« Quay lại

Nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh, các yếu tố nguy cơ loãng xương ở người 40 tuổi trở lên tại TP. Vinh và các giải pháp can thiệp.

Khái niệm về loãng xương (LX) đã được nhắc đến từ nửa đầu thế kỷ 18 bởi một nhà giải phẫu học J. Martin Lostein người Pháp. Năm 1930-1940, Albright cộng sự tổng kết các kết quả của nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Loãng xương sự calci hóa không đầy đủ ở khung xương. Sau đó nhờ sự tiến bộ trong kỹ thuật thăm dò hình thái tổ chức học của xương, các công trình nghiên cứu của Bordier Meunier đưa ra định nghĩa: LX sự giảm toàn bộ khối lượng xương

Ở Việt Nam, loãng xương của phụ nữ sau tuổi mãn kinh cũng được quan tâm khá nhiều. Tuy nhiên, ở Nghệ An hiện chưa có một công trình Nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh, các yếu tố nguy cơ loãng xương ở người 40 tuổi trở lên và đề xuất các giải pháp can thiệp. Vì thế, Trường Đại học Y khoa Vinh đã tiến hành đề tài: Nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh, các yếu tố nguy cơ loãng xương ở người 40 tuổi trở lên tại TP. Vinh và các giải pháp can thiệp.

Nội dung tư vấn, giáo dục sức khoẻ cho những người trên 40 tuổi bình thường về vấn đề loãng xương, phương pháp dự phòng loãng xương; tư vấn giáo dục sức khỏe cho những người giảm mật độ xương về chế độ ăn, luyện tập thể dục thể thao các phương pháp dự phòng loãng xương, phòng tránh tai biến gãy xương; Những bệnh nhân được phân loại loãng xương: tư vấn chế độ ăn, luyện tập TDTT chuẩn bị lấy máu làm các xét nghiệm các nội tiết tố đối với những người đã được chẩn đoán loãng xương. Sau khi khám sàng lọc tất cả các người tham gia nghiên cứu tại khối xóm, những bệnh nhân được chẩn đoán loãng xương sẽ được lấy máu, bảo quản trong phích lạnh rồi sẽ vận chuyển về phòng khám để xét nghiệm. Các xét nghiệm cần làm là: Định lượng Osteocalcin, Estradiol ở nữ và Testosteron ở nam cho 817 người   Đề tài triển khai gồm tập huấn cán bộ khám sàng lọc bằng cách sử dụng phiếu điều tra, sử dụng và đọc kết quả máy đo loãng xương Osteosys EXA 3000 và cách khám lâm sàng bệnh nhân loãng xương cho 35 người gồm 10 cán bộ nghiên cứu và 25 trạm trưởng Y tế xã. Sau đó tiến hành khám sàng lọc tại các phường, xã của thành phố Vinh cho 2.065 người từ 40 tuổi trở lên. Nội dung khám gồm đo chiều cao, cân nặng, đo huyết áp, hỏi tiền sử bệnh tật, tiền sử thai sản, tiền sử dùng thuốc, ăn uống, đo độ loãng xương bằng máy Sonos 3000. Ghi phiếu khám và kết quả vào phiếu nghiên cứu. Phân loại bình thường, loãng xương hay giảm mật độ xương. Bằng cân, thước đo chiều cao, huyết áp, ống nghe, máy đo loãng xương và các dụng cụ cần thiết khác. Sau khi kết thúc khám cho bệnh nhân, bác sỹ tiến hành tư vấn cho bệnh nhân về phương pháp điều trị và kê đơn thuốc nếu cần.

Máy đo mật độ xương năng lượng kép X quang

 


Kết quả đo mật độ xương bằng máy Osteosys 3000

Đề tài đã đánh giá được thực trạng và các yếu tố liên quan đến loãng xương ở người 40 tuổi trở lên tại Thành phố Vinh với tỷ lệ loãng xương ở người từ 40 tuổi trở lên tại thành phố Vinh là: 39,6%, giảm mật độ xương là 36%. Qua đó, cho thấy một số yếu tố liên quan đến loãng xương ở phụ nữ từ 40 tuổi trở lên tại thành phố Vinh: Tuổi càng cao tỷ lệ loãng xương càng nhiều, phần trăm mật độ xương tương quan nghịch với tuổi; Tỷ lệ loãng xương ở nữ nhiều hơn nam; Mãn kinh, kinh sớm, sử dụng cocticoid, đẻ nhiều con, hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia các yếu tố liên quan loãng xương người từ 40 tuổi trở lên; Tăng huyết áp thoái hóa khớp bệnh kèm theo chiếm tỷ lệ cao ở người từ 40 tuổi trở lên tại thành phố Vinh 35,3% 54,1% tương ứng.

Đồng thời, cho thấy hiệu quả can thiệp ở nhóm giảm mật độ xương. Cụ thể, can thiệp bằng hình thức tuyên truyền, thực hiện chế độ ăn uống luyện tập có hiệu quả đối với nhóm giảm mật độ xương, biểu hiện bằng: Tỷ lệ người giảm mật độ xương trở về bình thường 20%, giữ nguyên tình trạng giảm MĐX: 76,7%, và tỷ lệ mắc mới từ nhóm này là: 3,1% (do không tuân thủ chế độ ăn, luyện tập, bổ sung can xi hàng ngày). Chỉ số T-score: từ -1,7 ± 0,42 lên -1,41± 0,39; Phần trăm mật độ xương: từ 77,06 ± 8,4% lên 88,6 ± 5,7%

Hiệu quả can thiệp ở nhóm loãng xương không được cấp thuốc điều trị: Can thiệp bằng hình thức tuyên truyền, thực hiện chế độ ăn uống bổ sung can xi, vitamin D, luyện tập thể dục thể thao phù hợp có hiệu quả đối với nhóm loãng xương, biểu hiện bằng: Tỷ lệ bệnh nhân loãng xương trở về bình thường 2,54%, chuyển sang tình trạng giảm MĐX: 23,4%, và giữ nguyên tình trạng loãng xương 74%; Chỉ số T-score: từ -3,4 ± 0,7 lên -2,6± 0,6; Phần trăm mật độ xương: từ 58,9 ± 23,5% lên 70,5 ± 10,7%

Hiệu quả can thiệp của nhóm loãng xương được cấp thuốc điều trị bằng Fosamax plus: Can thiệp bằng hình thức tuyên truyền, thực hiện chế độ ăn uống bổ sung can xi, vitamin D, luyện tập thể dục thể thao phù hợp với mức độ lõng xương và cấp thuốc điều trị bằng Fosamax plus có hiệu quả đối với nhóm loãng xương, biểu hiện bằng: Chỉ số T-score tăng lên: từ -3,2 ± 0,7 lên -2,0± 0,78; Phần trăm mật độ xương: từ 58,9 ± 23,5% lên 73,5 ± 15,5 %; Tỷ lệ tác dụng phụ chấp nhận được;

So sánh hiệu quả của các nhóm giải pháp cho thấy, nhóm loãng xương được can thiệp cấp độ cao bằng hình thức: tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn thực hiện + cấp thuốc điều trị bằng fosamax plus có hiệu quả hơn ở nhóm loãng xương không được cấp thuốc điều trị bằng thuốc và nhóm chỉ có tuyên truyền nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, thay đổi chất lượng sinh hoạt. Thể hiện bằng cải thiện T-score và mật độ xương ở nhóm can thiệp cấp độ cao nhiều hơn so với nhóm can thiệp cấp độ thấp.

Từ kết quả nghiên cứu, kiến nghị đối với người dân từ 40 tuổi trở lên cần đến các cở sở y tế để đo mật độ xương để phát hiện loãng xương, giảm mật độ xương hay bình thường; Người dân có mật độ xương bình thường: Cần ăn uống thức ăn giàu can can xi hàng ngày, tập luyện thể dục thể thao, không hút thuốc lá, giảm rượu bia hàng ngày…; Người giảm mật độ xương: Cần ăn uống các thức ăn giàu can xi, luyện tập thể dục thể thao, hạn chế rượu bia, không hút thuốc lá, uống sữa giàu can xi và uống bổ sung viên can xi-vitamin D và người bị loãng xương: Phòng tránh ngã gãy xương, đến các cơ sở y tế để khám và dùng các thuốc điều trị loãng xương, tuân thủ thực hiện chế độ ăn và chế độ luyện tập vừa phải, tránh xoán vặn lưng, đeo đai vùng lưng với những người có lún đốt sống.

Đối với các cơ sở y tế và các cơ quan ban ngành liên quan, cần tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, nâng cao nhận thức của người dân về phòng chống bệnh loãng xương. Điều chỉnh lối sống để tối ưu hóa mật độ xương từ tuổi trẻ và làm giảm bớt mức độ mất xương liên quan đến tuổi nhằm làm giảm tỷ lệ mắc cũng như biến chứng của bệnh loãng xương về sau. Kết hợp tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện hành vi thay đổi lối sống, thực hiện bổ sung can xi và điều trị bằng thuốc cho những bệnh nhân bị loãng xương. Đồng thời chỉ đạo trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe, phối hợp với nhóm nghiên cứu để phát phóng sự, mở trang tuyên truyền về loãng xương. Phối hợp với đài phát thanh truyền hình Nghệ An tuyên truyền về các giải pháp phát hiện, dự phòng điều trị loãng xương cho người dân hàng tuần; Tổ chức các khóa đào tạo để cán bộ y tế cơ sở có kiến thức kỹ năng phát hiện, tư vấn, chăm sóc, điều trị bệnh loãng xương và các biến chứng của nó. Đồng thời trang bị cho các trạm phương tiện tầm soát loãng xương, phương tiện hỗ trở chăm sóc điều trị bệnh lý loãng xương, quản lý điều trị gãy xương, phục hồi chức năng./.

Lê Phương

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.