« Quay lại

Chuyên san Khoa học xã hội & nhân văn số 4 năm 2018

Th.S Nguyễn Văn Đổng

 

Với vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi việc đảm bảo quyền con người là mục tiêu hướng tới của mình. Đường lối nhất quán, xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người là giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho con người. Quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định, việc bảo đảm quyền con người là mục tiêu, động lực của cách mạng, là trách nhiệm lớn của Đảng và Nhà nước ta. Trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập, Đảng ta chủ trương "Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia"(1). Từ Đại hội IX (2001), Đảng ta đã khẳng định: "Chăm lo con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia". Qua hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong bảo đảm các quyền và tự do của nhân dân. Đến Báo cáo chính trị tại Đại hội XII (1-2016), Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ: Đảng và Nhà nước có cơ chế, chính sách bảo vệ và bảo đảm thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, để triển khai thực hiện chủ trương này vào thực tiễn, đòi hỏi phải có nhận thức vững vàng và sâu sắc, cũng như quyết tâm hành động vì con người, trên cơ sở tổng kết lý luận và thực tiễn ở nước ta.

1. Khẳng định rõ, bảo đảm quyền con người là bản chất của chế độ, là mục tiêu của Đảng, Nhà nước ta và động lực của sự phát triển đất nước

Cũng như ở hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) thời kỳ trước đổi mới và mở cửa, do nhiều nguyên nhân, ở Việt Nam vấn đề quyền con người chưa được nhận thức đầy đủ về mặt lý luận. Quan điểm phổ biến ở thời kỳ đó cho rằng, cũng như nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường,... nhân quyền là sản phẩm riêng của giai cấp tư sản. Trong bối cảnh các nước phương Tây thúc đẩy việc áp đặt giá trị thông qua dân chủ, nhân quyền, nhằm chống phá các nước đi theo con đường XHCN, quan điểm trên đã khiến nhân quyền càng trở thành vấn đề nhạy cảm, khó "chia sẻ". Tình trạng nhận thức phiến diện nói trên đã làm hạn chế hoạt động nghiên cứu lý luận, cũng như việc thực hiện bảo đảm quyền con người ở các nước XHCN. Việc bỏ ngỏ "trận địa" quan trọng này đã tạo ra "khoảng trống" để các thế lực thù địch có cơ hội thỏa sức tuyên truyền quan điểm nhân quyền tư sản và xuyên tạc thực tiễn bảo đảm quyền con người tại các nước XHCN.

Bối cảnh quốc tế mới, đặc biệt là xuất phát từ yêu cầu phát triển nội tại của mỗi nước, các đảng cầm quyền ở các nước XHCN đều có nhu cầu nghiên cứu đầy đủ hơn vấn đề quyền con người, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách và thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - chính trị - xã hội của mình. Đây là yếu tố thúc đẩy sự chuyển biến nhận thức lý luận về quyền con người của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới tư duy kinh tế, tháo gỡ những trở ngại, nhằm tạo điều kiện cho sản xuất phát triển, Đảng ta đã thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đan xen trong thời kỳ quá độ; do đó, ngày càng quan tâm hơn đến lợi ích của người lao động - cũng chính là sự chú ý đến lợi ích cá nhân, đến quyền của mỗi con người trên lĩnh vực kinh tế. Từ lĩnh vực kinh tế, những nhu cầu về quyền khác cũng được đặt ra và từng bước được đáp ứng. Chẳng hạn, các quyền: tự do lựa chọn công việc, tự do kinh doanh, sở hữu, đi lại, cư trú, thông tin, cũng như các quyền tự do cá nhân khác, được Nhà nước thừa nhận và bảo đảm trên thực tế. Đó cũng chính là những vấn đề thuộc nội hàm của quyền con người mà Nhà nước Việt Nam cần thực hiện với tư cách là thành viên của các điều ước quốc tế về quyền con người. Từ giữa những năm 1980, Việt Nam bắt đầu thực hiện các báo cáo quốc gia đối với các thiết chế, tổ chức nhân quyền Liên hợp quốc. Các báo cáo này đòi hỏi trách nhiệm của Nhà nước không chỉ làm rõ việc thực hiện những quyền con người được quy định trong mỗi công ước, mà còn ở việc tuyên truyền, giáo dục và thúc đẩy thực hiện quyền con người trên thực tế.

Như vậy, chính thực tiễn đổi mới, hội nhập và phát triển đã đặt ra những yêu cầu mới trong nhận thức lý luận về quyền con người, nhằm định hướng cho các hoạt động đối nội và đối ngoại của đất nước. Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 được Đại hội VII của Đảng (1991) thông qua đã khẳng định: "Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người. Chiến lược kinh tế - xã hội, đặt con người vào vị trí trung tâm, giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân... Lợi ích của mỗi người, của từng tập thể và của toàn xã hội gắn bó hữu cơ với nhau"(2). Đảng cũng nhấn mạnh, nhiệm vụ "Dân chủ hóa đời sống xã hội, quyền công dân, quyền con người và tự do cá nhân được bảo đảm bằng pháp luật, được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và chỉ bị ràng buộc bởi pháp luật"(3). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam năm 1991 (Cương lĩnh 1991) chủ trương: "Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người, quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm".

Từ đó, cơ chế quản lý kinh tế mới đã bước đầu hình thành nhưng chưa đồng bộ, còn thiếu nhiều luật lệ, chính sách bảo đảm sản xuất, kinh doanh đúng hướng, Đại hội VIII (1996) nhấn mạnh: "Ưu tiên xây dựng các luật về kinh tế, về các quyền công dân và các luật điều chỉnh công cuộc cải cách bộ máy nhà nước, các luật điều chỉnh các hoạt động văn hóa, thông tin,… nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, ban hành các văn bản luật với những quy định cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện. Giảm dần các luật, pháp lệnh chỉ dừng lại ở những nguyên tắc chung, muốn thực hiện được phải có nhiều văn bản hướng dẫn thi hành"(4).

Cùng với việc bảo đảm quyền con người trên lĩnh vực kinh tế, Cương lĩnh năm 1991 nhấn mạnh việc "Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người". Nghị quyết 01-NQ/TW ngày 28/3/1992 của Bộ Chính trị "Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay" tái khẳng định quan điểm này; đồng thời mở ra bước phát triển mới cho hoạt động nghiên cứu lý luận, khi nhấn mạnh yêu cầu có tính nguyên tắc trong tiếp nhận những giá trị mới nhằm làm giàu trí tuệ của Đảng: "Đối với những học thuyết khác - ngoài chủ nghĩa Mác - Lênin về xã hội, cần được nghiên cứu trên quan điểm khách quan, biện chứng. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa giáo điều cũng như chống chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc"(5). Đây là điểm tựa quan trọng cho hoạt động nghiên cứu lý luận về quyền con người.

Kế thừa những thành quả nghiên cứu lý luận và từ yêu cầu mới trong quá trình phát triển đất nước, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị 12-CT/TW ngày 12/7/1992 về "Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta". Đây là văn kiện chuyên đề đầu tiên của Đảng về chủ đề quyền con người. Chỉ thị đã nêu những nhận thức cơ bản của Đảng về vấn đề quyền con người và định hướng cho công tác bảo đảm và đấu tranh trên lĩnh vực nhân quyền trong tình hình mới.

Nhận thức lý luận dần được thể chế hóa thành các quy định pháp luật. Ở lần sửa đổi năm 2001, lần đầu tiên khái niệm quyền con người được ghi nhận thành một nguyên tắc hiến định trong Hiến pháp 1992: "Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật"(6). Việc hiến định các quyền con người là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về quyền con người ở Việt Nam.

Nhận thức và quan điểm của Đảng về quyền con người tiếp tục được phát triển, thể hiện qua các kỳ đại hội. Đại hội IX của Đảng khẳng định: "Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia"(7). Điều này cho thấy, Đảng và Nhà nước Việt Nam rất coi trọng trách nhiệm quốc gia trong việc thực thi các cam kết quốc tế về quyền con người, đồng thời có thái độ tích cực hợp tác quốc tế trên lĩnh vực này.

Đại hội X của Đảng vừa tiếp tục phát triển những nhận thức nói trên, vừa đưa nhân quyền vào tất cả các nội dung văn kiện, như các quy định: mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; giải quyết kịp thời khiếu nại của công dân, thực hiện bồi thường do phán quyết oan, sai của tòa án; khoan dung với người lầm lỗi, thành tâm hối cải; Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; thực hiện chính sách đầu tư phát triển và chính sách xã hội cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào nghèo...

Trước những biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới và trong nước, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và văn kiện Đại hội XI của Đảng thể hiện rõ chủ trương: "Tham gia các cơ chế hợp tác chính trị, an ninh song phương và đa phương,... Thực hiện tốt công việc tại các tổ chức quốc tế, sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề dân chủ, nhân quyền"(8); "Quan tâm hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết"(9); "Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân"(10). Đây là bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về lĩnh vực nhân quyền. Các quan điểm nêu trên hoàn toàn phù hợp với nhận thức chung của cộng đồng quốc tế về trách nhiệm quốc gia. Bên cạnh đó, Đảng ta vẫn kiên định quan điểm, quyền con người trước hết và chủ yếu thuộc chủ quyền quốc gia, gắn bó hữu cơ với chủ quyền và độc lập của dân tộc. Mọi sự giúp đỡ quốc tế, kể cả các cơ chế nhân quyền quốc tế, chỉ có tác dụng hỗ trợ nhằm hoàn thiện hơn các cơ chế đang vận hành tại mỗi quốc gia; mọi sự can thiệp đều trái với các nguyên tắc của luật quốc tế hiện đại. Đây là đóng góp lý luận quan trọng của Việt Nam trên lĩnh vực còn những nhận thức khác biệt này.

Cùng với văn kiện các đại hội, nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã làm rõ hơn nhận thức về những lĩnh vực và nội dung cụ thể của quyền con người. Điểm nổi bật là đã đặt con người ở trung tâm của mọi chiến lược phát triển, coi trọng lợi ích cá nhân; khắc phục được những nhận thức giản đơn, phiến diện về vấn đề quyền con người; đặt hoạt động nhân quyền ở Việt Nam trong xu thế chung, tích cực của thế giới.

Hiến pháp năm 2013 là kết quả của quá trình đổi mới tư duy lập hiến, trong đó có đổi mới tư duy về quyền con người. Các nguyên tắc hiến định về quyền con người không ngừng mở rộng về chủ thể và nội hàm, phù hợp với các chuẩn mực nhân quyền quốc tế, mà trước hết là khẳng định nguyên tắc: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính chị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật" (khoản 1 Điều 14). Điểm mới thể hiện ở chỗ, đã xác định rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người; khẳng định nguyên tắc "phân công, phối hợp" và "kiểm soát" quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền XHCN. Cùng với đổi mới hoạt động lập pháp, trong những năm qua, Nhà nước đã triển khai nhiều chiến lược quan trọng như cải cách tư pháp, cải cách hành chính; đồng thời, thông qua nhiều chương trình, mục tiêu quốc gia nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách của đất nước.

Trong bối cảnh nhận thức rõ trách nhiệm quốc gia trong việc thực hiện quyền con người và nước ta với tư cách thành viên của các điều ước nhân quyền quốc tế, Đảng ta đã nhấn mạnh: "Đối với chúng ta, vấn đề quyền con người được đặt ra xuất phát từ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế độ ta và bao quát rộng rãi nhiều lĩnh vực từ chính trị, tư tưởng, văn hóa đến kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, pháp chế..."(11).

Luận điểm nói trên được xem như bước đột phá trong hoạt động lý luận trên lĩnh vực quyền con người. Thời kỳ trước đổi mới, vấn đề quyền con người ở Việt Nam thường được gắn và đặt trong tiến trình giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Mặc dù nội hàm quyền con người luôn được đề cập trong các khẩu hiệu đấu tranh thời kỳ trước khi giành độc lập, cũng như được tích cực triển khai trong thực tiễn hoạt động của Nhà nước Việt Nam ngay sau khi lập nước, nhưng việc khẳng định quyền con người thuộc bản chất của chế độ, là mục tiêu của Nhà nước có ý nghĩa hết sức quan trọng. Điều này không chỉ tăng thêm trách nhiệm của Nhà nước trên mọi phương diện, mà còn xác lập vai trò, vị trí quyền con người trong lý luận về CNXH.

2. Hình thành hệ thống quan điểm cơ bản về quyền con người, tạo nền tảng chính trị pháp lý cho việc bảo vệ và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam

Trong bối cảnh thế giới còn nhiều nhận thức khác biệt về quyền con người, việc xác định quan điểm, cách tiếp cận riêng đúng đắn về lĩnh vực này là rất cần thiết, nhằm định hướng cho việc xem xét, giải quyết những vấn đề nhân quyền cụ thể.

Tiếp thu giá trị phổ quát của nhân loại; xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ thực tiễn Việt Nam và thế giới, Chỉ thị 12-CT/TW của Ban Bí thư bước đầu xác định một số quan điểm cơ bản về quyền con người; đó là: quyền con người là thành quả đấu tranh của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, cũng là thành quả đấu tranh của loài người làm chủ tự nhiên, nhờ đó trở thành giá trị chung của nhân loại. Trong xã hội có phân chia giai cấp, quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc. Giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội; chỉ khi độc lập dân tộc và CNXH được giữ vững thì quyền con người mới có điều kiện được bảo đảm rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn. Theo đúng nguyên lý, dưới chế độ XHCN, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội kết hợp hài hòa; lợi ích của cá nhân được coi trọng vì đó là mục tiêu, là động lực của sự phát triển xã hội, song cần chú trọng bảo đảm lợi ích của tập thể và của cả cộng đồng xã hội. Quyền tự do, dân chủ của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân; dân chủ phải đi đôi với kỷ cương, pháp luật. Quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia. Quyền con người luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ kinh tế, văn hóa của đất nước(12).

Nhân quyền là thành quả chung của nhân loại, do đó nó trở thành giá trị phổ biến mà mọi quốc gia đều có quyền thụ hưởng, bảo vệ và thúc đẩy. Tuy nhiên, do các quốc gia trên thế giới phát triển không đồng đều, nhất là đối với các quốc gia vừa trải qua cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, khẳng định nền độc lập, vì thế nhân quyền cũng mang tính đặc thù và không thể tách rời các điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Bởi vậy, mỗi quốc gia, dân tộc có quyền lựa chọn các ưu tiên trong phát triển, nhằm cải thiện tình trạng kinh tế, xã hội, đáp ứng ngày càng tốt hơn các quyền của con người, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện, bền vững.

Trong bối cảnh các thế lực phản động, thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để can thiệp công việc nội bộ, chống phá đất nước ta, Đảng và Nhà nước ta chỉ rõ: "Cuộc đấu tranh trên vấn đề nhân quyền là cuộc đấu tranh mang tính chất giai cấp sâu sắc, sẽ diễn ra liên tục, lâu dài và quyết liệt"(13). Do đó, công tác bảo vệ và đấu tranh về nhân quyền phải là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và nhân dân nói chung, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây cũng là một trong những hoạt động quan trọng trong công tác đối nội, đối ngoại của Đảng, Nhà nước với mục đích bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người của nhân dân ta và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực phản động, thù địch lợi dụng nhân quyền để chống phá Nhà nước ta.

Các quan điểm trên vừa là sự kế thừa có chọn lọc những nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, vừa phù hợp với nhận thức của các nước đang phát triển; do đó nhận được sự chia sẻ rộng rãi. Đây cũng là một đóng góp quan trọng về mặt lý luận của Việt Nam trên lĩnh vực quyền con người.

3. Một số kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện chủ trương, chính sách và pháp luật về bảo vệ và bảo đảm quyền con người

Là một quốc gia đang phát triển, để tiếp thu, hoạch định và hiện thực hóa đầy đủ các quyền con người ở Việt Nam; Đảng, Nhà nước ta xác định rõ, phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, nhằm tạo ra môi trường, điều kiện và hành lang pháp lý vững chãi cho việc thực thi nhân quyền. Trên cơ sở không ngừng nâng cao nhận thức, xác định giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ hàng đầu để bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, trong đó một số lĩnh vực cần được ưu tiên thực hiện trước, xác định rõ những lĩnh vực cần được thực hiện ngay từ đầu, cũng như đảm bảo nó trong suốt quá trình phát triển.

Trên nền tảng như vậy, tác giả đề xuất một số kiến nghị, giải pháp cần được thúc đẩy trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ và thực hiện đầy đủ các quyền con người.

Trong bối cảnh hội nhập và phát triển, Đảng và Nhà nước chủ trương tiếp tục ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được xác định đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013 và trong hệ thống pháp luật mới được ban hành hoặc sửa đổi. Khẳng định rõ các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật(14).

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 của Đảng nêu rõ: "Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. Phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân và các điều kiện để mọi người được phát triển toàn diện. Nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ mọi khả năng sáng tạo và bảo đảm đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triển đất nước".

Sau hơn 30 năm thực hiện chính sách đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm xây dựng các cơ chế bảo vệ quyền con người phù hợp với đặc thù Việt Nam và tiếp tục nghiên cứu các mô hình phổ biến hiện nay các nước đang áp dụng. Quá trình phát triển dân chủ ở Việt Nam diễn ra tích cực, song vẫn giữ vững ổn định chính trị - xã hội, hóa giải mọi xung đột bên trong, tạo môi trường hòa bình và các điều kiện thiết yếu cho việc thực hiện quyền con người.

Đất nước đang hội nhập và phát triển nhanh chóng đặt ra nhiều yêu cầu, nhiệm vụ mới, nặng nề, đòi hỏi Đảng phải giải quyết thành công nhiều mối quan hệ lớn, trong đó có những yêu cầu mới về nhân quyền, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và định hướng XHCN ở nước ta. Để giải quyết thành công những vấn đề mới đặt ra, cần đầu tư nghiên cứu, làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận quan trọng, như về vai trò động lực của quyền con người đối với sự phát triển của cá nhân, xã hội cũng như đối với mỗi quốc gia; về vai trò của Nhà nước pháp quyền, cơ chế thị trường, sự tham gia của người dân, của các tổ chức xã hội,... như những điều kiện cho việc bảo vệ quyền con người.

Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kiện toàn các thiết chế bảo vệ, thúc đẩy quyền con người.

Trong bối cảnh mới, Đảng chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền theo định hướng XHCN là nhằm tạo ra môi trường, điều kiện tốt nhất để bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định rõ hơn, đó là nhà nước được tổ chức và vận hành theo nguyên tắc "quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp", và "xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất"(15); đồng thời chủ trương "Quốc hội thực hiện tốt chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao, nhất là đối với việc quản lý, sử dụng các nguồn lực của đất nước. Hoàn thiện cơ cấu, tổ chức của Chính phủ, xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Tiếp tục thực hiện chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh,… Cụ thể hóa đầy đủ nguyên tắc hiến định về chức năng, nhiệm vụ của Tòa án…"(16).

Xây dựng Nhà nước pháp quyền là nâng cao tính pháp quyền trong xây dựng các công cụ pháp lý, trong lĩnh vực hành chính công và trong thực tiễn hoạt động tư pháp "Đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước theo hướng xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, phục vụ nhân dân, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả"(17). Xây dựng Chính phủ "kiến tạo, liêm chính, hành động, phát triển, vì nhân dân phục vụ". Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức; đẩy mạnh việc áp dụng chính phủ điện tử. Công khai các chuẩn mực, các quy định hành chính để nhân dân giám sát việc thực hiện. Tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm trong hoạt động công vụ.

Bên cạnh việc tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả, Nhà nước từng bước nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan công quyền - một nội dung của quyền được thông tin; đồng thời qua đó tạo điều kiện để người dân có thể tham gia hiệu quả vào công việc chung của đất nước, theo phương hướng hoàn thiện cơ chế để tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Thứ ba, phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa, bảo đảm và nâng cao sự hưởng thụ các quyền con người.

Đảng chủ trương xây dựng cơ chế thị trường định hướng XHCN, nhằm tăng nhanh tiềm lực vật chất cho việc bảo đảm quyền con người; đồng thời, chủ trương thực hiện công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, nhằm bảo đảm điều kiện sống và phát triển cho mọi thành viên xã hội.

Phát triển kinh tế là nhằm nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân. Nhưng cần chú trọng tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội, đây cũng là một trong những nội dung cơ bản của việc xây dựng Chính phủ kiến tạo. Đồng thời, cần nỗ lực thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để bảo đảm giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn, khuyến khích làm giàu theo pháp luật. Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị,...

Trong quá trình phát triển đất nước, quyền được hưởng thành quả của sự phát triển, cũng như được phân phối công bằng của cải xã hội có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giữ vững ổn định xã hội, phát triển bền vững đất nước "Vai trò của Nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường, ngày càng phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế - xã hội" (17).

Sự nghiệp phát triển khoa học, giáo dục luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm và được coi là quốc sách hàng đầu. Việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, thúc đẩy khoa học, giáo dục phát triển vừa tạo sự phát triển bền vững của đất nước, vừa tạo cơ hội để người dân có thể tự do phát triển năng lực cá nhân. Bên cạnh đó, Đảng, Nhà nước chủ trương xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nhằm không ngừng nâng cao sự hưởng thụ văn hóa cho mọi người dân trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của văn minh nhân loại và hội nhập quốc tế; đồng thời bảo tồn được những giá trị văn hóa của các dân tộc Việt Nam - những nội hàm cơ bản của quyền văn hóa. Sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội những năm qua đã góp phần nâng cao việc thụ hưởng các quyền con người của mọi người dân Việt Nam.

Tóm lại: Thành tựu lý luận trên lĩnh vực quyền con người trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, có ý nghĩa to lớn, không chỉ thể hiện sự kiên định lựa chọn con đường XHCN của Đảng, mà còn góp phần vào kho tàng lý luận của các lực lượng tiến bộ và cách mạng trên thế giới. Với sự lựa chọn đúng đắn nói trên, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã và đang giải quyết thành công những nhiệm vụ đặt ra trên lĩnh vực nhân quyền trong giai đoạn đẩy mạnh hội nhập quốc tế, vừa bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người cho mọi người dân Việt Nam, vừa góp phần tích cực vào việc thúc đẩy nhân quyền quốc tế, vì một thế giới hòa bình, hữu nghị và tiến bộ xã hội.

Chú thích

(1). ĐCSVN, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H. 2011, tr. 70.

(2), (3). ĐCSVN, Văn kiện Đảng Toàn tập, t.51, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007, tr. 156, 145.

(4). ĐCSVN, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,1996, tr.130.

(5). Nghị quyết 01-NQ/TW (1992) của Bộ Chính trị "Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay".

(6). Điều 50 Hiến pháp 1992.

(7). ĐCSVN, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.134.

(8), (9), (10), (11). ĐCSVN, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.237, 239, 76, 52.

(12). Chỉ thị 12-CT/TW (năm 1992) của Ban Bí thư về "Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta".

(13). Chỉ thị 41/2004/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về "Tăng cường công tác bảo vệ, đấu tranh về nhân quyền trong tình hình mới".

(14), (15), (16), (17). ĐCSVN, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.166-167, 39-40, 177, 178-179.

Nguyễn Văn Toàn

 

Vừa mới ra đời vào ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu sáng lập và rèn luyện đã là tổ chức chính trị đại diện cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam và Đảng đã ngay lập tức kêu gọi giai cấp công nhân và nhân dân lao động đứng lên đòi quyền lợi của mình. Nhân ngày Quốc tế Lao động 1- 5 - 1930, hưởng ứng Lời kêu gọi của Đảng, nhân dân lao động trong cả nước dấy lên làn sóng đấu tranh dân tộc và dân chủ mạnh mẽ trong các năm 1930 - 1931. Đặc biệt, khối liên minh công - nông, sức mạnh vô địch của nhân dân Việt Nam đã được hình thành trong cao trào cách mạng này. Báo Người lao khổ, cơ quan của Xứ ủy Trung kỳ viết: "Thật là lần đầu tiên ở Việt Nam, công nông binh gặp nhau giữa trận tiền".

Ngày 1-5-1930 "công - nông - binh gặp nhau giữa trận tiền"

Chánh cương vắn tắt của Đảng (3-2-1930) nêu rõ: "Nhiệm vụ của cuộc cách mạng ấy, về phương diện xã hội thì làm sao cho dân chúng được tự do, nam nữ bình quyền và phổ thông giáo dục theo công nông hóa; về phương diện chính trị: đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp và phong kiến tay sai, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, tổ chức ra chính phủ công nông binh và quân đội công nông; về phương diện kinh tế thì phải thủ tiêu hết các thứ quốc trái, thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc Pháp giao cho Chính phủ công - nông - binh quản lý, thu hết ruộng đất chia cho dân nghèo, bỏ sưu thuế cho dân cày mở mang công nghiệp và nông nghiệp, thi hành luật ngày làm tám giờ".

Nhân sự kiện lịch sử thành lập Đảng, vào ngày 18-2-1930, đồng chí Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này) thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam viết Lời kêu gọi gửi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và tất cả đồng bào bị áp bức, bóc lột. Người kêu gọi: "Đảng Cộng sản An Nam đã được thành lập. Đó là Đảng của giai cấp vô sản. Đảng sẽ dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng An Nam đấu tranh nhằm giải phóng cho toàn thể anh chị em bị áp bức, bóc lột chúng ta. Từ nay anh chị em chúng ta cần phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng" để: Đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến An Nam và giai cấp tư sản phản cách mạng; Làm cho nước An Nam được độc lập; Thành lập Chính phủ công nông binh; Tịch thu tất cả các nhà băng và cơ sở sản xuất của đế quốc trao cho Chính phủ công nông binh; Quốc hữu hóa toàn bộ đồn điền và đất đai của bọn đế quốc và địa chủ phản cách mạng An Nam chia cho nông dân nghèo; Thực hiện ngày làm tám giờ; Hủy bỏ mọi thứ quốc trái và thuế thân, miễn các thứ thuế cho nông dân nghèo; Đem lại mọi quyền tự do cho nhân dân; Thực hiện giáo dục toàn dân; Thực hiện nam nữ bình quyền.

Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng về vận động công nhân và nông dân vào tháng 10-1930 đã đánh giá: Giai cấp công nhân Đông Dương chiếm 5% dân số, đông nhất là công nhân đồn điền, mỏ, vận tải, trong đó phụ nữ công nhân và trẻ em chiếm đa số. Công nhân bị bóc lột thậm tệ, ngày làm từ 11 - 12 giờ, có nơi tới 18 giờ nhưng tiền công rẻ mạt, không bảo đảm cho đời sống tối thiểu, lại hay bị đánh đập, mất tự do. Còn nông dân chiếm hơn 90% dân số nhưng chỉ chiếm một phần rất ít ruộng đất và bị bóc lột nặng nề: "Đông Dương đã là một xứ nông nghiệp rất nhiều di tích phong kiến, lại thêm đế quốc chủ nghĩa thống trị nữa, cho nên quần chúng dân cày bị bóc lột, đè nén tới ba từng". Trước hết là cách bóc lột của phong kiến. Phần nhiều ruộng đất, nhất là ruộng đất tốt nằm trong tay giai cấp địa chủ. Chúng cho nông dân thuê cày cấy và nộp địa tô rất nặng, tá điền bị phụ thuộc vào địa chủ gần như nông nô. Cách bóc lột của tư bản: những công nhân nông nghiệp đi làm thuê cho phú nông, địa chủ, tiền không đủ sinh sống và lại phải làm việc ở những nơi rừng thiêng, nước độc. Cách bóc lột của đế quốc chủ nghĩa: ngoài cách bóc lột kinh tế ra, đế quốc chủ nghĩa còn dùng chế độ sưu thuế với hàng trăm thứ thuế; thuế thân, thuế chợ, thuế đò, thuế trường học, đánh vào đầu nông dân làm cho đời sống của người nông dân càng thêm cơ cực. Chế độ bóc lột ấy ở nông thôn làm cho nông dân thất nghiệp, chết đói tràn lan.

Bởi thế, đời sống của giai cấp công nhân và nông dân Việt Nam vô cùng khổ sở, một cổ đôi tròng. Đặc biệt, giai cấp công nhân Việt Nam xuất hiện trong công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp đã ít nhiều biết về Ngày Quốc tế Lao động thông qua các sách báo cách mạng, tiến bộ từ nước ngoài gửi về. Như vào ngày 1-5-1925, công nhân Chợ Lớn, công nhân đường sắt Dĩ An và công nhân Đà Nẵng đã biểu tình bày tỏ ý chí bảo vệ Liên bang Xô-viết, nhà nước đầu tiên trên thế giới do nhân dân lao động làm chủ. Tuy vậy, chỉ tới khi Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng của giai cấp công nhân chính thức ra đời thì ngày Quốc tế Lao động 1-5 mới nổi bật lên trong lịch sử đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.

Trước ngày 1-5-1930, khi Đảng mới ra đời, một cuộc đấu tranh của công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm chấn động cả nước Pháp. Đó là cuộc đấu tranh của công nhân Nhà máy Sợi Nam Định. Vào ngày 25-3-1930, tại Nhà máy Sợi Nam Định, nhân việc một đốc công người Pháp đánh công nhân ở xưởng dệt A, các đảng viên trong xưởng dệt A kêu gọi công nhân đóng máy phản đối. Nhận được báo cáo, Tỉnh ủy Nam Định quyết định nắm lấy thời cơ phát động công nhân toàn nhà máy bãi công để đấu tranh. Một ủy ban đình công được thành lập. Hầu hết các xưởng sản xuất đều ngừng việc khiến nhà máy hoàn toàn bị tê liệt. Từ mục tiêu ban đầu của xưởng dệt là chống đánh đập, Đảng bộ đã lãnh đạo công nhân nêu thêm các khẩu hiệu, yêu sách tăng lương, giảm giờ làm, đòi bỏ một số quy định vô lý, đòi đuổi một số cai gian ác, chống khủng bố thợ bãi công nhằm tập hợp đông đảo quần chúng, đẩy đấu tranh lên cao hơn.

Trước tình hình đó, bọn chủ một mặt khất lần, mặt khác chúng cầu cứu nhà cầm quyền đưa lực lượng đến giải tán công nhân, nhưng công nhân vẫn xiết chặt đội ngũ không nao núng. Khi binh lính xông vào bắt ba công nhân, hơn 3.000 thợ đã bất chấp luỡi lê, súng ống ào ạt xông tới giành giật người bị bắt. Nhà cầm quyền phải huy động một lực lượng lớn đến mới giải tán được. Hành động tráo trở, khủng bố của chủ càng làm tăng sự căm phẫn của công nhân, hơn 4.000 công nhân Nhà máy Sợi, dệt vẫn tiếp tục kiên quyết bãi công làm tê liệt sản xuất từ 29-3-1930 đến trung tuần tháng 4-1930. Để tỏ tình đoàn kết ủng hộ công nhân máy sợi Nam Định, các tầng lớp nhân dân thành phố, nhân dân các vùng nông thôn trong tỉnh như Xuất Cốc, An Cừ, Tiêu Bảng (Ý Yên), Lạc Nghiệp (Xuân Trường), thôn Chanh (Nghĩa Hưng) ở Nam Định cùng công hội một số tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương đã quyên góp tiền, gạo gửi ủng hộ công nhân Nhà máy Sợi bãi công. Trước tinh thần kiên quyết đấu tranh của công nhân ngày 12-4-1930, chủ nhà máy yết thị nhận giải quyết những yêu sách cơ bản của công nhân và gọi thợ đi làm. Mục tiêu chủ yếu của cuộc bãi công đã đạt được nên ngày 16-4-1930 ban lãnh đạo bãi công quyết định để công nhân trở lại làm. Như vậy, dưới sự lãnh đạo chặt chẽ và quyết tâm của Tỉnh uỷ Nam Định, sau 21 ngày gian khổ đấu tranh với tinh thần đoàn kết không lùi bước, không khoan nhượng của công nhân, được sự ủng hộ đầy tình nghĩa hữu ái giai cấp của các tầng lớp nhân dân trong và ngoài tỉnh, cuộc bãi công đã vượt qua mọi sự khó khăn, thử thách giành được thắng lợi cơ bản. Về kinh tế, thợ được tăng lương 10%, được rút nửa giờ làm một ngày nhưng quan trọng hơn là thắng lợi mang ý nghĩa chính trị do cuộc bãi công đem lại. Đây chính là cơ sở, tiền đề để công nhân và nhân dân lao động Việt Nam đấu tranh trong phạm vi cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Do đó, nhân ngày Quốc tế Lao động 1-5, hưởng ứng Lời kêu gọi của Đảng, nhân dân lao động trong cả nước đã dấy lên làn sóng đấu tranh dân tộc và dân chủ mạnh mẽ. Lần đầu tiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng và hướng dẫn, sự vận động của Công hội đỏ, công nhân cùng nông dân mít tinh biểu tình kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1-5, đấu tranh đòi quyền lợi, bày tỏ tình đoàn kết với công nhân và lao động thế giới. Và cũng lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, ngày Quốc tế Lao động được ghi nhận bằng hàng loạt các cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân diễn ra sôi nổi và đồng loạt trên cả nước. Từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng tới miền núi, tùy điều kiện mỗi nơi, quần chúng lao động đã tổ chức treo cờ Đảng ở những nơi đông người qua lại; hoặc rải truyền đơn ở những đường phố, chợ búa, công sở của địch; hoặc tổ chức mít tinh, biểu tình, bãi công, tuần hành thị uy.

Ở Bắc kỳ, công nhân Khu mỏ Hòn Gai bãi công, biểu tình. Lần đầu tiên ở vùng mỏ, lá cờ đỏ búa liềm được treo trên đỉnh núi Bài Thơ. Tại Thái Bình, hơn 1.000 nông dân Duyên Hà - Tiên Hưng biểu tình đòi tự do dân chủ, đòi cải thiện đời sống và chống khủng bố. Bọn thống trị điều động binh lính đàn áp. Được tuyên truyền và thuyết phục, binh lính tỏ cảm tình với quần chúng cách mạng, cho nên chỉ bắn lên trời.

Ở Trung kỳ, nông dân các tỉnh Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Nam, Khánh Hòa, Bình Thuận đã nổi dậy đấu tranh. Ngày 1-5-1930, cờ đỏ búa liềm lần đầu tiên xuất hiện ở Quảng Nam. Tại thị xã Hội An và các vùng nông thôn Duy Xuyên, Điện Bàn, Đại Lộc, Quế Sơn... đều có rải truyền đơn, treo cờ Đảng.

Đặc biệt là ở Nghệ An và Hà Tĩnh: Ở Nghệ An, tại ngã ba Vinh - Bến Thủy có một nhà ga xe lửa lớn, một nhà máy điện, một nhà máy diêm, 5 nhà máy cưa, 2 xưởng sửa chữa ô tô và một vài xưởng nhỏ, tất cả có 4.000 công nhân. Đời sống công nhân ở đây rất cực khổ. Bên cạnh đó, địa thế hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh nhiều rừng núi, đất đai cằn cỗi, thường xảy ra bão lụt. Do đó nhân dân, nhất là nông dân thường xuyên đói khát, khổ sở.

Vào ngày 1-5-1930, ở Vinh - Bến Thủy (Nghệ An), dưới sự lãnh đạo của Xứ uỷ Trung kỳ và Tỉnh ủy Nghệ An, hơn 1.000 nông dân các làng xã gần thành phố như Yên Dũng, Lộc Đa, Đức Thịnh, An Hậu, Đức Hậu đã hàng ngũ chỉnh tề kéo vào Trường Thi - Bến Thủy để cùng với công nhân tổ chức một cuộc biểu tình chung. Khẩu hiệu đấu tranh của công nhân và nông dân là "Ngày làm 8 giờ", "Tăng tiền lương"; "bỏ sưu", "giảm thuế". Theo kế hoạch, đoàn biểu tình sẽ tuần hành thị uy từ Bến Thủy qua phố chính, rồi kéo đến tòa công sứ Vinh để đưa bản yêu sách. Đoàn biểu tình vừa đi vừa hát Quốc tế ca và hô vang khẩu hiệu: "Ủng hộ cuộc bãi công của công nhân Nhà máy Sợi Nam Định"; "Đánh đổ đế quốc Pháp và Nam triều phong kiến"; "Bảo vệ Liên Xô"… Bọn cầm quyền Pháp đã đưa hàng trăm lính đến ngã ba Bến Thủy để chặn đoàn biểu tình lại, nhưng anh em binh lính không tuân theo mệnh lệnh đàn áp của bọn chỉ huy Pháp, không bắn vào đoàn biểu tình. Báo Người lao khổ, cơ quan của Xứ ủy Trung kỳ viết: "Thật là lần đầu tiên ở Việt Nam, công nông binh gặp nhau giữa trận tiền". Chính quyền thực dân thẳng tay đàn áp. Chúng huy động binh lính đến bắn vào đoàn biểu tình, nhưng anh em binh sĩ người Việt chống lệnh của bọn chỉ huy Pháp không bắn vào đồng bào mình. Mặc dù vậy, bọn giám binh, chánh mật thám tỉnh, bọn chủ người Pháp đã tức tối bắn vào đoàn biểu tình làm 7 người chết và 18 người bị thương.

Trong khi làn sóng đấu tranh của quần chúng đang dâng lên ở thành phố Vinh - Bến Thủy, 3.000 nông dân tập trung tại đình làng Hạnh Lâm (huyện Thanh Chương - Nghệ An) tổ chức mít tinh, biểu tình vào đồn điền của tên ký Viễn đòi trả lại ruộng đất và con đường giao thông độc đạo hắn đã lấn chiếm của dân. Tên ký Viễn phải bỏ trốn. Đang lúc ngọn lửa căm thù bốc cao, quần chúng tự động đốt phá dinh cơ của hắn và tự thực hiện lấy các yêu sách của mình. Đến ngày 4-5-1930, thực dân Pháp mới dám tập trung binh lính đến đàn áp. 17 nông dân đã hy sinh và một số khác bị thương. Điều mà nhân dân Hạnh Lâm và các vùng lân cận khác tự hào mãi mãi là tên tư sản mại bản kiêm địa chủ ký Viễn đã phải từ bỏ Hạnh Lâm và cả Thanh Chương không dám trở lại.

Tại Nam kỳ, khoảng 1.000 nông dân quận Đức Hòa (Chợ Lớn) đã biểu tình đến quận lỵ đòi giảm thuế, bỏ sưu. Bọn Pháp đàn áp dã man làm 9 người chết, 50 người khác bị thương. Nhưng đoàn biểu tình vẫn không lùi bước, buộc địch phải nhượng bộ, nhận bản yêu sách, giảm thuế, giảm sưu. Tại Sa Đéc và Long Xuyên, các cuộc biểu tình của nông dân quận Cao Lãnh và quận Chợ Mới đều giành được thắng lợi. Hai tên chủ quận Chợ Mới và Cao Lãnh buộc phải giải quyết yêu sách của quần chúng: hoãn thuế 2 tháng, thả những nông dân bị bắt vì thiếu thuế. Đặc biệt, cuộc biểu tình của công nhân và nông dân Gia Định đã lôi cuốn hàng nghìn người tham gia với một khí thế rất hùng dũng. Bọn thực dân đã đàn áp cuộc biểu tình một cách dã man: Hơn 10 người chết và bị thương, hàng chục người bị bắt.

Máu của công nhân và nông dân Việt Nam đã đổ trong dịp kỷ niệm 1-5-1930. Nhưng sự đàn áp dã man của địch không dập tắt được phong trào. Khắp nơi, quần chúng họp mít tinh, truy điệu những người đã hy sinh để nung nấu thêm chí căm thù đế quốc, phong kiến và chuẩn bị cho cuộc đấu tranh mới.

Những cuộc mít tình, biểu tình, bãi công vẫn tiếp tục dâng cao. Trong tháng 5, 54 cuộc đấu tranh đã nổ ra (Bắc kỳ có 21 cuộc, Trung kỳ có 21 cuộc, Nam kỳ có 12 cuộc), trong số đó có 18 cuộc đấu tranh của công nhân, 34 cuộc của nông dân. Từ tháng 6 đến tháng 8-1930, có 121 cuộc đấu tranh... Sự kết hợp chặt chẽ giữa phong trào bãi công của công nhân ở nhà máy và phong trào biểu tình của nông dân ở nông thôn đã hình thành khối liên minh đấu tranh của hai giai cấp nông dân và công nhân, làm cho đế quốc Pháp vô cùng lúng túng và bị động.

Xô viết Nghệ - Tĩnh khiến thực dân Pháp kinh hoàng!

Từ phong trào này được mở đầu bằng cuộc biểu tình ngày Quốc tế Lao động 1-5-1930 của công nhân khu công nghiệp Bến Thủy và nông dân thuộc 5 xã ven thành phố Vinh đến tháng 8-1930, ở vùng Nghệ Tĩnh đã có đến 97 cuộc bãi công và biểu tình của công nhân và nông dân, trong đó đáng chú ý là cuộc bãi công kéo dài của công nhân Nhà máy Diêm đã dẫn đến cuộc tổng bãi công của toàn thể công nhân khu công nghiệp Bến Thủy. Tất cả những sự kiện đó đã tạo ra những tiền đề cho cao trào cách mạng từ tháng 9-1930 đến tháng 6-1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh.

Trong phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh, sự hy sinh của hàng trăm người từ ngày 1-5-1930 như chất men đưa cuộc đấu tranh đến cao trào. Trong tháng 8 và tháng 9 năm 1930, những cuộc đấu tranh ở Nghệ An và Hà Tĩnh có tính chất bạo động và có đến 40.000 quần chúng tham gia, gây chấn động trong cả nước và trên thế giới. Nhân dân hai tỉnh đã đốt huyện đường, phá nhà lao. Hệ thống chính quyền của thực dân, phong kiến bị tê liệt, một số tan rã. Chính quyền Xô viết đầu tiên được hình thành hàng loạt tại nhiều xã thuộc các huyện, thị xã ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh: Thanh Chương, Nam Đàn, Anh Sơn, Nghi Lộc, Vinh - Bến Thuỷ, Can Lộc, Thạch Hà, Đức Thọ, Hưng Nguyên... Các chính quyền Xô Viết đã ban hành nhiều chính sách mới về chính trị, kinh tế, văn hóa. Về chính trị nhân dân được quyền tự do hội họp, thảo luận và hoạt động trong các tổ chức đoàn thể như Nông hội, Công hội, Đoàn thanh niên cộng sản… Về kinh tế nhân dân được chia ruộng, bãi bỏ các thứ thuế vô lý, bất công, thực hiện giảm tô và xóa nợ cho dân nghèo, đồng thời đòi yêu sách với các chủ xưởng, chủ tàu. Về văn hóa, chính quyền cách mạng đã tổ chức đời sống mới, mở các lớp dạy chữ Quốc ngữ, xóa bỏ các tệ nạn, hủ tục lạc hậu, xây dựng tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau. Tuy nhiên, lúc bấy giờ bọn thực dân còn rất mạnh nên Xô viết Nghệ - Tĩnh đã bị bọn thực dân và tay sai đàn áp và dìm trong biển máu. Trong những tháng đầu năm 1931, phong trào cách mạng gặp nhiều khó khăn và tổn thất nặng vì nhiều cán bộ lãnh đạo của Đảng ở Nghệ - Tĩnh bị địch bắt. Phong trào đấu tranh của quần chúng dần dần lắng xuống; các Xô viết lần lượt bị giải tán trong tháng 6-1931. Cuối năm 1931, một số cuộc mít tinh và biểu tình nhỏ của quần chúng còn nổ ra ở một số xã; việc rải truyền đơn và treo cờ đỏ còn kéo dài đến năm 1932. Một số cán bộ và đảng viên còn lại vẫn kiên trì hoạt động gây nhân mối trong quần chúng.

Đánh giá về ý nghĩa lịch sử to lớn của cao trào cách mạng 1930 - 1931, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Tuy đế quốc Pháp đã dập tắt phong trào đó trong một biển máu nhưng Xô viết Nghệ Tĩnh đã chứng tỏ tinh thần oanh liệt và năng lực cách mạng của nhân dân lao động Việt Nam. Phong trào tuy thất bại, nhưng nó rèn lực lượng cho cuộc Cách mạng tháng Tám thắng lợi sau này".

Như vậy, phong trào đấu tranh ngày 1-5-1930 đã mở đầu cho cao trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh. Từ đó, đến ngày 1-5, hay trước sau ngày đó, những truyền đơn cờ đỏ vẽ hình búa liềm hiện ra ở các xí nghiệp, đồn điền, đường phố… cùng với những sách báo bí mật nói chuyện lịch sử ngày 1-5. Đặc biệt là những nhà tù tập trung chính trị phạm, mặc dù hoàn cảnh khó khăn, kỷ niệm 1-5 vẫn được biểu hiện một cách tài tình trước mắt quân thù, hòa hợp với những cuộc đấu tranh rầm rộ ngoài đường phố. Và hằng năm, đến ngày 1-5, hay trước sau ngày ấy, bọn thống trị Pháp và phong kiến Nam triều huy động mật thám, cảnh sát để khám nhà, bắt người, và đề phòng những cuộc đình công, biểu tình có thể nổ ra. Nếu ngày 1-5 đã trở thành ngày nhắc lại truyền thống anh dũng và biểu dương lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thì cũng là ngày mà bọn thống trị nơm nớp lo sợ.

Cho đến ngày 1-5-1938, trong phong trào Mặt trận bình dân đang sôi nổi, công nhân và nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, đã công nhiên kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5 với cuộc mít tinh của hai vạn rưỡi người tại trường Đấu xảo Hà Nội với sự tham gia của 25 ngành, giới: thợ hỏa xa, thợ in, nông dân, phụ nữ, người cao tuổi, nhà văn, nhà báo... và 5.000 người tại rạp hát Thành Xương (Sài Gòn) với những khẩu hiệu chống phát xít, chống chiến tranh, chống phản động thuộc địa, đòi tự do dân chủ và tự do lập nghiệp đoàn. Cuộc biểu tình diễn ra ở khu Đấu xảo Hà Nội là cuộc mít-tinh lớn nhất trong thời kỳ vận động dân chủ (1936-1939), một cuộc biểu dương sức mạnh đoàn kết của nhân dân lao động do Đảng lãnh đạo.

Cuộc Đại chiến thế giới thứ hai bùng nổ (1939-1945), cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới. Hàng năm, ngày 1-5, trên những số báo đặc biệt của "Cờ Giải Phóng", cơ quan của Đảng lãnh đạo; "Cứu Quốc", cơ quan của Mặt trận dân tộc thống nhất, vẫn nổi bật lên những khẩu hiệu đấu tranh của từng giai đoạn nhất định: đánh Pháp đuổi Nhật; ủng hộ Liên Xô; chống phát xít; chuẩn bị tổng khởi nghĩa...

Ở nước ta, sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, ngày 19-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 56 quyết định cho công nhân lao động cả nước được nghỉ hưởng lương ngày Quốc tế Lao động. Ngày 1-5-1946, ngày Quốc tế Lao động được tổ chức kỷ niệm mít tinh trọng thể tại Hà Nội với sự tham dự của 20 vạn nhân dân lao động. Nhân dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời kêu gọi: "Cùng đồng bào toàn quốc! Cùng anh chị em lao động! Ngày 01 tháng 5 là một ngày Tết chung cho lao động tất cả các nước trên thế giới. Đó là một ý nghĩa đoàn kết rất sâu xa. Ở nước ta lần này là lần đầu mà đồng bào ta, anh chị em lao động ta được tự do đón tiếp ngày 01/5. Vậy nên nó có ý nghĩa đặc biệt sâu xa hơn nữa. Đối với chúng ta nó là một ngày để tỏ cho thế giới biết rằng ngày này chẳng những là ngày Tết lao động, mà nó còn là ngày toàn dân đoàn kết. Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới".

Nói về trách nhiệm của Đảng đối với nhân dân lao động, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa phải lo tính công việc lớn như đổi mới nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành nền văn hóa tiên tiến, đồng thời luôn luôn quan tâm đến những công việc nhỏ như tương, cà mắm, muối cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân". Bởi vậy, Người nhắc nhở: "những Chính sách và Nghị quyết của Đảng đều vì lợi ích của nhân dân. Đảng ta là đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động". Do đó, Người không nói đến những lý luận cao xa về chủ nghĩa xã hội, mà Người nói một cách giản dị, dễ hiểu: "Nói một cách tóm tắt, mộc mạc thì chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một cuộc đời hạnh phúc".

Do đó, Bộ Luật Lao động của nước ta hiện nay (năm 2012) quy định: "Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong 01 tuần"; "Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ"; "Người lao động làm việc liên tục 08 giờ hoặc 06 giờ theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật này được nghỉ giữa giờ ít nhất 30 phút, tính vào thời giờ làm việc"; "Người lao động làm việc theo ca được nghỉ ít nhất 12 giờ trước khi chuyển sang ca làm việc khác"; "Mỗi tuần, người lao động được nghỉ ít nhất 24 giờ liên tục. Trong trường hợp đặc biệt do chu kỳ lao động không thể nghỉ hằng tuần, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm cho người lao động được nghỉ tính bình quân 01 tháng ít nhất 04 ngày"; "Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm"; "Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày lễ, tết"; "Người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương"...

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cũng nêu rõ: "Quan tâm, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động của công nhân; bảo đảm việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc, nhà ở, các công trình phúc lợi phục vụ cho công nhân; sửa đổi, bổ sung các chính sách, pháp luật về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,... để bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công nhân".

PGS.TS Nguyễn Đăng Bằng

 

Hội nghị TW 5 khóa 12, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết quan trọng về phát triển kinh tế tư nhân, trong đó khẳng định kinh tế tư nhân (KTTN) là "một động lực quan trọng của nền kinh tế" cho thấy bước đột phá về nhận thức của Đảng ta so với giai đoạn trước. Đảng ta chủ trương phát triển mạnh khu vực KTTN cả về số lượng và chất lượng, để thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Trong những năm qua, khu vực KTTN đã làm nên sự phát triển năng động của nền kinh tế, góp phần quan trọng trong tạo việc làm, nâng cao thu nhập của người dân, mạnh dạn đột phá và đi đầu trong nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh mới. Tuy nhiên, KTTN vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và lợi thế của nó. Còn nhiều lực cản đối với khu vực KTTN cần được tháo gỡ, tạo môi trường thông thoáng cho KTTN phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn. Trong khuôn khổ bài báo khoa học tác giả đi sâu phân tích thực trạng KTTN vùng Bắc Trung bộ, những hạn chế vướng mắc trong quá trình phát triển. Từ đó đề xuất một số giải pháp để KTTN trở thành động lực phát triển kinh tế vùng.

1. Bước đột phá trong nhận thức của Đảng ta về kinh tế tư nhân

Phát triển kinh tế tư nhân là một vấn đề gay cấn, gây tranh cãi nhiều nhất, đụng chạm đến những vấn đề chính trị - xã hội nhạy cảm, v.v. Không ít người cho rằng kinh tế tư nhân là lực cản trong cơ chế thị trường định hướng XHCN, một thời gian rất dài chúng ta định kiến với KTTN. Nói là coi KTTN bình đẳng với các thành phần kinh tế khác nhưng thực chất là không muốn KTTN phát triển lên. Cách đây 12 năm (2006), Đại hội X của Đảng đã khẳng định: "kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng là một trong những động lực của nền kinh tế". Nhận thức là vậy nhưng trong hành động KTTN vẫn chịu nhiều thiệt thòi so với các thành phần kinh tế khác như trong lĩnh vực đất đai, lao động, thuế... Phần lớn doanh nghiệp tư nhân còn lẻ loi, cô độc trong cơ chế thị trường. Tổng kết 30 năm đổi mới với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, kinh tế tư nhân đã được hồi phục, phát triển và trở thành một lực lượng kinh tế lớn mạnh, góp phần vào thắng lợi của đổi mới. Đến nay không còn một người nào, dù là bảo thủ nhất, nghi ngờ và phủ nhận vai trò của kinh tế tư nhân, nhưng những vướng mắc về lý luận liên quan đến kinh tế tư nhân vẫn chưa được làm sáng tỏ, giải quyết dứt điểm.

Về mặt lý luận, cũng có người đặt vấn đề tại sao bây giờ Đảng ta mới coi KTTN là động lực? Trong khi đó ở các nước phát triển, KTTN mặc nhiên là động lực của kinh tế thị trường. Ở đó KTTN trở thành lực lượng quyết định và đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng GDP và tạo ra công ăn việc làm cho lao động, đóng góp quan trọng vào ngân sách quốc gia, thậm chí ở các nước đó không còn khái niệm KTTN. Trong khi đó ở nước ta một thời gian dài tư tưởng kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo đã ăn sâu trong tiềm thức của mỗi người, thì liệu KTTN có được tồn tại trong môi trường thật sự bình đẳng không? Chính vì vậy Nghị Quyết TW 5 về phát triển KTTN được coi là bước đột phá trong nhận thức về CNXH và cơ chế thị trường định hướng XHCN.

Nghị quyết Trung ương 5 khóa 12, một lần nữa Đảng ta khẳng định phải phát triển KTTN, coi  KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đưa KTTN phát triển nhanh, bền vững, đa dạng, với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỷ trọng trong tổng sản phẩm nội địa (GDP). Nghị quyết là một bước tiến mới về nhận thức, tạo động lực thúc đẩy phát triển khu vực KTTN và toàn bộ nền kinh tế. Đồng thời, thể hiện đường lối nhất quán của Đảng ta, Nhà nước ta về phát triển KTTN. Nếu thực hiện được các nội dung của Nghị quyết, KTTN sẽ phát triển đúng với tiềm năng lợi thế của nó chứ không cần sự ưu ái nào từ phía nhà nước. Nghị quyết sẽ là sự khơi nguồn cho đổi mới, là cơ sở để các lực lượng KTTN trước đây bị kìm hãm sẽ được bung ra. Tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng sức sản xuất, khơi nguồn sáng tạo và phát huy vai trò KTTN trong mọi giai đoạn của chuỗi giá trị sản xuất, để KTTN phát triển nhanh hơn, mạnh mẽ hơn và lành mạnh hơn, ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm; giúp chúng ta có thêm sức mạnh và động lực để hội nhập sâu hơn, là điều kiện để chúng ta đổi mới công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao.

Động lực nào để đưa KTTN phát triển đúng tinh thần Nghị quyết TW 5? Từ sự thay đổi trong nhận thức đến hành động thực tiễn chắc còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Trong một nền kinh tế thị trường thì năng suất, chất lượng và hiệu quả là thước đo tính đúng đắn của chính sách kinh tế. Dù kinh tế nhà nước có lớn mạnh đến đâu KTTN vẫn là một chủ thể của kinh tế thị trường. Sự đóng góp của KTTN là không nhỏ. Theo TS. Lê Đăng Doanh - Chuyên gia kinh tế cao cấp, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung ương nhận định: "dù chịu nhiều bất bình đẳng, thiệt thòi so với doanh nghiệp nhà nước và đầu tư nước ngoài nhưng KTTN vẫn phát triển. KTTN vẫn là đầu tàu thực hiện cách mạng công nghiệp 4.0". Kinh tế tư nhân vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển, đó là chế biến nông - lâm - thủy sản, phát triển dịch vụ y tế, giáo dục, du lịch, xuất khẩu; đồng thời là động lực phát triển kinh tế - xã hội ở những vùng sâu, vùng xa, khó thu hút đầu tư nước ngoài. Khi xác định "kinh tế tư nhân là động lực quan trọng" trong nền kinh tế, nghĩa là Đảng ta thấy được KTTN có nhiều tiềm năng nhưng chưa được phát huy hết, nhiều nguồn lực chưa được huy động, vị thế của KTTN vẫn chưa được khẳng định tương xứng với sự đóng góp của nó. Nhiều ngành nghề, lĩnh vực, KTTN chưa được trao cơ hội để đầu tư.

Để khơi dậy động lực của KTTN không thể không làm rõ vai trò vị thế của nó. Không thể không thừa nhận sự đóng góp của KTTN vào tăng trưởng, góp vốn, góp sức lao động, tạo ra việc làm, tăng thu nhập, tăng thu ngân sách. Đó là chưa kể đến sự đóng góp kinh nghiệm quản lý, quản trị, khả năng thích ứng của KTTN. Kinh tế tư nhân có sức hấp dẫn bởi vì tự nó tạo động lực cho chính mình để phát triển. Để  kinh tế tư nhân là động lực bên cạnh sự nỗ lực tự thân, kinh tế tư nhân cần nhiều sự hỗ trợ của nhà nước. Theo TS. Trương Đình Ánh: "Doanh nghiệp tư nhân Việt Nam cần được đối xử bình đẳng, không cần ban phát, xin cho ưu đãi".

Ở một góc nhìn khác, chúng ta lại thấy ở nước ta đang tồn tại một nghịch lý, những vùng nghèo, kinh tế khó khăn, không thấy các doanh nghiệp nhà nước, chỉ thấy doanh nghiệp tư nhân. Trong chính sách kêu gọi đầu tư ở nước ta thiếu tính đặc thù của vùng miền. Hiệu ứng "nước chảy chỗ trũng" vẫn tồn tại dai dẳng. Để giải quyết nghịch lý này đòi hỏi nhà nước phải có chính sách khuyến khích KTTN mà nòng cốt là doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào những vùng điều kiện tự nhiên không thuận lợi và kinh tế khó khăn. Thực trạng và môi trường chính sách phát triển KTTN ở nước ta thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập, chắp vá. Nhiều chính sách được ban hành nhưng chậm đi vào cuộc sống. Một số chính sách về KTTN nhưng không được thực hiện đến nơi, đến chốn. Bài toán lợi ích đang được các chủ đầu tư đặt lên hàng đầu. Trong khi KTTN vẫn còn chạy ngược xuôi tìm dự án thì các doanh nghiệp nhà nước trúng thầu, lại bán thầu cho doanh nghiệp tư nhân. Tình trạng đó đến bao giờ mới chấm dứt. Trong đầu tư, năng lực nhà thầu hay quan hệ... vẫn là một dấu hỏi???

2. Thực trạng kinh tế tư nhân các tỉnh Bắc Trung bộ hiện nay

 Bắc Trung bộ (BTB) là vùng lãnh thổ kéo dài và hẹp ngang nhất nước. Diện tích: 51,5 nghìn km2 (16,5% cả nước); Dân số: 10,6 triệu người (12,7% cả nước); Tiếp giáp: Đồng bằng sông Hồng, trung du và miền núi Bắc bộ, Lào và biển Đông, bao gồm các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế.

Các thế mạnh chủ yếu của vùng này là: Khí hậu nhiệt đới gió mùa, phân hoá đa dạng, có mùa đông lạnh vừa. Dải đồng bằng ven biển, đất đai đa dạng (phù sa, feralit…); Sông ngòi dày đặc; Khoáng sản tương đối phong phú; Rừng có diện tích tương đối lớn. Dân cư giàu truyền thống lịch sử, thích ứng với thiên nhiên khắc nghiệt; cần cù, chịu khó. Nhiều tài nguyên du lịch.

Tuy nhiên, vùng này còn tồn tại nhiều hạn chế: Thiên tai, lũ lụt, hạn hán, gió Lào. Do lượng mưa phân bố không đều nên về mùa mưa lượng mưa lớn gây ngập lụt, sạt sở đất, lũ ống, lũ quét; mùa khô số ngày nắng quá cao gây hạn hán, thiếu nước, cháy rừng. Giao thông kém, đi lại khó khăn. Tài nguyên đa dạng, phân tán, trên diện rộng khó khai thác. Do đầu tư thấp nên cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật còn yếu kém. Thu nhập và mức sống thấp, thị trường tuy đông dân nhưng sức mua yếu, hàng hóa cầu nhỏ hơn cung. Đến nay Bắc Trung bộ, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế của vùng. Cơ cấu kinh tế này đưa đến nhiều hệ lụy.

Những thay đổi về tư duy và nhận thức quan đã tạo điều kiện giúp khu vực KTTN ở nước ta từng bước phát triển cả về lượng và chất. Từ chỗ chủ yếu chỉ có các hộ kinh doanh cá thể, KTTN đã có những tập đoàn kinh tế lớn. Từ chỗ chủ yếu hoạt động trong khu vực phi chính thức, KTTN đã chuyển đổi mạnh mẽ sang hoạt động trong khu vực chính thức của nền kinh tế, phạm vi kinh doanh đã rộng khắp ở những ngành mà pháp luật không cấm. Đặc biệt, trong những năm qua, một làn sóng khởi nghiệp đã và đang diễn ra, đem lại một sức sống mới cho nền kinh tế. Có thể thấy, khu vực KTTN đang đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn trong nền KTTT định hướng XHCN, góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước.

Từ 2010 đến nay kinh tế phát triển khá, nhiều doanh nghiệp tư nhân đã bứt phá vươn lên trở thành những mô hình tiên tiến trong sản xuất kinh doanh như Tập đoàn TH True Milk, Tập đoàn FLC Thanh Hóa, Tập đoàn Vingroup, Tập đoàn Mường Thanh. Các nhà đầu tư lớn trong nước đã về quê hương để đầu tư như một sự đền ơn trả nghĩa với quê hương hơn là mục đích kinh tế. Các tỉnh Bắc Trung bộ đã có chính sách thu hút đầu tư. Nhìn chung năng lực các nhà đầu tư tư nhân hạn chế cả về vốn, công nghệ, quản trị... 

Đến nay ở Bắc Trung bộ, KTTN hoạt động dưới nhiều hình thức như kinh tế hộ, kinh tế trang trại, DN nhỏ và vừa. Hàng vạn hộ kinh doanh nhỏ và siêu nhỏ, chủ yếu tập trung vào khu vực thương mại bán lẻ và dịch vụ. Trong công nghiệp chủ yếu lắp ráp, chế biến, sửa chữa. Số này chiếm 85 đến 90 % lao động; đóng góp 30% nguồn thu ngân sách, 45% GDP của vùng. Đội ngũ doanh nhân chưa đủ lớn, tầm nhìn hạn hẹp, chưa có chiến lược kinh doanh thích hợp. Kinh tế hộ vẫn chỉ là hộ nhỏ lẻ (không chịu lớn). Kinh tế tư nhân còn nhiều hạn chế cả về thực thi luật pháp; đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội.

Kinh tế tư nhân ở Bắc Trung bộ luôn tồn tại những đặc tính cố hữu:

Một là, kinh doanh manh mún nhỏ lẻ, mô hình hộ và chủ yếu tập trung vào thương mại bán lẻ và dịch vụ lắp ráp sửa chữa. Kinh doanh thiếu tính chuyên nghiệp, bền vững. Kinh tế tư nhân không đủ lớn để vươn ra tỉnh ngoài, nước ngoài.

Hai là, thiếu vắng doanh nghiệp tư nhân lớn, làm ăn bài bản, đúng pháp luật cạnh tranh sòng phẳng, lành mạnh. Nếu có thì chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực bất động sản, nhà hàng khách sạn. Doanh nghiệp tư nhân thiếu tính liên kết vùng và liên kết với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài.

Ba là, kinh tế tư nhân nhỏ vẫn chưa thoát ra khỏi sự ỷ lại trông chờ vào hỗ trợ của nhà nước, tâm lý chạy dự án, chạy công trình, trốn thuế, bất chấp nguyên tắc, luật lệ kinh doanh, thiếu tính hợp tác. Nhiều doanh nghiệp tự nguyện làm sân sau của nhà nước, tìm cách móc nối với nhân viên nhà nước để tìm nguồn vốn, chia chác, lãi quả cho một bộ phận quan chức nhà nước. Họ thiếu các năng lực tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự lực, tự cường.

Vì sao kinh tế tư nhân ở BTB chưa phát triển mạnh? Môi trường kinh doanh, thuế khóa, đất đai hay quản lý hành chính? Các tỉnh trong vùng phải làm gì để kinh tế tư nhân phát triển tốt và bản thân doanh nghiệp tư nhân phải làm gì để xứng đáng với vai trò là động lực cho sự phát triển?

Hiện nay, nhận thức và quan niệm về kinh tế tư nhân trong xã hội ta vẫn còn chưa thống nhất. Vẫn còn quan niệm cho rằng kinh tế tư nhân là kinh tế tư bản, mặc dù chúng ta vẫn chưa xác định được tiêu chí thế nào là tư bản tư nhân, nên còn gây ra mặc cảm đối với các chủ doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nghiệp tư nhân lớn đang bị thanh tra kiểm tra rất nhiều, trong khi đó doanh nghiệp nhà nước, hoặc kinh tế hộ ít hơn. Đây là nguyên nhân lý giải vì sao rất nhiều cơ sở kinh doanh tư nhân nhỏ "không muốn lớn". Theo ông Tuấn (VCCI): "Khôn thì dựng trại, dại thì dựng nhà", nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đang đồng ý với quy mô của mình, bởi họ sợ thanh kiểm tra của cơ quan thuế, môi trường. Nhà nước đang nhắm vào doanh nghiệp lớn và có thể nhắm đến mình. Có doanh nghiệp nói: "hôm trước mới gặp cơ quan thuế kiểm tra, hôm sau lại gặp tiếp đoàn thanh tra về chính sách bảo hiểm, môi trường…", Việt Nam đang tồn tại một quan niệm càng nhỏ, yếu càng được nhà nước ưu tiên, nâng đỡ. Cũng giống như trong giao thông khi gặp tai nạn thì xe to đền cho xe nhỏ, người đi xe phải đền cho người đi bộ.

  Môi trường kinh doanh không minh bạch từ trên xuống dưới. Luật pháp thay đổi thường xuyên, bất cập, dễ bị lợi dụng. Chính sách thiếu đồng bộ và nhất quán, rất khó lường. Nhất là lĩnh vực đất đai, thuế, môi trường. Thủ tục hành chính rườm rà, chậm trễ; thông tin không minh bạch, tồn tại song hành nhiều quy định riêng của địa phương như là các giấy phép con. Đội ngũ công chức nhà nước một bộ phận kém năng lực, suy thoái phẩm chất đạo đức. Trong quan hệ với doanh nghiệp gây khó khăn, vòi vĩnh, sách nhiễu.

Vẫn còn hiện tượng phân biệt đối xử giữa kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ở một số tỉnh BTB có chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nước ngoài được chào đón, ưu đãi về thuế, đất đai, cơ sở hạ tầng. Trong khi đó doanh nghiệp tư nhân tự bươn chải, gõ cửa khắp nơi để tìm kiếm cơ hội đầu tư. Tổ chức tư vấn đầu tư, thu hút đầu tư chủ yếu hướng đến doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp ngoại tỉnh. Ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng: "Khi môi trường kinh doanh không bình đẳng, không thúc đẩy cạnh tranh, thì không thể tạo ra liên kết. Chúng ta không có chuỗi, có mạng lưới liên kết doanh nghiệp thì không thể tạo nên lực lượng doanh nghiệp. Hiện tại, nền kinh tế cũng đang thiếu cả trụ cột là các doanh nghiệp tư nhân lớn". Chúng tôi cho rằng cần xem lại thể chế và cải cách thể chế. Phải chăng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN vẫn chưa tạo động lực cho kinh tế tư nhân. Từ những nguyên nhân trên làm cho kinh tế tư nhân chưa phát triển tương xứng với vị thế, tiềm năng của nó.

Theo các chuyên gia kinh tế, mấu chốt là do nguồn lực vẫn đang được phân bổ theo cơ chế xin - cho, thiếu cạnh tranh. Hiện chính sách về cạnh tranh đang tạo ra nhiều rào cản kinh doanh và hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân. Xóa bỏ hàng nghìn giấy phép con nhằm "cởi trói" cho khu vực tư nhân phát triển trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Đáng chú ý, trong một diễn biến mới đây, sau kiến nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương là bộ đầu tiên đứng lên tuyên bố sẽ "trảm" 675 điều kiện kinh doanh bất hợp lý nhằm trả lại sự thuận lợi cho môi trường kinh doanh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Tuy nhiên cũng theo các chuyên gia, với một nền kinh tế "nghiện" quản lý như hiện nay thì việc từ bỏ quyền lợi là điều không hề dễ dàng.Vì vậy, bài toán đang được đặt ra lúc này với các nhà hoạch định chính sách là làm thế nào để thực sự tạo một môi trường kinh doanh thông thoáng, tạo một không gian để khu vực tư nhân phát triển mạnh hơn, nhanh hơn và thực chất hơn.

3. Một số giải pháp để kinh tế tư nhân trở thành động lực của kinh tế vùng

Để KTTN vùng BTB không ngừng phát triển theo Nghị quyết Hội nghị TW 5, khóa 12, cần lưu ý một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần tập trung giải quyết vấn đề bình đẳng thật sự giữa KTTN với kinh tế và doanh nghiệp nhà nước, giữa doanh nghiệp vốn trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, giữa doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp lớn. Đồng thời có chính sách trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa; tạo môi trường thuận lợi cho kinh doanh và khởi nghiệp, không tham nhũng, tiêu cực và "lợi ích nhóm"; bảo vệ lâu dài quyền sở hữu tài sản cá nhân và sở hữu trí tuệ. Để tạo môi trường bình đẳng nhà nước các cấp theo thẩm quyền cần khẩn trương ban hành khung pháp lý, cơ chế, chính sách nhằm cụ thể hóa, củng cố định hướng chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân. Đổi mới cách làm chính sách, làm cho chính sách thực sự hiệu quả, sát với thực tế. Tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển, đổi mới công nghệ, các giải pháp tài chính, tín dụng; thực hiện công khai minh bạch các quy hoạch, kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, thúc đẩy liên kết tích cực giữa các ngành kinh tế, các chủ thể kinh tế và các không gian kinh tế. Khắc phục triệt để tình trạng các doanh nghiệp lớn chi phối, lấn át doanh nghiệp nhỏ trong việc tiếp cận nguồn lực và cơ hội kinh tế.

Cơ chế, chính sách phải tích hợp được với nhau và về tổng thể khung pháp lý phải hình thành một trật tự sản xuất, kinh doanh "mới hơn, có độ mở hơn" với các quan hệ đa dạng, nhiều chiều hơn giữa các chủ thể khác nhau, tôn trọng nguyên tắc thị trường, tôn trọng pháp luật và để cạnh tranh lành mạnh, thật sự trở thành động lực chủ yếu giữa các doanh nghiệp.

Thứ hai, thực hiện triệt để cải cách hành chính, tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước địa phương tỉnh, huyện, xã. Chính quyền địa phương hành xử theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân. Thông qua việc xây dựng cơ chế "một cửa điện tử" thống nhất đầu mối tiếp nhận và xử lý hồ sơ; hướng dẫn, giải quyết thủ tục hành chính. Trong đó, tập trung cải thiện việc tiếp cận các yếu tố đầu vào cho sản xuất kinh doanh; giảm thời gian, chi phí tuân thủ các thủ tục về thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, xây dựng; rút ngắn thời gian đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản. Triệt để xóa bỏ cơ chế "xin cho" trong đầu tư xây dựng cơ bản, cấp phát vốn; minh bạch trong đấu thầu đất đai, các công trình giao thông, xây dựng bằng vốn ngân sách.

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về chế độ sở hữu, kể cả đối với bất động sản, ruộng đất... để góp phần ngăn ngừa xung đột trong xã hội, phân bổ nguồn lực hiệu quả. Khi pháp luật về sở hữu rõ ràng thì tự nó sẽ đặt ra một trật tự có giới hạn cho các quyền của các chủ thể trong xã hội được bảo đảm, theo đó các doanh nghiệp sẽ biết trân trọng sự hợp tác và gắn kết nhiều hơn, tỷ lệ doanh nghiệp nói không với "chi phí ngầm" sẽ tăng và sự cạnh tranh lành mạnh trở thành động lực chính giữa các doanh nghiệp. Đó là thành tố cực kỳ quan trọng để tạo nên môi trường kinh doanh bền vững.

Thứ tư, việc đào tạo nguồn nhân lực của chúng ta hiện nay có nhiều vấn đề. Nhất là tình trạng mất cân đối về ngành nghề đào tạo, đào tạo không sát với nhu cầu sử dụng. Vì thế, cần đẩy mạnh hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản trị. Trong đó, chú trọng chất lượng, hiệu quả đào tạo; đào tạo có trọng tâm, trọng điểm và ưu tiên đào tạo nhân lực cho khu vực kinh tế tư nhân trong một số ngành, lĩnh vực theo đặt hàng của doanh nghiệp. Đối với các tỉnh BTB cần chú trọng đào tạo nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp chế biến. Các chương trình hướng nghiệp, giáo dục kinh doanh phải được giới thiệu và phổ biến ở bậc phổ thông.

Thứ năm, giải quyết kịp thời các vướng mắc, khiếu nại, kiến nghị của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Tăng cường coi trọng việc tổ chức hội nghị tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, công bố số điện thoại đường dây nóng, hộp thư điện tử để tiếp nhận và trả lời, giải đáp những vướng mắc kịp thời của doanh nghiệp ở các cấp, ngành. Nhà nước phải đối xử với doanh nghiệp tư nhân theo triết lý "củ cà rốt" và "cái roi sắt". Đối với "con lừa" doanh nghiệp nhà nước cần dùng "củ cà rốt" để thuyết phục "con lừa".

Thứ sáu, trong lúc nguồn vốn nhà nước còn hạn hẹp cần mở rộng nguồn vốn xã hội hóa. Có chính sách và cơ chế khuyến khích KTTN tham gia góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa hoặc nhà nước thoái vốn. Thúc đẩy phát triển mọi hình thức liên kết sản xuất, kinh doanh, cung cấp hàng hóa, chuyển giao công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng và mở rộng thị trường. KTTN vùng BTB cần liên kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước và kinh tế nước ngoài, tiếp nhận sự phân công lao động. Đặc biệt KTTN phát triển mạnh các DN vệ tinh, phát triển công nghiệp phụ trợ. 

Mặt khác, nhà nước sớm ban hành luật hội, nhằm thúc đẩy phát triển các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề với sự tham gia sâu rộng của các doanh nghiệp sở hữu tư nhân, để các hiệp hội có chỗ dựa pháp lý vững chắc, rõ ràng, phát huy sứ mệnh là đại diện cho tiếng nói của doanh nghiệp và đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, sự phát triển của từng ngành hàng, của mỗi doanh nghiệp.

Chúng ta hoàn toàn có thể hy vọng, khu vực KTTN sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm thiết thực, sự đồng hành hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị. Cùng với năng lực nội sinh rất lớn, sự đồng lòng chung sức của doanh nhân, doanh nghiệp, tin tưởng những năm tới, sẽ là cơ hội tốt để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh doanh, định vị thương hiệu, xứng đáng vai trò, vị thế và tiềm năng của kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị TW 5, khóa XII.

4. Kết luận

Phát triển KTTN cả nước nói chung và vùng BTB nói riêng là sự đòi hỏi cấp bách. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, KTTN sẽ trở thành động lực quan trọng trên cả ba lĩnh vực thương mại, đầu tư, tài chính. Để KTTN trở thành động lực phát triển của vùng, các tỉnh BTB cần hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi, hoàn thiện chính sách về đất đai, tài chính, đầu tư, cơ sở hạ tầng. Cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, mạnh dạn gỡ bỏ những rào cản để khuyến khích KTTN phát triển. Mặt khác KTTN cần mạnh dạn bứt phá, vươn lên, không bị động trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước. KTTN phải từng bước tích tụ, tập trung vốn, công nghệ để vươn lên trở thành công ty, tập đoàn kinh tế lớn, đủ sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Thấm nhuần tư tưởng NQTW5, hy vọng KTTN vùng BTB trong những năm tới sẽ phát triển mạnh và vững chắc, từng bước trở thành động lực của nền kinh tế vùng.

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết TW 5 - khóa 12: Về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

2. Báo tin tức (điện tử) ngày 3/10/ 2013, Tập trung sức phát triển kinh tế biển vùng Bắc Trung bộ.

3. Báo mới (điện tử), ngày 16/9/2016, Phát triển vùng Bắc Trung bộ: đẩy mạnh liên kết vùng gắn với vai trò doanh nghiệp.

4. Báo Hà Tĩnh (điện tử) ngày 12/5/2017, Nghị quyết phát triển kinh tế tư nhân: Bước tiến cho nền kinh tế.

5. GS.TS. Hồ Văn Vĩnh, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh 

NGUYỄN THỊ THU CÚC*              

1. Đặt vấn đề

Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong những năm qua đã ghi nhận những đóng góp ngày càng quan trng của khu vực kinh tế tư nhân, trong đó nòng cốt là cộng đồng doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, để có được những đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế - xã hội, sự nỗ lực vượt qua khó khăn, thậm chí rào cản, trong đó có khó khăn về vốn để sản xuất, kinh doanh là không nhỏ. Làm thế nào để lực lượng doanh nghiệp tư nhân dễ dàng có được nguồn lực tài chính để phát huy thế mạnh đóng góp nhiều hơn nữa vào kinh tế - xã hội, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập như hiện nay là vấn đề đặt ra cần lời giải không chỉ với mỗi doanh nghiệp nói riêng, các cơ quan quản lý nói chung. Và trong bối cảnh chung đó, cộng đồng doanh nghiệp Nghệ An cũng đang phải đối mặt với bài toán về vốn rất cần có được lời giải thỏa đáng...

Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội to lớn trong hơn 30 năm đổi mới của đất nước, có thể khẳng định vai trò đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân, trong đó có doanh nghiệp tư nhân là không h nhỏ. Từ thực tiễn đó, Đại hôi Đảng toàn quốc lần thứ XII đã khẳng định: Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là nguồn cổ vũ tinh thần khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo, tạo sức sống và đột phá phát triển mạnh mẽ đất nước trong giai đoạn tới.

Vì vậy, doanh nghiệp tư nhân thường khó tiếp cận được vốn để thực hiện các khoản đầu tư cần thiết nhằm tăng năng suất và khả năng cạnh tranh, phát triển các thị trường mới… Hầu hết các doanh nghiệp tư nhân đều "kêu khó" khi không tiếp cận được vốn, trong khi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn từ ngân hàng thương mại.

2. Thực trạng các tiếp cận vốn của doanh nghiệp tư nhân Nghệ An

Hiện nay, toàn tỉnh Nghệ An có 17.295 doanh nghiệp đăng ký hoạt động kinh doanh.  Theo số liệu của cơ quan thuế  đến nay có 10.655 doanh nghiệp đang hoạt động, chiếm tỷ lệ 61,6% so với tổng số doanh nghiệp đăng ký. Trong 9 tháng đầu năm 2017, Nghệ An có 1.276 doanh nghiệp được đăng ký thành lập mới, tăng 16,63% so với cùng kỳ, chiếm 1,75% số doanh nghiệp thành lập mới của cả nước, cao nhất trong vùng Bắc Trung bộ. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 280 doanh nghiệp, chiếm 1,65% của cả nước, thuộc tốp đầu của vùng Bắc Trung bộ.

           

Biểu 1.  Số lượng các doanh nghiệp thành lập theo loại hình

STT

Chỉ tiêu

9 tháng năm 2016

9 tháng năm 2017

Lũy kế

đến nay

I

Số DN thành lập

1094

1276

17.295

1

Công ty cổ phần

311

325

5576

2

Công ty TNHH hai thành viên trở lên

189

199

4072

3

Công ty TNHH một thành viên

512

692

4180

4

Doanh nghiệp tư nhân

82

60

3172

II

Số DN tạm ngừng

351

428

1375

III

Số DN hoạt động trở lại

205

280

985

IV

Số DN giải thể

90

226

1305

         Nguồn: Sở KHĐT Nghệ An

 

Với số lượng, quy mô hoạt động trên, trong 9 tháng năm 2017, khối doanh nghiệp đóng góp ngân sách địa phương đạt 3.347,3 tỷ đồng, tăng 13,16% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 42,25% tổng thu ngân sách toàn tỉnh.

Cũng như hầu hết các doanh nghiệp tư nhân trên cả nước, doanh nghiệp tư nhân tại Nghệ An luôn gặp phải nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Đặc biệt là vấn đề vốn phục vụ cho phát triển. (Bảng 2)

 

Bảng 2: Tình hình cho vay vốn đối với doanh nghiệp nhỏ vừa vừa tại Nghệ An năm 2016 (kỳ báo cáo 31/12/2016)

Đơn vị tính: Triệu đồng; số lượng doanh nghiệp

STT

Ngành kinh tế

Số doanh nghiệp được chấp thuận cho vay (lũy kế từ đầu năm)

Số doanh nghiệp còn nợ đến thời điểm báo cáo

Số tiền giải ngân (lũy kế từ đầu năm)

Dư cuối kỳ

 

Tổng số

Trong đó

Nợ xấu

Phân theo  kỳ hạn

Phân theo loại tiền

Ngắn hạn

Trung và dài hạn

Bằng VND

Bằng ngoại tệ (quy VND)

 

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

(6)

(7)

(8)

(9)

(10)

 

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

155

158

1.164.422

696.289

330.100

366.189

620.492

75.798

370.000

 

Công nghiệp và xây dựng

1.486

2.040

19.964.413

11635.290

4.955.458

6.679.832

11.465.737

169.553

177.800

 

Thương mai và dịch vụ

2.508

3.017

15.023.640

7.405.560

4.691.896

2.713.664

7.183.222

222.338

168.100

 

Tổng cộng

4.110

5.183

36.173.354

19.427.130

9.712.907

9.714.224

18.960.075

467.056

284.400

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Chi nhánh Nghệ An.

 

Doanh nghiệp Nghệ An hoạt động phụ thuộc chủ yếu vào vốn vay, trong khi đó lãi suất ngân hàng tuy có hạ hơn nhưng vẫn cao, quy mô doanh nghiệp nhỏ thiếu các điều kiện đảm bảo, báo cáo tài chính thiếu minh bạch gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn vốn. Một số doanh nghiệp chưa chấp hành tốt việc vay trả nợ, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng, nợ xấu có xu hướng tăng lên.

Qua số liệu cho thấy, so với tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh thì số doanh nghiệp tiếp cận được với nguồn vốn vay ngân hàng và số vốn giải ngân cho các doanh nghiệp là còn rất khiêm tốn và chưa đáp ứng được nhu cầu cần vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguyên nhân chính là họ không có đủ điều kiện, chưa đáp ứng được các yêu cầu, tiêu chí của các tổ chức tín dụng. Họ phải sử dụng vốn tự có, hay vay lãi ngoài, lãi vay cao hơn với lãi suất họ tiếp cận được. 

Thực tế, ngân hàng không thiếu vốn mà là thiếu niềm tin với doanh nghiệp, tỷ lệ nợ xấu của doanh nghiệp tư nhân thấp hơn so với một số loại hình doanh nghiệp khác, nghịch lý là ở chỗ đó. Doanh nghiệp tư nhân cũng có những hạn chế trong việc tiếp cận vốn là không chứng minh được hiệu quả sản xuất kinh doanh một cách lành mạnh, cơ hội trong hiện tại và tương lai, phương án kinh doanh để vay vốn thì sức thuyết phục không cao. Lại gặp cản trở của ngân hàng về báo cáo tài chính theo chuẩn của các tổ chức tín dụng. Vẫn có tình trạng nhiều ngân hàng thích cho doanh nghiệp lớn vay, cho 1 doanh nghiệp vay 1.000 tỷ sẽ dễ và thích hơn cho 100 doanh nghiệp hay 1.000 doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, siêu nhỏ vay với tổng số 1.000 tỷ. Mặc dù, ngân hàng luôn khẳng định doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng với nhau trong cách tiếp cận vốn tín dụng. Ngân hàng sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn. Nguyên nhân một số DN tư nhân chưa tiếp cận được tín dụng ngân hàng là do năng lực quản trị và khả năng tài chính của DN còn hạn chế. 

Có thể khẳng định, việc tiếp cận vốn vay của doanh nghiệp tư nhân tại Nghệ An còn khó khăn xuất phát từ 2 yếu tố cơ bản như sau:

Về phía doanh nghiệp: Hoạt động tham gia bảo lãnh hoặc có cơ chế tín dụng phù hợp như thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp tư nhân, tuy nhiên, đến nay tại Nghệ An hoạt động này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp tư nhân. Nguyên nhân là do vướng cơ chế huy động nguồn tài chính để hoạt động. Bên cạnh đó, trong một thời gian dài, đối tượng doanh nghiệp tư nhân rất cần sự trợ giúp tài chính, đặc biệt trong một số ngành trọng tâm mũi nhọn của tỉnh như: Du lịch, khách sạn và chế biến xuất khẩu thủy sản thì lại chưa được quan tâm đúng mức, bởi hầu hết ngân hàng không coi doanh nghiệp tư nhân là đối tượng khách hàng mục tiêu.

Theo kết quả cuộc khảo sát của tác giả, đa phần doanh nghiệp tư nhân tại Nghệ An đều có quy mô nhỏ và rất nhỏ, thường mới được thành lập và là dạng công ty gia đình nên chưa có chiến lược phát triển lâu dài; dự án sản xuất kinh doanh kém thuyết phục nên không được ngân hàng đánh giá cao trong quá trình duyệt vay vốn. Doanh nghiệp tư nhân lại không có một bộ phận kế toán hoặc lập kế hoạch chuyên nghiệp, đa phần việc tìm kiếm nguồn tài trợ cho doanh nghiệp đều do chủ doanh nghiệp tự tìm hiểu. Việc tham gia tư vấn bán hàng của ngân hàng hoặc tư vấn của các tổ chức hiệp hội chưa nhiều và không mang lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp tư nhân. Hầu hết các chủ doanh nghiệp đều cho rằng, tài sản thế chấp là yếu tố quan trọng nhất khi ngân hàng cho vay, trong khi đó một số hình thức tín dụng khác cho vay dựa trên dòng tiền tương lai hoặc cho vay chiết khấu chứng từ xuất khẩu lại không được doanh nghiệp tư nhân chú ý.

Khi lựa chọn các phương thức bảo lãnh vay vốn, hầu hết đều có tài sản thế chấp và bảo lãnh cá nhân, gia đình trong khi các hình thức bảo lãnh khác không được doanh nghiệp sử dụng. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đều có tâm lý khai báo số vốn đầu tư thấp hơn số thực tế nhằm trốn tránh nghĩa vụ thuế, vì vậy khi ngân hàng tiến hành kiểm tra báo cáo kế toán của doanh nghiệp tư nhân thường đánh giá năng lực tài chính của mình yếu hoặc không đủ năng lực trả nợ.

Về phía ngân hàng thương mạiHầu hết ngân hàng tại Nghệ An chỉ muốn cho doanh nghiệp tư nhân vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động, vì lo ngại rủi ro trong tương lai, trong khi nhu cầu sử dụng vốn đầu tư trung và dài hạn của doanh nghiệp tư nhân là khá cao. Tuy xác định doanh nghiệp tư nhân là đối tượng cho vay nhưng hầu hết các ngân hàng vẫn chưa có một bộ phận chuyên trách nghiên cứu về nhu cầu và trợ giúp các tư vấn cần thiết cho doanh nghiệp tư nhân. Thông tin về doanh nghiệp tư nhân thường hạn chế hoặc không đáng tin cậy do các vấn đề về thống kê, do đó ngân hàng không hiểu nhiều về doanh nghiệp tư nhân, gây tâm lý e ngại khi cho vay.

Một bất cập khác nữa, đó là khi doanh nghiệp tư nhân có thể có tiềm lực tài chính tốt, báo cáo tài chính minh bạch nhưng không thuộc "khẩu vị tín dụng" của ngân hàng thì cũng không được duyệt vay. Chẳng hạn, ngân hàng xác định đối tượng doanh nghiệp tư nhân được vay là vận tải hành khách và hàng hóa, xây dựng, xuất khẩu nông sản và thủy sản bắt buộc phải có thế chấp mới cho vay, do lo ngại nợ xấu. Như vậy, đối tượng chiếm số đông doanh nghiệp tư nhân của Nghệ An là kinh doanh thương mại và khách sạn nhà hàng không thuộc đối tượng cho vay của ngân hàng này… nên việc tiếp cận vốn ngân hàng cũng chẳng khác gì "đánh đố" doanh nghiệp.

3. Giải pháp để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cn vốn vay

Để doanh nghiệp tư nhân có đủ nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì cần tập trung vào một số nội dung sau:

Thứ nhất, ban hành chính sách và bố trí nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp tập trung vào cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính; Hỗ trợ tiếp cận tín dụng tại ngân hàng thương mại; Hỗ trợ tiếp cận tín dụng tại quỹ và các chế định tài chính khác; Hỗ trợ thuế thu nhập doanh nghiệp; Hỗ trợ nâng cao năng lực công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; Hỗ trợ đào tạo, tư vấn và thông tin; Hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh; Hỗ trợ tham gia mua sắm công; Hỗ trợ xúc tiến và mở rộng thị trường. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2018. Do đó, để triển khai Luật có hiệu quả thiết thực thì phải xây dựng kế hoạch, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh; Quyết định dự toán ngân sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Sớm phát huy vai trò của quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Qua kết quả khảo sát, việc thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng dành cho doanh nghiệp tại Nghệ An đang rất được mong đợi. Trong các cuộc đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh và đại diện các doanh nghiệp, hầu hết đều có ý kiến về việc tham gia bảo lãnh của tỉnh cho doanh nghiệp tư nhân để vay vốn. Hiện nay, do chưa có quỹ bảo lãnh tín dụng vì vậy việc bảo lãnh của tỉnh đối với doanh nghiệp tư nhân chưa được thực hiện. Doanh nghiệp tư nhân vẫn phải tự tìm kiếm các nguồn tài trợ với chi phí cao.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả các hoạt động trợ giúp doanh nghiệp tư nhân của hiệp hội và các cơ quan của địa phương. Qua kết quả điều tra doanh nghiệp tư nhân cho thấy, sự trợ giúp của các cơ quan này đối với doanh nghiệp tư nhân vẫn chưa mang lại hiệu quả. Nhu cầu trợ giúp về các yếu tố pháp lý, đào tạo nguồn nhân lực và cung cấp thông tin một cách đầy đủ, đặc biệt là việc chuẩn bị hồ sơ vay vốn và khả năng chứng minh năng lực tài chính cho ngân hàng của doanh nghiệp tư nhân còn yếu và thiếu.

Cần phát huy vai trò của các hiệp hội và trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp của tỉnh bằng việc mở các lớp đào tạo ngắn hạn cho chủ doanh nghiệp tư nhân và các cán bộ làm công tác tài chính tại các DN này. Nguồn tài chính cho các hoạt động này cần được sự chia sẻ và đầu tư của tỉnh nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả.

Thứ ba, coi trọng đối tượng khách hàng doanh nghiệp tư nhân đúng mức. Các ngân hàng đang dần chuyển hướng sang đối tượng khách hàng là doanh nghiệp tư nhân, trong khi ngân hàng nhà nước vẫn chưa phát huy vai trò đầu tàu. Thống kê cho thấy, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước chiếm một tỷ lệ trên 50% thị phần huy động vốn và cho vay trên tất cả các ngân hàng tại Nghệ An. Vì vậy, nếu nhóm ngân hàng thương mại nhà nước trên chú trọng hơn nữa việc cho vay thì sẽ tạo thêm nhiều cơ hội hơn cho doanh nghiệp tư nhân trong vấn đề tiếp cận vốn.

Thứ tư, ngoài yếu tố về tài sản thế chấp, còn nhiều yếu tố quan trọng khác khiến cho ngân hàng quyết định hoặc từ chối cho vay. Đó là khả năng trả nợ, lập kế hoạch kinh doanh, minh bạch báo cáo tài chính và viễn cảnh kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân. Trong các yếu tố trên, có nhiều yếu tố doanh nghiệp tư nhân có thể khắc phục được như lập kế hoạch kinh doanh và báo cáo tài chính phải rõ ràng, minh bạch liên quan nhiều đến yếu tố kỹ thuật.

 

 

Tài liệu tham khảo:

1.     Nghị quyết Đại hội XII của Đảng;

2.     Cục Phát triển doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Báo cáo tình hình hoạt động của doanh nghiệp các năm từ 2014-2016;

3.     Sở Kế hoạch và Đầu tư Nghệ An: Báo cáo tình hình doanh nghiệp trên địa bàn Nghệ An và các giải pháp hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp;

4.     Cục Thống kê tỉnh Nghệ An: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An, các năm 2014-2016;

5.     Ngân hàng Nhà nước – Chi nhánh Nghệ An: Báo cáo tình hình cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Nghệ An;

6.     ttps://baomoi.com/doanh-nghiep-nghe-an-thiet-kep-vi-thieu-quan-tam-phat-trien-thuong-hieu/c/23764572.epi;

7.     http://www.baonghean.vn/thoi-su-chinh-tri/201609/nghe-an-co-so-luong-doanh-nghiep-dung-thu-7-ca-nuoc-2736707/;

8.     http://www.baonghean.vn/kinh-te/tai-chinh-ngan-hang/201609/co-hoi-moi-cho-doanh-nghiep-nho-va-vua-tiep-can-von-2734422/;

9.     http://nghean.gov.vn:10040/wps/portal/mainportal/chitiet/!ut/p/c4/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3j3ED8XX8tgYxNzE2dnA0dH52CPEDNTI18DU_3g1Dz9gmxHRQCMlj_Y/?WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/web+content/portal_na/279_slsbbg_ct/gapmatnhadautu2017/e03f2a00402084b48d01ef123eafccdc;

10.            http://truongchinhtrina.gov.vn/ArticleDetail.aspx?_Article_ID=151;

11.            http://baodautu.vn/nghe-an-can-tich-cuc-ho-tro-phat-trien-doanh-nghiep-d45738.html;

12.            http://top-olympia.edu.vn/ho-tro-dao-tao-cho-doanh-nhan-nghe-an.html;

13.            http://congannghean.vn/van-hoa-giao-duc/201503/gan-nha-truong-voi-doanh-nghiep-trong-dao-tao-nhan-luc-596877/

 



* TS. Khoa Kinh tế - Trường Đại học Vinh

 

Nguyễn Văn Nam

 

Cùng với cả nước, Nghệ An đang bước vào giai đoạn phát triển mới - giai đoạn phát triển trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế ở một trình độ cao. Đó là môi trường chứa đựng nhiều cơ hội và thách thức - nhưng là cơ hội và thách thức ở một tầm cao mới, trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động sâu sắc, bất thường và khó dự đoán. Để đáp ứng tốt các yêu cầu của thực tiễn và xu thế thời đại, đồng thời thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được xác định trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và Đại hội Đảng bộ tỉnh thứ XVIII cùng mục tiêu yêu cầu của Nghị quyết số 26 Bộ Chính trị về phát triển Nghệ An đến năm 2020 thì việc lựa chọn cách tiếp cận phát triển mới, với tinh thần "đột phá để phát triển" nhằm đưa kinh tế Nghệ An phát triển một cách toàn diện và bền vững, phát triển theo hướng công nghệ cao, gia tăng giá trị sản xuất, trên cơ sở phát huy các tiềm năng, thế mạnh của tỉnh và đặc biệt là sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao, ít ảnh hưởng đến các tác động môi trường,... Trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Nghệ An luôn luôn coi trọng phát triển khu vực kinh tế tư nhân và là động lực phát triển quan trọng.

Trong thời gian qua, tỉnh Nghệ An đã luôn cố gắng ở mức cao nhất để cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh; tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh; kịp thời tháo gỡ các khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp; quan tâm đến công tác bồi dưỡng, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp; đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, thúc đẩy phát triển sản xuất, hoàn thiện cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho thu hút đầu tư... Tiếp tục đề xuất các giải pháp đồng bộ để cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 19/2016/NQ-CP của Chính phủ về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và Nghị quyết 35/NQ-CP về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp. Coi trọng phát triển kinh tế tư nhân thông qua việc tăng cường công tác hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp trở thành một trong những nhiệm vụ tập trung ưu tiên hàng đầu của tỉnh, đồng thời là giải pháp hữu hiệu nhằm phát triển mạnh mẽ đội ngũ doanh nghiệp của tỉnh nhà lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, có khả năng hoạch định chiến lược kinh doanh, năng động, nhạy bén, thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh doanh; có tinh thần dân tộc, văn hóa trong kinh doanh, có trách nhiệm xã hội, có đủ năng lực, trình độ để lãnh đạo, quản lý các doanh nghiệp hoạt động có chất lượng, hiệu quả; có năng lực cạnh tranh cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế, quốc tế ngày càng sâu, rộng như hiện nay; tạo ra sự liên kết chặt chẽ, tham gia tích cực vào mạng sản xuất, chuỗi giá trị trong nước, khu vực và tiến tới toàn cầu; ngày càng nhiều doanh nghiệp, doanh nhân có thương hiệu lớn cấp quốc gia, cấp khu vực, được xét tôn vinh và trao giải thưởng cấp toàn quốc, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển KT-XH, đóng góp vào nguồn thu ngân sách và tạo nhiều công ăn, việc làm cho người lao động.

Hết quý I năm 2018, Nghệ An có 466 doanh nghiệp được thành lập mới, tăng 19,8% so với cùng kỳ, về vốn đăng ký đạt 3.050 tỷ đồng, tăng 32,23% so với cùng kỳ năm ngoái, cao nhất trong khu vực Bắc Trung bộ. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 152 doanh nghiệp, tăng 10,9% so với cùng kỳ. Đến nay, tổng số doanh nghiệp đăng ký gần 17.800 doanh nghiệp; trong đó có 11.400 doanh nghiệp đang hoạt động, chiếm tỷ lệ 64% so với tổng số doanh nghiệp đăng ký.

Tuy nhiên, khối kinh tế tư nhân mà đặc biệt là các doanh nghiệp Nghệ An vẫn còn nhiều hạn chế như: Doanh nghiệp phát triển nhanh, nhưng chưa mạnh; hầu hết có quy mô nhỏ và siêu nhỏ (chiếm 97,8%); vốn điều lệ đăng ký thấp, công nghệ lạc hậu; trình độ năng lực quản lý còn thấp, dẫn đến năng suất lao động, năng lực cạnh tranh hạn chế; nhiều doanh nghiệp ngoài nhà nước và hộ tiểu chủ, cá thể thực hiện kinh doanh theo tình huống ngắn hạn, chưa có tầm nhìn, chiến lược kinh doanh dài hạn; ý thức tự giác chấp hành pháp luật của nhà nước còn hạn chế. Mối liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau và với các cơ quan quản lý nhà nước còn khá lỏng lẻo và ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế; các tổ chức, hiệp hội doanh nghiệp chưa phát huy hết vai trò hỗ trợ các doanh nghiệp.

Hiện tại, ngoài những khó khăn kể trên, khối doanh nghiệp tư nhân của tỉnh đang gặp phải một số rào cản, khó khăn như khả năng tiếp cận thông tin và nguồn lực (vốn, đất đai). DN tư nhân (DNTN) có quy mô nhỏ thường gặp khó khăn hơn trong tiếp cận thông tin so với các DN ngoài nhà nước với quy mô lớn. Các DNTN cũng luôn gặp phải những vấn đề khó khăn trong tiếp cận đất đai và mặt bằng cho sản xuất kinh doanh của mình. Mặc dù thời gian qua, các cơ quan ban, ngành của tỉnh đã có những nỗ lực trong việc cải cách thủ tục hành chính liên quan đến các trình tự, thủ tục quy định liên quan như thành lập DN, tiếp cận điện năng, thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội... nhưng thực tế cho thấy, vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa quy định và thực thi các nội dung này. Sự chồng chéo trong quy định của các điều luật là một trong những hạn chế hiện nay, ví dụ: Luật DN và Luật Đầu tư 2014 đã có nhiều cải cách nhưng vẫn còn khá nhiều rào cản dưới luật gắn với các quy định về điều kiện kinh doanh như các "giấy phép con". Trong số 5.826 điều kiện đầu tư kinh doanh áp dụng đối với 267 ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật Đầu tư, thì có đến 2.833 điều kiện hiện đang được quy định tại các văn bản được ban hành không đúng thẩm quyền, bao gồm các văn bản được ban hành trước và sau khi Luật Đầu tư có hiệu lực thi hành.

Đó là chưa kể đến việc, các doanh nghiệp trong tỉnh đang chịu áp lực cạnh tranh gay gắt từ phía các doanh nghiệp nước ngoài trong bối cảnh hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ. Chỉ đơn cử ra rằng, áp lực cạnh tranh với các chủng loại hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc đã gia tăng nguy cơ làm phá sản hoặc buộc các doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh phải lui về các lĩnh vực sản xuất sử dụng lao động với năng suất thấp, khó cạnh tranh mẫu mã, các hình thức phân phối,... từ các doanh nghiệp Trung Quốc.

Để xóa bỏ các rào cản và thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân trong thời gian tới cần thực hiện các nhóm giải pháp sau:

Thứ nhất, nhóm giải pháp cơ sở lý luận và nhận thức trong hệ thống chính trị.

Trước hết, chính quyền các cấp của tỉnh phải quyết tâm tạo lập môi trường sản xuất kinh doanh thông thoáng, thuận lợi cho khối kinh tế tư nhân phát triển. Phát huy vai trò quản lý nhà nước của các ngành, địa phương đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, kiến tạo thị trường qua việc xây dựng hạ tầng kinh tế, kỹ thuật "cứng" và hạ tầng kinh tế, kỹ thuật "mềm", làm cho thị trường hoạt động tốt hơn, lành mạnh hơn trên cơ sở tuân theo các quy luật khách quan của thị trường. Bên cạnh đó, cần phân định rõ hơn chức năng, vai trò của khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân. Việc xác định "kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế" không hàm ý sự phân biệt đối xử "vai trò chủ đạo" so với "động lực quan trọng", mà với ý nghĩa là tùy thuộc vào chức năng của mỗi khu vực kinh tế để xác định vị trí, chỗ đứng của các chủ thể có liên quan.

Thứ hai, nhóm giải pháp về nền tảng cơ bản cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển.

Một là, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, tái cơ cấu nền kinh tế, dịch chuyển từ phát triển các lĩnh vực như khai thác tài nguyên, bất động sản như hiện nay… sang các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ mà tỉnh Nghệ An có thế mạnh như phát triển du lịch, sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với chế biến hay các ngành hàng trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Cần tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực tư nhân của tỉnh được tham gia vào quá trình cơ cấu nền kinh tế, tham gia rộng rãi vào quá trình cổ phần hóa các DNNN, được hưởng các ưu đãi về lãi suất, vay vốn, về đào tạo, hỗ trợ các thủ tục về thuế, thủ tục hành chính… khi tham gia vào những lĩnh vực sản xuất, kinh doanh mới.

Hai là, hoàn thiện cơ chế phân bổ nguồn lực để huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất là các nguồn lực từ ngân sách nhà nước, công khai minh bạch trong quá trình phân bổ vốn cho các chương trình, dự án đầu tư phát triển, làm tốt công tác đấu thầu, tránh việc lợi dụng các quan hệ thân hữu, lợi ích nhóm để đạt được gói thầu, hay khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay.

Ba là, tạo lập môi trường thực sự bình đẳng đối với các loại hình doanh nghiệp, dỡ bỏ các rào cản cho khu vực kinh tế tư nhân của tỉnh phát triển; đẩy mạnh cổ phần hóa tất cả các DNNN đang thực hiện chức năng "kinh doanh", tạo cơ hội tham gia cho khu vực kinh tế tư nhân. Đồng thời, bảo vệ hữu hiệu quyền sở hữu tư nhân về tài sản để các DNTN yên tâm kinh doanh lâu dài, phát triển một cách lành mạnh, ổn định.

Bốn là, nâng cao chất lượng quản trị của khu vực kinh tế tư nhân; phát triển văn hóa doanh nghiệp lành mạnh, hình thành một đội ngũ doanh nhân có trách nhiệm với xã hội, chấp nhận những chuẩn mực trong sạch, minh bạch, nói "không" với nạn hối lộ, tham nhũng trong sản xuất, kinh doanh. Xây dựng và thực hiện chính sách đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế tư nhân, khuyến khích áp dụng khoa học công nghệ và nuôi dưỡng tinh thần đổi mới sáng tạo.

Năm là, phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất, phân phối các sản phẩm và hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực để nâng cao tính sẵn sàng về công nghệ cho khu vực tư nhân, thúc đẩy khởi nghiệp. Phát triển các hệ thống kết cấu hạ tầng xương sống như mạng thông tin, internet, giao thông kết nối các vùng kinh tế trọng điểm...; xây dựng các trung tâm kiểm định, chất lượng thương hiệu và cấp chứng chỉ sản phẩm cho khu vực kinh tế tư nhân;

Sáu là, xây dựng hệ thống dịch vụ công phục vụ doanh nghiệp, người dân và các tổ chức một cách có hiệu quả; cải cách mô hình cung ứng dịch vụ công theo hướng tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân và cộng đồng. Xây dựng bộ máy hành chính các cấp có trách nhiệm giải trình đối với công chúng, giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của vấn đề lợi ích nhóm đối với chính sách. Áp dụng mạnh mẽ chính quyền điện tử ở mọi lĩnh vực để giảm thiểu và hiện đại hóa thủ tục hành chính, hạn chế tham nhũng, tăng cường tính minh bạch và luôn tiếp nhận được sự phản hồi của người dân.

Thứ ba, nhóm giải pháp đối với từng nhóm đối tượng của khu vực kinh tế tư nhân.

Đối với nhóm DN nhỏ và vừa: Cần thiết lập các cụm liên kết ngành sản xuất mà Nghệ An có thế mạnh, đòi hỏi quy mô đầu tư vốn vừa phải và độ tinh vi công nghệ ở mức trung bình. Chính quyền địa phương sở tại cần định hướng, tập trung nguồn lực hỗ trợ xây dựng cụm liên kết ngành như: Linh kiện điện tử, công nghệ thông tin, chế biến lương thực, thực phẩm, thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ trong những lĩnh vực này. Mở rộng quy mô, hoàn thiện quy chế của các Quỹ Hỗ trợ phát triển DN vừa và nhỏ; mở rộng đối tượng, phạm vi của cơ chế bảo lãnh tín dụng. Chuẩn hoá các tiêu chuẩn kế toán, kiểm toán, các tiêu chí đánh giá và định mức tín nhiệm doanh nghiệp để giảm mức độ rủi ro của các khoản cho vay DN vừa và nhỏ...

Đối với nhóm DN khởi nghiệp: Khuyến khích, động viên, cổ vũ tinh thần khởi nghiệp; thúc đẩy khởi nghiệp trở thành phong trào sâu rộng trong xã hội, coi trọng tính hiệu quả, tránh hình thức coi trọng chất lượng hơn số lượng; Thúc đẩy xây dựng, hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp, giúp các doanh nhân vượt qua rào cản về vốn, rủi ro, nguồn nhân lực... để hiện thực hóa các ý tưởng; Cần giảm thiểu thủ tục hành chính, giảm thuế, tạo điều kiện cho các khu vực làm việc chung, vườn ươm DN và các tổ chức cung ứng dịch vụ tư vấn pháp luật, kế toán, kiểm toán, định giá tài sản, chuyển giao công nghệ, xúc tiến đầu tư... cho DN khởi nghiệp phát triển mạnh.

Đối với khu vực phi chính thức: Cần khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh phi chính thức chuyển đổi thành doanh nghiệp tư nhân một cách tự nguyện, xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của bản thân các cơ sở này. Mặt khác, tiếp tục đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ khu vực này phát triển thông qua giảm gánh nặng về thủ tục hành chính, thanh tra, kiểm tra, chi phí không chính thức, thuế cho các hộ sản xuất kinh doanh; tạo thuận lợi cho các hộ thuê mướn, tuyển dụng, sa thải và chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm thất nghiệp, hỗ trợ thích đáng khu vực phi chính thức trong đào tạo nghề.

Đối với nhóm DN trong nông nghiệp và ở nông thôn: Để tạo đột phá phát triển phải chuyển từ mô hình sản xuất nông nghiệp khép kín, nhỏ lẻ, thiếu liên kết, chủ yếu ở quy mô hộ gia đình sang mô hình sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, dựa vào DN và trang trại, hoạt động theo cơ chế thị trường. Để tạo điều kiện cho tích tụ ruộng đất, cần dỡ bỏ hạn điền, có cơ chế tạo thuận lợi để người nông dân cho thuê đất nông nghiệp một cách lâu dài; Chính quyền địa phương cần hỗ trợ các DN trong việc thuê đất từ các hộ nông dân nhỏ lẻ. Đặc biệt, cần đẩy mạnh sự liên kết, hợp tác chặt chẽ giữa chính quyền địa phương với DN, nhà khoa học và người nông dân để tháo gỡ, hạn chế khó khăn cho người nông dân, DN.

Lê Thị Thu Hương

1. Nguồn tư liệu: Nghệ An là tỉnh có truyền thống hiếu học và khoa bảng hàng đầu cả nước. Do điều kiện địa lý tự nhiên khắc nghiệt, người dân Nghệ An nỗ lực vươn lên quyết tâm thay đổi cuộc đời bằng con đường học tập. Bên cạnh những nỗ lực của bản thân các sĩ tử, không thể không nhắc đến hoạt động khuyến học của từng thôn, xã, hội, giáp. Điều đó được cụ thể hóa bằng những điều lệ trong các văn bản Tục lệ cổ truyền.

Trong kho sách Hán Nôm thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm chỉ tính riêng kho AF(1) tỉnh Nghệ An có 31 cuốn tục lệ chia làm 3 huyện: huyện Đông Thành 1 cuốn AFb1/1; Hưng Nguyên 21 cuốn từ AF b1/2 - b1/22; Nghi Lộc 9 cuốn từ AFb1/23 - b1/31. Ngoài ra còn có 13 bản tục lệ thuộc các kho A, VHv, VNv chép về tục lệ 06 huyện Thanh Chương, Lương Sơn, Nam Đàn, Quỳnh Lưu, Đông Thành và Yên Thành. Đây là nguồn tư liệu chứa đựng nhiều thông tin có ý nghĩa cho việc tìm hiểu các hoạt động ở cấp làng xã trong lịch sử, trong đó có khuyến học.

Tục lệ làng xã xuất hiện khá sớm song việc văn bản hóa thành văn bản để thi hành và lưu truyền thì thường diễn ra muộn hơn, chủ yếu vào thế kỉ 17 - 18, khi làng xã người Việt ở vùng đồng bằng Bắc bộ phát triển cả về kinh tế, văn hóa và tín ngưỡng. Nước có luật lệ thì làng có hương ước, vì vậy tục lệ được lập và tái biên một cách phổ biến, tục lệ các làng xã tỉnh Nghệ An không nằm ngoại lệ. Ngoài một số bản không rõ niên đại, các bản tục lệ còn lại chủ yếu được lập, sao vào triều Nguyễn. Bản khoán ước của thôn Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu được lập vào triều Lê, năm Dương Hòa 4 (1638) là bản hương ước có niên đại lập sớm nhất, tiếp đến là hương ước của xã Hậu Sơn, tổng Quan Trung huyện Đông Thành được soạn vào năm Cảnh Trị 3 (1665) và chép lại năm Duy Tân 5 (1911)... Bản tục lệ xuất hiện muộn nhất là tục lệ xã Đông Ngạn tổng La Vân, huyện Nghi Lộc AFb1/28 lập năm Khải Định 6 (1922). Khá nhiều văn bản tục lệ Nghệ An là bản sao song các điều khoản có niên đại sớm đều được chép lại đầy đủ, như khoán lệ các xã thôn thuộc huyện Đông Thành VHv.2763 lập năm Cảnh Trị 3 (1665) chép lại năm Duy Tân 11 (1911). Có bản tục lệ có nhiều niên đại: niên đại lập, niên đại bổ sung, niên đại sao chép. Hương khoán thôn Quỳnh Đôi là bản có nhiều niên đại nhất, tổng cộng 41 niên đại, kéo dài 218 năm trải qua 11 triều vua, từ năm Dương Hòa 4 (1638) cho đến năm Tự Đức 9 (1856). Các bản tục lệ thường được đóng thành từng tập, số trang nhiều ít khác nhau tùy thuộc vào các điều ước và các đợt bổ sung. Phần lớn các bản đều viết bằng chữ Hán, có một số cuốn viết bằng chữ Nôm như Vân Tụ tổng các xã thôn hương lệ VNv.7/ 1-2, chữ viết chân phương, dễ đọc. Về hình thức biên soạn, cũng giống như hầu hết tục lệ của các địa phương khác, tục lệ Nghệ An có phần mở đầu ghi địa danh, họ tên các vị chức sắc, nêu lý do lập tục lệ rồi đến các điều khoản liên quan đến các hoạt động của địa phương, trong đó có điều khoản về khuyến học.

 2. Khuyến học trong một số văn bản tục lệ Nghệ An 

 Theo khảo sát bước đầu của chúng tôi, 270/340 văn bản tục lệ các thôn xã, hội, giáp của Nghệ An có các điều khoản liên quan đến khuyến học, chiếm khoảng 79,5%. Bản ít nhất có 1 điều, bản nhiều có đến 37 điều như tục lệ thôn Thượng Khê xã Hương Cái tổng Hải Đô (AFb1/7), tục lệ thôn Đà Khoa tổng Hải Đô phủ Hưng Nguyên (AFb1/7) có 36 điều ước khuyến học. Nội dung khuyến học khá phong phú thể hiện ở hai mặt khuyến học về vật chất và khuyến học về tinh thần:

2.1 Khuyến học về vật chất

2.1.1 Miễn sưu sai tạp dịch: Sưu sai tạp dịch cụ thể là những việc như đắp đê, làm đường, tu sửa cầu cống, đi lính… những việc liên quan mật thiết tới đời sống hàng ngày của người dân nói chung, sĩ tử nói riêng. Để tạo điều kiện cho người đi học chuyên tâm vào học tập các thôn xã đã lập ra các điều khoản miễn trừ sưu sai tạp dịch. Cụ thể xã Văn Viên phủ Hưng Nguyên(2) đã quy định: " 一款社內士人學問勤專性行純雅遞年考課覈期預得中項搜役並除. 若當從學而應考落第者,本社亦咱暫除一年雜役其如搜稅不得約除這係有心獎勸以振文風" (Nhất khoản trong xã học trò chăm chỉ học hành, tính tình thuần nhã, hàng năm các kỳ khảo xét được trúng hạng sưu dịch đều được miễn trừ. Nếu đang theo học mà thi trượt, bản xã cũng tạm trừ 1 năm tạp dịch, còn sưu thuế không được miễn trừ. Điều này có ý khuyến khích, làm chấn phát văn phong). Thôn Thượng An huyện Quỳnh Lưu có những quy định cụ thể về việc miễn trừ đối với từng đối tượng: "一係遞年正月初肆日本村課習士人饒除搜役其中優項平項定準一年中次項者定除半年以表寔學其逃課者有咎。若某名年外四旬確係寔學應許免考其如伊期各項需費準錢拾貫本村公受茲例"(3) (Ngày mồng 4 tháng Giêng hàng năm bản thôn có khảo hạch, sĩ tử được miễn trừ sưu dịch, trong số đó ai trúng hạng ưu, hạng bình định chuẩn 1 năm, ai trúng hạng thứ định trừ nửa năm để biểu thị thực học, người nào trốn khảo hạch sẽ bị trách cứ. Nếu người nào tuổi ngoài 40 xác thực là thực học cho phép miễn xem xét, các hạng như phí chuẩn tiền 10 quan bản thôn chịu. Nay đặt lệ). Đề cao đạo Nho, hương đảng luôn hậu đãi đối với thí, khóa sinh hay cả những người chưa thể dự thi cũng được miễn dịch:     "士子免役事原生民不可一日無儒者鄉黨於士子可不以厚意待之仍此會叶甲定條約之後試生課生均免搜差各欵粮庸錢各減半其長夫各欵[3a]"(4) (Sĩ tử được miễn các việc tạp dịch. Vốn dân sinh không thể một ngày không có đạo Nho, hương đảng đối với sĩ tử có thể không lấy hậu ý mà đối đãi, vì thế hội họp giáp lại định điều ước. Về sau thí sinh, khóa sinh đều được miễn sưu sai các khoản, tiền thuế lương dung đều được giảm một nửa, trường phu các khoản cũng được miễn, học trò chưa thể thi cử sưu dịch cũng được miễn, duy thuế lương dung không được giảm).

2.1.2 Cấp, thưởng giấy, bút: Giấy, bút là những vật dụng không thể thiếu đối với người đi học, song việc có được đầy đủ giấy bút đối với người đi học thời xưa là vô cùng khó khăn. Nhằm tạo điều kiện cho người đi học, đi thi ngoài miễn sưu sai tạp dịch, các thôn xã còn tạo điều kiện về giấy bút cho họ: "遇有鄉會試期鄉試炤村內現應試秀才每員賀筆五管墨二試生每人賀筆三管墨一釘再卞芙酒一貫請本村上下與現應試秀才試生齊就鄉亭同賀"(5) (Gặp kỳ thi Hương thi Hội, thi Hương chiếu trong thôn hiện (có ai) dự thi Tú tài, mỗi người mừng 5 chiếc bút 2 thỏi mực, thí sinh mỗi người mừng 3 chiếc bút 1 thỏi mực, lại biện trầu rượu (giá trị tiền) 1 quan mời bản thôn trên dưới cùng với Tú tài, thí sinh hiện ứng thí đến đình làng cùng dự lễ chúc mừng). Ngay cả những người trúng kì tuyển sinh, khóa sinh thôn Cự xã Mỹ Dụ tổng Yên Đô cũng cấp thưởng giấy bút: 一村內某士中選生本村賞筆一株紙一百某中課生本村賞筆五株紙三百示勸。除已中選課生外某有实學果情本村亦酌免徭役以專術業玆交(6) (Trong thôn học trò nào trúng tuyển sinh bản thôn thưởng bút một cây, giấy 100 tờ, trúng khóa sinh bản thôn thưởng bút 5 cây, giấy 300 tờ để khuyến khích. Ngoài người trúng tuyển khóa sinh những người thực học quả tình bản thôn cũng miễn giao dịch để chuyên tâm vào việc học, nay đặt lệ. Để có được tiền mua bút giấy phụ cấp cho sĩ tử các thôn xã đã rất linh hoạt trong việc trích sử dụng tiền thuế hoặc tiền bán thóc lúa. Thôn Sơn Lãng tổng Hải Đô phát bán thóc lúa hoặc trích tiền thuế mỗi mẫu nửa thước để trợ giúp các khoản chiếu, trướng, bút, giấy cho sĩ tử(7). Động viên khuyến khích người thực học, thi cử đạt kết quả tốt các thôn xã định ra mức thưởng giấy bút có khác nhau đối với những người đỗ đạt ở các cấp khác nhau: "一係社內士子某人試中一場本村賞筆三管墨一株白紙五十百張。某人經中二場本村賞筆五管墨五株白紙一百張。中課生賞筆墨各一管。茲例"(8) (Trong xã sĩ tử người nào thi trúng nhất trường bản thôn thưởng 3 quản bút, 1 lọ mực, 50 tờ giấy trắng. Người nào thi trúng nhị trúng bản thôn thưởng 5 quản bút, 5 lọ mực, 100 tờ giấy trắng. Trúng khóa sinh thưởng bút mực mỗi thứ 1 chiếc).

2.1.3 Mừng thưởng, đặt học điền đối với người đi thi, người đỗ đạt các cấp: Đỗ đạt khoa trường không chỉ là vinh dự của bản thân mỗi người mà còn là vinh dự lớn của cả thôn, xã, vì vậy địa phương thường tổ chức lễ mừng thưởng cho người đỗ đạt rất trọng thể, đỗ càng cao mừng thưởng càng nhiều: "一某員中舉人者本甲聞捷即往迎接以重科目整卞繡對一聯檳榔一房酒四圩錢六貫滿地紅炮三封全甲上下來賀. 一某員中大科者本甲聞捷自三盤以上並着長袖衣下盤隨行前往迎接敬卞金線大花繡帳一幅榔 二房酒十圩錢十貫滿地滿地紅炮四上等名茶二包全甲並就拜賀 一甲內文官武官新蒙敕命者本甲卞錢六貫並對聯芙酒一盤全來致賀"(9) (Trong giáp người nào trúng Cử nhân bản giáp nghe tin vui liền đi đón tiếp để biểu thị coi trọng khoa mục, biện lễ 1 đôi câu đối, 1 buồng cau, 4 hũ rượu, 6 quan tiền, 3 bánh pháo, toàn giáp trên dưới đến chúc mừng. Người nào trúng Đại khoa bản giáp từ biện lễ 1 bức trướng hoa, 2 buồng cau, 10 hũ rượu, 10 quan tiền, 4 bánh pháo, 2 gói chè toàn thôn tề tựu chúc mừng. Trong giáp văn quan võ chức mới được nhận sắc mệnh bản giáp biện 6 quan tiền, câu đối, trầu rượu đến chúc mừng). Các giáp trong thôn cũng tổ chức lễ mừng rất trọng thể: "一甲內某員中秀才者賀紅布對一聯錢三貫芙榔一房酒二圩全甲致賀" (Trong giáp người nào trúng Tú tài mừng 1 đôi câu đối đỏ, 3 quan tiền, trầu cau 1 buồng, 2 hũ rượu toàn giáp đến chúc mừng). Người dân Nghệ An cũng như nhiều tỉnh khác trong cả nước lấy sản xuất nông nghiệp là nghề trọng yếu, ruộng vườn là tài sản quý gắn liền với sản xuất nông nghiệp, nên rất được coi trọng. Để khuyến khích học tập, Nghệ An đã dùng ruộng để thưởng cho những người đi học đi thi, ruộng đó thường được trích ra từ ruộng công, gọi là học điền. Thôn Yên Cư tổng Phù Long đã định lệ: 一 條 本 村 有 例  定 係 何 人 從 學 有 應 試 一 二 場 鄉 村 亦 给 學 田 五 高 .  一 條 議 定 如 試 士 中 秀 才 本 村 有 给 學 田 一 畝 .一 條 試  中 舉 人 亦 给 學 田 一 畝 五 高 .一 條 会 試 中 甲 乙 榜 並 给 學田二 畝 五 高(10) (Bản thôn có lệ định người nào theo học có ứng thí nhất, nhị trường hương thôn cấp học điền 5 sào. Nhất điều bàn định nếu như trúng tú tài bản thôn cấp học điền 1 mẫu. Nhất điều thi trúng Cử nhân cũng cấp học điền 1 mẫu 5 sào. Nhất điều thi Hội trúng Giáp Ất bảng cũng cấp học điền 2 mẫu 5 sào). Số học điền đó người đó được canh tác đến hết đời: "一券例村內何人試中舉人者民村定俵伊員科田五高其這田伊員耕徵滿代若後其子或孫亦許耕徵滿喪這田還民"(11) (Trong thôn người nào trúng Cử nhân dân thôn biếu người đó 5 sào khoa điền, ruộng ấy người đó được canh tác đến hết đời, nếu sau con hoặc cháu muốn canh tác cho phép đến khi mãn tang rồi trả lại cho dân).

2.1.4 Mời thầy dạy, chế độ đãi ngộ và những quy định với thầy: Trong khi chính quyền và nhà nước chưa có hệ thống trường lớp và tổ chức học tập ở địa phương thì từng làng xã tự lo liệu việc dựng trường lớp, mời thầy về dạy và có biện pháp tích cực nhằm khuyến khích việc học. Việc mời thầy dạy được các làng xã rất quan tâm chú ý, xem đây là vấn đề quan trọng, tuy mỗi nơi có cách lựa chọn khác nhau, nhưng điểm chung là tìm người giỏi, tận tâm với công việc, có kinh nghiệm giảng tập, các thầy thường là người trong xã hoặc khác xã, người trong huyện, là quan về hưu hoặc Tú tài, Cử nhân hoặc người đỗ nhất nhị trường, có khi là viên chức bản thôn có học hành, đều phải qua kiểm tra học thức, việc chọn thầy do quan viên, lý dịch, kì mục chọn mời. Có thôn xã mời đến một hoặc nhiều thầy giáo, một người dạy đại tập, ngày rằm hàng tháng tập trung tại đình để khảo xét, hai thầy giáo chuyên dạy trẻ nhỏ mới học, mỗi tháng 2 kỳ khảo sát hoặc câu đối hoặc thi phú tùy ý kiến mệnh đề của thầy:"一義學泪其社內要擇社內或縣內休官或進士舉人。係是宿學德望者請請為社內義學師. 其全年學俸摘給公田叁畝併摘取義倉一百貫以供歲俸. 其社內子弟榷詣學集、若何人力不能卞筆紙全民給許筆紙每月一貫。 社內已擇保檢察二員至月氐親來學場檢察。何係學習專勤文章日進定賞铅錢一貫。何係遊蕩者定罰三十笞。若不悛而再犯者即逐以嚴學例。茲例"(12) (Việc chọn thầy dạy nên chọn người trong xã hoặc trong huyện là quan về hưu hoặc Tiến sĩ, Cử nhân. Học bổng cả năm trích cấp 3 mẫu ruộng công và trích lấy 100 quan ở kho thóc dự trữ để trả lương. Con em trong xã đều đến học tập, nếu người nào không lo được bút giấy toàn dân cấp cho, tiền giấy bút mỗi tháng là 1 quan. Xã chọn bầu 2 người kiểm sát đến cuối tháng thân chinh đến trường kiểm tra xem ai học tập chuyên cần, văn chương tiến bộ thưởng 1 quan tiền xanh, người nào ăn chơi phạt 30 roi, nếu không thay đổi và tái phạm thì đuổi khỏi trường để làm nghiêm việc học). Tôn sư trọng đạo là một trong những truyền thống tốt đẹp của người dân Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng. Sau khi mời được thầy dạy làng xã rất chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của thầy: "一例全民置學田三畝為熟師歲俸其熟師或社內人或別社人必由官員里役耆目全民選請或舉人秀才或一二場必須學識行檢可為人之師範其學場以本社文祠為所社內何人有子孫就學者只有辰節之礼多少隨心再全民擇委丁男一名抬水以供熟師或熟師不期有所役使亦置田二高許伊耕作取其花利。兹例(13) (Toàn dân đặt 3 mẫu học điền để trả lương cho thầy dạy học. Thầy dạy có thể là người trong xã hoặc xã khác tất do quan viên, lý dịch, kỳ mục toàn dân chọn mời. Hoặc Cử nhân, Tú tài hoặc người đỗ nhất nhị trường cần phải kiểm tra học thức. Trường học lấy văn từ bản xã. Người nào có con em theo học tùy tâm có chút lễ. Toàn dân chọn giao cho 1 đinh nam gánh nước để cung cấp cho thầy giáo. Hoặc giao cho thầy canh tác để lấy hoa lợi).

Ngoài ra để việc dạy và học có hiệu quả, các làng xã cũng đưa ra những quy định đối với thầy, như thôn Quỳnh Đôi xã Quỳnh Lưu: " 本村素称文雅近來諸教學有藉道滋事、多招尤谤、這弊所当懲創。嗣後或朽陋風弊發覺即從公議擯诉"(14) (Bản thôn vốn gọi là làng văn chương phong nhã, gần đây các người dạy học có người mượn cớ đạo để gây việc, gây ra nhiều oán báng, tệ ấy phải nên đe răn. Từ nay về sau nếu người nào quen thói hủ lậu, bị phát giác thì lập tức theo lời bàn công bằng mà bài trừ). Hay: "一係我村多出文人專行教授成業師、各宜以道自重、言行舉止不可苟然。若妄自尊大要求多事一不如意、坐凌家主、起閉牛欄及有私情何事、声說沸勝頗虧吾道、預会藉者削出其名不預会藉者杖三十下并移詞他方一切驱去"(15) (Thôn ta sinh ra nhiều bậc văn chương chuyên làm việc dạy bảo, một khi đã làm bậc thầy thì đều nên lấy đạo làm trọng, mỗi cử chỉ về lời nói việc làm không nên cẩu thả, nếu càn rỡ tự cho mình là bậc tôn quý đòi hỏi quá nhiều, một khi không vừa ý thì lăng nhục chủ nhà, đóng cửa chuồng trâu, và có ý riêng thế nào, tai tiếng đồn vang, làm thương tổn đạo nho, người có tên trong sổ hội thì tước bỏ tên ra, người không dự tên trong sổ hội thì đánh 30 gậy và đưa giấy sang nơi khác phải nhất thiết đuổi đi).

2.1.6 Lệ biếu của thôn, xã: Tinh thần khuyến học còn được thể hiện ở việc trân trọng đối với những người đỗ đạt. "Một miếng giữa làng" trong các dịp tế lễ, hội hè của thôn xã, phần biếu bao giờ cũng được coi trọng đối với người khoa bảng, đỗ đạt. Thủ con vật tế (thường là thủ lợn) được biếu những người đỗ đại khoa, phần thịt cổ biếu Cử nhân, Tú tài: "一 本甲例定凡有祭禮用猪 者 其猪首 舉 俵 科 場 員 未 有 科 場 舉 俵 試 差 (15a) 一 未 有 試 差 者 舉 俵 一 二 場 或 員 織 耆 老 一 有 舉 人 者 其 頸 上 俵 舉 人 下 頸 俵 秀 才 並 科 場 敕 命 諸 員 人 一 未 有舉 人者 上 頸 俵 敕 命 諸 員 下 頸 俵 試 差 一 二 三 場 休 舊 諸 人 .一 未 有 敕 命 者 其 上 頸 俵 七 十 以 上 下 頸 俵 試 課 生 及 預 有 鄉 職 諸 人"(16) (Bản giáp lệ định phàm có tế lễ dùng lợn, thủ lợn cử biếu người khoa trường, chưa có khoa trường cử biếu thí sai. [15a] nếu chưa có thí sai cử biếu người nhất nhị trường hoặc viên chức, kỳ lão. Có Cử nhân biếu phần trên cổ, phần dưới biếu Tú tài cùng những người khoa trường, sắc mệnh. Nếu chưa có Cử nhân phần trên thịt cổ biếu người có sắc mệnh, phần dưới biếu Thí sai nhất nhị tam trường cùng những người nghỉ hưu. Chưa có người sắc mệnh phần thịt cổ trên biếu người 70 tuổi trở lên, phần dưới cổ biếu thí, khóa sinh cùng những người có chức sắc trong làng). Thông thường, ngạch văn ngạch võ đều được coi trọng như nhau, các vị văn khoa trường, võ sắc mệnh đều biếu phần như nhau: "一俗例民村如有文科場武敕命登畢之後置俵猪一頭神惠一         一具倘未有科場敕命如有正副總者置俵猪頭半頭神惠半          半具存猪頭半件神惠半               半盘並分為三分一分俵上中老一分俵豪里一分俵行禮干人"(17) (Lệ dân thôn nếu có văn khoa trường võ sắc mệnh sau khi tế xong biếu 1 chiếc thủ, một đĩa thịt thần huệ, 1 cỗ xôi, còn nếu chưa có khoa trường sắc mệnh mà có chánh phó tổng, biếu một nửa thủ lợn, một nửa đĩa thịt thần huệ, một nửa cỗ còn một nửa thủ, nửa đĩa thịt thần huệ nửa cỗ xôi chia làm 3 phần, 1 phần biếu các cụ thượng, trung lão, 1 phần biếu lý hào, 1 phần biếu người hành lễ). Lệ biếu đó không chỉ đối với người đỗ đại khoa, trung khoa mà ngay cả thí sinh, sĩ tử trúng nhất trường, nhị trường cũng được biếu: 一款俵試生神惠並𥸷壹磁、某中壹貳場應加俵神惠各壹磁。茲約(18) (nhất khoản biếu thí sinh lộc thần cùng xôi 1 đĩa, ai trúng nhất nhị trường biếu thêm lộc thần cùng 1 đĩa. Nay đặt lệ).

2.2. Khuyến học về tinh thần

2.2.1. Lễ cầu khoa và tạ khoa: Bên cạnh thực lực học tập, nhiều thôn xã định ra lễ cầu khoa, lễ này có ý nghĩa tâm linh sâu sắc, tạo ra yếu tố tâm lý ổn định giúp sĩ tử tự tin làm bài thi xuất sắc. Chúng tôi đã thống kê được 25 văn bản tục lệ của các thôn xã có điều lệ ghi chép về lễ cầu khoa và tạ khoa. Vì không phải năm nào cũng có khoa thi và năm nào Nghệ An cũng có người ứng thí. Chỉ vào những năm thôn, xã đó có người dự thi địa phương mới tổ chức lễ cầu khoa: 一士人某有應試者本村定辨芙酒金銀禮敬錢陸貫行祈科(19) (Học trò ai ứng thí bản thôn biện lễ trầu rượu, tiền vàng, tiền 6 quan làm lễ cầu khoa). Thời gian tổ chức lễ này thường được diễn ra trước kỳ thi, khi các sĩ tử nhập trường ứng thí. Thôn Thọ Vinh xã Thọ Mai tổng Hoàng Mai quy định như sau: 一欵科目坦途國家盛典凡鄉试會試届期士子入場應试民村先辨芙酒行祈禮以重風化,兹約(20) (Nhất khoản: khoa mục thênh thang, quốc gia hưng thịnh phàm đến kỳ thi Hương thi Hội, sĩ tử nhập trường ứng thí, dân thôn biện gà xôi trầu rượu làm lễ cầu khoa để coi trọng phong hóa. Nay đặt lệ). Thôn Khoa Đà tổng Hải Đô phủ Hưng Nguyên quy định như sau: " 一例定村內何年科場士子中核得入應試本村卞禮祈科"( 乂安省興元府海都總科陀村俗例"(21) (Lệ định trong thôn năm nào khoa trường, sĩ tử trúng sát hạch được vào dự thi bản thôn biện lễ cầu khoa)  hay: 一約民村遇有科期有人應試者交俊長卞禮祈科(22) (Điều ước dân thôn gặp khoa kỳ có người ứng thí giao cho Tuấn trưởng biện lễ cầu khoa). Là nơi thờ Khổng Tử và các vị tiên hiền, những người khai mở việc học, những người đại biểu ưu tú của văn học(23). Vì vậy nơi đây thường được dùng làm nơi thực hiện lễ cầu khoa. Thôn Viên Sơn xã Quan Trung tổng Quan Trung, huyện Đông Thành "一文廟貳座在同求處春秋崇祀祈科是斯文事體"(24) (Văn miếu 2 tòa tại xứ Đồng Cầu, xuân thu kính lễ cầu khoa là đạo lý của hội Tư văn). Xã Kim Ổ tổng Thượng Xá huyện Nghi Lộc cũng thực hiện lễ cầu khoa ở tại văn chỉ bản xã "一祈科禮係至何年試期本村修辨芙酒就文址壇祈禱以篤文風"(25) (Lễ cầu khoa hễ năm nào có kỳ thi bản thôn biện lễ trầu rượu đến văn chỉ cầu đảo để đốc thúc văn phong).  Hội Tư văn của thôn Quỳnh Đôi cũng tập trung ở văn chỉ của thôn thực hiện lễ cầu khoa trước kỳ thi Hương, thi Hội: 绍治四年正月初六日共議前鄉会祈科已有舊券、兹再凡鄉会祈科本会應就祠宇,敬設祈科拜謁一壇、礼錢十貫上下永為例(26) (Ngày mồng 6 tháng Giêng năm Thiệu Trị 4 (1844) cùng nhau bàn bạc: trước kỳ thi hương, thi hội có lễ cầu khoa, (điều đó) đã có trong lệ cũ, nay lại bàn thêm phàm lễ cầu khoa của thi Hương, thi Hội bản hội tập trung ở văn chỉ). Sau khi xong việc các thôn lại làm lễ tạ khoa để tạ ơn các vị thần, phật, tiên Nho:"一遞年科場本村預辨祈科禮事清再行謝禮準定二觜𥸷二具芙酒用足"(27) (Khoa trường hàng năm bản thôn biện lễ cầu khoa, xong việc lại làm lễ tạ khoa, sửa soạn gà 2 con, xôi 2 cỗ, trầu rượu đủ dùng). Lễ tạ khoa thường chọn các vị sắc mục, kỳ lão đến làm lễ: "一係鄉科某有登第者本村再炤補錢文依如祈科禮並舉色目諸員人整備衣冠謝科禮"(28) (Thi Hương ai đỗ đạt bản thôn chiếu bổ tiền văn y như lễ cầu khoa và cử các viên sắc mục khăn áo chỉnh tề đến làm lễ tạ khoa).

2.2.2 Vinh quy bái tổ: Sau khi trúng thí các tân khoa được nhà vua ban yến tiệc, mũ áo, cân đai và cho lính hầu đưa rước về nơi sinh quán. Dân chúng trong tỉnh huyện, làng xã hãnh diện đón rước vị tân khoa với cờ, lọng, chiêng, trống rầm rộ. Khi về tới làng, vị tân khoa sẽ đến nhà thờ tổ của dòng họ và đình làng bái tạ tổ tiên, rồi về bái tạ thầy dạy và cha mẹ. Vinh quy bái tổ không chỉ là vinh dự cho vị tân khoa, cho cha mẹ họ hàng, làng xóm mà còn là hoạt động khuyến học. Ngày vinh quy Lý trưởng các thôn thường sai người thông báo đến toàn dân, có khi là đánh trống để báo đến dân, việc đánh trống cũng được quy định riêng như người đỗ Cử nhân đánh 6 hồi trống báo, đỗ Tú tài đánh 3 hồi trống báo, người đỗ thi Hội đánh 9 hồi trống báo. Ngày xướng tên viên chức trên dưới tập trung tại đình, tất cả phải khăn áo chỉnh tề để thể hiện sự trọng thể. Người đỗ càng cao sự đón tiếp càng trọng thể, sự trọng thể đó thể hiện ở đồ tế khí ở đình làng, quãng đường người dân đi đón và phần thưởng giành cho họ "文中秀才本村齊整衣巾儀杖並輞          到安舍迎接。副榜舉人監生到本總文祠迎接。大科到本縣文祠迎接 (大科賀錢陸貫、副榜五貫花樣紅絹、帳各壹幅、舉人肆貫、監生三貫紅絹對各壹雙。 係聞捷报應擇聀色壹員、輞壹部,       壹柄 先於省迎接候、秀才賀錢二貫、向上芙酒各五陌。 武舉依秀才例、率隊依舉人例、管奇依副榜例、管衛以上依大科例其迎接於本總中祠為度"(29) (Văn trúng tú tài bản thôn khăn áo, nghi trượng, võng cái chỉnh tề đến Yên Xá đón tiếp. Phó bảng, Cử nhân, Giám sinh đến văn từ bản tổng đón tiếp. Đỗ Đại khoa đến văn từ bản huyện đón tiếp (Đại khoa mừng tiền 6 quan, Phó bảng mừng 5 quan, hoa dạng lụa đỏ, trướng đều một bức; Cử nhân 4 quan, Giám sinh 3 quan, câu đối vải lụa đỏ mỗi người một đôi. Hễ nghe tin vui liền chọn chức sắc 1 người, võng 1 bộ, dù một chiếc, trước đến bản tỉnh đón tiếp. Tú tài mừng tiền 2 quan. (Việc đón tiếp) kể trên đều có 5 mạch tiền trầu rượu. Võ cử lệ như Tú tài, Suất đội lệ giống Cử nhân, Quản kỳ giống lệ Phó bảng, Quản vệ trở lên lệ giống Đại khoa, đón tiếp trong đền bản tổng). Thôn Trường Lãng tổng Hải Đô còn dựng trạm ở đình để chúc mừng. Xã Ước Lễ tổng Thông Lãng tổ chức lễ vinh quy rất trọng thể: "一券例村民何人應而中委秀才者其迎回之日民村亦委丁男放二十人抬將鉦鼓就處奉迎。伊員回家其伊員亦敬卞具請民村宴飲一席。本村敬卞红布對一聯、榔一房、古錢一二陌來賀. 一券例村有民何人試中舉人者其本村係接飭 回村長即委鐸人通呼村內週知。訂日割使丁男抬將鉦鼓旗盖就在伊處敬迎伊員返回(。。。)本村敬卞紅帳一幅來賀。一券例村有民何人試中大科者官員豪役接飭即委鐸人通呼村內見。前二日民村官員豪役會齊照併賀礼并割使丁男齊整衣巾備將禮物就省座奉迎伊員回家"(30) (Nhất khoán lệ dân thôn người nào ứng thí mà trúng Tú tài ngày vinh quy dân thôn chọn đinh nam khoảng 20 người đem chiêng trống đến đón tiếp. Người ấy về nhà cũng kính biện cỗ mời dân thôn ăn uống. Bản thôn biện lễ 1 đôi câu đối bằng vải thô màu đỏ, 1 buồng cau, 1- 2 mạch tiền cổ đến chúc mừng. Nhất khoán lệ trong thôn người nào thi trúng Cử nhân bản thôn tiếp đón về thôn trưởng liền sai người gõ mõ thông báo trong thôn biết, đến ngày cắt cử đinh nam mang chiêng, trống, cờ đến nơi thi đón về. (…) Bản thôn kính biện 1 bức trướng đến chúc mừng. Nhất khoán trong thôn người nào thi trúng Đại khoa, quan viên hào dịch đón tiếp, gõ mõ thông báo trong thôn biết. Trước 2 ngày, dân thôn quan viên hòa dịch trong thôn tập trung đến chúc mừng, cắt cử đinh nam khăn áo chỉnh tề, đem lễ vật đến tỉnh đón về nhà. 

2.2.3 Ngôi thứ ở đình làng: Đình làng là nơi tập trung uy quyền lớn nhất của làng, là nơi thực thi các nghi thức cúng rước thần, tổ chức lễ hội, hát xướng, khao vọng, hội họp chức sắc vì vậy thứ bậc ở đình trung hết sức quan trọng, được xem như tiểu triều đình. Thông thường gian giữa đình là chỗ ngồi của chủ tế và các trợ tế, bên phải là của các vị khoa trường đỗ đạt, bên trái là chỗ của các cụ thượng thọ, các chức dịch hàng xã... tuy vậy mỗi thôn xã lại có sự điều chỉnh khác nhau. Nhiều thôn xã trọng đạo Nho hơn trọng tuổi tác đã giành những vị trí cao nhất nơi đình trung cho những người đỗ đạt khoa trường: "一例亭中坐次左行之第壹席敬待文科場第貳席以下則試生課生散階舊聀以次分坐以齒為席右行之第壹席敬待武詔色第二武席以下則隊長書吏柁工伍長新舊兵丁應饒村以次分坐以上齒為序至扵鄉老六七十以上"(31) (Nhất lệ thứ tự ngồi nơi đình trung chiếu thứ nhất bên trái kính đãi văn khoa trường, chiếu thứ 2 trở xuống đãi thì thí sinh, khóa sinh, ngoài ra cựu chức phân ngồi theo tuổi tác, chiếu thứ nhất bên phải kính đãi quan võ nhận sắc, chiếu thứ 2 trở xuống thì đãi Đội trưởng, thư lại, ngũ trưởng, tân cựu binh đinh, ứng nhiêu, thứ tự ngồi tiếp theo phân theo tuổi tác từ các cụ 60, 70 tuổi trở lên). Thôn Chính Vĩ, tổng Đặng Xá(32) quy định chỗ ngồi ở đình người đậu Tiến sĩ, thưởng sắc mệnh, tam phẩm ngồi ở trên cùng với cụ thọ 100 tuổi; người đậu Phó bảng, sắc mệnh, tứ, ngũ phẩm ngồi cùng cụ 90 tuổi; Cử nhân, sắc mệnh, lục, thất phẩm ngồi cùng các cụ tuổi 80... Thứ tự chỗ ngồi ở đình cũng có sự phân biệt giữa ngạch văn và ngạch võ: "chiếu theo quan chế văn trước, võ sau. Văn nhị phẩm cùng võ nhất phẩm. Lệ cho người bát cửu phẩm cũng giống như lệ Cử nhân. Suất đội rồi đến Tú tài, đến kỳ lão 80 tuổi, đến  Giám sinh, ấm sinh, Đội trưởng… đó là quy định được xã Lộc Châu tổng Đặng Xá(33) đề ra. Tế lễ là việc không thể thiếu nơi thôn xã. Việc bầu người chủ tế rất được chú trọng, thông thường các nơi đều chọn người khoa cử làm chủ tế. Nếu thôn, xã đó có người đỗ đại khoa thì bầu người đại khoa làm chủ tế, nếu chưa có người đậu đại khoa thì chọn người đậu Hương khoa, nếu chưa có người đậu thi Hương thì cử người có văn bằng: "一本村例定有大科者舉大科為正拜員, 一未有大科者鄉科或敕命諸員炤隨高下品秩舉為正拜, 一未有鄉科者舉文憑或耆老諸員"(34) (Bản thôn lệ định có người đậu Đại khoa cử người đó làm chính bái, chưa có người đậu Đại khoa người đậu Hương khoa hoặc người nhận sắc mệnh chiếu theo phẩm trật cao thấp xuống làm chính bái, chưa có người đỗ Hương khoa cử người có văn bằng hoặc các vị kỳ lão cũng chiếu theo thứ tự).

 2.2.4 Lệ phúng viếng đối với những người khoa trường đỗ đạt: Không chỉ trân trọng đối với những người khoa trường khi họ còn sống, ngay cả với những người không may qua đời các thôn, xã đều có quy định cụ thể về lễ phúng viếng đầy tính nhân văn. Xã Thanh Quả tổng Vũ Liệt có điều lệ: 一科目敕命樂僊者本社割擇一盘旗捌株鼓各一送塟吊對一聯並芙酒喪畢本社奉迎從祀( 科目從祀文址敕命從祀亭所)(35) (Các vị khoa mục, sắc mệnh quy tiên bản xã cắt chọn 1 bàn, cờ 8 chiếc, trống 1 chiếc, khi đưa tang phúng 1 đôi câu đối, trầu rượu. Xong việc bản xã phụng thờ theo lễ (người có khoa mục thờ ở văn chỉ, người có sắc mệnh thờ ở đình). Lễ phúng điếu thường phân theo thứ tự đỗ đạt từ đỗ, càng đỗ đạt cao lễ phúng viếng càng trọng, lễ phúng thường gồm tiền phúng, trầu rượu, câu đối: " 餞送例: 一会試員餞禮各用錢陸貫并芙酒各壹盘民夫護送隨妥辨、秀才入場餞礼三貫并芙酒一盘民夫護送一名、士人入場餞錢貳貫并芙酒護送一"(36) (Lệ đưa tiễn người thi Hội lễ tiễn đều dùng tiền 6 quan cùng trầu rượu mỗi thứ 1 bàn, dân phu hộ tống tùy nghi thỏa biện, Tú tài nhập trường lễ tiễn 3 quan cùng trầu rượu 1 bàn, dân phu hộ tống 1 người, học trò nhập trường tiền tiễn 2 quan cùng trầu rượu, 1 người hộ tống). 

3. Nhận xét

Trên đây là vài nét về hoạt động khuyến học của tỉnh Nghệ An trong quá khứ được phản ánh qua tư liệu tục lệ hiện lưu giữ tại kho sách Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Hoạt động khuyến học nơi đây được hình thành khá sớm từ năm Dương Hòa 4 (1638) và kéo dài cho đến năm Khải Định 6 (1922). Với 270/340 văn bản tục lệ của các thôn xã có điều lệ khuyến học cho thấy khuyến học nơi đây được đặc biệt quan tâm. Thông qua các điều khoản trong các văn bản tục lệ góp phần hình thành, lưu giữ và nhân rộng truyền thống hiếu học của người dân. Khuyến học trong các văn bản tục lệ Nghệ An mang tính thực tế, không hình thức, giàu tính nhân văn được thể hiện trên hai phương diện: khuyến học về vật chất và khuyến học về tinh thần. Các điều lệ về khuyến học đã động viên khích lệ người dân dồn tâm, dồn sức nhiều hơn vào việc học, vươn lên giành những vị trí cao nhất trong các kỳ thi, như ba cha con Hồ Tông Thốc, Hồ Tông Đốn, Hồ Tông Thành đều đậu Trạng nguyên đời Trần, hai cha con Ngô Trí Tri và Ngô Trí Hòa cùng đỗ Tiến sĩ một khoa… Truyền thống hiếu học của nhân dân Nghệ An còn được tiếp tục và phát huy cho đến ngày nay, nhiều người con xứ Nghệ say mê học tập, tu dưỡng để trở thành những giáo sư, tiến sĩ, các nhà khoa học nổi tiếng trong nước và thế giới như: Cao Xuân Huy, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Tạ Quang Bửu. Tìm hiểu khuyến học ở Nghệ An chúng ta rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu vận dụng vào công tác khuyến học, khuyến tài trong giai đoạn hiện nay.

 

 

 Chú thích

(1). Kho sách tục lệ của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, xem thêm Nguyễn Thị Phượng (1989), Giới thiệu kho sách Tục lệ thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Tạp chí Hán Nôm, số 2, tr. 

(2). 乂安省興元府文園社俗例, AFb1/21, tr.9b

(3). 上安村鄉例, VHv.2675/1, tr.12a

(4). 中立村俗例, VHv.2675/2, tr.2b.

(5). 乂安省興元府安場總安勇社上村俗例, AFb1/2, tr.9b.

(6). 乂安省興元府總美裕社巨村俗例, AFb1/4, tr.16b.

(7). 乂 安 省  興 元 府  海 都 總  魯 田 村AFb1/8.

(8). 乂安省興元府都安總安福社俗例, AFb1/3, tr.6a.

(9). 乂安省興元府都安總美裕社上村 寧甲俗例, AFb1/4,tr.34b-35a.

(10). 乂安省興元府扶龍總安居 村俗例, AFb1/16,tr.12a.

(11). 乂安省興元府通朗總約礼社 俗例, AFb1/17, tr.40a.

(12). 乂 安 省  興 元 府  通 朗 總  由 禮 社  玉 田 村, AFb1/17, tr.43a.

(13). 裴        社裴洲村俗例, AFb1/12,tr38b.

(14). 琼堆今事跡鄉編小引, A.3154, tr.39a.

(15). 義 山 村 俗 例,  AFb1/16, tr.151,b.

(16). 黃梅總各社村鄉俗(貴荣) , VHv.1824,tr.29b

(17). 黃梅總各社村鄉俗(芳芹社海醴村), VHv.1824,tr.55b

(18). 雁塔村口傳,VHv.2763, trang 2b.

(19). 黃梅總各社村鄉俗,VHv.1824, trang 20b.

(20). 乂安省興元府海都總科陀村俗例, AFb1/7, tr.26a.

(21). 乂安省興元府福川 村俗例, AFb1/21,tr4a.

(22). Nguyễn Hữu Mùi (2010), Truyền thống hiếu học và hệ thống Văn miếu Văn từ Văn chỉ ở Vĩnh Phúc, Sở VHTT&DL Vĩnh Phúc, trang.157, 158.

(23). 员山村券例, VHv.2763, tr.1b.

(24). 乂安省宜祿縣上舍總金塢村俗例, AFb1/30, tr.7b.

(25). 琼堆今事跡鄉編小引,會券. A.3154), tr.28a.

(27). 乂安省興元府安場總安榮社俗例, AFb1/2,tr.26a.

(28). 乂安省興元府福川 村俗例, AFb1/21,tr.4a.

(29). 長山村鄉例,VHv. 2678,tr.8a.

(30). 約禮社俗例, AFb1/17, tr.38,39.

(31). 黃梅總各社村鄉俗 (芳芹有立), VHv.1824, 14b.

(32). 乂 安 省  宜 祿 縣  鄧 舍 總  政 偉 村, AFb1/25

(33). 乂 安 省  宜 祿 縣  鄧 舍 總  祿 洲 社, AF b1/23.

(34). 乂安省興元府福川 村俗例, AF b1/21,tr.26a.

(35). 武烈總各社鄉例, VHv.2677,tr.2b.

(36). 富良村鄉例, VHv.2675/2, tr.7b.

LTS: Trong nhiều năm qua, ngành du lịch văn hóa ở Việt Nam phát triển rầm rộ và nhanh chóng. Du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước cũng như của nhiều địa phương trong chiến lược phát triển. Nhưng để phát triển du lịch văn hóa không phải cứ muốn làm là làm được. Không phủ nhận là du lịch văn hóa đã mang lại một nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, cũng như tạo cơ hội việc làm và thu nhập cho nhiều doanh nghiệp, người dân. Nhưng bên cạnh đó, sự phát triển du lịch văn hóa chưa phù hợp, thiếu bền vững đã tác động tiêu cực đến các giá trị văn hóa, di sản văn hóa và làm ảnh hưởng lớn đến bản sắc văn hóa, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. Để bàn thêm về vấn đề này, xin giới thiệu đến bạn đọc một số ý kiến của TS. Trần Hữu Sơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian, một người có nhiều năm làm quản lý ngành văn hóa, du lịch và nghiên cứu về du lịch văn hóa.

*   *   *

PV: Là một người có nhiều năm nghiên cứu, quản lý trong ngành văn hóa, du lịch, ông đánh giá thế nào về tiềm năng du lịch văn hóa của nước ta?

TS. Trần Hữu Sơn: Tài nguyên du lịch văn hóa của Việt Nam rất đa dạng và phong phú dựa trên sự đa dạng về điều kiện tự nhiên và xã hội. Điều kiện tự nhiên đa dạng tạo nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của nhiều hệ hình văn hóa khác nhau. Theo không gian có văn hóa vùng biển đảo, văn hóa vùng sông nước, văn hóa vùng đồng bằng, văn hóa vùng trung du, văn hóa vùng thung lũng, văn hóa vùng núi cao. Về mặt chủ thể tộc người, Việt Nam có nhiều dân tộc cùng sinh sống, mỗi dân tộc lại có nhiều nhóm, nhiều ngành khác nhau. Các nhóm, ngành và tộc người này vừa có những điểm chung, vừa mang các đặc trưng riêng, tạo nên một rừng hoa văn hóa mà mỗi cộng đồng là một bông hoa đẹp. Mỗi tộc người lại có một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể như lễ hội, phong tục tập quán, tri thức dân gian, văn nghệ dân gian... Lịch sử dân tộc cũng để lại một hệ thống di tích lịch sử đa dạng, phân bố khắp nơi, mang dấu ấn của từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Bên cạnh đó là các quần thể kiến trúc tôn giáo và giá trị văn hóa trong các tôn giáo luôn có một sức thu hút đặc biệt đối với khách du lịch và hình thành các tuyến du lịch tâm linh. Một ví dụ là mấy năm gần đây xuất hiện các tuyến du lịch theo các điểm đạo Mẫu phát triển mà thường gắn liền với các tuyến đường buôn bán. Nói chung, Việt Nam có một nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú để phát triển du lịch văn hóa. Nhưng ở nhiều địa phương, nó đang ở dạng tiềm năng và chưa khai thác hoặc khai thác chưa hiệu quả.

PV: Theo ông, chúng ta có thể phân loại tài nguyên du lịch văn hóa như thế nào cho hợp lý để phục vụ việc quy hoạch phát triển ngành du lịch? Và theo cách phân loại đó, ông thấy sự phân bố các tài nguyên du lịch văn hóa ở nước ta hiện nay thế nào?

TS. Trần Hữu Sơn: Có nhiều cách để phân loại các nguồn tài nguyên phục vụ phát triển du lịch văn hóa. Nhưng cách phổ biến là phân tài nguyên văn hóa thành tài nguyên có nguồn gốc từ di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Tài nguyên văn hóa vật thể để phát triển du lịch như các di tích lịch sử, di tích khảo cổ học, di sản kiến trúc, các di tích mang tính tôn giáo như đền, chùa, đình, miếu... Tài nguyên di sản văn hóa phi vật thể để phát triển du lịch như lễ hội, phong tục tập quán, nghệ thuật diễn xướng dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian, tôn giáo, tri thức dân gian... Bên cạnh đó, tùy theo các góc độ tiếp cận mà người ta có thể đưa ra những phân loại khác nhau như phân loại theo không gian văn hóa, phân loại theo văn hóa tộc người, phân loại theo loại hình du lịch...

Tài nguyên để phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam rất đa dạng nên khi nói về sự phân bố tài nguyên du lịch văn hóa thì phải nói cụ thể là loại tài nguyên nào. Vì mỗi loại tài nguyên sẽ có sự phân bố khác nhau. Ví dụ miền Trung có sự tập trung nhiều quần thể di tích lịch sử văn hóa lớn để đang xây dựng con đường di sản dọc miền Trung. Miền núi là nơi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống nên tập trung sự đa dạng về văn hóa tộc người có điều kiện phát triển du lịch cộng đồng. Văn hóa làng nghề tập trung nhiều ở vùng châu thổ Bắc bộ...  Nguồn lực văn hóa ở mỗi địa phương đều có những đặc trưng riêng và nơi nào nhận thức được điều đó để tạo ra sản phẩm du lịch đặc thù tốt thì thu hút được du khách và phát triển du lịch văn hóa.

PV: Ông đánh giá thế nào về tài nguyên du lịch văn hóa ở Nghệ An?

TS. Trần Hữu Sơn: Tôi không nắm được nhiều vấn đề chi tiết về tài nguyên du lịch văn hóa ở Nghệ An nên việc đánh giá thì chưa hẳn đã chính xác. Hồi học đại học, chúng tôi đã được thầy Vương Hoàng Tuyên hướng dẫn và đi về miền núi Nghệ An một thời gian để nghiên cứu về dân tộc học. Sau đó, phần lớn thời gian tôi công tác ở Lào Cai. Tuy nhiên, vẫn có sự trao đổi và tìm hiểu, quan tâm đến tình hình phát triển chung của ngành. Tôi thấy, Nghệ An có nhiều nét giống với Lào Cai, đó là sự đa dạng về văn hóa, xét trên nhiều phương diện. Nghệ An có nhiều tộc người khác nhau, các dân tộc thiểu số ở Nghệ An cũng có nhiều nét văn hóa truyền thống độc đáo. Đặc biệt, các dân tộc ở miền núi Nghệ An còn mới bước đầu tham gia vào kinh tế thị trường nên văn hóa tộc người vẫn chưa bị mất mát, mai một nhiều như một số nơi. Không chỉ có sự đa dạng về văn hóa tộc người, Nghệ An cũng là tỉnh rộng lớn nhất nước, có cả miền núi cao, miền núi vừa, miền trung du, vùng đồng bằng và ven biển. Có nhiều sông suối nhỏ bên cạnh những dòng sông lớn. Điều đó tạo nên một bức tranh văn hóa đa sắc màu. Có nhiều làng nghề truyền thống trải dài khắp các vùng trong tỉnh. Đặc biệt, Nghệ An là vùng có nhiều di tích lịch sử gắn với truyền thống hiếu học, truyền thống yêu nước, với nhiều lãnh tụ cách mạng. Tất cả những điều đó tạo cho Nghệ An có một nguồn tài nguyên du lịch văn hóa to lớn nhưng không dễ khai thác. Cần phải có một tầm nhìn bao quát mới có thể tìm được những ý tưởng quy hoạch du lịch cho cả tỉnh.

PV: Tài nguyên du lịch văn hóa đa dạng như vậy thì làm sao để xác định được tài nguyên văn hóa nào có thể phát huy giá trị trong phát triển du lịch văn hóa?

TS. Trần Hữu Sơn: Chúng ta thường hay nhìn về phía tài nguyên để xây dựng du lịch mà bỏ quên mất một yếu tố quan trọng đó là thị hiếu, nhu cầu của du khách. Cần phải xem nhu cầu của du khách là một nguyên tắc để xây dựng sản phẩm du lịch. Khi thu hút du khách đến điểm du lịch thì cần phải tìm hiểu họ đến đây để làm gì, và những tài nguyên, cơ sở hạ tầng, hệ thống dịch vụ của địa phương có đáp ứng được nhu cầu của khách hay không. Tính đặc trưng của tài nguyên văn hóa cũng cần phải được xem xét cụ thể để lựa chọn định hướng trong xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa vì nó là thế mạnh của địa phương. Tài nguyên du lịch văn hóa luôn gắn với một cộng đồng nhất định nên cần xác định cho rõ ràng cũng như sức đáp ứng của địa phương để không tổn hại đến sự bền vững của nguồn tài nguyên văn hóa. Và điều quan trọng nữa là nhà làm du lịch, chính quyền địa phương có đủ năng lực biến nguồn tài nguyên du lịch thành sản phẩm du lịch hay không và nhất thiết phải phát triển du lịch theo hướng bền vững. Điều này, ngoài bộ máy quản lý ngành thì vai trò của người lãnh đạo địa phương cũng quan trọng. Nếu họ dành sự quan tâm thích đáng thì sẽ có được những kết quả khả quan về mặt phát triển du lịch và bảo tồn văn hóa địa phương.

PV: Là một nhà nghiên cứu và nhiều năm làm công tác quản lý, ông quan điểm thế nào về mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch?

TS. Trần Hữu Sơn: Trong mối quan hệ này, văn hóa có trước, là cái hồn để phát triển du lịch, du lịch văn hóa có sau và là một ngành kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên văn hóa để phát triển. Nhưng du lịch văn hóa cũng góp phần tái tạo giá trị văn hóa, mang lại lợi ích kinh tế cho người dân. Du lịch phát triển tạo điều kiện quảng bá, phát huy các giá trị văn hóa, tạo nguồn kinh phí để quay lại bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hóa. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, chúng ta phát triển ngành du lịch thiếu bền vững, mang tính ăn xổi, bán văn hóa, với tư duy tiểu nông, làm ảnh hưởng lớn đến các di sản văn hóa. Số lượng du khách trở thành một tiêu chí phát triển của ngành du lịch khiến cho sức ép lên các di sản văn hóa càng lớn và càng nhanh hư hỏng. Dẫn khách ồ ạt vào các điểm di tích, di sản mà không quan tâm về khả năng đáp ứng của khu vực, địa phương và sức chịu của tài nguyên văn hóa đó có đáp ứng được hay không. Đó là nguyên nhân gây nên tình trạng du lịch vẫn chưa có hiệu quả cao về nguồn thu nhưng tài nguyên văn hóa thì bị mai một, hư hại và biến đổi.

PV: Theo ông, ai phải chịu trách nhiệm cho việc lấy du lịch làm mục tiêu để tàn phá văn hóa như vậy?

TS. Trần Hữu Sơn: Để dẫn đến tình trạng này, tôi nghĩ trách nhiệm thuộc về tất cả chúng ta. Từ nhà doanh nghiệp, nhà quản lý du lịch và người dân đều nhìn vào lợi ích trước mắt với tư duy tiểu nông, ham lợi và gây nhiều hệ lụy. Nhưng trách nhiệm cao nhất thuộc về các nhà quản lý và hoạch định phát triển du lịch. Tỉnh nào cũng đặt du lịch là ngành mũi nhọn với những khẩu hiệu rất hay nhưng khi làm thì không hiệu quả và còn làm ảnh hưởng đến văn hóa. Có nhiều nguyên nhân nhưng trong đó quan trọng là họ đã chưa tìm được những người có tâm huyết và năng lực để quản lý một địa phương có thế mạnh về du lịch, quản lý một ngành đầy nhạy cảm này. Chúng ta thiếu những người tâm huyết, biết truyền ngọn lửa phát triển du lịch bền vững như ông Nguyễn Sự ở Hội An. Họ cũng chưa tập hợp và sử dụng trí tuệ của các nhà nghiên cứu trong việc tư vấn nên đưa ra những tiêu chí, những mục tiêu không hợp lý cho phát triển du lịch văn hóa. Tiếp đến là những doanh nghiệp làm du lịch luôn theo đuổi các lợi ích ngắn hạn, "chặt chém", làm du lịch không bền vững, hãm lợi trước mắt bỏ quên lợi ích lâu dài.

PV: Chúng ta phải làm thế nào để giữ được sự hài hòa trong mối quan hệ giữa bảo tồn văn hóa và phát triển du lịch?

TS. Trần Hữu Sơn: Mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế là mối quan hệ cơ bản trong phát triển. Các giá trị văn hóa cần phải được phát huy, đưa vào cuộc sống và tạo ra được những giá trị mới cho người dân. Do vậy nên từ bản sắc văn hóa, tạo ra được sản phẩm văn hóa hợp lý và hấp dẫn là yếu tố cơ bản để phát triển du lịch văn hóa. Tuy nhiên, không phải phát triển du lịch bằng mọi giá, xem du lịch là con gà đẻ trứng vàng và nhà nào cũng nuôi theo kiểu công nghiệp thì không ổn. Hướng phát triển của du lịch hiện đại là phát triển du lịch bền vững: coi trọng lợi ích hiện tại nhưng phải quan tâm đến lợi ích của thế hệ mai sau, phải coi trọng và bảo tồn được giá trị của di sản văn hóa, phải hài hòa được lợi ích giữa các nhóm liên quan đến phát triển du lịch. Hiện tại, lợi ích trong du lịch chưa được phân phát hài hòa, chủ yếu rơi vào các doanh nghiệp, còn người dân bản địa không được hay được rất ít lợi ích nhưng lại phải chịu nhiều tác động tiêu cực từ du lịch. Và phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo môi trường tự nhiên lẫn môi trường văn hóa. Muốn vậy cần phải có hành lang pháp lý hợp lý về vấn đề phát triển du lịch văn hóa và bảo vệ di sản văn hóa, bảo vệ môi trường.

PV: Theo ông, văn hóa du lịch giữ vai trò gì trong phát triển du lịch văn hóa?

TS. Trần Hữu Sơn: Xây dựng văn hóa du lịch là một tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển của du lịch. Và đó là yếu tố nền tảng đảm bảo cho sự phát triển du lịch bền vững. Muốn xây dựng văn hóa du lịch cần làm nhiều thứ. Trước hết là xây dựng văn hóa ứng xử trong du lịch: Người dân là chủ thể thì phải tự tin, ứng xử hài hòa, thân thiện để đón khách, tiếp khách và giữ khách. Tức là xây dựng mối quan hệ bền vững, lâu dài để khách còn quay lại, còn gặp lại. Người tham gia làm du lịch cần phải văn minh lịch sự, luôn biết xin lỗi, cảm ơn và tôn trọng khách. Hiện tại văn hóa ứng xử đang có vấn đề, vẫn còn phổ biến tình trạng người dân xa lánh du khách, người bán hàng chặt chém nâng giá với du khách... những ứng xử mang tính ngắn hạn, chỉ cố kiếm tiền trong một lần gặp khách. Không chỉ chấn chỉnh, xây dựng văn hóa ứng xử mà còn tiến tới xây dựng văn hóa ứng xử mang tính đặc trưng cho từng sản phẩm du lịch, từng vùng du lịch từ cách chào hỏi, cách giới thiệu.... Một vấn đề quan trọng nữa là xây dựng văn hóa liên kết hợp tác trong phát triển du lịch. Du lịch là ngành liên quan đến rất nhiều ngành khác và phát triển du lịch bền vững là xây dựng mối liên kết bền vững giữa nhiều ngành, nhiều người liên quan đến hoạt động này. Hiện tại Việt Nam đang yếu trong khâu liên kết các ngành để phát triển du lịch. Ví dụ, khi muốn thu hút khách đến một sự kiện du lịch thì ngành giao thông có thể giảm giá nhưng tăng chuyến, các dịch vụ đi cùng cũng phải được tăng cường, khách sạn có thể giảm giá phòng, nhà hàng có thể giảm giá ăn... để tăng thu nhập từ việc phục vụ nhiều khách chứ không phải là tăng giá nhân dịp sự kiện để chặt chém du khách. Cần phải xây dựng văn hóa liên kết, tạo nên cả một hệ thống nhằm phát triển du lịch bền vững.

PV: Chúng ta phải làm gì để xây dựng được những giá trị văn hóa du lịch bền vững trong quá trình phát triển du lịch văn hóa?

TS. Trần Hữu Sơn: Tôi nghĩ, trước hết phải bắt đầu từ cải cách thể chế, chính sách. Phải xem xét và sửa lại luật du lịch theo hướng phát triển du lịch bền vững, chấm dứt tình trạng phát triển du lịch ăn xổi, ngắn hạn làm ảnh hưởng đến di sản văn hóa và hình ảnh dân tộc, con người Việt Nam. Công tác nhân sự cũng phải thay đổi, có cơ chế để thu hút được những người có năng lực, có tâm huyết tham gia vào phát triển du lịch, bổ nhiệm những người có kiến thức về du lịch để quản lý các địa phương có ngành du lịch phát triển. Những người quản lý du lịch cũng cần lắng nghe ý kiến của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học trong việc hoạch định phát triển du lịch bền vững. Và những người quản lý, bộ máy quản lý phải tạo được niềm tin, truyền được cảm hứng để người dân tăng cường ý thức khi tham gia phát triển du lịch. Cần có những cách thức giúp đỡ để người dân nâng cao nghiệp vụ du lịch của chính họ khi tham gia vào phát triển. Người dân là người trực tiếp quan hệ với khách du lịch, là chủ thể của văn hóa nên cũng cần phải năng động, sáng tạo nhằm đáp ứng các sản phẩm du lịch đặc trưng cho du khách. Và, cần phải có cơ chế đảm bảo sự hài hòa trong phân chia lợi ích giữa các ngành liên kết, giữa doanh nghiệp với người dân và ban quản lý di sản văn hóa.

PV: Cuối cùng, xin ông trao đổi một số gợi ý gì cho việc phát triển ngành du lịch văn hóa ở một địa phương như Nghệ An.

TS. Trần Hữu Sơn: Du lịch văn hóa là ngành cần có quy hoạch cẩn thận và không nên vội vàng, cẩu thả. Nhiều nơi nhìn thấy tiềm năng du lịch văn hóa to lớn thì nóng ruột mà đẩy mạnh phát triển trong khi chưa có đủ cơ sở để có tầm nhìn sâu rộng nhằm đi đến một quy hoạch tối ưu. Và như vậy, dù bước đầu cũng thu được một số kết quả nhưng về lâu dài đó là sự tàn phá văn hóa, làm hư hại di tích, mai một văn hóa. Theo tôi, Nghệ An nên đi học hỏi kinh nghiệm từ các địa phương như Hội An, Huế, Lào Cai… để xem cái họ đã làm tốt và xem cả những cái họ làm chưa tốt nhằm tìm cho mình những con đường tốt nhất. Một việc quan trọng là nên mời nhiều nhà nghiên cứu tham gia vào để trao đổi, và lãnh đạo cũng phải thật sự lắng nghe, cầu thị để các nhà nghiên cứu góp ý thẳng thắn và khách quan. Phát triển du lịch văn hóa, điều tiên quyết là phải bảo tồn được văn hóa truyền thống, giữ được sự đa dạng văn hóa và sau đó mới tìm cách khai thác các giá trị văn hóa đặc sắc. Khi không còn lưu giữ được các giá trị văn hóa đặc sắc, thì lấy gì để phát triển du lịch văn hóa.

Xin cảm ơn ông về những ý kiến trao đổi này!

TÒA SOẠN

Bùi Thông Thiện

 

Du lịch cộng đồng là một hoạt động sinh kế của người dân ở nhiều địa phương khác nhau trong cả nước. Loại hình du lịch này hình thành và phát triển dựa trên sự phát huy các giá trị bản sắc văn hóa cộng đồng vào quá trình phát triển kinh tế. Và vì là một loại hình hoạt động sinh kế của con người nên nó cũng phải được khẳng định bằng hiệu quả kinh tế. Ở nhiều địa phương vốn đã phát triển du lịch cộng đồng lâu năm thì sự đóng góp của loại hình du lịch này vào sinh kế người dân là khá quan trọng. Tuy nhiên, không phải ở nơi nào người ta cũng đạt được điều đó. Nhất là với các địa phương mới bước đầu xây dựng và phát triển loại hình du lịch mới mẻ này như nhiều nơi ở Nghệ An thì hiệu quả kinh tế còn là vấn đề cần phải xem xét.

1. Du lịch cộng đồng và sự phát triển của du lịch cộng đồng ở Nghệ An

Trong mấy năm trở lại đây, du lịch cộng đồng xuất hiện ở Nghệ An và ngày càng gây được sự chú ý của nhiều người với sự truyền thông liên tục đưa tin cũng như hàng loạt các dự án xây dựng và phát triển các điểm du lịch cộng đồng ở nhiều địa phương khác nhau. Không chỉ các huyện miền núi mà nhiều huyện ở miền xuôi cũng xây dựng những điểm du lịch cộng đồng dựa trên các thế mạnh đặc trưng của mình. Định hướng phát triển du lịch cộng đồng ở nhiều địa phương, đặc biệt là ở miền núi, nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, văn hóa tộc người đa dạng, và có cả các thắng cảnh thiên nhiên tươi đẹp là một lựa chọn hợp lý. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế của du lịch cộng đồng có lớn đến mức như truyền thông vẫn đăng tải hay không? Muốn trả lời câu hỏi này thì phải xem xét đóng góp của du lịch cộng đồng vào sinh kế người dân như thế nào, cụ thể là đối với những gia đình đang tham gia vào loại hình du lịch mới mẻ này. Vậy nên, để góp phần vào việc nhìn nhận rõ hơn về tiềm năng, cơ hội, hệ quả cũng như thách thức trong quá xây dựng và phát triển du lịch cộng đồng ở Nghệ An, bài viết này muốn tập trung phân tích mối quan hệ giữa văn hóa tộc người và du lịch cộng đồng qua việc khảo sát một số điểm du lịch cộng đồng ở các huyện miền núi.

Phát triển du lịch cộng đồng là một định hướng không phải không có lý do khi mà ở nhiều địa phương trong nước đã chứng minh đó là hướng đi khả dĩ, nhất là trong quá trình hội nhập và ngành du lịch đang ngày càng phát triển mạnh mẽ. Nhiều địa phương ở miền núi phía Bắc Việt Nam đã tiến hành xây dựng và phát triển du lịch cộng đồng từ những năm đầu của thế kỷ XXI. Có thể kể đến các địa phương ở các tỉnh như Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Điện Biên… Ở những địa phương mà du lịch cộng đồng đã phát triển nhiều năm thì nguồn thu nhập từ các hoạt động này chiếm tỷ trọng lớn và giữ vai trò quan trọng đối với cuộc sống người dân. Đặc trưng của những điểm mà du lịch cộng đồng phát triển mạnh mẽ chính là những địa phương còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống tộc người. Nhiều dân tộc đã tham gia vào quá trình phát triển du lịch cộng đồng như người Thái, người Mường, người Tày, người Nùng, người Dao, người Mông, người Giáy… Các điểm được lựa chọn làm điểm du lịch cộng đồng thường phải có một số yêu cầu quan trọng: gắn liền với một tộc người cụ thể, còn giữ được cơ sở vật chất văn hóa truyền thống như hệ thống nhà cửa, làng bản, trang phục còn khá nguyên vẹn, còn lưu giữ được nhiều hoạt động văn hóa cộng đồng như lễ hội, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi dân gian, nghi lễ vòng đời có hệ thống ẩm thực đặc sắc,… và có các thắng cảnh tự nhiên đẹp để du khách có thể đi tham quan. Đặc trưng của du lịch cộng đồng chính là tạo điều kiện để khách du lịch được trải nghiệm, hưởng thụ các nét văn hóa truyền thống tộc người. Du khách có thể cùng ở lại với người dân bản địa, tham gia vào các hoạt động văn hóa, sản xuất cũng như hưởng thụ các sản phẩm văn hóa của người dân. Để rồi qua đó, khách du lịch hiểu thêm về cuộc sống của người dân bản địa và cũng để văn hóa tộc người được quảng bá qua chính các du khách đã đến.

Ở Nghệ An, du lịch cộng đồng được biết đến trong khoảng gần một thập kỷ lại nay. Ban đầu là những doanh nghiệp du lịch qua các tour đi đến các địa phương khác đã quan tâm đến loại hình này. Tuy nhiên, du lịch cộng đồng chỉ được quan tâm và xây dựng thành các điểm để đón khách khi có các dự án đầu tư và hỗ trợ. Tính đến nay, sau hơn 5 năm đưa vào khai thác để phát triển, toàn tỉnh đã có khoảng vài chục điểm du lịch cộng đồng ở nhiều huyện khác nhau, tập trung chủ yếu ở miền núi. Miền núi Nghệ An, nơi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống như người Thái, người Mông, người Khơ Mú, người Thổ và người Ơ Đu… Không chỉ có nhiều thắng cảnh tự nhiên đẹp, hùng vĩ, nhiều di tích lịch sử văn hóa, miền núi Nghệ An còn là nơi lưu giữ được nhiều nét đặc sắc về văn hóa tộc người. So với nhiều vùng khác, sự phát triển của kinh tế thị trường ở miền núi Nghệ An còn chậm nên văn hóa dù có biến đổi nhưng còn chưa mạnh mẽ, nhiều cộng đồng vẫn giữ được những nét văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Đó chính là cơ sở để người ta lựa chọn xây dựng các điểm phát triển du lịch cộng đồng.

So với nhiều địa phương khác, Con Cuông là huyện có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch cộng đồng. Không chỉ có nhiều tộc người sinh sống, văn hóa tộc người còn khá đặc trưng mà điều kiện cơ sở vật chất hạ tầng trong huyện trong thời gian gần đây được nâng cấp đáng kể. Không chỉ vậy, Con Cuông còn được trời phú cho một môi trường tự nhiên hấp dẫn với thảm thực vật đa dạng, núi rừng hùng vĩ, sông suối tươi đẹp. Trong hơn một thập kỷ qua, du lịch Con Cuông phát triển nhanh chóng, cũng là cơ sở để nhiều người tin rằng du lịch cộng đồng sẽ phát triển mạnh ở đây. Từ năm 2011, với sự hỗ trợ từ Ban Quản lý rừng quốc gia Pù Mát, các dự án về phát triển du lịch cộng đồng được bắt đầu thực hiện. Nhiều người dân được đưa đi tham quan, tập huấn để tham gia hoạt động du lịch cộng đồng. Từ năm 2012, một số điểm du lịch cộng đồng bắt đầu đi vào hoạt động và phục vụ du khách. Đến nay, Con Cuông có 4 điểm hoạt động du lịch cộng đồng, là Bản Chiềng (xã Môn Sơn), Bản Thái Sơn (xã Môn Sơn), Bản Nưa (xã Yên Khê), Bản Khe Rạn (xã Bồng Khê). Và hiện tại đang còn xây dựng thêm một số điểm mới để chuẩn bị đón khách trong thời gian tới. Để làm rõ hơn vai trò của văn hóa tộc người trong phát triển du lịch cộng đồng, xin được đi sâu phân tích trường hợp Bản Nưa.

2. Hiệu quả kinh tế và đóng góp của du lịch cộng đồng vào sinh kế người dân ở Bản Nưa

Bản Nưa là bản người dân tộc Thái thuộc xã Yên Khê, cách thị trấn Con Cuông hơn 7km. Năm 2011, Ban Quản lý rừng quốc gia Pù Mát kết hợp với chính quyền xã Yên Khê và một số cơ quan khác tổ chức tập huấn cho một số hộ gia đình để xây dựng tuyến đường du lịch cộng đồng Bồng Khê - Yên Khê - Lục Dạ - Môn Sơn. Bản Nưa là một trong những điểm được lựa chọn để phát triển du lịch cộng đồng. Trong bản có 5 người là Vi Thị Mơ, Lô Thị Hoa, Lô Đình Nhượng, Lương Thị In, Vi Thị Tài đăng ký đi tập huấn về các kỹ năng về đón khách du lịch, tiếp khách, lên tour, lên thực đơn và tổ chức nhóm để hoạt động du lịch. Những người tham gia khóa tập huấn còn được đi tham quan học hỏi kinh nghiệm về phát triển du lịch cộng đồng ở Bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình) trong 3 ngày. Khi về, họ tự lập thành một tổ để xây dựng và phát triển du lịch cộng đồng ở Bản Nưa. Để tổ chức đón tiếp khách du lịch các gia đình phải có nhà sàn truyền thống rộng rãi, có lao động để phục vụ được các đoàn khách và phải đầu tư nhiều vào cơ sở vật chất. Số tiền một gia đình đầu tư để phát triển du lịch cộng đồng không phải là nhỏ. Để có thể đón khách, các hộ gia đình phải đầu tư ít nhất cũng từ 40-50 triệu đồng để xây dựng vệ sinh khép kín, mua chăn, đệm, gối, tủ lạnh, nồi niêu bát đũa... Có gia đình đầu tư nhiều như nhà bà Lô Thị Hoa đã chi phí hơn trăm triệu, trong đó sửa sang nhà cửa và xây vệ sinh khép kín hết 67 triệu đồng, mua 50 bộ chăn, đệm, gối hết hơn 40 triệu, và gần 10 triệu mua sắm các dụng cụ khác như tủ lạnh, nồi, niêu, xoong, chảo, bát đũa... Đây là một khoản tiền lớn đối với một hộ gia đình ở Bản Nưa, nhất là trong giai đoạn đầu, chưa được các tổ chức, cơ quan khác hỗ trợ về tài chính nên các gia đình phải tự huy động, vay mượn, bán trâu bò, lợn và thậm chí mượn tiền từ anh em họ hàng. Phần lớn các gia đình ở đây đều đầu tư dàn trải, mỗi năm đầu tư vào một hạng mục, từ những trang bị cần thiết nhất và nâng cấp dần trong quá trình sử dụng đón khách. Với mức đầu tư ban đầu như vậy, dù bước đầu du lịch cộng đồng ở Bản Nưa đã có một số kết quả nhất định, nhưng nếu xét về đầu tư kinh tế để thu lợi nhuận thì rõ ràng vẫn còn nhiều hạn chế và chưa thể nói là có hiệu quả.

Từ năm 2012, bắt đầu có một số đoàn khách đến với Bản Nưa theo chương trình du lịch cộng đồng. Khi thông báo có khách, thì tổ du lịch cộng đồng lên thực đơn để trao đổi với khách về các món ăn, số lượng, giá cả. Trong tổ chia nhau đi liên hệ để mua thực phẩm trong bản và họp nhau cùng chế biến. Khi khách có nhu cầu xem biểu diễn văn nghệ thì tổ đi liên hệ với CLB Dân ca Thái để tổ chức văn nghệ phục vụ khách ở gia đình khách ở lại. Thường khách đến Bản Nưa chủ yếu ăn tối, xem văn nghệ rồi đi. Họ đặt các món ăn truyền thống như món mọc, xôi đỏ nếp nương, bánh sừng trâu, canh ột, nộm hoa chuối, thịt gà nướng, thịt lợn nướng ăn cùng lá móc mật, lá sú, lá lội... Trung bình một bữa ăn của một khách khoảng 100 ngàn đồng thì chi cho các khoản mua sắm đồ cũng từ 60-70 ngàn, chỉ còn lại 30-40 ngàn là tiền công cho những người tham gia. Công sức bỏ ra để đón một đoàn khách cũng không ít. Khi có khách đến ăn tối và xem văn nghệ, thì từ buổi sáng trong tổ đã phân công đi chuẩn bị, mua sắm thực phẩm và liên hệ văn nghệ. Buổi chiều họ tiến hành nấu nướng, chuẩn bị nhà cửa, sân bãi để diễn văn nghệ. Sau khi khách rời khỏi bản, họ lại phải nép dọn... Với những đoàn khách đông người thì thu nhập còn khá hơn chứ gặp các khách lẻ chỉ vài người thì nguồn thu chẳng đáng bao nhiêu. Trong khi nguồn thu từ các dịch vụ đón tiếp khách còn thấp thì nguồn thu từ các hoạt động bán hàng hóa, dịch vụ đi cùng còn chưa có do trong bản không có các gian hàng truyền thống để bán cho khách làm quà lưu niệm. Năm 2016 là năm có số lượng khách du lịch đến Bản Nưa đông nhất với hàng trăm lượt khách. Nhưng như số liệu của tổ du lịch cộng đồng chia sẻ thì tổng thu của các hoạt động liên quan đến du lịch của các gia đình tham gia là 107 triệu đồng, trong đó chi ra để chuẩn bị mua sắm đón tiếp khách là 65 triệu, số tiền lãi thu được là 42 triệu. Năm 2017, có 1400 lượt khách đến và tổng thu là 137 triệu, trừ các chi phí còn lại 53 triệu tiền công. Như vậy, trung bình các hộ gia đình tham gia thu được khoảng 8 triệu/năm. Điều đó cho thấy hoạt động du lịch cộng đồng rõ ràng chưa có nhiều hiệu quả khi đầu tư ban đầu từ 40-50 triệu đồng nhưng sau 4-5 năm những hộ gia đình này chưa chắc thu lại được vốn, chưa kể phải bỏ ra nhiều công sức lao động. Như Bà Vi Thị Mơ, một người hăng hái tham gia mô hình này từ ngày đầu tâm sự: "Khi được đi tập huấn rồi tham quan ở Bản Lác về thì thấy thú vị lắm. Ở đó họ làm du lịch và có nguồn thu nhập cao và khá ổn định nên mọi người cũng rất hào hứng và mong muốn làm được. Nhưng khi bước vào làm thật thì gặp nhiều khó khăn, không chủ động liên hệ được với khách nên chủ yếu là chờ người giới thiệu đến. Khi có nhiều khách đến thì thấy có một khoản tiền khá lớn và cùng nhau tấp nập làm việc trong một khoảng thời gian, nhưng sau khi xong tính lại thì mỗi người tham gia cũng chẳng được bao nhiêu. Mỗi năm cũng chỉ được mấy tháng có khách, còn lại thì thỉnh thoảng có một vài người nên thu nhập cũng chẳng bao nhiêu". Vì nguồn thu còn thấp nên các gia đình hoạt động du lịch cộng đồng cũng chưa phải chuyên nghiệp khi chỉ là nguồn thu thêm, là công việc khi có khách. Còn chủ yếu họ vẫn kiếm sống bằng các nghề khác: Gia đình chị Vi Thị Mơ bên cạnh đón khách thì chủ yếu làm nông nghiệp; gia đình anh Lô Văn Nhượng thì sống chủ yếu bằng sản xuất gạch táp-lô và nông nghiệp; gia đình chị Lô Thị Hoa có mở thêm một điểm đón và phục vụ khách ở thác Kèm nhưng cũng chủ yếu sống bằng nông nghiệp; các gia đình khác như Vi Văn Hanh, Vi Văn Sông, Lương Thị In, Vi Thị Tài cũng được đi tập huấn sau này và có tham gia tiếp đón du khách nhưng chủ yếu lấy nông nghiệp là nghề chính. Từ năm 2016, 3 hộ gia đình là Lô Thị Hoa, Lô Đình Nhượng và Vi Văn Hanh được tổ chức JICA của Nhật Bản hỗ trợ 220 triệu đồng để xây dựng cơ sở vật chất nhằm đón tiếp khách chu đáo hơn. Nhưng như anh Vi Văn Hanh chia sẻ: "Nhà cửa và các công trình phụ đã được đầu tư khang trang nhưng chưa biết khi nào mới có khách đến ở lại. Vì không trực tiếp liên hệ được với các công ty du lịch hay các du khách nên vẫn phải chờ khi người khác giới thiệu và dẫn khách đến".

Nguồn thu nhập từ hoạt động du lịch cộng đồng ở Bản Nưa còn thấp là do số lượng khách du lịch đến đây còn hạn chế và chưa giữ chân được khách ở lại dài ngày. Du lịch cộng đồng phát triển dựa trên hai yếu tố quan trọng là cảnh quan tự nhiên và tài nguyên văn hóa cộng đồng. Về cảnh quan tự nhiên, Bản Nưa nói riêng và xã Yên Khê nói chung có sức hút đối với du khách. Ở đây có thác Kèm, khe nước Mọc là những cảnh đẹp trong vùng cùng với một hệ sinh thái đa dạng với cảnh quan rừng núi kỳ vĩ. Ngoài ra, đây cũng là vùng trồng chè và trồng cam lớn, có những vườn chè, vườn cam khá đẹp. Tuy nhiên, môi trường tự nhiên Bản Nưa đang có những biến đổi nhanh chóng. Nguồn nước bắt đầu bị ô nhiễm, con suối chính chảy qua bản đang ngày càng nhiễm bẩn do không được vệ sinh thường xuyên và cũng chưa tạo ra được một sức hút để nó trở thành điểm mạnh của địa phương. Các cánh rừng cũng không còn giữ được hệ sinh vật phong phú như trước. Trong khi đó, các vườn cam, vườn chè, dù có định hướng phát triển kết hợp với khai thác du lịch nhưng vẫn chưa được quy hoạch đẹp mắt. Điều đó góp phần làm cho Bản Nưa và Yên Khê trở thành một điểm ghé thăm trong các tuyến du lịch hơn là một điểm đến để lưu trú lại. Về tài nguyên văn hóa, điểm mạnh nhất của người Thái ở Bản Nưa là còn lưu giữ được khá nhiều nhà sàn truyền thống. Hiện Bản Nưa có 152 hộ gia đình thì còn hơn 50% hộ gia đình giữ được các ngôi nhà sàn truyền thống rộng rãi, sạch sẽ. Ngoài ra thì Bản Nưa không còn nhiều dáng dấp của một bản người Thái truyền thống. Bước chân đến đây, người ta ít thấy được những yếu tố văn hóa của người bản địa. Phần lớn người dân đều mặc trang phục hiện đại, chỉ còn một số ít người phụ nữ lớn tuổi còn mặc bộ trang phục Thái. Các ngành nghề thủ công truyền thống bị mai một, chỉ một vài người làm nghề dệt may, thêu phục vụ nhu cầu cá nhân và bán cho các hộ gia đình trong bản khi có nhu cầu. Các sinh hoạt văn hóa văn nghệ như múa, hát dân ca cũng bị mất mát dần và ít hiện hữu trong đời sống sinh hoạt hiện nay. Gần đây, vừa có chính sách khôi phục lại một số yếu tố văn hóa truyền thống, vừa phục vụ du lịch mà nhiều người đang nỗ lực phục hồi bản sắc văn hóa dân tộc. Họ đi mua các trang phục truyền thống, tổ chức tập dượt lại các điệu múa và các làn điệu dân ca. Nhiều đoàn du khách đến đây đã được thưởng thức các hoạt động biểu diễn một số sinh hoạt văn hóa truyền thống, và một số món ăn đặc sản của người Thái. Nhưng các hoạt động mang tính biểu diễn, phần nào đáp ứng được nhu cầu của một bộ phận khách dễ tính, còn những khách có nhu cầu trải nghiệm văn hóa cao, nhất là khách nước ngoài thì biểu diễn thôi là chưa đủ. Họ muốn được thưởng thức các yếu tố văn hóa của cộng đồng địa phương trong một thực tại cuộc sống hàng ngày của họ. Vậy nên, để phát triển du lịch cộng đồng hiệu quả hơn, cần phải gìn giữ được cả nguồn tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa. Trước hết là bảo vệ các cảnh quan tự nhiên, tạo ra một môi trường trong sạch trên mọi phương diện. Cần quy hoạch lại một số hoạt động nông nghiệp như trồng chè, trồng cam sao cho vừa có hiệu quả về sản xuất, vừa có tính thẩm mỹ để thu hút khách tham quan, tạo điều kiện để bán nông sản tại chỗ. Những người hoạt động trong du lịch cộng đồng cũng cần phải được đào tạo, tập huấn bài bản hơn để nâng cao năng lực trong tiếp cận và phát triển mô hình này. Đặc biệt, cần bảo tồn, phục hồi và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống sao cho hợp lý và hiệu quả. Nếu không khôi phục được các yếu tố văn hóa truyền thống, thì với khách du lịch, Bản Nưa sẽ chỉ là một sân khấu với những hoài niệm về nhiều nét văn hóa đã mai một.

3. Vài vấn đề cần suy nghĩ về đóng góp của du lịch cộng đồng vào sinh kế tộc người ở Nghệ An

Trước hết, cần khẳng định rằng, định hướng phát triển du lịch cộng đồng ở nhiều địa phương, đặc biệt là ở miền núi, nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, văn hóa tộc người đa dạng, và có cả các thắng cảnh thiên nhiên tươi đẹp là một lựa chọn khả dĩ. Tuy nhiên, nói đến du lịch cộng đồng, là phải nhấn mạnh đến bản sắc văn hóa tộc người, bản sắc văn hóa cộng đồng. Văn hóa tộc người là cơ sở nền tảng, là động lực hấp dẫn nhất để hình thành và phát triển loại hình du lịch cộng đồng. Nhưng ở chiều ngược lại, sự phát triển của du lịch cộng đồng có tác động hai mặt trở lại bản sắc văn hóa tộc người. Một mặt nó tạo ra cơ hội để phát huy các giá trị của bản sắc văn hóa tộc người vào phát triển kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống và tăng thu nhập cho người dân. Từ hiệu quả kinh tế, du lịch cộng đồng cũng góp phần làm cho người dân có điều kiện để đầu tư tái sản sinh, khôi phục lại nhiều nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống và đưa các giá trị văn hóa truyền thống quảng bá sâu rộng hơn đến nhiều cộng đồng khác. Mặt khác, sự phát triển của du lịch cộng đồng cũng làm cho quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa trở nên mạnh mẽ hơn, làm cho nền văn hóa truyền thống của các tộc người bị biến đổi nhanh chóng hơn. Nó đặt văn hóa tộc người trước nguy cơ bị biến đổi, mai một thậm chí là mất mát nếu như chủ thể không có đủ bản lĩnh, không có đủ điều kiện để gìn giữ, bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người của mình. Trường hợp ở miền núi Nghệ An cũng không ngoại lệ. Nhìn chung, đây là khu vực có tiềm năng để phát triển du lịch cộng đồng. Nhưng hiệu quả của hoạt động kinh tế du lịch mới mẻ này đến đâu thì còn phụ thuộc vào các ý tưởng mới mẻ cũng như cách làm hợp lý. Trong đó quan trọng là tạo ra được sự khác biệt từ các sản phẩm du lịch.

Một phân tích cụ thể từ trường hợp phát triển du lịch cộng đồng ở Bản Nưa đã cho thấy rằng, dù tiềm năng không nhỏ nhưng hiệu quả của du lịch cộng đồng ở Nghệ An hiện tại vẫn còn rất hạn chế. Điều đó thể hiện rõ qua sự đóng góp của hoạt động này vào đời sống và sinh kế của các gia đình tham gia cũng như của cả địa phương chưa thật sự rõ ràng. Những gia đình đã đầu tư cả trăm triệu đồng vào để phát triển du lịch cộng đồng nhưng sau 5 năm vẫn chưa thu hồi lại được vốn. Và cuộc sống của các gia đình này vẫn chủ yếu dựa vào nhiều loại hình sinh kế khác, trong khi thu nhập từ du lịch cộng đồng chỉ chiếm một tỷ lệ rất bé trong cuộc sống hàng ngày. Có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó chủ yếu là loại hình du lịch này còn mới lạ, người dân mới được đi tập huấn về và chủ yếu học tập, vận dụng các mô hình đã thành công ở một số nơi để mang về thực hiện, chưa tạo ra được điểm nhấn cụ thể từ sự khác biệt. Vậy nên chưa tạo ra được các sản phẩm du lịch đặc trưng hấp dẫn du khách. Khách đến chủ yếu là ghé thăm và ăn uống, xem một số tiết mục văn nghệ, sự tham gia trải nghiệm với người dân còn rất hạn chế nên cũng rất ít khách lưu trú lâu dài. Các sản phẩm hàng hóa để bán cho du khách cũng chưa đa dạng. Do vậy nguồn thu nhập từ các hoạt động liên quan đến du lịch cộng đồng chưa đóng góp được nhiều vào sinh kế người dân.

Hiệu quả kinh tế của du lịch cộng đồng còn chưa cao trong bối cảnh sinh kế người dân còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, cách tuyên truyền quá mức cũng như các hiệu ứng của truyền thông, báo chí và mạng xã hội đã làm cho nhiều người hiểu chưa đúng về hoạt động du lịch cộng đồng hiện nay. Qua các phương tiện truyền thông, nhất là báo chí, truyền hình làm cho nhiều người nghĩ du lịch cộng đồng như là một hoạt động làm giàu nhanh chóng. Và chỉ cần được đầu tư thì người dân nào cũng có thể thực hiện được. Từ đó, nhiều người dân trong cùng một thôn bản cũng có những suy nghĩ khác nhau, nhiều khi là sự ghen ghét, chia rẽ vì nghĩ người kia được ưu tiên để phát triển du lịch còn mình không được. Điều này sẽ có tác động đến tinh thần và quan hệ xã hội của người dân. Trong khi đó, chúng ta cần phải nhìn nhận khách quan rằng, hoạt động du lịch cộng đồng chỉ là một con đường, một cách thức làm ăn như nhiều hoạt động sinh kế khác. Và đang trong giai đoạn hình thành nên còn gặp nhiều khó khăn.

Và cuối cùng, sự biến đổi của văn hóa xã hội là một thách thức khó vượt qua trong phát triển du lịch cộng đồng. Đặc trưng văn hóa tộc người là nền tảng của du lịch cộng đồng, và khi các đặc trưng đó đang biến đổi thì có nghĩa là nguồn vốn quan trọng nhất cho du lịch cộng đồng đang bị mai một. Nhận thức như vậy để chúng ta có thể thấy rằng, đầu tư phát triển du lịch cộng đồng cần có chiều sâu, từ việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các tộc người. Bảo vệ được môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa thì mới có cơ sở để phát triển du lịch cộng đồng. Vậy nên cần có những chiến lược phát triển hợp lý, thay vì cách làm nhỏ lẻ rồi dùng truyền thông phóng đại mọi việc lên. Du lịch cộng đồng là cả cộng đồng cùng làm du lịch dựa trên văn hóa truyền thống của các cộng đồng đó, và giúp họ chia sẻ những lợi ích khác nhau, bao gồm cả lợi ích cho khách hàng. Đó mới chính là sự phát triển du lịch văn hóa mang tính bền vững.

Th.S Lan Trần

 

Nhất cận thị, nhị cận giang", tiêu chí chọn nhà đất truyền thống của người Việt từ xưa đến nay vẫn nguyên giá trị. Nhiều khu vực Á Đông còn quan niệm, dòng sông là "vượng khí" của vùng đất. Ở phương Tây, bờ sông được xem là nơi hội tụ kiến trúc độc đáo và cơ hội kinh doanh tốt, là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của đô thị. Cư dân giới thượng lưu thường tập trung ở những đô thị ven sông nổi tiếng, như: thành phố New York (Mỹ) cường thịnh bên dòng Hudson, kinh đô ánh sáng Paris (Pháp) bên dòng sông Seine thơ mộng, thành phố Melbourn (Úc) xinh đẹp bên dòng Yarra… Những thành phố này tập trung nhiều cơ ngơi tráng lệ của giới quý tộc, thể hiện đẳng cấp sống chuẩn mực thời thượng trong bầu không khí sinh thái đáng mơ ước. Do đó, các đô thị ven sông đã và đang trở thành mảnh đất màu mỡ để phát triển kinh tế - xã hội với những ưu thế vượt trội không thể bỏ qua.

Vùng đất ven sông Lam của tỉnh Nghệ An là một trong những nơi có thể xem là như thế. Chỉ tiếc chúng ta đã để lãng quên quá lâu.  Quyết định số 38/2005 của UBND tỉnh về tiêu chí đất "sinh lợi" cũng xác định đây là tuyến tiềm năng, chứa đựng nhiều lợi thế khai thác, trong đó có dịch vụ phát triển du lịch, góp phần đổi thay bộ mặt kinh tế tỉnh nhà.

Hiểu thế nào về vùng đất ven sông? Vùng đất nằm dọc 2 bên bờ sông được định nghĩa khác nhau trong nghiên cứu của các nhà quy hoạch đô thị. Chúng có thể gọi "đất bờ sông", "khu vực đất ven sông" hay "không gian dọc sông". Nhưng chúng sẽ có bề rộng và ranh giới khác nhau. Rất nhiều nhà quy hoạch, kiến trúc sư đã đưa ra định nghĩa về khu vực đất nằm dọc 2 bên bờ sông.

Theo GS.TS.KTS Basakov A.G thì "đất bờ sông" là một loại hình đặc biệt của không gian mở thành phố. Nó có cấu trúc dạng dải, tiếp xúc với yếu tố mặt nước sông và có các thành phần sau trong cấu trúc của nó: a) công trình bảo vệ bờ sông; b) đường cây xanh đi bộ; c) đường, phố đi lại; d) mặt trước của các công trình với chức năng công cộng - vui chơi và nhà ở.

Đối với TS.KTS Litvinnov D.B thì "Khu vực ven sông" là dải đất đã được đô thị hóa, có cảnh quan tự nhiên và được sử dụng như: 1) chức năng cơ bản trong cấu trúc đô thị; 2) như một phần của tổng thể quy hoạch đô thị, cũng như là khu vực giao thông đối nội, đối ngoại; 3) như khu vực có tiềm năng động lực phát triển mạnh về mặt chức năng; 4) như khu vực nghỉ dưỡng của dân cư đô thị với mật độ cao theo mùa; 5) như khu vực đa dạng về mặt công trình kiến trúc; 6) như khu vực cần có phương pháp đặc biệt đối với việc xây dựng và bảo vệ sinh thái (Trích: Litvinnov D.B/ Luận án tiến sĩ: Nguyên tắc phát triển sinh thái đô thị của khu vực đất ven sông/Saint-Petersburg - năm 2009.Lo bla quo vel et adit volore lant).

Thành phố Vinh bên bờ sông Lam luôn tồn tại đúng nghĩa là thành phố với đầy đủ đặc điểm của thành phố ven sông, rất đỗi hữu tình và thơ mộng. Sông được bắt nguồn trên lãnh thổ nước bạn Lào, chảy qua nội địa nước ta với chiều dài hơn 360 km. Đi qua bao thác ghềnh hiểm trở trên địa bàn huyện Kỳ Sơn và Tương Dương, dòng Nậm Nơn và Nậm Mộ gặp nhau ở ngã ba Cửa Rào thuộc xã Xá Lượng (Tương Dương), sau đó sông chảy về xuôi các huyện Con Cuông, Anh Sơn, Thanh Chương, Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Cửa Hội... rồi đổ ra biển lớn.

Và nói đến cái nôi của văn minh người Việt, tất yếu phải nói đến sông Hồng, nhưng trong quá trình khai phá và phát triển của người Việt thời cổ, không thể không nhắc đến sông Mã và sông Lam trong thời văn hóa Đông Sơn. Cả ba lưu vực sông Hồng - Lam - Mã mới làm nên một sắc thái Đông Sơn đầy đủ nhất, thống nhất trong đa dạng. Bên bờ sông Hiếu, một chi lưu của sông Lam, một làng cổ của cư dân Đông Sơn khá sầm uất, có tên là Làng Vạc với một khu mộ có nhiều trống đồng và các tượng đồng quý giá. Trong tiến trình lịch sử, vùng đất sông Lam cũng đã sinh ra nhiều bậc anh hùng hào kiệt, góp phần to lớn trong công cuộc dựng nước và giữ nước. 

Ven dòng sông Lam còn là vùng đất ẩn mình trong đó nhiều lớp trầm tích văn hóa. Là vùng đất trong truyện cổ tích Việt Nam: Ba làng Hoa Ổ, Hoa Nam và Phù Lưu (xã Nam Trung, Khánh Sơn của huyện Nam Đàn và xã Thanh Lương của huyện Thanh Chương), nơi phát tích câu chuyện "Trầu Cau" trong dòng chảy văn hóa của dân tộc Việt.

Ngày nay, sự phát triển của đô thị Vinh hiện đại, năng động đã và đang ảnh hưởng lớn đến các địa phương khác, đặc biệt là những huyện, thị xung quanh. Trong quá trình đô thị hóa, việc khai thác vùng đất ven sông hiện đang bỏ ngỏ của thành phố Vinh là một lợi thế, đồng thời cũng là một thách thức đối với các nhà kiến trúc quy hoạch. Việc quy hoạch vùng đất ven sông thuộc địa bàn TP. Vinh không chỉ đơn thuần đặt trong bối cảnh kinh tế - xã hội của riêng thành phố, mà cần đặt chúng trong bối cảnh phát triển tổng thể của cả vùng kinh tế sông Lam, đặc biệt là mối liên kết giữa các vùng nằm bên bờ sông.

Cách đây vài năm, tuyến đường ven sông Lam được quy hoạch với gần 60 km và có 2 tuyến nhánh dài 4,8 km, nối từ Cửa Hội đến huyện Nam Đàn, đi qua hàng loạt di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nổi tiếng trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Có thể gọi đây là con đường kết nối lịch sử và huyền thoại, trục không gian quan trọng để tạo động lực phát triển kinh tế của tỉnh.  Tuy nhiên trước đây, các lợi thế khác của tuyến đường được phát huy khai thác triệt để góp phần đẩy nhanh quá trình đô thị hoá, đảm bảo môi trường sinh thái đặc dụng ven sông, bảo vệ đê tả Lam và các cơ sở an ninh quốc phòng cho tỉnh Nghệ An; còn việc khai thác tuyến đường để phát triển kinh tế vẫn chưa mang lại hiệu quả, mặc dù ngành du lịch tỉnh đã hình thành nên tuyến du lịch đường ven sông Lam nhưng không thu hút khách du lịch. Riêng tuyến đường sông, do địa hình và dòng chảy không cho phép đảm bảo điều kiện an toàn nên tuyến này đã bỏ không đưa vào khai thác.

Có thể điểm các nguyên nhân sau: quy hoạch vẫn chưa hoàn chỉnh, hình thành đầy đủ các hành trình du lịch với các điểm cụ thể. Công tác tuyên truyền, quảng bá chưa được chú trọng. Các điểm di tích, thắng cảnh, khu nghỉ dưỡng đầu tư chưa đồng bộ, còn thiếu dịch vụ kèm theo; Chưa kêu gọi, huy động được các nhà đầu tư, chính quyền địa phương, người dân cùng tham gia xã hội hóa, đầu tư phát triển du lịch; Cơ sở vật chất hiện có chưa đáp ứng tốt yêu cầu của du khách, hình thức, nội dung tham quan thiếu phong phú; Môi trường du lịch còn để xảy ra ô nhiễm (do việc xây dựng, vận chuyển vật liệu của người dân, khai thác cát, xả rác bừa bãi ở ven sông…).

Hạn chế nêu trên hiện đã được các cấp, ngành UBND tỉnh, UBND thành phố Vinh khắc phục dần. Quyết tâm xây dựng tuyến đường này thành tuyến du lịch bền vững, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đẩy nhanh việc quy hoạch tuyến đường, lộ trình phát triển du lịch và kêu gọi đầu tư. Việc quy hoạch tuyến đường ven sông Lam được Viện quy hoạch kiến trúc xây dựng Nghệ An quy hoạch xong giai đoạn 2 từ Cửa Hội đến Bến Thuỷ. Từ ngày đường du lịch ven sông Lam được thông suốt, tuyến đường từ Cửa Lò - Cửa Hội - Vinh - Hưng Nguyên - Nam Đàn đi lại thuận lợi và dễ dàng hơn, nhất là đối với khách du lịch. Tạo cơ hội liên kết trong chuỗi tam giác kinh tế, du lịch - dịch vụ, thúc đẩy cùng nhau phát triển.

Điểm đến Cửa Hội: Nói về dòng Lam, không thể không nhắc tới Cửa Hội, nơi dòng sông hòa cùng biển lớn. Nếu Cửa Rào là điểm khởi nguồn, thì Cửa Hội là điểm kết thúc và cũng là một vùng đất thiêng, giữ vị trí trọng yếu trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Ngày nay, Cửa Hội là điểm thuận lợi tập trung các cơ sở du lịch gồm: Khu du lịch nghỉ dưỡng ven biển Cửa Hội được tổ chức với hình thức nghỉ dưỡng sinh thái, kết hợp khai thác du lịch với bảo vệ rừng phi lao phòng hộ ven biển. Kiến trúc chủ yếu là nhà thấp tầng, mô hình là khu nghỉ dưỡng cao cấp; Khu du lịch sinh thái ven sông Hưng Hoà là điểm nhấn khai thác du lịch quan trọng trên toàn tuyến, với hệ thống khách sạn, khu vui chơi giải trí, khu tham quan rừng sinh thái ngập mặn; Khu cửa cống Rào Đừng thuộc xã Phúc Thọ là nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi: gần bờ sông, gần khu rừng bần, có mối liên hệ giao thông thuận tiện từ nhiều hướng, có thể kết hợp du lịch sinh thái và tham quan làng nghề truyền thống vạn chài; Trên toàn tuyến, tổ chức các cụm du lịch nhỏ, nhằm khai thác hệ thống cảnh quan ven sông được bố trí tại phường Nghi Hải, bãi bồi xã Hưng Hoà và cầu Hói Trại xã Phúc Thọ.

Tiếp đến là các điểm tuyến huyện miền Tây: là những điểm trung chuyển của dòng sông Lam, trong có Hưng Nguyên và Nam Đàn là 2 huyện cận Vinh. Men theo dòng Lam Giang là con đường du lịch sinh thái rộng gần 10m. Từ đây mỗi khi về thăm quê Bác ở Kim Liêm - Nam Đàn, du khách sẽ có dịp đi dọc theo đê 42 tham quan các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh ở Hưng Nguyên. Về xã Hưng Khánh, du khách sẽ được tham quan đền Vua Lê. Về Nam Đàn có quê hương Bác Hồ, Khu Lưu niệm Phan Bội Châu... và là một trong những nôi sản sinh ra điệu ví, câu hò của xứ Nghệ...

Điểm trung tâm thành phố Vinh: Hiện UBND TP đã và đang xúc tiến khẩn trương quy hoạch ven sông. Toàn bộ dải đất dọc bờ sông đã được san ủi, lấp đất, giải phóng mặt bằng. Các dự án tôn tạo, xây mới như Dự án bảo tồn tôn tạo và phát huy giá trị khu ngã ba Bến Thủy với các hạng mục như phục hồi cột đèn lịch sử - di tích thời chống Pháp; Xây mới tượng đài - biểu tượng cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930; Dự án Khu du lịch đường ven sông Lam; Khảo sát lại, lập chi tiết tuyến du lịch ven sông Lam đường sông và đường bộ,…

Từ đó, dự án bên dòng sông Lam luôn có sẵn lợi thế tiên phong, như: không gian thoáng đãng; yên bình; xanh mát và tầm nhìn panaroma mênh mông rộng lớn. Các nhà quản lý đô thị TP Vinh cũng đang đẩy nhanh tiến độ dự án Quy hoạch đô thị ven sông quy mô lớn với sự tham gia hợp tác của nhiều đối tác. Nhiều nhà bất động sản đã tìm mọi cách "dắt lưng" những quỹ đất ven sông Lam để đón đầu xu thế cho kế hoạch dài hơi trong nhiều năm tới. Trong đó phải kể đến một số doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư chuỗi nhà hàng ăn uống - du thuyền kết hợp với trình diễn dân ca ví - giặm như Nhà hàng du thuyền Hải Châu; Nhà hàng Nga Sơn…

Việc phân tích đặc điểm các địa phương từ các nhánh sông Lam nhìn từ đô thị Vinh phần nào gợi mở về phương hướng phát triển, cải tạo chức năng của các vùng đất ven sông, để chúng phát triển phù hợp hơn với tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương mà sông Lam chảy qua. Bên cạnh đó, chức năng của các vùng đất ven sông nằm trên các nhánh sông đã phân tích sẽ tác động ngược trở lại cho bài toán quy hoạch vùng đất ven sông Lam ở TP. Vinh. Nhờ sự ràng buộc cần thiết về chức năng trong hệ thống phát triển không gian tam giác kinh tế sông Lam đó, giúp chúng ta xác định được rõ ràng hơn vùng đất ven sông Lam cần những chức năng gì, bố trí ở đâu là phù hợp và thuận tiện. Làm sao để quy hoạch vùng đất ven sông không những thỏa mãn nhu cầu sử dụng của thành phố mà còn là một mắt xích không thể thiếu trong sự phát triển tổng thể của hệ thống không gian tam giác kinh tế sông Lam.

Tuy nhiên không chỉ ở phát triển kinh tế, du lịch - dịch vụ, mà còn rất nhiều vấn đề xung quanh cần được xem xét và quan tâm. Cần có những nghiên cứu đề xuất với bộ, ban ngành TW, tỉnh nhà về những cơ chế, chính sách phù hợp để kết nối các vùng kinh tế ven sông Lam và TP. Vinh nói riêng nhằm huy động cao nhất các nguồn lực; cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh; tranh thủ có hiệu quả sự hợp tác, hỗ trợ của cộng đồng các nhà tài trợ, nhà đầu tư trong và ngoài nước. Về mặt khoa học, cần có đề án nghiên cứu KHXH&NV, làm cơ sở lý luận cho công tác quy hoạch và phát triển như: sinh kế bền vững cho người dân sống lưu vực ven sông Lam; vấn đề về môi trường sinh thái, môi trường xã hội; vấn đề giáo dục cho con em cư dân sinh sống ven sông, hệ thống giao thông... Hy vọng cùng với sự quyết tâm đồng bộ của các cấp chính quyền, các nhà đầu tư, một bộ mặt mới vùng tam giác ven sông Lam sẽ hiện diện đầy đủ và TP. Vinh xứng đáng là đô thị ven sông không hề thua kém với các TP khác trong và người nước, góp phần cù

Trần Thị Thủy

 

Miền Tây Nghệ An là nơi có nhiều thắng cảnh tự nhiên đẹp, vừa là địa bàn sinh sống từ lâu đời của các dân tộc thiểu số với những nền văn hóa đa dạng, độc đáo. Trong những năm gần đây tỉnh Nghệ An đã có chủ trương phát triển loại hình du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa ở miền Tây Nghệ An. Để đáp ứng nhu cầu lao động phục vụ phát triển loại hình du lịch này, một bộ phận cộng đồng miền Tây Nghệ An đã được tập huấn về du lịch cộng đồng thông qua các chương trình, dự án khác nhau. Tuy nhiên công tác đào tạo mới chỉ dừng lại ở những khóa đào tạo ngắn hạn và những đợt tham quan học hỏi kinh nghiệm, hơn nữa số lượng người dân tham gia mới chỉ là một bộ phận rất nhỏ.

1. Đặt vấn đề

Miền Tây Nghệ An là vùng có quỹ đất rộng, rừng tự nhiên lớn nhất Việt Nam rất giàu tiềm năng du lịch. Nổi bật phải kể đến Vườn quốc gia Pù Mát với diện tích hơn 91.000 ha và hai Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống và Pù Hoạt. Đây là nơi có hệ động, thực vật phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều loài động vật đã được ghi vào sách đỏ Việt Nam hiện đang được bảo vệ tốt. Ngoài ra, nằm trên địa hình nhiều dãy núi đá vôi, kết nối nhau có đỉnh cao trên 2.700m, do vậy miền Tây Nghệ An có nhiều hang động, thác nước đẹp hấp dẫn khách du lịch như thác Khe Kèm ở Con Cuông; thác Xao Va, quần thể Thác 7 tầng ở Quế Phong…Với địa bàn chủ yếu là đồi núi và trung du, miền Tây Nghệ An là nơi có nhiều thắng cảnh đẹp nổi tiếng như hang Thẩm Ồm, hang Bua; với những con sông lớn như: sông Hiếu, sông Cả, sông Con… cùng các hồ thủy điện đã tạo nên những bức tranh sơn thủy nên thơ.

Ngoài những tiềm năng du lịch tự nhiên, miền Tây Nghệ An là địa bàn sinh sống từ lâu đời của cộng đồng các dân tộc thiểu số như Thái, Thổ, Mông, Khơ mú, Ơ đu... Trong quá trình sinh sống, các dân tộc đã chinh phục, cải tạo tự nhiên cùng nhau dựng bản, lập mường tạo dựng nên những vùng đất đai trù phú. Từ đó, hình thành nên những đặc trưng văn hoá mang đậm bản sắc tộc người. Nhận thấy tiềm năng du lịch từ các tài nguyên du lịch tự nhiên cũng như tài nguyên du lịch nhân văn, trong những năm gần đây tỉnh Nghệ An đã có chủ trương phát triển loại hình du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa ở các huyện miền Tây Nghệ An.

Qua thời gian thực hiện du lịch cộng đồng ở miền Tây Nghệ An đã có những khởi sắc, tuy nhiên những kết quả phát triển du lịch cộng đồng ở đây còn rất khiêm tốn, mờ nhạt, số lượng khách đến chưa nhiều, doanh thu còn thấp, thời gian lưu trú không dài. Nguyên nhân của thực trạng này có thể kể tới như sản phẩm đơn điệu, dịch vụ thấp kém, quảng bá chưa tốt... nhưng nguyên nhân đầu tiên phải kể tới đó là sự non yếu của nguồn nhân lực. Từ đây cũng đặt ra một vấn đề rất mấu chốt cần quan tâm là yếu tố năng lực của cộng đồng đối với loại hình du lịch này. Để đáp ứng nhu cầu phát triển của du lịch, thời gian qua ở một số huyện miền Tây Nghệ An đã có những lớp tập huấn, những đợt đi tham quan học hỏi mô hình cho người dân địa phương. Mặc dù đã có một số tín hiệu đáng mừng như các nhà quản lý bước đầu đã được tiếp cận với du lịch cộng đồng, người dân một số địa phương đã nâng cao nhận thức và tập huấn tay nghề nhưng đây mới chỉ là một bộ phận rất nhỏ. Vấn đề đào tạo, nâng cao kiến thức, kĩ năng làm du lịch cộng đồng vẫn là một trong những vấn đề tiên quyết khi triển khai các mô hình du lịch cộng đồng ở các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An.

2. Hiện trạng đào tạo, nâng cao kiến thức, kĩ năng du lịch cộng đồng ở miền Tây Nghệ An

2.1. Về các hình thức đào tạo

Cho đến nay hoạt động đào tạo, nâng cao kiến thức, kĩ năng du lịch cộng đồng ở miền Tây Nghệ An đã được tiến hành dưới 2 hình thức là đào tạo tại chỗ thông qua các lớp tập huấn và thông qua hoạt động tham quan, học hỏi kinh nghiệm tại các mô hình.

Tháng 6/2011, Vườn Quốc gia Pù Mát đã ký Thỏa thuận với Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) Việt Nam về vai trò và nhiệm vụ của đối tác thực hiện dự án "Xây dựng mô hình du lịch cộng đồng tuyến Bồng Khê - Yên Khê - Lục Dạ - Môn Sơn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An". Bên cạnh các kết quả như xây dựng được tuyến du lịch cộng đồng tại các xã Bồng Khê - Yên Khê - Lục Dạ - Môn Sơn, phát huy những nét văn hóa đặc trưng của đồng bào Thái và tạo điều kiện phát triển sinh kế cho người dân vùng đệm thông qua sự tham gia của họ vào các hoạt động du lịch tại cộng đồng, xây dựng và hoàn thiện quy chế phối kết hợp giữa các bên tham gia gồm Vườn quốc gia Pù Mát (Vùng lõi 1 của Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An) - các công ty lữ hành - chính quyền địa phương (huyện, xã) và cộng đồng các thôn bản thì dự án đã đạt được những kết quả trong công tác nâng cao năng lực cho cộng đồng người Thái trong việc phát triển dịch vụ du lịch cộng đồng bằng các hình thức như sau:

Sau khi thành lập được các tổ/nhóm nòng cốt thông qua ban quản lý các thôn/bản, dự án đã triển khai hoạt động tham quan học hỏi các mô hình điểm cho 30 người, gồm: 01 cán bộ phòng văn hóa huyện Con Cuông, 04 cán bộ phụ trách văn hóa của 4 xã Bồng Khê, Yên Khê, Lục Dạ, Môn Sơn, 08 cán bộ BQL thôn/bản của 04 bản tham gia mô hình du lịch cộng đồng, 02 cán bộ dự án chịu trách nhiệm về chuyến đi tham quan học hỏi mô hình và 15 người thuộc 04 bản tham gia dự án tại Mai Châu, Hòa Bình trong thời gian 05 ngày.

Bên cạnh hoạt động tham quan, học hỏi kinh nghiệm, dự án đã tổ chức tập huấn cho nhóm nòng cốt và người dân địa phương trong việc quản lý, kinh doanh dịch vụ du lịch và hướng du khách bằng cách mời các chuyên gia cùng với người điều phối tham gia hỗ trợ lớp tập huấn. Thành phần tham gia tập huấn gồm tổng số 40 người, được chia thành 02 lớp, gồm: 04 cán bộ phụ trách văn hóa 04 xã Bồng Khê, Yên Khê, Lục Dạ, Môn Sơn, 08 người của BQL thôn/bản của 04 bản và 28 người thuộc 04 thôn/bản tham gia tuyến du lịch cộng đồng (nhóm nòng cốt) diễn ra trong khoảng thời gian: 06 ngày (mỗi lớp 03 ngày) tại nhà cộng đồng thôn bản.

Nhằm nâng cao năng lực, kỹ năng cho người dân, dự án còn triển khai các hoạt động khác như xây dựng bản quy ước về các hoạt động du lịch cộng đồng với các nội dung chủ yếu sau: mô tả các thành viên tham gia và chức năng, nhiệm vụ của các thành viên, các nhóm, mô tả các dịch vụ du lịch được cung cấp tại địa phương, trách nhiệm và quyền hạn của mỗi bên cùng với các quy định về khen thưởng và xử phạt. Bên cạnh đó, để bà con có thể cung cấp các dịch vụ du lịch làng nghề, dự án còn mở 01 lớp tập huấn nghề dệt thổ cẩm và 01 lớp đan lát với 14 hộ gia đình tham gia trong khoảng thời gian 06 ngày. Ngoài ra dự án còn tiến hành các hoạt động nhằm hỗ trợ câu lạc bộ thơ, dân ca, nhạc cụ dân tộc Thái để nâng cao năng lực, kiến thức, kỹ năng cho người dân trong dịch vụ biểu diễn các loại hình nghệ thuật truyền thống. Đây chính là lần đầu tiên người dân miền Tây Nghệ An được tham gia những hoạt động đào tạo, nâng cao kiến thức, kĩ năng du lịch cộng đồng.

Bắt đầu từ tháng 10/2015 - 2018, tổ chức JICA hỗ trợ Nghệ An trong việc phát triển du lịch gắn với đa dạng hóa sinh kế nông lâm ngư nghiệp Nghệ An. Tại miền Tây Nghệ An, tổ chức JICA hỗ trợ Nghệ An trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại bản Nưa, xã Yên Khê, huyện Con Cuông. Bên cạnh các hoạt động như tổ chức Hội thảo đánh giá tiềm năng phát triển một số sản phẩm địa phương phục vụ du lịch cộng đồng; triển khai thành lập các nhóm quản lý du lịch cộng đồng; điều tra khảo sát vị trí lắp đặt xây dựng nhà vệ sinh công cộng, lựa chọn hộ gia đình để đầu tư xây dựng nhà vệ sinh công cộng và nhà tắm, tổ chức JICA  đã rất chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực.

Tổ chức JICA đã tổ chức 01 lớp học về lý thuyết du lịch cộng đồng do PGS. TS Phạm Hồng Long (Trưởng khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) đảm nhận vai trò tập huấn viên và 01 lớp tập huấn về ẩm thực do các chuyên gia người Nhật trực tiếp hướng dẫn. Lớp học bao gồm 20 hộ dân chưa kể khách mời là cán bộ văn hóa xã và huyện, được tổ chức tại hộ gia đình chị Lô Thị Hoa, tại bản Nưa, xã Yên Khê. Thông qua chương trình hỗ trợ, tổ chức JICA cũng đã tổ chức các hoạt động tham quan học hỏi kinh nghiệm tại Nhật Bản cho điều phối viên, cán bộ văn hóa huyện, cán bộ quản lý và chị Lô Thị Hoa - trưởng nhóm home stay tại bản Nưa.

Tháng 6 năm 2017, Dự án "Hỗ trợ ứng phó biến đổi khí hậu ở rừng và đồng bằng Việt Nam" (gọi tắt là Dự án Rừng và đồng bằng Việt Nam) do Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ cũng đã có những hoạt động hỗ trợ bà con bản Xiềng, xã Môn Sơn làm du lịch cộng đồng dựa vào cảnh quan sinh thái tự nhiên kết hợp với văn hóa bản địa. Nằm trong khuôn khổ của dự án, 01 lớp tập huấn về du lịch cộng đồng và 01 lớp tập huấn về kỹ năng điều khiển phương tiện vận chuyển khách đã được tiến hành tại bản với số lượng mỗi lớp gồm 20 thành viên tham dự, trong khoảng thời gian 02 ngày. 

Gần đây nhất, Dự án Phát triển du lịch cộng đồng gắn với xóa đói giảm nghèo ở miền Tây Nghệ An do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An chủ trì thực hiện đã chọn bản Khe Rạn (xã Bồng Khê), huyện Con Cuông và bản Na Xái, xã Hạnh Dịch huyện Quế Phong để tiến hành xây dựng mô hình du lịch cộng đồng. Bên cạnh các hoạt động khác thì dự án đã tiến hành tập huấn, nâng cao năng lực làm du lịch cho bà con người Thái ở hai bản này. Vào tháng 3 năm 2018, dự án đã tổ chức 2 lớp đào tạo tập huấn về hoạt động du lịch cộng đồng. Số lượng mỗi lớp là 20 người, gồm Ban điều hành tự quản, cán bộ xã, bản và các hộ dân. Lớp tập huấn diễn ra ở hội trường bản Khe Rạn, xã Bồng Khê, huyện Con Cuông và nhà cộng đồng bản Na Sái, xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong.

2.2. Về nội dung, phương pháp và thành phần tham gia

Thông qua hai hình thức đào tạo như trên, các hoạt động đào tạo nguồn nhân lực tại miền Tây Nghệ An đã hướng đến việc cung cấp cho người dân địa phương những kiến thức cơ bản về du lịch cộng đồng như:

Du lịch, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng;

Tài nguyên du lịch và việc phát huy, bảo tồn, giữ gìn tài nguyên du lịch;

Tâm lý du khách du lịch và kỹ năng đón tiếp khách du lịch, kinh doanh du lịch và xúc tiến, quảng bá du lịch...

Các quy định liên quan đến hoạt động lưu trú của du khách: phòng cháy chữa cháy, kiểm tra khách du lịch và những quy định cụ thể đối với khách du lịch nhằm tạo điều kiện cho người dân nắm và thực hiện tốt các quy định theo pháp luật.

Kỹ năng hướng dẫn du lịch; Kỹ năng giao tiếp đa văn hóa, biểu diễn văn nghệ; Văn hóa ẩm thực và nghệ thuật trưng bày món ăn; Vệ sinh an toàn thực phẩm.

Các lớp tập huấn trên địa bàn đã đạt được mục tiêu đề ra nhờ việc kết hợp giữa dạy lý thuyết, thực hành và thảo luận nhóm; xen lẫn giữa việc học lý thuyết là các hoạt động thực hành nấu ăn, đón tiếp khách và hướng dẫn du lịch. Các hoạt động thực hành này được tiến hành theo từng nhóm chuyên môn và cuối cùng là những nhận xét, góp ý từ các chuyên gia và các thành viên tham dự. Cách thức tập huấn như vậy đã tạo cho học viên sự hứng khởi, nhiệt tình cũng như phát huy tính sáng tạo, tri thức bản địa của bà con. Bằng cách đan xen giữa việc dạy lý thuyết là các phần thảo luận và thực hành, kết hợp giữa chuyên gia và giáo viên địa phương, các lớp tập huấn diễn ra sôi nổi, bà con tham dự nhiệt tình, đông đủ và đạt được hiểu quả cao. Bà con không nghe một cách thụ động về lý thuyết mà đã tham gia thảo luận sôi nổi thông qua các hoạt động nhóm.

Để nâng cao chất lượng cho các đối tượng khác nhau, thành phần tham gia các hoạt động đào tạo, nâng cao kiến thức, đào tạo kỹ năng về du lịch cộng đồng tại miền Tây Nghệ An đã thu hút các thành phần tham gia khác nhau bao gồm cán bộ huyện, cán bộ cơ sở xã, bản; người dân trực tiếp làm du lịch cộng đồng và các thành phần khác như doanh nghiệp du lịch trên địa bàn hoặc các tổ chức du lịch trên địa bàn.

2.3. Kết quả đào tạo

Cho đến nay, công tác tập huấn về du lịch cộng đồng ở miền Tây Nghệ An đã được được tiến hành ở 2 huyện là Con Cuông và Quế Phong. Tại huyện Con Cuông, bà con đã được tham dự 4 chương trình tập huấn khác nhau, còn ở huyện Quế Phong mới chỉ có 1 lớp tập huấn. Thông qua các lớp tập huấn này, bà con đã được trang bị phần nào những kiến thức cơ bản về du lịch cộng đồng. Cũng qua các lớp tập huấn bà con bày tỏ sự ủng hộ, quan tâm cũng như nguyện vọng được tham gia các hoạt động du lịch cộng đồng.

Theo kết quả đánh giá sau tập huấn của Dự án "Xây dựng mô hình du lịch cộng đồng tuyến Bồng Khê - Yên Khê - Lục Dạ - Môn Sơn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An thì 100% học viên tham gia tập huấn được trang bị đầy đủ các kỹ năng phù hợp, có đủ khả năng cung cấp dịch vụ đạt chất lượng yêu cầu; các thành viên tham gia nhóm quản lý nắm được vai trò, trách nhiệm và có khả năng giải quyết các vấn đề phát sinh; 100% người dân tham gia tập huấn nắm được những kiến thức cơ bản về đan lát, dệt và thêu những hình ảnh, cảnh vật gắn với cuộc sống của họ; một số sản phẩm được sáng tác và sản xuất gắn kết với những giá trị của Khu dự trữ sinh quyển để bán cho du khách. Về kết quả tham quan học hỏi kinh nghiệm, 100% cán bộ tham quan học hỏi mô hình được trang bị những kiến thức cơ bản về quy trình đón tiếp và phục vụ khách, kỹ năng hướng dẫn, kỹ năng phục vụ khách tại gia, kỹ năng phục vụ ăn uống…  thông qua việc trải nghiệm thực tế; mối quan hệ đoàn kết, hợp tác giữa các thành viên của nhóm nòng cốt ở các thôn/bản được tăng cường và đã kết nối được ít nhất 01 nhóm cộng đồng cùng làm du lịch nhằm chia sẻ, trao đổi kiến thức, kinh nghiệm và hỗ trợ nhau trong quá trình phát triển về sau.

Kết quả khảo sát sau một khóa tập huấn du lịch cộng đồng tại bản Xiềng, xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An cho thấy tính hiệu quả của những đợt tập huấn ngắn hạn tại địa phương. Có 100% người dân được tập huấn cho biết họ đã có những hiểu biết ở mức độ cơ bản về du lịch cộng đồng, gần 20% học viên cho biết họ đã nắm được thành thạo, 99% học viên cho biết họ hài lòng ở mức độ cao nhất về kiến thức chuyên môn của tập huấn viên, về các phương pháp mà tập huấn viên đã sử dụng cũng như thái độ của tập huấn viên, 100% học viên cho biết họ hoàn toàn có thể áp dụng những kiến thức thông qua thực tiễn(1).

Qua các lớp tập huấn, người dân địa phương đã được làm quen với du lịch cộng đồng, tại một số địa bàn người dân đã mạnh dạn đầu tư làm du lịch cộng đồng và bước đầu đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Lượng khách du lịch đến miền Tây Nghệ An thời gian qua có sự gia tăng nhanh chóng, theo số liệu của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Nghệ An năm 2014 lượng khách đến các huyện miền núi Nghệ An khoảng 400.000 lượt. Trong những năm gần đây, huyện Con Cuông là huyện thu hút lượng khách du lịch đông nhất. Trong năm 2017, Con Cuông đón 31.800 lượt khách, trong đó khách quốc tế có 720 lượt, tăng gấp 2 lần so với năm 2016, doanh thu đạt 8,5 tỷ đồng(2).Chị Lô Thị Hoa, chủ hộ homestay Hoa Thụ ở bản Nưa cho biết năm 2011, gia đình chị mới chỉ đón 24 khách du lịch đến tham quan và sử dụng các dịch vụ ăn uống, lưu trú nhưng 5 năm sau, năm 2016 đã có 960 lượt khách đến tham quan và sử dụng các dịch vụ lưu trú, ăn uống, doanh thu từ các dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 107 triệu và đến hết quý II năm 2017 lượng khách đã đạt 1.130 khách và doanh thu đạt 137 triệu đồng. Đây là những con số còn khiêm tốn, tuy vậy, những năm qua hoạt động du lịch cộng đồng đã mang lại ít nhiều lợi ích cho cộng đồng địa phương.

Tuy nhiên, bộ phận được tập huấn là một bộ phận người dân rất nhỏ, công tác tập huấn mới chỉ được tiến hành ở 02 huyện, nội dung đào tạo mới chỉ dừng lại ở những kiến thức cơ bản dành cho tất cả các đối tượng, hình thức đào tạo mới chỉ dừng lại ở tập huấn và tham quan mô hình. Do vậy lực lượng lao động địa phương vẫn còn rất hạn chế cả về số lượng và chất lượng, phần lớn họ chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc do chưa được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, chưa có thói quen và tác phong nghề nghiệp, hơn nữa trình độ ngoại ngữ vẫn còn nhiều hạn chế. Vấn đề đào tạo, nâng cao kiến thức, kĩ năng du lịch cộng đồng ở miền Tây Nghệ An vẫn là một khâu trọng yếu để phát triển du lịch cộng đồng ở miền Tây Nghệ An.

3. Một số đề xuất nhằm đổi mới công tác đào tạo, nâng cao kiến thức, kĩ năng du lịch cộng đồng ở miền Tây Nghệ An

3.1. Về mục tiêu: Bên cạnh mục tiêu trang bị kiến thức, rèn tập kĩ năng về du lịch cộng đồng cho người dân, các hoạt động đào tạo cần đặc biệt coi trọng mục tiêu truyền cảm hứng và tạo sự tự tin cho người dân, để họ mạnh dạn đầu tư và làm du lịch cộng đồng.

Đối với các lớp tập huấn, nhiệm vụ đầu tiên của các tập huấn viên là phải tạo ra được niềm hứng khởi, sự tự tin cũng như lòng tự hào về quê hương, làng bản cho người dân địa phương. Nếu không có sự tự tin, lòng tự hào và niềm hứng khởi bà con sẽ chỉ tham gia tập huấn một cách bắt buộc và sau tập huấn họ lại trở về với những công việc trước đó mà không mảy may quan tâm đến du lịch cộng đồng nữa. Do vậy, tập huấn viên phải là người vừa gần gũi, vừa hiểu biết văn hóa địa phương, hiểu biết về tài nguyên du lịch tại địa phương và chính tập huấn viên phải là người truyền cảm hứng mạnh mẽ cho người dân địa phương để họ tự tin, mạnh dạn tham gia du lịch cộng đồng.

3.2. Về nội dung: Để nâng cao chất lượng nguồn lao động, đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch cộng đồng thì nội dung đào tạo, nâng cao kiến thức, rèn luyện kỹ năng bên cạnh cung cấp những kiến thức cơ bản về loại hình du lịch cộng đồng là nội dung đào tạo dành cho tất cả các đối tượng thì cần có những nội dung khác nhau dành cho từng đối tượng. Đối với cán bộ quản lý phải được đào tạo thêm những kiến thức về quản lý, điều hành, tổ chức, quảng bá, đầu tư du lịch cộng đồng. Người dân tham gia hoạt động du lịch phải được đào tạo, bồi dưỡng thêm những nội dung liên quan đến công việc trực tiếp của họ. Ví dụ, những người dân tham gia cung cấp dịch vụ lưu trú phải được cung cấp thêm những nội dung về bài trí món ăn, an toàn thực phẩm, những người dân tham gia cung cấp dịch vụ hướng dẫn phải được cung cấp thêm những kiến thức về phương pháp thuyết minh, kỹ năng hướng dẫn du lịch, nhân viên an ninh phải được cung cấp thêm các nội dung như quy định về lưu trú, bảo vệ môi trường, an toàn du lịch...

3.3. Về hình thức đào tạo: công tác đào tạo, nâng cao kiến thức, kĩ năng du lịch cộng đồng ở miền Tây Nghệ An cần tiến hành theo các hình thức đào tạo khác nhau để nâng cao năng lực cho người dân. Ngoài các hình thức như tham quan mô hình, tập huấn tại chỗ cần kết hợp các hình thức khác như đào tạo kết hợp thông qua việc gửi con em của người dân địa phương tới các trường học có đào tạo về du lịch tại các tỉnh hoặc vùng lân cận. Sau khi kết thúc khoá học các em có thể về địa phương để làm việc và phổ biến, truyền đạt cho những người khác trong tổ hợp. Ban điều hành có thể kết hợp ký kết các hợp đồng với cơ sở đào tạo theo thực tế phục vụ du lịch tại địa phương hoặc tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn cho người dân theo đặc điểm, yêu cầu của từng bộ phận.

 3.4. Về phương pháp: Đối với người dân các huyện miền núi Nghệ An, cần coi trọng phương pháp trực quan, cầm tay chỉ việc hoặc trải nghiệm thực tế, đặc biệt trong thời gian tới cần tăng cường tổ chức các hoạt động tham quan, học tập tại các mô hình du lịch cộng đồng trong và ngoài tỉnh.

 

Chú thích

(1). Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD), Báo cáo Kết quả tập huấn Du lịch cộng đồng tại bản Xiềng, xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, Nghệ An, năm 2017.

(2). Trung tâm xúc tiến du lịch Nghệ An, Bản tin du lịch số 12

Th.S Quốc Huy

Đình Đạo Ngạn được nhân dân xã Cát Ngạn xây dựng tại thôn Đạo Ngạn để làm nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh cho nhân dân trong xã. Đình thờ Thành Hoàng xã Cát Ngạn Nguyễn Thế Bính. Đình được xây dựng vào đầu thời Nguyễn trên đỉnh Triều Sơn thuộc trung tâm thôn Đạo Ngạn thời bấy giờ, nhân dân lấy tên của địa danh đặt tên đền.

Đình Đạo Ngạn cách thành phố Vinh 46km (theo tuyến quốc lộ 46 Vinh - Thanh Chương). Từ trung tâm thành phố Vinh đến đình Đạo Ngạn du khách có thể đi theo tuyến đường bộ và đường thủy.

Thành Hoàng Nguyễn Thế Bính sinh năm 1746 tại thôn Thổ Sơn, xã Cát Ngạn, huyện Thanh Chương, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là xã Cát Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An). Ông tên húy là Truyền, sau đổi thành Thế Bính, tự Viết Tiến, hiệu Thanh Cát tiên sinh.

Nguyễn Thế Bính là người thông minh, học giỏi, ông thi đậu hương cống, thi hội đậu tiến sĩ xuất thân. Tên Nguyễn Thế Bính được khắc vào bia số 80 tại Văn miếu Quốc Tử Giám - Hà Nội "Nguyễn Thế Bính người xã Cát Ngạn, nay là xã Cát Văn, huyện Thanh Chương, 30 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ, khoa Ất Mùi, Cảnh Hưng 36 (1773), đời Lê Hiển Tông"(1).

Sau khi đậu tiến sỹ, Nguyễn Thế Bính được triều đình bổ nhiệm làm quan và lần lượt trải qua các chức vụ quan trọng, chức quan cuối cùng ông đảm nhận là Hàn lâm Viện Thị Chế, Đốc đồng xứ Sơn Nam kiêm Quốc tử toàn tu, hiệu Thanh Cát tiên sinh(2).

Trong thời gian làm quan, Tiến sĩ Nguyễn Thế Bính đã đi vào tiềm thức của người dân xã Cát Ngạn và nhân dân trong vùng là vị quan thanh liêm, chính trực, luôn quan tâm, chia sẻ với dân nghèo ở những nơi ông làm việc.

Năm Bính Ngọ (1786), đời vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 47, ông bị cừu địch giết hại. Sau khi ông mất, để tri ân vị quan là người con của quê hương đã có nhiều đóng góp công lao cho đất nước, nhân dân xã Cát Ngạn đã lập đền thờ để thờ ông, lấy vị hiệu "Ngọc Sơn Thanh Cát cương nghị chi thần". Đến năm 1903, niên hiệu Thành Thái thứ 15, ông được ban sắc phong "Dực bảo Trung hưng Linh phù tôn thần". Nhân dân xã Cát Ngạn đã tôn ông làm Thành Hoàng của xã. Vị thần che chở, ban phúc lộc cho dân làng.

Đình Đạo Ngạn khi mới dựng chủ yếu bằng tranh, tre, nứa, mét do bà con trong xã khai thác dựng đền. Đến năm Quý Sửu (1853) đình được trùng tu lại và tôn tạo thêm với 2 tòa kiến trúc bao gồm: Bái đình 3 gian 2 chái và hậu đình 1 gian 2 chái, tất cả được làm bằng gỗ lim, lợp ngói âm dương.

Hiện nay, đình Đạo Ngạn được bố cục mặt bằng theo kiểu chữ nhất (–), với tổng diện tích khuôn viên 2.446 m2. Nhìn từ ngoài vào trong: Cổng đình, sân đình, bái đình, bia dẫn tích, sân khấu, sân thể thao và vườn di tích.

- Cổng đình được xây theo kiểu 2 tầng 8 mái, kích thước cao 4,75 m; rộng 4,4 m. Lối vào cổng hình vòm cuốn, kích thước cao 2,8 m; rộng 3,6 m trên mái dán ngói vảy. Qua cổng là đường vào di tích dài 37,5 m; rộng 5,75 m, nền đường láng xi măng, cát.

- Tòa Đại đình kiến trúc thời Nguyễn gồm 3 gian 2 hồi văn với diện tích xây dựng 148,8m2, mái đình lợp ngói âm dương. Nền nhà láng vữa tam hợp, độ cao từ nền đến nóc là 6 m, xung quanh xây tường bao trổ 3 cửa. Mái đình được thiết kế theo kiểu 4 mái, gồm 2 mái chính và 2 mái hồi. Mái chính có kích thước chiều dài 14m; chiều rộng 6,2m. Mái hồi có kích thước chiều dài 9,6m; chiều rộng 3,9m. Để tạo nên mặt phẳng của mái đình, các nghệ nhân đã kết hợp với các cấu kiện gỗ như thượng lương, hoành, rui.

Đại đình có 6 bộ vì được thiết kế theo hai kiểu: Bộ vì số 1 và số 6 được thiết kế kiểu "thượng giá chiêng chồng rường, hạ kẻ chuyền", vì nóc thiết kế theo kiểu "giá chiêng chồng rường". Trên đỉnh là xà nóc - thượng lương. Xà tỳ lực lên một đấu hình thuyền. Đấu tỳ lực lên một con rường ngắn, mập, cong lên phía trên (các nghệ nhân gọi là bụng lợn). Hai đầu rường bụng lợn gối lên hai trụ bồng qua hai đấu hình tròn. Hai trụ bồng đứng chân trên cấn đầu qua hai đấu hình vuông. Các rường cụt một đầu ăn mộng vào thân trụ bồng, đầu kia đỡ các hoành mái. Tất cả tỳ lực lên quá giang, quá giang ăn mộng vào hai đầu cột quân. Trên các đầu rường được các nghệ nhân chạm trổ trang trí hình đầu rồng cách điệu, các đấu tròn được tạo hình thành những bông sen mãn khai với một lớp cánh bên ngoài mềm mại. Tất cả tôn lên vẻ đẹp linh thiêng của di tích. Đầu dư được chạm trổ thành hình đầu rồng với kỹ thuật bong lanh làm nổi bật từng chi tiết của đầu rồng như mũi hếch, mắt lồi, trán dô, bờm dựng ngược, răng nhọn, miệng ngậm chữ thọ, râu vuốt ngược sang hai bên, tạo vẻ uy nghi, thiêng liêng của rồng.

Đình Đạo Ngạn là công trình kiến trúc cổ, kỹ thuật lắp ghép mộng truyền thống của người Việt, đã tồn tại hàng trăm năm và trở thành biểu tượng thiêng liêng, niềm tự hào của nhân dân xã Cát Ngạn.

Đình Đạo Ngạn gắn với tục thờ Thành Hoàng của nhân dân xã Cát Ngạn. Hàng năm nhân dân xã Cát Ngạn và trong vùng tổ chức các hoạt động văn hóa gắn với di tích. Hoạt động lớn nhất là lễ hội đình Đạo Ngạn được tổ chức vào dịp tết Đoan Ngọ diễn ra từ ngày 04 đến ngày 05 tháng năm âm lịch hàng năm. Lễ hội đình Đạo Ngạn, tết Đoan Ngọ gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ được tổ chức rất long trọng với các nghi thức: Lễ yết cáo, lễ đại tế, lễ tạ. Đây là hoạt động văn hóa tâm linh thể hiện lòng tri ân với vị Thành Hoàng làng. Phần hội diễn ra trong 2 ngày 04 và 05 tháng năm, là dịp nhân dân trong vùng tổ chức các trò chơi dân gian, truyền thống như: đánh đu, đấu vật, cờ thẻ, cờ người, hát nhà trò, …

Cùng với việc tổ chức các sinh hoạt văn hóa tâm linh lễ hội, đình Đạo Ngạn còn gắn với những sự kiện lịch sử trọng đại của địa phương, của tỉnh: Đình là địa điểm hoạt động của xã Bộ Nông, tổng Cát Ngạn năm 1930(3). Năm 1931 thực dân Pháp đã dùng đình để đóng đồn binh, cũng tại đây lính Pháp đã tiến hành bắt các chiến sĩ cộng sản sau đó đưa đi xử bắn(4).

Năm 1946, đình là địa điểm bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I của nhân dân trong vùng. Tháng 4 năm 1949 Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ VI đã tổ chức tại đình Đạo Ngạn, các đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Chu Văn Biên đại diện Liên khu ủy IV đã về dự và chỉ đạo Đại hội(5).

Với bề dày tồn tại hàng trăm năm, đình Đạo Ngạn còn lưu giữ gần như nguyên vẹn tòa Đại đình với kiến trúc thời Nguyễn được làm bằng gỗ quý, có giá trị về nhiều mặt: Lịch sử, văn hóa, khoa học, kiến trúc - thẩm mỹ. Tổng thể công trình tạo nên những đường nét tinh tế, sắc sảo nhờ bàn tay điêu luyện của các nghệ nhân thời bấy giờ. Đình Đạo Ngạn với các di tích lịch sử, văn hóa khác như: Đền Trúc, chùa Bụt, đền thờ và mộ Tiến sỹ Nguyễn Thế Bính đã trở thành một cụm di tích, địa chỉ văn hóa tâm linh, hấp dẫn đối với nhân dân trong vùng và du khách đến chiêm ngưỡng.

Để bảo tồn, phát huy di tích đình Đạo Ngạn trước mắt cũng như lâu dài, năm 2017, đình Đạo Ngạn được tỉnh Nghệ An xếp hạng Di tích Lịch sử cấp tỉnh.

 

Chú thích

(1). Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An (1975 - 1919), in lần thứ 2 có sửa chữa, bổ sung, NXB Nghệ An, 2005, trang 213.

(2). Lê Thị Thu Hương, 13 vị Tiến sĩ triều Lê của huyện Thanh Chương qua tư liệu Hán Nôm, bài đăng Tạp chí Khoa học - Công nghệ Nghệ An số 1/2017, trang 52.

(3). BCH Đảng bộ huyện Thanh Chương, Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Chương (1930 - 2010), NXB Chính trị Quốc Gia, 2010, trang 61.

(4). Sđd, trang 68.

(5). BCH Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An: Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, tập 2 (1930-1954), NXB Chính trị Quốc gia  HN, 1998, Tr 225. Bia dẫn tích ghi: Đình Đạo Ngạn, nơi tổ chức Đại hội lần thứ II, Đảng bộ tỉnh Nghệ An.

Tài liệu tham khảo

1. BCH Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An, Lịch sử Đảng bộ Nghệ An tập 1 (1930 - 1954), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998.

2. BCH Đảng bộ huyện Thanh Chương, Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Chương (1930 - 2010), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010.

3. Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký - quyển 1, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993.

4. Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919), NXB Nghệ An, 2000.

5. Phan Xuân Thành, Đình làng Nghệ An với lễ hội dân gian - tập 2, NXB Nghệ An, 2015.

6. Hippolyte le Breton, An Tĩnh cổ lục, NXB Nghệ An - Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Nghệ An, 2005.

7. Phan Huy Chú, Lược khảo khoa cử Việt Nam, NXB Thanh Tân, 1998.

8. Nội dung sắc phong, biển gỗ tại nhà thờ họ Nguyễn Thế.

9. Lê Thị Thu Hương, 13 vị tiến sĩ triều Lê của huyện Thanh Chương qua tư liệu Hán Nôm, bài đăng Tạp chí Khoa học Công nghệ Nghệ An, số 1 năm 2017.

10.  Hồ sơ xếp hạng Di tích Lịch sử cấp tỉnh: Đình Đạo Ngạn.

11. Chu Quang Trứ, Kiến trúc dân gian truyền thống, NXB Mỹ Thuật, Hà Nội, 2001.

12. Ninh Viết Giao, Tục thờ thần và thần tích Nghệ An, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2010.

* Hội thảo "Cải cách hành chính hướng đến cải thiện môi trường kinh doanh và thu hút đầu tư"

Sáng  ngày17/4, tỉnh Nghệ An phối hợp với Viện nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông IPS và Ban quản lý dự án RALG của cơ quan phát triển Bỉ tổ chức Hội thảo: Cải cách hành chính hướng đến cải thiện môi trường kinh doanh và thu hút đầu tư tại Nghệ An.

Sau khi phê duyệt đề án, cải thiện, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đến nay, điểm số PCI của Nghệ An đã có những bước cải thiện đáng kể. Từ vị trí 46 năm 2012 đã từng bước vươn lên đứng thứ 21 trong năm 2017. Báo cáo chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh PAPI những năm vừa qua cũng cho thấy vị trí xếp hạng của Nghệ An trong nhóm đạt điểm trung bình.

Các chuyên gia cho rằng: Chỉ số PCI và PAPI của Nghệ An dù không thấp nhưng cũng không cho thấy tốc độ đột phá nhiều trong cải cách hành chính. Những chỉ số trực tiếp thúc đẩy phát triển kinh tế cải thiện chậm. Tỉnh cần rà soát, xây dựng một số giải pháp thật sự đột phá để các chỉ số quan trọng như chi phí không chính thức, chi phí thời gian, tính minh bạch, tính năng động, thể chế pháp lý trong bộ chỉ số PCI phải đạt từ 7 điểm trở lên.

Đài PT-TH Nghệ An

* Nghệ An tổ chức buổi chia sẻ với chủ đề "Suy nghĩ về quyết định khởi nghiệp"

Sở Khoa học & Công nghệ Nghệ An vừa phối hợp với Tổ chức VAL Making và Trường Đại học Công nghiệp Vinh tổ chức buổi nói chuyện với chủ đề "Suy nghĩ về quyết định khởi nghiệp". Buổi chia sẻ đã thu hút hàng ngàn sinh viên của các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn.

Tại buổi nói chuyện, Tiến sĩ Võ Văn Thành Nghĩa, Cựu CEO Tập đoàn Thiên Long, đã chia sẻ những vấn đề thực tế mà sinh viên cần suy nghĩ về quyết định khởi nghiệp và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; hướng dẫn cách lập kế hoạch dự án khởi nghiệp. Tại đây, các sinh viên cũng đã có dịp trao đổi những nội dung xung quanh việc khởi nghiệp với Tiến sĩ Võ Văn Thành Nghĩa, cùng đại diện các sở, ngành, các trường, các hội và tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, các doanh nghiệp trên địa bàn.

Đây là hoạt động được tổ chức nhằm thúc đẩy và khơi dậy tinh thần đam mê khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong tầng lớp thanh niên và sinh viên trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

P.V

* Nghệ An: Khai mạc Ngày hội "Đường phố sách 2018"

Sáng 20-4, tại Quảng trường Hồ Chí Minh (TP. Vinh, Nghệ An), Sở Thông tin và Truyền thông Nghệ An phối hợp với hơn 20 đơn vị nhà xuất bản trong và ngoài tỉnh triển khai Ngày hội "Đường phố sách 2018".

Ngày hội "Đường phố sách 2018" diễn ra từ ngày 20 đến 22/4, quy tụ hàng nghìn đầu sách, bản sách của nhiều nhà xuất bản trên địa bàn như Nhà xuất bản Nghệ An, Nhà xuất bản Đại học Vinh… với các chủ đề phong phú, đa dạng và phù hợp với mọi lứa tuổi.

Ngày hội sách Việt Nam 21/4, trở thành ngày hội cộng đồng, một sự kiện văn hóa được mọi tầng lớp nhân dân, mọi lứa tuổi đón nhận, góp phần nâng cao dân trí, tạo thế và thực lực thực hiện thắng lợi mục tiêu "xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện".

Trước đó, nhân Ngày hội sách Việt Nam 21-4, Nhà xuất bản Nghệ An phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông đã trao tặng 2.400 đầu sách bao gồm: Sách giáo khoa, sách tham khảo,… cho hai ngôi trường: Trường Tiểu học Hương Tiến (xã Ngọc Lâm, Thanh Chương) và Trường Tiểu học Kỳ Sơn (Tân Kỳ).

H.A

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.