« Quay lại

Nghiên cứu giảm thính lực trẻ sơ sinh đo bằng âm ốc tai (OAE) sàng lọc tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An

Giám thính lực và khiếm thính là một trong những nguyên nhân quan trọng gây tàn tật ở trẻ em. Theo báo cáo của uỷ ban Thính lực học quốc tế (năm 1995) vào cuối thế kỉ XX trên toàn thế giới có khoảng 57 triệu người (chiếm 2,1% dân số toàn cầu) bị khiếm thính/giảm thính lực có ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày. Tỷ lệ giảm thính lực/ tổng dân số tại châu Phi là 1,6%, khu vực Tây Thái Bình Dương là 2%, châu Âu là 1,8%, Mỹ là 2,5% dân số. Tại Việt nam, cho đến nay chưa có số liệu chính thức về tỷ lệ mắc giảm thính lực chung cũng như tỷ lệ giảm thính lực ở trẻ em


Giải phẫu tai đo OAE

Nghe kém là hiện tượng giảm một phần hay toàn bộ khả năng cảm nhận về âm thanh. Nghe kém có thể gặp ở mọi lứa tuổi và có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, trẻ bị nghe kém sẽ không giao tiếp được, kết quả là trẻ chậm phát triển ngôn ngữ, trí tuệ và gặp khó khăn trong cuộc sống là gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội. Vì thế, Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An triển khai đề tài nghiên cứu giảm thính lực trẻ sơ sinh đo bằng âm ốc tai (OAE) sàng lọc với 2 mục tiêu: Xác định tỷ lệ khiếm thính trẻ  sơ sinh tại bệnh viện Sản nhi tỉnh Nghệ An vàv Đánh giá mối liên quan trẻ sơ sinh khiếm thính với các yếu tố nguy cơ.

Đối tượng nghiên cứu là tất cả trẻ sinh ra được 24 giờ tuổi trở lên từ 2016 - 2019. Qua khám và đo âm ốc tai (OAE) sàng lọc 12000 trẻ sơ sinh sinh tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Nghệ An, kết quả như sau:  Tỷ lệ khiếm thính trẻ sơ sinh là 0.67%; Mối liên quan trẻ sơ sinh với các yếu tố nguy cơ gây nghe kém là: Tiền sử mẹ bị cúm (11,25 %), Tiền sử mẹ bị sốt phát ban (6,25%); Tiền sử mẹ bị rubella (12,5%); Tiền sử mẹ bị sởi (12,5%); tiền sản giật (22,5 %), cân nặng (dưới 2500 gram là 76,25%; cân nặng trên 2500 gram là 23,75%), tuổi thai (dưới 37 tuần: 67,5 %), cách thức sinh (sinh thường: 30 %; sinh can thiệp (70%), thở O2 sau sinh (13,75%), vàng da sau sinh (10%).

Hội thảo sàng lọc khiếm thính trẻ sơ sinh

Thông qua đối tượng nghiên cứu là tất cả trẻ sinh ra được 24 giờ tuổi trở lên từ 2016 - 2019, đề tài tiến hành đo thính lực, cho thấy tỉ lệ khiếm thính trẻ sơ sinh tại bệnh viện Sản Nhi Nghệ An là 0.67 %. Kết quả nghiên cứu này thấp hơn so với nghiên cứu giảm thính lực ở trẻ sơ sinh bằng đo âm ốc tai sàng lọc cho trẻ sơ sinh tại bệnh viện phụ sản Hà Nội của Nguyễn Thu Thủy có 3,4% số trẻ sơ sinh có OAE âm tính,thấp hơn nghiên cứu giảm thính lực tại tỉnh Cà Mau của Nguyễn Tuyết Xương có 0,94% đo OAE âm tính. Cũng như thấp hơn tỷ lệ OAE (-) lần 1 sàng lọc nghe kém tại tại các Trạm y tế xã Thái Bình trên hơn 6000 trẻ sơ sinh của Phạm Thị Tỉnh (2011) là 5,9% và tương đương nghiên cứu ở Hà Lan trên 5282 trẻ sơ sinh bằng nghiệm pháp đo âm ốc tai cho thấy 4,54% trẻ sơ sinh bị điếc tiếp nhận ,nghiên cứu của chúng tôi cho tỷ lệ OAE (-) lần 1 là 4%.

Qua đo ABR cho những trẻ có kết quả đo OAE (-) lần hai,tỷ lệ trẻ giảm thính lực tại bệnh viện Sản Nhi Nghệ An là 0,3% .Kết quả nghiên cứu này tương đương với nghiên cứu Finitzo(Texas- Mỹ) 0,28%.

Thông qua kết quả cho thấy, tỷ lệ đo âm ốc tai âm tính ở nam giới là 52,5% cao hơn ở nữ giới là 47,5%.Tương tự nghiên cứu sàng lọc nghe kém qua đo âm ốc tai ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, trẻ em nam có kết quả đo OAE (-) cao hơn ở trẻ em nữ, 54,5% và 45,5%. Khu vực thành thị và nông thôn có tỷ lệ OAE (-) tương đối giống nhau (0,75 % và 0,5 %). Sự khác biệt về kết quả OAE (-) và OAE (+) giữa nơi cư trú không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Tổng số trẻ nghe kém có mẹ làm nghề công nhân, dịch vụ chiếm nhiều nhất (65%), nhưng do tỷ lệ người làm nông nghiệp nhiều nên tỷ lệ nghe kém không có sự khác biệt.

Kết quả nghiên cứu cho thấy không có trẻ nghe kém có cha mẹ hoặc người thân trong gia đình có tiền sử bị điếc, nghe kém.. Kết quả này tương tự Nghiên cứu của Nguyễn Thu Thủy tại bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy không có sự khác biệt về tiền sử gia đình có người bị giảm thính lực giữa trẻ có kết quả OAE (+) và OAE (-). Có 9 trẻ nghe kém có mẹ bị cúm trong quá trình mang thai(11,25 %), 10 trẻ có mẹ bị Rubella(12,5%), 10 trẻ có mẹ bị sởi (12,5%), 4 trẻ có mẹ bị mẹ bị sốt phát ban (6,25%). Kết quả này cũng tương tự kết quả nghiên cứu trước đây về các yếu tố nguy cơ của trẻ giảm thính lực tại nước ta. Lê Thị Thu Hà (2011) nghiên cứu trẻ sơ sinh có nguy cơ cao cho thấy trẻ có mẹ bị nhiễm vi rút (chủ yếu là rubella) trong thai kỳ có nguy cơ bị nghe kém cao gấp 7,97 lần so với những trẻ có mẹ không bị.

Kết quả nghiên cứu này cho thấy trẻ có cân nặng khi sinh dưới 2500 gam có khả năng bị nghe kém cao gấp 3,2 lần so với trẻ có cân nặng sơ sinh từ 2500 gam trở lên (61/19). Nghiên cứu tại bệnh viện Phụ Sản Trung ương cho thấy nguy cơ trẻ sơ sinh cân nặng khi sinh dưới 2500g có kết quả đo OAE (-) cao gấp 9,71 lần trẻ có cân nặng khi sinh ≥2500 (p<0,01); Tuổi thai khi sinh là yếu tố nguy cơ tới nghe kém ở trẻ. So với những trẻ sinh đủ tháng (≥37 tuần tuổi), những trẻ sinh thiếu tháng (<37 tuần tuổi) có nguy cơ bị nghe kém cao hơn 2,1 lần (54/26).

 Về cách thức sinh trẻ, có 56 trong 80 trẻ nghe kém là sinh can thiệp (70%) và 30% trẻ nghe kém sinh thường. Nghiên cứu này cho thấy có sự khác biệt giữa tỷ lệ sinh thường hoặc can thiệp trong khi sinh ở những trẻ trong nghiên cứu. sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P = 0,036

Kết quả nghiên cứu cho thấy trong 80 trẻ nghe kém thì có 11 trẻ phải can thiệp thở oxy sau sinh (13,75%). Kết quả nghiên cứu cho thấy trong 80 trẻ nghe kém thì có 8 trẻ bị vàng da ,chiếm tỷ lệ 10%. Nghiên cứu sàng lọc trẻ nghe kém tại Hà Nội có 100 trẻ bị vàng da sơ sinh bất thường phải điều trị (chiếu đèn, truyền dịch…) tại khoa hồi sức sơ sinh, trong đó 52 trẻ có kết quả đo OAE (-).Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà (2011) cũng cho thấy vàng da tăng bilirubin tự do không phải là yếu tố nguy cơ của giảm thính lực.

Các biện pháp phòng ngừa và điều trị:

- Các biện pháp phòng ngừa: Thực hiện chương trình  tiêm chủng mở rộng quốc gia; Khám phát hiện và điều trị bệnh giang mai ở phụ nữ mang thai; Thận trọng khi ghi đơn thuốc cho trẻ em vì có một số loại thuốc gây ngộ độc tai; Điều trị sớm các nhiễm trùng tai; Trẻ sinh ra bị vàng da cần được điều trị .

- Phát hiện sớm và can thiệp sớm: Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng cho cộng đồng về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc sàng lọc OAE; Thăm dò thính giác được khuyến cáo để phát hiện sớm; Điều trị bằng thuốc hoặc thủ thuật, phẫu thuật; Cho  bệnh nhân mang máy nghe; Cấy điện ốc tai điện tử; Các chương trình giáo dục dành cho trẻ khiếm thính.

- Các mô hình can thiệp sớm: Can thiệp sớm tại khoa Tai Mũi Họng và khoa TKPHCN bệnh viện đa khoa và các bệnh viện chuyên khoa; Hướng dẫn cho cha mẹ cách can thiệp dạy trẻ tại nhà.

Như vậy, thông qua nghiên cứu của đề tài, khám và đo âm ốc tai (OAE) sàng lọc 12000 trẻ sơ sinh sinh tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Nghệ An, kết quả như sau: Tỷ lệ khiếm thính sơ sinh tại bệnh viện sản nhi tỉnh Nghệ An là 0,67%; Mối liên quan trẻ sơ sinh khiếm thính  với các yếu tố nguy cơ gây nghe kém là:  Trẻ nam là 52,5%;  nữ là 47,5%;  Khu vực nông thôn là 0,5%, thành thị là 0,75%; Nghề nông dân là 21,25 công nhân, dịch vụ là 65%; nghề nghiệp khác là 13,75%; Tiền sử gia đình có người điếc là 0 %; Tiền sử mẹ bị cúm là 11,25%; Tiền sử mẹ bị sốt phát ban là 6,25%; Tiền sử mẹ bị rubella là 12,5%; Tiền sử mẹ bị sởi là 12,5%; Tiền sử mẹ bị bệnh tiểu đường là 0 %; Mẹ có chích ngừa là 35 %; có tiền sản giật là 22,5%;  Cân nặng dưới 2500 gram là 76,25%; cân nặng trên 2500 gram là  23,75%. Tuổi thai (thai 38 - 42 tuần là: 32,5%,dưới 37 tuần là: 67,5%; hơn 42 tuần là 0%), theo cách thức sinh (sinh thường là 30%; sinh can thiệp: là 70 %), trẻ nghe kém thở O2 sau sinh là 13,75 %; trẻ nghe kém vàng da sau sinh là 10%;

Để nâng cao hiệu quả nhằm phục hồi thính lực cho những trẻ khiếm thính đã được phát hiện, nhóm nghiên cứu kiến nghị cho phép mở rộng việc triển khai chương trình đo âm phát ốc tai kích thích sàng lọc cho tất cả trẻ sơ sinh tại các bệnh viện phụ sản, các nhà hộ sinh, khoa sơ sinh của các bệnh viện nhi, đặc biệt trẻ sơ sinh có yếu tố nguy cơ gây giảm thính lực; Tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng cho cộng đồng về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc sàng lọc, phát hiện sớm giảm thính lực ở trẻ sơ sinh bằng đo OAE; Cho phép nghiên cứu tiếp về đánh giá thính lực bằng đo điện thính giác thân não ở trẻ có kết quả đo OAE âm tính. Đồng thời, kiến nghị với lãnh đạo bệnh viện, sở y tế cần có những khuyến cáo về nguy cơ giảm thính lực cho nhân dân; Trang bị những thiết bị chẩn đoán giảm thính lực và có những can thiệp sâu hơn cho trẻ nhỏ khiếm thính như cấy điện cực ốc tai, điện thính giác thân não./.

 

 

Tin khác


 

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.