« Quay lại

MỘT VÀI TRAO ĐỔI VỀ PHÁT TRIỂN CÂY CON CHỦ LỰC Ở NGHỆ AN

Phát triển nông nghiệp là một định hướng lớn của Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng nhằm phát huy lợi thế của đất nước có truyền thống nông nghiệp và đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, và đa dạng sinh học phong phú.

Trong những năm qua, Việt Nam cũng như Nghệ An đã xác định cây con chủ lực trên địa bàn để có chính sách khuyến khích phát triển và đã có những bước phát triển đáng kể góp phần vào tăng trưởng kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Nhất là đã góp phần tái cơ cấu nội ngành nông nghiệp nhằm nâng cao giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích đất. Một số sản phẩm đã có bước phát triển nhanh, có thương hiệu như Bò sữa, Cam…

Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn lại, chúng ta thấy việc phát triển sản phẩm chủ lực của Nghệ An trong lĩnh vực nông nghiệp kết quả còn  hạn chế. Sự đóng góp của các sản phẩm chủ lực đã xác định chưa thực sự bứt phá, chưa góp phần xây dựng thương hiệu Nghệ An, thị trường còn hạn chế, nhiều sản phẩm khó đạt mục tiêu, chưa thúc đẩy mạnh mẽ tái cơ cấu ngành nông nghiệp; sản phẩm có giá trị gia tăng ít.

Vậy nguyên nhân từ đâu?

Trước hết, việc xác định cây chủ lực để khuyến khích, hỗ trợ đầu tư phát triển còn quá nhiều đối tượng.Nghệ An chúng ta năm 2014 xác định 12 cây, 8 con với 21 chỉ tiêu là quá rộng. Trong khi đó Lâm đồng xác định 4 đối tượng chủ lực (Rau hoa, Cà phê, Chè và Bò sữa); Quảng Trị xác định 8 đối tượng; Bắc Giang chọn 8 sản phẩm,… Vì xác định nhiều, trong khi nguồn lực yếu cho nên đầu tư và hỗ trợ đầu tư dàn trải, thiếu tập trung, thiếu kết nối giữa các nguồn lực (trong đó có nguồn lực khoa học), khó thu hút doanh nghiệp. Cũng vì khó thu hút doanh nghiệp nên khó kết nối chuỗi, chưa có nhiều sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm đầu ra giá thấp, bấp bênh, chất lượng không đồng đều, khó kiểm soát, năng lực cạnh tranh thấp.

Đất đai phần lớn do nông dân được cấp quyền sử dụng, diện tích nhỏ lẻ, khó đầu tư cơ giới, khó áp dụng kỹ thuật công nghệ mới, khó kết nối với doanh nghiệp. Nông lâm trường thì chưa phát huy được hiệu quả so với tiềm năng, lợi thế. Doanh nghiệp tiếp cận đất đai khó khăn.

Thị trường bị cạnh tranh không chỉ thế giới mà ngay cả trong nước, thông tin thị trường người dân chưa được tiếp cận thường xuyên. Hợp tác giữa doanh nghiệp và nông dân lỏng lẻo, thiếu tin cậy.

Cơ sở hạ tầng còn chưa đồng bộ, nhất là điện, logistic trong nông nghiệp. Tài chính trong nông nghiệp cũng gặp khó khăn, trong khi chính sách hỗ trợ phát triển còn nặng hỗ trợ đầu vào, ít hỗ trợ đầu ra (áp dụng tiêu chuẩn, hỗ trợ doanh nghiệp, xúc tiến thương mại..), thậm chí có chính sách nhưng thiếu nguồn lực thực hiện. hoặc quy trình thủ tục phức tạp không hấp dẫn doanh nghiệp tham gia.

Quản lý nhà nước về phân bón, giống, chất lượng.. còn hạn chế.

Chất lượng lao động trong ngành nông nghiệp chất lượng thấp. Thiếu nguồn nhân lực trẻ ở nông thôn. Trong khi hệ thống đào tạo chủ yếu là đại học Vinh, còn hệ thống cao đẳng trung cấp cũng có đào tạo nhưng ít và nặng lý thuyết không hề có thực hành mà đào tạo nông nghiệp rất cần thực hành trên thực địa.

Một số đề xuất

Thứ nhất trước hết cần rà soát lại danh mục các đối tượng sản phẩm chủ lực. Tiêu chí lựa chọn tập trung ưu tiên hai vấn đề chính là: Lợi thế so sánh và Cơ hội thị trường. Cần thống nhất tiêu chí cơ bản để chọn: Điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp để phát triển tốt, năng suất chất lượng cao (nếu có khác biệt càng tốt, thậm chí chỉ có thể sản xuất ở Nghệ An hoặc ít tỉnh). Thuận lợi để phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển. Có diện tích có thể mở rộng và sản lượng chiếm tỷ lệ đáng kể trong toàn quốc. Có thể sản xuất các sản phẩm có gia trị gia tăng. Có cơ hội cao thâm nhập thị trường rộng cả trong và ngoài nước. Thậm chí có thể xác định được thị trường chủ đạo. Có lợi thế cạnh tranh với các tỉnh bạn và các nước cùng sản xuất sản phẩm

 Hiện nay trên cơ sở lợi thế so sánh và cơ hội thị trường, Bộ Nông nghiệp và PTNT xác định 13 đối tượng chủ lực quốc gia. Vậy trước hết, Nghệ An trên cơ sở xem xét thực tế về lợi thế của mình để tham gia vào chuỗi sản phẩm chủ lực quốc gia.

Do vậy, theo chúng tôi, hãy chọn các sản phẩm Nghệ An có ưu thế và có thể tham gia 6 đối tượng, đó là: cây ăn quả (gồm cây có múi, Bơ); Cây Chè các loại (bao gồm cả chè Shan, Olong và Chè Hoa vàng); Thịt và trứng gia cầm (tập trung con gà); Tôm các loại; Thịt lợn; Gỗ và sản phẩm từ gỗ (bao gồm cả Tre).

 Đồng thời cần xác định một số đối tượng là chủ lực của tỉnh mà chưa phải là sản phẩm chủ lực quốc gia gồm 3 đối tượng: Bò sữa và bò thịt; Mía và sản phẩm từ mía; Cây dược liệu và sản phẩm dược.

Bên cạnh đó, các huyện thành thị, trên cở sở sản phẩm chủ lực của tỉnh để chọn sản phẩm tham gia chuỗi, đồng thời cần xác định cây con đặc sản đặc trưng của mình để tham gia chương trình OCOP.

Từ đề xuất lựa chọn trên, cần có chiến lược so sánh lợi thế và cơ hội thị trường trên cơ sở dự báo để xác định thứ tự ưu tiên đối tượng hỗ trợ phát triển trước sau cho từng giai đoạn ngắn.

Thứ hai là trên cơ sở đối tượng đã chọn, định hình vùng sản xuất tập trung cho từng đối tượng, quy định diện tích tối thiểu tham gia chuỗi để thuận lợi áp dụng khoa học kỹ thuật và chuyên môn hóa, cơ giới hóa. Ví dụ: bò sữa tập trung ở vùng Tây Bắc, bò thịt ở vùng Tây Nam; Cây ăn quả tập trung vùng Trung du; dược liệu tập trung vùng núi thấp, núi cao. Mỗi vùng, mỗi đối tượng cần có chủ trương chuyên môn hóa các khâu: giống, phân, canh tác, thu hoạch và chế biến sau thu hoạch, dịch vụ. Hỗ trợ phát triển hạ tầng kỹ thuật, nhất là điện, giao thông và sơ chế, bảo quản.. Và đặc biệt cần có doanh nghiệp chủ lực nhằm dẫn dắt cả vùng cho từng sản phẩm.

Thứ ba là cần rà soát lại quỹ đất từng vùng đã xác định đối tượng để xây dựng vùng tập trung, tiến hành chuyển đổi đất khi có người dân trong vùng không có nhu cầu canh tác đối tượng chọn. Hỗ trợ mô hình hợp tác giữa doanh nghiệp với nông dân thông qua hợp tác xã chuyên ngành với sự phân công trách nhiệm và phân chia lợi ích hợp lý. Ưu tiên một phần diện tích quy hoạch của vùng cho doanh nghiệp chủ lực thông qua tích tụ đất. Cần kiến nghị Chính phủ thực hiện thuế đất nông nghiệp nhằm hỗ trợ tích tụ ruộng đất tránh lãng phí nguồn lực.

Thứ tư là mỗi sản phẩm cần xác định rõ thị trường chiến lược dù đó là thị trường trong hay ngoài nước để có giải pháp xúc tiến thương mại, chiến lược sản phẩm phù hợp.

Thứ năm là ngành nông nghiệp và PTNT cần phân tích chuỗi giá trị từng dối tượng sản phẩm để từ đó tham mưu xây dựng chiến lược tác động khoa học kỹ thuật hay chính sách hỗ trợ, tham mưu điều phối các nguồn lực từ Chính sách, kinh phí sự nghiệp khoa học, khuyến nông, thương mại và kinh phí sự nghiệp của các chương trình mục tiêu, đầu tư công… nhằm tập trung ưu tiên cho các sản phẩm chủ lực và hỗ trợ các doanh nghiệp nòng cốt đầu tư vào một số khâu của sản xuất sản phẩm chủ lực. Ưu tiên các giải pháp kỹ thuật tiên tiến và phù hợp để đổi mới công nghệ và sản xuất sản phẩm sáng tạo. Hình thành một số trung tâm R&D ở các doanh nghiệp chủ lực.

Thứ sáu là đào tạo nhằm nâng cao chất lượng, kỹ năng, hiểu biết của nông dân và công nhân nông nghiệp và cán bộ nông nghiệp cơ sở. Cần có cơ chế đặt hàng đào tạo tập huấn theo chuyên đề và ưu tiên đào tạo thực hành. Tăng cường kết nối để đào tạo nhân lực nòng cốt thông qua gửi thực tập sinh sang Nhật trong chương trình hợp tác với JICA, cũng như một số nước có kỹ thuật cao mà tỉnh hợp tác. Thường xuyên cập nhật quy trình kỹ thuật, công nghệ, thị trường nông sản cho nông dân trên hệ thống truyền thông đại chúng, trên internet, mạng xã hội…Khuyến khích hỗ trợ thanh niên Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực nông nghiệp, du lịch sinh thái...

Thứ bảy là nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong vai trò khởi động, dẫn dắt, hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân tiếp nhận và triển khai đường hướng đề ra của chính quyền. Thực hiện quản lý nhà nước đồng bộ cả ba khâu: Đầu vào, sản xuất và đầu ra sản phẩm nhằm giúp cam kết chất lượng sản phẩm và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Trần Quốc Thành

Giám đốc Sở Khoa học và công nghệ

 

 

Tin khác


 

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.