« Quay lại

Kết quả bảo tồn nguồn gen dược liệu của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014-2020

1. Kết quả điều tra, khảo sát và thu thập bổ sung nguồn gen dược liệu

Trong thời gian 3 năm 2015, 2016 và năm 2017, đã tiến hành điều tra trên địa bàn 6 huyện miền tây Nghệ An là Qùy Hợp, Qùy Châu, Quế Phong, Con Cuông, Tương Dương và Kỳ Sơn và tại vườn Quốc gia Pù Mát, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, Pù Huống. Tại địa bàn điều tra, đơn vị thực hiện đã ghi nhận, thu mẫu, xác định vị trí, đánh giá mức độ nguy cấp và xác định được 28 nguồn gen cây thuốc quý; trong đó có 19 loài quý, hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao. Từ kết quả điều tra, Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN đã trình Sở KH&CN, đề nghị UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt danh mục bổ sung 17 nguồn gen dược liệu quý, hiếm vào danh mục Đề án khung các nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh thực hiện từ năm 2014 đến năm 2020. Trong số 17 nguồn gen cây thuốc được bổ sung vào danh mục Đề án khung hầu hết là nguồn gen dược liệu quý, hiếm có nguy cơ tuyệt chủng rất cao. Trong đó theo sách đỏ Việt Nam 2007 - Phần II. Thực vật, có 06 loài ở mức nguy cấp (EN), 07 loài ở mức sắp nguy cấp (VU). Theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, ngày 30 tháng 3 năm 2006 Về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý, hiếm có 03 loài ở nhóm IA, 05 loài ở nhóm IIA. Theo Danh lục đỏ cây thuốc có 07 loài ở mức nguy cấp (EN), 09 loài ở mức sắp nguy cấp (VU).

Từ kết quả điều tra thực địa cho thấy nguồn gen cây thuốc tại các huyện miền tây Nghệ An có những đặc điểm sau: Đa dạng về thành phần loài và dạng sống; Sinh thái, phân bố rộng khắp; giá trị sử dụng, giá trị kinh tế - xã hội và tiềm năng thị trường nhiều loại rất cao; Hiện trạng, giá trị bảo tồn, mối đe dọa nhiều loài đang ở mức tuyển chủng rất cao.

2. Kết quả bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen dược liệu

a. Kết quả bảo tồn nguồn gen cây dược liệu

* Kết quả bảo tồn nguồn gen cây Mú từn (Rourea oligophlebia Merr) tại huyện Quế Phong:

Đây là loài cây thuốc quý dùng để chữa đau lưng, chấn thương (gãy xương), kháng sinh, cầm máu, xoa bóp, thuốc kích thích và tráng dương, có thể điều chế thành thuốc chữa sốt rét. Đồng bào Thái tại Quế Phong sử dụng thân, rễ phơi trong mát ngâm rượu uống (1 lạng rễ cây Mú từn sau khi phơi khô đem ngâm với 5 lít rượu và uống khoảng 65 ml là tối đa cho mỗi lần uống là rất tốt, tức là tương đương với 1-3 chén rượu loại nhỏ, có tác dụng tăng khả năng ham muốn tình dục.

Đã phân tích thành phần hóa học tinh dầu trong lá và thân. Các thành phần chính là nerolidol (45,2%-32,1%), spathoulenol (9,6%-12,7%), β-myrcen (6,2%-16,7%) và neral (5,0%-23,4%). Đã phân tích thành phần hóa học của 6 hợp chất trong cây Mú từn (Hợp chất Rutin, β-Sitosterol, β-sitosterol-3-O-D-glucopyranozit, Quercetin, 3,7- dimethoxy quercetin 4'- O- [α-L- rhamnopyranosyl- (12) -β-D- glucopyranosit, 1-(2,6-hydroxyhexacosanoyl)-glycerol) đây là những hợp chất lần đầu tiên nghiên cứu về cây này. Các hợp chất trong cây Mú từn có hoạt tính sinh học như: kháng khuẩn, kháng nấm, chống sốt rét, chữa đau xương, kính thích lên thần kinh, bồi bổ và tăng cường sức khỏe. Đã xây dựng mô hình bảo tồn, trồng 30 cá thể cây Mú từn tại vườn rừng của hộ đồng bào Thái tại xã Mường Nọc, huyện Quế Phong.

* Kết quả bảo tồn nguồn gen cây trà hoa vàng (Camellia quephongensis Hakoda et Ninh) tại tỉnh Nghệ An :

Từ năm 2012 – 2013, đoàn nghiên cứu của Nhật Bản do Giáo sư Hakoda phối hợp với Giáo sư –Ts.Trần Ninh trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã phát hiện tại huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An có một loài trà hoa vàng. Đã phát hiện loài trà mới và đặt tên cho loài trà hoa vàng ở Quế Phong là Camellia quephongensis Hakoda et Ninh. Cây Trà hoa vàng (Camellia quephongensis) là loài ưa bóng phân bố ở độ cao từ 100 – 400 m nơi kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới cây lá rộng, rừng thứ sinh, phân bố dọc theo khe suối dưới các bóng cây gỗ. Trà hoa vàng có mặt hầu hết tại các xã của huyện Quế Phong, nhưng tập trung nhiều nhất là ở xã Hạnh Dịch, Thông Thụ và Tiền Phong. Cây Trà hoa vàng (Camellia quephongensis) đang bị người dân khai thác hoa để bán với giá từ 2,0 – 2,5 triệu đồng/kg hoa khô, vì cây  trà hoa vàng có thể cao 8 m, là cây bụi phân nhánh nhiều. Do vậy, người dân chặt hạ để lấy hoa dẫn đến cây trà có nguy cơ tuyệt chủng rất cao.

Kết quả phân loại và giám định đã xác định đây là đối tượng Trà hoa vàng  (Camellia quephongensis Hakoda et Ninh). Tác dụng chữa bệnh của Trà hoa vàng đã được nhiều nhà khoa học trên thề giới khẳng định. Trong lá và hoa của trà hoa vàng có chứa rất nhiều nguyên tố vi lượng như Germanium (Ge), Selenium (Se), Mangan (Mn), Molypden (Mo), Kẽm (Zn), Vanadium,… Các hoạt chất trong lá, hoa của trà hoa vàng có tác dụng hạ huyết áp, giảm tiểu đường, hạ cholesterol, hạ mỡ máu, chống u bướu, tăng cường hệ miễn dịch và kéo dài tuổi thọ.

Kết quả phân tích thành phần hóa học trong lá và hoa của cây Trà hoa vàng (Camellia quephongensis Hakoda et Ninh) cho thấy: Có chứa nhiều chất hoá học, trong đó có các hợp chất Germanium, Selenium và Vanadium ở trong hoa và lá. Trong hoa có chứa thành phần các chất Germanium, Selenium và Vanadium là 0,0035 – 0,0433 μg/g.

Kết quả phân tích của Phòng thí nghiệm hóa dược – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho thấy: Trong mẫu THV – 1 có 47 chất phân tách được trên sắc ký lỏng và được định danh. Trong mẫu  THV – 2 có 36 chất. Trong cả 2 mẫu đều có 5 chất quan trọng là gallic acid, epicatechin, quercetin, quercetin-7-O-β-D-glucopyranoside và quercetin-3-O-β-D-glucopyranoside, rutin. Trong lá có chứa thành phần các chất Germanium, Selenium và Vanadium  từ 0,0009 – 0,0015 μg/g.  Các hợp chất này là nguyên liệu để điều hoà enzim trong cơ thể người và đông vật. Các hợp chất này còn có tác dụng chống ung thư. Đã xây dựng mô hình bảo tồn nguyên vị (insitu) tại khu rừng Na Phông và Huội Cá thuộc xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong với diện tích 05 ha, hiện đang bảo tồn 60 cá thể Trà hoa vàng trên 3 tuổi, đang ra hoa.

Cây Trà hoa vàng (Camellia quephongensis Hakoda et Ninh) có khả năng tái sinh lớn, đã nghiên cứu nhân giống Trà hoa vàng bằng phương pháp giâm hom, thời vụ giâm hom thích hợp nhất là vào vụ đông, thời gian nảy chồi của hom sau giâm nhanh nhất là vụ xuân.

Đã tiến hành trồng thử nghiệm 2 mô hình tại xã Tri Lễ, Hạnh Dịch, huyện Quế Phong với 150 cây Trà hoa vàng. Mô hình trồng trong rừng xen dưới tán cây thuộc bản Pà Cọ, xã Hạnh Dịch thuộc khu rừng bảo tồn với 400 cây, tỷ lệ sống đạt 97%.

* Kết quả bảo tồn nguồn gen cây Sâm Puxailaileng

Kết quả phân tích đặc điểm hình thái và phân tích so sánh trình tự vùng gen ITS, xây dựng cây phát sinh chủng loại, cho thấy mẫu PVM2, PVM3 của Sâm Puxailaileng có độ tương đồng cao nhất với loài Sâm Ngọc Linh (P. vietnamensis), đạt gần 100%, chỉ sai khác ở nucleotid thứ 598, ở Sâm Ngọc Linh là C, ở Sâm Puxailaileng là T.

Kết quả phân tích thành phần hoạt chất saponin chính cho thấy sâm Puxailaileng có các hợp chất Ginsenosid Rg1, Majonosid R2, Ginsenosid Rb1; tương tự Sâm Ngọc Linh và các hợp chất này không tồn tại trong Sâm vũ diệp cũng như Tam thất hoang.

  Sâm Puxailaileng là loại cây thân thảo đặc biệt ưa ẩm và ưa bóng, thường phân bố rải rác hay tập trung thành từng đám nhỏ dưới tán rừng kín thường xanh cây lá rộng, đôi khi xen cả cây lá kim. Vùng phân bố tập trung của sâm Puxailaileng là núi Puxailaileng, độ cao từ 1200m trở lên so với mực nước biển.

  Đã bảo tồn được 50 cá thể sâm Puxailaileng tại Vườn dược Công ty TH - Mường Lống và 50 cá thể sâm Puxailaileng tại Na Ngoi. Tỷ lệ sống của cây sâm đạt trên 60% sau 18 tháng trồng.

* Kết quả bảo tồn loài Đẳng sâm

Ở Nghệ An, vùng phân bố của Đẳng sâm ở vùng núi cao. Ở huyện Kỳ Sơn gồm Mường Lống, Mỹ Lý, Tây Sơn, Mường Típ, Mường Ải, Nậm Cắn, Na Ngoi; Quế Phong gồm Nậm Giải, Tri Lễ, Châu Thôn. Đây là cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, nhất là khi còn nhỏ. Đẳng sâm thường mọc lẫn với các loài cây bụi thấp, thích nghi ở những vùng có khí hậu mát mẻ quanh năm.

Ngoài các yếu tố tuổi cây mẹ, vị trí lấy hom, chất lượng hom,… thì chất điều hòa sinh trưởng có vai trò rất quan trọng đối với sự ra rễ từ hom của loài Đẳng sâm. Tỷ lệ sống sau 2 tháng trồng của Đẳng sâm là 92,47%. Có thể thấy rằng Đẳng sâm là cây rất dễ trồng tại nơi có điều kiện thích hợp.

Mô hình trồng Đẳng sâm được thực hiện tại Vườn dược bệnh xá Đoàn 4 - Đoàn kinh tế xã Na Ngoi, huyện Kỳ Sơn với 2500 cá thể được lấy từ rừng tự nhiên có tuổi từ 1-2 năm. Tại thời điểm 4 tháng sau khi trồng, tỷ lệ sống của cây là 99,5%; chiều dài chính chồi đạt 196,3cm; số cây có từ 2 chồi trở lên là 63%; tỷ lệ cây xuất hiện chồi cấp 2 là 99,5%.

Đã tập huấn cho 20 hộ dân trên đại bàn xã Na Ngoi nắm bắt quy trình nhân giống và trồng thâm canh cây Đẳng sâm.

* Kết quả bảo tồn nguồn gen cây quế Qùy tại tỉnh Nghệ An:

Kết quả phân tích hình thái giải phẫu cây Quế Quỳ, chúng tôi đã xác định tên khoa học của cây thuốc Quế Quỳ, cây quế Thanh hóa và cây quế Quang Nam là 1 loài tên khoa học là: Cinnamomum cassia ( L.) Presl. 

Kết quả phân tích một số thành phần trong tinh dầu quế thu được hàm lượng Coumarin: 0,968%, axit stearic: 0,561%, axit Oleic 0,763%. Các thành phần hóa học khác, nhất là hàm lượng Flavonoid tổng số tương đối cao, có chứa hoạt chất Catechin là một trong những hoạt chất có khả năng kháng oxi hóa cao, có tác dụng lên chuyển hóa chất béo, làm giảm nồng độ chất béo trong máu như triglyceride, cholesterol, giảm tích tụ mỡ ở gan và ở các bộ phận khác của cơ thể.

Thành phần hóa học của tinh dầu quế là: eugenol, eugenol acetate, aldehyde cinnamic (75 – 90%) và benzyl benzoat. Vỏ: thành phần chính là aldehyde cinnamic (65 – 95%); Lá thành phần chính là eugenol (70 – 95%).

Tinh dầu trong cây quế Quỳ có khả năng kháng oxi hóa mạnh gần  như  tương đương với vitamin C khi so sánh IC50. Tinh dầu quế có khả năng đánh bật gốc tự do DPPH và xác định được IC50 = 5,60 (µl/ml).

Tinh dầu trong cây Quế Quỳ kháng được 3 chủng vi khuẩn đã nghiên cứu là Bacillus subtilis, Bacillus cereus và Salmonella typhi T 239 đã được thử nghiệm. Và có khả năng khử và ức chế được nhiều loại nấm.

Về kết quả xây dựng mô hình bảo tồn: Đã xây dựng mô mình bảo tồn cây Quế Quỳ với 20 cá thể ở xã Tiền Phong.

* Kết quả thu thập, lưu giữ nguồn gen cây dược liệu Ba kích bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào:

Nhiệm vụ thực hiện trong năm 2017 đã làm chủ được quy trình công nghệ nuôi cây mô tế bào trong việc lưu giữ và nhân giống thành công cây Ba kích tại Nghệ An: Về kết quả nhân giống cây Ba kích tím bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào: Đã sản xuất được 987 cây giống ba kích tím đạt tiêu chuẩn xuất vườn. Hệ số nhân giống của Ba kích tím đạt từ 3,70 – 3,84 lần. Tỷ lệ sống của cây Ba kích tím bằng công nghệ nuôi cây mô tế bào đạt từ 75,0 % - 89,7% trong điều kiện vườn ươm. Kết quả phân tích cho thấy: Hàm lượng hai hợp chất Rubiadin và tectoquinon trong cây ba kích Nghệ An lần lượt là 186,32±3,76 µg/g, 98,11±2,33 µg/g tương đương với cây Ba kích có trên địa bàn một số tỉnh như Quảng Ninh, Bắc Giang.

Vì vậy, có thể phát triển trồng cây Ba kích tím trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Từ đó phát triển sản phẩm củ Ba kích tím thành nguồn dược liệu với số lượng lớn. Sản xuất, chế biến thành các sản phẩm chăm sóc, bồi bổ sức khỏe đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân.

b. Kết quả khai thác và phát triển nguồn gen cây dược liệu

* Kết quả hai khai thác và phát triển nguồn gen cây trà hoa vàng (Camellia quephongensis Hakoda et Ninh) tại tỉnh Nghệ An.

Đây là đề tài dự án cấp tỉnh thực hiện từ năm 2016 đến năm 2017 trên địa bàn huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An do Sở KH&CN Nghệ An cấp kinh phí thực hiện, Công ty dược Nghệ An chủ trì thực hiện. Sau 2 năm đã đạt được kết quả sau:

Đã sản xuất thành công sản phẩm trà hoa vàng với 02 dạng sản phẩm là trà túi lọc và viên nhộng, các sản phẩm được đóng hộp đảm bảo vệ sinh y tế.

Sản phẩm được in trên bao bì đẹp, bắt mắt, chất lượng sản phẩm đạt chuẩn, được thị trường chấp nhận và sản phẩm đã ra được thị trường tiêu thụ.

Hiện nay tại Quế Phong, một số công ty đã tập trung đầu tư cơ sở vật chất chế biến Trà hoa vàng thành các sản phẩm trà thảo mộc chăm sóc sức khỏe được người tiêu dùng ưa chuộng, đã nâng cao giá trị cho Trà hoa vàng hàng chục lần so với sơ chế thô. Điển hình công ty CP Công nghệ xanh Kim Sơn đã đầu tư Công nghệ sấy lạnh chế biến Trà hoa vàng thành sản phẩm Trà hoa vàng nguyên bông và Trà thảo dược túi lọc. Sản phẩm nguyên bông loại 1 được bán từ 8 triệu – 8,5 triệu/kg.

* Kết quả nghiên cứu khai thác và phát triển nguồn gen Mú từn (Rourea oligophlebia Merr) tại tỉnh Nghệ An:

Đây là nhiệm vụ quỹ gen cấp quốc gia thực hiện từ tháng 11/2018 đến tháng 10/2022 trên địa bàn huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An do Bộ Khoa học và Công nghệ cấp kinh phí thực hiện. Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN nghệ An chủ trì thực hiện. Hiện nay nhiệm vụ đang được thực hiện theo đúng tiến độ đề ra.

3. Kết quả đánh giá nguồn gen dược liệu

Nhiệm vụ phân tích, đánh giá giá trị nguồn gen, thành phần hóa học, hoạt tính sinh học nhằm khẳng định giá trị dược liệu của một số loài cây dược liệu quý, hiếm đã được phát hiện trên địa bàn tỉnh Nghệ An như: Loài Tam thất hoang (Panax stipuleanatus H. T. Tsai et K. M. Feng, 1975); Loài Bảy lá một hoa (Paris chinensis Franch); Loài Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora (Thumb.) Haraldson, 1978. Nhằm khẳng định giá trị dược liệu các nguồn gen hiện có tại Nghệ An tạo tiền đề cho việc bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen dược liệu sau này.

a. Loài Tam thất hoang (Panax stipuleanatus H.T.Tsai & K.M.Feng, 1975.)

Kết quả phân tích cho thấy: Tam thất hoang thu tại Nghệ An có Acid amin, alkaloid, chất béo, saponin, polysacchrid, Acid hữu cơ. Trong đó: Saponin toàn phần chiếm 3,42%; Đường tự do chiếm 0,26%; Tinh bột chiếm 3,06%; Ginsengnoside Rb1 chiếm 1,83%; Ginsengnoside Re chiếm  0.31%. Dịch chiết Tam thất hoang có hoạt tính kháng viêm gây độc trên 2 dòng tế bào: ung thư phổi A549 và ung thư vú BT474. Dịch chiết Tam thất hoang ức chế S. aureus ATCC6538 và P. aeruginosa ATCC9027.

b. Loài Bảy lá một hoa (Paris chinensis Franch)

Kết quả phân tích cho thấy: Loài Bảy lá một hoa thu tại Nghệ An có saponin, alkaloid, polysacchrid, Acid hữu cơ. Trong đó: Saponin toàn phần chiếm 6,99%; Gracillin 0,12%; Polyphyllin D chiếm V; Saponin Paris H chiếm 0.31%. Dịch chiết của cây Bảy lá một hoa thu tại Nghệ An có hoạt tính chống oxy hóa; có hoạt tính gây độc trên tế bào ung thư phổi A549 và trên dòng tế bào ung thư vú BT474. Dịch chiết cây Bảy lá một hoa có hoạt tính kháng C. albicans ATCC 10231.

c. Loài Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora (Thumb.) Haraldson, 1978)

Kết quả phân tích cho thấy: Loài Hà Thủ ô đỏ thu tại Nghệ An có Acid amin, glycosid, đường khử, polysacchrid, Acid hữu cơ, tannin, trong đó: Anthraglycosid chiếm 1,55 – 1,57%; Anthraquinon tự do 0,94 - 0,98%. Dịch chiết Hà Thủ ô đỏ thu hái tại Nghệ An có hoạt tính chống oxy hóa, Hoạt tính gây độc trên dòng tế bào ung thư phổi A549 và trên dòng tế bào ung thư vú BT474. Mẫu dịch chiết cây Hà thủ ô đỏ có hoạt tính kháng C. albicans ATCC 10231, có hoạt tính kháng  aureus ATCC6538, có hoạt tính kháng P. aeruginosa ATCC9027./.

Trung tâm ƯDTBKHCN

 

 

Tin khác


 

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.