy yếu tố văn hóa làm trung tâm để đối sánh với khung phân tích dựa trên mục tiêu kinh tế làm trọng tâm vốn đang cũ kỹ.

2. Khung phân tích các loại vốn trong các dự án phát triển

Vốn (Capital) là một khái niệm được sử dụng nhiều trong lĩnh vực kinh tế học và nó được phân chia theo nhiều cách khác nhau. Theo các nhà kinh tế học trường phái tân cổ điển thì "vốn" là vốn các hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp: đó có thể là các máy móc, trang thiết bị, vật tư, đất đai, giá trị nhà xưởng... Nhưng cách hiểu như vậy bỏ qua một loại vốn quan trọng là vốn tài chính (không phải là hàng hóa). Các nhà kinh tế học sau đó đã bổ sung thêm vào khái niệm đó về vốn tài chính để hiểu tổng quát hơn về "vốn". Như vậy, trong kinh tế học, vốn được xem là các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất, kinh doanh. Vốn được phân chia thành vốn cố định và vốn lưu động; vốn thường xuyên và vốn tạm thời; vốn chủ sở hữu và vốn là nợ phải trả. Trong cách hiểu về vốn của kinh tế học thì nhấn mạnh đến vai trò đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh và chủ yếu ở các doanh nghiệp. Trong khi quá trình phát triển không chỉ đơn giản là sản xuất, kinh doanh nên khái niệm "vốn" theo cách hiểu của kinh tế học trở nên hạn chế khi tìm hiểu về một quá trình đầu tư phát triển cho một vùng, một cộng đồng hay một khu vực.

Đến những năm 60 của thế kỷ XX, nhà xã hội học nổi tiếng người Pháp là Piere Bourdieu đã mở rộng khái niệm "vốn" thành một khái niệm trìu tượng hơn và ứng dụng nhiều trong các nghiên cứu khoa học xã hội khác, đặc biệt là trong xã hội học và giáo dục học. Từ khái niệm vốn trong kinh tế học,    Bourdieu đã mở rộng khái niệm vốn ra thành nhiều thể loại và dạng thức khác nhau. Theo đó, vốn được coi là toàn bộ các nguồn lực được sử dụng trong quá trình phát triển của một cộng đồng hay một dự án phát triển cụ thể. Trong quá trình nghiên cứu, Bourdieu đã sử dụng nhiều khái niệm vốn, trong đó chủ yếu là vốn kinh tế (Economic Capital), vốn xã hội (Social Capital), vốn văn hóa (Culture Capital) và vốn biểu tượng (Symbolic Capital). Bên cạnh đó ông còn sử dụng nhiều cách nói khác nhau để đề cập đến các loại vốn trong các nghiên cứu cụ thể. Trong một công trình mang tính chất tổng kết xuất bản năm 1986, Bourdieu đã phân tích kỹ lại các hình thức của vốn, trong đó chủ yếu tập trung vào hai loại vốn ông cho rằng rất quan trọng trong phát triển là vốn văn hóa và vốn xã hội dù ông cũng có đề cập nhiều đến vốn kinh tế và cả vốn biểu tượng.

Các nhà nhân học phát triển khi vận dụng các khái niệm vốn vào quá trình nghiên cứu thường không đi vào các vấn đề lý thuyết vốn rời rạc mà tích hợp vào các khung phân tích tổng thể hơn. Trong đó nổi bật là khung phân tích các loại vốn trong nghiên cứu sinh kế cộng đồng, sinh kế tộc người. Mà phổ biến hiện nay, đó là phân tích quá trình phát triển theo khung sinh kế bền vững. Khung sinh kế bền vững, một mặt để phân tích thực trạng phát triển cũng như tìm ra các điểm yếu, các chỗ hỏng trong sinh kế cộng đồng nhằm có những chiến lược phát triển bền vững hơn cho sinh kế cộng đồng đó. Mặt khác, phân tích theo khung sinh kế bền vững cũng là một quá trình gợi mở, định hướng để lựa chọn những dự án, những chiến lược đầu tư hợp lý hơn vào quá trình phát triển của cộng đồng. Để hiểu hơn về vấn đề này, chúng ta đi tìm hiểu thêm một chút về khái niệm quan trọng là khung sinh kế bền vững.

Khái niệm sinh kế bền vững (Sustainable livelihood) bắt nguồn từ những nghiên cứu trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo ở các nước, các vùng kém phát triển. Qua phân tích nhiều mô hình sinh kế khác nhau, các nhà nghiên cứu đưa ra thảo luận nhằm tìm ra một khung sinh kế bền vững. Sau đó, Bộ Phát triển Quốc tế Anh (Department for Internatinal Development - DFID) đã tổng hợp và đưa ra khung sinh kế bền vững vào cuối thập niên 90 của thế kỷ XX. Khung sinh kế của DFID đã được các nhà nghiên cứu trong tổ chức này mở rộng, phát triển và dần phổ biến rộng rãi trong giới nhân học. Nội dung chủ đạo của khung sinh kế bền vững là "lấy con người và sinh kế của họ làm trung tâm để phân tích, nghĩa là đặt con người ở trung tâm của sự phát triển" (Nguyễn Văn Sửu, 2015, tr 17). Khung sinh kế này đã đề cập đến các thành tố hợp thành sinh kế của con người, từ các ưu tiên và chiến lược họ lựa chọn để thực hiện các ưu tiên của mình; các chính sách ảnh hưởng đến cách tiếp cận của họ, khả năng sử dụng các loại vốn và môi trường sống quanh họ. Trong phân tích khung sinh kế bền vững, các nhà nghiên cứu đã tập trung vào các loại vốn, trong đó chủ yếu là năm loại vốn gồm có vốn vật chất (cơ sở hạ tầng, hàng hóa...), vốn tài chính (nguồn lực tài chính để sử dụng), vốn xã hội (quan hệ xã hội, mạng lưới, niềm tin, nhóm thành viên...), vốn con người (tri thức, kỹ năng làm việc, sức khỏe...) và vốn tự nhiên (đất đai, rừng, nước, nguyên liệu...). Một vấn đề quan trọng mà khung sinh kế bền vững trên chưa nhấn mạnh hay chưa đề cập đúng vai trò của nó là vốn văn hóa. Đối với các cộng đồng, vốn văn hóa giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển. Vậy nên trong phân tích khung sinh kế, cần phải phân tích vai trò của 6 loại vốn của cộng đồng mới có cái nhìn toàn diện hơn và sâu sắc hơn.

Như vậy, sự phát triển của một vùng hay một cộng đồng cũng cần phải phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của cả 6 loại vốn là vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn con người, vốn xã hội, vốn văn hóa và vốn tài chính. Chính vì vậy, khi xem xét chiến lược đầu tư phát triển cho một vùng hay một cộng đồng, cần phải đặt vào khung phân tích các loại vốn để lựa chọn chiến lược đầu tư hợp lý. Trên cơ sở này, xin phân tích thêm một số vấn đề đầu tư phát triển miền núi Nghệ An trên cơ sở phân tích sự đầu tư vào các loại vốn trong khung phân tích sinh kế bền vững.

3. Đầu tư phát triển miền núi Nghệ An nhìn từ khái niệm vốn

Cần phải thấy rằng, phát triển miền núi Nghệ An, trước hết là phát triển một vùng kinh tế, một vùng văn hóa xã hội miền núi, một vùng biên giới. Và phát triển miền núi Nghệ An cũng là phát triển các cộng đồng tộc người. Vậy nên, đây vừa là phát triển vùng, vừa là phát triển cộng đồng. Hiểu như vậy để khi đặt vào những trường hợp cụ thể cần có sự nhận định rõ ràng đối tượng và mục tiêu chính của dự án phát triển.

3.1. Đầu tư khai thác và phát triển nguồn vốn tự nhiên

Vốn tự nhiên là các nguồn lực tự nhiên phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất của con người. Một đặc trưng quan trọng của vốn tự nhiên cần phải hiểu rõ là nó không/ khó tái tạo sau khi bị sử dụng cạn kiệt. Vậy nên đầu tư khai thác nguồn vốn tự nhiên cần phải tính đến sự bền vững của nguồn vốn quan trọng này.

Tài nguyên rừng: Từ giữa thế kỷ XX, với sự di cư ồ ạt của người Kinh lên miền núi và kéo theo đó là các dự án khai thác tài nguyên thiên nhiên trên quy mô lớn hơn. Trước hết là xây dựng các nông trường, lâm trường để khai thác rừng nhằm phát triển nông lâm nghiệp và phục vụ công nghiệp xây dựng. Lúc đến đỉnh cao, mỗi năm người ta khai thác hơn 30 vạn khối gỗ từ miền núi Nghệ An để phục vụ các công trình xây dựng. Vậy nên, hiện tại, đầu tư để phát triển tài nguyên rừng là đầu tư để trồng rừng, tái sinh rừng và khai thác hợp lý các nguồn lực liên quan đến rừng. Khai thác rừng gắn với bảo vệ rừng và tái tạo rừng. Muốn vậy cũng phải gắn với việc đảm bảo sinh kế cơ bản cho người dân bản địa. Việc thu hút đầu tư vào các dự án thương mại hóa các dược liệu quý từ nghề rừng cũng là một hướng đi đáng chú ý. Đầu tư vào rừng là để bảo tồn chứ không phải để tăng nguồn thu ngân sách, nên không thể lấy tiêu chí kinh tế trong việc đầu tư vào tài nguyên rừng.

Tài nguyên đất: cũng là một nguồn vốn quan trọng ở miền núi Nghệ An. Trước đây, đã có nhiều lâm trường, nông trường được xây dựng ở khu vực này để phát triển kinh tế. Gần đây là các dự án phát triển do các tập đoàn tư nhân đầu tư, tiêu biểu như dự án trồng cây cao su của Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam, dự án trồng cỏ, chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa của Công ty cổ phần thực phẩm sữa TH… Những dự án thu hút hàng trăm triệu đô la vào để phát triển dựa vào nguồn tài nguyên đất còn rộng lớn có thể xây dựng các nông trường, trang trại. Tuy nhiên, cần quan tâm đến lợi ích của người dân địa phương. Không phủ nhận các dự án phát triển đã tạo ra công ăn việc làm cho nhiều người dân trong vùng và cũng tạo ra một nguồn thu lớn cho ngân sách địa phương và ngân sách nhà nước. Nhưng so với lợi ích rơi vào các công ty, các cá nhân thì những lợi ích thuộc về người dân lại rất khiêm tốn.

Tài nguyên nước: trong những năm gần đây bị khai thác ồ ạt với sự xuất hiện của nhiều nhà máy thủy điện. Theo quy hoạch, Nghệ An sẽ xây dựng 46 nhà máy thủy điện lớn nhỏ. Hiện tại có 12 nhà máy thủy điện đi vào hoạt động, là một con số lớn so với các địa phương khác. Trong đó có một số nhà máy thủy điện loại lớn như thủy điện Bản Vẽ, thủy điện Hủa Na, thủy điện Khe Bố… Việc đầu tư khai thác tài nguyên nước qua xây dựng thủy điện quá lớn và có phần thiếu hợp lý đã ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân miền núi. Hầu hết các nhà máy thủy điện ở miền núi nhưng nhiều địa phương ở đó cũng chưa có điện. Nguồn nước thay đổi cũng ảnh hướng đến quá trình canh tác cũng như cuộc sống của đồng bào. Bên cạnh đó, nhiều con sông đang bị ô nhiễm do sản xuất công nghiệp. Vậy nên, đầu tư khai thác tài nguyên nước cũng cần phải có chiến lược lâu dài, không chạy theo lợi ích trước mắt để rồi cái giá phải trả sẽ vô cùng to lớn.

Đầu tư khai thác các nguồn khoáng sản cũng là lĩnh vực được phát triển lâu năm ở Nghệ An, nhất là vùng Quỳ Châu, Quỳ Hợp với nhiều khoáng sản quý. Tuy nhiên, việc khai thác thiếu chiến lược đã làm cho nguồn khoáng sản quý đã cạn kiệt trong khi công nghiệp chế biến vẫn chưa phát triển đồng bộ nên hiệu quả không cao. Thêm vào nữa, việc đầu tư khai thác khoáng sản tập trung nhiều vào các doanh nghiệp, người dân ít được hưởng lợi nhưng lại phải chịu ảnh hưởng vì ô nhiễm môi trường cũng như các hệ quả khác từ quá trình khai thác.

3.2. Đầu tư phát triển nguồn vốn vật chất

Vốn vật chất được hiểu là các điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng phục vụ cho sự phát triển, là một nguồn vốn quan trọng để phát triển kinh tế thị trường. Khi các cơ sở hạ tầng và các loại sản phẩm hàng hóa không được phát triển và nâng cấp thì việc tiếp cận thị trường thêm khó khăn. Vốn vật chất ở miền núi Nghệ An trong nhiều năm qua đã được đầu tư và xây dựng nhiều. Các tuyến đường huyết mạch được sửa sang, mở rộng và nâng cấp, tạo điều kiện cho giao thông thuận lợi hơn. Các đường nối liền các địa phương trong tỉnh cũng được đầu tư xây dựng. Nhìn chung hệ thống giao thông các cấp được cải tạo và nâng cấp hơn, điều kiện giao thông giữa các vùng, địa phương trở nên thuận lợi hơn. Bên cạnh đó là sự nâng cấp các yếu tố khác như đường, điện, hệ thống cơ sở vật chất cho y tế, giáo dục và hệ thống chợ được đầu tư nhiều hơn. Điều đó thể hiện nguồn vốn vật chất được tăng cường đáng kể. Tuy nhiên, sự đầu tư đó chưa đáp ứng được điều kiện phát triển.

Trước đến nay, đầu tư vốn vật chất ở miền núi Nghệ An chủ yếu từ nguồn tài chính của ngân sách nhà nước. Trong khi các doanh nghiệp lại khai thác các nguồn vốn này khá nhiều nhưng tái đầu tư lại hạn chế. Vậy nên, cần thu hút vốn đầu tư để mở rộng nguồn vốn vật chất ở miền núi từ các doanh nghiệp theo nhiều cách khác nhau như hợp tác cùng chia sẻ lợi ích, đánh thuế để tái đầu tư xây dựng cơ bản…

3.3. Đầu tư nguồn vốn tài chính

Có hai nguồn vốn tài chính chủ yếu trong việc đầu tư phát triển miền núi Nghệ An trong nhiều năm qua là từ ngân sách nhà nước và từ các doanh nghiệp. Trong khi các nguồn vốn của nhà nước tập trung vào việc xây dựng cơ bản, thì nguồn đầu tư của các doanh nghiệp tập trung vào việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Gần đây, nhiều doanh nghiệp quan tâm đến việc đầu tư vào các dự án phát triển du lịch, thương mại hóa các sản phẩm văn hóa. Tuy nhiên, nguồn vốn đầu tư này chủ yếu thuộc các doanh nghiệp nhỏ. Những nguồn tài chính đầu tư này chủ yếu vào khai thác tài nguyên ở miền núi nhưng không đưa lại nhiều hệ quả cho quá trình phát triển miền núi. Mặc dù các dự án cũng đã đưa lại những lợi ích kinh tế nhất định cho các địa phương, nhưng lại khai thác quá mức các nguồn tài nguyên mà đáng ra những người dân cũng được hưởng các lợi ích. Một hướng đi khả dĩ hiện nay là nhà nước cần có những sự khích lệ và hỗ trợ để chính người dân bản địa đứng ra làm chủ, sử dụng vốn tài chính họ huy động được hay vay mượn từ nhà nước để đi vào phát triển. Đó chính là những dự án phát triển mang tính cộng đồng, được nhà nước hỗ trợ dưới nhiều hình thức hợp lý. Đồng thời, cần có những biện pháp vừa thu hút nguồn tài chính từ các doanh nghiệp đầu tư nhưng kiểm soát được mục tiêu phát triển của các dự án và bảo đảm được sự minh bạch, bền vững trong quá trình đầu tư phát triển.

3.4. Đầu tư nguồn vốn văn hóa

Vốn văn hóa là khái niệm do Bourdieu đưa ra và được nhiều nhà nghiên cứu vận dụng vào nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực phát triển. Vốn văn hóa bao gồm các sản phẩm văn hóa được con người sản xuất ra là các hiện vật hay các giá trị tinh thần gắn với con người hoặc các thể chế liên quan, ràng buộc giữa con người với nhau nhưng có khả năng luân chuyển để tạo ra lợi ích. Hay nói cách khác, vốn văn hóa là các yếu tố văn hóa được con người vận dụng và luân chuyển vào quá trình phát triển để đem lại lợi ích, lợi nhuận. Miền núi Nghệ An có nguồn vốn văn hóa đa dạng, vừa có tính địa phương, vừa có tính tộc người, là nguồn lực quan trọng để phát triển nếu được đầu tư hợp lý. Đầu tư vào vốn văn hóa, trước hết là đầu tư để khôi phục và phát huy các yếu tố văn hóa cộng đồng, văn hóa tộc người đang sinh sống ở miền núi. Khi khôi phục được các yếu tố, các giá trị văn hóa truyền thống thì đó sẽ là nền tảng để phát triển du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng, thương mại hóa các sản phẩm thủ công nghiệp… Kinh nghiệm của một số nước cho thấy đầu tư vào vốn văn hóa, vào phát triển kinh tế di sản sẽ có hiệu quả cao hơn so với các hạng mục đầu tư khác nếu có cách làm hợp lý. Điều quan trọng là đầu tư vào vốn văn hóa cần phải lấy chủ thể làm trung tâm, tôn trọng sự khác biệt về giá trị văn hóa giữa các cộng đồng và tạo điều kiện để cho chính họ quyết định sự phát triển của họ trên nền tảng lựa chọn giá trị văn hóa.

3.5. Đầu tư nguồn vốn xã hội

Vốn xã hội là những mối liên kết, các mạng lưới xã hội, niềm tin, sự chia sẻ và tương tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa các cá nhân, các cộng đồng trong quá trình phát triển. Miền núi Nghệ An có nguồn vốn xã hội nội bộ, nội tại phong phú, đó là các quan hệ xã hội truyền thống, các thiết chế xã hội cùng sức liên kết cộng đồng chặt chẽ ở các tộc người. Tuy nhiên, vốn xã hội ngoại tại thì lại hạn chế. Quan hệ xã hội giữa các cộng đồng, các địa phương hạn chế do điều kiện đi lại khó khăn, quan hệ giao tiếp không được mở rộng. Đặc biệt, khi phát triển kinh tế thị trường thì vai trò của các quan hệ xã hội ngày càng quan trọng, chính là điểm yếu của các cộng đồng ở miền núi. Đầu tư vốn xã hội ở vùng miền núi chính là sự đầu tư để gây dựng các mạng lưới xã hội, giúp đỡ cho các cộng đồng tiếp cận được với thị trường, tiếp cận và tương tác với nhau trên cơ sở giữ được văn hóa truyền thống, không bị đánh mất mình. Thực tế, nhiều người dân bản địa đã nhận thức ra được sự quan trọng của việc đầu tư vào vốn xã hội, nhưng họ không tìm ra được cách để xây dựng các mối quan hệ xã hội, các mạng lưới xã hội nhằm đưa họ đến với thị trường, với cuộc sống hiện đại. Những dự án đầu tư phát triển cần phải quan tâm để khắc phục được vấn đề hạn chế này.

3.6. Đầu tư nguồn vốn con người

Vốn con người hay nguồn nhân lực ở miền núi hiện tại khá đa dạng từ người Kinh dưới xuôi lên và người dân bản địa sống lâu năm ở đó. Nhìn chung, trình độ nguồn nhân lực ở miền núi hiện nay còn thấp, nhất là khả năng tiếp cận thị trường, tiếp cận cuộc sống hiện đại. Đầu tư vốn con người là một sự đầu tư tổng hợp, khá toàn diện. Vừa phải đầu tư tài chính, cơ sở vật chất, vốn xã hội, vốn văn hóa cho họ. Sự đứt quãng giá trị giữa các thế hệ đang thể hiện rõ ràng ở các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, làm sao để gắn kết các thế hệ với nhau để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình phát triển lại là một bài toán khó. Con người ở miền núi Nghệ An chăm chỉ, cần cù lao động, yêu thiên nhiên và sống gần gũi, mến khách nhưng họ chưa được trải nghiệm trong đời sống thị trường nhiều. Chưa được thụ hưởng nền giáo dục hiện đại nên khó tiếp cận được nhịp phát triển của thời đại. Không chỉ vậy, giữa các cộng đồng cũng có những đặc trưng khác nhau, nên khi đầu tư phát triển nhân lực cũng cần tính đến sự đa dạng này.

4. Một vài gợi mở

Tóm lại, những phân tích về việc đầu tư phát triển miền núi Nghệ An qua khung phân tích các loại vốn trong mô hình sinh kế bền vững là một góc nhìn tổng quan. Có nhiều vấn đề cần đi vào chi tiết, cụ thể khi đưa ra những dự án phát triển cho từng cộng đồng, từng địa phương. Tuy nhiên, những phân tích này cũng cho chúng ta những gợi mở về việc đưa ra những quan điểm phát triển cũng như những nguyên tắc chính trong quá trình đầu tư phát triển. Đó là quan điểm phát triển để bảo tồn, để bảo vệ an ninh quốc gia, để bảo vệ cuộc sống người dân bản địa. Và khi xây dựng các dự án đầu tư phát triển phải xem xét tính năng bền vững của dự án, phải đặt lợi ích của người dân lên trên hết, và hướng đến sự phát triển bền vững.

Phân tích các loại vốn là để xem xét với từng dự án thì cần đầu tư vào loại vốn nào là trọng tâm, còn đầu tư vào loại vốn nào là mang tính hỗ trợ, bổ trợ cho việc đạt được mục tiêu trọng tâm. Sự phân tích các nguồn vốn cũng cho chúng ta một cái nhìn về phát triển lâu dài, không chạy theo lợi ích trước mắt, ngắn hạn. Tuy nhiên, dù sao, đây cũng là một phân tích mang tính lý thuyết với việc sử dụng một mô hình sinh kế và quan điểm phát triển. Dù có tích cực đến đâu thì nó cũng luôn mang những hạn chế khi tiếp cận, vận dụng vào các trường hợp cụ thể. Vậy nên, những phân tích này mang tính tham khảo, để nhìn nhận bao quát hơn, rộng lớn hơn khi thực hiện một dự án đầu tư.

 

Tài liệu tham khảo

1. Bourdieu, P. (1977): Cultural Reproduction and Social Reproduction, in J. Karabel and A. H. Halsey (eds) Power and Ideology in Education. New York, NY: Oxford University Press. Pp. 487-511.

2. Bourdieu, P. (1986): The Forms of Capital, in J. G. Richardson (ed.) Handbook of Theory and Research for the Sociology of Education. New York: Greenwood Press. Pp. 241-258.

3. DiMaggio, P. and Mohr, J. (1985): Cultural Capital, Educational Attainment and Marital Selection. American Journal of Sociology 90, 6, 1231-1261.

4. Goldthorpe, J. H. (2007): "Cultural Capital": Some Critical Observations. Acta Sociologica 50, 3, 211-229.

5. Hà Hữu Nga (2010a): "Phân tích các bên liên quan trong các dự án lớn và các chương trình trợ giúp phát triển". Tài liệu tập huấn cho dự án của Ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Hà Nội.

6. Hà Hữu Nga (2010b): "Tham vấn cộng đồng trong các dự án phát triển". Tài liệu tập huấn cho dự án của Ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Hà Nội.

7. Nguyễn Đình Lộc: "Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An". Nxb Nghệ An, 1993.

8. Nguyễn Văn Sửu (2015): "Khung sinh kế bền vững: một cách phân tích toàn diện về phát triển và giảm nghèo". In trong "Nhân học phát triển: lịch sử, lý thuyết và công cụ thực hành". Nxb Tri thức, Hà Nội, trang 15-33.

9.Neefies, Koos (2008): "Môi trường và sinh kế: các chiến lược phát triển bền vững". Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

LTS: Hội nghị gặp mặt các nhà đầu tư xuân hàng năm của Nghệ An được xem là sự kiện có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Qua 9 lần tổ chức Hội nghị đã có 32 dự án với tổng vốn đầu tư 29.462 tỷ đồng được cấp giấy chứng nhận đầu tư; 93 thỏa thuận đầu tư, với số vốn đăng ký 173.396 tỷ đồng, 12 thỏa thuận an sinh xã hội được trao với số tiền 241 tỷ đồng.

Hỗ trợ doanh nghiệp, các nhà đầu tư vào Nghệ An, tìm hiểu doanh nghiệp đầu tư có hiệu qủa hay không đã trở thành một nhiệm vụ chính trị hàng đầu luôn được cấp ủy chính quyền Nghệ An tập trung chỉ đạo. Với sự vào cuộc quyết liệt của Đảng, chính quyền các cấp, Nghệ An đã mở ra nhiều giải pháp nhằm thu hút đầu tư.

Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An lược đăng những ý kiến tâm huyết của các nhà lãnh đạo Trung ương, Nghệ An về những nỗ lực để đồng hành cùng doanh nghiệp nhằm tạo niềm tin, sự yên tâm cho các nhà đầu tư trong quá trình triển khai thực hiện dự án trên địa bàn.

*    *   *

Đồng chí Nguyễn Đắc Vinh - Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An:

Chính quyền nỗ lực xử lý các điểm nghẽn trong thu hút đầu tư

Trong giai đoạn từ  2009 - 2017, Nghệ An đã thu hút 980 dự án đầu tư với tổng số vốn 276.000 tỷ đồng, trong đó 927 dự án đầu tư trong nước với hơn 112.000 tỷ đồng và 53 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với hơn 163.000 tỷ đồng. Nhiều dự án đã đi vào hoạt động hiệu quả, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp lớn cho nguồn thu ngân sách của tỉnh. Năm 2017, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm GRDP đạt 8,25%, so với 6,1% của năm 2009. GRDP bình quân đầu người đạt 32 triệu đồng, so với 14 triệu đồng năm 2010. Thu ngân sách địa phương hơn 12.000 tỷ đồng, so với hơn 4.000 tỷ đồng năm 2010. Tổng số lao động được giải quyết việc làm trên toàn tỉnh đạt trên 37.000 người…

Những kết quả về tăng trưởng, phát triển doanh nghiệp, tăng thu hút đầu tư, tăng thu ngân sách của Nghệ An đã phần nào đánh giá sự nỗ lực của tỉnh trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, khuyến khích doanh nghiệp thời gian qua. Với tinh thần cầu thị Nghệ An vẫn mong muốn có cơ hội phát triển nhanh và bền vững hơn nữa. Để đạt được điều đó, chính quyền Nghệ An quyết tâm chung tay cùng các nhà đầu tư để biến khó khăn, thách thức thành cơ hội phát triển, thực hiện thành công các mục tiêu mà Nghị quyết TW 6 của Bộ Chính trị đề ra. Cụ thể: 

Thứ nhất, tìm giải pháp để xử lý các điểm nghẽn trong thu hút đầu tư vào Nghệ An hiện nay như: khả năng tiếp cận đất đai, vốn, phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ vận chuyển, tính minh bạch trong quy hoạch đầu tư.v.v...

Thứ hai, xử lý những vướng mắc cụ thể của các nhà đầu tư để giải quyết nhanh các vấn đề nhưng vẫn đảm bảo phù hợp quy định các bên, với mục tiêu tỉnh đồng hành cùng các nhà đầu tư để đẩy nhanh tiến độ.

Thứ ba, tập trung cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả đầu tư,... với phương châm "chính quyền đồng hành cùng doanh nghiệp, thành công của doanh nghiệp cũng là thành công của tỉnh", để Nghệ An trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.

 

Đồng chí Nguyễn Xuân Đường - Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An:

Nghệ An sẽ tập trung 6 nhóm giải pháp để đồng hành cùng doanh nghiệp

Thứ nhất, đổi mới lề lối, phong cách làm việc, làm sao để nâng cao ý thức, trách nhiệm, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ công chức đối với người dân và doanh nghiệp, thực hiện phương châm: chính quyền đồng hành cùng với doanh nghiệp thông qua việc tăng cường đối thoại; chúng tôi sẽ phân công từng đồng chí lãnh đạo tỉnh trực tiếp theo dõi, hỗ trợ, tháo gỡ vướng mắc cho từng dự án cụ thể.

Thứ hai, cải cách thủ tục và rút ngắn thời gian nộp thuế cho các doanh nghiệp đảm bảo trên 98% doanh nghiệp được kê khai và nộp thuế điện tử tối thiểu đạt được 95%.

Thứ ba, nỗ lực cắt giảm từ 30-50% thời gian giải quyết các thủ tục hành chính về đầu tư trong nước cũng như đầu tư có vốn nước ngoài so với mục tiêu đã đặt ra tại Nghị quyết 43 của Chính phủ: "Cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất với mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư và bảo đảm thi hành có hiệu quả Luật Đất đai; tạo môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi; cắt giảm ít nhất 40% thời gian thực hiện gắn với tiết kiệm tối đa chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cho các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế; nâng cao vị trí xếp hạng của Việt Nam về chỉ số thuận lợi kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia; thúc đẩy thu hút đầu tư, góp phần phòng chống tham nhũng và phát triển kinh tế - xã hội...".

Thứ tư, áp dụng chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư vào tỉnh theo nguyên tắc nhà đầu tư được hưởng lợi ở mức cao nhất và phần thực hiện nghĩa vụ ở mức thấp nhất trong khung quy định của pháp luật.

Thứ năm, mở thêm những trường đào tạo nguồn nhân lực, cụ thể những trường dạy nghề để phục vụ tốt nhất nhu cầu về nguồn nhân lực của các doanh nghiệp.

Thứ sáu, tập trung phát triển hạ tầng, các dịch vụ để phục vụ thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư, đặc biệt tỉnh cam kết chỉ đạo để hoàn thành việc giải phóng mặt bằng một cách khẩn trương theo tiến độ của nhà đầu tư yêu cầu.

 

Đồng chí Nguyễn Văn Độ - Giám đốc Sở Kế hoạch & Đầu tư Nghệ An:

Nghệ An cam kết các nhà đầu tư được hưởng chính sách ưu đãi cao nhất

Hiện nay, Nghệ An đang kêu gọi thu hút đầu tư tập trung vào các lĩnh vực thế mạnh của tỉnh như:

    Lĩnh vực công nghiệp, trong đó hướng tới công nghiệp xuất khẩu, công nghiệp sạch ứng dụng công nghệ cao; công nghiệp chế biến gắn với phát triển vùng nguyên liệu.

Lĩnh vực xây dựng các trung tâm thương mại quy mô lớn, có thương hiệu, ưu tiên các nhà đầu tư có hệ thống kinh doanh trong cả nước và quốc tế, chú trọng phát triển du lịch, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm.

Lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực, thu hút các dự án đầu tư xây dựng các trường đại học chất lượng cao, đặc biệt là trường đại học mang đẳng cấp quốc tế.

Lĩnh vực về nông nghiệp tập trung ưu tiên phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đặc biệt là ở vùng miền Tây Nghệ An...

Nghệ An luôn ưu tiên những nhà đầu tư chiến lược, đặc biệt là các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao; ưu tiên những nhà đầu tư truyền thống như: Nhật Bản, Hàn Quốc và mở rộng các nhà đầu tư tiềm năng như Singapore, Thái Lan,... Và Nghệ An cam kết các nhà đầu tư được hưởng chính sách ưu đãi cao nhất trong khung quy định của tỉnh và trung ương, ngoài ra có 12 địa phương trên địa bàn Nghệ An được áp dụng các điều kiện là địa bàn khó khăn được hưởng các chính sách đặc biệt. Đối với những dự án lớn, ngoài chính sách hỗ trợ của trung ương thì Nghệ An còn có chính sách hỗ trợ riêng như: hỗ trợ giải phóng mặt bằng; đào tạo lao động;...

 

PGS.TS Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam:

Nghệ An đang chuyển mình mạnh mẽ, sẵn sàng tiếp các nhà đầu tư  trên tinh thần cao nhất

Trong sự thay đổi, phát triển chung của cả nước, Nghệ An những năm gần đây đã có sự thay đổi mạnh mẽ. Tuy nhiên, sự thay đổi đó chưa đủ thay đổi căn bản cấu trúc phát triển.

    Có một câu được nói rất nhiều: Phấn đấu đưa Nghệ An trở thành tỉnh khá của Bắc Trung bộ. Nhưng, như thế nào là tỉnh khá? Khá như thế nào? Khá cái gì? Thì chưa thấy chỉ rõ. Nghĩa là không định hướng được mục tiêu, chiến lược cụ thể thì trở thành "tỉnh khá" là rất khó. Nghệ An cần xác định được đâu là thế mạnh của mình: Loại hình công nghiệp gì? Nông nghiệp ra sao? Du lịch Nghệ An có gì đặc biệt?... Phải làm rõ những thế mạnh đó thì mới biết nên đầu tư vào đâu ở Nghệ An. Ví dụ: Nghệ An có thế mạnh về nguồn nhân lực, chúng ta có thể đầu tư vào các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu phát triển,... để xây dựng một đô thị vượt trội về chức năng đổi mới sáng tạo.

Điều quan trọng nữa là Nghệ An cần cải cách thể chế. Trong những năm qua, chính quyền Nghệ An đã có nhiều cải cách nhưng chưa đủ nhanh, chưa đủ mạnh, chưa thoát khỏi cơ chế xin - cho. Cho nên Nghệ An cần cải cách thể chế theo tinh thần đột phá để có thể chế vượt trội.

Một hạn chế nữa của Nghệ An cần khắc phục đó là lực lượng doanh nghiệp Nghệ An còn yếu về ngoại ngữ và trình độ công nghệ thông tin. Nếu hợp tác mà doanh nghiệp bên trong yếu thì sản xuất sẽ lỗ, khiến doanh nghiệp ngoài đầu tư vào rất ngại hợp tác. Tỉnh cần có quyết sách trong phát triển phát triển doanh nghiệp của tỉnh, kéo họ vào thành lực lượng của mình để thu hút các doanh nghiệp bên ngoài. 

Nghệ An đang từng bước khắc phục những hạn chế đó, chuyển mình mạnh mẽ, sẵn sàng tiếp các nhà đầu tư trên tinh thần cao nhất.

 

Đồng chí Lê Văn Hải - Phó Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền Hỗ trợ người nộp thuế, Tổng Cục thuế:

Tỉnh Nghệ An có nhiều chính sách ưu đãi về thuế cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Từ năm 2017, dưới sự chỉ đạo quyết liệt của chính phủ trong cải cách hành chính, ngành thuế cũng đã nỗ lực không ngừng để cải cách hành chính, các thủ tục hành chính như kê khai thuế, hải quan đều có những chuyển biến tích cực.

Ở Nghệ An, ngoài những chính sách ưu đãi chung của Tổng Cục thuế, còn có những ưu đãi riêng về: thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân, ưu đãi tín dụng,... Riêng với các nhà đầu tư có các loại thuế được ưu đãi:

Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp: Đối với các doanh nghiệp đầu tư xây dựng các cụm, khu công nghiệp, trong 4 năm đầu được miễn hoàn toàn thuế thu nhập doanh nghiệp, những năm tiếp theo được giảm 50% thuế, trong 15 năm sau đó chỉ phải nộp 10% (ở Mỹ, doanh nghiệp phải nộp 35%). Đây là chính sách thuế ưu đãi đặc biệt mà các doanh nghiệp đầu tư nên quan tâm.

Ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân: Đối với những cá nhân, kể cả người Việt Nam hay người nước ngoài làm việc tại các khu kinh tế ở Nghệ An đều được giảm 50% thuế thu nhập cá nhân. Đây là chính sách ưu đãi thuế mang tính nhân văn mà chỉ có ở Nghệ An.

Ngoài những ưu đãi về thuế, Nghệ An còn có nhiều chính sách ưu đãi khác về đất đai, giải phóng mặt bằng, cơ sở vật chất,... Như vậy để thấy Nghệ An có lòng hiếu khách như thế nào, với các chính sách ưu đãi đó các doanh nghiệp có thể yên tâm đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh tại Nghệ An.

 

Đồng chí Đỗ Nhất Hoàng - Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch & Đầu tư:

Nghệ An hội tụ đầy đủ yếu tố: Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa

Về thiên thời, theo lộ trình đàm phán thì đến 2020 Việt Nam sẽ là một trong 55 nền kinh tế song phương và đa phương với ưu đãi đặc biệt. Xu thế của khu vực, thế giới đang rất có lợi cho tỉnh Nghệ An để thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, chúng ta có sự quyết liệt từ cấp cao đến các cấp địa phương khi chính phủ đưa ra thông điệp: chính phủ đồng hành hỗ trợ doanh nghiệp, chính phủ kiến tạo, và thông điệp đó đã thực sự đi vào từng cấp chính quyền. Nghệ An đang là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tuy nhiên chúng ta phải biết biến tiềm năng, thế mạnh thành hiện thực có như; vậy mới thành công, mới mang lại hiệu quả.

Địa lợi, ở Việt Nam, thu hút đầu tư vào các tỉnh thành như: Phía Bắc có Thái Nguyên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Phòng; Phía Nam là Bình Dương, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh gần như đã bão hòa; miền Trung như Đà Nẵng thì chủ yếu là làm du lịch. Vì thế, để lựa chọn đầu tư công nghệ cao, các nhà đầu tư đã chú ý đến Nghệ An, một mảnh đất màu mỡ nhưng hầu như còn "nguyên sơ". Ví dụ như: Tập đoàn Hemaraj của Thái Lan khi lần vào Việt Nam đã nghiên cứu Hải Phòng nhưng cuối cùng họ quyết định đầu tư vào Nghệ An; VSIP cũng chọn Nghệ An và nhiều nhà đầu tư đã nghiên cứu và chọn Nghệ An.

Nhân hòa, người Nghệ rất giỏi, tài ba, nhiệt tình, bám đuổi công việc; nhiều người con Nghệ An đã đi ra và quay trở về đóng góp cho tỉnh nhà như: Bà Thái Hương của Tập đoàn TH, ông Lê Thanh Thản của Mường Thanh,...

Với nhưng ưu thế về Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa, việc đầu tư vào Nghệ An là lựa chọn sáng suốt của các nhà đầu tư. 

 

Đồng chí Trương Đình Tuyển -Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại:

Nghệ An là điểm đến lý tưởng cho các nhà đầu tư

So với các tỉnh thành trong cả nước, với tôi, Nghệ An là điểm đến lý tưởng cho các nhà đầu tư, với những lý do sau đây:

Thứ nhất, Nghệ An đất rộng người đông, với diện tích 16.500 km2, dân số hơn 3 triệu người.

Thứ hai, Nghệ An là tỉnh có kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ bao gồm 2 tuyến đường xuyên Bắc - Nam, đó là đường Quốc lộ 1 và đường mòn Hồ Chí Minh. Đặc biệt là đường cao tốc từ Hà Nội đi Viêng Chăn qua cửa khẩu Thanh Thủy - Nghệ An, đây sẽ là con đường xuyên Á nối Lào - Thái Lan - Mianma... Như vậy, cơ sở hạ tầng của Nghệ An khá đồng bộ.

Thứ ba, Nghệ An có truyền thống hiếu học, luôn là tốp đầu trong cả nước về học sinh tốt nghiệp PTTH có điểm cao, vì thế có nguồn nhân lực chất lượng cao. Đấy là những yếu tố thuận lợi cho các nhà đầu tư khi về với Nghệ An.

Vấn đề đặt ra Nghệ An làm thế nào để khai thác tối đa các thế mạnh đó của mình. Để thực hiện điều đó, chính quyền các cấp ở Nghệ An quyết tâm hơn nữa, quyết liệt hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa, không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hơn nữa, đặc biệt là cải thiện mạnh mẽ hơn nữa môi trường đầu tư kinh doanh. Với sự nỗ lực của chính quyền các cấp ở Nghệ An, sự đồng hành của các nhà đầu tư, chắc chắn Nghệ An sẽ thành công.

 

Đồng chí Đậu Anh Tuấn -Trưởng ban pháp chế VCCI:

Nghệ An được đánh giá tốt về nhóm thủ tục đầu vào

Theo số liệu điều tra VCCI thì Nghệ An đang được đánh giá tốt về nhóm thủ tục đầu vào, trong nhóm 10 thành phần thì thành phần gia nhập thị trường Nghệ An đạt 8/10; tuy nhiên nhóm thủ tục hành chính sau khi đã nhận dự án thì Nghệ An không cao, thậm chí thấp nhất trong các tỉnh duyên hải miền Trung. Do đó, trọng tâm trong cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An nên tập trung vào khâu hậu đăng ký xúc tiến đầu tư, nhất là ở các cấp sở, ngành, địa phương nhằm nâng cao hơn nữa văn hóa đồng hành cùng doanh nghiệp. Việc này không thể làm trong ngày một ngày hai, Nghệ An trong thời gian gần đây cũng đã có những chuyển biến tích cực trong vấn đề này, hi vọng trong thời gian tới Nghệ An chuyển mình mạnh mẽ, quyết liệt hơn nữa. 

Một vấn đề nữa, ngoài việc tăng cường thu hút đầu tư, mời gọi những nhà đầu tư mới, thì tỉnh cũng nên chăm lo đến các doanh nghiệp đã và đang hoạt động trên địa bàn, những doanh nghiệp đã gắn bó tương lai của mình ở đây. Đó mới là cách xúc tiến bền vững.

          Chỉ số xuất khẩu năm vừa qua của Nghệ An là 682 triệu USD, tuy tăng 20% so với những năm trước nhưng thấp hơn bình quân chung của cả nước, và chỉ chiếm 0,32% so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước; đồng thời tỷ lệ di dân của Nghệ An cũng rất cao. Tín hiệu đó cho thấy bên cạnh việc đẩy mạnh thu hút những dự án chiến lược có thể thay đổi cơ cấu, thay đổi  bộ mặt của Nghệ An thì tỉnh cần phát triển doanh nghiệp tư nhân cả chính thức và không chính thức năng động bền vững hơn nữa. Hai bước đi đó cần phải song hành với nhau.

*  *  *

"Tôi nghĩ rằng với cải cách đổi mới mạnh mẽ này, tương lai không xa, chúng ta sẽ được xem không chỉ là "Khát vọng sông Lam" mà là một kỳ tích mới, đó là "Kỳ tích sông Lam" của Nghệ An" (Trích phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị Gặp mặt các nhà đầu tư Xuân Mậu Tuất 2018). Để biến "khát vọng" thành "kỳ tích" như lời Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nói, Nghệ An cần nỗ lực bằng những việc làm và hành động cụ thể, tận dụng triệt để cơ hội, vững vàng vượt qua thách thức, phát huy tối đa những tiềm năng, thế mạnh, phấn đấu trở thành "Trung tâm kinh tế - văn hóa vùng Bắc Trung bộ" trong Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị đã nêu.  

TÒA SOẠN

 

 

                                                                   PHẠM MAI CHIÊN*

                                                      

Xứ Nghệ, trong đó có Nghệ An là vùng văn hóa giàu bản sắc, có nhiều thần tích và các lễ hội đặc trưng. Tiếp cận từ phương diện sinh thái học văn hóa chúng tôi làm rõ mối quan hệ giữa các lễ hội truyền thống ở Nghệ An với môi trường sinh thái nhân văn. Cụ thể là nghiên cứu hai vấn đề chính, thứ nhất xác định các mô thức ứng xử văn hóa của con người liên quan đến việc sử dụng môi trường sinh thái tinh thần thông qua lễ hội ở Nghệ An, thứ hai đánh giá sức tác động của những mô thức ứng xử văn hóa lễ hội truyền thống ở Nghệ An đối với các bình diện khác của văn hóa.

 

Theo thống kê của website: http//ditichlichsuvanhoa.com, ở Nghệ An có 18 lễ hội truyền thống tiêu biểu và 01 lễ hội có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, cụ thể như sau: Lễ hội đền Bạch Mã, Lễ hội đền Đức Hoàng, Lễ hội Cầu Ngư, Hội đình Thanh Đàm, Lễ hội đền Chín Gian, Lễ Pa Sưm, Lễ hội Hang Bua, Lễ hội đền Quả Sơn, Lễ hội đền Cờn, Lễ hội đền thờ Cương quốc Công Nguyễn Xí, Lễ hội đền thờ Vạn Lộc, Lễ hội đền Vua Mai, Lễ hội đền Cuông. Đây là những lễ hội gắn với nghi thức thờ cúng, tín ngưỡng dân gian. Ngoài ra, có các lễ hội khác như  Lễ hội vật cù ở Thanh Chương  gắn với hoạt động chủ yếu là thi đấu vật. Riêng Lễ hội Du lịch Cửa Lò là sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại mở đầu cho mùa du lịch tại vùng biển Cửa Lò, có tính chất là festival cho mùa du lịch biển. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ nghiên cứu các lễ hội truyền thống Nghệ An.

Bàn về sinh thái học văn hóa, trong công trình Lý thuyết về biến đổi văn hóa - Phương pháp luận về tiến hóa đa hệ (Theory of Cuture Change - The Methodology of Multilinear Evolution) của Steward, ông cho rằng: phương pháp của sinh thái học văn hóa hướng đến việc làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường từ quan điểm coi con người là thể tồn tại thích ứng với môi trường thông qua văn hóa, đến lượt mình, văn hóa chịu ảnh tác động lớn của các loại tài nguyên môi trường do con người sử dụng [9]. Trong bài viết này, từ góc nhìn sinh thái học văn hóa chúng tôi làm rõ mối quan hệ giữa các lễ hội truyền thống ở Nghệ An với môi trường sinh thái nhân văn. Cụ thể là nghiên cứu hai vấn đề chính, thứ nhất xác định các mô thức ứng xử văn hóa của con người với lễ hội truyền thống ở Nghệ An, thứ hai đánh giá sức tác động của những mô thức ứng xử văn hóa đối với các bình diện khác (đặc trưng, giá trị) của các lễ hội ở Nghệ An.

                Các mô thức ứng xử văn hóa trong lễ hội truyền thống ở Nghệ An. Trong lễ hội truyền thống ở Nghệ An thường gắn với việc thờ thần, các bậc tiên hiền có công với dân; chủ thể của lễ hội là cộng đồng dân cư làng xã; lễ hội truyền thống  là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi, sân khấu…), các cuộc thi tài, vui chơi, giải trí, ẩm thực, mua bán… Từ đó chúng ta xác định có ba mô thức cơ bản ứng xử văn hóa của con người trong lễ hội truyền thống, gồm: Mô thức ứng xử tôn kính thành tâm đối với các bậc tiên hiền, mô thức ứng xử cộng đồng tâm thế tập thể, mô thức ứng xử tôn trọng sự đa dạng về thị hiếu thẩm mỹ.

* Mô thức ứng xử tôn kính thành tâm đối với các bậc tiên hiền, các vị thần, những người anh hùng có công với nước đã hóa thánh, trở thành thần linh bất tử trong tâm thức người dân xứ Nghệ. Các lễ hội truyền thống ở Nghệ An luôn gắn với việc thờ cúng một vị thần như vậy, cụ thể Lễ hội đền Bạch Mã (anh hùng Phan Đà), Lễ hội đền Đức Hoàng (Hoàng Tá Thốn), Hội Đình Thanh Đàm (suy tôn Thủy thần), Lễ hội đền Chín Gian (thờ Thẻn Phà - trời, Náng Xỉ Đả - Con gái trời) và Tạo Ló Ỳ), Lễ Pa Sưm (lễ cầu khấn trời đất, tổ tiên và các thần linh cho nương rẫy được bội thu), Lễ hội Hang Bua (thờ mẹ nước của người Thái cổ), Lễ hội đền Quả Sơn (thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang), Lễ hội đền Cờn (đức Thánh Mẫu, tứ vị Thánh Nương), Lễ hội đền thờ Cương Quốc Công Nguyễn Xí (Thái sư Cương Quốc Công Nguyễn Xí), Lễ hội đền thờ Vạn Lộc (Thái úy Quận công Nguyễn Sư Hồi - Con trai Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí), Lễ hội đền Vua Mai (tưởng nhớ công tích của Mai Thúc Loan), Lễ hội đền Cuông (An Dương Vương, công chúa Mỵ Châu).

Qua các lễ hội truyền thống, nhân dân bày tỏ niềm tin với các vị thần trong tự nhiên như Lễ Pa Sưm, là một lễ trong hệ thống các lễ tục nông nghiệp của người Khơ Mú. Nó phản ánh niềm tin của đồng bào vào thiên nhiên (trời, đất, nương rẫy…) có linh hồn, phản ánh ước muốn của họ về mùa màng bội thu, cuộc sống đầy đủ [7]. Đối với các bậc tiên hiền người dân bày tỏ sự thành kính, ghi nhớ công lao to lớn của họ đối với việc giúp dân trị vì đất nước. Các lễ hội truyền thống Nghệ An đều có mô thức ứng xử này, sau đây là một số trích dẫn tiêu biểu: "Lễ hội đền Chín Gian và nghi lễ chém trâu đã góp phần khơi dậy truyền thống tốt đẹp "uống nước nhớ nguồn" biết ơn những người có công dựng bản, lập mường; đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào dân tộc Thái vùng Tây Bắc Nghệ An" [7]; "Thông qua lễ hội (Đền Vua Mai - PMC), các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh thiếu niên sẽ hiểu rõ được cội nguồn của dân tộc, công lao đức độ của Vua Mai cùng các tướng lĩnh của ông. Các giá trị truyền thống như yêu nước, đoàn kết cộng đồng, hiếu học đã được nhắc lại và trao quyền cho các thế hệ trẻ. Mặt khác lễ hội góp phần giúp mọi người tìm hiểu, thưởng ngoạn các giá trị văn hóa thông qua các di tích đền thờ, lễ hội Vua Mai, phát huy văn hóa truyền thống và phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc ta" [7]. "Lễ hội đền Quả Sơn là lễ hội dân gian đặc sắc, hấp dẫn và mang nhiều ý nghĩa nhân văn, thể hiện tinh thần đạo lý truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", làm sống động tinh thần thượng võ cùng những thuần phong mỹ tục của nền văn hoá dân gian"[7].

Cội nguồn của mô thức ứng xử tôn kính xuất phát từ đặc trưng lễ hội mang tính thiêng, do vậy mô thức ứng xử tôn kính thành tâm gắn liền với các tín ngưỡng và thủ tục lễ nghi trong lễ hội, đặc biệt là phần lễ rất trọng thị như: lễ khai quang, lễ yết cáo, lễ rước, lễ tế thần, lễ tạ và lễ hoa đăng…

* Mô thức ứng xử cộng đồng tâm thế tập thể. Xuất phát từ đặc trưng của lễ hội mang tính cộng đồng, chủ thể của lễ hội truyền thống là cộng đồng "đó là cộng đồng làng, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng thị dân và lớn hơn cả là cộng đồng quốc gia dân tộc. Nói cách khác không có lễ hội nào lại không thuộc về một dạng cộng đồng, của một cộng đồng nhất định. Cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội."[10]. Chủ thể của lễ hội truyền thống ở Nghệ An là cộng đồng dân cư trong một dòng họ (Lễ hội đền Nguyễn Xí là một lễ hội dòng họ gắn với quần thể di tích, thể hiện rất rõ sự gắn kết giữa văn hoá dòng họ và văn hoá làng xã), cộng đồng trong vùng (hội vật cù là một sinh hoạt mang tính hội lễ đậm nét dân gian được mọi người ưa thích và phổ biến, đi vào đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào vùng Thanh Chương, Đô Lương, Nam Đàn, mà sôi nổi, náo nhiệt hơn cả là ở những vùng dọc hai bờ sông Giăng (một nhánh của sông Lam) - Thanh Chương, nơi được xem là xuất xứ của trò chơi này), Cộng đồng cư dân miền núi (hội Hang Bua ở bản Na Nhàng, xã Châu Tiến, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An), cư dân miền biển (Lễ hội Cầu Ngư của ngư dân vùng biển Quỳnh Lưu)…

Mô thức ứng xử văn hóa này xác đinh cộng đồng dân cư là tập thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội. Tham gia lễ hội cộng đồng cư dân bày tỏ tinh thần đoàn kết, hòa hợp, thân thiện trong các mặt thân tâm ý của chủ thể lễ hội.

* Mô thức ứng xử tôn trọng sự đa dạng về thị hiếu thẩm mỹ. Đó là sự tôn trọng sự khác biệt các sở thích, lòng yêu thích đối với việc tạo tác và thụ hưởng nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật. Tính nguyên hợp trong lễ hội là cơ sở của mô hình ứng xử văn hóa này "Lễ hội cổ truyền là một sinh hoạt văn hóa mang tính hệ thống tính phức hợp, một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm gần như tất cả các phương diện khác nhau của đời sống xã hội của con người: sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi, sân khấu…), các cuộc thi tài, vui chơi, giải trí, ẩm thực, mua bán… Không có một sinh hoạt văn hóa truyền thống nào của nước ta lại có thể sánh được với lễ hội cổ truyền, trong đó chứa đựng đặc tính vừa đa dạng vừa nguyên hợp này" [10].

Chúng ta hãy nhìn những miêu tả dưới đây về cấu trúc lễ hội truyền thống tiêu biểu sẽ thấy được sự đa dạng các hình thức nghi lễ và các sinh hoạt văn hóa cộng đồng: (Lễ hội đền Đức Hoàng gồm hai phần: Phần lễ được tổ chức với các nội dung: lễ khai quang, lễ yết cáo, lễ rước, lễ tế thần, lễ tạ và lễ hoa đăng (lễ cáo từ). Phần hội nhiều hoạt động phong phú gồm: biểu diễn văn nghệ quần chúng, thi đấu bóng chuyền nam, nữ, đấu vật tự do toàn huyện, thi người đẹp đền Hoàng; các trò chơi dân gian như kéo co, đánh đu, chọi gà, đua thuyền, nấu cơm, bắt cá; các trò chơi hiện đại như mô tô bay, điện tử, xe điện dụng, nhà hơi siêu nhân, xe tàu điện cùng nhiều hoạt động khác [7].

Lễ hội Vua Mai gồm phần lễ: diễn ra trong 3 ngày. Ngày 13/1: Lễ khai quang tại mộ, đền thờ và mộ thân mẫu Vua Mai. Ngày 14/1: Lễ yết cáo tại khu mộ, đền thờ và mộ thân mẫu Vua Mai. Ngày 15/1: Đại tế. Buổi sáng: Các làng trong vùng rước kiệu về đền Vua Mai để hội tế theo nghi lễ của triều đình. Buổi chiều: Lễ dâng hương tại mộ và lễ tạ tại đền. Phần hội: Diễn ra trong 3 ngày từ 14, 15, 16 tháng 1 âm lịch. Các trò chơi dân gian xưa: Đấu vật, đua thuyền, hát văn, hát đối, hát ví, đánh đu, leo cột mỡ, đi cà kheo, cướp cờ, đánh cờ… trong đó đua thuyền là vui vẻ và độc đáo nhất còn các trò chơi như đấu vật, hát đối, đánh đu là kéo dài ngày nhất. Hiện nay, ngoài các trò chơi dân gian còn có các hoạt động văn hoá, văn nghệ - thể thao khác như: múa, hát, chiếu phim, triển lãm các chuyên đề lưu động, bóng đá, bóng chuyền; tổ chức tham quan các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh ở quanh khu vực lễ hội như Di tích Kim Liên, di tích tưởng niệm cụ Phan Bội Châu, mộ đồng chí Lê Hồng Phong, khe Bò Đái, bến Sa Nam…[7].

Lễ hội đền Quả Sơn gồm 2 phần lễ và hội. Phần lễ: Ngày 19 làm lễ yết cáo. Ngày 20 là chính hội, buổi sáng làm lễ rước thần từ đền Quả đến đền Bà Bụt, buổi chiều có lễ tạ ơn Bà Bụt. Ngày 21, buổi sáng làm lễ rước xuôi từ chùa Bà Bụt về đền, buổi chiều có lễ yên vị. Phần hội: Diễn ra từ sáng ngày 20 đến chiều ngày 21 tháng giêng âm lịch. Các trò chơi dân gian: Đánh đu tiên, chọi gà, cờ thẻ, cờ người, đấu vật, múa võ, đặc sắc nhất là đua thuyền bơi chải xuôi ngược dòng Lam, hát chầu văn, ca trù, diễn các tích chèo, tuồng cổ… Ngày nay, ngoài các trò chơi dân gian và nghệ thuật dân tộc, còn tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao như: Biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, cắm trại, triển lãm, trưng bày bán các loại ấn phẩm văn hoá, tổ chức thi đấu bóng đá, bóng chuyền, đi tham quan các di tích danh thắng trong vùng [7].

Lễ hội đền Bạch Mã gồm 2 phần: Phần lễ bao gồm: Lễ Dâng hương tại phần mộ Phan Đà, tại Phủ Ngoại; Lễ rước từ đền Bạch Mã; Lễ yết cáo; Lễ tế thần; Lễ tạ. Phần hội: Tổ chức hoạt động văn nghệ, sinh hoạt thơ, bình thơ; tổ chức thi văn nghệ quần chúng và thi người đẹp. Ngoài ra tổ chức các giải thể thao và trò chơi dân gian như: bóng chuyền thanh niên khối trung học phổ thông, vật cù, cờ thẻ, kéo co nữ, chọi gà… [7].

Sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật trong lễ hội truyền thống là biểu hiện của sự phong phú, tính đa dùng, tính nguyên hợp trong sáng tạo và thụ hưởng văn hóa của nhiều tầng lớp nhân dân tham gia lễ hội, qua đó xây dựng được mô thức ứng xử tôn trọng sự đa dạng về thị hiếu thẩm mỹ.

Đánh giá tác động của những mô thức ứng xử văn hóa đối với đặc trưng lễ hội truyền thống ở Nghệ An. Nhìn từ phương diện văn hóa, lễ hội truyền thống ở Nghệ An gồm những đặc trưng cơ bản là tính thiêng, tính cộng đồng và tính nguyên hợp, cấu trúc sinh thái văn hóa của lễ hội truyền thống gồm chủ thể lễ hội (người sáng tạo và tham gia thụ hưởng văn hóa lễ hội), tín ngưỡng, thủ tục thờ cúng lễ hội truyền thống, các loại hình văn hóa nghệ thuật trong lễ hội truyền thống Tác động của các mô thức ứng xử văn hóa đối với đặc trưng lễ hội truyền thống Nghệ An, kết quả có hai khuynh hướng: thứ nhất bảo tồn môi trường sinh thái nhân văn trong lễ hội; thứ hai tàn hại môi trường sinh thái nhân văn (lệch chuẩn về mô thức ứng xử văn hóa, kích hoạt các chi tiết phản văn hóa, tham tiếc mưu cầu lợi ích tâm tinh).

Cấu trúc sinh thái văn hóa lễ hội truyền thống Nghệ An

 

 

Trước hết, vấn đề bảo tồn môi trường sinh thái nhân văn trong lễ hội. Mô thức ứng xử tôn kính với các bậc tiên hiền, thần thánh tác động đến tính thiêng của lễ hội truyền thống trong thực tiễn chúng tôi khảo sát như sau: 18/18 lễ hội truyền thống có thần tích, có nghi lễ thờ cúng thần linh, quy trình tổ chức lễ bái bài bản, cấu trúc lễ hội thống nhất; lễ hội đã tạo nên được hiệu ứng ngưỡng vọng thiêng liêng của con người đối với thế giới tâm linh trở thành tín ngưỡng, nét văn hóa đẹp để hình thành đạo đức, nhân cách và truyền thống tốt đẹp của vùng, miền, làng xã, dòng họ ở Nghệ An. Mô thức ứng xử cộng đồng tâm thế tập thể tác động đến tinh thần đoàn kết, thân thiện, các lễ hội truyền thống được cộng đồng duy trì tổ chức không ngừng phục dựng bảo vệ, lễ hội thu hút được số đông người dân tham gia, tạo thiết được tâm thế tin tưởng với các vị tiên hiền là yếu tố mang tính phổ biến trong tâm thức cộng đồng. Mô thức ứng xử tôn trọng sự đa dạng trong thị hiếu thẩm mỹ tác động đến tính nguyên hợp của lễ hội. Bảo tồn sự đa dạng các tín ngưỡng, loại hình văn hóa nghệ thuật, tác dụng đa dùng của lễ hội.

Mặt khác, ứng xử văn hóa lễ hội truyền thống còn có tác động tiêu cực tàn hại môi trường sinh thái nhân văn đó là những biểu hiện sự lệch chuẩn về mô thức ứng xử văn hóa. Ứng xử tôn kính đối với các bậc tiên hiền có biểu hiện lệch chuẩn khác đó là mê tín dị đoan, sùng bái thần linh, điều này tác động tiêu cực đến đặc trưng quan trọng tính thiêng trong lễ hội, phương hại rất lớn đến mĩ cảm và tác động xấu đến hành vi bày tỏ lòng thành kính tri ấn của người tham gia lễ hội. Mô thức ứng xử cộng đồng khi biến tướng thành tâm lí số đông đua chen, giẫm đạp, xô đẩy, mất tính mỹ quan trong các lễ hội. Mô thức ứng xử tôn trọng sự đa dạng về thị hiếu thẩm mỹ có biểu hiện ngược chiều là sự lai tạp các tín ngưỡng, thiếu thuần nhất; sự trùng lặp các loại hình nghệ thuật ở các lễ hội, dẫn đến lễ hội nào cũng giống nhau, thiếu nét bản sắc riêng có, các trò chơi có yếu tố cá cược, cờ bạc, thương mại hóa... Lễ hội truyền thống ngoài việc di dưỡng tâm hồn và giáo dục đạo đức, còn là không gian thuận lợi cho việc kích hoạt các chi tiết phản văn hóa như hiện tượng cướp lộc, xin ấn, giết hại súc vật… Người tham dự lễ hội có tâm lý tham tiếc mưu cầu lợi ích tâm tinh, do vậy các dịch vụ cúng bái, bán hàng mã, đồ lễ, cầu cúng lãng phí phát triển quanh các đền chùa miếu.

Như vậy sự cân bằng sinh thái tinh thần trong các lễ hội truyền thống Nghệ An cần phải đặt ra, theo triết học phương Đông chúng ta nên đem đến mùa hội một chữ "hòa" trong ứng xử văn hóa của chủ thể lễ hội và cho đời sống tín ngưỡng hiện nay.

                                                                                        

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Nguyễn Đăng Điệp, Thơ mới từ góc nhìn sinh thái học văn hóa, vannghequandoi.com.vn

2.     Mai Văn Hai - Mai Kiệm, Các hướng tiếp cận trong nghiên cứu xã hội học văn hóa, http.vhna.com.vn

3.     Đỗ Đức Hiểu, Văn học sinh thái và lí luận phê bình sinh thái, dovanhieu.wordpress.com.

4.     Nguyễn Thanh Tuấn, Văn hóa bản địa Việt Nam - khuynh hướng phát triển hiện đại, 2012, NXB Văn hóa Thông tin & Viện Văn hóa.

5.     Phan Đăng Nhật, Văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số - những giá trị đặc sắc (tập 2 Văn học), 2010, NXB Đại học Quốc gia.

6.     Vũ Nho,Nâng cao nhận thức, văn hóa ứng xử của giới trẻ về lễ hội, baomoi.com

7.     Nghệ An - Văn hóa, lễ hội, http://ditichlichsuvanhoa.com

8.     Trần đình Sử, Phê bình sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học hiện nay, trandinhsu.wordpress.com

9.     Julian Haynes Steward (1902 - 1972), http://nhanhoc.hcmussh.edu.vn

 Lễ hội truyền thống trong đời sống của người Việt, http://



* Tiến sĩ

TS. Vi Văn An

 

1. Đặt vấn đề

Cho đến nay, vùng người Thái miền Tây Thanh - Nghệ hiện diện 2 ngôi đền Chín Gian: 1 ngôi đền Chín Gian tại huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An (thuộc Mường Noọc, Phủ Quỳ xưa) và 1 ngôi đền Chín Gian tại huyện Như Xuân (thuộc Mường Chiềng Ván, Châu Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Trong 2 ngôi đền Chín Gian ấy, thì ngôi đền Chín Gian ở Quế Phong, Nghệ An đã được các nhà dân tộc học tìm hiểu, nghiên cứu (kể cả các nhà báo) và công bố khá nhiều, nhất là sau khi phục dựng và tổ chức lễ hội lần đầu vào năm 2006. Trái lại, ngôi đền Chín Gian ở Như Xuân, Thanh Hóa thì dường như giới nghiên cứu dân tộc học mới chỉ biết đến vài năm gần đây, nhất là từ khi phục dựng và khánh thành năm 2016.

Có một câu hỏi đặt ra là: Tại sao cùng có chung đối tượng thờ cúng - Then Phạ và Tạo Lo Ỳ - người khai sơn phá thạch, lập bản, dựng mường; với mục đích tạ ơn trời đất, công lao các bậc tiền bối và cầu mong sức khỏe cho bản trên mường dưới để người yên, vật thịnh, mùa vụ bội thu..., song đền Chín Gian ở Quế Phong lại được nhiều người biết đến hơn đền Chín Gian ở Như Xuân? Thêm vào đó, truyền thuyết, truyện kể và ký ức của người Thái nơi đây (nhất là lớp người già) về ngôi đền Chín Gian ở Quế Phong cũng cụ thể và đầy đủ hơn? Một số tài liệu ghi chép về lịch sử của ngôi đền này cũng tương đối rõ ràng hơn. Trong khi đó, truyền thuyết, truyện kể về lịch sử của ngôi đền Chín Gian ở Như Xuân thì khá khiêm tốn, ít ỏi. Các tư liệu, tài liệu ghi chép về nguồn gốc ngôi đền này hầu như không còn gì hoặc rất tản mạn. Ký ức của người Thái trong vùng (6 Thanh) về ngôi đền cũng khá mờ nhạt?

Trước khi có điều kiện tiến hành một cuộc khảo sát, điền dã có sự chuẩn bị kỹ càng để thu thập thêm tư liệu và tài liệu liên quan, bài viết của tôi mong muốn góp thêm đôi điều hiểu biết và một số vấn đề đặt ra để cùng trao đổi. Đây chỉ là ý kiến riêng của tôi, dựa trên các tư liệu, tài liệu về mối quan hệ nguồn gốc lịch sử cũng như những nét tương đồng về văn hóa giữa người Thái Thanh Hóa nói chung, bộ phận Thái ở Như Xuân (và cả Thường Xuân) nói riêng với người Thái miền Tây Nghệ An, trong đó có người Thái ở Mường Noọc, Quế Phong.

2. Thông tin chính liên quan đến 2 ngôi đền Chín Gian

2.1. Ngôi đền Chín Gian ở huyện Quế Phong

Theo các nguồn sử liệu và các kết quả nghiên cứu đã được công bố, đền Chín Gian (Tên càu hoòng) ở Quế Phong hiện nay được xây dựng từ thế kỷ XIV (thời gian Cầm Cần, Cầm Lạn làm Tạo mường của Mường Noọc). Lúc đầu, Đền được xây dựng trên núi Pu Chà Nhàng, nên còn gọi là Tên Pom (đền trên núi), thuộc bản Khoẳng, xã Châu Kim, huyện Quế Phong (thuộc Mường Tôn). Đền gồm 9 gian, là nơi thờ cúng Trời (Then Phạ), Nàng Xi Đa và Tạo Lo Ỳ - người có công lập bản dựng Mường đầu tiên (lúc đầu là Mường Tôn) của người Thái ở Tây Bắc Nghệ An. Sau này, một chi của dòng họ Lò Căm tách ra, thành lập mường mới bên cạnh Mường Tôn gọi là Mường Noọc (Mường ngoài của Mường Tôn/ Mường gốc). Do thế lực Mường Noọc ngày càng hưng thịnh, nên về sau Mường Noọc trở thành trung tâm châu mường, quy tụ tất cả 8 mường trong toàn vùng Phủ Quỳ, gồm: Mường Pắn (02 bản: Co Lên, bản Khoẳng, xã Châu Kim); Mường Mừn (04 bản: Na Pu, Dốn, Hăn, Cắng, xã Mường Nọc); Mường Ha Quèn (bản Mường Việc, xã Hạnh Dịch); Mường Puộc (02 bản: Mường Hin, bản Phảm, xã Tiền Phong), 02 bản: Mường Pôm, Mường Piệt (xã Thông Thụ), 02 bản: Mường Khúc, Mường Bóng, xã Đồng Văn); Mường Quáng (xã Quang Phong, xã Cắm Muộn); Mường Chừn (04 bản: Co Nòng, bản Lăm, Na Pháy, Na Nga, xã Mường Nọc); Mường Miểng (xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu); Mường Choọng (xã Châu Sơn, Châu Lý, huyện Quỳ Hợp); Mường Chon (xã Châu Phong, Châu Hoàn, Diên Lãm, huyện Quỳ Châu).

Theo truyền thuyết, vào một năm nọ, đúng ngày mở hội tế trời, trước khi thực hành nghi thức hiến trâu, không trung bỗng tối sầm, mây đen giăng kín bầu trời khu vực đền, rồi có con Rồng lao xuống cắp con trâu trắng của Mường Tôn bay đi. Ông Mo mường biết đó là điềm xấu, bèn tâu với Tạo Mường lệnh cho mổ những con trâu đen còn lại làm lễ vật, dâng cúng Then phạ, tổ tiên để xin chuyển dời Đền đi nơi khác. Tương truyền, ngay sau khi kết thúc bữa cơm của lễ tế trâu năm đó, có con quạ cổ khoang trắng bay đến gắp miếng xương trâu rồi bay đi và thả xuống một ngọn đồi gọi là Pu Căm (Núi Vàng) ở mạn phía Nam Mường Tôn, nên tục gọi là Pu Quai (núi trâu). Vì thế, cuối thế kỷ XVIII, Tạo Mường Noọc lệnh cho dân 9 mường di dời Đền từ vị trí cũ núi Pu Chà Nhàng đến vị trí mới Pu Căm, nên còn gọi là Xơ pu Quai (đồi Đền hiến trâu), thuộc bản Piếng Chào, xã Châu Kim, huyện Quế Phong (Nghệ An). Ngoài vẫn giữ nguyên kiểu kiến trúc nhà sàn 9 gian, ngôi đền còn được sửa chữa, thay thế, tu bổ thêm.

Năm 1927, Đền tiếp tục được tôn tạo lại, gồm nhà sàn 9 gian bằng gỗ lim, có 4 hàng cột kê đá tảng. Từ năm 1927 cho đến sau năm 1945, việc tu sửa Đền chủ yếu là thay rui mè, lợp lại mái bằng lá cọ. Trải qua thời kỳ 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và cả thời bao cấp, do hoàn cảnh chiến tranh, do bị coi là mê tín, việc dâng cúng lễ vật tế Then Phạ cũng bị ngắt quãng, lãng quên dần rồi bị bỏ quên, nên ngôi Đền bị hư hại, chỉ còn là phế tích. Năm 2004, UBND huyện Quế Phong xây dựng dự án trình Sở VH-TT-DL tỉnh Nghệ An xin kinh phí xây dựng lại bằng bê tông, cốt sắt, lợp ngói, gồm 9 gian kết hợp kiểu dáng kiến trúc cũ với kiến trúc mới. Bên cạnh Đền chính, phần diện tích phía sau bên trái Đền còn có một dãy nhà xây, trong đó dành 2 gian thờ (1 gian thờ tượng Bác Hồ và 1 gian thờ tượng Phật Bà Quan Âm). Năm 2006, Lễ hội đền Chín Gian được tổ chức với quy mô hoành tráng trở thành lễ hội lớn của đồng bào các dân tộc vùng Tây Bắc xứ Nghệ. Năm 2008, đền Chín Gian được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Đền Chín Gian được Bộ VH-TT&DL đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2067/QĐ-BVHTTDL ngày 13/6/2016. Tháng 12/2017, UBND huyện Quế Phong đã tổ chức khánh thành ngôi nhà sàn mới thờ tượng Bác Hồ trong khuôn viên đền Chín Gian (tổng diện tích 79,7m2, gồm 2 gian, mỗi gian rộng 3,6 m, hành lang phía trước rộng 1,25m, hành lang 2 bên, mỗi bên rộng 1,5 m; có 2 cầu thang lên xuống 2 bên, mỗi bên cầu thang rộng 2,2 m. Kinh phí san ủi, xây dựng nhà sàn bằng bê tông, cốt sắt, lợp ngói và huy động được trên 1,1 tỷ đồng từ nguồn xã hội hóa; các doanh nghiệp, cá nhân cung tiến 9 con trâu bằng đá nguyên khối đặt phía trước sân đền chính (mỗi con nặng 2,5 tấn) thay thế toàn bộ 9 trâu đúc bằng bê tông trước đây.

Trước kia, việc thờ cúng, dâng lễ vật tại đền Chín Gian được tổ chức mỗi năm 2 kỳ: Kỳ tế chính vào tháng 2 (âm lịch), kỳ thứ hai vào tháng Tám (bắt đầu ngày 28/8 âm lịch). Trong 2 năm đầu, lễ cúng do Mường Tôn chủ trì, lễ vật chỉ mổ lợn, rượu cần, mỗi nóc nhà trong bản góp 1 con gà, 1 gói xôi cúng tại Đền (dân các bản thuộc 8 mường còn lại tự tổ chức cúng, vui chơi tại đền mường mình). Năm thứ 3, lễ cúng Đền kỳ 2 (tháng Tám âm lịch) được tổ chức quy mô, kéo dài 7 ngày. Lễ vật chính cúng dâng Then Phạ gồm 9 con trâu của 9 mường, trong đó riêng Mường Tôn, nộp trâu Trắng (ngoài ra, lễ vật còn có gà, cá khô, rượu cần, xôi...). Ngày nay, lễ hội đền Chín Gian được tổ chức vào trung tuần tháng 2 âm lịch hằng năm (2 năm đầu chỉ mổ lợn, gà, năm thứ 3 mổ trâu).

Phần lễ gồm có lễ khai quang, lễ yết cáo (khay quan), lễ tắm trâu và lễ rước (Ạp Quai, tòn Đằm, tòn Thẻn), lễ hiến trâu (mọp quai), lễ chém trâu (phắn quai), lễ đại tế (xơ Thẻ, xơ Đằm), lễ khai mạc và lễ tạ (chả ơn - Thào quan). Về phần hội gồm các hoạt động thi hội trại với bản sắc nhà sàn Thái cổ; các trò chơi dân gian như nhảy sạp, tò le, ném còn; hội thi gói bánh chưng, thổi cơm lam, thi mâm ẩm thực của các xã thị trấn; hoạt động văn nghệ gồm thi đánh trống, cồng, chiêng, khắc luống và hát xuối, nhuôn đối đáp, thi văn nghệ, thi người đẹp lễ hội; bên cạnh đó là thi các môn thể thao dân tộc như chọi gà, tò lẹ, ném còn, kéo co, bắn nỏ, đẩy gậy, cờ thẻ, đi cà kheo…

2.2. Ngôi đền Chín Gian ở huyện Như Xuân

Theo lời kể (với nhiều dị bản) của người dân ở địa phương hiện nay thì, nghe các cụ già trước đây kể lại: Đền Chín Gian có từ xa xưa, được dựng tại vùng người Thái Mường Chiêng Van, châu Thường Xuân. Đến năm 1937 - 1938, ông Cầm Bá Bảo (Tri châu Thường Xuân, sau Cách mạng tháng Tám 1945 là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính huyện Thường Xuân, đồng kiêm ủy viên Ủy ban hành chính Thượng du, Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Ông Cầm Bá Bảo mất năm 1987) tổ chức di chuyển ngôi Đền từ mường Chiêng Van, châu Thường Xuân về dựng lại trên ngọn đồi tên là Pu Pỏm (đồi tròn) thuộc mường Chang, tổng Quân Nhân (thôn Thống Nhất, xã Thanh Quân hiện nay - lúc bấy giờ, Thanh Quân vẫn thuộc về châu Thường Xuân). Đền vẫn cất dựng lại theo nguyên bản, gồm 9 gian, gọi là Tên Xơ Quai (tức Đền hiến Trâu) bằng các loại vật liệu gỗ, tre, nứa, lợp tranh, vách thưng bằng gỗ ván (nên dân thường gọi là Hươn pèn/ Nhà ván). Phía dưới đồi đền là dòng suối Tốn, có bến Tá Tạo (Bến Quan).

 Đền do họ Lương làm mo mường, chủ trì việc tổ chức lễ tế trâu cúng dâng Then Phạ/ Pó Phạ. Theo ký ức của một số cụ già hiện nay, từ khi Đền chuyển về dựng tại Mường Chang, dân trong 9 mường đã tổ chức lễ tế trâu thờ Then Phạ và ông tổ của người Thái là Tạo Lo Ỳ được 3 lần (1938, 1941 và 1944).

Nội dung của Lễ tế hằng năm bao gồm việc cúng dâng lễ vật Trâu để tạ ơn Trời (Then Phạ) và Tạo Lo Ỳ (cùng vợ là Nàng Si Đa) - người đầu tiên có công lập bản, dựng mường của người Thái trong vùng (cả Tây Thanh - Nghệ). Lễ tế trâu được tổ chức vào tháng Sáu âm lịch hằng năm, diễn ra trong 3 ngày: ngày thứ nhất cúng nộp lễ vật gà (3 mâm), ngày thứ hai, cúng nộp lợn (3 mâm), và ngày thứ ba, cúng nộp trâu (9 mâm). Có 9 mường tham gia đó là: Mường Chang, Mường Lự, Mường Pán (Như Xuân), Mường Chiêng Van, Mương Phụ, Mường Luộc (Thường Xuân), Mường Mưn, Mường Tôn, Mường Chai (thuộc Nghệ An). Trong các cuộc lễ tế hằng năm, gian giữa dùng để mâm lễ tế trâu. Ngoài ra, mỗi mường phải có thêm 9 con lợn, 90 con gà nhỏ và 90 cặp cá khô và 1 chum rượu cần (lẩu xá). Các lễ vật này được xếp theo các tầng (hạn) từ thấp lên cao.  

Đến năm 1944, trong bối cảnh sục sôi cách mạng, việc tổ chức lễ tế trâu thờ Then Phạ và ông tổ của người Thái không còn được tổ chức và việc bỏ lễ tế trâu kéo dài cho đến tận ngày nay. Do trải qua thời gian dài không được sửa sang, chăm nom, nên ngôi đền dần xuống cấp, hư hại, chỉ còn phiến bàn đá, vài cây cột mục nát. Cũng từ sau 1944 đến nay, thay vì tế trâu, dân bản chỉ dựng miếu nhỏ, dùng gà làm lễ vật cúng dịp trước tết Nguyên đán hằng năm.

Xuất phát từ niềm mong mỏi, nhu cầu tâm linh của đồng bào dân tộc Thái vùng 6 Thanh, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Quyết định số 1820 ngày 31/5/2013 cho khôi phục lại lễ hội "Dâng trâu tế trời" của dân tộc Thái thuộc "Đề án bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020" (UBND tỉnh Thanh Hóa cũng đã công nhận là di tích lịch sử văn hóa ngày 30/01/2015 tại Quyết định số 345/QĐ-UBND). Từ việc nghiên cứu kinh nghiệm phục hồi đền Chín Gian cũng như việc tổ chức lễ hội mổ trâu tế trời và Tạo Lo Ỳ của người Thái ở huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, UBND huyện Như Xuân đã tiến hành xây dựng lại ngôi Đền tại thôn Thống Nhất, xã Thanh Quân, trên cơ sở kiến trúc 9 gian của ngôi đền cũ, gồm 2 tầng chủ yếu bằng vật liệu bê tông sơn giả vân gỗ. Trước sân đền tái dựng hình 9 con trâu đá (6 trâu đen, 3 trâu trắng) và 9 giếng... tượng trưng cho những nét văn hóa độc đáo của người dân tộc Thái. Lễ khánh thành tổ chức năm 2017, là công trình văn hóa, lịch sử tiêu biểu của địa phương.

3. Về quan hệ nguồn gốc lịch sử của người Thái Thanh Hóa và Nghệ An

Người Thái ở miền Tây Nghệ An nói chung, ở huyện Quế Phong nói riêng thường có 4 nhóm: Tày Thanh, Tày Mường, Tày Mười và Tày Khăng [1]. Theo các kết quả nghiên cứu đã được công bố, về nguồn gốc, không nghi ngờ gì nữa, hầu hết các nhóm Thái đều có gốc xa xưa từ các mường khu vực Tây Bắc di cư vào Thanh Hóa, sau đó, nhiều bộ phận tiếp tục di cư vào miền Tây Nghệ An. Cũng có nhóm từ Tây Bắc di cư qua Lào, rồi từ Lào tiếp tục chuyển cư xuống định cư tại các huyện miền núi tỉnh Nghệ An (nhất là các huyện giáp biên). Trong các nhóm Thái ở Nghệ An, nhóm Tày Mường vừa có gốc Thái, lại vừa có gốc Kinh, gốc Mường.

Theo các tài liệu thông sử, sự có mặt của các nhóm Thái ở Nghệ An rõ nhất là vào thời thuộc Minh. Theo cuốn Đại Nam nhất thống chí, thì vào thời thuộc Minh, vùng Phủ Quỳ (Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn hiện nay) có Cầm Quý làm tù trưởng và cai quản trong vùng. Khi Lê Lợi đem quân vào Nghệ An, Cầm Quý đem toàn bộ đội dân binh gia nhập nghĩa quân [2:132]. Trong cuốn Nghệ An ký, Bùi Dương Lịch cũng ghi: Phủ Quỳ xưa thuộc đất Bàn Nam tục gọi là mường Tôn (hay Bôn). Đầu thời Lê do tù trưởng Cầm Công chiếm giữ. Đến thời Hồng Đức, tách thành phủ Trấn Ninh [3: 202].

Theo đó, trong cộng đồng người Thái định cư ở vùng đường 48 (Phủ Quỳ xưa) nói chung, các nhóm Thái ở Quế Phong hiện nay nói riêng, hầu hết cũng đều có nguồn gốc và di chuyển từ các địa phương (các mường xưa) của người Thái ở miền Tây Thanh Hóa (và từ Lào sang) vào những thời điểm khác nhau, chia làm nhiều đợt.

Trong 2 nhóm Tày Mường và Tày Thanh ở Quế Phong, nhóm Tày Mường là nhóm có mặt trước, nhưng nội bộ nhóm này không thuần nhất. Họ vừa có gốc Thái, vừa có gốc Kinh. Tày Thanh là nhóm đến sau, bao gồm bộ phận cư dân từ Thanh Hoá vào và một bộ phận khác từ Mường Thanh (Điện Biên) chuyển cư qua Lào rồi mới vào Nghệ An cách đây khoảng 200 - 300 năm [4: 20-32].

Hiện nay, ở Quế Phong, nhóm Tày Thanh chủ yếu phân cư tại các xã: Tri Lễ, Nặm Giải, Nặm Nhoóng, Hạnh Dịch, Thông Thụ. Tại xã Tri Lễ có 33 bản (21 bản người Thái, 10 bản người Mông, 2 bản người Khơ-mú). Trong 21 bản Thái, có 8 bản người Tày Mường (Na Niêng, Chà Lạnh, Na Cân, Na Lịt, Na Chạng, Na Túi, Bản Bò), 13 bản người Tày Thanh (Kèm Ái, Bản Đôn, Bản Chọt, Bản Lăm, Noong Một, Bản Hai, Hua Nà, Piêng Luông/ Lồm, Bản Cắm/ Khằm, Bản Chiềng,Yên Sơn, Na Ca, Bản Xan) - số liệu thu thập tại Phòng Thống kê của xã Tri Lễ (2015).

Những tư liệu mà chúng tôi thu thập được trong nhiều năm qua cho phép khẳng định hầu hết nhóm Tày Thanh đều di cư từ các huyện miền núi Thanh Hóa vào.

Theo lời kể của ông Vi Văn Châu, người Tày Thanh 81 tuổi (xóm Chợ, cán bộ hưu trí) thì: nhóm Tày Thanh ở Tri Lễ có 2 nguồn gốc. Một bộ phận có nguồn gốc từ Mường Đèng, Mường Mót (Bát Mọt), vùng Yên Khương, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa di cư vào. Đây là bộ phận Tày Thanh có mặt đầu tiên, có công khai sơn, phá thạch lập bản, dựng mường ở khu vực Tri Lễ ngày nay. Một bộ phận khác ngược lên định cư tại Mường Pào (thuộc huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, Lào) và các thung lũng dọc theo dòng Nặm Xăm (sông Chu), sau đó có những nhóm nhỏ tiếp tục chuyển cư xuôi theo dòng Nặm Giải xuống cư trú tại vùng Tri Lễ thuộc đất Việt Nam (Vi Văn An - Tư liệu thu thập năm 2015 tại xã Tri Lễ, huyện Quế Phong).

Như vậy, con đường chuyển cư của nhóm Tày Thanh vào đất Nghệ An là theo 2 hướng. Một hướng từ Thanh Hoá sang Phủ Quỳ (Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong); bộ phận khác di cư từ Lào xuống sau, cư trú tại các ngọn nguồn khe suối. Vì là nhóm có mặt muộn hơn, nên người Tày Thanh thường cư trú thành các bản riêng, hoặc phải cư trú xen ghép với những người Tày Mường đã đến từ trước đó. Do vậy, họ trở thành dân ngụ cư và có địa vị xã hội thấp hơn.

Trong quá trình triển khai Dự án: Tác động của ti vi đối với sự biến đổi gia đình của người Thái ở Việt Nam, triển khai tại 2 huyện Quỳ Châu và Quế Phong, tỉnh Nghệ An chúng tôi đã thu thập được một số tư liệu liên quan đến các nhóm Thái ở 2 huyện này. Ví dụ, tại xã Nặm Giải, huyện Quế Phong, có 8 bản, trong đó có 7 bản Thái. Trong 7 bản Thái này, bản Poóng (bản cây tai chua - mác Poóng) - là bản đầu tiên, sau này khi dân cư đông đúc, mới tách ra thành lập các bản xung quanh, trong đó có bản Pục, bản Cáng, bản Tóng, bản Mờ... Hiện bản Poóng có 105 hộ (104 hộ Thái, 01 hộ Kinh), 438 khẩu.

Về nguồn gốc, theo ông Quàng Văn Thơ 97 tuổi - một trong những cụ già nhiều tuổi nhất ở bản Poòng hiện nay cho biết: người Tày Thanh ở bản Poóng di cư từ Thanh Hóa vào khoảng từ sau thời Lê (TK15) trở đi, gồm 2 bộ phận/ hai dòng họ, theo hai đường khác nhau:

* Nhóm di cư từ Thanh Hóa vào thẳng vùng Phủ Quỳ

Nhóm họ Lữ quê gốc ở Mường Xại (vùng Quan Sơn, Thanh Hóa), do không chịu được áp bức bóc lột nặng nề của Tạo Mường Xại, nên tìm đường di cư vào Tây Nghệ An. Lúc đi có 5 anh em. Khi đến vùng này, 5 anh em dựng nhà, lập ra bản Poóng. Ban đầu, 5 anh em dựng nhà gần suối, có một năm do lũ lụt to cuốn trôi cả cối, chày giã gạo ra tận bản Mờ ngày nay, nên khúc suối cạnh bản hiện nay còn có một hòn đá lớn gọi là hòn Chày (cón Xác). Trong câu chuyện di cư của họ Lữ, người ta thường kể đến các đỉnh núi mà họ đã đi qua như: Pù Cọ, Pù Phường, Pù Lè (đều là các đèo/ núi nằm trên Quốc lộ 48 từ Quỳ Châu lên Quế Phong rồi vào Nặm Giải hiện nay). Theo ký ức của ông Thơ, từ khi di cư đến nay, dòng họ Lữ bản Poòng đã trải qua hơn 15 đời (gần 400 năm).

* Nhóm di cư sang Lào rồi từ Lào chuyển cư xuống

Nhóm họ Quàng/ Quang (ở bản Poóng hiện nay) quê gốc ở Mường Đèng (Yên Khương, Lang Chánh, Thanh Hóa). Lúc đầu có 3 anh em, khi di cư, anh cả đi theo đường Thanh Hóa vào Quỳ Châu, còn 2 em di cư sang Lào (vùng Sầm Tớ, Hủa Phăn) sau đó mới đi xuôi dòng Nặm Giải đến nhập với nhóm anh em họ Lữ. Họ Quàng thuộc hàng rể của họ Lữ, lúc mới đến, dựng nhà, lập ra bản Còn (bên kia suối nặm Giải), đến năm 1973 mới chuyển sang bản Poóng hiện nay. Họ Quang và họ Lữ là 2 họ đông, khá giả và có thế lực nhất trong bản. Nhiều người làm cán bộ xã, ban quản lý bản; các em học sinh đi học ở trường nội trú huyện, tỉnh chủ yếu cũng là con em của hai họ này (Vi Văn An - Tư liệu thu thập năm 2016 tại xã Tri Lễ, huyện Quế Phong).

Cách giải thích về nguồn gốc của bộ phận Tày Thanh ở đây cũng tương tự và phù hợp với cách giải thích, cũng như kết quả khảo sát mà chúng tôi đã từng công bố về nguồn gốc và ý nghĩa tên gọi của nhóm Thái này trong một số công trình, bài viết trước đây. Theo đó, sở dĩ gọi là Tày Thanh/ Tày Nhái là vì họ di cư (Nhại: Di cư/ di chuyển), có nguồn gốc từ Thanh Hóa vào. Đây là cách lí giải thuyết phục nhất về ý nghĩa tên gọi của nhóm này. Vào khoảng đầu thời Lê, tại vùng Mường Xia (nay là xã Sơn Thủy, Quan Sơn, Thanh Hóa), nhân một hôm lợp nhà cho Tạo Mường, có một người quên buộc một múi lạt. Sau khi lợp xong, người chủ trì buổi lợp nhà phát hiện được bèn báo lại với Tạo Mường. Vì cho rằng, người đó cố ý tạo điềm gở cho dòng họ Tạo, nên Tạo Mường tức giận, sai cả mường tháo dỡ để lợp lại; đồng thời bắt phạt vạ người vi phạm. Tức giận trước hành động ngược đãi của Tạo Mường, một bộ phận Thái rủ anh em, bà con họ hàng, thu xếp đồ đạc đi khỏi mường và thề sẽ không bao giờ quay lại. Bộ phận Thái này chia làm hai nhóm di cư theo hai đường.

Cũng trong thời kỳ này, một nhóm Thái khác từ vùng Như Xuân, Thường Xuân theo đường núi vượt sang định cư tại vùng sâu, vùng xa thuộc đất Phủ Quỳ, Nghệ An như: xã Châu Thuận; bản Luồng (xã Châu Phong), bản Xốp Hốc (xã Diên Lãm); xã Nặm Nhoóng, Tri Lễ, Quang Phong, Cam Cọn, Châu Thôn (Quế Phong). Tiếp đó, có những dòng họ vượt núi, di chuyển sang cư trú ở các bản Na Khích (Nặm Nhoóng), Na Ngân, Na Kho (xã Nga My, huyện Tương Dương). Đặc biệt, có một bộ phận di chuyển từ Tri Lễ, Quang Phong sang tận Môn Sơn, Chi Khê, Lam Khê (huyện Con Cuông). Truyện kể về 2 đợt chuyển cư của người Thái từ Thanh Hóa vào Quế Phong rồi vượt sông Lam đến Mường Quạ (huyện Con Cuông) gắn liền với tên tuổi của 2 vị thủ lĩnh có tên là Tạo Xia (hay còn gọi là Cang Ồng) và Hầu Bông.

Trước kia, người Tày Thanh ở bản Poóng cũng như các bản người Tày Thanh ở xã Nặm Giải đều thuộc diện dân ngụ cư (Páy cư), thân phận lệ thuộc vào chủ đất người Tày Mường của Mường Noọc (xã Châu Kim), hằng năm phải chịu tô thuế, lao dịch và cống nạp theo lệ Mường. Chẳng hạn, khi săn được Sao la, Tê giác thì phải nộp sừng; khi săn được hổ thì phải nộp móng vuốt, răng nanh. Theo lệ chung: Tô kin hăm au ha nả, tô kin nhả au ha lăng (Con ăn cám thì nộp đùi trước, con ăn cỏ thì nộp đùi sau).

Cần nhấn mạnh thêm là: một trong số những dòng họ Thái thuộc nhóm Tày Mường ở xã Châu Kim, Quế Phong hiện nay cũng di cư từ Thanh Hóa vào. Ví dụ dòng họ Lương (hậu duệ là ông Lương Sỹ Cường hiện nay). Dòng họ này vẫn còn anh em họ hàng bên Như Xuân, Thường Xuân.

4. Đôi điều lý giải về câu hỏi đã nêu

Như đã đề cập, ngoài thờ Trời/Ngọc Hoàng/Then Phạ, đối tượng thờ cúng chính trong lễ tế trâu tại 2 ngôi đền Chín Gian ở Quế Phong và Như Xuân đều là Tạo Lo Ỳ - người có công xây dựng bản mường. Tuy nhiên, tình tiết liên quan đến Tạo Lo Ỳ và câu chuyện thiên di của người Thái ở Quan Hóa và Quế Phong có đôi chút khác nhau. Theo đó, trong sự tích về sự hình thành mường Ca Da thì không nhắc gì đến tên Tạo Lo Ỳ, mà chỉ nói đến chuyện con quạ cứu người. Cốt truyện như sau:

Thời đó, vùng đất này đã có Tạo Mường cai quản, sau khi gả con gái cho con trai Vua Nước (của hồi môn là đôi trâu sừng đồng, sừng sắt), trở nên giàu có đến mức phải hỏi người khác làm thế nào để nghèo đi, nên Trời giận thu lại mường ấy và không cho làm tạo nữa. Vùng đất này trở nên hoang vu, dân tình đói khổ. Nhân một hôm, có một cái xác người đàn ông trôi trên thượng nguồn sông Mã về vướng vào bụi lau sậy, sau đó có con quạ bay qua sà xuống mổ bụng, không ngờ con quạ vừa ăn cây thuốc hồi sinh trên ngọn núi thiêng (Cửa Hà) về, thuốc còn dính trên mỏ, vừa mổ vào xác chết thì người chết bèn sống lại. Sau khi được hồi sinh, người đàn ông đó sinh sống trên vùng đất này, làm ăn giàu có, dựng lại một Mường lớn và làm tạo Mường. Nhớ ơn con quạ đã cứu mình, ông tạo bèn đặt tên Mường là Mường Ca Da (quạ cứu chữa/vớt). Sau này, nhân dân địa phương cũng đặt tên là Hồi Xuân để ghi nhớ công ơn của con quạ nọ.

Truyền thuyết về Tạo Lo Ỳ của người Thái Quế Phong cũng liên quan đến câu truyện thiên di của họ từ Thanh Hóa vào, song lại có nhiều tình tiết liên quan đến Lào. Đó là: thủa xưa, vua mường Luông phabang (bên Lào) có 2 con trai. Con cả tên là Lo Ỳ, con thứ tên là Lo Ai. Khi vua cha già yếu, ông muốn truyền ngôi cho người anh. Biết được ý định, Lo Ai ngầm hãm hại anh, đem vứt xác trôi theo dòng sông Mã. Đến đoạn Quan Hóa, xác vướng vào gốc lâu sạy, có con quạ bay ngang qua sà xuống mổ ăn xác thối, không ngờ vừa mổ vào bụng, xác sống trở lại nhờ con quạ vừa ăn phải cây thuốc hồi sinh. Thuở đó, vùng này chưa có Tạo, nên dân bèn mời anh ta ở lại làm Tạo mường, đặt tên mường là Ca Da (quạ cứu chữa) để ghi nhớ công ơn của quạ. Làm Tạo Mường một thời gian, vì nhớ quê cũ, nên Tạo xin dân mường về thăm, nhưng vì không nhớ đường, Tạo bị lạc vào đất Quế Phong. Dân vùng này đã có mường, nhưng chưa có Tạo, bèn mời Tạo ở lại cai quản bản mường. Thương dân, Tạo nhận lời ở lại, lập mường mới lấy tên là Mường Tôn, tập hợp dân chúng khai phá cánh đồng Đon Cham, Mường Noọc. Tạo lấy vợ tên là Si Đa (là con của Ngọc Hoàng), sinh con và cha truyền con nối làm Tạo. Sau khi Lo Ỳ mất, để nhớ công ơn, con cháu lập Đền thờ ông tại đồi Pu Chà Nhàng, bản Khoẳng, xã Châu Kim, hằng năm mổ trâu cúng Then Phạ và ông tổ Lo Ỳ.

Như vậy, tuy có khác nhau về tình tiết, song truyền thuyết về sự di cư của người Thái ở Quan Hóa và Quế Phong đều liên quan đến câu truyện về xác người sống lại nhờ được quạ cứu vớt. Tuy nhiên, trong câu chuyện về nguồn gốc của mường Ca Da không thấy nhắc gì đến tên Tạo Lo Ỳ và việc người Thái lập đền thờ ông tại đây, cũng như việc lập đền thờ ông tại mường Chiêng Van. Trong khi đó, câu chuyện về sự thiên di và việc lập đền thờ Tạo Lo Ỳ của người Thái ở Quế Phong thì được lưu truyền khá rõ. Theo đó, về logic, ngôi đền Chín Gian tại Thanh Quân, huyện Như Xuân phải có trước và được xây dựng sớm hơn ngôi đền Chín Gian ở Châu Kim, huyện Quế Phong, bởi các tư liệu trên cho thấy rõ là người Thái ở miền Tây Nghệ An nói chung, ở Quế Phong nói riêng đều có nguồn gốc từ miền Tây Thanh Hóa di cư vào. Thanh Quân theo đó có thể là nơi cư trú của bộ phận Thái Quế Phong trước khi họ chuyển cư vào đây? Tuy nhiên, theo chúng tôi, có lẽ là do vùng người Thái ở Như Xuân trước kia chỉ là một mường nhỏ trực thuộc mường Chiêng Van (một trong 4 mường lớn của người Thái ở Thanh Hóa: Mường Ca Da, Mường Khoòng, Mường Đèng, Mường Chiêng Van), nên lễ tế trâu tại ngôi đền Chín Gian ở Thanh Quân ban đầu cũng chỉ mới quy tụ được bộ phận người Thái xung quanh và người Thái vốn có họ hàng ở Quế Phong tham gia, mà chưa thu hút được cư dân của 4 mường lớn. Thêm vào đó, cần nhớ rằng, ở Thanh Hóa, người Thái cũng ít hơn người Mường. Trong chừng mực nào đó, có thể nói vai trò, ảnh hưởng và văn hóa Mường cũng có phần nổi trội hơn, bởi thiết chế xã hội nổi trội vùng miền núi là chế độ Lang đạo. Trong thực tế, người Thái (nhất là Quan Hóa, Bá Thước, một số vùng Thường Xuân) chịu ảnh hưởng, tiếp thu các yếu tố văn hóa Mường khá rõ rệt (nhà cửa, trang phục và cả một số nghi lễ tín ngưỡng). Chính vì thế, tầm quan trọng của lễ tế đền Chín Gian chỉ bó hẹp trong phạm vi nhất định, nên ngoài họ Cầm ra, các nghi thức tế lễ, quy trình thực hành không được quan tâm dẫn đến mai một dần. Đặc biệt, từ sau năm 1948 trở đi, do chiến tranh, do bài trừ mê tín (có thể bị phá bỏ), khó khăn của thời bao cấp... nên ngôi đền bị hư hại rồi trở thành phế tích, không ai còn nhớ quy trình thực hành lễ tế như thế nào? Chính vì thế, huyện Như Xuân phải nhiều lần vào Quế Phong tham khảo kinh nghiệm quy trình/ các bước trước khi tổ chức lễ hội.

Một minh chứng nữa là, ngôi đền trước kia gồm 9 gian - tượng trưng cho 9 mường. Vậy, trước kia cũng như hiện nay, đó là những mường nào ở Thanh Quân hay cả 6 Thanh, không ai còn nhớ cụ thể và cũng không có ghi chép nào để lại. Đây cũng là một trong những khó khăn đối với người được giao trọng trách phân vân, lưỡng lự để rồi cuối cùng mặc dù ngôi đền vẫn được thiết kế thành 9 gian, song không biết gian nào là vị trí đặt mâm thờ của mường cụ thể nào, mà (hình như) chỉ bê nguyên xi cách bố trí theo đền Chín Gian ở Quế Phong?

    5. Đôi điều kết luận

Việc phục dựng lại ngôi đền Chín Gian ở Thanh Quân, huyện Như Xuân là công việc phù hợp với chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; chính sách về tôn vinh, bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc thiểu số chung, người Thái ở địa phương nói riêng.

Đây là việc làm hết sức có ý nghĩa thiết thực, đáp ứng lòng mong muốn của cộng đồng người Thái nơi đây về đời sống văn hóa nói chung, đời sống tâm linh nói riêng.

Việc tổ chức lễ hội hằng năm không những nâng cao hưởng thụ văn hóa, mà còn góp phần tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết giữa các dân tộc trong quá trình xây dựng nông thôn mới.

Thông qua nội dung các hoạt động cụ thể, việc tổ chức lễ hội còn góp phần giới thiệu, quảng bá những sắc thái văn hóa, phong tục tập quán của người Thái nơi đây với bạn bè, du khách gần xa.

 

Tài liệu tham khảo

1. Vi Văn An (2017), Người Thái ở miền Tây Nghệ An, NXB Thế Giới, H.

2. Đại Nam nhất thống chí (1990, Tập 2), Nxb KHXH, Hà Nội.

3. Bùi Dương Lịch (1993), Nghệ An ký (quyển 1&2), Nxb KHXH, Hà Nội.

4. Đặng Nghiêm Vạn (1974), Bước đầu tìm hiểu lịch sử phân bố những dân tộc miền núi Nghệ An, Tạp chí Dân tộc học (2-tr.20-32).

TS. Hà Đan

 

Trong vòng quay của vũ trụ với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông thì có lẽ mùa xuân là mùa đẹp nhất. Nguyễn Bính đã từng có câu thơ hay rằng: "mùa xuân là cả một mùa xanh". Mùa xuân tự nó vốn đã đẹp lại gắn liền màu xanh  nên chan chứa hy vọng và dễ động lòng nhất những giao cảm tình người.

Mùa xuân còn là mùa của lễ hội. Bởi vậy, mỗi khi nhắc đến mùa xuân, chúng ta không thể không nhắc tới lễ hội. Trong dòng chảy văn hóa Việt Nam, lễ hội mùa xuân đã góp phần tạo nên nét riêng của văn hóa truyền thống và mùa xuân văn hiến Việt Nam.

Theo suốt chiều dài lịch sử dân tộc, mùa xuân Việt Nam đã tạo dựng được những truyền thống mang đậm dấu ấn của mùa xuân đất Việt:  xuân lao động sản xuất, xuân đánh giặc giữ nước và xuân lễ hội, sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Lịch sử lễ hội ở nước ta đã cho thấy có sự chuyển dịch "xuân thu nhị kỳ" để tạo nên "không gian thiêng" và "thời gian thiêng" cho lễ hội mùa xuân.

Từ châu thổ sông Hồng - nơi quê hương buổi đầu của lịch sử dân tộc, lễ hội mùa xuân truyền thống đã ra đời, quy tụ, lan tỏa và trở thành hội mùa xuân truyền thống của dân tộc.

Ngày tết, tiết xuân… những ngày mở đầu của một năm mới là thời điểm giao mùa, thời gian "tạm nghỉ" giữa hai chu trình sản xuất nông nghiệp. Người nông dân sau những ngày tháng lao động vất vả, đông vụ chí kỳ, đổ mồ hôi sôi nước mắt, "trông trời, trông đất, trông mây", có dịp nghỉ ngơi đón một năm mới, tổ chức hội hè để giải tỏa, vui chơi, giao lưu văn hóa cộng đồng, tạo thêm niềm tin, phấn khởi để bước vào một năm mới, một chu trình sản xuất mới với nhiều hy vọng mới.

Hội mùa xuân của một cộng đồng cư dân nông nghiệp, nhiều dân tộc, trong một môi trường tự nhiên với những tiểu vùng khác nhau bao giờ cũng đa dạng, phồn tạp nhiều hình thức văn hóa dân gian gắn liền với cảnh quan môi trường, văn hóa tộc người; song đều xoay quanh cái trục chính của sản xuất nông nghiệp truyền thống: tưởng nhớ tổ tiên, tôn vinh anh hùng dân tộc, anh hùng văn hóa, tổ sư nghề, đề cao sản xuất nông nghiệp, cầu mong mưa thuận gió hòa, phong đăng hòa cốc, mùa màng bội thu, nhân khang vật thịnh… Trẩy hội mùa xuân cũng là dịp để người nông dân giải tỏa tâm linh, giao tiếp, hưởng thụ, sáng tạo văn hóa và cũng là dịp tốt đầu năm để tuổi trẻ giao duyên, kết bạn trong niềm khát vọng mùa xuân là bắt đầu của năm mới, tuổi trẻ là bắt đầu của hạnh phúc đời người.

Dòng chảy của lễ hội mùa xuân Việt Nam đã để lại những nét văn hóa xuân nổi trội trên các vùng văn hóa với những hội xuân đặc sắc và những mẫu số chung của "văn hóa xuân Việt Nam". Trên nền của hội xuân Việt Nam, đã có hội xuân trở thành di sản văn hóa chung của nhân loại. Hội Gióng, dân ca quan họ với hội Lim truyền thống đã được công nhận là di sản văn hóa Việt Nam - góp mặt cùng các lễ hội văn hóa đặc sắc trên thế giới.

Trên vùng đất Tổ, những lễ hội về nguồn, tưởng nhớ tổ tiên đã có công dựng nước - giữ nước cùng với các lễ hội trình nghề, tôn vinh sản phẩm sản xuất nông nghiệp. Hội thi có liên quan đến nông nghiệp truyền thống đã tạo nên những nét văn hóa tiêu biểu của vùng đất Tổ. Lễ hội đền Hùng vào dịp cuối mùa xuân đã trở thành lễ hội hướng nguồn của cả dân tộc.

 Các lễ hội trên vùng đất đồng bằng và trung du Bắc bộ như: hội Gióng, hội Giã La, hội đền Trần, hội Phủ Giầy, hội chùa Hương, chùa Thầy, hội hát Soan, hội Lim… đã làm cho lễ hội mùa xuân châu thổ sông Hồng - quê hương buổi đầu của lịch sử dân tộc thêm đa dạng, đậm đà tính nhân văn.

Trên vùng đất Tây Bắc, các lễ hội mừng mùa măng mọc vùng Xá, lễ hội hoa ban vùng Thái Tây Bắc với những điệu múa truyền thống phản ánh hoạt động sản xuất nông nghiệp nương rẫy đặc trưng của vùng cao: múa hái rau, mò ốc, xúc tép, múa chọc lỗ tra hạt, múa phát nương, phát rẫy gieo trồng lúa, trồng bông, múa đập lúa, kéo sợi, dệt vải… đã tạo nên nét riêng của lễ hội nông nghiệp vùng cao của mùa xuân vùng Tây Bắc.

Lễ hội Lồng Tồng (hội xuống đồng) của vùng Việt Bắc với hình thức trưng diễn những sản phẩm tiêu biểu của sản xuất nông nghiệp cùng với những vũ hội, trò chơi dân gian trong nhịp điệu trữ tình của làn điệu dân ca shi lượn của người Tày - Nùng. Tiếng hát tình yêu (gầu plềnh) của người Mông đã làm cho hội xuân vùng cao Việt Bắc mang bản sắc văn hóa tộc người trên vùng đất "quê hương cách mạng".

Lễ hội Pồn Pôông của người Mường vùng Hòa Bình - Thanh Hóa vào mùa hoa bông trắng nở với những làn điệu dân ca Mường tha thiết quanh cây hoa đã tạo nên nét riêng của "không gian văn hóa Mường" vào dịp cuối mùa xuân.

Hội mùa xuân Tây Nguyên trong tiếng nhạc cồng chiêng âm vang, điệu múa cồng chiêng đậm đà chất trữ tình, lạc quan của núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ đã tạo bản sắc riêng biệt cho lễ hội mùa xuân trên cao nguyên thêm nồng nàn, mang hơi ấm của mùa xuân phương Nam.

Châu thổ sông Mã - vùng đất nông nghiệp: "Ăn cơm bằng đèn, đi cấy sáng trăng" là một vùng văn hóa dân gian đặc sắc. Nét nổi trội của văn hóa dân gian ở đây được thể hiện với nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian mỗi khi tết đến xuân về.

Ở những mức độ khác nhau, vùng châu thổ sông Mã đã hình thành các lễ hội tiêu biểu như: Lễ hội Mai An Tiêm, Lễ hội đền Bà Triệu; đền Thánh Tến, Lê Hoàn, Lam Kinh, đền vua Lê, Lễ hội đền Ối, đền Mưng, đền Độc Cước, nghè Sâm, Lễ hội làng Thiết Đanh, làng cổ Bôn, làng Xuân Phả, làng Cự Nham, làng Duy Tinh. Quy mô, thời gian, nội dung của các lễ hội khác nhau nhưng đã tạo nên một không gian văn hóa lễ hội mùa xuân cho các làng, xã, các vùng.

Miền đất này với những làng trò nổi tiếng như: làng Bằng Trình với "Ngũ trò Bằng Trình", làng cổ Bôn với hệ thống trò Bôn, làng Xuân Phả với hệ thống trò Xuân Phả, làng Viên Khê - cái nôi của dân ca Đông Anh với trò múa đèn. Mùa xuân là dịp để các làng vào hội diễn trò và tổ chức thi diễn trò giữa các làng. Diễn trò là việc hệ trọng của làng được các bô lão và chức sắc của làng quyết định và chuẩn bị vào dịp cuối năm. Diễn trò và hội thi trình diễn trò trong các khóa trò đã tạo nên một không gian văn hóa diễn xướng dân gian hấp dẫn như hội hát Soan vùng đất Tổ, hội Lim vùng Kinh Bắc.

Lễ hội là một thành tố văn hóa và nói cụ thể hơn với Việt Nam, đó là một hằng số của văn hóa Việt Nam vì nó phản ánh văn minh, văn hóa dân tộc và mang đậm hơi thở đời sống tâm linh và tinh thần của dân tộc. Nó cũng là nơi lưu giữ và bảo tồn những giá trị truyền thống quý báu. Càng ngày lễ hội càng phong phú về số lượng, càng thể hiện sâu sắc bản lĩnh văn hóa của dân tộc.

Con đường để lễ hội văn hóa dân gian truyền thống là di sản văn hóa dân tộc và di sản văn hóa nhân loại đã cho thấy tính nhân văn và sức sống trường tồn của lễ hội trong đời sống văn hóa cộng đồng chính là nội dung cơ bản, tạo nên giá trị của lễ hội. 

Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những tinh hoa của di sản văn hóa truyền thống đang đặt ra nhiều vấn đề trong việc xây dựng làng văn hóa, phát triển nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại để hội xuân còn mãi sức xuân.

Mùa xuân vốn là của tạo hóa nhưng chính con người đã làm cho mùa xuân mang bản sắc văn hóa Việt Nam, ngày một thêm đẹp, giàu tính nhân văn.

PGS.TS Nguyễn Xuân Đức

Cổ tích là thể loại truyện dân gian được hầu hết các dân tộc trên thế giới sáng tạo, lưu truyền rộng rãi và có giá trị cao nhất cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Cổ tích nói chung, nhất là cổ tích thần kỳ, không chỉ cuốn hút hàng triệu triệu người từ trẻ em đến người lớn, từ cổ chí kim, mà thế giới nghệ thuật phong phú, đa dạng của nó cũng được rất nhiều nhà folklore học thế giới quan tâm.

Trước sự phong phú, đa dạng của cổ tích, nhiều nhà folklore học Việt Nam thế kỷ trước cũng đã nêu ra nhiều cách phân chia truyện cổ tích thành các tiểu loại khác nhau, nhưng chưa có cách phân chia nào đạt được sự nhất trí cao. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là, dù kết quả không giống nhau nhưng trong bảng phân loại của mỗi nhà khoa học đều có mặt tiểu loại cổ tích thần kỳ.

Cho đến nay, dường như các nhà cổ tích học thế giới đều chấp nhận cách phân loại của các nhà bác học Xô viết, theo đó truyện cổ tích được chia làm ba tiểu loại: cổ tích loài vật, cổ tích thần kỳ cổ tích thế sự/ sinh hoạt/ thế tục. Hệ thống phân loại này cũng đã được các nhà folklore học Việt Nam tiếp thu từ thế kỷ trước. Trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Đại học Tổng hợp Hà Nội, do GS,TS. Lê Chí Quế chủ biên, ba tiểu loại cổ tích này cũng đã được đề cập tới(1). Và từ đó đến nay cách phân loại này cũng đã xuất hiện trong hàng ngàn công trình nghiên cứu lớn nhỏ ở Việt Nam (nhất là tiểu loại cổ tích thần kỳ). Tuy nhiên, điều đáng nói là, tiếp thu cách phân tiểu loại truyện cổ tích từ các nhà khoa học Xô viết, nhưng dường như chưa có công trình nào của người Việt Nam nêu đầy đủ, chính xác các khái niệm cổ tích loài vật, cổ tích thần kỳ cổ tích thế sự theo định nghĩa của họ. Hậu quả là không ít người nghiên cứu cổ tích Việt Nam, trong đó có nhiều nghiên cứu sinh, đã hiểu khái niệm truyện cổ tích thần kỳ một cách đơn giản, theo đó, tất cả những truyện cổ tích có yếu tố thần kỳ đều là cổ tích thần kỳ.

Năm 1994, trong cuốn Truyện cổ tích thần kỳ người Việt - đặc điểm cấu tạo cốt truyện(2), Tiến sĩ Tăng Kim Ngân đã dựa trên mô hình Hình thái học của truyện cổ tích(3) của nhà bác học Xô viết nổi tiếng - V.Ia. Prop, để nghiên cứu đặc điểm hình thái của truyện cổ tích thần kỳ người Việt. Từ những khảo sát công phu, tỉ mỉ, Tăng Kim Ngân đã đi đến kết luận: về cơ bản, cấu trúc cốt truyện của truyện cổ tích thần kỳ người Việt cũng giống như cổ tích thần kỳ Nga, được tổ chức bằng các chức năng hành động của nhân vật. Tuy nhiên, ở cổ tích thần kỳ người Việt, tổng số các chức năng hành động của nhân vật là 32, trong khi ở cổ tích thần kỳ Nga chỉ có 31. Kết quả nghiên cứu của V.Ia. Prop dường như đã được hầu hết các nhà folklore học thế giới thừa nhận, tiếp thu và xem đó là mô hình cấu trúc của cổ tích thần kỳ nhân loại. Bởi vậy, chức năng thứ 32 - sự biến hình, mà Tăng Kim Ngân "tìm ra" ở cổ tích thần kỳ người Việt, phải chăng là đặc điểm điển hình của cổ tích Việt Nam so với cổ tích Nga và thế giới?! Thực ra kết quả này xuất phát từ sự sai lầm của nhà nghiên cứu, bởi nếu vận dụng đúng hệ thống lý thuyết của V. Ia. Prop thì truyện cổ tích thần kỳ người Việt cũng chỉ có 31 chức năng hành động nhân vật mà thôi. Sự vênh thêm một chức năng mà Tăng Kim Ngân chỉ ra thực chất là do khi vận dụng lý thuyết hình thái học của V. Ia. Prop, chị đã không sử dụng đúng định nghĩa về cổ tích thần kỳ của ông cũng như các nhà bác học Xô viết. Tăng Kim Ngân đã tự nêu ra định nghĩa về cổ tích thần kỳ, theo đó tất cả các truyện cổ tích có yếu tố thần kỳ đều được xem là cổ tích thần kỳ và một loạt truyện cổ tích có sự biến hình ở cuối truyện như Sự tích đá vọng phu, Sự tích trầu cau và vôi, Sự tích ba ông đầu rau,… đều được xem là cổ tích thần kỳ và đưa vào đối tượng nghiên cứu, từ đó chị tìm ra chức năng thứ 32 - sự biến hình. Dù chưa thấy ai ghi nhận, "tự hào" nhắc lại đặc điểm này của cổ tích thần kỳ người Việt, nhưng việc âm thầm mặc nhiên xem tất cả những cổ tích có yếu tố thần kỳ là cổ tích thần kỳ như Tăng Kim Ngân lại khá phổ biến trong nghiên cứu cổ tích Việt Nam.

Đặc biệt, gần đây tác giả Triều Nguyên đã mạnh dạn đề xuất cách hiểu này qua bài viết Truyện cổ tích và việc phân định giữa hai tiểu loại cổ tích thần kỳ và cổ tích thế tục(4) đăng trên Tạp chí Nguồn sáng dân gian số 3 năm 2017. Theo Triều Nguyên: "Đã là truyện cổ tích thần kỳ thì phải có yếu tố thần kỳ". Điều này là mặc nhiên, nhưng liệu có phải tất cả truyện cổ tích có yếu tố thần kỳ là cổ tích thần kỳ không (?) lại là chuyện khác.

Dù không nêu định nghĩa cụ thể thì một số nhà folklore học Việt Nam thế kỷ trước cũng đã đề cập đến vai trò yếu tố thần kỳ trong cổ tích thần kỳ và cổ tích thế sự để phân biệt hai tiểu loại này. Trong Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, PGS. Hoàng Tiến Tựu đã viết: "… không thể căn cứ vào số lượng yếu tố thần kỳ để xác định đâu là cổ tích thần kỳ, đâu là cổ tích sinh hoạt. Điều quan trọng là vai trò và tác dụng của yếu tố thần kỳ, chứ không phải số lượng của chúng. Khi nào yếu tố thần kỳ có vai trò quan trọng, quyết định hoặc chi phối mạnh mẽ đối với sự phát triển và giải quyết xung đột, mâu thuẫn trong truyện, thì đó là cổ tích thần kỳ. Khi nào xung đột, mâu thuẫn trong truyện được phát sinh, phát triển và giải quyết chủ yếu bằng tác động của con người (tức bằng sự vận động của bản thân các nhân vật người), các yếu tố thần kỳ không có vai trò quyết định hoặc chỉ có tác động chi phối theo qui luật thông thường của đời sống thực tại trần gian, thì đó là cổ tích sinh hoạt"(5). Như vậy PGS. Hoàng Tiến Tựu cũng thừa nhận có một bộ phận cổ tích có yếu tố thần kỳ, nhưng "các yếu tố thần kỳ không có vai trò quyết định…" nên đó là cổ tích sinh hoạt. Phê phán quan điểm này, Triều Nguyên cho rằng ý kiến của Hoàng Tiến Tựu là mơ hồ và "Điều này làm nảy sinh việc xác định một số văn bản tác phẩm, là thuộc truyện cổ tích thần kỳ hay truyện cổ tích thế tục trở nên khó khăn". Để củng cố cho kết luận đó, Triều Nguyên đã dẫn công trình Thi pháp truyện cổ tích thần kỳ người Việt của Nguyễn Xuân Đức, trường Đại học Sư phạm Vinh xuất bản 1996. Thật ra đây là tài liệu chuyên đề đào tạo cao học, lưu hành nội bộ ở Đại học Sư phạm Vinh. Năm 1996, trường Đại học Sư phạm Vinh chưa có nhà xuất bản; còn bản thân chúng tôi cũng chưa hề gửi xuất bản công trình ấy cho bất kỳ nhà xuất bản nào. Mặt khác, quan niệm của chúng tôi bấy giờ (1996) có thể cũng chưa chính xác, chưa cập nhật đầy đủ những tiến bộ của khoa học về vấn đề này.

 Khảo sát kỹ toàn bộ những truyện cổ tích có yếu tố thần kỳ chúng ta sẽ thấy có hai nhóm truyện đã sử dụng yếu tố thần kỳ với vai trò khác nhau, trong đó, ở nhóm thứ nhất xung đột xã hội được giải quyết nhờ cái thần kỳ, dẫn đến sự thay đổi của cốt truyện theo mong ước của tác giả dân gian; còn ở nhóm thứ hai, yếu tố thần kỳ thực chất là bộ phận ngoại cốt truyện, không tham gia giải quyết xung đột xã hội, không tham gia làm thay đổi cốt truyện và thường chỉ giữ một chức năng ở cuối truyện - sự biến hình. Chỉ muốn đơn giản hóa việc phân chia tiểu loại, Triều Nguyên đã không chú ý tới sự khác nhau về vai trò của yếu tố thần kỳ trong hai nhóm cổ tích trên và đã nhập chung cả hai nhóm vào tiểu loại cổ tích thần kỳ. Từ kết quả có được, Triều Nguyên cảm thấy nhẹ nhõm: "Khi đã cho"truyện cổ tích thần kỳ thì phải có yếu tố thần kỳ" và truyện cổ tích thế tục không có yếu tố thần kỳ, cũng không có môi trường thần kỳ", thì việc phân định giữa truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích thế tục không có gì khó khăn nữa"(6). Trong hoạt động nghiên cứu, việc xác định khái niệm công cụ là hết sức quan trọng nhằm tiếp cận bản chất đối tượng, nhưng phải dựa trên những căn cứ khoa học, chứ không thể vì mục tiêu đơn giản hóa vấn đề, giảm khó khăn cho người nghiên cứu. Có vẻ như nhận rõ điều này, Triều Nguyên quay sang chủ trương phân biệt hai tiểu loại cổ tích thần kỳ và cổ tích thế sự bằng phương pháp sáng tác. Tác giả viết: "Bấy giờ, có thể đặt vấn đề ở bình diện phương pháp sáng tác, rằng một bên cứ vào siêu nhiên, tạo ra điều con người muốn có, một đằng dựa vào hiện thực, kể lại điều con người hiện có. Nói khác đi, truyện cổ tích thần kỳ sử dụng phương pháp lãng mạn, qua các yếu tố thần kỳ, truyện cổ tích thế tục sử dụng phương pháp hiện thực, với logic thực tại (biểu hiện qua hoàn cảnh xã hội, tính cách nhân vật)"(7). Thế nhưng, ở đây Triều Nguyên đã không nhận ra rằng bộ phận truyện cổ tích có yếu tố thần kỳ (sự biến hình) như: Sự tích chim hít cô, Sự tích chim năm trâu sáu cột, Sự tích chim đa đa hay là Truyện bố ghẻ ơi bát cát quả cà, v.v… đều dùng phương pháp sáng tác hiện thực. Loại truyện này không hề "tạo ra điều con người muốn có", số phận nhân vật chính ở đó được kể lại như "hiện có" với kết thúc đau thương như cuộc đời thực của họ. Sự biến hình không phải là cuộc sống ước mơ của tác giả dân gian, mà là thủ pháp nghệ thuật nhằm tượng hình vào nhân gian dấu ấn về những nỗi niềm bi thương của người lao động. Trái lại, dù cách thức thể hiện khác nhau, dù mức độ có khác nhau nhưng tất cả cổ tích thần kỳ đều hướng tới ước mơ: người tốt được hưởng hạnh phúc, kẻ xấu bị trừng trị và điều đặc biệt là những ước mơ đó đều đạt được nhờ yếu tố thần kỳ và trong địa hạt cái thần kỳ. Các nhà khoa học gọi đó là lối kết thúc có hậu. Nói cách khác, sự biến hình như ở các truyện nêu trên không phải là kết thúc có hậu và những truyện cổ tích thuộc loại này không được sáng tác theo phương pháp lãng mạn.

Đến đây cũng phải nói thêm rằng: không phải mọi cổ tích thế sự đều không phản ánh ước mơ, không kết thúc có hậu. Một số truyện cổ tích nói về các nhân vật như chàng khỏe, chàng thiện xạ, anh tài, v.v… đều kết thúc có hậu, không nhờ yếu tố thần kỳ mà nhờ sức lực, trí tuệ,… con người. Những năng lực này không phải là yếu tố thần kỳ mà là hư cấu - phóng đại dựa trên cảm hứng lãng mạn - ước mơ.

Rõ ràng không thể dựa vào việc có hay không yếu tố thần kỳ, cũng như dựa vào phương pháp sáng tác hiện thực hay lãng mạn để phân biệt hai tiểu loại cổ tích thần kỳ và cổ tích thế sự như đề xuất của Triều Nguyên.

Về truyện cổ tích thần kỳ, các nhà folklore học Xô viết quan niệm như sau: cổ tích thần kỳ là những cổ tích trong đó các xung đột xã hội được giải quyết trong địa hạt của cái thần kỳ và nhờ cái thần kỳ. Quan niệm này đã được thể hiện trong giáo trình Văn học dân gian Nga, do A.M.Nôvicôva chủ biên, phần cổ tích do Giáo sư V. P. Anhikin, Chủ nhiệm chuyên ngành folklore khoa Ngữ Văn, trường Đại học quốc gia Lomonoxop viết(8). Các nhà cổ tích học Xô viết quan niệm rằng: không phải mọi cổ tích có yếu tố thần kỳ đều là cổ tích thần kỳ. Trong những cổ tích có yếu tố thần kỳ, nhưng các xung đột xã hội không được giải quyết nhờ yếu tố thần kỳ và trong địa hạt của cái thần kỳ thì không thuộc cổ tích thần kỳ. Chiếu theo quan niệm này, những truyện cổ tích của người Việt như Sự tích vọng phu, Sự tích ba ông đầu rau, Sự tích trầu cau và vôi, v.v… là cổ tích thế sự. Phần lớn các nhà folklore học Việt Nam thế hệ trước cũng đồng quan điểm với các nhà bác học Xô viết (như ý kiến của PGS. Hoàng Tiến Tựu được dẫn trên đây), dù phát biểu có phần khác nhau. Các nhà folklore học châu Âu (cả Đông và Tây) đều đánh giá cao cách hiểu cổ tích thần kỳ của các nhà bác học Xô viết, nhất là sau khi cuốn Hình thái học của truyện cổ tích của V. Ia. Prop được dịch rộng rãi ngót hai mươi thứ tiếng sau lần xuất bản đầu tiên (1928).

 

Chú thích

(1). Lê Chí Quế (Chủ biên), Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ (1999), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

(2). Tăng Kim Ngân (1994), Truyện cổ tích thần kỳ người Việt - Đặc điểm cấu tạo cốt truyện, Nxb KHXH.

(3). V.Ia. Prop (1928), Hình thái học của truyện cổ tích, Nxb Academia, Leningrad (Bản tiếng Nga).

(4). Triều Nguyên (2017), Truyện cổ tích và việc phân định giữa hai tiểu loại cổ tích thần kỳ và cổ tích.

(5). Triều Nguyên (2017), Truyện cổ tích và việc phân định giữa hai tiểu loại cổ tích thần kỳ và cổ tích thế tục, Tạp chí Nguồn sáng dân gian số 3, tr. 37 - 46. Quan niệm này lần đầu được tác giả thể hiện trong phần Dẫn luận cuốn Tìm hiểu về truyện cổ tích thế tục, Nxb. Thuận Hóa, 9/2017 (tr.39).

(6). Hoàng Tiến Tựu (1990), Văn học dân gian Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục Hà Nội, tr.62-63. Dẫn theo Triều Nguyên trong bài viết nêu trên.

(7). Triều Nguyên, tài liệu đã dẫn, tr.44.

(8). Triều Nguyên, tlđd, tr .44,45.

(9). A.M.Nôvicôva, Sáng tác thơ ca dân gian Nga, tập I (1983), Đỗ Hồng Chung và Chu Xuân Diên dịch, Nxb. ĐHTHCN, tr.259.

Luật sư Trần Thúc Hoàng

Chúng ta kết thúc năm 2017 với biết bao thành tựu cụ thể bằng con số của một Chính phủ "kiến tạo, liêm chính, hành động và phục vụ". Có thể nói, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa 12 đã đi vào cuộc sống cụ thể từng ngày, từng giờ. Người dân đang hân hoan và nức lòng khi Đảng và Nhà nước kiên quyết bài trừ tham nhũng và không có "vùng cấm" trong quyết sách này.

Cải cách hành chính trong bộ máy nhà nước là chủ đề được nóng lên trong các hội nghị từ Trung ương đến địa phương. Chính phủ đã chỉ đạo việc rà soát bãi bỏ hàng ngàn giấy phép con ở các Bộ. Môi trường đầu tư và kinh doanh đang được các nhà đầu tư nước ngoài và doanh nhân trong nước đánh giá là ngày càng cởi mở và thông thoáng...

Thế nhưng, có một lĩnh vực rất dễ, để từng người dân, từng gia đình, từng địa phương có thu nhập cao... đóng góp cho đất nước vẫn đang bị "bế quan tỏa cảng"! Đó là lĩnh vực "xuất khẩu lao động và chuyên gia" đi nước ngoài.

Người viết những dòng này có con trai học tiếng Nhật hai năm và tốt nghiệp đại học kinh tế tại Nhật Bản (tổng cộng là sáu năm). Cháu vận động bạn bè người Nhật (chủ yếu là những doanh nhân, chuyên gia người Nhật đã lớn tuổi) thành lập một tổ chức phi lợi nhuận để đóng góp xây dựng đất nước.

Cụ thể là vận động Hiệp hội Lao động Nhật Bản tiếp nhận người lao động Việt Nam. Đồng thời vận động đưa tàu thuyền đánh cá loại nhỏ đã qua sử dụng vỏ bằng composite đưa về giúp ngư dân...

Vừa qua, tổ chức phi lợi nhuận này đã viện trợ cho tỉnh Nghệ An một chiếc tàu cứu hộ tên là HAKAMAZE. Tổ chức này đã cam kết với tỉnh Nghệ An sẽ viện trợ tiếp 30 con tàu đánh cá và cam kết sẽ tiếp nhận hàng vạn lao động Việt Nam sang Nhật Bản (Báo điện tử Nghệ An ngày 21/6/2017). Thế nhưng, mọi việc "nói vậy không phải vậy". Bởi "đụng" vào bất kỳ thủ tục nào cũng cực kỳ... nhiêu khê!

Trong lúc bà con ngư dân ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định đang khốn đốn vì các cơ sở đóng tàu trong nước. Bởi tàu đánh cá bàn giao cho người dân chưa "ráo mực" đã bị hư hỏng. Nợ ngân hàng thì phải gánh, phương tiện ra khơi thì nằm bờ...

Phía Nhật Bản muốn viện trợ, cho tặng nhưng "phía ta"... không đơn giản chút nào (có lẽ Nghệ An cũng... sợ cái thủ tục này khi tiếp nhận tàu cứu hộ lần trước. Nên nay có vẻ... lừng khừng?!). Chúng ta đang ở trong thời kỳ dân số vàng. Trong lúc đó Nhật Bản lại đang trong thời kỳ khủng hoảng thiếu về nguồn lực lao động. Người viết những dòng này đã từng đi cùng phái đoàn Nhật Bản làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An về những nội dung trên. Tỉnh Nghệ An rất phấn khởi khi phía Nhật Bản cam kết sẽ tiếp nhận lao động người Nghệ An (bao gồm lao động phổ thông, lao động kĩ thuật và điều dưỡng viên...) thế nhưng, đến nay đã ngót sáu tháng vẫn chưa thể thực hiện được lời cam kết tại Hội nghị (25/6/2017). 

Chẳng lẽ, "Chính phủ" của một địa phương có dân số và diện tích tương đương nước cộng hòa Albania (3triệu) lại không thể xin được giấy phép đưa lao động đang dư thừa sang Nhật hay sao? Thử làm một phép tính: nếu tỉnh Nghệ An hằng năm đưa 10.000 lao động sang Nhật. Lương bình quân 1,5 ngàn đô la một tháng. Thì ta có phép tính: 18.000USD/ người/ năm x 10.000 người = 180.000.000 USD.

Và nếu gấp một vài chục lần như thế thì con số sẽ là hàng chục tỷ đô la mỗi năm! Lợi ích rõ ràng và thiết thực như vậy tại sao không làm? Cần nói thêm rằng, khi sang làm việc học tập và sinh sống ở một đất nước văn minh như Nhật Bản thì khi họ trở về, quê hương - đất nước sẽ tiếp nhận "luồng gió" văn minh mọi mặt... Trở ngại nằm ở đâu? Đương nhiên, phải là bộ chủ quản đó là Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. Được biết, để có được một giấy phép chuyên về lĩnh vực xuất khẩu lao động - không đơn giản tí nào. Và hầu hết những doanh nghiệp đang làm lĩnh vực này đều... "thuê" lại giấy phép ?! Nên chăng - cần có một cuộc tổng kiểm tra rà soát lại lĩnh vực này để cấp phép mới cho những doanh nghiệp có đầu vào đầu ra một cách công khai minh bạch, nhằm giảm bớt các khâu trung gian, theo tinh thần "kiến tạo, liêm chính, phục vụ và hành động" - tạo điều kiện cho bất kỳ người lao động nào, gia đình nào dù nghèo khó vẫn có thể "đổi đời" bằng cách đi lao động ở Nhật Bản.

Nhiều nước Đông Nam Á coi lĩnh vực xuất khẩu lao động là mũi nhọn. Chẳng hạn Philippines có dân số tương đương Việt Nam mỗi năm thu nhập từ xuất khẩu lao động tương đương 10% GDP. Để có một Hàn Quốc phát triển ngày nay họ đã từng coi xuất khẩu lao động là mũi nhọn để bước vào công nghiệp hóa.

Còn chúng ta, vài chục năm gần đây có tấm gương điển hình về "đổi đời" là xã Cương Gián ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh (nhưng chỉ là thu nhập thấp ở Đài Loan, Hàn Quốc mà thôi). Hầu hết dư luận từ Nam chí Bắc nói đến lĩnh vực này đều được biết nhiều trường hợp tiền mất tật mang do nạn môi giới lừa đảo, cò kéo. Đi được cũng mang nợ, không đi được cũng mang nợ do nạn cò kéo, lừa đảo và ăn chặn của người lao động.

Mong rằng, Chính phủ chỉ đạo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cần tranh thủ "thời kỳ dân số vàng" để "kiến tạo thu nhập cao" cho người lao động. Để dân giàu nước mạnh. Mà thị trường lao động ở Nhật Bản được trả lương cao nhất, đối xử văn minh nhất, và là môi trường để rèn luyện đào tạo con người tốt nhất.

Mong lắm thay!

 

Khắc Thanh

Họ Nguyễn Khắc gốc ở xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, sau chuyển đến ở phường Hà Khẩu, kinh đô Thăng Long (nay là phố Hàng Buồm, Hà Nội), sau dời vào cư trú ở làng Nha Môn, nay thuộc xã Hồng Long, huyện Nam Đàn, Nghệ An. Nha Môn trở thành quê hương thứ hai của dòng họ Nguyễn Khắc. Hai vị khởi tổ ở Nha Môn là Nguyễn Khắc Văn và Nguyễn Khắc Thiệu.

Thôn Nha Môn, hay Long Môn từ năm 1810 thuộc xã Lâm Thịnh, đến 1947 thuộc xã Xuân Lâm, rồi đổi là Xuân Tiến (1952), lại đổi thuộc xã Nam Long, cùng với Nam Hồng nhập thành xã Hồng Long (1968-1969). Từ xa xưa, Long Môn cùng với Nhạn Tháp, nay đều thuộc xã Hồng Long là một vùng đất địa linh của huyện Nam Đường (đến triều Nguyễn đổi là Nam Đàn). Nhạn Tháp từ thời nhà Đường đô hộ vốn nổi tiếng là trung tâm Phật giáo của Châu Hoan (Nghệ An - Hà Tĩnh). Khảo cổ học đã phát hiện nền Tháp Nhạn cùng với hộp đựng Xá lị (lưu tại Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Nghệ An) và các viên gạch có khắc họa hình Phật (có đề niên đại thời Đường Cao Tông 623) nay còn lưu tại Nhà truyền thống Nam Đàn. Chúng tôi cũng sưu tầm được ở Nam Đàn một chuông lắc tay pháp sư có đúc hình hoa văn rất đẹp và một viên gạch trắng hình trái tim hay lá đề, trong có hình Phật ngồi giữa hai cây nến, đều có niên đại thời nhà Đường. Hộp xá lị được tìm thấy ở Nhạn Tháp là một bằng chứng cho sự tiếp nhận Phật giáo sớm ở xứ Nghệ và xứ Nghệ có thể được coi là một trong những trung tâm Phật giáo sớm của cả nước. Trải qua nhiều biến đổi đến nay xã Hồng Long chỉ còn có 6 di tích lịch sử - văn hóa từ đời nhà Lý đến hậu Lê. Riêng làng Nha Môn có các di tích: Chùa Vàng, chùa Ngầm, đền Tứ Trụ, đền Long Môn, Mộ và đền thờ Nguyễn Khắc Văn. Thật vinh dự cho dòng họ Nguyễn Khắc là nhà thờ họ đã được xếp hạng di tích của tỉnh để bảo tồn, bảo vệ và phát huy giáo dục truyền thống. Hai vị tổ họ Nguyễn Khắc được thờ ở đây là hai cha con Tiến sĩ (TS) Nguyễn Khắc Văn và Nguyễn Khắc Thiệu. Theo gia phả dòng họ ghi chép lại (bản dịch) thì ông tổ đầu tiên:

Ngài tên là Nguyễn Khắc Văn, thi đậu Đệ tam giáp đồng TS xuất thân khoa thi Mậu Thìn 1628. Ngài làm quan đến chức Tả Đô đốc đồng tri, kiêm Tham tri. Ngài được phong tước Văn Phương hầu. Ngài được nhà vua xếp vào hàng ngũ những vị thần linh thiêng, hiệu của ngài là Đoan túc, Quang ý, Dực bảo, Trung Hưng, Phúc thần. Ngài sinh được 3 người con trai là:

Người con cả Nguyễn Khắc Thiệu ở tại xã Hoàng Liệt, kinh đô Thăng Long.

Người con thứ hai:Nguyễn Khắc Linh, ở tại thôn Long Môn, xã Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, Nghệ An.

Người con thứ ba là Nguyễn Khắc Chinh, dời đến ở thôn Thanh Đàm, xã Thanh Trai, huyện Thanh Chương (nay là xã Nam Tân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).

Mộ của ngài Nguyễn Khắc Văn táng tại xứ Đồng Cậy, nay thuộc địa phận Nha Môn.

Qua Đại Việt sử ký toàn thư, thấy được Nguyễn Năng Thiệu là người văn võ song toàn, khi có sự biến quân chúa Nguyễn ở Đằng Trong đánh chiếm vùng đất Nam Hà (tỉnh Hà Tĩnh ngày nay), ông được cử làm tướng cầm quân, có công bàn mưu tính kế cùng các tướng khác đánh tan được giặc, lấy lại được vùng đất đã mất. Ông được ban tặng các chức tước xứng đáng lên đến Bồi tụng, rồi Thượng thư bộ Lễ, tước Dương quận công. Khi mất, nhà vua thương tiếc ban cho ông tên thụy là Trung túc (người trung thành và nghiêm túc).

Con cháu của Nguyễn Khắc Văn và Nguyễn Khắc Thiệu đều nối nghiệp bút sách, khoa bảng và làm quan phụng sự quê hương, đất nước: Nguyễn Khắc Linh, tự Thuyên đỗ Tam trường thi Hội (triều Nguyễn là Phó bảng), làm quan Huấn đạo phủ Triệu Phong, Thanh Oai, thăng Hàn lâm kiểm thảo; hai con trai Khắc Thăng và Khắc Kinh đều là Nho sinh trúng thức (Hương cống). Nguyễn Khắc Thể, đời thứ 4, chi Nha Môn, đỗ Hương cống, vào học trường Quốc Tử Giám. Đời thứ 5, Nguyễn Mai Xá, chi Hương Sơn, làm quan đến Thiên hộ tráng tiết tướng công. Đời thứ 6, Nguyễn Đình Doãn được ban tước Thập Lý hầu. Đời thứ 7, anh em là Khắc Truyền, Khắc Nho, Khắc Thịnh, chi Nha Môn đều làm tri phủ và tri huyện. Đời thứ 8, Nguyễn Văn Nho, chi Hương Sơn làm tri huyện. Đời thứ 9, Nguyễn Khắc Giang và 3 anh em con Can tổng Nguyễn Khắc Điền là Khắc Mỹ, Khắc Ưng, Khắc Thiệp, chi Nha Môn đều đỗ Tú tài. Đời thứ 10, Nguyễn Khắc Mận (Nam Giang) tham gia phong trào Cần Vương. Khắc Cần ở Nha Môn là một tướng quân của Đề Thám, hy sinh trong trận đánh thành Bắc Ninh. Đời thứ 11 đến 13 có các Tú tài Nguyễn Văn Trứ (Hương Sơn), Nguyễn Đình Đình (Thanh Đàm), Khắc Phan là Hàn lâm Thị độc, Khắc Thiều (Hương Sơn). Đời 13 có Nguyễn Khắc Niêm, nổi tiếng thi thư, nối tiếp được dòng dõi Khắc Văn, Khắc Thiệu, tuổi trẻ, 19 tuổi đã đỗ Tiến sĩ. Ông là người đã soạn và cho dựng bia lăng mộ cụ tổ Nguyễn Khắc Văn, Nguyễn Khắc Thiệu và còn nổi tiếng để lại trước tác thơ văn…

Họ Nguyễn Khắc đến nay hình thành 3 chi lớn ở Nghệ Tĩnh: Chi Khắc Thăng ở Nha Môn, Nam Đàn; chi Khắc Kinh ở Thịnh Xá, An Ấp, Hương Sơn, Hà Tĩnh; chi Nguyễn Khắc Chinh ở Ngụ Vạn, Thanh Đàm, Thanh Chương. Các chi nhánh họ Nguyễn Khắc tỏa đi khắp nơi: Hưng Dũng, Hưng Bình, Bến Thủy (thành phố Vinh); Hương An (Hương Sơn); Hưng Phú, Hưng Khánh, Hưng Châu, Hưng Mỹ (Hưng Nguyên); Diễn Thịnh (Diễn Châu); Thanh Khê (Thanh Chương); Thanh Đàm, Nam Tân (Nam Đàn); Tân Sơn (Đô Lương). Một số chi họ tiêu biểu, có nhân vật nổi tiếng cho dòng họ Nguyễn Khắc từ Tiên tổ Nguyễn Khắc Văn Nha Môn, Nam Đàn:

Chi họ Nguyễn Khắc ở Hưng Dũng, TP Vinh

Từ đường chi họ tọa lạc trên đường Nguyễn Gia Thiều, thuộc xóm Xuân Trung, P. Hưng Dũng, Tp. Vinh. Nhà thờ có từ lâu đời, rất khang trang thuộc trung tâm đất dòng họ với 3 cấp dài và rộng theo hướng Nam chếch Đông, cấp dưới cùng là giếng làng, nước trong vắt. Trải qua nhiều biến động thời gian thiên tai, địch họa nhà thờ bị tàn phá, đến nay con cháu tôn tạo tu bổ xây dựng lại ngày càng khang trang hơn. Thượng điện làm bằng gỗ mít bền đẹp. Bái đường, cửa chính, tắc môn đều cổ kính uy nghi và còn lưu được một số đồ tế khí cổ như hoành phi, câu đối cỗ kham hương án… Theo Văn chính tế là nơi thờ Thập bát thế tổ, nhưng theo tộc giả nhà thờ ghi chép thì hiện chưa thống kê được hết tên tuổi các vị, do gia phả các chi nhánh bị thất lạc. Hàng năm tại nhà thờ có một giỗ tảo mộ cho 7 vị tiên tổ. Tương truyền chi phái Hưng Dũng là chi trưởng, nên nhà thờ gọi là Nguyễn Khắc đại từ đường và Nguyễn Khắc Tiếu chính là Nguyễn Khắc Thiệu (con trưởng của Khắc Văn do đọc tránh húy?). Bài vị của vị tổ Khắc Thiệu có từ cách ngày nay 340 năm mới được phát hiện trong long ngai và đọc dịch như sau:

高祖考梨朝上書步例爵郡公字克紹瑞忠夙神位

Cao Tổ khảo Lê triều Thượng thư bộ Lễ, tước Quận công, tự Khắc Thiệu, thụy Trung Túc Thần vị.

 Tiếp theo, từ tộc trưởng đại tôn Nguyễn Khắc Minh, con thứ là Nguyễn Khắc Cần sinh ra và chia chi từ đó. Chi I, tộc trưởng Nguyễn Khắc Vĩnh (đã mất gia phả?). Chi II, đời thứ nhất là Nguyễn Khắc Trung (con thứ 2) cho đến đời tộc trưởng Nguyễn Khắc Song là 11 đời. Chi VII ghi được tộc trưởng là Nguyễn Khắc Đỗ đến Nguyễn Khắc Lực tộc trưởng hiện nay. Con cháu chi họ Nguyễn Khắc Hưng Dũng đều được sinh ra từ vị thủy tổ Nguyễn Khắc Văn, Nguyễn Khắc Thiệu tới tộc trưởng hiện nay Nguyễn Khắc Vĩnh là 18 đời… Tại nhà thờ còn lưu bức đại tự có niên đại từ triều Bảo Đại:  明 德 遠 Minh đức viễn (Đức sáng tỏa xa). Đôi câu đối có lạc khoản do tộc nhân Nguyễn Danh Bá cung phụng:

一堂照睦精神萃/萬古彝倫日月恆

Nhất đường chiếu mục tinh thần tụy;

Vạn cổ di luân nhật nguyệt hằng.

Một nhà sáng rọi tinh thần tụ;

Muôn thuở đạo thường nhật nguyệt bền.

Con cháu chi họ Nguyễn Khắc Hưng Dũng nổi tiếng có ông Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao từ năm 1991, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, BCHTW Đảng khóa VII, VIII, Phó Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam. Ông đã có nhiều công lao đóng góp cho nền ngoại giao nước nhà:… Đã chỉ đạo tiến trình mở cửa đất nước, khôi phục quan hệ với các định chế tài chính quốc tế và bình thường hóa với hầu hết các nước trên thế giới để tạo ra khung cảnh thuận lợi nhất chưa từng có cho việc tranh thủ những nguồn lực bên ngoài để xây dựng đất nước và củng cố nền hòa bình thật cần thiết cho Việt Nam sau hàng mấy chục năm chiến tranh. Hình ảnh và vị thế quốc tế của Việt Nam cũng theo đó mà ngày càng được nâng cao (Lời của nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Đại sứ nước ta tại Mỹ và Nhật Bản Nguyễn Tâm Chiến).

Chi họ Nguyễn Khắc hương an

Khoảng giữa thế kỷ XVII, con trai thứ 2 của quan Huấn đạo Nguyễn Khắc Linh, cháu nội của Thần tổ Nguyễn Khắc Văn là Nguyễn Khắc Kính từ Nha Môn, Nam Đàn di cư sang làng Thịnh Xá, xã An Ấp, tổng An Ấp, nay là xã Sơn Thịnh, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh lập nghiệp. Tiên tổ Nguyễn Khắc Kính, thụy là Hòa Hậu đã nối theo được nghiệp Nho gia, là Nho sinh trúng thí, xây dựng nên một chi họ phát tích đến nay là đời thứ 16, với nhiều con cháu có sự nghiệp danh tiếng. Đến nay chi họ có nhà thờ đại tôn, trung tôn và 4 nhà thờ tiểu tôn. Đồ tế khí còn có 7 bia đá, 1 lá cờ tiến sĩ, 2 đạo sắc phong, 1 kiệu sơn son thiếp vàng, 1 khánh đá và các tài liệu chữ Hán… Nhà thờ đại tôn đã được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh năm 2013. Hàng năm, chi họ tổ chức lễ tế vào các dịp tết Nguyên đán, Trung nguyên (rằm tháng 7), đông chí, làm lễ tảo mộ và tế xuân vào ngày 8/1 âm lịch. Chi họ đã xây dựng được một truyền thống hiếu học, đậu đạt khoa bảng, quan trường. Nhiều đời có người thi đỗ nhất nhì bảng rồng, bảng hổ (Tiến sĩ, hưng cống, cử nhân, sinh đồ, tú tài). Thời Lê có 2 người làm quan đến Thiên hộ Tráng tiết tướng quân. Đến đời thứ 11, khoa Đinh Mùi, năm Duy Tân thứ 1 (1907) có Nguyễn Khắc Niêm thi đỗ tiến sĩ. Nguyễn Khắc Niêm (1888-1954), đỗ hội nguyên, Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp), làm quan Thừa chỉ, sung Kiểm giáo, Tu nghiệp Quốc Tử Giám, Đốc học Nghệ An, Tri phủ Anh Sơn, Án sát, rồi Bố chánh Nghệ An, Thị lang, rồi Tham tri bộ Lễ, Tuần phủ Khánh Hòa, Phủ doãn Thừa Thiên, Tổng đốc Thanh Hóa, về hưu tặng Hiệp biện Đại học sĩ.

Cụ là thân phụ của 15 người con, trong đó nổi tiếng thành đạt là Nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, học giả Nguyễn Khắc Dương (nguyên CN khoa Văn - Triết Đại học Đà Lạt), GS. Nguyễn Khắc Phi, Nhà văn Nguyễn Khắc Phê (Giải thưởng VHNT Nhà nước).

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (1913 - 1997), được người đời gọi là nhà khoa học, nhà văn, chính trị gia, học giả, sĩ phu thời đại. Nguyên là bác sĩ chuyên khoa Nhi, sáng lập ra Trung tâm nghiên cứu tâm lý bệnh lý trẻ em. Ông là con cả Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm và bà chính thất Nguyễn Thị Cán, chị ruột Tiến sĩ Nguyễn Xuân Đản. Thuở nhỏ nổi tiếng thần đồng. Năm 1934 thi đỗ cùng một lúc 3 bằng Tú tài vào loại xuất sắc là triết, toán và bản xứ. 1934 - 1937 học Đại học Y khoa Hà Nội. 1937-1940 du học Pháp tại Đại học Y khoa Paris, đỗ 2 bằng tốt nghiệp Bác sĩ Nội trú về Nhi khoa và Bệnh nhiệt đới. Ông thường xuyên tìm đọc nhiều sách báo tiến bộ tại Thư viện ở Pháp và tích cực hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước, đấu tranh đòi dân chủ, tiến bộ. Ông từng được cử làm Chủ tịch Tổng hội Việt kiều ở Pháp và bị chính phủ Pháp trục xuất vào năm 1962. Năm 1963, ông được bố trí làm công tác đối ngoại, tham gia Đoàn Chủ tịch Hội nghị chính trị đặc biệt công bố lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước của Hồ Chủ tịch; sáng lập và làm Giám đốc Nhà xuất bản Ngoại văn; sáng lập và làm Tổng BT 2 tờ báo đối ngoại là Tin Việt Nam, Nghiên cứu Việt Nam. Ông để lại một kho tàng di thư, tác phẩm khá đồ sộ: Việt Nam một thiên lịch sử (tiếng Pháp - Giải thưởng NN); Việt Nam Tổ quốc tìm lại (tiếng Pháp); Ước mơ và hoài niệm; Lịch sử Văn học Việt Nam; Paris - Hà Nội (Hồi ký); Truyện Kiều (Bản dịch sang tiếng Pháp); Bàn về đạo Nho; Kinh nghiệm Việt Nam; Miền Nam Việt Nam sau Điện Biên Phủ; Từ sinh lý đến dưỡng sinh; Từ điển tâm lý; Từ điển xã hội; Nỗi khổ của trẻ em; Tâm bệnh lý trẻ em… Nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, được NN tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, đồng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho công trình Bản đồ Việt Nam và nhiều công trình khoa học, văn hóa, dịch thuật, được nhận giải thưởng lớn của nước Cộng hòa Pháp.

Đến ngày nay các con cháu hậu duệ của vị tổ Nguyễn Khắc Văn, Nguyễn Khắc Thiệu và các vị tiền nhân khác vẫn tiếp tục được truyền thống hiếu học, đậu đạt khoa cử, có tới hàng trăm người có bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ… Có nhiều người có công lao đóng góp xương máu, trí tuệ chất xám cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ, xây dựng đất nước, như các liệt sĩ Khắc Cận, Khắc Nông, Khắc Ngọc, Khắc Lương (Hương Sơn), Khắc Nho (Thanh Hóa), Khắc Duyệt, Khắc Hiệu (Nam Giang). Các nhân vật tiêu biểu trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ: Nguyễn Khắc Tuấn, nguyên Thường vụ Huyện ủy Nam Đàn, sau làm Trưởng đoàn chuyên gia tại Lào; Lê Hữu Quán, tức Nguyễn Văn Hồng, cháu ngoại, tù Sơn La, Côn Đảo, nguyên Bí thư liên tỉnh Châu Đốc - Rạch Giá - Hà Tiên, Đại sứ Việt Nam tại An-ba-ni, Bun- ga-ri; các cơ sở cách mạng và đảng viên 30-31 Nguyễn Khắc Yên, Khắc Pha, Khắc Dương, Khắc Đống, Khắc Cứ, Khắc Lợi, Thị Thanh; Nguyễn Khắc Minh, PBT Tỉnh ủy Nghệ An 1937; các sĩ quan cao cấp quân đội như: Đại tá Khắc Hoàn, Khắc Thêm, Khắc Ngại, Khắc Bình, Phạm Minh; Thượng tá Lê Khánh Khang và 2 Thiếu tướng Khắc Tân (Sơn Quang, Hương Sơn) và Khắc Dương (Thanh Hóa), nguyên Ủy viên TW Đảng, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Quân khu IV; các Giáo sư (GS, PGS), Tiến sĩ (TS): TS Nguyễn Văn Mừng, Sơn Hòa, Hương Sơn (ở Hoa Kỳ); TS Nguyễn Khắc Duật ở Bến Thủy, Vinh, nguyên PGĐ Trung tâm TTKHKT Bộ Giao thông Vận tải; TS. Nguyễn Khắc Sinh, Sơn An, Hương Sơn, nguyên Hiệu trưởng trường ĐHSP - Đại học Đà Nẵng, Trưởng khoa Đại học Duy Tân Đà Nẵng, Phó hiệu trưởng Đại học Đông Á Đà Nẵng; PGS.TS Nguyễn Đình Mãn, Hưng Phú, Hưng Nguyên, Phó hiệu trưởng, Bí thư Đảng ủy ĐHKTCN Thái Nguyên; PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Huyên, Trưởng khoa Đại học Kinh tế Quốc dân; TS. Nguyễn Kim Thư, Sơn Hòa (ở Mỹ); TS. Nguyễn Khắc Thành, Hoàng Hóa, Thanh Hóa, Phó trưởng phòng Tổ chức cán bộ Bộ Công an; TS. Nguyễn Thái Tất Hoàn, Hương An, giảng viên Viện Cơ khí ĐH Bách khoa Hà Nội; Nhà văn Nguyễn Khắc Phê, Chi hội trưởng Hội nhà văn tại Thừa Thiên Huế; Nhà giáo ưu tú Nguyễn Khắc Phi, Tổng biên tập NXB Giáo dục; Các nhà lãnh đạo các ngành: Các doanh nhân: Nguyễn Chí Linh, Nguyễn Xuân Sơn, Nguyễn Khắc Sơn, v.v… 

Đào Tam Tỉnh

 

Họ Nguyễn Khắc ở xã Hồng Long, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An là một dòng họ lớn, sản sinh ra một số nhân vật văn hóa khoa bảng nổi tiếng ở xứ Nghệ. Trải qua thời gian lịch sử với nhiều biến đổi thời cuộc, tài liệu dòng họ bị mất mát, phân tán nhiều, khó tìm lại được. Để giúp cho việc nghiên cứu về dòng họ, chúng tôi thấy cần thiết phải tập hợp, giới thiệu các tài liệu về họ Nguyễn Khắc còn rải rác ở các nơi lưu trữ và dân gian địa phương, đặc biệt là các tài liệu Hán Nôm quý hiếm.

Dòng họ Nguyễn Khắc còn lưu giữ được bản gia phả chữ Hán và đã được phiên dịch sang Quốc ngữ. Gia phả ghi chép từ ông tổ Nguyễn Khắc Văn cho đến đời thứ 12. Đây cũng là dòng chính họ Nguyễn Khắc ở Hồng Long rồi phát tích ra các chi ở các nơi khác. Quyển tiếp theo ghi tiếp từ đời thứ 13 cho đến ngày nay.

Di sản tài liệu Hán Nôm liên quan đến dòng họ Nguyễn Khắc chủ yếu viết về hai ông tổ là Nguyễn Khắc Văn và Nguyễn Khắc Thiệu, dòng chính ở Nha Môn, Nam Đàn, Nghệ An và Nguyễn Khắc Niêm ở Thịnh Xá, Hương Sơn, Hà Tĩnh. Đó là các tài liệu viết về tiểu sử, đậu đạt khoa bảng, sự nghiệp làm quan qua văn bia Văn Miếu Quốc Tử Giám, sắc phong thần, văn bia mộ tưởng niệm, sách lịch sử quốc gia (Đại Việt sử ký toàn thư), bài vị, đại tự, câu đối và sách địa chí, lịch sử địa phương…

Bài ký đề tên tiến sĩ khoa Mậu Thìn, niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 10 (1628), đời Lê Thần Tông có ghi về Nguyễn Khắc Văn như sau:

Cho đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân 14 người/ Nguyễn Khắc Văn: Phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, xếp thứ 7/14 người (khoa này lấy đỗ 1 Đệ nhất giáp đệ tam danh - Thám hoa là Giang Văn Minh; 3 Đệ nhị giáp (Hoàng giáp) và 14 Đệ tam giáp), Đỗ Văn Ninh. Văn bia Quốc Tử Giám Hà Nội - H, VH-TT, 2000, tr. 206-301.

Sách Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919)/  Ngô Đức Thọ CB (H, Văn học, 1993 - Tr. 535) có ghi:

Nguyễn Khắc Văn (1567 - ?), người phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, nay là phố Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội. Nguyên quán xã Hoằng Liệt, huyện Thanh Trì… Cha của Nguyễn Khắc Thiệu. 62 tuổi đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Thìn, niên hiệu Vĩnh Tộ 10 (1628) đời Lê Thần Tông. Làm quan đến chức Quang lộc Tự khanh. Khi mất được tặng chức Lễ bộ Hữu Thị lang.

Sau khi thi đậu, ông được triều đình cử giữ các chức vụ quan trọng và có nhiều công lao đóng góp cho triều đình, đất nước, được lòng dân khen ngợi. Sách Đại Việt sử ký toàn thư (Bản dịch. T.3- H, KHXH, 1998- Tr. 229) có ghi:

Canh Ngọ, Đức Long năm thứ 2 [1630]… Tháng 10… Bấy giờ bọn khâm sai võ tướng phần nhiều cậy thế thân cận có công, không theo chiếu lệnh, lấy lạm của dân, công nhiên hối lộ, thải người già, miễn bắt lính, điên đảo bất công, nhiều lần bị chất vấn, quở trách, mà quan duyệt tuyển ở Thanh Hoa là bọn Thái Bá Kỳ càng quá lắm. Duy có bọn Cao Ty, Trần Vĩ… Nguyễn Khắc Văn… là thận trọng giữ phép, không phạm pháp, được lòng dân nhiều, dân đều ca ngợi…

Tháng 11, sai Bắc quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Phó tướng Tây Quận công Trịnh Tạc thống lĩnh tướng sĩ bản bộ và các dinh cơ dưới quyền cùng quan lính châu Bố Chính trấn giữ xứ Nghệ An; lấy Thái bộc Tự khanh Giang Văn Minh làm Đốc thị. Lại sai Thái bảo Nhạc Quận công Bùi Sĩ Lâm trấn thủ xứ Thanh Hoa, lấy Tự khanh Nguyễn Khắc Văn làm Đốc đồng, đều vâng mệnh ra trấn. Đi đến đâu ban hành lệnh cấm, trong cõi yên lặng…

Ông làm quan trong thời đại có nhiều biến động (Lê - Trịnh), nhưng không a dua với bọn cơ hội mà luôn giữ được đạo đức trong sáng, làm quan thanh liêm, nghiêm túc, rất được lòng dân, nên triều đình đã cử ông làm quan Đốc đồng Thanh Hoa, rồi Tả Đô đốc đồng tri, Tả lãnh sứ, được ban tước Văn Phương hầu (tước hầu thơm tên: Văn). Sau khi nghỉ hưu, ông đã chọn đất Nha Môn, bên bờ tả ngạn sông Lam trong xanh, nơi đất lành chim đậu làm quê hương thứ hai và xây dựng làng quê ngày càng trù phú, phát tích cho con cháu mãi mãi về sau. Ông mất tại đây và được con cháu về sau xây dựng lăng mộ to đẹp. Nhân dân đã xây đền thờ và thờ ông là vị thần linh Thành Hoàng của làng. Đúng như bài vị ở Long Môn đã ghi về ông:

戊辰科同進士出申光祿寺卿之神梨朝敕封翊保中興大神

Mậu Thìn khoa Đồng Tiến sĩ xuất thân, Quang lộc Tự khanh chi Thần, Lê triều sắc phong Dực bảo Trung hưng đại thần.

Các triều đại đều có sắc phong thần cho ông, nhưng nay chỉ còn lại 3 bản sắc phong triều Nguyễn, tiêu biểu như sắc sau:

敕乂安省南壇縣林盛社龍門村奉事黎朝永怍戊辰科進士歷頒光祿寺卿之神護國庇民稔著靈應向來未有預封四今丕丞耿命緬念神庥著封為端肅翊保中興之神隼仍舊奉事神其相佑保我黎民欽哉成泰拾五年拾壹月貳拾陸日

Sắc Nghệ An tỉnh, Nam Đàn huyện, Lâm Thịnh xã, Long Môn thôn phụng sự Lê triều Vĩnh Tộ Mậu Thìn khoa Tiến sĩ lịch ban Quang lộc Tự khanh chi thần. Hộ quốc ti dân nhẫm trứ linh ứng hướng lai vị hữu dự phong. Tứ kim phi thừa cảnh mệnh miễn niệm thần hưu trước phong vi Đoan túc Dực bảo Trung hưng chi thần, chuẩn nhưng cựu phụng sự thần kỳ tướng hữu bảo ngã lê dân. Khâm tai!

Thành Thái thập ngũ niên, thập nhất nguyệt, nhị thập lục nhật.

Tạm dịch: Sắc cho thôn Long Môn, xã Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An phụng sự vị thần: Lê triều Vĩnh Tộ Mậu Thìn khoa tiến sĩ, đương triều ban chức Quang lộc Tự khanh. Thần có công lao hộ quốc, giúp dân linh ứng rõ rệt, từ trước đến nay đã được dự phong. Nay, Trẫm gánh vác mệnh lớn, trông lại sự che chở của thần, nên phong là Đoan túc Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần, chuẩn cho thờ phụng như cũ. Thần hãy giúp đỡ che chở cho dân ta! Hãy nghe theo!

Ngày 26 tháng 11 năm Thành Thái thứ 15 (1903).

Con trai của Nguyễn Khắc Văn là Nguyễn Khắc Thiệu (còn gọi là Năng Thiệu), sinh năm 1611 - mất năm 1668. Ông nổi tiếng thông minh, học giỏi, nối được nghiệp thi thư đèn sách của cha, nên đi thi cũng đậu tiến sĩ. Bài ký đề tên tiến sĩ khoa Quý Mùi, niên hiệu Phúc Thái năm thứ nhất (Đời Lê Chân Tông - 1643) có ghi về ông:

Cho đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân 2 người:

Nguyễn Khắc Thiệu: Phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương…

Khoa thi này lấy đậu 9 người, 2 Đệ nhị giáp và 7 Đệ tam giáp, Nguyễn Khắc Thiệu đứng đầu, như vậy là ông đậu Đình nguyên - Hoàng giáp, thật là vẻ vang cho dòng họ và đất nước. Ông ra làm quan trải giữ nhiều chức tước và có công lớn xứng với lời trong bài văn bia này đã ghi: Hiền tài là nguyên khí của nhà nước…

Sách Các nhà khoa bảng Việt Nam có ghi:… Nguyễn Năng Thiệu (1611-1668), con của Nguyễn Khắc Văn. 33 tuổi đỗ Đình nguyên, Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Quí Mùi, niên hiệu Phúc Thái 1 (1643), đời Lê Chân Tông. Làm quan đến chức Lễ bộ Thượng thư, tước Quận công, bị giáng xuống Lễ bộ Tả Thị lang, tước bá/ Theo TT: Ngay khi giữ chức Tả Thị lang bộ Lễ, Nguyễn Năng Thiệu đã được ban tước Dương Quận công. Năng Thiệu là người chất trực, làm quan thanh bạch, có giúp bàn việc quân/ Khi mất (9/1668) được tặng Lễ bộ Thượng thư, được ban tên thụy là Trung túc, thọ 58 tuổi. (Tr. 554).

Sách Đại Việt sử ký toàn thư có chép về Nguyễn Năng Thiệu:

Mậu Tuất [Thịnh Đức] năm thứ 6 [1658]… Tháng 11, sai Bồi tụng Nguyễn Năng Thiệu làm Tham thị ở dinh Tả quốc.

Canh Tý [Vĩnh Thọ] năm thứ 3 [1660]. Tháng 11, ngày 17, Thống lĩnh quan Phú Quận công Trịnh Cán sai bọn thuộc tướng Lê Thì Hiến, Hoàng Nghĩa Giao; Tham thị Lê Sĩ Triệt, Nguyễn Năng Thiệu chia đường đi đánh giặc. Thì Hiến, Sĩ Triệt từ bờ biển qua đất Cương Gián (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) tiến đi; bọn Nghĩa Giao, Năng Thiệu theo đường bộ qua các nơi Lũng Trâu, Mạn Trường (Thiên Lộc, nay thuộc huyện Can Lộc) tiến đi. Lại hạ lệnh cho thống suất và đốc suất các đạo điều chỉnh bị quân dưới quyền, ngày đêm cố công sức đánh công kích bốn mặt. Tiếng thanh la và tiếng trống vang trời. Thế giặc rối loạn lung tung không biết trở tay ra sao.

Ngày 18… phá được quân giặc ở đất An Điềm (Thiên Lộc)… Ngày 19… lại phá được giặc ở Phù Lưu Thượng… Giặc thua to chạy trốn, ta thu được hết 7 huyện Nam Hà…

Tân Sửu… Mùa hạ, tháng 4, xét công dẹp giặc thu lại bờ cõi… Lại cho bọn Trần Văn Tuyển, Nguyễn Năng Thiệu… có công bàn mưu tính kế… Năng Thiệu làm Ngự sử đài Phó đô ngự sử, Dương Quận công…

Giáp Thìn, tháng 6… Lấy Nguyễn Năng Thiệu làm Lại bộ Tả Thị lang… Tháng 11, lấy… Nguyễn Năng Thiệu làm Lễ bộ Thượng thư…

Qua Đại Việt sử ký toàn thư, thấy được Nguyễn Năng Thiệu là người văn võ song toàn, khi có sự biến quân chúa Nguyễn ở Đàng Trong đánh chiếm vùng đất Nam Hà (tỉnh Hà Tĩnh ngày nay), ngài được cử làm tướng cầm quân, có công bàn mưu tính kế cùng các tướng khác đánh tan được giặc, lấy lại được vùng đất đã mất. Ông được ban tặng các chức tước xứng đáng lên đến Bồi tụng, rồi Thượng thư bộ Lễ, tước Dương quận công. Khi mất, nhà vua thương tiếc ban cho ông tên thụy là Trung túc (người trung thành và nghiêm túc). Bài vị Thần tổ Nguyễn Khắc Thiệu ở Long Môn như sau:

高祖考梨朝上書步例爵郡公字克紹瑞忠夙神位

Cao Tổ khảo Lê triều Thượng thư bộ Lễ, tước Quận công, tự Khắc Thiệu, thụy Trung Túc Thần vị.

Văn bia:

Bài vị thỉ tổ khắc trên bia đá ở nhà thờ đại tôn tại xã Sơn Hòa như sau:

Nguyễn tộc thỉ tổ linh bi: Thỉ tổ Lê triều Vĩnh Tộ Mậu Thìn Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân Tả Đô đốc Quang lộc Tự khanh, Văn Phương hầu Nguyễn Tướng công, Khâm mông Hoàng triều sắc phong: Đoan túc Dực bảo Trung hưng chi thần, Tái mông Đăng trật, gia tặng Quang ý Trung đẳng thần. Thục nhân, hiệu Ôn mục thần hiệu. 

Thần tổ mộ phần bi ký

Cổ lai cao khoa hiển hoạn giai khả truyền vưu khả truyền giả. Cư quan thanh bạch di hậu nhân lưu dịch nghiệp hy long vạn đại như kiến nhi khoa danh hoạn nghiệp dĩ truyền.

Ngã Thần tổ tiên Long thành Thanh Trì Hoàng Liệt xã nhân dạ tịch Thọ Xương Hà Khẩu phường đăng Lê Vĩnh Tộ Mậu Thìn khoa Tam giáp Tiến sĩ đệ sĩ Quang lộc Tự khanh tịch Thanh Hoa xứ Đốc đồng. Long Đức sơ phụng xung duyệt tuyển các sứ dân đinh sử xưng cư quan hữu liêm tiết thanh thận thủ pháp đắc quân dân tâm sở vị thanh bạch di tử tôn minh đức viễn hỷ.

Tôn trưởng công húy Thiệu kế đặng Phúc Thái Quý Vị khoa Nhị giáp Đình nguyên sĩ Lễ bộ Thượng thư hữu dĩ thanh bạch văn ư thế nhất môn tề mỹ thiên cổ lưu phương đăng khoa lục.

Khả cải dạ tầm di cư vu Thanh Hóa hựu di cư vu ngã Hoan trạch Nam Đàn huyện chi Lâm Thịnh xã cử tử nhị trưởng lưu thử thổ thứ bốc cư vu Thanh Chương huyện (kim thuộc Nam Đàn) Thanh Đàm thôn. Trưởng chi tôn hựu di vu Hương Sơn huyện Yên Ấp xã Thịnh Xá thôn. Tam phái tử tôn kế kế thừa thừa thế hữu linh văn cưu đức danh thị hựu dụ cửu nhi dụ trưng hy tiết phụng.

Hoàng triều sắc phong Đoan túc Dực bảo Trung hưng tôn thần bào cổn vinh bao tàng thu tăn sắc.

Kim linh phần hiện tại Lâm Thịnh xã Long Môn thôn Cây Sung xứ Tự Đức niên gian bản tộc trình khất trúc lăng. Thừa Anh Sơn phủ thụ Nguyễn Doãn Tựu đại nhân để khảm y cờ sở thỉnh. Duy Tân Đinh Hợi niên Nam Đàn huyện doãn Tôn thất Thung đại nhân thừa tỉnh đường nghi sức phương cư chiếu lệ kính ty lăng chi tứ biên các nhị thập nhất quan xích. Bản tộc nhân thử tăng quảng doanh trúc bi đắc áp khoát. Đệ niên dĩ trọng xuân nguyệt vọng nhật (thập ngũ nhật) tam phái hội đồng cung hành tỉnh tảo dụng thị bất vong mỹ cảnh thịnh truyền ư thị hồ tại. Tôn ngưỡng bằng tiên ấm lãm tế sĩ đồ lai duy tự khôi ư thanh bạch sử tử tôn thị cù niên tiền dao tỉnh tốt kim hảm thừa chi quận thụ muỗi cong nghi đắc tùy chư tôn trưởng cung chi chiêu bái đồng niệm Thần tổ cư quan chi tháo dụ hậu chi mưu phàm đắc chi ngã gia tiên sở truyền thuật giả huân cao thê thác như hoặc kiếm chi cẩn chí vu thạch dĩ thọ.

Khải Định bát tuế trọng xuân nguyệt thập ngũ nhật…

Tôn Khắc Niêm bái hoạch.

Dịch nghĩa:

Văn bia phần mộ thần tổ

Xưa nay việc thi cử đỗ đạt làm quan đều có thể truyền, còn việc làm quan thanh bạch để đời sau con cháu được hưởng hy vọng muôn đời rạng rỡ lại càng nên truyền vậy!

Thần tổ ta trước ở Long Thành, Thanh Trì, Hoàng Liệt xã, hộ tịch ở huyện Thọ Xương, phường Hà Khẩu, đỗ Tam giáp Tiến sĩ khoa Mậu Thìn năm Vĩnh Tộ triều Lê, làm quan đến Quang lộc Tự khanh, từng làm Đốc đồng xứ Thanh Hoa, đầu thời Long Đức vâng mệnh vua sung duyệt tuyển dân định các xứ. Sử ghi khen làm quan thanh liêm, có phép tắc cẩn thận, được lòng quân dân, gọi là thanh bạch. Minh đức ấy truyền cho con cháu mãi mãi.

Tôn tướng công Khắc Thiệu kế thế đăng khoa, đời Phúc Thái, khoa Quý Vỵ đỗ Nhị giáp Tiến sĩ Đình nguyên, làm quan đến Lễ bộ Thượng thư, lại được người đời tôn kính khen thanh bạch. Một nhà tế mỹ tiếng thơm muôn thuở đăng khoa đáng kính vậy!

Trước dời vào Thanh Hoa, rồi lại vào Hoan Châu, huyện Nam Đàn, xã Lâm Thịnh, sinh hai con đều thi đỗ. Trưởng ở lại đất ấy, thứ bốc cư đến thôn Thanh Đàm, huyện Thanh Chương (nay là Nam Đàn). Cháu của chi trưởng lại di cư sang làng Thịnh Xá, tổng An Ấp, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Con cháu ba phái kế kế thừa tuân theo đức cũ càng lâu càng sáng vậy.

Nay đội ơn Hoàng triều sắc phong Đoan túc Dực bảo Trung hưng tôn thần bào cổn vinh bao trung thu tăng sắc.

Nay linh phần ở xã Lâm Thịnh, thôn Long Môn, xứ Cây Sung.

Thời vua Tự Đức, họ ta có trình xin đắp thêm lăng mộ. Quan lớn Nguyễn Doãn Tựu đến xem và duyệt y lời khẩn cầu. Năm Tân Hợi thời vua Duy Tân, huyện doãn huyện Nam Đàn là Tôn Thất Thung, vâng mệnh quan tỉnh cho mở rộng 4 bên theo lệ luật gồm 24 công xích. Nhân đó họ ta tăng khu mộ rộng rãi, đẹp đẽ. Hàng năm đến ngày rằm tháng 2 ba phái hội đồng tảo mộ, sửa sang quét dọn, quang cảnh thêm sáng sủa, đẹp đẽ.

Cháu nghĩ đến phúc ấm xưa, được đứng trong hàng quan lại, cũng lấy điều thanh bạch làm trọng để con cháu mai sau noi theo. Nay được lệnh về tỉnh cùng quận, xin cùng các vị tôn trưởng chiêm bái, ghi nhớ tiết tháo của Thần tổ lúc làm quan với ý đồ để lại cho đời sau sáng tỏ, gia tiên chúng ta truyền thuật, Huân cao thế Thác như được thấy trước mặt. Kính ghi vào đá để được lâu dài.

Khải Định năm thứ 8 ngày rằm tháng 2

Cháu Nguyễn Khắc Niêm… bái hoạch.

(Người dịch: Nguyễn Xuân Triêm)

Tài liệu chữ Hán về Nguyễn Khắc Niêm: Nguyễn Khắc Niêm (1888-1954) người xã Yên Ấp, huyện Hương Sơn (Đăng khoa lục chép sinh năm 1886), đỗ Cử nhân khoa Bính Ngọ (1906), 21 tuổi (đúng ra là 19 tuổi) đỗ Nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp), giữ chức Thừa chỉ sung Kiểm giáo, rồi Tu nghiệp Quốc Tử Giám, ra Đốc học Nghệ An, Tri phủ Anh Sơn, Án sát rồi Bố chánh Nghệ An, Thị lang, rồi Tham tri bộ Lễ, Tuần phủ Khánh Hòa, Phủ doãn Thừa Thiên, Tổng đốc Thanh Hóa (1941), tặng Hiệp biện Đại học sĩ (Thái Kim Đỉnh, Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh (từ đời Trần đến đời Nguyễn)).

Sách Khoa bảng Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình qua tài liệu Mộc bản triều Nguyễn/ Cục Văn thư và lưu trữ. Trung tâm lưu trữ Quốc gia IV/ Phạm Thị Huệ CB… H., Chính trị Quốc gia - Sự thật, 2012. Phần Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh đỗ khoa thi Đình: Khoa thi Đình năm Đinh Mùi - niên hiệu Thành Thái thứ 19 (1907).

Nguyễn Khắc Niêm 阮克拈 Sắc ban Đệ nhị giáp (Tiến sĩ xuất thân). Quê quán: Xã An Ấp, Hương Sơn, Hà Tĩnh. Đỗ Cử nhân khoa thi năm Bính Ngọ (1906). Đỗ Tiến sĩ xuất thân năm 22 tuổi. Ông từng đỗ đầu khoa thi Hội. (Hồ sơ số H62, Đinh Mùi khoa Đình thí, mặt khắc I, tr. 94-95).

Sau khi thi đỗ, được cùng các vị tân khoa triều kiến vua Thành Thái, ông đã đọc 4 câu khi được vua đề nghị mỗi vị hãy góp kế sách để phục hưng quốc gia:

尊族大規/尊祿大危/尊才大盛/尊佞大衰                                   

Tôn tộc đại quy/ Tôn lộc đại nguy/ Tôn tài đại thịnh/ Tôn nịnh đại suy.

Tôn trọng nòi giống, được hòa hợp lớn/Tôn lợi bổng lộc, sẽ đại nguy nan/Tôn trọng tài năng, gặt hái phồn thịnh/Tôn điều siểm nịnh, ắt phải suy vong.

 Dòng họ Nguyễn Khắc Hồng Long từ các vị tổ Nguyễn Khắc Văn, Nguyễn Khắc Thiệu đã để lại một di sản truyền thống văn hóa khoa bảng rạng rỡ cho quê hương, đất nước và nhiều thế hệ con cháu tiếp tục phát huy cho đến tận ngày nay. Nó cũng thể hiện qua các đại tự, câu đối của dòng họ còn để lại đến ngày nay:

奉祖堂 Phụng tổ đường  靈應神  Linh ứng thần

黃烈清持留今科榜

龍門臨盛照古名人

Hoàng Liệt Thanh Trì lưu kim khoa bảng;

Long Môn Lâm Thịnh chiếu cổ danh nhân.

愛國莫忘祖

仁民先睦親

Ái quốc mạc vong tổ;

Nhân dân tiên mục thân.

名將功臣留國史

文科武敕朗家風

Danh tướng công thần lưu quốc sử;

Văn khoa võ sắc lãng gia phong.

科宦前朝枝派面

清名後世萬尊長

Khoa hoạn tiền triều chi phái diện;

Thanh danh hậu thế vạn tôn trường.

一堂照睦封神巋

萬古英伶日月恆

Nhất đường chiếu mục phong thần vị;

Vạn cổ anh linh nhật nguyệt hằng.

曆代文武科名達

來今流福祿爵卿

Lịch đại văn võ khoa danh đạt;

Lai kim lưu phúc lộc tước khanh.

Di sản tài liệu Hán Nôm về họ Nguyễn Khắc còn tồn tại, lưu trữ ở một số nơi còn chưa sưu tầm, khai thác được hết. Công việc này còn dành cho con cháu trong dòng họ và các nhà nghiên cứu tiếp tục truy tìm và tập hợp lại, giúp ích cho việc giáo dục truyền thống địa phương, quê hương, đất nước và cho các thế hệ trẻ.

Th.S Hồ Mạnh Hà

 

Di tích Nhà thờ và Mộ Tiến sỹ Nguyễn Khắc Văn thuộc làng Long Môn xưa, nay là xóm 9 và xóm 10, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh 17 km về phía Tây, cách huyện lỵ Nam Đàn 3km về hướng Đông Nam, được con cháu dòng họ Nguyễn Khắc và nhân dân xây dựng để phụng thờ, tưởng niệm Tiến sỹ Nguyễn Khắc Văn, một vị quan dưới thời Lê Trung Hưng nổi tiếng với tài năng, đức độ, hết mực thương dân được nhân dân trong vùng quý trọng, kính phục và lập đền thờ phụng, tôn làm phúc thần.

Tiến sỹ Nguyễn Khắc Văn sinh năm Đinh Mão (1567) dưới thời vua Lê Anh Tông, niên hiệu Hồng Đức tại xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, nay là Hà Nội. Khoa thi năm Mậu Thìn (1628) dưới thời vua Lê Thần Tông, niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 10, ông thi đậu Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân và được triều đình bổ nhiệm làm quan trong triều đình. Trong sự nghiệp quan trường với tài năng, nhiệt huyết, cộng với sự đức độ, thanh liêm, ông đã được triều đình bổ nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như: Quang lộc Tự khanh, Tả đô đốc Đồng tri xứ Thanh Hóa, Tham tri Bộ Lại, Lễ bộ Tả thị lang, Lễ bộ Hữu thị lang,… và phong tước Văn phương Hầu.

Sau khi rời chốn quan trường, để ghi nhận cống hiến của ông, triều đình đã  cấp nhiều bổng lộc và phân đất đai tại thôn Long Môn, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đường để an dưỡng tuổi già. Cũng từ đó ông đã đem gia quyến của mình rời kinh đô Thăng Long về mảnh đất xứ Nghệ sinh sống lâu dài. Tại đây ông đã tập hợp nhân dân phiêu tán tiến hành khai hoang mở đất, xây dựng xóm làng, mở trường dạy học, giúp đỡ những người nghèo, vỗ về dân chúng được nhân dân rất quý trọng. Sau khi qua đời, để tưởng nhớ công lao của ông, triều đình đã giao cho quan viên và nhân dân địa phương tổ chức tang lễ chu đáo, di hài của ông cát táng ngay tại vườn của gia đình và được nhân dân lập đền thờ phụng, tôn làm thành hoàng của làng với mỹ tự "Đoan túc, Quang ý dực bảo trung hưng phúc thần". Hiện nay tại di tích nhà thờ họ Nguyễn Khắc còn lưu giữ sắc phong có nội dung tạm dịch như sau: "Sắc thôn Long Môn, xã Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, thờ phụng Tiến sỹ khoa Mậu Thìn, năm Vĩnh Tộ thứ 10 (tức tiến sỹ Nguyễn Khắc Văn) từng giữ chức vụ Quang Lộc Tự Khanh, trước phong là chi thần có công hộ quốc tý dân, cầu linh ứng phù hộ, nay tiếp tục phong là Đoan túc dực bảo trung hưng chi thần, giao cho nhân dân vẫn thờ phụng như cũ. Kính thay!

Thành Thái năm thứ 15, ngày 26 tháng 11 (năm 1903)".

Di tích Nhà thờ và Mộ Tiến sỹ Nguyễn Khắc Văn tọa lạc trên một khu đất cao ráo, bằng phẳng thuộc trung tâm của làng Long Môn, phía trước di tích là sông Lam uốn lượn và dãy núi thiên nhẫn như "đoàn ngựa rong ruổi", phía sau di tích không xa là dãy núi Đại Huệ - một biểu tượng của vùng đất Nam Đàn, xung quanh di tích được bao bọc bởi khu dân cư và làng mạc trù phú. Mặc dù đã trải qua hàng trăm năm tồn tại với nhiều biến cố của lịch sử như thiên tai, chiến tranh,... nhưng di tích vẫn còn giữ được nét kiến trúc cổ kính.

Nhà thờ Tiến sỹ Nguyễn Khắc Văn có diện tích 500m2 được xây dựng thời Lê Trung Hưng, tu sửa lớn vào thời Nguyễn, gồm các hạng mục công trình như cổng, sân vườn, được bố trí hài hòa trong một khuôn viên được xây tường bao kiên cố. Kiến trúc một tòa, 3 gian, 2 hồi, mái lợp ngói âm dương, kết cấu vì kèo làm theo kiểu giá chiêng kẻ chuyền, tiền trụ, oai bẩy, trên các cấu kiện như kẻ, bẩy chạm trổ hoa văn tinh xảo với các đề tài tứ linh, tứ quý, hoa sen, hoa cúc,… Hai bên trụ hiên nhà hậu cung nhấn đôi câu đối bằng chữ Hán có nội dung:

"Mộc bản thủy nguyên phúc vĩnh tại

Văn khoa võ sắc đức lưu quang".

Tạm dịch là:  

 "Cây có gốc, nước có nguồn tồn tại vĩnh hằng,

Học vị, chức tước sẽ tồn tại mãi mãi theo thời gian".

Phía trong nhà thờ bài trí khá hợp lý với các ban thờ đặt ở vị trí cân xứng, trải đều cho cả 3 gian. Gian giữa là nơi thờ Tiến sỹ Nguyễn Khắc Văn - vị tổ đầu tiên của dòng họ Nguyễn Khắc ở vùng đất Nghệ An. Tại đây được bài trí khá công phu với điểm nhấn là một hương án cổ sơn son thiếp vàng chạm trổ hoa văn theo kỹ thuật chạm lộng tinh xảo với các hình tượng như long, phượng, lá đề cách điệu, hoa sen, hoa cúc, hoa thị, tứ linh, tứ quý,… Hai bên hương án trang trí 2 bộ bát kích cổ làm tăng thêm tính uy nghiêm cũng như linh thiêng cho không gian thờ tự. Trên xà hạ của gian giữa trang trí một bức hoành phi cổ được con cháu trong dòng họ cung tiến thời vua Bảo Đại năm Giáp Tuất (1934) để nhắc nhở mọi người công ơn của tổ tiên, nội hoành phi như sau: "Phụng tiên tư", tạm dịch là "trước hết phải nhớ đến tổ tiên", dưới hoành phi treo một lá cờ cổ có thêu 4 chữ vàng "Lê triều tiến sỹ". Phía sau hương án cổ là nơi đặt long ngai bài vị của tiến sỹ Nguyễn Khắc Văn có nội dung: "Mậu Thìn khoa đồng tiến sỹ xuất thân húy Quang lộc, tự khanh chi thần, Lê triều sắc phong dực bảo trung hưng đại thần vị tiền". Hai ban thờ gian trái phải là nơi thờ các chi thứ trong dòng họ được sắp xếp thứ tự từ thấp đến cao, phần lớn các hiện vật khá cổ kính và có giá trị về mặt mỹ thuật, lịch sử.

Nét độc đáo tại di tích đó là hệ thống đồ tế khí cổ được con cháu dày công gìn giữ cẩn thận như: hoành phi, hương án, bát bửu, lỗ bộ, câu đối,... đặc biệt là cỗ kiệu bát cống được chạm khắc công phu, góp phần tăng thêm giá trị của di tích.

Cách nhà thờ về hướng Tây khoảng 600m là Khu mộ tiến sỹ Nguyễn Khắc Văn, đây là nơi lưu giữ thi hài của ông sau khi qua đời. Khu mộ có diện tích khoảng 700m2 bao gồm các hạng mục như: cổng, tường bao, khu vực miếu thờ và khu mộ được bố trí đăng đối hài hòa trong một khuôn viên được xây tường bao kiên cố. Cổng vào khu mộ làm theo kiểu tam quan, giới hạn bởi 4 cột trụ lớn, đồ sộ làm bằng xi măng, thân cột có đính câu đối đá hoa cương, chính giữa sân là tắc môn có tác dụng làm bình phong che chắn cho miếu thờ và khu mộ.

Khu mộ có diện tích khoảng 27m2 xây dựng cách ngày nay hàng trăm năm được bảo quản nguyên vẹn với hệ thống tường bao kiên cố với chất liệu vữa tam hợp làm từ chất liệu vỏ sò, mật mía và vôi truyền thống, cửa ra vào khu mộ trang trí hoa sen cách điệu. Trung tâm của Khu mộ là ngôi mộ hình bát giác được làm từ vữa tam hợp, kết hợp với kỹ thuật giật cấp, lắp ghép tạo mặt phẳng hình chóp nón, mỗi cạnh rộng 1.9m, cao 1.3m, phía sau khu vực mộ xây một bệ thờ dùng để đặt lễ phật và đồ tế khí mỗi khi nhân dân và con cháu dòng họ tổ chức các nghi lễ tâm linh. Mặt trước bệ thờ có khắc hàng chữ Hán "Duy Tân hội đông nguyệt, hoàng triều Vĩnh Tộ hưu trí phong phúc thần; Hộ dân thần tổ mộ Lê triều Vĩnh Tộ Tiên sĩ", tạm dịch: Mùa đông năm Duy Tân, mộ tổ tiến sĩ thời Lê năm Vĩnh Tộ (1628), được phong phúc thần luôn phù hộ cho dân chúng".   

Trước khu mộ phía bên phải nhìn từ trong ra là nhà bia được xây dựng khá chắc chắn, mái lợp ngói sen, trên bờ nóc đắp long phượng, trong đặt tấm bia đá cổ bằng đá xanh, chiều cao 1,36m, rộng 0,63m, dày 20cm, trán bia chạm khắc hình tượng lưỡng long triều nguyệt, thân bia khắc chữ Hán, nội dung văn bia cho biết: Bia đá được dựng vào ngày 15 tháng 2 năm 1923 do người cháu trong họ là Đệ nhị giáp Tiến sĩ Nguyễn Khắc Niêm soạn và được các vị trưởng chi duyệt nội dung và cho khắc vào bia đá ghi lại công trạng của Tiến sĩ Nguyễn Khắc Văn vào ngày tế lễ để nhắc nhở và giáo dục truyền thống cho con cháu, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn và tri ân tổ tiên.

Khu vực miếu thờ là công trình kiến trúc do con cháu trong dòng họ mới xây dựng thêm để thuận tiện cho việc thờ cúng trong các dịp tế tổ và phục dựng thay thế cho khu đền thờ của Tiến sỹ Nguyễn Khắc Văn đã bị hư hỏng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Miếu thờ Tiến sỹ Nguyễn Khắc Văn gồm 2 tòa: bái đường và hậu cung. Nhà bái đường được xây dựng vào năm 2016 phỏng theo lối kiến trúc thời Nguyễn, đây là công trình kỷ niệm 450 năm ngày sinh của Tiến sĩ Nguyễn Khắc Văn do con cháu dòng họ Nguyễn Khắc khắp mọi miền đất nước công đức xây dựng gồm ba gian, hai hồi. Nhà hậu cung có kết cấu kiến trúc tương tự nhà bái đường, mái lợp ngói âm dương, kết cấu vì kèo giá chiêng kẻ chuyền, phía trong nhà hậu cung được bố trí các ban thờ để thờ Tiến sỹ Nguyễn Khắc Văn và các vị tiên tổ.

Có thể nói Nhà thờ và Mộ Tiến sĩ Nguyễn Khắc Văn là một trong những di tích có giá trị lịch sử, văn hóa, mỹ thuật tiêu biểu của vùng đất Nam Đàn, không những vậy, thông qua các tài liệu về nhân vật còn lưu giữ tại di tích, giúp chúng ta có thể tìm hiểu một giai đoạn lịch sử cũng như quá trình diễn biến của kiến trúc truyền thống của dân Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng. Để bảo tồn và phát huy giá trị Di tích Nhà thờ và Mộ Tiến sỹ Nguyễn Khắc Văn lâu dài, ngày 17/3/2003, UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định số 282/QĐ-UB/VX công nhận là Di tích lịch sử văn hóa. Kế tục truyền thống của dòng họ, hiện nay, con cháu dòng họ Nguyễn Khắc đang cố gắng để bảo tồn và phát huy tốt các giá trị của di tích, biến nơi đây trở thành một điểm đến hấp dẫn của du khách thập phương mỗi khi về thăm quê hương Nam Đàn.

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.