« Quay lại

Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh triển khai đề tài nghiên cứu đặc điểm nhiễm khuẩn tiết niệu trên bệnh nhân sỏi tiết niệu

Nhiễm khuẩn tiết niệu - NKTN là một bệnh lý hay gặp, đứng hàng đầu tại Mỹ và thứ hai tại châu Âu. Ở Việt Nam, tỷ lệ bệnh lý này đang có xu hướng tăng lên, đặc biệt là nam giới bị nhiễm khuẩn tiết niệu trong những năm gần đây tăng từ 4-15%. Tỷ lệ này tăng lên theo tuổi và ở bệnh nhân bị các bệnh lý đường tiết niệu, trong đó có sỏi tiết niệu. Theo thông báo của ASTS thì tỷ lệ vi khuẩn gây bệnh đường tiết niệu chiếm tới 22,9% trong tổng số vi khuẩn gây bệnh. Các vi khuẩn này đề kháng cao với các loại kháng sinh thường dùng và kháng lại nhiều loại kháng sinh khác, đặc biệt trên những bệnh nhân sỏi tiết niệu có tiền sử dùng kháng sinh nhiều lần do sỏi là yếu tố nguy cơ gây viêm. Sự phổ biến của các enzym kháng cephalosphorin (ESBL, AmpC…), kháng Carbapenem (KPC, IMP, DNM-1, Oxa...) đã tăng lên đáng kể trong thập kỷ qua do sự lạm dụng thuốc kháng sinh. Mặc dù trong NKTN, tỷ lệ bệnh nhân tử vong trực tiếp do nguyên nhân này chưa rõ ràng, tuy nhiên tỷ lệ nhiễm khuẩn huyết thứ phát sau NKTN chiếm từ 1-4% cùng nhiều biến chứng ở các cơ quan khác, nếu không có phác đồ kháng sinh điều trị triệt để. Do vậy, Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh triển khai đề tài "Nghiên cứu đặc điểm NKTN trên bệnh nhân sỏi tiết niệu" nhằm xác định căn nguyên vi khuẩn gây bệnh và mức độ nhạy cảm của các vi khuẩn này đối với kháng sinh là cần thiết, giúp lựa chọn kháng sinh trong điều trị cũng như góp phần vào việc xây dựng phác đồ lựa chọn kháng sinh ban đầu hợp lý.

Đối tượng nghiên cứu là 136 bệnh nhân có sỏi đường tiết niệu đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh từ tháng 8/ 2017-8/2018. Loại trừ những trường hợp đã dùng kháng sinh trước khi lấy nước tiểu làm xét nghiệm hoặc NKTN đặc hiệu do lậu. Sau khi xác định sỏi tiết niệu, bệnh phẩm nước tiểu được lấy theo hướng dẫn của CDC. Cấy đếm nước tiểu, từ đó tính ra số lượng vi khuẩn trong 1ml nước tiểu, đối chiếu với tiêu chuẩn để xác định có NKTN hay không. Nếu có, định danh vi khuẩn và kháng sinh đồ tự động với máy Viteck 2 Compact, thu thập các chỉ số về vi khuẩn gây bệnh và mức độ nhạy cảm của chúng với các loại kháng sinh theo tiêu chuẩn của CLSI 2018. Để đảm bảo độ tin cậy cho xét nghiệm kháng sinh đồ, quá trình thực hiện được làm song song với chủng chuẩn quốc tế ATCC. Các chỉ số khác liên quan sẽ được thu thập bằng bệnh án nghiên cứu.

Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu trong số 136 bệnh nhân sỏi tiết niệu được cấy nước tiểu, có 30 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn xác định có sự xuất hiện của vi khuẩn và vi nấm gây bệnh, tức là 22% (trong đó, có 9,7% do vi nấm Candida spp). Giới tính của quá trình nghiên cứu là 22,5% (18/80) bệnh nhân nam và 21,4% (12/56) bệnh nhân nữ có NKTN, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p = 0,88). Và nguy cơ NKTN trên bệnh nhân sỏi tiết niệu tăng dần theo độ tuổi, chủ yếu ở nhóm tuổi trên 45 (96,7%). Như vậy, tuổi càng cao, thời gian bị sỏi càng lâu là những yếu tố quan trọng phát sinh tình trạng nhiễm khuẩn.

Vi khuẩn E. Coli - Nguyên nhân hàng đầu cho bệnh viêm đường tiết niệu

Kết quả nghiên cứu cho thấy, căn nguyên vi khuẩn gây NKTN chủ yếu thuộc họ vi khuẩn đường ruột, chiếm 71%, trong đó E. coli chiếm tỷ lệ cao nhất 48,8%. Tiếp theo, là các vi khuẩn Gram âm không thuộc họ vi khuân đường ruột. Vi khuẩn Gram (+) duy nhất phân lập được là tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) với tỷ lệ 6,5%. Kết quả này tương đồng với nhiều nghiên cứu khác, khi luôn xác định được E.coli và các vi khuẩn đường ruột khác là tác nhân chủ yếu gây NKTN. Đồng thời, mức độ đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây NKTN cho thấy: Ba loại kháng sinh nhạy cảm nhất đối với các vi khuẩn gây NKTN là car- bapenem (90,9-100%), amikacin (95,7%) và piperacillin-tazobactam (82,6%), trong đó etarpenem chưa xuất hiện sự đề kháng. Đáng chú ý, kháng sinh Quinolin hay dùng trong điều trị NKTN đã bị đề kháng từ 31,3-50%. 71,4% số vi khuẩn này là vi khuẩn đa kháng. Riêng với E.coli đề kháng với nhiều kháng sinh như: ampicillin 72,7%,    amoxicillin/clavulanic    72,7%,  trimethoprim 71,4%, gentamycin  53,3%, cephalosphorin 50-53,3%, kháng ciprofloxacin và norfloxacin với tỷ lệ tương ứng là 42,9% và 40%. Chưa phát hiện E.coli kháng nhóm carbapenem, fos- micin và amikacin (100% nhạy cảm). Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Kiều Chí Thành, E.coli kháng ampicillin 81,2%; trimethroprim/sulfamethoxazole 76,7%; kháng nhóm cephalosporin dao động từ 65,4-69,7%. Nhóm quinolones cũng bị kháng với tỷ lệ cao từ 70,6-75,0%, còn nhạy cảm tốt với nhóm carbapenem từ 90,7-95,1% [4]. Theo nghiên cứu của V. Niranjan ở Ấn Độ, E.coli cũng đã kháng với các kháng sinh như ampicillin 88,4%; amoxicillin/acid clavulanic 74,4%; nor- floxacin 74,2%; cefuroxime 72,2%; ceftri- axone 71,4% [5]. Kết quả này có thể do thói quen tự ý sử dụng kháng sinh khi các kháng sinh β-lactam, quinolone rất dễ mua và sử dụng trong cộng đồng.

Thông qua nghiên cứu, sự đề kháng kháng sinh của E.coli sinh và không sinh ESBL(Extended spectrum β-lactamase: men β-lac- tamase phổ rộng) là một trong những cơ chế giúp vi khuẩn kháng lại với các kháng sinh, đặc biệt là cephalosphorin các thế hệ. Trong nghiên cứu này, tỷ  lệ E.coli sinh ESBL chiếm 47%. Có thể nhận thấy sự khác biệt về tính đề kháng kháng sinh giữa hai nhóm vi khuẩn E.coli sinh và không sinh ESBL (Biểu đồ 3), đặc biệt trên các kháng sinh như ampicillin (100% và 50%),các cephalosphorin (100% và 0-12,5%), gen- tamycin (85,7% và 25%). Đáng chú ý, gen quy định tổng hợp ESBL có thể nằm trên plasmid và gen nhảy (transposon). Do đó, có thể lan truyền từ vi khuẩn này sang vi khuẩn khác khi chúng tiếp xúc với nhau. Riêng trong nhóm phối hợp βlactam và chất ức chế βlactamse, tỷ lệ vi khuẩn E.coli trong nhóm không sinh ESBL có tỷ lệ đề kháng cao hơn, cụ thể: amoxicillin/clavulanic: 20% và 42,8%, ticarcillin/tazobactam: 0% và 16,7%. Như vậy, chất ức chế βlactamse đóng vai trò rất lớn trong hạn chế sự đề kháng βlactam ở vi khuẩn tiết men ESBL. Chưa có sự đề kháng với carbapenem trong cả 2 nhóm. Khảo sát tình hình đề kháng kháng sinh của các trực khuẩn Gram (-) cho thấy, có sự tương đồng về sự đề kháng ampicillin của E.coli sinh và không sinh ESBL (99% và 91%), amoxicillin/acid clavulanic: 45% và 57%. Tuy nhiên, có sự khác biệt rõ rệt trong nhóm cepahlosphorin: 51-99% E.coli sinh ESBL kháng, trong khi đó, tỷ lệ kháng ở nhóm không sinh ESBL chỉ 18- 65%

Như vậy, thông qua việc triển khai đề tài nghiên cứu đặc điểm nhiễm khuẩn tiết niệu trên bệnh nhân sỏi tiết niệu, Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh cho thấy NKTN chủ yếu do các vi khuẩn Gram âm có nguồn gốc từ đường ruột, do đó vệ sinh đúng cách, hạn chế đưa vi khuẩn từ đường tiêu hóa sang đường tiết niệu là một biện pháp tốt để phòng bệnh. Các vi khuẩn này chủ yếu là vi khuẩn đa kháng kháng sinh, có thể là hậu quả của thói quen tự ý dùng thuốc hoặc lạm dụng thuốc. Chính vì vậy, cần tuyên truyền, nâng cao ý thức sử dụng kháng sinh có trách nhiệm cho thầy thuốc và cả cộng đồng. Tuy nhiên, những vi khuẩn này vẫn nhạy cảm tốt với car- bapenem và ticarcillin/tazobactam, do đó, nếu chưa có kháng sinh đồ, 2 kháng sinh này nên được lựa chọn. ESBL giúp vi khuẩn kháng lại cephalosphorin và các khác sinh khác tốt hơn. Men này có thể lan truyền giữa các vi khuẩn, vì thế, đề cao các phương pháp tiệt trùng, khử khuẩn là một biện pháp góp phần hạn chế gia tăng tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh./.

 

Nguyễn Thành Trung - UBND thành phố 

 

Tin khác


 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.