« Quay lại

Một số kết quả hoạt động nổi bật của đội ngũ trí thức khoa học công nghệ tỉnh Nghệ An, các giải pháp đề xuất

1. Tình hình đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ

Đội ngũ trí thức khoa học, công nghệ đóng vai trò động lực, đi đầu trong việc nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ, tiếp nhận và chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhiều công trình khoa học đã góp phần quan trọng trong thay đổi cơ cấu nền kinh tế, tăng năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao. Các công trình nghiên cứu khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng, khoa học xã hội đã để lại nhiều dấu ấn trong tiến trình phát triển của đất nước, trong đời sống xã hội và góp phần vào sự phát triển của đất nước.

Cùng với sự phát triển của đất nước, của tỉnh đội ngũ trí thức Nghệ An trong những năm qua đã tăng nhanh về số lượng, nâng lên về chất lượng; góp phần trực tiếp cùng toàn dân đưa tỉnh Nghệ An thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, từng bước xóa đói giảm nghèo, phát triển nâng cao chất lượng cuộc sống.

Viện Khoa học - Kỹ thuật nông nghiệp vùng Bắc Trung Bộ là đơn vị tham gia hoạt động nghiên cứu triển khai của Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh

 

Theo kết quả điều tra, tỉnh Nghệ An, có tổng số 71 đơn vị là các tổ chức KH&CN trên địa bàn có tham gia hoạt động nghiên cứu triển khai, trong đó có 6 trường đại học, 11 trường Cao đẳng, Trung cấp đào tạo nguồn nhân lực cung cấp cho vùng và trong cả nước, 6 đơn vị KH&CN của các Bộ đóng trên địa bàn Nghệ An, phạm vi hoạt động mang tính vùng (Viện Khoa học - Kỹ thuật nông nghiệp vùng Bắc Trung Bộ; Trung tâm Khí tượng - Thuỷ văn Bắc Trung Bộ, Phân Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Bắc Trung Bộ, Chi cục Thú y vùng IV, Trung tâm bảo vệ thực vật vùng, Đại học Vinh, Đại học sư phạm kỹ thuật Vinh),  4 đơn vị KH&CN tỉnh Nghệ An đã có liên kết hoạt động KHCN trong Vùng (Trung tâm kiểm nghiệm Mỹ phẩm - Dược phẩm Nghệ An; Trung tâm kiểm định xây dưng; Viện Quy hoạch và kiến trúc; Trung tâm Kỷ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thuộc Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng). Ngoài ra, Nghệ An có Trung tâm KHXH-NV; Điểm kết nối cung cầu và sàn giao dịch công nghệ đã đi vào hoạt động bước đầu đã có tầm ảnh hưởng nhất định đối với các tỉnh trong vùng; cũng theo số liệu điều tra 237 đơn vị là các cơ quan QLNN, viện nghiên cứu, tổ chức KH&CN, trung tâm, trạm trại, Trường đại học, cao đẳng, trường trung cấp, trường PTTH và các DN KH&CN trên địa bàn tỉnh: Tổng nhân lực KHCN hiện có 63.978 người có trình độ đại học trở lên tăng 29,6% so với năm 2017. Trong đó có 4.989 thạc sỹ, 421 tiến sỹ, 83 phó giáo sư và 7 giáo sư.

2. Những đóng góp của đội ngũ trí thức KH&CN vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

         a.  Hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng KH&CN

         Trong giai đoạn 2006 – 2020, trên cơ sở các chương trình KH&CN đã được phê duyệt (12 chương trình trọng điểm cấp tỉnh, tổng hợp giai đoạn 2006-2014 và 6 chương trình trong điểm giai đoạn 2014-2020), lực lượng trí thức KH&CN tỉnh nhà đã chủ trì và tham gia thực hiện tổng số 415 đề tài, dự án cấp tỉnh và 19 đề tài, dự án TW. Trong đó tỷ lệ đề tài, dự án chương trình phục vụ phát triển nông nghiệp, y tế, khoa học xã hội và nhân văn chiếm trên 50% tổng số đề tài, dự án; Các đề tài, dự án thực hiện giai đoạn này tập trung chủ yếu vào các nội dung: điều tra nghiên cứu về văn hóa lịch sử; kinh tế - xã hội; quản lý; giáo dục, y tế; du lịch – dịch vụ; nông lâm thủy sản; bảo vệ tài nguyên, môi trường… đã làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chủ trương, chính sách, cung cấp luận cứ khoa học, cho việc lập quy hoạch, lập các dự án phát triển kinh tế - xã hội, dự án KH&CN về phát triển vùng, địa phương trong tỉnh.

         Trong lĩnh vực nông – lâm – ngư, có thể kết đến như, Lúa – LC25, Thiên Nguyên ưu 16,9; Đậu tương, ngô, vừng, Lạc - L14, L23 L27 năng suất trên 5 tấn/ha; Chè - giống LDP1, LDP2, Mía - VN 84-41-37 năng suất đạt từ 80-85 tấn/ha, độ đường cao 12-14%, giống mía F156, Lâm viên 3, Lâm viên 6; Cam, quýt - Cam V2, quýt PQ ... có năng suất, chất lượng cao phù hợp với sinh thái ở các vùng và phục vụ các vùng nguyên liệu - gắn trồng trọt với chế biến hàng nông sản. Hoàn thành quy hoạch ứng dụng CNC trong sản xuất lúa, lạc, chè và mía.

Cam V2 là sản phẩm nghiên cứu chuyển giao có hiệu quả cao

Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, đã triển khai nhiều đề tài, dự án ứng dụng CNTT nhằm hỗ trợ các ngành, các DN. Nhiều đơn vị đã sử dụng các phần mềm chuyên ngành để xây dựng, tích hợp cơ sở dữ liệu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước. Các phần mềm dùng chung ngày càng được các cấp, các ngành quan tâm đưa vào sử dụng nhiều hơn như: Phần mềm Hệ thống quản lý văn bản và điều hành Văn phòng di động (M-Office) triển khai tại 31 đơn vị. Phần mềm Văn phòng Điện tử (e-Office) triển khai tại 5 đơn vị; Phần mềm quản lý văn bản và điều hành (iDOC) đã triển khai tại 03 đơn vị; Phần mềm hiện đại hoá Trung tâm giao dịch "một cửa" triển khai tại 10 đơn vị, góp phần cụ thể hóa hoạt động ứng dụng CNTT phục vụ CCHC.

Trong lĩnh vực tài nguyên môi trường, đã điều tra đa dạng sinh học ở Pù Hoạt, Puxailaileng, đảo Ngư, đảo Mắt và biển ven bờ, lâm sản ngoài gỗ góp phần vào bảo tồn, phát triển các loài quý, hiếm và có giá trị kinh tế ở Nghệ An. Ứng dụng công nghệ mới để xử lý rác thải y tế (tại Bệnh viện hữu nghị đa khoa), rác thải sinh hoạt khu Nghi Yên (công nghệ Nhật Bản).

Trong lĩnh vực y tế và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Các nghiên cứu về điều tra cơ bản tình hình bệnh tật tại cộng đồng, tình hình vệ sinh môi trường và đề xuất các giải pháp phòng chống đạt hiệu quả cao như: Bệnh đái tháo đường típ II; cấp cứu nhi khoa, bệnh xuất huyết não của trẻ em; bệnh tai biến mạch máu não; những yếu tố ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng trên công trường thuỷ điện Bản vẽ và vùng tái định cư …

Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, đã tư liệu hóa, văn tự hóa những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể thuộc lĩnh vực văn hoá dân gian và văn hoá bác học, nghiên cứu lịch sử truyền thống của địa phương, ngành. Khôi phục các lễ hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá góp phần vào việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và bản sắc con người Xứ Nghệ và giáo dục truyền thống cho các thế hệ. Một số nghiên cứu: văn hoá và ngôn ngữ người Ơ - Đu, người Đan Lai, Nghiên cứu, biên soạn, xuất bản Lịch sử Nghệ An, Nghệ An toàn chí, Lịch sử quân sự Nghệ An; Bảo tồn và phát huy kho tàng dân ca xứ Nghệ trước xu thế đổi mới, hội nhập toàn cầu hoá hiện nay; Nghiên cứu biên soạn tài liệu dạy học chữa Thái Lai Tay, Lai Pao…

Nghiên cứu biên soạn tài liệu dạy học chữa Thái Lai Tay là công trình nghiên cứu có ý nghĩa nhân văn lớn

Hoạt động hỗ trợ DN đổi mới công nghệ, phát triển tài sản trí tuệ, Khoa học và công nghệ đã có tác động rất lớn đến việc hỗ trợ các DN ứng dụng TBKH&CN, đổi mới thiết bị, công nghệ, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Từ năm 2010-2018 có 95 dự án được hỗ trợ với tổng số tiền 4,922 tỷ, trong đó áp dụng HTQLCL 72 dự án và 23 dự án đầu tư đổi mới công nghệ, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá được nâng lên rõ rệt.

Hoạt động khuyến khích và thúc đẩy hoạt động sáng tạo KH&CN và khởi nghiệp sáng tạo. Hoạt động xét thưởng các sáng tạo KH&CN và hội thi sáng tạo khởi nghiệp do Sở KH&CN chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Liên hiệp các hội KHKT tỉnh, Liên đoàn lao động tỉnh và Tỉnh đoàn Nghệ An tổ chức 2 năm. Trong giai đoạn 2014-2020 đã có hàng trăm công trình đạt giải sáng tạo KH&CN và Hội thi khởi nghiệp sáng tạo.

3. Những vấn đề đặt ra trong phát triển đội ngũ trí thức KH&CN

Một là, nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền về vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức và trách nhiệm đối với đội ngũ trí thức chưa đầy đủ, sâu sắc; chưa gắn việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng đội ngũ trí thức vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong kế hoạch hằng năm cũng như dài hạn của địa phương. Nhiều địa phương chưa định kỳ tổ chức gặp mặt đối thoại, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trí thức. Hai là, môi trường làm việc ở một số nơi chưa thật sự dân chủ, tự do sáng tạo, đặc biệt đối với trí thức khoa học xã hội và văn nghệ sĩ. Công tác cán bộ, công tác quản lý, nhất là khâu đánh giá, sử dụng trí thức còn nhiều bất cập, nhiều điểm không phù hợp, chưa đáp ứng yêu cầu ở một số ngành, lĩnh vực. Ba là, chính sách thu hút trí thức có trình độ cao chưa thật sự hấp dẫn, chưa có nhiều chính sách hỗ trợ, phát triển đội ngũ trí thức hoạt động trong các doanh nghiệp; ở một số ngành xảy ra tình trạng chảy máu chất xám. Bốn là, chưa phát huy tốt vai trò của tổ chức Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật, nơi tập hợp và đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ. Năm là, một bộ phận trí thức chưa tâm huyết, chưa đầu tư nhiều thời gian cho học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ, một số trí thức bị tác động bởi mặt trái của kinh tế thị trường, chưa thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Sáu là, Đầu tư tài chính cho sự nghiệp khoa học cũng như phát triển tiềm lực khoa học còn hạn chế, tỉnh đang phụ thuộc hoàn toàn vào kinh phí phân bổ từ trung ương là chính.

4. Để thúc đẩy xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức trong tình hình mới

Thứ nhất, các tổ chức hội trí thức cần chủ động nghiên cứu, đề xuất với các cơ quan chức năng để đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động, tập hợp sức mạnh và trí tuệ của đội ngũ trí thức, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong tình hình mới. Thứ hai, thay đổi nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của đội ngũ trí thức trong phát triển bền vững, bảo đảm quốc phòng - an ninh đất nước. Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý thuận lợi và tổ chức nhiều diễn đàn để khuyến khích và bảo đảm quyền lợi, trách nhiệm của trí thức khi tham gia các hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội các chủ trương, chính sách, dự án phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thứ tư, thường xuyên quán triệt, củng cố nhận thức chính trị của đội ngũ trí thức về vai trò, trách nhiệm đối với đất nước. Tăng cường và đổi mới công tác tư tưởng của Đảng đối với trí thức, đặc biệt là trí thức trẻ vì lý tưởng cao đẹp của Đảng, của dân tộc và trách nhiệm công dân đối với xã hội. Thứ năm, xây dựng và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, nhất là các chuyên gia giỏi, có nhiều đóng góp cho tỉnh. Thứ sáu, tổ chức tốt công tác tôn vinh các nhà trí thức KH&CN có nhiều đóng góp cho phát triển KH&CN nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung. Thứ bảy, tăng cường đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN tương đương 2% theo Luật KH&CN./.

                                                         Hoàng Nghĩa Nhạc

                                                        Sở Khoa học và Công Nghệ

 

Tin khác


 

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.