« Quay lại

Dự án “Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ xây dựng mô hình sản xuất giống và trồng thử nghiệm cây Gáo vàng (Nauclea orientalis) trên địa bàn huyện Quỳ Châu”

Phát triển kinh tế xã hội trong những năm qua tại huyện Quỳ Châu cây lâm nghiệp được trồng chủ yếu như keo lá tràm, lát hoa, mỡ. Qua các nghiên cứu trong và ngoài nước và đã đi đến kết luận loài cây Gáo vàng xuất xứ tại Việt Nam và tại Thái lan có năng suất cao hơn nhiều lần so với kinh doanh các loài cây lâm nghiệp khác. Xét về đặc điểm sinh vật học và sinh thái học Gáo vàng có nhiều ưu điểm, hơn nữa về sản phẩm đầu ra hiện nay do nhu cầu của thị trường ngày càng cao về gỗ, ván ép, đồ gia dụng... nên được quan tâm nhiều hơn. Cụ thể mỗi ha rừng Gáo vàng bán sản phẩm nguyên liệu giấy hoặc gỗ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với một số loài cây như keo, bạch đàn. Để góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu nhập cho người dân một cách bền vững, việc thực hiện Dự án "Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ xây dựng  mô hình sản xuất giống và trồng thử nghiệm cây Gáo vàng (Nauclea orientalis) trên địa bàn  huyện Quỳ Châu" có ý nghĩa thiết thực trong giai đoạn hiện nay.

Ban quản lý dự án đã chọn hai địa điểm sản xuất cây giống đó là Trại Nghiên cứu thực nghiệm và ươm tạo công nghệ cao Thái Hòa 300 m2 Hợp tác xã Hoàng Anh xã Châu Hạnh 200 m2. Mô hình trồng rừng chọn 1 hộ gia đình  thuộc xã Châu thuận, và 3 hộ gia đình tại xã Châu Hạnh (mỗi hộ từ 1-2 ha) để thực hiện mô hình.

 

1. Thời gian trồng, diện tích, số lượng cây của các mô hình trồng thử nghiệm cây Gáo vàng tại huyện Quỳ Châu

Ban quản lý dự án đã bàn giao 1000 cây cho 2 hộ gia đình anh Hà văn Chinh và anh Vi Văn Tuấn thực hiện mô hình, số cây còn lại được ươm tại vườn ươm để phục vụ cho công tác trồng dặm. Diện tích còn lại được trồng tại các hộ gia đình ở xã Châu Hạnh nguồn giống được sản xuất tại Trại Nghiên cứu thực nghiệm và ươm tạo công nghệ cao Thái Hòa và hợp tác xã Hoàng Anh.

Sau 4 tháng trồng rừng tổng số cây bị chết là 133 cây, cây sống  đạt  tỷ lệ trung bình là 97,05 %  cụ thể đợt 1 có 58/1100 cây chết, đợt 2 có 25/833 cây chết; đợt 3 có 35/2083; đợt 4 có 15/833 cây bị chết. (chết nhiều nhất vào đợt 1 là 58 cây). Nguyên nhân là do đợt 1 trồng 30% cây mua tại vùng Đông Nam Bộ theo quy định của dự án quá trình vận chuyển xa, có sự thay đổi của khí hậu, bên cạnh đó trồng lần đầu nên chưa có kinh nghiệm, Tỷ lệ cây sống trung bình sau 4 tháng trồng đạt 97,05%.

Sau 8 tháng trồng rừng kết quả cho thấy tỷ lệ cây chết giảm dần 167 cây (±34 cây so với 4 tháng đầu) tỷ lệ cây sống đạt 96,25%. cụ thể đợt 1 có 76 (±18) cây chết, đợt 2 có 33 (±8) cây chết; đợt 3 có 40 (±5) cây bị chết; đợt 4 có 18 (±3) cây bị chết, vào thời điểm này cây con đã dần quen với điều kiện lập địa và hoàn cảnh nơi trồng rừng đồng thời bộ rễ đã phát triển nên cây sinh trưởng tốt hơn. Tuy nhiên vẫn có một số cây bị chết là do nguyên nhân có một số hố tạo quá sâu nên sau khi mưa nước không thoát được nên gây ngập úng và làm cho đất bí chặt nên bộ rễ bị ngẹt dẫn đến cây bị chết.

Tại thời điểm 12 tháng sau trồng, số cây chết là 136 cây, tương ứng với tỷ lệ sống là 93,26 % (±53 cây). Cụ thể đợt 1 có 98 (±40) cây chết, đợt 2 có 38 (±13) cây chết (đợt 3 và đợt 4 do thời gian trồng muộn nên nên chưa có số liệu). Nguyên nhân số cây bị chết là do cuối năm 2019 là mùa khô kéo dài nên có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của rừng trồng. Tuy nhiên vào thời điểm này cây con đã sinh trưởng ổn định và đang phát triển tốt so với yêu cầu của hợp đồng thì tỷ lệ cây sống đạt. (theo tiêu chuẩn trồng rừng tỷ lệ cây sống đặt 85% trở lên là đạt yêu cầu)

2. Kết quả sinh trưởng đường kính gốc của mô hình trồng thử nghiệm trồng cây Gáo vàng tại huyện Quỳ Châu

Sau 4 tháng trồng rừng đường kính gốc qua các đợt trồng rừng chênh lệch nhau không nhiều bình quân là 0,8 cm. Chỉ tiêu đường kính gốc trồng đợt 1 là 0,75 cm; trồng đợt 2 là 0,87 cm; trồng đợt 3 là  0,8 cm; trồng đợt 4 là 0,78 cm. Vì đo lần đầu do vậy chưa xác định sự tăng trưởng, vào thời điểm này cây con mới làm quen với môi trường ngoài nên sinh trưởng đường kính gốc đang còn chậm.

Sau 8 tháng trồng rừng đường kính gốc bình quân là 1,76 cm. Chỉ tiêu đường kính gốc trồng đợt 1 là 1,55 cm; trồng đợt 2 là 1,95 cm; trồng đợt 3 là  1,85 cm; trồng đợt 4 là 1,70 cm. Kết quả cho thấy lượng tăng trưởng  bình quân qua các lần đo là 0,96 cm

Sau 12 tháng trồng rừng đường kính gốc bình quân là 3,19 cm. Chỉ tiêu đường kính gốc trồng đợt 1 là 2,95 cm; trồng đợt 2 là 3,44 cm (trồng đợt 3 và  đợt 4 do thời gian trồng muộn nên chưa có số liệu). Kết quả cho thấy lượng tăng trưởng  bình quân qua các lần đo là 2,42 cm. Cây con trong giai đoạn này đã có tính ổn định về môi trường sống tốc độ tăng trưởng tăng lên, trong thời gian này đã xuất hiện sự cạnh tranh với các yếu tố bên ngoài nhất là cỏ dại và các loài cây phi mục đích khác. Do vậy cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động để tạo điều kiện thuận lợi cho cây con phát triển, mở không gian dinh dưỡng…. (phát dây leo, bụi rậm, xới xáo xung quanh gốc để tạo thoáng khí cho cây)

Kết quả theo dõi chỉ tiêu đường kính gốc của mô hình trồng thử nghiệm cây Gáo vàng tại huyện Quỳ Châu cho thấy đường kính gốc là không có sự biến động lớn tuy nhiên trong thời gian này cần có các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động nhằm đảm bảo về không gian dinh dưỡng cho cây cũng như sự cạnh tranh của những loài phi mục đích khác. Số liệu bình quân cho thấy đến tháng thứ 12 đường kính gốc đạt 3,22 cm so với hợp đồng là đạt yêu cầu.

http://media.puhoat.vn/CMSImage/Resources/Uploaded/puhoat/img-33551-2020-03-20-15-41.jpg?1584693675887

3. Kết quả sinh trưởng chiều cao của mô hình trồng thử nghiệm cây Gáo vàng tại huyện Quỳ Châu

Sau 4 tháng trồng rừng sinh trưởng chiều cao vút ngọn qua các đợt trồng rừng bình quân là 0,42 m. Chỉ tiêu về chiều cao vút ngọn trồng đợt 1 là 0,40 m; trồng đợt 2 là 0,46 m; trồng đợt 3 là  0,43 m; trồng đợt 4 là 0,42 m. vì đo lần đầu do vậy chưa xác định sự tăng trưởng về chiều cao của cây.

Sau 8 tháng trồng rừng sinh trưởng chiều cao vút ngọn qua các đợt trồng rừng bình quân là 0,74 m. Chỉ tiêu về chiều cao vút ngọn trồng đợt 1 là 0,68 m; trồng đợt 2 là 0,79 m; trồng đợt 3 là  0,75 m; trồng đợt 4 là 0,76 m. Kết quả cho thấy lượng tăng trưởng chiều cao vút ngọn trung bình là 0,31 m. Ở giai đoạn này cây Gáo vàng đã có sự sinh trưởng nhanh hơn, cây đã dần quen với điều kiện môi trường ngoài cũng như đã xuất hiện sự cạnh tranh giữa cây Gáo vàng và các loài cây phi mục đích khác. Do vậy vào thời điểm này cần có sự tác động các biện pháp kỹ thuật như làm cỏ, xới xao tạo điều kiện cho cây sinh trưởng

Sau 12 tháng trồng rừng sinh trưởng chiều cao vút ngọn qua các đợt trồng rừng bình quân là 1,23 m. Chỉ tiêu về chiều cao vút ngọn trồng đợt 1 là 1,15 m; trồng đợt 2 là 1,32 m (trồng đợt 3 và  đợt 4 do trồng muộn nên chưa có số liệu). Kết quả cho thấy lượng tăng trưởng chiều cao vút ngọn trung bình là 1,26 m. Ở giai đoạn này cây Gáo vàng sinh trưởng rất nhanh, sự cạnh tranh với môi trường ngoài mạnh hơn lúc này cỏ dại, dây leo và các loài cây bụi... cạnh tranh ánh sáng, đồng thời đã xuất hiện sâu hại.  Do vậy sinh trưởng chiều cao là quy luật tự nhiên của cây rừng. Giai đoạn này cần tác động biện pháp kỹ thuật vun gốc, làm cỏ, phát quang, phòng trừ sâu hại ... tạo điều kiện về không gian dinh dưỡng và các yếu tố khác là rất cần thiết cho cây sinh trưởng.

Qua theo dõi chỉ tiêu sinh trưởng chiều cao của mô hình trồng Gáo vàng tại huyện Quỳ Châu cho thấy, cây Gáo vàng là đối tượng dễ trồng, có khả năng sinh trưởng phù hợp với điều kiện khí hậu và đất đai trên địa bàn huyện Quỳ Châu. Tuy nhiên, mức độ sinh trưởng của loài cây này phụ thuộc nhiều vào điều kiện địa hình, đất đai, thổ nhưỡng và khả năng chăm sóc. Tại các mô hình có điều kiện tự nhiên phù hợp, khả năng chăm sóc tốt thì có khả năng sinh trưởng mạnh và ngược lại. Qua 2 chỉ tiêu sinh trưởng đường kính gốc và chiều cao vút ngọn cho thấy ở đợt trồng  thứ 2 cây Gáo vàng sinh trưởng tốt nhất do ở mô hình này có điều kiện địa hình chạy dọc ven khe, suối, có tầng đất dày nên thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển loài cây Gáo vàng. Vì vậy trong kinh doanh trồng rừng cần chú ý đến yếu tố địa hình và thổ nhưỡng. (vùng trũng, ven khe suối, đất tầng dày...)

 Như vậy, sau 2 năm triển khai dự án với quy mô: 500 m2, công suất: 20.000 cây giống/năm. Dự án đã sản xuất được 25000 cây đủ tiêu chuẩn xuất giống. Thông qua thực hiện dự án, Công ty trách nhiệm hữu hạn công nghệ cao Phủ Quỳ đã bổ sung và hoàn thiện được quy trình kỹ thuật nhân giống, thâm canh cây Gáo vàng trong một số khâu như thời gian xuất hiện sâu ăn lá, mức độ tăng trưởng trong năm đầu tại địa bàn huyện Quỳ Châu. Tuy nhiên, cần tiếp tục theo dõi mô hình ở các năm tiếp theo để hoàn thiện quy trình kỹ thuật. /.

Hải Yến

 

 

Tin khác


 

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.