« Quay lại

Từ kết quả tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp đến danh mục các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của Nghệ An gia đoạn 2020-2030

1. Quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp Nghệ An đạt được nhiều thành tựu vượt trội

Trước khi bàn về vấn đề định hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của Nghệ An cần nhìn thấy, quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp Nghệ An đạt được nhiều thành tựu vượt trội đáng mừng. Ngay khi Chính phủ phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên phạm vi cả nước, Nghệ An đã nhanh chóng rà soát lại quy hoạch, chính sách nhằm thúc đẩy tạo ra những đột phá cho nông nghiệp. Đặc biệt chú trọng khai thác lợi thế so sánh vốn có của tỉnh so với cả nước, tạo ra đột phá trên cơ sở vừa có kế thừa, vừa phát triển ứng dụng mới. Nhất là khẳng định khai thác lợi thế từng vùng sinh thái huyện và truyền thống điạ phương: Vùng chăn nuôi bò sữa tập trung: Nghĩa Đàn, Thái Hòa; Vùng mía nguyên liệu trên 6 huyện: Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Con Cuông, Thái Hòa; Vùng chè chất lượng cao tại 4 huyện: Anh Sơn, Thanh Chương, Con Cuong, Kỳ Sơn… Đây là lợi thế cho lựa chọn xác định và phát triển cây, con chủ lực của tình nhà.

Quá trình thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp ở tỉnh đã mạnh dạn ứng dụng công nghệ cao từ khâu giống, công nghệ sản xuất, đến quản lý. Nhờ ứng dụng công nghệ mới mà tốc độ tăng trưởng bình quân toàn ngành 5 năm qua đạt 4,8% trong khi cả nước khoảng 3,5% và đã nâng thu nhập bình quân trên toàn tỉnh xấp xỉ 90 triệu đồng/ha (so với 2008 chỉ 37 triệu VNĐ). Có nhiều điểm đã đạt 200 - 400 triệu tấn/ha kể cả cây công nghiệp và rau quả.

Nghệ An đã xác định được nhân tố động lực tạo ra đột phá trong tái cơ cấu nông nghiệp là doanh nghiệp, vì vậy đã có chính sách phù hợp thu hút được một số doanh nghiệp lớn đầu tư vào tỉnh nhà như: Tập đoàn TH, VINAMILK, FLC, VINGOUP, MƯỜNG THANH, MASAN…. Từ đó đã tạo ra chuỗi sản xuất phát triển ổn định, gắn kết được với các HTX, hộ nông dân. Đây cũng là những hạt nhân để xác định và phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tình nhà trong thời gian sắp tới.

Đặc biệt, ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia và quyết định phê duyệt danh mục sản phẩm quốc gia; UBND tỉnh để có quyết định phê duyệt: Đề án phát triển cây, con chủ yếu, gắn với cơ chế quản lý đất đai, tạo vùng nguyên liệu phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đến năm 2020 (QĐ: 3079/QĐUB ngày 3/7/2014). Đây là những cơ sở pháp lý và quá trình thực hiện trong những năm qua là cơ sở thực tiễn để chúng ta thảo luận những định hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực ở Nghệ An tính đến 2030, nhằm tạo bước đột phá bền vững cho giai đoạn mới.

2. Một số ý kiến về danh mục cây con chủ lực

a. Đối với cây trồng

Không nên đưa cây sắn nguyên liệu vào nhóm cây chủ lực không phải vì chỉ đóng góp khoảng 0,7% vào giá trị sản xuất của ngành, mà theo phương án của Sở NN&PTNT cũng chỉ tìm giải pháp hỗ trợ để đảm bảo đủ nguyên liệu cho 3 nhà máy hiện có. Mặt khác đây là loại cây trồng "phá đất" và thực sự không thu hút nhiều lao động. Cả về tiêu chí xã hội, kinh tế, môi trường và hướng phát triển ưu tiêu (quy hoạch và danh mục chung cả nước) đều không lợi thế.

Đối với cây lạc cũng cần có đánh giá lại. Hiện nay Việt Nam đang đứng thứ 5 về sản xuất lạc ở Châu Á. Tuy diện tích (S) nhiều năm nay không tăng nhưng tương đối ổn định, xấp xỉ 150.000 ha, năng suất bình quân 2,4 tấn/ha. Nghệ An có S 15.000 ha (10% cả nước). Riêng năm 2014 có S: 17.950 ha, sản lượng đã đạt 35.000 - 40.000 tấn. Đây là vùng lạc truyền thống, tuy đóng góp chỉ 1,53 % giá trị của ngành, nhưng lại thu hút lao động cao, nhất là hộ dân vùng đất cát pha và thời vụ ngắn thân thiện môi trường, cải tạo đất và còn có tác dụng trồng xen vụ, rải vụ. Nếu đầu tư thêm để có giống năng suất cao ở mức khả thi 4 - 5 tấn/ha gắn với công nghiệp chế biến chắc sẽ khác?  Hiện nay bình quân năng suất ở Nghệ An mới đạt 2,6 tấn/ha.

Tiêng đối với cây bơ, cần tách hẳn thành cây thuộc loại cây chủ lực trong tương lai gần, từ đó để có chính sách khuyến khích và thu hút đầu tư mở rộng nhất là để tái cơ cấu kinh tế cho miền tây Nghệ An.

Đề xuất đưa cây chanh không hạt (có múi) vào cây chủ lực trong kế hoạch phát triển từ nay đến 2030. Trên cơ sở đánh giá lại vùng chanh và đang rất nhiều hạt hiện nay và quy hoạch hướng phát triển mới để kêu gọi thu hút đầu tư gắn với cải tạo vườn chanh hiện có ở các huyện truyền thống của tỉnh nhà.

b. Đối với chăn nuôi

Đàn trâu cả nước đang có xu hướng giảm, nguyên nhân do hiệu quả kinh tế không cao, diện tích chăn thả giảm, dùng làm sức kéo gần như không. Tuy vậy hiện tại vẫn là nguồn thu nhập và giải quyết việc làm khá lớn của hộ dân vùng nông thôn, và vẫn là nguồn thực phẩm quan trọng của họ trong vòng 10 - 15 năm nữa; hơn nữa đàn trâu Nghệ An đang chiếm 12% tổng đàn cả nước (280.000/2.350.000 con). Vì vậy, cùng với đàn Bò nhất định trong thời gian tới vẫn phải được quan tâm phát triển.

Đàn Bò thịt của tỉnh đã chiếm 7,2% tổng đàn cả nước (425.000/5.940.000 con) nhu cầu đang tăng đều đến hàng năm, có nhiều tỉnh đang xây dựng kế hoạch tăng nhanh đàn đến 2025. Nghệ An vừa có truyền thống, vừa có tiềm năng để tăng nhanh đàn cả hình thức hộ gia đình, trang trại, doanh nghiệp.

Đàn Bò sữa cả nước đang tăng rất nhanh. Năm 2018 tổng đàn là: 250.000 con, thì 2019 là: 322.000 con. Nghệ An đã có 2 doanh nghiệp có thương hiệu không chỉ ở trong nước mà đã có tên tuổi ở nhiều nước trên thế giới đó là sản phẩm sữa của T.H và Vinamilk. Tổng đàn ở Nghệ An chỉ chiếm 1,9% cả nước (60.000/322.000 con), nhưng đang tạo ra những đột phá trong chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh nhà cả về sản phẩm, công nghệ, chuỗi sản xuất được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ghi nhận. Nghệ An đủ điều kiện để tăng nhanh đàn bò sữa, để tăng nhanh sản phẩm sữa.

Lợn và gia cầm (gà vịt) vừa là sản phẩm đạt tiêu chí kinh tế, xã hội (việc làm) và cũng là sản phẩm truyền thống của địa phương, phù hợp với yêu cầu ngày càng phát triển của thị trường và cũng nằm trong danh mục sản phẩm chủ lực của ngành nông nghiệp Việt Nam.

c. Thủy sản

Dự kiến cuối 2020 giá trị sản lượng thủy sản chỉ chiếm 16,14% tổng giá trị của ngành (so với tỷ trọng thủy sản trong nông nghiệp toàn quốc thì Nghệ An ở mức thấp. Cả nước thủy sản 23,7% GDP nông nghiệp). Nhưng khả năng để phát triển ngành thủy sản ở Nghệ An là rất lớn kể cả nước mặn, lợ và nước ngọt.

 

Muốn phát triển bền vững ngành này nhất định tỉnh ta phải tập trung vào nuôi trồng là chính. Đây là dư địa rất lớn ở Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng. Tôi nhất trí với đề xuất của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa cá nước ngọt và tôm vào danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực. Vừa phù hợp với nhu cầu ngày một tăng của thị trường trong nước (trong tỉnh) và quốc tế; Vừa phù hợp với thực tế của tỉnh nhà và định hướng phát triển của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Thực tế hiện nay Nghệ An đã có nhiều mô hình nuôi tốt. Như Ông Thắng nuôi ở Diễn Trung - Diễn Châu, hay mô hình ở Quỳnh Phương - Quỳnh Lưu... Riêng sản lượng thủy sản Quỳnh Lưu năm 2018 đã đạt 74.000 tấn là rất đáng khuyến khích phát triển.

3. Về vấn đền mục tiêu và giải pháp

Cần chuyển hẳn tư duy phát triển một nền nông nghiệp toàn diện sang tư duy phát triển nông nghiệp sạch, ứng dụng công nghệ cao trên nền tảng hiệu quả kinh tế theo tín hiệu thị trường. Đây không phải là vấn đề mới nhưng không dễ gì áp dụng. Một thực trạng là cả hệ thống nông nghiệp Việt Nam chưa thoát khỏi tư duy "phát triển một nền nông nghiệp toàn diện…"? Trên cơ sở tư duy đó mới có thể tập trung đầu tư khai thác lợi thế vùng sinh thái và phát triển nông sản chủ lực hiệu quả được. Nguồn lực đầu tư, nhất là khâu chủ trương mới có thể tập trung mở rộng.

Đầu tư cho khâu giống (cả cây và con) là khâu quyết định. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, khoa học sinh học thế giới, loài người đã tạo được bước đột phá lớn trong cây trồng vật nuôi, vừa nâng cao được giá trị sản lượng, vừa chất lượng đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người trong kinh tế hội nhập toàn cầu. Tư duy nông nghiệp ngày nay không thể: "Nhất nước, nhì phân, tam cần tứ giống" được nữa. Mà nhất định phải là "nhất giống". Giống thế nào thì yêu cầu phân bón, nước và công chăm bón thế đó!

Kiên trì chính sách thúc đẩy sản xuất theo chuỗi giá trị dưới sự dẫn dắt của doanh nghiệp đầu đàn có ứng dụng công nghệ cao.

Soát lại chính sách tổ chức tiêu thụ cho sản phẩm nông nghiệp chủ lực không chỉ ở khâu chế biến, bảo quản mà ngay cả khâu xây dựng thương hiệu, xúc tiến, quảng bá sản phẩm và kết nối mạng thị trường trên phạm vi toàn tỉnh, vùng và quốc gia. Nghệ An hoàn toàn đủ điều kiện để phát triển hệ thống tiêu thụ: từ chợ truyền thống, đến chợ đầu mối, siêu thị và thị trường điện tử mạng. Vấn đề quan trọng là lựa chọn xác định đúng địa điểm, bố trí đúng chủ đầu tư?

Đơn giản, sát thực và hiệu quả hóa chính sách hỗ trợ cho dân và doanh nghiệp (đối tượng) tham gia vào sản xuất sản phẩm nông sản chủ lực theo hướng hỗ trợ trực tiếp vào những nội dung, chương trình phục vụ cộng đồng, khu vực liên quan sản xuất và dịch vụ sản xuất; hỗ trợ, thưởng cái họ làm ra sát thực cho quá trình đầu tư, phát triển bền vững.

Đặc biệt, ngoài việc hỗ trợ và phát triển hạ tầng nên áp dụng 2 hình thức sau đây là vừa dễ quản lý vừa khuyến khích doanh nghiệp tích cực phát triển sản xuất: Hộ trợ lãi suất tiền vay cho quá trình đầu tư mới khi có áp dụng giống và công nghệ mới, tỷ lệ % do điều kiện thực tiễn mà công bố. Và thưởng %  phần vượt thuế cho đối tượng nộp thuế, nhưng yêu cầu tiền thưởng ấy tiếp tục đầu tư vào tài sản cố định hoặc lưu động; không đưa vào lãi để chia nhau. Đây cũng là kinh nghiệm của Nghệ An nhiều năm qua và nhiều tỉnh hiện nay đang làm. Nhất là phần hỗ trợ lãi suất tiền vay.

Cho đến kết thúc năm 2019 cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Nghệ An vẫn chiếm 19 - 20% tỷ trọng GDP tỉnh nhà. Tuy là không lớn, nhưng trên bình diện chung Nghệ An vẫn là tỉnh nông nghiệp, vẫn còn tới 42% lao động nông nghiệp và hơn 85% cư dân sống ở nông thôn; và thực tế trong vòng vài chục năm nữa (theo tôi) lợi thế so sánh của Nghệ An so với cả nước vẫn là nông nghiệp (nông - lâm - ngư). Vì vậy Nghệ An cần tranh thủ cơ hội, nhất là sau khi đã xác lập được những sản phẩm nông nghiệp chủ lực, cùng với những sản phẩm đặc sản, đặc trưng của tỉnh có chính sách phù hợp thúc đẩy phát triển nhanh tạo đột phá ngay trong 5 - 10 năm đầu này nhằm hiện thực hiện mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư Bác gửi BCH Đảng bộ tỉnh ngày 21/7/1969. …. "… Rất mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc"./.

Hồ Xuân Hùng

Chủ tịch Tổng hội NN&PTNT Việt Nam

 

 

 

Tin khác


 

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.