Nghệ An làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp

Thứ tư - 03/07/2024 23:26 0
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ (1946 - 1954), nhiệm vụ công tác tuyên huấn của tỉnh đã kiên trì, bền bỉ tuyên truyền giáo dục, làm cho cán bộ, nhân dân ngày càng thông suốt đường lối kháng chiến; đồng thời, phê phán những khuynh hướng lệch lạc, tư tưởng bi quan, dao động, ngại hy sinh, ngại kháng chiến lâu dài... tạo nên sức mạnh tổng hợp, sự đoàn kết nhất trí cao trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.
1. Tuyên truyền, động viên nhân dân thi đua yêu nước, giết giặc lập công; đưa cuộc kháng chiến bước sang giai đoạn mới (19/12/1946 - 1950)
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Nghệ An là vùng tự do và là hậu phương lớn của cả nước, đảm đương nhiều nhiệm vụ nặng nề, phức tạp. Một mặt, sẵn sàng chiến đấu, giữ vững hậu phương, mặt khác, phải tổ chức lực lượng trực tiếp chi viện cho chiến trường Bình - Trị - Thiên và các chiến trường ở phía Bắc như: Hà Nam Ninh, Hòa Bình, Biên giới, Việt Bắc, Tây Bắc, Trung Lào. Để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ, công tác tuyên truyền, cổ động lúc này tập trung vào việc đề cao ý chí quyết chiến, quyết thắng của dân tộc với tinh thần “thà hy sinh tất cả, chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.

https://file1.dangcongsan.vn/DATA/0/2019/05/ttt-20_07_27_226.jpg
Công tác tư tưởng chính trị đã góp phần khơi dậy, phát huy sức mạnh tổng hợp  của quân và dân ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 (Ảnh tư liệu)

Thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Nghệ An, mạng lưới tuyên truyền từ tỉnh xuống huyện đến các ban, ngành, đoàn thể đã tập trung giải thích, vận động nhân dân, công nhân lao động thấm nhuần mục đích, yêu cầu của công cuộc “phá hoại” để kháng chiến, nhằm đề phòng địch đổ bộ, khiến chúng không có chỗ ở đường đi... Đồng thời, huy động lực lượng hưởng ứng tham gia sơ tán các công sở, nhà máy, xí nghiệp, lập công binh xưởng mới, tháo dỡ đường sắt, nhà ga xe lửa, các cầu đường trọng yếu... di chuyển máy móc lên căn cứ mới.
Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, cổ động, chỉ trong một thời gian ngắn, bộ đội và nhân dân trong tỉnh đã phá hủy 302 công sở và nhà của tư sản Pháp, 11.046 nhà dân cùng hàng chục kilômét đường sắt, nhiều tuyến đường huyết mạch quan trọng; hàng vạn tấn thiết bị, máy móc được vận chuyển lên an toàn khu. Những thành tích đó của quân và dân Nghệ An được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư biểu dương, khen ngợi. Trong thư “Gửi các đồng chí Trung Bộ” ngày 1/3/1947, một mặt biểu dương những ưu điểm của cán bộ, đảng viên đã nhẫn nại, chịu khó, tháo vát, có nhiều sáng kiến, mặt khác, Người cũng căn dặn “cần phải đem căn bản tốt đó mà kiên quyết khắc phục những khuyết điểm...”. Các khuyết điểm địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, quân phiệt, quan liêu, hẹp hòi, ham chuộng hình thức, vô kỷ luật, ích kỷ, hủ hóa cần phải loại bỏ. Nội dung bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa đối với toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh. Vì vậy, Đảng bộ Nghệ An đã tổ chức một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng để phổ biến, quán triệt, học tập bức thư của Người, giúp cho cán bộ, đảng viên nâng cao đạo đức cách mạng, tăng cường sự đoàn kết, nhất trí và cải thiện mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.
Song song với công tác tuyên truyền, cổ động quần chúng nhân dân tham gia kháng chiến thì một yêu cầu đặt ra hết sức cấp thiết đối với ngành Tuyên giáo là công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ chính trị để lãnh đạo phong trào cách mạng. Thực hiện chủ trương của Thường vụ Trung ương Đảng (tháng 3/1947), Tỉnh ủy Nghệ An đã ra Quyết định số 850, ngày 18/11/1946 về việc thành lập Trường Đảng tỉnh trên cơ sở bộ phận Huấn học của Tỉnh ủy và được bổ sung thêm một số cán bộ, nhân viên với số lượng biên chế là 6 người.
Tháng 10/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh (với bút danh X.Y.Z) đã viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc nhằm tiếp tục giáo dục cán bộ, đảng viên, nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp kháng chiến. Xác định được vai trò ấy, Tỉnh ủy Nghệ An đã tổ chức một đợt học tập nghiêm túc, nhằm quán triệt lề lối, phong cách làm việc trong toàn Đảng bộ, gắn với việc tự phê bình và phê bình. Đợt sinh hoạt được tiến hành từ chi bộ đến các cấp ủy đảng, tổ chức chính quyền và đoàn thể. Ngay sau đó, tác phẩm Sửa đổi lối làm việc được xác định là tài liệu trọng tâm và đưa vào chương trình huấn luyện cán bộ của Trường Đảng tỉnh.
Sau thất bại ở Chiến dịch Việt Bắc Thu Đông năm 1947, thực dân Pháp buộc phải chuyển hướng chiến lược từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang đánh lâu dài với phương châm “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Chúng tăng cường mở rộng vùng chiếm đóng các tỉnh Bắc Bộ, Trung Bộ, trong đó có một số địa phương ở Nghệ An như Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Tương Dương, Quỳ Châu.
Trước tình hình đó, tháng 1/1948, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra chủ trương, biện pháp nhằm đối phó với âm mưu mới của địch, đồng thời tập trung đẩy mạnh cuộc kháng chiến của ta. Hội nghị chỉ rõ: “Phát triển chiến tranh du kích khắp nơi, nhất là trong vùng địch kiểm soát, đồng thời tùy theo tình thế tập trung đánh vận động tiêu diệt địch... xúc tiến việc luyện quân, lập công”[1].
Thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng và Liên khu ủy 4, công tác tuyên truyền, cổ động của Đảng bộ Nghệ An tập trung vào nhiệm vụ huy động quần chúng bảo vệ hậu phương, không cho địch mở rộng địa bàn chiếm đóng, làm tốt công tác chi viện cho chiến trường Bình - Trị - Thiên và Bắc Bộ. Phục vụ cho công tác tuyên truyền, cổ động của Đảng bộ, các phương tiện truyền thông, báo chí cũng tập trung viết bài cổ vũ tinh thần đoàn kết toàn dân, tích cực tham gia kháng chiến. Cũng trong thời gian này có nhiều tờ báo được lập ra như “Thanh niên kháng chiên” của Đảng bộ và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Nghệ An; “Xung phong” của Mặt trận miền Tây; “Giữ làng” của Tỉnh đội cùng nhiều tác phẩm được xuất bản như “Cách đánh du kích” của Tỉnh đội, “Kể chuyện lịch sử Việt Nam”, “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” của đồng chí Trường Chinh[2], “Anh hùng Việt Nam[3]...
Hưởng ứng công tác tuyên truyền, cổ động của Đảng bộ, phong trào thi đua sôi nổi “Hướng về Bình - Trị - Thiên khói lửa” được diễn ra dưới nhiều hình thức như: vận động quyên góp, lạc quyên, tổ chức diễn kịch, thi đá bóng, ngày hội sản xuất để lấy tiền mua quần áo, chăn màn, thuốc để gửi vào giúp đồng bào Bình - Trị - Thiên.
Để thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, ngày 27/3/1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị “Phát động phong trào thi đua ái quốc” nhằm động viên tinh thần thi đua yêu nước, phát huy tinh thần sáng tạo, lòng nhiệt tình cách mạng, kêu gọi các tầng lớp nhân dân nỗ lực thi đua hoàn thành nhiệm vụ, đáp ứng nhu cầu ngày một phát triển của cuộc kháng chiến, kiến quốc.
Ngày 11/6/1948, tại bản Là Non, xã Phú Bình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, chính thức phát động phong trào thi đua yêu nước trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 16/8/1948, Hội nghị liên tịch giữa các cơ quan Đảng - Mặt trận - Chính quyền - Đoàn thể đã diễn ra, nhằm phổ biến mục đích, ý nghĩa cuộc vận động thi đua ái quốc và bàn biện pháp tiến hành. Ngay từ những ngày đầu phát động phong trào thi đua yêu nước, công tác tuyên truyền, cổ động nhân dân được tiến hành bằng nhiều hình thức, tạo nên khí thế thi đua sôi nổi trong các giới, các ngành, với phương châm “Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua”. Lực lượng vũ trang thực hiện phong trào luyện quân, lập công, luyện tập kỹ thuật chiến đấu, chiến thuật đánh du kích để bổ sung cho các đơn vị bộ đội chủ lực. Các tổ chức đoàn thể phát động phong trào “Đỡ đầu dân quân” kêu gọi nhân dân đóng góp ruộng đất, tiền của để giúp anh chị em dân quân tự vệ. Hội phụ nữ tích cực tham gia cuộc vận động dưới các hình thức “Mùa đông chiến sĩ”, “Quán quân nhân” để ủng hộ, giúp đỡ các trang thiết bị đồ dùng thiết yếu cho bộ đội, góp phần giảm bớt khó khăn cho cán bộ, chiến sĩ lên đường làm nhiệm vụ. Phong trào yêu nước đã thực sự phát triển mạnh mẽ và lan rộng, huy động được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia. Công nhân ra sức thi đua phát triển ngành nghề, cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh, sản xuất ra nhiều mặt hàng để đáp ứng nhu cầu quốc phòng và sinh hoạt của nhân dân. Nông dân hăng hái khai hoang, mở rộng diện tích canh tác, áp dụng kỹ thuật thâm canh tăng năng suất, tận dụng các nguồn phân chuồng phân xanh, phân rác, phốt phát... Nạo vét các hệ thống thủy nông ở Đô Lương - Yên Thành - Diễn Châu - Quỳnh Lưu để tưới tiêu cho đồng ruộng.

https://truongchinhtri.laichau.gov.vn/uploads/news/2023_06/image-20230612081741-1.jpeg
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Lời Kêu gọi của Hồ Chủ tịch: Thi đua Ái quốc (Ảnh nguồn: ảnh tư liệu)

Cùng với đó, công tác tuyên truyền, cổ động, phát động phong trào thi đua xây dựng đời sống mới cũng được đẩy mạnh, tiến hành với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Các chòi phát thanh, bảng tin, áp phích, khẩu hiệu đủ các màu sắc xuất hiện khắp nơi để tuyên truyền cho phong trào xây dựng đời sống mới. Các hoạt động văn hóa văn nghệ diễn ra sôi động dưới nhiều hình thức nhằm tuyên truyền, cổ động phục vụ kháng chiến. Ngày 24/3/1948, Ban Văn nghệ kháng chiến phối hợp với Ty Thanh tra Tiểu học mở cuộc vận động sáng tác văn nghệ phục vụ kháng chiến, thu hút được sự đóng góp nhiệt tình của đông đảo cán bộ, đảng viên, công nhân, trí thức góp phần tuyên truyền cho nền giáo dục dân chủ và xây dựng đời sống mới.
Là cái nôi kháng chiến ở vùng hậu phương Nghệ An, nhiều tên tuổi văn nghệ sĩ đã nổi danh: Hoàng Trung Thông, Nguyễn Minh Châu, Bùi Hiển, Trần Hữu Thung, Minh Huệ, Nguyễn Văn Tý... Nhiều sáng tác văn học, nghệ thuật ra đời đã phản ánh được thực tiễn sinh động và hào hùng của Cách mạng Tháng Tám cùng các cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Thời gian này, còn xuất hiện nhiều loại hình khác như: Văn xuôi, tấu, kịch, họa, nhạc...đánh dấu bước trưởng thành của phong trào văn hóa, văn nghệ Nghệ An.
Bước sang năm 1949, cuộc kháng chiến chống Pháp chuyển từ giai đoạn phòng ngự sang cầm cự, chuẩn bị điều kiện cho cuộc tổng phản công khi thời cơ tới. Trước tình hình cuộc kháng chiến trên khắp các chiến trường liên tục giành thắng lợi nhưng ngày càng ác liệt và nhằm đáp ứng đòi hỏi của giai đoạn cách mạng mới. Việc tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về chính trị cho cán bộ, đảng viên trở thành một vấn đề quan trọng. Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 họp từ ngày 14 đến ngày 18/1/1949 đã chỉ rõ “Năm 1949 phải ra sức đào tạo cán bộ, nâng cao trình độ chính trị và lý luận của cán bộ, đảng viên”. Trong Chỉ thị: “Tích cực cầm cự, chuẩn bị tổng phản công”, Ban Thường vụ Trung ương Đảng một lần nữa chỉ rõ: “Nhiệm vụ cầm cự và tổng phản công là rất nặng nề. Tình hình lại gấp rút nên chính quyền, mặt trận cũng như Đảng phải ra sức đào tạo cán bộ về mọi ngành để có đủ người gánh vác công việc mới ngày một nhiều. Đồng thời phải bố trí đào tạo cho số cán bộ mới, bổ túc cán bộ cũ - đó là một trong những nhiệm vụ trọng yếu nhất của chúng ta hiện nay”[4].
Thực hiện chủ trương của Trung ương, ngày 28/12/1949, Ban Thường vụ Liên khủ ủy 4 đã ra chỉ thị về đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ. Chỉ thị nêu rõ: “Tình hình ngày càng phát triển, Đảng ngày càng đòi hỏi ở chúng ta một trình độ lý luận cho vững chắc hơn, khả năng công tác đầy đủ hơn”. Với tư tưởng chỉ đạo của Trung ương, của Liên khu ủy 4, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI (từ ngày 15-29/4/1949) đã quyết định các chủ trương, biện pháp quan trọng về xây dựng, củng cố Đảng, tích cực phát triển đảng viên mới, cải tiến lề lối làm việc, tăng cường công tác cán bộ và đào tạo cán bộ.
Tháng 6/1949, thực hiện Kế hoạch Rơve, thực dân Pháp tiếp tục tăng cường mở rộng phạm vi chiếm đóng ở khu vực đồng bằng và trung du Bắc Bộ, tổ chức phong tỏa biên giới Việt - Trung, tập trung quân Âu - Phi để xây dựng lực lượng cơ động; củng cố ngụy quyền để thực hiện chính sách “Dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”.
Tại Nghệ An, một mặt thực dân Pháp tập trung phòng thủ các vị trí then chốt ở vùng biên giới phía Tây như Noọng Hét (Lào), Keng Đu (Kỳ Sơn, Nghệ An); mặt khác chúng dùng không quân ném bom vào các vùng đông dân, giết hại cùng một lúc hàng chục người ở thị trấn Cầu Giát (Quỳnh Lưu), Diễn Chau, Nam Đàn... đốt cháy hàng trăm nóc nhà. Từ năm 1950, mức độ đánh phá vùng hậu phương ngày càng ác liệt hơn. Chúng cho tàu chiến phong tỏa bờ biển, tung gián điệp, gây cơ sở phản động ở các xã dọc biên giới và ven biển. Đồng thời móc nối với bọn phản động trong Công giáo, thổ ty, lang đạo, ra sức tuyên truyền, kích động những phần tử xấu hoạt động chống phá việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ.
Nhiệm vụ chung của của Đảng bộ và nhân dân Nghệ An lúc này là “Tích cực cầm cự, chuẩn bị Tổng phản công”, “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả để chiến thắng”. Để triển khai thực hiện nhiệm vụ của Đảng bộ, Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy đã chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho quần chúng nhân dân, góp phần huy động nhân tài, vật lực phục vụ cho cuộc kháng chiến. Đồng thời vận động nhân dân tham gia dân quân du kích bổ sung cho bộ đội chủ lực, đề cao tinh thần cảnh giác, phát hiện và ngăn chặn kịp thời âm mưu, hành động lôi kéo, chống phá của địch ở các vùng biển, miền núi và tôn giáo. Động viên nhân dân ra sức thi đua xây dựng đời sống mới, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, thanh toán nạn mù chữ; tích cực hưởng ứng chính sách ruộng đất, giảm tô, giảm tức của Chính phủ.
Thực hiện nhiệm vụ của công tác tuyên truyền, Tỉnh đoàn Thanh niên cứu quốc đã phát động tuần lễ “Đại hội tòng quân”, kêu gọi thanh niên luyện tập quân sự, tham gia dân quân du kích, phục vụ kháng chiến. Với tinh thần: “Quân sự trên hết, tiền tuyến trên hết”, khắp nơi, các tầng lớp công nhân, nông dân, cán bộ công chức, giáo viên, học sinh, đồng bào công giáo, đồng bào dân tộc ít người đều nô nức hướng đến địa điểm ghi tên nhập ngũ. Nhiều thiếu niên, nhi đồng cũng tha thiết xin ghi tên đi làm liên lạc cho bộ đội. Các cụ phụ lão đan ba lô mây, mũ nan tre đem tặng tân binh. Chị em phụ nữ xung phong đảm nhận các nhiệm vụ xã hội để chồng con yên tâm đánh giặc. Không khí ngày hội tòng quân diễn ra tưng bừng, náo nhiệt. Chỉ trong vòng một tuần lễ hàng ngàn thanh niên đã xung phong nhập ngũ.
Nhằm huy động nhân lực, vật lực, tài lực của toàn thể nhân dân tiến tới tổng phản công, Đảng bộ Nghệ An đã rất chú trọng việc thực hiện sâu rộng sắc lệnh tổng động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến chính quyền các cấp trong toàn tỉnh.
Ở các vùng biên giới phía Tây, công tác tuyên truyền tập trung vào việc động viên xây dựng lực lượng dân quân trong đồng bào dân tộc thiểu số, phát động nhân dân tăng gia sản xuất, tranh thủ vận động, thuyết phục những thổ ty, lang đạo tiến bộ ủng hộ kháng chiến. Vùng miền biển, hoạt động tuyên truyền hướng về vận động bà con bám làng, bám biển vừa đảm bảo đời sống, vừa bảo vệ quê hương. Đồng thời, thành lập các đoàn ngư công hướng dẫn ngư dân đánh cá du kích; phát triển các nghề phụ, giải quyết việc làm.
Đối với các tầng lớp nhân sĩ, trí thức, Đảng bộ cũng hết sức quan tâm, nhất là những văn nghệ sĩ có hoàn cảnh khó khăn tạo cho họ gia nhập Phân hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác- Lênin, Hội Văn hóa, Hội Công chức... phát huy hết tài năng phục vụ kháng chiến.
Để tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng phục vụ kháng chiến, công tác huấn luyện chính trị, bồi dưỡng cán bộ trong giai đoạn này cũng được Đảng bộ đặc biệt coi trọng. Ngày 17/6/1949, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở cuộc vận động “Đào tạo cán bộ học tập lý luận” nhằm nâng cao trình độ nhận thức lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Mặt trận cho đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, ngày 28/12/1949, Ban Thường vụ Liên khu ủy 4 đã ra Chỉ thị về việc đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ. Chỉ thị nêu rõ: “Phải cải tiến nội dung chương trình cho phù hợp với tình hình, với khả năng tiếp thu của đội ngũ cán bộ và phải thiết thực, bổ ích, tránh huấn luyện hình thức, kém hiệu quả”. Ngoài những nội dung bắt buộc của chương trình đào tạo huấn luyện, học viên còn được học tập các tác phẩm như Sửa đổi lối làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chúng ta chiến đấu vì tự do dân chủ hay Kháng chiến nhất định thắng lợi của đồng chí Trường Chinh... Nhờ đó mà trình độ lý luận của cán bộ, đảng viên đã được nâng cao một bước.
Nhờ tích cực đẩy mạnh sản xuất và thực hiện một bước chính sách nông thôn của Đảng nên nền kinh tế trong thời gian này có sự tăng trưởng rõ nét, tiếp tế được nhiều thực phẩm, hàng hóa cho tiền tuyến và các vùng khác. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức do tư tưởng nóng vội, muốn nhanh chóng giành chiến thắng nên đã có một số thiếu sót gây ảnh hưởng không tốt đến chính sách đoàn kết kháng chiến của Đảng và Chính phủ.
Trước tình hình đó, mùa hè năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào, cán bộ Liên khu 4 phê bình sai lầm của việc thực hiện chính sách động viên. Đồng chí Trường Chinh viết Nhận định đúng, hành động đúng và một số bài khác đăng trên Tạp chí Cộng sản phê phán tư tưởng nóng vội, chủ quan, bi quan, chỉ rõ phương châm hành động đúng đắn về tổng động viên, xây dựng lực lượng vũ trang và công tác vùng sau lưng địch.
Trung ương Đảng ra Chỉ thị cho Đảng bộ Liên khu 4 và các Liên khu khác căn cứ vào thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh để tự kiểm điểm và phê bình trước quần chúng. Nhờ vậy, những lệch lạc sớm được uốn nắn, sửa chữa, ý thức kháng chiến lâu dài, tự lực cánh sinh được nâng cao hơn. Thực hiện Chỉ thị của Liên khu ủy 4, Đảng bộ Nghệ An tiến hành đợt kiểm thảo sửa đổi công tác vận động quần chúng theo tinh thần bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đợt kiểm thảo đã mở rộng phong trào đấu tranh, sửa chữa tư tưởng ra ngoài quần chúng... Nhân dân phấn khởi được dịp cởi hết thắc mắc của mình với cán bộ. Nhờ vậy mà mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng ngày càng được củng cố hơn, những sai lầm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên được uốn nắn.
Do vậy, năm 1950, mặc dù cả Liên khu 4 lụt rất to, Nghệ An mất mùa từ 20-40% hoa màu nhưng Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh vẫn chi viện hàng ngàn tấn gạo, hàng trăm con trâu bò, nhường áo sẻ cơm cho đồng bào Bình - Trị - Thiên. Từ tháng 9/1950, quân ta liên tiếp mở các chiến dịch trên chiến trường, đòi hỏi phải có sự chi viện rất lớn sức người, sức của ở hậu phương. Cùng với cả nước, quân và dân vùng Thanh Nghệ Tĩnh đã làm hết sức mình, phục vụ tiền tuyến góp phần làm nên thắng lợi của Chiến dịch Biên giới (1950) đưa lịch sử nước ta bước sang một giai đoạn mới.
2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tích cực củng cố hậu phương, chi viện cho tiền tuyến, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi tới thắng lợi hoàn toàn (1951 - 1954)
Thắng lợi của Chiến dịch Biên giới năm 1950 đã làm cho tương quan giữa ta và địch có sự thay đổi. Địch từ thế chủ động tiến công buộc phải chuyển sang thế bị động đối phó với ta. Trong bối cảnh đó, được sự giúp đỡ của đế quốc Mỹ, thực dân Pháp quyết định đưa ra kế hoạch mới với mục đích là phá hoại vùng tự do của ta hòng gây thanh thế, lấy lại tinh thần binh lính, xin thêm viện trợ của Mỹ và giành thế chủ động trên chiến trường. Từ đó, thực dân Pháp tăng cường đánh phá vùng hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh và kích động bọn phản động nội địa chống phá cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
Đối với vùng hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, không còn đủ sức thực hiện ý đồ chiếm đóng, do vậy địch càng đánh phá ác liệt vào các huyện: Nghi Lộc, Quỳnh Lưu, Tương Dương, Kỳ Sơn. Chúng dùng máy bay ném bom vào chợ Nội (Đô Lương), chợ Trâu (Hưng Nguyên)... gây nhiều thiệt hại.
Thực dân Pháp còn lợi dụng việc truyền đạo để cài cắm những phần tử phản động, ngầm phá hoại cơ sở kháng chiến của ta. Chúng bắt ép giáo dân ra khỏi các đoàn thể cứu quốc, như: Hội Công giáo cứu quốc, Hội Nông dân cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc... để tổ chức ra Hội Thanh niên công giáo, Đội tự vệ công giáo (Xã Đoài, huyện Nghi Lộc) hay đòi lập xã công giáo riêng (Anh Sơn)... Từ năm 1952, bọn phản động trong Liên đoàn Công giáo lại cấu kết với bọn phản động trong Phật giáo lập ra Mặt trận liên tôn chống cộng. Chúng trắng trợn xuyên tạc, công kích đường lối, chủ trương, chính sách kháng chiến của Chính phủ, cố tình lôi kéo giáo dân chống lại chính quyền.
Trước sự thay đổi trên chiến trường có lợi cho ta, nhằm tăng cường lực lượng đẩy mạnh cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi hoàn toàn, tháng 2/1951, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 đã nêu rõ nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Việt Nam lúc này là tiêu diệt thực dân Pháp, đánh bại bọn can thiệp Mỹ và giành thống nhất, độc lập hoàn toàn bảo vệ nền hòa bình thế giới. Tháng 8/1951, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ VIII đề ra mục tiêu: “Xây dựng Nghệ An thật sự thành hậu phương vững chắc, thành kho dự trữ dồi dào về người và của, làm tròn nhiệm vụ hậu phương với tiền tuyến”[5].
Sau Đại hội, nhiệm vụ công tác tuyên huấn của Đảng bộ là tổ chức tuyên truyền chủ trương hợp nhất Mặt trận Việt Minh và Mặt trận Liên Việt Nghệ An thành Mặt trận Liên Việt Nghệ An; triển khai nhiệm vụ Đại hội Đảng các cấp. Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là động viên nhân dân các dân tộc thiểu số  tăng gia sản xuất, học văn hóa, tố cáo, vạch mặt bọn phản động, tranh thủ tuyên truyền vận động thuyết phục tầng lớp thổ ty, lang đạo ủng hộ kháng chiến; cử cán bộ, đảng viên ở các huyện đồng bằng trong đó có một số cán bộ tuyên huấn, giáo viên, y tế lên tăng cường cho các huyện Tương Dương, Kỳ Sơn, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quế Phong để vừa dạy chữ cho đồng bào thiểu số, vừa xây dựng cơ sở kháng chiến, tuyên truyền chủ trương, chính sách và chống sự phá hoại của bọn phản động.
Về công tác tôn giáo, xác định tôn giáo vẫn là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của Đảng bộ, Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy đã cử cán bộ trực tiếp xuống vùng công giáo để tuyên truyền vận động giáo dân, củng cố lại tổ chức chính quyền và các đoàn thể quần chúng, vận động cải tổ lại tổ chức. Liên đoàn Công giáo phát động tăng gia sản xuất, ổn định đời sống cho nhân dân. Nhờ vậy mà đã có nhiều kết quả tốt, giáo dân hăng hái sản xuất, tham gia kháng chiến, chấp hành tốt chính sách thuế nông nghiệp, giảm tô, giảm tức...
Bên cạnh đó, Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy còn tập trung tổ chức triển khai quán triệt Sắc lệnh số 13/SL, ngày 1/5/1951 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm giúp nhân dân nhận thức rõ vai trò, ý nghĩa của thuế nông nghiệp trong việc chi viện kịp thời cho tiền tuyến. Thực hiện cuộc “Đại vận động tăng gia sản xuất và tiết kiệm” của Trung ương Đảng và Chính phủ, cao trào thi đua tăng gia sản xuất được phát triển rộng khắp ở các ngành, các vùng trong tỉnh, từ đồng bằng lên miền núi, không phân biệt lương giáo...
Theo yêu cầu mới của cuộc kháng chiến, Trung ương Đảng mở một đợt chỉnh Đảng và chỉnh huấn nhằm nâng cao lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân, ý thức trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh, xây dựng niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến. Đồng thời giáo dục tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, một lòng một dạ phục vụ nhân, phục vụ kháng chiến, chống tư tưởng địa chủ phong kiến, tiểu tư sản và một số biểu hiện khác như chủ quan, nóng vội, “tả khuynh”, “hữu khuynh”, sợ địch, tự tư, tự lợi, ngại gian khổ, hy sinh và tác phong quan liêu xã dân, xa thực tế trong cán bộ, đảng viên ở các ngành, các cấp, nhất là cán bộ lãnh đạo. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, từ tháng 10/1952 đến cuối 1953, Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy đã mở 5 khóa chỉnh Đảng cùng nhiều khóa chỉnh huấn cho hàng ngàn đảng viên, cán bộ các cấp. Kết quả, các lớp chỉnh Đảng, chỉnh huấn đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc xây dựng các đảng bộ về chính trị, tư tưởng và tạo tiền đề cho công tác chấn chỉnh về tổ chức, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến.
Từ đầu năm 1953, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa II), Đảng phát động triệt để giảm tô, chuẩn bị cho cuộc cải cách ruộng đất. Công tác tuyên truyền phát động quần chúng, giáo dục ý thức gia cấp cho nông dân, nâng cao khí thế cách mạng của nông dân vùng tự do được đẩy mạnh và có ảnh hưởng tới nông dân vùng sau lưng địch. Vì vậy đã động viên được nông dân hăng hái sản xuất, đi dân công hỏa tuyến cũng như làm cho con em của họ ở ngoài mặt trận yên tâm, hăng hái giết giặc lập công.
Từ năm 1953 - 1954, quân và dân cả nước tập trung nội lực thực hiện nhiệm vụ quân sự trong chiến cuộc Đông Xuân (1953 - 1954) và Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Trong hoàn cảnh đó, Đảng bộ Nghệ An xác định nhiệm vụ trước mắt lúc này là hướng trọng tâm vào tổng động viên sức người, sức của để phục vụ tiền tuyến; cổ động cho cuộc phát động giảm tô và cải cách ruộng đất.
Thực hiện công tác tuyên truyền, tháng 4/1953, Nghệ An và Thanh Hóa được giao nhiệm vụ cung cấp sức người, sức của chi viện cho Mặt trận Xiêng Khoảng (Lào). Sau gần một tháng chiến đấu, liên quân Lào - Việt Nam đã giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Phôngxalỳ với hơn 30 vạn dân. Trong chiến công chung đó, đơn vị vũ trang Nghệ An đã có đóng góp xứng đáng. Chiến thắng Thượng Lào có ý nghĩa chiến lược đối với cuộc kháng chiến của nhân dân hai dân tộc Việt Nam và Lào, mở ra một cục diện mới trên chiến trường Đông Dương. Đối với vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, chiến thắng này đã chọc thủng vành đai phong tỏa của địch ở phía Tây, nhằm bảo vệ hậu phương cũng như tạo điều kiện cho việc phối hợp chiến đấu giữa lực lượng vũ trang của các tỉnh vùng biên giới nước ta với nước bạn Lào anh em.
Khi có quyết định về kế hoạch triển khai tác chiến trong Chiến dịch Điện biên Phủ, công tác tuyên huấn của Đảng bộ đã tập trung làm rõ quyết tâm chiến lược của Trung ương, đó là khắc phục tư tưởng hoài nghi, do dự, thiếu tin tưởng vào thắng lợi. Yêu cầu của cuộc chiến đấu càng to lớn, nặng nề hơn thì công tác tuyên truyền, động viên chuẩn bị cho chiến trường lại càng khẩn trương, sôi nổi hơn. Khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” đã biến thành hành động thực tế của nhân dân ta ở hậu phương, cả vùng tự do và căn cứ du kích. Nhân dân đã nhiệt tình cống hiến sức người, sức của cho tiền tuyến. lực lượng thông tin, tuyên truyền, văn nghệ của Trung ương, địa phương đã bám theo các đơn vị chiến đấu, đoàn thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến để tiến hành công tác tuyên truyền, giáo dục, động viên. Việc phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ trở thành một cao trào cách mạng hào hùng, lập nên những kỳ tích mà kẻ địch không thể ngờ tới. Trong suốt chiến dịch Điện Biên Phủ, cùng với cuộc chiến đấu oanh liệt của bộ đội ngoài mặt trận phục vụ chiến đấu của hàng vạn thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, cán bộ tuyên huấn đã vượt qua bao đèo dốc, thác ghềnh, bom đạn, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch.
Ngày 13/3/1954, quân ta bắt đầu nổ súng tấn công ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Cuộc chiến đấu quyết liệt đã diễn ra trong thời gian dài với nhiều khó khăn, gian khổ. Trước tình hình đó, Đảng bộ đã tiến hành đợt sinh hoạt chính trị trong cán bộ và các chiến sĩ ngoài mặt trận, nhằm giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần tích cực tiến công, ý chí quyết thắng, quyết tâm chấp hành mệnh lệnh chiến đấu, khắc phục tư tưởng tiêu cực, ngại gian khổ hy sinh, uốn nắn tư tưởng chủ quan, khinh địch khi có thắng lợi.
Thực hiện chủ trương mở mặt trận ngoại giao của Trung ương Đảng, Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy đã tuyên truyền, giải thích cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ muốn có hòa bình và độc lập thật sự thì phải ra sức chiến đấu, hy sinh làm thất bại mọi âm mưu và hành động xâm lược của thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Trên cơ sở đó, Ban Tuyên huấn cũng đề cao vai trò đoàn kết liên minh với nhân dân các nước Lào, Campuchia, đồng thời tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới.
Thắng lợi to lớn của cuộc tiến công trong chiến cuộc Đông- Xuân (1953-1954) mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm thay đổi cục diện chiến tranh, tạo thế mạnh cho phái đoàn ta ở Hội nghị Giơ-ne-vơ. Trong suốt quá trình diễn ra Hội nghị, công tác tuyên huấn đã tập trung tuyên truyền lập trường chính nghĩa, những đề nghị cụ thể của ta để lập lại hòa bình ở Đông Dương, vạch rõ thái độ ngoan cố của Mỹ, Pháp, cổ vũ nhân dân ta đẩy mạnh kháng chiến...
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946- 1954), hoạt động công tác Tuyên giáo đóng vai trò trọng yếu, góp phần trực tiếp nuôi dưỡng, xây dựng, phát triển sức mạnh của nhân tố con người Việt Nam; tập hợp lực lượng, khơi dậy ý chí, tri thức và sức mạnh trong quần chúng, đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của cuộc kháng chiến. Sức mạnh tổng hợp to lớn đã được minh chứng bằng thắng lợi lịch sử Điện Biên Phủ, giải phóng miền Bắc, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam (năm 1954).
Công tác Tuyên giáo thể hiện rõ vai trò tiên phong trên mặt trận tư tưởng của Đảng “đi trước mở đường, đi cùng cổ vũ, động viên, đi sau tổng kết”.
Trong xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng như hiện nay, công tác Tuyên giáo lại càng phải nhanh nhạy, kịp thời để “đi trước, mở đường”, nhạy bén với cái mới, nắm bắt thông tin đa chiều, bám sát sự vận động của thực tiễn, đánh giá và dự báo đúng tình hình để làm tốt công tác tham mưu, định hướng tư tưởng. Đến nay, ngành Tuyên giáo “phủ sóng” hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhiều tuyến thông tin quan trọng đồng bộ, linh hoạt cả trên phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền trực quan, kể cả trong sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt thôn, tổ dân phố, hội viên, đoàn viên các tổ chức chính trị - xã hội để phổ biến sâu rộng, tạo nhận thức đầy đủ trong Nhân dân tạo khí thế thi đua học tập, lao động sản xuất, thống nhất ý chí, hành động trong tổ chức đảng, sự đồng thuận trong xã hội; cổ vũ, động viên cán bộ đảng viên, nhân dân phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Công tác Tuyên giáo phải làm tốt vai trò "đồng hành" với các cấp ủy, chính quyền và nhân dân trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở trong sạch, vững mạnh toàn diện. Chủ động định hướng, cung cấp thông tin, tuyên truyền, phổ biến nghị quyết của Đảng, các đề án, kế hoạch, chương trình, cơ chế, chính sách của Trung ương, của tỉnh đến với nhân dân nhanh nhất, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo nhất. Đồng thời, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đặc biệt là trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thông tin tuyên truyền, học tập các nghị quyết, chỉ thị của Đảng.
Cán bộ làm công tác chính trị tư tưởng của Đảng phải kịp thời tham mưu với cấp ủy tổng kết thực tiễn, trên cơ sở đó điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện, ban hành các chủ trương, chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quản lý xã hội và thực tiễn cuộc sống, giải quyết những bức xúc nảy sinh ngay từ cơ sở, tạo được sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận cao trong Nhân dân.
 Sự chủ động, tích cực tham mưu, hướng dẫn thực hiện hiệu quả nhiệm vụ của cơ quan tuyên giáo các cấp trong tỉnh đã góp phần quan trọng vào kết quả thực hiện những nhiệm vụ, chỉ tiêu, giải pháp trọng tâm mà cấp ủy, chính quyền địa phương đề ra, góp phần sớm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng tỉnh Nghệ An phát triển nhanh, bền vững, trở thành tỉnh khá của khu vực Bắc Trung Bộ./.






 
 
[1] Văn kiện Đảng (1945-1954), Hà Nội, 1979, tr. 2, 91, 171.
[2] Do Ty Thông tin- Văn hóa xuất bản.
[3] Do Ty Bình dân học vụ xuất bản.
[4] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2001, tr.64.
[5] Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An, Lịch sử Dảng bộ tỉnh Nghệ An (1930 - 1954), tập 1, Nxb, Nghệ An, 2019, tr.202.

Nguyễn Thị Hồng Vui

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây