« Quay lại

Mô hình trồng thử nghiệm cây Sâm Puxailaileng và Hà thủ ô đỏ tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An

Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam thuộc vùng Bắc Trung Bộ với nhiều tiềm năng lớn để phát triển công nghiệp dược phẩm, gắn với đó là trồng, sản xuất nguồn nguyên liệu dược. Tuy nhiên thời gian qua, nguồn cây thuốc ở Nghệ An đã và đang bị suy giảm nhiều, hầu hết các loại cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao đang mất dần khả năng khai thác lớn do sự khai thác thiếu chú ý bảo vệ tái sinh, nạn phá rừng làm rẫy. Để khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên Dược liệu của Nghệ An, đặc biệt là nguồn gen sâm Puxailaileng và Hà thủ ô đỏ thì việc hoàn thiện các biện pháp nhân giống để đảm bảo nguồn giống có chất lượng, hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây dược liệu trong điều kiện nhân tạo và các biện pháp chế biến để nâng cao giá trị hàng hóa là một việc làm rất cần thiết.

Mô hình trồng Hà thủ ô đỏ và sâm Puxailaileng được xây dựng với quy mô: 15.900 m2, trong đó: đợt 1: 4.500 m2, đợt 2: 3.000 m2, đợt 3: 5.600 m2 và đợt 4: 2.800 m2. Nguồn giống được lấy từ vườn ươm của Công ty CP Dược liệu Mường Lống sản xuất dựa trên Quy trình kỹ thuật nhân giống cây Hà thủ ô đỏ do Viện Dược liệu chuyển giao. Mô hình được tiến hành làm đất và lên luống theo kích thước 20m x 0,9m. Hà thủ ô đỏ được trồng ở mật độ 6 cây/m2, khoảng cách trồng 60 x 30cm. Phân bón áp dụng cho 1 ha là 30 tấn phân chuồng + 200kg phân đạm Urê + 400kg phân lân Lâm Thao + 200kg phân Kali clorua.

1. Một số đặc điểm hình thái của Hà thủ ô đỏ

          Hà thủ ô đỏ là cây thân thảo, sống lâu năm. Cây phân nhánh nhiều từ 7-10 nhánh cấp 1 và 5-20 nhánh cấp 2. Thân mảnh, nhẵn, mọc xoắn vào nhau. Lá mọc cách, cuống dài 2,2 - 4,3cm, lá hình bầu dục có đỉnh lá nhọn, kích thước 2,3 - 4,1 x 6,5 - 9,7 cm, lá mỏng có màu đỏ tía, hệ gân hình mạng với 2 gân gần cuống lá xếp đối xứng, các gân khác xếp so le nổi rõ ở mặt dưới của lá, 2 mặt lá nhẵn, mép lá nguyên, gốc lá hình tim.

Một số đặc điểm hình thái của cây Hà thủ ô đỏ trong điều kiện sinh thái và thổ nhưỡng tại xã Mường Lống, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An

Cụm hoa Hà thủ ô đỏ dạng chùy, dài từ 9 - 28cm, mọc ở đỉnh cành hoặc nách lá, phân nhiều nhánh, hoa nhiều xếp thưa. Hoa lưỡng tính, màu trắng, cuống hoa dài 2 - 3cm. Quả của Hà thủ ô đỏ dạng quả bế, màu nâu đen, hình chóp 3 cạnh, nhẵn bóng, được nằm trong bao hoa đồng trưởng dạng cánh. Rễ phình to thành củ, vỏ củ màu nâu đỏ, ruột củ có màu nâu hoặc màu trắng ngà.

2. Một số đặc điểm nông sinh học của Hà thủ ô đỏ

   Sự sinh trưởng, phát triển của Hà thủ ô đỏ phụ thuộc vào điều kiện khí hậu thời tiết và thổ nhưỡng. Cây sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm từ tháng 3 đến tháng 5. Kết quả đánh giá một số đặc điểm nông sinh học ở bảng 4.15 cho thấy:

   Tỷ lệ sống của Hà thủ ô đỏ ở các đợt trồng biến động từ 92 - 97%, cao nhất là vụ Xuân năm 2017 đạt 97%. Thân chính có chiều dài tùy thuộc vào độ tuổi của cây, sau gần 24 tháng trồng có thể đạt 3,4m và trên thân có khoảng 62 lá. Số cành cấp 1 từ 9 - 11 cành và số cành cấp 2 có thể đạt 20 cành.

3. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất cá thể của Hà thủ ô đỏ

   Bộ phận kinh tế của cây Hà thủ ô đỏ là rễ củ. Việc đánh giá các chỉ tiêu này được thực hiện định kỳ 6 tháng 1 lần. Các yếu tố cấu thành năng suất của Hà thủ ô đỏ trong các đợt trồng khác nhau tại xã Mường Lống, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An cho thấy đường kính gốc tăng dần và đạt 0,89cm ở thời điểm 24 tháng sau trồng. Tùy thuộc vào độ xốp của đất mà hình thái củ có sự thích ứng phù hợp. Trong điều kiện Mường Lống, ở khu A rễ củ có hình tròn hoặc bầu dục là chủ yếu và ở khu B rễ củ có hình trụ là chủ yếu. Chiều dài củ và chiều rộng củ đạt tương ứng là 12,6 và 4,1cm ở thời điểm 24 tháng sau trồng. Số củ trên cây tăng dần theo thời gian và đạt 6,8 củ/cây ở thời điểm 24 tháng sau trồng. Tại thời điểm đó, củ có khối lượng trung bình đạt 20,1gam/củ và năng suất cá thể đạt 152,8gam. Ở mật độ trồng 60.000cây/ha và tỷ lệ cây cho thu hoạch là 90% thì mỗi ha cho năng suất tươi từ 8,00 - 8,25tấn năm thứ 2 và đạt khoảng 10 - 120tấn tươi/ha tương ứng với 2,5 - 2,8tấn khô/ha vào thời kỳ thu hoạch ở năm thứ 3. Nếu so sánh năng suất dự kiến của mô hình với một số kết quả trồng Hà thủ ô đỏ ở một số địa phương khác trong cả nước như ở Thái Nguyên mỗi gốc cho 3 - 5g củ/cây, tính ra năng suất tươi đạt trên 20tấn củ tươi/ha. Tuy nhiên, trong mô hình này năng suất đạt được chưa cao lắm là do mấy nguyên nhân sau. Thứ nhất: điều kiện đất đai chưa thực sự phù hợp cho cây Hà thủ ô sinh trưởng, phát triển vì đất đai ở Mường Lống có thành phần cơ bản là đá nhỏ lẫn trong đất. Đất sau khi bị mưa thì nền đất khá cứng gây trở ngại cho quá trình bình to của củ. Thứ hai: nguồn giống ban đầu chưa thực sự đồng đều về mặt di truyền, trong ruộng của mô hình có 2 loại rất rõ là củ có hình bầu dục và củ dài. Hai loại giống này có sức sinh trưởng khác nhau, trong khi loại củ dài sinh trưởng thân lá mạnh còn loài củ tròn thì củ sinh trưởng mạnh. Thứ ba: nguồn nước trong mùa hè (tháng 5 - 7) không có nên quá trình tăng lên của củ Hà thủ ô không đạt được như mong muốn.

Qua hơn 2 năm triển khai dự án, Công ty CP Dược liệu Mường Lống đã xây dựng thành công mô hình sản xuất và trồng Hà thủ ô đỏ với quy mô là 15.900m2, vượt 10.900m2 so với hợp đồng được phê duyệt. Việc trồng Hà thủ ô nên trồng ở mật độ 60.000cây/ha thay vì 77.777cây/ha như quy trình yêu cầu. Nên dùng lưới cước với kích thước mặt lưới 10cm2 để làm giàn chữ A cho cây leo thay vì làm giàn bằng tre nứa.

4. Kết quả nghiên cứu sự sinh trưởng và phát triển của cây con invitro của sâm Puxailaileng trong điều kiện dưới tán rừng

Cây sâm sau khi được huấn luyện thích nghi thành công trong điều kiện vườn ươm được trồng trong điều kiện dưới tán rừng ở khu B của Công ty.

Tình hình sinh trưởng của cây giống Sâm Puxailaileng khi trồng dưới tán rừng tại khu B của Công ty CP Dược liệu Mường Lống cho thấy sau khi trồng cây giống có xu hướng ngủ đông vào tháng 9, tháng 10 hàng năm với các triệu chứng như bộ lá tàn lụi. Dựa trên các đặc điểm hình thái của củ giống sẽ phân biệt được cây còn sống và cây đã chết. Những cây có củ còn tươi và có màu vàng nhạt được xem là củ còn sống. Kết quả ở bảng 5 cho thấy: tỷ lệ cây có củ còn sống sau khi trồng dưới tán rừng trong tự nhiên đạt từ 78,26 – 88,21%, bình quân đạt 82,31%.

Tỷ lệ cây sinh trưởng hoàn toàn sau khi trồng dưới tán rừng qua các đợt trồng có dấu hiệu tăng lên, từ 28,72% trong đợt đầu tiên lên 39,13% ở đợt thứ 4, đạt trung bình qua 4 đợt là 33,67%. Như vậy, đến ngày 20/5/2019, đã có tổng cộng 347 cây giống sâm Puxailaileng phát triển thành cây hoàn chỉnh như một cây sâm bình thường được nhân lên từ hạt.

Một số chỉ tiêu về cấu trúc thân, lá của cây giống sâm Puxailaileng trồng trong điều kiện dưới tán rừng tại khu B với kết quả đánh giá tình hình sinh trưởng của cây giống sâm Puxailaileng cho thấy: chiều cao cây của các cây giống sâm biến động từ 6,92 đến 9,57 cm. Chiều dài lá biến động từ 3,67 đến 4,43cm. Số lá chét biến động tùy thuộc vào tuổi của cây giống. Đối với các cây giống tái sinh lần 2, số lá chét cơ bản là 5 lá, còn với cây giống còn nhỏ và mới tái tạo 1 lần thì số lá chét biến động từ 3 đến 5 lá.

Một số chỉ tiêu về cấu trúc thân, lá của cây giống sâm Puxailaileng trồng trong điều kiện dưới tán rừng tại khu chiều dài củ của cây giống sâm Puxailaileng tăng trưởng khá nhanh sau khi trồng, đạt từ 9,6 - 17,8mm. Chiều rộng củ biến động từ 4,3 đến 8,5mm.

Số rễ phụ cấp 1 của các cây giống biến động từ 5,2 đến 7,3 rễ và chiều dài của rễ phụ cấp 1 có thể đạt 15,2mm sau hơn 1 năm trồng.

Trong 2 năm nỗ lực thực hiện, nhóm dự án đã xây dựng được mô hình thành công và làm chủ được công nghệ nhân giống sâm Puxailaileng bằng kỹ thuật nuôi cây mô tế bào. Mặc dù tỷ lệ mọc lá sau khi trồng trong tự nhiên còn thấp còn thấp, chỉ đạt 33,67%. Tuy nhiên, các cây đem trồng vẫn đang còn củ với tỷ lệ bình quân đạt 82,31% (817 củ). Trong các đợt tiếp theo, nếu tác động đúng các biện pháp kỹ thuật thì các củ này hoàn toàn có tiềm năng để mọc lá và phát triển thành cây sâm Puxailaileng hoàn chỉnh trong điều kiện tự nhiên. Bên cạnh đó, cây sâm Puxailaileng sinh trưởng và phát triển khá nhanh, bộ rễ khỏe mạnh và cây có các đặc điểm điển hình của sâm Puxailaileng như trên phiến là có lông ở cả hai mặt lá...

Từ các kết quả thực hiện mô hình trồng Hà thủ ô đỏ, bước đầu Công ty CP Dược liệu Mường Lống đã đầu tư mạnh mẽ để mở rộng diện tích trồng. Ở các mô hình này, Công ty hoàn toàn làm chủ được nguồn giống đảm bảo chất lượng và trồng theo đúng quy trình kỹ thuật. Nếu mô hình trồng này được nhân rộng và đầu tư đúng hướng, bài bản thì 2 loại cây dược liệu này sẽ thực sự góp phần xóa đói, giảm nghèo và phát triển kinh tế hộ gia đình./.

Nguyễn Toàn

 

Tin khác


 

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.