« Quay lại

Cây thuốc truyền thống của đồng bào dân tộc Thái ở hai huyện Quỳ Hợp và Quế Phong

Thiên nhiên Việt Nam là kho tàng cây thuốc rất phong phú và có giá trị. Vì vậy, từ xa xưa con người đã biết sử dụng cây cỏ để làm thuốc chữa bệnh. Trong số 250.000-300.000 loài thực vật có hoa ở nhiệt đới, có 150.000 loài đã được sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Gần 5% số cây thuốc đó đã được nghiên cứu thành phần hóa học. Với khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm nên Việt Nam có một thảm thực vật vô cùng đa dạng cung cấp cho con người một nguồn dược liệu quý giá. Trong 11.373 loài cây có hoa có tới 3.870 loài sử dụng làm thuốc. Theo Võ Văn Chi, năm 2012 đã thống kê được 4.700 loài cây làm thuốc, con số đó chắc hẳn còn chưa đầy đủ, bởi vì kho tàng cây thuốc và kinh nghiệm chữa bệnh từ cây cỏ của đồng bào các dân tộc vô cùng lớn mà chúng ta chưa khai thác được nhiều. Nền y học cổ truyền bản địa của cộng đồng dân tộc thiểu số ở nước ta là kho tri thức khổng lồ. Mỗi một dân tộc đều có kinh nghiệm dân gian riêng trong việc sử dụng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh, đặc biệt những kinh nghiệm quý báu của các ông lang, bà mế, của bà con dân bản đang ngày một mất dần, những loài cây thuốc quý hiếm đến nay bị suy giảm nghiêm trọng hoặc đưa vào Sách Đỏ Việt Nam. Do đó, việc điều tra các loài cây cỏ có tác dụng chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian là rất cần thiết. Kết quả điều tra cây làm thuốc truyền thống của đồng bào dân tộc Thái từ năm 2010 đến 2013 tại huyện Quỳ Hợp và huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An nhằm cung cấp cơ sở cho công tác bảo tồn và khai thác hợp lí nguồn tài nguyên dược liệu này.

1. Đa dạng về các taxon

 

Kết quả điều tra cây làm thuốc của đồng bào dân tộc Thái ở huyện Quỳ Hợp và huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, chúng tôi đã xác định được 87 họ, 204 chi và 287 loài thuộc 4 ngành: Thông đất (Lycopodiophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), Thông (Pinophyta), Ngọc lan (Magnoliophyta).

Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) với 77 họ (chiếm 88,50%), 193 chi (chiếm 94,61%) và 270 loài (chiếm 94,08%) là ngành đa dạng nhất; ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) với 8 họ (chiếm 9,20%), 9 chi (chiếm 4,41%), 12 loài (chiếm 4,18%); ngành Thông đất (Lycopodiophyta); ngành Thông (Pinophyta) chiếm tỷ lệ rất nhỏ.

 

Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) chiếm vai trò chủ đạo với số lượng lớn là 235 loài, chiếm 87,04%; 167 chi, chiếm 86,53%; 63 họ, chiếm 81,82%. Lớp Hành (Liliopsida) có số lượng loài ít hơn nhiều. Tỷ lệ lớp Magnoliopsida trên lớp Liliopsida là: 4,5; 6,42; 6,89 nghĩa là có từ 4 đến 5 họ của lớp Magnoliopsida thì có 1 họ lớp Liliopsida; có trên 6 chi Magnoliopsida thì có 1 chi Liliopsida; có 7 loài của lớp Magnoliopsida thì có 1 loài của lớp Liliopsida. Các họ đa dạng nhất là: Euphorbiaceae, Asteraceae, Moraceae, Fabaceae, Rubiaceae, Caesalpiniaceae, Apocynaceae, Rutaceae, Lamiaceae, Lauraceae mỗi họ có từ 8-23 loài, có 111 loài trong 10 họ đa dạng nhất, chiếm 38,67% tổng số loài cây thuốc đã xác định được. Điều đó chứng tỏ thành phần loài thực vật làm thuốc ở hai huyện miền núi cao tỉnh Nghệ An rất phong phú.

2. Đa dạng về dạng thân của các cây làm thuốc được người dân miền núi  sử dụng

 

Đố với mỗi loài cây đều có sự thích nghi với môi trường sống và được thể hiện qua dạng thân. Vì vậy, việc phân tích đa dạng về dạng thân của các cây làm thuốc định hướng cho ta nguồn nguyên liệu, cũng như trong việc bảo tồn, gây trồng, khai thác và sử dụng.

Nhóm cây được sử dụng nhiều nhất là cây thân thảo 93 loài, chiếm 32,40% so với tổng số loài đã xác định được. Các cây thuộc nhóm này thường sống dưới tán rừng, ven rừng, trảng cỏ hoặc nương rẫy, ven đường; chúng tập trung ở một số họ như: Asteraceae, Apiaceae, Lamiaceae, Araceae, Zingiberaceae... Nhóm thứ hai là cây thân bụi có 90 loài, chiếm 31,36% chúng thường sống ở các đồi núi, rừng tái sinh, vườn nhà, gặp một số họ như: Anacardiaceae, Annonaceae, Moraceae, Rubiaceae, Sapindaceae... Nhóm cây thân leo 53 loài, chiếm 18,47% chúng gồm những cây sống ở ven rừng, vùng savan, vườn nhà, vườn đồi và nương rẫy... Nhóm cây thân gỗ có 51 loài, chiếm 17,77%, tập trung ở một số họ như: Caesalpiniaceae, Fabaceae, Lauraceae, Sapindaceae, Simaroubaceae... bao gồm những cây sống ở vùng đồi, rừng thứ sinh và rừng rậm.

3. Đa dạng về tần số s         dụng của các bộ phận làm thuốc

Khi nghiên cứu về các bộ phận làm thuốc giúp cho việc sử dụng có hiệu quả nguồn nguyên liệu và định hướng được những phân tích về thành phần hóa học cũng như dược tính của các loài cây thuốc trong chữa bệnh.

Đồng bào miền núi tỉnh Nghệ An sử dụng các bộ phận khác nhau của cây vào mục đích chữa bệnh khác nhau với tỷ lệ nhất định. Dùng lá có tới 140 loài, chiếm 37,94% so với tổng số các bộ phận sử dụng. Lá được dùng dưới dạng tươi, có thể để uống nếu như không có độc ví dụ như Cỏ lào (Chromoleana odorata), nếu có độc thì giã nhỏ để đắp vết thương do động vật cắn, mụn nhọt như Hương bài (Dianella ensifolia), đun để tắm chữa lở ngứa, phát ban như dùng lá khế (Averrhoa carambola), cũng có thể rang, hơ nóng đắp chữa bong gân, trẹo chân tay như Náng hoa trắng (Crinum asiaticum), dùng dưới dạng khô thường sắc thuốc kết hợp với nhiều loài khác để chữa trị bệnh. Có thể nói lá cây làm thuốc khá đa dạng cả về cách sử dụng lẫn công dụng. Sử dụng cả cây 91 loài, chiếm 24,66%, chủ yếu là được băm nhỏ rồi sắc uống, một số ít được giã nhỏ để đắp, chườm, băng bó vết thương. Một số khác thường được chữa các bệnh về gan, thận, dạ dày, tiêu hóa, khớp, gãy xương. Sử dụng bộ phận thân, cành 33 loài, chiếm 8,94%, dùng để sắc uống hoặc băng bó vết thương. Sử dụng bộ phận rễ 34 loài, chiếm 9,21%, thường được sắc uống tươi hoặc phơi khô, thường được sử dụng để chữa các bệnh như đau xương, đau lưng, làm thuốc bổ hoặc được ngâm rượu để đánh cảm, xoa bóp... Còn lại các bộ phận như quả, hạt, củ, vỏ và hoa cũng được sử dụng tuy nhiên không nhiều lắm, nhưng tác dụng chữa bệnh cũng rất hiệu quả. Thường được dùng để uống thay thuốc kháng sinh, chữa viêm nhiễm, tẩy giun sán, giải độc, giải nhiệt...

4. Các nhóm bệnh được người dân miền núi chữa trị bằng cây thuốc

 

Từ kinh nghiệm y học cổ truyền cho thấy một cây có thể có tác dụng với nhiều loại bệnh và ngược lại phải dùng nhiều loài cây mới chữa được một bệnh. Có thể chia việc sử dụng cây thuốc chữa bệnh của đồng bào dân tộc Thái miền núi tỉnh Nghệ An theo các nhóm khác nhau. Trong đó tỷ lệ cây thuốc chữa các bệnh về đường tiêu hóa là cao nhất với 54 loài chiếm 18,82%, chữa bệnh ngoài da có 39 loài chiếm 13,58%, chữa các bệnh về xương 27 loài chiếm 9,41%, tiếp theo đó là các cây thuốc sử dụng bồi bổ sức khỏe 25 loài chiếm 8,72%. Còn một số cây thuốc có công dụng chữa các bệnh khác thì rất thấp.

5. Các loài cây thuốc quý hiếm tìm thấy ở huyện Quỳ Hợp và huyện Quế Phong cần được bảo tồn

 

Dựa vào Sách Đỏ Việt Nam (Phần Thực vật), chúng tôi đã thống kê được 11 loài cây thuốc cần được ưu tiên bảo tồn, chiếm 3,14% so với tổng số loài được sử dụng làm thuốc của đồng bào dân tộc Thái ở hai huyện miền núi tỉnh Nghệ An.

Có 11 loài cần được bảo tồn nằm trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, mức độ nguy cấp (EN) có 1 loài là: Bổ cốt toái (Drynaria fortunei (Kuntze et Mett.) J.Sm.), đây là loài bị khai thác mạnh không chỉ ở khu vực nghiên cứu mà hầu như khắp vùng trong cả nước. Có 10 loài sẽ nguy cấp (VU) đó là: Hoàng tinh cách (Disporopsis longifolia Craib), Tắc kè đá (Drynaria bonii C. Christ), Ba gạc lá mỏng (Rauvolfia micrantha Hook.f.), Ba gạc đông dương lá to (Rauvolfia cambodiana Pierre ex Pit.), Bách bộ (Stemona tuberosa Gagnep.), Kim cang thanh lịch (Smilax elegantissima Gagnep.), Thổ phục linh (Smilax glabra Roxb.), Râu hùm việt (Tacca subflabellata P.P.Ling et C.T.Ting), Cẩu tích (Cibotium barometz (L.) J. Sm.), Khôi tía (Ardisia silvestris Pitard), đây cũng là những loài cây thuốc quý đang bị khai thác mạnh, do vậy cần quan tâm và có chính sách ưu tiên trong việc bảo tồn và phát triển.

Ba gạc lá mỏng (Rauvolfia micrantha Hook.f.

 

Thực vật làm thuốc của đồng bào Thái ở huyện Quỳ Hợp và huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An đã xác định được 287 loài thuộc 204 chi, 87 họ của 4 ngành thực vật bậc cao là Lycopodiophyta, Polypodiophyta, Pinophyta, Magnoliophyta. Trong đó ngành Magnoliophyta chiếm ưu thế vượt trội là 270 loài chiếm 94,08% so với tổng số loài đã xác định được.

Nhóm cây được sử dụng nhiều nhất là cây thân thảo có 93 loài, chiếm 32,40%; tiếp đến là cây thân bụi 90 loài, chiếm 31,36%; nhóm cây thân leo 53 loài, chiếm 18,47%; nhóm chiếm tỷ lệ thấp nhất là nhóm cây thân gỗ có 51 loài, chiếm 17,77%.

Bộ phận sử dụng chủ yếu là lá có tới 140 loài, chiếm 37,94%; cả cây có 91 loài, chiếm 24,66%; rễ 34 loài, chiếm 9,21%; thân 33 loài, chiếm 8,94%; các bộ phận khác như: Quả, hạt, củ, vỏ và hoa cũng được sử dụng tuy nhiên không nhiều lắm.

 

Tỷ lệ cây thuốc chữa các bệnh về đường tiêu hóa là cao nhất 54 loài, chiếm 18,82%; tiếp đến là chữa bệnh ngoài da 39 loài, chiếm 13,58%; xếp thứ 3 là những cây thuốc chữa bệnh gãy xương 27 loài, chiếm 9,41%; xếp thứ 4 là những cây thuốc bồi bổ sức khỏe 25 loài, chiếm 8,72%. Còn các cây thuốc dùng để chữa các bệnh khác thì rất thấp.

Tại huyện Quỳ Hợp và huyện Quế Phong bước đầu đã xác định được 11 loài thực vật làm thuốc có nguy cơ tuyệt chủng được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam đó là 1 loài cấp EN và 10 loài cấp VU./.

PHẠM HỒNG BAN, NGUYỄN THƯỢNG HẢI

 

Tin khác


 

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.