« Quay lại

Một số đề xuất về cơ chế chính sách để phát triển cây con chủ lực ở Nghệ An

  1. Những cây trồng cần đưa vào danh mục những cây trồng chủ lực

- Cây lúa: Bất luận ở giai đoạn lịch nào của xã hội, lúa vẫn là cây trồng sống còn, cây trồng không thể thiếu được vì an ninh lương thực cho cả xã hội. Đó là cái giá đỡ cho sự phát triển của xã hội. Nhưng sản phẩm của lúa cần phải được cải tiến, phải được thay đổi mạnh về chất lượng sản phẩm theo hướng: Ngon, thơm, mềm, dẻo, sạch, an toàn cho người tiêu dùng. Vì vậy phát triển cây lúa những năm tới phải tập trung mạnh vào các giống lúa có chất lượng cơm gạo ngon và được sản xuất theo công nghệ sạch, an toàn để có sản phẩm VietGAP, sản phẩm hữu cơ, sản phẩm nông nghiệp xanh…

 

- Cây ngô: Nó vừa là cây lương thực, vừa là cây nguyên liệu cho phát triển chăn nuôi, chế biến rượu, bia, cồn… nhu cầu về cây ngô ngày càng lớn cả trong nước và ngoài nước và ngay tại Nghệ An. Hạn chế cây ngô hiện  nay ở Nghệ An là năng suất thấp (bình quân chưa được 45 tạ/ha), diện tích ngô cả năm khoảng 52.000-53.000 ha. Những năm tới cần có biện pháp tăng năng suất ngô và mở rộng diện tích ngô để đảm bảo nhu cầu cho ngành chăn nuôi phát triển, hạn chế nhập ngô từ Mỹ, Mehico về Việt nam mỗi năm từ 2-3 triệu tấn để phục vụ công nghiệp chế biến và thức ăn chăn nuôi.

- Cây mía: Diện tích hiện có khoảng 24.000 ha, năng suất bình quân trên 530 tạ/ha, sản lượng trên 1,2 triệu tấn. Với Nghệ An đưa cây mía vào cây chủ lực có mấy vấn đề cần lưu ý: Không nhất thiết phải mở rộng diện tích, mà phải mạnh dạn chuyển đổi đất trồng lúa không hoàn toàn chủ động nước tưới sang trồng mía như cách làm của xã Nghĩa Hoàn, công ty Nông nghiệp Sông Con ở huyện Tân Kỳ, đưa năng suất mía từ 500 tạ/ha lên 800-900 tạ/ha. Tương tự như vậy, ở một số xã ở Anh Sơn, phải chuyển mía từ đất cao khô hạn xuống trồng ở đất bãi ven sông Lam. Vì cây mía từ khi trồng đến khi thu hoạch bình quân 1 cây mía phải hút từ đất lên 8-10 lít nước, đất càng hạn thì năng suất mía càng thấp. Đầu tư mạnh vào cơ giới hóa cây mía từ khâu làm đất, chăm sóc và thu hoạch để giảm giá thành sản xuất. Đầu tư vào khâu chế biến đường hiện đại hơn. Tận dụng hết các loại phế phụ phẩm sau chế biến đường để sản xuất các loại hàng hóa khác, nhằm làm tăng hiệu quả và tăng giá trị sản xuất của nhà máy.

- Cây chè công nghiệp: Đưa cây chè công nghiệp vào cây chủ lực ở Nghệ An là đúng. Cây chè rất phù hợp với khí hậu và nhóm đất Feralit đỏ vàng ở các vùng đồi núi thấp ở Nghệ An. Hiện tại diện tích chè ở Nghệ An khoảng trên dưới 8.000 ha, năng suất búp tươi trên diện tích kinh doanh đạt khoảng 110 tạ/ha, sản lượng khoảng 76.000-78.000 tấn, sản lượng chè búp chế biến đạt từ 12.000-12.500 tấn.

Với cây chè, Nghệ An cần tập trung cao nhất là khâu chế biến để có sản phẩm tốt nhất và đó cũng là cái yếu nhất ở Nghệ An hiện nay. Vì vậy sản lượng chè được chế biến thì khá nhiều, nhưng giá bán lại quá thấp, nên giá trị thu về không nhiều.

Tiềm năng cây chè rất lớn, thị trường tiêu thụ chè trên thế giới cả hiện tại và trong tương lai đang rộng mở. Vấn đề là chất lượng sản phẩm phải được người tiêu dùng ưa chuộng và là sản phẩm phải sạch không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt quá giới hạn cho phép, hạn chế sử dụng phân đạm vô cơ, không được như vậy thì khó cạnh tranh với trên thị trương cả trong và ngoài nước .

- Cây cam: Cây cam ở Nghệ An đã nổi tiếng khắp cả nước kể cả diện tích nhiều, chất lượng cam ngon. Những năm gần đây cây cam ở Nghệ An diện tích, năng suất, sản lượng lên xuống thất thường, do bệnh greening phá hại làm cây vàng khô lá, quả rụng, gốc thối. Diện tích hiện có khoảng 5.525 ha, cam kinh doanh trên 3500, năng xuất cam mấy năm qua bình quân chưa được 100 tạ/ha. Đối với cây cam là cây có thế mạnh ở Nghệ An cần được đầu tư nhiều và chỉ đạo mạnh để đem lạm hiệu quả kinh tế cao. Cần quy hoạch cụ thể vùng trồng cam tập trung để có vùng hàng hóa tập trung và thuận lợi trong việc đầu tư thâm canh, đầu tư cả cơ sở vật chất hạ tầng, phòng chống sâu bệnh. Phải quản lý tốt nhất khâu giống, không để tình trạng thả nổi cây giống cam như hiện nay. Chính bệnh greening lây lan mạnh là do không quản lý tốt cây giống khi trồng. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất cây giống cam sạch bệnh, liên kết hoặc liên doanh sản xuất cam dưới hình thức trang trại như mô hình ở Đồng Thành, Yên Thành. Về lâu dài cần khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước xây dựng nhà máy chế biến nước hoa quả, trong đó có cam.

 

- Cây nguyên liệu lấy gỗ rất cần đưa vào danh mục cây chủ lực của tỉnh,

- Cây dược liệu: Nghệ An có một tiềm năng rất lớn về cây dược liệu hiện chưa được khoanh nuôi, bảo vệ tốt. Theo nhiều kết quả điều tra, thống kê cho thấy, riêng vườn Quốc gia Pù Mát có đến 2.944 loài thực vật bậc cao thuộc 931 chi, 202 họ. Trong số này có rất nhiều cây đã được dùng làm thuốc chữa bệnh. Toàn Nghệ An có 962 loài cây và nấm dùng làm thuốc thuộc 63 chi, 183 họ của 5 ngành thực vật. Có thể nói Nghệ An là địa phương có số cây làm thuốc chữa bệnh vào loại nhiều của cả nước. Nhưng việc bảo vệ, khai thác và phát triển cây dược liệu ở tỉnh ta vừa qua còn nhiều hạn chế và thậm chí đang có nguy cơ suy giảm do khai thác bừa bãi, do nạn chặt phá, đốt rừng làm nước rẫy. Vì vậy, có nhiều loại cây như: Ngũ gia bì, chân chim, kê huyết đẳng, thiên niên kiện, đẳng sâm, cỏ nhung, sito….có nguy cơ không tồn tại.

  1. Những cây không nên đưa vào danh mục cây chủ lực.

-Cây sắn: Trước đây, sắn là cây lương thực, bây giờ sắn là cây nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất tinh bột sắn để xuất khẩu. Nhưng bản thân sắn là cây trồng làm xấu đất, làm thoái hóa đất, ở đâu trồng sắn, thì đất ở đó khô cằn, vì sắn hút kiệt nước trong đất. Trồng sắn không luân canh, không thâm canh thì dất dễ bị "chết", thậm chí cỏ cũng không mọc được. Hiện tại Nghệ An đang có trên 10.000 ha sắn cung cấp nguyên liệu cho 3 nhà máy chế biến tinh bột sắn và giá trị đóng góp được khoảng 0,7% vào giá trị của ngành nông nghiệp tỉnh nhà. Xét về mặt thị trường thì không ổn định, xuất khẩu chủ yếu thị trường Trung Quốc và xét về mặt cạnh tranh thi sắn Nghệ An không thể cạnh tranh nổi so với vùng nguyên liệu sắn Tây Nguyên ở Đắk Lắk, Gia lai, Con Tum. (Tổng Công ty CP vật tư Nông nghiệp Nghệ An có 2 nhà máy ở Đắk Lắk phải bán). Vì vậy, vấn đề cây sắn phát triển như hiện nay, nếu 3 nhà máy có liên kết tốt với bà con nông dân, nhưng không nên ghi vào Danh mục cây con chủ lực của tỉnh.

- Cây Bơ: Bơ là cây trồng mới đưa vào Nghệ An trồng thử cần có thời gian nghiên cứu, theo dõi để có kết luận về mặt khoa học có phù hợp với đất đai, khí hậu ở Nghệ An không. Vì vậy chưa nên đưa cây Bơ vào Danh mục là cây trồng chủ lực. Nếu có kết quả nghiên cứu và thực tế sản xuất phát triển tốt, có hiệu quả thì bổ sung vào Danh mục là cây chủ lực sau này không muộn.

- Cây rau, củ, quả các loại: Các loại cây rau, củ, quả ở Nghệ An vùng nào cũng có, nhà nào cũng trồng chỉ khác nhau nhiều và ít. Nhưng rau, củ, quả ở Nghệ An đang ở dạng tự cung, tự cấp trong nội tỉnh là chủ yếu và chưa thể là hàng hóa lớn và chưa thể cạnh tranh nổi với rau, củ, quả ở nhiều vùng như: Hà Nội, Lâm Đồng, TP. Hồ Chí Minh. Mặt khác rau, củ, quả phần lớn của Nghệ An chưa thực sự đảm bảo tốt an toàn vệ sinh thực phẩm, nên cạnh tranh ngay trong thị trường Nghệ An cũng khó. Vì vậy, với cây rau, củ, quả của Nghệ An trước mắt khuyến cáo là bà con nông dân cần áp dụng quy trình sản xuất rau an toàn, sạch để cung ứng đầy đủ, thỏa mãn chính trên đất Nghệ An với hơn 3 triệu dân cũng đủ rồi.

Bên cạnh đó, các loại cây say không nên đưa vào danh sách cây chủ lực như: Cây chuối vì không thể trở thành cây hàng hóa ở Nghệ An; Cây lạc thì khó cạnh tranh với cây họ dầu khác. Cây chanh leo mấy năm qua sản xuất không hiệu quả. Cây cao su và cây thức ăn chăn nuôi.

  1. Kiến nghị về cơ chế chính sách phát triển cây con chủ lực

            Muốn có sản xuất hàng hóa lớn, muốn đưa KHKT vào áp dụng đồng bộ vào đồng loạt thì nhất thiết phải từng bước tích tụ ruộng đất lại. Càng manh mún như hiện nay khó và không thể thực hiện được. Vì nhận thức không giống nhau, kẻ đồng tình, người phản đối, lại bảo thủ. Vì vậy, cần có kế hoạch và khuyến khích tích tụ ruộng đất bằng nhiều hình thức khác như: Chuyển quyền sử dụng ruộng đất, cho thuê đất, liên kết sản xuất giữa hợp tác xã hoặc tổ hợp tác với các doanh nghiệp xây dựng lại thành hợp tác xã cổ phần kinh doanh và phục vụ nông nghiệp, người nông dân đóng cổ phần bằng ruộng đất là chủ yếu. Còn có thể trong thực tế sản xuất sẽ có nhiều phương cách tích tụ ruộng đất hay hơn, tốt hơn. Nhưng không thể không tích tụ ruộng đất nếu muốn sản xuất hàng hóa và đưa tiến bộ KHKT ứng dụng rộng rãi vào sản xuất nông nghiệp hiện nay, nhất là việc thực hiện quy trình sản xuất VietGAP, sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp xanh…

            - Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, điện, công trình thủy lợi cho tất cả các vùng sản xuất hàng hóa.

            - Củng cố và đổi mới nội dung hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp hiện nay theo nội dung: Phục vụ và kinh doanh để tồn tại và phát triển. Thông qua kinh doanh để liên kết và phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Muốn sản xuất hàng hóa thì phải tích tụ ruộng đất để có cánh đồng lớn và từ cánh đồng lớn thì cơ giới hóa dễ dàng, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất thuận lợi nhất.

            Đầu tư mạnh vào nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất với hai công đoạn: Công đoạn 1:  Đầu tư nghiên cứu chọn tạo giống cây, con và nhập nội giống cây, con có năng suất cao, chất lượng tốt được người tiêu dùng ưa chuộng, đem lại hiệu quả kinh tế cao và nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi đạt được năng suất cao, chất lượng tốt, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Công đoạn 2: Đầu tư vào việc triển khai xây dựng các mô hình sản xuất tiên tiến để làm hình mẫu trước khi áp dụng ra diện rộng như: Cánh đồng lớn triển khai một nội dung kỹ thuật nào đó, có thể là một giống mới hay là trình diễn sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ…., hoặc một trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản đang thực hiện ứng dụng một tiến bộ kỹ thuật mới.

            - Cần có cơ chế chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp sạch (VietGAP), nông nghiệp hữu cơ để sản phẩm làm ra thực sự là sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng. Phương pháp đầu tư có thể thông qua trợ giá giống, phân hữu cơ, hoặc tăng giá thu mua sản phẩm cho người sản xuất với một tỷ lệ hợp lý.

            - Khuyến khích cơ sở sản xuất, người sản xuất đầu tư mạnh vào cơ giới hóa các khâu trong sản xuất nông nghiệp như máy làm đất, vận chuyển, thu hoạch lúa, thu hoạch mía, chế biến… bằng cách cho vay vốn tín dụng không cần thế chấp với lãi suất ưu đãi trong thời gian 2-3 năm.

            - Mời gọi các nhà doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư mạnh vào các nhà máy chế biến nông sản thực phẩm như: Chế biến thịt trâu, bò, lợn, gà, cam,… để vừa giải quyết tiêu thụ sản phẩm thô cho người sản xuất, vừa nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa và từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển./.

DOÃN TRÍ TUỆ

 

 

 

 

 

Tin khác


 

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.